Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang
Chào bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang!
Diễn Đàn là nơi giao lưu kết bạn, sưu tầm, lưu trữ, học hỏi và chia sẻ kiến thức.
Để cùng nhau tiến bộ trên con đường hướng thiện.
Chúc bạn sức khỏe và có nhiều thành công mới trong cuộc sống!

Om mani pad me hum
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang
Chào bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang!
Diễn Đàn là nơi giao lưu kết bạn, sưu tầm, lưu trữ, học hỏi và chia sẻ kiến thức.
Để cùng nhau tiến bộ trên con đường hướng thiện.
Chúc bạn sức khỏe và có nhiều thành công mới trong cuộc sống!

Om mani pad me hum
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang
Bạn có muốn phản ứng với tin nhắn này? Vui lòng đăng ký diễn đàn trong một vài cú nhấp chuột hoặc đăng nhập để tiếp tục.
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang

Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho; một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tạo lấy.
 
Trang ChínhTrang Chính  ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Icon_portal  Latest imagesLatest images  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Chào mừng các bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang! Chúc các bạn sức khỏe và thành đạt! Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang.

 

 ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)

Go down 
Chuyển đến trang : 1, 2, 3  Next
Tác giảThông điệp
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Empty
Bài gửiTiêu đề: ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)   ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) EmptySat Dec 09, 2017 9:06 am

MỘNG- BÌNH-SƠN
Sài Gòn 9-10-1969


ÔN-CỐ TRI-TÂN
Những tấm gương phản chiếu muôn đời trong truyện
Đông Chu Liệt Quốc


TẬP I
Sống Mới Xuấn Bản


Lời nói đầu
Xưa nay người ta thường bảo : « Đông Chu Liệt-Quốc » là cái túi khôn muôn đời của loài người.
Thật ra ai cũng công nhận như thế, nhưng trái lại rất ít người tìm hiểu cái túi khôn muôn đời ấy.
Ở đây tôi muốn cùng các bạn nêu thắc mắc :
“Đông Châu Liệt-Quốc có thể gọi là (túi khôn muôn đời) không ?” 
— xã hội loài người luôn luôn tiến tới chỗ tinh xảo,tâm trạng loài người luôn luôn biến đổi theo trạng thái xã hội, sinh hoạt loài người luôn luôn sửa đổi, thì cái khôn của ngàn xưa làm sao có thể gọi là cái khôn của ngày nay mà bảo là túi khôn muôn đời ?
Đó là điểm mâu thuẫn căn bản.
Còn như thế nào gọi là khôn, thế nào là dại ? thực khó định nghĩa. Cái mà người này cho là khôn, thì đối với kẻ khác cho là dại. Cái mà người nọ cho là đúng thì kẻ kia cho là sai.


Khôn dại nằm trong quan điểm của mỗi người thì luận việc dại khôn là vu vơ.
Ôi, thế thì tìm cái trí khôn của loài người là làm chuyện quái quắc sao?
Tuy nhiên, từ xưa đến nay, và có lẽ cả đến mai sau, ai cũng phải đi tìm chuyện quái quắc ấy.
Bởi vì, sự tiến bộ của loài người không phải không có gốc. Xã hội không phải từ trên trời rơi xuống, mà được cấu tạo do sức tranh đấu của loài người từ tổ chức đơn sơ đến phức tạp.
Cái khôn của loài người cũng thế. Từ chỗ đơn thuần đến tế nhị. Muốn khai thác cái tế nhị không thể bỏ qua cái đơn thuần.
Mặc khác,dù xã hội tiến bộ phức tạp đến đâu, nguyên lý của lẽ sống tức nhân sinh quan vẫn là một.
Không ai khen những bạc ác xảo trá, cũng không ai chê những đạo đức nhân từ.
Vì vậy mà lời người xưa,việc làm người xưa,ý nghĩ người xưa,cuộc sống người xưa rất có liên quan đến hiện tại, đến thế hệ mai sau.
(Ôn Cố Tri Tân),chính là làm cái việc xét thời xưa luận thời nay. Việc ấy không phải là không bổ ích.
Vả lại, một câu chuyện phải trái chỉ có thời gian mới chứng minh được, thì đem chuyện thời xưa, chuyện của quá trình thời gian ra bàn luận, tưởng đã đầy đủ lắm.
Nó là một tấm gương phản chiếu trước sự hiện tại, đem lại chúng ta rất nhiều thích thú.
Đông Châu Liệt Quốc là một vườn hoa muôn mầu vạn sắc có đủ hoa thơm cỏ lạ, mà cũng không thiếu gì gai góc xấu xa.
Tôi không đóng vai một chủ vườn hoa, làm cái việc quảng cáo, mà chỉ lấy tư cách một du khách quen thuộc, mời các bạn cùng tôi thử vào đây ngắm nghía, khen chê tùy thích, gọi là góp mặt vào kho tàng quý báu của cổ nhân vậy.
SàiGòn, Mùa đông Tân Mão
Mộng Bình Sơn
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)   ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) EmptySat Dec 09, 2017 9:21 am

ĐỖ-BÁ, TẢ-NHO

Vua phải bạn trái thì nên theo vua, bạn phải vua trái thì nên theo bạn. Tội Đỗ-Bá không đáng gì mà Bệ-hạ đem giết, thiên hạ sẽ cho Bệ hạ bất minh, hạ thần biết mà không can gián. Thiên hạ sẽ cho hạ thần bất trung. Nếu Bệ-hạ giết Đỗ-Bá, hạ thần xin cùng chết.


Đầu đời Đông-Châu, trong nước Trung-Hoa sanh nhiêu biến cố. Vua Tuyên-Vương đi tuần du gần Kiêu-Kinh nghe một bầy trẻ xúm nhau hát :


Thỏ lên ác lặn non mờ,

Túi cơ cung yểm bơ phờ nước non.


Câu đồng dao ấy lọt vào tai vua. Vua lấy làm giận, sai quân đuổi bắt bầy trẻ. Lũ trẻ chạy tán loạn, chỉ có hai đứa bị bắt.

Vua quát hỏi :
— Ai bày chúng bây hát như vậy ?
Hai đứa bé run lẩy bẩy, cúi đầu tâu :
— Cách đây ba hôm có một đứa bé mặc áo đỏ đến tại chợ này dạy chúng tôi hát. Nhưng chẳng biết vi sao cùng một lúc, các trẻ con trong khắp khu phố đều thuộc làu câu hát ấy.
Vua cau mày hỏi :
— Hiện giờ thằng bé mặc áo đỏ ấy ở đâu ?
Hai đứa bé đáp :

— Chẳng biết nó đi đâu. Chúng tôi không còn gặp nó nữa.
Nhà vua buồn bã đuổi hai đứa bé ấy đi. Rồi truyền quan Tư-Thị loan báo khắp khu phố cấm không cho con nít hát câu hát ấy nữa.
Sáng hôm sau triều thần vào chầu, vua đem câu hát ấy hỏi lại mọi người.
Quan Lễ-Bộ Triệu-Hổ tâu :
— Yểm là thứ cây dâu núi dùng làm cung, còn cơ là loại cỏ dùng đan giỏ đựng tên. Cứ- theo câu đồng dao ấy mà bàn thì trong nước có nạn binh đao.
Vua nghe lời đóan này lập tức truyền quan Đại Phu Tả-Nho nghiêm cấm khắp nơi, từ thành thị đến thôn quê, không ai được làm dụng cụ cung tên bằng gỗ yểm và cỏ cơ. Ai trái lịnh sẽ bị bắt chém.
Nhân dân nghe lệnh nhất nhất tuân theo, duy có các miền xa xôi, lệnh vua chưa được công bố, nên ngày sau có một người đàn bà xách mấy cái túi tên bằng cỏ cơ và một người đàn ông vác mấy cây cung bằng gỗ yểm đem ra chợ bán.
Quân tuần trông thấy xúm lại bắt. Người đàn ông lanh chân chạy thoát. Chúng bắt dẫn người đàn bà đem vào nạp cho Tả-Nho.
Tả-Nho đem người đàn bà vào triều phục mệnh. Vua truyền đem tội nhân ra xử tử, và đốt tất cả các túi tên để răn chúng.


Trong lúc đó tại hoàng cung có một người cung phi già, trước kia đạp nhầm nước đái rồng thọ thai hơn bốn mươi năm, nay mới đẻ ra một quái thai.
Khương hậu cho là điềm chẳng lành, đem quái thai ấy ném xuống sông Thanh-Thủy.

Việc này lọt đến tai vua. Nhà vua không an lòng, truyền nội thị đến bờ sông Thanh-Thủy xem đứa bé ấy thế nào.
Nội thị trở về tâu :
— Đứa bé ấy đã trôi đi đâu mất tích rồi. .
Tuy vậy nhà vua vẫn không an, truyền rao: Khắp dân chúng ai tìm được đứa con nít ấy dù sống thác cũng được thưởng ba trăm tấm lụa. Ngược lại, nếu ai giấu giếm mà nuôi sẽ bị toàn gia tru lục.
Vua lại giao việc này cho quan cận thần Đỗ- Bá tra xét.
Thời gian trôi trong yên lặng. Tông tích của đứa bé không ai nhắc tới.
Sau ba năm. Một hôm vua nằm mộng thấy một người đàn bà dung nhan tuyệt mỹ len lỏi vào Thái-miếu là chỗ tôn thờ uy nghiêm của hoàng cung. Người đàn bà nhìn vua cười ba tiếng, khóc ba tiếng rồi buộc cái bài vị thành một bó, xãm xăm đi về hướng Đông.
Vua tức giận thét gào đến rát cổ, giật mình thức dậy mới biết chiêm bao.
Quan Đại-Phu Bá-dương-Phụ bàn rằng :
— Ấy là điềm nữ họa. Trong cung yêu khí chưa dứt. Điềm này ứng đúng với câu đồng dao ba năm về trước.
Vua nhớ lại cái quái thai trước đó ba năm mà nhà vua đã sai Đỗ Bá tra xét, nên truyền đòi Đỗ- Bá vào hỏi :
-Ta giao cho ngươi truy tầm quái thai vất trên dòng sông Thanh –Thủy sao đến nay chưa thấy kết qủa ?

Đỗ-Bá quỳ tâu :
— Hạ thần hết sức tìm kiếm nhưng chẳng thấy. Khẳp trong dân gian không ai tìm được xác chứng tỏ quái thai kia đã bị mất tích rồi. Vả lại bệ - hạ đã giết người đàn bà bán cung thì nữ họa đã hết, tra xét lâu ngày chỉ làm khổ dân.
Vua nổi giận mắng :
— Làm không được việc lại không phục chỉ thì rõ là khi quân.
Nói rồi truyền võ sĩ bắt Đỗ-Bá đem chém.
Tả-Nho vốn là bạn thân của Đỗ-Bá thấy vậy quỳ tâu :
— Tâu Bệ hạ, đời Nghiêu bị lụt chín năm, đời vua Thang nắng hạn đến bẩy năm, thế mà thiên hạ không sanh biến chỉ vì lòng nhân đức của hai vị vua ấy. Nay giết không được một đứa bé mà Bệ hạ xử tử một đại thần, tôi e rằng lân bang sẽ chê cười Đức Độ của Bệ hạ. Xin xét lại.
Nhà vua mặt giận phừng phừng :
- Nếu vì tình bạn mà can gián thì ngươi qúa trọng bạn khinh vua.
Tả-Nho tâu :
Vua phải bạn trái thì nên theo vua. bạn phải vua trái thì nên theo bạn. Tội Đỗ-Bá không đáng gì mà Bệ hạ đem giết, thiên ha sẽ chê Bệ hạ bất minh. Còn hạ thần biết mà không can gián. thiên hạ sẽ cho hạ thần bất trung. Nếu Bệ hạ giết Đỗ-Bá hạ thần xin cùng chết.
Nhà vua nói :
—Ta giết Đỗ-Bá như hủy bỏ cỏ rác, ngươi chớ lắm lời vô ích.
Nói xong, vua nạt võ sĩ đem Đỗ-Bá ra chém.
Tả-Nho về đến nhà tự vẫn ngay.



Người sau cảm nghĩa, lập đền thờ ở Đỗ Lăng thờ cúng, gọi là miếu Tả Tướng Quân. 

- Nhận xét !
Xưa nay nói đến. Đỗ-Bá, Tả-Nho người ta thường cho đó là một tấm gương sáng ngời về tình bằng hữu.
Thật không sai. Tả-Nho vì bạn mà can vua, vì bạn mà dám chết theo bạn hành động ấy tưởng cũng đáng để cho người đời chiêm ngưỡng. Nhưng còn một điều đáng chú ý hơn ở con người của Tả- Nho là trọng lẽ phải hơn địa Vị. Tả-Nho không đặt vấn đề vua lớn hay bạn lớn mà đặt lẽ phải lớn hơn cả. Câu nói của Tả- Nho : « Vua phải thi theo vua, bạn phải thì theo bạn ». chẳng phải Tả-Nho đã hòan toàn thoát khỏi vòng kiềm tỏa của địa vị xã hội sao ?
Xưa cũng như nay nhiều người chỉ biết nịnh bợ, lời nói của kẻ có quyền bao giờ cũng coi trọng hơn những kẻ ít quyền .Chính vua Tuyên-Vương cũng quan niệm như thế nên mới hạch sách Tả-Nho lời nói ấy.
Tả-Nho xứng đáng là một vị thần công lý.
‘Tục ngữ Pháp có câu : Li rattan du pías fort est iOuỳysri meilleure. Và tục ngữ Việt -Nam cũng có câu : Vai mang túi bạc kè kè. nói quấy nói quả người nghe rầm rầm. Thế thì quan niệm phục tùng địa vị sang giàu từ chối lẽ phải, không những chỉ có ở nền phong kiến cổ hủ ở nước Tàu mà hầu hết khắp thế giới xưa nay đều như thế cả. Công lý đi sau tiền tài, địa vị. Nếu trong đời này mà có được nhiều người như Tả-Nho thì có lẽ những kẻ hách dịch trong giàu sang địa vị sẽ không còn mấy người nữa. Khổ thay ! Hạng người như Tả Nho rất ít.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)   ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) EmptySat Dec 23, 2017 2:49 pm

THÁI-TỬ GHI-CỰU VÀ BAO-TỰ

Mối tình mẫu tử là sức mạnh thiêng liêng, dù cho loài người hay loài vật vẫn không khác gì mấy.
Vua U-Vương nhà Châu ham mê tửu sắc. được Bao Hướng dùng mỹ kế dâng nàng Bao-Tự để chuộc tội. Bao-Tự có sắc đẹp, khiến U-Vương đêm ngày mê mẩn, giấu trong cung Quỳnh-đài để say tình cá nước, một phút không rời. Khi xem trăng, khi sánh nguyệt, khi đối ẩm, lúc ca xang, chẳng thiết gì đến việc triều chính nữa. Trăm quan thấy vậy đều than thở lo lắng.
Có người đem chuyện vua say mê Bao-Tự nói cho Thân Hậu hay. Thân Hậu tức giận, một hôm dẫn bọn cung nga đến cung Quỳnh-đài xem hư thiệt. Vừa đến nơi, Thân Hậu thoáng thấy U-Vương đang cùng Bao Tự kề vai áp má. Thân Hậu bước vào, Bao-Tự vẫn ngồi im, liếc mắt đưa tình nhìn vua. chứ không đứng dậy chào đón. Thân Hậu quá tức, không dằn được, chỉ vào mặt Bao-Tự mắng :
— Loài tiện tỳ, mi ở đâu dám đến đây làm nhơ nhớp cung vi ?
Vừa nói vừa muốn xốc tới. U-Vương sợ Thân Hậu làm hỗn, vội đứng dậy cản lại và nói :
— Đây là mỹ nhơn của trẫm mới dùng, chưa định ngôi thứ nên chưa kịp đến ra mắt chánh hậu, xin dừng chấp nhứt làm chi.
Thân Hậu mắng nhiếc một hồi rồi lui ra. Bao-Tự hỏi U-Vương :
— Người ấy là ai mà hung dữ lắm vậy ?

U-Vương nói :
— Ấy là Hòang-hậu. Ngày mai khanh phải đến làm lễ ra mắt.
Bao-Tự làm thinh, rồi ngày mai cũng chẳng đi chào Hòang-hậu.
Từ khi biết rõ sự tình, Thân-Hậu lòng buồn rười rượi, ngày đêm than thở mãi trong cung. Thái-Tử- Nghi- Cựu thấy thế quỳ tâu :
— Tâu mẫu hậu, mẫu hậu đã làm chúa tể trong tam cung lục viện, oai quyền như thế chẳng hay có điều chi bất bình mà buồn bã ?
Thân Hậu đỡ con dậy, hai hàng nước mắt ràn rụa nói :
— Con ơi, Phụ Vương con đắm say Bao-Tự, không kể gì đến mẹ nữa. Thân mẹ dù cò bị bạc bẽo cũng chẳng sao, duy có giang sơn sự nghiệp sau này ắt phải tan tành vi con khốn nạn đó.
Thái-Tử nghe nói vừa buồn vừa giận, cầm tay Thân Hậu nói :
— Xin mẹ chớ sầu bi. Ngày mai là ngày Sóc, Phụ- Vương con thế nào cũng lâm triều, chừng ấy mẹ sai cung nữ đến cung Quỳnh-đài bẻ phá bông hoa, dụ Bao- Tự ra khỏi cung, con sẽ đánh hắn một trận để trả thù cho mẹ. Dù Phụ-Vương có trách mắng, con xin cam chịu.
Thân Hậu lắc đầu nói :
— Con chớ nên nóng nảy như thế. Để thủng thẳng mà liệu kẻo Lâm vào độc kế của con dâm phụ đó.
Thái-Tử Nghi-Cựu hậm hực ra về.
Sáng hôm sau qủa nhiên U-Vương lâm triều, Nghi- Cựu bèn sai một số cung nhân qua nơi Quỳnh đài, chẳng nói gi hết, cứ việc vác cây đập phá bông hoa. Bọn thế nữ trong đài trông thấy, thất kinh chạy ra cản lại và la lớn:
— Hoa này vốn của Chúa thượng trồng để cho Bao nương nương ngoạn cảnh, chớ nên phá phách mà tội chẳng nhỏ.
Bọn cung nhân vẫn không ngừng tay, ứng tiếng đáp:
— Bọn ta vâng lịnh Đông cung Thái tử đến bẻ hoa này về dâng cho Chánh hậu, ai dám cản trở.
Hai bên cãi vã nhau om sòm làm cho Bao-Tự đang mơ màng giấc điệp, bỗng giật mình thức dậy bước ra xem, thấy bông hoa tơi tả cả giận, toan bước tới đánh bọn cung nữ, chẳng dè Thái-Tử núp gần đấy, nhảy tới trợn mắt hét :
— Nghiệt phụ, ngươi là người chi? Danh vị thế nào mà dám xưng là nương nương, chẳng biết ai hết. Nay ta làm cho ngươi thấy cái “nương nương” của ngươi.
Dứt lời, Thái-Tử nắm đầu Bao-Tự tát cho mấy cái. Bao-Tự đau quá rú lên. Bọn cung nữ sợ quá đồng qùy mọp dưới đất thưa :
— Xin Thái-Tử khoan dung kẻo phiền lòng Chúa thượng.
Thái-Tử Nghi-Cựu chưa hả giận, nhưng sợ đánh sẩy tay, bèn buông Bao-Tự ra, rồi chi vào mặt nói:
— Nếu mi còn ngạo nghễ ta chẳng bao giờ để cho mi sống yên.
Nói xong, Thál-Tử quay gót trở về.

 

NHẬN XÉT
nh mẫu tử là mối dây liên hệ thiêng liêng, dù trong hoàn cảnh nào chúng ta vẫn thấy. Thói thường TÌNH Mẹ thương con bao la như trời bể, trái lại tình con đối với mẹ nhiều lúc lại lạt phai.
Thái-Từ Nghi-Cựu đã hành động thương mẹ một cách vô cùng sâu đậm. Nghi Cựu còn bé, không biết làm sao để trả thù cho Thân Hậu, đến gây chuyện đánh Bao-Tự, tuy việc làm của trẻ con song biểu hiện được ân tình thiêng liêng cao cả.
Trong tích truyện không thiếu gì những tấm gương hiếu thảo, nhưng ở đây một khía cạnh nổi bật lên cho chúng ta thấy là Nghi-Cựu bướng bỉnh, gan dạ một cách buồn cười. Đánh Bao-Tự. Nghi-Cựu chỉ biết làm cho mẹ vui lòng chứ không nghĩ đến tác hại là Bao-Tự khi được vua cha yêu. Tâm trạng của một anh chàng Thái-Tử trẻ tuổi đã được diễn tả rất đúng đắn ở hành động ấy.
Chỉ thương hại cho Nghi-Cựu vì quá trẻ tuổi, không biết đến những tác hại về sau. Sắc đẹp là một vũ khí nguy hiểm nhứt trong đời. thành phải nghiêng, nước phải đổ cũng vì sắc đẹp, thì một chàng Thái Tử ngây thơ như vậy làm sao chống lại với vũ khí nguy hiểm của Bao-Tự đang có trong tay ? Vì thương mẹ, Nghi- Cựu chỉ gây ra những mâu thuẫn nguy hiểm sau này mà thôi.
Bởi vậy, một việc làm tuy ở trong lẽ phải nhưng không có lợi thì cũng không nên làm. Kẻ có trí bao giờ công việc cũng phải đắn đo trước.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)   ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) EmptyTue Jan 23, 2018 10:34 am

NỤ CƯỜI BAO-TỰ
Sắc đẹp là vũ khí lợi hại của đàn bà. Nhưng nó chỉ lợi hại khi ở trong tay một kẻ có quyền thế.
 
Vua U-Vương đắm say Bao-Tự đến nỗi Bao-Tự muốn gì cũng chiều ý Nhưng Bao-Tự chưa lấy thế làm thỏa mãn. Sau khi được U-Vương phế bỏ Thân Hậu, lập nàng lên làm Hoàng hậu, nàng trở nên một cô gái trầm lặng không cười một nụ cười nào. Không ai hiểu nổi cõi lòng của nàng cả.
U-Vương thấy Bao-Tự không cười, lòng bâng khuâng lo lắng, bèn triệu tất cả các nhạc công trong triều, tập họp đờn ca hát xướng cho nàng vui, song vẫn không thấy Bao-Tự cười lên một tiếng nào.
U-Vương nghĩ thầm :
— Ta phế Chính cung mục đích để làm vui Iòng nàng, thế mà không được nàng trao cho rnột nụ cười thật là đau đớn ?
Nghĩ vậy vua thủ thỉ hỏi Bao-Tự :
— Đờn ca hát xướng như thế sao không thấy khanh vui.
Bao Tự đáp :
— Tâu Bệ hạ, thần thiếp thích tiếng xé lụa vui tai hơn là tiếng âm nhạc.
U-Vương mừng rỡ nói :
— Ái khanh ưng nghe tiếng xé lụa sao ái khanh không nói cho sớm ?
Liền truyền quan giữ kho mỗi ngày đem vào cung một trăm tấm lụa, lại khiến các cung nữ khỏe mạnh thay phiên nhau để xé lụa, làm cho Bao-Tự vui tai.

Nhưng quái thay, xé đến bao nhiêu lụa vẫn không làm cho Bao Tự vui tí nào.
U-Vương lo lắng hỏi :
— Đã ưa tiếng xé lụa, và lụa đã xé rất nhiều rồi sao chưa thấy ái khanh vui?
Bao-Tự mặt lầm lì không đáp. U-Vương se thắt cõi lòng.
— Thế nào trẫm cũng tìm cách để ái khanh cười lên một tiếng.
— 
NHẬN XÉT:
Sắc đẹp của người đàn bà có một sức mạnh nguy hiểm thật, nhưng nguy hiểm nhất là lúc nó được ở trong tay một kẻ có quyền lực sử dụng. Tuy nhiên, đối với những kẻ có sắc đẹp cũng cần phải biết cách làm cho sắc đẹp tăng phần giá trị, mới chinh phục nổi đàn ông háo sắc.
Sắc đẹp là vũ khí, nhưng quan hệ là kẻ sử dụng vũ khí ấy. Vấn đề sử dụng rất tế nhị và phức tạp, đại khái tuy giống nhau nhưng mỗi người lại có một mánh khóe riêng.
Xưa nay. chúng ta đã đọc không biết bao nhiêu truyện nói về mỹ nữ và anh hùng, cũng như giai nhân và sắc đẹp, khuynh đảo cả giang sơn sự nghiệp như Đắc-Kỷ làm mất giang sơn Vua Trụ và nhiều trường hợp tương tự như vậy. Tuy nhiên mỗi hành động không giống nhau, ở đây chúng ta thấy lối chinh phục của Bao-Tự đối với U- Vương không như Đắc-Kỷ làm cho Trụ Vương nịch ái. Bao-Tự đem cái buồn của người đẹp để làm cho U- Vương se lòng.


Như vậy người đẹp một khi có nét mặt u buồn cũng làm đau lòng kẻ háo sắc không ít.
Phải, người đẹp mà thiếu nụ cười tức là thiếu tất cả. Lời nói ấy không phải không đúng. U-Vương dám đem ngàn vàng để đổi lấy nụ cười Bao-Tự thì thấy nụ cười người đẹp giá trị đến bực nào rồi.
Bao-Tự bắt vua U-Vương xé lụa để làm vui không phải nàng thích tiếng xé lụa mà chính là nàng đã dùng cách xé lụa để thử thách mức độ hiếu sắc của U- Vương đối với nàng mà thôi.
Người đẹp vui làm cho kẻ háo sắc vui, người đẹp buồn làm cho kẻ háo sắc buồn, đó là quy luật thiên nhiên của vũ trụ loài người . Người đẹp có thêm nụ cười làm cho người đẹp thêm đẹp. Người không đẹp mà có nụ cười thì làm cho đàn ông cảm mến. Thế mà trong xã hội có những ngườì đàn bà muốn cho đàn ông mến mình lại cứ cả ngày nhăn nhó, cáu kỉnh thi thật là dại dột.
Hành động Bao-Tự bắt U-Vương dùng ngàn vàng để mua lấy nụ cười của nàng, đó cũng là một bài học cho những trang nữ lưu không biết lợi dụng cái tươi tắn trên khuôn mặt mình để chinh phục đàn ông vậy.
Chiều chuộng một người đàn bà để thỏa mãn một khoái cảm đó là sở thích tự nhiên của một người đàn ông. Nhưng trong đời chỉ khác ở chỗ có kẻ quên sự thiệt hại chung để làm thỏa mãn riêng, kẻ đó như U-Vương, gọi là phường hảo sắc. Có kẻ đặt quyền lợi chung lên trên thỏa mãn riêng, đó là kẻ có tình yêu chân chính.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)   ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) EmptyThu Jul 19, 2018 5:17 pm

ĐỐT LỬA GIỄU CHƯ HẦU
Thấy dùng cách xé lụa, Bao-Tự vẫn không có một nụ cười nào, U-Vương lo lắng, quyết tìm cách để mua một nụ cười của người đẹp.
Vua tuyên bố :
— Ai có cách gì làm cho Bao-Tự cười một nụ thì trẫm trọng thưởng ngàn vàng.
Quan cận thần Quách-thạch-Phủ quỳ tâu :
— Ngày trước tiêu vương có lập mười cái phong hỏa đài tại núi Ly-Sơn, lại tạo mấy chục cỗ trống lớn, để mỗi khi có giặc Tây Nhung đến xâm lấn thì nổi lửa gióng trống lên để các chư hầu nghe đem quân đến cứu. Từ ấy đến nay trong nước thái bình, phong hỏa đài không dùng đến. Nếu Bệ- hạ muốn làm cho Chánh hậu cười, xin Bê- hạ cùng Chánh hậu đến Ly-Sơn du ngoạn, rồi nửa đêm đốt phong hỏa đài lên, đánh trống cho thật dữ, binh viện của chư hâu ắt kéo đến. Chừng ấy không thấy có giặc giã gì, các chư hầu lục tục kéo về, Chính hậu thế nào cũng phải tức cười.
U-Vương cho đó là kế hay, vỗ tay cười lớn.
Hôm sau, U-Vương dắt Bao-Tự đến Ly Sơn du ngoạn. Quan Tư-Đồ Trịnh-bá-Hữu biết việc ấy can :
— Phong-hỏa-đài tiên vương lập lên là để thông tin tức với chư hầu khi trong nước có biến. Nay vô cớ mà bệ- hạ đốt lửa gạt chư-hầu để làm trò vui, về sau thoảng có điều binh biến. Bệ- hạ đốt phong hỏa đài lên thì ai còn tin được nữa. Xin bệ- hạ chớ làm việc đó.
U-Vương nổi giận, mắng :
— Nay thiên hạ trong lúc thái bình thì cần gi phải nhờ đến binh viện. Trẫm và Chánh hậu đến Ly-Sơn du ngoạn không có gì vui phải mượn kế ấy. Nếu sau này có giặc thì can hệ gì đến ngươi mà ngươi lo lắng ?
Trịnh-bá-Hữu nghe vua nói thở dài, lùi thủi bước ra. U-Vương truyền đốt phong hỏa đài, gióng trống lên cho thật kêu. Chư hầu ngỡ có giặc vội vã điều binh khiển tướng suốt đêm kéo đến Kiều-Kinh là nơi kinh đô nhà Châu. Đến nơi chỉ nghe tiếng đàn ca hát xướng, và thấy U- Vương cùng Bao-Tự đang kề vai uống rượu, vui trong khoái lạc.
Chư hầu ngơ ngác nhìn nhau rồi bẽn lẽn cuốn cờ, dẹp trống ai về nưởc ấy.
Bao-Tự đứng trên làu trông xuống thấy quân lính khắp nơi ồ ặt kéo đến rồi lại lặng lẽ kéo nhau về, thích chí vỗ tay cười.
U-Vương ôm Bao-Tự vào lòng nói :
— Ái khanh ơi ! Một tiếng cười của ái khanh chẳng những làm vui lòng trẫm mà còn tô thắm vạn màu tươi của vũ trụ. Ấy cũng nhờ công của Quách- thạch-Phủ đó.
Liền lấy ngàn lượng vàng đem thưởng cho Quách-thạch-Phủ.
Sau đó. Thân-hầu vì tức U-Vương vô đạo, phế bỏ vợ con, nên họp với rợ Tây-Nhung kéo quân đến Kiêu-Kinh vấn tội.
U-Vương hay tin, thất kinh, hỏi quan cận thần Quách thạch-Phủ :

—'Trong nước xảy ra binh biến phải làm sao bây giờ?
Quách-thạch-Phủ quỳ tâu :
Xin bệ hạ sai người đến phong-hỏa-đài nổi lửa cầu cứu các chư hầu đem quân cứu viện. Chừng ấy trong đánh ra, ngoài đánh vào thì còn lo gì không dẹp nổi giặc Tây Nhung.
U-Vương nghe lời, sai người đến Ly-Sơn đốt lửa. Lửa cháy ngất trời, trống đánh rền vang như sấm mà chẳng thấy quân một nước chư hầu nào kéo đến cứu viện cả.
U-Vương và Bao-Tự bị vây ở chân núi Ly. Sơn nhìn nhau khóc ròng.
Nhận xét :
Tín nghĩa là căn bản của con người đối với xã hội. Thiếu tín nghĩa thì không thể nào làm cho
mọi người kính trọng mình được, U - Vương đốt lửa giễu chư hầu để làm vui Bao - Tự nhưng có ngờ đâu lại đem đến cho U-Vương một thảm trạng như vậy ?
Xưa nay, ở đời nhiều người thường thấy những việc lợi trước mắt mà không nghĩ đến tai hại về sau. Thực ra U-Vương không đến nỗi mê muội không thấy cái thiệt hại này, nhưng vì sắc đẹp của Bao - Tự đã làm cho nhà vua mờ ám mất.
Trong xã hội thời nay cũng chẳng thiếu gì kẻ khôn ngoan, thừa hiểu lẽ phải điều trái. Nhưng lúc chưa có một quyền lợi địa vị nào thì sáng suốt, mà đến lúc cầm trong tay một quyền lợi, địa vị thì lập tức bị quyền lợi, địa vị ấy làm tối mắt ngay.
Điều đáng buồn cười là kẻ bị quyền lợi địa vị chi phối cứ tưởng nùnh khôn ngoan, tự mmh biện hộ lấy cái sai để che đậy cái bản năng xấu xa của mình.
(..còn nữa..)
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)   ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) EmptyThu Jul 19, 2018 5:42 pm

MỐI TÌNH MẸ CON CỦA TRỊNH TRANG CÔNG

Sai lầm là chuyện dĩ nhiên trong đời người. Nhưng sai lầm mà biết cách sửa chữa thì đó là tự mình đã học được một bài học quý giá nhất đời. Bởi vậy, sai lầm không đáng sợ, chỉ sợ không biết sai lầm để sửa chữa.
Thế tử nước Trịnh là Quật-Đột, từ khi cha chết, lên kế vị, xưng hiệu là Trịnh-võ-Công. Nhân khi nhà Châu suy yếu, chiếỉn cả đất Quốc và đất Khoái làm thành một nước lớn.
Bấy giờ- Trịnh-võ-Công và Vệ-võ-Công đều kiêm chức Khanh-sĩ tại triều nhà Châu. Qua năm Bình- Vương thứ 13, Vệ-võ-Công thất lộc, còn một mình Trịnh-Võ-Công binh chánh, lúc thì về nước Trịnh, lúc ở lại triều nhà Châu.
Vợ Trịnh-võ-Công là Khương-thị sanh đặng hai trai, con lớn đặt tên Ngộ Sanh, con thứ đặt tên là Đoạn.
Ngộ-Sanh vì lúc nhỏ đẻ ngược, nên Khương- thị không ưá, còn Đoạn thi mặt mũi khôi ngô, lại có sức khỏe lạ thường, nên Khương-thị yêu mến lắm.
Một hôm Khương thị ngỏ ý với chồng :
— Nếu Đoạn mà được nối ngôi Chúa công sau này thi hơn Ngộ-Sanh gấp bội.
Trịnh-Võ-Công không bằng lòng, đáp :
— Lớn nhỏ đã có thứ bậc, chẳng nên làm xáo trộn luân thường. Vả chăng Ngộ-Sanh có tội lỗi gì mà ta lại bỏ chánh Lập thứ ?

Bèn phong cho Ngộ-Sanh làm Thế tử, còn Đoạn thì chỉ phong một chỗ đất nhỏ ở cung thành nên gọi là Cung-thúc-Đoạn.
Việc này làm cho Khương - thị không vui Sau đó Trịnh-Võ-Công qua đời, Ngộ-Sanh lên kế vị, xưng hiệu Trịnh-trang-Công, rồi cũng thế chức cha làm Khanh-sĩ nơi triều nhà Châu.
Khương thị thấy Cung-thúc-Đoạn chẳng được quyền hành gì, một hôm nói với Trịnh- trang-Công :
— Con được nối nghiệp cha làm Chúa nước Trịnh, đất rộng mấy trăm dặm ngoài mà để em con quản thủ một chỗ đất nhỏ như vậy, con hài lòng sao ?
Trịnh-trang-Công hỏi :
— Ý Mẫu-hậu dậy thế nào xin cho con biết?
Khương-thị nói :
— Nếu qủa con trọng tình ruột thịt thi việc gì không cấp đất Chè-ấp phong cho em ?
Trang-Công thưa :
— Chế-ấp là nơi hiểm địa Tiên-vương đã có lời di chúc, không nên đem phong cho ai. Trừ chỗ ấy ra, Mẫu hậu muốn chỗ nào con cũng xin vâng lời : .
Khương thị nói :
— Nếu vậy con phong cho Đoạn đất Kinh- thành.
Trịnh-Trang-Công làm thinh không nói. Khương- thị giận ;
— Nếu vậy thì tốt hơn con nên đuổi em con ra khỏi nước để kiếm chỗ dung thân.
Trịnh-trang-Công bùi ngùi nhìn mẹ nói :

— Thưa mẫu hậu, con đâu dám làm như vậy.
Hôm sau, Trịnh-trang-Công cho đòi Cung-thúc-Đoạn vào thành phong đất Kinh-thành. Quan Đại- phu Tế-Túc can :
— Kinh-thành đất rộng dân đông chẳng kém gì Vinh-Dương, nếu đem phong cho Cung-thúc-Đoạn ắt sanh hậu hoạn.
Trịnh-trang-công nói :
— Lệnh của mẹ ta làm sao ta dám cãi.
Cung-thúc-Đoạn được phong đất Kinh - thành
Liền bái tạ lui ra, vào cung từ biệt Khương-thị để đi nhậm chức. Khương-thị đuổi hết kẻ tả hữu ra. Rồi nói nhỏ với Thúc-Đoạn :
Anh con không nghĩ tình cốt nhục, bạc đãi con đã lâu. Hôm nay sở dĩ con được phong đất Kinh-thành là nhờ có mẹ nài nỉ lắm mới được. Nay con đến Kinh thành phải lo luyện tập binh mã, dư bị lương thảo cho sẵn, lúc nào có cơ hội mẹ sẽ tin cho con hay, để kéo binh về đánh lấy nước Trịnh. Mẹ làm nội ứng thi cái ngôi của Ngộ-Sanh sẽ về tay con không khó.
Thúc Đoạn lãnh mạng từ giã qua Kinh - thành, ngày đêm luyện tập binh mã, tích thảo dồn lương chờ cơ hội khởi sự.
Việc này thấu đến tai Trịnh-trang-Công, nhưng Trịnh-trang-Công vẫn không nói.
Công-tử Lữ thấy thế nói với Trang-Công :
— Thái-thúc-Đoạn ỷ bên trong có mẫu hậu yêu vì, bên ngoài có đất Kinh-thành là nơi hiểm yếu, luyện binh mã mưu chiếm giang sơn nước Trịnh, xin Chúa công cho tôi đem quân đến đó bắt Đoạn đem về trị tội.

— Thái-Thúc tuy vô đạo, song tội lỗi chưa rõ ràng nếu giết đi không khỏi đau lòng mẹ ta. Hơn nữa trong tình ruột thịt, ta không khỏi mang tiếng bất hiếu, bất nghĩa.
Công-tử Lữ than :
— Tinh ruột thịt nhiều lúc làm cho người ta không thể quyết đoán được việc lớn. Nếu Chúa-Công trọng tình ruột thịt thì không tránh khỏi tai vạ.
Trịnh-trang-Công nói :
— Nếu Thúc-Đoạn đã có âm mưu tạo phản thì hành động mỗi ngày một rõ ràng hơn. Tội lỗi đã rõ thì dẫu ta có trừng trị bằng cách nào mẹ ta cũng không thể trách ta bất nhân, bất nghĩa được Công-tử Lữ cúi đầu nói :
— Kiên thức Chúa-công rất cao siêu, tôi không thể sánh kịp. Chỉ e thế lực của Thúc-Đoạn mỗi ngày một bành trướng thêm, chúng ta sau này khó trừ được.
Trịnh-trang-Công trầm ngâm hỏi :
— Thế thì bây giờ phải làm cách nào để mẹ ta khỏi oán trách ta vô đạo ?
Công tử Lữ nói :
— Đã lâu, Chúa - công vì lo việc Thúc-Đọan không vảo chầu vua nhà Châu. Nay nhân dịp này, Chúa-công giả cách vào chầu vua nhà Châu để Thúc - Đoạn ngỡ thật đem quân đến đây tạo loạn. Tôi xin đem quân phục sẵn ờ đất Kinh - thành, đợi Thúc-Đoạn keo quân đi lẻn vào chiếm gỉữ. Còn Chúa-công cũng đem một đạo quân theo đường tắt đánh ập lại. Thúc Đoạn dù có cánh bay lên trời cũng không thể trốn thóat được.

Trịnh-trang-Công cho là kế hay. Hôm sau tuyên bố với triều thần giao cho Tế-Túc coi việc triều chính rồi sửa soạn vào chầu vua nhà Châu.
Khương-thị hay được tin ấy mừng lắm, viết mật thư sai người tâm phúc đem đến Kinh-thành trao cho Thúc-Đoạn, trong thư ước hẹn nội trong trung tuần tháng ấy phải đem binh về chiếm lấy nước Trịnh.
Công tử Lữ biết trước sai ngườỉ phục nơi yếu lộ, qủa nhiên bắt được người đem thư ấy. Công-tử Lữ liền giết quách người đem thư rồi mang thư về trao cho Trịnh-trang-Công ? Trịnh- trang-Công rất đau lòng nhưng không thể vì tinh máu mủ mà dung tha kẻ phản nghịch bèn phong bức thư ấy lại như cũ, rồi sai người tâm phúc của mình đem đến Kinh - thành trao cho Thúc-Đoạn
Được thư Thúc-Đoạn hẹn ngày động binh, và dặn Khương – thị đến ngày ấy dựng trong thành một cây đại kỳ để biết chỗ tiếp ứng.
Đến ngày ấy, Trịnh-trang-Công ngầm đóng quân ở Lẫm-Giêng còn Công-tử Lữ ngầm kéo quân đến Kinh-thành. Bởi vậy Thúc – Đọan kéo quân ra khỏi thành chưa được bao lâu thì Công tử Lữ đã chiếm mất Kinh - thành, nổi lửa đốt cả dinh trại, khói bốc nghịt trời. Thúc-Đoạn biết có biến, đem quân trở lại cứu ứng. Chẳng ngờ bị Trịnh-trang- Công kéo quân đến tiêu diệt. Thúc-Đoạn không còn ngả nào chạy nữa, phái đem tàn quân đến Cung thành là chỗ đất được phong trước kia để cố thủ. Nhưng Cung-thành chi là một ấp nhỏ, làm sao cự lại với quân triều, nên chẳng bao lâu thành bị phá.
Thúc-Đoạn ngước mặt lên trời than:

— Mẹ ta đã gạt ta, ta còn mặt mũi nào trông thấy anh ta nữa. Nói rồi rút gươm tự vận.
Trịnh-trang-Công thấy trong mình Thúc – Đoạn lúc chết còn giữ phong thư của Khương-thị, nên tức giận gởi trả thư ấy về cho mẹ mình, và cầm viết đề vào đó một câu thề rất độc :
* Nếu không phải là chốn cửu tuyền, từ nay mẹ con sẽ vĩnh viễn không thấy mặt nhau.
Phong thư về đến Kinh đô, Khương - thị mở ra xem, lòng, thẹn thùng quá sức, liệu mình chẳng còn mặt mũi nào thấy mặt con nữa nên lìa khỏi cung, tránh mặt ra ở nơi đất Dinh.
Trịnh-trang-Công về đến cung không thấy mẹ đâu, lòng buồn bã nghĩ thầm :
“Ta đã ép lòng làm hai một đứa em, nay còn nỡ nào lìa mẹ? Nhưng lời thề đã lỡ, còn biết làm sao ?”
Dinh- khảo-Thúc là quan trấn ở Dinh ấp, có lòng hiếu thảo vô cùng, nghe Trịnh-trang Công có lời thề từ bỏ người mẹ, trong lòng bất mãn thường nói với mọi người :
— Dù mẹ có lỗi đến đâu, con cũng không nên bất hiếu Chúa-Công làm như thế thật trái đạo.
Mấy hôm sau. Dinh-khảo-Thúc nghĩ ra một kế để răn vua liền bắt mấy con chim cú đem vào dâng cho Trịnh- trang- Công.
Trịnh-trang-Công hỏi :
— Chim gì vậy ?
Khảo-Thúc tâu :
— Đây là giống chim cú. Giống chim này ban ngày dẫu một vật to bằng trái núi vẫn không thấy,

nhưng ban đêm thì dẫu vật nhỏ bằng sợi tóc cũng thấy rõ. Ấy là giống vật chỉ thấy cái nhỏ mà không thấy cái lớn. Hơn nữa, lúc còn nhỏ, chim mẹ kiếm mồi cho ăn, đến lúc lớn lên, nó không biết gì đến chim mẹ nữa, thật là giống chim bất hiếu nên bắt nó làm thịt ăn.
Trịnh-trang-Công nghe nói ngồi lặng thinh. Chợt lúc đó có người đem thit dê đến dâng cho vua nhắm rươu. Trịnh-trang-Công cắt một miếng ban cho Khảo-Thúc. Khảo-Thúc liền chọn một chỗ thịt ngon nhất, cắt gói Lại thành một gói, cho vào túi áo.
Trịnh-Trang-Công lấy làm lạ hỏi :
— Khanh để dành làm chi vậy?
Khảo-Thúc tâu :
— Mẹ tôi đã già mà nhà lại nghèo khổ, Ít bao giờ được ăn miếng ngon vật lạ. Nay được Chúa- công ban thưởng nếu không để dành cho mẹ tôi làm sao sao tôi ăn ngon được ?
Trịnh-trang-Công nói :
— Ngươi thật là kẻ chi hiếu. Tiếc ràng trẫm không thể bằng ngươi được.
Khảo-Thúc giả bộ ngơ ngác, hỏi :
— Quốc mẫu vẫn được mạnh giỏi, cớ saơ Chúa-công lại tỏ ý buồn bã ?
Trịnh-trang-Công đem câu chuyện Thúc-Đoạn nói lại với Khảo-Thúc và hối tiếc vì mình bị mắc lời thề không sao gần mẹ được Khảo-Thúc nghe xong, buồn bã, tâu :
— Thúc Đọan đã mất tình cốt nhục chia lìa, nay chỉ còn Quốc-mẫu mà Chúa-công bỏ bề phụng

dưỡng e lỗi đạo làm con. Nếu Chúa-công lỡ lời thề, tôi xin dâng một kế có thể phụng dưỡng mẹ mà khỏi phạm lời thề đó.
Trịnh-trang-Công mừng rỡ hỏi :
— Ngươi có kế gi hãy giúp trẫm.
Khảo-Thúc nói :
— Chúa - công thề rằng lúc nào xuống chốn
hoàng tuyền mới trông thấy mẹ, vậy thi Chúa-
công truyền đào một cái suối sâu đến tận mạch nước, làm một cái nhà ở dưới hầm, coi đó là hoàng tuyền rước Quốc – mẫu đến đó. Hai mẹ con sẽ cởi mở cõi lòng, không phạm lời thề gì cả.
Trịnh-trang-công y tấu, sai Khảo-Thúc đem năm trăm tráng dân đến Khúc-Vị đào một cái hầm dưới núi Ngưu-Kỳ, cất một ngôi nhà gác trên
Mặt nước, rồi rước Khương-thị đến ở đó.
Công việc hoàn thành. Trịnh-trang-Công đến đó gặp mẹ, sụt sùi lạy mấy lạy và nói :
— Ngộ-Sanh này bất hiếu, xin mẫu hậu dung tha
Khương thị buồn vui lẫn lộn, ứa nước mắt
nói :
— Đó là lỗi của mẹ. con có tội gì...
Hai mẹ con ôm nhau khóc sướt mướt
NHẬN XÉT
Khưvng-thị là một người đàn bà tầm thường, nuôi trong lòng một tình thương hẹp hòi. Cùng là con thế mà đứa thương đứa ghét. Hình ảnh Ngộ- Sanh, và Thúc Đọan cho chúng ta thấy rõ trong gia đình có con yêu con ghét. Đời này cũng vậy, chăng.

Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)   ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) EmptyMon Jul 23, 2018 2:35 pm

TRỊNH-TRANG-CÔNG GẶT LÚA ÔN ẤP
Có những việc nhỏ cần bỏ qua để bảo vệ việc lớn- Có những cái tức nhỏ, cần phải nhẫn nhục để khỏi phải mang cái hận lớn về sau.

Trịnh-trang-Công làm Khanh sĩ triều nhà Châu, nhân vì trong nước có biến không thể sang triều Châu bình chánh được.
Châu-bình-Vương không thấy Trịnh-trang-Công đến, nhân lúc Quách Công Kỵ-Phủ vào- chầu, ý muốn nhờ Quách-Công Ky-Phủ quyền đỡ công việc triều đình Quách-Công Kỵ Phủ từ chối không nhận, tâu :
— Trịnh-trang Công không đến ắt trong nước có việc, nếu bệ hạ dạy hạ thần quyền thế Trịnh- Trang-công không những óan Bệ-hạ mà còn oán hạ thần nữa. Hạ thần chẳng dám vâng mạng
Trịnh trang-Công tuy không qua triều Châu nhưng vẫn có người ở Kinh - sư dò la tin tức, thấy Châu Bình-Vương có ý như vậy, Trịnh-trang Công liền sửa sang xa giá đến ra mắt Châu-bình- Vương và tâu :
— Hạ thần đội ơn bệ hạ. cha truyền con nối cả hai đời làm Khanh-sĩ, nay xét mình bất tài, xin từ chức lui về Trịnh để giữ chức hầu.
Châu-Bình-Vương cố thanh minh ý kiến của mình muốn nhờ Châu-Công Kỵ-Phủ quyền đở mà thôi, Không có ý truất bỏ Trịnh-Trang-Công. Tuy nhiên Trịnh-trang-Công vẫn không thông cảm. Sau đó, Châu-Binh-Vương phải cho Thái-tử Hồ sang Trịnh làm con tin để cho Trịnh-trang-Công thấy lòng mình mà không nghi kỵ nữa.
Sau đó, Bình-Vương băng hà, vua Hoàn-Vương lên nối ngôi, nghĩ đến việc Trịnh-trang-Công bắt Thái tử Hồ sang làm con tin lấy làm giận, tìm cách truất phế Trịnh-trang-Công.
Trịnh-trang-Công về nước Trịnh, kể việc mình bị Hoàn-Vương nhà Châu bạc đãi cho triều thần nghe.
Quan Đại-phu Cao-Cử-Di nói:
— Chúa công từ trước đến nay đã hai đời giúp nhà Châu công trạng rất lớn. Còn Thái-tử Hồ sang ở nước ta, chúng ta không có gì vô lễ, nay vua nhà Châu lại bỏ Chúa-công dùng Quách-Công Kỵ-Phủ, thì thật là kẻ bất nghĩa. Xin Chúa-công ra binh đánh nhà Châu, phế Hoàn-Vương mà lập vua khác, như thế các chư hầu mới kính nể nước Trịnh.
Dĩnh-khảo-Thúc nói :
— Không nên thế. Đạo vua tôi như tình mẹ con Chúa-công đã không thù mẹ sao lại thù Chúa? Chúa - công nên kiên nhẫn, chờ vua Hoàn Vương ăn năn hối cải mà trọng dụng, đừng nóng nảy mà mất khí tiết mấy đời nhà Trịnh.
Tế-Túc bàn :
— Cả hai ý kiến đều có lý. Vậy tôi có một cách dung hòa hơn. Chúng ta cần dò xét thái độ vua Hoàn-Vương xem có phải là người biết ăn năn hối cải không đã. Nay đem một đạo quân sang đất nhà Châu lấy cớ mất mùa, mượn lúa ở ôn ấp.

Nếu nhà Châu trách phạt ta sẽ sanh sự, bằng không, Chúa-công phải thân hành vào triều can gián vua Hoàn-Vương.
* Trịnh-trang-Công cho là phải, bèn sai Tế-Túc cất quân kéo đến Ôn-ấp.
Quan giữ ôn-ấp là Ôn Đại - phu thấy thế la hỏang :
— Sao ngài lại làm ngang như thế ? Chưa có lệnh Hoàn - Vương tôi không thể nào cho mượn lúa được.
Tế-Túc nói :
— Hiện nay ở đây lúa mạch đang chín, còn nước tôi thiếu lúa ăn, nếu không cho mượn tôi cứ tự tiện gặt lấy.
Nói xong khiến quân đem liềm xuống ruộng mà gặt. Ôn Đại-Phu thấy quân Trịnh mạnh quá. không dám ngăn cản, vội chạy về Lạc-Dương cấp báo.
Hoàn Vương nổi giận định hưng binh đánh Trịnh, nhưng Châu-Công Hắc-Kiên can :
— Tế-Túc gặt lúa trộm chỉ là việc nhỏ ở biên đình. Bệ hạ không nên vì việc nhỏ mà bỏ việc lớn. Xin cứ lấy đại lượng đối xử, Trịnh-trang- Công sẽ ăn năn cải hối.
Châu Hòan-Vương nhận lờì, bỏ qua việc ấy.
Qủa nhiên, Trịnh-trang-Công có ý ăn năn, không còn hiềm khích Hoàn-Vương nữa. và phục tùng nhà Châu như trước.

NHẬN XÉT
Trịnh-trang-Công gặt lúa nhà Châu ở Ôn-ấp chỉ là chuyện khiêu khích để gây hấn, nhà Châu không lấy thế làm giận hờn, bỏ qua câu chuyện làm cho Trịnh-trang-công phải hối cải.
Ở đời không phải lúc nào thấy ai làm sai cũng giận hờn. Một nhà chánh trị lỗi lạc bao giờ cũng thấy được cái hại xa hơn là cái hại trước mắt. Một nhà đạo đức gia bao giờ cũng lấy việc khoan dung chinh phục lòng người. Hành động vua Hoàn-Vương đúng với một chánh trị gia mà cũng đúng với một đạo đức gia đó.
Thời nay, nhiều người vì khí tiết hẹp hòi không chịu nổi những cái tức giận nhỏ nhoi trước mắt, làm cho việc lớn phải hư. Cái tức giận nhất thời chỉ là bản năng của vật chất, còn cái nhẫn nhục mới chính là khả năng của phần lý trí.
Người có lý trí không bị ai khiêu khích mà làm, họ chỉ làm những việc do trí xét đóan lợi hại của họ. Những kẻ ngông cuồng, nóng nảy thường bị những người điêu ngoa khiêu khích để lợi dụng. Tấm gương Trịnh-trang-Công gặt lúa nhà Châu tuy không có gì sáng chói lắm, nhưng cũng phản chiếu được vào lĩnh vực giáo dục đối với những ai nông nổi hành động
không suy xét lợi hại. Nhất là những kẻ đang nắm trọn quyền, nếu chỉ làm theo cái bản năng nhỏ nhen của mình thì không thể nào tránh khỏi bàn tay lợi dụng của những kẻ điêu ngoa nhắm vào nhược điểm ấy Khai thác.

Đứng về phương diện giáo dục, kẻ có trọng quyền muốn giác ngộ một kẻ dưới tay bao giờ cũng phải dùng phương pháp khoan dung hơn là trừng trị. Đứng về phương diện chánh trị không ai hành động vì tức giận bao giờ.

Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)   ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) EmptyFri Aug 17, 2018 11:33 am

VÌ NGHĨA,
THẠCH-THÁC GIẾT CON


Mất con, chi có Một người cha đau khổ. Mất nước, cả một dân tộc bị nhục nhã, đau đớn. Thà mất con hơn mất nước.
Vệ-Trang-Công lấy một cung nữ sanh ra công-tử Chu-Hu.
Chu-Hu tính hung bạo nhưng Vệ-Trang-Công rất quý mến. Do dó, Chu Hu mỗi ngày một lộng hành, bất chấp việc giáo huấn. Quan Đại-phu Thạch- Thác thấy thế đã nhiều lần khuyên Vệ-Trang-Công : — Chúa-công nên tìm cách trấn áp Công-tử kẻo sau này khó tránh tai vạ.
Còn Thạch-Thác lại cũng có một đứa con tên Thạch-Hậu, thường giao du với Chu-Hu, rủ nhau săn bắn, luyện tập võ nghệ, làm lắm điều nhiễu hại dân chúng. Thạch-Thác nổi giận nhiều lần đánh đập khuyên răn. Thạch-Hậu đã không nghe lại bỏ nhà vào nội thành ở luôn với Chu-Hu, làm cho

Thạch- Thác phải bó tay trước đứa con ngỗ nghịch đó.
Sau Vệ-Trang Công mất, Vệ-Hòan.Công lên nối ngôi. Vệ- Hoàn-Công nhu nhược không làm gì nên việc lớn. Bấy giờ Chu-Hu không còn kiêng nể ai nữa, bàn với Thạch-Hậu mưu việc tiếm ngôi.
Nhân dịp vua Bình Vương nhà Châu mất. Vệ-Hoàn- Công sắp sửa đi điếu tang, Chu-Hu hỏi ý kiến Thạch-Hậu.
Thạch Hậu nói :
— Đó là dịp tốt. Ngày mai công tử bày tiệc rượu tiến hành đưa Chúa-công đi. Tôi sẽ cho quân sĩ mai phục ở phòng tiệc. Lúc đang ăn uống. Công-tử rút gươm ra hạ sát Chúa-công đi thì lo gì không đoạt được ngôi báu.
Chu-Hu mừng rỡ làm y kế.
Sáng hôm sau, Chu Hu bày tiệc ở Công-quán rồi mời Vệ-Hoàn-Công đến dự. Chu-Hu nâng ly rượu nói :
Nay huynh hàu đi xa, em xin có ly rượu tiễn hành.
Vệ-Hoàn-Công nói :
Hiền đệ quá nhọc lòng. Chẳng qua ta đi vắng độ một tháng trời, nhờ hiền đệ ở nhà coi việc quốc chính cho chu tất là tốt rồi.
Hai người nâng ly vui vẻ. Được một lúc Chu-Hu giả say, làm rơi ly rượu xuống đất, rồi cúi xuống lượm ly đi rửa. Vệ-Hoàn-Công không ngờ bị Chu-Hu lén ra phía sau lưng rút gươm đâm một nhát bỏ mạng.
Lúc đó Thạch-Hậu dẫn năm trăm quân giáp kỵ vây chặt Công-quán, nên không ai dám trái lệnh.
Giết Vệ-Hòan-Công xong, Chu-Hu lên kế vị, phong cho Thạch-Hậu làm Thượng Đại-phu.
Vừa lên ngôi được ba ngày, Chu-Hu nghe dân

chúng bàn tán về việc mình giết vua, nên bực tức kêu Thạch-Hậu nói:
— Nay ta mới tức vị oai quyền trong thiên hạ chưa được bao nhiêu. Muốn cho các nước nể vì thì phải làm sao ?
Thạch-Hậu nói:
— Muốn cho dân phục phải bắt những kẻ được dân tin tưởng phục mình trước đã. Cha tôi trước kia làm Thượng Khanh ai cũng mến đức, nay xin Chúa-công triệu cha tôi vào phụ chính thì ngôi báu ắt vững.
Chu-Hu nghe theo lời. khiến người đem một cặp bạch bích và năm trăm hộc gạo trắng đến cầu Thạch-Thác vào chầu để nghị việc
Thạch-Thác giả đau, từ chối không nhận. Chu- Hu hỏi Thạch-Hậu:
— Cha của khanh không chịu vào chầu, ý ta muốn đến đó để hỏi kế, có nên chăng ?
Thạch Hậu tâu :
Chúa-công đến đó vị tất đã được gặp mặt, để tôi lấy lệnh vua mà triệu cha tôi đến thì hơn.
Nói rồi trở về nhà vào tỏ với Thạch-Thác việc kính mến của Chu-Hu. Thạch-Thác hỏi :
— Tân quân muốn triệu cha vào triều làm chi?
Thạch-Hậu thưa :
— Vì lòng dân trong nước chưa phục, Tân quân sợ ngôi báu không vững nên muốn nhờ phụ thân chỉ giáo.
Thạch-Thác nói :
Mổi chư hầu lên ngôi phải có lịnh vua mới chính đáng, nay tân quân muốn được mọi người tùng phục, thì phải vào chầu vua nhà Châu, khi

vua nhà Châu chấp thuận, ban áo mũ thì người trong nước sẽ vâng mạng.
Thạch-Hậu nói :
— Lời phụ thân dạy rất phải, song vô cớ vào chầu nhà châu e bị nghi ngờ. Vậy phải có người đến đó tâu trình trước thi mới xong.
Thạch-Thác nói :
•Việc đó không khó khăn gì. Trần-hầu là một người đang được vua nhà Châu yêu chuộng, lâu nay chưa hề bỏ phế lễ triều sinh nào. hơn nữa vừa rồi. Trần lại đem binh giúp Vệ đánh Trịnh, thì tình gia0 hảo giữa Vệ và Trần rất mật thiết. Tân quân cứ sang nước Trần nhờ Trần-hầu vào tâu trước với nhà Châu, rồi tân quân sẽ vào yết kiến.
Thạch-Hậu trở về nói lại với Chu-Hu. Chu- Hu mừng lắm. Vội sắm lễ vật và hành trang, rồi cùng Thạch-Hậu lên đường sang nước Trần.
Nào ngờ đó là mưu của Thạch-Thác. Khi Thạch-Hậu và Chu-Hu qua Trần đều bị Trần-hầu bắt giữ lại do một bức thư mật của Thạch-Thác gửi đến.
Vua nước Trần bắt Chu-Hu nhốt tại Bộc ấp và Thạch-Hậu tại Trần-đô để khỏi liên lạc với nhau, đoạn cho người sang nước Vệ báo tin cho Thạch-Thác biết.
Thạch-Thác từ khi cáo quan dưỡng lão không đi đâu nửa bước, nay được thư nước Trần vội vã vào triều thương nghị.
Lúc dó bá quan đủ mặt, Thạch-Thác mở thư ra đọc mới biết Chu Hu và Thạch-Hậu bị bắt, chỉ còn đợi người sang Trần quyết định mà thôi.

Các quan đều nói :
Đây là việc lớn của quốc gia, chúng tôi một lòng trông cậy vào ý kiến của ngài cả.
Thạch-Thác nói:
— Hai đứa phản loạn này không thể nào dung thứ được, tội đáng chém đầu. Vậy ai có thể vì nước mà cán đáng việc này.
Quan Thái-tể Xú bước ra thưa:
— Kẻ loạn tặc ấy ai cũng có thể giết được. Tôi tuy phận hèn nhưng cũng lấy làm ức. xin cứ giao việc ấy cho tôi.
Các quan đều đồng thanh nói :
— Phải, việc ấy mà giao cho quan Thái-tể thì phải lắm. Nhưng xét ra Chu-Hu mới là chánh phạm, còn Thạch-Hậu là kẻ a tùng, cũng nên châm chế.
Thạch-Thác nghe nói nổi giận hét:
— Chu-Hu phản nghịch chính tại đứa con tôi mà ra. Nay các quan nghị như thế là nghi tôi có tình riêng với nó hay sao? Thôi, tôi phải thân hành đến đó để chém đứa loạn thần ấy, thì mới dám nhìn vào lăng miếu của tiền nhân tôi.
Nhụ Dương Kiên nói :
— Thôi, thôi, xin lão quan chớ giận, để tôi đi thay cho.
Thạch-Thác liền sai Thái-tể Xú qua Bộc-ấp mà chém Chu Hu, còn Nhụ Dương Kiên thì sang Trần để chém Thạch-Hậu.
Lại sai người sắm xe giả sang nước Hình rước Công-Tử-Tấn về.

Thái-tể Xú và Nhụ-Dương-Kiên qua đến nước Trần vào ra mắt Trần-Hoàn-Công để thi hành sứ mạng mình. Khi Thái-tử Xú đến Bộc ấp truyền quân dẫn Chu-Hu đến. Chu-Hu trông thấy Thái-tử Xú kêu lớn :
— Có phải ngươi đến đây để cứu ta chăng ?
Thái-tể Xú lắc đầu đáp ;
— Không phải để cứu mà để giết.
Chu Hu trợn mắt, hỏi :
— Ngươi làm tôi của ta sao dám phạm đến ta ?
Thái tể Xú mỉm cười đáp :
— Nước Vệ trước kia có người bề tôi mà dám giết vua, vì vậy hôm nay ta bắt chước,
Nói xong truyền quân chém đầu.
Còn Nhụ-Dương-Kiên khi đến Trần- đô cũng đem Thạch-Hậu ra chém, Thach-Hậu nói :
— Muốn chém ta cũng được, song phải đưa ta về nước để ta trông thấy mặt phụ thân ta đã.
Nhụ-Dương-Kiên nói :
— Ta vâng lệnh phụ thân của ngươi đến đây giám sát. Nếu muốn thấy mặt cha ngươi thì để ta chém xong xách đầu về nước Vệ để ngươi được gặp mặt.
Nói xong vung gươm chém quách.
Nhận Xét:
Không có gì nặng bằng tình cha con Thạch-Thác dám giết con để bảo vệ cho giang sơn xứ sở thì Thạch- Thác đứng vào hàng tôi trung của nước Vệ rồi.

Thạch-Thác giết con cứu nước chỉ một mình Thạch-Thác đau khổ nhưng đem lại vinh quang Hạnh phúc cho muôn dân, như vậy Thạch-Thác hy sinh tình cha con không thể gọi là bất nhân. Đã là một trung thần lo cho giang sơn tổ quốc dĩ nhiên phải đặt quyền lợi tổ quốc lên trên quyền lợi gia đình.
Mất con chỉ có một người cha đau khổ. Mất nước toàn dân bị đau đớn.
Đời nay, thiếu gì kẻ có địa vị lôi kéo cả gia đình thân tộc mình vào để chia xôi chia thịt, làm hại nước hại non. họ cốt vơ vét cho đầy túi tham của họ, còn quyền lợi tổ quốc giang sơn họ không bao giờ nghĩ đến. Tấm gương Thạch-Thác giết con đáng làm cho những ai là kẻ tham quyền cố vị soi chung vậy.
Ngoài ra, còn có nhiều người vì tình riêng che dấu những tệ hại của người thân thuộc, mật dầu hành động của họ rất có hại cho tiền đồ của tổ quốc. Những kẻ xem tình riêng nặng hơn tình nước, kẻ ấy chưa đáng mặt tham gia vào công cuộc cứu quốc.
Thời nào cũng vậy, ít kẻ dám hy sinh tình riêng của mình để bảo vệ tình chung dân tộc.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)   ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) EmptyFri Aug 24, 2018 4:50 pm

HOA ĐỐC GIẾT KHỔNG-PHỤ-GIA

— NgưỜI chồng bao giờ cũng muốn có vợ đẹp, nhiều khi không phải là hạnh phúc mà là một tai họa.
Người chồng có vợ đẹp chẳng khác một kẻ lữ hành mang theo người một bảo vật. Đã bận tâm chăm sóc mà nếu gặp kẻ bất lương còn có thể bị thiệt mang.
Tống Tương-Công lên ngôi thường hay đem quân đánh Trịnh, làm cho hao người tốn của , dân gian khổ cực.
Khổng-phụ-Gia làm chức Tư-mã. Binh quyền trong tay, nói gì Tống Tương Công cũng nghe cả.
Bấy giờ triều Tống có Hoa-Đốc làm chức Thái- tể, thấy Khổng - phụ Gia nắm trọn binh quyền cũng không dám nói gì.
Nhân lúc Khổng-phụ-Gia đi đánh nước Đái bị  thua to trốn chạy về. Hoa-Đốc cho người len lỏi trong dân chúng phao tin đồn Khổng-phụ-Gia chuyên quyền ép vua gieo binh biến, gieo khổ nhọc cho nhân dân.
Hoa - Đốc lại nghe tin đồn nàng Ngụy-thị ái thiếp của Khổng-phụ-Gia nhan sắc tuyệt trần, nên lòng rạo rực, muốn được trông thấy nét hoa.

Một hôm vào tiết thanh minh, Ngụy-thị đi tảo mộ, Hoa - Đốc tình cờ trông thấy, lòng mê mẩn, chân bước không đành, nghĩ thầm :
— Người đâu mà đẹp đến thế ?  Tiếng người đồn thực chẳng sai !
Từ đó Hoa-Đốc đem lòng bất chính, mơ ước lấy vợ người làm vợ mình và quyết không để Ngụy- thị nằm mãi trong tay Khổng-phụ-Gia.
Một hôm, Khổng-phụ-Gia đi duyệt binh, Hoa- Đốc cho người lén trà trộn vào trong quân sĩ phao tin rằng :
— Khổng-phụ-Gia sắp đem quân đi đánh Trịnh.
Quân sĩ nhớ đến cảnh lửa binh tang tóc, ai nấy đều sợ sệt, rủ nhau đến dinh Hoa-Đốc yêu cầu tâu với vua bãi việc chinh chiến.
Hoa – Đốc cho người phủ dụ, bảo quân sĩ trở về, nhưng quân sĩ tập họp mỗi lúc một đông hơn.
Bấy giờ Hoa – Đốc biết lòng dân đã nung sôi lên mặc áo mang gươm ra cửa nói:
— Khổng-phụ-Gia cậy quyền, ép Chúa-công gây việc binh đao, làm cho quân sĩ chết oan, dân tình điêu đứng, trước hòan cảnh này tôi rất đau lòng, nhưng không thể nào ngăn cản được.
Quân sĩ như lửa cháy chế dầu thêm, ai nấy nhao nhao lên. Hoa-Đốc giả cách khuyên :
— Thôi, các ngươi trở về kẻo Chúa-công hay được thì tội của ta không tránh khỏi.
Quân sĩ nhao nhao nói:
— Thưa ngài, sau mấy năm chinh chiến, anh em họ hàng chúng tôi đã chết quá nhiều. Thế mà hiện

giờ chúng tôi lại còn đem thân đi chết nữa. Vậy chúng tôi xin theo ngài giết tên giặc nước ấy đi, dẫu có chết cũng được thỏa lòng hơn.
Hoa-Đốc lại nói :
- Muốn ném chết một con chuột chúng ta phải kiêng tránh những vật báu của chúng ta chứ ?  Nay Khổng-phụ Gia là tôi thương yêu cùa Chúa- công, thì dẫu tàn ác thế nào cũng không nên giết.
Quân sĩ nói lớn :
— Xin ngài hãy đứng ra trừ đứa bất nhân vô đạo ấy. Chúng tôi nguyện Theo ngài hết.
Nói xong, quân sĩ xúm nhau kéo Hoa-Đốc lên xe, tiến đến dinh Khổng-phụ-Gia vây kín bốn bề.
Lúc bấy giờ trời đã tối xẩm. Khổng phụ-Gia đang ngồi uống rượu trong tư dinh, bỗng nghe có tiếng gõ cửa liền sai người bước ra hỏi :
— Việc gì vậy ?
Hoa-Đốc không đáp, xô cửa bước vào. Quân sĩ cũng đua nhau ồ ạt kéo vào một lượt.
Khổng-phụ Gia thất kinh chưa kịp chạy trốn thì Hoa Đốc đã nhảy xô đến hét lớn :
— Để làm gì thằng giặc hại dân hại nước đó.
Khổng-phụ Gia chưa kịp trả lời thì đầu đã rơi
Xuống đất. Hoa-Đốc cho người vào trong bắt Nguỵ-thị đem ra dấu vào xe chở về nhà.
Nhận xét!
— Khổng-Phụ-Gia chỉ vì có vợ đẹp mà hại đến thân. Xưa nay biết bao người có vợ đẹp mang lấy thảm họa. Vợ đẹp nếu không dùng sắc đẹp tác yêu

tác quái với chồng thì cũng bị người ngoài dòm ngó, để ý. Thế thì vợ đẹp chắc gì đã đem hạnh phúc lại cho chồng, mà thế gian ai cũng muốn mình có vợ đẹp?
Người đàn bà đẹp chẳng khác một đóa hoa trước muôn ngàn ong bướm, làm sao tránh khỏi lời ong lưỡi én. Trời dành riêng cho người đàn bà nào đó có một sắc đẹp thi người đó chính là trời cũng dành riêng cho một mối khổ tâm. Khổ tâm vì phải chống chế với bao nhiêu cử chỉ bất chính của những kẻ hiếu sắc để giữ lấy thanh danh. Người có sắc đẹp là được một phần thường mà cũng đồng thời bị một mối nợ gắn trên mình.
Người có sắc đẹp chân chính biết hãnh diện với đời thì cũng phải biết đề phòng  mối hiểm họa sắc đẹp của mình.
Tội nghiệp nhất là những ông chồng có vợ đẹp, tuy được hưởng một nguồn tinh thần, nhưng đêm ngày nơm nớp lo lắng. Người ta ví người chồng có vợ đẹp chẳng khác một kẻ lữ hành mang trong mình một báu vật, đã mất công chăm sóc, mà nếu gặp kẻ bất lương còn phải bị thiệt thân như trường hợp Khổng-phụ- Gia vậy.
Đời nay cũng thế, người có vợ đẹp bên ngoài ai thấy cũng thèm muốn cái địa vị làm chồng của họ, nhưng thực tế bên trong các ông chồng có vợ đẹp chắc gì đã có mấy người hưởng được hạnh phúc?
- Hoa-Đốc là kẻ háo sắc, nhưng cũng là  một tay già giặn về chính trị. Chính Hoa-Đốc đã dùng lối binh vận để đạt lấy thành công. Phương pháp binh vận, dân vận hiện nay trên trường đấu tranh chính trị, người ta cũng áp dụng rất nhiều và rất có hiệu quả.

Một tường tài, không được quân binh mến phục thì tướng tài ấy cũng sẽ vô dụng. Một ông Vua không được dân yêu, ông vua ấy sẽ phải mất nước. Căn cứ theo đó muốn giành nước trước phải chiếm lòng dân, muốn thắng trận trước phải mua lòng binh sĩ.
ở nước Việt Nam ta xưa kia Trần- Hưng – Đạo đánh quân Nguyên, mở hội nghị Diên-Hồng, triệu tập các bô lão để quyết định chống giặc, đó cũng là phương pháp dân vận. Nguyễn-Trãi đánh quân Ngô làm bài Bình-Ngô Đại-Cáo kể tội quân giặc làm nức lòng binh sĩ, đó cũng là một lối binh vận.
Tấm gương thời xưa đã có rất nhiều trong trường đấu tranh chính trị, thế mà thời nay có nhiều kẻ lên nắm chính quyền chỉ biết tre trua lấy bản thân, củng cố địa vị lo việc vinh thân phi gia, ngoài ra không hiểu gì về chiến thuật chính trị cả. Thế mà cũng vỗ ngực tự xưng mình là anh hùng cứu nước, bắt thiên hạ suy tôn, thật đáng buồn cười!
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)   ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) EmptySat Apr 17, 2021 12:41 pm

GÁI VĂN –KHƯƠNG
 
Lòng người đàn bà như một cánh cửa đóng kín mà không gài then. Hãy coi trừng !
 
Tề- Hi-Công có hai người con gái rất xinh đẹp. Người lớn tên là Tuyên-Khương đã gả cho Vệ-hầu, còn lại người nhỏ là Văn-Khương. Nàng này mặt hoa mày liễu, nhan sắc tuyệt vời, lại thêm học hành thông thái, thi phú rất giỏi, vì thế mới gọi là nàng Văn-Khương.     
 
Văn-Khương lại còn có người anh cùng cha khác mẹ tức là thế tử Chư-Nhị chỉ lớn hơn nàng độ vài tuổi, diện mạo phương phi, ra chiều phong nhã, nhưng phải cái tính đam mê sắc dục, từ nhỏ đến lớn Chư-Nhi và Văn-Khương thường lui tới gần gũi nhau, do đó trong tình anh em lại có ẩn thêm một mối tình luyến ái.
Tề Hi Công vốn chiều con, không bắt buộc giữ gia khuông phép nên về sau sanh điều tệ hại, Khi Thế-tử Hốt đánh giặc Hắc-Nhung. Tề- Hi-Công thường khen tài Trịnh Thế-tử trước mặt Văn-Khương, lại thường nhắc đến việc hôn nhân của nàng với Thế- tử Hốt Văn-Khương lấy làm đắc ý, nhưng về sau nghe tin Thế-tử Hốt từ hôn. Nàng buồn bã sanh bịnh bỏ ăn bỏ ngủ ngày đêm mê hoảng. Thế- tử Chư-Nhi thường lại thăm nàng, lân la bên giường bệnh, gây thêm mối tình gian díu. Tuy nhiên, vì lúc nào cũng có quân nhân hầu hạ một bên, nên chưa đến nỗi sanh điều dâm loạn.
Một hôm vua cha vào thăm con gái, thấy thế tử Chư-Nhị đang ngồi chung giường với Văn-Khương bèn kêu ra ngoài mắng :
-Mi là anh, sao mi không biết tị hiềm vậy ?
Chư–Nhị cúi đầu làm thinh không đáp. Tề-Hi-Công nói :
-Từ nay mi chỉ được sai cung nhân đi thăm mà thôi, không nên lân la như vậy nữa.
Chư-Nhi bẽn lẽn lui ra. Từ ấy chàng ít khi lui tới. Cách đó không lâu Tề Hi-Công cưới con gái của Tống-công cho Thế - tử Chư-Nhi
 
Được vợ Chư-Nhi thỏa tình tơ tóc quên lãng cuồng vọng, nên anh em càng ngày càng xa lần.
Văn-Khương ở nơi phòng loan vắng vẻ, lại thêm thương nhớ Chư-Nhi, bịnh thế càng nặng hơn nữa.
Lúc bấy giờ tại nước Lỗ, Lỗ Hoàn Công khi nối ngôi, đã lớn tuổi mà chưa có vợ. Quan-Đại phu Tang-tôn-Đạt tâu rằng :
Chúa-Công nên xem việc tôn miếu là trọng mà kiếm người Làm chủ trong cung mới được, công- tử Vận cũng qùy tâu:
Hạ thần trộm nghe thiên hạ đồn rằng con gái Tề Hi-Công là Văn-Khương nhan sắc tuyệt mỹ, trước kia muốn gả cho Thế-tử Hốt nhưng việc không thành, nay xin Chúa-công cho người qua đó cầu hôn ắt đặng.
Lỗ- Hoàn-Công nghe theo, liền sai Công – tử Vận qua Tề cầu hôn.
Tề- Hi-Công thuận ý, nhưng lại thấy Văn-Khương còn tại bịnh nên hẹn nán lạl ít lâu. Cung nhân hay được việc ấy thuật lại Với Văn-Khương. Nàng lấy làm mừng, lần hồi thiên bệnh.
Kịp đến lúc Tề và Lỗ hội nơi đất Tắc. Lỗ Hoàn Công đem chuyện cầu hôn ra bàn. Tề Hi- công Lại một lần nữa chấp thuận và đính ước năm sau.
Năm sau, vào năm thứ ba của Lỗ Hoàn-Công. Công – tử Vạn đem lễ vật sang Tề để rước nàng Văn - Khương về Lỗ. Thế-tử Chư-Nhị nghe được tin giả chước sai cung nhân đem hoa tặng Văn-Khương. trong hoa có giấu một bài thơ :
 
Hoa đào đang độ hây hây
 Đượm tình thơ mộng những ngày xa xưa.
Cành hoa hé cửa song thưa,
Tiếc thay con bướm vẫn chưa đi về.
 
Văn-Khương xem thơ hiểu ý đáp lại rằng :
Vườn xuân một cánh hoa đào
 Năm nay chưa bẻ hẹn vào năm sau.
Hững hờ bông nguyệt canh thâu
 Hoa xuân đâu đã phai màu thời gian.
 
Chư-Nhị đọc bài thơ ấy biết Văn-Khương có dạ tưởng mình, lòng càng mơ mộng. Cách đó vài hôm, Công – tử Vận đem lễ vật đến nước Tề, Tề Hi-Công qúa thương con gái nên có ý thân hành đưa Văn-Khương sang Lỗ. Chư-Nhị biết được ý-định, bèn qùy tâu :
Nay    phụ      thân   gả tiện muội cho vua Lỗ, đó là việc rất     hay, hai    nước càng thêm thân     mật,
song vua Lỗ đã không Sang đón, mà phụ thân lại phải đưa đến e   thất sách đi chăng. Xin phụ-thân  giao việc ấy cho  con thay mặt cũng được.
Tề- Hi Công nói :
-Ta đã hứa đích thân đưa Văn - Khương qua Lỗ thì nay không thể thất tín.
Nói vừa dứt lời, được tin Lỗ Hoàn-Công thân hành đến đất Hoan thuộc nước Lỗ để tiếp đón.
Tề- Hi-Công nói:
-Lỗ- Hòan-Công là một người trọng lễ, sợ ta đi xa mệt nhọc nên đến nửa đường tiếp đón, ta há lại thất lễ sao ?
 
Chư-Nhị buồn bã nín lặng bước ra, đợi đến lúc khởi hành giả vờ đến tiễn em ghé vào tai Văn-Khương nói nhỏ :
-Em chớ quên nhũng lời trong thơ hôm trước.
Văn-Khương lòng bịn rịn nhìn anh đáp:
-Anh cứ an tâm. ngày xuân còn dài, lo gì
không có lúc hội ngộ.
Tề Hi công trao lại việc quốc chính cho Thế- tử Chư-Nhị rồi cùng Văn-Khương lên đường đến đất Hoan. Lỗ Hoàn-Công đã bày sẵn tiệc lễ đợi chờ. Hai bên gặp nhau vui vầy không xiết.
Tiệc mãn, Tề- Hi-Công đáp từ trở về nước, còn Lỗ Hoàn-Công đưa Văn-Khương về nước Lỗ giao bối. Lỗ- Hoàn-Công thấy Văn-Khương tài sắc vẹn toàn đem lòng quý mến. Kế đó Tề- Hi-Công lại sai Di Trọng-Niên đem lễ vật đến để thăm viếng. Từ đấy mối tình của hai nước rất nên khăng khít.
Cách ít lâu, Tề- Hi-Công chết thế tử Chư-Nhị lên nối ngôi xưng hiệu Tề Tương-Công.
Bấy giờ, Lỗ Hoàn-Công đem lễ vật đến nước Tề thăm viếng, có nàng Văn-Khương đi theo.
Khi đến sông Lạc Thủy vợ chồng Lỗ- Hoàn Công đã thấy Tề Tương-Công đón sẵn. Hai bên tay bắt mặt mừng, cùng nhau trở về Kinh-Đô Lãm-tri, bày tiệc đãi dâng rất trọng hậu.
Tiệc mãn, Tề Tương-Công xin phép Lỗ Hoàn- Công đưa nàng Văn-Khương vào cung để thăm viếng các cung phi Lỗ Hoàn-Công thuận ý. Tề Tương-Công dẫn Văn - Khương vào một phòng kín đã sắp đặt sẵn.
 
Hai anh em uống rượu vui vầy rồi bày cuộc gió mưa.
Sáng hôm sau mặt trời đã cao, mà hai người vẫn còn ôm nhau nằm ngủ mãi. Lỗ Hoàn-Công ở ngoài đợi lâu qúa sinh buồn, lại có ý nghi hoặc vợ mình, chẳng biết bên trong cánh cửa cung thăm thẳm ấy có việc gì rối lòng chăng, mà dù có nghi hoặc cũng không làm sao hiểu thấu, khi mà tường cao vời vọi, bức rèm châu đã khép kín song thưa. Tuy nhiên lòng thấy nao nao không thể nào chịu được, Lỗ Hoàn-Công liền cho người dò xét mới hay Tề Tương-Công chưa có Chánh phi, chỉ có thứ phi là Liên-thi mà Tề Tương-Công đã ghét bỏ từ lâu rồi.
Lại nghe nói đêm vừa rồi chỉ có anh em Tề- Tương-Công chung tình chứ không có Phi-tần nào cả, Lỗ Hoàn-Công uất hận vô cùng, bỏ ra ngoài thơ thẩn nơi hiên Tây. bỗng gặp Văn-Khương từ đằng xa lểnh mểnh đi đến, Lỗ Hoàn-Công đưa mắt nhìn từ đầu đến chân, hỏi :
-Đêm hôm ái khanh uống rượu với ai ?
Văn-Khương nũng nịu đáp :
-Thần thiếp vui vầy với Liên-thị.
Lỗ Hoàn-Công hỏi :
-Vui đến bao lâu mới hết ?
Văn-Khương đáp :
-Đã lâu quá chưa gặp nhau, nên vui mãi cho đến lúc trăng lên đỉnh đầu mới thôi.
-Anh của khanh có đến dự tiệc chăng?
-Anh tôi đâu có lại đó dự tiệc ?
 
-Chẳng lẽ anh em lâu ngày xa cách lại không tìm nhau uống một chén rượu cho vui sao ?
Văn-Khương có vẻ lưỡng lự đáp :
-Lúc mãn tiệc anh tôi có uống một chung rượu rồi đi ngay.
Xét thấy lời nói và thái độ Văn-Khương có điều uẩn khúc, Lỗ Hoàn-Công lại càng nghi ngờ
nói :
Tiệc mãn sao ái khanh không ra ngay còn ở trong đó làm gì ?
Vì đêm khuya quá thần thiếp thấy ra ngoài bất tiện.
-Thế thì ái khanh đi ngủ lại nơi đâu ?
-Trong cung thiếu gì nơi nghỉ ngơi, sao Quân hầu lại hỏi lẩn thẩn như thế?
-Tại sao ái khanh lại dậy trưa ?
-Vì uổng rượu quá say nên mệt mỏi không thể dậy sớm nổi.
-Ái khanh ngủ với ai ?
-Thần thiếp ngủ chung với mấy người cung nhân nơi Tây cung.
-Còn anh của ái khanh ngủ ở đâu ?
Văn-Khương sợ sệt làm ra mặt giận đáp :
-Anh ngủ ở đâu làm sao em gái biết mà nói  rõ được ?
Lỗ Hoàn-Công cũng giận dữ nói :
-Thế mà ta biết anh của ái khanh đã ngủ ở  đâu và ngủ với ai rồi. Ái khanh đừng giấu giếm làm gì.
 
Văn-Khương hổ thẹn khóc òa. Lỗ Hoàn-Công lòng đày hậm hực nhưng biết mình đang ở trong đất Tề khó lòng nói năng được, nên vào từ giã Tề-Tương-Công về nước.
Tề Tương-Công nghĩ lại việc xấu của mình lấy làm hối hận, sợ Lỗ Hoàn-Công hay được nên sai người tâm phúc là Thạch-Chỉ Phận-Như theo dõi.
Phận-Như trở về kể lại những lời cãi vã vừa rồi của vợ chồng Lỗ Hoàn-Công cho Tề Tương Công nghe. Tề Tương-Công bối rối nói :
-Ta không ngờ- Lỗ hầu lại có thể biết được việc ấy, nếu thiên hạ hay được thì danh dự còn gì?
Bèn khiến Phận-Như đòi Công-Tử Bình-Sinh đến dạy việc :
-Nay ta muốn lập kế giết vua Lỗ, chẳng hay khanh có bằng lòng giúp ta chăng?
Công-Tử Bình-Sinh vốn có cựu thù với vua Lỗ nên tuân mệnh.
Tề Tương-Công đặt tiệc nơi quán dịch, lại mời Lỗ Hoàn-Công đến dự rồi ép rươu cho đến say.
Hoàn-Công nhân lúc đau đớn trong lòng cũng muốn mượn chén rượu giải sầu, nên không từ chối.
Khi Lỗ Hoàn-Công đã quá chén, nằm gục trên ngự ỷ, Tề Tương Công sai Bình-Sinh phò Lỗ hoàn- Công lên xe, trở về quán. Bình-Sinh ngồi bên cạnh. Khi xe ra khỏi quốc môn vài dặm, thấy Lỗ hầu ngủ say, liền thò hai ngón tay vào cạnh sườn bóp thật mạnh, Lỗ Hoàn-Công bị gãy xương sườn, la lên một tiếng rồi hộc máu chết tươi...
 
Nhận xét:
Cái tệ hại của Văn-Khương là do vua nước Tề. Tề Hi Công đã nuông chiều con cái đến nỗi  bỏ cả gia giáo trong gia đình. Đối với nước Tàu, dù cho anh em trai, gái trong một nhà cũng không được phép gần gũi nhau khi đến tuổi yêu đương. Phong tục ấy không phải là  khắt khe. Tấm gương của gái  Văn- Khương nhắn nhủ cho những ai có con gái  trong gia đình đến tuổi yêu đương mà không biết ngăn cấm.
Đời xưa cũng như đời nay, trong cung cấm cũng như ngoài n chúng, không thiếu gì tệ-đoan như vậy, ai đã làm cha mẹ phải biết đề phòng.
Thường thường từ lỗi Lầm này đến lỗi lầm khác. Những tội lỗi bao giờ cũng nối đuôi nhau bắt đầu từ nhỏ đến lớn.
Vi dụ : Thế-tử Chư-Nhị gần gũi en gái mình thường ra vào nội cung,   đó  chỉ mới      là một  lầm lỗi Sơ đẳng. Từ chỗ lầm lỗi sơ đẳng      ấy   đi đến  chỗ      tư
tình, dâm loạn, giết vua Lỗ, lầm lỗi mỗi  lúc một  trầm trọng hơn. Thế thì những lầm lỗi nhỏ  không thể  không coi là quan trọng, vì có lầm   lỗi  nhỏ      mới có lầm       lỗi lớn. Những lầm lỗi lớn bao       giờ cững bắt nguồn       từ lầm lỗi nhỏ. Nếu Chư-Nhi không lui tới với Văn-Khương làm gì có việc dâm loạn. Nếu Chư Nhị không loạn dâm với Văn-Khương làm gì có việc mưu sát vua Lỗ.  Chỉ sợ người ngoài biết được  hành động xấu xa của mình mà Chư-Nhị giết vua Lỗ thì qủa tội ác đã đến mức trầm  trọng lắm rồi.
Ở đời nhiều người hành động xấu xa lại không muốn cho kẻ  khác thấy hành động xấu xa của mình và tìm cách che giấu bằng những hành Vi tội lỗi,
 
 
Thật đáng khinh. Xưa cũng như nay, những hạng người như vậy không thiếu gì trong xã hội.
Chỉ có điều, những kẻ có địa vị cao chừng nào hành động tội lỗi càng nguy hại chừng nấy.
Nếu là việc  loạn dâm một giai cấp bình dân thì làm gì có    điều kiện   để kẻ phạm tội           muốn giết ai thì giết ?muốn bắt ai thì bắt  cho nên,    kẻ không   có địa vị  thì lỗi lầm của  họ dù lớn đến đâu cũng không bằng kẻ có quyền thế. Thế mà, xưa nay luật pháp đặt ra   chỉ  trừng  trị những  ké   sức yếu     thế cô, thấp    cổ
bé  miệng còn những người có  địa vị cao cả chẳng bao giờ pháp luật để ý đến họ. Thật oái ăm cho tổ chức loài người.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)   ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) EmptyFri Apr 30, 2021 10:08 am

CẤP TỬ VÀ CÔNG-TỬ THỌ, SÓC


—                   Cây một cội trái chua trái ngọt,
—                   Nước một nguồn dòng đục dòng trong
—                   Bén một chấm đen tong lại nổi lên hai điểm son sáng ngời.
Vệ Tuyên-Vương là kẻ ham dâm dục, lúc chưa lên ngôi đã tư thông với vợ- lẽ của người cha là nàng Di-Khương sanh được một trai tên Cấp Tử, giao cho Công-Tử Chức trông nom.
Khi Cấp-Tử lên mười sáu tuổi, Vệ Tuyên Công cho người sang hỏi con gái vua Tề về làm vợ Cấp-Tử.
 
Thọ và Sóc tuy hai anh em ruột, song tính tinh rất khác nhau Thọ thì tính hiền hậu, nhân từ, thương yêu Cấp Tử như anh ruột, còn sóc thì độc, hiểm hóc. Chẳng những ghét Cấp-Tử mà còn hiềm khích với Thọ nữa. Sóc muốn tiếm ngôi của Thọ sau này nên định ý trước tiên hại cho được Cấp-Tử, rồi sau mới lập mưu hại Thọ.
Một hôm Sóc nói với mẹ :
—                   Nay tuy thân phụ rất thương yêu mẹ con ta,
song Cấp-Tử là anh,      chúng con là em,      sau      này
Cấp-Tử thế nào cũng    được nối ngôi.    Hơn    nữa, vì mẹ mà Di-Khương bị      vua bạc đãi,   nếu     sau      này
Di-Khương được lên     làm quốc mẫu     thì mẹ con ta không tránh khỏi tai vạ.
Nàng Tuyên-Khương tâm trạng trước kia khác, bây giờ khác. Trước kia hy vọng làm vợ Cấp-Tử, nên muốn mua chuộc lòng vệ Tuyên-Vương để sau này truyền ngôi lại cho Cấp-Tử mà vợ chồng vui hưởng phú quý. Bây giờ thì đã có  hai con      với
Vệ Tuyên-Vương, hy vọng ấy đâu còn nữa, nên bàn mưu với Sóc để hại Cấp-Tử.
Vì vậy, thỉnh thoảng có những gièm pha xoi bói.
Ngày kia, nhằm ngày sinh nhật của Cấp-Tử, Công-tử Thọ làm tiệc rượu chúc mừng, có Công- tử Sóc đến dự. Trong bữa tiệc Công-tử Thọ chuyện trò rất thân mật. Sóc tỏ ý khó chịu, thoái thác lui về trong lòng rất căm phẫn.
Về đến cung, sóc làm bộ khóc lóc với mẹ :
—                   Con vì lòng tốt mà dự tiệc với Cấp-Tử, thế mà Cấp-Tử lúc say rượu Lại giở trò đùa,
 
gọi con bằng con và nói : « Mẹ của mày tức là vợ của ta, mày phải gọi ta bằng cha mới phải ». Con rất lấy làm xấu hổ, xin mẹ xét nghĩ.
Tuyên Khương tin là thiệt, chờ Vệ Tuyên-Công vào cung khóc lóc thuật lại mọi điều, lại nói thêm rằng :
—                   Cấp-Tử cố tình muốn làm nhục thiếp, nên đã có lúc nói nhiều câu lỗ mãng.
Vệ Tuyên-Công hỏi :
—                   Thằng súc sinh ấy đã nói những lời gì phạm đến ái khanh ?
Tuyên-Khương sụt sùi nói :
—                   Thiếp được nghe nó nói rằng (Mẹ ta là Khương-Di, vợ của ông nội ta mà phụ thân ta còn lấy làm vợ được thay, huống hồ Tuyên-Khương là vợ của ta mà ta không lấy được sao ? Nay ta chỉ cho phụ thân ta mượn đỡ mà thôi. Ngày nào đó ta sẽ lấy lại và lấy luôn cả ngôi nước Vệ nữa.
Vệ Tuyên-Công nghe nói cả giận, kêu Công-tử Thọ vào hỏi.
Công-Tử Thọ nói :
—                   Thưa phụ thân, Cấp-Tử là đứa con chí hiếu, chẳng bao giờ có những lời nói lỗ mãng như thế
Vệ Tuyên Công không biết phân xử lẽ nào, bèn đòi Khương-Di đến trách mắng đủ điều. Khương-Di đau đớn không chịu nổi, thắt cổ tự vẫn.
Cấp-Tử quá thương mẹ, nhưng không nói ra chỉ ôm bụng khóc thầm.
 
Giết được Khương-Di, mẹ con Công-Tử Sóc vẫn chưa thôi, ngày đêm ép buộc Vệ Tuyên-Công phải làm cách nào giết cho được Cấp-Từ mới nghe.
Vệ Tuyên-Công nói :
— Cấp-Tử không có tội chi, nếu đem ra giết đi thiên hạ sẽ chê cười.
Tuyên-Khương nói :
Khương Di thác oan thế nào Cấp Tử cũng vì mẹ mà trả thù, nếu Chúa-công không giết Cấp-Tử thì mẹ con tôi không làm sao ở yên trong cung được.
Vệ Tuyên Công cực chẳng đã phải nghe theo, tìm cách giết Cấp-Tử cho ổn thỏa để che mắt thiên hạ. Gặp lúc Tề Hi-Công sang mượn quân nước Vệ, Vệ Tuyên-Công mới bày mưu với Công Tử Sóc sai Cấp-Tử cầm cờ tiết trắng đi sứ nước Tề, rồi cho võ sĩ phục giữa đường mà giết.
Công Từ Sóc được kế rất mừng, triệu tập bọn côn đồ dặn đến núp nơi Sằng-dã là chỗ đường thủy giáp chuyền với đường bộ, hễ thấy có người cầm cờ trắng đi ngang qua là nhảy ra giết lập tức.
Sắp đặt xong, Công Từ Sóc trở về cung thuật lại cho Tuyên-Khương hay. Tuyên-Khương mừng rỡ vô cùng.
Công Tử Thọ thấy mặt mẹ mình hớn hở, sanh nghi dò hỏi sự tình. Tuyên Khương ngỡ Công Tử Thọ cũng đã biết việc ấy rồi, nên không giấu giếm gì cả, đem đầu đuôi câu chuyện kể lại.
Công Tử Thọ thất kinh, nhưng biết âm mưu mẹ minh đã định sẵn không thể can gián được nữa, nên lén qua nói với Cấp-Tử.
Cấp-Tử ngồi thẫn thờ không đáp.
 
Công Tử Thọ nói :
Đường đi từ đây sang Tề thế nào cũng phải qua Sàng-dã, mà qua đó tánh mạng anh dữ nhiều lành Ít. Chi bằng anh trốn sang nước khác đề thoát nguy rồi sau này sẽ liệu.
Cấp-Tử đáp:
—                   Đạo làm con, nếu không nghe lời cha mẹ đâu còn lá hiếu thảo. Và lại, nếu phụ-vương đã có ý giết con thì dù ta có sống cũng chẳng ích gì.
Nói xong sửa soạn hành trang từ biệt Công-Tử Thọ, xuống thuyền theo đường thủy sang nước Tề. Công-Tử Thọ khuyên can đến bực nào Cấp-Tử cũng không nghe.
Công Tử Thọ đứng nhìn theo, đôi dòng lệ không vơi, nghĩ thầm :
—                   Anh ta quả là một người hiếu thảo, nếu để anh ta chết, sau này ta còn mặt mũi nào nối ngôi. Trong hoàn cảnh này chỉ có cái chết của ta, may ra mới thức tỉnh lòng thương xót của cha mẹ ta và đem lại cho gia đình sự thảo thuận được.
Nghĩ rồi liền chọn một con thuyền, đem đủ vật thực, gọi vài tên tùy tùng, bảo chèo theo cho kịp thuyền của Cấp-Tử để cùng dự tiệc rượu tiễn biệt.
Chẳng bao lâu hai thuyền gặp nhau, Công-Tử Thọ gọi Cấp-Tử sang thuyền mình. Cấp-Tử nói :
—                   Em theo anh làm gì vậy ?
Công Tử Thọ đáp :
—                   Anh đi đường xa, em muốn dâng anh một chén rượu tiễn hành để tỏ tình mong nhớ.
Nói rồi rót một chén rượu đầy trao cho Câp-Tử. Nhưng vừa nâng chén chưa kịp nói thi nước mắt đã tuôn tràn, chảy vào ly rượu.
Công Tử Thọ sụt sùi nói :
—                   Em khóc làm nước mắt- rơi vào ly rượu thật vô lễ.
Cấp-Tử nói :
—                   Anh chỉ muốn uống những giọt nước mắt ấy để được giữ mãi vào lòng tấm thâm tình của em.
Công Tử Thọ rót thêm một chén rượu nữa trao cho Cấp-Tử. Hai anh em vừa uống vừa khóc. Nước mắt càng hòa với rượu bao nhiêu thì rượu càng nóng bấy nhiêu.
Công Tử Thọ cốt phục rượu cho Cấp-Tử thật say, nên cứ ép mãi. Một lúc sau Cấp-Tử vì vị tình em uống đến say mèm, nằm vật xuống khoang thuyền ngủ thiếp.
Công Tử Thọ ôm Cấp-Tử khóc một lúc lâu rồi bảo bọn thủ hạ :
—                   Lệnh vua bảo phải đi gấp mà anh ta say nên trễ nải vậy ta phải đi thế mới được.
Nói rồi nhổ cây cờ trắng trên thuyền Cấp Tử cắm sang thuyền mình, và viết một bức thư dặn tên quân hầu lúc não Cấp-Tử thức dậy sẽ đưa.
Đoạn Công tử Thọ cứ thẳng đường sang sằng- dã. Vừa đến nơi bọn còn đồ thấy có ngọn cờ tiết trắng kéo nhau chạy đến ào ra bắt. Công Tử Thọ chỉ vào mặt bọn chúng nói :
—                   Ta là Cấp-Tử, Thế Tử nước Vệ, phụng mệnh sang mước Tề đi sứ sao chúng bây dám cản trở ?
Bọn côn đồ nói :
 
Người đã là Cấp Tử thì đừng có xưng hô làm gì cho uổng tiếng. Chúng ta tuân lệnh Vệ hầu ra đây lấy đầu ngươi.
Nói xong bọn côn đồ áp lại chém đầu công Tử Thọ bỏ vào một cái hộp, rồi đoạt lấy cờ tiết mang về.
Bọn gia nhân theo hầu công Từ Thọ sợ hãi
chạy tán loạn.
Còn Cấp-Tử khi tỉnh rượu mở mắt ra không thấy Thọ đâu lại nhận được bức thư trong lòng hoảng hốt mở thư ra xem, trong thư chỉ thấy một hàng chữ như sau :
(Em đi thay anh, anh tìm nơi lánh nạn »
Cấp-Tử khóc oà, vội vã bảo bọn tùy tùng :
—                   Hãy chèo thuyền đi cho mau kẻo chúng lầm  giết mất em ta.
Bọn tùy tùng tuy không hiểu gì cả, nhưng cũng cố sức chèo đi rất mau. Thuyền lướt sóng dưới ánh trăng vàng rực, lăn tăn trên mặt sông dài. Cảnh vật êm đềm, nhưng lòng người rộn rã, Cấp- Tử chỉ nghĩ đến sinh mạng em mình nên hối thúc liên hồi làm cho mấy tên quân chèo thuyền mệt lả. Một lúc sau thấy đằng xa có bóng thuyền nhấp nhô, Cấp-Tử nhìn rõ mừng rỡ hét to :
—                   Em ta còn sống, thực lòng trời không phụ.
Một tên quân hầu đưa mắt nhìn một lúc nói :
—                    Thưa Thế Tử, thuyền đó đang đi về phía chúng ta.
Cấp-Tử ngơ ngác chưa Biết thế nào thì thuyền nọ đã từ phía xa phăng phăng rẽ nước đi đến.
.
 
Trên thuyền không thấy Công Tử Thọ, chỉ thấy một bọn côn đồ gươm giáo sáng ngời. Cấp Tử lòng nghi ngờ hỏi :
—                   Các ngươi phụng mệnh chúa công đã làm xong nhiệm vụ chưa ?
Bọn côn đồ nghe nói tưởng người của công Tử Sóc sai dến tiếp ứng  nên bưng chiếc hộp có đựng đầu Công Tử Thọ đưa ra và nói :
—                   Chúng tôi đã thành công.
Cấp-Tử vừa cầm đến    chiếc hộp vùng ngã ra
khóc to nói :
—                   Ôi thôi ! còn gì em ta nữa.
Bọn côn đồ ngơ ngác vừa đưa mắt nhìn nhau : Cấp-Tử nói tiếp :
—                   Ta đây mới chính     là Cấp-Tử.     Vì ta có     tội
lên cha ta sai giết, chứ công Tử Thọ    là em ta    nào có tội chi.
bọn côn đồ biết mình đã giết lầm, thất kinh nói nhỏ với nhau :
—                   Thế này thi phải giết cả nó nữa mới chuộc nổi tội của chúng ta đã lầm lẫn.
Nói xong, bọn côn đồ áp lại chặt đầu Cấp- Tử bỏ chung vào một hộp, rồi chèo thuyền đi, bỏ mặc cho bọn quân hầu của Cấp-Tử ngồi run rẩy trong thuyền, mặt mày tái ngắt.
Về đến thành Vệ, bọn côn đồ đem chiếc hộp và lá cờ trắng dâng lên cho Công Tử Sóc, kể lại Sự giết lầm, lòng vẫn nơm nớp lo sợ Công Tử sóc trách mắng. Chẳng dè Công Tử Sóc không giận mà lại còn vui mừng, đem vàng lụa thưởng cho bọn chúng rất hậu, rồi vào cung nói với mẹ.
 
Tuyên-Khương buồn vui lẫn lộn. Buồn vì mất con, vui vì đi giết được Cấp-Tử, trừ được hậu họa cho mình.
Người sau có thơ :
Hai chiếc đầu rơi một mối tình
Hn oan ôm hận khóc xn xanh
Lòng cha vi có không thương xót
Thà chết cho tròn nghĩa đệ huynh.
NHẬN XÉT:
Trong đời, cái gì cao đẹp nhất thì cũng có những cái tồi bại nhất. Trong lãnh vực tình yêu cũng thế. Tình yêu tượng-trưng cho cao đẹp thì tình yêu cũng sanh ra không biết bao nhiêu khía cạnh xấu xa bỉ ổi.
Một người đàn ông như Vệ Tuyên-Công dâm loạn đến nỗi lấy vợ cha, đoạt vợ con, xem tình yêu thiêng liêng của con người chỉ là một trạng thái dâm dục, không cần kể đến luân thường đạo lý gì cả Con người như vậy bảo sao không mất hết trí năng ? Đem việc dâm loạn làm thú vui trên đời, đến nỗi nghe lời đàn bà giết chết con mình, không một chút đau đớn. Thế mà kẻ ấy lại là một ông vua. một vị chúa tể cai trị cả muôn dân
Ôi, tình phụ tử cao cả biết bao nhiêu, thế mà lại có những người cha giết con trong trường hợp bỉ ổi như vậy.
Thạch-Thác giết con để cứu muôn dân vì đứa con làm hại dân hại nước, còn Vệ Tuyên-Vương thì nghe lời đàn bà giết con để được người đàn bà mình yên ưa thích. Hai trường hợp giết con nằm trong hai lãnh vực một đàng là cao thượng, một đàng là hạ tiện, đáng khinh.
 
Dến như nàng Tuyên-Khương, trước định làm vợ Cấp-Tử. nhưng sau được Vệ Tuyên-Công sủng ái quên cả Cấp-Tử, đem thân hầu hạ Vệ Tuyên Công để rồi mưu hạị  Cấp-Tử người đàn bà như thế thì tư cách
Làm sao cao quý được.
Nàng Tuyên-Khương không khácnhững bà dì ghẻ độc ác nhất trong đời này. Đó là những người thuộc vào hàng hạ tiện.
Công- Tử Sóc di lưu dòng máu của Vệ Tuyên Công và mẹ là Tuyên Kkương, tánh tình độc ác. Hiểm hóc, mưu lợi riêng mình, mưu giết cả hai anh để đoạt ngôi của Vệ Tuyên-Công sau này. Ôi, đó là những phường gian ác, đời nào cũng chẳng thiếu gì.
Cái mà chúng ta đang nói là bên cạnh vết mực đen ngòm lại nổi lên hai vết son sáng chói, Đó là tình thương giữa Công-tử Thọ và Cấp-Tử.
Là con của những kẻ xấu xa nhất trong xã hội, hai chàng này lại nổi bật lên như hai luồng ánh sáng giữa bầu trời đêm.
Nếu không có những tấm lòng xấu xa đày bất nhân bất nghĩa của Vệ Tuyên-Công, nàng Tuyên-Khương và Sóc thì đâu thấy cái quý báu của Thọ và Cấp-Tử. Cũng như không có mối tình thương cao qaý của Thọ và Cấp-Tử thì làm sao thấy rõ cái hèn mạt của những người cùng chung máu huyết  kia.

Câu chuyện Cấp-Tử và Công.Tử Thọ với Công.-tử Sóc chẳng khác nào hai tấm gương một đục một trong, để song song nhau.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)   ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) EmptyThu Dec 02, 2021 2:21 pm

TỬ-ĐỘT ĐEM QUÂN ĐÁNH V
 
Chínk-tr phải đi đôi vi Ọuân-sự. Chính-trị mà thiếu Ọuân-sự, chính-trị hỏng, Ọuân -sự mà thiếu chính-trị, quân sự không thành công»
Kiềm-Mâu lên nối ngôi nước Vệ, Công-Tử Sóc muốn đoạt ngôi nên viện binh năm nước: Lỗ, Tống, Tề. Trần. Sái đến đánh Kiềm-Mâu để phục nghiệp.
Kiềm-Mâu hay    tin   lòng       lo lắng, vội viết tờ cáo cấp gởi về nhờ Thiên Tử nhà Châu cứu giúp.
Châu Trang-Vương xem văn biểu rồi hỏi các quan :
                   Ai dám thay mặt trẫm đem binh đi cứu nước Vệ chăng ?
Châu-Công quỳ tâu :
                   Tâu bệ hạ, từ khi nhà Châu thua Trịnh Iòng quân giải đãi.
Nay nếu đi chinh phạt       e khó thắng, vả lại chư hầu lấy cớ phục nghiệp vua nước Vệ là danh chánh ngôn thuận, chúng ta không thắng nổi đâu.
Quách  công Kỵ-Phủ cũng cho lời nói ấy là
phải.
Bỗng có người bước vô tâu :
                   Lời nói của hai ông thật không đúng. Nếu
bảo        rằng       quân của      chư       hầu        mạnh hơn binh triều thì phải       nhưng nếu   bảo       việc chư hầu phục nghiệp cho Vệ Sóc danh chính ngôn thuận thì thật sai lầm không thể chối cãi được.
 
Các quan xem lại người vừa nói đó là Tử- Đột đang làm chức Hạ Sĩ.
Châu Công quắc mắt nhìn Tử-Đột hỏi :
                   Một nước Chư hầu bi tiếm ngôi, các nước khác đem binh tới cứu thế không danh chính ngôn thuận ư ?
T-Đột nói :
                   Việc lập Kiềm Mâu lên ngôi nước vệ đã có Vương mạng thì sao gọi là tiếm vị ? Vương mạng mà không kể, Lại kể chư-hầu này lập chư- hầu kia là danh chánh ngôn thuận sao?
Quách -Công Kỵ-Phủ nói:
                   Đừng     nói  đến thuận     nghịch gì      cả. Việc
binh gia phải       căn cứ vào sức    mạnh. Cái    mạnh bao giờ cũng có lý, mà có lý tức là lẽ phải rồi.
T Đột cãi lại :
                   Lý lẽ      và sức mạnh là    hai việc khác nhau.
Mạnh yếu tại       sức, còn hơn thua là tại lý. Nếu bỏ lý mà vẫn nên việc, ắt thiên hạ phải đảo điên không còn ai theo lẽ phải nữa.
Quách-Công đỏ mặt nói :
                   Nếu đem binh cứu Vệ, ngươi dám đảm trách chuyện đó không ?
T Đột nói:
                    Cứ lấy lý mà nói thì tôi sẽ thắng, vì tôi sẽ đem lý lẽ của tôi mà khuyên nhủ các chư hầu. Một khi chư hầu đã nhìn nhận lẽ phải thì gươm giáo không còn là vật đáng sợ nữa.
Các quan nghe Tử-Đột lý luận như vậy ai nấy đều muốn thử thách tài năng, nên tâu với vua cho phép T Đột được hưng binh cứu Vệ.
Châu Trang-Vương nhận lời, khiến Ọuách-Công Kỵ-Phủ phát cho Tử-Đột ba muôn binh ròng.
Châu công đã có ý ghét Tử-Đột nên chỉ phát cho hai trăm cỗ binh xa mà thôi.
Tử-Đột ngạc nhiên nói :
                   Sao ngài lại phát binh xa cho tôi ít như vậy ?
Châu Công nói :
                   Nếu ngươi dùng sức mạnh mà thắng giặc thì ta sẽ phát binh nhiều, nhưng nay ngươi dùng lý lẽ để thắng giặc thi cần chi đến quân sĩ cho đông ?
Tử Đột m thinh lạy tạ vua rồỉ kéo quân ra đi.
Lúc ấy quân của năm nước chư hầu đã đến vây thành nước Vệ đông nghẹt. Tử-Đột dẫn một toán quân quá ít. vừa đến nơi thì binh lao mã liệt, xe cộ ngửa nghiêng, chưa kịp nói gì với Chư hầu đã bị quân năm nước áp đến đánh một trận manh giáp tơi bời mạnh ai nấy chạy trốn.
Tử-Đột ngước mặt lên trời than :
- Ta vâng mệnh Thiên-Tử đến đây dẹp giặc, dẫu có thác cũng được tiếng trung nghĩa.
Nói rồi liều chết vung gươm giết hơn mười mấy tên địch, mới tự vận...
Nhận xét:
Từ xưa nay trong xã hội loài người vẫn có hai quan niệm chống đối nhau trong lẽ sống.
Quan niệm th nhứt : Là k mnh bao gi cũng thng (La raison du plus fort e.Ịt touịoun meiUturoi).
 
 
Quan niệm thứ hai : Lý vô nh thị” L phi không bao giờ có hai mặt.
Quan niệm thứ nhất cho sức mạnh trên hết. Sức mạnh đây không phải chỉ nói riêng về sức mạnh vật chất mà bao gồm cả sức mạnh về kim tiền, về thế lực nữa. Kẻ chủ trương sng trong sức mạnh bao giờ cũng dùng sức mạnh trấn áp nhân tâm, dùng bạo lực làm cứu cánh.
Quan niệm thứ hai cho lẽ phải là một sức mạnh tuyệt đối. không cólay chuyển nổi. Lẽ phải đây tức là nhân đạo. Kẻ chủ trương sống trong lẽ phải thường lấy nhân tâm làm mực thước, không thừa nhận sức mạnh vật chất, mà chỉ biết có sức mạnh tinh thần.
C hai quan niệm đều đưa đến những thành công. Tuy nliên, trong đời không phải lúc nào cũng dùng bạo lực, hoặc lúc nào cũng dùng đạo đức. Các nhà chính trị gia ngày nay cũng đã kinh nghiệm nhiều trên  trừơng tranh đấu rồi, họ rất già giặn, họ biết lúc nào phải có bạo lực, lúc nào phải dùng đạo đức chinh phục. Có điều, dù trong trường hp nào cũng vậy, chính trị không th tách rời quân sự và ngược li. Cũng như đạo đức không thể tách rời bạo lực được.
Kẻ khôn ngoan phải tùy thời tùy lúc mà áp dụng.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)   ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) EmptySat Dec 04, 2021 9:20 am

CHỮ  TÍN CỦA TỀ TƯƠNG-CÔNG
Làm một ngừơi dân thất tín còn chưa đủ tư- cách, làm một ông vua thất tín thì tư cách còn hèn hạ hơn.
Tề Tương-Công giúp Vệ đánh được Kiềm-Mâu, khôi phục lại ngôi nước Vệ, nhưng tự nhận thấy mẫu thuẫn với nhà Châu mỗi lúc mỗi sâu sắc hơn, sợ vua nhà Châu đến đánh trả thù nên sai Liêm- Xứng làm Chánh tướng, Quản Chi-Phủ làm phó tưng, đem quân ra đồn trú nơi đất  Quý-Châu để trấn giữ mặt Đông Nam.
Hai tướng tuân lệnh kiểm đìểm binh mã kéo đi, nhưng trong lúc bái biệt, hai tướng tâu với Tề Tương-Công :
                    Việc đồn trú nơi biên ải là một công lao cực nhọc, cần phải có kỳ hạn đề quân sĩ khỏi nản lòng vi buồn chán.
Tề Tương-Công đang ngồi ăn dưa hấu, nghe tâu vội đáp :
                  Đến mùa dưa hấu năm sau ta sẽ cho người ra thay.
Hai tướng cúi lạy từ giã.
Tháng ngày thấm thoát trôi, trôi trên sự mong chờ của đoàn lính xa nhà, gối tuyết nằm sương trong chốn biên cương lạnh lẽo.
Rồi mùa dưa hấu đến đoàn quân biên cương khác khoải mong ước được hồi hương, mà tin vua biền biệt không thấy đến.
 
Hai tướng Liêm-Xứng và Quản-chi-Phủ cho người về kinh đô do thám được tin Tề Tương-Công ra ở nơi Cốc thành vui riêng với nàng  Văn- Khương suốt tháng không về triều Liêm-Xứng nổi giận nói:
                   Hôn quân vô đạo, đã không đoái tưởng đến tướng sĩ lại còn tiếp tục dâm lọan với Văn-Khương.
Như thế chúng ta đóng nơi đây đến rục xương, chưa biết ngày nào mới được về.
Qun-chi-Ph nói :
                   Chúa công đã hứa với chúng ta đến mùa dưa hấu cho người đến thay, có lẽ Chúa công quên đi rồi. Vậy chúng ta làm sớ dâng về triều nhắc lại. Nếu Chúa công bỏ qua chúng ta sẽ tìm cách khác.
Liêm-Xứng khen phải, liền làm sớ sai người về triều trình tấu.
Tề Tương-Công xem sớ nổi giận mắng :
                   Việc binh dời đổi là quyền ở ta, sao lại dám xin ?
Liền ra lệnh bắt hai tướng phải chờ đến mùa -dưa hấu năn sau nữa mới định liệu.
Liêm Xứng nghe tin mặt giận hầm hầm nói với Quản chi Phủ :
— Hôn quân vô đạo, đã không biết giữ lời hứa, chúng ta há đem thân trung thành với kẻ thất tín sao ? Ý ta muốn thí quân, lập vua khác. – Quản-chi-Phủ nói :
— Tề Tương-Công là người giỏi binh pháp, nhưng tính lại ưa săn bắn, nếu muốn thi hôn quân phải dụ cọp ra khỏi hang thì mới trị nổi. Chúng ta cứ chờ dịp nào Tề Tương-Công ra ngoài thì hành sự.
 
Hai người viết thư về thông đồng với Công-Tôn Vô-Tri để làm nội ứng.
Mùa đông năm ấy, Tề Tương Công sắp đặt lên núi Bồ kỳ nơi đất cô phần để săn bắn.
Công-Tôn Vo Tri biết được liền viết một mật thư sai người đưa ra biên giới cho Liêm-Xứng và Quản-Chi-Phủ hay.
Liêm-Xứng bàn với Qủan-Chi Phủ :
-Hôn quân đi săn bắn, trong nước không còn ai, bọn ta kéo quân về Tề-đô lập Công-tôn-vô-tri lên ngôi cho rồi.
Qủan Chi-Phủ nói :
- Tuy Tề Tương-Công là một hôn quân dâm loạn song các chư hầu có nhiều nước đang tương trợ. Nếu để hôn quân còn sống, viện binh nước ngoài về đánh, chúng ta cự sao lại. Chi bằng phục binh giết quách đi rồi sau sẽ tôn Vô-Tri lên cũng chẳng muộn.
Hai tướng bàn bạc xong kéo binh sang đất Cô- phần phục sẵn.
Khi Tề Tương Công đến nơi bị hai tướng giết chết.
Nhận  xét !
Thường thường một ông vua giữ được nước, củng cố được quyền lực, bảo vệ được ngai vàng là nhờ ở tấm lòng trung kiên phục vụ của tôi thần, và lòng tin tưởng của dân chúng.
Muốn thế ông vua phải triệt để giữ chữ tín, luôn luôn tỏ lòng ưu ái, chăm sóc cho đời sng  của quân dân.
 
Trái lại, làm như vua Tề Tương-Công là tự đưa mình đến chỗ tự hủy diệt.
Một ông vua thiếu đạo đức, cũng không có tài. may được một sự  nghiệp của ông cha để lại, rồi bám vào đấy mưu cầu thỏa mãn riêng cá nhân mình, không kể đến một bày tôi trung nghĩa, không màng đến cuộc sống khổ cực của nhân dân, không kể đến những kẻ nằm sương gối tuyết để bảo vệ cái địa vị  hiện hữu của mình, thì dầu ông vua như thế có bị chết đến mấy lần đi nữa cũng không đáng tiếc, mà ch nên xem đó là một tấm gương cho các nhà làm chính trị sau này.
Thời nay cũng không thiếu gì Tề Tương-Công, khi nắm được một địa vị quan trọng thì không nghĩ gì đến  kẻ tùng sự với mình, kẻ đã giúp mình đứng vững  trên địa vị ấy. Họ cứ nghĩ rằng địa vị ấy do tài năng họ mà có, họ không ngờ rằng nếu thiếu những người giúp họ thì địa vị của họ một ngày cũng khó giữ được.
Chiến thắng trên trường chính trị, đưa sự nghiệp đến thành công, dù cho một nhà chính trị tài đức đến đâu. một mình cũng không thể làm nên chuyện. Dĩ nhiên phải nhờ vào sức nhân dân ủng hộ, sức cộng sự của nhiều người.
Nhà lãnh đạo chính trị cần phải được lòng tất cả. Muốn thế chữ tín là cần thiết. Chữ Tín đối với nhà làm chính trị có một tầm quan hệ phi thường. Thiếu nó, nhà chính trị không thể tập họp thành một khối lực lượng ủng hộ quanh mình, và đòan kết được đa số quần chúng.
Nói chung, dù là hạng người nào, chữ tín bao giờ cũng có một tầm quan trọng cả. Trong thiếu gì  người chỉ nói cho được việc, không nghĩ đến tai hại về sau.
Hứa càn hứa bướng để cho được việc mình, trấn  áp cấp thời nhân tâm rồi ù lì không làm theo lời hứa, hay mượn uy quyền mà chà đạp, lấy vũ lực má đàn áp như Tề-Tương-Công đó là chính sách mị n, phỉnh dân mà xưa nay các nhà chính trị thiếu đạo đức, kém lương-tâm không lập trường phục vụ nhân dân thường hay vấp phải.      
Chẳng phải ở thời Chiến-quốc mới có hạng vua quan như Tề- tương-Công,chính ở thời đại ngày nay, trên trường  chính trị cũng đã có không ít Tề Tương-Công.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)   ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) EmptyTue Dec 14, 2021 2:47 pm

ĐỒ-NHÂN PHÍ VÀ MẠNH-DƯƠNG
Đem thân giúp cho một người không đủ tư cách làm một việc lớn, thân mình sẽ vì đó mà mất giá trị Trung thành với một người không có tín nghĩa, thì lòng trung ấy coi như đã bị phụ bac rồi.
Tề Tương-Công đi săn Bối-khâu đề rồi sang đất Chước tư thông với em gái là nàng Văn-Khương. vợ vua Lỗ Hoàn-Công.
Trong lúc đó hai tướng của Tề Tương-Công là Liêm-Xứng và Quản-Chi-Phủ vì giận hôn quân thất hứa nên phục binh tại chân núi để giết vua.
Tề Tương-Công truyền đốt lửa để cho .các thú rừng chạy ra ngoài mà bắn.
Bỗng có một con thú hình thù quái dị từ trong rừng sâu hiện ra, to bằng con trâu, nửa giống heo nửa giống cọp.
Tề Tương-Công hoảng sợ. quay lại gọi Mạnh Dương là viên quan theo hầu, bảo:
 
                   Ngươi hãy bắn con quái vật y cho ta.
Mạnh-Dương tay rút tên. Mắt nhìn chăm vào con quái vật đó, và nói :
                   Tâu Chúa công, con vật này sao giống Công- Từ Bành-Sinh.
T Tương-Công nói
                   Bành-Sinh đã chết sao còn dám đến đây phạm giá ?
Nói rồi giật lấy cung tên bắn một mũi. Quái vật né tên. Tề Tương-Công bắn luôn ba phát vẫn không trúng.
Đột nhiên quái vật đứng dậy, hai chân đi như hai chân người, làm cho Tề Tương-Công sợ hãi, mình mẩy rởn ốc, té nhào xuống xe, chân rơi ra một chiếc giày quái  vật chạy đến tha chiếc giầy biến mất.
Kẻ tả hữu vội chạy đến đỡ T Tương-Công lên xe. phò về ly-cung nơi Cô phần an nghỉ.
Đêm ấy, Tề Tương-Công lòng nóng như đốt, không làm sao ngủ được, lại bị trặc chân đau nhức vô cùng, mới bảo Mạnh-Dương đỡ mình đi Lại trong phòng cho thư thả.
Nhìn lại thấy mất một chiếc giày, Tề Tương Công cho đòi Đồ nhân-Phí là viên quan coi về y quan đến quở mắng .
                   Sao ta chỉ còn một chiếc giày thế ?
Đồ-nhân Phí tâu :
                   Lúc Chúa Công bị té, chiếc giày văng ra, con quái vật ngoạm lấy tha đi mất.
Tơng-Công hét:
                   Ngươi giữ việt quan-y thế mà để con quái Vật ấy tha mất chiếc giày của ta, mà ngươi vẫn còn sống sao ?
Nói xong, lấy roi đánh bổ vào lưng Đồ-nhân-Phí, đánh đến máu chảy dầm dề mới chịu thôi.
Đồ-nhân-Phí vừa khóc lóc vừa bước ra cửa, bỗng gặp Liêm-Xứng đi với hai người tùy tùng đến dò thám thính để mưu sát Tề Tương-Công.
Thấy Đồ-nhân Phí là người hầu cận của nhà vua, Liêm-Xứng thộp ngực hỏi :
                   Hôn quân hiện giờ ở đâu ?
                   Chúa công đang ngủ trong phòng Còn tướng quân đang trấn nơi biên thùy tại sao lại đến đây có ý lạ như vậy ?
                   Ta quyết đến đây trừ đứa hôn quân để đem lại hạnh phúc cho bá tánh Ngươi là người hầu cận của đứa hôn quân dĩ nhiên phải chết.
Liêm-Xứng vừa nói vừa vung dao lên.
Đồ nhân Phi giả cách sợ hãi, nói :
                   Tôi vừa bị hôn quân dùng roi da đánh đến bóc thịt, lòng giận của tôi chưa nguôi. Nếu được Tướng quân tha chết, tôi nguyện làm nội ứng.
Liêm-Xứng xem lại thấy trên lưng Đồ-nhân Phí quả nhiên vừa bị đánh tàn nhẫn, vết roi còn rớm máu ướt cả mấy làn  áo, nên tin lời, dặn :
                   Hãy xem hôn quân ngủ ở đâu rồi ra báo với ta lập tức Đồ-nhân Phí vội vàng chạy vào trong báo lại tin dữ cho Tề Tương Công hay. Tề Tương Công sợ quá chưa biết phải làm sao thì Đồ nhân-Phí đã bày kế : ‘
 
                   Xin Chúa Công cho một người giả Chúa-công liều chết thay mạng nằm trên long sàng, còn Chúa- Công ẩn núp sau cửa, may thoát nạn.
Mạnh-Dương nói :
                   Tôi mang ơn Chúa-công rất trọng, nay nguyện liều mình chết thế.
Nói rồi trèo lên giường, nằm ngoảnh mặt vào trong, Tề Tương Công cổi áo cẩm bào đắp trên minh Mạnh-Dương rồi lẻn ra phía sau trốn đi.
Thấy Đồ-nhân Phí theo mình. T Tương Công nói:
                   Ngươi không trốn sao ?
Đ-nhân-Phí tâu :
                   Tôi phải hợp sức với binh sĩ cự địch.
Tề Tương-Công hỏi :
—- Lưng ngươi còn đau thế mà không ngại à ?
Đ-nhân-Phi nói :
                   Chết còn chưa tiếc thì cái đau có kể gì.
T Tương-Công than :
                   Ôi , ngươi là đấng trung thần, tiếc rằng ta đã không có con mắt nhận xét.
Đồ-Nhân-Phí cầm dao đứng nơi cửa phòng. Lúc ấy Liêm- Xứng từ bên ngoài phá cửa hùng hổ bước vô. Đồ nhân Phí xốc đến toan chém thì đã bị Liêm-Xứng xả cho một dao lòi ruột chết ngay.
Giết xong bọn cận vệ, Liêm-Xứng bước đến bên giường thấy một người nằm trên giường đắp cẩm bào sau bức màn thêu, ngỡ là Tề Tương-Công liền vung gươm chém một nhát, đầu văng ra khỏi cổ.
 
Liêm-Xứng lượm đầu lên xem Thấy không râu, biết mình đã lầm liền lục soát khắp nơi.
Tìm đến xó cửa sau, thấy Tề Tương-Công đang núp đấy, Liêm-Xứng nắm cổ đè xuống chặt làm hai khúc...
Nhận xét:
- Ở đây chúng ta thấy rõ hai tấm lòng trung.
Luôn luôn theo thờ chủ, dù thấy chết trước mắt vẫn kkông trốn tránh. Dù chủ vừa đánh đập tàn nhẫn vẫn không phản phúc. Đồ nhân-Phí và Mạnh  Dương đã bộc lộ hai tấm lòng trung đó.
Nhưng về chữ trung có nhiều nghĩa : Trung hậu, trung tín, trung liệt trung nghĩa.
Kẻ dem lòng trung thờ một người mà người ấy thay mặt mình để mưu cầu hạnh phúc cho dân cho nước tức là đã gián tiếp giúp cho nước cho dân vậy.
Kẻ vì thanh danh của mình, không chịu đầu hàng địch, dù phải chết, để bảo vệ khí tiết mình, đó cũng là một lối trung.
Kẻ mang ơn một người, đem thân minh đáp đền cho cá nhân ấy. Đó cũng là một lối trung. Nói chung lối trung nào cũng được khen.
Nhưng về phương diện chính trị, trung nghĩa có nhiều lợi hại. Đem thân mình trung thành với một kẻ hôn ám, vô đạo, bất nghĩa, tàn ác, như ông vua Tề Tương-Công tức là đã vô tình giúp cho kẻ tàn ác gây thêm tội lỗi, phản dân hại nước. Kẻ trung như vậy chẳng khác nào gián tiếp hại dân. Thanh danh những kẻ trung ấy không có giá trị
 
Xưa nay có rất nhiều kẻ trung theo lối Đồ nhân- Phí và Mạnh-Dương,cảm tình vớinhân người ấy mà tận trung chứ không hề nghĩ đến hành động tai hại của người ấy.
Trời sanh giống chó trung thành với chủ. Cho dù bị đánh đập cách nào hễ chủ gọi đến cũng ve vẩy đuôi chạy đến liếm chân, chẳng bao giờ- biết giận hờn. Dù nhà nghèo, ăn uống khổ cực vẫn không bao giờ đến ở- nhà khác thấy nhà khác có nhiều thức ăn hơn.
Cái trung của con người không thể qúa giản dị như vậy được.
Một ông vua dâm loạn, tàn ác như Tề-Tương- Công làm gì có đạo đức ? Mt một chiếc giày mà dám nói với một quan cận vệ :
                   Chiếc giày của ta mất mà ngươi còn sống sao ?
Rồi dùng roi da đánh viên quan ấy đến bóc da
lưng, máu chảy ướt mấy lần áo. như thế nhà Vua đã xem giày của mình quý hơn một mạng người, hay một viên quan cận vệ của mình.
Lúc hàn vi ai cũng cho những hành động như vậy là bất nghĩa, nhưng đến lúc ngồi trên một địa vị cao, được mọi người ca tụng, bợ đỡ, nhiều người đã quên hẳn cái xấu xa của con người mình, tưởng rằng mình làm gì nói gì, cũng đúng cả.
Đến lúc lâm nguy mất nước, mới chịu mở mắt ra, hối hận :
                   Tiếc rằng ta không có con mắt…!
Than ôi!
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)   ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) EmptySun Dec 26, 2021 3:12 pm

TÌNH TRI KỶ
Sinh ta ra là cha mẹ, hiểu biết ta trên đời này thì chỉ có một Bảo-Thúc-Nha mà thôi.
Quản-di-Ngô tên chữ là Trọng, một người tướng mạo khôi ngô, thông minh xuất chúng, học rộng  mưu cao, đủ tài khinh thiên vĩ địa. Lúc còn làm hàn sĩ là bạn với Bảo-Thúc-Nha. Hai người thường đi buôn chung, nhưng mỗi khi kiếm được lời, Quản-Di-Ngô bao giờ cũng nhận lấy phần hơn, chỉ chia cho Bảo-Thúc-Nha phần ít mà thôi. Tuy nhiên, Bảo Thúc-Nha chẳng bao giờ có ý phàn nàn.
Người ngoài thấy vậy nói với Bảo-Thúc-Nha:
Cùng công cán như nhau, sao ông lại để Quản-Di-Ngô ăn lấn ông như vậy?
Bảo-Thúc-Nha đáp:
Quản-Di-Ngô đâu phải tham lam, chỉ vì gia đình nghèo, tiêu không đủ nên cần tiền thế thôi.
Đến lúc sau ra phò Tề-Tương-Công, giúp việc quân vụ, mỗi khi ra trận, Quản-Di-Ngô đi sau, nhưng đến lúc lui binh thì Quản-Di-Ngô lại chạy trước. Ai nấy cho Quản-Di-Ngô là nhát gan.
Bảo-Thúc-Nha nói:
-Không phải Quản-Di-Ngô nhát gan đâu, chỉ vì ông ta còn mẹ già, nên muốn giữ lấy thân mình để nuôi mẹ.
Việc làm ca Qun-di-Ngô phần nhiu bị tht bại, ai nấy cho là kẻ bất trí Bo-thúc-Nha bào chữa;
                    Đó là con người chưa gặp thời. Nếu lúc Quản-di Ngô đã gặp thời thì  mười việc không sai một.
Quản-di-Ngô nghe Bảo-Thúc- Nha nhận xét mình như thế, lòng khâm phục than thầm :
                   Sinh ra ta ấy là cha mẹ, mà hiểu biết ta trong đời chỉ có Bảo-thúc-Nha mà thôi.
Từ lúc đó hai người trở nên tương đắc.
Nhận  xét:
Những tâm hồn lớn gặp nhau.
Trong đời hiểu người hiểu mình là chuyện khó khăn lắm.
Trí óc con người không phải lúc nào cũng cố định, nó biến đổi tùy theo trạng thái của vật chất. Cũng một việc mà người này nhận xét thế nầy. Người kia nhận xét thế khác. Cùng một việc, cùng một người mà khi ở địa vì này họ nhận định cách này, thời gian kia nhận xét thế khác. Cùng một việc, cùng một người mà khi ở địa vị này họ nhận định cách này, địa vị kia họ nhận định cách khác.
Như vậy, tư tưởng con người thay đổi theo giá trị sinh hoạt của thể chất. Do đó việc hiểu người, hiểu mình thường bị sinh hoạt vật chất ảnh hưởng làm cho con người sai lạc.
Kẻ muốn hiểu mình, hiểu người cho xác đáng nhất định  phải để tư tưởng mình tách rời khỏi giá trị sinh hoạt hiện thời.
 
Người ta nói những tâm hồn lớn  thường gặp nhau, đó là những tâm hồn khoáng đạt, siêu thoát ngoài vòng danh lợi, tư tưởng họ không để danh lợi ràng buộc vậy.
Xem như Bảo-thúc-Nha đi buôn chung với Quản-di-Ngô, trong lúc Quản-di-Ngô ăn chặn mình đã không giận mà còn nói :
                   Ọuản-di-Ngô không phải người tham, ch vì nhà nghèo cần tiền tiêu đấy thôi.
Như vậy không phải Bảo-thúc-Nha đã để tư tưởng mình vượt ra ngoài vòng danh lợi rồi sao.
Tư tưởng không bị ràng buộc, tư tưởng ấy nhận xét mới chính đáng.
Đến lúc Ọuản-di-Ngô phò Tề Tương-Công, phục vụ trong binh ngũ, lúc ra trận thì đi sau, lúc lui quân lại đi trước, dĩ nhiên là Ọuản-di-Ngô sợ chết rồi.
Có điều đáng bàn là việc Quản-di-Ngô sợ chết chính đáng không ?
Bo-Thúc-Nha nói :
                   Qun-Di-Ngô không nhát gan, chì vì còn m già . nên muốn để dành thân mình phng dưỡng.
Bảo-thúc-Nha trả lời như thế cũng chỉ cho qua chuyện, thực ra Tề Tương-Công là một ông vua dâm loạn, bạo ngược, tàn ác, còn Thúc-Nha và Di-Ngộ là   bậc tôi hiền. Tôi hiền không thờ bạo chúa.
Họ ra giúp Tề Tương-Công không phải để phò vua giúp nước mà để chờ thời. Kẻ chờ thời lại đem tấm thân hữu dụng mình chết một cách vô lý sao ?
 
Cho nên, những kẻ không có chí lớn chỉ thấy việc trước mắt, còn kẻ có chí lớn không những thấy bổn phận mình ngày nay mà còn biết nhiệm vụ mình ngày sau nữa.
Đời nay, tình bạn nhiều người không hiểu nhau bằng tâm hồn mà hiểu nhau qua chén rượu, qua những lời nịnh dọc. Họ khen chê nhau cũng chỉ vì quyền lợi của họ đối với cá nhân ấy, hoặc để đề cao lấy địa vị của mình mà thôi, đâu có nghĩa gì gọi là hiểu mình hiểu người. My ai được như Thúc-Nha Quản-Trọng.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)   ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) EmptySun Jan 02, 2022 10:47 am

NHỮNG Kẻ THẤY XA
Đã  không bỏ được lòng
 ắt tai họa phải đến.
Tề Tương Công hai người con người lớn là Công Tử Củ, người nhỏ là công-tử Tiểu-Bạch. Hai vị công tử tuy không phải con giòng đích, nhưng Tề Tương-Công thấy đã khôn lớn cần phải tìm thầy dạy dỗ. Do đó Bảo-Thúc-Nha và Quản- di-Ngô được chọn vào làm Sư-phó.
Quản-di-Ngô nói với Bảo-thúc-Nha:
— Tề hầu có hai người con. tuy là giòng thứ, nhưng không có giòng chính thì giòng thứ sau này cũng được nối ngôi. Bây giờ chúng ta lãnh mỗi đứa một người mà dạy dỗ, sau này nếu người nào được nối ngôi thi chúng ta tiến cử lẫn nhau để được trọng dụng.
 
Bo thúc-Nha khen phải. Hai người vào triều yết kiến Tề Tương-Công. Bảo thúc Nha lãnh công- tử Tiểu-Bạch, còn Quản-di-Ngô lãnh công-tử Củ, có Thiệu-Hốt giúp đỡ.
Thời gian sau, Tề Tương Công ham mê săn bắn. thường bỏ triều chính, ra nơi đất Chước tư tình với nàng Văn-Khương.
Thúc Nha thấy vậy tỏ ý với công-từ Tiểu Bạch :
                   Chúa công dâm loạn, dân tình không phục, tôi e trong nước sanh biến chẳng lâu. Công-tử nên t li khuyên can.
Tiểu Bạch y lời. Một hôm vào tâu với Tề Tương Công :
                   Phụ thân đi săn bắn nơi đất Chước, thiên hạ dị nghị rất nhiều, xin phụ thân t hiềm đừng đến đó nữa.
Tề Tương-Công nổi giận xách giày liệng Tiểu-Bạch,
hét:
                   Mày con nít biết gì đến chuyn của ta
mà nói.
Tiểu-Bạch thất kinh chạy về nói lại với Bảo- thúc Nha.
Thúc-Nha buồn bã nói :
                    Đã không bỏ được lòng tà ắt tai họa phải đến. Vậy công tử cùng tôi sang nước khác lánh nạn, ngày sau sẽ tính.
Tiu-Bạch hỏi :
                   Bây giờ phi qua nước nào ?
Thúc Nha nói :
                   Nước lớn thường cậy thân cạy thế, tánh tình
 
hay thay đổi bất thường, còn nước nhỏ thì thủ phận, ít sanh chuyện lôi thôi. Vậy ta nên sang nước Cử, gần gũi nước Tề sau này có trở về cũng tiện.
Tiểu- Bạch thuận tình, hai người trốn qua nước
Cử.
Cách đó không lâu. Tề Tương-Công bị giết, Công- tôn Vô-Tri lên nối ngôi, và sai người đến triệu Quản-di-Ngô vào triều giúp việc.
Quản-di-Ngô nói:
— Bọn ấy gươm đã kề cổ mà không biết còn muốn lôi kéo đến kẻ khác sao ?
Nói rồi cùng Thiệu-Hốt phò công-tử Củ chạy  sang nước Lỗ.
Nước Lố vốn là bên ngoại ca công-tử Củ nên công-tử Củ được Lỗ-trang-Công trọng đãi, cho ở nơi đất Sinh dậu.
Ch một thi gian sau. Vô-Tri bị quân thần không phục lập kế giết đi, làm cho nước Tề rối loạn không có vua.
Nhận xét:
Những người có chí lớn thường thấy những việc xa. còn kẻ bất trí chỉ thấy được những việc trước mắt thôi.
Trong lúc Tề Tương-Công đang mạnh thế, chỉ vì dâm loạn ác tâm mà Bảo-Thúc-Nha đoán biết nước Tề không thể nào tránh được nguy cơ. Vội phò Công-tử Tiểu Bạch trốn đi.
Sau ngày Tề-Tương Công bị giết, Công-Tôn- Vô-Tri lên đoạt ngôi, mời Quản-Di-Ngô ra giúp việc nước.
 
Quản-di-Ngô đã không giúp mà còn cùng Thiệu-Hốt dẫn công-tử-Củ chạy sang nước Lỗ.
Ấy vậy, những kẻ thấy xa hiểu rộng bao giờ cũng không chú ý đến cái lợi nhất thời mà bỏ cái lợi to tát về sau.
Qủan-di-Ngô về điểm này tuy không bằng Thúc-Nha, nhưng cũng còn có con mắt tinh đời hơn kẻ khác nhiều.
Thời nay, thiếu gì người chỉ biết có cái địa vị trước mắt mà không thấy cái nguy hại về sau. Mỗi khi vớ được một địa vị gì tưởng đó là cái ngôi vĩnh viễn, họ có biết đâu cái địa vị ấy nền xây trên cát bụi thì nó sẽ sụp
đổ không lâu.
Gặp thời nào xuôi theo thời nấy. Gió chiều nào cờ phất theo chiều ấy, đó chỉ là những kẻ nịnh bợ, xu thời, kiếm ăn, đâu phi là những nhà chính tri, những kẻ yêu nước thương dân.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)   ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) EmptyMon Jan 03, 2022 2:22 pm

CUỘC ĐẤU TRÍ GIỮA BẢO-THÚC-NHA VÀ QUẢN-DI-NGÔ
Tề Tương-Công bị giết, nước Tề không có vua, hai công-tử con vua là Tiểu-Bạch được Bảo-thúc- Nha dẫn đi lánh nạn ở nước Cử. Công-tử Củ được Quản-di-Ngô dẫn đi lánh nạn ở nước Lỗ.
Khi nghe được tin, Quản-di-Ngô sợ công-tử Tiểu-Bạch về trước giành ngôi vua, nên vào tâu với Lỗ-trang-Công :
                   Để ngăn cản công-tử Tiểu-Bạch, xin Chúa công cho tôi mượn một con ngựa hay và một ít quân lính đi đón đường Tiểu-Bạch. Như thế mới tranh ngôi cho công-tử Củ được.
L-trang-Công hỏi:
                   Ngươi muốn đem bao nhiêu quân ?
Ọun-di-Ngô đáp :
                   Chỉ cần độ ba mươi cỗ xe là đủ.
Lỗ-trang-Công liền  cấp phát. Quản-di Ngô lãnh mạng kéo quân đi.
Ngay lúc đó bên nước Cử, công-tử Tiểu-Bạch cũng đã hay tin liền bàn với Bảo-Thúc-Nha mượn một trăm cỗ xe của nước Cử  hộ tống trở về.
Cử và Tề ở sát biên giới, công-tử Tiểu-Bạch đi chưa bao lâu đã ra khỏi biên giới nước Cử. Còn Di-Ngô đem quân đuổi theo, đến biên giới thì đã nghe tin Tiểu –Bạch đi qua khỏi rồi. Quản-di Ngô vội vã đuổi theo hơn ba mươi dặm nữa mới theo
kịp.
Vừa thấy Tiểu-Bạch. Quản-di-Ngô nói lớn :
                   Từ ngày cách mặt nhau đến nay. công-tử vẫn được mạnh giỏi chứ ?
                   Nhờ trời tôi cũng được bình yên.
                   Chẳng hay công-tử kéo quân đi đâu mà gấp vậy
Công-t Tiểu-Bạch đáp :
                   Tôi muốn về nước cư tang cho thân phụ tôi.
Quản-di-Ngô nói :
 
                   Việc cư tang đã có công-t Củ là anh c, còn công-t là em thì vội gì. Xin đình lại.
Bo-thúc-Nha nói:
                   Chúng ta ai chúa nấy, xin Di-Ngô chớ nhiu lời.
Xói xong thúc quân tiến bước.
Quản di-Ngô muốn cản lại, nhưng thấy Tiểu-Bạch đông quân hơn mình nên không dám. bèn rút cung tên nhắm ngay Tiểu-Bạch bắn một mũi. Tiểu-Bạch la lên một tiếng trào máu miệng té ngửa xuống xe Thúc- Nha thất kinh lật đật đến cứu. Bọn tùy tùng trông thấy khóc rống lên.
Quản- di-Ngô tin chắc Tiểu-Bạch đã chết, vội vã quay xe lui binh về, lòng hớn hở nghĩ thầm  :
— Công-tử Củ có phước lắm, thế là ngôi báu kia không còn ai tranh đoạt nữa.
Tuy nhiên. Quản di-Ngô đã lầm, mũi tên kia không giết được công-tử Tiểu-Bạch, ch xẹt qua chiếc dây đai thắt lưng. Công-tử Tiểu-Bạch là người lanh trí. Biết tài bắn của Di-Ngô, nên giả vờ ngã ngửa ra cắn lưỡi phun máu để Di-Ngô khỏi bắn tiếp mũi tên thứ hai.
Khi thy Tiểu-Bạch không bị thương tích gì, Thúc- Nha vội thay quần áo. giấu vào trong một cỗ xe riêng, hối quân tiến gấp về Tề-đô.
Đến nơi, Thúc-Nha vào thành ra mắt các quan và chủ trương lập Tiểu-Bạch lên nối ngôi, lấy hiệu là Tề-Hoàn-Công.
Cách mấy ngày sau. Di-Ngô yêu cầu vua Lỗ cử binh đưa công-tử Củ về nước Tề kế vị, nhưng vừa đến biên giới đã hay tin công-tử Tiểu-Bạch lên ngôi rồi.
Thế là Di-Ngô và vua nước Lỗ đành thua trí Thúc-Nha. phải đốc quân chiến đấu.
 
Nhận xét:
Thúc-Nha và Quản-Di-Ngô đều mưu việc phục hưng nước Tề. Ai cũng thuận theo lòng người, lập con Tề Tương-Công lên nối ngôi cha. Tuy nhiên, điều đáng nói đây là aichúa nấy. Thúc-Nha thì phò Tiểu-Bạch, Di-Ngô thì phò công-từ Củ. dĩ nhiên ai cũng muốn người mình chiếm được địa vị độc tôn.
Người đời sau thường khen Di-Ngô là ngườị tài trí hơn người, có tài đồ vượng định bá. Tuy nhiên đi sâu vào việc, chúng ta thấy rằng Di-Ngô chỉ có tài dựng nước mà không có tài sáng lập. Cũng như Bảo- Thúc-Nha chỉ có tài sáng lập mà không có tài dựng ớc. Hai người tuy là có tài cả. nhưng tài năng khác biệt nhau.
Nếu không có một nước Tề do Di-Ngô dựng lên thì chưa chắc Thúc-Nha sau này đã đủ khả năng đào tạo một ông vua như Tề-Hoàn-Công. Cũng như không có Di-Ngô giúp Tề-Hoàn-Công sau này thì Thúc-Nha không thể nào biến nước Tề thành một nước Bá chủ được.
Một nhà chính trị có tài dùng người phải thấy khả năng của mỗi người trong mọi lãnh vực.
Cứ so cuộc đấu trí giữa Thúc-Nha và Di-Ngô, chúng ta thấy Di Ngô thua Thúc-Nha một bực. Trước hết, Thúc-Nha biết trước nước Tề có loạn, đưa Tiểu-Bạch đi lánh nạn trước. trong lúc ấy Di-Ngô vẫn còn đợi cho đến lúc Tề Tương-Công chết mới thấy được tình hình.
Thúc-Nha ra đi biết trước sẽ có ngày về nên không đi xa, đưa tiểu-Bạch qua nước Cử để gần nước Tề là một dụng ý về mưu lược.     
Đào tạo Tiểu-Bạch thành một Tề- Hoàn-Công sau y cũng nh tài năng của Thúc-Nha.
Di-Ngô phò công-tử Củ là anh, đó là một điểm lợi thế. Lánh nạn qua nước Lỗ là một nước lớn có đủ binh hùng tướng mạnh, đó là một lợi thế nữa. Ấy vậy mà không tranh nổi với Bảo-Thúc-Nha thì quản Di- Ngô mưu trí không bằng Thúc-Nha rồi.
Cho nên, khen Di-Ngô không phải khen về mưu chước mà khen vì tài an bang tế thế, có đủ sách lược đ biến một nước yếu thành một nước mạnh, biến một nước loạn ra một nước trị mà thôi.
Tề Hoàn-Công không phải là kẻ biết dùng người, nhưng nhờ ở Thúc-Nha, con người hiểu người hiểu ta. Thúc-Nha không bao biện, chỉ làm những việc hợp với tài năng mình thôi, còn việc mình không đủ tài phải cậy vào kẻ khác.
Đời nay nhiều người khi chiếm đoạt một địa vị rồi thì bo bo lo sợ những kẻ khác xen vào cướp mất địa vị mình. Những kẻ ấy chính là những kẻ mưu lợi riêng cho mình hơn là lo cho tiền đồ dân tộc .
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)   ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) EmptyWed Jan 05, 2022 3:03 pm

CÁI CHẾT CA THIỆU-HT VÀ CÁI SNG CỦA QUẢN- DI-NGÔ
Thiệu Hốt và Quản Di Ngô cùng phò công-tử Củ mưu vìệc nối ngôi nước Tề, nhưng vì Bảo-thúc-Nha đưa công t Tiểu-Bạch về nước lên ngôi trước. Thất cơ. Di Ngô phải nhờ Lỗ-trang-Công cử binh giao chiến để đòi lại chiếc ngai vàng.
Chẳng may qua hai lần giao tranh, Lỗ-trang- Công bị bại binh cuốn cờ kéo quân về.
Nước Tề không lấy thế làm vừa lòng, viết thư sai - sứ đem đến nước Lỗ buộc Lỗ hầu phải giết Công Tử Củ đi thì mới giao hòa, nếu không sẽ đem binh đánh nước Lỗ.
Lỗ-trang Công sợ  hãi, hỏi Thi Bá :
                   Khanh có cách nào giải quyết việc khó khăn này ?
Thi Bá suy nghĩ một lúc rồi nói :
                   Đành phải hy sinh công-tử Củ.
Bấy giờ công   tử Củ. Quản-Di-Ngô và Thiệu-Hốt đang tại Sinh-dậu Lỗ-Trang-Công sai công tử Yến đem quân đến giết công – tử- Củ. Bắt Quản-Di-Ngô và Thiệu Hốt bỏ vào tù xa.
Thiu Hốt thy vy than rằng:
                   Làm con nên vì cha mẹ mà chết, làm tôi nên vì Chúa mà hy -sinh, ấy mới phải đạo. Nay công tử Củ đã chết, thì Hốt này còn sống làm gì ?
Nói rồi đập đầu vào một cây cột tự vẫn.
Quản-di Ngô nói :
 
— Nếu Thiệu-Hốt quả liều chết theo chúa thì ta nên vì Chúa mà giữ thân này lại để có ngày minh oan cho chúa ta.
Nói rồi bó tay chịu trói mà vào tù xa
Nhận xét:
Làm con vì hiếu mà chết,
Làm tôi vì trung mà chết,
Cái chết của Thiệu-Hốt làm nổi bật một tấm lòng thủy chung của một tôi thần thủy chung đối với chúa. Thật đáng khen và kính mến. Nhưng so với cái sống của Quản-di-Ngô, Thiệu-Hốt còn kém ở chỗ hẹp- hòi, câu nệ, ít sáng suốt và thiếu óc phán đoán.
Nói như thế  sẽ có      người phản  đối :      Theo phò ChúaChúa chết không biết báo thù, lại tham sống thì      anh hùng       sao  được     ? Thiệu-Hốt không sợ      chết, không chịu nhục gông cùm, như thế mới là một tôi  trung.
Không ai      chối       cãi  Thiệu-Hốt là       một tôi   trung.
Nhưng cái trung của Thiệu –Hốt chỉ là       trung     với  Chúa, chứ không phải trung với nước Tề. Trung với nước Tề mới là cái trung đáng kể. Bởi côngtử Củ và côngtử Tiểu-Bạch là hai anh em, không người này lên làm vua thì người khác, cũng đều là con vua Tề Tương-Công cả. Dầu Củ hay Bạch có làm vua thì cũng làm vua cho nước Tề thôi. Phương Chi, trong một nước không thể có hai vua, tất nhiên không thể dung dưỡng hai con hổ cùng tranh nhau một miếng mồi, thì nếu côngtử Củ không chết thì côngtử Tiểu Bạch cũng sẽ chết.
 
Chỉ hận cho chế độ phong kiến, sự giành giật ngôi vua  giữa anh em muôn đời vẫn xảy ra khiến cho thành nghiêng  nước ngửa. Buộc một người phải chết để cho nước Tề được vững vàng đó là nguyện   vọng của kẻ làm tôi. Bảo-Thúc-Nha hành động như thế không phải tạo cái ác đâu. Nếu Tiểu-Bạch và Củ hòa nhau, thương yêu nhau như anh em côngtử Thọ và công- tử- Cấp-Tử thì làm gì có cái chết ấy.
Thiệu –Hốt –chết theo công tử Củ, người đời khen lòng trung nghĩa, nhưng không khen chí trượng phu. Cái chết của Thiệu-Hốt hẹp hòi ở chỗ chỉ biết có một công –tử Củ mà không Thấy rằng mình là tôi thần của nước Tề, phục vụ cho toàn thể nhân dân nước Tề.
Hủy tấm thân hữu dụng của mình, Thiệu-Hốt chỉ làm rạng danh cho một kẻ tôi trung, vì chúa mà chết thôi.
ngược lại, cái sống của Quản-di-Ngô là con người úy – tử- tham - sinh, nhưng với cặp mắt biết nhận thức được người tài,thì người ta sẽ hoài nghi về cử chỉ của Di-Ngô và phân vân chưa biết đó là quân tử hay vẫn là kẻ thường nhân, nhưng đối với con mắt tinh đời thấu triệt được hoài bão sâu xa, cùng tài quán thế của Di- Ngô thì người ta phải kính nể, sợ sệt đối với ý thức nhẫn nhục ấy.
Mấy ai có được đôi mắt như Thi-Bá và Bảo-Thúc-Nha.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)   ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) EmptyFri Jan 07, 2022 3:05 pm

QUN-TRỌNG, MỘT CHÍNH TRỊ GIA NỔI TIẾNG
Quàn-Trọng phò công-tử Củ, bị Tiểu Bạch giành ngôi, công-Tử Củ chết, nhưng Quản-Trọng không chết. Quản-Trọng chủ trương dành lại thân mình để minh oan cho Chúa sau nầy. Điều đó nhiều người dị nghị về Quản-Trọng rất nhiều.
Về sau, Quản-Trọng bị bỏ vào tù xa đem về nước Tề. Bảo-thúc-Nha giới thiệu vi Tề Hoàn-Công (Tiểu-Bạch) mời Quản-Trọng vào triều dùng vào việc kiến-quốc.
Tề Hoàn-Công y lời chọn ngày lành rồi thân hành đi đón Quản-Trọng.
Khi Quản-Trọng vào triều, Tề Hoàn-Công mời ngồi trên chiếc cẩm đôn bên cạnh mình với cử chỉ rất thân mật.
T Hoàn-Công hỏi :
                   Nước Tề ta vốn là một nước lớn, tiên quân ta Hi-Công, đã làm cho các chư hầu kinh nể. Đến đời Tương-Công chính lệnh bất thường, xảy ra tai biến. Nay ta vừa mới lên ngôi, lòng dân chưa định, thế nước chưa yên, nay muốn cho nước mạnh, dân an. phải làm gì trước ?
Qun-Trọng nói :
                   Lễ, nghĩa, liêm, s là bốn điều cõt yếu để trị nước, nếu thiếu một trong bốn điều đó tai biến sẽ xảy ra. Nếu cả bốn điều đó không có thì nước sẽ mất.
 
Tề Hoàn Công hỏi:
                   Nếu đã có bốn điều đó thì Làm cách nào mà trị dân ?
Quản-Trọng nói :
                   Mun trị dân trước hết phải yêu dân.
T Hoàn-Công hỏi:
                   Muốn yêu dân phải làm cách nào ?
Qun-Trọng nói:
                   Yêu dân phải dạy dân, lấy đạo thân ái chăm sóc đời sng hằng ngày cho dân, bớt xâu giảm thuế làm cho dân giàu, hễ dân giàu tức là nước mạnh.
T Hoàn-Công hi ;
                   Dân giàu nhưng binh khí, quân cụ trong nước thiếu thốn thì phải làm sao ?
Qun-Trng đáp :
                   Muốn đủ binh khí quân cụ thì binh pháp trong nước nên đặt lệ cho chuộc tội. Tội nặng cho chuộc một cái giáp, tội nhẹ cho chuộc một cái quy thuẫn, tội nhỏ cho nộp kim khí, tội nghi thì tha hẳn. K nào tụng lý tương đi thì bắt nạp một bó tên, ri gii hòa. Làm như thế t quân dụng không thiếu.
T Hoàn Công hi :
                   Đã làm như vậy nhưng không đủ dùng thì phải làm sao ?
Quản-Trọng nói:
                   Khai mỏ đúc tiền, nấu nước bể làm muối, trữ hàng hóa lấy lãi, cất ba trăm nhà nữ-lưu cho các khách buôn bán đi lại tụ họp ở đó mà đóng thuế. Như vy công quỹ phải đ dùng.
 
Tề Hoàn Công hỏi :
                   Của dùng đã đủ, nhưng quân lính còn ít, không đủ mạnh thì làm sao ?
Qun-Trọng nói :
                    Ọuân không cần nhiều, chỉ cần tinh nhuệ, mạnh không vì sức mà cốt ở tinh thần, do đó  chúa công muốn có binh mạnh chỉ cần giữ vững lòng quân, rèn luyện kỹ thuật chiến đấu là đủ.
T Hoàn Công hi :
                   Binh thế đã mạnh, có nên đi đánh các nước chư hầu chăng ?
Quản-Trọng đáp :
                    Chưa nên đánh vội . Làm chủ các chư hầu không phải sức mạnh hăm dọa mà phải đem đạo đức ra chinh phục. Trước hết phải đặt mình lên địa vị chinh đáng đã, sau sẽ dùng cái địa vị đó mà trấn an các chư hầu.
Tề-Hoàn-Công hi:
                   Làm thế nào để đặt mình vào địa vị chánh đáng ?
Qun Trng đáp :
                   Danh chánh ngôn thuận là ý muốn của mọi người, các chư hầu đều có bổn phận phải tuân vương mạng, vậy trước tiên Chúa Công phải kính trọng nhà Châu, và bắt các chư hầu cũng phải kính trọng như mình.
T Hoàn Công hỏi :
                   Rồi làm thế nào để trấn an các chư hầu ?
Qun-Trọng đáp :
 
                   Phải đem đạo đức mà giao hữu với họ, đem tất cả các đt đai đã chiếm được tr cho họ, tỏ ra mình không tham lam, lại đem l vật đến khp nơi cầu người hiền đem v ớc mà dùng. Nước chư hầu nào bị loạn tặc nên đem quân đến- cứu, làm như vậy nước nào không mến phục ?
T Hoàn-Công hỏi :
                   Xưa nay đất rộng dân đông là biểu hiện cho nước giàu mạnh mà khanh lại bảo không đem quân lấn đất giành dân thì làm sao cho nước hùng ?
Qun Trọng nói :
                   Đem sức mạnh chiếm đất cũng chỉ chiếm được một chỗ nhỏ nào thôi, vì chiếm rồi còn phải giữ, nếu không đủ sức giữ sẽ bị mất, còn đem đạo đức mà chiếm đất thì không cần giữ, do đó có thể chiếm bao nhiêu cũng được.
Tề Hoàn Công cùng Quản-Trọng  nói chuyện trong ba ngày đêm mà không biết chán.
Tề Hoàn Công lấy làm đắc ý phong cho Quản- Trọng làm Tể-Tướng.
Quản Trọng từ chối không nhận. T Hoàn-Công nói :
                   Bởi ta muốn theo sách lược của khanh nên phải dùng khanh binh chánh, có gì khanh lại từ chối ?
Qun Trọng nói :
        — Không phải sức một cây gỗ có thể làm nên một nhà lớn, không phải sức một dòng nước tạo nên một bể cá, nếu Chúa-Công đã có chí lớn thì nên dùng năm kiệt sĩ đương thời.
T Hoàn-Công hi :
 
                   Năm kiệt sĩ ấy là ai ? Tài năng như thế nào?
Qun- Trọng nói :       ,
                    Có tài giao thiệp biết giữ lễ phép thì tôi không bằng Thãp-Bằng, xin cho Thấp-Bằng làm Đại- tư Hành. Có tài khai khẩn, biết cách trồng trọt thì tôi không bằng Ninh-Việt, xin cho Ninh-Việt làm Đại- tư Điền. Có tài luyện tập quân sĩ, khiến cho người ta quên chết thì tôi không bằng Hành Phù, xin cho Hành-Phù làm Đại-tư-Mã. Có tài xử đoán khiến người ta khỏi bị hàm oan, thì tôi không bằng Tân- tu-Vô, xin cho Tân-tu-Vô làm Đại-tư Lý. Có tính cương trực, thấy điều trái tất phải nói ngay, thì tôi không bằng Đông-quách Nha, xin cho Đông quách- Nha làm Đại Giám-quan. Chúa công trọng dụng năm người ấy trong nước được cường thịnh.
Tề Hoàn-Công nghe theo lời Quản-Trọng phong chức cho năm người ấy, và quyết định phong cho Quản-Trọng làm tể tướng.
Qun-Trọng nói :
                   Chúa Công đã có chí lớn, dẫu tài tôi hèn mọn cũng xin cố sức mà vâng mệnh Chúa Công.
Tề Hoàn Công lại Hỏi :
                   Ta bình sanh có tánh ưa săn bắn, lại thích nữ sắc, chẳng hay hai điều ấy có hại đến nghiệp bá chăng ?
Qun-Trọng nói :
                   Đã rõ được nhược điểm của mình tất không hại.
Tề Hoàn Công hi :
                   Thế thì điều gì mới có hại cho nghiệp bá ?
 
Quản-Trọng nói :
— Không biết người hiền là hại. Biết người hiền không dùng là hại. Dùng người hiền mà không phó thác việc lớn là hại. Phó thác việc lớn mà để kẻ tiểu nhơn xen vào là hại.
Tề-hoàn Công khen phải. Từ đó công việc triều chính đều phó thác cho Quản-di Ngô. Lại goi Quản- Di Ngô bằng Trọng-Phụ.
nhận xét :
Không phải sức một cây gỗ mà làm được một nhà lớn Không phải sức một dòng nước  mà làm lên được biển cả.
Một nhà chính trị lỗi lạc như Quản-Trọng tất nhiên hiểu rất sâu xa thuật xử thế trong xã hội loài người rồi.
Quản-Trọng trổ tài giúp Tề-Hoàn-Công dựng nên nghiệp bá chính là nhờ ở trí óc thấy xa hiểu rộng vậy.
Chương trình kiến quốc của Ọuản-Trọng rất vĩ đại, thời xưa ai cũng lấy đó làm khuôn thước để noi gương.
Trước hết, đặt vấn đề trị nước, Qủan-Trọng chú ý đến bốn điểm : Lễ, Nghĩa, Liêm. Sỉ.
Bốn điều ấy chính là cương lĩnh để cho trong  xã hội biết tôn ti thượng  hạ, trên dưới kính nhường nhau. Lễ, Nghĩa, Liêm. Sỉ là bốn điều căn bản để đào luyện tư cách con người. Từ vua quan đến thường dân, nếu ai cũng giữ được bốn chữ ấy thì trật tự trong nước sẽ tiến đến chỗ tốt đẹp. Nên bốn điểm ấy,
ý thức Ọuản-Trọng đặt nặng vấn đề giáo dục quần chúng và rèn luyện về cách lãnh đạo trước nhất.
Vì, tư cách lãnh đạo có, mà giáo dục quần chúng thiếu thì cũng không thành công được. Giáo dục quần chúng có, mà tư cách lãnh đạo thiếu thì chẳng đi đến đâu. Hai việc này phi đi song song với nhau.
Nhưng bốn điểm này không phải là cơ  sở của chương trình kìến quốc, mà chỉ là cơ- sở cho việc quốc thái dân an thôi.
Có bốn điểm ấy chỉ mới là việc tổ chức trật tự trong nước, việc giáo dục quần chúng chớ chưa phải là việc trị dân.
Đến như việc trị dân. Quản-Trọng chú ý đến việc yêu dân.
Yêu dân không phải hứa hẹn suông điểm nầy điểm nọ, mà phi thực tế làm cho đời  sống của dân bớt khổ sở. Cụ thể là bớt sưu cao thuế nặng.
Như vậy nhà chính trị  Quản-Trọng trước nhất đã đặt quyền lợi nhân dân lên hàng đầu rồi.
Thời chiến quốc là mội thời phong kiến cực đoan, nước nào cũng lấy sức mạnh làm phương châm hành  động, lấy việc áp bức dân làm uy quyền, thế mà Quản- Trọng đề ra ý thức như vậy thật mới mẻ lắm. nLàm cho dân giàu để cho nước mạnh».
Tuy nhiên, một bên giáo dục dân chúng, sửa đổi dân sinh, Ọuản-Trọng cũng không đặt nhẹ vấn đề quân sự, kèm theo một bên vì, quân sự là uy thế của chính quyền, nếu chính quyền không đủ uy thế quân sự thì dân chúng   không tuân hành, chính lệnh sẽ vi thế mà mất nghiêm.
 
Quản-Trọng chủ   trương hình phạt bằng lối góp sức của dân, bắt dân phải chịu đóng góp những cái trong nước thiếu thốn. Thật là một lối trừng phạt mới mẻ,  có lợi cho việc giữ nước.
Về kinh tế, Quản-Trọng chủ trương khai mở, đúc tiền. Lấy nước biển làm muối, mở mang việc trồng trọt đó chính là một kế hoạch kiến thiết mà các triều vua thời bấy giờ không ai để ý đến.
Về việc   chinh  phục các nước, Quản-Trọng chủ trương dùng đạo đức thu phục nhân tâm, không dùng sức mạnh .chíếm đất đai.
Ông ta nói:
Đem sức mạnh chiếm đất chỉ chiếm được một phn nh mà thôi , vì chiếm rồi còn phải giữ, nếu không đủ sức giữ s bị mt. Đem đạo đức mà chiếm đất thì đất không cần phải giữ nên có thể chiếm bao nhiêu cũng được” .
Lối chiếm đất của Ọủan-Trọng quả có một ý nghĩa vô cùng sâu sắc, đáng là một nhà chính trị lỗi lạc vậy.
Thế giới ngày nay, qua những cuộc tranh lấn đất đai, khí khoa học mỗi ngày một tiến triển, con người ỷ vào sự tiến triển ấy không kể đến kế sách chiếm đoạt lòng dân.
Tuy nhiên, kinh nghiệm cho ta thấy, vũ khí mạnh chỉ là phương tiện chiếm đất chứ không phải phương tiện giữ đất. Lời nói của Ọuản-Trọng đối với thời nay vẫn còn như một tấm gương sáng để cho các nhà chính trị thế giới suy ngẫm vậy.
 
Nói tóm lại,ch lược kiến quốc của Ọuản.-Trọng  chia làm hai phần : Đối nộiđối ngoại.
Đối nội : Ọuản-Trọng chủ trương giáo dục dân chúng, rèn luyện cán bộ lãnh đạo, phát triền kinh tế, củng cố quân bình bằng lối ung đúc tinh thần chiến đấu, sửa đổi bộ máy cai trị theo lối phân công, mỗi nhân tài chịu trách nhiệm một ngành.
Đối ngoại : Tương giao với nước ngoài bằng cách cho người đến thăm hỏi, mà nhất thiết không nhận của cải để khỏi mang tiếng tham lam.
                   Siết chặt tình đoàn kết với các nước bằng cách giao trả những đất đai đã bị mình xâm chiếm từ trước-
                   Gây uy tín cho mình bằng cách đem quân chinh phục nước nào có loạn tặc cướp ngôi để sáng lập lại dòng chánh của nước ấy.
                   Cho người nước mình sang các nước ngoài dò xét xem các nước cần thiết những hàng hóađể mang đến bán.
Đây là chính sách mà các nước Tây Phương đã áp dụng trong hai thế kỷ nay để xâm chiếm thuộc địa ở Á và Phi châu vậy.
Từ xưa người ta đã phân biệt hai chính sách kiến quốc gọi là đồ vương định bá.
Một là theo bá đạo : chính sách này áp dụng cấp thời, mục đích làm  sao cho được việc trước mắt để thủ lợi. Chính sách này áp dụng lúc mềm lúc rắn tùy theo mỗi việc, đôi khi thấy như điêu ngoa giả dối.
Hai là vương đạo: chính sách này nhằm một lợi ích lâu dài và chắc chắn, lấy đạo đức làm căn bản trị dân.
 
Đời Nghiêu, Thuấn lấy vương đạo trị dân, đời Tề-   Hoàn-Công lấy chính sách bá đạo trị dân.
Phân biệt hai chính sách này chúng ta không thấy lạ lùng trong chính sách cấp thời, khôn  khéo của Ọuản- Trọng nữa.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)   ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) EmptySat Jan 29, 2022 8:33 am

KẾT QỦA CỦA CHÍNH SÁCH BÁ ĐẠO


Vương-Đạo và Bá-Đạo, hai chính sách tuy khác nhau, nhưng việc làm gần giống nhau. Chỉ có lúc thành công rồi mới nhận thấy bộ mặt thật của hai chính sách ấy.
 
Sau khi thu phục chư hầu, nm trọn quyn bá ch, T Hoàn- Công sanh ra tự ku, cho mình đã làm được nhiu việc có lợi ích cho dân, bèn sa sang cung điện vô cùng lộng ly, các ngựa xe, đ dùng nhất nhất đều được sửa sang rất lịch sự, sang trọng c cung điện đều được xây ct lộng ly.      Các quan trong triều thấy vậy cũng đua nhau phục sức và trang hoàng dinh thự của mình. Quản- Trọng đã không ngăn cản mà còn tự mình xây cất đài Tam-Qui cao ba tầng để ở, xái phi rất huy hoát. Bảo-thúc-Nha có ý nghi hoặc, hỏi :
                   Vua xa xỉ, mình cũng xa xỉ, vua tiếm phạm mình cũng tiếm phạm, như thế nghĩa là sao ?
Quản-Trọng đáp:
— Một ông vua đã trải bao gian nguy khổ sở lập nên công nghiệp, tất có ngày phải được hưởng sung sướng và khoái lạc. Nếu mình đem lễ- phép mà gò bó thì ắt người ta sanh chán. Tôi sở dĩ bắt chước chúa công phung phí như vậy để chia bớt tiếng cười chê của thiên hạ đối với chúa công vậy.
Bảo-thúc-Nha làm thinh, nhưng trong lòng không phục.
NHẬN XÉT:
Hành động của Tề Hoàn Công trên đây là kết quả của một chính sách bá đạo.
Không thể bảo rằng vì mình có công trạng nhiều với dân mà trở- nên kiêu hãnh, xa hoa như vậy. Một ông vua vì nước vì dân thì phải xem việc mình làm là nhiệm vụ đối với dân với nước, sao lại cho đó là một ân huệ ?
Tề Hoàn-Công đã theo bá đạo. Đã vì tham vọng riêng của mình mà lập nghiệp, đâu phải vì dân nước Tề.
Đứng về vương đạo mà nói thì ông vua vui cái vui của dân. Khổ cái khổ của dân. Dân sướng tức là  vua đã sung sướng rồi, cần gì phải hưởng riêng cái sung sướng mình mới là sung sướng. Đã nghĩ riêng cho mình thì không thể nào mưu cầu hạnh phúc cho dân được nữa.
Qủan-Trọng bảo làvua xa hoa phung phí nên ông cũng phải xa hoa phung phí để chia bớt tiếng xấu của vua đối với dân chúng.
 
Lời nói nầy quả là ngụy biện. Đã biết việc làm của vua là xấu, lại không khuyên can. còn hùa theo mà làm, thế thì sao gọi là trung, sao giữ được uy- tín đối với dân.
Một ông vua xa hoa dân chúng đã khổ rồi, cả triều thần xa hoa nữa thì dân lại còn khổ hơn. Việc kiến quốc không phải một mình nhà vua hay một nhóm triều thần làm nên được, phải nhờ ở sức dân mới thành, thế mà không nghĩ đến dân lại  nghĩ đến riêng mình thì quả là mị dân rồi.
Lời thánh nhân nói: Kẻ biết lo cho dân, hãy lo lắng trước cái lo lắng của dân, hãy vui sau cái vui của dân, như thế mới gọi là dân.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)   ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) EmptyMon Jul 31, 2023 7:56 am

BẢO-THÚC-NHA,
MỘT TINH THẦN YÊU NƯỚC
Bảo-thúc-Nha phò công tử Tiểu-Bạch lên nối ngôi Tề Tương-Công, tranh với Công tử Củ.
Bấy giờ Quản-Trọng bị bắt, Thúc Nha thân hành đến đất Dương-phụ mở tù xa thả Quản-Trọng ra. Quản-Trọng hỏi:
—Chưa có mệnh sao dám mở tù?
Thúc-Nha nói:
— Tôi sắp tiến cử ông với Chúa công, xin đừng
ngại.
Quản-Trọng nói :
—                   Tôi cùng Thiệu-Hốt phò công-tử Củ, đã không làm nên việc lại không tận trung mà chết theo vua, nay lại trở về phò kẻ cừu địch thì Thiệu- Hốt ở dưới suối vàng sẽ cười tôi phản phúc.
Thúc-Nha nói :
—Muốn làm nên việc lớn sao câu nệ điều nhỏ.
ông là người có tài trị thiên hạ, nhưng chưa
gặp thời. ông nên nghe lời tôi.
Sau đó Thúc-Nha đưa Quản-Trọng về triều rồi tâu với Tề Hoàn-Công :
—Công-tử Củ là anh ruột của Chúa công, nay bất đắc dĩ vì việc nước mà phải dứt bỏ tình   thân, hạ thần có lòng kính viếng, nhưng kính viếng xong, thần lại mừng cho Chúa công. Mừng vì Quản-di- Ngô là bậc kỳ tài, tài nhiều hơn  Thiệu-Hốt, tài nhiều hơn hạ thần, đã được bảo Toàn đem về đây. Thế là Chúa công đã có một hiền sĩ suất sắc.
Tề Hoàn-Công nói :
—Quản-di-Ngô bắn vào đai áo của ta, mũi tên đó ta còn giữ, chỉ chờ lúc bắt được hắn ta phân thây xé thịt ra, nay ta còn dùng hắn sao   được ?
Bảo-thúc-Nha nói :
—Làm tôi ai cũng một lòng vì Chúa. Lúc Di- Ngô bắn vào đai áo của Chúa công chỉ Vì Di-Ngô biết có Công tử Củ mà không biết đến Chúa Công. Nay nếu Chúa công dùng Di-Ngô thì Di Ngô sẽ vì Chúa công mang tên bắn cả vào thiên hạ.
 
Tề Hoàn-Công mắt sáng lên bảo:
—Khanh nói đúng đấy. Ta nghe lời khanh tha tội cho hắn.
Tề Hoàn-Công định giao quyền chính cho Bảo- thúc-Nha, nhưng Bảo-Thúc-Nha từ chối nói: Chúa công gia ân cho cả gia tộc tôi được no ấm, thế là đủ lắm rồi, còn việc chính trị thì Thúc-Nha này thật không đương nổi.
Tề-hoàn-Công cố ép :
—Không, khanh là người đã vì ta mà dựng nghiệp nước Tề, nếu không có khanh thì ta làm sao được như ngày nay tài khanh ta đã biết, khanh chớ chối từ, phụ lòng ta.
Bảo-thúc-Nha nói .
—                   Chúa công biết tôi là người kính cẩn giữ lễ chớ không phải có tài về chính trị. Nếu cưỡng mà dùng tôi, hại sẽ nhiều hơn lợi. Một người có tài chính trị phải là người mềm dẻo, biết cách xử thế bên trong đủ cho mọi người khâm phục, bên ngoài đủ cho các chư hầu kính vì, đó mới là bậc kỳ tài. Nếu Chúa công không cần đến những bậc đó thì thôi, còn nếu cần thì ngoài Di-Ngô không còn ai hơn.
Tề-hoàn-Công nói :
—Nếu vậy khanh cho gọi đến ta xem thử tài năng ra sao ?
Bảo-thúc-Nha nói :
—Thiết tưởng : hèn thì không trị được kẻ giàu, sợ thì không trị được người thân. Chúa công muốn dùng Quản-di-Ngô thì phải giao quyền Tể-tướng, để như bậc phụ huynh mới được. Đã muốn dùng người làm Tể-tướng mà cho kêu gọi như vậy sao gọi là trọng người ? Di-Ngô là bậc phi thường, Chúa công nên chọn ngày lành thân hành đến đón mới được. Thiên hạ thấy Chúa công qúi kẻ hiền sĩ không kể đến thù riêng thì ai lại không muốn tìm đến làm tay chân cho Chúa công.
Tề-hoàn-Công nghe theo lời rước Di-Ngô về triều phong làm Tể tướng.
Nắm quyền Tể-tướng, Quản-di-Ngô tiến cử nhiều người, nhưng không hề nói đến Bảo-Thúc-Nha, mặc dù tình thân giữa đôi bên vẫn không hề phai lạt.
Trước ngày lâm chung, Quản-di-Ngô đang nằm trên giường bệnh, Tề-hoàn-Công cầm tay thăm hỏi và tiến cử người thay thế cho Quản-di-Ngô sau này.
Quản-di-Ngô vẫn không hề nói đến Bảo-thúc- Nha.
Tề-hoàn-Công ngạc nhiên hỏi :
—Ta chưa hề nghe Trọng-phụ nói đến Bảo-thúc Nha là nghĩa làm sao ?
Quản-di-Ngô nói :
—Thúc-Nha là một người quân tử chứ không phải một nhà chính trị. Bảo-thúc-Nha rất ưa điều thiện mà cũng rất ghét điều ác. Ưa điều thiện là việc tốt, nhưng ghét điều ác thái quá thì kẻ làm ác không chịu nổi. Như vậy không ai chịu được và không dùng ai được.
Có người tôi thần tiểu nhân xua nịnh đem việc ấy nói lại với Thúc-Nha. Thúc-Nha chỉ cười và bảo:
 
—Chính vì thế mà trước kia ta mới hết  sức tiến cử Trọng phụ với Chúa công. Trọng-phụ trung với nước mà không vì bạn. Giả sử như Chúa công giao cho ta chức tư khấu để khu trừ những đứa gian nịnh thì ta làm được, chứ như cho ta cầm quyền chính trong nước thì bọn các ngươi còn chỗ nào dung thân.
Lúc nước Tề đang hồi hùng mạnh, được vua nhà Châu phong cho làm bá chủ chư hầu, Tề Hoàn-Công thiết tiệc đãi quần thần. Tiệc đến nửa chừng. Bảo-thúc-Nha rót chén rượu đầy đến trước mặt Tề Hoàn-Công chúc mừng:
—Nghe rằng : vua dầu sáng suốt, bề tôi dầu có hiền và trung liệt, nhưng vui vẻ đến đâu cũng không nên quên hồi lo nghỉ, cực nhọc. Nay tiệc vui, rượu tuy thơm, hương vị béo. Thúc-Nha này cũng xin Chúa công chớ nên quên những ngày trốn sang nước Cử, Quản-Trọng chớ nên quên lúc còn tù xa, Ninh- Thích chớ nên quên lúc còn chăn trâu nơi thôn dã.
Tề Hoàn-Công sụp lạy hai lạy và nói :
—Ta và các quan không quên lời quan Đại-phu. Đó là lời vàng ngọc mà cũng là cái phúc cho nước Tề.
Quản-di-Ngô mất, Bảo-thúc-Nha vì quá ghét bọn nịnh đến nỗí buồn rầu mà bỏ mình...
NHẬN XÉT:
MuỐN làm việc lớn, sao lại câu chấp chuyện nhỏ nhặt ?
Phải nhìn nhận rằng Bảo thúc-Nha là một người đạo đức hoàn toàn, có thêm một số vốn chính trị khá cao, mặc dù ông tự nhận là thua kém Quản-di-Ngô.
 
Ngoài tấm lòng tri kỷ, tài hiểu người hiểu mình, Bảo-thúc-Nha còn là người yêu nước triệt để.
Không dựa vào công cán giành lấy ngôi cao, địa vị, quyền thế, biết đặt lợi riêng mình dưới quyền tối cao của Tổ quốc, non sông. Cử chỉ ấy chỉ có những kẻ  chân thành yêu nước mới làm nổi.
Nói rằng Bảo-Thúc-Nha bịnh ưa điều thiện, ghét cay ghét đắng những kẻ ác tâm xu nịnh, đó cũng chỉ là tâm trạng của một kẻ yêu nước cực đoan
thôi.
Nếu không có Bảo-thúc-Nha, Ọủan-Trọng làm gì đất dụng võ, đem tài năng mình phát triển trong lãnh vực chính trị.
Đồng ý với Quản-Trọng, một nhà chính trị phải mềm dẻo. không quá khắt khe với kẻ tiểu nhân, phải linh động trong kế sách lãnh đạo mới thành công được. Nhưng xét ra Bao-thúc-Nha không phải là một kẻ non kém về chính trị như lời nhận xét của Ọuản-Trọng đâu.
Cái khác biệt mà Bảo-Thúc-Nha tự cho mình kém hơn Ọuản-Trọng có lẽ là cái khác biệt giữa hai chính sách Bá-đạo và Vương-đạo.
Quản-Trọng có tài mưu đồ cho sự nghiệp Bá-đạo, Biết đâu Thúc-Nha trong chánh sách Vương-đạo sẽ thành công rất lớn.
Mỗi người có một tài riêng, mà trong lúc Tề Hoàn-Công thực hiện chánh sách Bá-đạo, Thúc-Nha không giúp được gì mà thôi.
 
Tâm trạng người xưa, người nay làm sao hiểu thấu được ? Cũng   có  thể nói rằng Bảo-thúc-Nhathấy Tề Hoàn Công ưa chính sách Bá –đạo, nên tự nhận  mình bất tài  tiến  cử  Ọuản-Trọng đứng ra thay mình để gánh    vác việc  ấy,Thúc-Nha hiểu tài Bá-Đạ0 cùa Ọuản- Trọng.
Cho nên,    so sánh      tàđịnh bá đồ vương không
Thể đem Bảo thúc-Nha ra so sánh với Ọuản -Trọng rồi cho Quản-Trọng hơn Bảo-thúc-Nha được.
Trong lúc Quản-Trọng phò Tề Hoàn-Công nổi bật tài trị nước thì Bảo-thúc-Nha đứng ngoài chính trường lại nổi bật tấm lòng yêu nước thanh cao. Bảo-Thúc Nha chỉ biết vị tha mà không mảy may vị kỷ.
Ngay lúc Quản - Trọng còn là một tù nhân của nước Tề, Bảo-thúc-Nha đã nói với Quản-Trọng một câu : « Muốn làm nên việc lớn sao lại câu chấp chuyện nhỏ nhặt ». Câu nói ấy chứng tỏ Thúc-Nha không đến nỗi hp hòi như Quản - Trọng đã nhận xét Thúc-Nha lúc lâm chang. Trái lại, Thúc Nha rộng lượng và cao thượng hơn ai hết Giới thiệu bạn vào một địa vị tối cao trong một nước, đến lúc bạn chết còn mở lời chê mình. Thế mà Thúc-Nha vẫn không có chút tự ái hay giận hờn, thật quả một kỳ nhân. Đức độ ấy chỉ trong con người thiết tha yêu nước quên mình mà thôi.
Người đời sau ít để ý Thúc-Nha chỉ nhắc nhớ Quản-Trọng thật là một sơ sót đáng kể.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)   ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) EmptyMon Jul 31, 2023 9:26 am

TỀ-TÚC VÀ UNG-CỦ
Việc bí mật trong nước mà nói với đàn bà thì không còn bí mật nữa.
 
Vua nước Trịnh là Trang-Công chết. Con trưởng là Công tử Hốt lên nối ngôi tức là Trịnh-chiêu-Công. Con thứ sang quê mẹ là người nước Tống, được Tống-trang-Công thương có ý muốn giúp đỡ đưa về nước đoạt ngôi anh. Người con thứ này là Công tử -Đột.
Trịnh-chiêu-Công hay tin ấy, liền sai Tề-Túc một tôi thần trung kiên đi sứ sang Tống để dò xét tình hình hoạt động của em là Công tử Đột.
Nhưng Tề-Túc đến nơi, bị vua Tống bắt giam buộc phải đem công tử Đột về nước Trịnh làm vua, và phải gả con gái cho Ung-Củ.
Tề-Túc mắc kẹt trong thế bí không biết làm sao phải ăn thề và thực hiện đúng với lời đã hứa.
Sau một cuộc đảo chính. Tề-Túc đưa công Tử Đột về làm vua nhưng quyền bính trong nước Tề -Túc đều nắm giữ, Công Tử Đột, tức Trịnh lệ Công chỉ làm vua cho có vị thôi, việc gì cũng do Tề- Túc định đoạt cả.
Trịnh lệ Công thấy làm vua mà không có một   quyền hành nào đâm ra buồn chán, ghét Tề Túc cay đắng, nhưng không biết làm cách nào để giết Tề-Túc cho được.
Một hôm, Trịnh lệ Công dạo mát ở huê viên, có quan cận thần Ung-Củ theo hầu. Ung-Củ là Rể của Tế-Túc. vì trước kia vua Tống buộc Tế- Túc gả con gái cho Ung-Củ.
Trịnh lệ Công bỗng thấy đàn chim bay qua kêu hát vé0 von, nhìn chim mà tủi lòng than :
—                   ôi, ta không bằng loài điểu thú.
Ung-Củ hiểu ý hỏi :
— Đang tiết xuân, trời đẹp hoa tươi, cây cỏ xanh dờn, sao Chúa Công lại không vui ?
Trinh lệ Công nói :
— Các giống chim đều được tự do không ai áp chế, còn ta tuy làm vua, nhưng không bằng giống chim.
Ưng Củ nói :
— Cỏ lẽ Chúa Công đang nghĩ đến người đoạt quyền bính trong nước chăng ?
Trịnh lệ công im lặng không đáp. Ung Củ
nói :
—  Tôi thiết tưởng  làm con không giải được ưu phiền của cha là bất hiếu. làm tôi không giúp được vua trong lúc hoạn nạn là bất trung, nếu Chúa công không cho tôi là kẻ vô dụng thì dẫu việc gì khó khăn đến đâu tôi cũng không từ nan.
Trịnh lệ Công đuổi hết quân hầu ra ngoài rồi hỏi Ung-Củ :
—                   Ngươi không phải là rể Tế-Túc sao ?
Ung-Củ đáp :
—                   Tuy rể thật, song tình cha con đâu bằng vua tôi. Vả lại Tế-Túc gả con gái cho tôi là do vua Tống ép buộc chứ đâu phải do thiện ý.
 
Trịnh lệ-Công rõ được lòng Ung-Củ liền nói thẳng:
— Nếu ngươi có cách gì giết được Tế-Túc ta sẽ phong cho ngươi làm Thượng-Khanh.
Ung-Củ suy nghĩ một lúc rồi nói:
—                   Xứ Đồng-giao bị quân Tống cướp bóc, dân chúng đang đói khổ, Chúa Công sai Tế-Túc đến đó phát chẩn chiêu an. Tôi sẽ lợi dụng cơ hội ấy làm một tiệc tiễn hành rồi bỏ thuốc độc vào thức ăn giết Tế-Túc đi là xong.
Trịnh lệ Công nói:
— Kế ấy rất hay, song phải cẩn mật lắm mới được.,
Ung-Củ về nhà nghĩ đến vợ là Tế thị, lòng áy náy không an, mặt mày có vẻ lơ láo.
Tế thị thấy thế hỏi:
— Hôm nay trong triều việc gì quan hệ chăng ?
Ung Củ lắc đầu đáp :
—                   Không có việc gì lạ cả.
Tế thị không tin, gạn hỏi nhiều lần :
—Vợ chồng ở với nhau đã lâu lẽ nào không biết ý. Nếu Tướng quân có điều gì lo lắng xin cho thiếp biết, may ra thiếp có thể giúp đỡ phần nào chăng ?
Ung-Củ cực chẳng đã nói :
— Chúa công muốn sai nhạc phụ ra Đông Giao ủy lạo dân chúng, lại khiến tôi dâng rượu tiễn hành để chúc thọ nhạc gia.
Tế thị hỏi :
— Dâng rượu để chúc thọ nhạc gia, việc gì mà tướng quân lại phải lo lắng như vậy ? Thiếp tưởng trong triều có điều chi rắc rối nên tướng quân không muốn cho thiếp biết.
Ung Củ nói :
—                   Không có việc gì cả. Sai nhạc phụ đến Đông- Giao chỉ là mệnh vua, phu nhân chớ hỏi nhiều.
Thái độ và lời nói của Ung-Củ làm cho Tế thị càng nghi ngờ hơn, mới lập kế phục rượu cho Ung-Củ uống thật say, rồi đợi lúc Ung Củ đang ngủ mơ màng. Nàng mới đập mạnh vào vai hỏi lớn :
— Này, Chúa công sai mày giết Tế-Túc mà mày lại quên rồi sao ?
Trong lúc đang ngủ Ung-Củ giật mình đáp :
—Việc ấy tôi đâu giám quên.
Tế thị thất kinh, rõ được tâm trạng của chồng, đứng nhìn mà đôi dòng nước mắt chảy ròng. Rồi nàng tự nghĩ :
- Có thể như thế được sao ? Hay chàng đã vì hoảng hốt mà nói sảng.
Sáng ngày Tế thị nói với Ung-Củ :
— Tướng quân có ý muốn giết phụ thân, việc ấy tôi đã rõ.
Ung Củ giật mình nhìn vợ  nói:
—   Ấy chết, ta có bao giờ dám làm điều vô đạo, sao phu nhân lại nghĩ vậy ?
Tế thị nói :
—  Đêm hôm qua tướng quân say rượu đã nói với thiếp rồi, bây giờ còn giấu làm chi ?
 
Ung Củ rướm mồ hôi trán nhìn vợ hỏi :
— Nếu quả có việc ấy thì phu nhân nghĩ thế nào ?
Tế thi ngao ngán thở dài: rồi hình như để soi sáng tấm lòng ác hiểm của chồng, nàng giả vờ nói :
—  Đã lấy chồng thì theo chồng, tướng quân hỏi làm gì câu ấy.
Ung Củ nghe vợ nói mừng rỡ, đem đầu đuôi câu chuyện thuật lại một hồi.
Tế thị nói :
—  Phụ thân thiếp là một kẻ đa mưu túc trí, e không dám đi. Vậy để thiếp vào tư dinh xét thử tình ý của người xem như thế nào.
Ung-Củ mừng rỡ nói :
Nếu việc thành tôi được lên chức Thượng- khanh thì phu nhân cũng được vinh hiển trọn đời.
Tối hôm ấy, Tế thị ghé vào tư dinh thăm mẹ. Tế-Túc phu nhân thấy con về mừng rỡ hỏi :
—Lâu nay con vẫn được mạnh giỏi chứ?
Tế thị không đáp buồn bã hỏi mẹ :
— Chồng vói cha nên trọng bên nào hơn ?
Câu hỏi lạ lùng ấy làm cho Tế phu nhân ngạc nhiên  nói :
— Sao con hỏi vậy ? Chồng với cha đằng nào mà chẳng trọng?
Tế thị nói :
— Nhưng nếu gặp trường hợp giữa cha và chồng điều mâu thuẫn nhau thì nên trọng đằng nào ?
Tế-Túc phu nhân nói:
 
—Cha mẹ do trời định, vợ Chồng do người định. Mất chồng có thể lấy chồng khác, còn mất cha không thể tìm một người cha khác được.
Tế-Túc phu nhân nói vừa dửt lời, Tế thị khóc òa, bước tới ôm mẹ nói :
— Hôm nay con quyết vì cha mà không vì chồng.
Đoạn đem hết chuyện Ung-Củ nói kể lại cho mẹ nghe. Tế-Túc phu nhân kinh hãi, vội đem nói với chồng.
Tế-Túc cau mày nhìn con gái mình như đắn đo với bao ý nghĩ. Qua một lúc, Tế-Túc nói :
—   Việc này chớ tiết lậu ra ngoài, để mặc ta định liệu.
Sáng hôm sau, Trịnh Lệ-Công sai Tế-Túc đến Đông- Giao, và Ung-Củ bày tiệc tiễn hành đưa đón rất trọng thể.
Tế-Túc về nhà sửa soạn hành trang, rồi sai Công-tử Ất đem một trăm quân gác nơi quán dịch chờ Ung-Củ đến. Chẳng bao lâu Ung-Củ đem ba tên quân hầu đến đó. Tế-Túc nói :
—  Ta đi đây chỉ vì việc nước, ngươi bày vẽ đưa đón làm gì?
Ung-Củ nói:
—  Nhân tiết xuân mát mẻ, con chén rượu tiễn mừng, xin nhạc phụ tưởng tình con rể.
Tế-Túc một tay bưng chén rượu, một tay nắm lấy Ung-Củ tươi cười nói:
—  Đây là ý vua hay tình của con đối với ta?
Ung Củ cúi đầu nói :
 
— Đây là lòng thành kính của con mà cũng hợp theo ý của vua nữa.
—  Khốn nạn, dám phản phúc với ta như thế sao ?
Liền hô quân giáp sĩ bắt Ung.Củ trói lại Ung Củ mặt mày biến sắc, kêu cứu ầm ĩ Trịnh lệ-Công sai đoàn ngự lâm quân đến cứu nhưng bị Công Tử Ất đánh chạy về.
Tế-Túc truyền đem Ung-Củ ra chém lập tức Trịnh Lệ-Công hay được tin than :
— Ôi thôi việc đã đến thế này, Tế-Túc ắt không dung tha ta.
Than rồi liền thu xếp hành trang bỏ cả cung điện giang san lén trốn qua nước Sái tị nạn, trong lòng vẫn còn thắc mắc không biết tại sao âm mưu bại lộ.
Mãi về sau. Trịnh Lệ-Công hay được chuyện Ung Củ nói với vợ, buồn bã than rằng :
— Việc lớn của nước mà đem nói với đàn bà tránh sao khỏi chết.
Nhận xét:
người anh hùng không phải căn cứ ở lời nói, mà căn cứ ở việc làm.
Ung-Củ the0 phò Công- tử -Đột cướp ngôi Trịnh Chiêu-Công, đó  một việc làm không hợp lý, vì Trịnh Chiêu-Công là anh, đáng ra phải được thừa kế ngôi cha.
Tuy nhiên, chuyện ấy không nói làm gì, vì mỗi ngườimột lập trường và quan niệm khác nhau. Điều đáng
 
nói ở đây là Ung-Củ ước cái địa vị hão huyền mà cố  tình giết Tế-Túc, cha vợ mình trong lúc anh chàng này vẫn yêu  vợ.
Buồn Cười     hơn, đó là     một     nhà tướng,  định u sát một Đại-thần, thế mà việc  chưa làm, chỉ mới đứng trước một  người       đàn      bà đã  bối rối, lập cập thì CO’ hội đến nơi mới làm thế nào được ?
Xét như thế. Ung-Củ là hèn,  chỉ hùng trong lời  nói , mà gan dạ không hùng chút nào. Cho nên, chưa thực hành mưa kế mà thất    bại đã       thấy       trước mắt rồi.
Ung-Củ chết là phải, chết là   lẽ tất nhiên   trong mưu  sự của nó.
Người đàn bà vốn chắc     gan,    nhung lại nhẹ       dạ, khó mà giữ kín được những       bí ẩn       trong lòng một  khi đã có người thân một bên.
Bao nhiêu người tướng giỏi, chthương yêu và tin  vợ, cho dự    vào các     mưu kế    mà       phải       thất bại do một cử chỉ hay     một lời nói   vụng về, sơ hở của vợ mình.
Đã mưu giết cha vợ lại cho vợ biết, Thật Ung-Củ một thằng ngốc, không biết thế nào là tình cốt nhục, không biết gì về  mánh khóe của đàn bà.
Tế thị hy sinh hạnh phúc nhân  mình, cam ôm cảnh góa bụa để giữ tròn đạo hiếu , thật đáng thương.
Ngoài tấm lòng hiếu đạo, Tế thị còn là một người đàn bà mưa trí, hiểu được tâm lý chồng mình, dùng kế khai thác tâm tư người chồng một cách hay ho.
Cho nên, qua việc Ung-Củ mưu sát Tế-Túc, chúng ta có thể nói đây là một cuộc đấu trí  giữa anh chàng Ung-Củ dại dột và mánh lới khôn khéo của Tế thị người vợ hiểu đạo vậy.
Càng đáng thương đáng kính hơn là lời dạy dỗ  thẳng thắn của  Tế-Túc phu nhân, một người mẹ dạy con rất minh bạch về chỗ ơn cha nghĩa chồng
Cha quấy, chồng phải, phận làm con gái còn phải năn nỉ cha khuyên can chồng để dung hòa tình nghĩa, hoặc chết thay cha nếu cần, để nêu chữ hiếu, chữ tình của mình.
Cha đã vô can, chồng lại hèn nhát, muốn giết cha để phục vụ một tham vọng riêng thì người đàn bà dù thương chồng đến đâu, cũng khó theo chồng giết cha được,
Có người sẽ bảo : Sao Tế thị không lợi dụng tình chồng vợ khuyên can Ung-Củ đừng hành động bất nghĩa như vậy để hàn gắn lại tình gia đình và giữ lấy tình vợ chồng cho trọn nghĩa ?
Tưởng rằng người đàn bà thương chồng đã hiểu tâm lý của chồng rồi. Tế thị là kẻ thương chồng lại hiểu rõ tâm lý của Ung-Củ hơn ai hết. Chính nàng đã đứng trước người chồng mù quáng ấy thở dài, đau đớn. Mối đau đớn ấy tượng trưng cho sự bất lực của nàng đối với anh chàng tham vọng kia. Dù nàng có kkuyên can. Ung-Củ cũng không đổi ý. Huống hồ, việc đã quá gấp. Quyền hạn của nàng không có cáchngăn cản nổi, nếu để trễ, cha nàng sẽ chễt. nàng còn có thể sống với một người chồng đã giết cha nàng không ? Thà rằng nàng hy sinh hạnh phúc riêng mình để tròn chữ hiếu hơn là để mất cha rồi lại mất   chồng,
Cái ngu xuẩn thấy rõ trong con người Ung-Củ. Thế gian người đàn nào có lương tri mà chung sống
 
Với người chồng giết cha mình không? Đó là một khía cạnh tâm lý, mà cũng là mt tấm gương muôn đời để cho những ai cầm nắm địa vị cao, muốn mưu cầu quyền lợi riêng mình không kể  đến tình nghĩa đặt tình nghĩa nhẹ hơn tiền bạc, địa vị, rồi mang đến phản ứng nặng nề.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)   ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) EmptyMon Jul 31, 2023 8:20 pm

MỐI TÌNH VƯƠNG-CƠ


Lòng người đàn bà là một kho tàng kín đáo, chứa đựng nhiều uẩn khúc. Mà cũng chứa đựng nhiều oan trái của đời mình.


Thiên-Tử nhà Châu chấp thuận gả con gái mình là Vương-Cơ cho Tề Tương-Công, vua một nước chư hầu, lại hạ chiếu cho vua nước Lỗ đứng lên sắp xếp việc hôn nhân.
Vợ vua Lỗ là nàng Văn-Khương, em cùng cha khác mẹ với Tề Tương-Công, nhân dịp ấy đòi theo vua Lỗ về Tề để thăm viếng Tề Tương-Công.      Vua Lỗ không hiểu mối tình dâm loạn của đôi anh em cùng cha khác mẹ này nên thỏa thuận cho vợ minh là Văn Khương cùng theo.
Trong lúc vua Lỗ lo việc thực hiện sứ mệnh hôn nhân do Thiên Tử nhà Châu giao phó thì hai anh em Tề Tương-Công Lại lén dâm loạn với nhau đến nỗi vua Lỗ nghi ngờ.
Biết vợ mình có tình ý riêng vời Tề Tương-Công, vua Lỗ cố tinh dò hỏi, nên công việc đổ vỡ.
 
Để ém nhẹm. Tề Tương-Công phục rượu Lỗ Hoàn- Công và cho người giết chết, đồng thời cưới nàng Vương-Cơ về để che giấu tiếng dâm loạn và vô đạo của mình.
Vương-Cơ là người thùy mị, ôn hòa, điềm đạm và trọng lễ nghĩa. Từ khi về làm vợ vua Tề, nàng nhận thấy    Tề Tương-Công   người   dâm    dục,    nên sinh lòng chán nản buồn rầu. tâm tánh vợ chồng không hợp, sau mấy tháng chung sống, nàng được biết chuyện vô đạo loạn luân và tàn nhẫn của Tề Tương- công, nên thường than thở và buồn rầu cho số phận của mình :
— Con người       mà có thể dâm    loạn    như     thế, tàn ác như thế, thì thật không khác loại cầm thú, thật      khốn   khổ cho    đời ta  bất hạnh  gặp     phải      đứa tiểu nhân.
Buồn   khổ lâu     ngày. Vương-Cơ      uất hận     sanh
bịnh không đày một năm thì chết.
Nhận xét:
nếu phải chịu đựng nhiều đau đớn, trái ngang trong đời, thì người đàn bà chịu đựng nhiều hơn người đàn ông.
Trong lúc nàng Vương-Cơ, một Công chúa thùy mỵ, ôn hòa, trao cả thân phận cao quý cho mình thì bên cạnh nàng Văn-Khương, một cô gái dâm loàn, trác nết theo chiếm đoạt mối tình nàng đối với Tề Tương-Công.
Tại sao Tề Tương-Công lại không biết quý trọng cái nhan sắc diễm lệ của Vương-Cơ, và tâm hồn thùy mị của người đàn bà cao quý ấy ?
 
Thói thường, những cài quý trọng của con người chỉ có những ngườitư cách  mới thấy được mà thôi.  Tề Tương Công một ông vua dâm ác thì làm sao thấy được cái ý nghĩa  cao quý của đàn bà ?
Kẻ làm ác thích gần những cái ác.
Nàng Vương-Cơ đau buồn không phải vì không được Tề Tương-Công yêu, mà nàng đau buồn vì số phận nàng, một người đàn bà chính chuyên lại gặp phải duyên phận như thế.
Thói đời lắm cảnh éo le trái  ngược, làm cho cuộc sống tinh duyên phải điêu đứng khổ sở.
Vương- Cơ, người con gái nết na trọng lễ nghiã làm sao chung sống được  với Tề Tương Công là kẻ vô đạo, sống hoàn tòan cho nhục dục thể xác ?
Gặp ông chồng như vậy nàng còn biết làm sao hơn. nàng phải ôm sầu,  nuốt hận cho đến chết là phải.
Làm cha mẹ. hạnh phúc cho con là một việc lớn, không nên  vì quyền lợi riêng trước mắt mà buộc đứa con  mình      phải rơi vào bể khổ   của tình    duyên.
Làm     chồng, khi  được một   đóa hoa quý, nếu không che      chở nắng mưa  thi sắc tươi      cũng    phải  héo, sắc
Thắm cũng phải  phai, tình nghĩa vợ chồng không thể nào gây được hạnh phúc
Thời phong kiến, quyền chuyên chế của cha mẹ và người chồng đối với con và vợ có một sức mạnh tuyệt đối. Người con gái nếu may gặp được số phần trong sạch thì nhờ. Bằng gặp nơi  vẩn đục thì phải ôm hận suốt đời thôi.
Mối      tình nàng Vương-Cơ và  cái  chết của nàng tượng trưng cho sức áp chế của thời phong kiến chuyên chế.
“Đóa hoa lài cắm bãi cứt trâu”
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)   ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) EmptyMon Jul 31, 2023 8:28 pm

CÔNG TỬ MỤC-DI
- Tài không đợi tuổi.
Nam-Cung Trường-Vạn là một tướng mạnh của nước Tống, vì Tống Mẫn-Công nói chơi vô-ý-thức, chạm đến lòng tự ái, khiến Nam-Cung Trường-Vạn một phút nóng tính không nhẫn nhịn được, giết Tống Mẫn-Công.
Công Tử Nghị-Thuyết mang quân từ đất Bạt về đánh báo thù, rồi lên nối ngôi, hiệu là Tống Hoàn-công
Nam-Cung Trường-Vạn cự không lại phải cõng mẹ chạy sang nước Trần lánh nạn.
Tống Hoàn-Công sai sứ sang nước Trần nhờ  bắt Nam-Cung Trường-Vạn giải về Tống.
Công tử Mục-Di bấy giờ mới lên năm tuổi, đứng bên cạnh Tống Hoàn-Công, bật cười nói ;
—                   Không bắt được Nam - Cung Trường –Vạn đâu.
Tống Hoàn-Công hét :
—                   Mi là con nít, biết chi mà nói ?
Công Tử Mục Di nói :
—                   Người có sức khoẻ ai mà chẳng trọng dụng Tống bỏ đi thì Trần ắt dùng. Nếu chẳng có lễ vật để mua lòng thì Trần chẳng bao giờ chịu vì ta mà bắt giùm Nam-Cung Trường-Vạn
Tống Hoàn Công nghĩ lại khen phải, lại sai sứ mang theo rất nhiều lễ vật, vàng ngọc châu báu để hiến  nước Trần.
Bấy giờ vua nước Trần là Trần Nguyên-Công tánh tham lam, thấy sứ Tống mang lễ vật đến quá nhiều, híp mắt, không nghĩ gì đến lợi hại nữa. bèn thu lễ vật, thuận trả Nam - Cung Trường – Vạn về Tống.
Tuy nhiên, Trần Nguyên-Công lại sợ Nam - Cung Trường-Vạn sức mạnh phi thường không sao bắt được, liền lập mưu giao cho Công -tử Kết bày tiệc rượu mời Nam-Cung Trường-Vạn đến khoản đãi rồi bỏ thuốc mê bắt Nam-Cung Trường-Vạn trói lại giải về nước Tống.
Nam-Cung Trường-Vạn không ngờ độc kế, uống đến say mèm, lúc tỉnh lại thấy mình bị bó chặt trong một tấm da dê rất lớn, bên ngoài cột bằng dây da trâu rắn chắc.
Đi đến nửa đường, Nam Cung Trường-Vạn vùng vẫy, nhưng da dê bền vá trói chặt quá không sao tung ra được.
 
Khi đến gần thành Tống, tấm da dê bị rách, tay chân Trường-Vạn lòi ra ngoài, bọn quân sĩ lấy gậy đập đến nỗi giập cả xương ống.
Tống Hoàn-Công truyền đem Trường-Vạn ra lóc từng miếng thịt để  làm mắm, rồi chia cho các quan mỗi người một ít, bảo :
— Kẻ nào làm tôi không trọn đạo thờ vua, hãy trông vào thứ mắm đó.
Nhận xét :
Cao lễ dễ thưa.
Nếu vua nước Trần không phải tham lam, coi của cải, lễ vật hơn một kẻ tài năng thì làm gì  Nam- Cung Trường-Vạn bị bắt.
Mới năm tuổi đầu, Công tử Mục-Di đã rõ tình đời  hơn ai hết, hơn những kẻ cao niên cầm vận mạng trong một nước. Thời phong kiến, đối vời các bậc vua chúa của cải địa vị là hơn hết. Trước mặt họ không có gì khác hơn là tiền và địa vị. Cao lễ dễ thưa, đó là bí quyết thành công của Công tử Mạc-Di và cũng là một miếng mồi ngon nhử kẻ tham lam tối mắttiền tài mà làm tay sai cho mình.
Ngày nay cũng thế, nếu không có những kẻ tham lam tiền của, địa vị thì làm sao có những tay sai cho bọn đế quốc, làm lũng đoạn nền độc lập của một nước.
Nước Việt-Nam ta nếu không có người lợi riêng, thì công cuộc giải phóng của dân tộc chúng ta đâu đến nỗi kéo dài trong bao năm gian khổ, nước non tang tóc, gây bao nhiêu  sụp đổ cơ hàn.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)   ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) EmptyMon Jul 31, 2023 8:40 pm

TAM-QUÝ
Hại ta không ai khác hơn là những kẻ quá trung tín, quá thân yêu gần gũi ta. Cũng như làm tan thể xác ta khi ta chết chính là những con vi trùng sống trong thân thể ta và đã giúp ta khi ta còn sống.
 
Tề Hoàn-Công được Quản Trọng giúp sức dựng nên nghiệp vương bá, làm chủ chư hầu.
Bấy giờ quyền chính trong nước, Tề Hoàn- Công đều giao cho Quản-Trọng quyết đoán, cả ngày chỉ gần bên những bọn tôi thần hầu hạ để tìm thú vui hưởng lạc.
Dưới trướng Tề Hoàn-Công có ba tên đầy tớ, trung thành được Tề Hoàn-Công ưa thích  nhất, mà người đời gọi là “TAM QUÝ”.
Đó là Thụ-Điêu, Dịch-Nha và Khai-Phương.
*
THỤ ĐIÊU
Từ khi Tề Hoàn-Công giao việc quốc chính cho Quản- Trọng, Tề Hoàn-Công thường trong cung, không hay ra ngoài, Thụ-Điêu không làm sao gần gũi Tề Hoàn-Công được nên tự ý thiến mình làm quan họan, xin Tề Hoàn-Công cho phép được vào ở trong cung hầu hạ.
Thấy Thụ-Điêu có lòng trung thành như vậy, Tề Hoàn-Công mến Thụ Điêu lắm, cho ở luôn bên cạnh để hầu hạ.
DỊCH-NHA
Là con người khôn lanh, có tài bắn cung, khéo đánh xe, cho ngựa chạy rất êm thấm, mau lẹ. Lại giỏi về nghề nấu bếp.
Vương-Cơ, người vợ yêu của Tề Hoàn-Công đau nặng, nhờ sự chăm nom săn sóc món ăn của Dịch-Nha mà Vương-Cơ lành bệnh. Do đó, Vương- Cơ rất yêu mến Dịch-Nha.
Dịch-Nha đem nghề nấu ăn của mình khoe với Thụ-Điêu, nhờ Thụ-Điêu tiến cử mình được yết kiến vua. Thụ-Điêu tâu lại với Tề-Hoàn-Công.
Một hôm, Tề Hoàn-Công gọi Dịch-Nha vào hỏi :
—                   Ngươi cò phài kẻ nấu ăn khéo không ?
Dịch-Nha tâu :
—                   Tâu Chúa-Công, tài ấy không ai sánh kịp.
Tề Hoàn-Công nói đùa :
—                   Các giống điều thú trùng ngư ta đã dùng đủ, bây giờ chỉ có thịt người ta chưa biết vị mà thôi.
Dịch-Nha lui ra.
Đến bữa trưa, Dịch-Nha bưng vào dâng lên một mâm thịt chín mềm như thịt dê non. mùi thơm ngào ngạt.
Tề Hoàn-Công ăn xong hỏi Dịch-Nha :
—                   Thịt gì mà ngon thế ?
Dịch-Nha tâu :
—                   Đó là thịt người.
Tề Hoàn-công giật mình kinh ngạc hỏi ?
 
—                   Nhà ngươi lấy ở đâu ?
Dịch-Nha tâu :
—                   Đứa con trai đầu lòng của tôi mới lên ba tuổi. Tôi thiết tưởng đã trung với vua thì còn kể gì đạo nhà, nên làm thịt đem dâng cho Chúa-công ăn.
Tề Hoàn-Công trầm mặt nói;
—                   Thôi ngươi hãy lui ra.
Từ ấy Tề Hoàn-Công cho rằng Dịch-Nha có lòng trung nghĩa nên yêu quí Dịch-Nha như Thụ-Điêu vậy.
KHAI-PHƯƠNG
Khai-Phương là Công-tử nước Vệ, được lệnh vua cha là Vệ-huệ-Công sai đem lễ vật qua nước Tề để cầu hòa, vì lúc bấy giờ  nước Tề rất cường thịnh.
Khai-Phương đến nơi tình nguyện ở luôn nơi  nước Tề để giúp nước Tề.
Tề Hoàn-Công nói :
—                   Nhà ngươi là con trưởng của Vệ hầu, ngôi vua nước Vệ sau này thế nào cũng về tay ngươi, sao lại bỏ ngôi cao mà sang làm tôi nước  Tề ?
Khai-Phương thưa :
—                   Tề chúa là bậc hiền đức trọng thời nay, nước Tề dựng nên nghiệp Bá, chư hầu đều kính trọng. Tôi thiết tưởng làm tôi một nước Bá còn thích hơn làm vua một nước nhỏ.
Tề Hoàn-Công khen lắm, phong làm quan Đại- Phu nước Tề.
Công tử Khai Phương rất được Tề Hoàn-Công yêu mến, cho cùng Thụ-Điêu, Dịch-Nha theo luôn bên cạnh phục dịch.
 
Đó là bộ ba mà người nước Tề gọi là TAM QUÝ. Và chính bộ ba này về sau đã làm tan nát nước Tề.
Nhận xét :
Có những kẻ dua mị  không kể giá trị con người thì cũng có những kẻ mù quáng, không rõ thế nào là dua mị thế nàotrung hu.
Trong đời. những kẻ dua mị chia ra  làm hai loại. Thứ nhất có những người thấy kẻ khác trong tay nắm quyền thế, chạy theo bợ đỡ để cầu thân, hòng mưu cầu một tư lợi nào đó. Những hạng người này xưa cũng như nay, có rất nhiều trong xã hội.
Thứ hai, có những loại người  háo danh, ưa địa vị, họ muốn cầu thân, hoặc làm tay sai cho những kẻ có địa vị, mục đích để vênh váo, thỏa mãn lấy tánh hưởng thượng của họ thôi, không vì tư lợi, hoặc có thiệt thòi chút ít cũng vui. Hạng ngưi này có rất nhiều ở các thời đại phong kiến.
Nói chung, cả hai loại người trên đều là những tay sai đắc lực cho những kẻ có quyền thế. Nhưng cuối cùng họ lại là những k phản phúc không thể tưởng tượng nếu gặp cơ hội thuận tiện.
Thụ-Điêu, Dịch-Nha, Khai-Phương điển hình cho hai loại người dua nịnh trên. Lúc Tề Hoàn-Công còn hùng mạnh, chính họ đã hy sinh thân mình để phục vụ Tề Hoàn-Công, thậm chí một kẻ tự thiến mình, một kẻ làm thịt con, một kẻ bỏ ngai vàng, để gần gũi Tề Hoàn-Công, thế mà lúc Tề Hoàn-Công chết, chính họ đã phản phúc một cách trắng trợn bất nhân hơn ai hết.
 
Cái chết thảm của Tề Hoàn-Công là một tấm gương sáng cho những ai ưa thói dua mị.
Người nghèo mà được người nghèo giúp đỡ mới quý, còn kẻ cao sang tột bậc mà được xu phụ thì kẻ xu phụ phần nhiều là hạng tiểu nhân cả.
Kẻ thù hại ta, có thể tránh được, còn người thân yêu định hại ta thì ta không thể  nào tránh khỏi. Bởi vậy, kẻ sành đời không sợ những người thù trước mặt, mà chỉ  sợ những người cầu cạnh làm thân, để rồi  nhân cơ hội nào  đó trở thành kẻ thù.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Sponsored content





ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)   ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1) Empty

Về Đầu Trang Go down
 
ÔN CỐ TRI TÂN (tập 1)
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 3 trangChuyển đến trang : 1, 2, 3  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang :: Các Đạo Khác :: Gương Xưa Tích Cũ-
Chuyển đến