Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang
Chào bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang!
Diễn Đàn là nơi giao lưu kết bạn, sưu tầm, lưu trữ, học hỏi và chia sẻ kiến thức.
Để cùng nhau tiến bộ trên con đường hướng thiện.
Chúc bạn sức khỏe và có nhiều thành công mới trong cuộc sống!

Om mani pad me hum
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang
Chào bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang!
Diễn Đàn là nơi giao lưu kết bạn, sưu tầm, lưu trữ, học hỏi và chia sẻ kiến thức.
Để cùng nhau tiến bộ trên con đường hướng thiện.
Chúc bạn sức khỏe và có nhiều thành công mới trong cuộc sống!

Om mani pad me hum
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang
Bạn có muốn phản ứng với tin nhắn này? Vui lòng đăng ký diễn đàn trong một vài cú nhấp chuột hoặc đăng nhập để tiếp tục.
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang

Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho; một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tạo lấy.
 
Trang ChínhTrang Chính  HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Icon_portal  Latest imagesLatest images  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Chào mừng các bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang! Chúc các bạn sức khỏe và thành đạt! Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang.

 

 HÀN PHI TỬ-HÀN PHI

Go down 
Chuyển đến trang : 1, 2  Next
Tác giảThông điệp
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6339
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Empty
Bài gửiTiêu đề: HÀN PHI TỬ-HÀN PHI   HÀN PHI TỬ-HÀN PHI EmptyThu Sep 16, 2021 10:33 am

HÀN PHI TỬ-HÀN PHI
LỜI GIỚI THIỆU
HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Han-phi-tu-han-phi

HÀN PHI TỬ-HÀN PHI
LỜI GIỚI THIỆU
 
 Đối với văn hoá thế giới, Hàn Phi Tử là một tác phẩm hết sức độc đáo. Về mặt chính trị, nó là công trình quan trọng nhất của chính trị học Trung Hoa và một trong những tác phẩm đầu tiên của chính trị học thế giới. Về tư tưởng, nó xác lập trường phái Pháp gia, một trong bốn trường phái lớn nhất của tư tưởng Trung Quốc (Nho, Mặc, Lão, Pháp). Về văn học, nó là một công trình cực kỳ hấp dẫn. Trên cơ sở một cách trình bày khách quan, ta thấy toàn bộ xã hội cổ Trung Quốc sống lại với mọi quan hệ, vô số sự kiện. Và lạ hơn nữa, đọc cái công trình viết cách đây 2300 năm này ai cũng giật mình về tính thời sự của nó. Ta có cảm tưởng rằng tác giả là người hiện nay, nói bằng ngôn ngữ và cách lý luận 
hôm nay về các quan hệ giữa người với người ngày hôm nay, không chỉ ở Trung Hoa mà ở cả thế giới, trong đó có Việt Nam. Ta bắt buộc phải thừa nhận con người viết ra nó thực sự là một thiên tài toàn diện. Một đầu óc lỗi lạc nhất của Trung Hoa và của loài người, con người Trung Quốc đầu tiên dám nhìn thẳng vào sự thật với tất cả cái tàn nhẫn của nó để tìm cách đưa đến một cuộc sống yên ổn cho người dân thường trong khuôn khổ của thời đại quân chủ.
 
Tác giả của nó là Hàn Phi, chết vào năm 232 trước công nguyên. Tiểu sử của ông đã được Tư Mã Thiên kể lại chính xác trong bộ Sử Ký. Phi là một công tử nước Hàn, tức là người con (tử) của vua (Công) nước Hàn nhưng không phải là người sẽ thừa kế ngôi vua. Hoàn cảnh ấy giúp Phi ngay từ bé đã nhìn thấy rõ các quan hệ giữa vua tôi và cách trị nước. Sau đó Phi đến học với Tuấn Khanh, tức Tuân Tử, nhà học giả lớn nhất thời bấy giờ. Phi tiếp thu Nho giáo, do đó rất thông thạo về lịch sử, văn học. Phi thừa kế của thầy quan niệm bản tính con người là ác, căm ghét mê tín, coi trọng giáo dục đề cao các tiên vương các đời Hạ, Thương, Chu mà xem nhẹ Nghiêu, Thuấn là mẫu mực của Khổng Tử. Cùng học với Phi có Lý Tư sau này sẽ làm thừa tướng nước Tần. Lý Tư thừa nhận Phi giỏi hơn mình. Chủ trương của Tuân Tử là dùng lễ để trị nước, khác chủ trương dùng nhân để trị nước của Khổng Tử. Lễ và pháp luật là rất gần nhau cho nên cả Hàn Phi lẫn Lý Tư đều chuyển sang pháp trị. Về nước, Phi thấy nước Hàn yếu đuối, mấy lần dâng thư cho vua Hàn nhưng nhà vua không nghe. Phi nghĩ cách xây dựng một học thuyết đế lại cho đời sau về việc trị nước. Phi tiếp thu lý thuyết pháp gia đã có từ trước. Nhưng lý thuyết này qua Quản Trọng, Thương Ưởng, Thân Bất Hại vân vân chỉ mới là những phép tắc. Nó còn thiếu một linh hồn để trở thành sinh động, uyển chuyển, áp dụng cho vô vàn trường hợp khác nhau. Phi thấy nó ở đạo Lão và đưa đạo Lão vào hoán cải cái học thuyết vốn dĩ khô khan thành một học thuyết đầy sức sống. Nếu Quản Trọng, Thương Ưởng chỉ mới thấy cái quan trọng của phép tắc, Thân Bất Hại thấy thêm được cái thế, thì với Hàn Phi: trị nước, trở thành một cái thuật để người cai trị sử dụng mà ứng phó với mọi trường hợp. Do đó, Phi là người lớn nhất của trường phái Pháp gia và bộ Hàn Phi Tử trở thành tác phẩm quyết định của toàn bộ học thuyết này.
Nhìn thực trạng chính trị đương thời, Phi đau xót: các vua chúa, mà trước hết là ở nước Hàn, chẳng lo soi sáng pháp chế, nắm lấy cái thế để chế ngự bầy tôi, lo nước giàu dân mạnh, dùng những người tài giỏi; trái lại, họ nghe theo bọn sâu mọt làm hại nước. Ông có sẵn học vấn vô cùng uyên bác tiếp thu của Tuân Tử, ông kiểm soát lại tình hình chính trị, lý giải tại sao nước này mạnh, nước kia yếu, thời kỳ này cường thịnh, thời kỳ kia suy đồi. Ông thấy lý do là rất đơn giản: những người nhà vua cần dựa vào để bảo vệ nước là người tài giỏi, binh sĩ, người cày thì bị vứt bỏ; trái lại nhà vua lo nuôi bọn lừa dối, làm hại đến nước. Không ai chịu xây dựng một kỷ cương, pháp luật để làm cho dân giàu nước mạnh mà chỉ vâng theo ham thích nhất thời. Càng hiểu được sự thực, ông càng thất vọng. Ông phẫn uất trong cảnh cô độc, thấy cái khó trong việc nói sự thực. Phi là người có tật, ông nói ngọng. Không thành công trong việc nói, ông dốc hết tâm trí vào việc viết mong để lại cho đời sau cái học thuyết mà ông tin là sẽ làm cho dân yên, nước mạnh. Tần Thuỷ Hoàng đọc tác phẩm, thán phục vô cùng, nói: "Ta được làm bạn với con người này thì có chết cũng không uổng". Lý Tư lúc này là thừa tướng nói: Đó là tác phẩm của Hàn Phi. Hàn Phi trở thành sứ giả của nước Hàn sang nước Tần.
 
Nhưng Phi sang Tần không phải để sống, mà để chết. Phi được giao nhiệm vụ phải cứu nước Hàn khỏi bị nước Tần diệt. Mà tình hình nước Hàn lúc này thực tế đã tuyệt vọng. Không ai nghe lời Phi khi Phi dâng các bài nghị luận của mình, bây giờ Tần sắp cất quân sang đánh, nước Hàn sắp bị tiêu diệt thì làm cách nào cứu được? Phi dâng vua Tần bài Bảo tồn nước Hàn ra sức thuyết phục vua Tần đừng đánh nước Hàn. Vì bài ấy, Phi bị Lý Tư cho là kẻ chỉ mưu lợi cho Hàn mà làm hại nước Tần. Phi bị giam vào ngục. Biết tình thế này không thể nào cứu nước Hàn được, Phi gửi bài Lần đầu yết kiến vua Tần. Vua Tần xem xong rất phục, ra lệnh thả ngay Hàn Phi. Nhưng Lý Tư vốn ghen cái tài của người bạn mà Tư thừa hiểu là con người giỏi nhất về chính trị của thời đại, nên đã bắt Phi uống thuốc độc chết trong ngục tối.
Phi đón nhận cái chết thế nào cũng đến với kẻ sĩ biết đề cao pháp luật và thuật trị nước. Ông gửi tất cả tâm hồn và tinh lực vào tác phẩm Hàn Phi Tử mà ông tin là sẽ sống mãi với đời.
 
Lý thuyết pháp gia mà Hàn Phi là đại biểu lỗi lạc nhất là xuất phát từ tình thế xã hội thời Xuân Thu - Chiến Quốc.
Vào thời Xuân Thu, Trung Quốc chia ra hàng trăm nước, nước do đó rất bé nhỏ. Quan hệ giữa quý tộc và dân lao động là trực tiếp. Xã hội chia ra đẳng cấp, tôn ty rõ ràng. Sự cai trị là dựa trên thứ bực. Luật pháp chỉ áp dụng cho dân thường còn đối với đại phu trở lên nếu có sai lầm chỉ khiển trách mà không trừng phạt. Đó là nguyên lý "Bậc đại phu (trở lên) thì không chịu hình phạt. Không dùng lễ với thứ dân". Việc nắm lấy hình phạt, vận dụng nó là quyền của quý tộc, dân chỉ biết vâng theo. Cái đó gọi là cai trị theo nhân, nhân trị. Nhưng nó tất yếu dẫn tới sự hủ bại của tầng lớp thống trị, dân oán và nước mất. Trước tình hình ấy xuất hiện yêu cầu nước giàu, binh mạnh để thôn tính các nước khác, làm bá vương. Muốn nước giàu binh mạnh thì phải đề cao pháp luật, đề cao kẻ chiến đấu và sản xuất, hạ thấp địa vị quý tộc, không chấp nhận một lớp người sử dụng pháp luật mà không bị pháp luật chi phối và một lớp người là đối tượng của pháp luật mà chẳng được quyền lợi pháp luật cấp cho. Quản Trọng, người đầu tiên làm cho nước Tể trước công nguyên sau thế kỷ thành bá, khẳng định: "Pháp (luật) là cái quy tắc của thiên hạ… Lấy pháp (luật) mà giết trị tội thì dân chịu chết mà không oán, lấy pháp (luật) mà định công lao thì dân nhận thưởng mà không cho là ân đức... Cho nên quan lại mà sai khiến dân là có pháp (luật), thì dân theo, không có pháp (luật) thì dân dừng lại. Dân lấy pháp (luật) chống nhau với quan lại Người dưới lấy pháp (luật) phục vụ người trên, cho nên bọn dối trá không thể lừa chủ, bọn ghen ghét không thể có cái bụng kẻ giặc, bọn xu nịnh không thể khoe cái khéo, ngoài ngàn dặm không dám làm điều trái" (Quản Tử, quyền 21). Dĩ nhiên đạo Nho rất chống lại pháp gia. Thực tế của nhân trị hay đức trị mà Nho giáo chủ trương là củng cố sự phân chia đẳng cấp, thần thánh hoá lớp trên, biến mọi khen thưởng thành ân huệ, mọi trừng phạt thành uy lực lớp trên. Câu chuyện dưới dây là hết sức điển hình. Tử Sản (-536) nước Trịnh ban hành Hình thư (sách ghi pháp luật). Phạm Tuyên Tử (-513) cầm đầu nước Tấn sai khắc pháp luật vào cái vạc là vật để nấu người có tội. Sách Tả truyện cũng làm vào thời Khổng Tử chép lại câu nói cáu giận của Khổng Tử:
 
"Nước Tấn sẽ mất chăng? Bỏ mất pháp độ (tức là lối cai trị bằng đẳng cấp) rồi! Nước Tấn xưa nay giữ pháp độ mà Thúc Hướng nhận được, để cai trị dân mình. Các quan khanh, đại phu theo thứ tự giữ nóNhờ thế, dân có thể tôn quý người sang, người sang nhờ thế gìn giữ được cơ nghiệp mình. Người sang người hèn không lẫn lộn, cái đó gọi là pháp độ... Nay bỏ pháp độ này mà làm cái vạc ghi pháp luật, thì dân chỉ biết cúi vạc, lấy gì để tôn quý (người sang)? Người sang còn có cơ nghiệp nào để giữ? Người sang kẻ hèn không có trên dưới, lấy gì để làm thành nước?" (Tả truyện, quyền 26).
 
Thực chất của đức trị, nhân trị mà đạo Nho chủ trương chẳng qua là duy trì sự phân biệt giữa người sang, kẻ hèn, bắt kẻ hèn chịu ơn, sợ hãi uy lực người sang. Nếu dân biết "cái vạc" thì họ được thưởng là do công của họ, bị phạt là do tội của họ. Người sang chẳng khác gì họ hết, cũng bị phạt, được thưởng như họ. Người sang chẳng còn gì là thiêng liêng nên không giữ được cơ nghiệp của họ nữa. Còn thực tế lịch sử chứng minh vô số nước giữ pháp độ theo cách hiểu của Khổng Tử đã bị diệt. Trái lại các nước dựa vào pháp luật để trị nước thì mạnh lên, thôn tính các nước khác.
 
Tiêu biểu nhất là nước Tần. Vua các nước chư hầu họp, vua nước Tần không được vào họp vì nước Tần bị xem là một nước mọi rợ. Tần Hiếu Công xấu hổ quyết tâm theo đường lối cai trị của Thương Ưởng, con đường pháp trị. Thương Ưởng (năm -350) tư hữu hoá ruộng đất, xoá bỏ chế độ độc quyền ruộng đất của quý tộc. Toàn dân chỉ làm hai việc là sản xuất và chiến đấu. Mọi việc khen thưởng chỉ dựa vào hai tiêu chuẩn ấy. Kết quả đẳng cấp quý tộc bị thủ tiêu. Trị nước theo pháp luật công khai và bình đẳng. Nước Tần trở thành nước mạnh nhất, giàu có nhất thiên hạ. Một trăm hai mươi năm sau (-227) Tần Thuỷ Hoàng thống nhất thiên hạ. Trước sự lớn mạnh vùn vụt của nước Tần, sáu nước tìm mọi cách chống lại nhưng đều thất bại. Một số người thi hành pháp trị ở nước mình phục vụ: Ngô Khởi ở nước Sở, Thân Bất Bại ở nước Hàn. Nước họ nhất thời hùng mạnh, nhưng họ chết thì đường lối pháp trị bị xoá bỏ: cơ sở xã hội cũ quá mạnh không phải như ở nước Tần là nước chưa thực sự chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa.
 
Trong phạm vi một bài giới thiệu sách, không thể nói hết lý thuyết pháp gia, chỉ có thể nêu một vài điểm để đọc Hàn Phi Tử cho tiện mà thôi. Pháp gia gồm ba phái: phái chủ trương dùng pháp luật, đó là phái Thương Ưởng; phái chủ trương dùng thế, đó là phái Thân Bất Hại; phái 
chủ trương dùng thuật đồng thời kiêm luôn hai chủ trương trên, đó là phái Hàn Phi. Cho nên đọc Hàn Phi Tử là đủ để nắm toàn bộ học thuyết này.
 
Trước hết nó khẳng định tầm quan trọng của pháp luật: "Bỏ pháp luật mà dùng cái tâm để trị, thì Nghiêu cũng không thể chỉnh đốn một nước. Bỏ cái quy, cái củ mà cứ ức đạc bừa thì Hề Trọng cũng không thể làm xong một bánh xe. Bỏ thước tấc mà đoán dài ngắn thì Vương Nhĩ cũng không thể biết điểm ở giữa. Khiến ông vua bậc trung giữ pháp thuật, người thợ vụng giữ cái quy, cái củ, cái thước, cái tấc, thì vạn điều không sai một. Kẻ làm vua người ta nếu có thể bỏ cái mà người hiền, người khéo không làm được, nắm lấy cái người bình thường mà vụng làm vạn điều không sai thì làm hết sức người là lập nên công danh". Pháp luật phải công khai "Pháp là cái chép để ở trong sách vở, đặt nơi cửa công, ban bố cho trăm họ". Đã lập pháp luật thì cả nước trên dưới đều biết, không ai được tự ý thay đổi: "Pháp luật không hùa theo người sang... Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không thể từ, kẻ dũng cũng không dám tranh. Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót kẻ thất phu...". "Cho nên bậc vua sáng khiến pháp luật chọn người chứ không tự mình tiến cử, khiến cho pháp luật đo lường công lao, chứ không tự mình tính toán" ("Có phép tắc").
 
Có pháp luật rồi để khen thưởng hay trừng phạt thì phải xét cái sự thực đã làm ra (hình) và tên gọi của công việc (danh) có phù hợp với nhau không. Đó là thuyết hình danh:
 
"Bậc làm vua muốn cấm chuyện gian tà thì phải xét kỹ tên gọi và việc làm xem có hợp với nhau không, phải xét xem việc làm có khác lời nói không. Bầy tôi trình lời nói của mình, nhà vua căn cứ vào lời nói mà giao công việc, rồi căn cứ vào công việc mà xét kết quả. Nếu kết quả phù hợp với việc làm, việc làm phù hợp với lời nói thì thưởng. Nếu kết quả không phù hợp với việc làm, việc làm không phù hợp với lời nói thì phạt" ("Hai cái cán").
Cái gọi là "chính danh" của Khổng Tử là để củng cố sự phân chia xã hội ra thành những tầng lớp khác nhau, mỗi tầng lớp làm theo cương vị mình. Còn "hình danh" của pháp gia là xoá bỏ đẳng cấp, mọi người ngang nhau trước pháp luật.
 
Ông vua có hai cái quyền là thưởng và phạt. Hàn Phi gọi đó là hai cái cán mà ông vua không thể trao cho ai. Cái thế của ông vua là ở đấy. Ông vua phải thưởng phạt nghiêm và giữ lấy cái thế của mình: Kiệt mà làm thiên tử thì khống chế được cả thiên hạ. Không phải ông ta hiền mà cái thế ông ta nồng; Nghiêu làm kẻ thất phu thì không thể chỉnh đến được ba nhà. Không phải vì ông ta kém, mà vì cái thế ông ta thấp.
 
Những điều nói trên đây là chung cho các pháp gia, không phải là cống hiến riêng của Hàn Phi. Sở dĩ Hàn Phi thành vĩ đại là vì ông biết nâng 
học thuyết pháp trị lên một hệ tư tưởng nhờ chỗ ông có một học vấn Nho giáo hết sức uyên bác và một am hiểu Lão giáo hết sức sâu sắc.
 
Là học trò lớn nhất của Tuân Tử, ông tiếp thu lý luận của Tuân Tử "Bản tính con người là ác”. Cho nên đọc cách nhận xét của ông về con người, ta ngạc nhiên tại sao nó giống lý luận duy lợi chủ nghĩa của Anh ở thế kỷ XVIII đến thế. Hàn Phi phủ nhận mọi lý luận đề cao cái cao quý của con người. Đối với ông, con người làm theo lợi ích cá nhân, bao giờ cũng mưu mô tính toán để kiếm lợi ích ích kỷ của mình. Bầy tôi đối với nhà vua chỉ là những hươu kiếm cỏ. Cỏ ở đâu nhiều thì hươu đến đấy. Cho nên khi xét hành động của ai thì đừng sử dụng những khái niệm nhân, nghĩa, lễ vân vân của đạo đức truyền thống mà phải xét ở khía cạnh lợi ích: Hoàng Đế có câu: "Người trên, kẻ dưới một ngày đánh nhau trăm trận". Người dưới che giấu cái riêng tư của mình để thử bụng người trên. Người trên nắm lấy quyền cân nhắc để tước bớt quyền lực kẻ dưới. Cho nên lập pháp cân nhắc, đo lường là cái quý của nhà vua. 
Có bè có đảng, đó là cái quý của bề tôi. Bầy tôi sở dĩ không giết vua là vì bè đảng chưa đủ". ("Nêu cao uy quyền").
 
Đối với ông, mọi cái cao quý, thiêng liêng đều quy về lợi hết. Trong các nhà tư tưởng Trung Quốc, ông là người có lối lý luận tàn nhẫn nhất. Lý do chính là vì cuộc đời ông với tư cách con vua, khiến ông thấy đâu đâu cũng là lừa dối, lợi dụng tính toán, mưu mô. Cái lợi ở đâu thì người ta theo đó làm. Người đóng quan tài thì mong cho người ta chết, người làm cỗ xe thì mong cho người ta được sang. Hoàn cảnh kinh tế tạo ra tư tưởng, chứ tư tưởng không tự nó nẩy sinh. Trong bài Năm lũ sâu mọt, ông giải thích thời thượng cổ người ta có thể dùng đức trị nước là vì thời ấy của nhiều người ít. Bây giờ người đông, của hiếm thì sự tranh giành mưu mô là điều tự nhiên. Khác các nhà tư tưởng than phiền về đạo đức suy đổi hay giáo dục đạo đức để cứu vãn xã hội, ông có một thái độ rất gần các nhà kinh tế học Anh. Chấp nhận con người như nó tồn tại. Nó ham lợi riêng, nó ích kỷ, mặc nó. Chỉ cần đổi mục tiêu của lợi là xã hội sẽ yên ổn. Bắt con người thấy lợi riêng của anh là ở lợi 
chung của nước thì con người vì lợi riêng của mình mà trước đó phải lo đến lợi chung. Còn anh mưu những lợi riêng mà đi ngược lại lợi chung thì trừng phạt thẳng tay. Chỉ cần làm thế là đủ.
 
Nhờ tiếp thu học vấn uyên bác của đạo Nho, cho nên Hàn Phi đã không chứng minh thì thôi, chứ đã chứng minh thì bằng chứng dồn dập, sự việc đầy đủ, kiến thức phong phú, căn cứ xác thực. Khác các nhà tư tưởng khác chỉ bàn trên nguyên lý, khi đi vào sự kiện thì dẫn những chuyện xa xôi thời Nghiêu, Thuấn chẳng có gì xác thực. Hàn Phi đã chứng minh là dùng toàn sự việc có thực ngay ở trong lịch sử thời Xuân Thu - Chiến Quốc và những câu chuyện rất sắc sảo lấy ở dân gian. Cho nên sức thuyết phục của ông rất mạnh.
 
Nhưng điều còn quan trọng hơn là ông biết tìm một học thuyết triết học làm xương sống cho lý thuyết pháp trị. Đó là lý thuyết của Lão Tử mà cơ sở là Đạo đức kinh. Ông dành hai Thiên để giải thích tác phẩm này 
 
 NGUỒN: https://www.dtv-ebook.com/ebook-han-phi-tu-han-phi-full-prc-pdf-epub-danh-nhan_594.html
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6339
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: HÀN PHI TỬ-HÀN PHI   HÀN PHI TỬ-HÀN PHI EmptyFri Sep 17, 2021 9:41 am

bằng những thí dụ thực tế để hiểu phép trị nước. Đó là thiên 20 "Giải thích Lão Tử" và thiên 21 "Minh hoạ Lão Tử". Đạo đức kinh là một tác phẩm thuần tuý tư biện, với ông biến thành một tác phẩm thuần tuý thực dụng, chứa đựng toàn mánh khoé, mưu mô. Đó là sự đóng góp riêng của ông vào "thuật trị nước". Kết quả ông là con người duy nhất của Trung Quốc thực hiện được một sự tổng hợp ba học thuyết Nho, Lão, Pháp, ở đó Nho là tài liệu xây dựng, Pháp là cái bản thiết kế, nhưng Lão mới là kỹ thuật thi công của cái ngôi nhà độc đáo.
 
Khái niệm chủ đạo của ông là "vô vi". Vô vi là cái gì? Vô số học giả tranh luận về khái niệm này không ai chịu ai. Theo tôi, một người rất non kém nhưng cũng đã đọc hết bách gia, "vô vi" không phải là "không làm gì", cũng không phải "không vì cái gì" bởi vì con người "vô vi" làm rất nhiều việc, và lo đến cả thiên hạ, như trường hợp Hàn Phi thì rõ. "Vô vi" là danh từ kép "cái làm của cái vô". Cái vô cũng không có gì bí hiểm, đó là cái lẽ tự nhiên, khách quan, của sự vật. Làm cái vô vi là làm theo cái lẽ tự nhiên, khách quan của sự việc, do đó mà thực tế có vẻ như 
không làm gì hết. Con người ích kỷ, ham lợi, ghét hại, thích thưởng, sợ trừng phạt... đó là cái lẽ tự nhiên. Con người "vô vi" chấp nhận các quan hệ khách quan, không việc gì chống lại nó. Anh ta đạt đến cái lợi của mình bằng cách sử dụng các quan hệ ấy theo lợi ích của mình. Đoạn sau đây chứng tỏ điều đó:
 
"Trời có cái lẽ tự nhiên của nó, con người có cái lẽ tự nhiên của nó. Mùi thơm, vị ngon, rượu nồng, thịt béo làm ngon miệng nhưng sinh bệnh... Cái quyền không nên lộ ra, bản chất của nó là vô vi. Bậc thánh nhân nắm lấy cái chủ yếu, bốn phương đến phục dịch. Mình hư tâm (không có thành kiến) đối xử, người ta tự họ thi hành. Bốn biển đã đầy đủ, do âm mà thấy dương,. Những người chung quanh đã xác lập xong, mở cửa để đón tiếp... Nói chung, sự vật đều có chỗ thích nghi của nó, của cái đều có chỗ dùng của nó, mỗi người đều ở vào chỗ đứng của mình, cho nên trên dưới vô vi. Khiến con gà gáy sáng, khiến con mèo bắt chuột, mọi vật đều dùng cái tài của nó cho nên trên dưới vô sự . ("Nêu cao uy quyền").
Ông vua không tự mình làm mà để bầy tôi trình bày biện pháp (danh) rồi giao cho anh ta làm, sau đó xét kết quả (hình) để quyết định thưởng phạt. Thuyết hình danh sau này được các vua đầu nhà Hán rất thích.
 
Để thực hiện vô vi hay làm theo đúng đạo tự nhiên, ông vua phải hiểu mọi cái lẽ tất nhiên để đề phòng và tận dụng. Đọc Hàn Phi Tử, bạn đọc sẽ thấy chữ "thế nào cũng" khắp nơi là vì thế. Hàn Phi biến tất cả thành quan hệ tất yếu chứ không xét sự việc rời rạc. Phải đề phòng từ vợ, con, tể tướng, trăm quan đến các nhà biện luận, các sứ thần, nước ngoài... Việc lớn, việc nhỏ gì cũng đều có cái lẽ tất yếu của nó, phải nhìn sự việc từ khi nó mới nhú lên. Làm ngay vào lúc ấy thì đạt đến kết quả mà phí rất ít công sức. Hàn Phi trình bày rất kỹ những biện pháp đề phòng, những dấu hiệu báo trước sự mất nước, những mánh khoé kiểm tra v.v... Với ông tất cả biến thành thao tác. Cách nhìn sự việc với con mắt khách quan, quy tất cả thành thạo tác, quan hệ khiến chúng ta sửng sốt về tính hiện đại của nó.
 
Cách trình bày của Hàn Phi là hiện đại đến mức một người quen đọc sách lý luận của Trung Quốc cổ ngạc nhiên.. Trong cách trình bày của Trung Quốc cổ, mặc dầu kiến thức rất phong phú, văn chương rất hay, nhưng các khớp xương của lý luận rất lỏng lẻo. Thí dụ Đại học nói "Tu được thân thì tề được gia. Tề được gia thì trị được nước". Nhưng tu thân và tề gia là hai chuyện hết sức khác nhau, tề gia và trị nước cũng thế. Giữa hai vế thiếu cái vế giữa nêu lên cái quan hệ tất yếu giữa chúng. Mặc Tử nói rất hay về thuyết kiêm ái tức là một người phải yêu tất cả mọi người. Nhưng dù ông có nói mọi cái đẹp của lý thuyết này, ông vẫn quên cái khâu cơ bản nhất: con người có những lý do rất quan trọng để lo đến bản thân trước khi lo đến người khác. Chừng nào Mặc Tử chưa giải quyết được điểm ấy thì lý luận ông vẫn không vững.
Với Hàn Phi thì khác. Bài "Nỗi phẫn uất của con người cô độc" nói kẻ cầm quyền nắm năm cái thắng (ở gần được vua tin yêu, người cũ và quen thuộc nhà vua, cùng ham thích như nhà vua, được quý trọng, cả một nước theo anh ta), kẻ sĩ biết đề cao pháp luật nắm lấy năm cái thua (ở xa và không thân nhà vua, mới đến, nói trái ý nhà vua, bị coi khinh, đơn độc) cho nên dù anh ta có giỏi đến đâu, anh ta vẫn bị nguy. Trình bày như thế thì hết sức chặt chẽ: Kẻ sĩ muốn đề cao pháp luật thế nào cũng phải chống lại kẻ cầm quyền - nhưng kẻ cầm quyền được nhà vua thân, tin, thích và dĩ nhiên là ghét anh ta - vậy nhà vua tất nhiên sẽ làm theo ý kẻ cầm quyền mà giết anh ta. Cái vế ở giữa mà phần lớn các nhà lý luận bỏ qua thì Hàn Phi rất chú ý cho nên lập luận của ông rất vững chắc.
 
Đối với ai muốn hiểu chế độ quân chủ Trung Quốc, thực tế không có tác phẩm nào quan trọng bằng Hàn Phi Tử. Toàn bộ các quan hệ xã hội được phơi bày đến mức tàn nhẫn, không nể nang gì hết: óc phê phán của tác giả sắc bén đến mức nó là bản cáo trạng đầy đủ nhất, khách quan nhất về chế độ quân chủ. Là người quý tộc, ông từ bỏ tầng lớp quý tộc, căm thù nó. Ông phê phán chế độ quân chủ từ bên trong cho nên rất sâu sắc. Bản thân ông vua thảm hại hơn người hủi, chung quanh ông ta toàn kẻ thù, còn ông ta muốn tồn tại phải sử dụng hết mưu mô này đến mánh khoé khác. Tác giả không bao giờ bị mê hoặc bởi cái hào nhoáng bên ngoài mà bao giờ cũng nhìn thẳng vào các quan hệ bất biến.
 
Tác phẩm này còn chứa đựng một giá trị văn học rất cao, điều đó mới đáng ngạc nhiên. Nguyên nhân của nó là ở con người Hàn Phi. Thời xưa không hiểu được con người ông bảo ông là kẻ tàn nhẫn, thực ra Hàn Phi chính là con người "đau khổ vì trí tuệ" đầu tiên mà ta biết được. Ông ý thức được cái học vấn và cái tài vô song của mình mà so với nó tất cả bọn Tô Tần, Trương Nghi, Lý Tư đều là trẻ con. Ông hiểu được khả năng về chính trị của mình mà so với nó, Quản Trọng, Thương Quân còn kém xa. Nhưng ông tuyệt vọng trước tình thế hiện tại. Vua chúa các nước thì ngu độn, ở nước Tần thì đã có Lý Tư. Ông thấy trước không còn cách gì du thuyết. Với ông, chỉ có hai con đường, một là vứt bỏ tài năng và hiểu biết, sống theo bọn nịnh thần. Hai là sống như ông muốn sống để chấp nhận cái chết không tài nào tránh khỏi. Với tư cách một nhân cách ông đã chấp nhận con đường thứ hai.
 
Thiên "Hỏi họ Điền" kể lại một câu chuyện đáng chú ý. Đường Khê Công lo sợ cho việc làm viết sách của Hàn Phi nhắc đến chuyện Ngô Khởi bị xé xác, Thương Quân bị phanh thây, khuyên Hàn Phi bỏ công việc này. Hàn Phi đáp: "Tôi rất hiểu những lời nói của tiên sinh. Phàm nắm lấy cái quyền cai trị thiên hạ, dùng pháp độ để trị dân là điều không phải dễ. Nhưng sở dĩ tôi gạt bỏ lời dạy của tiên sinh mà làm theo điều riêng tôi cho là phải là vì tôi nghĩ rằng: lập ra phép tắc và thuật cai trị, lập ra quy củ đó là cái đạo để làm lợi cho dân và tiện cho thứ dân. Cho nên tôi không sợ hoạ và mối lo bị chúa hôn ám, vua loạn, mà nhất định nghĩ đến cái lợi của việc trị dân, cái hành động của kẻ có nhân và có trí. Sợ mối lo và cái hoạ do chúa hôn ám, vua loạn gây nên mà tránh cái hại bị giết, bị chết, hiểu rõ cái lợi của mình mà không nhìn thấy cái lợi của dân hèn, là hành vi của kẻ tham lam bỉ ổi. Tôi không đành làm việc tham lam bỉ ổi, không dám làm cái hành vi có hại đến chữ nhân và chữ trí. Tiên sinh có bụng thương tôi, nhưng thực ra làm thương tổn đến tôi rất nhiều".
Chính Hàn Phi Tử được viết với cái tinh thần dũng cảm ấy cho nên nó lôi cuốn tất cả những ai có gan nhìn thẳng vào sự thực, dám nhận trách nhiệm trước dân đen. Tinh thần ấy đã khiến cho cái tác phẩm lý luận lẽ ra phải rất khô khan, nhưng đọc hết sức xúc động.
 
Lý thuyết Hàn Phi được Tần Thuỷ Hoàng dùng để thống nhất Trung Quốc. Sau đó nó làm thành lý thuyết của nền quân chủ Trung Hoa nhưng bao giờ cũng bị che giấu dưới cái vẻ bên ngoài Nho giáo tức là lý luận "Dương Nho Âm Pháp" mà Lục Giả đã bày cho Hán Cao Tổ. Gia Cát Lượng ba lần chép bộ sách này để cho con của Lưu Bị học mà trị nước. Các cố gắng sửa đổi pháp chế vào đời Đường, đời Tống đều dựa vào Hàn Phi Tử. Ở Việt Nam trong các việc làm của Lê Thánh Tông, Minh Mệnh có dấu vết của học thuyết pháp gia. Còn ở Trung Quốc ngày nay đằng sau ngôn ngữ mác xít ta vẫn thấy sức sống mạnh mẽ của Hàn Phi Tử.
Học thuyết Hàn Phi Tử có những sai lầm căn bản:
 
Một là ông chỉ thấy con người ở khía cạnh vụ lợi. Điều đó không đúng. Con người có những lý tưởng cao đẹp và sẵn sàng quên mình cho những lý tưởng ấy dù cho các quyền lợi cá nhân bị vi phạm đến một mức nào đó. Không cần tìm một dẫn chứng nào xa xôi, chính Hàn Phi là một người như thế.
 
Hai là, không thể xây dựng một lý thuyết pháp trị vững chắc dựa trên quyền lợi một ông vua. Lịch sử chưa cho thấy một ông vua nào không bị chế độ quan liêu tha hoá. Trong những hoàn cảnh nhất định để đạt được mục đích trả thù, bá chủ thiên hạ... ông vua có thể tạm thời theo, nhưng sau khi đạt được mục đích ông vua nào cũng hư hỏng. Do đó trong thời đại quân chủ, cái mơ ước mà Hàn Phi nghĩ đến không bao giờ đạt được.
Ba là, do chỗ bị hạn chế vào chế độ quân chủ Hàn Phi không thể tìm ra cái cơ chế bắt buộc nhà vua phải đề phòng tất cả những cái hoạ mà ông đã thấy từ trước.
 
Đối với một người đọc sách phương Đông để tìm sự thức nhận thì Hàn Phi Tử là bằng chứng tuyệt diệu của cái gọi là phương thức sản xuất châu á. Nó là một xã hội nô lệ toàn dân. Chỉ có một ông chủ: ông vua, mọi tài sản đều là của ông ta. Mọi người dân đều bình đẳng ở cái thân phận nô lệ. Tất cả, trừ vua, đều chỉ có quyền hưởng dụng (droit de possession) mà không có quyền sở hữu (droit de propriété). Gặp một xã hội như vậy thì những khái niệm nó sử dụng chỉ là những từ đồng âm với những từ phương Tây. Phương Tây nói đến lễ ta cũng nói lễ. Nhưng với người phương Tây cũng như với chúng ta ngày nay lễ biểu hiện trước hết ở thái độ tôn trọng chính mình. Tôi mặc quần áo chỉnh tề tiếp đón một ông tổng thống là vì tôi tôn trọng tôi và bắt ông ta phải tôn trọng lại tôi như tôi tôn trọng ông ta. Còn khi một người phương Đông quỳ trước một ông quan để chào ông ta thì khác hẳn: tôi tự phủ định tôi để ông được trọng. Chính trong cái hoàn cảnh ấy, lý thuyết pháp trị kiểu Hàn Phi mới ra đời được. Pháp luật là đặt ra phục vụ quyền lợi một người, chứ không phải một giai cấp. Sự bình đẳng mà pháp luật chủ trương là bình đẳng của nô lệ trước pháp luật đối với nhau. Nó xoá bỏ đẳng cấp để làm nổi bật hơn thân phận nô lệ của mọi người. Nó không phải là lý thuyết pháp trị hiện đại dựa lên quyền lợi của nhân dân lao động, khẳng định sự bình đẳng trước lao động, và giá trị của cá nhân người lao động.
 
Mặc dầu vậy, tác phẩm này vẫn rất có ích cho chúng ta. Nó cung cấp một cách nhìn hợp với phương Đông và một sự phê phán chế độ quân chủ rất khoa học, có lợi cho chế độ dân chủ.
 
Tác phẩm này khó đọc không phải vì Hàn Phi viết khó hiểu mà vì sau hai ngàn năm, nhiều chữ chép sai, nhiều chỗ chép sót, đến mức nếu không có một sự khảo chứng công phu thì khó có ai dịch được. Chúng tôi dịch được chẳng qua nhờ công khảo sát văn bản của vô số học giả Trung Hoa, đặc biệt nhờ bộ Hàn Phi Tử tập thích của Trần Kỳ Du, Bắc Kinh 1958, trong đó ông Trần Kỳ Du đã tập hợp mọi lời bàn của trên 50 nhà khảo cứu từ xưa đến nay. Chúng tôi hy vọng tác phẩm này tuy viết cách đây 2300 năm sẽ có ích cho công cuộc đổi mới mà Đảng và nhân dân đang tiến hành.
 
GS. PHAN NGỌC
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6339
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: HÀN PHI TỬ-HÀN PHI   HÀN PHI TỬ-HÀN PHI EmptySat Sep 18, 2021 10:35 am

Thiên I

 
 

                        Lần đầu yết kiến vua Tần (Sơ kiến Tần)

 
 
1. Thần nghe nói: "Không biết mà nói là không khôn: biết mà không nói là không trung. Làm bầy tôi mà không trung thì đáng chết: nói mà không đúng cũng đáng chết". Tuy vậy, thần cũng xin trình bày tất cả những điều mình nghe, xin đại vương miễn tội cho.
 
2. Thần nghe nói thiên hạ phía bắc có nước Yên, phía nam có nước Nguỵ liên minh với nước Sở. củng cố nước Tề và thu nước Hàn nhằm tạo thành kế hợp tung để quay mặt về hướng tây gây khó khăn cho nước Tần mạnh. Thần trộm cười cho họ. Trên đời có ba cái mất mà thiên hạ đều mắc phải, điều này phải chăng là thế?
 
Thần nghe nói: "Lấy nước loạn mà đánh nước trị an thì mất: lấy tà đánh chính thì mất: lấy nghịch đánh thuận thì mất". Nay thiên hạ, kho vũ khí không đầy đủ, kho thóc trống rỗng, lại dốc binh sĩ và dân chúng ra, dàn quân vài trăm vạn, nhưng những kẻ cúi đầu đội mũ lông chim làm tướng quyết liều chết ở phía trước không quá một ngàn người. Ai cũng nói liều chết, nhưng mũi nhọn sáng loáng ở phía trước, búa rìu ở phía sau, thế mà họ vẫn cứ bỏ chạy không thể liều chết. Không phải binh sĩ và dân chúng họ không thể liều chết, mà vì những người ở trên không thể làm cho họ liều chết. Miệng nói khen thưởng nhưng lại không cho; miệng nói trừng phạt nhưng lại không thi hành. Thưởng và phạt đều không chắc như đã nói cho nên dân không liều chết.
 
Nay nước Tần ra hiệu lệnh mà thi hành việc thưởng phạt: người có công và người không có công phân biệt rõ ràng. Dân sinh ra từ nơi cha bổng mẹ bế, trong đời chưa từng trông thấy quân giặc.. Thế mà nghe nói đến chuyện chiến đấu đã giẫm chân, xắn áo xông vào nơi gươm giáo, giẫm lên lửa đạn, quyết tâm liều chết. Phàm chuyện quyết chết và quyết sống là khác nhau, nhưng dân lại làm như thế. Đó là vì họ thấy chuyện hăng hái liều chết là quý. Nói chung một người liều chết có thể chống lại mười người. Mười người liều chết có thể chống lại trăm người. Trăm người liều chết có thể chống lại ngàn người. Ngàn người liều chết có thể chống lại vạn người. Vạn người liều chết có thể thắng cả thiên hạ.
 
Nay nước Tần bớt chỗ dài, bù chỗ ngắn, cũng đất vuông vài ngàn dặm, quân sĩ nổi tiếng vài chục vạn. Về mặt hiệu lệnh, thưởng phạt của nước Tần và hình thế đất đai lợi hại của nó, thiên hạ không nước nào sánh kịp.
 
Cho nên nước Tần đánh không mấy khi không thắng, tiến công không mấy khi không lấy được. Những kẻ chống cự không mấy khi không bị đánh bại. Nước Tần mở rộng đất đai thêm vài ngàn dặm. Đó là cái công lao to lớn của nó. Thế mà khí giới của nó bị cùn đi, binh sĩ của nó bị 
bệnh tật, của cải chứa chất bị kiệt, ruộng đồng hoang phế, kho thóc trống rỗng. Chư hầu bốn phía không phục. Danh hiệu bá vương không thành. Sở dĩ thế không vì cớ gì khác, vì các mưu thần của nó không dốc hết lòng trung.
 
4. Thần xin đánh bạo nói điều đó. Ngày xưa, nước Tề phía nam đại phá nước Kinh, phía đông đánh bại nước Tống, phía tây bắt nước Tần theo mình, phía bắc đánh bại nước Yên, ở giữa sai khiến các nước Hàn, Nguỵ. Đất đai rộng mà binh mạnh, đánh thì thắng, tiến công thì lấy được, ra mệnh lệnh cho cả thiên hạ. Có thành dài đê lớn đủ làm ranh giới. Nước Tề là nước chiến đấu năm mặt, chỉ một mặt chiến đấu không thắng là không còn nước Tề[1] .
 
Do đó mà xét thì chiến tranh đó là vấn đề tồn vong của một nước có vạn cỗ xe.
Thần lại nghe nói: "Muốn trừ bỏ dấu vết thì không để sót rễ; không ở gần cái hoạ thì cái hoạ sẽ không sinh ra".
 
Nước Tần đánh nhau với nước Kinh[2], đánh bại nước Kinh, đánh úp thành Sính, chiếm lấy Động Đình. Ngũ Hổ, Giang Nam. Vua tôi nước Kinh trốn chạy, sang phía đông theo nước Trần. Vào lúc bấy giờ, nếu đuổi theo quân Kinh mà đánh thì có thể lấy được nước Kinh. Lấy nước Kinh thì dân có thể thoả lòng ham muốn mà đất có thể cung cấp cái lợi. Quay sang phía đông để làm cho nước Tề, nước Yên yếu đi, ở giữa xâm phạm Tam Tấn[3]. Như vậy là cất quân một lần mà có thể đạt được tiếng bá vương và khiến cho chư hầu bốn phía phải vào chầu. Thế nhưng các mưu thần không làm, đem quân rút lui. Nước Tần lại cùng hoà hiếu với nước Kinh, khiến cho người Kinh có dịp thu lại cái nước đã bị mất, tập hợp lại những người dân đã lưu tán, dựng lại xã tắc, lo việc tôn miếu khiến nước Kinh cầm đầu thiên hạ quay mặt về hướng tây để gây khó khăn cho nước Tần. Đó là một lần bỏ mất cái đạo làm bá vương vây.
Thiên hạ là bè đảng với nhau, đóng quân ở dưới chân núi Hoa Sơn. Đại vương ra chiếu đánh phá. Quân đến chân thành nước Lương. Nếu vây vài tuần thì có thể chiếm nước Lương. Nước Lương bị chiếm thì có thể lấy luôn nước Nguỵ. Lấy nước Nguy thì sự giao thông giữa các nước Kinh, Triệu bị cắt đứt. Sự giao thông giữa các nước Kinh. Triệu bị cắt đứt thì nước Triệu nguy. Nước Triệu nguy thì nước Kinh hoang mang. Đem quân sang đông để làm yên nước Tề, nước Yên, đánh vào giữa để xâm phạm Tam Tấn. Như vậy là một lần cất quân mà danh tiếng bá vương có thể thực hiện được, có thể bắt các nước chư hầu bốn phía phải vào chầu. Thế mà các mưu thần không làm, kéo quân rút lui, lại hoà hiếu với nước Nguỵ, khiến cho nước Nguỵ thu lại được cái nước đã mất, tập hợp lại cái dân chúng đã lưu tán, dựng lại xã tắc. làm chủ tôn miếu. Rõ ràng đó là lần thứ hai bỏ mất đạo bá vương vậy.
 
Trước đây. Nhương Hầu cai trị nước Tần, dùng binh của một nước mà lại muốn lập nên cái công của hai nước[4]. Cho nên binh sĩ suốt đời phơi mình ở ngoài, dân chúng và quân sĩ mệt mỏi ở trong mà không làm được cái danh bá vương. Đó là lần thứ ba chứng tỏ rõ rành bỏ mất cái đạo bá vương vậy.
5. Nước Triệu là cái nước ở giữa, dân tứ chiếng ở đấy. Dân nó nhẹ dạ và khó dùng. Hiệu lệnh ban ra không được thi hành, khen thưởng và trừng phạt không chắc chắn thi hành, hình thế đất đai không tiện giữ, dưới không dùng hết cái sức của dân. Rõ ràng đó là tình trạng một nước đang mất. Thế mà vua Triệu không lo đến dân chúng, dốc tất cả binh sĩ và dân chúng đóng quân dưới thành Trường Bình để tranh giành đất Thượng Đảng của nước Hàn.
 
Đại vương ban chiếu phá tan quân Triệu chiếm thành Vũ An. Lúc bấy giờ ở nước Triệu người trên kẻ dưới không thân yêu nhau, người sang kẻ hèn không tin nhau. Như vậy thì sẽ không giữ được thành Hàm Đan. Thành Hàm Đan một khi bị chiếm, ta đánh lấy đất Hà Gian ở phía đông núi, đem quân đi sang phía tây tiến công Tư Vũ, vượt qua núi Hoa Sơn, chiêu hàng Thượng Đảng. Bốn mươi sáu huyện của đất Đại, bảy mươi huyện của đất Thượng Đảng, không dùng một tên lính, không làm khó nhọc một người dân mà đều sẽ là đất của nước Tần.
Khi các đất Đại và Thượng Đảng không chiến đấu mà đều thuộc về nước Tần thì các đất Đông Dương, Hà Ngoại cũng đều sẽ không chiến đấu mà là của nước Tề. Các đất Trung Sơn, Hô Đà đi về phía bắc cũng đều sẽ không chiến đấu mà thuộc về nước Yên. Như thế thì nước Triệu mất.
 
Nước Triệu mất thì nước Hàn sẽ mất. Nước Hàn đã mất thì nước Kinh, nước Nguỵ không thể đứng một mình. Nước Kinh nước Nguỵ đã không thể đứng một mình thì Tần một lần cất quân mà tiêu diệt nước Hàn, nhét nước Nguỵ vào đãy, nhổ nước Kinh, đem quân về phía đông mà làm yếu nước Tề, nước Yên.
 
Phá vỡ cửa sông ở Bạch Mã đê cho nước chảy vào nước Nguỵ thì làm một lần mà Tam Tấn đều mất, và kế hợp tung thì thất bại. Đại vương cứ chắp tay mà chờ đợi, thiên hạ lũ lượt đến phục tùng. Danh tiếng bá vương có thể thành được. Thế mà bọn mưu thần không làm, kéo quân rút lui, lại hoà hiếu với nước Triệu.
Nói chung, sáng suốt như đại vương, mạnh như quân Tần mà bỏ lại cái nguyện bá vương: đất tăng chẳng có được, lại bị cái nước suýt mất lừa dối, đó là cái kém của bọn mưu thần.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6339
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: HÀN PHI TỬ-HÀN PHI   HÀN PHI TỬ-HÀN PHI EmptySat Sep 18, 2021 10:41 am

Vả lại, khi nước Triệu đáng mấy mà không mất, nước Tần đáng làm bá mà không làm bá, thì thiên hạ đã hiểu rõ khả năng mưu thần nước Tần rồi. Thế mà lại đem dốc hết quân sĩ để đánh thành Hàm Đan, không thể lấy được thành, bỏ áo giáp, mang cung nỏ run cầm cập mà rút lui[5]. Lần thứ hai, thiên hạ đã rõ sức của nước Tần.
 
Lại đem quân rút lui họp dưới chân thành Phù, đại vương lại đem tất cả quân đến đánh nhau với quân địch nhưng không thể đánh bại nó, lại không thể đem quân về, mệt mỏi mà rút đi[6]. Lần thứ ba thiên hạ đã xét rõ cái sức của nước Tần vậy. Bên trong không xét các mưu thần của mình, bên ngoài đã dùng hết binh lực của mình.
Cứ theo thế mà xét thì thần cho rằng thiên hạ sẽ hợp tung chống lại chắc không phải là chuyện khó. Võ khí chúng ta cùng, binh sĩ dân chúng bị bệnh, của cải chứa chất kiệt, ruộng vườn hoang, kho thóc rỗng, bên ngoài thiên hạ đều kiên quyết đoàn kết nhau chặt chẽ. Xin đại vương nghĩ cách đối phó.
 
6. Vả lại thần nghe nói: "Run run sợ sợ, ngày nào cũng cẩn thận; nếu cẩn thận lo đến cái đạo của mình thì có thể có được cả thiên hạ". Tại sao lại biết như vậy?
 
Ngày xưa Trụ làm thiên tử, định đem quân đội thiên hạ trăm vạn, cánh trái uống nước ở Kỳ Khê, cánh phải uống nước ở Viên Cốc, nước sông Kỳ khô kiệt mà nước sông Viên không chảy, để gây khó khăn cho Chu Vũ Vương. Vũ Vương cầm ba ngàn binh sĩ, đánh một ngày mà phá tan nước của Trụ, bắt được thân Trụ, chiếm đất của ông ta và làm chủ dân ông ta. Thiên hạ không ai thương xót về việc ấy. Trí Bá đem quân của ba nước để tấn công Triệu Tương Chú ở thành Tấn Dương, dẫn nước vào thành luôn ba tháng, thành sắp bị mất. Tương Chủ bói mai rùa cỏ thi để xem lợi hay hại, nên hàng nước nào. Bèn sai bầy tôi của mình là Trung Mạnh Đàm lặn lội trốn ra ngoài mưu trái lại lời giao ước của Trí Bá, nắm được quân của hai nước để đánh Trí Bá, bắt được Trí Bá và phục hồi lại tình trạng yên ổn trước đây.
 
Ngày nay, đất Tần cắt dài bù ngắn cũng vuông vài ngàn dặm, quân đội nổi tiếng vài chục vạn, hiệu lệnh thưởng phạt, hình thế đất đai lợi hại của Tần thiên hạ không thể bằng. Lấy cái đó để đối phó với thiên hạ thì có thể thôn tính được thiên hạ.
 
Thần liều chết muốn được yết kiến đại vương, nói cách phá kế hoạch hợp tung của thiên hạ, lấy nước Triệu, diệt nước Hàn, bắt các nước Kinh, Nguỵ phải làm bầy tôi, thân với nước Tề, nước Yên để làm thành cái danh bá vương, cái đạo khiến chư hầu bốn bên chầu mình.
Nếu đại vương thực lòng nghe cái thuyết này thì một lần cất quân mà kế hợp tung của thiên hạ không bị phá, nếu nước Triệu không mất, nước Hàn không diệt, nước Kinh, nước Nguỵ không làm bầy tôi, nước Tề, nước Yên không thân, cái danh hiệu bá vương không thành, chư hầu bốn bên không vào chầu, xin đại vương chém thần để ra hiệu cho cả nước, về tội bàn mưu cho nhà vua mà không trung.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6339
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: HÀN PHI TỬ-HÀN PHI   HÀN PHI TỬ-HÀN PHI EmptySat Sep 18, 2021 3:04 pm

Thiên II

 
 

                        Bảo tồn nước Hàn (Tồn Hàn)[7]

 
 
1. Nước Hàn thờ nước Tần đã ba mươi năm. Đi ra thì làm khiên mộc đổ che chở, vào thì làm chiếu nệm. Tần riêng lấy quân đội tinh nhuệ đánh lấy thiên hạ mà Hàn lại theo Tần. Thiên hạ oán nước Hàn, còn công lao quy về nước Tần. Vả lại, nước Hàn vào làm nhiệm vụ nộp cống không khác gì một quận huyện. Nay thần trộm nghe những bầy tôi sang chủ trương đem quân định đánh Hàn.
Phàm họ Triệu tập hợp binh sĩ, nuôi những kẻ hợp tung, muốn hợp nhất quân đội của thiên hạ. Nó thấy rõ rằng nếu như Tần không yếu đi thì các, nước chư hầu thế nào cũng bỏ mất tôn miếu. Cho nên nó muốn quay mặt về hướng tây để thi hành ý định của mình. Đó không phải là cái kế trong một ngày. Nay nước Tần bỏ cái lo về nước Triệu mà lại đánh nước Hàn là bầy tôi ở trong nước của mình thì thiên hạ thấy rõ cái kế của Triệu là đúng vậy.
 
2. Hàn là nước nhỏ, mà lại chống lại việc tấn công của thiên hạ ở cả bốn mặt. Vua nhục, tôi khổ, trên dưới cùng lo lắng đã lâu rồi. Lo phòng bị gìn giữ, đề phòng quân địch mạnh, có tích trữ, đắp thành đào ao để giữ vững.
 
Nay nếu đánh Hàn thì không thể trong một năm mà diệt được. Nếu chiếm được một thành rồi rút lui thì cái uy quyền của nó sẽ bị thiên hạ coi nhẹ và thiên hạ sẽ làm cho quân đội của nó bị gãy. Nếu nước Hàn làm phản thì nước Nguỵ sẽ hưởng ứng, nước Triệu sẽ dựa vào nước Tề để tìm cái thế yên ổn. Như vậy tức là Tần đem nước Hàn, nước Nguỵ 
để giúp cho nước Triệu. Và nước Triệu nhờ thế nước Tề mà củng cố được cái kế hợp tung của mình để tranh cường với Tần. Đó là cái phúc của nước Triệu nhưng lại là cái hoạ của nước Tần vậy.
 
Phàm Tần tiến lên đánh Triệu thì không thể lấy, rút lui mà tấn công nước Hàn thì không thể cướp được. Như vậy là quân sĩ tinh nhuệ bị mắc ở nơi đồng nội, phải chiến đấu vất vả, quân đội chuyên chở lo mệt nhọc vận chuyển lương thực từ trong nước. Như vậy là tập hợp những người yếu đuối, mệt mỏi để đánh với hai vạn cỗ xe. Đó không phải là cách tiêu diệt được nước Triệu vậy. Nếu làm theo cái mưu kế của các bầy tôi sang thi nước Tần sẽ là mục tiêu công kích của quân đội thiên hạ. Tuy bệ hạ có sống lâu như vàng ngọc nhưng ngày thôn tính cả thiên hạ vẫn chưa đến.
 
3. Nay theo ngu kế của hạ thần thì nên sai người đi sứ sang nước Kinh, dùng nhiều của cải đút lót viên quan có quyền nói rõ tại sao nước Triệu lại lừa dối nước Tần; trao con tin cho nước Nguỵ để cho nó an tâm, theo nước Hàn mà đánh nước Triệu. Như vậy, nước Triệu tuy với nước 
Tề là một nhưng không đáng lo vậy. Sau khi đã giải quyết xong công việc với hai nước này thì có thể đưa thư mà bình định được nước Hàn. Như vậy là ta một lần cất quân mà hai nước (Tề và Triệu) đều có nguy cơ bị diệt vong. Lúc đó nước Kinh và nước Nguỵ thế nào cũng phải tình nguyện phục theo.
 
Cho nên có câu: "Việc binh là việc nguy hiểm" không thể không cẩn thận trong việc dùng. Nếu nước Tần đánh nhau với nước Triệu thì sự quyết định là ở nước Tề. Nay nước Tần lại gạt bỏ nước Hàn nhưng vẫn chưa có cái gì để làm yên lòng nước Kinh, nước Nguỵ. Một lần chiến đấu mà không thắng được thì cái hoạ sẽ sinh ra.
 
Tính mưu kế là cái để quyết định công việc, không thể không xét kỹ. Nước Hàn và nước Tần nước nào mạnh, nước nào yếu là được quyết định trong năm nay.
Vả lại, nước Triệu âm mưu với các nước chư hầu đã lâu rồi. Nếu một lần động binh mà tỏ ra yếu đuối với chư hầu thì là nguy hiểm đến công việc. Tính kế mà khiến cho chư hầu có cái bụng muốn đánh mình thì rất là nguy. Để lộ hai điều sơ hở không phải là cách làm cho mình mạnh hơn chư hầu.
 
4. Thần trộm xin bệ hạ nghĩ kỹ cho. Nếu tấn công mà khiến cho những người theo kế hoạch hợp tung lợi dụng thì lúc hối sẽ không kịp nữa[8].
 
Bài bác lại Hàn Phi của Lý Tư.
 
Bệ hạ trao cho hạ thần bức thư của người khách nước Hàn là Hàn Phi nói không thể đánh nước Hàn. Hạ thần Tư này cho rằng lời nói đó rất sai lầm.
Trước đây, năm nước chư hầu cùng nhau đánh nước Hàn, nước Tần đem quân cứu nước Hàn. Nước Hàn ở Trung Quốc, đất không đủ ngàn dặm, nhưng sở dĩ được ngang hàng với các nước chư hầu trong thiên hạ là nhà vua tôi gìn giữ nhau, đời đời dạy nhau thờ phụng nước Tần. Trước đây, năm nước chư hầu cùng nhau đánh Tần, nước Hàn làm phản đi đầu để đánh quân Tần ở cửa ải Hàm Cốc. Chư hầu quân nguy khốn, sức hết, không biết nên làm như thế nào, quân đội chư hầu thôi đánh.
 
Đỗ Thương là tướng quốc nước Tần cất định báo cái oán của thiên hạ mà trước tiên là đánh nước Kinh. Quan lệnh doãn nước Kinh lo lắng nói: "Nước Hàn cho nước Tần làm điều bất nghĩa, nhưng lại làm anh em với nước Tần để làm khổ thiên hạ. Sau đó, nó lại phản lại nước Tần đem quân đi đầu để đánh Hàm Cốc Quan. Nước Hàn ở Trung Quốc thay đổi chưa có thể biết được". Thiên hạ cùng nhau cắt mười thành đất Thượng Địa của nước Hàn để tạ lỗi với nước Tần, giải tán quân đội.
 
Nước Hàn đã một lần phản lại nước Tần nên nước lại bị bức bách, đất đai bị xâm chiếm, quân đội yếu đi cho đến ngày nay. Sở dĩ như thế là vì 
nó nghe những lời bàn hời hợt của bọn gian thần, không cân nhắc sự thực. Dù có giết bọn gian thần cũng không có thể khiến cho nước Hàn mạnh trở lại.
 
2. Nay nước Triệu muốn tập hợp binh sĩ để gây chuyện với nước Tần. Nó sai người đến mượn đường, nói muốn đánh Tần. Nhưng cái thế của nó là thế nào cũng đánh Hàn trước rồi sau đó mới đánh Tần.
 
Vả lại, thần nghe nói: "Môi hở răng lạnh". Nước Tần và nước Hàn không thể không cùng mối lo, tình hình này có thể thấy. Nước Nguỵ muốn cất quân để đánh nước Hàn, nước Tần sai người đưa sứ giả Nguỵ sang Hàn. Nay vua Tần sai thần là Tư sang nhưng không thể yết kiến, thần sợ những người chung quanh nhà vua lại theo cái kế ngày xưa của bọn gian thần, khiến cho nước Hàn gặp phải mối lo mất đất. Bầy tôi Tư không thể yết kiến xin về thì việc giao hiếu giữa nước Tần và nước Hàn thế nào cũng bị cắt đứt.
Tư đi sứ đến đây là làm theo cái lòng vui vẻ của vua Tần, xin dâng mưu kế thuận tiện. Đó đâu phải là điều khiến bệ hạ cản trở hạ thần? Thần Tư nguyện xin được yết kiến một lần. Trình bày mưu kế ngu dại trước mắt nhà vua, rồi rút lui chịu bị giết, xin bệ hạ nghĩ cho.
 
Nay nếu giết thần ở đất Hàn thì đại vương không vì thế mà mạnh, còn nếu không nghe mưu kế của thần thì cái hoạ thế nào cũng nảy sinh. Nước Tần sẽ cất toàn bộ quân đội, mà xã tắc nước Hàn sẽ phải lo vậy.
 
Nếu thần Tư phơi bày thân mình ở chợ nước Hàn, thì tuy bệ hạ muốn xét lại cái kế ngu dại của thần cũng không kịp nữa. Chờ đến khi biên giới bị tàn hại, nước cố sức giữ, tiếng trống và tiếng mõ vang lên bên tai rồi mới dùng cái kế của thần thì đã muộn rồi.”
 
Vả lại, quân đội của Hàn đối với thiên hạ thì có thể biết rồi. Nay lại phản lại nước Tần mạnh, thì phải bỏ thành, quân thua và bọn phản nghịch thế nào cũng đánh úp, lấy thành. Khi thành hết thì dân chúng tản hết, dân chúng tản hết thì không còn có quân đội nữa. Nếu thành cố sức giữ thì nước Tần sẽ cất quân vây lấy một thành ấp của nhà vua. Đường đi bị tắc thì khó mà mưu tính được, tình thế không thể cứu được, mưu kế của những người chung quanh không dùng được. Xin bệ hạ suy nghĩ kỹ cho. Nếu những lời của Tư có điều gì không phù hợp với sự thực, thì xin bệ hạ cho thần được trình bày tất cả ở trước mặt rồi sẽ cho quan lại giết đi cũng không muộn.
 
Vua Tần ăn không ngon miệng, đi xem không thấy vui, ý chỉ cốt mưu việc đánh Triệu. Sai thần là Tư đến nói, xin bệ hạ cho thần được yết kiến nhân đấy có mưu kế cấp bách trình bày bệ hạ.
 
Nay khiến cho thần không được yết kiến thì chữ tín của nước Hàn còn chưa biết. Nước Tần thế nào cũng bỏ cái lo đối với nước Triệu để đem binh chuyển sang nước Hàn. Cúi xin bệ hạ xét cho lần nữa và cho phép thần được báo lại.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6339
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: HÀN PHI TỬ-HÀN PHI   HÀN PHI TỬ-HÀN PHI EmptyMon Sep 20, 2021 7:25 am

Thiên III

 
 

                        Ngại nói (Nan ngôn)

 
 
1. Bầy tôi là Phi không phải ngại nói. Sở dĩ ngại nói là vì nếu lời nói thuận tai trơn tru, đẹp đẽ, văn vẻ hoa mỹ thì bị xem là phù hoa mà không chân thật. Nếu lời nói đôn hậu, cung kính thẳng thắn, cẩn thận thì bị xem là vụng về, không giống người ta. Nếu nói nhiều, dẫn nhiều lại hay so sánh thì bị xem là trống rỗng và vô dụng. Nếu nói tóm tắt, gọn gàng, trình bày thẳng mà không tô vẽ thì bị xem là gay gắt mà không giỏi biện luận. Nếu nói gay gắt đến những người thân cận, nêu rõ tình người thì bị xem là gièm pha và không nể nang người ta. Nếu nói chuyện rộng lớn, sâu xa không thể lường được thì bị xem là huênh hoang, vô dụng. Nếu nói chuyện vụn vặt trong nhà, trình bày hết điều này đến điều khác, thì bị xem là thô lậu. Nếu lời nói gần với thế tục, giọng không làm phật lòng người trên thì bị xem là tham sống và nịnh hót người trên. Nếu lời nói khác xa thế tục, coi thường người ta thì bị xem là lừa dối. Nếu lời nói lưu loát nhanh nhẹn, biện luận thông suốt, có nhiều văn vẻ thì bị xem là văn hoa. Còn nếu bỏ văn học, chỉ cứ theo phép tắc mà trình bày thì bị xem là quê mùa. Nếu luôn luôn đem chuyện Kinh thi, Kinh thư, nói chuyện bắt chước người xưa thì bị xem là kẻ tụng sách xưa. Chính vì vậy cho nên bầy tôi Phi ngại nói và rất lo lắng.
 
2. Cho nên mặc dầu phép tắc tuy đúng cũng chưa chắc đã được nghe theo, nghĩa lý tuy đã đầy đủ cũng chưa chắc đã được dùng. Nếu đại vương không tin theo lời nói này, thì ít ra cũng cho là phỉ báng, chê bai, và lớn ra thì tai hoạ chết chóc đến thân mình.
 
Cho nên Ngũ Tử Tư giỏi mưu kế mà bị nước Ngô giết. Trọng Ni khéo biện thuyết mà bị người nước Khuông bao vây. Quản Di Ngô thực là người hiền mà nước Lỗ bỏ tù. Ba vị kia đâu không phải là những người hiền? Nhưng vì họ gặp ba ông vua không sáng suốt vậy.
 
Đời Thượng cổ có Thành Thang là bậc chí thánh. Y Doãn là bậc chí trí. Một bậc chí trí thuyết phục một bậc chí thánh mà nói bảy mươi lần còn chưa nghe. Y Doãn phải tự mình cầm vạc cầm thớt làm người đầu bếp, quen thân gần gũi nhà vua Thang mới biết là ông ta hiền mà dùng.
 
Cho nên nói lấy người chí trí nói với bậc chí thánh, cũng chưa chắc là đã được nghe. Chuyện Y Doãn thuyết phục Thành Thang là như thế. Còn lấy người khôn thuyết phục kẻ ngu thì thế nào cũng không nghe. Chuyện Văn Vương thuyết phục Trụ là như thế.
 
Ngày xưa Văn Vương thuyết phục Trụ, mà Trụ bỏ tù ông ta, Dực Hầu bị nướng, Quý Hầu bị phơi khô, Tỷ Can bị moi tim, Mai Bá bị làm mắm. Quản Di Ngô bị trói, mà Tào Cơ phải chạy trốn sang nước Trần, 
Bách Lý Hề phải đi ăn xin, Phó Duyệt phải bị bán làm tôi tớ, Tôn Tẫn bị chặt chân ở nước Nguỵ, Ngô Khởi gạt nước mắt ở Ngạn Môn, đau xót vì đất Tây Hà sẽ bị nước Tần lấy, cuối cùng bỏ chạy sang nước Sở. Công Thúc Toa tiến cử người rường cột của nước nhưng lại bị xem là kẻ dở hơi, Công Tôn Ưởng chạy sang nước Tần, Quan Long Bàng bị chém, Trành Hoằng bị phanh thây, Doãn Tử bị ném vào hố đầy cây gai, Tư Mã Tử Kỳ chết thây trôi trên sông Giang, Điền Minh bị liệng đá chết, Bí Tử Tiện và Tây Môn Báo không tranh giành mà chết vì tay người, Đổng An Vu chết phơi thây ở chợ. Tề Dư không thoát khỏi tay Điền Thường, Phạm Thư gãy hông ở nước Nguỵ. Mười mấy người kia đều là những kẻ sĩ tài giỏi, có nhân, trung thành, tốt và có mưu lược trên đời không may gặp phải ông vua hôn ám hung bạo, bị mê hoặc, mà phải chết.
 
3. Như vậy thì dù có là bậc hiền thánh cũng không thể trốn khỏi chết chóc, trốn tránh nhục nhã. Tại sao thế? Bởi vì khó thuyết phục người ngu, và người quân tử không thể tiến gần nhà vua được. Vả lại, lời nói hay nghe chướng tai, phật ý, nếu không phải là bậc hiền thánh thì không ai có thể nghe được. Xin đại vương xét kỹ cho.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6339
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: HÀN PHI TỬ-HÀN PHI   HÀN PHI TỬ-HÀN PHI EmptyMon Sep 20, 2021 8:58 am

Thiên IV

 
 

                        Bầy tôi yêu (ái thần)

 
 
1. Bầy tôi yêu mến nhà vua thân quá thì sẽ nguy đến thân. Bầy tôi nếu được sang quá thì thế nào cũng sẽ cướp ngôi nhà vua. Địa vị của bà hoàng hậu và các thiếp mà không phân biệt thì thế nào cũng sẽ nguy cho đứa con trưởng. Anh em không vâng theo nhà vua thì sẽ nguy đến xã tắc.
 
2. Thần nghe nói: “Ông vua có ngàn cỗ xe không phòng bị thì thế nào cũng có bầy tôi có trăm cỗ xe ở bên cạnh cướp mất dân và giành lấy nước của mình, Ông vua có vạn cỗ xe không phòng bị thì thế nào cũng có cái nhà có ngàn cỗ xe ở bên cạnh cướp lấy cái uy mà giành lấy nước của mình”. Như vậy, khi bọn gian thần đông và giàu có thì đạo của nhà vua phải suy vong. Vì vậy cho nên chư hầu lớn mạnh là cái hại cho vị thiên tử. Bầy tôi quá giàu là cái hại cho nhà vua. Tướng quân, tể tướng bỏ quyền lợi của nhà vua để lo quyền lợi nhà mình thì bị nhà vua gạt cả.
 
3. Trong muôn vật không có gì quý bằng thân mình, không có gì được tôn trọng bằng địa vị, không có gì đáng trọng bằng uy quyền, không có cái gì mạnh bằng cái thế của nhà vua. Bốn cái đẹp ấy đều không cầu xin ở ngoài, không nhờ ở người, nếu làm cho phải thì có được. Cho nên nói: "Ông vua không biết dùng cái giàu của mình thì sẽ chết ở nước ngoài". Đó là điều kẻ làm vua người ta phải biết.
 
4. Ngày xưa vua Trụ bị diệt vong, nhà Chu bị hèn kém đều do chư hầu lớn mạnh mà ra. Nước Tần bị phân chia, nước Tề bị cướp mất đều là do bọn bầy tôi quá giàu. Sở dĩ người nước Yên, nước Tống giết vua của mình cũng đều thuộc loại ấy.
Cho nên trên thì xem gương nhà Ân, nhà Chu, giữa thì xem gương nước Yên, nước Tống, không nước nào là không theo phép tắc này. Do đó bậc vua sáng nuôi bầy tôi của mình thì dùng pháp luật để tận dụng hết cái khả năng của họ, giữ con tin để đề phòng họ. Vì vậy, không tha tội chết, không bỏ hình phạt. Nếu tha tội chết, bỏ hình phạt, thì cái uy của nước sẽ bị giảm mất, xã tắc sẽ nguy, quốc gia sẽ vào tay người khác.
 
5. Cho nên bậc đại thần lộc tuy lớn, vẫn không ra uy ở thành thị. Bè đảng ông ta tuy đông, vẫn không được chỉ huy quân sĩ, vì vậy bầy tôi trong nước không được có triều đình riêng, người ở trong quân đội không được giao thiệp riêng, kho lúa kho tiền nhà vua không được cho nhà riêng vay mượn. Đó là cách bậc vua sáng dùng để cấm điều gian tà.
 
Cho nên các quan không được có bốn cỗ xe đi theo, không mang theo quân đội riêng. Không phải là người mang thư và mang tin thì không 
được mang vũ khi đi nơi này sang nơi khác. Nếu phạm tội thì giết không tha. Đó là cách vị vua sáng dùng để đề phòng chuyện bất ngờ.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6339
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: HÀN PHI TỬ-HÀN PHI   HÀN PHI TỬ-HÀN PHI EmptyMon Sep 27, 2021 9:48 pm

Thiên V

 
 

                        Đạo làm chủ (Chủ đạo)

 
 
1. Đạo là cái khởi đầu của muôn vật, là tiêu chuẩn phân biệt điều phải điều trái. Chính vì vậy vị vua sáng nắm lấy cái khởi đầu để biết nguồn gốc của muôn vật, giữ lấy cái tiêu chuẩn để biết then chốt của việc đúng hay sai. Cho nên nhà vua dùng sự trống rỗng và yên tĩnh để chờ đợi, khiến cho cái danh tự nó được lập, sự việc tự nó được xác định. Nếu trống rỗng thì biết được tình thế của sự thực. Nếu yên tĩnh thì biết được cách sửa đổi cái động cho đúng.
Người nào nói thì tự anh ta đưa ra cái tôn gọi (danh), người nào làm thì tự anh ta đưa ra cái hình thức (hình), ông vua so sánh hình thức và lên gọi xem có phù hợp với nhau không. Cho nên ông vua không phải làm việc gì mà mọi việc đều quay trở về với bản chất của nó.
 
2. Cho nên nói: Nhà vua chớ để lộ cho người ta biết mình muốn gì. Nếu nhà vua để lộ cho người ta biết mình muốn gì thì bọn bầy tôi thế nào cũng sẽ tô vẽ. Ông vua chớ để lộ ý của mình. Nhà vua để lộ ý của mình thì bọn bầy tôi thế nào cũng biểu lộ cái khác với bản tính của họ. Cho nên nói: Bỏ điều mình ham, bỏ điều mình ghét mới thấy rõ được bụng dạ bầy tôi. Bỏ kinh nghiệm, bỏ khôn ngoan của mình thì bầy tôi sẽ tự đề phòng.
 
Cho nên nhà vua khôn ngoan nhưng lại không dùng cái khôn ngoan ấy để lo lắng, mà để cho muôn vật biết được cái chỗ nó phải đứng. Nhà vua có hạnh nhưng lại không khoe cái hạnh của mình mà quan sát lý do hành động của bầy tôi. Nhà vua có cái dũng, nhưng lại không nổi giận, khiến cho bầy tôi trổ hết sức mạnh của họ.
Vì vậy nhà vua bỏ sự khôn ngoan mà lại sáng suốt, bỏ tài giỏi mà lại có được công lao, bỏ dũng mà lại có được sức mạnh. Bầy tôi giữ chức vụ của họ, trăm quan có nhiệm vụ không thay đổi, nhà vua dựa theo năng lực của họ mà dùng. Cái đó gọi là nắm lấy cái bất biến.
 
Cho nên nói: "Đạo vắng lặng ở vào nơi không có chỗ đứng. Nó trống rỗng không ai biết nó ở đâu". Vua sáng vô vi ở trên, bầy tôi lo lắng ở dưới. Cái đạo của bậc vua sáng là khiến cho kẻ khôn ngoan hết lòng lo lắng và nhà vua nhân đó mà giải quyết được sự việc. Như thế cái khôn ngoan của nhà vua không cạn. Những người hiền trổ hết tài năng của mình, nhà vua nhân đó mà sử dụng họ, cho nên tài năng của nhà vua không cạn. Công việc nên thì nhà vua được tiếng giỏi, có sai lầm thì bầy tôi chịu lấy tội. Kết quả nhà vua không bao giờ hết cái danh.
 
Vì vậy cho nên nhà vua không giỏi mà làm thầy những người giỏi, không khôn ngoan mà làm chuẩn mực cho sự khôn ngoan. Bầy tôi phải 
vất vả mà nhà vua hướng sự thành công. Cái đó gọi là nguyên lý chủ yếu của ông vua hiền.
 
3. Đạo nhà vua là ở chỗ người ta không thể nhìn thấy nó, cái dụng của nó là ở chỗ người ta không thể biết nó. Nó trống rỗng phẳng lặng, không làm gì, ở nơi bóng tối nhìn thấy sự sai sót. Nó thấy người ta mà người ta không thấy nó, nó nghe người ta mà người ta không biết nó. Nó biết người ta mà người ta không biết nó.
 
Khi nghe người ta nói điều gì thì đừng thay đổi sửa chữa nó, mà so sánh nó với sự thực xem có hợp không. Mỗi ông quan đều có một người quan sát ông ta, nhưng không để cho họ trò chuyện với nhau. Như vậy thì muôn vật đều tròn. Che vết tích, giấu đầu mối, thì người dưới không thể lần được nguyên nhân. Gạt bỏ cái khôn của mình, cắt đứt cái tài của mình thì người dưới sẽ không đoán được cái ý của mình. Giữ lấy quyết định của mình mà xét việc làm của cấp dưới xem có phù hợp với nó không.
Cẩn thận nắm lấy cái cán và giữ chặt lấy nó. Cắt đứt mong muốn của người dưới, phá bỏ cái ý của họ, chớ khiến người ta thèm muốn nó. Nếu không cẩn thận cài then, không giữ cửa cho chắc thì hổ sẽ xuất hiện. Nếu không thận trọng trong công việc, không che đậy tình cảm của mình thì giặc sẽ nẩy sinh.
 
Giết ông vua mình, thay thế địa vị nhà vua, không ai không theo mình, cho nên gọi đó là hổ. Kẻ ở cạnh vua, làm bầy tôi gian, nghe những sai lầm của nhà vua cho nên gọi đó là giặc. Phải giải tán phe đảng của chúng, bắt những kẻ theo chúng, đóng cửa của chúng lại, đoạt lấy mọi cái giúp đỡ cho chúng thì nước mới không có hổ.
 
Phải lớn đến mức độ không thể lường, phải sâu đến mức độ không thể đo, phải lo sao cho cái tên và sự thực phù hợp với nhau, phải xét kỹ pháp luật và các cách thức, giết những kẻ chuyên quyền thì nước mới không có giặc.
Cho nên bậc làm vua bị năm cái che lấp. Bầy tôi cản trở nhà vua gọi là che lấp. Bầy tôi nắm lấy của cải và lợi lộc gọi là che lấp. Bầy tôi tự tiện ra mệnh lệnh gọi là che lấp. Bầy tôi được phép làm việc nghĩa gọi là che lấp. Bầy tôi được phép gây dựng người gọi là che lấp.
 
Bầy tôi mà che lấp nhà vua thì nhà vua mất địa vị của mình. Bầy tôi mà nắm lấy của cải và lợi lộc thì nhà vua bỏ mất đức. Bầy tôi mà tự tiện thi hành mệnh lệnh thì nhà vua mất quyền. Bầy tôi được phép thi hành việc nghĩa thì nhà vua mất sự sáng suốt. Bầy tôi được phép gây dựng người thì nhà vua bỏ mất người theo mình. Những điều này chỉ có nhà vua một mình thi hành, không phải là việc bầy tôi được phép làm.
 
Cái đạo của bậc làm vua là lấy sự thanh tĩnh, khiêm nhường làm quý. Không tự mình làm việc mà biết thế nào là vụng, thế nào là khéo. Không tự mình suy tính mà biết thế nào là phúc là hoạ. Vì vậy cho nên không nói mà khéo ứng phó. Không cố gắng mà công việc vẫn có kết quả. Lời nói đã phù hợp thì nắm lấy cái giao ước; sự việc đã hoàn thành thì nắm lấy cái kết quả.
 
Căn cứ vào chỗ lời nói phù hợp với việc làm mà quyết định thưởng hay phạt. Vì vậy cho nên bầy tôi trình bày lời nói của họ, còn nhà vua thì dựa vào lời nói để giao việc, giao việc thì yêu cầu phải có kết quả. Nếu kết quả phù hợp với việc làm, việc làm phù hợp với lời nói thì thưởng. Nếu kết quả không phù hợp với việc làm, việc làm không phù hợp với lời nói thì trừng phạt. Đạo của bậc vua sáng là ở chỗ bầy tôi không trình bày những lời không phù hợp với công việc. Vì vậy bậc vua sáng thi hành việc khen thưởng thì tốt như trận mưa đúng lúc, trăm họ đều hưởng được ơn huệ. Khi thi hành việc trừng phạt thì oai nghiêm như sấm sét, thánh thần cũng không thể cứu được.
 
Cho nên bậc vua sáng không khen thưởng bừa không tha việc trừng phạt. Khen thưởng bừa thì những bầy tôi có công lao bỏ bễ công việc của mình. Tha việc trừng phạt thì bọn gian thần dễ làm bậy. Cho nên nếu như người ta quả thực có công thì dù là người xa và hèn hạ cũng cứ thưởng. Nếu người ta quả thực phạm sai lầm thì dù là người gần và yêu cũng cứ trị. Nếu người gần và yêu cũng cứ trị thì những người xa và hèn hạ sẽ không dám lười biếng, mà những người gần và được yêu cũng không dám kiêu căng.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6339
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: HÀN PHI TỬ-HÀN PHI   HÀN PHI TỬ-HÀN PHI EmptySat Oct 02, 2021 8:24 am

QUYỂN II

Thiên VI

 
 

                        Có phép tắc (Hữu độ)

 
 
1. Không có nước nào luôn luôn mạnh, cũng không có nước nào luôn luôn yếu. Hễ những người thi hành pháp luật mà mạnh thì nước mạnh, còn hễ những người thi hành pháp luật mà yếu thì nước yếu.
 
2. Vua Trang Vương nước Kinh thôn tính hai mươi sáu nước, mở rộng đất đai ba ngàn dặm. Nhưng vua Trang Vương vừa mới rời bỏ xã tắc thì nước Kinh suy vong. Hoàn Công nước Tề thôn tính ba mươi nước, mở rộng đất đai ba ngàn dặm, nhưng Hoàn Công vừa rời bỏ xã tắc thì nước Tề suy vong. Tương Vương nước Yên lấy sông Hoàng Hà làm biên giới, lấy thành Kế làm kinh đô, đánh úp đất Trác và đất Phương Thành, tàn phá nước Tề, bình định nước Trung Sơn, nước nào theo nước Yên thì được trọng, không theo nước Yên thì bị coi thường. Thế nhưng Tương Vương vừa mới rời bỏ xã tắc thì nước Yên suy vong.
 
An Ly Vương nước Nguỵ đánh nước Triệu cứu nước Yên, thu phần đất phía đông sông Hoàng Hà, đánh chiếm hết đất nước Đào, nước Vệ rồi đem quân sang nước Tề, lấy thành Bình Lục làm kinh đô riêng của mình. Lại đánh nước Hàn, lấy nước Quản, chiến thắng ở ba sông Kỳ, ở Thư Dương, làm cho quân Kinh bỏ chạy, trong trận đánh ở Thái và ở Thiệu Lăng phá tan quân nước Kinh. Quân đội bốn lần bày ra trong thiên hạ, uy thế thi hành ở tất cả các nước mang đai đội mũ. Nhưng An Ly Vương chết thì nước Nguỵ suy vong. Cho nên có Kinh Trang Vương, Tề Hoàn Công thì nước Kinh, nước Tề có thể làm bá, có Yên Tương Vương, Nguỵ An Ly Vương thì nước Yên, nước Nguỵ có thế mạnh lên. Ngày nay đó đều là những nước suy vong bởi vì bọn bầy tôi, quan lại đều lo theo cái gây nên loạn chứ không lo theo cái gây nên trị. Nước họ đã loạn đã yếu mà họ còn bỏ phép nước lo lợi riêng của mình. Như vậy là vác củi để cứu hoả, nước còn loạn và yếu thêm nữa.
3. Vì vậy vào thời nay, nếu có ông vua biết bỏ được điều riêng tư, cong queo, mà theo phép công thì dân sẽ được yên mà nước sẽ được trị. Nếu có ông vua bỏ được điều riêng tư, thi hành phép công thì quân đội mạnh mà kẻ địch yếu. Nhờ vậy ông vua biết rõ việc nên, việc không nên, có sự quy định theo phép tắc. Lấy phép tắc để thi hành với bầy tôi, thì người ta không thể dùng lời dối trá để lừa nhà vua. Nhà vua xét kỹ việc nên chăng, cầm cân nảy mực để cân nhắc, để nghe những việc ở xa thì người ta không thể. Nhà vua xét kỹ việc nên chăng, lấy việc trong thiên hạ để lừa nhà vua.
 
Nay nếu căn cứ vào danh tiếng để tiến cử người có tài thì bầy tôi thế nào cũng rời khỏi bề trên và người ở dưới lập bè phái. Nếu dựa vào phe đảng mà được làm quan thì dân lo chơi bời với nhau mà không mong được dùng theo đúng phép tắc.
Cho nên các quan làm việc không có năng lực thì nước loạn. Nếu nhờ được khen mà được thưởng, bị chê bai mà bị phạt thì những người ham thưởng sợ phạt sẽ bỏ phép công, thi hành cái thuật riêng tư, kết bè với nhau để làm bậy. Người dưới quên chủ, giao du với nước ngoài để tiến cử người cùng bè với mình, như thế là họ ít lo cho bề trên vậy. Khi họ đã giao du với nhiều người, bè đảng đông, trong ngoài bè đảng với họ thì dù họ có phạm tội nặng cũng có nhiều người che đậy cho họ.
 
Kết quả, bậc trung thần có cái nguy là không có tội mà chết. Kẻ gian thần có cái yên là không có công mà hưởng lợi. Khi bậc tôi trung bị cái nguy không có tội mà chết thì những bầy tôi giỏi rút lui. Kẻ tôi gian tà có cái yên không có công mà hưởng lợi thì bọn gian thần tiến lên. Đó là cái gốc của sự mất nước.
 
Như vậy thì bầy tôi bỏ pháp luật, thi hành việc riêng, coi nhẹ phép công. Khi phần lớn đến cửa những kẻ có thể giúp đỡ mình, thì không ai đến triều đình nhà vua. Trăm điều lo nghĩ đều nhằm làm lợi cho nhà riêng, không có điều lo nghĩ nào tính đến cái nước của nhà vua. Thuộc hạ nhà vua tuy đông nhưng không phải để đảm nhiệm việc nước. Như vậy thì ông vua tuy có được cái tiếng là vua nhưng thực ra là dựa vào các nhà riêng của bầy tôi.
 
Cho nên thần nói: "Triều đình của một nước sắp mất không có người". Triều đình không có người không phải là triều đình vắng người. Đó là vì họ lo vun đắp cho nhau trong việc riêng mà không lo vun đắp cho nước. Các quan đại thần lo đề cao lẫn nhau mà không lo đề cao nhà vua. Các quan nhỏ lo lấy bổng lộc để giao du với nhau cho thân thiết mà không lo đến việc công. Sở dĩ có tình hình như vậy là vì nhà vua ở trên không dựa theo pháp luật mà quyết định; trái lại tin những điều người dưới làm.
 
Cho nên bậc vua sáng khiến pháp luật chọn người chứ không tự mình tiến cử; khiến pháp luật đo lường công lao, chứ không tự mình tính toán. Kẻ có tài năng không thể bị che đậy; kẻ kém không thể tô vẽ; kẻ được khen không thể tiến chức; kẻ bị chê không bị đẩy lui. Như thế 
giữa vua với tôi phân biệt rõ ràng và nước dễ cai trị. Chỉ cần nhà vua theo pháp luật là có thể làm được thế.
 
4. Người hiền khi đã làm bầy tôi người ta thì quay mặt về hướng bắc mà thi hành chức vụ không có hai lòng. Ở triều đình không dám từ chối việc hèn kém, khi ở quân đội không dám từ chối việc khó, thuận theo việc làm của cấp trên, nghe theo phép của vua, hư tâm để đợi mệnh lệnh, chứ không bàn chuyện phải trái. Vì vậy, tuy có miệng nhưng không nói việc riêng, tuy có mắt nhưng không nhìn việc riêng, tất cả đều do bề trên sai khiến.
 
Kẻ làm bầy tôi cũng giống như cái tay, trên thì che đầu, dưới thì che thân, ấm mát, nóng lạnh không thể không cứu, dẫu có gươm Mạc Tà ở bên cạnh cũng không dám không bắt lấy. Những bầy tôi khôn ngoan sáng suốt không lo việc riêng. Những kẻ sĩ có tài năng không lo việc riêng. Kết quả, dân không giao du với người ngoài làng, không kết thân với người ở xa trăm dặm. Kẻ sang người hèn không vượt quyền nhau. 
Kẻ ngu người khôn giữ thế cân bằng mà đứng. Đó là mức cao nhất của việc trị an.
 
Nói chung, những kẻ coi khinh tước lộc, coi nhẹ việc ra đi, bỏ trốn để tìm ông vua của mình, thần không gọi là liêm. Những kẻ bịa đặt lý thuyết làm trái pháp luật, ra sức can gián trái ý nhà vua, thần không gọi là trung. Những kẻ thi hành ân huệ phân phát cái lợi để thu phục người dưới và nổi tiếng, thần không gọi là nhân. Những kẻ rời thế tục đi ở ẩn để chê bai người trên, thần không gọi là nghĩa.
 
Những kẻ bên ngoài đi sứ các nước chư hầu, bên trong làm cho nước mình hao mòn, họ rình lúc nước nguy hiểm để làm cho nhà vua sợ. Họ nói: "Việc giao hiếu với nước ngoài nếu không có tôi thì không thể thân với nước ngoài được, sự oán ghét nếu không có tôi thì không thể bỏ oán được". Thế rồi nhà vua tin họ, đem cả nước để nghe theo. Họ hạ thấp cái danh của nhà vua để làm cho thân mình được vinh hiển, phá huỷ sự giàu có của nước để làm lợi cho nhà mình. Thần không gọi những người đó là khôn. Những việc làm như thế những đời nguy hiểm thường thích, nhưng phép tắc của các tiên vương bị coi thường.
 
Phép tắc của tiên vương nói: "Bầy tôi không được ra uy, không được mưu lợi, mà phải theo ý nhà vua. Không được làm điều ác mà phải theo đường lối của nhà vua. Dân ngày xưa đời đời trị an, tôn trọng phép công, bỏ thuật riêng, chuyên tâm vào một việc cốt để chờ nhiệm vụ được trao".
 
5. Phàm làm vua mà thân hành xem xét trăm quan thì thời gian không có đủ và sức không làm nổi. Vả lại, nếu bề trên dùng mắt thì kẻ dưới tô vẽ dung mạo. Bề trên dùng tai, thì kẻ dưới tô vẽ âm thanh. Bề trên dùng sự suy nghĩ, thì kẻ dưới nói năng rườm rà. Các bậc tiên vương cho cả ba cái kia đều không đủ, cho nên bỏ tài năng của mình mà dựa vào pháp luật, xét kỹ việc thưởng phạt.
Các bậc tiên vương cốt nắm lấy cái chủ yếu cho nên pháp luật giản dị mà không bị xâm phạm. Một mình khống chế cả trong bốn biển, những kẻ khôn khéo không thể trổ cái gian dối của họ. Những kẻ hiểm trá không thể đưa cái nịnh hót ra. Bọn gian tà không có nơi dựa. Kẻ ở xa ngoài ngàn dặm không dám dối lời. Kẻ có cái thế ở gần làm lang trung không dám che cái hay, tô vẽ cái sai. Các quan ở dưới triều đình đều không dám vượt quyền nhau. Nhờ thế công việc cai trị không mất thì giờ mà ngày rỗi rãi. Đó là vì ở trên dùng cái thế của mình cho nên được như vậy.
 
6. Phàm bầy tôi xâm lấn nhà vua cũng như hình thể đất đai, một ngày lấn một chút mà làm cho nhà vua mất đầu mối, đông tây đổi hướng mà không tự biết. Vì vậy bậc tiên vương lập kim chỉ nam để biết rõ hướng mặt trời mọc và lặn. Cho nên bậc vua sáng khiến bầy tôi không chú ý đến những cái ở ngoài pháp luật, không làm ân huệ ở trong vòng pháp luật, không làm điều trái pháp luật.
Pháp luật là cái để ngăn cấm việc riêng tư sai lầm vượt ra ngoài pháp luật. Hình phạt nghiêm là để cho lệnh được thi hành và trừng trị cấp dưới. Cái uy không thể cho mượn. Cái quyền không thể cùng chung với người khác. Nếu uy quyền chung với người khác thì bọn gian tà nhan nhản. Pháp luật không chắc chắn thì nhà vua bị nguy, hình phạt không quyết đoán thì không thắng được kẻ gian.
 
Cho nên có câu: "Người thợ khéo tuy dùng ý và mắt cũng đúng dây mực, nhưng trước đó phải lấy cái quy cái củ để đo[9]. Kẻ thượng trí tuy làm việc đúng ngay, nhưng trước đó phải lấy phép tắc tiên vương làm chuẩn". Cho nên nhờ dây dọi thẳng mà cây cong bị đẽo. Nhờ cái mực nước bằng mà chỗ cao, chỗ nghiêng bị gọt. Nhờ treo cái cân lên mà bớt được cái nặng, thêm được vào cái nhẹ. Nhờ xác lập cái đấu, cái thạch mà bớt được cái nhiều, thêm được cái ít. Cho nên lấy pháp luật trị nước chỉ cốt theo pháp luật mà làm hay ngăn cấm mà thôi.
Pháp luật không hùa theo người sang. Sợi dây dọi không uốn mình theo cây gỗ cong. Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không thể từ, kẻ dũng cũng không dám tranh. Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót kẻ thất phu. Cho nên điều sửa chữa được sự sai lầm của người trên, trị được cái gian của kẻ dưới, trừ được loạn, sửa được điều sai, thống nhất đường lối của dân không gì bằng pháp luật.
 
Điều dùng để răn đe các quan, ra uy với dân, khiến sự dâm dật phải lui, điều dối trá bị chặn, không gì bằng hình phạt. Hình phạt nặng thì không ai dám lấy sang khinh hèn. Pháp luật rõ ràng thì người trên được tôn trọng mà không bị xâm lấn. Người trên được tôn trọng mà không bị xâm lấn thì vua mạnh và nắm được cái chủ yếu. Vì vậy các bậc tiên vương quý nó và truyền nó lại. Kẻ làm vua nếu bỏ pháp luật mà làm theo ý riêng thì trên dưới không phân biệt.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6339
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: HÀN PHI TỬ-HÀN PHI   HÀN PHI TỬ-HÀN PHI EmptyWed Oct 06, 2021 9:30 pm

                        Hai cái cán (Nhị bính)

 
 
                       
 
1. Bậc vua sáng suốt sở dĩ lãnh đạo và chế ngự được bầy tôi chẳng qua chỉ nhờ hai cái cán mà thôi. Hai cái cán ấy là: hình và đức.
 
Hình và đức là gì? Xin thưa giết tróc gọi là hình phạt; khen thưởng gọi là ân đức. Kẻ làm tôi sợ bị giết, bị phạt mà có lợi ở chỗ được khen 
thưởng. Cho nên kẻ làm vua nếu tự mình dùng hình phạt và ân đức thì bầy tôi sợ cái uy của nhà vua mà chạy theo cái lợi của họ.
 
Bọn gian thần ở đời thì lại không thế. Ai họ ghét thì họ lợi dụng nhà vua để làm tội. Ai họ yêu thì họ lợi dụng nhà vua để thưởng. Nếu ông vua không thể khiến cho quyền uy và cái lợi của việc thưởng phạt xuất phát từ tay mình, mà thi hành thưởng phạt theo lời bọn bầy tôi thì những người trong nước sẽ sợ bọn bầy tôi mà coi thường nhà vua, sẽ theo bọn bầy tôi mà bỏ nhà vua. Cái lo của tình trạng nhà vua bỏ mất hình phạt và ân đức là thế.
 
Nói chung, sở dĩ con hổ có thể khiến cho con chó phục tùng nó là nhờ có nanh, có vuốt. Nếu con hổ bỏ nanh vuốt của nó đi mà trao cho con chó dùng thì con hổ ngược lại phải phục tùng theo con chó. Ông vua dùng hình phạt và ân đức để khống chế bầy tôi, nay ông vua bỏ hình phạt và ân đức của mình để trao cho bầy tôi sử dụng thì ông vua sẽ bị bầy tôi khống chế.
2. Điền Thường ở trên thì xin tước lộc để ban cho quần thần, ở dưới làm đấu hộc lớn hơn đấu hộc thường để làm ơn với trăm họ[10]. Thế là Tề Giản Công đã bỏ mất ân đức mà Điền Thường lại dùng cái ân đức ấy. Cho nên Tề Giản Công bị giết.
 
Tử Hãn nói với vua Tống: "Việc khen thưởng và tặng cấp là điều dân chúng vẫn thích, xin bệ hạ tự làm lấy. Việc giết chóc và dùng hình phạt là điều dân chúng vẫn ghét, thần xin nhận làm". Do đó, vua nước Tống bỏ mất hình phạt để trao cho Tử Hãn sử dụng. Kết quả, vua nước Tống bị cướp ngôi. Điền Thường chỉ dùng ân đức mà Giản Công bị giết. Tử Hãn chỉ dùng hình phạt mà vua Tống bị cướp ngôi.
 
Cho nên ngày nay nếu bầy tôi sử dụng cả hình phạt lẫn ân đức thì cái nguy của ông vua ở đời còn tệ hơn là cái nguy của Tề Giản Công và của vua Tống  nữa. Cho nên những ông vua bị hiếp, bị giết, bị che đậy, 
bỏ mất hình phạt và ân đức trao cho bầy tôi mà lại không bị nguy vong là điều chưa hề có
 
Bậc làm vua muốn cấm chuyện gian tà thì phải xét kỹ tên gọi và việc làm xem có hợp với nhau không. Phải xét xem việc làm có khác lời nói không.
 
Bầy tôi trình bày lời nói của mình, nhà vua căn cứ vào lời nói mà giao công việc, rồi căn cứ vào công việc mà xét kết quả. Nếu kết quả phù hợp với việc làm, việc làm phù hợp với lời nói thì thường. Nếu kết quả không phù hợp với việc làm, việc làm không phù hợp với lời nói thì phạt. Cho nên bầy tôi những ai nói thì lớn mà kết quả thì nhỏ đều bị phạt. Họ bị phạt không phải vì kết quả ít mà vì kết quả không phù hợp với lời nói. Bầy tôi nói nhỏ mà kết quả lớn cũng phạt. Họ bị phạt không phải vì nhà vua không thích kết quả lớn mà vì kết quả không phù hợp với tên gọi của nó. Điều đó còn nguy hại hơn là có công lớn, cho nên phạt.
Ngày xưa Hàn Chiêu Hầu say rượu, ngủ. Viên quan coi mũ của vua thấy nhà vua lạnh nên lấy áo đắp cho nhà vua. Nhà vua ngủ dậy vui lòng hỏi những người chung quanh: "Ai đã lấy áo đắp lên người ta?" Những người chung quanh nói: "Đó là viên quan coi mũ!". Nhà vua bèn trị tội cả viên quan coi áo lẫn viên quan coi mũ. Trị tội viên quan coi áo vì anh ta đã không làm nhiệm vụ của mình. Trị tội viên quan coi mũ vì anh ta vượt chức vụ của mình. Không phải nhà vua không khổ vì lạnh, nhưng bởi vì cái hại của việc vượt quá trách nhiệm còn lớn hơn là bị lạnh.
 
Cho nên khi bậc vua sáng nuôi bầy tôi, bầy tôi không được vượt chức quan để có công lao, không được nói những lời không đúng chỗ. Vượt quá chức quan thì chết. Nói những lời không đúng chỗ thì bị tội. Nếu những người làm quan nói lời nào cũng xác thực thì bầy tôi không thể kết bè kết đảng với nhau được.
4. Ông vua có hai mối lo: nếu dùng người hiền thì bầy tôi sẽ lợi dụng cái giỏi của họ để lấn át nhà vua. Nếu dùng người bừa bãi thì công việc sẽ hỏng. Cho nên ông vua nếu thích người hiền thì bầy tôi sẽ tô vẽ hạnh kiểm của mình để làm vừa lòng nhà vua. Như vậy thì tình thực của bầy tôi sẽ không bày tỏ được. Tình thực của bầy tôi đã không bày tỏ được thì nhà vua không có cách gì phân biệt được bầy tôi.
 
Cho nên vua nước Việt thích dũng cảm mà dân nhiều người coi nhẹ cái chết. Linh Vương nước Sở thích người lưng eo mà trong nước có nhiều người nhịn đói chết. Hoàn Công nước Tề hay ghen và ưa đàn bà, cho nên Thụ Điêu tự hoạn mình để vào cung. Hoàn Công thích ăn ngon cho nên Dịch Nha nấu đầu con mình để dâng. Tử Khoái nước Yên thích người hiền cho nên Tử Chi bày cho ông ta không làm vua để nhường nước cho mình.
 
Cho nên khi nhà vua để lộ cái mình ghét thì cái bầy tôi che giấu cái xấu của họ. Khi nhà vua để lộ cái mình muốn thì bầy tôi khoe khoang tài năng của họ. Điều ham muốn của nhà vua đã lộ ra thì bầy tôi có dịp biểu hiện tình cảm và trạng thái của mình cho thích hợp. Vì vậy cho nên Tử Chi giả làm người hiền mà cướp được ngôi của nhà vua. Thụ Điêu, Dịch Nhà lợi dụng lòng ham muốn của nhà vua mà lấn được nhà vua. Kết quả là Tử Khoái chết vì nội loạn, Hoàn Công dòi bò ra ở xác chết chưa được chôn. Tại sao thế? Đó là vì nhà vua để bầy tôi lợi dụng tình cảm của mình. Tình thực của bầy tôi không phải nhất thiết có thể yêu vua mình, chẳng qua vì ham lợi mà thôi.
 
5. Nay nếu các ông vua không che giấu tình cảm, không giấu cái đầu mối, khiến cho bọn bầy tôi có thể lợi dụng để xâm lấn mình, thì bọn bầy tôi làm Tử Chi, Điền Thường không khó gì vậy. Cho nên nói: "Bỏ yêu bỏ ghét thì bầy tôi bộc lộ tình thực của họ; bầy tôi bộc lộ tình thực của họ thì nhà vua không bị che lấp".
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6339
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: HÀN PHI TỬ-HÀN PHI   HÀN PHI TỬ-HÀN PHI EmptyTue Oct 12, 2021 9:36 pm

Thiên VIII

 
 

                        Nêu cao uy quyền (Dương quyền)

 
 
                       
 
1. Trời có cái lẽ tự nhiên của nó, con người có cái lẽ tự nhiên của nó. Mùi thơm, vị ngon, rượu nồng, thịt béo làm ngon miệng nhưng sinh bệnh. Kẻ da mịn, răng trắng làm cho tình cảm thích nhưng hao phí tinh lực. Cho nên phải bỏ cái quá đáng, cái thái quá, thì thân mình mới khỏi bị hại.
Cái quyền không nên lộ ra, bản chất nó là vô vi; Công việc làm ở bốn phương nhưng then chốt là ở trung ương. Bậc thánh nhân nắm lấy cái chủ yếu bốn phương đến phục dịch. Mình hư tâm đối xử người ta tự họ thi hành. Bốn biển đã đầy đủ, do âm mà thấy dương, những người chung quanh đã xác lập xong, mở cửa để đón tiếp. Không thay không đổi, nắm lấy hai cái (hình và danh) để xét, xét mãi không thôi. Đó gọi là cách cai trị đúng đắn vậy.
 
Nói chung, sự vật đều có chỗ thích hợp của nó, của cải đều có chỗ dùng của nó, mỗi người đều ở vào chỗ đúng của mình, cho nên trên dưới vô vi. Khiến con gà gáy sáng, khiến con mèo bắt chuột, mọi vật đều dùng cái tài của nó thì người trên vô sự. Bề trên nếu có sở trường của mình thì công việc không làm tròn. Bề trên khoe và thích trổ tài thì bị cấp dưới lừa dối. Bề trên thích làm ân huệ và hiếu sinh thì người dưới sẽ lợi 
dụng cái đó. Nếu người trên kẻ dưới thay đổi vai trò của mình thì nước sẽ vì thế mà không trị an.
 
2. Cái đạo bất biến của việc cai trị là lấy cái danh (tên gọi) làm đầu. Cái danh đã chính thì sự vật được xác định. Cái danh là thiên lệch thì sự vật thay đổi.
 
Cho nên bậc thánh nhân nắm lấy cái duy nhất và giữ yên tĩnh, khiến cái danh tự nó ra lệnh, khiến sự việc tự nó được giải quyết. Nếu nhà vua không biểu lộ cái khéo léo của mình thì người dưới sẽ tỏ lòng ngay thực và đúng đắn. Nhà vua nhân đó mà dùng họ, khiến cho họ tự mình chọn việc. Nhân đó mà giao quyền cho họ khiến cho họ tự mình làm nhiệm vụ. Nhà vua lấy cái danh đó để cử họ. Nếu không biết cái danh thì theo dõi cái hình (tình hình thực tế). Nếu cái danh và cái hình đã phù hợp với nhau thì kết quả sẽ tự nó đến. Hai cái này đều thực đúng, thì người dưới sẽ bộc lộ tình thực của họ. Cẩn thận trau giồi công việc của mình 
cha mệnh ở trời, không bỏ mất cái chủ yếu, như thế mới là bậc thánh nhân.
 
Đạo của bậc thánh nhân là từ bỏ cái khôn ngoan và cái khéo léo. Nếu không bỏ cái khôn ngoan và cái khéo léo thì khó lòng giữ được cái nguyên lý bất biến. Nếu người dân dùng đến cái khôn ngoan và khéo léo thì thân sẽ bị điều tai ương. Nếu ông vua ở trên dùng đến cái khôn ngoan và khéo léo của mình thì nước sẽ nguy vong.
 
Dựa theo cái đạo của trời, theo cái danh mà xét sự thực, xem xét kỹ lưỡng điều đó. Cái gì có kết thúc thì có bắt đầu. Phải hư tâm, yên tĩnh, ở sau người ta, không bao giờ dùng cái khôn của mình. Nói chung, cái lo của người trên là ở chỗ mình hùa theo cái khôn của người ta. Giữ chữ tín nhưng không hùa theo người ta thì vạn dân đều theo mình.
3. Nói chung, đạo rộng lớn nhưng vô hình, đức thâm nhập vào tất cả mọi vật và phổ biến mọi nơi, đến tận mọi sinh vật. Nếu châm chước đạo và đức mà dùng thì muốn vật đều phồn thịnh, nhưng đạo và đức không cùng yên ổn với vạn vật. Đạo có mặt trong mọi việc cho nên phải theo đạo mà làm, sống và chết theo đúng thời. So sánh cái danh và cái thực, dùng pháp thuật để xét cái tình thực.
 
Cho nên nói: "Đạo không trùng làm một với vạn vật, đức không trùng làm một với âm dương, cái cân không trùng làm một với sự nặng nhẹ, dây mực không trùng làm một với chỗ lồi chỗ lõm, cái kèn nhỏ không trùng làm một với sự nhanh chậm, nhà vua không trùng làm một với bầy tôi". Cả sáu cái này đều do đạo mà ra. Đạo không có hai cho nên gọi nó là một.
 
Cho nên vị vua sáng lo lấy cái đạo làm nội dung. Vua và bầy tôi không cùng một đường. Kẻ dưới người trên phân loại theo cái danh. Nhà vua 
nắm lấy cái danh, bầy tôi làm ra sự thực (hình). Cái danh và sự thực phù hợp với nhau thì trên dưới hoà hợp.
 
4. Nói chung, đạo nghe người dưới là nghe những điều họ nói để xét những điều họ làm. Phải lấy cái danh để quy định địa vị, phân biệt rõ ràng các chức phận để quy định công việc. Cái đạo nghe người ta nói là làm ra vẻ ngây ngất như người say rượu. Răng ta, môi ta, ta không hé trước. Răng ta, môi ta, ta càng giữ yên. Như thế thì ta để cho họ tự nói trước. Ta nhân đó mà biết ý muốn của họ. Những lời phải những lời trái đến dồn dập, nhưng nhà vua không hùa theo. Hư tĩnh, vô vi là cái bản chất của đạo; tham khảo, đối chiếu sự vật là thực tế của công việc. Tham khảo để so sánh mọi vật, làm cho nó phù hợp với cái hư tâm. Nếu gốc và rễ không bỏ thì việc làm hay nghỉ ngơi đều không sai lầm. Hành động nhưng vẫn nhàn nhã, lấy cái vô vi để sửa chữa.
Nhà vua tỏ ra ham thích thì sinh ra lắm việc, nhà vua tỏ ra ghét thì sinh oán. Cho nên bỏ mừng, bỏ oán, giữ cái hư tâm để làm nơi ở của đạo.
 
Người trên không chia quyền với kẻ dưới thì dân sẽ yêu quý nhà vua. Nhà vua không bàn bạc với họ, khiến họ tự làm lấy một mình. Nhà vua giữ chắc lấy cái then cài ở bên trong, ngồi ở trong nhà mà nhìn ra ngoài sân thì sự khác nhau một gang một tấc đều sẽ thấy rõ ràng và biết rõ chỗ đứng của từng người. Người nào đáng thưởng thì thưởng, người nào đáng trị thì trị. Cứ dựa vào việc làm của họ, người nào cũng tự làm nên cái kết quả của mình. Việc phải việc trái đều đối xử thích đáng. Như vậy ai dám không tin? Một khi cái quy cái củ đã xác lập thì nhìn một góc cả ba góc kia đều lộ rõ.
 
5. Nếu ông vua ở trên không thần bí thì kẻ ở dưới sẽ có cách lợi dụng. Việc làm của nhà vua nếu không đúng thì kẻ ở dưới sẽ căn cứ vào cái nguyên lý bất biến (để sửa chữa). Như trời như đất cái đó gọi là xoá hết 
mọi điều lo lắng. Như đất như trời, có ai là kẻ sơ có ai là người thân đâu? Ai có thể bắt chước giống như trời đất, người ấy là bậc thánh nhân.
 
Muốn cai trị bên trong thì đặt người nhưng không thân với họ. Muốn trị bên ngoài thì mỗi việc đặt một chức quan, không cho họ tự tiện làm. Như thế làm sao có chuyện chuyên quyền lấn át kẻ khác được? Cửa các quan đại thần chỉ sợ có nhiều người. Nói chung, khi việc cai trị đến cực điểm thì người dưới không được có ân huệ riêng. Nếu làm cho cái sự thực (hình) phù hợp với tên gọi (danh) thì dân sẽ giữ chức vụ của mình. Nếu bỏ điều đó mà lại lo đến điều khác thì gọi là sự sai lầm lớn. Khi những bọn giảo hoạt nhan nhản thì bọn gian tà ở đầy bên cạnh mình. Cho nên nói: "Chớ làm cho người ta giàu đến mức họ cho vay. Chớ làm cho người ta sang đến mức họ ức hiếp. Chớ có tin riêng một người mà bỏ mất cái nước của mình".
Bắp chân lớn hơn đùi thì khó mà chạy nhanh. Ông vua bỏ mất cái thần bí của mình thì hổ nó theo đằng sau. Nếu nhà vua không biết thì con hổ sẽ làm con chó[11]. Nếu nhà vua không sớm ngăn chặn thì chó này sẽ nhiễu thêm không kể xiết. Khi hổ đã thành bầy rồi thì chúng sẽ giết vua.
 
Làm vua mà không có bầy tôi thì làm sao mà có nước được. Nhà vua thi hành pháp luật của mình thì hổ lớn sẽ khiếp. Nhà vua thi hành hình phạt của mình thì hổ lớn sẽ tự yên. Nếu pháp luật và hình phạt được tin theo thì hổ sẽ hoá thành người và trở về bản tính của con người.
 
Muốn cai trị một nước thì phải phạt những kẻ tụ họp nhau lại. Nếu không phạt nhưng kẻ tụ họp nhau lại, thì họ sẽ quá đông. Muốn cai trị đất của mình thì phải ban cấp cho đúng. Nếu cho không đúng thì những 
kẻ làm loạn sẽ đòi thêm. Họ đòi ta cho thế là ta trao búa cho kẻ thù. Nếu ta không thể cho họ thì họ sẽ lấy cái búa mà đánh ta.
 
Hoàng Đế có câu: "Người trên kẻ dưới một ngày đánh nhau một trăm trận". Người dưới che giấu cái riêng tư của mình, để thử bụng người trên. Người trên nắm lấy quyền cân nhắc xem xét để tước bớt quyền lực kẻ dưới. Cho nên lập phép cân nhắc đo lường đó là cái quý của nhà vua. Có bè có đảng, đó là cái quý của bầy tôi. Bầy tôi sở dĩ không giết ông vua của mình là vì bè đảng chưa đủ.
 
Cho nên người trên bỏ mất một tấc thì người dưới được lợi một tầm, một thường. Nhà vua có nước không mở rộng thủ đô mình. Bầy tôi có đạo, không làm cho gia đình mình sang. Ông vua có đạo không làm cho bầy tôi được sang. Làm cho nó sang, nó giàu, nó sẽ thay thế mình đấy. Phải phòng cái nguy phải lo cái gấp, phải nhanh nhanh lập thái tử, thì hoá mới không có cách nào xẩy ra.
6. Muốn xem xét bên trong, đề phòng bên ngoài thì thân mình phải nắm lấy sự cân nhắc. Ai dồi dào ta bớt đi. Ai ít ỏi ta thêm cho. Việc thêm hay bớt đều có mức độ, chớ khiến cho dân thành bè đảng, thông đồng nhau mà lừa gạt người trên. Hãy bớt đi như mặt trăng (cứ khuyết dần), hãy thêm vào như nhiệt độ (cứ lên dần trong ngày). Làm cho mệnh, lệnh đơn giản và cẩn thận trong việc trừng phạt. Sự trừng phạt phải dứt khoát. Chớ buông lỏng dây cung, nếu không, một cành sẽ có hai con chim trống. Một cành có hai con chim trống thì chúng sẽ đánh nhau mãi mãi. Chó sói ở trong chuồng dê thì dê sẽ không đông. Một nhà có hai người sang công việc sẽ không xong. Vợ chồng cùng cầm quyền thì con không biết theo ai.
 
7. Kẻ làm vua người ta phải thường năng tỉa cây, chớ để cho cây nhiều cành quá. Cây nhiều cành quá thì sẽ che mất nhà công.
Nhà riêng phồn thịnh, thì sân công sẽ trống rỗng, và nhà vua sẽ bị bưng bít bao vây. Phải năng tỉa cây, đừng để cho cành cây chĩa ra ngoài. Cành cây chĩa ra ngoài thì sẽ xâm phạm tới nơi ở của nhà vua. Phải năng tỉa cây, chớ để cho cành lớn mà gốc nhỏ. Cành lớn mà gốc nhỏ thì sẽ không chịu nổi gió xuân. Không chịu nổi gió xuân thì cành cây sẽ làm hại tới cái lõi của cây. Có nhiều công tử (con trai vua nhưng không phải là thái tử) thì tôn thất sẽ phải lo lắng.
 
Cái đạo chấm dứt mối lo này là năng tỉa cây, đừng để cho cành rậm rạp. Khi cây đã bị tỉa thì bè đảng sẽ lìa. Đào gốc rễ lên thì cái cây sẽ hết thần. Hãy lấp nguồn đi đừng để cho nước chảy tràn. Phải xét bụng bầy tôi, cướp uy quyền của họ. Nhà vua mà làm thế thì mệnh lệnh ban ra sẽ như sét như chớp vậy.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6339
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: HÀN PHI TỬ-HÀN PHI   HÀN PHI TỬ-HÀN PHI EmptyFri Oct 15, 2021 9:53 pm

Thiên IX

 
 

                        Tám đường gian dối (Bát gian)

 
 
1. Nói chung bầy tôi sở dĩ thành kẻ gian là có tám cách:
 
1) Một là cùng giường. Thế nào gọi là cùng giường? Thưa rằng: phu nhân được tôn quý, vua yêu những đứa con nhỏ, nuông những người thiếp có sắc đẹp. Họ khiến cho nhà vua bị mê hoặc. Họ lợi dụng lúc nhà vua rỗi rãi, vui chơi, nhân lúc cơm no rượu say để yêu cầu những điều họ muốn. Đó là cái thuật làm cho nhà vua thế nào cũng nghe theo. 
Những kẻ làm tôi, bên trong đút vàng ngọc cho họ để họ mê hoặc nhà vua. Cái đó gọi là cùng giường.
 
2) Hai là ở bên cạnh. Thế nào gọi là ở bên cạnh? Thưa rằng: bọn kép hát, bọn hề, bọn lùn, những người chung quanh gần gũi nhà vua. Bọn này nhà vua chưa ra lệnh thì đã vâng vâng, chưa sai khiến thì đã dạ dạ. Chúng đón ý, lựa chiều, ngắm nhìn sắc mặt mà đoán trước bụng nhà vua. Bọn này cùng tiến, cùng thôi, cùng đáp cùng đối như nhau, nói năng cùng theo một lối để làm thay đổi bụng nhà vua. Bọn bầy tôi, bên trong lấy vàng ngọc, đồ chơi cho chúng, bên ngoài thì vì chúng làm những điều trái phép để cho chúng thay đổi bụng nhà vua. Cái đó gọi là ở bên cạnh.
 
3) Ba là cha anh. Thế nào gọi là cha anh? Thưa rằng: các công tử con của các bà thiếp là những người được nhà vua yêu quý. Các quan đại thần và các quan lại ở triều đình là những người nhà vua cùng bàn bạc. 
Nếu những người này ra sức bàn thì nhà vua thế nào cũng phải nghe theo. Bọn làm tôi lấy âm nhạc, gái đẹp tha các công tử con các bà vợ bé, dùng lời nói mua lòng các quan đại thần và các quan lại ở triều đình, giao ước với nhau nói việc này việc nọ, nếu việc có kết quả thì các quan đại thần sẽ thêm bổng lộc chức tước để khuyến khích bụng họ, khiến họ can thiệp với nhà vua. Cái đó gọi là cha anh.
 
4) Bốn là nuôi tai hoạ. Thế nào gọi là nuôi tai hoạ? Thưa rằng: Nhà vua thích có cung thất đẹp, ao hồ, đài tạ đẹp, thích con trai con gái ăn mặc đẹp, thích chó ngựa để thoả lòng mình. Đó là cái tai hoạ của kẻ làm vua vậy.
 
Bọn bầy tôi dốc hết sức lực của dân để làm cung thất, ao hồ, đài tạ đẹp, đánh thuế nặng để cho con trai, con gái, chó ngựa trang sức đẹp đặng làm thoả lòng nhà vua và làm hỏng cái tâm của nhà vua. Họ cứ làm theo ham muốn của nhà vua để nhờ đó mưu lợi riêng của họ. Cái đó gọi là nuôi tai hoạ.
 
5) Năm là bọn lưu manh. Thế nào gọi là bọn lưu manh? Xin thưa: Kẻ làm tôi phân tán tài sản nhà nước để lấy lòng dân chúng, thi hành ân đức nhỏ để thu phục trăm họ. Khiến cho triều đình, chợ búa đều khen ngợi họ, để che mắt nhà vua và thực hiện điều họ muốn. Cái đó gọi là bọn lưu manh.
 
6) Sáu là du thuyết. Thế nào gọi là du thuyết? Xin thưa: Kẻ làm vua vốn đã bị che đậy trong việc nói năng bàn luận, ít khi nghe bàn luận cho nên dễ bị những lời du thuyết lôi cuốn. Những bọn làm tôi tìm những biện sĩ ở các nước chư hầu, nuôi những người giỏi nói ở trong nước, khiến bọn này nói chuyện riêng của mình, dùng lời khéo léo để tô vẽ, nói năng lưu loát làm cho nhà vua thấy cái thế có lợi, lấy điều lo lắng 
tai hoạ để đe doạ nhà vua, dùng những lời nói suông để làm hại nhà vua. Cái đó gọi là du thuyết.
 
7) Thứ bảy gọi là cưỡng ép. Tại sao gọi là cưỡng ép? Thưa rằng: Nhà vua lấy trăm họ và các quan làm uy lực của mình. Các quan và trăm họ thích cái gì thì nhà vua cũng thích cái đó. Cái gì các quan và trăm họ không thích thì nhà vua cũng cho là không thích. Bọn làm tôi, tụ tập những kẻ đeo gươm, nuôi những kẻ sĩ liều chết để nêu cái uy của họ, nêu rõ ai theo họ thì có lợi, ai không theo họ thì thế nào cũng chết để đe doạ các quan, trăm họ và thi hành điều riêng tư của họ. Cái đó gọi là cưỡng ép.
 
Cool Thứ tám là bốn phương. Thế nào gọi là bốn phương? Thưa rằng: Kẻ làm vua nước nhỏ thì phải thờ nước lớn, quân đội yếu thì sợ quân đội mạnh. Nước lớn đòi điều gì thì nước nhỏ phải nghe theo, quân đội mạnh đòi điều gì thì quân đội yếu phải nghe theo.
Kẻ làm bầy tôi đánh thuế nặng, vơ vét kho lúa kho tiền, lấy hết của cải trong nước để thờ nước lớn. Rồi lại lợi dụng cái uy của nước lớn để dụ dỗ nhà vua. Người làm dữ thì xin nước lớn cử binh đóng ở biên giới để khống chế ở trong nước. Kẻ làm nhẹ thì năng dùng sứ thần của nước lớn để đe doạ vua của mình. Cái đó gọi là bốn phương.
 
Tất cả tám cách trên đây là những điều khiến cho bầy tôi trở thành kẻ gian, và nhà vua bị che đậy, bị cướp đoạt, mất cái mình có. Nhà vua không thể không xét đến những điều đó.
 
2. Vị vua sáng ở bên trong vui vẻ sắc đẹp, nhưng không nghe lời xin xỏ, không làm theo lời cầu xin. Đối với bọn chung quanh, khi sai khiến thì thế nào cũng căn cứ vào những lời họ nói để kiểm tra, không cho nói nhiều lời. Đối với cha anh và các quan đại thần thì khi nghe lời thế nào 
cũng khiến cho họ chịu trách nhiệm về kết quả sau này, không cho phép họ cử người bừa bãi. Đối với những trò vui chơi giải trí thì khiến cho nó đưa ra có căn cứ, không cho phép tự tiện đưa đến hay tự tiện cất đi để bầy tôi đoán được ý nhà vua. Đối với việc thi hành ân đức, phát của phát thóc trong kho để làm lợi cho dân thì nhất thiết phải là do nhà vua làm không để cho bầy tôi thi hành ân đức riêng. Đối với việc bàn bạc thì nhà vua xem xét năng lực, khảo sát lỗi lầm những người được người ta khen và những người bị người ta chê, không để cho bầy tôi nói tốt hay nói xấu nhau. Đối với những kẻ sĩ dũng cảm và có sức mạnh, nếu họ có công trong quân lữ thì không thưởng vượt bậc, còn nếu họ đánh nhau trong làng xóm thì trừng trị không tha. Không để cho bầy tôi làm thành của riêng của mình. Đối với những yêu sách của chư hầu, cái nào hợp với pháp luật thì nghe, cái nào không hợp với pháp luật thì cự tuyệt.
 
3. Gọi là ông vua mất nước không phải là ông ta không có nước, mà đó là tuy có nước nhưng nước không phải là nước của ông ta. Khi bầy tôi 
lấy áp lực bên ngoài để chi phối bên trong thì lúc đó ông vua đã là ông vua mất nước rồi. Nếu cho rằng nước lớn là chỗ dựa vào để cứu cảnh mất nước thì cảnh mất nước còn đến-nhanh hơn là không nghe lời nước lớn.
 
Cho nên không nghe lời nước lớn. Bầy tôi biết nhà vua không nghe thì không liên hệ với chư hầu bên ngoài. Chư hầu biết nhà vua không nghe thì sẽ không nghe theo lời những bầy tôi vu cáo nhà vua.
 
4. Bậc vua sáng đặt ra các quan chức, tước lộ là để tiến cử người tài giỏi và khuyến khích kẻ có công. Cho nên nói: "Người tài giỏi thì được bổng lộc hậu và làm quan to, người có công lớn thì được giao chức cao và được trọng thưởng". Bổ nhiệm người tài giỏi làm quan thì cân nhắc tài năng, ban lộc thì xứng với công lao. Cho nên người tài giỏi sẽ không giả mạo tài năng để thờ vua, người có công hăng hái xúc tiến sự nghiệp của mình. Kết quả công việc thành, công lao nên.
Ngày nay thì không thế. Nhà vua không xét người hay kẻ dở. Bàn đến kẻ có công thì dùng những người được chư hầu trọng vọng, nghe những lời xin xỏ chung quanh. Các cha anh, và các quan đại thần trên xin vua ban tước lộc, dưới bán cái tước lộc ấy để kiếm của cải, lợi lộc và lập bè đảng riêng. Kết quả là kẻ có nhiều tiền thì mua chức quan cho sang, kẻ giao thiệp với những người ở chung quanh nhà vua thì xin ơn huệ để được trọng. Bầy tôi có công không được nói đến, việc bổ nhiệm chức quan sai lầm. Do đó, quan lại bỏ chức quan của mình để giao thiệp với nước ngoài, bỏ công việc để tham của cải.
 
Vì vậy cho nên người tài giỏi đều lười biếng mà không được khuyến khích, người có công chán mà bỏ công việc. Đó là cái tình cảnh của nước suy vong vậy.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6339
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: HÀN PHI TỬ-HÀN PHI   HÀN PHI TỬ-HÀN PHI EmptyMon Oct 18, 2021 10:24 pm

Thiên X

 
 

                        Mười điều quấy (Thập quá)

 
 
Mười điều quấy là: Một là, làm điều trung nhỏ tức là làm hại đến điều trung lớn. Hai là, ham lợi nhỏ tức là hại đến lợi lớn. Ba là, làm điều sai trái theo ý riêng của mình, vô lễ với chư hầu, tức là thân mình sắp mất. Bốn là, không lo nghe đến việc cai trị mà thích âm nhạc, tức là thân mình sẽ bị nguy khốn. Năm là, tham lam, thích lợi tức là cái gốc của việc thân chết nước mất. Sáu là, say mê nữ nhạc, không đoái hoài đến chính sự trong nước, tức là cái hoạ mất nước. Bảy là, bỏ cung điện đi chơi xa không nghe lời can gián, tức là con đường làm cho thân mình bị 
nguy. Tám là, đã sai rồi nhưng không nghe lời người tôi trung, cứ độc làm theo ý mình, tức là cái đầu mối làm cho danh cao bị mất và bị thiên hạ chê cười. Chín là, bên trong không lượng sức mình, bên ngoài cậy vào chư hầu, tức là cái hoạ nước bị chia cắt. Mười là, nước nhỏ mà vô lễ không nghe những vị thần can ngăn, tức là tình trạng dòng dõi bị diệt vậy.
 
1. Thế nào gọi là điều trung nhỏ?
 
Ngày xưa Cung Vương nước Sở đánh nhau với Lệ Vương nước Tấn ở Yên Lăng. Quân nước Sở thua, Cung Vương bị thương ở mắt.
 
Trong lúc chiến đấu đang hăng, quan tư mã là Tử Phản khát nước, đòi uống. Tên lính hầu Cốc Dương đưa cho ông ta một chén rượu. Tử Phản 
nói: "Ôi chao! Thôi ngay, rượu đấy mà". Cốc Dương thưa: "Không phải rượu đâu". Tử Phản nhận lấy mà uống.
 
Tử Phản vốn là người ham rượu nên thích, uống mãi không thôi, nên say vùi.
 
Chiến đấu xong, Cung Vương lại muốn chiến đấu nữa, sai người triệu quan tư mã Từ Phản. Tư mã Tử Phản viện cớ đau tim, từ chối. Cung Vương thân hành đi xe ngựa đến bước vào trong màn, ngửi thấy mùi rượu nồng nặc trở về nói: "Trong trận chiến đấu hôm nay quả nhân bị thương, người nhờ cậy là quan tư mã. Nhưng quan tư mã lại say như thế, thế là làm mất xã tắc nước Sở mà không thương xót đến dân ta. Ta không muốn chiến đấu nữa".
Bèn thu binh về chém quan tư mã Tử Phản để trừng phạt. Cho nên tên lính hầu Cốc Dương dâng rượu không phải là vì thù Tử Phàn. Nhưng cái bụng trung yêu nhỏ nhặt của anh ta là đủ giết chết Tử Phản, cho nên nói: Cái trung nhỏ thì làm hại đến cái trung lớn vậy.
 
2. Thế nào gọi là ham cái lợi nhỏ?
 
Ngày xưa vua Hiến Công nước Tấn muốn mượn đường nước Ngu để đánh nước Quắc. Tuân Tức nói:
 
"Bệ hạ hãy lấy ngọc bích Thuỳ Cức và cỗ xe ngựa Khuất Sản đút cho vua nước Ngu để xin mượn đường. Thế nào ông ta cũng sẽ cho mượn đường",
Nhà vua bảo: "Ngọc bích Thuỳ Cức là vật báu của đức tiên quân ta. Ngựa đất Khuất Sản là con tuấn mã của ta. Nếu họ lấy vật tặng của ta mà không cho mượn đường thì thế nào?". Tuân Tức thưa: "Nếu họ không cho ta mượn đường thì nhất định không dám nhận quà tặng của ta. Còn nếu như họ nhận quà tặng của ta mà cho ta mượn đường thì vật báu của ta cũng như là lấy ở cái kho bên trong rồi cất ở cái kho bên ngoài, và ngựa quý của ta cũng như lấy ở tàu ngựa bên trong rồi nhốt ở tàu ngựa bên ngoài mà thôi. Xin bệ hạ chớ lo". Nhà vua nói: "Phải".
 
Bèn sai Tuân Tức lấy ngọc bích Thuỳ Cức và cỗ xe ngựa Khuất Sản đút lót cho vua nước Ngu để mượn đường. Ngu Công tham ngọc bích, và con ngựa muốn nghe theo.
 
Cung Chi Kỳ can: "Không thể cho mượn. Nước Ngu có nước Quắc cũng như xe có bánh xe.     Bánh xe dựa vào xe, nhưng xe cũng dựa vào bánh xe. Tình thế của nước Ngu và nước Quắc là như thế.
 
Nếu như cho họ mượn đường thì nước Quắc mất buổi sáng là nước Ngu mất buổi chiều. Không thể được. Xin đừng cho".
 
Vua nước Ngu không nghe, bèn cho nước Tấn mượn đường. Tuân Tức đánh nước Quắc xong, kéo quân về.
 
Được ba năm, đem quân đánh nước Ngu và lấy nước ấy. Tuân Tức đem ngựa và ngọc bích về trao lại cho Hiến Công. Hiến Công vui và nói: "Ngọc bích vẫn hệt như xưa, nhưng răng ngựa thì có dài hơn”.
 
Tại sao quân Ngu Công lại thua và đất lại bị cướp? Vì ông ta ham cái lợi nhỏ mà không nghĩ đến cái hại lớn. Cho nên nói: Ham cái lợi nhỏ là hại đến cái lợi lớn vậy.
3. Thế nào gọi là làm điều sai trái?
 
Ngày xưa Linh Vương nước Sở hội họp chư hầu ở đất Thân. Thái tử nước Tống đến sau, nhà vua bắt cầm tù. Sau đó ông ta lại khinh rẻ vua nước Từ và bắt giữ Khánh Phong nước Tề.
 
Quan trung xạ sĩ nói: "Hội họp chư hầu không nên vô lễ, đó là then chốt của sự tồn vong. Ngày xưa vua Kiệt họp ở Hữu Nhung mà Hữu Mân làm phản. Vua Trụ tổ chức cuộc đi săn mùa xuân ở Lê Khâu mà người Nhung, người Địch làm phản. Đó là vì vô lễ. Xin bệ hạ nghĩ cho". Nhà vua không nghe, vẫn làm theo ý mình. Chưa được chẵn một năm, Linh Vương đi chơi phía nam, bọn bầy tôi đi theo ức hiếp nhà vua bắt ông ta bị chết đói ở trên sông Càn Khê.
Cho nên nói: "Làm điều sai trái theo ý riêng của mình, vô lễ với chư hầu tức là thân mình sắp mất đấy".
 
4. Thế nào gọi là thích âm nhạc?
 
Ngày xưa vua Linh Công nước Vệ sắp sang nước Tấn, đến sông Bộc Thuỷ thì mở xe, thả ngựa, lập trại để nghỉ. Nửa đêm, nghe gẩy một điệu nhạc mới lấy làm thích.
 
Sai hỏi những người chung quanh. Tất cả đều nói là không nghe. Bèn gọi Sư Quyên đến hỏi: ”Có người gảy bản nhạc mới, ta cho người hỏi những người chung quanh, thì đều bảo là không nghe. Tình trạng có vẻ 
như là quỷ thần. Nhà người hãy vì ta nghe và chép lại". Sư Quyên đáp: "Xin vâng". Bèn ngồi yên lặng, ôm đàn cầm để đánh lại điệu nhạc.
 
Sáng hôm sau Sư Quyên nói: "Thần đã học được nhưng chưa tập quen. Xin ở lại một đêm nữa để tập". Linh Công nói: "Được". Nhân đó ở lại thêm một đêm. Hôm sau tập xong, bèn sang nước Tấn.
 
Tấn Bình Công bày tiệc rượu ở đài Thi Di. Rượu say, Linh Công đứng dậy nói: "Có một điệu nhạc mới, xin gẩy để nghe".
 
Bình Công nói: "Hay lắm". Linh Công bèn cho gọi Sư Quyên đến, cho ngồi cạnh Sư Khoáng. Sư Quyên cầm đàn gẩy lên. Gẩy chưa xong, Sư Khoáng chặn lại bảo; "Đó là cái âm thanh mất nước, không thể nghe hết!". Bình Công nói: "Bàn nhạc này ở đâu ra?". Sư Khoáng thưa: "Đó 
là bản nhạc do Sư Diên làm ra để cho vua Trụ chơi bời phóng túng. Đến khi vua Vũ Vương phạt Trụ, Sư Diên chạy về phía đông, đến sông Bộc Thuỷ thì gieo mình xuống nước. Cho nên nghe bản nhạc này thì nhất định là ở trên sông Bộc Thuỷ. Người nào nghe bản nhạc này trước thì thế nào nước cũng bị mất. Không thể nghe trọn". Bình Công nói: "Quả nhân chí thích có âm nhạc. Ông cứ bảo ông ta đàn cho hết". Sư Quyên gảy hết bản nhạc.
 
Bình Công hỏi Sư Khoáng: "Bản nhạc này gọi là gì?". Sư Khoáng nói: "Đó là bản Thanh Thương". Bình Công hỏi: "Có phải bản Thanh Thương là bàn nhạc buồn nhất không?". Sư Khoáng đáp: "Không buồn bằng bản Thanh Chuỷ ". Bình Công nói: "Ta có thể nghe bản Thanh Chuỷ được không?". Sư Khoáng thưa: "Không thể được. Ngày xưa những người nghe bản Thanh Chuỷ đều là những ông vua có đức có nghĩa. Nay bệ hạ đức nghĩa mỏng, không đủ để nghe". Bình Công bảo: "Quả nhân chỉ thích có âm nhạc, muốn thử nghe xem". Sư Khoáng bất đắc dĩ cầm đàn cầm gảy.
Vừa mới gảy một khúc đã có hai lần tám con hạc đen từ phương nam đến đậu ở nóc cửa cung. Gảy xong hai khúc thì chúng sắp thành hàng, gảy ba khúc thì chúng vươn dài cổ lên mà kêu, vỗ cánh mà múa, âm thanh hợp với điệu cung, điệu thương, tiếng vang lên trời. Bình Công cả mừng, cử toạ đều thích.
 
Bình Công cầm chén rượu đứng lên chúc thọ Sư Khoáng rồi lại ngồi xuống và hỏi: "Có bản nhạc nào buồn hơn bản Thanh Chuỷ không?". Sư Khoáng đáp: "Chưa hàng bản Thanh Giốc". Bình Công hói: "Có thể nghe được bản Thanh Giốc không?". Sư Khoáng thưa: "Không thể được. Ngày xưa Hoàng Đế hội họp quỷ thần ở trên núi Thái Sơn. Đi chiếc xe ngà do sáu con giao long kéo. Thần Tất Phương đi đầu đẩy trục xe Xi Vưu đi trước, thần gió quét phía trước, thần mưa rưới đường, hổ, sói đi trước, quỷ thần theo sau. Rồng nằm dưới đất, phượng hoàng phù lên trên. Trong buổi hội họp lớn, các quỷ thần làm ra bản Thanh 
Giốc. Nay bệ hạ đức mỏng, không đủ để nghe. Nghe nó sợ có điều hại vong". Bình Công nói: "Quả nhân già rồi, chỉ thích có âm nhạc mà thôi. Chỉ mong được nghe nốt". Sư Khoáng bất đắc dĩ phải gảy.
 
Mới gảy một khúc đã có một đám mây đen từ phía tây bắc kéo đến. Gảy khúc thì hai, gió lớn nổi lên, xé toang màn trướng, làm vỡ chén đĩa, làm rớt ngói ở hành lang. Những người ngồi bỏ chạy tán loạn. Bình Công sợ hãi, nằm nép ở căn phòng của hành lang.
 
Nước Tấn bị đại hạn, đất đỏ ba năm. Tấn Bình Công bị bệnh năng. Cho nên nói: "Không lo chính sự mà thích âm nhạc mãi, thì thân mình sẽ nguy khốn".
 
5. Thế nào gọi là tham lam bướng bỉnh?
Ngày xưa Trí Bá Dao cầm đầu các họ Triệu Nguỵ, Hàn đánh họ Phạm và họ Trung Hàng, và diệt hai họ này. Sau khi trở về. Trí Bá nghỉ binh vài năm rồi lại sai người đòi đất nước Hàn.
 
Hàn Khương Tử muốn không cho. Đoàn Quy can rằng: "Không thể không cho, Trí Bá là con người ham lợi và kiêu ngạo, bướng bỉnh. Ông ta cho người đến xin đất mà ta không cho thì thế nào ông ta cũng đem binh đánh nước Hàn. Xin bệ hạ cứ cho. Ông ta được cho quen thói, sẽ đòi đất nước khác. Nước khác nếu có kẻ không nghe thì thế nào Trí Bá cũng đem quân đánh. Như vậy, nước Hàn sẽ tránh được mối lo để đợi tình hình biến đổi". Khương Tử nói: "Phải". Bèn sai sứ giả đưa cho Trí Bá một huyện có vạn nhà.
Trí Bá lại sai người đòi đất nước Nguỵ. Nguỵ Tuyên Tử định không cho.
 
Triệu Đoạn Can nói: "Ông ta đòi đất nước Hàn, nước Hàn cho. Nay ông ta đòi đất nước Nguỵ, mà nước Nguỵ không cho. Như vậy là nước Nguỵ cậy cái thế mạnh bên trong nhưng bên ngoài làm cho Trí Bá giận. Nếu ta không cho thế nào ông ta cũng đem binh đến đánh nước Nguỵ ". Tuyên Tử nói: "Phải". Bèn sai người dâng cho Trí Bá một huyện có vạn nóc nhà.
 
Trí Bá lại sai người sang nước Triệu xin đắt Thái và đất Cao Lang.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6339
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: HÀN PHI TỬ-HÀN PHI   HÀN PHI TỬ-HÀN PHI EmptyWed Oct 20, 2021 6:23 am

Triệu Tương Tử không cho. Trí Bá ngầm ước hẹn với nước Hàn và nước Nguỵ để cùng nhau đánh nước Triệu. Tương Tử mời Trương 
Mạnh Đàm đến, bảo ông ta: "Trí Bá là người bên ngoài tử tế nhưng bên trong độc ác. Đã ba lần sai sứ giả đến Hàn, Nguỵ thế mà quả nhân không cho ông ta đất. Thế nào ông ta cũng sẽ đem quân đến đánh quả nhân. Nay ta nên ở đâu cho yên? . Trương Mạnh Đàm nói: "Đổng Ư Vu là một bầy tôi giỏi của Triệu Giản Chủ. Ông ta cai trị thành Tấn Dương. Doãn Đặc lại noi theo gương ông ta, giáo hoá sót lại của ông ta vẫn còn. Bệ hạ chỉ nên ở Tấn Dương mà thôi". Nhà vua nói: "Phải".
 
Bèn cho gọi Diên Lăng Sinh đến, sai đem quân xe, quân kỵ đến Tấn Dương trước, nhà vua nhân đó đi theo. Nhà vua thân hành đi kiểm tra thành quách và các kho của năm vị quan coi kho thì thấy thành quách không sửa sang, kho lúa không tích trữ thóc, kho tiền không tích trữ tiền, kho vũ khí không có áo giáp và vũ khí, trong ấp không có đồ để bảo vệ.
Tương Tử sợ, bèn gọi Trương Mạnh Đàm đến nói: "Quả nhân thân hành đi xem thành quách và vật chứa chất trong năm kho, thấy đều không chuẩn bị đầy đủ. Ta biết lấy gì để đối phó với quân địch". Trương Mạnh Đàm thưa: "Thần nghe nói cái trị của bậc thánh nhân là giấu ở dân không giấu ở kho lúa, kho tiền, lo trau giồi việc giáo hoá chứ không lo sửa sang thành quách. Xin bệ hạ cứ ra lệnh, bảo dân giữ thức ăn ba năm, thóc thừa thì đưa vào kho thóc, tiền thừa ra thì đưa vào kho tiền, còn những người nào rỗi rãi thì sai sửa sang thành quách".
 
Nhà vua ra lệnh buổi chiều hôm trước thì sáng hôm sau kho lúa không còn chỗ để chứa thóc, kho tiền không còn chỗ để chứa tiền, kho vũ khí không còn chỗ để chứa áo giáp và vũ khí. Trong vòng năm ngày thành quách đã sửa xong, việc phòng bị đã đầy dù.
 
Nhà vua sai gọi Triệu Mạnh Đàm đến hỏi: "Thành quách ta đã sửa sang xong, việc phòng bị đã có đủ, tiền và thóc đã có đầy, áo giáp và binh 
khí có thừa. Nhưng ta chưa có tên bắn thì làm thế nào?" Trương Mạnh Đàm nói: "Thần nghe nói họ Đổng khi cai trị thành Tấn Dương, tường các nhà công đều trồng lau, sậy, cây sở để làm hàng rào. Có cây cao đã một trượng. Bệ hạ cứ chặt mà dùng". Bèn sai chặt và làm thử thì thấy tên tre cũng không thể cứng hơn.
 
Nhà vua nói: "Tên của ta đã đủ rồi, nhưng không có kim loại thì làm thế nào?". Trương Mạnh Đàm nói: "Thần nghe nói Đồng Tử cai trị thành Tấn Dương, các ngôi nhà công và cung điện đều lấy đồng làm cột trụ, làm đế cột. Bệ hạ cứ lấy những cột này mà dùng". Bèn lấy ra mà dùng thì kim loại có thừa.
 
Hiệu lệnh đã ban ra, sự phòng bị đã đầy đủ, quân đội ba nước kéo đến. Vừa đến, họ liền xông đến thành Tấn Dương. Cuộc chiến đấu diễn ra. Đánh ba tháng mà vẫn không lấy được thành.
Ba nước bèn dàn quân ra để bao vây, khơi nước sông Tấn Dương cho chảy vào thành, vây thành Tấn Dương ba năm, người Tấn Dương làm lỗ trên cây mà ở, treo nồi để nấu ăn. Thức ăn sắp hết, các kẻ sĩ và các quan đại phu bị bệnh, ốm yếu.
 
Triệu Tương Tử nói với Trương Mạnh Đàm: "Lương thực thiếu, tài sản sức lực hết, kẻ sĩ và các đại phu bệnh tật mệt mỏi, ta sợ không thể giữ được. Muốn nộp thành để hàng thì nên nộp thành và hàng nước nào?". Trương Mạnh Đàm thưa: “Thần nghe nói: "Kẻ mất thì không thể bảo tồn, đã nguy thì không thể yên ổn, như thế không thể coi sự khôn ngoan làm quý nữa. Xin bệ hạ bỏ cái kế ấy đi. Thần xin thì lẻn lội nước ra ngoài yết kiến vua Hàn và vua Nguỵ ".
 
Trương Mạnh Đàm yết kiến vua Hàn và vua Nguỵ và nói: "Thần nghe nói: Môi hở răng lạnh. Nay Trí Bá chỉ huy hai nhà vua để đánh nước Triệu, nước Triệu sắp mất. Nước Triệu mất thì đến lượt hai ngài đấy". Hai ông vua nói: "Ta vẫn biết thế. Nhưng Trí Bá là con người hay ngờ vực mà ít thân ai. Mưu của ta mà lộ ra thì cái hoạ thể nào cũng đến. Nên làm thế nào?". Trương Mạnh Đàm nói: "Cái mưu là thốt ra từ miệng của hai ngài và lọt vào tai của thần, không ai biết điều đó". Hai ông vua bèn cùng Trương Mạnh Đàm ước hẹn ba quân làm phản, định ngày khởi sự. Ban đêm cho Trương Mạnh Đàm vào thành Tấn Dương để báo tin cho Tương Tử biết hai ông vua làm phản. Tương Tử đón Mạnh Đàm, lạy hai lạy, vừa lo vừa mừng.
 
Hai ông vua đã ước hẹn với Trương Mạnh Đàm, nhân chầu Trí Bá ra về, gặp Trí Quá ở ngoài cửa doanh trại. Trí Quá thấy sắc mặt hai người, lấy làm lạ, bèn đến yết kiến Trí Bá nói: "Hai nhà vua có vẻ , như sắp gây biến". Trí Bá hỏi: "Như thế nào ?". Trí Quá nói: "Hai người đi nghênh ngang và ý vênh vang, không phải dè dặt như trước đây. Bệ hạ 
phải ra tay trước đi". Trí Bá nói: "Ta cùng hai ông vua giao ước cẩn thận, lấy được nước Triệu thì chia ba nước này, quả nhân thân với họ, chắc chắn họ không lừa dối quả nhân. Quân đội đã đến Tấn Dương ba năm nay, hôm nay sáng chiều sẽ lấy được thành để hưởng lợi, lẽ nào họ có bụng dạ khác. Chắc không phải thế. Nhà ngươi đừng lo, cũng đừng nói ra miệng".
 
Sáng hôm sau, hai ông vua lại đến chầu rồi đi ra, lại gặp Trí Quá ở cửa quân doanh, Trí Quá vào yết kiến Trí Bá nói: "Bệ hạ đã đem lời của thần nói với hai ông vua rồi chăng?". Trí Bá hỏi: "Tại sao ông biết?". Trí Quá đáp: "Hôm nay hai ông vua vào chầu rồi đi ra, thấy thần, vẻ mặt họ thay đổi, mắt nhìn thần chăm chú. Thế nào cũng có biến đây! Không bằng bệ hạ giết họ đi”. Trí Bá nói: "Xin ông để mặc đừng nói nữa". Trí Quá nói: "Không được. Bệ hạ phải giết họ. Nếu như không thể nào giết họ thì phải thân với họ". Trí Bá nói: "Thân với họ bằng cách nào?". Trí Quá nói: "Mưu thần của Nguỵ Tuyên Tử là Triệu Đoan, mưu thần của Hàn Khương Tử là Đoàn Quy. Đó đều là những người có 
thể thay đổi cái kế của vua họ. Bệ hạ hãy cùng hai ông vua kia ước hẹn; nếu lấy được nước Triệu thì phong cho hai ông này mỗi người một huyện có vạn ngôi nhà. Như vậy thì bụng của hai ông vua có thể không thay đổi". Trí Bá nói: "Phá nước Triệu để chia nước làm ba, rồi lại phong cho hai ông kia mỗi người một huyện có vạn ngôi nhà, thế thì phần ta có được quá ít. Không được".
 
Trí Quá thấy lời nói của mình không được nghe, bỏ đi, nhân đấy đổi họ mình thành họ Phụ.
 
Đến đêm ước hẹn, họ Triệu giết người giữ đê của mình, dẫn nước làm ngập quân đội của Trí Bá. Quân đội Trí Bá lo cứu nước mà thành rối loạn. Nước Hàn và nước Nguỵ thừa cơ đánh thọc vào hai bên sườn, Tương Tử dẫn quân đánh mặt trước, đánh quân Trí Bá thua to, và bắt Trí Bá. Trí Bá thân chết, quân bị phá, nước chia làm ba, bị thiên hạ 
cười. Cho nên nói: Tham lam bướng bỉnh thích lợi đó là cái gốc của việc mất nước hại thân mình.
 
6. Thế nào gọi là ham mê nữ nhạc?
 
Ngày xưa, vua Nhung sai Do Dư đến triều cống nước Tần. Tần Mục Công hỏi ông ta: "Quả nhân thường nghe nói đạo nhưng chưa được nhìn thấy tận mắt, muốn nghe nói các bậc vua sáng ngày xưa được nước, mất nước là căn cứ vào đâu?". Do Dư đáp: "Thần thường được nghe: hễ cần kiệm thì được, hễ xa xỉ thì mất". Mục Công hỏi: "Quả nhân đã không ngại xấu hổ hỏi ông về đạo, ông lại nói đến chuyện cần kiệm là tại làm sao?". Do Dư đáp: "Thần nghe ngày xưa, Nghiêu có được thiên hạ, ăn trong bát đất, uống trong chén đất. Đất đai phía nam đến Giao Chỉ, phía bắc đến u Đô, phía đông và phía tây đến chỗ mặt trời mặt trăng mọc và lặn. Không ai không thần phục. Nghiêu nhường thiên hạ. Ngu Thuấn nhận lấy, làm đồ để ăn, đẵn cây trên núi, rồi cưa 
bào cho trơn, lấy sơn và mực bôi lên, rồi đưa vào cung để làm vật đựng thức ăn. Chư hầu cho đó là xa xỉ, có mười ba nước không phục. Vua Thuấn nhường thiên hạ cho Hạ Vũ. Hạ Vũ làm đồ tế tự bên ngoài sơn đen, bên trong sơn đỏ, gối làm bằng lụa trắng, chiếu cói có viền, chén và bình rượu có màu, chén rượu và mâm có trang sức, như thế lại càng xa xỉ. Có ba mươi ba nước không phục theo. Nhà Hạ mất đi, nhà Ân nối tiếp. Làm xe lớn, dựng lá cờ có chín tua, những đồ đựng thức ăn, chén rượu và bình có chạm trổ, bốn bức vách có sơn trắng, gối, chiếu vẽ hoa văn, như thế lại càng xa xỉ. Và có đến năm mươi ba nước không phục. Những người quân tử đều biết văn vẻ thì số người phục theo càng ít. Cho nên thần nói cần kiệm là đạo vậy".
 
Do Dư đi ra, Mục Công cho mời quan nội sử là Liêu đến và kể lại, nói: "Quả nhân nghe nói nước láng giềng có bậc thánh nhân thì đó là mốt lo cho nước địch. Nay Do Dư là bậc thánh nhân, quả nhân lo lắng, quả nhân nên làm như thế nào?". Quan nội sử Liêu nói: "Thần nghe nói chỗ ở của vua Nhung héo lánh, xa xôi chưa từng nghe nhạc Trung Quốc, 
xin bệ hạ đem nữ nhạc đến cho ông ta để làm rối loạn chính sự, sau đó xin hoãn ngày về của Do Dư để cho Do Dư đỡ can ngăn. Vua tôi họ có chỗ hở thì sau đó mới có thể tính chuyện được”. Mục Công nói: "Phải".
 
Bèn sai nội sử Liên đem hai đoàn nữ nhạc mỗi đoàn tám người tặng cho vua Nhung, nhân đấy xin hoãn ngày về của Do Dư. Vua Nhung ưng thuận.
 
Vua Nhung thấy nữ nhạc thì thích, đặt tiệc rượu uống mãi, ngày thì nghe nhạc, suốt năm không rời, bỏ ngựa chết mất một nửa. Do Dư trở về, nhân đấy can ngăn vua Nhung, vua Nhung không nghe. Do Dư bèn bỏ sang nước Tần. Tần Mục Công đón và cho làm thượng khanh. Hỏi ông ta về quân đội, tình thế và địa hình.
Sau khi đã biết rõ, đem quân đánh nước Nhung, chiếm mười hai nước, mở đất ngàn dặm. Cho nên nói: ham mê nữ nhạc không đoái hoài đến chính sự trong nước đó là cái hoạ mất nước vậy.
 
7. Thế nào gọi là bỏ cung điện đi chơi xa?
 
Ngày xưa Điền Thành Tử đi chơi ngoài biển, rất thích, ra lệnh cho các quan đại phu nói: "Ai nói chuyện về thì chết". Nhan Trọc Tụ nói: "Bệ hạ chơi ngoài biển và thích, nếu có bầy tôi mưu cướp nước thì thế nào? Bệ hạ dù vui điều này nhưng làm sao còn vui được nữa?". Điền Thành Tử nói: "Quả nhân đã ra lệnh nói: "Ai nói đến chuyện về thì chết", nay nhà người phạm lệnh quả nhân". Bèn cầm giáo định đâm. Nhan Trọc Tự nói: "Ngày xưa vua Kiệt giết Quan Long Bàng và vua Trụ giết Tỷ Can, nay bệ hạ giết cái thân của thần, thế là thành ba người đấy. Thần nói là vì việc nước chứ không phải vì thân mình". Rồi vươn cổ tiến lên phía trước nói: "Bệ hạ cứ đâm đi!". Nhà vua bèn buông giáo, lên xe về 
kinh đô. Về được ba ngày thì nghe tin người trong nước có âm mưu không cho Điền Thành Tử vào.
 
Sở dĩ Điền Thành Tử còn giữ được nước Tề là nhờ có Nhan Trọc Tụ. Cho nên nói: Bỏ nước đi chơi xa đó là cái đạo làm nguy đến thân mình vậy.
 
8. Thế nào gọi là có lỗi lầm mà không nghe người trung thần?
 
Ngày xưa Tề Hoàn Công chín lần hội họp chư hầu, một lần cứu được thiên hạ, làm người đầu tiên trong ngũ bá. Quản Trọng giúp ông ta. Quản Trọng già không thể làm việc, nghỉ ở nhà. Hoàn Công đến thăm và hỏi: "Trọng phụ có bệnh ở nhà, nếu không may bệnh này không khỏi thì chính sự nên trao cho ai?". Quản Trọng nói: "Thần đã già rồi không thể hỏi được nữa. Tuy nhiên, thần nghe nói: "Biết bầy tôi không ai bằng nhà vua, biết con không ai bằng cha! Bệ hạ hãy thử quyết định theo bụng mình xem".
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6339
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: HÀN PHI TỬ-HÀN PHI   HÀN PHI TỬ-HÀN PHI EmptyWed Oct 20, 2021 9:33 am

Hoàn Công nói: "Bảo Thúc Nha thế nào?”. Quản Trọng đáp: "Không được. Bảo Thúc Nha là người cứng rắn, lại bướng bỉnh. Cứng thì dùng điều mạnh mẽ phạm đến dân, bướng bỉnh thì không được lòng dân, ngang ngạnh thì dân không chịu theo và lòng họ không sợ. Đó không phải là người giúp cho bậc bá vương".
 
Hoàn Công hỏi: "Vậy thì Thụ Điêu như thế nào?”. Quản Trọng đáp: "Không được. Phàm tình cảm con người không ai không thương yêu thân mình. Bệ hạ hay ghen và thích đàn bà, Thụ Điêu tự hoạn mình để cai quản trong hậu cung. Đến cái thân của mình còn chẳng thương thì làm sao có thể thương yêu nhà vua được?".
Hoàn Công nói: "Thế thì công tử nước Vệ là Khai Phương thế nào?". Quản Trọng nói: "Không được. Nước Tề và nước Vệ cách nhau chẳng quá mười ngày đường. Khai Phương thờ bệ hạ. Vì muốn làm bệ hạ vừa lòng nên mười lăm năm không về nhà thăm cha mẹ. Đó không phải là cái tình cảm thông thường của con người. Cha mẹ anh ta mà anh ta còn không thân thì thân làm sao với bệ hạ được?“.
 
Hoàn Công hỏi: "Vậy thì Dịch Nha thế nào?”. Quản Trọng nói: "Không được. Dịch Nha coi việc ăn uống cho nhà vua. Nhà vua chỉ còn chưa nếm thịt người nữa mà thôi. Dịch Nha chưng đầu con mình để dâng lên. Tình cảm con người không ai không yêu con mình. Nay anh ta chưng đầu con mình để cho bệ hạ xơi. Con anh ta anh ta còn không thương thì làm sao có thể thương bệ hạ được?".
Hoàn Công hỏi: "Thế thì ai được?". Quản Trọng đáp: "Thấp Bằng được. Ông ta là người bên trong thì vững chắc mà bên ngoài thì liêm, ít ham muốn mà được nhiều người tin. Phàm con người bên trong vững chắc thì đủ để làm gương mẫu, bên ngoài liêm thì có thể đảm đương nhiệm vụ to lớn, ít ham muốn thì có thể cai trị nhân dân, được nhiều người tin thì có thể thân với các nước láng giềng. Xin bệ hạ dùng ông ta". Nhà vua bảo: "Được".
 
Được hơn một năm, Quản Trọng mất. Hoàn Công không dùng Thấp Bằng mà lại dùng Thụ Điêu.
 
Thụ Điêu cầm quyền ba năm. Hoàn Công đi chơi phía nam ở Đường Phụ, Thụ Điêu cầm đầu bọn Dịch Nha, công tử nước Vệ là Khai Phương và các quan đại thần làm loạn. Hoàn Công đói khát mà chết tại phòng ngủ ở Nam Môn, là căn phòng của nhà vua. Chết đã ba tháng mà không chôn, dòi bò ra đến cửa.
Cho nên quân đội của Hoàn Công hoành hành trong thiên hạ, làm người đầu liên của ngũ bá, nhưng cuối cùng lại bị bầy tôi giết, danh tiếng lớn bị mất và bị thiên hạ cười.
 
Tại sao thế? Lỗi ở chỗ không dùng lời của Quản Trọng.
 
Cho nên nói: Có lỗi lầm mà không nghe lời người trung thần, cứ làm theo ý mình, thì giết chết cái danh tiếng lớn của mình, là đầu mối cho thiên hạ chê cười vậy.
 
9. Thế nào gọi là bên trong không lượng sức mình?
Ngày xưa nước Tần đánh Nghi Dương, nước Hàn bị nguy cấp. Công Trọng Bằng nói với vua Hàn: "Những nước đồng minh với mình không thể nhờ cậy được. Chẳng bằng nhờ Trương Nghi mà hoà hiếu với nước Tần. Ta đem một đô thành nổi tiếng đút cho nước Tần, quay mặt về phía nam cùng nước Tần đánh nước Sở. Như vậy thì bỏ được cái hại vì nước Tần mà chuyển nó sang cho nước Sở". Nhà vua nói: "Phải". Bèn ra lệnh cho Công Trọng Bằng thi hành, sắp đi sang phía tây hoà hiếu với nước Tần.
 
Vua Sở nghe vậy lo sợ, cho gọi Trần Chẩn đến, bảo ông ta: "Công Trọng Bằng của nước Hàn sắp đi sang phía tây hoà hiếu với nước Tần, nay nên làm như thế, nào?". Trần Chẩn thưa: "Nước Tần được một đô thành của nước Hàn, sẽ xua đạo quân tinh nhuệ. Nước Tần và nước Hàn hợp làm một đem quân về hướng nam đánh Sở, đó là cái điều vua Tần vẫn cầu xin trong những lời cầu nguyện ở tôn miếu. Rõ ràng điều đó là có hại cho nước Sở. Bệ hạ nên nhanh nhanh sai vị thần được tin cậy đem nhiều xe và lễ vật để nói với vua Hàn: "Nước của tôi tuy nhỏ nhưng binh sĩ đã huy động rồi, xin nước lớn cứ ra uy với nước Tần, và xin gửi sứ giả vào nước tôi để xem nước Sở huy động binh sĩ".
 
Vua Hàn sai sứ giả đến nước Sở. Vua Sở nhân thế sai sắp xe trận và kỵ binh ở đường cái phía bắc và nói với sứ giả nước Hàn: "Nhờ báo với vua Hàn là quân đội của tệ ấp nay sắp vào biên giới đây”. Sứ giả trở về báo với vua Hàn. Vua Hàn cả mừng, bảo Công Trọng ngừng việc sang nước Tần. Công Trọng nói: "Không được. Lấy cái thực để nói với ta đó là nước Tần, lấy cái tiếng là cứu ta đó là nước Sở. Nghe lời nói suông của nước Sở mà xem nhẹ cái hoạ thực sự của nước Tần, đó là cái gốc làm nước nguy". Vua Hàn không nghe. Công Trọng nổi giận trở về nhà, mười ngày không ra chầu.
 
Thành Nghi Dương ngày càng nguy cấp, vua Hàn sai sứ giả liên tiếp kéo nhau sang nước Sở. Lọng và mũ đầy đường nhưng quân đội không đến. Cuối cùng thành Nghi Dương mất, bị chư hầu cười. Cho nên nói: 
Bên trong không lượng sức mình mà nhờ cậy chư hầu bên ngoài, đó là mối lo nước bị cắt vậy.
 
10. Thế nào gọi là nước nhỏ mà vô lễ?
 
Ngày xưa công tử nước Tấn là Trùng Nhĩ lưu vong, đi qua nước Tào. Vua nước Tào yêu cầu ông ta cởi trần cho mình xem[12]. Ly Phụ Ky và Thúc Chiêm đứng hầu trước mặt nhà vua. Thúc Chiêm nói với vua Tào: "Thần xem công tử nước Tấn là ngươi phi thường, bệ hạ đối xử vô lễ với ông ta. Nếu có ngày ông ta về được nước mà cất quân thì sợ là nguy hại đến nước Tào. Chẳng bằng bệ hạ giết ông ta đi". Vua Tào không nghe.
Ly Phụ Ky về nhà không vui. Người vợ hỏi: "Ông từ ngoài về sắc mặt không vui là vì sao?". Phụ Ky nói: "Ta nghe nói: nhà vua có phúc thì cái phúc không đến phần ta; nhưng có hoạ thì cái hoạ liên luỵ đến ta. Hôm nay, nhà vua mời công tử nước Tấn, nhưng tiếp đãi ông ta vô lễ. Ta đứng trước mặt. Ta vì vậy không vui". Bà vợ nói: "Tôi xem công tử nước Tấn là ông vua có vạn cỗ xe. Những người chung quanh đi theo ông ta là bậc tướng quốc của nước có vạn cỗ xe. Nay ông ta cùng khốn phải lưu vong đi qua nước Tào. Vua Tào đối xử vô lễ với ông ta. Nếu ông ta về nước được thì thế nào cũng giết kẻ vô lễ, và nước Tào sẽ là nước đầu tiên. Tại sao ông không lo tỏ tình riêng với ông ta trước đi?". Phụ Ky nói: "Phải". Bèn bỏ vàng vào bình, trên để cơm, đặt ngọc bích lên trên. Ban đêm sai người đưa cho công tử.
 
Công tử tiếp sứ giả, lạy hai lạy, nhận thức ăn mà trả lại ngọc bích. Công tử từ nước Tào vào nước Sở, rồi từ nước Sở vào nước Tần.
Vào nước Tần được ba năm, Tần Mục Công triệu quần thần lại bàn mưu: "Ngày xưa Tấn Hiến Công giao du với quả nhân, chư hầu không ai không biết. Hiến Công không may rời bỏ bầy tôi, trên dưới đã mười năm. Con nối nghiệp của ông ta không tốt, ta sợ tôn miếu ông ta sẽ không được tế tự, xã tắc sẽ không có cúng tế. Như thế mà không xác lập trật tự thì không phải là cái đạo giao du. Ta muốn giúp Trùng Nhĩ trở về nước Tấn, các người nghĩ sao?". Quần thần đều nói: "Phải".
 
Vua Tần bèn cất quân, đem năm trăm cỗ xe bọc da, hai ngàn quân kỵ, năm vạn quân bộ giúp Trùng Nhĩ trở về nước Tấn, lập làm vua Tấn.
 
Trùng Nhĩ lên ngôi được ba năm thì cất quân đánh nước Tào. Ra lệnh cho vua Tào: "Bắt Thúc Chiêm đưa ra. Ta sẽ giết hắn trị tội nặng". Lại sai người nói với Ly Phụ Ky: "Quân ta sẽ phá thành. Ta biết ông không xúc phạm đến ta. Ông hãy đánh dấu cái xóm của mình. Quả nhân sẽ ra lệnh, khiến binh sĩ không xâm phạm đến". Người nước Tào nghe thế đem thân thích đến giữa xóm của Ly Phụ Ky đến trên bảy trăm nhà. Đó là cái công dụng của lễ.
 
Nước Tào là nước nhỏ, nằm ép ở giữa nước Tấn và nước Sở, nhà vua nguy ngập như trứng chồng lên nhau, mà lại đối xử vô lễ, cho nên mới bị tuyệt nòi.
 
Cho nên nói: "Nước nhỏ mà vô lễ, không nghe lời can ngăn của bầy tôi thì đó là cái thế đời bị đứt vậy".
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6339
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: HÀN PHI TỬ-HÀN PHI   HÀN PHI TỬ-HÀN PHI EmptySat Oct 23, 2021 10:39 pm

Thiên X

 
 

                        Mười điều quấy (Thập quá)

 
 
Mười điều quấy là: Một là, làm điều trung nhỏ tức là làm hại đến điều trung lớn. Hai là, ham lợi nhỏ tức là hại đến lợi lớn. Ba là, làm điều sai trái theo ý riêng của mình, vô lễ với chư hầu, tức là thân mình sắp mất. Bốn là, không lo nghe đến việc cai trị mà thích âm nhạc, tức là thân mình sẽ bị nguy khốn. Năm là, tham lam, thích lợi tức là cái gốc của việc thân chết nước mất. Sáu là, say mê nữ nhạc, không đoái hoài đến chính sự trong nước, tức là cái hoạ mất nước. Bảy là, bỏ cung điện đi chơi xa không nghe lời can gián, tức là con đường làm cho thân mình bị nguy. Tám là, đã sai rồi nhưng không nghe lời người tôi trung, cứ độc làm theo ý mình, tức là cái đầu mối làm cho danh cao bị mất và bị thiên hạ chê cười. Chín là, bên trong không lượng sức mình, bên ngoài cậy vào chư hầu, tức là cái hoạ nước bị chia cắt. Mười là, nước nhỏ mà vô lễ không nghe những vị thần can ngăn, tức là tình trạng dòng dõi bị diệt vậy.
 
1. Thế nào gọi là điều trung nhỏ?
 
Ngày xưa Cung Vương nước Sở đánh nhau với Lệ Vương nước Tấn ở Yên Lăng. Quân nước Sở thua, Cung Vương bị thương ở mắt.
 
Trong lúc chiến đấu đang hăng, quan tư mã là Tử Phản khát nước, đòi uống. Tên lính hầu Cốc Dương đưa cho ông ta một chén rượu. Tử Phản 
nói: "Ôi chao! Thôi ngay, rượu đấy mà". Cốc Dương thưa: "Không phải rượu đâu". Tử Phản nhận lấy mà uống.
 
Tử Phản vốn là người ham rượu nên thích, uống mãi không thôi, nên say vùi.
 
Chiến đấu xong, Cung Vương lại muốn chiến đấu nữa, sai người triệu quan tư mã Từ Phản. Tư mã Tử Phản viện cớ đau tim, từ chối. Cung Vương thân hành đi xe ngựa đến bước vào trong màn, ngửi thấy mùi rượu nồng nặc trở về nói: "Trong trận chiến đấu hôm nay quả nhân bị thương, người nhờ cậy là quan tư mã. Nhưng quan tư mã lại say như thế, thế là làm mất xã tắc nước Sở mà không thương xót đến dân ta. Ta không muốn chiến đấu nữa".
Bèn thu binh về chém quan tư mã Tử Phản để trừng phạt. Cho nên tên lính hầu Cốc Dương dâng rượu không phải là vì thù Tử Phàn. Nhưng cái bụng trung yêu nhỏ nhặt của anh ta là đủ giết chết Tử Phản, cho nên nói: Cái trung nhỏ thì làm hại đến cái trung lớn vậy.
 
2. Thế nào gọi là ham cái lợi nhỏ?
 
Ngày xưa vua Hiến Công nước Tấn muốn mượn đường nước Ngu để đánh nước Quắc. Tuân Tức nói:
 
"Bệ hạ hãy lấy ngọc bích Thuỳ Cức và cỗ xe ngựa Khuất Sản đút cho vua nước Ngu để xin mượn đường. Thế nào ông ta cũng sẽ cho mượn đường",
Nhà vua bảo: "Ngọc bích Thuỳ Cức là vật báu của đức tiên quân ta. Ngựa đất Khuất Sản là con tuấn mã của ta. Nếu họ lấy vật tặng của ta mà không cho mượn đường thì thế nào?". Tuân Tức thưa: "Nếu họ không cho ta mượn đường thì nhất định không dám nhận quà tặng của ta. Còn nếu như họ nhận quà tặng của ta mà cho ta mượn đường thì vật báu của ta cũng như là lấy ở cái kho bên trong rồi cất ở cái kho bên ngoài, và ngựa quý của ta cũng như lấy ở tàu ngựa bên trong rồi nhốt ở tàu ngựa bên ngoài mà thôi. Xin bệ hạ chớ lo". Nhà vua nói: "Phải".
 
Bèn sai Tuân Tức lấy ngọc bích Thuỳ Cức và cỗ xe ngựa Khuất Sản đút lót cho vua nước Ngu để mượn đường. Ngu Công tham ngọc bích, và con ngựa muốn nghe theo.
 
Cung Chi Kỳ can: "Không thể cho mượn. Nước Ngu có nước Quắc cũng như xe có bánh xe.     Bánh xe dựa vào xe, nhưng xe cũng dựa vào bánh xe. Tình thế của nước Ngu và nước Quắc là như thế.
Nếu như cho họ mượn đường thì nước Quắc mất buổi sáng là nước Ngu mất buổi chiều. Không thể được. Xin đừng cho".
 
Vua nước Ngu không nghe, bèn cho nước Tấn mượn đường. Tuân Tức đánh nước Quắc xong, kéo quân về.
 
Được ba năm, đem quân đánh nước Ngu và lấy nước ấy. Tuân Tức đem ngựa và ngọc bích về trao lại cho Hiến Công. Hiến Công vui và nói: "Ngọc bích vẫn hệt như xưa, nhưng răng ngựa thì có dài hơn”.
 
Tại sao quân Ngu Công lại thua và đất lại bị cướp? Vì ông ta ham cái lợi nhỏ mà không nghĩ đến cái hại lớn. Cho nên nói: Ham cái lợi nhỏ là hại đến cái lợi lớn vậy.
3. Thế nào gọi là làm điều sai trái?
 
Ngày xưa Linh Vương nước Sở hội họp chư hầu ở đất Thân. Thái tử nước Tống đến sau, nhà vua bắt cầm tù. Sau đó ông ta lại khinh rẻ vua nước Từ và bắt giữ Khánh Phong nước Tề.
 
Quan trung xạ sĩ nói: "Hội họp chư hầu không nên vô lễ, đó là then chốt của sự tồn vong. Ngày xưa vua Kiệt họp ở Hữu Nhung mà Hữu Mân làm phản. Vua Trụ tổ chức cuộc đi săn mùa xuân ở Lê Khâu mà người Nhung, người Địch làm phản. Đó là vì vô lễ. Xin bệ hạ nghĩ cho". Nhà vua không nghe, vẫn làm theo ý mình. Chưa được chẵn một năm, Linh Vương đi chơi phía nam, bọn bầy tôi đi theo ức hiếp nhà vua bắt ông ta bị chết đói ở trên sông Càn Khê.
Cho nên nói: "Làm điều sai trái theo ý riêng của mình, vô lễ với chư hầu tức là thân mình sắp mất đấy".
 
4. Thế nào gọi là thích âm nhạc?
 
Ngày xưa vua Linh Công nước Vệ sắp sang nước Tấn, đến sông Bộc Thuỷ thì mở xe, thả ngựa, lập trại để nghỉ. Nửa đêm, nghe gẩy một điệu nhạc mới lấy làm thích.
 
Sai hỏi những người chung quanh. Tất cả đều nói là không nghe. Bèn gọi Sư Quyên đến hỏi: ”Có người gảy bản nhạc mới, ta cho người hỏi những người chung quanh, thì đều bảo là không nghe. Tình trạng có vẻ như là quỷ thần. Nhà ngươi hãy vì ta nghe và chép lại". Sư Quyên đáp: "Xin vâng". Bèn ngồi yên lặng, ôm đàn cầm để đánh lại điệu nhạc.
 
Sáng hôm sau Sư Quyên nói: "Thần đã học được nhưng chưa tập quen. Xin ở lại một đêm nữa để tập". Linh Công nói: "Được". Nhân đó ở lại thêm một đêm. Hôm sau tập xong, bèn sang nước Tấn.
 
Tấn Bình Công bày tiệc rượu ở đài Thi Di. Rượu say, Linh Công đứng dậy nói: "Có một điệu nhạc mới, xin gẩy để nghe".
 
Bình Công nói: "Hay lắm". Linh Công bèn cho gọi Sư Quyên đến, cho ngồi cạnh Sư Khoáng. Sư Quyên cầm đàn gẩy lên. Gẩy chưa xong, Sư Khoáng chặn lại bảo; "Đó là cái âm thanh mất nước, không thể nghe hết!". Bình Công nói: "Bàn nhạc này ở đâu ra?". Sư Khoáng thưa: "Đó là bản nhạc do Sư Diên làm ra để cho vua Trụ chơi bời phóng túng. Đến khi vua Vũ Vương phạt Trụ, Sư Diên chạy về phía đông, đến sông Bộc Thuỷ thì gieo mình xuống nước. Cho nên nghe bản nhạc này thì nhất định là ở trên sông Bộc Thuỷ. Người nào nghe bản nhạc này trước thì thế nào nước cũng bị mất. Không thể nghe trọn". Bình Công nói: "Quả nhân chỉ thích có âm nhạc. Ông cứ bảo ông ta đàn cho hết". Sư Quyên gảy hết bản nhạc.
 
Bình Công hỏi Sư Khoáng: "Bản nhạc này gọi là gì?". Sư Khoáng nói: "Đó là bản Thanh Thương". Bình Công hỏi: "Có phải bản Thanh Thương là bàn nhạc buồn nhất không?". Sư Khoáng đáp: "Không buồn bằng bản Thanh Chuỷ ". Bình Công nói: "Ta có thể nghe bản Thanh Chuỷ được không?". Sư Khoáng thưa: "Không thể được. Ngày xưa những người nghe bản Thanh Chuỷ đều là những ông vua có đức có nghĩa. Nay bệ hạ đức nghĩa mỏng, không đủ để nghe". Bình Công bảo: "Quả nhân chỉ thích có âm nhạc, muốn thử nghe xem". Sư Khoáng bất đắc dĩ cầm đàn cầm gảy.
Vừa mới gảy một khúc đã có hai lần tám con hạc đen từ phương nam đến đậu ở nóc cửa cung. Gảy xong hai khúc thì chúng sắp thành hàng, gảy ba khúc thì chúng vươn dài cổ lên mà kêu, vỗ cánh mà múa, âm thanh hợp với điệu cung, điệu thương, tiếng vang lên trời. Bình Công cả mừng, cử toạ đều thích.
 
Bình Công cầm chén rượu đứng lên chúc thọ Sư Khoáng rồi lại ngồi xuống và hỏi: "Có bản nhạc nào buồn hơn bản Thanh Chuỷ không?". Sư Khoáng đáp: "Chưa bằng bản Thanh Giốc". Bình Công hỏi: "Có thể nghe được bản Thanh Giốc không?". Sư Khoáng thưa: "Không thể được. Ngày xưa Hoàng Đế hội họp quỷ thần ở trên núi Thái Sơn. Đi chiếc xe ngà do sáu con giao long kéo. Thần Tất Phương đi đầu đẩy trục xe Xi Vưu đi trước, thần gió quét phía trước, thần mưa rưới đường, hổ, sói đi trước, quỷ thần theo sau. Rồng nằm dưới đất, phượng hoàng phù lên trên. Trong buổi hội họp lớn, các quỷ thần làm ra bản Thanh 
Giốc. Nay bệ hạ đức mỏng, không đủ để nghe. Nghe nó sợ có điều hại vong". Bình Công nói: "Quả nhân già rồi, chỉ thích có âm nhạc mà thôi. Chỉ mong được nghe nốt". Sư Khoáng bất đắc dĩ phải gảy.
 
Mới gảy một khúc đã có một đám mây đen từ phía tây bắc kéo đến. Gảy khúc thì hai, gió lớn nổi lên, xé toang màn trướng, làm vỡ chén đĩa, làm rớt ngói ở hành lang. Những người ngồi bỏ chạy tán loạn. Bình Công sợ hãi, nằm nép ở căn phòng của hành lang.
 
Nước Tấn bị đại hạn, đất đỏ ba năm. Tấn Bình Công bị bệnh năng. Cho nên nói: "Không lo chính sự mà thích âm nhạc mãi, thì thân mình sẽ nguy khốn".
 
5. Thế nào gọi là tham lam bướng bỉnh?
Ngày xưa Trí Bá Dao cầm đầu các họ Triệu Nguỵ, Hàn đánh họ Phạm và họ Trung Hàng, và diệt hai họ này. Sau khi trở về. Trí Bá nghỉ binh vài năm rồi lại sai người đòi đất nước Hàn.
 
Hàn Khương Tử muốn không cho. Đoàn Quy can rằng: "Không thể không cho, Trí Bá là con người ham lợi và kiêu ngạo, bướng bỉnh. Ông ta cho người đến xin đất mà ta không cho thì thế nào ông ta cũng đem binh đánh nước Hàn. Xin bệ hạ cứ cho. Ông ta được cho quen thói, sẽ đòi đất nước khác. Nước khác nếu có kẻ không nghe thì thế nào Trí Bá cũng đem quân đánh. Như vậy, nước Hàn sẽ tránh được mối lo để đợi tình hình biến đổi". Khương Tử nói: "Phải". Bèn sai sứ giả đưa cho Trí Bá một huyện có vạn nhà.
Trí Bá lại sai người đòi đất nước Nguỵ. Nguỵ Tuyên Tử định không cho.
 
Triệu Đoạn Can nói: "Ông ta đòi đất nước Hàn, nước Hàn cho. Nay ông ta đòi đất nước Nguỵ, mà nước Nguỵ không cho. Như vậy là nước Nguỵ cậy cái thế mạnh bên trong nhưng bên ngoài làm cho Trí Bá giận. Nếu ta không cho thế nào ông ta cũng đem binh đến đánh nước Nguỵ ". Tuyên Tử nói: "Phải". Bèn sai người dâng cho Trí Bá một huyện có vạn nóc nhà.
 
Trí Bá lại sai người sang nước Triệu xin đất Thái và đất Cao Lang.
 
Triệu Tương Tử không cho. Trí Bá ngầm ước hẹn với nước Hàn và nước Nguỵ để cùng nhau đánh nước Triệu. Tương Tử mời Trương 
Mạnh Đàm đến, bảo ông ta: "Trí Bá là người bên ngoài tử tế nhưng bên trong độc ác. Đã ba lần sai sứ giả đến Hàn, Nguỵ thế mà quả nhân không cho ông ta đất. Thế nào ông ta cũng sẽ đem quân đến đánh quả nhân. Nay ta nên ở đâu cho yên? . Trương Mạnh Đàm nói: "Đổng Ư Vu là một bầy tôi giỏi của Triệu Giản Chủ. Ông ta cai trị thành Tấn Dương. Doãn Đặc lại noi theo gương ông ta, giáo hoá sót lại của ông ta vẫn còn. Bệ hạ chỉ nên ở Tấn Dương mà thôi". Nhà vua nói: "Phải".
 
Bèn cho gọi Diên Lăng Sinh đến, sai đem quân xe, quân kỵ đến Tấn Dương trước, nhà vua nhân đó đi theo. Nhà vua thân hành đi kiểm tra thành quách và các kho của năm vị quan coi kho thì thấy thành quách không sửa sang, kho lúa không tích trữ thóc, kho tiền không tích trữ tiền, kho vũ khí không có áo giáp và vũ khí, trong ấp không có đồ để bảo vệ.
Tương Tử sợ, bèn gọi Trương Mạnh Đàm đến nói: "Quả nhân thân hành đi xem thành quách và vật chứa chất trong năm kho, thấy đều không chuẩn bị đầy đủ. Ta biết lấy gì để đối phó với quân địch". Trương Mạnh Đàm thưa: "Thần nghe nói cái trị của bậc thánh nhân là giấu ở dân không giấu ở kho lúa, kho tiền, lo trau giồi việc giáo hoá chứ không lo sửa sang thành quách. Xin bệ hạ cứ ra lệnh, bảo dân giữ thức ăn ba năm, thóc thừa thì đưa vào kho thóc, tiền thừa ra thì đưa vào kho tiền, còn những người nào rỗi rãi thì sai sửa sang thành quách".
 
Nhà vua ra lệnh buổi chiều hôm trước thì sáng hôm sau kho lúa không còn chỗ để chứa thóc, kho tiền không còn chỗ để chứa tiền, kho vũ khí không còn chỗ để chứa áo giáp và vũ khí. Trong vòng năm ngày thành quách đã sửa xong, việc phòng bị đã đầy dù.
 
Nhà vua sai gọi Triệu Mạnh Đàm đến hỏi: "Thành quách ta đã sửa sang xong, việc phòng bị đã có đủ, tiền và thóc đã có đầy, áo giáp và binh khí có thừa. Nhưng ta chưa có tên bắn thì làm thế nào?" Trương Mạnh Đàm nói: "Thần nghe nói họ Đổng khi cai trị thành Tấn Dương, tường các nhà công đều trồng lau, sậy, cây sở để làm hàng rào. Có cây cao đã một trượng. Bệ hạ cứ chặt mà dùng". Bèn sai chặt và làm thử thì thấy tên tre cũng không thể cứng hơn.
 
Nhà vua nói: "Tên của ta đã đủ rồi, nhưng không có kim loại thì làm thế nào?". Trương Mạnh Đàm nói: "Thần nghe nói Đồng Tử cai trị thành Tấn Dương, các ngôi nhà công và cung điện đều lấy đồng làm cột trụ, làm đế cột. Bệ hạ cứ lấy những cột này mà dùng". Bèn lấy ra mà dùng thì kim loại có thừa.
 
Hiệu lệnh đã ban ra, sự phòng bị đã đầy đủ, quân đội ba nước kéo đến. Vừa đến, họ liền xông đến thành Tấn Dương. Cuộc chiến đấu diễn ra. Đánh ba tháng mà vẫn không lấy được thành.
Ba nước bèn dàn quân ra để bao vây, khơi nước sông Tấn Dương cho chảy vào thành, vây thành Tấn Dương ba năm, người Tấn Dương làm lỗ trên cây mà ở, treo nồi để nấu ăn. Thức ăn sắp hết, các kẻ sĩ và các quan đại phu bị bệnh, ốm yếu.
 
Triệu Tương Tử nói với Trương Mạnh Đàm: "Lương thực thiếu, tài sản sức lực hết, kẻ sĩ và các đại phu bệnh tật mệt mỏi, ta sợ không thể giữ được. Muốn nộp thành để hàng thì nên nộp thành và hàng nước nào?". Trương Mạnh Đàm thưa: “Thần nghe nói: "Kẻ mất thì không thể bảo tồn, đã nguy thì không thể yên ổn, như thế không thể coi sự khôn ngoan làm quý nữa. Xin bệ hạ bỏ cái kế ấy đi. Thần xin thì lẻn lội nước ra ngoài yết kiến vua Hàn và vua Nguỵ ".
Trương Mạnh Đàm yết kiến vua Hàn và vua Nguỵ và nói: "Thần nghe nói: Môi hở răng lạnh. Nay Trí Bá chỉ huy hai nhà vua để đánh nước Triệu, nước Triệu sắp mất. Nước Triệu mất thì đến lượt hai ngài đấy". Hai ông vua nói: "Ta vẫn biết thế. Nhưng Trí Bá là con người hay ngờ vực mà ít thân ai. Mưu của ta mà lộ ra thì cái hoạ thể nào cũng đến. Nên làm thế nào?". Trương Mạnh Đàm nói: "Cái mưu là thốt ra từ miệng của hai ngài và lọt vào tai của thần, không ai biết điều đó". Hai ông vua bèn cùng Trương Mạnh Đàm ước hẹn ba quân làm phản, định ngày khởi sự. Ban đêm cho Trương Mạnh Đàm vào thành Tấn Dương để báo tin cho Tương Tử biết hai ông vua làm phản. Tương Tử đón Mạnh Đàm, lạy hai lạy, vừa lo vừa mừng.
 
Hai ông vua đã ước hẹn với Trương Mạnh Đàm, nhân chầu Trí Bá ra về, gặp Trí Quá ở ngoài cửa doanh trại. Trí Quá thấy sắc mặt hai người, lấy làm lạ, bèn đến yết kiến Trí Bá nói: "Hai nhà vua có vẻ , như sắp gây biến". Trí Bá hỏi: "Như thế nào ?". Trí Quá nói: "Hai người đi nghênh ngang và ý vênh vang, không phải dè dặt như trước đây. Bệ hạ 
phải ra tay trước đi". Trí Bá nói: "Ta cùng hai ông vua giao ước cẩn thận, lấy được nước Triệu thì chia ba nước này, quả nhân thân với họ, chắc chắn họ không lừa dối quả nhân. Quân đội đã đến Tấn Dương ba năm nay, hôm nay sáng chiều sẽ lấy được thành để hưởng lợi, lẽ nào họ có bụng dạ khác. Chắc không phải thế. Nhà ngươi đừng lo, cũng đừng nói ra miệng".
 
Sáng hôm sau, hai ông vua lại đến chầu rồi đi ra, lại gặp Trí Quá ở cửa quân doanh, Trí Quá vào yết kiến Trí Bá nói: "Bệ hạ đã đem lời của thần nói với hai ông vua rồi chăng?". Trí Bá hỏi: "Tại sao ông biết?". Trí Quá đáp: "Hôm nay hai ông vua vào chầu rồi đi ra, thấy thần, vẻ mặt họ thay đổi, mắt nhìn thần chăm chú. Thế nào cũng có biến đây! Không bằng bệ hạ giết họ đi”. Trí Bá nói: "Xin ông để mặc đừng nói nữa". Trí Quá nói: "Không được. Bệ hạ phải giết họ. Nếu như không thể nào giết họ thì phải thân với họ". Trí Bá nói: "Thân với họ bằng cách nào?". Trí Quá nói: "Mưu thần của Nguỵ Tuyên Tử là Triệu Đoan, mưu thần của Hàn Khương Tử là Đoàn Quy. Đó đều là những người có thể thay đổi cái kế của vua họ. Bệ hạ hãy cùng hai ông vua kia ước hẹn; nếu lấy được nước Triệu thì phong cho hai ông này mỗi người một huyện có vạn ngôi nhà. Như vậy thì bụng của hai ông vua có thể không thay đổi". Trí Bá nói: "Phá nước Triệu để chia nước làm ba, rồi lại phong cho hai ông kia mỗi người một huyện có vạn ngôi nhà, thế thì phần ta có được quá ít. Không được".
 
Trí Quá thấy lời nói của mình không được nghe, bỏ đi, nhân đấy đổi họ mình thành họ Phụ.
 
Đến đêm ước hẹn, họ Triệu giết người giữ đê của mình, dẫn nước làm ngập quân đội của Trí Bá. Quân đội Trí Bá lo cứu nước mà thành rối loạn. Nước Hàn và nước Nguỵ thừa cơ đánh thọc vào hai bên sườn, Tương Tử dẫn quân đánh mặt trước, đánh quân Trí Bá thua to, và bắt Trí Bá. Trí Bá thân chết, quân bị phá, nước chia làm ba, bị thiên hạ cười. Cho nên nói: Tham lam bướng bỉnh thích lợi đó là cái gốc của việc mất nước hại thân mình.
 
6. Thế nào gọi là ham mê nữ nhạc?
 
Ngày xưa, vua Nhung sai Do Dư đến triều cống nước Tần. Tần Mục Công hỏi ông ta: "Quả nhân thường nghe nói đạo nhưng chưa được nhìn thấy tận mắt, muốn nghe nói các bậc vua sáng ngày xưa được nước, mất nước là căn cứ vào đâu?". Do Dư đáp: "Thần thường được nghe: hễ cần kiệm thì được, hễ xa xỉ thì mất". Mục Công hỏi: "Quả nhân đã không ngại xấu hổ hỏi ông về đạo, ông lại nói đến chuyện cần kiệm là tại làm sao?". Do Dư đáp: "Thần nghe ngày xưa, Nghiêu có được thiên hạ, ăn trong bát đất, uống trong chén đất. Đất đai phía nam đến Giao Chỉ, phía bắc đến u Đô, phía đông và phía tây đến chỗ mặt trời mặt trăng mọc và lặn. Không ai không thần phục. Nghiêu nhường thiên hạ. Ngu Thuấn nhận lấy, làm đồ để ăn, đẵn cây trên núi, rồi cưa 
bào cho trơn, lấy sơn và mực bôi lên, rồi đưa vào cung để làm vật đựng thức ăn. Chư hầu cho đó là xa xỉ, có mười ba nước không phục. Vua Thuấn nhường thiên hạ cho Hạ Vũ. Hạ Vũ làm đồ tế tự bên ngoài sơn đen, bên trong sơn đỏ, gối làm bằng lụa trắng, chiếu cói có viền, chén và bình rượu có màu, chén rượu và mâm có trang sức, như thế lại càng xa xỉ. Có ba mươi ba nước không phục theo. Nhà Hạ mất đi, nhà Ân nối tiếp. Làm xe lớn, dựng lá cờ có chín tua, những đồ đựng thức ăn, chén rượu và bình có chạm trổ, bốn bức vách có sơn trắng, gối, chiếu vẽ hoa văn, như thế lại càng xa xỉ. Và có đến năm mươi ba nước không phục. Những người quân tử đều biết văn vẻ thì số người phục theo càng ít. Cho nên thần nói cần kiệm là đạo vậy".
 
Do Dư đi ra, Mục Công cho mời quan nội sử là Liêu đến và kể lại, nói: "Quả nhân nghe nói nước láng giềng có bậc thánh nhân thì đó là mốt lo cho nước địch. Nay Do Dư là bậc thánh nhân, quả nhân lo lắng, quả nhân nên làm như thế nào?". Quan nội sử Liêu nói: "Thần nghe nói chỗ ở của vua Nhung héo lánh, xa xôi chưa từng nghe nhạc Trung Quốc, 
xin bệ hạ đem nữ nhạc đến cho ông ta để làm rối loạn chính sự, sau đó xin hoãn ngày về của Do Dư để cho Do Dư đỡ can ngăn. Vua tôi họ có chỗ hở thì sau đó mới có thể tính chuyện được”. Mục Công nói: "Phải".
 
Bèn sai nội sử Liên đem hai đoàn nữ nhạc mỗi đoàn tám người tặng cho vua Nhung, nhân đấy xin hoãn ngày về của Do Dư. Vua Nhung ưng thuận.
 
Vua Nhung thấy nữ nhạc thì thích, đặt tiệc rượu uống mãi, ngày thì nghe nhạc, suốt năm không rời, bỏ ngựa chết mất một nửa. Do Dư trở về, nhân đấy can ngăn vua Nhung, vua Nhung không nghe. Do Dư bèn bỏ sang nước Tần. Tần Mục Công đón và cho làm thượng khanh. Hỏi ông ta về quân đội, tình thế và địa hình.
Sau khi đã biết rõ, đem quân đánh nước Nhung, chiếm mười hai nước, mở đất ngàn dặm. Cho nên nói: ham mê nữ nhạc không đoái hoài đến chính sự trong nước đó là cái hoạ mất nước vậy.
 
7. Thế nào gọi là bỏ cung điện đi chơi xa?
 
Ngày xưa Điền Thành Tử đi chơi ngoài biển, rất thích, ra lệnh cho các quan đại phu nói: "Ai nói chuyện về thì chết". Nhan Trọc Tụ nói: "Bệ hạ chơi ngoài biển và thích, nếu có bầy tôi mưu cướp nước thì thế nào? Bệ hạ dù vui điều này nhưng làm sao còn vui được nữa?". Điền Thành Tử nói: "Quả nhân đã ra lệnh nói: "Ai nói đến chuyện về thì chết", nay nhà người phạm lệnh quả nhân". Bèn cầm giáo định đâm. Nhan Trọc Tự nói: "Ngày xưa vua Kiệt giết Quan Long Bàng và vua Trụ giết Tỷ Can, nay bệ hạ giết cái thân của thần, thế là thành ba người đấy. Thần nói là vì việc nước chứ không phải vì thân mình". Rồi vươn cổ tiến lên phía trước nói: "Bệ hạ cứ đâm đi!". Nhà vua bèn buông giáo, lên xe về 
kinh đô. Về được ba ngày thì nghe tin người trong nước có âm mưu không cho Điền Thành Tử vào.
 
Sở dĩ Điền Thành Tử còn giữ được nước Tề là nhờ có Nhan Trọc Tụ. Cho nên nói: Bỏ nước đi chơi xa đó là cái đạo làm nguy đến thân mình vậy.
 
8. Thế nào gọi là có lỗi lầm mà không nghe người trung thần?
 
Ngày xưa Tề Hoàn Công chín lần hội họp chư hầu, một lần cứu được thiên hạ, làm người đầu tiên trong ngũ bá. Quản Trọng giúp ông ta. Quản Trọng già không thể làm việc, nghỉ ở nhà. Hoàn Công đến thăm và hỏi: "Trọng phụ có bệnh ở nhà, nếu không may bệnh này không khỏi thì chính sự nên trao cho ai?". Quản Trọng nói: "Thần đã già rồi không 
thể hỏi được nữa. Tuy nhiên, thần nghe nói: "Biết bầy tôi không ai bằng nhà vua, biết con không ai bằng cha! Bệ hạ hãy thử quyết định theo bụng mình xem".
 
Hoàn Công nói: "Bão Thúc Nha thế nào?”. Quản Trọng đáp: "Không được. Bảo Thúc Nha là người cứng rắn, lại bướng bỉnh. Cứng thì dùng điều mạnh mẽ phạm đến dân, bướng bỉnh thì không được lòng dân, ngang ngạnh thì dân không chịu theo và lòng họ không sợ. Đó không phải là người giúp cho bậc bá vương".
 
Hoàn Công hỏi: "Vậy thì Thụ Điêu như thế nào?”. Quản Trọng đáp: "Không được. Phàm tình cảm con người không ai không thương yêu thân mình. Bệ hạ hay ghen và thích đàn bà, Thụ Điêu tự hoạn mình để cai quản trong hậu cung. Đến cái thân của mình còn chẳng thương thì làm sao có thể thương yêu nhà vua được?".
Hoàn Công nói: "Thế thì công tử nước Vệ là Khai Phương thế nào?". Quản Trọng nói: "Không được. Nước Tề và nước Vệ cách nhau chẳng quá mười ngày đường. Khai Phương thờ bệ hạ. Vì muốn làm bệ hạ vừa lòng nên mười lăm năm không về nhà thăm cha mẹ. Đó không phải là cái tình cảm thông thường của con người. Cha mẹ anh ta mà anh ta còn không thân thì thân làm sao với bệ hạ được?“.
 
Hoàn Công hỏi: "Vậy thì Dịch Nha thế nào?”. Quản Trọng nói: "Không được. Dịch Nha coi việc ăn uống cho nhà vua. Nhà vua chỉ còn chưa nếm thịt người nữa mà thôi. Dịch Nha chưng đầu con mình để dâng lên. Tình cảm con người không ai không yêu con mình. Nay anh ta chưng đầu con mình để cho bệ hạ xơi. Con anh ta anh ta còn không thương thì làm sao có thể thương bệ hạ được?".
Hoàn Công hỏi: "Thế thì ai được?". Quản Trọng đáp: "Thấp Bằng được. Ông ta là người bên trong thì vững chắc mà bên ngoài thì liêm, ít ham muốn mà được nhiều người tin. Phàm con người bên trong vững chắc thì đủ để làm gương mẫu, bên ngoài liêm thì có thể đảm đương nhiệm vụ to lớn, ít ham muốn thì có thể cai trị nhân dân, được nhiều người tin thì có thể thân với các nước láng giềng. Xin bệ hạ dùng ông ta". Nhà vua bảo: "Được".
 
Được hơn một năm, Quản Trọng mất. Hoàn Công không dùng Thấp Bằng mà lại dùng Thụ Điêu.
 
Thụ Điêu cầm quyền ba năm. Hoàn Công đi chơi phía nam ở Đường Phụ, Thụ Điêu cầm đầu bọn Dịch Nha, công tử nước Vệ là Khai Phương và các quan đại thần làm loạn. Hoàn Công đói khát mà chết tại phòng ngủ ở Nam Môn, là căn phòng của nhà vua. Chết đã ba tháng mà không chôn, dòi bò ra đến cửa.
Cho nên quân đội của Hoàn Công hoành hành trong thiên hạ, làm người đầu liên của ngũ bá, nhưng cuối cùng lại bị bầy tôi giết, danh tiếng lớn bị mất và bị thiên hạ cười.
 
Tại sao thế? Lỗi ở chỗ không dùng lời của Quản Trọng.
 
Cho nên nói: Có lỗi lầm mà không nghe lời người trung thần, cứ làm theo ý mình, thì giết chết cái danh tiếng lớn của mình, là đầu mối cho thiên hạ chê cười vậy.
 
9. Thế nào gọi là bên trong không lượng sức mình?
Ngày xưa nước Tần đánh Nghi Dương, nước Hàn bị nguy cấp. Công Trọng Bằng nói với vua Hàn: "Những nước đồng minh với mình không thể nhờ cậy được. Chẳng bằng nhờ Trương Nghi mà hoà hiếu với nước Tần. Ta đem một đô thành nổi tiếng đút cho nước Tần, quay mặt về phía nam cùng nước Tần đánh nước Sở. Như vậy thì bỏ được cái hại vì nước Tần mà chuyển nó sang cho nước Sở". Nhà vua nói: "Phải". Bèn ra lệnh cho Công Trọng Bằng thi hành, sắp đi sang phía tây hoà hiếu với nước Tần.
 
Vua Sở nghe vậy lo sợ, cho gọi Trần Chẩn đến, bảo ông ta: "Công Trọng Bằng của nước Hàn sắp đi sang phía tây hoà hiếu với nước Tần, nay nên làm như thế, nào?". Trần Chẩn thưa: "Nước Tần được một đô thành của nước Hàn, sẽ xua đạo quân tinh nhuệ. Nước Tần và nước Hàn hợp làm một đem quân về hướng nam đánh Sở, đó là cái điều vua Tần vẫn cầu xin trong những lời cầu nguyện ở tôn miếu. Rõ ràng điều đó là có hại cho nước Sở. Bệ hạ nên nhanh nhanh sai vị thần được tin cậy đem nhiều xe và lễ vật để nói với vua Hàn: "Nước của tôi tuy nhỏ nhưng binh sĩ đã huy động rồi, xin nước lớn cứ ra uy với nước Tần, và xin gửi sứ giả vào nước tôi để xem nước Sở huy động binh sĩ".
 
Vua Hàn sai sứ giả đến nước Sở. Vua Sở nhân thế sai sắp xe trận và kỵ binh ở đường cái phía bắc và nói với sứ giả nước Hàn: "Nhờ báo với vua Hàn là quân đội của tệ ấp nay sắp vào biên giới đây”. Sứ giả trở về báo với vua Hàn. Vua Hàn cả mừng, bảo Công Trọng ngừng việc sang nước Tần. Công Trọng nói: "Không được. Lấy cái thực để nói với ta đó là nước Tần, lấy cái tiếng là cứu ta đó là nước Sở. Nghe lời nói suông của nước Sở mà xem nhẹ cái hoạ thực sự của nước Tần, đó là cái gốc làm nước nguy". Vua Hàn không nghe. Công Trọng nổi giận trở về nhà, mười ngày không ra chầu.
 
Thành Nghi Dương ngày càng nguy cấp, vua Hàn sai sứ giả liên tiếp kéo nhau sang nước Sở. Lọng và mũ đầy đường nhưng quân đội không đến. Cuối cùng thành Nghi Dương mất, bị chư hầu cười. Cho nên nói: 
Bên trong không lượng sức mình mà nhờ cậy chư hầu bên ngoài, đó là mối lo nước bị cắt vậy.
 
10. Thế nào gọi là nước nhỏ mà vô lễ?
 
Ngày xưa công tử nước Tấn là Trùng Nhĩ lưu vong, đi qua nước Tào. Vua nước Tào yêu cầu ông ta cởi trần cho mình xem[12]. Ly Phụ Ky và Thúc Chiêm đứng hầu trước mặt nhà vua. Thúc Chiêm nói với vua Tào: "Thần xem công tử nước Tấn là ngươi phi thường, bệ hạ đối xử vô lễ với ông ta. Nếu có ngày ông ta về được nước mà cất quân thì sợ là nguy hại đến nước Tào. Chẳng bằng bệ hạ giết ông ta đi". Vua Tào không nghe.
Ly Phụ Ky về nhà không vui. Người vợ hỏi: "Ông từ ngoài về sắc mặt không vui là vì sao?". Phụ Ky nói: "Ta nghe nói: nhà vua có phúc thì cái phúc không đến phần ta; nhưng có hoạ thì cái hoạ liên luỵ đến ta. Hôm nay, nhà vua mời công tử nước Tấn, nhưng tiếp đãi ông ta vô lễ. Ta đứng trước mặt. Ta vì vậy không vui". Bà vợ nói: "Tôi xem công tử nước Tấn là ông vua có vạn cỗ xe. Những người chung quanh đi theo ông ta là bậc tướng quốc của nước có vạn cỗ xe. Nay ông ta cùng khốn phải lưu vong đi qua nước Tào. Vua Tào đối xử vô lễ với ông ta. Nếu ông ta về nước được thì thế nào cũng giết kẻ vô lễ, và nước Tào sẽ là nước đầu tiên. Tại sao ông không lo tỏ tình riêng với ông ta trước đi?". Phụ Ky nói: "Phải". Bèn bỏ vàng vào bình, trên để cơm, đặt ngọc bích lên trên. Ban đêm sai người đưa cho công tử.
 
Công tử tiếp sứ giả, lạy hai lạy, nhận thức ăn mà trả lại ngọc bích. Công tử từ nước Tào vào nước Sở, rồi từ nước Sở vào nước Tần.
Vào nước Tần được ba năm, Tần Mục Công triệu quần thần lại bàn mưu: "Ngày xưa Tấn Hiến Công giao du với quả nhân, chư hầu không ai không biết. Hiến Công không may rời bỏ bầy tôi, trên dưới đã mười năm. Con nối nghiệp của ông ta không tốt, ta sợ tôn miếu ông ta sẽ không được tế tự, xã tắc sẽ không có cúng tế. Như thế mà không xác lập trật tự thì không phải là cái đạo giao du. Ta muốn giúp Trùng Nhĩ trở về nước Tấn, các người nghĩ sao?". Quần thần đều nói: "Phải".
 
Vua Tần bèn cất quân, đem năm trăm cỗ xe bọc da, hai ngàn quân kỵ, năm vạn quân bộ giúp Trùng Nhĩ trở về nước Tấn, lập làm vua Tấn.
 
Trùng Nhĩ lên ngôi được ba năm thì cất quân đánh nước Tào. Ra lệnh cho vua Tào: "Bắt Thúc Chiêm đưa ra. Ta sẽ giết hắn trị tội nặng". Lại sai người nói với Ly Phụ Ky: "Quân ta sẽ phá thành. Ta biết ông không xúc phạm đến ta. Ông hãy đánh dấu cái xóm của mình. Quả nhân sẽ ra lệnh, khiến binh sĩ không xâm phạm đến". Người nước Tào nghe thế đem thân thích đến giữa xóm của Ly Phụ Ky đến trên bảy trăm nhà. Đó là cái công dụng của lễ.
 
Nước Tào là nước nhỏ, nằm ép ở giữa nước Tấn và nước Sở, nhà vua nguy ngập như trứng chồng lên nhau, mà lại đối xử vô lễ, cho nên mới bị tuyệt nòi.
 
Cho nên nói: "Nước nhỏ mà vô lễ, không nghe lời can ngăn của bầy tôi thì đó là cái thế đời bị đứt vậy".
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6339
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: HÀN PHI TỬ-HÀN PHI   HÀN PHI TỬ-HÀN PHI EmptySun Oct 24, 2021 10:31 pm

Thiên XI

 
 

                        Nỗi phẫn uất của con người cô độc (Cô phẫn)

 
 
1. Những kẻ sĩ có mưu trí và có thuật thế nào cũng nhìn xa và xét đoán sáng suốt, vì nếu không xét đoán sáng suốt thì không thấy rõ được niềm riêng tây. Những kẻ sĩ biết nêu cao pháp luật thế nào cũng kiên nghị và thẳng thắn, vì nếu không kiên nghị và thẳng thắn thì không thể nào sửa chữa được kẻ gian. Bọn bầy tôi nghe theo mệnh lệnh và làm chức vụ, dựa theo pháp luật mà làm quan không phải là những người được trọng. Những kẻ được trọng là những kẻ không có mệnh lệnh mà tự chuyên, bẻ cong pháp luật để mưu lợi riêng, làm hao tổn đến quốc gia để mưu lợi cho mình, sức có thể làm chủ được nhà vua. Đó là những kẻ gọi là được quý trọng.
 
Những kẻ sĩ có mưu trí và có thuật, xét đoán sáng suốt, nếu được dùng thì sẽ thấy rõ tâm địa riêng tư của bọn người được quý trọng. Những kẻ sĩ có thể đề cao pháp luật, thẳng thắn, nếu được dùng sẽ sửa chữa những hành vi gian tà của những kẻ được quý trọng. Cho nên nếu những kẻ sĩ có mưu trí và có thuật biết đề cao pháp luật được dùng thì bọn bầy tôi được quý trọng thế nào cũng bị gạt ra ngoài. Chính vì vậy những kẻ sĩ có trí và thuật, biết đề cao pháp luật và những bọn hiện đang cầm quyền là những kẻ thù của nhau không thể cùng sống.
 
2. Khi những bọn cầm quyền nắm lấy mọi việc thì bên ngoài cũng như bên trong họ chỉ lo mưu lợi riêng mà thôi. Cho nên nếu chư hầu không dựa vào họ thì công việc không thành. Kết quả là các nước địch ca ngợi họ. Nếu những người chung quanh nhà vua không dựa vào họ thì không gần nhà vua được cho nên những người chung quanh nhà vua che giấu các sai lầm của họ. Những kẻ sĩ có học nếu không dựa vào họ thì bổng lộc và địa vị thấp cho nên những người có học tán dương họ.
 
Nhờ bốn kẻ giúp đỡ này cho nên bọn bầy tôi gian tà tự tô vẽ mình. Những kẻ được quý trọng không thể trung với nhà vua để tiến cử những kẻ thù của mình. Nhà vua lại không thể vượt qua bốn hạng người giúp đỡ để xem xét rõ bầy tôi. Cho nên nhà vua càng bị che đậy và bọn đại thần càng được trọng vọng.
 
Nói chung, những kẻ cầm quyền đối với nhà vua ít người không được nhà vua tin yêu. Vả lại, họ lại quen biết nhà vua từ lâu. Họ biết lòng nhà vua, cùng yêu cùng ghét như nhà vua, đó là cách tiến thân của họ.
 
Một khi chức quan và tước lộc của họ đã được trọng, bè đảng của họ lại đông, cả một nước ca ngợi họ, thế thì những kẻ sĩ biết nêu cao pháp luật muốn đến gần nhà vua cũng không có được cái thân của những kẻ được nhà vua tin yêu, không có được cái ân huệ của những kẻ quen biết từ lâu. Như thế mà những người này lại muốn lấy pháp luật và thuật để sửa chữa cái bụng sai lệch của nhà vua thì tức là làm trái ngược với nhà vua. Mình đã ở vào cái thế thấp hèn lại không có bè đảng cho nên cô độc.
 
Phàm con người ở xa và không thân mà lại muốn tranh với con người ở gần và được tin yêu thì tình thế là không thể thắng được. Người mới đến, là kẻ ở trọ mà muốn tranh với người cũ và quen thuộc thì cái số là không thể thắng được. Người nói nếu trái với ý nhà vua lại muốn tranh với kẻ cùng ham thích như nhà vua thì cái số là không thể thắng được. Người bị coi khinh, thấp hèn lại muốn tranh với kẻ được quý trọng thì cái số là không thể thắng được. Mình chỉ có một miệng lại tranh với cả một nước thì cái số là không thể thắng được.
 
Kẻ sĩ biết đề cao pháp luật và thuật trị nước nắm lấy cái thế có năm điểm thua, lại bao năm trời không được yết kiến nhà vua phải đối lập lại bọn cầm quyền đã nắm lấy năm cái thắng, ngày đêm một mình nói trước mặt nhà vua. Cho nên kẻ sĩ đề cao pháp luật và thuật trị nước làm sao có thể tiến lên được và nhà vua biết bao giờ mới có thể tỉnh ngộ được?
 
Đã ở vào cái thế phải thua, lại không thể cùng nhau tồn tại thế thì kẻ sĩ đề cao pháp luật và thuật trị nước làm sao khỏi nguy được? Những kẻ có thể buộc tội để trị thì người ta dùng pháp luật để giết, những kẻ nào không, thể buộc tội để trị thì người ta dùng kiếm riêng để hại. Như thế thì những kẻ soi sáng pháp luật làm trái ý nhà vua, nếu không bị quan lại giết ắt bị thanh kiếm riêng giết vậy.
 
3. Bè đảng nhóm họp để che giấu nhà vua, những lời nói quanh co để tiện cho việc riêng thế nào cũng được những người được quý trọng tin. Vì vậy cho nên ai có thể viện cớ là có công lao thì họ phong cho quan tước để làm cho thành sang. Ai có thể cho mượn cái tiếng tốt thì họ dùng cái quyền của nước ngoài để làm cho được trọng. Ai che giấu được nhà vua và chạy chọt ở cửa riêng thì dù không có được quan tước vinh hiển cũng sẽ được trọng nhờ quyền lực của nước ngoài.
Nay các vị vua không xem xét bằng chứng để thi hành việc trừng trị; không đợi thấy công lao đã ban tước lộc, như thế làm sao kẻ sĩ đề cao pháp luật và thuật trị nước có thể liều chết đưa cái thuyết của mình ra và bọn bầy tôi gian tà làm sao có thể bỏ lợi mà rút lui được? Cho nên chúa ở trên càng bị thấp xuống thì những cửa riêng càng được để cao.
 
Nước Việt kia tuy nước giàu và binh mạnh nhưng các vị vua ở Trung Quốc đều biết nó không có ích gì đối với mình và nói: "Nước ấy ta không khống chế được". Nay có nước tuy đất rộng, người nhiều, nhưng nhà vua bị che đậy, các quan đại thần chuyên quyền thì nước ấy cũng là như nước Việt vậy. Biết nước mình là không giống nước Việt, nhưng không biết nước mình không giống nó ở chỗ nào, tức là không xét đến sự giống nhau.
 
Sở dĩ người ta nói nước Tề đã mất không phải là nói đất và thành của nó đã mất mà nói họ Lữ không cai trị mà họ Điền chuyên quyền. Sở dĩ 
người ta nói nước Tấn đã mất không phải là nói đất đai và thành của nó đã mất mà nói họ Cơ không cai trị; trái lại sáu quan khanh chuyên quyền.
 
Nay nếu như các quan đại thần nắm lấy quyền lực giải quyết một mình, còn ông vua ở trên không giành lại được cái quyền ấy, như vậy là nhà vua không sáng suốt vậy. Người nào cũng mang chứng bệnh với người đã chết thì không thể sống được, nước nào lâm vào tình trạng như những nước đã mất thì không thể còn được. Ngày nay noi theo lối đi của nước Tề, nước Tấn đã mất mà lại muốn tồn tại yên ổn thì không thể được.
 
4. Nói chung, pháp luật khó thi hành không phải chỉ đối với cái nước có vạn cỗ xe mà thôi. Đối với cái nước có ngàn cỗ xe cũng thế. Những người chung quanh nhà vua không nhất thiết đều là những người khôn. Nhà vua nghe lời người nhà vua cho là khôn, rồi lại đem những lời của ông ta ra bàn với những người chung quanh mình. Như vậy là nói chuyện khôn với người ngu vậy. Những người chung quanh nhà vua 
không nhất thiết đều là những người giỏi. Nhà vua dùng lễ đối xử với người mình cho là giỏi, nhưng rồi lại bàn về hành vi anh ta với những người chung quanh. Như vậy là cùng với những người kém để bàn về người giỏi vậy.
Người khôn phải để cho người ngu quyết định kế hoạch của mình, người giỏi phải để cho người kém xét về việc làm của mình thì người giỏi và người khôn sẽ xấu hổ và cách bàn của nhà vua sẽ sai lầm vậy. Trong các bầy tôi muốn được làm quan thì những kẻ sĩ trau giồi đức hạnh, cố gắng giữ thân mình trong sạch, những kẻ sĩ khôn ngoan dùng biện luận để thực hiện sự nghiệp. Những kẻ sĩ trau giồi đức hạnh không thể dùng của đút lót để thờ người, vì nó trái với sự trong sạch lại càng không thể bẻ cong pháp luật để cai trị. Cho nên những kẻ sĩ trau giồi đức hạnh và khôn ngoan không thờ những người chung quanh nhà vua, không nghe những chuyện xin xỏ. Những người chung quanh nhà vua đức hạnh đã không phải là Bá Di, khi họ đòi hỏi không được, của đút không đến thì cái công giữ trong sạch và tài biện luận (của người giỏi) sẽ bị dập tắt và những lời chê bai sẽ nổi lên. Kẻ có công lo về việc bàn luận về cách cai trị đã bị bọn gần gũi nhà vua kiềm chế. Kẻ có đức hạnh liêm khiết đã bị lời khen chê quyết định thì các quan lại lo trau giồi đức hạnh và khôn ngoan sẽ bị bỏ và cái sáng của nhà vua sẽ bị chặn lại. Một khi nhà vua đã không lấy công lao để xét những người khôn ngoan và có đức hạnh, không lấy việc so sánh những tội lỗi để phạt những sai lầm mà lại nghe lời bọn gần gũi chung quanh thì bọn kẻ sĩ bất lực ở trong triều và bọn quan lại tham ô, ngu xuẩn sẽ nắm các chức vụ.
 
5. Cái lo của một nước có vạn cỗ xe là ở chỗ các quan đại thần được tôn trọng quá đáng. Cái lo của một nước có ngàn cỗ xe là ở chỗ những người chung quanh được tin dùng quá đáng. Đó là mối lo chung của những kẻ làm vua. Vả lại, bọn bầy tôi có tội lớn vì nhà vua có sơ suất lớn.
 
Cái lợi của vua và tôi là khác nhau. Làm thế nào để chứng minh điều ấy? Xin thưa: cái lợi của nhà vua là bổ nhiệm những người có khả năng làm quan. Cái lợi của bầy tôi là ở chỗ không có khả năng mà được làm quan. Cái lợi của vua là có công lao mới có tước lộc. Cái lợi của bầy tôi là ở chỗ không có công lao mà được giàu sang. Cái lợi của ông vua là ở chỗ người hào kiệt được trổ tài năng; cái lợi của bầy tôi là ở chỗ lập bè đảng làm việc riêng.
Cho nên nước bị chia cắt thì nhà riêng được giàu; nhà vua bị hạ thấp thì các quan đại thần được tôn trọng. Cho nên ông vua mất thế lực thì bầy tôi lấy được nước, ông vua phải làm phiên thần thì ông tướng quốc được chẻ phù. Do đó bầy tôi lừa dối nhà vua để mưu việc riêng.
 
Trong số bọn bầy tôi được quý trọng ngày nay khi thế lực nhà vua thay đổi nhưng họ vẫn giữ vững được ân sủng thì mười người không có đến hai ba người.
 
Tại sao thế? Vì tội của bầy tôi lớn. Bầy tôi có tội lớn. Hành động của họ là lừa vua, tội ấy đáng chết. Những kẻ sĩ khôn ngoan, nhìn xa thấy rộng, và sợ bị chết thế nào cũng không theo bọn bầy tôi được quý trọng. Những kẻ sĩ tài giỏi, đức hạnh liêm khiết và xấu hổ không chịu theo bọn gian thần lừa vua, thế nào cũng không theo những người được quý trọng. Như vậy thì bọn theo những người cầm quyền nếu không phải là 
ngu và không biết lo lắng thì nhất định là người nhơ bẩn không tránh việc gian tà.
 
Các quan đại thần nắm lấy bọn ngu si, nhơ bẩn, trên thì cùng lừa dối nhà vua, dưới thì cùng chúng thu lợi bèn rút nhân dân, kéo bè kéo đảng, tất cả một lời, lừa dối nhà vua, làm hỏng pháp luật, làm dân chúng và kẻ sĩ rối loạn, khiến cho nước nhà bị nguy, bị cắt, nhà vua vất vả nhục nhã. Đó là cái tội rất lớn. Làm bầy tôi có cái tội lớn mà nhà vua không cấm, đó là điều sai lầm lớn.
 
ở trên nhà vua có sai lầm lớn, ở dưới bọn bầy tôi có tội lớn mà muốn cho nước không mất thì không thể nào được.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6339
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: HÀN PHI TỬ-HÀN PHI   HÀN PHI TỬ-HÀN PHI EmptyTue Oct 26, 2021 9:39 am

Thiên XII

 
 

                        Cái khó trong việc du thuyết (Thuyết nan)

 
 
1. Cái khó trong việc du thuyết không phải là ở chỗ biết những điều cần phải đưa ra nói. Cũng không phải ở chỗ mình không biết biện luận. Cũng không phải ở chỗ mình không trình bày được rõ ràng những ý nghĩ của mình. Càng không phải ở chỗ không dám nói ngang nói dọc cho hết cái ý của mình. Nói chung, cái khó trong việc du thuyết là làm thế nào biết được cái bụng của con người mình muốn thuyết phục để dùng cái thuật của mình mà đối phó.
Nếu con người mình muốn thuyết phục chỉ nghĩ đến cái danh cho cao mà mình lại đem cái lợi lớn ra thuyết với họ thì họ sẽ cho mình là bọn hèn hạ, và đối xử với mình một cách thấp hèn rồi thế nào họ cũng sẽ vứt bỏ mình thật xa.
 
Nếu con người mình muốn thuyết phục chỉ nghĩ đến cái lợi cho lớn, mà mình lại đem cái danh cao ra thuyết với họ thì họ sẽ cho ta không chú ý đến thế sự, nói chuyện viển vông rồi thế nào cũng không dùng mình.
 
Nếu con người mình muốn du thuyết trong bụng nghĩ đến cái lợi cho lớn nhưng bên ngoài làm ra vẻ muốn cái danh cho cao mà ta đem chuyện danh cao ra thuyết thì bên ngoài họ sẽ làm ra vẻ muốn dung nạp cái thân ta, nhưng thực ra thì bỏ rơi ta. Nhưng nếu ta đem cái lợi lớn ra thuyết với họ, thì trong bụng họ dùng lời nói của ta, nhưng bên ngoài họ sẽ vứt bỏ cái thân của ta. Đó là những điều không biết không được.
Phàm việc làm mà thành là do chỗ bí mật; lời nói mà thất bại là do chỗ bị tiết lộ. Bản thân mình chưa chắc đã tiết lộ ra, nhưng chỉ cần nói đến cái mà người ta che giấu thì đã nguy đến thân rồi. Nhà vua có điều sai, mà người du thuyết lại dùng những lời sáng rõ, dùng cái nghĩa lý hay để suy luận ra cái sai của nhà vua thì nguy đến thân.
 
Nếu ta chưa được ân huệ nhà vua tưới đến mà lại đem hết những điều ta biết ra nói thì hoặc là cái thuyết của ta sẽ được đem ra dùng, đem đến kết quả, nhưng ta chẳng được ân đức; hoặc là cái thuyết của ta không được dùng, xẩy ra thất bại, thế là ta bị nghi ngờ. Như thế thì nguy đến thân. Người sang có điều sai mà người du thuyết lại nói rõ lễ nghĩa để nêu cái xấu của họ thì thân nguy. Nếu người sang nắm được cái kế của ta, nhưng muốn xem nó là công lao của mình mà người du thuyết lại muốn cùng biết thì nguy đến thân. Nếu mình cưỡng ép nhà vua làm những điều mà nhà vua không muốn làm, bắt nhà vua bỏ những điều nhà vua nhất định không bỏ thì nguy đến thân.
Cho nên nói: Nếu như ta đem những người tôn quý trong triều đình ra bàn luận với nhà vua thì nhà vua sẽ cho là ly gián. Nếu như ta đem những người thấp hèn ra nói với nhà vua thì nhà vua sẽ cho ta muốn bán quyền. Nếu ta bàn về cái nhà vua thích thì nhà vua sẽ cho là ta nhờ vả. Nếu ta bàn về những kẻ ông ta ghét thì ông ta sẽ cho ta muốn thử ông ta. Nếu ta nói tóm tắt ít lời thì nhà vua sẽ cho là ta không có kiến thức gì nên coi khinh. Nếu ta nói mênh mông, thì nhà vua cho ta lắm lời và không thành thực. Nếu ta trình bày ý kiến giản lược thì nhà vua bảo ta nhút nhát mà không nói hết lời, nếu ta suy nghĩ sự việc trình bày rộng rãi thì nhà vua bảo ta quê mùa và khinh mạn. Những cái khó này của việc du thuyết không thể không biết đến.
 
3. Nói chung, mục đích của việc du thuyết là phải biết tô điểm cái điều nhà vua khoe khoang và tiêu diệt cái nhà vua lấy làm xấu hổ. Nhà vua có chuyện riêng gấp thì mình phải nêu lên cái nghĩa chung để khuyến khích. Ý nhà vua ở chỗ thấp mà không thể bỏ được thì người du thuyết phải dựa vào đấy mà tô điểm cái hay của nó và giảm bớt cái không hay. Bụng nhà vua ở chỗ cao, nhưng thực ra không thể đạt được thì người du thuyết nêu cái sai giúp ông ta, chỉ cái xấu và khen điều nhà vua không làm.
 
Nhà vua muốn khoe cái khôn ngoan cái giỏi của mình thì ta giúp ông ta đưa ra những chuyện lạ cùng một loại để ông ta biết rộng hơn, khiến ông ta biết rộng là nhờ mình nhưng lại giả vờ làm như không biết rằng ông ta nhờ mình mà khôn. Nếu mình muốn một người cùng tồn tại với mình thì thế nào cũng phải lấy cái danh tiếng tốt để nêu cao anh ta; đồng thời kín đáo làm cho nhà vua thấy rằng điều đó là hợp với lợi riêng. Nếu như muốn trình bày những chuyện nguy hại thì nêu rõ những lời chê bai về việc ấy, đồng thời kín đáo cho thấy rằng việc ấy cũng phù hợp với mối lo riêng của nhà vua. Khen một người khác đã có việc làm y như việc làm của nhà vua, bàn mưu những việc khác cùng theo một kế như thế.
 
Có người khác cùng khuyết điểm như nhà vua thì tô điểm cho chỗ không sai sót của người ấy. Có người cùng có chỗ dở như nhà vua thì thế nào cũng ra sức tô vẽ cho chỗ không sơ suất của anh ta. Nhà vua tự khoe cái sức của mình thì ta đừng đem những khó khăn ra để cản trở. Nhà vua tự cho là quyết đoán dũng mãnh thì mình đừng đem những chuyện sai lầm của nhà vua ra nói làm cho nhà vua giận. Nhà vua tự cho cái kế của mình là khôn thì ta đừng có lấy chuyện thất bại ra làm cho nhà vua khó chịu.
 
Nếu ý của mình không đụng chạm đến ai, nếu lời của mình không ràng buộc ai thì sau đó mình mới có thể trổ hết cái tài biện luận khôn ngoan của mình. Theo lối này thì những người gần gũi không ngờ vực và có thể nói hết lời.
 
4. Y Doãn làm đầu bếp, Bách Lý Hề làm tù nhân mà đều có thế gần người trên của mình. Hai người này đều là những bậc thánh nhân, nhưng đều không thể làm nhục thân mình để tiến, như thế là họ bị xấu xa.
Nay nếu vì lời nói của ta, ta phải làm đầu bếp, làm tù nhân nhưng lại có thể cứu đời được thì đó không phải là điều những kẻ sĩ có năng lực lấy làm xấu hổ. Phàm khi đã được lâu ngày, ân trạch đã nhiều, bàn kế sâu mà không bị nghi, đưa ra lời can ngăn mà không bị tội, thì có thể nói rõ điều lợi điều hại để lập cái công của mình, nói thẳng điều phải điều trái để tô vẽ thân mình. Vua tôi giúp nhau như thế thì việc du thuyết thành công vậy.
 
5. Ngày xưa Trịnh Vũ Công muốn đánh người Hồ cho nên trước đấy gả con gái làm vợ vua Hồ để cho bụng vua Hồ vui. Nhân đấy bèn hỏi quần thần: "Ta muốn dùng binh, có thể đánh ai trước?". Quan đại phu Quan Ky Tư nói: "Có thể đánh Hồ ". Vũ Công nổi giận giết Quan Ky Tư, nói: "Hồ là nước anh em của ta, tại sao nhà ngươi lại nói nên đánh?". Vua nước Hồ nghe tin ấy, cho nước Trịnh là chỗ thân thiết với mình nên không phòng bị. Nước Trịnh đánh úp và lấy nước Hồ.
 
Nước Tống có người nhà giàu. Trời mưa, tường bị sập. Người con nói: "Nếu không xây tường lại thì thế nào cũng sẽ bị ăn trộm". Cha người 
láng giềng cũng nói như vậy. Tối đến, quả nhiên mất của cải. Trong nhà đều cho rằng người con khôn ngoan; nhưng lại nghi ngờ người cha của người láng giềng. Cả hai người đều nói đúng. Nhưng nặng thì bị giết, nhẹ thì bị nghi. Như thế đủ biết cái khó không phải ở chỗ biết, cái khó là ở chỗ dùng cái biết của mình. Cho nên Nhiễu Triều lời nói thì đúng, nhưng nước Tấn cho ông ta là thánh nhân, mà nước Tần giết ông ta[13]. Điều đó không thể không xét đến.
 
Ngày xưa Di Tử Hà được vua nước Vệ yêu. Theo pháp luật nước Vệ, ai tự tiện đi xe nhà vua thì bị tội chặt chân. Được ít lâu, mẹ Di Tử Hà mắc bệnh, Di Tử Hà trái lệnh, đi ra bằng xe của nhà vua. Nhà vua nghe tin cho là người hiền nói: "Thực là người có hiếu. Vì mẹ mà phạm tội chặt chân". Di Tử Hà đi chơi với nhà vua trong vườn quả. Di Tử Hà ăn quả đào thấy ngon, không ăn hết, dâng nhà vua. Nhà vua nói: "Anh ta thương quả nhân quá! Anh ta quên cái ngon trong miệng; để dâng cho quả nhân ăn.
Đến khi Di Tử Hà nhan sắc suy, không còn được nhà vua yêu. Nhà vua bảo: "Hắn đã có lần tự tiện đi xe ngựa của ta, lại có lần bắt ta ăn quả đào thừa của nó". Cho nên việc làm của Di Tử Hà không khác, nhưng lần trước được khen là hiền, lần sau lại phạm tội. Đó là vì lòng yêu ghét khác nhau.
 
6. Cho nên được nhà vua yêu thì cái khôn của mình càng làm cho mình được thân, khi bị nhà vua ghét thì cái khôn của mình đã không được dùng mà mình càng bị sơ. Cho nên kẻ sĩ đi du thuyết không thể không xét đến chỗ nhà vua yêu ghét cái gì rồi sau đó mới thuyết phục.
 
Rồng là một con vật có thể đùa bỡn, thậm chí có thể cưỡi. Nhưng ở dưới cái cổ của nó có cái vảy ngược. Ai động đến thì nó giết ngay. Kẻ du thuyết mà không sa phải cái vẩy ngược của các nhà vua thì mới có thể xem là giỏi vậy.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6339
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: HÀN PHI TỬ-HÀN PHI   HÀN PHI TỬ-HÀN PHI EmptyWed Oct 27, 2021 8:56 am

Thiên XIII

 
 

                        Nỗi phẫn uất của con người cô độc (Cô phẫn)

 
 
1. Họ Hoà nước Sở được viên đá có ngọc ở trong núi Sở, đem dâng lên cho vua Lệ Vương. Lệ Vương sai thợ ngọc xem. Thợ ngọc nói: “Đó là hòn đá" Nhà vua cho Hoà nói dối, chặt mất chân trái anh ta.
 
Khi Lệ Vương mất, Vũ Vương lên ngôi. Hoà lại dâng viên đá có ngọc cho Vũ Vương. Vũ Vương sai thợ ngọc xem. Thợ ngọc lại nói: "Hòn đá đấy". Nhà vua lại cho Hoà nói dối, chặt thêm chân phải.
Vũ Vương chết, Văn Vương lên ngôi. Hoà lại ôm hòn đá có ngọc khóc ở chân núi Sở, ba ngày ba đêm, khóc hết nước mắt chảy máu. Nhà vua nghe vậy, sai người hỏi tại sao: "Người trong thiên hạ bị chặt chân nhiều. Sao ông lại khóc đau xót như thế? . Hoà nói: "Tôi không phải đau xót vì bị chặt chân mà đau xót về chỗ viên ngọc này quý nhưng lại bị xem là hòn đá, kẻ sĩ trung thực nhưng lại mang tiếng là nói dối. Chính vì vậy cho nên tôi đau xót".
 
Nhà vua bèn sai thợ ngọc xem kỹ tảng đá thì có được viên ngọc quý. Cho nên gọi nó là: "Ngọc bích họ Hoà ".
 
2. Châu ngọc là vật vua chúa rất ham. Họ Hoà tuy dâng hòn đá có ngọc chưa đẹp nhưng chưa phải là có hại cho nhà vua. Thế mà còn phải chịu hai chân bị chặt rồi sau đó mới thấy được cái quý. Bàn về cái quý là khó như thế đấy.
Nay pháp luật đối với vua chúa chưa chắc đã cần gấp như cần viên ngọc họ Hoà, nhưng cũng đủ để cấm các quan và nhân dân không được lo việc riêng gian dối. Như vậy thì những kẻ có đạo sở dĩ chưa bị giết đó là vì viên ngọc bích của bậc đế vương chưa được dâng lên đó thôi[14].
 
Một khi nhà vua đã dùng thuật trị nước thì các quan đại thần không được phép tự ý mình quyết định, những người gần gũi nhà vua không dám bán chác quyền thế. Quan mà thi hành pháp luật thì bọn du đãng lo việc nông, và bọn du sĩ không dám nói suông đến việc chiến trận. Như vậy thì pháp luật và thuật trị nước là cái tai hoạ cho bọn bầy tôi và bọn sĩ dân. Nhà vua vốn không thể làm ngược lại những lời bàn của các quan đại thần, không vượt lên được sự phỉ báng của bọn lưu manh, để cốt làm theo đúng đạo mà thôi thì những kẻ sĩ đề cao pháp luật và thuật trị nước sẽ gặp chết chóc mà nhất định đạo không được nói đến.
3. Ngày xưa vua Ngô Khởi lấy tục nước Sở dạy vua Điệu Vương nước Sở, nói: "Các quan đại thần được tôn trọng quá đáng, như vậy thì ở trên bức bách nhà vua, ở dưới ngược đãi nhân dân. Đó là con đường làm cho nước nghèo, binh yếu. Không bằng đối với con cháu những người được phong đất, cứ ba đời thì thu lại tước lộc, giảm bớt bổng lộc của trăm quan, bỏ các viên quan không cần thiết để lo nuôi dưỡng và chọn những chiến sĩ tinh nhuệ". Điệu Vương mới thi hành chính sách này được một năm thì mất. Ngô Khởi bị xé xác ở nước Sở.
 
Thương Quân dạy cho Tần Hiếu Công cách tổ chức những nhóm gồm năm gia đình liên quan với nhau, khiến các gia đình tố giác lẫn nhau, đốt Kinh thi, Kinh thư mà nêu cao pháp luật và mệnh lệnh. Cắt đứt việc xin xỏ ở cửa riêng mà khuyến khích những kẻ dốc lòng vào việc chung. Cấm những dân đi lông bông tìm cách làm quan mà làm vinh hiển những kẻ sĩ lo cày cấy và đánh giặc. Tần Hiếu Công dùng chính sách này nên nhà vua được tôn quý, yên ổn, nước nhờ đó mà giàu mạnh. Được tám năm thì Hiếu Công mất, Thương Quân bị xe xé xác ở nước Tần.
 
4. Nước Sở không dùng Ngô Khởi nên đất bị cắt và nước bị loạn, nước Tần thi hành pháp luật của Thương Quân nên nước giàu mạnh. Lời nói của hai người là đúng. Thế nhưng Ngô Khởi thì bị phanh thây, Thương Quân thì bị xe xé xác là tại làm sao?
 
Đó là vì các quan đại thần bị pháp luật làm khổ và dân du đãng ghét sự trị an. Ngày nay các quan đại thần tham quyền, bọn dân du đãng ham sự rối loạn còn tệ hơn tục nước Tần, nước Sở, mà các vị vua lại không biết nghe như Điệu Vương, Hiếu Công. Như vậy thì những kẻ sĩ đề cao pháp luật và thuật trị nước làm sao có thể nêu cao pháp luật và thuật trị nước của mình? Cho nên đời cứ loạn mãi mà không có bá vương vậy.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6339
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: HÀN PHI TỬ-HÀN PHI   HÀN PHI TỬ-HÀN PHI EmptyThu Oct 28, 2021 5:37 pm

Thiên XIV

 
 

                        Bọn bầy tôi gian dối, ức hiếp và giết vua (Gian kiếp thí thần)

 
 
1. Nói chung, bọn gian thần đều làm theo bụng nhà vua để được nhà vua thân và yêu quý. Do đó, nhà vua thích điều gì thì bọn bầy tôi cứ theo đó mà khen, nhà vua ghét điều gì thì bọn này cứ theo đó mà chê. Phàm bản chất của con người khi những điều thích và ghét giống nhau thì thích nhau, những điều thích và ghét khác nhau thì ghét nhau. Bọn bầy tôi ngày nay khen điều gì thì đó là điều nhà vua thích. Như vậy gọi là cùng thích như nhau. Bọn bầy tôi chê điều gì thì đó là điều nhà vua không thích. Như vậy gọi là cùng ghét như nhau. Việc yêu ghét như nhau mà lại chống đối nhau đó là điều chưa hề nghe Đó là con đường khiến bọn bầy tôi được tin yêu. .
 
2. Bọn bầy tôi gian tà đã lợi dụng được cái thế được nhà vua tin yêu để dùng lời khen chê, mà tiến cử hay xua đuổi những người khác. Nhà vua không có thuật gì để chế ngự họ, không có cách gì để kiểm tra xem xét họ thì thế nào cũng sẽ căn cứ vào chỗ trước đây lời của họ, hợp với mình cho nên tin những lời của họ hiện nay. Đó là lý do khiến cho bọn bầy tôi được nuông chiều có thể lừa dối nhà vua mà thực hiện những điều riêng tư của họ.
 
Cho nên nhà vua ở trên thế nào cũng bị lừa và bầy tôi ở dưới thế nào cũng được trọng. Đó gọi là bọn bầy tôi khống chế nhà vua. Nước có bọn bầy tôi khống chế nhà vua thì các quan ở dưới không thể bầy tỏ hết khôn ngoan, sức lực để nêu rõ lòng trung, các viên lại không thể thi hành pháp luật để thực hiện cái công của mình.
 Lấy cái gì để chứng minh điều đó?
 
Nói chung, thích điều lợi và tìm nó, ghét cái hại và tránh nó, đó là tình cảm của con người. Nay bọn bầy tôi nếu dốc sức để làm được công lao, nếu đem hết sự khôn ngoan để trình bày lòng trung của mình thì thân mình bị khốn khổ, nhà mình nghèo, cha và con đều mắc phải cái hại. Trái lại, những bọn làm điều gian dối, kiếm lợi để che giấu nhà vua, dùng của cải để phụng sự, bọn bầy tôi được quý trọng thì thân họ lại ở địa vị cao, nhà lại giàu, cha và con lại được hưởng ân huệ. Như thế ai có thể bỏ con đường yên ổn và có lợi để đi theo con đường nguy hiểm và có hại? Việc trị nước đã sai lầm như thế mà nhà vua lại muốn người dưới không gian dối, các quan lại thi hành pháp luật thì rõ ràng là không thể làm được.
 
Bọn chung quanh nhà vua biết nếu mình trung và tín thì không thể yên ổn, có lợi, cho nên thế nào cũng nói: "Ta lấy trung và tín để thờ vua, lo lập nhiều công lao để được yên thì cũng chẳng khác gì người mù mà muốn phân biệt trắng đen khác nhau. Rõ ràng là không thể được. Nếu theo đạo để thay đổi, làm điều ngay thẳng không chạy theo giàu sang, thờ người trên để cầu được yên thì cũng như người điếc mà muốn phân biệt tiếng trong và tiếng đục. Điều đó lại càng không thể được. Hai con đường trên đây đều không đưa ta đến chỗ yên. Vậy tại sao ta không cùng kéo bè kéo đảng, che giấu nhà vua, làm việc gian dối riêng tư để làm vừa lòng những con người được quý trọng?".
 
Những người như thế nhất định sẽ không chú ý đến ý muốn của nhà vua. Các viên lại của trăm quan cũng biết rằng nếu ngay thẳng và chính trực thì không thể nào được yên thân cho nên thế nào cũng nói: "Nếu ta lấy sự thanh liêm để thờ bề trên mong được yên thân, thì cũng như là không có cái quy cái củ mà muốn vẽ hình vuông hình tròn. Nhất định là không thể được. Nếu ta giữ pháp luật, không theo bè đảng, lo việc công để mong được yên thân thì cũng như lấy chân mà gãi lên đầu. Lại càng không thể được. Hai con đường ấy đều không giúp ta được yên thân. Tại sao ta không bỏ pháp luật chạy theo việc riêng tư để làm vừa lòng những người được quý trọng?". Bọn này nhất định sẽ không đoái hoài đến pháp luật của nhà vua.
 
Cho nên những người vì việc riêng phục vụ những kẻ được quý trọng thì đông. Trái lại, những người thi hành pháp luật để thờ vua thì ít. Kết quả là ở trên nhà vua bị cô lập còn ở dưới các quan làm thành bè đảng. Đó là lý do khiến cho Điền Thành giết Giản Công vậy.
 
3. Phàm kẻ có thuật trị nước đã làm bầy tôi thì sẽ dựa theo pháp luật để giải quyết. Trên soi sáng pháp luật nhà vua, dưới làm cho bọn gian thần nguy khốn để cho nhà vua được tôn quý, nước được yên. Do đó, nếu như những lời hợp phép tắc được đưa ra ở trước thì việc khen thưởng và trừng phạt sẽ được thi hành ngay sau đó.
 
Nếu ông vua quả thực hiểu rõ cái thuật trị nước của bậc thánh nhân và không bị câu nệ vào cái danh và cái thực mà quyết định việc đúng và việc sai, dựa vào điều tra, xem xét và thẩm định những lời nói năng thì các quan chung quanh, những bầy tôi gần gũi biết là không thể dùng dối trá để được yên thân. Thế nào họ cũng nói: "Nếu ta không vứt bỏ 
những hành vi gian trá riêng tư để dốc sức đem hết trí khôn ra thờ vua, mà lại lo kéo bè kéo đảng, dùng lối khen chê bừa bãi để được yên thân thì cũng chẳng khác gì mang vật nặng ngàn cân đứng ở nơi vực thẳm khôn lường mà lại muốn sống vậy. Nhất định là không thể được".
 
Bọn lại của trăm quan cũng biết rằng nếu làm việc gian dối để mưu lợi thì sẽ không thể được yên. Thế nào họ cũng sẽ nói: "Nếu ta không liêm khiết, ngay thẳng, chính trực để đề cao pháp luật mà lại mang cái bụng tham ô, bẻ cong pháp luật để mưu lợi riêng thì cũng chẳng khác gì trèo lên đỉnh gò cao, rơi xuống cái khe dốc mà lại muốn sống vậy. Nhất định là không thể được". Khi con đường yên và con đường nguy là rõ ràng như thế thì những người chung quanh đâu dám dùng lời nói suông để lừa dối nhà vua, và trăm quan đâu dám tham lam bòn rút kẻ dưới? Như vậy thì những bầy tôi có thể trình bày điều trung mà không bị che đậy, người dưới có thể giữ chức vụ của mình mà không bị oán ghét. Đó là điều đã khiến cho Quản Trọng làm cho nước Tề được trị yên và Thương Quân làm cho nước Tần mạnh.
Theo vào đó mà xét thì bậc thánh nhân khi trị nước vốn có cái đạo khiến cho người ta không thể nào không yêu mình, chứ không bao giờ nhờ cậy người ta vì yêu mình mà làm. Nhờ cậy người ta vì yêu mình mà làm thì nguy. Nhưng dựa vào chỗ họ không thể không làm cho ta thì yên.
 
Nói chung, vua và tôi không có tình thân của những người trong cốt nhục. Nếu theo con đường chính trực mà được lợi thì bầy tôi sẽ dốc hết sức mình để thờ vua. Còn nếu theo con đường chính trực mà không thể được yên thì bầy tôi sẽ làm việc riêng của họ để che giấu nhà vua. Vị vua sáng biết điều đó, cho nên đặt ra con đường lợi và hại để cho thiên hạ thấy. Có thế thôi.
 
Vì vậy ông vua tuy không mở miệng dạy trăm quan, không lấy mắt chỉ bọn gian tà mà nước đã tri yên. Kẻ làm vua không phải tai như Sư Khoáng thì mới thính. Không dùng đến phép tắc mà lại dựa vào con mắt để tỏ ra sáng thì những điều mình thấy sẽ rất ít. Đó không phải là cách tránh sự che đậy.
Không dựa vào cái thế của mình mà lại đợi ở lỗ tai để tỏ ra thính thì những điều nghe được sẽ rất ít. Đó không phải là cách khiến người ta không lừa mình. Vị vua sáng khiến người ta không thể nào không ví mình mà nhìn, khiến thiên hạ không thể nào không vì mình mà nghe. Cho nên thân mình tuy ở nơi thâm cung mà cái sáng chiếu cả bốn biển, thiên hạ không thể nào che lấp được, không thể nào lừa dối được. Tại sao thế? Bởi vì con đường đen tối làm loạn bị bỏ và cái thế sáng tỏ nổi lên.
 
4. Cho nên khéo giữ được cái thế của mình thì nước được yên. Không dựa vào cái thế của mình thì nước bị nguy.
 
Ngày xưa, tục nước Tần, vua bỏ pháp luật mà theo điều riêng tư. Kết quả nước loạn, quân yếu, và vua bị hạ thấp. Thương Quân, thuyết phục Tần Hiếu Công thay đổi pháp luật, thay đổi phong tục để soi sáng cái đạo công: thưởng những người tố giác điều gian dối, làm khốn khổ những kẻ chạy theo cái lợi ngọn để mưu lợi cho những việc gốc. Thời bấy giờ, dân nước Tần vốn quen theo tục cũ, những người có tội có thể miễn tội, những người không có công có thể hiển vinh, cho nên họ coi thường việc phạm đến pháp luật mới. Do đó, trị ai phạm pháp thì trị nặng mà quyết đoán, ai tố giác thì được thưởng nhiều và chắc chắn. Cho nên những kẻ gian không làm được gì và nhiều người bị hình phạt. Dân căm ghét oán giận và ngày nào cũng có nhiều người chê bai Thương Quân. Tần Hiếu Công không nghe cứ làm theo pháp luật của Thương Quân. Dân sau đó biết rằng ai có tội thì thế nào cũng bị trừng phạt và rất nhiều người tố giác những việc gian. Kết quả, dân không dám phạm tội và hình phạt không phải thi hành. Nhờ vậy nước trị an và quân mạnh, đất mở rộng và nhà vua được đề cao. Sở dĩ được thế là vì ai che giấu tội thì bị phạt nặng và ai tố giác việc gian thì được thưởng nhiều.
 
Đó là con đường khiến cho cả thiên hạ nhìn và nghe hộ mình. Pháp luật và cái thuật trị nước cao nhất đã rõ ràng như thế nhưng bọn học giả ở đời lại không biết.
5. Vả lại, bọn học giả dốt nát ở đời không biết bản chất của việc trị và loạn, cứ nói năng nhảm nhí và dẫn những sách của người xưa để làm rối việc cai trị đời này.
 
Sự khôn ngoan suy nghĩ của họ đã không đủ để tránh cái nguy bị rơi xuống hố mà họ lại chê bai bừa bãi những kẻ sĩ có thuật trị nước. Nếu nghe lời họ thì nguy, nếu dùng kế họ thì loạn. Đó là điều ngu hết sức lớn và là mối lo hết sức lớn. So với những kẻ sĩ có thuật trị nước thì họ cũng có được cái tiếng là biện luận nói năng đấy, nhưng thực ra hai bên xa nhau một vực một trời. Cái tiếng là như nhau nhưng sự thực thì khác nhau. Bọn học giả ngu dốt so với những kẻ sĩ có thuật trị nước chẳng khác gì tổ kiến so với cái gò lớn. Hai bên khác nhau xa như thế đấy.
 
Bậc thánh nhân hiểu rõ cái thực tế của việc phải và trái, xét rõ thực chất của việc trị và loạn, cho nên trị nước thì nêu rõ pháp luật đúng đắn, bày ra hình phạt nghiêm khắc để chữa cái loạn của dân chúng, trừ bỏ cái hoạ trong thiên hạ. Khiến cho kẻ mạnh không lấn át người yếu, kẻ đông không xúc phạm số ít, người già cả được thoả lòng, người trẻ và cô độc được trưởng thành, biên giới không bị xâm lấn, vua và tôi thân yêu nhau, cha con giữ gìn cho nhau, lại không mắc phải cái lo bị chết chóc hay bị giặc bắt cầm tù. Đó cũng là cái công hết sức lớn.
 
Bọn ngu không biết, coi đó là hung bạo. Bọn ngu cũng muốn nước được trị an, nhưng lại ghét cái cách để làm cho nước được trị an. Chúng đều ghét cái nguy nhưng lại thích cái cách làm cho nước bị nguy. Tại sao lại biết như thế? Phàm hình phạt nghiêm và nặng là điều dân vẫn ghét, nhưng nước lại nhờ đó mà được trị an, thương xót trăm họ; giảm nhẹ hình phạt là điều dân vẫn thích nhưng nước lại vì thế mà bị nguy.
 
Bậc thánh nhân lập phép tắc cho nước thế nào cũng làm trái thế tục, nhưng đó lại là hợp với đạo đức. Người biết như vậy thì làm theo điều nghĩa mà trái với thế tục. Người không biết điều đó thì làm trái với đạo nghĩa nhưng lại làm theo thế tục. Nhưng người trong thiên hạ biết điều này ít, thì đạo nghĩa sẽ bị chê bai vậy.
6, Ở vào cái địa vị trái với đạo, bị mọi người gièm pha, bị chết đuối trong những lời thế tạc ngày nay mà lại muốn đương đầu với vị thiên tử nghiêm để cầu được yên chẳng phải là khó sao? Đó là điều khiến cho những kẻ sĩ khôn ngoan đến chết cũng không thể nêu danh ở trên đời vậy.
 
Em của Sở Trang Vương là Xuân Thân Quân có người thiếp yêu tên là Dư. Con trai của người vợ chính của Xuân Thân Quân tên là Giáp.
 
Dư muốn chồng mình bỏ người vợ cả cho nên làm cho thân mình bị thương rồi chỉ cho chồng thấy, khóc và nói: "Được làm người thiếp của ngài là may lắm. Tuy vậy nếu làm cho phu nhân thích thì đó không phải là cách để thờ ngài. Còn làm cho vừa lòng ngài thì đó lại không phải là cách thờ phu nhân. Thiếp vốn hèn kém không đủ sức để làm vừa lòng hai người chủ. Tình thế đã không thể làm vừa lòng hai chủ thì thà chết trước mặt ngài còn hơn chết trước mặt phu nhân. Thiếp xin được ngài cho chết. Sau này nếu ngài có thương yêu người nào chung quanh thì xin ngài xét cho chớ để người ta cười". Xuân Thân Quân vì thế tin lời nói dối của Dư mà bỏ người vợ cả.
 
Dư lại muốn giết Giáp để con mình nối nghiệp bèn tự xé áo trong chỉ cho Xuân Thân Quân thấy rồi khóc mà nói: "Dư được ngài yêu đã lâu. Giáp không phải không biết. Nay nó lại muốn trêu Dư. Dư vật lộn với nó đến nỗi nó xé rách áo của Dư. Tội bất hiếu của người con thật không có gì lớn bằng". Xuân Thân Quân giận, giết Giáp. Cho nên vì sự dối trá của Dư mà người vợ cả bị bỏ và người con thì bị giết. Cứ thế mà xem thì người cha yêu con còn có thể dùng lời gièm pha mà hãm hại.
 
Vua với tôi đã không có cái tình thân như cha đối với con, lời gièm pha của bọn bầy tôi lại không phải chỉ có cái miệng của một người thiếp. Như vậy thì những người hiền và thánh bị giết chết có lạ gì đâu?
Chính điều đó khiến cho Thương Quân bị xé xác ở nước Tần và Ngô Khởi bị phanh thây ở nước Sở vậy. Phàm những kẻ làm tôi có tội đều không muốn bị giết, những kẻ không có công đều muốn được vinh hiển. Thế mà bậc thánh nhân cai trị nước thì lại không thưởng những kẻ không có công; trái lại nhất định giết những kẻ có tội.
 
Như vậy thì những kẻ chủ trương pháp luật và thuật trị nước dĩ nhiên là bị những người chung quanh nhà vua hãm hại, nếu không phải là bậc vua sáng thì không thể nghe theo.
 
7. Bọn đề cao học thuật khi thuyết phục nhà vua không nói: "Phải dựa vào cái thế uy nghiêm để làm khốn khổ bọn bầy tôi gian dối". Trái lại chỉ nói đến chuyện "dùng nhân nghĩa, ân huệ, thương yêu chỉ có thế mà thôi".
 Các ông vua ở đời chỉ chuộng cái tiếng nhân nghĩa mà không xét đến sự thực, cho nên kẻ gặp nguy lớn thì nước mất, thân chết: kẻ gặp nguy nhỏ thì nước bị cắt, địa vị nhà vua bị hạ thấp.
 
Lấy gì để chứng minh điều đó? Nói chung, giúp đỡ cho người nghèo khốn đó là cái ở đời gọi là nhân nghĩa. Thương xót trăm họ, không nỡ trừng phạt giết tróc đó là cái ở đời gọi là ân huệ. Nhưng ban ơn cho những người nghèo khốn thì những người có công không được thưởng. Không nỡ trừng phạt giết tróc thì những kế hung bạo gây loạn không bị chặn lại. Nước có kẻ không công mà được thưởng thì dân bên ngoài không lo chống giặc, chém đầu địch, bên trong không chăm ra sức cày ruộng và chăm làm. Ai cũng muốn kiếm của cải, thờ bọn giàu sang, làm việc thiện riêng, nêu danh tiếng để lấy chức quan to và hướng bổng lộc lớn. Kết quả, bọn bầy tôi gian giảo riêng tư càng nhiều và bọn người hung bạo làm loạn càng thắng. Nước như vậy mà không mất thì còn đợi cái gì nữa?
7. Hình phạt nghiêm là điều dân vẫn sợ. Phạt nặng là điều dân vẫn ghét. Cho nên bậc thánh nhân bày ra cái người ta vẫn sợ để cấm không cho người ta làm bậy; đưa ra cái người ta vẫn ghét để đề phòng điều gian dối của họ. Nhờ thế, nước được yên và điều hung bạo loạn lạc không xảy ra. Ta vì thế thấy rõ rằng nhân nghĩa, ân huệ, yêu thương không dùng được vào việc gì, trái lại hình phạt nghiêm, trừng trị nặng có thể trị được nước. Nếu không có cái uy của cây roi, không có hàm thiếc và dây cương thì dù có là Tào Phụ cũng không thể làm cho con ngựa theo mình. Nếu không có cái quy cái củ, không có dây mực để làm tiêu chuẩn thì dù có là Vương Nhĩ cũng không có thể vẽ được hình tròn hình vuông. Nếu không có cái thế của sự oai nghiêm, không có cái phép thưởng phạt thì dù có là Nghiêu, Thuấn đi nữa cũng không thể trị nước. Các vị vua chúa đời này đều coi nhẹ việc phạt nặng, pháp luật nghiêm, muốn thi hành việc thương yêu, ân huệ mà lại muốn lập công lao của bậc bá vương thì không thể được vậy. Cho nên người khéo làm chủ thì nêu cao việc thưởng, đặt ra cái lợi để khuyến khích, khiến cho dân lập công để được thưởng, chứ không ban cấp nhân nghĩa; dùng hình nghiêm phạt nặng để ngăn cấm khiến cho dân sợ phạm tội bị giết chứ không nhờ thương xót ân huệ mà được miễn. Làm thế thì những người không có công không mong được thưởng và những người phạm tội không cầu may được tha.
 
Nếu có xe chắc, ngựa tốt thì trên đường bộ không lo đường dốc, trắc trở. Đi thuyền vững, nắm mái chèo vững thì không sợ dòng nước xiết trên sông. Nếu nắm lấy pháp luật, thuật cai trị, thi hành phạt nặng trừng trị nghiêm thì có thể lập được công nghiệp của bậc bá vương. Trị nước mà có pháp luật, có thuật, có thưởng phạt thì cũng chẳng khác gì đi đường bộ mà có cỗ xe chắc, ngựa tốt, đi đường thuỷ mà có chiếc thuyền nhẹ, chèo chắc vậy. Người có được những cái ấy thì sẽ thành công.
 
Y Doãn nắm được nó mà Thang nên nghiệp vương, Quản Trọng nắm được nó mà nước Tề thành bá, Thương Quân nắm được nó mà nước Tần hùng mạnh. Cả ba người này đều hiểu rõ cái thuật làm bá vương, xét kỹ cái phép làm cho nước trị và mạnh mà không bị ràng buộc bởi những lời của thế tục. Một khi đã hợp với ý của bậc vua sáng đương thời thì từ chỗ là một kẻ sĩ áo vải mà làm ngay chức vụ khanh tướng. Nếu họ ở vào địa vị trị nước thì có cái kết quả thực tế là chủ được tôn quý, đất được mở rộng. Đó gọi là những bầy tôi đáng quý. Thang được Y Doãn từ chỗ có trăm dặm đất mà được làm thiên tử. Hoàn Công được Quản Trọng thì được lập làm người cầm đầu trong ngũ bá, chín lần họp chư hầu, một lần cứu thiên hạ; Hiếu Công được Thương Quân thì đất thêm rộng, binh thêm mạnh. Cho nên nếu có bậc trung thần thì bên ngoài không phải lo về nước địch, bên trong không phải lo bầy tôi làm loạn, được yên ổn lâu dài trong thiên hạ và danh tiếng để lại cho đời sau. Như thế mới gọi là bậc trung thần.
 
Còn như Dự Nhượng làm bầy tôi của Trí Bá, ở trên không thể thuyết phục nhà vua, khiến nhà vua nêu cao pháp luật và thuật trị nước để tránh tai hoạ và hoạn nạn; ở dưới không thể điều khiển dân chúng để cho nước được yên. Đến khi Tương Tử giết Trí Bá. Dự Nhượng mới tự chạm mặt, cắt mũi, làm cho mặt mày hư hỏng, nhằm giết Tương Tứ để trả thù cho Trí Bá. Như vậy là tuy có cái tiếng là vì chúa mà phá huỷ thân mình và bị giết, nhưng thực ra chẳng hề mảy may có ích gì cho Trí Bá cả. Hạng người như vậy tôi coi là kém, nhưng các vị vua ở đời lại cho là trung và để cao.
Xưa có Bá Di, Thúc Tề, vua Vũ Vương nhường thiên hạ cho họ mà họ không nhận. Hai người này chết đói trên núi Thú Dương. Những bầy tôi như vậy không sợ phạt nặng, không ham thưởng lớn, không thể lấy phạt mà cấm, không hề lấy thưởng mà sai. Hạng này gọi là bầy tôi vô ích. Tôi coi khinh và gạt bỏ họ. Nhưng các vị vua ở đời lại khen và tìm kiếm họ.
 
8. Tục ngữ có câu: "Người hủi thương hại ông Vua". Đó là một lời xấc xược. Thế nhưng đời xưa không có lời tục ngữ trống không, cho nên không thể không xét đến.
 
Câu này là để nói đến những ông vua bị ép bị giết và bị nhục nhã. Bậc làm vua mà không có pháp luật để chế ngự bầy tôi thì tuy có sống lâu và có tài đi nữa, các quan đại thần vẫn sẽ được thế. Họ lợi dụng việc phục vụ các quyết định của nhà vua nhưng chỉ hăng hái lo đến việc riêng của họ. Nhưng họ sợ cha anh của nhà vua và những kẻ sĩ hào kiệt mượn cái sức của nhà vua để ngăn cấm hay trừng phạt họ, cho nên họ giết ông vua hiền và lớn tuổi để lập ông vua ít tuổi và yếu đuối, phế truất người chính mà lập kẻ bất nghĩa.
 
Cho nên sách Xuân Thu chép: " Vương Tu Vị nước Sở sắp đi sứ sang nước Trịnh. Chưa ra khỏi biên giới, nghe tin nhà vua có bệnh. Liền trở về, nhân đấy vào thăm bệnh nhà vua, lấy dây mũ thắt cổ nhà vua và giết đi, rồi tự lập mình làm vua.
 
Thôi Trữ nước Tề có người vợ đẹp, Trang Công gian díu với bà ta, mấy lần đến nhà họ Thôi. Khi nhà vua đến, bè đảng của Thôi Trữ là Giả Cử chỉ huy bệ hạ của Thôi Trữ đánh nhà vua. Nhà vua vào nhà xin cùng ông ta chia nước. Thôi Trữ không chịu. Nhà vua bèn xin tự đâm mình chết ở tôn miếu. Thôi Trữ vẫn không nghe. Nhà vua bèn bỏ chạy trèo qua tường ở phía bắc. Giả Cử bắn nhà vua trúng đùi, nhà vua ngã xuống, bọn bộ hạ của Thôi Trữ lấy giáo đâm nhà vua chết, và lập người em là Cảnh Công.
Gần đây, Lý Đoái cầm quyền ở nước Triệu giam đói Chủ Phụ một trăm ngày mà chết. Trác Xỉ được trọng dụng ở nước Tề, rút gân vua Mẫn Vương treo ông ta lên cái xà nhà ở miếu, được một đêm thì chết”.
 
Cho nên kẻ bị bệnh hủi tuy người bị lở lói, sưng phù lên nhưng so với những ông vua trong Kinh Xuân thu trước đây thì không đến nỗi bị thắt cổ, bị bắn vào đùi, bị rút gân. Do đó, những ông vua bị lấn át, bị giết thì bụng lo sợ, thân mình đau khổ, còn tệ hơn anh ta.
 
Do đó mà xem thì “Người hủi thương hại ông vua“ là đúng vậy.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6339
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: HÀN PHI TỬ-HÀN PHI   HÀN PHI TỬ-HÀN PHI EmptyFri Oct 29, 2021 8:08 pm

QUYỂN V

Thiên XV

 
 

                        Những điểm nước mất (Vong trưng)

 
 
1) Nói chung, khi nước của nhà vua thì nhỏ mà các nhà riêng thì lớn, quyền mình thì ít mà bầy tôi thế mạnh thì có thể mất.
 
2) Nếu coi nhẹ pháp luật và những điều ngăn cấm mà lo việc tính toán, mưu mô, bỏ việc bảo vệ bên trong mà nhờ cậy vào viện trợ bên ngoài thì có thể mất.
3) Các quan lo học, những người con em các nhà thích biện luận, những người đi buôn chứa chất của cải ở nước ngoài, dân đen khổ sở ở trong nước thì có thể mất.
 
4) Nhà vua ham cung thất, đài tạ, núi, ao, thích xe cộ, áo mũ, đồ chơi đều đẹp, làm cho trăm họ vất vả, hao tiền tốn của thì có thể mất.
 
5) Ông vua dùng bọn coi ngày, thờ quỷ thần tin bói toán, thích cúng tế thì có thể mất.
 
6) Nghe vì căn cứ theo tước mà không đợi tra xét, chỉ dùng một người làm vây cánh cho mình thì có thể mất.
7) Nếu kẻ quan chức có thể đòi hỏi lớn kẻ tước lộc có thể được của cải thì có thể mất.
 
Cool Bụng dễ dãi không làm được việc gì nhu nhược không quyết đoán, không phân biệt được điều yêu điều ghét, không có lập trường xác định thì có thể mất.
 
9) Tham lam không biết chán, thích điều lợi ham vơ vét thì có thể mất.
 
10) Thích trừng phạt mà không noi theo pháp luật, thích lý thuyết mà không tìm công dụng, thiên về văn vẻ mà không chú ý đến công dụng, thiên về văn vẻ mà không chú ý đến công lao thì có thể mất.
11) Bụng hời hợt và dễ thấy, hay tiết lộ mà không che giấu, không thể giữ bí mật mà lại đem lời bầy tôi này nói với bầy tôi khác thì có thể mất
 
12) Cứng rắn mà không hoà hợp, chống lại lời can gián và hiếu thắng, không đếm xỉa đến xã tắc mà tự tin mình một cách dễ dàng thì có thể mất.
 
13) Cậy vào việc giao du viện trợ của nước xa mà coi nhẹ nước láng giềng ở gần. Dựa vào sự cứu giúp của nước lớn mà coi khinh những nước ở gần thì có thể mất.
 
14) Nếu những kẻ sĩ nước ngoài trú ngụ ở nước mình được dùng vẫn để tài sản ở nước ngoài. Nhà vua ở trên bàn mưu kế với họ, ở dưới cho họ can thiệp vào công việc của dân thì có thể mất.
 
15) Nếu dân chúng không tín nhiệm ông tướng quốc, kẻ dưới không tuân lệnh người trên mà ông vua cứ tin ông tướng quốc không phế truất ông ta thì có thể mất.
 
16) Không dung những người hào kiệt trong nước mà lại tìm những kẻ sĩ của nước ngoài, không kiểm tra bằng công lao mà lại thích đề cử bừa bãi căn cứ vào tiếng khen, những người nước ngoài trú ngụ được trọng hơn những người quen biết cũ thì có thể mất.
 
19) Nước nhỏ mà không chịu nhún nhường, sức yếu mà không sợ nước mạnh, vô lễ làm nhục nước láng giềng lớn; tham lam bướng bỉnh lại vụng giao thiệp thì có thể mất.
20) Thái tử đã lập mà vua lại lấy vợ ở một nước địch mạnh và lập làm hoàng hậu thì thái tử nguy.
 
21) Nhút nhát và tự vệ kém, thấy sớm nhưng trong bụng rụt rè, biết là phải làm nhưng không dám thi hành thì có thể mất.
 
22) Vua bị đuổi ra nước ngoài mà nước lập vua khác, thái tử làm con tin ở nước ngoài mà vua thay đổi người con kế vị thì nước sinh hai lòng, nước sinh hai lòng thì có thể mất.
 
23) Làm nhục quan đại thần mà lại cho ông ta ở gần mình, dùng hình phạt với dân hèn nhưng lại gần gũi họ. Những kẻ ôm ấp điều giận, nhớ 
đến điều sỉ nhục ở gần gũi thì bọn giặc sẽ xuất hiện; bọn giặc xuất hiện thì có thể mất.
 
24) Quan đại thần hai người được trọng, cha anh nhiều và mạnh. Bên trong lập bè đảng, bên ngoài dựa vào nước ngoài để giành nhau uy thế thì có thể mất.
 
25) Nghe lời của tỳ thiếp, dùng cái khôn của những kẻ mình yêu mà đùa bỡn, bên trong bôn ngoài oán giận mà lại hay làm những điều trái pháp luật thì có thể mất.
 
26) Coi khinh quan đại thần, vô lễ với cha anh làm trăm họ vất vả khổ cực, giết hại những người vô tội thì có thể mất.
27) Thích dùng trí khôn để bẻ cong pháp luật thường thay đổi phép công, pháp luật, cấm đoán thay đổi luôn, mệnh lệnh đưa xuống nhiều thì có thể mất.
 
28) Không có đất đai hiểm trở, thành quách kém, không có của chứa chất, không chuẩn bị đề phòng bị mà lại coi thường việc đánh và chinh phạt thì có thể mất.
 
29) Dòng dõi không thọ, nhà vua kế tiếp nhau luôn, con trẻ làm vua, đại thần chuyên quyền, nuôi những người nước ngoài đến trú ngụ làm bè đảng hay cắt đất để ngoại giao với nước ngoài thì có thể mất.
 
30) Thái tử được đề cao và vinh hiển, bè đảng đông và mạnh, coi trọng việc giao du với nước lớn và uy thế sớm có đầy đủ thì có thể mất.
31) Hẹp hòi và nôn nóng, khinh suất và dễ hành động, trong lòng giận dữ không nhìn trước nhìn sau thì có thể mất.
 
32) Nhà vua hay nổi giận lại thích dùng binh, coi thường cái gốc mà lại khinh suất tiến đánh thì có thể mất.
 
33) Bầy tôi sang ghen ghét nhau, các quan đại thần hưng thịnh, bên ngoài dựa vào nước địch, bên trong làm khốn khổ trăm họ gây oán thù mà nhà vua không trừng trị thì có thể mất.
 
34) Nhà vua kém cỏi mà con những người thiếp lại hiền; thái tử bị xem nhẹ mà con thì lại mạnh; quan lại yếu mà nhân dân hung bạo, như thế thì nước rối loạn. Nước rối loạn thì có thể mất.
35) Giữ điều giận mà không bộc lộ ra, treo tội nhưng không giết, khiến bầy tôi trong bụng ghét và lại càng lo sợ, mà lâu không biết thì có thể mất.
 
36) Tướng quân ra biên giới quyền to quá, quan giữ biên địa vị quá cao, chuyên quyền thi hành mệnh lệnh, tự mình làm mà không xin phép ai thì có thế mất.
 
37) Hoàng hậu dâm loạn, hoàng thái hậu làm điều nhơ bẩn, bên trong bên ngoài hỗn loạn, con trai con gái không phân biệt. Như thế gọi là hai vua, hai vua thì có thể mất.
 
38) Hoàng hậu và các bà vợ thì hèn mà các tỳ thiếp thì sang, thái tử thì thấp mà con thì tôn quý, tướng quốc bị khinh mà viên quan tiếp khách nước ngoài được trọng. Như thế là trong và ngoài sai lạc. Trong và ngoài sai lạc thì có thể mất.
 
39) Quan đại thần sang quá đáng, bè đảng đông và mạnh, che đậy cản trở sự quyết định của nhà vua và chuyên quyền trị nước thì có thể mất.
 
40) Các quan của các nhà riêng được dùng mà những người lập công không được dùng. Những người có tiếng trong làng xóm được cất nhắc mà những người chăm làm chức quan của mình thì bị bỏ. Coi trọng việc riêng mà coi nhẹ việc chung, thì có thể mất.
41) Kho nhà nước trống rỗng mà quan đại thần nhiều của cải. Các hộ dân trong nước nghèo mà dân trú ngụ giàu. Kẻ sĩ lo cày và chiến đấu thì nghèo mà dân làm nghề ngọn được lợi thì có thể mất.
 
42) Thấy lợi lớn mà không chạy theo, nghe hoạ bắt đầu mà không đề phòng; kém về mặt chiến đấu và phòng thủ mà lại chăm làm nhân nghĩa để tự tô vẽ cho mình thì có thể mất.
 
43) Không làm cái hiếu của bậc làm vua mà lại làm cái hiếu của kẻ thất phu. Không nhìn đến cái lợi của xã tắc mà lại nghe theo mệnh lệnh của mẹ nhà vua, để cho đàn bà trị nước, những người bị hình phạt sống sót (những người thái giám) cầm quyền thì có thể mất.
44) Nói năng hùng biện nhưng không theo pháp luật, bụng khôn ngoan mà không có thuật trị nước, nhà vua lắm tài nhưng không làm việc theo phép tắc thì có thể mất.
 
45) Những bầy tôi thân được tiến cử mà những người cũ rút lui. Kẻ hèn kém được dùng mà những người hiền lương ẩn nấp. Kẻ không có công được quý trọng mà những người vất vả khó nhọc bị nghèo hèn thì kẻ dưới oán. Kẻ dưới oán thì có thể mất.
 
46) Cha anh, các quan đại thần lộc và trật vượt quá công lao, y phục vượt quá cấp bậc, các cung thất được cung phụng nuôi dưỡng quá xa xỉ mà vua không cấm. Như vậy thì bụng của bầy tôi sẽ không cùng. Bụng của bầy tôi không cùng thì có thể mất.
47) Con rể và cháu của nhà vua ở cùng lẫn lộn với nhân dân, bạo ngược kiêu ngạo với người láng giềng thì có thể mất.
 
Nêu những điểm mất nước trên không phải là nói rằng nước thế nào cũng mất. Mà là có thể mất. Hai Nghiêu không thể cùng làm cho nhau thành vương, hai Kiệt không thể làm cho nhau mất. Cái then chốt khiến cho nhà vua mất nước là ở chỗ nơi trị nơi loạn, nơi mạnh nơi yếu khác nhau xa.
 
Cây gỗ bị gãy thế nào cũng có mọt ở trong. Cái tường bị đổ thế nào cũng có lỗ hở ở trong. Thế nhưng cây gỗ tuy bị mọt nhưng không có gió mạnh thì không gãy. Cái tường tuy có chỗ hở nhưng không có mưa to thì không đổ. Bậc vua chúa có muôn cỗ xe, biết dùng thuật trị nước thi hành pháp luật để làm mưa làm gió đối với những ông vua có điềm mất nước thì việc thôn tính thiên hạ là không khó vậy.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6339
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: HÀN PHI TỬ-HÀN PHI   HÀN PHI TỬ-HÀN PHI EmptyMon Nov 01, 2021 9:54 pm

Thiên XVI

 
 

                        Ba điều phải giữ (Tam thủ)

 
 
1. Bậc làm vua có ba điều phải giữ. Ba điều phải giữ ấy nếu trọn vẹn thì nước yên, thân vinh hiển. Ba điều phải giữ ấy nếu không trọn vẹn thì nước nguy, thân chết. Ba điều phải giữ đó là những gì?
 
1) Khi bầy tôi bàn đến sai lầm của những người có quyền lực, khuyết điểm của những người được tin dùng, tình hình của các quan mà bậc vua chúa không giữ kín được trong lòng lại cho những người thân cận biết. Làm thế bầy tôi dù có muốn nói cũng không dám không làm vừa lòng những kẻ thân cận rồi sau đó mới nói lên cho nhà vua nghe. Như vậy thì những người nói ngay thẳng, chính trực không thể yết kiến nhà vua mà những người trung trực ngày càng bị xa dần.
 
2) Nếu nhà vua yêu ai mà không tự mình làm lợi cho người ấy, chờ đợi anh ta được khen rồi mới làm lợi. Nếu nhà vua ghét ai mà không tự mình làm hại phải chờ đợi anh ta bị chỗ rồi mới làm hại. Như vậy thì nhà vua không có uy mà quyền là ở bọn chung quanh.
 
3) Nhà vua ghét việc tự mình cai trị vất vả mà khiến cho bọn bầy tôi kéo đến thay đổi. Do đó mà cái quyền bị chuyển sang người khác, khiến cho việc cho sống và giết chết, cái chủ yếu của việc cho và cướp lấy lại nằm trong tay các quan đại thần. Như vậy là bị xâm lấn.
Cái đó gọi là ba điều phải giữ. Ba điều phải giữ mà không trọn vẹn thì đó là triệu chứng vua bị hiếp, bị giết vậy.
 
2. Nói chung, việc hiếp nhà vua cũng có ba cách: có cách dùng sự sáng suốt, có cách dùng sự việc, có cách dùng hình phạt.
 
1) Bầy tôi có được cái tôn quý của vị đại thần, khiến cho việc nội trị và ngoại giao nếu không qua tay ông ta thì không thi hành được. Như vậy dù có người tài giỏi nhưng chống lại ông ta thì bị hoạ mà theo ông ta thì được phúc. Như vậy thì quần thần thực không ai dám trung với vua, lo cho nước để bàn về việc có lợi và có hại cho xã tắc.
 
Nhà vua tuy giỏi cũng không thể một mình quyết định, đã thế, bầy tôi lại không dám trung với vua thì nước thế nào cũng mất. Tình trạng đó gọi là nước không có bầy tôi. Nước không có bầy tôi đâu phải là vì không có người làm lang trung và triều thần thiếu? Bầy tôi hưởng lộc nuôi cha, làm việc riêng mà không nghĩ đến trung với việc chung, như thế gọi là hiếp nhà vua.
 
2) Bầy tôi mua lấy ân sủng, nắm lấy quyền chính, trau giồi cái thế bên ngoài để thắng ở bên trong, nói tình hình hoạ và phúc, được và mất khiến người ta sợ để a dua theo ý nhà vua thích và ghét. Nhà vua nghe họ, hạ thấp thân mình coi nhẹ nước để vun đắp cho họ. Việc nếu thất bại thì họ cùng vua chia cái hoạ, việc nếu thành công thì một mình họ hưởng. Những người được dùng đều một lòng một miệng tán dương cái hay của họ thì nhà vua không tin những người nói xấu họ. Đó gọi là hiếp nhà vua bằng công việc.
 
3) Còn như việc coi các tù ngục, cấm đoán, hình phạt mà bầy tôi chuyên nắm lấy thì cái đó gọi là cướp bằng hình phạt.
Ba điều phải giữ nếu không trọn vẹn thì ba điều ức hiếp nẩy sinh. Ba điều phải giữ đầy đủ thì ba điều ức hiếp bị ngừng lại. Ba điều ức hiếp bị chặn lại thì làm vương vậy.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6339
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: HÀN PHI TỬ-HÀN PHI   HÀN PHI TỬ-HÀN PHI EmptyMon Jul 31, 2023 9:51 am

Thiên XVII

 
 

                        Đề phòng bên trong (Bị nội)

 
 
1. Cái lo của nhà vua là ở chỗ tin người ta. Mình tin người ta thì bị người ta kiềm chế. Bầy tôi đối với nhà vua không phải có tinh thần cốt nhục, chi vì bị tình thế buộc không thể không thờ, cho nên những kẻ làm tôi cứ dò la bụng dạ của ông vua không bỏ lơi một phút, thế mà ở trên ông vua lại lười biếng kiêu ngạo.
 
Đó là điều khiến cho trên đời mới có kẻ hiếp vua, giết chúa. Làm vua chúa mà quá tin con thì bọn gian thần sẽ dựa vào người con để thực hiện điều riêng tư của họ. Cho nên Lý Đoái giúp Triệu Vương mà làm cho Chủ Phụ chết đói. Làm vua chúa mà quá tin vợ thì bọn gian thần sẽ dựa vào vợ mà thực hiện điều riêng tư của họ. Cho nên người hề là Thí giúp Ly Cơ giết Thần Sinh mà lập Hé Tề. Gần như vợ và thân như con mà còn không thể tin, thế thì ngoài ra không thể tin ai vậy.
 
2. Vả lại, vị chúa có vạn cỗ xe, ông vua có ngàn cỗ xe, bà hậu phi, các phu nhân, có con trưởng làm thái tử, hoặc giả vẫn có người muốn nhà vua chết sớm.
 
Tại sao lại biết là thế? Nói chung, vợ chồng không có ân huệ cốt nhục, lúc yêu thì được thân, không yêu thì bị sơ. Tục ngữ nói: "Yêu mẹ thì bế con" Như vậy thì ngược lại: "Ghét mẹ thì bỏ con". Đàn ông đến năm mươi tuổi lòng hiếu sắc vẫn không hết đàn bà ba mươi tuổi sắc đẹp đã tàn. Người đàn bà sắc đẹp đã tàn lại thờ ông chồng hiếu sắc thì thân mình thế nào cũng bị hạ thấp, bị bỏ rơi và con mình sợ không nối ngôi được. Đó là cớ khiến cho hoàng hậu, thì phi, phu nhân mong cho nhà vua chết. Còn khi mẹ làm thái hậu người con làm vua thì lệnh ra không ai không thi hành, cấm điều gì cũng được. Cái thú vui trai gái không kém với ông vua trước, mà lại nắm chắc quyền lực của một ông vua có vạn cỗ xe. Đó là cái lý do khiến họ dùng lối đầu độc và thắt cổ.
Cho nên sách Đào Ngột Xuân Thu nói: "Những ông vua chết vì bệnh không có lấy một nửa". Làm vua chúa mà không biết như thế thì loạn sẽ hay nẩy sinh. Cho nên nói: "Nếu nhiều người có lợi về cái chết của nhà vua thì nhà vua nguy".
 
Vương Lương yêu ngựa, vua nước Việt là Câu Tiễn yêu người chỉ vì muốn chiến đấu và cưỡi ngựa. Ông thầy thuốc khéo hút mủ ở vết thương người ta, ngậm máu người ta không phải vì có tình thương cốt nhục, chẳng qua làm thế thì có lợi. Cho nên người bán cỗ xe làm xong cỗ xe thì muốn người ta giàu sang. Người thợ mộc đóng xong quan tài thì muốn người ta chết non. Đó không phải vì người thợ đóng cỗ xe có lòng nhân, còn người thợ đóng quan tài không phải ghét người ta, nhưng cái lợi của anh ta là ở chỗ người ta chết.
 
Cho nên khi bè đảng của bà hậu phi, phu nhàn thái tử đã thành thì muốn nhà vua chết, bởi vì nếu nhà vua không chết thì cái thế của họ không được trọng. Bụng họ không phải ghét nhà vua, nhưng cái lợi của họ là ở chỗ nhà vua chết.
Vì vậy nhà vua không thể không để ý đến những kẻ có lợi trong việc mình chết. Cho nên mặt trời, mặt trăng có cái quầng ở bên ngoài thì cái hại của nó là ở bên trong. Mình đề phòng những người mình ghét nhưng cái hoạ xẩy ra lại từ chính những người mình yêu.
 
3. Vì vậy cho nên bậc vua sáng không làm những việc mà mình không kiểm tra được, không ăn những thức ăn khác thường, nghe xa và nhìn gần để xem xét những sai sót bên trong và bên ngoài. Xét những lời giống nhau và khác nhau để biết sự phân chia bè đảng. Xét điều nên điều không nên để biết được sự thực trong việc trình bày. Nắm lấy cái sau để cho ứng với cái trước. Dựa vào pháp luật để cai trị mọi người. Tập hợp các đầu mối để xem xét. Không thưởng kẻ sĩ vì mình yêu. Không thưởng vượt quá việc đã làm, giết thì phải cho đúng, kẻ có tội thì không tha. Như vậy thì bọn gian tà mới không có cách nào che giấu điều riêng tư của họ được.
 
Sưu dịch nhiều thì dân khổ sở. Dân khổ sở thì kẻ có quyền thế nổi lên. Kẻ có quyền thế nổi lên thì việc sưu dịch càng năng. Việc sưu dịch càng nặng thì những kẻ sang càng giàu. Làm dân khổ sỏ mà những kẻ giàu sang nổi lên, trao cái thế cho bọn bầy tôi, đó không phải là cái lợi lâu dài của thiên hạ. Cho nên có cáu: "Sưu dịch ít thì dân được yên. Dân được yên thì ở dưới không có người nhiều quyền. Ở dưới không có quyền thì quyền thế bị diệt. Quyền thế bị diệt thì cái đức là thuộc bề trên".
 
4. Nước thắng được lửa, điều đó đã rõ. Nhưng lấy cái nồi để ngăn nước lại thì ở trên nước sôi, bốc hơi cho đến cạn, nhưng ở dưới lửa vẫn cứ cháy rần rật. Vì nước không có cái thế để thắng lửa. Nay việc cai trị thì thắng bọn gian tà, điều đó càng rõ hơn nữa. Nhưng những bầy tôi giữ pháp luật lại làm thành cái nồi cho nên pháp luật chỉ sáng rõ ở trong bụng mà bỏ mất cái thế ngăn cấm gian tà.
 
Theo những lời thượng cổ truyền lại, những lời sách Xuân Thu chép thì những kẻ phạm pháp, làm chuyện bạo nghịch thành bọn đại gian xưa nay đều xuất phát từ những bầy tôi được tôn quý.
 
Thế mà những kẻ pháp lệnh đề phòng, hình phạt giết chết, thường là ở địa vị thấp hèn. Cho nên dân chúng tuyệt vọng, không biết kêu vào đâu.
Các quan đại thần bè đảng với nhau, bên trong cùng nhau che đậy nhà vua, làm lợi cho nhau, bên ngoài thì giả vờ ghét nhau để tỏ ra vô tư, cùng làm tai mắt cho nhau để rình mò chỗ sơ hở của nhà vua. Nhà vua bị che đậy không có cách nào nghe được tuy có cái tiếng là chủ nhưng không có cái thực, bầy tôi nắm lấy pháp luật mà thi hành. Tình hình thiên tử nhà Chu là như thế. Nếu cho mượn quyền thế của mình thì trên và dưới thay đổi địa vị. Cho nên nói không thể cho bầy tôi mượn quyền thế.


Thiên XVIII

 
 

                        Ngoảnh mặt về hướng nam (Nam diện)

 
 
1. Điều sai lầm của bậc vua chúa là ở chỗ đã giao trách nhiệm cho bầy tôi, rồi lại dùng những kẻ không được giao trách nhiệm để đề phòng những người trên. Ý nhà vua cho rằng những người không được giao trách nhiệm thế nào cũng thù những người được giao trách nhiệm: nhưng trái lại, nhà vua lại bị những người không được giao trách nhiệm chi phối. Những người hôm nay nhà vua dùng để đề phòng lại là những người hôm qua nhà vua đề phòng.
 
Ông vua nếu không thể làm sáng tỏ pháp luật để khống chế cái uy của các đại thần thì không có cách nào làm cho những người cấp dưới tin mình. Ông vua bỏ pháp luật mà lấy bầy tôi đề phòng bị bầy tôi, thì những kẻ yêu
nhau sẽ kết thành bè đảng để tự khen nhau; những kẻ ghét nhau cũng sẽ kết thành bè đảng để chê bai nhau. Việc khen và chê đã chống đối lẫn nhau thì nhà vua sẽ bị mê hoặc và rối loạn. Kẻ làm tôi nếu không xin xỏ tiếng khen, không chuyên quyền thì không có cách gì để ra uy; nếu không giả vờ trung tín thì không có cách gì để tránh sự cấm đoán. Ba điều này là cơ sở của việc lừa dối nhà vua và làm hỏng pháp luật.
 
Nhà vua khiến cho bầy tôi tuy có khôn ngoan tài giỏi nhưng không được làm trái pháp luật mà chuyên quyền. Tuy họ có đức hạnh cũng không được thưởng vượt quá chức vụ và công lao của họ. Tuy họ có trung tín cũng không được phép bỏ pháp luật mà không ngăn cấm. Như thế gọi là soi sáng pháp luật.
 
2. Bậc vua chúa bị lôi cuốn vì công việc, bị che đậy vì lời nói, hai điều đó không thể không xét.
 
1) Những bầy tôi nói đến công việc thì coi là dễ, cho là chẳng tốn kém gì, lấy công việc để lừa dối nhà vua, nhà vua bị lôi cuốn mà không xét, nên lại khen họ. Như vậy là bầy tôi lấy công việc để khống chế nhà vua. Kết quả là vua bị lôi cuốn, kẻ bị lôi cuốn bởi sự việc thì sẽ bị khổ sở vì những mối lo. Khi trình bày thì nói tổn phí ít, khi làm thì tổn phí nhiều, như vậy thì tuy có công, nhưng lời nói vẫn không đúng sự thực. Người nói không đúng sự thực thì bị tội. Người có công thì nhất định thưởng. Như vậy thì bầy tôi không ai dám tô vẽ lời nói để lừa dối nhà vua. Đạo của nhà vua là khiến cho lời nói trước của bầy tôi không trái với lời nói sau. Lời nói sau nếu trái ngược lại lời nói trước thì tuy có công cũng vẫn cứ bị tội. Đó là cách dùng những người dưới.
 
2) Bầy tôi làm việc cho nhà vua nhưng sợ người ta chê bai mình thì trước tiên phải nói trước rằng "Họ phê phán công việc này là do ghen ghét". Nhà vua tin theo lời nói này mà không nghe các quan nữa, quần thần sợ lời nói này nên không dám bàn việc nầy nữa. Nếu hai hoàn cảnh này được thi hành thì nhà vua không nghe những người trung thần nói mà chỉ bọn bầy tôi được khen một mình được dùng. Như vậy gọi là bị che đậy về lời nói. Nhà vua bị che đậy về lời nói thì bị bầy tôi khống chế.
 
3. Đạo làm vua là khiến cho bầy tôi phải có trách nhiệm nói, lại phải chịu trách nhiệm về chỗ không nói. Lời nói không có đầu đuôi, lời bàn không được xác minh, như thế thì chịu trách nhiệm về lời nói. Lấy chuyện không nói để tránh trách nhiệm để giữ lấy địa vị lớn, như thế là chịu trách nhiệm về chỗ không nói. Bậc vua chúa khiến kẻ làm tôi đã nói thì phải biết đầu mối của nó và đòi hỏi nó phải phù hợp với sự thực. Còn những người không nói thì nhà vua xét những điều họ cho là đúng và những điều họ không cho là đúng để bắt họ chịu trách nhiệm. Như vậy thì bọn bầy tôi không ai dám nói bừa, mà cũng không ai dám im lặng, vì nói hay im lặng cũng đều phải chịu trách nhiệm cả.
 
Nhà vua muốn làm một công việc mà không hiểu rõ đầu đuôi, nếu nói rõ ý muốn của mình thì khi làm công việc này đã chẳng được lợi, trái lại bị hại. Người biết được điều đó thì theo lý mà bỏ ham muốn của mình[15].
 
Làm việc phải có đạo. Khi tính thấy cái thu vào được nhiều nhà cái đưa ra ít thì có thể làm. Ông vua bị mê hoặc thì không thế. Chỉ tính đến cái thu vào mà không tính đến cái đưa ra. Cái đưa ra gấp đôi cái thu vào, mà không biết cái hại của nó thì được cái danh nhưng bỏ mất cái thực. Như vậy thì công ít mà cái hại lớn.
 
Công tức là cái thu vào nhiều mà cái đưa ra ít, thì mới có thể gọi là công được. Nay xài phí nhiều vô ích mà được ít lại cho là công thì bầy tôi sẽ xài phí nhiều để làm nên cái công nhỏ. Cái công nhỏ tuy thành nhưng nhà vua vẫn bị thiệt.
 
4. Những kẻ không biết cai trị thế nào cũng nói: "Không thay đổi cái xưa, chớ thay đổi cái đã cố định". Bậc thánh nhân không quan tâm đến chuyện thay đổi hay không thay đổi, chỉ cốt sao cho chính trị ngay thẳng mà thôi. Như thế thì vấn đề ngày xưa không thay đổi phép tắc cố định là tuy theo chỗ ngày xưa nên làm hay không nên làm.
 
Y Doãn nếu không thay đổi nhà Ân, Thái Công nếu không làm thay đổi nhà Chu thì vua Thang vua Vũ không thể làm vương được. Quản Trọng không thay đổi nước Tề. Quách Yến không thay đổi nước Tấn thì Tề Hoàn Công. Tấn Văn Công không thể làm bá được.
 
Nói chung, sở dĩ người ta ngại thay đổi phép xưa là ngại dân chúng đã quen với nó. Những kẻ không thay đổi phép xưa, noi theo dấu vết của loạn, làm vừa lòng dân là giúp cho bọn gian hoành hành. Dân ngu không biết là loạn mà bổ trùn nhu nhược không thể thay đổi, đó là cái sai của việc cai trị. Bậc làm vua có sự sáng suốt về cách làm cho nước trị an, có sự nghiêm chỉnh quyết thi hành cho được, cho nên tuy trái với lòng dân nhưng lại xác lập được việc trị an. Thuyết này thấy ở thiên "Nội ngoại" của Thương Quân là người phải dùng giáo sắt, khiên nặng để tự đề phòng. Cho tới khi Quách Yển bắt đầu trị nước, Tấn Văn Công có đạo quân bảo vô mình, khi Quản Trọng bắt đầu trị nước, Tề Hoàn Công có xe cộ vũ trang để phòng bị dân chúng. Như vậy để đối phó với dân ngu dốt bướng bỉnh chỉ thấy khổ vì cái phí tổn nhỏ mà quên mất cái lợi lớn. Cho nên Dần Hổ sợ bị gièm pha tham cái lợi nhỏ mà bỏ mất cái tiện lâu dài. Cho nên người thương nhân đất Trâu chê việc chở khách vì quen với đời loạn mà tiếc đời trị. Cho nên người nước Trịnh không thể về[16].


Thiên XIX

 
 

                        Tô vẽ sự gian tà (Sức tà)

 
 
1. Bói mai rùa và cỏ thi, quẻ nói là đại cát, rồi đem quân đánh nước Yên. Đó là nước Triệu. Bói mai rùa và cỏ thi, quẻ nói là đại cát, rồi tấn công nước Triệu. Đó là nước Yên. Trong việc làm của Kịch Tân, nước Yên không có công lao gì mà xã tắc nguy. Trong việc làm của Trán Diễn, nước Yên không có công lao gì mà đạo đức mất[17]. Họ Triệu lúc đầu được thoả ý ở nước Yên, sau đó được thoả ý ở nước Tề. Nước loạn, nhưng khí tiết cao, tự cho mình là ngang với nước Tần. Đó không phải là vì mai rùa của nước Triệu thì linh thiêng mà mai rùa của nước Yên thì lừa dối.
 
Nước Triệu đã từng bói mai rùa, cỏ thi để đánh nước Yên ở phía bắc, định cướp nước Yên để chống lại nước Tần. Quẻ nói đại cát. Nhưng nước Triệu vừa mới đánh thành Đại Lương thì nước Tần đã xuất quân ở Thượng Đảng, quân Triệu đến đất Ly thì sáu thành đã mất, đến Dương Thành thì quân Tần lấy đất nghiệp. Bàng Viện kéo binh đi về phía nam thì đất Chương mất hết.
 
Cho nên thần nói: "Mai rùa của Triệu tuy không thấy xa ở Yên thì cũng phải thấy gần ở Tần. Nước Tần được quẻ đại cát, có cái thực tế là mở rộng đất đai, lại có được cái danh là cứu nước Triệu. Triệu được quẻ đại cát mà đất bị cắt binh bị nhục, vua bực bội mà chết. Lại cũng không phải mai rùa nước Tần thì thiêng mà mai rùa nước Triệu thì lừa dối. Lúc đầu nước Nguỵ mấy năm liền quay về hướng đông đánh lấy hết đất Đào; nước Vệ mấy năm quay về hướng tây mà mít nước của mình,
 
Đó là không phải vì những ngôi sao Phong Long, Thái Nhất, Ngũ Hành, Vương Tướng, Nhiếp Đề, Lục Thần, Ngũ Quát, Thiên Hà, An Sương, Tuế Tinh[18] nằm mấy năm ở phương tây, cũng không phải là vì những ngôi sao Thiên Khuyết. Hố Nghịch, Hình tinh, Huỳnh Hoặc, Khuê Thai mấy năm nằm ở phía đông***. Cho nên nói: "Mai rùa, cỏ thi, quỷ thần không đủ để đánh thắng, không phải các sao ở bên trái, bên phải, trước mặt, sau lưng đủ để quyết định việc đánh". Thế mà nhờ cậy vào đó thì không gì ngu bằng.
2. Ngày xưa các tiên vương dốc sức vào việc đổi mới dân, lo lắng vào việc nêu cao pháp luật. Pháp luật được nêu cao thì các tôi trung được khuyến khích. Việc phạt chắc chắn thì bọn gian thần ngừng lại. Tôi trung được khuyến khích, gian thần ngừng lại, đất mở rộng và vua được đề cao, đó là nước Tần. Bầy tôi bè đảng cấu kết nhau đế che giấu cái đạo ngay, làm việc riêng tư, kết quả đất bị cắt địa vị nhà vua bị thấp xuống, đó là các nước phía đông núi Hoa Sơn. Loạn và yếu thì mất, đó là bản tính con người. Nước trị và mạnh thì làm vương, đó là cái đạo từ xưa vậy. Vua Việt Câu Tiễn cậy vào rùa Đại Bằng đánh nhau với quân Ngô mà không thắng được, phải đem thân làm bầy tôi vào làm quan ở đất Ngô. Khi trở về nước thì bỏ rùa, soi sáng pháp luật, đổi mới dân để trả thù nước Ngô, kết quả bắt được Phù Sai.
 
Cho nên những kẻ cậy vào quỷ thần thì coi thường pháp luật. Những kẻ cậy vào chư hầu thì làm cho nước mình bị nguy khốn. Nước Tào ỷ vào nước Tề mà không nghe nước Tống. Khi nước Tề đánh nước Kinh thì nước Tống diệt nước Tào. Nước Hình ỷ vào nước Ngô mà không nghe nước Tề. Khi nước Việt đánh nước Ngô thì nước Tề diệt nước Hình. Nước Hứa ỷ vào nước Kinh mà không nghe nước Nguỵ. Khi nước Kinh đánh nước Tống thì nước Nguỵ diệt nước Hứa. Nước Trịnh dựa vào nước Nguỵ mà
không nghe nước Hàn. Khi nước Nguỵ tấn công nước Kinh thì nước Hàn diệt nước Trịnh.
 
Nay nước Hàn nhỏ mà ỷ vào nước lớn, nhà vua coi thường mà lại nghe nước Tần[19]. Các nước nhỏ ỷ vào nước Nguỵ, nước Tề, nước Kinh làm chỗ dựa mà những nước nhỏ lại càng mất. Cho nên nhờ cậy người ta không đủ để mở rộng đất. Nước Kinh đánh nước Nguỵ mà đem quân đánh Hứa và Yên, nước Tề đánh Nhiệm Hồ mà cắt đất nước Nguỵ, điều này không đủ để bảo tồn nước Trịnh. Nhưng nước Hàn lại không thấy thế. Những nước này đều không biết soi sáng pháp luật, ngăn cấm để cai trị nước mình mà lại nhờ cậy nước ngoài nên xã tắc bị diệt vậy.
 
3. Cho nên thần nói: "Nếu nêu cao phép tắc cai trị thì nước dù nhỏ cũng giàu. Nếu việc thưởng và phạt được tôn trọng và chắc chắn thì dân tuy ít cũng mạnh. Việc thưởng phạt không có mức độ, thì nước dù lớn, quân đội cũng vẫn yếu. Đất tuy rộng dân vẫn không phải là dân của mình".
Nếu không có đất, không có dân thì Nghiêu, Thuấn cũng không thể làm vương, thời Tam Đại không thể mạnh được. Bậc vua chúa lại cho một cách sai lầm bọn bầy tôi lại nhận một cách bừa bãi. Những kẻ bỏ pháp luật mà nói chuyện công lao của các tiên vương, các vua sáng thì nhà vua trao nước cho họ. Cho nên nói: "Như thế là muốn lập cái công đời xưa, lấy cách thưởng đời xưa để thưởng những người đời nay". Nhà vua như vậy là cho một cách sai lầm, mà bầy tôi vì thế lấy một cách bừa bãi. Vua cho sai lầm thì bầy tôi trộm lấy sự yêu thương, bầy tôi nhận bừa bãi thì công lao không được tôn quý.
 
Những kẻ không có công được thưởng thì của cải hết mà dân oán thán. Của cải hết mà dân oán thán thì dân sẽ không dốc sức mình. Cho nên dùng thưởng mà sai lầm là bỏ mất dân, dùng hình phạt mà sai lầm thì dân không sợ. Có thưởng nhưng không đủ để khuyến khích, có phạt nhưng không đủ để ngăn cấm thì nước dù có lớn cũng nguy. Cho nên nói: "Kẻ biết chuyện nhỏ không đủ để mưu việc lớn kẻ trung nhỏ không đủ để khiến làm chủ pháp luật".
 
Vua Cung Vương nước Kinh đánh nhau với Lộ Công nước Tấn ở Yến Lăng. Quân đội nước Cung thua, Cung Vương bị thương. Đang chiến đấu hăng mà quan tư mã là Tử Phản khát nước, muốn uống nước, người hầu là Cốc Dương dâng cho ông ta chén rượu. Tử Phản nói: "Bỏ đi, đó là rượu!". Người hầu là Cốc Dương nói: "Không phải". Tử Phản cầm lấy mà uống. Tử Phản là người ham rượu, thích quá, uống mãi không thôi, say và ngủ. Cung Vương muốn đánh nữa và muốn bàn kế, sai người gọi Tử Phản, Tử Phản từ chối là đau tim. Cung Vương đi xe đến xem, vào trong trướng ngửi thấy mùi rượu nồng nặc, quay trở về nói: "Trận đánh hôm nay quả nhân bị thương ở mắt, chỉ trông cậy ở quan tư mã. Thế mà quan tư mã lại như thế, tức là làm mất xã tắc nước Kinh và không thương đến dân của ta. Quả nhân không thể cùng ông ta đánh giặc nữa". Nhà vua bãi binh rút về, chém Tử Phản để trị tội.
 
Cho nên nói: "Người hầu Cốc Dương; dâng rượu không phải vì ghét Tử Phản, thực tình anh ta trung và yêu ông ta, nhưng như thế chỉ đủ để giết ông ta mà thôi. Đó là làm việc trung nhỏ mà hại đến cái trung lớn. Cho nên nói: "Cái trung nhỏ là giặc của cái trung lớn". Nếu khiến bọn trung nhỏ làm chủ pháp luật thì họ thế nào cũng tha tội vì thương yêu. Như thế thì được yên với kẻ dưới nhưng lại làm trở ngại đến việc trị dân vậy.
4. Vào thời nước Nguỵ nêu cao luật pháp, và thi hành mệnh lệnh, thì những người có công thế nào cũng được thưởng, những người có tội thế nào cũng bị phạt, và nước mạnh trong thiên hạ, uy lực thi hành ở bốn phương. Đến khi pháp luật của nước bị coi thường, việc thưởng bừa bãi thì nước ngày càng bị cắt đất. Vào thời nước Triệu nêu cao luật pháp của nước, lập một đạo quân lớn thì người đông và binh mạnh, mở rộng đất ở nước Tề, nước Yên. Đến khi phép nước bị coi thường, người thi hành pháp luật yếu thì nước ngày một bị cắt đất. Nước Yên vào thời đề cao pháp luật, xét kỹ những quyết định của các quan thì phía đông lấy các huyện của nước Tề, phía nam thu hết đất Trung Sơn. Đến khi việc tôn trọng pháp luật đã bị bỏ, sự quyết định của các quan không được dùng, những người chung quanh nhà vua tranh giành nhau, việc bàn về công lao do người dưới quyết định thì binh yếu và đất bị cắt, nước bị những nước láng giềng khống chế
 
Cho nên nói: "Nước nào nêu cao pháp luật thì mạnh, nước nào coi nhẹ pháp luật thì yếu" Tình trạng mạnh hay yếu như vậy là rất rõ. Thế nhưng những vị vua chúa ở đời không làm, cho nên nước mất là phải lắm.
 
Tục ngữ có câu: "Nhà có công việc không thay đổi thì tuy gặp đói cũng không chết đói. Nước có pháp luật bất biến thì tuy gặp nguy cũng không mất". Nay lại bỏ cái pháp luật bất biến mà nghe theo cái ý riêng thì những bầy tôi ở dưới tô vẽ sự khôn ngoan tài giỏi. Nếu bầy tôi ở dưới tô vẽ sự khôn ngoan tài giỏi thì pháp luật và lệnh cấm không đứng vững được. Như vậy là cái đạo theo ý sai lầm được thi hành và cái đạo trị nước bị bỏ. Cái đạo trị nước nếu trừ khử những kẻ làm hại pháp luật thì không bị sự khôn ngoan tài giỏi mê hoặc, không bị tiếng khen lừa dối.
 
Ngày xưa Thuấn sai quan khơi nước hồng thuỷ chảy. Một người làm trước khi có lệnh và có công, nhưng Thuấn giết đi. Vua Hạ Vũ tiếp chư hầu ở Cối Kê. Vua Phòng Phong đến sau mà Vũ chém đi. Do đó mà xem, người làm trước khi có mệnh lệnh thì bị giết, người làm sau kỳ hạn của lệnh bị chém. Vậy người xưa quý nhất là làm đúng mệnh lệnh.
 
Cho nên cầm cái gương trong thì không bị cản trở, do đó có thể so sánh đẹp và xấu. Nắm lấy cái cân thẳng mà không bị cản trở thì vật nặng vật nhẹ đều do đó mà cân được. Lắc cái gương thì cái gương không thể sáng, lắc cái cân thì cái cân không thể đúng. Về pháp luật cũng thế.
Vì vậy cho nên tiên vương lấy đạo làm cái bất biến, lấy pháp luật làm gốc. Cái gốc được trị thì cái tiếng lớn, cái gốc mà loạn thì cái tiếng mất. Nói chung, những kẻ khôn ngoan, tài giỏi, sáng suốt, thông minh nếu được dùng thì có kết quả tốt, nếu không được dùng thì vô ích. Cho nên sự khôn ngoan có thể giúp đỡ cho đạo nhưng không thể truyền cho người khác. Đạo và pháp luật thì vạn toàn, còn khôn ngoan và tài giỏi thì thường hay sơ suất.
 
Nói chung, treo cái cân lên, đó là cái đạo vạn toàn vậy. Bậc vua sáng khiến dân trau giồi về đạo cho nên rỗi rãi mà có được công lao. Bỏ cái quy để dùng sự khéo léo, bỏ pháp luật để nghe theo sự khôn ngoan, đó là cái đạo dẫn đến sư mê hoặc rối loạn. Ông vua loạn khiến dân trau giồi sự khôn ngoan, vì không biết đạo cho nên vất vả và không có công lao.
 
5. Bỏ pháp luật, sự ngăn cấm mà nghe theo lời xin xỏ, thì ở trên bọn bầy tôi sẽ bán chức quan, ở dưới sẽ lấy thượng. Như vậy là cái lợi là thuộc nhà riêng mà cái uy là thuộc bầy tôi. Cho nên dân không dốc sức thờ vua mà lo việc giao tiếp với cấp trên. Dân thích giao tiếp với cấp trên thì của cải chạy lên trên, còn bọn khéo nói được dùng. Như vậy thì các người có công lao lại càng ít, bọn gian thần càng tiến lên và các bầy tôi có tài càng lùi bước.
Kết quả nhà vua bị mê hoặc không biết nên làm như thế nào dân chúng tụ tập nhưng không biết đi đường nào Đó là điều sai lầm của việc bỏ pháp luật, cấm đoán coi nhẹ công lao, dùng người theo tiếng khen, nghe theo lời xin xỏ vậy.
 
Nói chung, những kẻ làm hỏng pháp luật thế nào cũng bày đặt ra những điều dối trá, bày ra những sự việc để thân với nhà vua, lại thích nói những điều trong thiên hạ ít có. Đó là điều làm cho các bạo quân và các loạn chúa bị mê hoặc, và các bầy tôi giúp đỡ giỏi bị lấn át. Cho nên bầy tôi khen công Y Doãn, Quản Trọng thì bọn làm trái pháp luật, tô vẽ sự khôn ngoan có căn cứ để nói[20], khen Tỷ Can, Tử Tư là trung mà bị giết thì những kẻ ghét những người can gián mạnh có cớ để nói[21]. Nói chung, trên khen là những người hiền minh, thì dưới gọi là bạo loạn, không thể lấy đó để so sánh. Như vậy thì phải cấm. Nhà vua lập, ban hành pháp luật để lập nên cái phải. Nay bọn bầy tôi nhiều người dùng cái khôn riêng của mình, cho pháp luật là sai, cho việc gian tà là khôn, vượt qua pháp luật để dùng cái khôn. Như thế thì phải cấm. Đó là cái đạo của bậc làm vua.
Đạo của bậc vua chúa là phải phân biệt rõ ràng giữa việc chung với việc riêng, nêu cao pháp chế, gạt bỏ cái ơn riêng. Phàm mệnh lệnh thì phải thi hành, đã cấm thì phải thôi. Đó là cái nghĩa chung của nhà vua, Quyết tám là việc riêng, giữ chữ tín với bạn bè, không để cho việc thưởng khuyến khích, không để cho việc phạt cản trở. Đó là cái nghĩa riêng của bầy tôi. Cái nghĩa riêng được thi hành thì sinh loạn, cái nghĩa công được thi hành thì trị an. Cho nên việc công và việc riêng phải phân biệt.
 
Bầy tôi có bụng riêng tây, có cái nghĩa chung. Trau giồi thân mình trong sạch làm việc công ngay thẳng, giữ chức quan không theo điều riêng đó là cái nghĩa chung của bầy tôi. Làm chuyện tham ô, vâng theo sự ham muốn, lo thân mình yên, nhà mình được lợi, đó là cái bụng riêng tư của bầy tôi. Bậc vua sáng ở trên thì bọn bầy tôi sẽ bỏ cái bụng riêng tư để làm cái nghĩa chung. Ông vua loạn ở trên thì bọn bầy tôi sẽ bỏ cái nghĩa chung, thi hành cái bụng riêng tư.
 
Cho nên vua và tôi bụng dạ khác nhau. Nhà vua dùng mưu kế để nuôi bầy tôi, bầy tôi dùng mưu kế để thờ nhà vua. Quan hệ giữa vua và tôi là mưu kế cả. Làm hại đến thân mình mà có lợi cho nước, bầy tôi không làm. Làm hại cho nước mà lợi cho bầy tôi thì ông vua không làm. Tình cảm của bầy
tôi là không thấy cái lợi ở chỗ thân mình bị thiệt hại, tình cảm của ông vua là không thân với những người làm hại cho nước. Như vậy, vua với tôi là lấy sự tính toán để hợp tác với nhau. Còn như việc gặp mà quyết chết, dốc trí khôn đem hết sức mình, thì đó là vì pháp luật mà làm.
 
6. Cho nên các tiên vương làm sáng tỏ sự thưởng phạt để khuyến khích họ, lập hình phạt nghiêm để ra uy với họ. Việc thưởng phạt được soi sáng thì dân quyết chết. Dân quyết chết thì quân đội mạnh và vua được đế cao. Hình phạt và khen thưởng không được xét rõ thì dân không có công mà lại cầu được thưởng, có tội mà lại mong được tha. Như vậy thì quân đội yếu mà vua bị hạ thấp. Do đó, các tiên vương và các người giúp đỡ giỏi đều dốc hết sức và đem hết trí khôn. Cho nên có câu: "Không thể không phân biệt việc công và việc tư, không thể không xét kỹ pháp luật và việc ngăn cấm, các bậc tiên vương đã biết rõ điều đó vậy".
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6339
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: HÀN PHI TỬ-HÀN PHI   HÀN PHI TỬ-HÀN PHI EmptyMon Aug 14, 2023 4:28 pm

QUYỂN VI

Thiên XX

 
 

                        Giải thích Lão Tử (Giải Lão)

 
 
1. Đức là cái ở bên trong, còn cái người ta thu hoạch được là cái ở bên ngoài. Nói rằng "Bậc đức hạng trên không chăm chú vào đức" là ý nói cái tinh thần của ông ta không biểu lộ ra bên ngoài. Vì tinh thần của ông ta không biểu lộ ra bên ngoài cho nên thân ông ta toàn vẹn. Thân ông ta toàn vẹn, cho nên gọi là "thu hoạch được". Thu hoạch được là được cái thân mình vậy.
 
Phàm cái đức là bắt đầu bằng "vô vi" và hoa thành bằng cái "vô dục". Nó yên là nhờ chỗ không suy nghĩ. Nó vững chắc là nhờ chỗ không hoa động. Nếu làm và muốn thì cái đức không yên được Đức không yên được thì không hoàn mỹ. Nếu cứ dùng và suy nghĩ thì không vững chắc. Không
vững chắc thì không có công. Không có công là do chỗ dùng đến đức. Tự cho mình có đức thì không có đức, không tự cho mình có đức lại là có đức. Cho nên nói: “Bậc đức hạng trên không cho mình có đức cho nên có đức” (Chương 38).
 
2. Sở dĩ người ta quý cái vô vi, cái không suy nghĩ, là vì nó trống không, là vì cái ý của nó không bị cái gì khống chế. Phàm kẻ không có thuật cho nên mới cho cái vô vi, không suy nghĩ là trống không. Phàm cho cái vô vi, không suy nghĩ là cái trống không là vì bụng của mình vẫn không quện cái trống không cho nên mới bị cái trống không: khống chế. Gọi là trống không nghĩa là cái ý của mình không bị cái gì khống chế. Nay đã bị cái trống không khống chế như vậy không phải là trống không nữa. Cái vô vi của sự trống không là không xem cái vô vi là cái vĩnh viễn. Vì không xem cái vô vi là cái vĩnh viễn cho nên mới trống không. Vì trống không cho nên cái đức mới dồi dào. Cái đức dồi dào gọi là cái đức của bậc trên. Vì vậy nói: "Cái đức bậc trên vô vi nhưng không cái gì không làm” (Chương 38).
 
3. Nhân là nói trong lòng hớn hở thương người, vui mừng khi người ta gặp phúc và khó chịu khi người ta gặp hoạ. Nó sinh ra trong lòng không thể cấm được, chứ không phải là cẩu mong báo đáp. Cho nên nói "Cái nhân bậc trên làm mà không cho là có làm" (Chương 38).
 
4. Nghĩa là phận sự của vua với tôi, của người trên với người dưới, là sự phân biệt giữa cha với con, giữa người sang với người hèn, là sự tiếp xúc giữa người bạn bè quen biết, là sự phân biệt giữa người thân với kẻ sơ, giữa trong với ngoài.
 Bầy tôi thờ vua là phải. Người dưới nghĩ đến người trên là phải. Con thờ cha là phải. Người hèn kính trọng kẻ sang là phải. Người thân ở trong và người sơ ở ngoài là phải. Nghĩa là cái phải làm vì phải làm cho nên làm. Cho nên nói: "Cải nghĩa bậc trên làm những có cái để làm" (Chương 38).
 
5. Lễ là cái để bộc lộ tình cảm. Nó là cái tô vẽ bên ngoài của mọi điều nghĩa, là mối quan hệ giữa vua với tôi, giữa cha với con, là cái làm cho người sang khác kẻ hèn, người hiền khác kẻ kém. Trong lòng nghĩ đến nhưng không nói ra, cho nên rảo bước nhanh đến cúi lạy để biểu lộ. Trong lòng thực yêu, nhưng không biết cho nên dùng lời hay câu văn vẻ để cho người ta tin. "Lễ là để bộc lộ cái về bên ngoài của tình cảm" (Chương 38).
Nói chung, khi con người bị những sự vật bên ngoài cảm xúc thì không biết rằng cảm xúc như vậy là cái lễ của thân mình. Người thường làm lễ là để tôn trọng người khác, cho nên có khi hăng hái, có khi suy kém. Người quân tử làm lễ là vì mình, là VI thân mình cho nên thần kỳ, nó thành cái lễ bậc trên Cái lễ bậc trên thần kỳ nhưng người thường không hiểu cho nên không thể tương ứng với nhau được Cho nên nói: "Cái lễ bậc trên làm nhưng không ai hưởng ứng nó" (Chương 38).
 Người thường tuy thay đổi nhưng bậc thánh nhân vẫn cung kính biểu lộ hết cái lễ của tay chân mà không suy giảm. Cho nên nói: "Đưa tay ra để làm" (Chương 38). Cái đạo có sự chứa đựng mà cái đức có công lao, cái đức là công lao của đạo. Cái công lao có cái thực và cái thực có ánh sáng, nhân là ánh sáng của đức, ánh sáng thì có vẻ hào nhoáng mà vẻ hào nhoáng thì có việc làm. Nghĩa là cái việc làm của nhân. Việc thì có lễ mà lễ thì có văn vẻ. Lễ là cái văn vẻ của nghĩa. Cho nên nói: "Bỏ mất cái đạo rồi sau độ mới mất đức, bỏ mất đức rồi sau đó mới mất nhân, bỏ mất nhân rồi sau đó mới mất nghĩa, bỏ mất nghĩa rồi sau đó mới mất lễ” (Chương 38)[23].
6. Lễ là cái biểu lộ ra ngoài của tình cảm. Văn vẻ là cái trang sức của bản chất. Nói chung, người quân tử giữ lấy cái tình cảm mà bỏ cái biểu lộ bên ngoài, thích cái bản chất mà ghét cái trang sức. Nói chung, nếu dựa vào tình cảm bên ngoài để bàn đến tình cảm, thì cái tình cảm xấu; lo trang sức để bàn về cái bàn chất thì cái bản chất kém. Lấy cái gì để chứng minh điều đó? Ngọc bích họ Hoà không lấy năm sắc để tô vẽ, hạt châu của Tuy Hầu không lấy vàng bạc để tô vẽ. Bản chất của nó tuyệt đẹp, không có vật gì đủ đồ trang sức cho nó.
 
Nói chung, một vật đã nhờ cậy vào trang sức rồi mới làm được thì cái bản chất của nó không đẹp. Cho nên giữa cha với con, lễ chất phác mà không sáng. Cho nên nói "Lễ mỏng" (Chương 38). Nói chung, vật không cùng nhau thịnh cả, âm với dương là như thế. Cái lý xâm đoạt nhau và giúp đỡ nhau, uy và đức là như vậy. Cái bản chất mà dày thì cái bên ngoài sẽ mỏng, cái lẽ giữa cha với con là như vậy. Do đó mà xem thì khi cái lẽ phiền phức là cái thực tâm đã kém. Như vậy thì làm điều lễ là để thông suốt tấm lòng chất phác của con người. Người thường làm điều lễ mà người ta hưởng ứng thì anh ta vui một cách khinh xuất, người ta không hưởng ứng thì anh ta oán trách. Nay làm điều lễ để thông suốt tấm lòng chất phác của con người mà lại dựa vào đấy để oán trách nhau, thì làm sao khỏi tranh giành? Có tranh giành thì sinh loạn. Cho nên nói: "Lễ là biểu
hiện, mỏng mảnh của lòng trung tín, và là cái đầu mối của loạn chăng?"(Chương 38).
 
7. Làm trước khi có việc xẩy ra, cử động trước khi có cái lý bộc lộ thì gọi là biết trước. Kẻ biết trước thì vô cớ mà có ý đoán định liều lĩnh.
 
Lấy gì chứng minh điều đó? Chiêm Hà ngồi học trò đứng hầu. Có con bò kêu ngoài cửa. Học trò nói: "Đó là con bò đen trán trắng". Chiêm Hà nói: "Phải, đó là con bò đen nhưng cái sừng trắng". Sai người xem, quả nhiên con bò có vải trắng quấn ở trên sừng. Lấy cái thuật của Chiêm tử làm cho bụng của người thường cảm xúc thì rực rỡ như hoa vậy. Cho nên nói: "Biết trước là cái hoa mỹ của đạo" (Chương 38). Ví thử thay thế cái tài xét đoán của Chiêm tử, mà sai một thằng bé cao năm thước đi xem, thì nó cũng biết đó là một con bò đen sừng quấn vải. Cho nên lấy cái tài xét đoán của Chiêm từ, khổ tâm nhọc tinh thần mà kết quả cái công cũng như đứa trẻ cao năm thước, cho nên nói: "Cái đầu mối của điều ngu". Vì vậy có câu: "Biết trước là cái hoa mỹ của đạo, nhưng là cái đầu mối của điều ngu".
8. Kẻ gọi là bậc đại trượng phu là nói cái trí khôn của ông ta lớn. Nói "ở chỗ dày không mỏng" (Chương 38) là làm theo tình cảm thực mà bỏ cái biểu lộ bên ngoài của lễ. Gọi là "ở quả không ở hoa" (Chương 38), tức là phải theo cái lý mà không làm liều. Cái gọi là bỏ cái kia lấy cái này là bỏ cái vẻ biểu lộ bên ngoài, bỏ cái càn bậy để nắm lấy cái lý cái tình cảm thực và tốt đẹp. Cho nên nói: "Bỏ cái kia giữ cái này" (Chương 38).
 
9. Người ta có hoạ thì trong lòng sợ hãi. Trong lòng sợ hãi thì làm việc ngay thẳng. Làm việc ngay thẳng thì suy nghĩ chín chắn và nắm được cái ly ức của sự việc. Làm việc ngay thẳng thì không bị hoạ, không bị hại. Không bị hoạ, không bị hại thì sống trọn tuổi trời. Nắm được cái lý của sự việc thì thế nào cũng thành công, sống trọn tuổi trời thì toàn vẹn và sống lâu. Thế nào cũng thành công thì giàu có và sang trọng, toàn vẹn và sống lâu. Toàn vẹn và sang trọng cái đó gọi là phúc. Nhưng cái phúc lại bắt rễ ở cái hoạ, cho nên nói: " Hoạ là chỗ dựa của phúc" (Chương 58) là để làm nên cái công vậy.
 
10. Con người có phúc thì cái giàu và cái sang đến. Cái giàu và cái sang đến thì ăn ngon mặc đẹp. Ăn ngon mặc đẹp thì cái bụng kiêu căng nẩy sinh. Cái bụng kiêu căng nẩy sinh thì làm việc xằng bậy và hành động trái lý lẽ. Làm việc xằng bậy thì thân chết yểu, hành động bỏ lý lẽ thì không thành công. Phàm bên trong có cái nạn chết yểu, bên ngoài không thành công danh là cái hoạ lớn. Nhưng cái hoạ lại bắt rễ ở cái phúc cho nên nói: "Phúc là chỗ nấp của hoạ ” (Chương 58).
 
11.     Phàm dựa theo đạo lý mà làm thì không việc nào là không thành. Không việc nào không thành thì lớn có thể thành cái thế cao quý của vị thiên tử, nhỏ dễ được hưởng cái lộc của vị khanh tướng, tướng quân.
 
Phàm bỏ đạo lý mà hành động bừa thì dù trên có được cái thế cao quý của thiên tử và chư hầu dưới có được cái giàu của Đào Chu, Bốc Chúc cũng mất dân và bỏ mất tài sản của mình. Người thường coi nhẹ việc bỏ đạo lý và coi thường việc hành động bừa mà không biết rằng cái hoạ và phúc lớn và sâu cái đạo rộng và xa như thế. Cho nên có câu khuyên người ta "Ai biết được chỗ cùng cực của nó?” (Chương 58).
 
Người ta không ai không muốn giàu sang sống toàn vẹn và thọ, nhưng chưa có ai thoát được cái hoạ nghèo hèn chết yểu. Lòng mình muốn giàu sang toàn vẹn và thọ nhưng nay phải nghèo hèn chết yểu. Như thế là không thể đạt đến cái chỗ mình muốn đến vậy. Nói chung, bỏ mất con đường mình muốn đi và đi liều lĩnh thì gọi là mê, mê thì không thể đi đến nơi mình muốn đến. Nay người thường không thể đến nơi họ muốn đến cho nên gọi là "mê"! Việc người thường không thể đến nơi họ muốn đến là điều đã có từ lúc trời đất tách ra cho đến ngày nay. Cho nên nói: "Con người ta mê, chuyện đó đã có từ lâu rồi". (Chương 43).
 
12.     Cái gọi là đúng đắn là bên trong và bên ngoài tương ứng với nhau, lời nói và việc làm phù hợp với nhau. Cái gọi là liêm là nhất định sống chết  theo mệnh, coi khinh tiền tài. Cái gọi là thẳng là lòng nghĩa ngay thẳng, lòng công không thiên không bè đảng. Cái gọi là sáng là quan tước tôn quý áo cầu tráng lệ.
 
Nay những kẻ sĩ có đạo tuy trong và ngoài đều tin và thuận, nhưng vẫn không lấy điều đó để chê bai bài bác kẻ khốn cùng. Tuy mình chết theo khí tiết, coi khinh tiền tài, nhưng vẫn không vì đó mà làm nhục kẻ tham lam xấu hổ. Tuy cái nghĩa của mình chính đáng không bè đảng nhưng vẫn không vì thế mà trừ khử kẻ gian tà, làm tội kẻ riêng tư. Tuy cái thế của mình cao quý quần áo đẹp đẽ, nhưng vẫn không vì thế mà khoe khoang với kẻ hèn, khinh bỉ kẻ nghèo. Tại sao lại thế? Đó là để cho người lạc đường
chịu nghe người thông thạo, chịu hỏi người biết, kết quả không trở thành mê nữa.
 
Nay những người thường sở dĩ mình muốn nên công mà trái lại vẫn bị thất bại là vì họ không biết đạo lý mà lại không chịu hỏi người biết, không chịu nghe người giỏi, mà thánh nhân lấy tai hoạ và thất bại để ép họ thì họ oán. Người thường thì đông mà thánh nhân thì ít. Sô ít không thể thắng được số nhiều, đó là lẽ tự nhiên. Nay hành động mà khiến cho tất cả thiên hạ đều thành kẻ thù của mình thì đó không phải là con đường bảo toàn thân mình, và sống lâu, do đó đưa cái đường lối ngay thẳng để sửa đổi họ. Cho nên nói: "Đúng đắn mà không cắt, liêm mà không làm hại, thẳng mà không phóng túng, sáng mà không chói loà (Chương 58).
 
13. Thông minh trí tuệ là do trời cho. Động tĩnh suy nghĩ là do người làm. Con người dựa vào cái sáng suốt của trời mà nhìn, nhờ vào cái thông minh của trời mà nghe, nhờ vào cái khôn của trời mà suy nghĩ. Cho nên rán mắt mà nhìn thì mắt không sáng, nghe quá thì tai không tỏ, suy nghĩ quá độ thì trí óc loạn.
Mắt không sáng thì không thể phân biệt màu đen hay màu trắng. Tai không tỏ thì không thể phân biệt tiếng trong hay tiếng đục. Trí óc loạn thì không thể phân biệt được chỗ được chỗ mất. Mất không phân biệt được màu đen hay màu trắng thì gọi là mù. Tai không phân biệt được tiếng trong hay tiếng, đục thì gọi là điếc. Cái tâm không phân biệt được chỗ được hay chỗ mất thì gọi là điên. Mù thì không thể tránh được cái nguy hiểm lúc giữa ban ngày. Điếc thì không thể biết được cái hại của sấm sét. Điên thì không khỏi được cái hoạ pháp lệnh của nhân gian. Sách sở dĩ nói trị người là phải thích hợp với cái mức độ của động và tĩnh, phải giảm bớt cái hao phí của việc suy nghĩ. Cái gọi là thờ trời là nói không làm kiệt hết cái sức của sự thông minh, không dùng hết cái khả năng của trí óc. Nếu như làm hết kiệt thì phí tổn nhiều về tinh thần, phí tổn nhiều về tinh thần thì cái hoạ mù, điếc, điên cuồng, sẽ đến. Cho nên phải tiết kiệm nó, phải yêu cái tinh, thần của mình, phải tiết kiệm cái trí óc của mình. Cho nên nói: "Trị người, thờ trời không bằng tiết kiệm" (Chương 49).
 
14, Người thường dùng đến tinh thần thì nôn nóng. Nôn nóng cho nên xài phí nhiều. Xài phí nhiều gọi là xa xỉ. Bậc thánh nhân dùng tinh thần thì bình tĩnh. Bình tĩnh cho nên xài phí ít, xài phí ít gọi là tiết kiệm. Cái thuật tiết kiệm là ở đạo lý mà sinh ra. Phàm có thế tiết kiệm được là theo cái đạo mà vâng theo cái lý. Người thường mắc vào mối lo, bị hãm vào cái hoạ mà còn chưa biết rút lui, vẫn cứ không phục tùng đạo lý. Bậc thánh nhân tuy chưa thấy cái bộc lộ của họ và lo lắng đã lo hư tĩnh vô vi để phục tùng đạo lý, lấy đó làm việc phục tùng đầu tiên. Cho nên nói: “Tiết kiệm cho nên phục tùng sớm" (Chương 59).
 
15. Kẻ biết trị người thi suy nghĩ bình tĩnh, kẻ biết thờ trời thì giác quan trống rỗng. Suy nghĩ bình tĩnh, cho nên cái đức không rời bỏ. Giác quan trống rỗng cho nên hoà khí ngày một vào. Cho nên nói: "chứa được nhiều đức" (Chương 59).
 
Phàm người có thể khiến cho cái đức cũ không rời bỏ mà hoà khí mốt ngày một đến là người sớm phục tùng. Cho nên nói: "Sớm phục tùng gọi là chất chứa đức" (Chương 59). Có chất chứa đức thì sau đó tinh thần mới bình tĩnh Tinh thần có bình tĩnh thì sau đó hoà khí nhiều. Hoà khí nhiều thì sau đó cái kế mới hay. Có kế hay thì sau đó mới có thể chế ngự muôn vật được. Có chế ngự muôn vật được thì bàn luận sẽ bao trùm cả đời. Bàn luận nhất định bao trùm cả đời cho nên nói: "Không có cái gì không khắc phục được" (Chương 59). Tình trạng không có cái gì không khắc phục được là bắt rễ ở "chứa được nhiều đức”. Cho nên nói: "Chứa được nhiều đức thì không có cái gì là không khắc phục được”.
Chiến đấu để thắng quân địch dễ dàng thì thâu tóm cả thiên hạ. Bàn luận thế nào cũng bao trùm cả đời thì nhân dân theo. Tiến lên thâu tóm thiên hạ mà rút lui theo nhân dân. Cái thuật này xa như thế cho nên những người thường không ai thấy được đầu mối và ngành ngọn của nó. Không ai thấy đầu mối và ngành ngọn của nó cho nên không ai biết được cái cùng cực của nó. Vì vậy nói: "Cái khắc phục được mọi cái thì không ai biết cái cùng cực của nó" (Chương 59).
 
16. Nói chung, con người có nước rồi sau mất nước, con người có thân rồi sau thân chết non không thể gọi là người có thể có được nước, có thể giữ được thân mình. Phàm những người có được nước thì thế nào cũng có thể làm cho xã tắc của mình được yên, người có thể giữ được thân mình, thế nào cũng có thể sống trọn tuổi trời, rồi sau đó mới có thể gọi là con người có nước, con người biết giữ thân mình.
 
Nói chung, những người có thể có được nước, giữ được thân mình thì thế nào cũng phải đi theo đạo. Đi theo đạo thì trí khôn sâu. Trí khôn sâu thì hiểu xa. Hiểu xa thì những người thường không thể nào thấy được cái chỗ cùng cực của mình. Chỉ có cách là khiến cho người ta không thấy cái cùng cực của việc mình làm.
 
Người ta không thấy được cái cùng cực của việc, mình làm thì có thể giữ được thân mình, có được nước mình. Cho nên nói: "Không ai biết cái cùng cực của mình. Không ai biết được cái cùng cực của mình thì có thể có được nước" (Chương 59).
 
Trong câu "mẹ của nước" thì chữ mẹ dây là đạo. Đạo sinh ra ở cái thuật khiến cho người ta có được nước. Nó sinh ra ở cái thuật có được nước cho nên gọi là "mẹ của nước". Nói chung, cái đạo là cùng xoay chuyển với đời, nó khiến cho việc duy trì sự sống được dài, việc giữ lộc được lâu, cho nên nói: "Có mẹ của đạo thì có thể trường cửu".
 
Cái cây trồng có rễ mọc lan ra, có rễ mọc thẳng. Rễ là cái trong sách gọi là gốc. Gốc là cái làm cho cái cây sống được. Rễ lan ra là làm cho cái cây giữ được sự sống. Đức là cái làm cho người ta xây dựng được sự sống. Lộc là cái làm cho người ta duy trì sự sống được dài. Cho nên nói: "làm cho rễ sâu". Theo đạo thì ngày sống được dài, cho nên nói: "làm cho gốc vững".
Gốc vững thì sự sống dài, cho nên nói: "Làm cho cái rễ sâu, làm cho cái gốc vững, đó là cái đạo sống lâu, nhìn thấy mãi" (Chương 59).
 
17. Người thợ nhiều lần thay đổi cái nghề của mình thì bỏ mất cái công. Người làm nhiều lần lay chuyển, thay đổi chỗ mình làm thì bỏ mất cái công của mình. Công việc làm của một người nếu một ngày bỏ mất nửa ngày thì mười ngày sẽ bỏ mất cái công của năm người. Một vạn người mà mỗi ngày bỏ mất nửa ngày thì trong mười ngày sẽ bỏ mất cái công của năm vạn người. Như vậy là đổi nghề càng nhiều lần, số người càng đông thì sự mất mát càng lắm.
 
Nói chung, pháp lệnh mà thay đổi thì việc lợi và hại cũng khác đi. Việc lợi và hại khác đi thì việc làm của dân thay đổi. Việc làm của dân thay đổi gọi là thay đổi nghề. Cho nên cứ lấy lý mà xét thì nếu việc lớn và nhiều mà hay thay đổi thì ít thành công.
 
Giữ cái vật lớn mà hay dời chỗ nó thì sứt mẻ nhiều. Nấu con cá nhỏ mà hay lật đi lật lại thì làm cho nó mất vẻ đẹp. Cai trị một nước lớn mà hay thay đổi pháp luật thì dân khó về việc đó. Do đó ông vua có đạo quý sự yên tĩnh, không ham thay đổi pháp luật. Cho nên nói: "Trị nước lớn giống như là nấu con cá nhỏ (Chương 60).
 
18. Người ta đau ốm thì quý thầy thuốc, có hoạ thì sợ quỷ. Bậc thánh nhân ở trên thì dân ít ham muốn, ít ham muốn thì huyết khí yên ổn. Lại cử động hợp lý thì ít bị hoạ, ít bị hại.
 
Nói chung, nếu bên trong không bị cái hại mụn nhọt, ung thư, trĩ, và bên ngoài không bị cái hoạ hình phạt, không bị pháp luật trừng trị, thì rất khinh thường quỷ. Cho nên nói: "Lấy đạo mà cai trị thiên hạ thì quỷ không thiêng”. Người dân ở đời trị an cùng với quỷ thần không hại nhau. Cho nên nói: "Không phải là quỷ không thiêng, mà là cái thiêng của nó không làm thiệt hại đến người ta”.
 
Quỷ làm cho người ta bị bệnh thì gọi là quỷ hại người. Người ta đuổi qủy đi thì gọi là người ta hại quỷ. Dân mà phạm đến pháp lệnh thì gọi là dân hại người trên. Người trên dùng hình phạt trị dân thì gọi là người trên làm hại dân. Dân không phạm pháp thì người trên cũng không thi hành hình phạt. Người trên không thi hành hình phạt thì gọi là người trên không hại dân. Cho nên nói: "Thánh nhân cũng không hại người". Người trên kẻ dưới không làm hại lẫn nhau và người với quỷ không làm hại nhau, cho nên nói: "Hai bên không làm hại nhau".
 
Dân không phạm pháp thì người trên bên trong không dùng hình phạt, mà bên ngoài không lo làm lợi cho sản nghiệp của mình. Người trên bên trong không dùng hình phạt và bên ngoài không làm lợi cho sản nghiệp của mình thì dân đông và dồi dào, dân đông và dồi dào thì tích trữ lắm, dân đông, dồi dào và tích trữ lắm thì gọi là có đức.
 
Nói chung, con người bị quỷ ám thì hồn phách đi mất mà tinh thần loạn. Tinh thần loạn thì không có đức. Quỷ không ám người thì hồn phách không đi mất. Hồn phách không đi mất thì tinh thần không loạn. Tinh thần không loạn thì gọi là đức. Người trên khuyến khích dân tích trữ mà quỷ thần không làm loạn tinh thần của dân thì cái đức là ở dân vậy.
 
Cho nên nói: "Hai bên không làm hại nhau, thì đức đều quy về một nơi" (Chương 60). Đây là nói cái đức ở trên và dưới đều dồi dào và quy về dân vậy
19. Ông vua có đạo bên ngoài không có oán thù với các nước láng giềng đối địch mà bên trong thì có ơn đức đối với nhân dân. Phàm bên ngoài không có oán thù với các nước láng giềng đối địch thì việc đối xử với chư hầu có lễ nghĩa. Bên trong có ơn đức với nhân dân, trong việc cai trị nhân sự thì lo cái gốc. Nếu đối xử với chư hầu có lễ nghĩa thì ít xẩy ra chiến tranh. Trị dân lo cái gốc thì sự dâm dật, xa xỉ chấm dứt.
 Nói chung, sở dĩ người ta ham dùng ngựa là vì bên ngoài cung cấp cho giáp binh, và bên trong phục vụ việc xa hoa dâm dật. Nay ông vua có đạo, bên ngoài ít dùng giáp binh, mà bên trong cấm xa xỉ nên người trên không dùng ngựa trong việc chiến đấu mà thả nó về. Dân chúng không dùng ngựa vào việc đưa những vật xa xỉ từ nơi xa đến. Ngựa chỉ dồn sức vào việc ruộng đồng.
 
Đã dốc sức vào việc ruộng đồng thì thế nào cũng phải chở phân mang nước tưới. Cho nên nói: "Thiên hạ có đạo thì ngựa cưỡi dùng để chở phân" (Chương 46).
20. Nhà vua không có đạo thì bên trong bạo ngược đối với bầy tôi, và bên ngoài lo xâm lấn, khinh thường nước láng giềng. Bên trong bạo ngược thì việc sản xuất của dân bị cắt đứt. Bên ngoài xâm lấn và khinh thường thì binh đao hay xẩy ra. Sản xuất của nhân dân bị kiệt thì súc tích ít. Binh đao xẩy ra luôn thì sĩ tốt hết. Súc vật ít thì ngựa chiến thiếu. Sĩ tốt hết thì quân đội nguy. Ngựa chiến thiếu thì ngựa cái phải ra trận. Quân đội nguy thì cận thần của vua phải ra đánh giặc. Ngựa là vật quân đội dùng nhiều, ngoại ô là nơi gần kinh đô. Nay phải đem ngựa cái và cận thần trao cho quân đội cho nên nói: "Thiên hạ không có đạo thì ngựa chiến đẻ con ở ngoại ô" (Chương 46).
 
21. Con người có lòng ham muốn thì việc tính toán sẽ rối loạn. Việc tính toán rối loạn mà lòng ham muốn lại quá nhiều. Lòng ham muốn quá nhiều thì cái lòng gian tà thắng. Lòng gian tà thắng thì công việc đi đến chỗ hỏng. Công việc đi đến chỗ hỏng thì tai hoạ và hoạn nạn nẩy sinh. Do đó mà xem thì tai hoạ và hoạn nạn là do lòng gian tà mà sinh ra.
 Lòng gian tà sinh ra do chỗ vâng theo lòng ham muốn. Bọn ham muốn này nếu tiến lên thì dạy dân lành làm điều gian, nếu thối lui thì khiến người lành bị tai hoạ. Bọn gian tà nổi lên thì ở trên xâm lấn ông vua yếu, cái hoạ đến thì dân nhiều người bị hại. Như vậy là bọn ham muốn ở trên thì xâm lấn nhà vua yếu đuối mà ở dưới thì làm hại đến nhân dân. Phàm bọn ở trên xâm lấn ông vua yếu đuối và ở dưới làm hại nhân dân là tội nồng. Cho nên nói: " Hoạ không gì lớn bằng theo lòng ham muốn ".
 
Cho nên bậc thánh nhân không bị năm sắc thu hút, không đam mê âm nhạc. Bậc vua sáng coi khinh những đồ chơi mà gạt bỏ cái đẹp dâm dật. Con người không có lông mao lông vũ, nếu không có áo thì không thể chịu được rét. Trên không thuộc những vật ở trên trời, dưới không phải là cỏ cây ở dưới đất, lấy ruột và dạ dày làm cái gốc, không ăn thì không thể sống được. Vì vậy cho nên họ không thể tránh khỏi cái bụng ham lợi. Cái bụng ham lợi không trừ đi, đó là cái mối lo của thân mình.
 
Cho nên bậc thánh nhân mặc đủ để chống rét ăn đủ để no bụng thì không lo nữa. Những người thường thì không thế. Lớn thì làm chư hầu, nhỏ thì có cái vốn trên ngàn vàng. Cái lo muốn có của họ không trừ bỏ được. Những người bị tội còn có thể được tha, người bị tội chết còn có khi sống. Nay cái lo không biết tri túc (vừa lòng với hoàn cảnh của mình) suốt đời vẫn không thể gỡ ra được. Cho nên nói: "Không cái hoạ nào lớn bằng không biết tri túc".
Vì vậy cho nên muốn lợi nhiều quá thì đâm lo. Lo thì bệnh tật đến. Bệnh tật đến thì trí tuệ suy giảm. Trí tuệ suy giảm thì bỏ mất đức độ. Bỏ mất đức độ thì hành động bừa bãi. Hành động bừa bãi thì tai hoạ và hoạn nạn sinh ra. Tai hoạ và hoạn nạn sinh ra mà bệnh tật trong người càng nặng. Bệnh tật trong người thêm nặng thì đau đớn. Tai hoạ ở bèn ngoài thì khổ. Bên trong khổ, ngoài đau đớn thì ruột và dạ dày đau đớn. Ruột và dạ dày đau đớn thì con người bị thương xấu hổ. Xấu hổ thì rút lui và tự trách mình. Việc thối lui và tự trách mình là do ham cái lợi mà ra. Cho nên nói: "Không cái lỗi nào lớn bằng ham lợi" (Chương 46).
 
22. Đạo là cái làm cho muôn vật thành ra như nó tồn tại hiện nay, là cái chỗ dựa của muôn lý lẽ. Lý là cái văn vẻ làm thành vạn vật, đạo là cái khiến cho vạn vật thành ra như thế. Cho nên nói: "Đạo là cái lý của vạn vật". Vật có cái lý không thể, bức bách nhau, vật có cái lý không thể bức bách nhau cho nên không thể không biến hoá. Vì không thể không biến hoá cho nên không có cái quy tắc bất biến. Không có quy tắc bất biến cho nên việc sống và chết là do bẩm sinh của khí chất. Muôn cái khôn đều châm chước. Muôn việc đều phế hưng.
Trời có được nó cho nên cao. Đất có được nó cho nên có sự chứa đựng. Sao bắc đẩu có được nó cho nên thành cái uy của nó. Mặt trời mặt trăng có được nó cho nên ánh sáng của nó vĩnh viễn. Ngũ hành có được nó nên có địa vị bất biến. Các ngôi sao có được nó nên đường đi của chúng đúng đắn. Bốn mùa có được nó nên chế ngự được sự biến đổi của thời tiết, Hiên Viên có được nó nên cai trị bốn phương, Xích Tùng Tử có được nó nên sống cùng trời đất. Bậc thánh nhân có được nó mà thành văn chương.
 
Đạo cùng khôn với Nghiêu, Thuấn, cùng điên với Tiệp Dư, cùng diệt với Kiệt, Trụ, cùng phồn thịnh với Thang, Vũ. Lấy nó làm gần chăng? Nó đi chơi ở bốn cõi. Lấy nó làm xa chăng? Nó luôn luôn ở cạnh ta. Cho nó là tối chăng? Nó sáng chói lọi. Cho nó là sáng chăng? Hình của nó mịt mờ, nhưng công làm nên trời đất, sự hoà hợp của nó hoá thành sấm sét. Mọi vật trong vũ trụ đều dựa vào nó mà nên.
 Nói chung, cái thực chất của đạo, không bị hình thức hạn chế, mềm yếu theo thời, cùng tương ứng với lý. Muôn vật được nó mà chết, được nó mà sống. Muôn vật được nó mà hại, được nó mà thành.
Đạo cũng giống như nước, kẻ chết đuối uống nó nhiều quá mà chết, người khát uống nó sống ngay. Nó giống như thanh kiếm, mũi giáo, người ngu làm việc phẫn nộ mà cái hoạ sinh ra. Bậc thánh nhân dùng nó để trừng trị kẻ bạo ngược mà cái phúc được thực hiện. Cho nên được nó mà chết, được nó mà sống, được nó mà bại, được nó mà nên.
 
23. Con người ta ít khi thấy con voi sống nhưng nếu có được xương của con voi chết thì dựa vào hình dáng của xương mà tưởng tượng ra được con voi sống. Cho nên những điều người ta dùng cái ý của mình để tưởng tượng ra thì gọi là tưởng tượng (tượng có nghĩa là voi và là hình tượng).
 Nay cái đạo tuy không thể nghe không thể thấy được nhưng bậc thánh nhân đưa vào cái công lao mà đoán biết cái hình dáng của nó, cho nên nói: "Cái hình trạng không có hình trạng, cái tượng không có vật" (Chương 14).
 
24. Nói chung, lý là cái phân biệt vuông với tròn, ngắn với dài, thô với tinh, cứng với mềm. Cho nên cái lý có xác định được thì rồi sau đó mới có được đạo.
Cho nên vật có cái lý xác định hoặc còn hoặc mất, hoặc chết hoặc sống, hoặc thịnh hoặc suy.
 Nói chung, vật lúc còn lúc mất, chợt chết chợt sống, lúc đầu thịnh rồi sau suy không thể gọi là vĩnh viễn. Chỉ có cái gì cùng sanh ra cùng với lúc trời đất chia tách nhau, cho đến khi trời đất tiêu tán cũng không chết, không suy giảm, thì mới gọi là vĩnh viễn. Nhưng cái vĩnh viễn thì không thay đổi. Không có cái lý nhất định, không có cái lý xác định không phải là ở chỗ vĩnh viễn, cho nên không thể gọi được.
 
Bậc thánh nhân nhìn cái trống không huyền diệu của nó, sử dụng sự vận hành luân chuyển của nó nên gọi ép là đạo, rồi mới có thể bàn đến nó được. Cho nên nói: "Cái đạo mà có thể gọi lên được không phải là cái đạo vĩnh viễn" (Chương 1).
 
25. Người ta bắt đầu bằng sự ra đời và chấm dứt bằng cái chết. Bắt đầu thì gọi là ra, chết thì gọi là vào. Cho nên nói: "Ra sinh vào tử. Thân thể con người ta có ba trăm sáu mươi đốt xương, tứ chi, cửu khiếu, là những dụng cụ lớn của con người. Tứ chi và cửu khiếu làm thành mười ba cái. Sự động hay tĩnh của mười ba cái đều thuộc vào sự sống. Thuộc về sự sống cho nên gọi là đầy tớ. Cho nên nói "Đầy tớ của cái sống có mười ba!". Đến khi chết thì mười ba công cụ đều thuộc về cái chết. Đầy tớ của cái chết cũng mười ba. Cho nên nói: "Đầy tớ của cái sống có mười ba; đầy tớ của cái chết có mười ba".
 
Nói chung, dân sống một đời sống vất vả cho nên phải hoạt động. Hoạt động mãi thì hao tổn, mà cứ hoạt động không ngừng thì sự hao tổn sẽ không ngừng. Hao tổn không ngừng thì cái sống hết. Sự sống hết thì gọi là chết. Như vậy thì mười ba dụng cụ đều là đường đưa đến cái chết. Cho nên nói: "Dân sinh ra, sinh ra thì hoạt động. Động thì đều đến nơi chết, cũng có mười ba”. Cho nên thánh nhân yêu tinh thần mà quý sự bình tĩnh. Cái đó còn lớn hơn cái hại của tê ngưu và của hổ.
 Nói chung, con tê ngưu và con hổ có đất sống, động tĩnh có lúc. Nếu ta tránh chỗ ở của nó, tránh lúc nó hoạt động thì không bị tê ngưu và hổ làm hại. Dân chúng chỉ biết hổ và tê ngưu có vuốt có sừng mà không biết rằng
muôn vật đều có sừng có vuốt cả, nên không thoát khỏi cái hại của muốn vật.
 Tại sao lại nói như thế? Lúc mưa trút xuống, cánh đồng ruộng vắng tanh yên tĩnh nhưng lúc sáng sớm vào núi hay xuống sông thì vuốt móng của gió sương làm hại. Thờ người trên không trung, khinh suất phạm lệnh cấm thì bị nanh vuốt của hình phạt làm hại, ở trong làng không có mức độ, yêu và ghét không có chừng mực thì bị vuốt và sừng của sự đánh nhau làm hại. Thị dục không có giới hạn, động tĩnh không có mức độ, thì cái vuốt và sừng của mụn nhọt làm hại. Thích dùng cái trí khôn riêng và bỏ đạo lý thì cái vuốt sừng của lưới làm hại. Tê ngưu và hổ có nơi ở và muôn vật đều có nguồn gốc. Tránh cái nơi ở của chúng, tắt cái nguồn gốc của chúng thì tránh khỏi mọi điều hại. Nói chung, binh khí và đa thuộc là để chống đỡ sự hãi. Người coi trọng sự sống tuy bước vào quân đội vẫn không có bụng giận dữ và tranh giành. Không có bụng hại người như thế thì không có người hại. Không có người hại thì không phòng bị người khác.
 
Điều đó không phải chỉ dùng để nói đến quân đội ở nơi đồng nội. Bậc thánh nhân đi chơi ở ngoài đời không có cái bụng hại người. Không có cái bụng hại người thì không bị người ta hại. Không có ai hại thì không phòng bị người. Cho nên mới nói: "Đi trên bộ không gặp tê ngưu, hổ”.
 
Vào đời, không cậy vào sự phòng bị để cứu điều hại, cho nên nói: "Vào quân đội không mang võ khí, áo giáp. Tránh xa mọi cái hại cho nên nói: "Con tê ngưu không có nơi nào để đâm cái sừng của nó, con hổ không có nơi nào để trổ cái vuốt của nó, binh khí không có nơi nào để thọc cái mũi nhọn của nó".
 
Không phòng bị mà chắc chắn là vô hại, đó là cái đạo lý của trời đất vậy. Theo cái đạo của trời đất cho nên nói "không có chỗ chết". Hành động ở nơi không có chỗ chết nên gọi là "khéo nhiếp sinh" vậy (Chương 50).
 
26. Người yêu con thì từ đối với con, người trọng sự sống thì từ đối với cái thân của mình, người quý công lao thì từ đối với công việc. Bà mẹ từ đối với đứa con nhỏ của mình thì lo làm cho nó được phúc. Lo làm cho nó được phúc thì tìm cách trù những điều hoạ của nó. Lo trừ những điều hoạ của nó thì suy nghĩ chín. Suy nghĩ chín thì nắm được lý lẽ của sự vật. Nắm được lý lẽ của sự vật thì thế nào cũng thành công. Thế nào cũng thành công thì làm không ngần ngại. Làm không ngần ngại thì gọi là dũng cảm.
 
Trong muôn việc thánh nhân đều như bà mẹ từ lo cho đứa con nhỏ, cho nên thấy được cái đạo thế nào cũng phải làm. Thấy được cái đạo thế nào cũng phải làm cho nên sáng suốt, khi làm việc cũng không nghi ngại. Không nghi ngại thì gọi là dũng cảm. Không nghi ngại là do từ mà sinh ra cho nên nói: "Vì từ cho nên có thể dũng cảm" (Chương 67).
 
27. Chu Công nói: "Mùa đông mà băng giá không chắc thì cây cỏ dài mùa xuân mùa hạ không tươi tốt". Trời đất không thể thường hoang phí xa xỉ huống nữa là con người? Bởi vậy cho nên muôn vật thế nào cũng có thịnh có suy, muôn vật thế nào cũng có lợi có thiệt, nước nhà thế nào cũng có văn có vũ, cai trị thế nào cũng phải có thưởng có phạt.
 
Vì vậy cho nên kẻ sĩ khôn ngoan biết tiết kiệm việc tiêu dùng thì nhà giàu. Bậc thánh nhân yêu quý cái tinh thần của mình thì tinh thần thịnh. Kẻ làm vua coi trọng việc chiến đấu thì dân đông. Dân đông thì nước rộng. Cho nên mới nêu lên nói: "Kiệm cho nên rộng" (Chương 67).
28. Nói chung, vật đã có hình thì dễ bị cắt, dễ bị xén. Lấy điều gì để chứng minh điều đó? Đã có hình dáng thì có dài, có ngắn, đã có dài có ngắn thì có nhỏ có lớn. Đã có nhỏ có lớn thì có tròn có vuông. Đã có tròn có vuông thì có cứng có mềm. Đã có cứng có mềm thì có nặng có nhẹ. Đã có nặng có nhẹ thì có trắng có đen. Ngắn dài, lớn nhỏ, vuông tròn, cứng mềm, nhẹ nặng, trắng đen gọi là cái lý. Cái lý đã xác định thì vật dễ bị cắt.
 
Cho nên bàn bạc ở triều đình rồi sau đó mới phát ngôn thì lời nói được xác lập, những kẻ sĩ biết quyền biến biết nên làm gì. Cho nên muốn làm hình tròn hình vuông mà theo cái quy cái củ thì cái công của muốn việc đều nên vậy. Muốn việc đều có quy củ, những kẻ sĩ bàn luận nói năng phải dựa theo quy củ. Bậc thánh nhân hoàn toàn vâng theo cái quy củ của muôn vật. Cho nên nói: "Không dám làm trước thiên hạ". Không dám làm trước thiên hạ không việc nào là không xong, công lao không có cái nào không có kết quả, mà nghị luận thì thế nào cũng bao trùm cả đời. Muốn không có chức quan to cũng làm sao được? Ở chức quan to gọi là làm người cầm đầu. Cho nên nói: "Không dám làm trước thiên hạ chớ nên làm người cầm đầu" (Chương 67).
29. Kẻ từ đối với con thì không dám cắt đứt áo cơm của nó. Kẻ từ đối với thân mình thì không dám rời khỏi pháp độ. Kẻ từ với hình vuông hình tròn thì không dám bỏ quy củ. Cho nên cầm quân mà từ với sĩ tốt thì chiến thắng quân địch. Từ với khí giới thì thành trì kiên cố. Cho nên nói: "Lấy từ để chiến đấu thì thắng, để giữ thì vững chắc". Nói chung, kẻ biết tự bảo toàn và hoàn toàn theo cái lý của muôn vật thì thế nào cũng có cái sống của trời. Trời sinh ra là sinh ra cái tâm vậy. Cho nên cái đạo của thiên hạ là hoàn toàn ở chỗ lo cho sự sống. Nếu lấy từ để bảo vệ nó thì sự việc thế nào cũng vạn toàn, và hành động không lúc nào không thích đáng. Như thế gọi là quý báu. Cho nên nói: "Ta có ba cái quý báu mà ta giữ và cho là quý báu" (Chương 67).
 
30. Cái mà sách gọi là cái đạo lớn là cái chính đạo. Cái gọi là cái giả dối đó là cái tà đạo. Cái gọi là thiên lệch lớn đó là sự hoa mỹ. Sự hoa mỹ là một phần của tà đạo. Cung thất đẹp đẽ thì việc ngục tụng nhiều. Việc ngục tụng nhiều thì ruộng hoang. Ruộng hoang thì kho lúa trống rỗng. Kho lúa trống rỗng thì nước nghèo. Nước nghèo thì phong tục dân dâm dật xa xỉ. Phong tục dân dâm dật xa xỉ thì nghề kiếm ăn kiếm mặc bị đứt. Nghề kiếm ăn kiếm mặc bị đứt thì dân không thể không tô vẽ cho sự dối trá. Tô vẽ cho sự dối trá thì biết gấm vóc. Biết gấm vóc gọi là mặc gấm vóc. Ngục tụng nhiều, kho lúa trống rỗng, mà lại có cái phong tục dâm dật xa xỉ thì nước bị thương tổn như là lấy gươm đâm vào. Cho nên nói: "Mang kiếm sắc". Tô vẽ sự khôn khéo cho nên đến nỗi nước bị thương tổn, và nhà riêng thế nào cũng giàu. Nhà riêng thế nào cũng giàu cho nên nói: "Của cải có thừa". Nước có những chuyện như thế thì dân ngu không thể không có cái thuật để bắt chước. Bắt chước theo thì trộm nhỏ sinh. Do thế mà xem kẻ gian lớn làm thì kẻ trộm nhỏ theo. Kẻ gian lớn xướng thì trộm nhỏ hoạ. Ống vu là cái làm chủ của năm thanh. Cho nên ống vu thổi trước thì chông và đàn sắt đều theo. Ông vu xướng thì các nhạc khí đều hoạ. Nay kẻ gian lớn làm thì dân thường hoạ theo, dân thường xướng thi kẻ trộm nhỏ thế nào cũng hoạ theo. Cho nên mặc gấm vóc, đeo kiếm sắc, ăn uống chê chán mà của cải có thừa, cái đó gọi là ống vu của bọn ăn trộm (Chương 53).
 
31. Con người không kể người ngu kẻ khôn, không ai không lấy và bỏ. Khi điềm đạm bình yên thì không ai không biết hoạ và phúc là từ đâu mà đến. Nó có được do sự yêu ghét bị lôi cuốn do những vật xa hoa, và sau đó thành biến loạn.
 
Sở dĩ thế là vì người ta bị ngoại vật lôi cuốn, bị những đồ chơi làm loạn. Người điềm đạm biết cái nghĩa của việc bỏ và lấy. Người bình an biết cái kế của hoạ và phúc nhưng nay việc ham thích biến đổi họ, ngoại vật lôi cuốn họ, lôi đi mà đi hẳn. Cho nên nói: "nhô lên".
 
Con người chí thánh không thế, một khi đã xác lập cái mình lấy và cái mình bỏ rồi thì dù có thấy những vật mình thích cũng không cho nó lôi cuốn mình. Không thể lôi cuốn thì gọi là không nhỏ. Một khi nắm chắc cái bản chất rồi thì dù có loại có thể làm cho mình muốn; tinh thần của mình cũng vẫn không bị lay động. Tinh thần của mình không bị lay động thì gọi là "không rút ra được". Kẻ làm con cháu theo cái đạo này thì giữ tông miếu không bị huỷ diệt, cái đó gọi là tế tự không dứt.
 
Thân mình lấy việc tích luỹ tinh thần làm đức. Nhà lấy tài sản làm đức. Làng nước, thiên hạ đều lấy dân làm đức. Nay làm chủ thân mình mà ngoại vật không thể làm loạn tinh thần của mình, cho nên nói: "Lấy nó mà trau giồi thân mình thì cái đức có thừa. Người cai trị cái làng thi hành điều đó thì nhà có thừa mà còn thêm nhiều. Cho nên nói: "Lấy nó mà sửa làng thì cái đức sẽ dài!". Người cai trị nước làm điều đó thì làng có đức càng nhiều. Cho nên nói: "Lấy nó để sửa nước cái đức sẽ dồi dào". Người cai trị thiên hạ thi hành điều đó thì cái sống của dân không ai không chịu ơn. Cho nên nói: "Sửa nó ở thiên hạ, cái đức của nó sẽ khắp”. Người trau giồi thân mình nhờ vậy mà phân biệt người quân tử với kẻ tiểu nhân. Người trị làng, trị nước, trị thiên hạ đều căn cứ vào đó mà xét việc lời và lỗ thì trong vạn điều không bỏ sót một điều. Cho nên nói: "Lấy thân mà xét thân, lấy nhà mà xét nhà, lấy làng mà xét làng, lấy nước mà xét nước, lấy thiên hạ mà xét thiên hạ. Ta biết thiên hạ là như thế là nhờ cái đó" (Chương 54).
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6339
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: HÀN PHI TỬ-HÀN PHI   HÀN PHI TỬ-HÀN PHI EmptyTue Aug 22, 2023 8:14 pm

QUYỂN VII

Thiên XXI

 
 

                        Minh hoạ Lão Tử (Dụ Lão)

 
 
1. Thiên hạ có đạo, không có mối lo gấp thì yên tĩnh, không dùng việc truyền tin nhanh.
 Thiên hạ không có đạo, tấn công chiến đấu không nghỉ, chống đỡ nhau mấy năm không thôi, đến nỗi mũ trụ, áo giáp sinh chấy rận, chim én chim sẻ làm tổ ở nơi màn trướng mà quân đội vẫn không trở về nhà. Cho nên nói: "Ngựa chiến đẻ con ở nơi ngoại ô" (Chương 46).
 
2. Có người nước Địch dâng cho Tấn Văn Công da lông chồn lớn, báo đen, Văn Công nhận tấm da của khách mà than rằng: "Những con thú này vì bộ
da đẹp mà tự làm khổ mình".
 Nói chung kẻ trị nước vì tiếng tăm mà bị tội là vua Yển Vương nước Từ, vì thành và đất bị tội là vua nước Ngu và nước Quắc. Cho nên nói "Tội không gì lớn bằng vâng theo điều ham muốn" (Chương 46).
 
3. Trí Bá thôn tính đất của họ Phạm và họ Trung Hàng rồi tấn công nước Triệu không nghĩ Nước Hàn, nước Nguỵ làm phản, quân Trí Bá bị thua ở Tấn Dương. Ông ta bị chết ở phía đông đất Cao Lương. Cuối cùng đất đai ông ta bị chia, cái đầu ông ta bị sơn làm vật đựng rượu. Cho nên nói: " Hoạ không gì lớn bằng không tự cho là đủ" (Chương 46).
 
4. Vua nước Ngu muốn cỗ xe ngựa đất Khuất Sản và ngọc bích Thuỳ Cức, nên không nghe lời Cung Chi Kỳ. Kết quả nước mất, thân chết. Cho nên nói: "Không lỗi nào lớn bằng muốn được" (Chương 46).
5. Nước lấy việc tự bảo tồn làm cái không thay đổi, thì có thể làm được bá vương. Thân mình lấy cái sống làm cái không thay đổi, thì có thể giàu sang. Không muốn tự hại mình thì nước không mất thân không chết. Cho nên nói: "Biết tự lấy làm đủ thì luôn luôn đủ (Chương 46).
 
6. Sở Trang Vương sau khi đã thắng trận, đi săn ở Hà Ung, trở về thưởng cho Tôn Thúc Ngao, Tôn Thúc Ngao xin đất Hán Gian. Đó là một nơi cát và đá. Theo phép của nước Sở đất cấp làm lộc thì hai đời thu lại, chỉ có đất cấp cho Tôn Thúc Ngao là vẫn còn. Đất này không bị nước Sở thu lại vì nó xấu. Do đó chín đời tế tự vẫn không dứt. Cho nên nói: "Cái khéo trồng thì không thể nhổ được, cái khéo giữ thì không thể mất được". Con cháu nhờ thế mà tế tự không dứt (Chương 53). Tôn Thúc Ngao là như thế đấy.
 
7. Quyền chế ngự ở mình thì gọi là nặng, không dời khỏi địa vị thì gọi là tĩnh. Nặng thì có thể sai khiến nhẹ. Tĩnh thì có thể sai khiến nôn nóng. Cho nên nói: "Nặng là gốc của nhẹ, tĩnh là gốc của sự nôn nóng. Cho nên bậc quân tử suốt ngày đi không rời xe cộ".
Nước là xe cộ của nhà vua. Chủ Phụ còn sống mà truyền nước của mình (cho người ta), như thế là người đã rời khỏi xe cộ. Cho nên tuy có cái vui được đất Đại và đất Vân Trung nhưng rõ ràng đã không có nước Triệu. Chủ Phụ là ông vua có vạn cỗ xe, nhưng coi cái thân mình là nhẹ ở trong thiên hạ.
 
Không có thế thì gọi là nhẹ. Rời khỏi địa vị thì gọi là nôn nóng, kết quả là sống bị tù và chết. Cho nên nói: "Nhẹ thì mất bầy tôi, nôn nóng thì mất vua". Chủ Phụ là như thế (Chương 26).
 
8. Cái thế nặng là cái vực của nhà vua. Cái thế của kẻ làm vua phải nặng hơn bầy tôi. Bỏ mất nó đi thì không thể có lại được. Tề Giản Công bỏ mất nó cho Điền Thành. Tấn Công bỏ mất nó cho sáu quan khanh cho nên nước mất, thân chết. Cho nên nói: "Con cá không thể rời khỏi vực sâu" (Chương 36).
 
Việc thưởng và phạt là cái công cụ sắc bén của nước. Nó nằm trong tay nhà vua thì nhà vua chế ngự bầy tôi. Nó nằm trong tay bầy tôi thì bầy tôi thắng nhà vua. Nhà vua thi hành việc thưởng mà bầy tôi bớt đi để ban đức
Nhà vua thi hành việc phạt mà bầy tôi làm nặng thêm để ra uy. Thế là nhà vua thi hành việc thưởng mà bầy tôi dùng của thế của nhà vua. Nhà vua thi hành việc phạt mà bầy tôi lợi dụng cái uy của nhà vua. Cho nên nói: "Không thể trao cho người ta cái công cụ sắc bén" (Chương 36).
 
9. Vua nước Việt vào làm quan ở nước Ngô, xui vua Ngô đánh nước Tề để làm cho nước Ngô bị mệt mỏi. Quân Ngô sau khi đã đánh thắng quân Tề ở Ngũ Lăng thì dàn quân ở sông Giang, sông Tế và khoe sức mạnh ở Hằng Trì nên có thể bị khống chế ở Ngũ Hồ. Cho nên nói: "Muốn làm cho nó co lại thì nhất thiết phải kéo nó ra, muốn làm cho nó yếu đi thì nhất thiết phải làm cho nó mạnh lên" (Chương 36).
 
Tấn Hiến Công muốn đánh úp nước Ngu, đem ngọc bích và ngựa cho nước ấy. Trí Bá muốn đánh nước Cừ Do, cho họ một cỗ xe lớn. Cho nên nói: "Muốn cướp của người ta thì phải cho người ta" (Chương 36). Khởi sự từ chỗ vô hình mà có được công lớn trong thiên hạ gọi là sáng suốt ở chỗ nhỏ bé. Ở chỗ nhỏ yếu mà trọng việc tự ti thì gọi là người yếu thắng người mạnh vậy.
10. Tất cả những cái gì có hình thì cái lớn đều xuất phát từ cái nhỏ. Những vật có lâu thì cái đông thế nào cũng bắt đầu từ cái ít. Cho nên nói: "Những chuyện khó trong thiên hạ thì thế nào cũng phải làm ở chở nhỏ". Cho nên muốn khống chế sự vật "phải làm ở chỗ nhờ của nó" (Chương 43). Cho nên nói: "Lo việc khó ở chỗ dễ của nó, làm việc lớn ở chỗ nhỏ của nó" (Chương 43). Con đê dài ngàn trượng bị vỡ là vì hang kiến; cái nhà cao trăm trượng bị cháy vì lỗ hở ở ống khói! Cho nên nói: "Bạch Khuê đi xem đê thì lấp những lỗ hổng. Các cụ già để phòng cháy thì bịt những lỗ hở của các ống khói". Vì vậy Bạch Khuê không bị nạn nước, các cụ già không bị hoả hoạn. Hai người này đều cẩn thận trong việc dễ để tránh được cái khó, cẩn thận cái nhỏ để tránh cái lớn vậy.
 
Biển Thước yết kiến Thái Hoàn Hầu, Biển Thước đứng một lát rồi nói: "Bệ hạ có bệnh ở giữa các lớp thịt, nếu không chữa thì sợ sẽ vào sâu". Hoàn Hầu nói: "Quả nhân không có bệnh". Biển Thước đi ra, Hoàn Hầu nói: "Thầy thuốc thích chữa người không có bệnh để lấy công".
 
Được mười ngày, Biển Thước lại yết kiến nói: "Bệnh của bệ hạ ở da thịt, nếu không chữa sẽ sâu thêm". Biển Thước đi ra, Hoàn Hầu lại không vui.
Được mười ngày, Biển Thước lại yết kiến, nói: "Bệnh của bệ hạ ở ruột và dạ dày, nếu không chữa thì sẽ sâu thêm". Hoàn Hầu lại không đáp. Biển Thước đi ra, Hoàn Hầu lại không vui.
 Được mười ngày, Biển Thước ở xa nhìn thấy Hoàn Hầu mà bỏ chạy. Hoàn Hầu có cho người hỏi. Biển Thước đáp: "Khi cái bệnh ở các lớp da, thì có thể dùng nước nóng và sắt nung đỏ chạm đến. Khi nó ở da thịt thì có thể lấy kim châm, đá chạm đến được. Khi nó ở ruột và dạ dày thì có thể dùng thuốc nấu để chạm đến được. Khi nó ở xương tuỷ thì đã thuộc thần chết, không hỏi thăm nữa". Được năm ngày, Hoàn Hầu thân thể đau nhức, sai người đi tìm Biển Thước thì ông ta đã trốn sang nước Tần rồi. Kết quả, Hoàn Hầu chết.
 
Cho nên bậc lương y trị bệnh thì chữa bệnh từ khi nó ở các lớp da. Đó là trị nó khi nó còn nhỏ. Nói chung, hoạ và phúc của sự việc cũng có cái chỗ ở các lớp da. Cho nên nói: Bậc thánh nhân sớm lo công việc" (Chương 63).
11. Ngày xưa, công tử nước Tấn là Trùng Nhĩ chạy trốn, ra nước ngoài, đi qua nước Trịnh. Vua Trịnh đối xử vô lễ. Thúc Chiêm can nói: "Đó là vị công tử giỏi, xin bệ hạ hậu đãi, có thể chất chứa đức". Vua Trịnh không nghe. Thúc Chiêm lại can: "Nếu bệ hạ đã không hậu đãi ông ta thì không bằng giết ông ta đi". Vua Trịnh lại không nghe. Đến khi công tử lại trở về nước Tấn, cất quân đánh Trịnh, thu tám thành.
 
Tấn Hiến Công lấy ngọc Thuỳ Cức đưa cho nước Ngu để mượn đường nước Ngu đánh nước Quắc. Quan đại phu Cung Chi Ky can nói: "Không được. Môi hở thì răng lạnh. Nước Ngu nước Quắc cứu nhau không phải để đền ơn nhau. Nhưng hôm nay nước Tấn diệt nước Ngu thì ngày mai nước Ngu thế nào cũng theo đó mà mất". Vua nước Ngu không nghe, nhận ngọc bích và cho nước Tấn mượn đường. Nước Tấn đã lấy nước Quắc xong quay về diệt nước Ngu.
 
Hai bầy tôi này đều can ngăn khi cái nguy ở các lớp da, nhưng hai ông vua không nghe. Như vậy thì Thúc Chiêm và Cung Chi Ky cũng là Biển Thước của nước Ngu và nước Trịnh, nhưng hai ông vua không nghe. Kết quả nước Trịnh bị mất đất, nước Ngu bị mất Cho nên nói: "Cái yên thì dễ nắm cái chưa hé lộ thì dễ tính toán" (Chương 64).
12. Ngày xưa, vua Trụ làm đũa ngà, Cơ Tử lo. Ông ta cho rằng đũa ngà thì không dùng chung với bát đất. Thế nào cũng phải dùng với chén bằng sừng tê hay bằng ngọc. Đũa ngà chén ngọc sẽ không ăn rau, đậu, mà sẽ ăn thịt voi, bào thai báo. Ăn thịt voi, bào thai báo thì nhất định không mặc áo ngắn mà ở trong nhà tranh, thế nào cũng mặc áo gấm chín lớp, ở nhà rộng, đài cao. Ta sợ cái kết thúc cho nên lo cái đầu.
 
Được năm năm, Trụ làm vườn thịt, lập hình phạt bào lạc[24], bước lên gò men rượu, ngắm ao rượu. Kết quả Trụ chết. Cơ Tử thấy đũa ngà mà biết cái hoạ của thiên hạ. Cho nên nói: "Thấy từ cái nhỏ gọi là sáng" (Chương 52).
 
13. Câu Tiễn vào làm quan ở nước Ngô, thân hành cầm giáo, khiên để đi trước ngựa vua Ngô, cho nên có thể giết Phù Sai ở đài Cô Tồ. Văn Vương nhục ở Ngọc Môn, sắc mặt không đổi, nên Y Vương bắt được vua Trụ ở Mục Dã. Cho nên nói "Giữ lấy cái mềm thì gọi là mạnh". Việt Vương làm vương không xấu hổ về chỗ bị nhục. Cho nên nói "Bậc thánh nhân không xấu hổ, vì không xấu hổ cho nên không bị xấu hổ" (Chương 71).
14. Có người nước Tống bắt được viên ngọc ở trong đá, đem dâng cho Tử Hãn. Tử Hãn không nhận, người nhà quê nói: "Cái này quý đáng làm đồ dùng cho người quân tử không nên làm đồ dùng cho kẻ hèn". Tư Hãn nói: "Nhà người lấy ngọc làm quý, ta lấy việc không nhận ngọc của nhà ngươi làm quý". Như vậy người nhà quê muốn ngọc, mà Tử Hãn không muốn ngọc. Cho nên nói: "Muốn cái không muốn mà không quý cái hàng hoá khó được" (Chương 44).
 
15. Vương Thọ mang sách đi, gặp Từ Phùng ở đất Chu. Phùng nói: "Sự việc là hành động, hành động là theo thời mà làm. Cái khôn không theo một sự nhất định. Sách là lời nói, lời nói do cái khôn mà ra, cái khôn không nằm trong sách. Nay tại sao một mình ông lại mang sách?”. Vương Thọ bèn đốt sách của mình và nhảy múa.
 Cho nên kẻ khôn không lấy lời mà dạy, và kẻ thông tuệ không chứa sách đầy rương. Đó là điều sai lầm ở đời, mà Vương Thọ chữa được. Đó là học cái không học. Cho nên nói: "Học cái không học, trà về cái người ta cho là sai" (Chương 64).
16. Vật có cái hình dáng bất biến, phải dựa vào đấy mà dẫn dắt cho nó. Phải dựa theo cái hình dáng của sự vật. Cho nên yên tĩnh thì hợp với đức, khi động thì thuận với đạo.
 
Có người nước Tống vì nhà vua làm một cái lá giả bằng ngà. Làm ba năm mới xong. Nó có đủ vẻ nhọn và phẳng, có vân có gân nhỏ nhắn và trơn láng, để lẫn vào lá thật thì không thể phân biệt được. Người thợ nhờ công này mà được ăn lộc ở nước Tống.
 
Liệt Tử nghe vậy nói: "Ví thử trời đất ba năm mới sinh được một cái lá thì những vật có lá ít lắm vậy".
 
Do đó nếu không dựa vào cái có sẵn của trời đất mà lại dùng cái thân của một người. Không theo cái nguyên tắc của đạo lý mà học cái khôn của một người, thì đều làm theo lối chạm lá cây cả. Cho nên nếu mùa đông cày ruộng và cấy thì dù có là Hậu Tắc cũng không thể làm cho lúa tốt được. Gặp năm được mùa lúa tốt thì đến bọn tôi tớ cũng không thể làm cho nó xấu được. Nếu dùng sức một người thi dù là Hậu Tắc cũng không đủ sức, nhưng nếu cứ theo tự nhiên thì kẻ tôi tớ cũng thừa sức.
 
Cho nên nói: "Nắm lấy cái tự nhiên của vạn vật mà không dám làm hành động riêng của mình (Chương 64).
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Sponsored content





HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: HÀN PHI TỬ-HÀN PHI   HÀN PHI TỬ-HÀN PHI Empty

Về Đầu Trang Go down
 
HÀN PHI TỬ-HÀN PHI
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 2 trangChuyển đến trang : 1, 2  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang :: Các Đạo Khác-
Chuyển đến