Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang
Chào bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang!
Diễn Đàn là nơi giao lưu kết bạn, sưu tầm, lưu trữ, học hỏi và chia sẻ kiến thức.
Để cùng nhau tiến bộ trên con đường hướng thiện.
Chúc bạn sức khỏe và có nhiều thành công mới trong cuộc sống!

Om mani pad me hum
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang
Chào bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang!
Diễn Đàn là nơi giao lưu kết bạn, sưu tầm, lưu trữ, học hỏi và chia sẻ kiến thức.
Để cùng nhau tiến bộ trên con đường hướng thiện.
Chúc bạn sức khỏe và có nhiều thành công mới trong cuộc sống!

Om mani pad me hum
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang
Bạn có muốn phản ứng với tin nhắn này? Vui lòng đăng ký diễn đàn trong một vài cú nhấp chuột hoặc đăng nhập để tiếp tục.
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang

Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho; một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tạo lấy.
 
Trang ChínhTrang Chính  Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 Icon_portal  Latest imagesLatest images  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Chào mừng các bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang! Chúc các bạn sức khỏe và thành đạt! Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang.

 

 Đoán Án Kỳ Quan

Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6
Tác giảThông điệp
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 EmptyThu May 01, 2014 1:39 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 17
Tám Lạng Bạc Giết Hai Mạng Người,
Một Tiếng Sét Diệt Bảy Tên Hung Ác
Ý trời luôn sáng tỏ,
Lòng tốt đời vẫn còn.
Mưu sâu thật gian ác
Bẫy hiểm đang rập rình
Gương sáng, gian khó giấu
Uy thần, ác phải trừ.
Sống luôn luôn thận trọng,
Tàn ác trời chẳng tha.
Nếu mọi người biết giữ mình thì chẳng sợ gì sấm sét. Người luôn luôn có lòng tốt ta chưa từng thấy họ bị sét đánh bao giờ. Pháp luật tuy nghiêm, song có thể dùng tiền để chạy tội, dùng thế lực để xin xỏ. Chỉ có sét là chẳng kể gì đến giàu có và thế lực. Bởi thế thấy có một con trâu bị sét đánh, trên mình trâu thấy có mấy chữ đỏ, người ta bảo đó là Lý Lâm Phủ thời Đường. Ba đời phải làm đĩ, bảy đời phải làm trâu. Đấy là sét đánh kẻ gian dâm. Ở Diên Bình sét đánh ba người đàn bà độc ác ngỗ ngược, một người biến thành trâu, một người biến thành lợn và một người biến thành chó. Đấy là sét đánh kẻ ngỗ ngược. Lại có một con rết bị sét đánh, sau lưng nó có ba chữ "Tần Bạch Khởi". Hắn từng chôn sống hai vạn quân lính. Đó là sét đánh kẻ tàn bạo. Có một kẻ chiếm đất của chị dâu góa chồng, bỗng thấy sét đánh, người ấy bị trói và nhà của hắn bị dời khỏi khu đất của chị dâu. Đó là sét đánh kẻ tham lam. Có một người đàn bà cưới con dâu về thì gia tài khánh kiệt, bà phải đi ở cho người khác để lấy tiền trả nợ. Người con dâu về không thấy mẹ chồng, hỏi chồng mới biết rõ nguyên do. Người con dâu bèn mang trang sức của mình bán đi để chuộc mẹ chồng về, song bị kẻ hàng xóm cướp mất. Chị uất ức quá treo cổ tự tử. Bỗng sét đánh chết tên hàng xóm ấy, bạc lại trả về tay chị. Người con dâu thắt cổ chợt nghe tiếng sét mà sống lại. Đấy là sét đánh kẻ cướp, chẳng cần phải nói cũng đủ biết trời rất gần ta.
Trong cuốn Truyết canh lục có ghi: "Có một kẻ mưu hại đứa cháu mồ côi, hắn sai đứa ở đút tiền cho người vú nuôi để người này bôi thuốc độc vào đầu vú. Khi đứa bé ấy sắp bú thì một tiếng sét nổ vang trời, đứa ở và mụ vú nuôi ấy bị sét đánh chết, đứa bé chẳng hề kinh sợ gì cả. Nếu như chỉ chậm lại trong giây lát thì đứa bé ấy ắt phải chết". Đấy là sét đánh cấp bách. Thật là một điều kỳ lạ. Lại có một lần sét đánh chết một lúc bảy tên cướp đã cướp của giết người cứu sống hai nhân mạng. Quả là chuyện ấy còn lạ hơn nữa.
Truyện kể rằng ở làng Lưu Thành, huyện Gia Định, phủ Tô Châu, có một người tên là Nguyễn Danh Thắng, con cả trong gia đình, có biệt hiệu là Kính Pha. Mẹ Thắng là Ôn thị, tuổi ngoài sáu mươi, vợ là Lao thị trạc ngoài hai mươi cũng là người có nhan sắc. Ba người đều sống trong ngôi nhà nhỏ, có dăm bảy mẫu đất, lại thuê mấy mẫu, sáng cày tối bừa, chịu thương chịu khó, không nề gian khổ. Ôn thị là người giỏi giang, chị kéo được những cuộn sợi gai đẹp, và dệt được những tấm vải đẹp như lụa. Hàng ngày ngoài việc chải đầu, rửa mặt và nấu ba bữa cơm ra, chẳng lúc nào chỉ được rảnh tay. Sáu bảy nhà hàng xóm đều ở rải rác, chị cũng chẳng khi nào la cà tới nhà họ chơi bời. Những món ăn chỉ làm cái gì ngon thì để phụng dưỡng mẹ chồng, rồi sau đó để dành cho chồng, còn lại chị mới ăn, chẳng bao giờ chị tỏ ra là người tham ăn. Gia cảnh ngày càng sa sút, mặc dù chồng không kiếm ra tiền, nhưng chị không bao giờ oán giận hoặc chì chiết. Chẳng những vợ chồng sống với nhau hòa thuận vui vẻ, mà mẹ chồng cũng rất quý mến chị và ngay cả những người trong làng ai cũng tấm tắc khen ngợi chị. Họ bảo rằng anh Thắng lấy được người vợ tốt, vừa chịu thương chịu khó lại vừa hiền lành hiếu thảo.
Tuy chị đảm đang, song những việc giao thiệp bên ngoài phải hoàn toàn dựa vào chồng. Rất tiếc chồng chị lại là người thật thà và nhút nhát như con gái, không biết nói năng. Thuế má vùng Tô Tùng rất nặng, chẳng khác hổ đói nhai xé thịt người. Bạc đã đủ rồi còn phải trừ hao đi hai ba phân, thóc thuế đã đủ cũng phải trừ hao bốn năm phân. Biết bao việc phu phen, tạp dịch đều phải quy ra bạc để trả. Bọn lý trưởng kỳ hào chẳng hề thương xót mà càng ra sức bóp nặn họ.
Khi nộp tô, những người thuê ruộng giả nghèo giả khổ, xin chịu lại mấy thăng họ cũng đòi phải trả cho bằng đủ. Lần này dù van nài cũng không được, thế là lại đong ra cho chủ ruộng từng thăng một, song rốt cục vẫn cứ thiếu mấy thăng. Nông dân không biết nói dối, có những người thuê ruộng khác giảo hoạt, đã rảy nước hay nước muối vào đánh lừa là thóc ruộng trũng. Hoặc có người lại nấu nồi cháo loãng quấy cám vào rồi trộn với gạo cho nhiều thêm. Nông dân là người yên phận, nên những điền chủ cứ đến thu tô đầu tiên để lấy cớ bắt những người khác làm như nông dân. Bởi thế không những Thắng thiệt mà người khác cũng chịu thiệt lây, họ quay ra oán hận, chửi bới, thậm chí còn định đốt nhà, Thắng phải van xin họ tha cho.
Người già ngày càng già đi, chỉ ăn mà không làm. May mà trong nhà Lao thị đảm đang, chỉ ở nhà quay tơ dệt vải. Vì hoa lợi đất đai có hạn nên phải đi mua thóc ngoài. Song nông dân lại mua đắt, tiền nhiều mà hàng mua về lại ít. Tơ và vải do Lao thị làm ra thì Thắng phải đi bán nhưng lại bán rẻ. Bởi thế họ sống hết sức tằn tiện, đói khát nhưng vẫn không đủ ăn. Mà đã đi làm thì phải ăn, hằng ngày Lao thị phải nấu mấy bát cơm cho chồng ăn để đi làm, sau đó nấu cháo đặc cho mẹ, nghĩ rằng mẹ đã già đói không chịu được, còn chị chỉ húp vài bát nước thừa loáng thoáng mấy hạt gạo. Quần áo thì mùa đông cũng như mùa hè, Lao thị chỉ mặc bộ quần áo vải gai vá chằng vá đụp, chồng chị thì mặc chiếc áo cộc ngủn cộc ngẳn, tay không che kín khuỷu và một chiếc quần lửng. Chẳng phải khi đi làm, mà ngay khi ăn cỗ bàn anh cũng mặc như thế. Quả là nhà nông làm ra thóc gạo mà không có thóc gạo ăn. Cuộc sống của họ vô cùng chật vật.
Cầy cấy chưa xong đã lo dệt vải,
Đạo trời đắp đổi chẳng lúc nào ngừng.
Vợ chồng nhà nông quanh năm vất vả.
Đêm đêm xe chỉ dệt vải dưới trăng sao,
Sáng di cày trời nắng chang chang như đổ lửa
Chiều đi bừa gió mưa sấm chớp bão giông
Nắng khổ mưa sầu.
Vừa lao tâm lại vừa lao lực.
Vải tay mình dệt mà không được mặc.
Thóc gạo mình làm mà chẳng được ăn.
Thuế má quan thúc nợ nần chủ giục.
Mặc thì, áo rách tả tơi,
Ăn thì bữa rau bữa cháo.
Gội gió tắm sương đen thủi đen thui
Chạy vạy sớm chiều, cơm ăn chẳng đủ.
Ai là người dâng tấu sớ nói rõ nỗi khổ này cho nhà vua.
Hai người tuy khổ nhưng sống với nhau vẫn vui vẻ hòa thuận. Song hàng xóm láng giềng có hai tên vô lại: một là Hổ Bào Lôi, thư ký trong làng, chuyên rượu chè lêu lổng, lừa dối người tốt, sợ hãi kẻ ác. Việc gì hắn cũng xuất đầu lộ diện, tự khoe khoang là mình có tài. Một tên nữa là Tiếu Hoa Phương, trạc hai mươi tuổi, tóc đen nhánh, người trắng trẻo, tỏ ra ta đây là người đẹp trai. Hắn rất thân thiết với Bào Lôi. Hoa Phương thấy Nguyễn Thắng nghèo, Lao thị ăn đói mặc rách, Thắng lại lo lắng buồn rầu nên già trước tuổi. Hắn nghĩ hẳn là Lao thị không chịu được kham khổ, muốn của lạ, sẽ chê chồng, còn mình lại đẹp trai muốn dụ dỗ chị. Tuy hắn đã hai mươi tuổi nhưng vẫn tự cho mình là còn bé, thường vờ tới nhà Lao thị, mượn cuốc cào. Hoặc có khi giả vờ đưa cơm ra đồng giúp chị. Khi thì hắn lân la đến nhà chị nói:
- Chị Lao, cũng rất may chị giỏi giang, hằng ngày làm rất nhiều việc, nào là lo cơm nước, nào là dệt vải xe tơ, cả nhà đều do tay chị lo toan.
- Không làm thì lấy gì mà ăn. - Lao thị nói.
- Chị Lao, - Hoa Phương nói, - ấy thế mà có người không làm mà lại được ăn ngon mặc đẹp đấy!
Hắn thường khen để lấy lòng chị. Có khi hắn lại nói:
- Chị Lao, anh ấy thì dựa vào cái cuốc, còn chị thì dựa vào đôi tay thì làm sao nuôi nổi gia đình. Cũng chỉ là sống chật vật cho qua ngày thôi. Năm được mùa đã vậy, chứ mất mùa rồi, hắn lại lải nhải nói: - Năm tháng xoay vần, tôi xem ra anh Thắng chẳng mấy chốc mà già, thật đáng thương. Tôi cũng rất buồn. Ngay chị cũng thấy già đi chút ít, ấy là chị cũng biết trang điểm đấy. Như chị Chu Thân thôn Tiền, hơn chị năm tuổi, hàng ngày đầu bù tóc rối, đi chân đất, xấu như quỷ, thế mà khi về nhà Lý Bì Tam lại sống sung sướng. Chu Thiệu Giang nghèo kiết xác đã để chị đi lấy chồng khác.
Hắn cứ đưa những chuyện như thế để khơi gợi Lao thị. Lao thị là người ít mồm miệng, dù cho hắn nói gì chị vẫn lẳng lặng ngồi dệt vải hay xe gai, mặc cho hắn cười cợt nhăn nhở, chị vẫn không thèm nhìn. Những lời hắn nói chị đều bỏ ngoài tai.
Không còn cách nào, một hôm không biết hắn đánh ở đâu một chiếc trâm bạc và hai chiếc nhẫn, tới khoe với chị rằng:
- Đây là trâm và nhẫn mà Lý Bì Tam nhờ tôi đi đánh cho vợ Chu Thân, lại còn mất cả tiền công nữa. Lý Bì Tam tốn khá nhiều tiền với vợ Chu Thân. Vợ Chu Thân không nuôi nổi mình, thế mà lại sung sướng. Không những có quần áo đẹp, đồ trang sức đắt tiền, mà hằng ngày lại được ăn thịt, ăn cá.
Hắn đưa những việc tư thông để dụ dỗ Lao thị, song Lao thị chẳng thèm nghe, hắn rất bẽ mặt.
Kẻ ngu đần thì suy nghĩ cũng vụng dại, mặt đuỗn ra, hỏi thì ứng ngay, song chị thì im lặng không thèm trả lời. Thế rồi một hôm nhân đi mang cơm, hắn đánh liều nắm lấy cổ tay chị. Lao thị trừng mắt, mắng:
- Đồ mất dạy.
- Xin lỗi, xin lỗi chị. - Hắn nói.
Lao thị giận tím mặt, nhưng không dám to tiếng, sợ chồng mình sẽ tức giận.
Hoa Phương cắm đầu chạy, không ngờ đâm xô vào một người, cơm đổ tung tóe. Người ấy lại chính là Bào Lôi. Anh ta tóm chặt lấy Hoa Phương hỏi:
- Thằng quỷ, sao mà hoảng hốt thế?
- Sợ muộn cơm.
- Mày dừng dối tao, muộn cơm thì việc quái gì mà hoảng. Nhất định là có chuyện gì rồi, mày phải nói thật với tao đi.
Bị hắn túm chặt, Hoa Phương đành phải thú nhận mình bị Lao thị chửi. Bào Lôi nói:
- Chắc Nguyễn Thắng chẳng giữ được Lao thị được lâu đâu, dù thế nào chăng nữa mày cũng lấy được cô ta.
- Một người cần cù chịu khó như thế, - Hoa Phương nói, lại xinh đẹp thì Nguyễn Thắng bỏ làm sao được.
- Cứ thư thư một chút, - Bào Lôi nói, - ta chắc rằng Nguyễn Thắng sẽ gả cho mày thôi.
Đúng vào năm Thiên Khải(1) thứ bảy, vào đầu mùa hạ, mùa màng đang bận rộn, mẹ Nguyễn Thắng là Ôn thị ốm nặng, thuốc thang chạy chữa tốn kém. Bởi thế Nguyễn Thắng lo lắng, lại thêm công việc đồng áng nắng mưa vất vả nên mắc bệnh thương hàn, nằm liệt giường tới mười bốn ngày trời, người gầy như que củi. Trong nhà lúc ấy không còn hạt gạo, đồng tiền nào. Lao thị không còn biết lấy đâu ra tiền mà thuê người làm, ruộng chỉ thấy cỏ mà chẳng thấy lúa đâu, mùa màng chẳng trông mong gì thu hoạch. Chưa được nghỉ ngơi, lại bị bó chân bó tay tới nửa tháng trời, Nguyễn Thắng gắng gượng bò dậy, ra cửa ngồi:
(1) Thiên Khải: niên hiệu của Minh Hy Tông (ND).
Người gầy giơ xương,
Da vàng như nghệ.
Chống gậy đứng lên,
Gió to cũng đổ. Lao thị bảo chồng:
- Ra ngoài gió đấy, anh vào nhà mà nghỉ đi.
Chợt thấy có hai người hàng xóm là Vưu Thiệu Lâu và Sử Kế Giang đi qua, Vưu Thiệu Lâu trông thấy nói:
- Xin chúc mừng anh Nguyễn, anh khỏi rồi à? Có ba anh em mình, thì anh lại ốm.
- Đúng là anh từ cõi chết trở về thì ai mà chẳng mừng, song có điều ruộng để hoang thì sống sao đây. - Sử Kế Giang nói.
Đang chuyện trò thì Bào Lôi ở đâu tới cũng nói chen vào:
- Chà chà, anh Thắng khỏe rồi, xin mừng cho anh.
- Ruộng để hoang, - Nguyễn Thắng nói, - mất trắng rồi, . tôi cũng sắp chết đến nơi đây.
- Sắp chết thì phải tìm cách mà sống chứ. Chịu đựng hết năm nay, mùa xuân sang năm có đậu là sống rồi.
- Mất trắng rồi, - Nguyễn Thắng nói, - trong nhà rỗng tuếch, lấy gì mà mua gạo nước, củi đuốc, chỉ còn trơ trọi ba cái xác người thì anh bảo lấy gì mà sống được. - Có người có cách. - Bào Lôi nói. - Nếu như anh chết, thì anh còn cái gì nữa đâu?
Vưu Thiệu Lâu nói: - Người mà anh ấy nhờ cậy là chị ấy, sao anh lại nói thế?
- Anh không đọc "chúc phát ký" à? - Bào Lôi nói. - Có gạo thì ba người sống, không gạo thì ba người phải chết, chết đói thì vợ và bà cũng phải đổi lấy gạo mà sống.
Thế rồi họ chia tay nhau.
Hai hôm sau, quả là không sao chịu đựng nổi, Nguyễn Thắng thấy Bào Lôi nói có lý, mới nói với Lao thị rằng: - Mẹ con tôi rất may có cô mà thoát chết, song chết vì ốm đau bệnh tật cũng như chết đói. Thôi thì cô đi lấy người khác thì sống gắng gượng được nửa năm. Quả thực đây là việc bất đắc dĩ, mà tôi cũng không muốn thế.
- Cho dù tôi không nuôi nổi anh và mẹ, mà nếu có chết thì chết cả ba.
Lại hai ngày nữa qua đi, mà không được lấy hai bữa. Quả thực đã lâm vào cảnh đường cùng. Ôn thị nói:
- Con ạ! Mẹ nghĩ rằng, chỉ hai ngày nữa thôi là mẹ con ta chết. Thôi thì con hãy nghe chồng con, cứu sống lấy hai mẹ con ta.
Thấy thế Lao thị giàn giụa nước mắt, chẳng nói năng gì. Nguyễn Thắng bèn nhờ bà mối tìm người.
Hoa Phương biết tin này đến nhà Bào Lôi nói:
- Đúng là vợ Nguyễn Thắng phải đi lấy người khác rồi, làm thế nào cho cô ta lấy tôi?
- Khó gì đâu. Cứ chuẩn bị lấy bốn lạng bạc thì tôi chắc rằng anh tha hồ mà dùng.
Anh đừng nói là hỏi cho tôi, - Hoa Phương nói, - hôm nọ tôi mới trêu một tí mà cô ấy đã chửi, sợ rằng nói ra cô ấy không ưng.
- Sợ quái gì mà phải giấu tên, ai mà chẳng biết anh là kẻ trăng hoa, cả cái làng này có người nào đẹp trai được như anh.
Bào Lôi tự cho mình có thế mạnh bản lãnh quen rồi, hơn nữa lại hết lòng với Hoa Phương, nói với Thắng là, hiện có hai lạng, còn hai lạng nữa sẽ đưa sau. Nguyễn Thắng nói:
- Để tôi bàn với vợ tôi xem đã.
Lan thị nói:
- Anh đã định gả tôi cho người khác thì số tiền ấy cũng phải đủ nuôi mẹ con anh được nửa năm, chứ hai lạng thì bõ bèn gì.
- Người như thế mà bốn lạng thì không được, - Ôn thị nói, - con đã làm khổ nó mấy năm trời, song đâu đã đến nỗi tàn tạ đến như vậy. Hãy đi tìm người khác.
Nguyễn Thắng bảo với Bào Lôi là mẹ không nghe. Bào Lôi cười khẩy nói:
- Chờ hôm nữa tôi bảo Hoa Phương dồn đủ bốn lạng.
Hoa Phương tới thấy vậy nói:
- Anh lo chu đáo cho tôi quá, thôi thì đưa ngay bốn lạng cũng được. Chỉ cần ngủ với chị ta sớm hai ngày là được rồi.

- Đừng sốt ruột, nghe đâu hai người hàng xóm của chúng ta muốn lấy Lao thị. Ta chỉ nói là người đàn bà có chồng, thì sẽ gặp hậu họa, thế thì ai còn dám lấy? Như thế chắc chắn Lao thị sẽ về tay anh thôi. Hãy thư lại vài ngày nữa.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 EmptyThu May 01, 2014 1:40 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 17 (B)
Không ngờ Dĩu Doanh ở thôn Tiền, nhà cũng có chút máu mặt, ngoài Giêng vợ chết cũng muốn cưới vợ khác. Nghe thấy Lao thị ưng đi lấy người khác, và cũng biết Lao thị là người rất chăm chỉ siêng năng, Dĩu Doanh cũng chẳng thăm dò gì, bèn nhờ người mối tới nói, lễ vật là tám lạng, nếu nhà ấy muốn giữ thể diện thì sẽ mang tới một con ngỗng, một đùi lợn, một đôi gà, hai con cá và ngày hôm sau là làm lễ cưới. Lao thị thấy vậy tự nhiên nước mắt chảy giàn giụa. Suốt hai đêm nói sao hết nỗi vất vả gian nan triền miên trong mấy năm trời, một người thì khuyên chị khéo léo chiều chuộng chồng mới, người thì dặn chị chú ý giữ gìn sức khỏe. Người thì bảo: "Đây chỉ là bất đắc dĩ tôi, đừng oán tôi là bạc tình bạc nghĩa". Người thì nói là "Biết đấy nhưng chẳng làm khác được, chỉ cầu mong cho con được bình an". Đêm nằm Lao thị không sao chợp mắt, đến khi trời sáng mẹ chồng và nàng dâu hết khóc rồi lại nói, nói rồi lại khóc, chẳng ai thiết ăn uống gì. Còn Nguyễn Thắng thì đi sắm chút thức ăn tiễn vợ. Tối đến người mối tới, ba người sụt sùi khóc tiễn chân chị ra khỏi nhà.
Thương nhau chẳng tới bạc đầu
Đang vui sum họp đã sầu chia phôi.
Cầm tay giọt ngắn giọt dài,
Chỉ trong gang tấc mà vời vợi xa.
Trong số những người láng giềng, thì Bào Lôi và Hoa Phương là không tới tiễn chân Lao thị, những người khác như Vưu Thiệu Lâu, Sử Kế Giang, Phạm Tiêu Vân, Lang Niệm Hải, Thiệu Thừa Pha đều vui vẻ hồ hởi tới tiễn chân Lao thị. Song vì Nguyễn Thắng cứ khóc lóc không còn lòng dạ đâu mà đón tiếp họ, thế là họ cụt hứng bỏ về.
Sáng sớm hôm sau Hoa Phương đến tìm Bào Lôi, nói:
- Tôi đến để cảm ơn anh đã nói vun vào cho tôi, anh đã đảm bảo chắc chắn là tôi được, vậy tại sao bây giờ cô ấy lại sang tay kẻ khác.
- Không phải nói nữa, - Bào Lôi nói, - tôi cũng đang tức thay cho anh đây, phải làm cho cái thằng mới lấy ấy không được thụ hưởng.
Thế rồi Bào Lôi tới các nhà láng giềng nói khích:
- Tôi biết hôm qua mấy người không được uống rượu, hắn đã làm mấy mâm đãi khách, nhưng hôm qua tại sao Nguyễn Thắng không thèm tiếp đãi các anh?
- Hôm qua lúc chúng tôi bỏ về hắn cũng không thèm giữ lại - Sử Kế Giang nói. - Tôi về nhà mua một bình rượu trắng, uống thỏa thích.
- Chẳng hiểu sao, - Vưu Thiệu nói, - gả bán một người được gần mười lạng bạc, giá không đến đưa dâu thì cũng phải mời chúng ta một tiếng chứ.
- Hôm qua chẳng còn lòng dạ nào mà mời, - Phạm Tiểu Vân nói, - chắc rằng hôm nay mới mời chăng?
- Không phải thế đâu, - Thiệu Thừa Pha nói, - đến hành cũng chẳng thấy hắn mua lấy một đồng, hắn ăn một mình thôi.
- Tôi e rằng không có lẽ không mời. - Lang Niệm Hải nói.
- Các vị ạ, - Bào Lôi nói, - nhất định không ăn được của hắn rồi. Tối nay xin mời các vị đến nhà đứa đàn em này.
Quả nhiên Bào Lôi bê hai hũ rượu đặt lên hai chiếc bàn, rồi đi mời năm người ấy. Thiệu Thừa Pha từ chối không tới, nhưng Bào Lôi cứ lôi đi bằng được. Họ chơi trò phạt rượu, người nào người nấy chếnh choáng hơi men, mặt đỏ phừng phừng. Bào Lôi nói: - Thật không thể nào chịu nổi, thằng Thắng đã khinh ta - như thế Hoa Phương là người tốt, ta đi hỏi Lao thị cho nó, mà nó không gả. Các vị đi dẫn dâu mà nó cũng không mời lấy một chén rượu. Bây giờ xin các vị hãy giúp tôi, cho hắn một trận. Nếu hắn không nghe theo, thì trước hết ta sẽ kết liễu hắn.
Thấy Bào Lôi là một kẻ hung ác, mọi người không dám trái ý, nói:
- Được, được nhưng không biết anh có kế gì?
Thấy mọi người nghe theo, Bào Lôi lại mang rượu ra, nói:
- Phải can đảm lên, uống đi rồi hành động, - hắn nói tiếp, - các anh theo ta bạc sẽ cho các anh hết, còn ta làm thế chỉ cho bỏ tức thôi.
Thế rồi nhân lúc ánh trăng lờ mờ, chúng đi đến cửa sau nhà Nguyễn Thắng.
Thương thay, hai mẹ con Thắng được số bạc ấy, đang suy đi tính lại vẫn chưa ngủ, còn tiền thì giấu xuống đầu giường. Nghe tiếng Bào Lôi rạch rào, Nguyễn Thắng bèn lần ra cửa. Thấy Bào Lôi đang bẻ khóa gian buồng bên kia, vội kêu lên "cướp cướp". Bào Lôi đá một phát Nguyễn Thắng bắn sang một bên, Hoa Phương nhào tới tống một phát vào thái dương. Vì ốm lâu ngày, Nguyễn Thắng chỉ kêu lên một tiếng rồi tắt thở. Thấy thế Vưu Thiệu Lâu hỏi:
- Bào Lôi, làm thế nào bây giờ?
- Việc đã đến nước này, - Bào Lôi nói, - thì kết liễu luôn con mẹ nó đi, lấy bạc cho chúng mày.
- Chúng tôi hoàn toàn nghe theo đại vương. - Lang Niệm Hải nói.
Trong đêm tối, Ôn thị chạy ra, bọn chúng nhất tề xông tới kết liễu luôn cuộc đời Ôn thị. Bào Lôi lục lọi, thấy trong chiếc làn cũ có chiếc chăn và hai chiếc ruột áo bông rách. Hắn lục đầu giường, thấy dưới đệm cỏ một gói vải rách buộc rất kỹ. Bào Lôi lấy bạc từ trong gói, đưa ra giữa nhà chia đều cho sáu đứa mỗi đứa một lạng ba. Năm đứa xưa nay nghèo đói, chưa từng có số bạc như thế, chúng đều nhận cả, nói:
- Tại sao anh không lấy một đồng nào?
- Tao đã nói trước là tao không cần. - Bào Lôi nói.
Không ngờ nhà Nguyễn Thắng chẳng còn một ai, chiếc nhà này coi như của chung. Lúc ấy Hoa Phương nói:
- Ông anh, hai xác người này làm sao bây giờ?
- Tao đảm bảo với ngươi sẽ có người khác đền mạng. - Bào Lôi nói. - Nếu không đền mạng thì đây vẫn là món tài sản lớn của chúng ta.
Thế rồi hắn chỉ trời vạch đất, đưa ra một kế sách. Nghe xong chúng đồng thanh đáp:
- Hay lắm, ta sẽ phải trắng tay. Song thấy hắn thì phải báo cho nhau, không thì nó đi mất.
- Kế đã vạch sẵn, chúng rất yên tâm. Tuy đi lấy người khác song Lao thị vẫn cứ nhớ hai mẹ con Nguyễn Thắng, nói:
- Mẹ hẹn là đến ngày thứ ba thế nào cũng mang hai chiếc hộp đến thăm em, sao mãi đến giờ mà vẫn chưa thấy tới?
Lao thị muốn về thăm, Dĩu Doanh nói:
- Em bây giờ là người nhà khác, mới về được hai ngày lại bỏ đi, người ta sẽ chê cười. Thôi để anh tới đó xem sao.
Nói xong, Dĩu Doanh đội mũ, mặc áo, xỏ giày tới nhà Nguyễn Thắng. Hoa Phương đón đường nói:
- Anh Dĩu đến lại mặt đấy ư?
- Nhà tôi nhớ bà cụ quá, - Dĩu Doanh cười nói, - bảo tôi tới thăm cụ xem sao.
- Vẫn không quên người cũ, thế là tốt. - Hoa Phương nói.
Rồi hắn đi tìm Bào Lôi.
Dĩu Doanh tơi nhà Nguyễn Thắng, thấy cửa đóng chặt, nghĩ bụng: "Bây giờ mà còn ngủ ư?". Tưởng rằng không có vợ, hai người lại ốm nên không có người mở cửa. Định về, nhưng lại không biết tin tức thế nào, bèn gõ cửa, song làm gì có người thưa bèn vòng ra cửa sau, thì thấy cửa khép hờ, đẩy cửa bước vào. Dĩu Doanh thấy Nguyễn Thắng chết gục bên cửa, nhìn vào bên trong thì Ôn thị cũng đã chết. Dĩu Doanh khiếp mất vía, bủn rủn chân tay, quay ra ngay.
Vừa khỏi cửa thì nghe thấy:
- Anh Dĩu! Đến thăm thông gia đấy ư? Một bông hoa đẹp mà không được hưởng lại đưa cho anh. - Rồi hắn kéo tay nói. - Gà và ngỗng hôm trước dẫn lễ vẫn còn, có thể giết để mời anh, sao anh lại bỏ về. Đàn em này sẽ dẫn anh vào, kiếm chén rượu nhạt.
Cứ thế hắn lôi Dĩu Doanh vào, Dĩu Doanh nói:
- Tôi đến thăm mẹ con anh ấy, chẳng hiểu vì sao hai người ấy đã chết rồi.
- Hôm qua hai người vẫn yên lành sao hôm nay lại chết đột ngột như thế? Tôi không tin.
Thế là hắn lôi Dĩu doanh vào xem, thấy hai xác người đang nằm đó. Bào Lôi nói:
- Vì sao thế?
- Tôi cũng chẳng biết nữa.
- Anh trong nhà đi ra, anh không biết thì ai biết? Anh không ra khỏi đây được đâu.
Hắn gọi:
- Vưu Thiệu Lâu đâu?
Vừa cất tiếng gọi thì hai ba người đã ập vào. Bào Lôi nói:
- Hôm qua hai mẹ con Nguyễn Thắng vẫn còn yên lành, hôm nay Dĩu Doanh ở trong nhà bước ra, bảo là mẹ con Nguyễn Thắng đã chết. Các ông ạ, tôi thấy kỳ quặc quá.
- Đúng là kỳ quặt thật, - Vưu Thiệu Lâu nói. - Anh Dĩu bảo sao đây?
- Vợ tôi bảo tới thăm, - Dĩu Doanh nói, - gõ cửa trước không thấy mở, tôi đi vòng ra lối cửa sau, thì thấy hai người đã chết, tôi chẳng hiểu vì sao. Việc này chẳng có liên quan gì đến tôi.
- Tại sao chết đúng vào lúc anh đến thăm như thế? Đúng là anh nói có chỗ bất minh.
- Nếu như không ép được Dĩu Doanh thì phải để cho anh ta chôn cất hai cái xác này đi. - Phạm Tiểu Vân nói.
- Bắt hắn phải đãi chúng ta. - Hoa Phương nói.
Bào Lôi nói:
- Các chú chẳng hiểu gì cả. Đây là hai nhân mạng, chúng ta đòi bao nhiêu tiền để che giấu cho hắn? Mà khi chuyện đã vỡ lở thì chúng ta lại là kẻ đồng mưu.
- Anh Dĩu, - Thiệu Thừa Pha nói, - anh tính sao đây?
- Bảo tôi làm sao bây giờ. - Dĩu Doanh nói. - Thực tình là tôi không giết, tôi ngần này tuổi, đã được vợ, sao lại còn đi giết người ta.
- Chỉ cần anh nhận giết chết họ là tiện nhất.
- Hay là anh hối hận, nếu ta lấy vợ anh ấy thì phải thế thôi anh lo liệu là tốt nhất.
- Tôi lo liệu ư? - Dĩu Doanh đáp. - Nhưng tôi có giết họ đâu?
- Vậy thì rốt cục tôi giết chết ư? Bào Lôi nói.
Dĩu Doanh không đáp, biết không ép được, Bào Lôi bèn túm ngực Dĩu Doanh nói:
- Chúng ta giải hắn lên huyện. Bọn đàn em nghe Bào Lôi sai bảo, bèn hò nhau giải Dĩu Doanh lên huyện. Đúng là:
Lưỡi đã chẳng cao dọi chim hồng,
Vô tình chim bay lọt vào trong.
Trương Tô(1) dù có tài uốn lưỡi,
Khó mà thoát khỏi bọn gian manh.
(1) Tô Trương: chỉ Tô Tần, Trương Nghị, hai viên thuyết khách tài giỏi thời Chiến Quốc (ND).
Lúc ấy Lao thị biết tin, muốn nhờ người đến ứng cứu, song chẳng ai dám nhúng tay, Dĩu Doanh đã bị bọn chúng lôi lên huyện. Quan huyện họ Tạ, người Ninh Ba, nổi tiếng liêm khiết và sáng suốt. Bào Lôi vào bẩm với quan rằng:
- Chúng con là người ngụ tại Lưu Thành, Nguyễn Thắng là láng giềng của chúng con, vì nghèo túng, hôm kia có bán vợ cho Dĩu Doanh. Hôm qua mẹ con Nguyễn Thắng đều bình thường, hôm nay chúng con đi thăm thì thấy Dĩu Doanh ở trong nhà ấy đi ra, nói là mẹ con Nguyễn Thắng đều chết. Chúng con gọi những người hàng xóm tới xem, thì quả nhiên hai người chết thật. Vì việc can hệ đến mạng ngươi, chúng con đành giải Dĩu Doanh trình lên quan.
Quan huyện hỏi:
- Ngươi tên gì?
- Thưa ngài, con là Bào Lôi.
- Hai người nào ở liền kề với Nguyễn Thắng?
- Thưa ngài, - Vưu Thiệu Lâu nói, - con và Sử Kế Giang là người ở gần, quả thực nhà ấy chết hai người. Dĩu Doanh nói với Bào Lôi, chúng con mới biết.
- Vậy tại sao, - quan huyện hỏi, - các ngươi ở gần mà lại không biết?
- Thưa ngài, - Vưu Thiệu Lâu nói, - con cách nhà anh ấy một mẫu bông.
- Con cách nhà anh ấy chiếc sân đập lúa. - Sử Kế Giang nói. - Quả thực con không nghe thấy động tĩnh gì.
Ngài lại gọi Dĩu Doanh hỏi:
- Anh trả lời thế nào đây?
- Thưa ngài, - Dĩu Doanh nói, - hôm kia con có đưa tám lạng bạc đến cưới vợ Nguyễn Thắng làm vợ. Hôm nay vợ con bảo con đến thăm, khi con đến, thấy cửa trước đóng con đi vòng ra lối sau, đẩy cửa vào thì thấy hai mẹ con anh ấy đã chết rồi.
- Thế ngươi vào có ai biết không?
- Thưa ngài, không ai biết ạ.
Ngài quan huyện thấy hắn nói có lý, bèn hỏi:
- Dĩu Doanh, ta nghĩ người đàn bà ấy đã lấy chồng khác, thì rõ ràng phải tuyệt tình tuyệt nghĩa với anh ta chứ, tại sao lại còn tình nghĩa?
- Thưa ngài, - Dĩu Doanh nói, - quả là vợ con nhớ mẹ chồng cũ, nên bảo con đi thăm.
- Dù có đi thăm chăng nữa, - quan huyện nói, - thì phải đi lối cửa chính chứ tại sao lại đi cửa sau? Quả là đáng nghi. Đúng là ngươi giả vờ đi thăm để lấy trộm mấy lạng bạc, vì họ biết nên đã giết họ. Đó là sự thực.
- Thưa ngài oan con quá, - Dĩu Doanh nói, - quả thực khi con tới đã chết rồi.
- Thấy người ta chết, - Bào Lôi nói, - thì cũng phải báo cho người sở tại chúng tôi chứ, tại sao lại đóng các cửa lại rồi bỏ đi? Nếu ta không gặp, không hỏi thì đến giờ cũng không ai biết. Giết người phải đền mạng, đó là lý đương nhiên, chứ có phải chúng tôi hại anh đâu.
- Quả là oan tôi quá. - Dĩu Doanh nói. - Đây đúng là các người âm mưu giết họ.
- Chúng tôi có biết anh đến đâu mà đổ cho anh. - Bào Lôi nói. - Hãy nhận ngay đi thì khỏi phải cùm kẹp.
Ngài huyện Tạ cho người kẹp Dĩu Doanh, rồi đưa ra ngoài hiên, một lát sau lại đánh năm sáu mươi gậy, Dĩu Doanh ngất đi buộc phải khai là đã giết. Thế rồi quan huyện cho tháo kẹp ra, Dĩu Doanh lại nói:
- Thưa ngài, quả thực là con vô tội, bị họ đổ tội hãm hại con, dù có đánh chết con cũng không nhận.
Quan huyện họ Tạ còn nghi hoặc, bảo giam Dĩu Doanh vào ngục, còn bọn Vưu Thiệu được bảo lãnh về nhà sẽ xét hỏi sau. Bọn này tuy lòng dạ xấu xa, song thấy thế cho rằng không ngại gì nữa, chúng lại khen Vưu Thiệu Lâu ăn nói giỏi, Bào Lôi giúp đỡ mọi người, rồi chúng về nhà. Chỉ khổ Dĩu Doanh vô tội lại bị hại. Lao thị ở nhà chỉ còn biết cầu trời khấn phật phù hộ cho chồng.
Hôm ấy trời quang mây tạnh, bỗng thấy trên trời có một vầng lửa sáng lòa, ánh chớp loàng nhoàng lóe lên như một con rắn vàng, ngoằn ngòeo bay qua làng, ánh lửa tím chói lòa phát ra tiếng nổ đoành đoành như trời sập, như núi đổ. Nhũng đợt sóng giận dữ cuộn lên hàng trăm trượng, dòng sông nước dâng lên ào ạt, những trận gió nổi lên tràn vào rừng sâu như hổ gầm.
Phút chốc như trời long đất lở, cả một vùng tối tăm mù mịt. Những chỗ sét đi qua, thấy có người chết trên ruộng, có người chết trên đường, kẻ thì quỳ, người thì nằm gục xuống, kẻ thì đầu cháy xém mặt đen thui, kẻ thì khắp người đen như mực. Cả làng náo loạn đổ ra đông nghịt, giẫm nát cả hoa màu, chen chật cả đường sá, kẻ khóc cha, người khóc con như ong vỡ tổ ai ai cũng đi nhận người. Thì thấy, một người là Bào Lôi, một người là Hoa Phương, một người là Vưu Thiệu Lâu, một người là Sử Kế Giang, một người là Phạm Tiểu Vân, một người là Thiệu Thừa Pha, một người là Lang Niệm Hải, tất cả là bảy người.
Hại người là hại mình,
Dối người khó dối trời.
Báo ứng thật đúng thay,
Đáng đời lũ gian ác.
Người làng đệ trình việc kỳ lạ này lên quan huyện. Lao thị cũng lên cửa quan kêu oan cho chồng, nói:
- Bảy đứa trong bọn Bào Lôi hãm hại người, nay đã bị trời hành tội, vậy xin ngài soi xét tha cho chồng con.
Quan huyện thấy quả là lạ lùng, lập tức cho bắt người nhà của bảy tên ấy tới. Thấy con của Văn Thiệu Lâu đang cầm một lạng ba bạc đi mua quan tài, bị sai nha bắt và giải tất cả lên quen. Quan huyện vừa mới dọa, hắn đã thông thốc khai ra:
- Bào Lôi là chủ mưu, Hoa Phương giúp sức, còn những người khác được chia bạc. Vì bọn phạm nhân này đã chết, nên quan huyện cũng không truy cứu nữa, chỉ truy hoàn số bạc, thả Dĩu Doanh. Nhà cửa chia cho Lao thị, bảo chị an táng Ôn thị và người chồng cũ.

Dĩu Doanh bỗng nhiên bị vu oan, chỉ trong mấy ngày đã được minh oan. Kẻ đáng chê cười là bảy đứa trong bọn Bào Lôi, ngấm ngầm mưu hại người, bảy người đổ tội cho một người thì lo gì Dĩu Doanh không đền mạng. Song ai ngờ lẽ trời sáng tỏ, làm sao mà có thể che giấu được. Cho nên người ta nói rằng, có thể che mắt được quan xử kiện, pháp luật của nhà nước có thể bị uốn cong, song có ngờ đâu mắt trời cực sáng, uy trời cực nghiêm, trốn tránh làm sao được. Nếu như hôm ấy Dĩu Doanh đã bị khép tội, cũng không lấy gì làm lạ, bảy tên gian ác kia còn sống sót, một đứa cũng không lấy gì làm lạ. Ai ngờ rằng rành rành không để sót một tên nào? Xin người đời hãy suy nghĩ kỹ lại mình.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 EmptyThu May 01, 2014 2:57 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 18
Khám Tay Máu, Phủ Quan Luận Tội
Trộm Mũ Vàng, Sau Được Minh Oan
Người trung bị nghi ngờ, người giữ chữ tín bị gièm pha, chuyện ấy xưa nay thường thấy. Chỉ có điều phải trái cuối cùng sẽ phân minh, lâu ngày sẽ sáng tỏ. Người xưa từng nói rằng:
Chu Công(1) từng sợ lời bịa đặt,
Vương Mãng(2) đề cao kẻ có tài.
Nếu như hai người bỗng nhiên chết.
Thật giả sau này ai biết cho.
(1) Chu Công: Chu Công Đán, sống cuối thời Tây Chu (ND).
(2) Vương Mãng: làm vua từ năm 8-23 sau công nguyên (ND).
Không ngờ vì trời mà Chu Công không chết, sau khi dời đô về phía đông ba năm ông biết được những người gièm pha, nói rằng ông đã hại Thành Vương, đó là Quản Thúc và Thái Thúc là anh và em ông. Thành Vương cũng không minh oan cho ông, thế là trời bỗng nổi sấm chớp, gió bão cảnh báo Thành Vương, chứng tỏ không có nỗi oan nào là không minh oan. Lại như ngay gần đây thôi, Ngụy Trung Hiền đã dựa vào "Tam án" quây một mẻ lưới sát hại những người hiền lương. Như thế vẫn chưa đủ, hắn "cắt đất nhận hối lộ” vu cho những người chính trực là gian tà, những người thanh liêm là tham lam, người luôn luôn gìn giữ mình thành người gây sự, nên hắn đã đuổi họ về, giết chết và bắt đi làm lính thú, bắt truy hoàn tang vật, không biết bao nhiêu người. Còn có một bọn người khéo tô vẽ, giỏi vơ vét hết lòng xu phụ, lấy bàn tay che mặt trời, khiến những người hiền lương không sao bộc bạch được. Không ngờ đấng quân vương sáng suốt lên ngôi, tất cả sự đen tối đều bị phanh phui ra hết, những người trung nghĩa can đảm cuối cùng đã làm cho thiên hạ bừng sáng. Đây là việc lớn. Còn những việc nhỏ nhặt như sự ngu dốt của quan xử kiện, hoặc là sự việc xảy ra một cách khéo léo trùng khớp y như thật, thì tuy nhất thời còn mù mờ, song sau này không thể không sáng tỏ.
 
Chuyện kể rằng, ở Sử Châu triều đại chúng ta có một viên lại họ Đỗ, người huyện Long Tuyền. Vì bỏ tiền mua chức nên được làm việc tại hình phòng. Trong nhà cũng có dăm ba chục mẫu ruộng, đời sống gia đình tương đối khá giả. Vợ là Vương thị, sinh được đứa con trai, vì thiếu sữa nên thuê người vú nuôi là Kim thị, nhà còn có một đứa ở là A Tài. Ông là người sống yên phận, cả gia đình đều sống trong phủ.
Phía tây là công đường, có Phùng ngoại lang là người ở bình phòng, nhà giàu có. Mẹ là Thiệu thị, vợ là Giang thị, đi đâu họ thường đội mũ vàng, cài trâm vàng, khi mời khách thường dùng chén bạc. Hai nhà ở gần nhau, cửa sau nhà Đỗ ngoại lang đối diện với cửa trước nhà Phùng ngoại lang. Hai nhà thường mời nhau uống rượu, trong phủ ai cũng biết họ rất thân nhau. Bởi thế người vú nuôi nhà họ Đỗ hằng ngày thường bế đứa bé sang nhà họ Phùng chơi. Những nhà ở trong phủ đều không rộng rãi, người vú nuôi thường bế đứa bé vào trong phòng chơi.
Một hôm nhân ngày sinh nhật một người thân quyến, mời cả nhà Phùng ngoại lang tới dự tiệc mừng. Ngươi vú nuôi hôm ấy cũng sang giúp Giang thị sửa mũ, cài đầu, tiễn chân ra tận cửa. Phùng ngoại lang cho rằng nhà ở trong phủ, nên cũng không cho người ở lại coi nhà, mà khóa cửa đi hết. Ra đường gặp ngay Trương Tam là thư ký của phòng mình, hắn còn trẻ, thích chơi gái và đánh bạc. Trong nhà có một chút vốn liếng, vừa đủ trang trải khi cưới vợ, còn đâu nữa cho anh ta tiêu xài. Ngay cả việc công trong phủ cũng rất ít, công việc thường xuyên đã có một vị lâu năm làm, nếu có thay thế, mà được người ta đút lót cho một vài lạng thì hắn cũng chỉ được một vài đồng thôi số tiền ấy không đủ hắn tiêu một lần. Vợ hắn thường kỳ kèo, song nào hắn có lọt tai. Nay hắn mang tiền đi xem hát, mai hắn rủ người đi chơi núi, hoặc chơi gái, song đó chỉ là chuyện vặt. Điều tai hại nhất là lúc nào hắn cũng chỉ nghĩ tới cờ bạc. Đã vào sòng bạc thì khó mà thắng. Lúc đầu nó cho anh được một vài đồng để nhử anh, sau đó anh phải đánh tiếp. Nếu anh tham mồi bắt bóng, cứ đánh to lên, thế là thua cháy túi. Bọn chủ sòng bạc có nhiều mánh lới khiến anh không sao gỡ nổi, lúc đầu anh bán quần áo, đồ trang sức của vợ, sau đó bán hết cả đồ đạc trong nhà để đi đánh bạc.
Hôm nay Trương Tam thua to, định về nhà mình kiếm chút tiền gỡ lại. Hắn vừa tới cửa, thấy hai người đàn bà, một già một trẻ lên kiệu, sau là một người đầu đội mũ, mặc áo the Thanh Hải màu lam, trông rất sang trọng, người ấy là Phùng ngoại lang, thuộc binh phòng, sau cùng là đứa ở Cầm Đồng gánh lễ vật. Trương Tam nghĩ: "Không biết gã chó chết này đi đâu?”. Hắn về phòng, chẳng thấy một ai, ngồi một lúc hắn nghĩ: “Lão Phùng chết tiệt này, trước đây mời mình uống rượu hắn khoe khoang là hắn mua hai bộ chén bạc. Hôm nay cả nhà đi ăn cỗ chắc đến tối mới về. Ta đến nhà gã, nhân lúc không có người khoắng một mẻ, cũng đủ chơi vài ba ngày. Làm việc công được vài đồng thì ra quái gì".
Xưa nay người ta lâm vào cảnh đường cùng thì mưu kế sẽ nảy sinh. Người xưa lại nói gần cờ bạc là gần trộm cướp. Đến nơi thấy cửa khóa, hắn ra sức bẻ đến nỗi toạc cả ngón tay, máu chảy ròng ròng. Hắn nghĩ: "Tiền đầu bất lợi", rồi hắn lại nghĩ: “Máu là cửa, thế thì nhất định sẽ gỡ to đây". Hằn gài trái cửa lại rồi đi vào. Máu trên ngón tay chảy ròng ròng. Hắn nhặt được mảnh vải cuộn lại, đi thẳng vào trong nhà, cạy hòm, thấy bên trong có một chiếc mũ đính vàng, bốn chiếc chén bạc, một đôi kim thoa, mấy cành trâm vàng. Hắn moi xuống đáy hòm, thấy một gói bạc nguyên và ít lạng bạc rời. Hắn nhét tất cả vào người. Vì vội vã mảnh vải cuốn tay rơi vào trong hòm mà hắn không hay biết. Hắn cứ thế đi ra.
Trộm đã lấy được tiền,
Khấp khởi cầm trong tay,
Chỉ một điều sơ xuất,
Cuối cùng lộ ra ngay.
Hắn nghĩ: "Xưa nay ta là một thằng nghèo, lấy đâu ra nhiều của quý như thế, hơn nữa đang vào tháng Sáu, mặc áo đơn lỡ người ta trông thấy thì ê mặt". Hắn rẽ ngay vào trong phòng làm việc, nhân lúc không có ai bèn bỏ những thứ đó vào một hòm đựng giấy tờ mà nhiều năm nay không ai mở, giấu mãi tận đáy hòm rồi đậy những gói văn thư lên trên. Hắn chỉ giắt số bạc vào người, rồi đi khắp nơi chơi bời thỏa thích.
Phùng ngoại lang ở nhà ấy uống rượu xem kịch, vì nhà không có ai nên bảo Cầm Đồng về trước trông nhà. Cầm Đồng mải xem, đến hết hồi thứ hai mới về. Tới nhà thấy cửa không còn khóa, đi thẳng vào thấy cửa mở thông thống. Vào trong nhà thì hòm bị mở tung. Nó vội vàng chạy đi báo chủ.
Người vú nuôi nhà họ Đỗ đang đứng ở cửa sau, thấy nó hốt hoảng hỏi:
- Cầm Đồng, có việc gì mà hớt hơ hớt hải thế?
- Mất trộm, mất trộm rồi.
Nó chạy thẳng vào chỗ đang cỗ bàn, nói với Phùng ngoại lang:
- Ông ơi, nhà mất trộm.
- Mất những gì?
- Hòm bị mở tung ra.
Phùng ngoại lang vội buông bát đũa về ngay, hai người đàn bà cũng theo chân về. Thấy những đồ đạc vật dụng để ngoài vẫn còn, vào trong nhà thì hai chiếc hòm bị mở, quần áo trong hòm đảo lộn lung tung, chiếc mũ đính vàng, kim thoa, chén bạc và bạc lạng không cánh mà bay. Mẹ và con dâu kiểm lại từng chiếc áo quần thì thấy một mảnh vải cuộn tròn tròn còn dính máu. Hai người nói:
- Áo quần còn đủ cả, song không biết miếng vải này ở đâu.
- Cái này chắc là ở tay kẻ trộm rơi ra. - Phùng ngoại lang nói. Rồi lập tức gọi ứng bổ tới xem xét, ứng bổ nói:
- Bẻ khóa vào nhà thì đúng rồi, song đây không phải là kẻ trộm lành nghề. Giữa ban ngày ban mặt mà trong phủ mất trộm thì trộm ở ngoài làm sao mà vào được? Phải dò xét quanh đây xem sao.
Phùng ngoại lang bèn viết một lá đơn về việc mình mất trộm trình lên Kinh lịch ty. Đỗ ngoại lang cũng sang hỏi thăm và an ủi.
Song một mất mười ngờ, Phùng ngoại lang mất của tất nhiên là nghi hết người này đến người khác. Hơn nữa ứng bổ lại nghi cho những người lân cận. Đến tối ba người uống rượu, bỗng vợ Phùng ngoại lang là Giang thị nói:
- Việc này tôi cũng nghi lắm. Cửa sau nhà họ Đỗ đối diện với cửa nhà mình, không phải là vú nuôi thì còn ai vào đây. Hằng ngày mụ ta cứ qua lại luôn, thông thuộc đường ra lối vào. Hôm qua lại sang đây giúp việc trang điểm, biết được nhà mình không có ai ở nhà nên đã khoắng một mẻ, lại ở ngay sát nhà mang ra không ai trông thấy. Cầm Đồng đứng bên rót rượu nghe thấy thế bèn nói:
- Đúng rồi. Hôm qua con đi báo cho ông, gặp ngay mụ ta đứng cửa sau nhìn ra. Lại thấy bà nói tìm thấy một cái giẻ buộc tay. Con nhớ ra là hôm kia mụ ta làm cá ở ngoài giếng cắt vào tay, phải buộc giẻ. Con nghĩ đúng là mụ ta rồi.
- Bọn vú nuôi, - Thiệu thị nói, - mới ở quê ra còn tốt, nếu đã ở cho mấy nhà rồi, vất vả như thế mà công sá chẳng là bao thì chúng phải tính chứ, hoặc là gạ gẫm bọn đàn ông, hoặc là trộm cắp, mười đứa thì họa may có vài đứa tốt. Cho nên bọn ấy đừng có cho nó bước vào nhà. Cái đứa con ở là A Tài ấy mặt mũi như cú vọ, đúng là tướng ăn trộm. Một đứa lấy, một đứa mang đi, xuất quỷ nhập thần, ai mà biết được.
- Đây không phải là chuyện đùa, - Phùng ngoại lang nói, - nhỡ không đúng thì có oan cho người ta không. Hơn nữa ông Đỗ là người rất trung hậu, chắc rằng chẳng bao giờ làm chuyện đó.
- Ông Đỗ trung hậu, - Thiệu thị nói, - chứ mụ vú nuôi và A Tài nhất định không thật thà, ứng bổ chẳng nói là trộm gần đó sao!
- Hãy cứ từ từ bảo ứng bổ dò xét. - Phùng ngoại lang nói.
Vì Cầm Đồng không về sớm coi nhà nên bị đánh.
Sáng sớm hôm sau, Cầm Đồng tức quá cứ cho là vú nuôi lấy trộm, bèn chỏ sang cửa sau nhà họ Đỗ chửi:
- Mày là đồ vô liêm sỉ, mày lấy cắp làm tao phải bị đánh, mày cần bạc sao mày không theo trai. Hằng ngày mày ra vào nhà tao, mày quen đường quen lối, mày lấy chứ còn ai vào đây nữa. Mày lấy rồi, nhưng mày cũng chẳng hưởng được đâu!
Nó cứ ra ra vào vào chỏ sang nhà ấy mà chửi.
Cửa sau nhà họ Đỗ chính là nhà bếp, thường ngày người vú nuôi này cũng không phải là tay vừa, thấy thế nghĩ rằng: "Con này láo quá, tại sao nó cứ chỏ sang nhà mình mà chửi".
Vương thị nói:
- Nhà nó mất của, gia chủ đánh nó. Nên nó phải chửi, nó chửi thì mặc nó.
Đến tối, người vú nuôi mở cửa đi đổ nước thì gặp ngay đứa con ở cứ nhảy choi choi lên mà chửi.
- Mày là đồ vô liêm sỉ, là đồ đĩ, mày chỉ lấy trộm của trai chứ sao mày lại lấy trộm nhà tao. Mày lấy chiếc mũ đính vàng ấy đội cũng chẳng yên đâu, bạc mày nuốt cũng chẳng trôi đâu.
Người vú nuôi không muốn dây lời với nó, nhưng nó kéo lấy tay vú nuôi, nói:
- Vú nuôi này, tôi nhớ hôm kia vú nuôi làm cá cắt phải tay, cuốn miếng vải trắng, trong hòm nhà tôi cũng có miếng vải như thế
Thấy nó cứ chửi mãi, mà câu nào nó cũng ám chỉ mình. Đang tức sẵn, nghe thấy nói thế người vú nuôi chợt bừng bừng nổi giận, tát ngay nó một cái, nói:
- Con đĩ , ra mày chửi, vào mày chửa. Tao không lấy, tao không thèm chấp, sao mày cứ đổ cho tao? Tao quen đường quen lối thì tao lấy của nhà mày à?
Cầm Đồng nắm lấy tay vú nuôi, nói:
- Chứng cớ còn rành rành đây, lẽ nào nhà tôi đổ oan cho bà à?
Vú nuôi ba máu sáu cơn bèn đánh nó một trận. Chủ nhà hai bên và hàng xóm chạy ra, một người nói:
- Mày đổ oan cho bà ấy.
- Trên tay bà vẫn còn dấu vết, - người khác nói, - thì chối làm sao được.
Đỗ ngoại lang nói:
- Bà ấy rất tốt, làm cho nhà tôi một năm nay rồi mà chẳng tơ hào tắt mắt cái gì, đừng đổ oan cho bà ấy.
- Sự việc xảy ra rất khớp, - Phùng ngoại lang nói, - chẳng trách nào con nhỏ nhà tôi nó nghi ngờ.
Hai nhà đều kéo người nhà mình về, chỉ có điều từ đó hai nhà kiềng nhau. Nhà họ Đỗ nói:
- Ông ấy trong nha môn mà không hiểu luật pháp, sao lại đổ oan cho người ta? Có kiện cũng chẳng nổi đâu.
Nhà họ Phùng thì nói:
- Đồ vô liêm sỉ, dung túng cho kẻ ăn trộm, lại còn giả ân, giả nghĩa.
Hai bên cứ cãi nhau mãi. A Tài nhà họ Đỗ cũng tức quá cũng chạy ra cửa, dần dần thành cãi nhau to. Mọi người đều nghĩ bụng nhà họ Phùng có lý. Ngay cả hai người đàn ông, một người thì đòi bắt trộm, một người thì đòi minh oan, lúc đầu còn đối xử tốt với nhau, nhưng đến đêm nghe hai người đàn bà nói, họ đâm ra ghét nhau. Phùng ngoại lang nói với các nhà xung quanh là việc xảy ra rất khớp nhau. Trương Tâm hằng ngày tới nha môn theo dõi động tĩnh, xem cái hòm giấy tờ, gặp bạn bè hắn thường nói: "Cứ nhìn vào bàn tay tớ cũng biết là số tớ không có bạc".
Hai ngoại lang đều đến Kinh lịch ty, ai cũng tự cho mình là phải. Kinh lịch ty không phân xử được, nói với Phùng ngoại lang rằng: “Việc này vốn có dấu vết". Rồi lại nói với Đỗ ngoại lang rằng: "Trộm cắp không thể đổ oan được". Sau đó đành phải nói: "Đây là việc lớn phải trình lên cấp trên chứ không dám làm hại ai”. Thế rồi ông trình tờ đơn mất trộm và lời khai của hai người lên quan phủ. Sáng sớm hôm sau tri phủ lên công đường, hai bên đều trình đơn kiện, một bên tố cáo là "oa trữ của ăn cắp", một bên tố cáo là "vu oan". Trước hết tri phủ hỏi Phùng ngoại lang, Phùng ngoại lang nói:
- Thưa ngài con là chức lại ở phủ này. Hôm kia cả nhà con đi mừng thọ, kẻ trộm đã lẻn vào nhà lấy đi chiếc mũ đính vàng và một số bạc, còn để lại trong hòm một mảnh giẻ có vết máu. Đứa ở nhà con là Cầm Đồng thấy người vú nuôi nhà họ Đỗ thường hay ra vào nhà con, ngón tay của vú nuôi có vết thương, mới hỏi việc này, rồi hai bên cãi nhau.
Ngài quan phủ lại hỏi Đỗ ngoại lang, Đỗ ngoại lang nói:
- Con cũng là nha lại ở phủ này, nhà con có người vú nuôi là Kim thị, hằng ngày sống rất yên phận. Hôm kia, quả thực chị ấy ở nhà không sang nhà ông Phùng, song ông Phùng đã vu cho chị lấy cắp con không cam tâm chịu oan nên con làm đơn kiện lên ngài.
Tri phủ nói:
- Trong phủ của ta mà lại kiện mất cắp, ta nghĩ cửa thì đóng chặt, người ngoài không thể đột nhập vào được, kẻ nào dám vào đây ăn trộm? Nhất định là người trong nha môn. ông gọi mang mảnh vải lại cho ông xem, thì đúng là mảnh vải cuộn tròn lại để buộc ngón tay. Xem xong tri phủ gọi lính lệ bảo:
- Hãy xem ngón tay của con vú nuôi có bị đứt không?
Lính lệ xem xong thưa với quan huyện:
- Thưa ngài có bị thương, hình như cắt phải tay, sắp khỏi rồi.
Sau đó ông bảo lính lệ mang chiếc vải ấy xỏ vào ngón tay bị đứt của Kim thị. Lính lệ lôi tay Kim thị xỏ vào thì quả nhiên vừa khít nói:
- Bẩm quan, xỏ vào vừa khít.
Tri phủ cười nói:
- Đúng là hàng ngày đi lại, thông thuộc ngõ ngách, hôm kia nhân lúc cả nhà họ Phùng đi vắng nên sang lấy cắp tài sản, do vội vã đã đánh rơi mảnh vải này trong hòm. Không cần phải nói gì nữa, trên đời này làm gì lại có chuyện ngẫu nhiên như thế? Hãy kẹp nó cho ta!
Kẹp đến nỗi Kim thị kêu như bò chọc tiết. Kim thị nói:
- Thưa ngài quả thực con không lấy.
- Người là đàn bà, một mình cũng không dám cả gan, vậy thì trong nhà còn có ai nữa không?
Trong nhà ông còn có A Tài. - Phùng ngoại lang nói.
- Bắt nó tới đây. - Quan phủ nói. - Buộc nó phải khai ra đồng bọn.
- Thưa ngài, - A Tài nói, - Kim thị ở nhà, hoàn toàn không đi đâu cả? Bảo bà ấy lấy trộm thì oan cho bà ấy quá, và cũng chẳng có liên quan gì đến con.
- Mày nói mụ trong sạch, - quan phủ nói, - và nói mày cũng trong sạch, rõ ràng là mày đồng mưu.
Nói xong quan phủ cho kẹp A Tài. A Tài không khai lại tiếp tục kẹp, đến nỗi gãy cả chân ngất đi. Người vú nuôi cũng bị kẹp, chịu không nổi, đành phải khai là đã lấy cắp. Quan phủ ghép cho A Tài là đồng bọn, A Tài cũng phải nhận. Chỉ có tang vật thì người này đổ cho người kia, cứ rối mù cả lên.
Tri phủ hỏi nhà hai người ở đâu, thì biết một người ở Long Tuyền, một người ở Tuyên Bình, đều là huyện ngoài. Tri phủ nói:
- Không cần phải nói thêm nữa, tang vật vẫn còn tại nhà họ Đỗ.
Đòi kẹp Đỗ ngoại lang, Đỗ ngoại lang nói:
- Thưa ngài, hai người này bị đánh nên khai bừa chứ thực ra không có tang vật nào cả.
- Không có ngươi chứa chấp, - quan phủ nói, - thì làm sao nó dám lấy trộm ngay trong phủ? Nhất định phải lấy tang vật ở nhà ngươi để trả lại cho chủ.
Quan phủ ra lệnh cho kẹp Đỗ ngoại lang, Đỗ than rằng:
- Quả là con oan khuất mà không thể minh oan, con phải chịu hình phạt, thật oan cho con quá.
Đỗ ngoại lang phải nhận bồi thường. Tri phủ lệnh đánh hai mươi gậy, và nghĩ rằng đây là kẻ oa trữ miễn thích chữ lên mặt và đi đày, tất nhiên là phải cách chức. A Tài lấy cắp phải thích lên mặt và bị đi đày, Kim thị được chuộc tội. Lệnh giam A Tài vào ngục, Đỗ ngoại lang, Kim thị được bảo lãnh.
Quan viên trong phủ đều cho việc này là thật, Đỗ ngoại lang sợ rằng lại tự lấy lửa đốt mình. Có người trách Đỗ rằng: "Trong phủ thường mất trộm, Đỗ ngoại lang ngồi đấy mà chia của, phen này phải nhả ra".
Cũng có người thương Đỗ ngoại lang nói:
- Ông ấy thật thà chất phác, có thể là hai người kia lấy cắp rồi chia nhau gửi về nhà, người không xơ múi lại phải đền.
Kẻ độc ác lại nói:
- Cùng ở trong một nhà mà lại bảo rằng không biết ư? Lôi được tang vật ra mới rõ mặt chuột.
Thương thay Đỗ ngoại lang vốn là người thanh bạch, chịu tiếng oan, ra vào trong phủ, quan viên đều nói châm chọc là đầu trộm đuôi cướp, chờ Khuyết điểm lại kết luận về sự việc liên quan của ông, sẽ cách chức. Các nhà trong phủ bảo ông là kẻ oa trữ, đòi ông phải rời khỏi phủ. Uất ức quá ông đã viết một tờ sớ, khai rõ ngày sinh tháng đẻ của Kim thị, bộc bạch tấm lòng của mình trước đền thờ thần thổ địa ở ngay trong phủ. Song lại có kẻ ác bạc ghi vào ngay sau tờ sớ ấy là: "Oa trữ là trộm, ngài quan phủ đã xét xử đúng, còn oan gì nữa mà kêu, đừng có lắm lời".
Việc đã xảy ra thêm ngờ vực,
Thực hư nào ai biết chi đâu.
Chỉ riêng mình biết, mình ngay thẳng,

Thế nào trời cũng sẽ thương cho.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 EmptyThu May 01, 2014 3:20 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 18 (B)
Đỗ ngoại lang lại dán một tờ thông báo viết rằng: "Nhà ông Phùng mất của, ai bắt được xin tạ ơn mười lạng bạc". Ai cũng bảo là ông "nói bậy". Lại còn làm cho người vú nuôi nhà mình mắc tiếng oan là kẻ ăn cắp. Đỗ ngoại lang muốn chết quách đi cho rồi. May mà Vương thị nói:
- Ông xem nhà mình vô tội lại mang tiếng xấu là kẻ oa trữ, lại còn phải bồi thường tang vật. Nếu như ông chết, người ta lại cho là sợ tội mà chết. Đây là mệnh trời, đừng chết oan uổng như thế. Lẽ trời luôn sáng tỏ, việc lâu rồi sẽ rõ ra thôi.
Thế rồi họ luôn luôn cầu trời khấn Phật phải làm sáng tỏ oan khuất cho cuộc đời của mình.
Án đã xét xong, đệ trình lên cấp trên.
Rất may là Trương Tam, nay đánh bạc mai chơi gái, hằng ngày thường tới xem chiếc hòm văn thư. Hắn chỉ nghĩ tới mình, mặc cho Đỗ ngoại lang vì hắn mà chịu oan, vì hắn mà chịu tội. Số bạc hắn lấy được tiêu ào đi, trong mấy ngày đã hết nhẵn. Bây giờ thì hắn nghĩ tới cái mũ đính vàng. Chỉ có điều mấy lần hắn tới phòng lại thấy có người ngồi ở đó ghi chép, hắn khó mà lấy ra được. Mình thì không ghi chép gì mà cứ ngồi đuỗn mặt ra, không tiện đành phải bỏ về. Hôm ấy chờ cho mọi người đi vắng, hắn vội vàng mở hòm giấy tờ, lấy ngay chiếc mũ đính vàng nhét vào tay áo. Đang tìm giấy gói thì đúng lúc ấy Chu Nhất Quan là người của phòng ấy mất một chiếc quạt, bước vào ngó nghiêng tìm quanh quẩn. Chiếc quạt rơi dưới gầm bàn, khi cúi xuống nhặt thấy có vật gì lồng cồng trong tay áo Trương Tam. Hai người này thường đùa cợt nhau, Chu Nhất Quan nói:
- Trương Tam, hôm nay vớ được món gì bở thế, phải đãi tớ đi.
Thế rồi Chu đưa tay nắn nắn, Trương Tam vội rụt tay lại nói:
- Không được đụng vào đấy.
- Gói gì vậy?
- Không phải, đây là vì người nhà cần một ít bạc, sai tôi mang chiếc mũ đính vàng đi đổi. Nếu được tiền chè thuốc mình sẽ đãi cậu.
- Cô tớ - Chu Nhất nói, - sắp gả chồng cho con gái, nói với tớ là cần đánh một chiếc trâm vàng để làm đồ trang sức, thôi thì đổi luôn chiếc mũ đính vàng này cho tiện. Đổi độ bao nhiêu tớ xem xem thế nào, nếu dùng được tớ đổi giúp cho.
Chu Nhất Quan định lôi ra xem. Trương Tam nói:
- Hàng cũ ấy mà, - Trương Tam nói, - sợ rằng không vừa ý thôi đừng xem nữa.
- Cô tôi vốn chẳng biết gì đến lễ vật, vả lại cũng sắp cưới rồi. Cậu cứ cho tớ xem sao. Chẳng lẽ cậu phải để tớ giật lấy mà xem ư?
Trương Tam đành phải cho xem, Chu Tam nói:
- Đây chỉ là hàng thủ công thôi, không phải là hàng xịn tại sao vành lại bẹp thế này, mà khung mũ cũng bị cong, lại thủng mất một chỗ. - Tốt nhất là cậu đi đánh cái trâm khác.
Chu Nhất Quan mồm thì bảo "được, được" nhưng cứ xem chiếc mũ ấy. Bên trong chiếc mũ có thấy ký tên hình như là chữ Phùng ngoại lang, rồi nói với Trương Tam:
- Hình như cậu không muốn nhờ tớ, thế thì tớ bảo cô tớ sẽ trực tiếp mang bạc tới chỉ cần để cho cô ấy rẻ chút ít.
- Tất nhiên rồi.
Nói xong Trương Tam đi thẳng.
Chu Nhất Quan là một người láu lỉnh, anh nghĩ: "Trương Tam là tay cờ bạc, vào tay nó là nó nướng ngay vào sòng bạc, ngay như vợ nó cũng có dám đưa cho nó đâu, người thân này mù hay sao mà đưa cho nó? Đã vào tay nó thì mất toi". Sau đó anh lại nghĩ: "Đã bảo nó đi đổi sao nó lại không biết là bao nhiêu, tại sao vành mũ lại bẹp? Việc này thật đáng ngờ". Đang lúc nghĩ ngợi thì thấy Phùng ngoại lang đi tới. Chu Nhất Quan sực nghĩ ra nói:
- Ông Phùng này, ông mới mất chiếc mũ đính vàng, nửa mạc bị thủng mất một lỗ có phải không?
- Thủng mất một lỗ thì tôi không biết, - Phùng ngoại lang nói, - do nhà kết lấy, đội được ba bốn năm rồi.
- Bên trong có ký chữ gì không?
- Năm kia tôi có đội, treo trong phủ sợ bị người ta đội nhầm, tôi có viết chữ bên trong.
- Chỉ vì có chữ ký này mà tôi nghi, - Chu Nhất Quan nói, - người này đang cần đổi, nếu ông có bạc thì mang khoảng mười lạng tôi sẽ đưa về cho ông xem kỹ.
- Ai thế?
- Nếu như nói người này ra, - Chu Nhất Quan nói, - mà không phải thì tôi nghi oan cho người ta, người ấy biết được lại trách tôi.
- Anh đừng lừa tôi.
- Tôi và ông cùng một phòng, gắn bó với nhau như chân với tay, lẽ nào tôi lại lừa dối ông mấy lạng bạc? Chỉ có điều tìm được của mình rồi, thì phải cho tôi một bữa rượu ra trò đấy.
Quả nhiên Phùng ngoại lang đưa cho Chu Nhất Quan một gói bốn nén. Chu Nhất Quan đi tìm Trương Tam. Không ngờ Trương Tam đợi không thấy, đã mang đổi béng cho một cửa hàng ngoài phố lấy năm lạng bạc, đi một lúc đã nướng hết nhẵn. Chu Nhất Quan tới nhà Trương Tam, vợ Trương Tam nói:
- Anh ấy vào phủ từ sáng sớm đã về đâu.
Chu Nhất Quan quay về, mới đi được một đoạn thì gặp Trương Tam mặt buồn rười rượi đi tới. Chu Nhất Quan nói:
- Vừa rồi tôi đã nói với cô tôi, cô tôi bảo mang mười lạng tới rồi đưa mũ về cho cô xem, anh thấy có đổi được không?
- Muộn mất rồi, -- Trương Tam nói, - vì anh ấy cần tiền gấp nên tôi đã cầm năm lạng rồi, hóa đơn vẫn còn đây.
- Đã cầm rồi ư? Tôi cùng anh đến hiệu cầm đồ chuộc lại, để sau này khỏi phải trả lãi.
- Chuộc được, - Trương Tam nói, - nhưng phải trả cao hơn.
Đến hiệu cầm đồ, Trương Tam nói:
- Chiếc mũ này không phải chỉ mười lạng đâu nhé.
- Anh chỉ cầm với giá năm lạng thôi mà. - Chu Nhất Quan nói.
Trương Tam trả hóa đơn, rồi lấy mũ đưa cho Chu Nhất Quan. Chu nói:
- Việc này ngày mai sẽ ngã ngũ, cậu ở nhà chờ tớ nhé.
Hai người chia tay nhau. Chu Nhất Quan về tới phủ tìm ngay Phùng ngoại lang. Ông đang nóng lòng chờ tin tức, thấy Chu Nhất Quan, nói:
- Đã mang mũ về đấy à?
- Chín phần mười là của ông rồi, dấu vết rất đúng.
Chu Nhất Quan đưa cho Phùng ngoại lang. Xem qua Phùng ngoại lang chưa tin là thật, xem đến chữ ký thì Phùng ngoại lang kêu lên:
- Đúng rồi, đúng rồi.
- Việc này xin ông đừng nóng vội, - Chu Nhất Quan nói, - hãy mang vào nhà xem kỹ đi đã.
Phùng ngoại lang mang vào trong nhà, Giang thị nhận ra đúng là chiếc mũ nhà mình, nói:
- Đúng là mũ nhà tôi rồi, đằng trước mũ con nhỏ không biết chọc thủng mất một chỗ.
Phùng ngoại lang thấy đúng là mũ của nhà mình, bèn giữ Chu Nhất Quan ở lại uống rượu, hỏi:
- Là ai đấy, có phải là lão Đỗ không?
- Không phải, - Chu Nhất Quan nói, - hắn là thằng con bạc Trương Tam ở phòng ta.
- Nhất định lão Đỗ không tẩu tán trót lọt, - Phùng ngoại lang nói, - nên phải nhờ Trương Tam.
- Lão Đỗ với Trương Tam có thân nhau đâu. - Chu Nhất Quan nói.
- Thôi mặc nó, - Phùng ngoại lang nói, - ngày mai cứ bắt Trương Tam rồi sẽ rõ.
Chu Nhất Quan ra về.
Khi ấy vụ án Đỗ ngoại lang đã xét xử xong, chỉ chờ giải đi. Không có tang vật nên Đỗ ngoại lang phải bán ruộng, vì bán vội nên chỉ được có tám chục lạng, mất đến ba phần mười.
Đỗ ngoại lang cứ ngồi thở vắn than dài:
- Đúng là số mình phải như thế, người ta thì của đi thay người, còn mình thì không những phải đền mà lại mang tiếng xấu không những thế lại mất hết cả đường thăng tiến.
Hôm nay ở nhà chuẩn bị tiền nong, ngày kia giải lên đạo, ít ra cũng phải bị đánh mười lăm gậy, càng nghĩ Đỗ ngoại lang càng thêm oán hận, nói:
- Sao lại có loại quan ngu đến thế.
Sáng sớm hôm sau Phùng ngoại lang bẩm với ngài quan phủ rằng:
- Đội ơn ngài. Hôm kia ngài đã phán xử Đỗ ngoại lang phải đền tám mươi lạng, chờ giải lên đạo. Hôm qua thấy Trương Tam người thuộc phòng con có mang một chiếc mũ đi cầm, nhờ Chu Nhất Quan người cùng phòng đi đổi bạc, con thấy cái mũ ấy đúng là của con. Cúi xin ngài truy cứu.
- Đây là kẻ đồng bọn của Đỗ ngoại lang rồi. - Quan tri phủ nói.
Cho gọi Trương Tam, song không thấy Trương Tam ở phòng, tri phủ bèn sai người đi bắt.
Tới nhà thì thấy Trương Tam đang chờ Chu Nhất Quan, nghe thấy có tiếng gọi bèn nói:
- Anh Chu đấy à?
Trương Tam bước ra, thì thấy lính lệ nói:
- Ngài tri phủ cho gọi anh.
Trương Tam nghĩ rằng chẳng có việc gì, bèn quay lại dặn vợ:
- Nếu Chu Nhất Quan tới thì bảo ở lại chờ tôi nhé.
- Anh ấy đang chờ anh ở phủ. - Lính lệ nói.
Trương Tam tới phủ, thì quan tri phủ còn đang ở công đường. Lính lệ nói:
- Thưa ngài, Trương Tam đã tới.
- Ngươi là thư ký của phủ ư? - Quan phủ nói. - Chiếc mũ hôm qua ngươi lấy ở đâu?
- Thưa ngài người thân của con nhờ con đi đổi bạc ạ. - Trương Tam nói.
- Thế người nhà ngươi tên gì? - Quan phủ hỏi.
Trương Tam không trả lời được. Tri phủ hỏi: - Có phải Đỗ ngoại lang nhờ ngươi đổi không?
Trương Tam nói mập mờ rằng:
- Vâng. Đỗ ngoại lang đang ở nhà chuẩn bị tiền bồi thường, nghe nói chiếc mũ đính vàng của Phùng ngoại lang do Trương Tam người cùng phòng lấy cắp bèn chạy ra xem, nghe thấy Trương Tam nói hồ đồ là do mình nhờ đi đổi, bèn quỳ xuống nói: - Trương Tam, lẽ trời lòng người. Mày ăn trộm khiến cho người vú nuôi bị kẹp, đứa ở bị gãy chân, làm hại cuộc đời ta, bắt ta phải bồi thường. Đến nay sự việc đã rõ rồi, mày còn muốn hại ta ư? Thế tao đưa cho mày bao giờ? Ở đâu? Mày đừng đặt điều.
Trương Tam muốn cãi nhưng cãi không được, chỉ biết cúi đầu. Tri phủ cho kẹp hắn lại, vừa mới tra kẹp vào chân Trương Tam đã khai. Vốn là khi hắn đang đứng ở cửa phủ thì thấy vợ chồng Phùng ngoại lang đi khỏi nhà, nhân lúc vắng người hắn tới bẻ khóa vào nhà mở hòm lấy một chiếc mũ đính vàng, một đôi kim thoa, sáu chiếc trâm cài đầu, bốn chiếc chén bạc và mười sáu lạng bạc. Tất cả là do hắn, không có liên quan gì tới người vú nuôi và A Tài. Hỏi tang vật đâu, thì hắn nói số bạc hắn đã cùng với Chu Nhất đánh bạc và chơi gái, mũ đính vàng thì hắn nhờ Chu Nhất Quan đi cầm, cốc bạc và kim thoa vẫn còn cất dưới đáy hòm văn thư. Quan phủ lập tức cho mở hòm. Phùng ngoại lang đều nhận đúng của nhà mình. Tri phủ hỏi về mảnh vải rơi trong hòm, thì Trương Tam nói là vì bẻ khóa ngón tay bị toạc nên lấy giẻ buộc, rồi rơi vào hòm. Tri phủ gật đầu nói:
- Quả là có việc ngẫu nhiên như thế. Nếu việc của Trương Tam không lộ ra, chẳng phải vú nuôi, đứa ở bị oan, mà Đỗ ngoại lang cũng phải đền oan biết bao tiền của?
Ông lệnh đánh Trương Tam hai mươi lăm gậy, lập bản án và kết luận Trương Tam là tên ăn trộm. Sau đó ngài gọi Đỗ ngoại lang nói:
- Ta đã xử lầm, khiến ông chịu oan, may mà chưa giải lên đạo văn bản cách chức vẫn chưa gửi lên bố chính ti, ông vẫn giữ nguyên chức cũ.
Sau đó ông hạ lệnh đánh Phùng ngoại lang và đứa ở là Cầm Đồng mỗi người mươi lăm gậy. Ông cũng tự bỏ ra hai lạng cho A Tài, trả số bạc cho Phùng ngoại lang và tha ngay.
Quan phủ cho gọi tất cả quan viên thuộc sáu phòng trong phủ lại nói:
- Hai nhà này vốn không có hiềm khích gì, chỉ vì một bên mất trộm, muốn tìm ngay tang vật, song lại có những hiện tượng ngẫu nhiên trùng hợp, nên đã dẫn đến việc kiện tụng, và đã gây khốn khó cho Đỗ ngoại lang. Nay ta đã minh oan, các ngươi phải coi Đỗ ngoại lang vẫn là người tốt. Còn Phùng ngoại lang phải xin lỗi ông, mọi người là đồng bào, vậy phải sống thân thiện với nhau như trước. Rồi ông nói với Phùng ngoại lang:
- Hôm nay ta căn cứ vào đơn kiện của ông để xét xử, nếu đưa lên cấp trên ông sẽ bị kết tội vu cáo. Ông cũng phải biết rằng đây là một việc nghiêm trọng.
Phùng ngoại lang khấu đầu nói:
- Xin theo lời dạy bảo của ngài.
Mây đen che khuất mặt trời,
Án oan đã khiến cho người khổ đau.
Người ngay chẳng trước thì sau, Trời xanh sáng tỏ sạch làu nỗi oan. 
Chu Nhất Quan không có ý vì Đỗ ngoại lang, song lại như minh oan cho ông. Chỉ có điều anh bị Trương Tam oán hận là đã kéo anh ta đi đánh bạc, anh ta được năm lạng bạc, và cũng đã nói khó với Chu Nhất Quan rồi. Qua sự việc này những người trong nha môn mới hay trong thiên hạ có chuyện oan uổng như thế. Vú nuôi vốn là người tốt, ngay cả A Tài cũng vô tội. Đỗ ngoại lang là người trung thực, phải bồi thường oan. Nhà ông luôn cầu trời khấn Phật quả nhiên được báo ứng.
Sự việc đã rõ ràng, vú nuôi bèn tức tốc sang chửi vợ Phùng ngoại lang là đã đổ oan cho mình lấy cắp, khiến phải bị đánh đập. A Tài cũng lê chân sang, đòi Phùng ngoại lang phải bồi thường cái chân bị kẹp gãy. Chồng người vú nuôi và bố mẹ A Tài trước đó sợ liên lụy không dám ra mặt, bây giờ họ đến bênh cho vợ cho con, vào tận nhà mà chửi. Phùng ngoại lang trốn không dám ra, phải nhờ người ra xin tha thứ. Đỗ ngoại lang đại lượng nói:
- Lý ra Phùng ngoại lang không biết mà vu cho người ta ăn trộm, người nhà tôi bị cùm kẹp, tôi mang tiếng xấu bị cách chức lại phải mất mấy lạng bạc thì phải kiện lên cấp trên về tội vu cáo cho hả dạ. Hơn nữa năm nay cũng là năm hạn của tôi chỉ mong các vị hiểu cho tôi không phải là kẻ oa trữ của ăn cắp, và trước đây tôi đệ đơn lên quan phủ là đúng sự thực.
Mọi người nói rằng: - Hôm ấy chúng tôi cũng nói ông vốn là người chân thực, ngay thẳng, song ngài tri phủ không cho là thật, chúng tôi cũng không sao cứu nổi. Nay thì lòng người đã rõ, Phùng ngoại lang vốn là bạn tốt của ông, thôi thì ông cũng chín bỏ làm mười.
Phùng ngoại lang sang tận nhà xin lỗi, sau đó làm mâm rượu mời bạn bè và hàng xóm cùng sang tiếp Đỗ ngoại lang. Phùng ngoại lang nói:
- Quả là tôi sai, nghe theo đứa ở, mẹ và vợ, nghi ngờ cho vú nuôi, tôi quả là có tội với ông, xin ông tha thứ.
- Ông ạ! - Đỗ ngoại lang nói. - Tôi cũng đã nói rồi. Vừa rồi ông cũng biết thế là sai. Chúng ta phải dựa vào đôi mắt và tấm lòng mình để xem xét đánh giá con người, làm sao mà không biết tôi không phải là người chứa chấp của ăn cắp, làm sao mà không biết tôi là người không làm điều xấu? Đàn bà con gái có mấy người hiểu hết sự đời đâu, những người tầm thường phần lớn đều làm hỏng việc, đại trượng phu không ngại nói thẳng, hà tất phải đổ cho người khác.
Phùng ngoại lang cứ gật đầu cho là đúng. Mọi người thấy Đỗ ngoại lang nói có lý, vui vẻ uống rượu rồi ra về. Phùng ngoại lang lại chăm sóc A Tài và mong vú nuôi tha thứ. Vụ án kết thúc.

Về sau Trương Tam bị giải lên đạo, rồi phát vãng tới dịch trạm Bồng Lai. Đỗ ngoại lang vì là người chính trực song bị vu cáo tho nên ngài quan phủ hết sức tin cậy, mọi việc đều giao cho ông, gia đình ngày một khá giả. Chỉ có điều về việc này, Đỗ ngoại lang bị oan uổng, cuối cùng trời đã thanh minh cho ông. Vú nuôi quen thói lân la sang nhà người khác đến nỗi bị nghi ngờ. Song trong thiên hạ việc gì cũng có thể xảy ra. Phùng ngoại lang cứ khăng khăng cho việc ngẫu nhiên là sự thực cơ hồ dẫn đến người khác phải khuynh gia bại sản, thậm chí bị giết người. Nếu như lật ngược lại thì chính mình cũng sẽ bất lợi. Làm quan phải sáng suốt, phải khoan dung, một ý nghĩ chợt đến mà cứ như đinh đóng cột cho là phải và dẫn đến dùng hình phạt. Thử hỏi: người đã chết thì sống lại làm sao? Chân tay đã gãy rồi thì sao nối lại được? Cho nên những quan lại thanh liêm sáng suốt không hiển đạt, con cháu không đông đúc, cũng là do nghiêm khắc mà ra. Bởi thế mười phần tin cũng cần phải có ba phần nghi ngờ. Làm quan mười phần sáng suốt cũng phải có một phần khoan dung tha thứ. Đây là bài học khi câu chuyện này kết thúc.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 EmptyFri May 02, 2014 11:11 am

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 19
Chu Thành Hoàng Xử Án Giải Oan
Gió mát phất phơ bay tà áo,
Một đời hành pháp chẳng hề sai.
Thềm son lạnh toát đầy uy vũ, Ánh sáng ngàn thu rực sáng soi.
Xưa nay những vụ án oan quả là khó xử. Người đời thường nói: "Bao Công đời Tống từng xử bảy mươi hai vụ án không có đầu mối". Triều chúng ta cũng có một người giống Bao Công. Trước khi vào câu chuyện chính, tôi xin kể một chuyện, gần như oan uổng mong những người làm quan trên đời chớ có coi thường. Mạng người có liên quan đến trời, đây là điều hết sức quan trọng đừng xem nhẹ, xin hết sức thận trọng. Đúng là người chết không thể sống lại, nếu làm họ chết oan thì dưới chín suối họ không nhắm mắt, hẳn họ sẽ báo ứng.
Chuyện kể rằng năm Bính Tuất thời Vạn Lịch, ở kinh thành có một người đàn bà họ Lâu, trước đây thường thông dâm với La Trường Quan. Những người xung quanh đều biết cả. Về sau có việc phải đi xa, Trường Quan không lui tới nữa. Chồng người đàn bà ấy đi làm ăn hàng năm không về. Là một người hết sức dâm đãng, thấy chồng đi biền biệt, ngọn lửa tình dục cứ bùng lên. La Trường Quan lại lâu ngày không đến, không sao chịu nổi, bởi thế đêm nào chị ta cũng rên rỉ kêu lên: "Sướng, sướng quá anh Trường Quan ơi!”. Tiếng gọi La Trường Quan không đêm nào dứt, hàng xóm đều nghe thấy. Họ nghĩ rằng Trường Quan lại đến với người tình cũ. Có một người là Giang Hổ Côn từ lâu đã mê Lưu thị, lại thấy thị thông dâm với La Trường Quan, nhiều lần đến gạ gẫm, song người đàn bà này nhất định không chịu. Giang Hổ Côn rất tức, nghĩ "Mày đã thông dâm với La Trường Quan, tại sao mày lại không chịu thông dâm với tao, chả lẽ tao không bằng thằng Trường Quan ư?”. Anh ta vô cùng tức giận, ngấm ngầm định hại hai gian phu dâm phụ này cho hả giận.
Một hôm, chồng Lưu thị đi xa trở về, có tiền nên họ mua sắm thức ăn, ăn uống với nhau. Cơm xong họ lên giường nằm. Sau một hồi mây mưa, họ lăn ra ngủ mê mệt. Giang Hổ Côn ghé sát tai vào vách nghe, không thấy tiếng mụ gọi La Trường quan, mà anh ta cũng không biết chồng Lưu thị về. Hắn nghĩ thầm: "Con đĩ lẳng lơ này đêm nào cũng gọi La Trường Quan, sao đêm nay lại không, chắc La Trường Quan không ở đây, nhất định thị ngủ một mình. Ta phải vào mới được, nếu lần này nó không cho, thì giết luôn con đĩ này, rồi giết La Trường Quan sau cũng không muộn". Nghĩ một lát, hắn về nhà lấy một con dao nhỏ, rồi lẻn vào nhà Lưu thị. Nghe thấy hai người gáy gỗ, Giang Hổ Côn cho đấy là Trường Quan. Hắn nổi giận, rút dao giết chết cả hai người rồi bỏ đi.
Hôm sau, Tuần thành Ngự sử bắt hai người láng giềng kế bên xét hỏi nguyên do vợ chồng Lưu thị bị giết, những người láng giềng đều nói:
- Thưa ngài, trước kia người đàn bà này thông dâm với La Trường Quan, gần đây đêm nào người đàn bà ấy cũng gọi tên của La Trường Quan. Song chỉ thấy chị ta la như thế mà không thấy tông tích La Trường Quan. Đêm nay cả hai vợ chồng đều chết có thể do La Trường Quan ghen mà giết đi cũng chưa biết chừng.
Ngự sử bèn bắt ngay La Trường Quan tới xét hỏi, cũng không cho phép phân trần, bèn khép ngay vào tội chết. La Trường Quan van nài nói:
- Thưa ngài, trước đây quả thật con có gian dâm, nhưng lâu nay có việc đã hơn bảy năm nay con không hề qua lại, tại sao ngài lại khép con vào tội chết?
Ngự Sử nói:
- Láng giềng đều nói, đêm đêm Lưu thị đều gọi tên La Trường Quan, không phải ngươi thì ai vào đây nữa?
La Trường Quan không sao thanh minh được, quan ghép vào tội vì ghen mà giết người, chờ tới mùa thu sẽ hành quyết. Trước khi hành quyết, Lưu Trường Quan gào lên kêu oan, phủ quan tạm miễn hành hình.
Hôm ấy Giang Hổ Côn thấy sắp xử trảm Lưu Trường Quan, trong lòng cứ bồn chồn không yên. Hắn tới pháp trường xem hành quyết Lưu Trường Quan, ngấm ngầm than thở. Chẳng biết thần xui quỷ khiến thế nào, mà hắn về nói ngay với vợ:
- Trên đời có nhiều người oan uổng, ta giết người mà Lưu Trường Quan phải đền mạng, đáng lẽ ra bắt ta chết mới đúng.
- Vì sao vậy. - Vợ hắn hỏi. - Đã giết vợ chồng người ấy à?
Giang Hổ Côn kể hết lại đầu đuôi với vợ. Không ngờ vợ hắn lại thông dâm với một người. Hôm ấy hắn đến hành dâm với thị. Đang lúc khoái thì Giang Hổ Côn về, gian phu vội vã nấp vào chỗ tối, nghe thấy hết chuyện Giang Hổ Côn kể lại. Tên gian phu này đang nghĩ cách trừ khử Giang Hổ Côn, để độc chiếm vợ anh ta, thì nay chuyện ấy lại lọt vào tai hắn. Thế là hắn bàn với vợ Giang, nhân cơ hội này kết liễu đời Giang để sống với nhau lâu dài. Hắn bảo vợ Giang tố cáo việc này lên quan. Có nhân chứng sống, Giang Hổ Côn làm sao chối được bèn khai ra hết, rồi bị chém ngay. Thế là Lưu Trường Quan thoát chết. Quả là:
Gian dâm, gian dâm diệt,
Ác nhân, ác nhân giết.
Tôi kể chuyện này để thấy rằng xử án khó biết chừng nào, và vì thế mà từ xưa tới nay biết bao người chết oan!
 
Các bạn thân mến, bạn có biết ngài Thành Hoàng Chiết Giang tên gì không? Nghe nói vị thần này vốn người Nam Hải, Quảng Đông, họ là Chu Đan, húy có mỗi chữ "Tâu”, đầu tiên được châu tiến cử làm ngự sử, dám thẳng thắn hạch tội, hoàng thân quốc thích vô cùng sợ hãi, không khác gì Bao Công thời Tống. Ông Bao Chửng này không cười, người ta đã nói rằng nếu ông cười thì nước sông Hoàng Hà sẽ trong. Người ta còn nói: "Của hối lộ chưa tới tay đã thấy Diêm La Bao Công" cho nên người ta còn gọi ông là "Diêm La Bao Lão". Vị thần sống này của triều ta, được người đời ca ngợi là "Chu Công mặt lạnh như sắt", ngài Vĩnh Lạc cũng biết tiếng tăm của ông, giao cho ông làm án sát Phúc Kiến, Vĩnh Thuận, Bảo Tĩnh. Phàm những nơi dâng sớ mời, ông đều tới cả. Về sau ông được cất nhắc làm án sát sứ Vân Nam, rồi sau đó chuyển làm án sát sứ Chiết Giang.
 
Khoan nói tới việc làm quan của vị thánh sống này, mà hãy nói tới một người bị tù oan uổng ở phủ Kim Hoa, Chiết Giang, người này tên Vương Khả Cửu, nhà giàu có. Vương Khả Cửu thu mua một số hàng đến Chương Châu, Phúc Kiến, bán, một người bạn cùng đi với anh lại vượt biển. Thời ấy biển cấm rất nghiêm ngặt, người bạn ấy tham lãi cứ mong buôn một lãi mười. Ra tới biển thì bị lính tuần tra bắt được rồi đưa vào nhà tù. Cai ngục cho rằng họ giả vờ để gây tai họa, bởi thế Vương Khả Cửu cũng phải vào tù, chịu biết bao khổ sở, đằng đẵng tám năm trời mới được về. Vợ Vương Khả Cửu là người còn trẻ và có nhan sắc, thấy chồng biền biệt bảy năm không về, chị rất lo lắng. Nghe trên phố có một người thầy bói tên Dương Càn Phu, chị bèn tới nhà hắn, nói rõ ngày sinh tháng đẻ của chồng để gã đoán. Dương Càn Phu thấy chồng chị đã bảy năm không về, chị lại là người xinh đẹp, không vướng víu gì về con cái không có chú bác ràng buộc, hơn nữa lại giàu có. Hắn vừa đoán vừa nảy ra ý định tà dâm, giả vờ kinh ngạc nói:
- Ngày sinh tháng đẻ người này thì mệnh rất xấu, số đại bại. Năm kia là năm hạn, phạm vào Tuế Quân, lại không có cát tinh (sao tốt) cứu hộ, chết đã ba năm nay, còn xem làm gì nữa.
Cảnh thị thấy nói chồng chết, hai hàng nước mắt ứa ra. Dương Càn Phu khuyên nhủ:
- Đừng khóc nữa, sợ rằng trong phút chốc sơ tâm, chưa biết chừng xem sai cũng nên. Hãy để ngày sinh tháng đẻ lại đây, để tôi thư thả lưu tâm xem kỹ cho chị, mấy hôm nữa đến thì biết chắc. Cảnh thị bèn tháo chiếc nhẫn vàng trên tay đưa cho Dương Càn Phu nói:
- Xin phiền ông xem kỹ cho chồng tôi. - Nói xong chị ra về. Mấy hôm sau Cảnh thị đến để biết tin chính xác. Dương Càn Phu cứ than thở rằng:
- Tôi cứ ngữ rằng lúc đầu mình xem chưa kỹ còn có chỗ sai sót nào chăng. Suốt mấy ngày trời tôi tính rất kỹ về năm tháng, ngày giờ, xem ra số của anh ấy đã hết, không còn hy vọng nữa. Dần Thân tương xung, Thái Tuế chiếu mệnh, đúng là đã chết vào tháng Bảy kia rồi. Nay thì số người ấy đã vào vận nhập mộc và thành đống xương khô dưới mồ rồi. Song không biết số của chị thế nào, để tôi xem kỹ rồi sẽ biết.
Cảnh thị nói rõ ngày sinh tháng đẻ của mình, Dương Càn Phu tính một lát rồi nói:
- Số chị tốt không phải đối nghịch với chồng. Song tháng Bảy năm kia thuộc vào Táng Môn sao Bạch Hổ động, ấy là cái họa chủ hình thương khắc chồng. Vả lại không có con cái gì thì chị có thể bước đi bước nữa, song lại rất tốt. Năm nay là năm có sao Hồng Loan, Thiên Hỷ. Hẳn là sẽ có chuyện vui mừng.
Cảnh thị nghe nói thế rất xúc động rồi quay về.
Từ đó, ngày nào cũng thế, cứ tới đêm khuya, Dương Càn Phu len lén đến bên tường nhà Cảnh thị, giả tiếng ma kêu quỷ khóc hoặc ném gạch ngói vào nhà cho Cảnh thị sợ. Quả nhiên Cảnh thị hoang mang lo lắng.
Thế rồi Dương Càn Phu sai người mối tin cậy của mình đến ngỏ lời với Cảnh thị. Cảnh thị chỉ nói rằng chồng đã chết thì đành phải thế thôi. Dương Càn Phu là một gã lọc lõi về thủ thuật phòng the, hắn mặc sức cùng với Cảnh thị hành lạc theo lối khác thường, Cảnh thị vô cùng thích thú. Dương Càn Phu làm cho Cảnh thị rất mãn nguyện, bởi thế hắn đã chiếm hết gia sản của gia đình Cảnh thị.
Vương Khả Côn bị mươi năm tù nay mới được tha, trong người không một xu dính túi, phải xin ăn lần hồi về tới quê. Tới nhà, thấy nhà và gia sản đã thuộc về tay người khác. Hỏi ra mới biết Dương Càn Phu đã lấy vợ mình, chỉ đứng ngoài cổng xem tình hình thế nào, đúng lúc Cảnh thị đang đứng đó. Quần áo Vương Khả Cửu rách như tổ đỉa, vá chằng vá đụp, hơn nữa bị giam trong ngục nhiều năm, người trông như ma quỷ ngay cả Cảnh thị cũng không sao nhận ra. Thấy vợ, Vương Khả Cửu khóc lóc kể lể những nổi khổ sở cay đắng mình đã phải trải qua, Dương Càn Phu thấy thế bèn đánh Vương Khả Cửu hết sức dã man, khắp người bị trọng thương. Hắn còn nói Vương Khả Cửu vượt bể, lọt lưới, rồi cáo giác lên phủ. Các bạn thử nghĩ xem, Dương Càn Phu có ghê không? Hắn đã dốc hết hàng mấy trăm lạng mà Vương Khả Cửu lâu nay tích góp được mua chuộc bọn quan lại, từ trên xuống dưới. Vương Khả Cửu không sao biện bạch nổi, cuối cùng bị khép vào tội vượt biển, giam vào ngục và sau đó sẽ bị thanh toán ngầm. May mà trời Phật cũng phù hộ độ trì, một vị thánh sống tới đạo, biết ở đây có nhiều người oan uổng, vội đưa các phạm nhân ra xét xử từng người một. Vương Khả Cửu được đưa ra xét xử, ngài Chu hiểu ngay sự việc, liền cho đánh chết Dương Càn Phu ngay lập tức còn bọn nha lại làm sai pháp luật và bọn môi giới đều bị xử tội. Cảnh thị biết sự thực mà không cứu, bị phạt trượng rồi bán làm nô tỳ. Gia tài ruộng vườn trả lại cho Vương Khả Cửu. Nếu ngài Chu đến muộn mấy hôm nữa thì Vương Khả Cửu đã chết ngay trong ngục. Ngay ngày hôm ấy ngài Chu tống cổ viên quan tri phủ ngu tối ra khỏi phủ đường. Từ đấy trở đi luật pháp nghiêm minh.
Trên đường tới Chiết Giang, ngài bỗng thấy một đàn nhặng xanh tới mấy ngàn con bay vo ve trước ngựa, xua thế nào chúng cũng không đi. Ngài biết ngay ở đây có điều gì oan uổng, bèn sai nha lệ tới chỗ nhặng đậu, đào lên thì thấy một xác người, chết mới mấy hôm, bên người còn có một con dấu dùng để đóng vào vải của thương nhân. Ngài Chu cởi lấy con dấu bằng gỗ ấy mang về nhiệm sở, rồi ngầm sai người ra chợ mua vải, xem người nào có loại vải đóng bằng con dấu này thì bắt ngay về thẩm vấn kỹ từng người một. Quả nhiên tìm thấy tên cướp số vải của người ấy, truy hoàn tang vật, gọi người nhà của lái buôn đến mang về. Lúc ấy họ mới biết người nhà của mình bị cướp giết chết. Sau đó ngài khép tên cướp vải vào tội chết.
Có một người khách buôn từ Huy Châu tới Phu Dương, thấy bên đường có một người bẫy chim buộc hai con chim khách trên ngọn sào cao. Hai con chim thấy người khách Huy Châu đi qua, chúng kêu rất bi ai như có ý cầu cứu. Người khách Huy Châu rất thương xót, đưa cho người bẫy chim hai lạng bạc mua hai con chim ấy rồi thả ra. Khi mở gói bạc người khách không cẩn thận nên người dắt lừa trông thấy ông có rất nhiều bạc nén, còn bạc rời thì nhiều vô kể, hắn ta sinh lòng tham. Chờ đến tối, tới nơi vắng vẻ, hắn đẩy người khách xuống, dùng đá đập chết rồi chôn xuống vệ đường, lấy được gói bạc mà chẳng ai biết được. Ai ngờ hai con chim khách đã đền ơn, chúng bay thẳng tới dinh quan án sát. Đang trên công đường, ngài Chu thấy hai con chim khách bay đến bên bàn kêu thảm thiết như là tố cáo nỗi oan. Lính lệ đuổi đi, nó lại sà xuống kêu hết sức ai oán. Ngài Chu nói:
- Ngươi có nổi oan gì cần tố cáo chăng? Nếu oan ức thì hãy bay tới bàn kêu lên mấy tiếng.
Quả nhiên hai con chim khách bay tới bàn và kêu lên, rồi ngoáy đầu vẫy đuôi loạn xạ. Ngài Chu bảo chúng:
- Nếu quả thật có nỗi oan khuất thì ta sẽ sai hai người lính lệ đi theo các ngươi.
Ngài liền sai hai người lính lệ đi theo hai con chim khách, quả nhiên họ thấy hai con chim rất tinh khôn. Chúng vừa bay vừa kêu như vẫy gọi, sau đó nó bay xuống chỗ người bị giết ở Phúc Dương, rồi đậu trên một mô đất kêu táo tác mãi. Lính lệ đào lên thì thấy một xác chết bị đánh vỡ sọ, bên người còn có một chiếc roi ngựa. Lính lệ mang chiếc roi ấy về báo cho ngài Chu. Đêm ấy ngài Chu mơ thấy một người đầu tóc rối bù, khóc lóc kêu rằng:
- Con là người chết oan, con không phải là Đào (cây Đào) là Lý (mận) cũng không phải là Tọa (ngồi) là Hành (đi), xin ngài soi xét cho.
Người ấy nói xong thì bỏ đi. Sáng hôm sau ông lên công đường nghĩ rằng chiếc roi này đúng là của bọn phu đuổi lừa ngựa đánh roi. Ngài lập tức lệnh cho huyện Phú Dương lập ngay danh sách phu đuổi lừa ngựa trong toàn huyện để ông kiểm tra. Huyện Phú Dương nộp danh sách những người này lên, trong đó một người tên là Lý Lập. Ngài Chu hiểu ngay “không phải Đào là Lý, là ngồi là đi”, thì chẳng phải là "Lý Lập" thì là gì nữa, rồi lập tức cho bắt ngay Lý Lập. Thấy ngài Chu, Lý Lập chưa bị đánh đã khai là hắn đã mưu sát. Ngài cho truy hoàn số bạc ấy, thì hắn đã tiêu mất một nửa. Hắn bị ghép vào tội chết. Cho gia quyến chôn cất người khách Huy Châu. Có bài thơ làm chứng như sau:
Chim khách cảm ơn biết đáp đền,
Bay ngay tới phủ để kêu oan.
Nếu quan không giỏi như thánh sống,
Oan khuất ngàn năm ai rửa cho.
 
Truyện kể rằng, thời ấy ở cửa Cân Sơn, có chùa Thúy Phong, xây dựng thời Ngũ Đại, cách thành rất xa. Trong đó có rất nhiều sư không an phận. Tuy cắt tóc đi tu, nhưng ruộng đất vườn tược rộng mênh mông, nuôi lợn, dê, gà, vịt, chăn tằm kéo tơ, thả cá nấu rượu, hoàn toàn như người dân thường, chỉ có điều là đêm đêm không có đàn bà đẹp làm bạn. Xưa nay người ta thường nói: "No cơm ấm cật, dậm dật cả đêm". Những hòa thượng này lắm thịt nhiều cá, ngày ngày thả sức ăn uống, béo tròn béo trục. Trong vườn lại sẵn măng non, họ lấy về hầm với thịt chó để ăn. Đúng như Lỗ Trí thâm đã nói: "Ba ba bụng to, lại béo ăn rất ngậy. Thịt chó ta cũng ăn, thiện với ác cái quái gì!" Tuy nói thế song nào họ có được lòng ngay dạ thẳng như Lỗ Trí Thâm đâu. Những hòa thượng này do sư tổ truyền lại chẳng tin gì vào sự báo ứng nhân quả, rượu thịt quen rồi và nói đấy là điều vốn có trong cửa Phật. Không nghĩ rằng mình không chịu học hành mà chỉ oán hận cha mẹ đã đưa họ vào chùa, lạnh lẽo vắng vẻ, đêm đêm không được ngủ với đàn bà. Có bài thơ làm chứng:
Đi tu là phải sống thanh bần,
Nếu sống dư thừa hại đến thân, Sao chẳng tụng kinh và niệm Phật,
Rượu chè phè phỡn phải trầm luân.
Trong số đó có hai hòa thượng trẻ là tồi tệ nhất. Chúng đều là quỷ đói hiếu sắc. Một gã là Điệu Cao, một gã là Tuệ Lang.
Hãy tạm chưa nói tới hai gã hòa thượng trẻ xấu xa này mà hãy nói tới một người đàn bà trong làng là Hoắc Tứ Nương trạc hai mươi tám tuổi, có chút nhan sắc, vợ chồng đều sống bằng nghề nông. Một hôm chị về nhà mẹ đẻ, vì đường xa phải dậy sớm chải đầu, mặc quần áo rồi lên đường. Vì dậy quá sớm, hơn nữa hàng xóm lại thưa thớt, đường đi không một bóng người, Hoắc Tứ Nương đi một mình, tới chùa thấy người mệt chị dừng chân ngồi nghỉ tạm trước cổng. Bạn thử nghĩ xem, nơi vắng vẻ này con gái đẹp có nên nghỉ chân ở đây hay không. Đúng lúc ấy thì hai gã hòa thượng trẻ bước ra, đụng phải. Thấy chị đẹp chúng nghĩ thầm: "Vợ ta đến rồi". Chúng bước tới giả vờ lễ phép hỏi:
- Chào chị. Xin mời chị vào chùa xơi nước.
- Không cần. - Hoắc Tứ Nương nói.
- Chị đi đâu mà sớm thế!
- Đường xa nên phải đi sớm. - Hoặc Tứ Nương nói.
- Đường còn xa, - hai gã ấy nói, - sao không vào chùa uống chén nước cho lại sức?
- Tôi đi đây.
Hoắc Tứ Nương nói rồi đứng dậy đi, hai đứa tiếc ngẩn ngơ. Thấy đường vắng ngắt không có bóng người, chúng bèn ôm chặt lấy chị lôi vào chùa, định cưỡng dâm, Hoắc Tứ Nương không chịu, gào lên chửi thậm tệ:
- Đồ trọc đầu chết tiệt.
Hai gã hòa thượng phát khùng, dùng dao thái thịt chém chết rồi chôn dưới gốc cây đông thanh(1) cổ thụ, chẳng ai biết. Vì chùa rộng mênh mông, phòng ở cách xa nhau, phòng này làm gì phòng kia không biết, hơn nữa sáng sớm không ai nghĩ rằng có việc ấy xảy ra.
(1) Đông thanh: một loại cây cao to, quả có thể dùng làm thuốc. (ND)
 
Oan hồn không tan, quả là lẽ trời. Một hôm ngài Chu ngồi trên công đường, bỗng thấy một trận gió xoáy thổi bay những lá cây đại thụ vào công đường lượn xung quanh bàn làm việc của ngài, gió lạnh thấu xương, hình như lại nghe thấy tiếng khóc bi ai thê thảm văng vẳng trong tiếng gió. Ngài Chu nói:
- Nhất định có oan uổng chi đây.

Ngài gọi mọi người xung quanh lại xem những chiếc lá, họ đều nói trong thành không có loại lá to này, chỉ ở chùa Thúy Phong ngoài cửa Cân Sơn cách rất xa là có cây đông thanh cổ thụ này. Ngài Chu hiểu ngay: "Hẳn là sư trong chùa giết người chôn dưới gốc cây, oan hồn đến báo cho ta".
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 EmptyFri May 02, 2014 2:41 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 19 (B)
Lập tức ông cùng nhiều người tới chùa Thúy Phong, đào dưới gốc cây đại đông, nào ngờ vừa đào được mấy thước đã thấy xác một người đàn bà mới bị giết. Ngài Chu liền thẩm vấn từng hòa thượng một. Hỏi tới hai gã hòa thượng trẻ, thì mặt chúng đỏ bừng, chân tay run cầm cập, khai ra sự thực. Trước hết ngài lệnh cho đánh tám chục gậy, khép vào tội chết. Soát kỹ trong chùa, thấy lợn, dê, gà, vịt hàng đàn, phòng nào cũng đầy ắp rượu thịt. Ngài đùng đùng nổi giận đánh cho mỗi hòa thượng ba chục gậy, giải về nguyên quán, phá hủy toàn bộ ngôi chùa, ruộng vườn tịch thu bán đi để cứu dân nghèo. Có thơ rằng:
Lợn dê gà vịt có đầy đàn,
Cửa Phật toàn là sư hổ mang. Hoang dâm tàn ác như quỷ đói,
Đàn bà chúng giết chẳng ghê tay.
 
Lại có một người làm nghề buôn bán tên là Thạch Ngưỡng Đường, làm ăn xa lâu ngày nên góp được hai trăm lạng bạc. Chưa về tới nhà thì trời gần tối, sợ đi một mình sẽ bị hãm hại, nên khi đi qua miếu Yến Công đã len lén giấu bạc dưới đáy chiếc lư hương đá. Đến khuya mới về tới nhà gọi mở cửa, vợ trông thấy nói:
- Đi làm ăn lâu ngày, kiếm được bao nhiêu lạng bạc?
- Kiếm được hai trăm lạng. - Thạch Ngưỡng Đường nói. - Tôi định mang về, nhưng thấy trời tối lại đi một mình sợ mất, tôi giấu nó ở dưới đáy lư hương đá miếu Yến Công, không ai biết, sáng sớm mai đi lấy.
Nói xong họ ăn cơm rồi lên giường ngủ. Sáng sớm hôm sau đến rờ đáy lư hương đá thì khốn khổ thay, không biết kẻ nào biết được lấy mất. Thạch Ngưỡng Đường đành tới chỗ ngài Chu bẩm việc này. Ngài Chu nói:
- Trong đêm tối, ngươi giấu bạc có ai biết không?
- Thưa ngài, chẳng có một ai biết.
- Ngươi có nói với ai không?
- Thưa ngài, về nhà con chỉ nói với vợ con, không ai biết cả.
- Đúng là, - ngài Chu cười nói, - vợ ngươi thông dâm, tên gian phu nghe thấy, đến lấy trước mất rồi.
Lập tức ngài bắt vợ người đó tới công đường xét hỏi, thì đúng là thị thông dâm. Hôm ấy khi Thạch Ngưỡng Đường về, tên gian phu hốt hoảng chui xuống gầm giường. Thạch Ngưỡng Đường nói, tên gian phu nghe thấy. Khi Thạch Ngưỡng Đường ra ngoài, thừa cơ vợ anh đưa tên gian phu trốn ra lối cửa sau. Hắn tới ngay miếu Yến Công lấy hai trăm lạng bạc dưới đáy lư hương đá, rồi khấp khởi về nhà. Quả là:
Biết đâu tai vách mạch rừng,
Ngờ đâu người dưới gầm giường đã nghe.
Thế rồi ngài luận tội dâm phu dâm phụ, truy hoàn số bạc. Hai trăm lạng vẫn còn nguyên vẹn, hắn chưa kịp tiêu một đồng nào.
Lại có một tù nhân bị giam trong nhà tù Hàng Châu đã nhiều năm, bỗng nhiên hắn tố cáo Phạm Điển, một người dân quê từng đi ăn trộm với hắn. Ngài Chu biết đây là lừa dối, bèn gọi Phạm Điển đến thẩm vấn tỉ mỉ. Phạm Điển kêu oan, nói:
- Thưa ngài, con chưa từng biết mặt tên trộm này, thì làm sao mà con cùng hắn đi ăn trộm được.
Ngài Chu biết chắc đó là vu cáo, bèn cho Phạm Điển mặc áo chít khăn của nha lệ và bảo nha lệ mặc quần áo của Phạm Điển quỳ trước sân, dặn anh không được lên tiếng. Sau đó đột nhiên dẫn tên phạm nhân kia tới quỳ bên cạnh Phạm Điển. Ngài Chu hỏi:
- Ngươi cáo giác hắn cùng đi ăn trộm với ngươi, nhưng hắn không nhận.
Tên tù nhìn Phạm Điển giả nói:
- Ngươi từng đi ăn trộm với ta, sao bây giờ ngươi còn chối?
Phạm Điển giả chỉ cúi đầu không nói. Ngài Chu lại cố ý nói:
- Thế thì không phải hắn rồi.
Tên tù nhìn một lượt nói:
- Không phải hắn ư? Hắn là Phạm Điển, ngụ tại X. Năm X, làm bạn với con, ngày... tháng... năm... cùng con tới nhà X. Ăn trộm, lấy được... rồi chia nhau. Ngày... tháng... năm... vào nhà lấy trộm chia nhau những gì... Con đã làm bạn với hắn nhiều năm, tại sao lại không phải là hắn?
Hắn nói như đinh đóng cột. Ngài Chu cười nói:
- Ngươi chẳng quen biết gì Phạm Điển, ta đã cho lính lệ đóng giả Phạm Điển. Việc này ắt có kẻ xúi bẩy.
Ngài cho người tra tấn tên tù, biết được Lương Trưởng thù phạm Điển, rồi mua chuộc tên tù cáo giác bừa. Ngài Chu đùng đùng nổi giận, bèn đánh chết hai tên này. Từ đó về sau không còn tên tù nào dám vu cáo hãm hại dân lành nữa. Có bài thơ làm chứng:
Tù nhân thường hay hại người ngay, Hẳn có kẻ nào xúi bẩy đây. Gian manh quỷ quyệt, cần xét kỹ,
Đừng cho kẻ xấu hại người ngay.
 
Chuyện kể rằng ở Hồ Châu có một người tên là Hồng Nhị, mang đi một số vốn lớn, định đến Tô Châu mua hàng về Hồ Châu bán. Hồng Nhị ngồi một mình trên thuyền đợi thằng nhỏ, mãi vẫn không thấy nó tới, người canh sào là Vương Thất thấy túi tiền của Hồng Nhị khá nặng, nơi này lại vắng không ai trông thấy, hắn bèn rắp tâm mưu hại, đẫy Hồng Nhị lăn đùm xuống sông chết, mang túi bạc về nhà. Sau đó hắn đến nhà Hồng Nhị gõ cửa, hỏi:
- Chị ơi, sao anh ấy vẫn chưa xuống thuyền?
Vợ Hồng Nhị ngạc nhiên nói:
- Đi lâu rồi!
- Tôi nghĩ rằng đến giờ vẫn chưa xuống thuyền, vậy thì nhất định anh ấy đã đi nơi khác rồi.
Một lát sau thấy thằng nhỏ về nói:
- Con tới thuyền không thấy ông chủ, không biết ông đã đi đâu rồi, mà cũng không thấy hành lý đâu cả.
- Anh ấy mang hành lý đi, - người vợ nói, - tất nhiên là ra thuyền, làm gì còn thời gian mà đi chỗ khác.
- Vì tôi chờ mãi không thấy anh ấy xuống thuyền, - Vương Thất nói, - nên tôi tới đây tìm anh ấy.
Hai bên cứ cãi nhau, bên nọ đổ bên kia mà Hồng Nhị vẫn biệt vô âm tính. Cuối cùng phải báo lên quan để truy tìm. Ngài Chu thấy Vương Thất dáng người hung ác, hỏi kín vợ Hồng Nhị rằng:
- Khi vừa tới nhà thuyền nói thế nào?
Vợ Hồng Nhị nói:
- Thưa ngài, chồng con mang hành lý đi từ lâu lắm rồi, thì nhà thuyền tới gõ cửa, cửa vẫn còn đóng, bèn nói là: "Chị ơi sao anh ấy vẫn chưa xuống thuyền?"
Ngài Chu gọi hai nhà láng giềng của Hồng Nhị tới, hỏi:
- Khi Vương Thất đến gọi, ngươi nghe thấy anh ta nói thế nào?
Hai người láng giềng trả lời:
- Con nghe thấy Vương Thất gõ cửa hỏi: "Chị ơi, sao anh ấy vẫn chưa xuống thuyền?".
Ngài Chu đập bàn quát:
- Vương Thất chính mày giết chết. Mày đã tự thừa nhận rồi, sao còm dám cãi bừa?
Vương Thất cố biện bạch. Ngài Chu nói:
- Ngươi biết chắc chắn Hồng Nhị không có ở nhà cho nên gõ cửa, bèn gọi chị ơi. Cửa vẫn đóng, mà nếu ngươi không giết thì tại sao ngươi không gọi anh ơi, mà lại gọi chị ơi? Đích thị là mày giết chứ ai giết vào đây nữa.
Vương Thất bị nói đúng tim đen, hồn xiêu phách lạc, mặt đỏ bừng, run cầm cập, biết ngay là hắn giết chết. Hắn đã khai hết sự thật. Bắt hắn trả lại hành lý, tất cả còn nguyên vẹn. Hắn bị khép vào tội chết. Có bài thơ làm chứng:
Xử án xưa nay khó lắm thay,
Sắc mặt lời khai lộ rõ ngay.
Lòng dạ kẻ gian cần xét kỹ,
Chết oan ắt có kẻ phải đền.
 
Có hai người tranh nhau một chiếc ô, không ai chịu ai rồi dẫn đến đánh nhau. Trương Tam nói: "Ô của tôi". Lý Tứ cũng nói: "Ô của tôi". Hai người không ai chịu ai, liền đưa nhau đến phủ quan. Ngài Chu bèn đập chiếc ô, đưa cho mỗi người một nửa, rồi bí mật sai người theo dõi. Trương Tam nói:
- Lúc đầu tôi đòi anh hai đồng, nếu anh đưa ngay cho tôi thì có phải tốt không? Bây giờ thì hai đồng cũng không có nữa.
- Ồ của tôi, - Lý Tứ nói, - sao anh bắt tôi phải đưa cho anh hai đồng!
Thế là người đi sau theo dõi bèn tóm ngay Trương Tam, đưa về phủ. Ngài Chu cho đánh hai mươi gậy và bắt phải mua ô đền Lý Tứ.
Lại có hai người tranh nhau con trâu, hai bên giằng co nhau không sao giải quyết được. Ngài Chu nổi giận quát:
- Hãy nhập con trâu này về dinh quan.
Một người cười hí hí không nói.
Một người tức tối cãi lại.
Ngài Chu lập tức bảo người nổi nóng cãi lại rằng:
- Con trâu này chính là của ngươi, bởi thế ngươi hết sức tức giận. Con trâu này không liên quan gì đến tên kia, nên gã cười hí hí không nói gì.
Ngài lập tức phạt tội anh ta. Quả thật ngài phát hiện ra sự gian dối rất tài tình. Còn rất nhiều chuyện như thế nữa, không sao kể hết được.
Thời ấy, trong nha môn có người thư ký lâu năm tên là Mạc Lão Hổ, chuyên bợ đỡ phủ quan, dò ý quan trên, dùng văn chương xuyên tạc pháp luật, xúi bẩy kiện tụng, không việc gì là hắn không làm. Ngài Chu thăm dò biết hắn vô cùng ác độc, hại người không sao kể xiết, tài sản có tới hàng trăm vạn, những người trong nha môn không người nào là không thông đồng với hắn làm điều xấu. Ngài Chu nói:
- Đây là nơi tập trung bọn sâu mọt vùng Đông Nam. Bọn sâu mọt trong nha môn không trừ khử thì dân lành không thể sống được.
Thế rồi đem chôn Mạc Lão Hổ trong ngục, bán tài sản của hắn mua thóc lúa nhập vào các phủ huyện để cứu đói khi mất mùa, còn những kẻ độc ác khác trong nha môn đáng tù thì bỏ tù đáng sung làm lính thì sung vào lính, không chút tha thứ. Từ đó về sau, dân lành mới được yên ổn làm ăn. Hình pháp tỉnh Chiết Giang nghiêm minh trong sạch đều do công lao của ngài Chu vậy. Ngài Chu thường nói:
- Muốn cho thiên hạ thái bình thì tất phải trừ khử bọn tham quan. Bọn tham quan hại dân phải có vây cánh, cho nên quan trên được ba thì bọn tay chân ở dưới được bảy. Muốn diệt tham quan thì phải làm cho nha dịch trong sạch, cho nên không thể tha thứ bọn này.
Thời ấy Diệp Tông Hành là tri huyện Tiền Đường, người Tùng Giang làm quan hết sức liêm khiết. Ông không bao giờ nịnh nọt quan trên, nên ngài Chu vô cùng kính trọng. Về sau Diệp Tông Hành chết, ngài Chu đích thân làm bài văn tế tế ông. ấy là tôn trọng sự liêm khiết và dùng việc này để giáo dục các quan. Mỗi khi đi tuần thú các huyện, ông hay mặc thường phục, khích cho quan huyện tức giận giam ông vào ngục, ông chuyện trò với tù nhân, họ nói cho ông biết nỗi khổ của cả huyện. Hôm sau thuộc quan của ông tới nghênh đón ông từ ngục ra, quan huyện sợ hãi phủ phục dưới đất xin tạ tội, song ông vẫn theo tội mà xét xử. Bởi thế quan lại các huyện nghe thấy tiếng ông đều run sợ, chẳng ai dám tham ô. Khi mới bắt đầu vào địa hạt vùng này, ở đó có một con hổ dữ đã ăn thịt rất nhiều người , ngài Chu tự làm một bài văn tế cúng thần hoàng, thì con hổ tự dưng đến dinh quan án sát, nằm phủ phục bất động, ngài bèn lệnh cho tay chân đánh chết con hổ ấy ngay tại chỗ. Có bài thơ làm chứng:
Chu Tân đúc nghiêm,
Khuất phục hổ dữ.
Nay là thành hoàng,
Xưa là quan phủ.
Có một hôm người đồng liêu biếu ông một con ngỗng quay. Ngài Chu treo nó trong nhà, về sau có người biếu gì ông chỉ vào con ngỗng ấy. Ngài Chu nhà rất nghèo. Vợ ngài sống bằng nghề cày cấy. Một hôm bà vợ đi dự tiệc cùng với vợ các quan lại khác họ ăn diện rất sang trọng, chỉ có phu nhân ngài Chu là quần nâu áo vải như người đàn bà dân quê. Những người ăn mặc sang trọng rất ngượng ngùng, về sau họ sống rất giản dị. Phong thái của ông là như thế đó. Bởi thế thời ấy tên tuổi Chu hiến sứ lẫy lừng thiên hạ, ngay cả đứa trẻ lên ba cũng biết đức tính tốt đẹp của ngài. Thời ấy, Cẩm y vệ chỉ huy là Kỷ Cương, sai Thiên Hộ tới Chiết Giang, tác oai tác quái làm hại dân không sao kể xiết. Ngài Chu Tân bắt Thiên Hộ đánh cho một trận nên thân. Thiên Hộ lập tức về kinh khóc lóc kể với Kỷ Cương. Kỷ Cương dâng sớ nói rằng Chu Tân tự tiện bắt người trị tội. Ngài Vĩnh Lạc sai quan bắt Chu Tân về cung điện. Chu Tân khảng khái vạch tội Thiên Hộ. Ngài nói:
- Án sát sứ làm việc cũng giống như Nội đô sát viện, đều là vâng theo chiếu chỉ của bệ hạ. Thần phụng chiếu bắt kẻ gian ác, thì sao lại khép tội cho thần? Thần có chết cũng không hối hận.
Lời nói của ông vô cùng bất khuất, ngài Vĩnh Lạc đùng đùng nổi giận, ra lệnh giết ông. Lúc sắp hành hình, Chu Tân thét lên nói:
- Ta sống làm bề tôi ngay thẳng, chết đi ta làm ma ngay thẳng.
Đêm ấy, Thái sử dâng sớ nói rằng ngôi sao Văn Tinh bị rơi, ngài Vĩnh Lạc mới hiểu rằng ông chết oan và vô cùng hối hận, lập tức xử Thiên Hộ để đền mạng, rồi ngài Vĩnh Lạc hỏi quần thần:
- Tân là người ở đâu?
Quần thần đáp rằng:
- Ông là người Quảng Đông.
Ngài Vĩnh Lạc nhiều lần than vãn rằng:
- Quảng Đông có người tốt như thế mà ta đã giết oan.
Ngài Vĩnh Lạc cứ thương tiếc mãi. Về sau thường thấy ông hiện hình tại miếu. Một hôm giữa ban ngày bỗng thấy một người mặc áo hồng bào, Vĩnh Lạc quát lớn, thì người ấy nói rằng:
- Thần là Chu Tân, án sát sứ Chiết Giang, phụng mệnh thượng đế, thấy thần là người trung trực, cho thần làm thần thành hoàng Chiết Giang, trị những kẻ tham quan ô lại cho bệ hạ.
Nói xong biến mất. Ngài Vĩnh Lạc cứ than thở mãi. Về sau Chu Tân nhập vào người trước miếu thờ thành hoàng Chiết Giang nói:
- Ta vốn là án sát sứ Chu Tân, thượng đế cho ta là người trung trực, phong ta làm thần hoàng, hãy đắp tượng ta để thờ, ngày sinh của ta là ngày mười bảy tháng Năm.
Dân chúng thấy ông linh thiêng hiển hách, bèn sửa sang miếu mạo, rước tượng Thành Hoàng cũ tới Dương ThịCó bài thơ làm chứng:
Uy danh hiển hách ấy thành hoàng,
Chưa biết uy danh đã lẫy lừng.
Thần ngay quỷ thẳng đều là một.
Những người trung trực quả phi thường.
Lại có bài thơ ca ngợi như sau:
Chu Tân chết thành thần Chiết Giang,
Vu Khiên chết thành thần Bắc Đô.
Xưa nay người ta ai chẳng chết,

Chết vẩn lưu danh mãi ngàn thu.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 EmptySat May 03, 2014 3:44 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 20
Đưa Hối Lộ Sống Chết Thành Oan Trái
Sống Từ Bi Quên Hẳn Mối Thù Xưa
Thơ rằng:
Được mất mông lung chẳng thể cầu,
Huống hồ bí mật lắm quyền mưu,
Công danh được mất do trời đất,
Phú quý còn đây cháu con lo.
Đất trời lồng lộng như gương sáng,
Chí công không thể uốn cong lưng.
Tướng quân vỗ ngực khoe thắng trận,
Hướng tới Đông Lăng lễ cố hầu.
Người ta thường ăn năn làm lành, tất cả đều như đã định sẵn, không thể cứ cố cầu mong mà được. Nếu như cầu mà được thì tinh thần phải hết sức kiên định. Nếu là người có phúc thì không cầu cũng được. Cho nên nói hai chữ "tiền định" (đã định sẵn từ trước) đã làm phai nhạt những ham muốn không chính đáng, làm tiêu tan những thủ đoạn nóng vội. Người đời có khi cầu mà được, nên cứ cầu bừa đến khi không sao thu xếp nổi, lúc ấy mới hối hận thì đã muộn.
Chẳng hạn như người đi buôn, đã có vốn nhưng vẫn phải nhờ vào vận đỏ, duyên may. Dù có mở cửa hàng ngay tại nhà cũng kiếm được hàng ngàn hàng vạn. Nếu không gặp vận đỏ duyên may thì muốn kiếm vài ba đồng cũng phải hao tâm tổn trí mà vẫn không được. Đừng nói kiếm lấy vài ba đồng mà ngay vốn liếng cũng mất sạch. Huống hồ hai chữ công danh có quan hệ rất lớn, được hưởng rất nhiều lợi lộc.
Có một tú tài nghèo, không đầy nửa năm mà trúng cử nhân tiến sĩ, mũ áo xênh xang, ngồi giữa công đường, sai bảo bách quan, thống trị muôn dân, làm rạng danh tổ tông, vợ được phong thưởng, con được nối dõi. Điều này có phải do may rủi mà được chăng. Không, đó là kẻ hối lộ để mua chuộc, từ khi khai thiên lập địa đã có rồi. Xưa nay cũng có người đưa hối lộ mà được lợi, nói chung họ được quan cao lộc hậu, con cháu đời đời là dòng dõi trâm anh. Há đấy chẳng phải là tấm gương do cố cầu xin mà được đó sao? Dân gian có câu: "Mua khoa cử thì phải đúng vào năm trúng cử". Câu nói này có nghĩa là có thể cầu được và cũng không thể cầu được. Chẳng hạn như năm không trúng cử mà cứ cầu bừa thì cũng chẳng có phúc, việc làm không tính toán chi li chặt chẽ, một khi đã bại lộ thì danh và thực đều mất. Lúc ấy muốn làm tú tài như cũ, cũng không được nữa. Tóm lại công danh không thể hại người, công danh do mình tạo nên, đó là điều tối quan trọng.
Tôi kể ra đây hai câu chuyện làm thí dụ để các bạn nghe.
 
Xưa kia có một cậu tú tài, tính hiền lành trung hậu, luôn luôn làm điều thiện. Tổ tông xưa đều là những người hiền lành, an phận thủ thường, chỉ có điều nhà nghèo mà không học lên được. Năm ấy có khoa thi, cậu nhờ một gian phòng trong chùa để đọc sách. Một hôm gần tới ngày thi, vào buổi tối cậu nghe nhà bên có tiếng thì thầm rất lâu, sau đó thấy uống rượu rồi hát hò, cười nói oang oang, tỏ ra rất vui sướng. Một lát sau bỗng thấy vắng lặng tĩnh mịch. Cậu tú lúc ấy mới được yên tĩnh, nhưng vẫn không ngủ được, cậu tha thẩn dạo bước dưới hành lang, thì thấy một người con gái thướt tha đi lại, người ấy gần tới nơi thì cậu tú hỏi:
- Cô là ai?
- Chàng đừng sợ. - Cô gái nói. - Thiếp là ma, đến đây không phải để hại chàng. Thiếp thấy chàng có chí học hành lại cố gắng làm điều thiện nên đến nói cho chàng biết việc công danh đại sự. Vừa rồi thiếp thấy người tú tài bên kia uống rượu là vì đã mua được ý mấu chốt trong kỳ này và đã mặc cả với nhau tại đó. Thiếp đã nghe được xin báo cho chàng biết. Xưa kia cha thiếp buôn bán ở đây và thiếp cũng chết ở đây, linh cữu thiếp gửi ở chùa này. Nếu chàng đắc chí thiếp phiền chàng đến chỗ X, bảo với cha thiếp sớm đưa linh cữu thiếp về táng nơi quê hương thiếp. Thiếp biết chàng là người trung hậu, chắc chàng không phụ sự nhờ cậy của thiếp, cho nên thiếp mới dám phiền chàng.
Đoạn cô gái nói cho cậu tú tài biết những điểm mấu chốt của đề thi. Theo lời cô gái, quả nhiên cậu tú tài này đỗ cao. Đến ngày yết bảng, vị giám khảo thấy họ tên không phải là người mình đã mách bảo, ông rất ngạc nhiên. Khi gặp người đã thi đậu, ông hỏi vì sao, anh ta nói thực việc mình đã gặp ma như thế nào. Vị quan giám khảo ấy nói: - Anh là người có nhiều âm đức, từ nay con đường thăng quan tiến chức của anh sẽ rộng mở, không thể lượng trước được.
Vị tú tài ấy quả nhiên thi đỗ liên tiếp tới tiến sĩ rồi được làm quan.
 
Tôi lại còn nghe thấy một vị cử nhân ở Bắc Kinh thi Hội. Vị cử nhân tuổi còn trẻ, tài cao, học vấn uyên thâm, cứ tự khoe rằng, nhất định sẽ đỗ. Hội nguyên, trạng nguyên cầm chắc trong tay. Hôm ấy là ngày vào trường thi. Vị cử nhân ấy đến chỗ ngồi của mình, vừa thu xếp xong xuôi thì thấy một cử nhân khác tới tìm chỗ ngồi. Cử nhân này cao to, nói tiếng miền Bắc, không thấy mang đồ đạc gì, chỉ thấy vai vác một chiếc nghiên to ước chừng bằng thớt cối. Chỗ ngồi của anh ngay bên cạnh vị cử nhân nọ. Vị cử nhân này cười thầm: "Trong trường thi không biết mang vào làm quái gì chiếc nghiên đá to đến thế. Chả lẽ là để tỏ rõ mình có sức khỏe ư? Nếu như dùng nó để đánh người thì chỉ cần huých các góc nhọn của nó vào thì người cũng nát ra như cám". Một lát sau đề bài được mang tới. Vị cử nhân đến trước cầm bút vừa nghĩ vừa viết, xong một thiên anh lại ghé mắt nhìn sang vị cử nhân lực lưỡng kia, chỉ thấy anh này ra sức mài mục. Thôi thì cứ mặc anh ta, vị cử nhân này lại cắm cúi viết xong thiên thứ hai. Vẫn cứ thấy vị cử nhân cao to ấy hì hục mài mực. Anh cười thầm nghĩ: "Giá mà vị cử nhân kia chưa cơm nước gì mà vào đây thì uống số mực ấy cũng no kềnh bụng". Anh lại làm xong thiên thứ ba. Người cử nhân cao lớn ấy vẫn cứ ngồi đó mài mực, anh nghĩ: "Người này cứ ngồi mài mực, không biết mài đến bao giờ mới thôi! Hãy xem anh ta làm thế nào, sau này mình sẽ có một câu chuyện cười lý thú ở trường thi để nói với bạn bè". Anh lại ngâm nga đọc lại thiên thứ ba của mình một lần nữa và cảm thấy rất đắc ý. Đang định làm tiếp thì người cử nhân lực lưỡng kia nhảy sang nói:
- Nghe anh đọc, thấy bài văn của anh hay quá, nhất định là đỗ rồi. Song tôi là người vùng Tây bắc, văn bài không thông thạo anh cho tôi bài văn ấy, anh làm bài khác, thế thì mọi sự đều tốt. Nếu không tôi sẽ đổ mực đen ngòm vào bài của anh, thế là cả hai đều trượt. Nếu anh cho bài tôi, thì anh là người tình nghĩa.
Vị cử nhân này vừa buồn cười vừa tức giận. Thấy người ấy cao to lực lưỡng, mình có đánh cũng không thắng nổi, đành thở dài đưa ba bài văn ấy cho anh ta. Thế là anh ta mặt mày hớn hở trở về chỗ ngồi của mình, còn anh thì làm lại ba bài văn và làm luôn cả bài kinh văn. Thế rồi vị cử nhân lực lưỡng ấy lại tới nói:
- Anh vừa cho tôi mấy bài văn ấy, tôi nghĩ nhất định sẽ đỗ rồi, tôi lại không biết làm kinh văn, thật đáng tiếc là dù anh đã cho bài tôi nhưng cũng uổng công thôi. Nếu anh trọn tình trọn nghĩa với tôi, thì xin anh cho tôi bài kinh văn. Nếu đỗ, thì tôi không bao giờ dám quên ơn anh. Vị cử nhân ấy nghĩ rằng, ba bài trước hay đã cho anh ta rồi, nếu ba bài sau không khớp ý với nhau thì sẽ không đỗ, thế thì cho anh ta cũng vô ích. Thôi thì cho luôn anh ta. Mong rằng lần sau không gặp phải những tên hung đồ thế này nữa, rồi anh cho luôn người ấy và phất tay áo ra khỏi trường thi. Quả nhiên, vì anh người ấy đỗ tiến sĩ, sau này đã đến thăm và đền đáp công lao của anh. Các bạn thân mến, một đàng do ma mách bảo đề thi, một đàng là cướp văn. Hình như đây là hai chuyện hết sức lạ lùng trong trường ốc nhưng không phải ngấm ngầm làm việc ích kỷ hại người, cho nên không có một hận thù gì khắc cốt ghi xương.
 
Tôi xin kể một câu chuyện, do ích kỷ, ngấm ngầm hại người mà sau này cháy nhà ra mặt chuột, khiến cho công lao cả dòng họ đổ xuống sông xuống bể, suýt nữa chết không có chỗ chôn.
Chuyện kể rằng, ở huyện Nhân Hòa phủ Hàng Châu, Chiết Giang có một người tú tài tên là Từ Tất Ngộ, tự Bằng Tử. Ông của anh ta làm tới đô ngự sử, vì thẳng thắn can gián mà mất chức trở về rừng núi dưỡng lão tới hai mươi năm. Do bản tính trong sạch và ngay thẳng nên việc thăng giáng chức luôn luôn xảy ra trong cuộc đời ông. Bởi thế cũng chẳng lấy gì làm giàu có cho lắm. Cha của anh ta là một tú tài, kiến thức uyên thâm nhưng con đường khoa cử thì lận đận, về sau được bổ làm lẫm sinh, chờ tiến cử. Sau làm huấn đạo được hai khóa. Chức quan thì thấp mà nơi làm việc lại hẻo lánh vắng vẻ, uất ức và bất đắc chí. Không lâu sau cũng cáo quan về nhà. Từ Bằng Tử sống trong cảnh nghèo túng. Đến năm mười tám tuổi anh được cử đi học và cùng năm ấy anh lấy vợ, vợ tên là Vương thị, vợ anh cũng thuộc dòng dõi con nhà quan lại, cũng biết việc đọc sách là cao thượng. Từ Bằng Tử sinh trưởng trong một gia đình quan lại, suốt ngày chỉ khư khư cầm quyển sách trong tay, không hề biết gì đến chuyện ham làm, miệng ăn núi lở, lâu ngày rồi cũng phải bán mấy ngôi nhà của người ông để lại khi còn làm quan. Rồi sau đó lại bán mấy mẫu ruộng của ông để lại. Cuối cùng chỉ còn trơ lại một ngôi nhà cổ, đấy là nơi dấy nghiệp của ông anh và gia đình anh đang sống, không thể động tới. Cũng mừng là hai kỳ thi nhất nhị trường anh không đến nỗi trượt. Song mấy kỳ thi sau anh cũng không được đứng đầu bảng. Nói đến tài văn chương thì anh cũng là người xuất sắc. Năm ấy có khoa thi, anh ở nhà đọc sách, tối đến nhân lúc nghỉ ngơi anh nói với vợ :
- Phen này nhất định đỗ.
- Làm sao mà anh biết được?
- Những đề về "Tứ Thư” anh đều chuẩn bị hết rồi, còn đề mục lớn nhỏ trong kinh "Xuân Thu” anh cũng làm rồi. Về phương diện này, bạn bè thi cử không ai hơn anh được. lần này không những đỗ mà anh còn đỗ cao, ít ra là xếp từ thứ năm trở lên, chứ không chịu đứng sau. Em hãy kiên tâm chờ hơn một tháng nữa, lúc đó em sẽ đàng hoàng là một bà cử.
Vương thị nói:
- Không biết vận nhà mình sẽ thế nào, thi mấy khoa liền mà không đỗ, lại không làm gì để sinh sôi nảy nở thêm được, ruộng vườn đã bán sạch chỉ còn lại ngôi nhà cũ. Khoa này mà không đỗ thì đành phải tìm người khác thay emEm chỉ cầu mong anh phúc lộc và văn chương đều được cả đôi đàng. Anh sẽ làm rạng rỡ tổ tông, khiến cho vợ con thoát khỏi đói nghèo. Em nguyện suốt đời sống nâu sồng đạm bạc vì chàng.
Nói xong nước mắt chị giàn giụa. Bằng Tử nói:
- Em cứ yên tâm, anh bảo đảm với em chắc chắn khoa này anh sẽ đỗ. Anh sẽ đền em chức cử nhân, nếu không đỗ thì không còn mặt mũi nào gặp em và cũng chẳng còn mặt mũi nào gặp bạn bè, người thân trong dòng họ.
- Em mong được như thế, cầu trời khấn Phật phù hộ cho anh.
Đúng là:
Tài năng ta chăng kém ai,
Ngẫm ra mới biết vận may do người.
Những mong áo mão cân đai,
Ngờ đâu nghèo đói chẳng rời khỏi ta.
Trong số những bạn học của anh cũng có một gã tú tài tên là Đinh Toàn, tự Hiệp Công, cũng thuộc dòng dõi gia thế. Cha làm tới chức Thị lang Bộ công, con đường thăng quan tiến chức của anh ta khá thuận lợi, đã tích cóp được khá nhiều tiền của. Đinh Hiệp Công lại giỏi làm ăn, hắn thường lui tới những học trò của cha kiếm chác, gia đình ngày càng trở nên giàu có.
Ngoài việc đánh bạc và chơi gái gã không tiêu phí một đồng nào. Vào năm thi cử, hắn đành phải tung tiền ra tiêu. Việc thứ nhất là mua giám khảo, việc thứ hai là dùng mánh lới trong trường thi. Kỳ thi nào hắn cũng luồn lọt tìm khe hở, mò mẫm thăm dò khắp nơi, cho tới ngày yết bảng hắn mới yên tâm. Từ khi hắn được vào trường huyện học, kỳ thi nào cũng thế, điều ấy chẳng có gì là lạ.
Năm ấy quan chủ khảo kỳ thi là quan tri phủ, người họ Mạc, cùng đỗ khoa với cha hắn. Ngay từ khi đến nhậm chức, Đinh Hiệp Công đã mang lễ hậu đến nhận là người thân. Hắn nghĩ quan đứng đầu phủ là tiến sĩ, tuổi còn trẻ, có danh vọng, nhất định sẽ làm giám khảo. Cũng không chờ đến khi có tên trong danh sách thi, hắn đã làm một bữa cỗ thịnh soạn mời quan tri phủ họ Mạc. Trong bữa rượu hắn đã ghé tai vào quan tri phủ nhờ vả việc thi cử, như thế làm sao mà quan tri phủ không vui vẻ nghe theo. Đinh Hiệp Công lại lấy ra bức văn tự một ngôi nhà với giá là ba ngàn lạng đưa cho tri phủ họ Mạc tạm thời làm vật thế chấp, khi yết bảng sẽ lập tức mang bạc đến chuộc lại. Tri phủ họ Mạc nói:
- Hai nhà xưa nay là bạn đồng khoa với nhau, có bổn phận giúp đỡ hết lòng, đâu dám nhận tạ ơn. - Tuy là anh em con cháu của bạn đồng khoa, nhưng bây giờ là quan hệ thầy trò, vả lại việc công danh cũng phải tạ ơn nhau chứ, chỉ có chút ít thôi, có gì đáng suy nghĩ.
Tri phủ họ Mạc vui vẻ nhận lời.
Đúng là:
Có duyên ngàn dặm cũng gặp nhau,
Mưu người, trời có thắng được đâu.
Đến khi mở khoa thi, quả nhiên tri phủ họ Mạc được cử làm giám khảo. Ông lập tức viết những điểm quan trọng về đề thi, niêm phong cẩn mật, rồi sai người đưa cho Đinh Hiệp Công Đinh Hiệp Công mừng quýnh. Tri phủ họ Mạc lại nghĩ, lão Đinh mặt mũi sáng sủa, nhưng không biết văn chương chữ nghĩa trong bụng lão thế nào, chẳng may vào trường thi lại nộp giấy trắng hoặc là làm được bài mà văn vẻ trúc trắc, khi ấy khó mà trình lên chánh chủ khảo, mình thật là khó xử, mà lại mất tới ba ngàn lạng. Tri phủ họ Mạc viết một phong thư mật, sai người mang đến. Đinh Hiệp Công nhận được mở ra xem, bức thư viết:
"Việc ngoài cửa (khổn ngoại) tướng quân phải làm chủ thì mới phục ngài không uổng công đọc (không độc) sách cha, dũng sĩ (hổ bí) vẫn về nội phủ. Chiếu sáng, chiếu sáng?”
Đinh Hiệp Công đọc những chữ ấy không hiểu ý nghĩa của nó, lại không thể đưa cho người khác xem. Ngẫm nghĩ mãi, lá thư ông ta gửi nhất định không phải việc gì khác, mà chắc chắn đây là việc thi cử, cách viết rất lờ mờ, khiến người ta khó nhận ra. Hắn lại tra tìm lại các chữ, lật đi lật lại, lần lượt đoán từng câu chữ, nghĩ "Ta đã hiểu rồi, khổn ngoại" là nói ngoài rèm; "Không độc" có nghĩa là không biết binh pháp; số của "hổ bí" có nghĩa là ba ngàn. Rõ ràng nói về việc thi cử, bảo ta phải tự làm bài. Nếu như bài văn mà không đạt yêu cầu thì cái nhà ba ngàn lạng phải trả lại cho ta". Thế rồi hắn đập tay xuống bàn đến "chát" một cái rồi nói: "Đúng rồi, đúng rồi, không còn nghi ngờ gì nữa. Song điều mà ông nói trong thư lại rất đúng vào chỗ yếu của mình. Chẳng may trong trường thi không thuận lợi, không đạt yêu cầu thì chẳng hóa ra mình mất toi ba ngàn lạng hay sao. Tuy thế, lão Mạc vẫn tính toán tỉ mỉ chắc chắn".
Đúng là:
Quân vương nếu hỏi kế biên cương.
Ắt lo lương đủ với binh cường.
Lúc ấy trong trường lại có một tú tài khác tên là Chu Đức, biệt hiệu là Bạch Nhật Quỷ. Tuy là tú tài song không theo đòi thi cử. Hắn la cà nay nhà này mai nhà khác để kiếm rượu uống. Người ta chơi cờ hắn sà vào tính nước. Người ta đánh bài hắn cũng len vào chia bài. Suốt ngày say bí tỉ, ăn không biết no. Nhà hắn có bếp cũng bằng thừa, thường đến những nhà giàu có thế lực để bợ đỡ lấy lòng. Hắn buôn bán tin tức, chuyên bắt mối với bọn con hầu đứa ở để nghe ngóng tình hình, xui nguyên dục bị để kiếm chút tiền còm cõi. Bởi thế những nhà tú tài, phàm có việc dù to hay nhỏ đều không bỏ qua hắn được. Còn như Đinh Hiệp Công là một tay giàu sang, thì chẳng phải bàn, ngày nào hắn cũng đến xin dạy bảo. Ngay như Từ Bằng Tử, cháu một vị quan nghèo, thấy anh thi cử thuận lợi, lại sáng dạ hắn cũng thường tới khoe khoan hão, vài ba ngày hắn lại đảo đến một lần. Còn như với Đinh Hiệp Công thì khác hẳn, hai người này ý hợp tâm đầu, gắn bó như keo sơn, không lúc nào rời nhau.
Định Hiệp Công xem tờ giấy, quả thực không khẳng định dứt khoát được, hắn suy nghĩ do dự suốt đêm. Sáng hôm sau hắn cho người mời Bạch Nhật Quỷ tới. Chu Đức nói: - Tối qua tôi có chút việc không được gặp anh, thì đến nơi rồi mà tôi thấy vẻ mặt anh tươi rói. Khoa thi này nhất định anh đỗ cao. Xin hỏi gọi tôi tới đây để dạy bảo điều gì?
- Tôi có chuyện riêng. - Đinh Hiệp Công nói. - Không thể nói với người khác được. Song tôi với anh rất hợp nhau, việc lớn như thế không thể giấu anh được. Tôi có ý mời anh đến đỡ bàn bạc.
Chu Đức hoa chân múa tay, nói:
- Việc gì thế! Xin sẵn sàng nghe anh nói.
- Mạc Công Tổ, - Đinh Hiệp Công nói, - là con một người đồng khoa của cha tôi, chắc anh biết rồi. Gần đây ông ấy được cử vào làm quan giám khảo, khi đi ông ấy nói là rất mến mộ gia thế tài năng của tôi, có gửi cho tôi những điểm mấu chốt của đề thi, bảo rằng trong trường thi phải làm như thế, tôi không muốn khước từ lòng tốt của ông ấy, theo anh có nên làm hay không?
Bạch Nhật Quỷ vội chắp tay nói :
- Xin chúc mừng anh. Anh tài cao như thế lại có Mạc Công Tổ giúp đỡ bên trong, lần này anh trúng giải nguyên là chắc. Tại sao lại không làm?
- Tôi cũng nghĩ rằng nên làm, song thường ngày văn chương tôi còn có chỗ sai sót. Chắc anh cũng biết đấy. Một khi đề mục ra không thuận tay, sợ rằng sẽ không lưu loát. Theo tôi nghĩ, trừ phi có bài văn hết sức công phu mới không phụ lòng ông Mạc nếu được như thế thì tuyệt vời. Anh có cách gì hay không? Xin anh dạy bảo đôi điều.
- Điều ấy có gì khó lắm đâu. - Bạch Nhật Quỷ nói. - Tôi có một người anh họ là Trần Hựu Tân, anh ấy là tú tài kỳ cựu trong học phủ, kỳ thi nào anh cũng được ghi vào danh sách viết bài thi. Vì anh thi nhiều năm nên đáng tin cậy, những bài văn được khen đều do anh ấy viết và đưa cho thí sinh. Mỗi khoa thi anh hy vọng kiếm được một ngàn lạng. Nếu anh cần tôi sẽ nói với anh ấy, nhất định sẽ đỗ thôi.
Đinh Hiệp Công rất mừng, vội vàng sai người dọn một mâm rượu thịnh soạn tại nhà trong, thúc giục người đi mời Trần Hựu Tân. Tới nhà, được mời vào phòng riêng, Trần Hựu Tân nói:
- Tôi lâu nay đã ngưỡng mộ ông, ý định ông anh cho gọi tôi em họ tôi đã nói với tôi rồi, nhưng có điều không biết ông học kinh nào.
- Kinh "Xuân Thu”. - Đinh Hiệp Công nói.
- Thế thì càng tốt. - Trần Hựu Tân nói. - Chờ tôi vào trường thi chọn những bài văn hay nhất về "Xuân Thu”. Cắt phần phách đi, rồi cố gắng mà chép, và nhét vào tập bài thi thì mười phần đỗ chín. Song có đúng là Mạc Công Tổ làm chủ sự trường thi hay không?
- Tiếng tăm Mạc Công Tổ nổi như cồn làm giám trường ngự sử là cái chắc. Xin anh đừng ngại.
- Như thế thì tốt rồi, song Mạc Công Tổ có thể quan tâm suông cho mình đâu, còn tôi là kẻ sĩ nghèo, vậy ông anh phải nới rộng tay thì mới được.
- Điều ấy thì tất nhiên rồi. - Đinh Hiệp Công nói.

Nhân đó họ kéo cả Bạch Nhật Quỷ vào thương lượng. Trần Hựu Tân đòi một ngàn lạng, hai bên cò kè nâng lên gạt xuống, cuối cùng ngã giá là bốn trăm lạng. Hẹn tới lúc điểm danh vào trường thi mới cho biết phương pháp. Sau đó họ ra về. Lần này Bạch Nhật Quỷ gỡ gạc cả đôi bên.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 EmptySat May 03, 2014 4:22 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 20 (B)
Đến hôm thi, Từ Bằng Tử cũng không chờ đến tối mới ra khỏi trường thi. Anh bước vào nhà với nét mặt rạng rỡ vui mừng, anh thắp hương lễ bái gia tiên. Vương thị hỏi:
- Anh làm bài thế nào?
- Chẳng phải nói hay, bày bài văn anh đều làm được cả. Sợ rằng khi làm có chỗ còn sơ xuất anh đã viết rất cẩn thận, sạch sẽ ngay ngắn, đọc đi đọc lại, quả thật lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu. Trình lên ban giám khảo chắc chắn ai cũng khen ngợi, trừ phi quan giám khảo mù, hoặc bới lông tìm vết cũng phải cho đỗ.
Vương thị thấy thế mừng không sao xiết.
Mấy ngày sau, kết thúc kỳ thi, báo rằng sớm mai là ngày yết bảng. Vợ chồng Từ Bằng Tử làm sao mà ngủ cho được, nghe thấy tiếng trống báo canh năm, vẫn thấy bên ngoài yên tĩnh, dần dần thấy trời hừng sáng mới nghe thấy ngoài đường có tiếng cười nói ồn ào. Lúc ấy anh không kìm nổi được nữa, hai chân cứ muốn nhảy ra đường. Vừa ra khỏi cửa, thấy một người đi báo tin vui chạy như bay, qua cửa nha môn thấy người ấy chạy chậm lại, anh hỏi:
- Ai đậu giải nguyên đấy?
Anh chạy theo người ấy qua mấy nhà, người ấy mới chịu trả lời. Từ Bằng Tử nghĩ: "Có điều gì đáng nghi, trời đã sáng lắm rồi hãy đến chỗ yết bảng xem sao?". Tới nơi chỉ thấy hai chữ "Xuân Thu”, thấy người đỗ thứ ba là Xuân Thu, anh đọc tiếp thì đó là người Nhân Hòa, bên trên đó là Đinh Toàn. Anh nghĩ bụng, anh này mà cũng đỗ ư? Hằng ngày anh ta rất dốt, vì sao lại đỗ. Thôi mặc hắn. Tiếp đó anh xem từ đầu đến cuối bảng, rồi lại xem từ cuối bảng ngược lên, đọc kỷ từng dòng, hoàn toàn không có tên mình. Lúc ấy anh bủn rủn cả chân tay, nước mắt cứ chực trào ra, anh nuốt nước mắt, dựa vào cột bảng, đờ đẫn như người mất hồn. Đến khi người xem bảng thưa dần, anh cảm thấy chán chường, buồn bã quay về. Con đường về nhà sao mà dài dằng dặc, anh khó khăn lắm mới lên bước tới nhà.
Đúng là:
Tướng quân thua trận, vợ thất tiết,
Thích mặt cướp đường, phạm tội quan.
Gặp mặt người quen, ôi xấu hổ,
Hỏng thi cũng thế khác gì đâu
Đinh Toàn đỗ cao, nhân viên trường thi chạy như bay tới báo cho nhà họ Đinh. Đinh Hiệp Công thưởng cho người tới báo và lập tức diện quần áo chỉnh tề đi dự yến tiệc. Ngày hôm sau vội vàng đến bái lạy quan giám khảo Mạc Lão Tổ và tạ ơn quan chủ khảo. Rồi mở tiệc ăn mừng, khách khứa đông nghịt ồn ào náo nhiệt. Quả là giàu sang phú quý không ai bằng.
Quả là:
Nhà đông sầu thảm nhà tây hát,
Cùng một ông trời sao khác nhau.
Lại nói Từ Bằng Tử xem yết bảng trở về, vô cùng đau đớn, đôi chân anh bước đi tựa ngàn cân, bước không qua nổi bậc cửa. Vương thị chờ tới lúc mặt trời lên cao cũng chẳng thấy tin tức gì, biết chắc không ăn thua. Một mình buồn trong nhà buồn rười rượi. Vào nhà chồng không nhìn mình, biết anh chẳng còn vui thú gì nữa. Từ Bằng Tử ngồi cạnh vợ thở dài thườn thượt, oán trời giận đất, đập bàn đập ghế, chửi quan giám khảo là đồ mù, không biết thế nào là văn chương hay dở. Rồi cứ nói một mình như ma ám. Nhà anh có một đứa ở tên là Xuân Anh, tuổi chừng mười sáu mười bảy, người cũng trắng trẻo sạch sẽ. Từ Bằng Tử coi nó như một món nhắm ngon, đôi khi cũng nếm thử. Vương thị tuy không nghẹn lồng nghẹn lộn, song thấy việc ấy cũng chẳng ra thể thống gì cả, nên có khi cũng răng đe Xuân Anh một vài câu, đó cũng là lẽ thường tình. Vài hôm nay ông bà chủ lo lắng buồn rầu, Từ Bằng Tử thì hết ra lại vào, đang ngồi không yên, trách móc chửi mắng, xô bàn đập ghế, không khí gia đình hết sức nặng nề. Vương thị muốn an ủi chồng, song trong lúc gia đình đau buồn, không sao cất lời lên được. Dẫu có nói thì lời lẽ lại bộc trực, sợ rằng không những không khuyên giải được mà lại càng như lửa đổ thêm dầu. Nên Vương thị đành nín nhịn và thường bảo Xuân Anh hầu hạ chàng. Song ngờ đâu Từ Bằng Tử đùng đùng nổi giận, làm sao mà hiểu nổi?Ngay một người đẹp như hoa như ngọc mà Từ bằng Tử mê đắm, thì giờ đây chàng ghét bỏ. Không trông thấy thì thôi hễ trông thấy là hạch sách, rồi chửi toáng lên, tức khí còn đuổi theo đá cho mấy cái mới yên. Thấy chồng chửi bới gắt gỏng, Vương thị nghĩ rằng Vương Anh không ý tứ giữ gìn, mà xúc phạm đến anh, nên không thể không nói cho Xuân Anh một vài câu.
Đúng là trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết. Tuy thế Xuân Anh vẫn không oán hận, chỉ có điều không chịu nổi sự giằn hắt của hai người, cô khóc đỏ mắt, suốt ngày chẳng khác nào nữ tú tài thi trượt. Một hôm Từ Bằng Tử đang buồn rầu ủ rũ, thì bạn bè trong trường đưa đến tập bài làm của năm thí sinh đỗ đầu Bằng Tử vội mở ra xem, nghĩ: "Bài của giải nguyên cũng không hay bằng bài của mình”. Sau đó xem đến bài người đỗ thứ ba là Đinh Toàn. Anh đọc thuộc làu làu từ mở đề, kinh ngạc nói:
- Bài văn này là của tôi.
Tiếp đó anh đọc bài thứ hai, thứ ba cho đến thứ bảy, giống bài của mình không sai một chữ. Anh nghĩ "Bài làm của mình hôm ấy lẽ nào do ma quỷ làm cho mình ư? Sao mà giống nhau đến thế, hay là mình ngồi gần anh ta, nên anh ta nhìn trộm bài của mình rồi chép vào. Ngay dù có chép trộm đi chăng nữa thì cũng khó tránh khỏi sai một chữ nào". Anh kinh ngạc và ngờ vực: "Đúng rồi, đúng rồi, ta phải đi tìm lại bài của ta, đối chiếu xem giám khảo phê thế nào". Anh tới ngay nơi lưu giữ những bài thi trượt, tìm số báo danh, tìm đi tìm lại, song chẳng thấy đâu. Sợ rằng bài thi của anh lẫn vào trường khác, anh lại tới Hàng Châu tìm, song vẫn không thấy bài của mình. Anh trở về với tâm trạng hết sức ngờ vục. Vừa về tới cửa thì thấy một người say rượu đi tới, đứng lại nhìn thì thấy:
Hai mắt lờ đờ,
Mồ hôi nhuễ nhại,
Chân đi bước thấp bước cao,
Chẳng khác nào con rối.
Quần áo xộc xà xộc xệch
Như người giấy đèn cù.
Tới gần thì đó là Bạch Nhật Quỷ. Từ Bằng Tử nói:
- Mấy hôm nay không thấy anh, mời anh vào uống nước.
- Đã gặp nhau, lẽ nào đi qua cửa mà không vào.
Từ Bằng Tử đón anh vào nhà, nói:
- Uống rượu ở đâu về mà say như thế?
- Tôi đánh chén ở nhà quý nhân mới.
- Nhà ai thế?
- Nhà ông Đinh Hiệp Công.
- Không nhắc tới Đinh Toàn thì thôi, mà nhắc tới Đinh Toàn thì thấy một chuyện rất kỳ lạ.
- Chuyện gì mà kỳ lạ thế?
- Bài của Đinh Toàn giống bài của tôi không sai một chữ, không biết hắn có thủ đoạn thần thánh gì mà ghê đến thế.
- Lẽ nào lại có chuyện ấy?
- Nếu anh không tin tôi lấy cho anh xem.
Từ Bằng Tử đứng dậy đi vào trong, rồi gọi Xuân Anh rót nước mời ông Chu. Mấy hôm bị đánh chửi, Xuân Anh vội vã rót nước mang ra. Từ Bằng Tử đi tìm bài thi, tìm mãi mà không thấy anh lục lọi hết mọi nơi, mới tìm thấy dưới gối của mình, lật đật mang ra. Bạch Nhật Quỷ đang ngồi trên ghế ngáy khò khò. Từ Bằng Tử lay dậy, nói:
- Anh Chu xem này. Bạch Nhật Quỷ cầm lấy, nói:
- Đây là năm bài thi đỗ đầu bảng, tôi xem lâu rồi. Vậy xin hỏi bài của anh hiện ở đâu?
- Chính vì thế mới lạ chứ. - Từ Bằng Tử nói. - Tôi tìm tất cả những bài đánh trượt nhưng không thấy bài của tôi, đây là một việc tệ hại đáng ngờ. Tôi định đến ban giám khảo tố cáo, để một là làm rõ sự tệ hại này, hai là để hả nỗi uất hận của tôi.
- Nếu bài của anh còn thì mới có thể đối chứng. - Bạch Nhật Quỷ nói. - Nếu không tìm ra là do ghen ghét mà gây sự. Theo tôi khó mà xoay chuyển được.
Hắn chào một tiếng rồi đi thẳng.
Vốn là bài Từ Bằng Tử, Trần Hựu Tân cắt phách đưa cho Đinh Hiệp Công chép rồi giấu đi rồi. Bạch Nhật Quỷ thừa biết việc này nên nói thế dọa Từ Bằng Tử. Lúc ấy vì Từ Bằng Tử chợt tức giận mà nói thế thôi, chứ đi kiện chưa chắc đã thắng. Nào ngờ Bạch Nhật Quỷ coi đó là một chuyện cơ mật vội vàng về báo cáo ngay với Đinh Hiệp Công.
Đúng là:
Gặp người thì nói cho hả giận,
Biết gian cũng chẳng trị được đâu.
Đinh Hiệp Công lúc ấy cũng hoang mang, hỏi Bạch Nhật Quỷ:
- Việc này làm thế nào cho ổn thỏa, tôi phải đến ngay ban giám khảo Mạc Công Tố để cầu cứu, còn lão Từ thì mong anh chú ý theo dõi hành động của hắn. Tôi sẽ hậu tạ chứ không dám quên ơn.
Bạch Nhật Quỷ gật đầu nhận lời.
Lại nói Từ Bằng Tử, vì thi cử không toại nguyện nên hôm ấy dậy muộn. Mặt trời lên cao mà không thấy Xuân Anh mang trà tới. Anh gọi không thấy thưa, bèn vào phòng Vương thị hỏi:
- Xuân Anh đi đâu rồi?
- Từ sáng đến giờ tôi cũng không thấy nó, anh gọi lại xem sao.
Hai người đi tìm khắp lượt, mà vẫn không thấy bóng dáng Xuân Anh đâu cả. Vương thị nói:
- Mấy hôm nay anh đánh chửi nó ghê quá, có thể nó theo người khác rồi.
- Nó ở với ta từ khi còn bé, nó biết đi đâu, hay nó về nhà mẹ. Tôi phải tới đó tìm xem sao.
Thế rồi Từ Bằng Tử thu xếp đến nhà mẹ đẻ Xuân Anh. Mẹ Xuân Anh nói:
- Không thấy nó về nhà, xưa nay nó có về một mình bao giờ đâu, nó không biết đường, lẽ nào hôm nay nó lại về một mình.
- Nếu nó không về, - Từ Bằng Tử nói, - thì tôi nhờ bà đi tìm giúp.
Mẹ nó nhận lời. Thế là Từ Bằng Tử về nhà nói với vợ:
- Xuân Anh không về nhà với mẹ đẻ.
- Lạ nhỉ, thế thì nó đi đâu?
Nói chưa dứt lời thì thấy bên ngoài có tiếng chửi rủa ầm ĩ:
- Đang lúc thanh bình thì có kẻ giết người giấu xác đi, hãy mau mau đem trả con cho ta. Nếu không ta bắt hai đứa chúng mày phải đền mạng.
Từ Bằng Tử đứng cửa nhìn ra, thấy bố mẹ Xuân Anh dẫn đến rất nhiều người, chửi bới đập phá lung tung. Từ Bằng Tử tức lộn ruột, bước ra chửi:
- Sao các người trắng trợn, ngang ngược như thế, con gái người ở cho ta đã nhiều năm, ta giết nó để làm gì? Tại sao các người ăn nói càn rỡ đến thế.
Cha Xuân Anh sấn tới tống Từ Bằng Tử, chửi:
- Mày là thằng càn rỡ, sống phải trả người, chết phải trả xác. Dù cho mày là ông gì chăng nữa mày cũng phải đền mạng.
Thấy tình thế gay go Từ Bằng Tử bèn lui vào , chỉ bọn người này nói:
- Không cần phải vội, ngày mai ta phải kiện bọn vô lại các người lên huyện cho các người biết tay.
Bọn người này thấy Từ Bằng Tử đi vào, họ đứng ngoài chửi bới, đập cửa thình thình một lúc lâu rồi về.
Phiền não sao bỗng dưng ập đến,
Khiến người ta phút chốc bạc đầu.
Dù anh có ngồi nhà, đóng cửa,
Tránh sao kẻ ném đất giấu tay.
 
Từ Bằng Tử phẫn uất nói với vợ:
- Bọn đáng ghét này, hãy chờ ta làm đơn đưa lên huyện, trị cho chúng một trận.
- Anh đang bực bội cũng không nên làm điều ác với họ làm gì, hãy dần dà tìm ra manh mối, lúc ấy sẽ bịt mồm họ lại.
Từ Bằng Tử chỉ nói thế thôi chứ hơi sức đâu mà làm chuyện ấy. Sáng hôm sau nghe thấy người trên huyện về gọi. Từ Bằng Tử ra thì thấy hai người mặc áo xanh hỏi:
- Các anh ở đâu tới?
- Chúng tôi là người do quan hình sảnh họ Mạc sai tới.
- Có việc gì thế, Từ Bằng Tử hỏi.
- Đây là việc có liên quan đến nhân mạng nên chúng tôi tới mời ông.
Nói xong họ đưa trát cho Từ Bằng TửTrên tờ trác ghi rõ bố mẹ Xuân Anh tố cáo Từ Bằng Tử giết người. Chưa xem hết anh tức đến run lên, miệng không nói nên lời. Một lát sau mới nói:
- Thưa các vị xin hỏi, sáng sớm mai tôi đến gặp quan lớn có được không?
Hai người ấy sấn đến túm áo nói:
- Làm gì mà được tự do như thế. Đây là việc liên quan đến nhân mạng, lại còn ra vẻ ông tướng. Ông lớn đang chờ tại sảnh đường, phải đi ngay.
Thế rồi họ lôi Từ Bằng Tử đi. Thấy mất thể diện, không còn cách nào Từ Bằng Tử đành phải đi theo. Về tới cửa dinh họ lập tức thưa:
- Bẩm ngài, đã bắt hung thủ tới.
Quan phủ họ Mạc lập tức lên công đường, nói:
- Phạm nhân quỳ xuống.
Từ Bằng Tử sao chịu được sự nhục nhã như thế. Anh cứ đứng sừng sững, mắt trừng trùng nhìn lên, giận sôi máu như muốn cãi nhau với quan phủ, quan phủ họ Mạc nói:
- Ngươi bảo ngươi là thư sinh trúng tuyển ư? Trước mắt ta ngươi có quỳ không? Ngươi phải biết rằng tính mạng có quan hệ đến trời không?
- Căn cứ vào đâu mà ngài bảo con giết người? Ngài là quan lớn sao ngài lại đổ riệt cho con?
Câu nói ấy đã động chạm tới lòng dạ thầm kín của quan phủ họ Mạc, quan phủ đùng đùng nổi giận, quát:
- Ngươi là tú tài ta không xử được ngươi ư?
Thế rồi ông gọi tay chân giam Từ Bằng Tử vào ngục ngày mai thẩm vấn. Lập tức bảo thư lại lập văn bản trình lên học đạo. Đúng lúc ấy học đạo tại đó xem cử nhân mới trực tiếp lễ tạ. Quan phủ họ Mạc lập tức cho lệnh vào gặp rồi nói thẳng với học đạo, quan học đạo phê ngay vào văn bản: " Cẩn xóa tên Từ Tất Ngộ ngay". Hôm sau quan phủ họ Mạc đưa Từ Bằng Tử ra thẩm vấn:
- Văn thư của học đài đang ở đây, quyền thi cử của ngươi đã bị tước đoạt, ngươi còn cứng đầu cứng cổ ư? - Rồi ông quát. - Đánh
Bọn nha lệ chẳng nói chẳng rằng, lôi Từ Bằng Tử đánh ba mươi gậy. Quan phủ họ Mạc nói:
- Nhân mạng chưa tìm ra, ta hạn cho ngươi trong ba tháng phải tìm ra Xuân Anh, nếu không thì ngươi phải đền mạng, ngươi đừng trách ta.
Thế rồi ông ta tống Từ Bằng Tử vào nhà giam, chẳng cho nói lấy nửa lời. Sai nha lôi Từ Bằng Tử vào nhà giam.
Đúng là:
Trời quang mây tạnh nghe sét đánh,
Trong chén tìm đâu thấy rắn bò.
Từ khi đỗ cử nhân, Đinh Hiệp Công ngày nào cũng tiệc tùng ăn uống. Lại được quan phủ họ Mạc ra sức giúp đỡ, hắn càng ngày càng lên mặt. Hắn tạ ơn Bạch Nhật Quỷ rất hậu, từ đó hắn chuẩn bị lên kinh thi Hội. Nghĩ rằng trên đường từ Nam Kinh tới Hoài Dương có mấy người quen biết làm quan, nhân thể hắn tạt vào bấu víu. Hắn nghĩ, bây giờ ta là cử nhân mới, tiếng tăm lừng lẫy, khác hẳn với tú tài trước đây, chắc chắn rằng họ phải cung phụng mình thoải mái. Lộ phí trên đường tới kinh đô không cần phải bỏ tiền túi nhà mình. Chuẩn bị xong xuôi, hắn chọn ngày tốt lên đường. Trên tấm biển hắn cho khắc hai chữ "thi hội", trên đèn lồng hắn cũng đề quan hàm mà khảo thí ban cho hắn. Hắn mang theo hơn mười người phục dịch, đều quần áo mới, cưỡi ngựa tốt. Trên đường dáng vẻ rất oai hùng. Đúng là:
Chưa thấy sắc xuân vườn Thượng Uyển,
Ngắm nhìn khách điếm mấy nhành hoa.
Họ tới Nam Kinh thì trú tại chùa Thừa ân. Đầu tiên hắn tới bái kiến Thị lang bộ Lại là người đồng khoa với cha hắn. Thị lang mừng rỡ, mời rượu rồi gởi mấy phong thư nói với các nha môn giúp đỡ hắn. Hắn càng trở nên ngạo mạn nói:
- Ngài Thị lang bộ Lại rất chiều chuộng nịnh nọt ta, chẳng qua ta là cử nhân nổi tiếng mà thôi.

Bởi thế hắn càng nghênh ngang ngạo nghễ đi lại trên đường phố Nam Kinh. Nay dạo chơi vườn hoa, mai yến ẩm, hết cô này đến cô khác. Người lớn trẻ con thành Nam Kinh ai mà chẳng biết cử nhân Đinh công tử là người thân quen của ngài Thị lang bộ Lại. Không ngờ con của quan chủ khảo đạo Giang Tây họ Kim, người Chiết Giang cũng đỗ cử nhân. Người cử nhân này cũng đi thi hội qua đây, cũng đến nhờ vả quan ngự sử, trước sau hắn đã mượn quan tới hơn một ngàn lạng mà vẫn chưa đi. Đang lúc quan ngự sử chưa biết làm thế nào để thoát khỏi sự phiền toái này thì bỗng nhiên nhận được một phong thư của ngài Kim ở Chiết Giang. Ngài ngự sử thành Nam Kinh bóc thư ra xem thì quả nhiên đúng là chữ của thầy mình. Cuối thư có viết thêm một dòng: "Thằng nhỏ nhà tôi cũng may mắn được đi thi hội, nó vội vàng đi thuyền tới Bắc Kinh rồi, không tới chào và đưa lá thư này cho ông được. Ra giêng cháu về sẽ đến thăm ông".
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 EmptySat May 03, 2014 4:49 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 20 (C)
Ngự sử ngớ người ra nghĩ: “Xem ra công tử Kim đến nhờ vả mình là công tử giả". Ông lập tức ra lệnh sai nha bắt ngay cử nhân giả ấy. Sai nha cầm lệnh tức tốc đi ngay. Tới nơi thì quả nhiên cử nhân Kim cũng ở chùa Thừa Ân, sai nha vào chùa hỏi:
- Cử nhân họ Kim người Chiết Giang trú ở phòng nào?
Người ấy nghe nhầm, nói:
- Cử nhân Đinh ở phòng thứ mười. Sai nha như hùm sói xông vào. Đúng lúc Đinh Hiệp Công ăn mặc chỉnh tề đi dự tiệc. Sai nha quát:
- Thằng này giả cử nhân để lừa người.
Đinh Hiệp Công ngẩng đầu lên nhìn, thì thấy năm bảy sai nha. Nghe họ nói là cử nhân giả, có tật giật mình, như sét đánh ngang tai, bụng định nói nhưng miệng cứng lại, tim đập thình thình. Mặt tái xanh tái nhợt, hai hàm răng run lập cập. Thấy thế sai nha càng hung hăng, lấy ngay một chiếc thừng . tròng ngay vào cổ. Nhũng người nhà đi theo cho rằng nhà họ Từ ở Nam Kinh kiện nên quan sai người tới bắt. Họ trốn chạy tán loạn. Nhũng sai nha này ghi lại những hành lý mang theo, giao cho hòa thượng, chờ quan phân giải, khóa tay Đinh Hiệp Công giải về nha môn. Đúng là:
Xưa nay giả dối đều tủi nhục,
Ngông cuồng vẫn là họa phong lưu.
Vàng ròng ngọc quý là vô giá,
Cú vọ làm sao sánh phượng hoàng.
Đinh Hiệp Công bị nhục, vì hắn sống ngông cuồng. Cho nên, những người quân tử có học vấn chân chính hoàn toàn không sống như thế. Những sai nha này định giải Đinh Hiệp Công qua đường, có ai đó hỏi, họ đều bảo đây là cử nhân giả, chứ họ cũng chẳng nói là họ Kim hay họ Đinh. Đinh Hiệp Công cứ đinh ninh đổ cho Từ Bằng Tử và cũng chẳng còn lòng dạ nào nghĩ tới giả hay thật. Giải tới nha môn, thì đúng vào lúc ngự sử đi dự tiệc, đành phải tống vào nhà tạm giam, ở đó chỉ có một manh chiếu cói, cũng chẳng có người nhà nào đi theo, chẳng ai đưa cơm cho nước, hắn đói hoa cả mắt, đành cởi chiếc áo ngoài đưa cho người đấu bếp cầm lấy mấy đồng mua cơm lót lòng. Cả đời hắn vênh vang ra vẻ ta đây, đã bao giờ chịu khổ thế này đâu. Rất may là hắn mang theo một người quản gia già tên là Lai Đắc, là người hầu hạ cha Đinh Hiệp Công. Người này thường đi theo ông tới nhiệm sở nên cũng có hiểu biết đôi chút. Lai Đắc nghĩ: "Việc này nếu do Từ Bằng Tử gây ra thì vị ngự sử họ Mạc làm quan giám trường của bản tỉnh không thể giữ được. Nếu Từ Bằng Tử tới tận Nam Kinh kiện thì vụ kiện này sẽ liên lụy tới nhiều người, ngài hình sảnh họ Mạc cũng không thể gỡ được. Nhưng tại sao ta đi lại đây nhiều mà không gặp một người quen nào? Việc này thật đáng ngờ, nhà không có ai vi phạm thì sợ gì. Hơn nữa gia chủ đã bắt đi rồi mình là kẻ hầu ngươi hạ thì trốn không nên. Thế rồi Lai Đắc đánh liều đi nghe ngóng xem sao. Ông ta đến cửa nha môn hỏi:
- Hôm kia ngài bắt Đinh cử nhân về việc gì thế?
Người ấy đáp: - Người bị bắt là cử nhân giả, họ Kim chứ không phải họ Đinh. Hắn giả làm công tử của ngài chủ khảo họ Kim, tới đây vay mượnÔng là ai hỏi làm gì?
- Tôi cũng là người ở địa phương này. - Lai Đắc nói. - Nghe thấy ông lớn bắt hắn, hắn cũng đã lừa tôi, tôi đến hỏi cho rõ, ngày mai đến ông lớn cáo giác để đòi lại.
- Té ra là như thế. - Người ấy nói. - Cử nhân giả này vẫn chưa xử, trong nội ngày nay phải gặp, nếu ông muốn tố cáo thì ngày mai đến hầu là được. Đúng là:
Người ta chẳng biết ai khôn dại, Chỉ cần nghe ngóng, nắm thời cơ.
Lai Đắc biết rõ sự thực, quay về, nghĩ: "Ta đoán không sai, may mà chưa gặp quan, nếu không thì bị nhục. Bây giờ ta chưa cần gặp ông ấy vội, mà phải tới ngay ngài Thị lang hộ Lại để bẩm với ngài việc này. Xin ngài lá thư đưa ông chủ ra khỏi nhà tạm giam, thì càng có thể diện". Thế là Lai Đắc tới. gặp quan Thị lang. Ông kinh ngạc, lập tức viết thư sai người đưa cho quan ngự sử. Nhận được thư, quan ngự sử thấy khó nghĩ, gọi ngay những sai nha đi bắt tới, đánh cho mỗi người bốn mươi gậy, quát: - Đồ cơm toi, cử nhân không bắt đi bắt cử nhân thật. Không sao thì thôi, nếu xảy ra rắc rối, thì tội sẽ đổ lên đầu chúng bay. Hãy mau mau thả ông ấy ra.
Ngự sử nghĩ: "Vị cử nhân mới này là con nhà gia thế, lại có chỗ dựa vững chắc là ngài Thị lang bộ Lại, nếu được thả ra, ông ta quyết chẳng chịu đâu. Việc không những sẽ làm cho ta mất thể diện, mà có khi lại làm trở ngại đến việc thăng quan tiến chức của ta chứ chẳng chơi. Ta phải nghĩ cách, trước hết hãy chặn đứng chuyện này". Một lát sau, ông "à" lên một tiếng phải rồi". Lập tức ông sai thư phòng viết mấy tờ cáo thị, nhanh chóng đưa tới các chùa, nói rằng, nếu như cho khách ở kiếm lời thì cả tăng ni đều phải cùm ba trăm cân trong ba tháng. Sau đó lại viết một bức thư gửi cho Thị lang bộ Lại biết việc này. Thị lang bộ lại thấy ông đã làm đến mức ấy, lại giữ thái độ kính trọng ông. Biết rằng việc đó là do ông ta, song nếu xảy ra rắc rối giữa hai nha môn thì thật là đáng sợ. Sau đó ông cho viết một tờ thông cáo cấm chỉ du khách, dán ngay trước cổng. Đúng là:
Không muốn mở cửa,
Mong thoát búa rìu.
Tuần hoàn báo ứng, Nhân quả, không sai.
Những sai nha này cùng đến mở cửa nhà tạm giam, làm ra vẻ khó dễ, cố ý trêu chọc, rồi thả Đinh Hiệp Công ra. Tuy được thả ra, song Đinh Hiệp Công cũng không biết nổi oan ức này do đâu, hắn cúi đầu buồn bã lủi thủi đi về chỗ ở. Trên đường đi gặp ngay Lai Đắc. Lai Đắc hỏi:
- Tướng công, ông được ra rồi à?
- Ông đi đâu về? - Đinh Hiệp Công hỏi.
Lai Đắc kể hết đầu đuôi việc bắt lầm người, mình dò la ra việc ấy rồi đến nói cho ngài Thị lang bộ Lại biết, được ngài viết thư cho quan Ngự sử mới xong việc. Đinh Hiệp Công nói:
- Việc này làm ta rất tức giận, về tới chỗ ở thu xếp xong xuôi sẽ bàn bạc tìm cách, tới ngài Thị lang bộ Lại lần nữa để ngài trị cho quan Ngự sử một trận.
Hai người về tới chùa Thừa Ân, hòa thượng đã khuân đồ đạc hành lý của họ ra ngoài rồi đóng cửa lại và cũng không biết họ đi đâu. Ngoài cửa chùa dán một tờ cáo thị đuổi khách. Biết không thể đừng lại đây được nữa, họ cho một người giữ hành lý rồi cùng Lai Đắc tới dinh quan Thị lang bộ Lại, tới nơi thì thấy trước cửa cũng dán một tờ thông cáo đuổi khách. Họ nói với người canh cửa, người canh cửa không dám vào bẩm. Lai Đắc bước tới gõ cửa, Đinh Hiệp Công nói:
- Làm thế thật là bất nhã, không nên làm ông giật mình. Một cử nhân mới tinh chịu nhục, thì nhất định là con đường thăng tiến sẽ có chút long đong. Thật là điềm chẳng lành, cũng chẳng còn mặt mũi nào nghênh ngang tại Nam kinh nữa, hãy mau mau trở về thu xếp hành lý lên đường, thi hội xong sẽ tính chuyện.
Lai Đắc nói:
- Ông nói thế là phải.
Đúng là:
Tự quét tuyết trước cửa
Đừng cố di dò dầy
Sau này chớ sai sót Đã đi đừng vấn vương.
Ngay hôm ấy họ thu xếp hành lý, qua sông Dương Tử tới Phố Khẩu, đáp xe ngựa đi Bắc kinh. Chỉ có Đinh Hiệp Công là chẳng vui vẻ gì, hắn nghĩ: "Ta cho rằng Từ Bằng Tử trả thù, nếu quả đúng như vậy thì bị nhục như thế cũng không phải là quá đáng. Nhưng không biết vì sao lại bị vu cáo? Qua việc này xem ra thì nhất định ta không thể không đỗ tiến sĩ. Lần vào kinh này, dù có lên trời hay xuống biển ta cũng phải đỗ tiến sĩ để khỏi bị kẻ khác đè nén, rồi sau đó trả thù cũng không muộn". Từ đó, trên đường đi hắn chỉ nghĩ mưu kế để đỗ tiến sĩ chẳng mấy chốc đã tới Bắc Kinh. Tìm được chỗ ở, hắn đi suốt ngày, la cà hết nơi này tới nơi khác, gặp gỡ khách khứa, vui chơi yến ẩm, chẳng lúc nào nhòm ngó đến sách vở. Ngờ đâu hắn là người giảo hoạt khôn khéo, luồn lọt mọi ngóc ngách, hơn nữa về trường ốc hắn lại thông thuộc, không bị người ta lừa dối. Rồi tự nhiên hắn lọt qua tam trường, không ngờ đến ngày yết bảng hắn lại đỗ tiến sĩ vào loại cuối bảng. Tin đỗ báo về nơi hắn trọ, như thế là hắn đã toại nguyện lắm rồi. Hắn bèn viết thư về nhà báo tin. Nhà hắn ồn ào náo nhiệt hẳn lên. Tới khi thi Đình hắn lại đỗ tam giáp, thuộc hàng tri huyện. Tại Bắc Kinh, ngày nào hắn cũng ngựa xe võng lọng, mặt mày hớn hở tới Quan chính nha môn(1) và ở ngay Bắc Kinh chờ tuyển dụng. Đúng là: Một phút lên tận mây xanh,
Mấy ai vui tới bạc đầu.
 
(1) Quan chính nha môn: cơ quan xem xét chính tích những người đỗ. (ND)
Lại nói Từ Bằng Tử bị quan tri phủ họ Mạc khống chế, không sao mở miệng, con đường công danh cũng bị chặn đứng nằm trong nhà lao chịu hình phạt buộc anh phải đền mạng Xuân Anh. Dưới trướng người khác buộc anh phải cúi đầu. Vương thị phải cầm áo, bán vòng, ngày ngày lo cơm nước cho chồng. Tri phủ họ Mạc tác oai tác quái, ai dám đến nơi khác kêu oan, anh đành chịu chờ chết. Bị giam trong ngục ròng rã ba năm trời, đến khi tri phủ họ Mạc được thăng quan, đi nhậm chức ở nơi khác, Từ Bằng Tử mới gửi thư cho vợ, bảo vợ bán nhà nhờ một người có danh vọng lớn cứu mình. Vương thị vội vàng viết tờ thông báo bán nhà, rồi dán ngay trước cửa. Rất may ở đó có một ông quan đã nghỉ hưu, vừa thôi giữ chức tuần phủ Bắc Trực. Người mới về nhậm chức tri phủ lại là học trò của ông. Vương thị nhờ người nói với ông. Ông bảo:
- Đã có nhà thì đừng bán cho người khác, hiện ta cũng muốn mua nhà để cho các công tử có nơi xem sách. Tôi sẽ bảo môi giới tính toán tiền, rồi chị đưa số tiền ấy cho tôi để tôi đi nói giúp, tôi đảm bảo chắc chắn anh ấy sẽ được tha.
Vương thị vô cùng mừng rỡ, dọn ra ở gian nhà còn để không phía sau. Rồi đưa tờ văn tự cho viên quan ấy. Thế rồi ông lập tức gửi thư cho quan tri phủ. Xem thư xong, quan tri phủ thấy vụ án này không có căn cứ, nghe theo lời thầy, tri phủ liền thả Từ Bằng Tử ra khỏi nhà giam. Đúng là:
Trọng Ni làm lữ khách, Văn Vương phải trốn đời.
Số phận đã qua rồi,
Uống thuốc bèn khỏi bệnh. 
Từ Bằng Tử ra khỏi nhà giam, hai vợ chồng ôm nhau òa lên khóc. Từ Bằng Tử nói:
- Không biết đứa ở trốn đâu để ta phải khổ mất năm trời.
Kiếp trước mình với lão Mạc có thù oán gì không mà lão đã nói với cha mẹ Xuân Anh bắt ta phải đền mạng. Nếu lão không thăng quan, thì lão bắt ta chết rũ trong nhà tù.
- Đời bây giờ kể gì đến đạo lý. - Vương thị nói. - Thôi thì anh dẹp bỏ cái tính tự tôn của anh đi để mà sống thôi.
Từ Bằng Tử bị chặn đứng con đường tiến thân mà cũng chẳng muốn sinh sự, song anh không sao dứt bỏ được bản lĩnh của mình. Anh đành bàn với vợ mở một lớp dạy trẻ kiếm sống. Thế rồi ông nói với ông già hàng xóm, ông nói:
- Lệ mới ngày nay khác rồi, muốn tìm được học trò thì trước hết hãy chuẩn bị một ít giấy mời, đi mời những ông bố đến bàn thì mới được. Tôi sẽ đi mời giúp, nhưng anh chị cũng chuẩn bị ít tiền để đãi khách.
- Ông nói phải đấy. - Từ Bằng Tử nói.
Thế rồi anh bàn với vợ bán chiếc áo khoác vợ đang mặc, được hai đồng mua một ít rượu và thức nhắm, rồi nhờ ông già hàng xóm đi mời giúp. Quả nhiên, vừa mời đã có mười bảy mười tám ông bố đến. Người thì bán rau, áo cũn cỡn, đòn gánh tre đè nát hai vai; người thì làm ruộng, chân dính đầy bùn, người làm nghề bói toán, ngồi vuốt râu mồm thở ra thối hoắc, người thì làm nghề thầy thuốc, chẳng biết phân biệt thương truật, sinh trần (hai vị thuốc bắc), người thì làm nghề mối lái thì nói chuyện dông dài nhà nọ nhà kia, người đốt than thì mặt mũi chân tay nhem nhuốc, người làm bếp khắp người sực nức mùi hành, người làm lính lệ thì ngồi tót lên ghế cao, người làm lý trưởng thì khăn áo chỉnh tề.
Mấy vị ấy uống rượu xong bằng lòng cho mở lớp, tất cả có mười bảy mười tám học trò, lương thầy chỉ được mười hai lạng, họ sẽ thay nhau nuôi cơm. Anh chọn ngày tốt mở lớp. Hôm khai trương, lớn bé có mười một mười hai đứa. Anh lại nhờ ông già hàng xóm đi mời những học sinh vắng mặt. Khi trở về ông nói, những nhà này cơm chẳng có mà ăn lấy đâu ra tiền trả thầy. Người thì bảo là con ốm, kẻ lại bảo là con còn nhỏ, đường xa không đến được. Tính ra lương chỉ độ bảy tám lạng. Không còn cách nào khác, Từ Bằng Tử đành phải dạy.
Trong lớp, chỗ này dạy "Thiên tha huyền hoàng", chỗ kia hỏi "Triệu Tiền Tôn Lý". Đứa lớn thì mang theo gói đất màu đỏ đứa bé tập viết thì khóc vì không có giấy mực. Thay nhau nuôi thầy thì cơm trên là của cải, dưới là tỏi hành, hễ nhấc roi lên là chúng kêu cha kêu mẹ. Suốt ngày anh rát cổ bỏng họng vì lũ học trò.
Từ Bằng Tử dạy được hai tháng, bảo họ chi tiền lương cho vợ thầy mua gạo, thì mọi người đều khất đến mùa. Khi họ gặt về lại cho người đi đòi, thì có người mang bột mì, có người mang dưa hoặc rau đến rồi trừ vào tiền lương của thầy, đi mòn cả ngõ mà cũng chỉ thu được ít tiền rách nát. Bước sang tháng sáu học sinh bỏ học quá nửa, họ nói là trời làm đại hạn, nhà không có ăn lấy tiền đâu mà thuê thầy. Từ Bằng Tử dạy bốn năm đứa trẻ lớn nhỏ, chân tay đầy bùn đất thì sao mà sống nổi, anh đành dứt khoát thôi không dạy nữa. Từ đó cuộc sống Từ Bằng Tử càng ngày càng khốn đốn.
Cơm lạnh canh suông bữa có bữa không.
Khăn rách giày thủng, nữa kín nữa hở
Mặt bủng da chì,
Chân tay ghét gúa.
Gặp người chẳng nói chẳng rằng.
Nhìn bóng, thở dài than ngắn. Ai bảo là tú tài bụng chữ hàng bồ
Ai bảo đã từng phong lưu công tử
Từ Bằng Tử như người mất hồn, chẳng ai thèm để ý tới. Một hôm anh lủi thủi đi trên đường, bỗng có một người hỏi:
- Từ tiên sinh đi đâu thế? Từ Bằng Tử ngước nhìn thì đó là Thúc Tự, người Vệ Lý trước đây cũng có con đến học anh. Bằng nói:
- Chẳng có việc gì đi quanh quẩn cho đỡ buồn.
- Sau khi thôi không dạy học, anh đã tìm việc gì làm chưa?
- Chưa.
- Có một lớp học xa, không biết anh có chịu không? - Thế thì tốt quá kể chi xa hay gần.
- Nếu chịu đi xa thì tôi sẽ nói giúp.
Chỉ huy Vệ Lý áp tải lương vào Kinh. Muốn tìm một người giúp việc. Song nha môn này không có việc gì ghê gớm lắm, cũng không cần người học vấn uyên thâm, chỉ cần người đọc thông viết thạo để ghi sổ sách. Mỗi năm trả lương ba mươi lạng, tạm ứng trước một nửa, số còn lại tới nơi sẽ trả nốt. Nếu anh chịu đi thì tôi đảm bảo với anh chắc chắn là được.
- Thế thì tốt quá. - Từ Bằng Tử nói. - Phiền anh giúp cho tôi xin hậu tạ.
- Tôi tới đó nói rồi sẽ báo lại cho anh. - Người ấy nói.
Vệ quan vốn đã biết tiếng Từ Bằng Tử, nay có người đến nói ông rất vui mừng, lập tức sai người đi mời Từ Bằng Tử để thương lượng. Ông đưa trước cho Từ Bằng Tử nửa số tiền lương mang về. Hôm sau lại mời anh tới uống rượu hẹn ngày lên thuyền. Từ Bằng Tử vui mừng khôn xiết, số bạc ấy anh đưa cho Thúc Tự ba lạng để tạ ơn, và mua hai bộ quần áo vải, còn bao nhiêu đưa hết cho vợ ở nhà chi dùng. Từ Bằng Tử lên thuyền cùng họ reo hò nhổ neo. Đúng là:
Nhà nghèo chưa sạch nợ,
Được nhà giàu đãi cơm.
Từ Bằng Tử lên thuyền lương, được ăn uống no đủ. Trên thuyền vô sự, anh thầm nghĩ: "Quan áp tải lương có việc thì đi hết việc thì về, ta cùng ông tới Bắc Kinh, khi trở về có thể ông không dùng mình nữa. Đến đấy nếu có cơ hội mình nhờ một người nào đó tiến cử làm người giúp việc cho một viên quan to nào đó thì tốt biết mấy. Chưa biết chừng người quen ở Chiết Giang nhiều, mình ra sức giúp việc cho họ, có thể sống được thế thì còn lo nghĩ gì nữa". Càng nghĩ anh càng thấy phấn chấn. Chưa đầy một tháng thì thuyền đến Lâm Thanh. Đây là một bến cảng lớn, không thể không thắp hương cúng phúc thần. Viên quan vận lương ấy thưởng một bữa rượu, mọi người vui vẻ ăn uống thỏa thích. Vì quá chén say mèm, quên không tắt đèn, lửa bén vào mui thuyền mà không ai hay hết, đến khi lửa bốc to nổ lốp đốp lan ra khắp thuyền, lúc ấy mọi người mới chợt tỉnh, kêu gào kinh thiên động địa. Từ Bằng Tử tỉnh dậy thì lửa cháy đến tận chỗ nằm, anh vùng dậy, quáng quàng vơ vội quần áo nhảy phốc lên bờ rồi mặc vào. Gió to lửa cháy càng dữ dội:
Không phải trận ác chiến Xích Bích,
Thì cũng là rồng lửa bao vây.
Dòng sông lửa bốc cao đỏ rực,
Chẳng khác nào ma quỷ tung hoành.
Trên bờ, Từ Bằng Tử chỉ biết đấm ngực dậm chân. Thuyền lương chở nặng, trong lúc khẩn cấp chẳng biết làm sao mà đẩy đi được chỉ cứu được người lên bờ là may, ai còn nghĩ tới vớt lương thực nữa. Hôm sau quan đảm trách vận chuyển lương thực làm một tờ trình, quan địa phương bắt giữ, chờ chiếu chỉ nhà vua. Lúc ấy ngay đến quan cũng chẳng lo nổi mình thì làm sao mà quan tâm đến Từ Bằng Tử được. Không có một xu dính túi Từ Bằng Tử sống sao đây. Lang thang khắp nơi, đến lúc tới miếu Đông Nhạc thì anh thấy người nhờ viết sớ rất đông, anh nghĩ: "Việc này ta cũng làm được". Bèn tới nói với đạo sĩ:
- Tôi là người nơi xa tới, chẳng may gặp nạn không chỗ nương thân, muốn nhờ thầy cho thuê một cái bàn viết sớ, kiếm ít tiền sống qua ngày, mong thầy rộng lòng thương!
- Sao không được. - Đạo sĩ nói. - Chỉ cần anh viết rõ ràng sạch sẽ, một ngày cũng kiếm được một trăm đồng.
Từ Bằng Tử bèn mượn một chiếc bàn, vừa đặt bút nghiên đã có người mang sớ đến nhờ viết. Hôm ấy anh kiếm được chín mươi đồng. Đúng là:
Chẳng như khất thực cam chui háng,

Lại giống thổi tiêu lẩn đám đông.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 EmptySat May 03, 2014 5:33 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 20 (D)
Từ Bằng Tử là người có học, chữ viết ngay ngắn rõ ràng. Những người cúng lễ cầu mong điều gì anh viết hết vào sớ , bởi thế mọi người đều muốn anh viết giúp. Ngay đạo sĩ trong miếu có sớ gì cũng nhờ, anh chỉ vung bút đến nhoáng một cái xong văn vẻ đọc lên kêu như chuông. Bởi thế cuộc sống cũng không đến nỗi buồn tẻ. Song việc làm ở miếu này anh không chủ động được, có ngày làm không kịp, có ngày lại chơi dài. Những ngày như thế buồn không sao chịu nổi. Đạo sĩ nói:
- Việc này không có thường xuyên, thấy anh vốn học khá cao, tôi định tiến cử anh, liệu anh có muốn đi không?
- Việc gì thế?
- Ở đây có một ông quan họ Lư, là thí chủ của tôi, hiện giữ chức Hàn lâm viện chiêm sự phủ. Hai năm trước ông có nói với tôi, trong thư phòng con trai cả của ông cần một người đọc thông viết thạo. Công sáu lạng một năm. Tôi vẫn chưa tìm được nếu anh muốn ở với ông lâu dài thì dù không có tiền ông ấy cũng gả đứa hầu cho.
- Nói như thế tức là làm quản gia cho ông ấy ư?
Đạo sĩ nghĩ một lát rồi trả lời:
- Không phải là quản gia mà còn hơn quản gia rất nhiều.
- Như thế thì không được. - Từ Bằng Tử nói. - Quản gia phải quỳ lạy người, xưa nay tôi có quen quỳ đâu.
- Ông ấy làm quan to, biết bao người làm quan còn phải quỳ lạy ông, thế mà anh còn sĩ diện. Được rồi để tôi thử nói với ông ấy, nếu ông ấy không bắt anh cúi đầu lạy thì anh có chịu đi không?
- Thầy thử đi xem sao.
Đạo sĩ vui vẻ ra đi. Một lát sao đạo sĩ trở về nói:
- Được được rồi, thư phòng ông lớn đang cần người như thế. Tôi đã nói với ông lớn rồi, ngài bảo rằng người Man ở miền Nam không bắt nó cúi đầu cũng được và bảo hãy mau mau dẫn nó tới.
Đang lúc bơ vơ, Từ Bằng Tử chẳng dám đòi hỏi chi nhiều, đành theo đạo sĩ. Đúng là:
Nguyễn Sinh đường cùng thường rơi lệ,
Lý Bố, gia nô phải cạo đầu,
Kìa xem Vệ Hoắc phong hầu bởi
Tạm nhún mình nên đấng trượng phu.
Ngay ngày hôm ấy đạo sĩ dẫn Từ Bằng Tử tới gặp Lư Hàn lâm. Từ Bằng Tử đứng sang một bên. Thấy anh nhã nhặn, ngài Hàn lâm rất vui, rồi hỏi họ tên. Anh dùng tự làm tên, nói:
- Thưa ngài con là Từ Bằng.
Hàn Lâm cho người dẫn xuống thư phòng, gặp người con trai cả của ngài. Lực học của Lư công tử rất xoàng, song do dựa vào danh vọng của cha mà được vào trường. Trong nhà vẫn mời thầy về dạy, người thầy họ Trần ấy vốn là một tú tài được phát học bổng.
Từ Bằng Tử tới, công tử giao cho anh chép một số bài. Từ Bằng Tử chép rất cẩn thận rồi trao lại cho công tử. Thấy chữ viết đẹp chân phương, công tử rất thích, nên nhìn anh bằng con mắt khác. Mấy hôm sau, công tử lại đưa cho anh mấy bài văn mà hàng ngày công tử làm, bảo Bằng Tử chép để gửi cho cha xem. Bằng Tử vừa viết vừa xem, trong đó thấy mấy câu chưa được, anh không kìm nổi, rồi hứng lên chữa liều và cứ thế chép vào đưa cho công tử. Công tử đọc lại, thấy chỗ sửa bèn gọi Bằng Tử tới, nói:
- Mấy câu này không đúng nguyên văn của ta.
- Tôi bỗng chốc bạo gan, thấy mấy câu ấy bèn sửa bừa.
- Chỗ sửa rất hay, xem ra anh cũng là người biết làm văn.
- Tôi cũng biết được chút ít.
- Thế thì tốt lắm, hôm qua bác Vương Niên phát hai đề mục của trường, tôi ngại làm, anh thử làm xem sao.
Bằng Tử nhận lời, công tử mang ngay tới, chưa đầy một khắc Bằng Tử đã làm xong đưa ngay cho công tử. Tuy không hiểu hết hay dỡ, công tử coi như bài của mình, bảo Bằng Tử chép lại sạch sẽ rồi đưa ngay cho bác Vương Niên. Vương Niên vốn là một tiến sĩ kỳ cựu, có con mắt tinh đời. Xem hai bài văn của công tử thì rất thích. Khuyên như đổ son, rồi đưa lại cho công tử, lại viết riêng một lá thư cho ngài Hàn Lâm, hết lời khen ngợi bài văn của công tử. Lư Hàm Lâm cũng cho là ông chỉ khen lấy lòng mà thôi, nên cũng không xem lại bài văn ấy bẵng đi không nhắc tới nữa. Đúng là:
Năm năm không thấy vùng biển rộng
Sao biết văn chương khóc gió thu.
Lư công tử thực lòng quan tâm đến Từ Bằng Tử, đích thân may áo cho anh. Gặp khi lễ tết lại thưởng cho anh rất hậu. Bằng Tử được nơi yên thân, lại có sách, anh đọc say mê quên cả ngày tháng. Một hôm Trần tiên sinh không ở trường, công tử được về nhà nghỉ đêm, cùng ăn cơm tối với mẹ. Công tử nói:
- Từ Bằng Tử cũng là người có học, văn hay chữ tốt. Anh người Man này không phải là người thấp hèn, hôm nay thầy không ở đây, bảo người mang đến ít rượu và thức ăn thưởng cho anh ấy.
- Hóa ra là như thế. - Người mẹ nói.
Thế rồi bà gọi người hầu của bà là Phi Hồng:
- Ngươi hãy mang hai bát thức ăn và một bình rượu tới thư phòng cho Từ Bằng.
Phi Hồng vâng lời mang đi ngay, cô nghĩ: "Không biết Từ Bằng là người thế nào mà công tử khen anh ấy, ta phải tới xem mặt mũi anh ta".
Tới thư phòng, Phi Hồng gọi:
- Từ Bằng, Từ Bằng.
Từ Bằng đáp lời. Phi Hồng nói:
- Tướng công bảo đưa cho anh ít rượu và thức ăn, anh ra mà nhận.
Từ Bằng vội vàng ra đỡ lấy. Phi Hồng nghĩ bụng. Hóa ra Từ Bằng cũng đẹp trai và cũng ra dáng thư sinh, không giống như một số người đầu óc đần độn ở nhà này. Ta nghĩ mấy người đầy tớ trong nhà bà đều lấy những anh chồng ngu ngốc, nếu ta lấy được người như Từ Bằng thì chết cũng toại nguyện. Chi bằng ta cứ lôi kéo anh ta, bảo anh ta nói với tướng công tình nguyện lấy ta. Tướng công yêu quý anh ta, lo việc này thì chắc chắn là thành. Ý đã quyết chỉ chờ cơ hội là làm. Đúng là:
Mắt xanh đấng văn nhân chưa gặp,
Đã lọt vào gương khách quần hồng.
Một hôm Phi Hồng biết được công tử tới nhà bác Vương Niên uống rượu. Phi Hồng tìm một đôi nhẫn và một chiếc móc tai gói vào chiếc khăn là. Cô vuốt tóc mai chải lại đầu rồi tới thư phòng. Thấy cô:
Búi tóc đen nhánh.
Mặt thoa phấn hồng.
Mặc áo xanh, quần vải áo nâu không sao sánh,
Lưng thắt giải là, chẳng khác nào liễu xuân mơn mởn thướt tha.
Đôi chân thon thả, giày hồng cao gót,
Cánh tay trắng ngần, áo lụa thêu hoa.
Tuy chẳng phải giai nhân lầu son gác tía,
Cũng coi như gái trinh khuê các trên đời.
Phi Hồng rón rén bước tới thư phòng, thấy Bằng Tử đang ngồi viết. Bằng Tử hỏi:
- Chị Phi Hồng tới làm gì đó?
- Tướng công không có ở nhà, em đến chơi một chút.
Thế rồi cô chống hai tay xuống cạnh bàn Bằng Tử, xem anh viết, cô nói:
- Chữ anh viết đẹp quá, không như tướng công, chữ to chữ nhỏ xiêu xiêu vẹo vẹo trách nào tướng công thích anh. - Rồi cô lại nói tiếp. - Hôm nay tướng công đến nhà họ Vương uống rượu, bao giờ mới về?
- Bao giờ yến tiệc xong sẽ về, cũng phải đến tối đấy.
- Tướng công không có ở nhà, tôi tới làm bạn với anh có được không?
- Tôi không dám phiền chị.
Phi Hồng thấy trên giá có chậu hoa lan tứ quý đang nở rộ, cô đi tới ngắt hai bông. Cài một bông len đầu, còn bông kia cô mang tới cài lên búi tóc Bằng Tử, nói:
- Hoa rất thơm.
- Đừng ngắt bừa. - Bằng Tử nói. - Sợ tướng công về sẽ trách mắng.
- Anh cứ yên tâm, có rượu mà không uống là chàng ngốc, có hoa mà không hái là anh đần.
Thấy Bằng Tử cắm cúi viết, không để ý đến cô, cô bước tới ôm lấy vai Bằng Tử nói:
- Anh không sợ lạnh ư, tối qua tướng công nói với bà là muốn mua vải may cho anh một chiếc áo bông mặc, anh là anh Man mà gặp vận may.
- Đây là ân nghĩa của tướng công, có gì mà nói vận may với không may.
- Anh Từ này. - Phi Hồng nói. - Em có cái này tặng anh, anh hãy nhận đi.
Bằng Tử cầm lấy xem, thấy có hai chiếc nhẫn và một chiếc móc tai, đoạn lại đặt lên bàn như cũ, nói:
- Chị cầm lấy, tôi không dám nhận, tôi cũng không có chỗ để sợ rằng mẹ tướng công tìm thấy thì quả là phiền phức.
- Đây là của em, anh sợ gì. Nếu anh nói với tướng công thì tướng công là một ông chủ tốt. Hơn nữa, mấy người làm thuê trong phòng của bà lớn chẳng ai không tắt mắt. Song em không như họ nên bà lớn rất yêu quý em. Anh Từ này! Chẳng giấu gì anh, anh có chuyện gì cứ nói với em, em sẽ nói với bà lớn cho.
- Tôi chẳng có chuyện gì dám phiền tới bà lớn cả.
- Vật nhỏ mọn này anh không dám nhận lại còn trách em.
Phi Hồng có ý bước lại gần cầm lấy gói tặng phẩm ấy, rồi ôm chầm lấy Bằng Tử, nhét bừa vào tay áo anh, rồi thừa cơ nắn anh mấy cái. Từ Bằng Tử ngượng quá, đành phải bỏ đi.
Anh nói:
- Chị nên đứng đắn một chút, ông lớn mà biết được thì ông ấy sẽ trị tội, lúc ấy thật là bất tiện.
Thấy Bằng Tử không cắn câu. Phi Hồng nằm ềnh xuống giường khe khẽ rên và hát gợi tình. Thấy cô ta cứ bám chằng chằng, không cách nào đuổi đi được, Từ Bằng Tử sợ có người trông thấy bèn cố ý nói:
- Suýt nữa thì quên mất, tướng công bảo tôi ra cửa hiệu lấy sách. Tôi phải đi đây, chị Phi Hồng ở lại đây một mình hay thế nào cho tôi khóa cửa. Thấy Từ Bằng không mặn mà gì, Phi Hồng đành phải bò dậy, cầm lấy gói tặng vật giấu vào tay áo, nói:
- Đồ ngốc, người ta tặng mà không lấy.
Rồi bỏ đi. Đúng là:
Thấy gái chẳng màn, Liễu Hạ Huệ, Thấy của không tham, Dương Tứ Tri.
Hoa rơi nước chảy bặt tin tức,
Trăng sáng trời trong biết thuỷ chung.
Lại nói, một hôm án sát Viện tới muốn biết phong tục ở đây liền ra đề, trường học lĩnh đề đưa cho Lư công tử làm. Từ Bằng Tử lại làm giúp, thấy bài của công tử được mọi người khen, bèn cho điểm cao nhất. Rồi quan án trả bài và chuẩn bị lễ vật tới thăm Lư Hàn lâm. Quan hết lời khen ngợi bài văn của công tử. Lư Hàn lâm nói:
- Thằng bé được ngài khen cứ ngỡ là thật, thực ra ngài khen quá lời . Hơn nữa ngài là bạn đồng khoa, xin mong ngài cứ dạy bảo thẳng mới phải.
- Không phải là tôi khen lấy lòng đâu. - Quan án nói. - Quả là cậu ấy là người xuất chúng ở miền Bắc, sau này tài năng sẽ nở rộ, e rằng tôi chưa thấy hết được cái hay trong bài văn, nên ca ngợi chưa thỏa đáng, xin ngài hãy thử xem.
Thế rồi ông gọi người đưa tập bài tới, đích thân ngài giở ra hai bài đưa cho Lư Hàn lâm. Lư Hàn lâm xem, quả nhiên bài này khác hẳn ngày thường. Ông rất ngạc nhiên, song không dám tự khen con mình, rồi nói:
- Cũng bình thường thôi, sao lại được ngài quá khen như thế?
Ngài quan án từ biệt ra về. Từ đó về sau thường là bài làm hàng tháng hay bài thi, hay những bài các quan ra để xem xét phong tục, thì bài nào của Lư công tử cũng được xếp thứ nhất. Công tử và Lư Hàn lâm rất vui, thầy Trần cũng vui lây. Cả hai người đều nói là công tử chăm chỉ dùi mài, nên văn chương tiến rất nhanh, chẳng ai ngờ tới một nguyên nhân khác.
Đàn sáo hòa nhau ai phân biệt,
Chép, giếc trong ao chẳng khác nhau.
Dạo ấy quan Đề học đạo đến mở kỳ thi cuối năm, Lư Hàn lâm muốn con đi thi liền mở tiệc tiễn chân cực kỳ long trọng. Khi công tử đi thi, Lư Hàn lâm cho mang theo rất nhiều tiền và cử thầy Trần đi theo làm bạn đồng hành. Thấy Trần mặt mày rạng rỡ, xoa tay nói như đinh đóng cột.
- Công tử đi thi lần này nhất định đỗ thủ khoa là cái chắc.
Lư Hàn lâm cũng tin như thế, song lẽ nào lại nói "chưa chắc", chỉ biết tạ ơn công lao thầy dạy dỗ. Nào ngờ, thi xong mấy ngày thì yết bảng. Lư công tử xếp thứ năm. Mà đứng thứ năm cũng là do quan Đề học nể công tử là con trai của Lư Hàn lâm. Nếu không thì xếp thứ sáu cũng chưa biết chừng. Lư Hàn lâm nổi giận, bảo mang bài cho ông xem. ông nói:
- Bài văn thế này, xếp thứ năm cũng chẳng oan đâu. Tại sao hôm ấy lại làm như thế?
- Hôm ấy con không bình tâm. - Công tử nói. - nên làm ào đi cho xong thôi.
- Lẽ nào lại thế? - Lư Hàn lâm nói. - Lòng không thư thái hay là bế tắc, văn chương không bay bổng được, khác nhau một trời một vực như thế. Việc này ta không tin. Đúng là:
Xưa nay văn chương có bằng chứng
Chớ vội đua nhau quá ngợi khen.
Lư Hàn lâm rất nghi hoặc, tới thư phòng nói với thầy Trần:
- Bài thi hôm trước của cháu xếp thứ năm là đáng rồi. Chỉ có điều so với mấy bài làm về phong tục không biết ở đâu ra mà khác nhau một trời một vực như thế.
- Chính điều ấy. - Thầy Trần nói. - Tôi cũng không hiểu được. Tôi có một kế, cứ đến ngày ba, sáu, chín là ngày làm văn, ngày mai là ngày làm văn, trưa mai phiền ngài tới xem công tử nộp bài. Thì hay dở tốt xấu biết ngay.
Ngài Hàn lâm cho thế là phải lắm. Sáng hôm sau, không chờ đến trưa ông đã tới thư phòng, xem bài của công tử thì thấy bài văn viết rất hay. Lư Hàn lâm nói:
- Văn chương thế này thì còn nói gì nữa, sao bài thi vừa qua lại không làm được như thế?
- Văn thì đúng là có lúc hay lúc dở, công tử nói rằng hôm ấy không bình tĩnh, có thể là như thế thật chứ như hai bài hôm nay thì quả là công tử thiên tư đĩnh ngộ, học một biết mười, nên sẽ tiến rất nhanh. Đúng là người đang gặp vận, nếu thi chắc chắn sẽ xuất sắc và quả là tôi cũng được thơm lây. Thiết nghĩ, hai bài hôm nay mà vẫn như bài thi vừa qua thì không những ngài mất hứng, mà tôi cũng không còn được ngồi ở đây nữa.
Lư Hàn lâm tuy gật đầu, nhưng ngài vẫn hồ nghi. Song một người làm quan như ngài bao giờ cũng tinh anh hơn người, ngài nghĩ: "Đúng rồi", hôm sau ngài ngồi dưới lầu bảo người đi gọi công tử tới. Khi công tử đến ngài nói:
- Trên lầu có đề bài, con hãy lên đó làm một bài văn để ta xem.
Công tử không dám trái lời, lập tức lên lầu. Lư Hàn lâm lập tức khóa cửa lại rồi cầm chìa khóa mang đi. Đến trưa ông lại đích thân mở cửa cho đứa hầu mang cơm lên khi nó xuống lầu, ông lại khóa cửa như cũ. Đúng là:
Không phải lấy gai rào lỗ hổng,
Mà dùng gia pháp chỉnh trường quy.
Công tử lên lầu, thấy trên đó chẳng có gì, chỉ thấy bút nghiên, mấy tờ giấy và một cuốn Tứ Thư với một đề bài. Công tử nghĩ: "Lần này ông đã ra tay". Không dám làm sai. Đành phải cố công vắt óc suy nghĩ, làm bài văn suốt từ sáng sớm mãi cho tới chiều tối, lại còn phải đốt nến lên mới viết xong, rồi trực tiếp giao bài. Lư Hàn lâm xem, nói:
- Bài văn này so với bài thi cũng chỉ thế thôi. - Rồi ông mỉm cười gật gật đầu nói tiếp. - Bài văn này so với mấy bài trước đây thì đúng là chép của ai rồi, không còn nghi ngờ gì nữa, từ nay trở đi con cũng không cần phải học nữa chỉ học sao chép thôi.
Công tử biết sai, cho rằng cha mình đã biết chép bài của Từ Bằng, bèn khai thật:
- Mấy bài văn trước là con chép của Từ Bằng.
Lư Hàn lâm kinh ngạc: - Từ Bằng làm ư?
- Vâng ạ.
Lư Hàn lâm bèn cho gọi Từ Bằng tới. Những người này biết là có chuyện, nghe lệnh bèn gọi toáng lên.
- Ông lớn cho gọi Từ Bằng. Từ Bằng đâu rồi?
Từ Bằng sợ giật thót mình, hỏi:
- Ngài cho gọi tôi có việc gì thế?
- Ngài bảo, - những người ấy nói, - bài văn hôm trước là do anh làm, nên đã cho gọi anh, ông lớn đang tức giận anh phải hết sức cẩn thận.
Từ Bằng nghĩ bụng: “Việc này đã vở lở cả rồi, phải làm thế nào đây?” Rồi anh lại nghĩ: "Trong trường thi làm thay thì e rằng sẽ phạm tội, nhưng đây là chuyện riêng thì ngại gì, lẽ nào lại bắt tội ta, xấu chàng hổ ai, chẳng việc gì mà mình lại sợ sệt như thế". Rồi theo mọi người tới gặp ông lớn. Lư Hàn lâm nói:
- Anh cũng biết làm văn ư?
Bằng Tử ngẩng đầu lên nhìn Lư Hàn lâm, vẻ mặt hết sức bình tĩnh, đáp:
- Thưa ngài! Con cũng làm bừa mấy câu.
- Quả như anh nói, hiện trên lầu có đề và giấy bút, anh hãy làm bài văn cho ta xem.
Bằng Tử theo lệnh, khoảng chưa đầy một giờ đã làm xong bài văn trình lên ngài Hàn lâm. Xem xong ngài nói:
- Quả không sai, anh làm được bài văn như thế này thì anh không phải là người thường. Hãy nói thực với ta đi, ta sẽ nâng đỡ anh.
Từ Bằng Tử kể lại mọi việc từ họ tên, lai lịch và việc mình bị xóa tên không cho thi cho Lư Hàn lâm nghe. Ngài nói:
- Đã như thế thì tôi xin chắp tay mời anh ngồi, ngày mai cùng học với thằng nhỏ nhà tôi, anh có chí lớn như thế chẳng lo gì nghèo hèn. Trước đây tôi có lỗi coi thường anh, rất mong anh tha thứ.
Hôm sau ông may cho Từ Bằng Tử một chiếc khăn và một bộ quần áo. Những gia nhân trong nhà đều phải gọi Từ Bằng Tử bằng tướng công, chứ không được gọi là Từ Bằng nữa. Từ Bằng Tử vô cùng cảm động sự tri ngộ của Lư Hàn lâm, anh luôn nói về phong tục, tập quán phương Nam để dìu dắt công tử. Công tử lần này bị sỉ nhục cũng thật tâm suy nghĩ về mình, chỉ vài tháng sau công tử tiến rất nhanh.
 
Lại nói sau khi Từ Bằng Tử rời khỏi gia đình, bọn cướp biển nổi loạn, vùng Chiết Giang loạn lạc. Nơi nào chúng tràn qua dân chúng đều bỏ chạy tán loạn, nơi nào chúng chưa tới thì chỉ nghe tiếng đồn cũng khiếp vía. Đàn ông, đàn bà, già trẻ, lớn bé cứ chạy vòng quanh. Trong hang núi tiếng kêu gào khóc than thảm thiết. Nơi họ đến thì người ở đó gồng gánh nồi niêu đứng chờ đến lượt mình chạy loạn. Cái khổ của thời chạy loạn không sao kể xiết. Vợ Từ Bằng Tử là Vương thị sống hết sức cùng quẫn, chẳng ai thân thích, bè bạn nào quan tâm, một thân một mình đeo bị nhập bọn, chạy theo mọi người. Vừa chạy tới một nơi, đang cùng mọi người ngồi nghỉ thì chợt Vương thị thấy một người trông rất quen, nhìn kỹ thì hóa ra là Thúc Tự, người Vệ Lý. Chị đứng dậy nói:
- Chào bác, bác cũng ở đây à?
- Chị là người nhà ai nhỉ? - Người ấy nói. - Tôi bỗng nhiên quên mất.
- Tôi là vợ anh Từ Bằng Tử. - À thế ra là bà Từ, xin lỗi, tôi xin lỗi nhé!
- Bác có biết tin tức gì về chuyến đi của họ không. Mãi tới nay tôi không thấy có một lá thư nào gởi về.
- Bà vẫn chưa biết ư? Họ đến Lâm Thanh, do không đề phòng cẩn thận, thuyền lương bị cháy. Nghe nói quan chuyển lương bị quan địa phương bắt giam, sớm muộn gì cũng sẽ giải về Bắc Kinh xử tội.
- Như thế mà không gửi thư về cho vợ biết.
- Đây là do người trong nhóm khác về nói lại. Tôi cũng không biết ông Từ thế nào nên cũng không dám nói bừa.
- Thế thì ngộ xảy ra chuyện gì thì sao, quan chuyển lương bị tội thì họ có việc gì không? Vì sao cho tới nay vẫn không thấy về? Nhất định là chết nơi đất khách quê người rồi.
Nói tới đây Vương thị chẳng kể gì đến chiến tranh loạn lạc cứ gào lên khóc. Người ấy nói:
- Thôi đừng khóc nữa, phải tìm một người nhà đi thăm dò thì mới biết rõ được.
- Anh ấy là con quan. - Vương thị nói. - Trên không có anh em, dưới không có con cái, bỗng dưng lâm nạn ai người ta chịu đi tìm cho? Trừ đích thân mình đi.
- Chị là đàn bà con gái, một thân một mình đi xa không tiện. Tôi nghĩ thế này, hai hôm nữa có một chuyến thuyền lương nhổ neo, người quản thuyền là người thân của tôi, để tôi nói xem sao. Chỉ lấy tiền cơm thôi không lấy tiền thuyền, lại là người cùng địa phương, cùng đi về thì quả là yên tâm.
- Thôi thì trăm sự nhờ bác nói giùm, sớm mai báo tin cho em biết, em vô cùng biết ơn bác.
- Sáng sớm mai tôi sẽ quay lại báo tin cho chị.
Hôm sau quả nhiên người ấy tới, nói:
- Trong nội hôm nay anh ấy nhổ neo, chị cứ đến bến tàu hỏi Lý Ma Tử thì đó là anh ta. Tôi đã nói rõ với anh ấy rồi, chị thu xếp rồi đi ngay đi.
Nói xong người ấy bỏ đi. Thật là:
Bỗng chốc không lo xa, Nghìn dặm rời khỏi nhà.
Đường đi đầy mưa gió,
Hiu hắt dạ xót xa.
Vương thị thu xếp hành lý rồi tới ngay bến tàu hỏi thăm thuyền Lý Ma Tử. Lý Ma Tử nói:
- Chị là vợ của anh Từ phải không? Người thân của tôi hôm qua đã nói rồi, mời chị lên thuyền, hôm nay nhổ neo đấy.
Vương thị cúi đầu lạy tạ ơn.
Lý Ma Tử vốn là một tên du đãng, đã hơn ba mươi tuổi mà vẫn chưa có vợ. Hắn có một mẹ già hơn sáu mươi tuổi, thường ở trên thuyền lo cơm nước cho hắn. Hôm đầu nghe thấy Thúc Tự nói, hắn vẫn chưa biết là người thế nào. Khi Vương thị tới thấy chị còn trẻ, hắn nghĩ: "Người đàn bà này trẻ đẹp, lại chỉ có một thân một mình lên thuyền ta, đúng là trời xe duyên. Ngày đầu tiên đã được lãi, rồi cầm tay cô đỡ nhẹ ngang hông đón lên thuyền còn hơn hẳn mất ba đồng chơi gái ở bến tàu. Nghe nói cô đi tìm chồng, nếu tìm không thấy, khiến cô ta khao khát sống với mình lâu dài chưa biết chừng, đúng là cá đã vào ao, chỉ sợ cô ta tếch đi đâu thì có phải phí hoài một cô vợ đẹp không". Hắn mừng thầm, xếp cô ở một khoang, sáng sáng chiều chiều rất ân cần quan tâm hỏi han, chăm sóc cô từng miếng cơm bụm nước. Vương thị cứ ngỡ hắn là người tốt hiếm thấy trên đời, chẳng hề để ý tới, nào ngờ đâu hắn là kẻ gian manh. Đúng là:
Nghe lời đường mật đừng nhẹ dạ,
Nghĩa đảm lòng trinh phải giữ mình.
Mấy ngày sau khi mọi người đã đi ngủ, Lý Ma Tử uống rượu say khướt, hắn hát nghêu ngao, lên thuyền đến khoang thuyền chị nằm, hắn hỏi:
- Chị Từ chưa ngủ à?
Vốn là từ khi lên thuyền, Vương thị không bao giờ cởi thắt lưng, cứ để cả áo quần đi ngủ. Vừa trở mình thì nghe thấy Lý Ma Tử gọi, chị nghĩ: "Đêm hôm khuya khoắt hắn gọi ta làm gì nhỉ, ta không thưa xem hắn giở trò gì". Thấy chị không thưa, hắn sột soạt cậy cửa khoang. Cửa thuyền không có khóa, chỉ mấy chốc là hắn mở được, hắn len người vào thuyền. Vương thị kêu lên:
- Ai đấy, đang đêm sao lại chui vào đây!
- Anh đây. - Lý Ma tử nói. - Anh thương em đêm nằm không một mình lạnh lẽo, anh vào ngủ với em cho vui đây.
- Nói càn. - Vương thị nói. - Ta là con nhà tử tế, anh lầm rồi, hãy đi ra, đừng có làm bậy.
- Em yêu của anh, em lên thuyền anh chính là cái duyên cái số phân biệt gì sang với hèn, anh cũng chỉ mong vui với em một đêm thôi mà.
Nói xong hắn hai ta ôm chầm lấy Vương thị, tức khí Vương thị nhẩy lên cào cấu vào mặt Lý Ma tử, Cuối cùng người hắn to, sức hắn khỏe, hắn đè Vương thị xuống giường. Vương thị kêu lên:
- Làng nước ơi, có kẻ hãm hiếp người lương thiện.
Lý Ma Tử hoảng hốt buông tay, bịt lấy mồm chị. Vương thị thừa thế giãy giụa, chui ra ngoài khoang kêu thất thanh:
- Cứu cứu tôi với cướp của giết người các ông ơi!
Lý Ma Tử hoảng hốt, thấy tình thế không xuôi vội vàng chuồn thẳng. Vương thị định rêu rao lên, song chị nghĩ: "Mình nhờ người ta nên phải nhún nhường đôi chút. Ta tới đây để làm gì? Nếu chẳng may bị đuổi khỏi thuyền thì giải quyết sau đây. Thôi thì hãy kiên trì tự giữ mình thì hắn làm gì được.
Chờ đến khi gặp chồng hãy tính chuyện sau, còn bây giờ cứ chịu đựng là tốt nhất”. Đêm ấy chị vẫn im lặng, vẫn cài chặt cửa khoang như cũ, rồi nằm trên giường khóc một mình. Đây chính là khí tiết của Vương thị, chị đã quyết rồi. Nếu không thì đã bị làm nhục, đây cũng là sai lầm của những người đàn bà tùy tiện ra khỏi nhà. Đúng là:
Đàn bà không nên ra khỏi cửa,
Hoa tươi dễ bị bướm ong châm.
Người xưa thường bảo ở nhà tốt. Ở nhà mới giữ trọn thủy chung.
Hôm sau, Lý Ma Tử cảm thấy ở thuyền chẳng hứng thú gì cơm nước xong hắn uể oải bỏ đi, cũng chẳng thèm quan tâm đến Vương thị nữa. Vương thị cũng vui vì hắn không thích mình. Mấy hôm sau thuyền tới Lâm Thanh, mọi người nô nức đi cúng phúc thần, Vương thị cũng nói với mẹ của Lý Ma Tử:
- Mẹ ơi cho con lên bờ tìm một chút rồi về ngay.
Chị cùng đứa nhỏ trên thuyền lên bờ, cứ gặp nhà hàng là hỏi thăm. Người ở đây nói:
- Đúng là có việc ấy, năm ngoái có một thuyền lương bốc cháy ở đây. Quan chuyển lương bị giam tới nửa năm, sau đó giải về Bắc Kinh giam tại nhà lao Thông Thiên.
- Đêm ấy thuyền của họ mất mấy người? - Vương thị hỏi tiếp - Ông ấy có mời một người họ Từ làm thầy, không biết các vị có biết hiện ông Từ có còn không?
- Người chết xác vẫn còn chôn ở đây, chúng tôi không rõ họ tên. - Người ấy nói.
Vương thị cứ hỏi đi hỏi lại nhiều người, nhưng không ai biết, sau cùng có một cụ già nói:
- Tôi nhớ năm ấy ở miếu Đông Nhạc có một người ở thuyền lương lâm nạn, sống ở đó một thời gian nhưng tôi cũng quên mất tên. Nếu cô muốn biết hãy đến miếu Đông Nhạc hỏi đạo sĩ sẽ rõ.
- Thưa cụ, từ đây đến miếu Đông Nhạc bao xa ạ?
- Xa đấy. - Cụ già đáp. - Cả đi lẫn về cũng bốn năm dặm đường.
Vương thị định đi thì đứa nhỏ nói:
- Đi hỏi mãi bụng cũng đã đói, hãy về thuyền ăn bát cơm rồi hẳn đi. Bà đi chậm, cả đi lẫn về cũng lâu đấy, hơn nữa cũng phải về thuyền nói với người ta một tiếng, phong tục vùng này không phải đùa đâu.
Vương thị thấy nó nói phải, trở về thuyền nói với mọi người, song chẳng thấy ai trả lời. Chỉ thấy Lý Ma Tử nhảy tới quát tháo:
- Con mẹ mày chứ, thuyền ta chở là thuyền quan, vận tải lương thực của triều đình, ai dám bảo muốn đi thì đi, muốn dừng thì dừng. Tao lại không được một xu một hào nào của mày, ai là người hầu của mày. Đừng có nói phu nhân với tiểu nhân, còn làu bàu thì dây thừng đây ông trói lại rồi buông cho mày xuống hà bá mà kiện. Nói thực với mày, chúng tao trên thuyền này còn  đang nợ hà bá cái mạng chó của mày đấy.
Dứt lời hắn quát cho thuyền nhổ neo đi tới bến cảng khác. Tất cả mọi người hì hục đẩy thuyền đi. Uất quá, Vương thị trừng mắt nhìn họ, tự nhiên nước mắt trào ra. Lúc ấy trời đất mênh mông thân cô thế cô, tiếc rằng là một người đàn bà, chỉ biết giương mắt nhìn chúng kéo buồm cho thuyền chạy.
Vương thị tới khoang sau, nói với mẹ Lý Ma Tử:
- Mẹ ơi, hãy thương con, con cùng quê với mẹ. Mẹ hãy cứu vớt con.
- Cô nói sao? - Mẹ Lý Ma Tử nói.
- Con vốn đi tìm chồng, họ đã không muốn cho con tìm chồng thì lẽ nào cứ bắt con theo thuyền lương đến tận Bắc Kinh. Họ phải thả con ra để con về trước.
- Thế thì cô định về bằng cách nào? - Mẹ hắn hỏi.
- Gặp thuyền xuôi về Nam thì con đáp thuyền nhờ họ về. - Vương thị nói.
- Ngươi trẻ người non dạ, không biết hết được sự nguy hiểm khi ra khỏi nhà. Những chân sào trên thuyền này đều là người vùng ta, còn có thể biết được họ đôi chút. Nếu như gặp một chiếc thuyền đi qua, gửi ngươi sang đó, ngươi có biết người trên thuyền thuộc trời đâu đất đâu không? Ngươi là con gái, ở đấy liệu có tốt không? Thuyền ấy đều toàn người tốt thì chẳng nói làm gì, nhưng chẳng may có một đứa xấu bán ngươi đi lấy vài lạng bạc, tống cổ lên bờ thì ngươi biết đi đâu mà kiện. Ra khỏi nhà không dễ như thế đâu, mà chồng ngươi thì chẳng thấy tăm hơi. Chỉ thương cho ngươi là đàn bà con gái, như con cua không chân, chỉ trách ngươi còn trẻ không hiểu hết sự đời, ngươi nói đến là buồn cười.
Nói xong bà ta thở dài rồi vào khoang thuyền ngủ. Vương thị như bị dội một gáo nước lạnh, chị hối hận: "Mình sai rồi, không thể ra ngoài một cách dễ dàng. Bà ấy nói cũng rất có lý. Ta làm sao bây giờ. Thôi thì cũng liều nhắm mắt đưa chân để xem con tạo xoay vần đến đâu, con sông này là nơi kết liễu đời mình". Nghĩ tới đây nước mắt chị cứ trào ra. Đúng là:
Lòng người hiểm tựa Thái Hành sơn,
Đâu đất Hy Hoàng đóng ải quan.
Bỗng chốc phong ba ôi kinh sợ,
Chân bước khỏi nhà thật hiểm nguy.
Trong số họ chỉ có Lý Ma Tử là khó chịu, hắn nghĩ: "Con này không làm gì được nó, đúng là mèo thèm có nem để thừa. Nếu mình cứ bám lấy nó, sợ rằng nó lại làm ầm lên như hôm trước thì chẳng còn mặt mũi nào. Nếu cứ để mặc nó thì mình không chịu nổi". Suốt ngày hắn cứ tính toán, suy nghĩ: "Phải rồi, ngờ nghệch với nó sao được, không được người thì cũng được tiền. Người như thế đến Bắc Kinh thì cũng được bốn năm mươi lạng. Ta bán ngay ở đây cũng có mấy chục lạng, sợ gì không lấy được người mình vừa ý, cần gì cái đồ cứng đầu cứng cổ". Chẳng mấy chốc thuyền tới Thiên Tân, đây là bến đậu của thuyền lương. Mọi người đến đây đều yên tâm ăn nhậu, chơi gái suốt ngày. Đúng là:
Đêm ngày trằn trọc tìm kế sống,
Ai ngờ rút cục gặp oan gia.
Vốn là, đứa ở cùng với Vương thị đi hỏi tin hôm trước, chính là cháu ngoại của Lý Ma Tử. Tuy còn nhỏ nhưng nó rất khôn ngoan, nó từng nhờ Vương thị khâu giày cho nó. Vương thị rất yêu quý, mỗi lần rảnh rỗi Vương thị thường giúp đỡ, nên nó rất cảm động. Hôm ấy nó nói:
- Mẹ Từ, con có một chiếc áo mắc vào mui thuyền bị rách, nhờ mẹ vá giúp có được không?
- Mang lại đây ta vá cho.
Đứa ở ấy ngồi bên Vương thị nói:
- Mẹ Vương sắp có việc vui mừng rồi, mẹ có biết không?
- Có việc vui mừng gì đấy?
- Con nói với mẹ nhưng mẹ đừng nói với Ma Tử nhé.
- Được rồi, cứ nói đi.
- Cậu Ma Tử gả mẹ cho người ta rồi. Hôm kia họ đã lên thuyền xem người. Họ cố ý giả vờ đến xem mẹHọ ưng và đã đưa ba mươi lạng bạc làm sính lễ, cậu con đòi bốn mươi lạng. Hôm nay người mối lại đến gọi cậu Ma Tử tới quán rượu nói chuyện, hẹn giao tiền rồi khiêng người đi.
- Sao con biết?
- Con tới quán rượu hỏi tiền mua thức ăn, cậu con gọi vào cho uống rượu, con nghe thấy nên về đây nói với mẹ. Nếu mẹ đến nhà ấy thì chuẩn bị trước đi, đừng để đến lúc ấy lại cuống lên. Con cứ lo thay cho mẹ, không có gì đền ơn mẹ.
- Vậy thì thế này nhé. - Vương thị nói. - Mẹ vá áo cho con, con hãy lên bờ nghe ngóng, nếu có gì thì về báo ngay cho mẹ, mẹ sẽ đền ơn con.
Đứa trẻ có biết gì đâu, nó nhận lời hớn hở chạy ngay lên bờ. Vương thị hết sức kinh hãi. Thằng cướp này ác độc đến thế là cùng. May mà đứa nhỏ nói cho biết không thì mình đã bị nó lừa rồi. Nếu ta chết ở đây sẽ chẳng ai biết đến, như thế cũng là chết uổng thôi, ở đây thông tới Bắc Kinh, ta phải tự lo lấy cuộc sống. Ba mươi sáu kế trốn là thượng sách. Chị lập tức sửa soạn quần áo, giày dép, mang theo một ít tiền lộ phí. Lúc ấy trời đã nhá nhem tối, người trên thuyền đều lên bờ uống rượu. Vương thị tứ cố vô thân, vội vả nhảy lên bờ, không dám đi vào chỗ đông người, chị cứ men theo bờ sông vắng vẻ. Thật là:
Gian nan nguy hiểm khôn lường,
Vợ chồng liệu có giữa đường gặp nhau?
 
Lại nói từ khi đỗ tiến sĩ, Đinh Hiệp Công nghinh nghinh ngang ngang, nay tiệc tùng, mai hò hẹn, cả thành Bắc Kinh không chỗ nào là không tới. Hôm ấy bộ Lại ký giấy cử hắn về làm tri huyện phúc Kiến. Cầm bằng trong tay, hắn rời ngay Bắc Kinh về nhà tế tổ, mời bạn bè thân thích đến ăn mừng, người ra kẻ vào đông nghịt, tiệc tùng tới mấy ngày sau đó mới trống phách vang lừng tới nhiệm sở. Gia quyến kéo hàng đoàn hết sức vênh vang. Tính hắn thế đã quen rồi, làm sao mà kìm nén nổi. Tới nhiệm sở, hắn ra sức bóp nặn, chẳng kể gì đến thanh danh, phép nước. Án viện thấy Đinh Hiệp Công mặc dù là tiến sĩ nhưng xuất thân vốn đã có tai tiếng nên cho về quê quán. Liệu về quê làm quan hắn có trụ vững không? Bởi hắn vốn là người thường dùng mánh lới để tiến thân, đã làm quan liệu hắn có an tâm trở lại dân thường không? Thời ấy đúng vào lúc tướng Nghiêm đương quyền, hắn vơ vét của cải ở Phúc kiến, sau đó chuyển một số về Bắc Kinh đút lót cho Nghiêm Thế Phiên và nhận làm con nuôi ông ta. Nghiêm Thế Phiên bảo với bộ Lại cất nhắc hắn làm chủ sự bộ Hộ. Được giữ chức mới, hắn lại đưa gia quyến về Kinh, tới bộ Hộ nhậm chức trông coi việc kho tàng. Ở Kinh chưa đầy một năm, tướng Nghiêm bị đuổi về quê quán, không lâu sau Nghiêm Thế Phiên bị hành quyết. Bố đã chết thì liệu con còn ngồi làm quan được không? Hắn bị chưởng khoa họ Túc dâng sớ nói rõ hắn đã tham ô và làm rối loạn luật pháp triều đình, không biết đóng cửa tự sửa mình, hắn lại còn ra sức nhận hối lộ, làm điều gian ác, ngu ngốc mà nhận bổng lộc của triều đình, nhận con kết nghĩa để cầu được thăng quan tiến chức. Cuối cùng ông nói: "Trong thi cử hắn đều dùng mưu ma chước quỷ để thi đỗ, chứng cớ vẫn còn chứ không nghe phong thanh. Cúi xin triều đình lệnh cho bộ này chuẩn bị toàn diện thanh trừng triệt để thống kê tội trạng và phải dùng cực hình trị hắn, giải trừ mối lo cho muôn dân, bồi dưỡng nguyên khí muôn đời của quốc gia. Triều đình gởi chiếu chỉ cho bộ Hình truy cứu. Bộ Hình gửi giấy cho bộ lại định ra kế hoạch xét hỏi, ghép hắn vào tội nhận hối lộ. Đúng là:
Cậy cánh khỏe bay chín tầng trời,

Kẻ gian hùng đến ngày tận số.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 EmptySat May 03, 2014 6:05 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 20 (F)
Lại nó Từ Bằng Tử được học hành tại nhà Lư Hàn lâm, cùng công tử dùi mài kinh sử. Công tử cũng là người có nghị lực thành tâm chăm chỉ chuyên cần, học hành ngày càng tiến bộ. Anh thường đưa bài văn của mình cho cha xem, biết được công lao dìu dắt của Từ Bằng Tử, Lư Hàn lâm rất vui mừng. Năm ấy Đề học mở khoa thi, Lư Hàn lâm nói với Từ Bằng Tử:
- Anh đã học thành tài, không nên tự chôn vùi tài năng của mình. Ta đây cho lấy quê quán ở đây để đi thi. Anh hãy đi thi xem sao, đừng làm người anh hùng thở dài tới lúc bạc đầu.
Từ Bằng Tử nghe lời, vượt qua các cuộc thi ở phủ, huyện, đạo chẳng mấy khó khăn. Từ Bằng Tử đỗ thứ nhất, Lư công tử đỗ thứ nhì. Lư Hàn lâm vô cùng mừng rỡ, luôn luôn khuyên họ gắng sức học hành, tất cả những việc lặt vặt về việc trường thi không cần họ phải quan tâm, chỉ chờ ngày tới trường thi mang bút nghiêng đi là được. Họ nhanh chóng đậu tam trường. Từ Bằng Tử đỗ giải nguyên, Lư công công tử cũng đỗ thứ năm mươi. Tình hình thay đổi hẳn. Từ Bằng Tử như cây khô tươi lại. Lư Hàn lâm thì coi anh là người tri kỷ.
Lư Hàn lâm nói với Từ Bằng Tử:
- Vốn học của thằng nhỏ nhà tôi còn nông cạn, may mà được đỗ nên không được tự cho mình đã giỏi. Tôi nghĩ nhân tiện có thuyền lương về kinh, ta sẽ thuê một khoang rộng rãi, yên tĩnh, Từ tiên sinh cùng thằng nhỏ đi một chuyến, trên đường đi nhờ tiên sinh kèm cặp. Tất cả phí tổn tôi lo liệu hết, tiên sinh đừng ngại. Hai người cùng lên kinh, vừa đi vừa học, nếu cả thằng nhỏ nhà tôi và tiên sinh cùng đỗ cả thì học trò sẽ không bao giờ quên ơn thầy.
Từ Bằng Tử cúi đầu tạ ơn rồi chào từ biệt Lư Hàn lâm lên thuyền lương đi Bắc Kinh. Nhà Lư Hàn lâm giàu cần gì là có nấy, họ chẳng cần phải bận tâm, suốt ngày miệt mài học tập. Thuyền vừa tới vệ Thiên Tân, hai người bàn nhau: chúng ta trên thuyền lâu ngày bị gò bó, vậy ta thuê xe ngựa đến Bắc Kinh sẽ tiện lợi và thoải mái hơn. Từ Bằng Tử và Lư công tử mỗi người một xe, còn những người khác thì cưỡi ngựa đi theo.
Đi chưa đầy bốn năm chục dặm thì thấy một người đàn bà ngồi trên bãi cỏ vệ đường khóc, những người cùng đi chẳng ai thèm để ý tới. Từ Bằng Tử là người trải qua nhiều hoạn nạn, nghe thấy bèn động lòng thương, xe đi qua trước mặt người ấy Bằng Tử lắng tai nghe, thấy tiếng không phải là người miền Bắc, bèn cho dừng xe. Sai người tới hỏi xem người ấy ở đâu, vì sao mà khóc. Người ấy trả lời là người miền Nam. Nghe tiếng nói, Từ Bằng Tử vội nhảy ra khỏi xe, anh hết sức kinh ngạc, hóa ra người ấy là Vương thị vợ mình, bèn hỏi:
- Tại sao em lại ở đây?
Lúc đầu Vương thị chỉ cúi xuống khóc, thấy người đến nhìn mình cũng không dám ngẩng đầu, vừa nghe thấy tiếng hỏi mới ngẩng lên thì thấy chồng mình, bèn đứng dậy nói:
- Đây là mộng chăng, tại sao ta lại gặp nhau ở đây?
- Anh đã đỗ cử nhân. -Từ Bằng Tử nói. - Nay vào kinh thi Hội. Sao em lại ở đây, hãy nói cho anh nghe.
Vương thị kể chuyện chạy loạn rồi được biết tin chồng nên đã đi tìm, gặp phải nhà thuyền độc ác, bởi thế đang đêm bỏ trốn, vừa đi vừa hỏi vệ quan lần mò tới Bắc Kinh, không ngờ lại gặp anh ở đây. Từ Bằng Tử hỏi:
- Nhà thuyền ấy nay ở đâu?
- Hắn là Lý Ma Tử, đã cho thuyền tới Bắc Kinh, tới đó chúng ta tìm hắn rất dễ.
Từ Bằng Tử mời Lư công tử tới gặp, mọi người vừa vui mừng vừa thương cảm. Lư công tử bèn nhường chiếc xe của mình cho Vương thị ngồi, thuê một chiếc xe khác cùng nhau tới Bắc Kinh.
Cùng nhau bên ngọn đèn khuya,
Cần tay mà vẫn ngỡ là chiêm bao.
Những là rày ước mai sau,
Qua gian khổ, mới dạt dào niềm vui.
Vương thị từng chịu gian nan khổ ải, gần kề với cái chết, ngờ đâu lại gặp được chồng, mà chồng lại là người vinh hoa phú quý, chứ không phải là anh nghèo kiết xác như trước nữa. Ấy là do Vương thị giữ được tấm lòng trong trắng và cũng là do Từ Bằng Tử không tham dâm được Phật trời đền đáp. Chỉ trong mấy ngày đã tới Bắc Kinh, họ thuê nhà trọ, chuẩn bị đi thi. Chỉ mới thoáng cái mà đã thi tam trường và ngày yết bảng đã tới Từ Bằng Tử đỗ tiến sĩ, Lư công tử không có tên trên bảng. Bằng Tử lại thi Đình, đỗ nhị giáp, sau khi tìm hiểu quá trình. Từ Bằng Tử được bổ nhiệm Chủ sự bộ Hình tại Bắc Kinh. Tới nhiệm sở, Từ Bằng Tử đưa gia quyến về nha môn. Lúc ấy Lư công tử mới từ biệt về nhà. Sau khi Từ Bằng Tử tới nhiệm sở thư lại đưa tới một tập hồ sơ về vụ án Lại bộ lang trung Đinh Toàn, và bẩm rằng, trước hết phải kiểm tra từng người một thuộc gia đình Đinh Toàn (Đinh Hiệp Công) rồi lập danh sách tâu lên triều đình chờ chiếu chỉ. Hôm qua ngài Trưởng khoa họ Túc đã gửi thơ tới thúc giục việc này. Từ Bằng Tử nghĩ: "Đinh Toàn đã đỗ tiến sĩ, được bổ nhiệm là quan, bị báo ứng không biết đã phạm tội gì?", rồi giở bản án ra xem kỹ một lượt, lại lấy tờ sớ của trưởng khoa họ Túc xem, Từ Bằng Tử nghĩ: "Thế này bị đuổi thì chẳng oan".
Hôm sau Từ Bằng Tử lên công đường, cho gọi Đinh Toàn tới Đinh Toàn xấu hổ cúi gầm mặt, hết sức bối rối. Đinh Toàn thấy mình xấu xa, gặp người làng hắn cảm thấy đau đớn. Từ Bằng Tử hoàn toàn không muốn truy bức hắn. Bèn giở bản danh sách những người trong gia đình hắn xem qua. Trong đó có một đứa hầu tên là Xuân Anh. Bằng Tử cho gọi tới, nhìn kỹ ra thì đấy lại là đứa hầu nhà mình Bằng Tử hết sức kinh ngạc, gọi Xuân Anh hỏi:
- Ngươi có nhận ra ta không?
Xuân Anh nhìn lên nhận ra người chủ cũ, nói:
- Con nhận ra rồi.
Vừa nói xong, nước mắt tuôn lã chã như mưa. Vì đang ở nơi công đường Bằng Tử không tiện hỏi kỹ, rồi nói:
- Đã điểm danh xong rồi, đi đi.
Sau đó Bằng Tử nói với Trưởng ban rằng:
- Đứa hầu nhà họ Đinh tên là Xuân Anh không phải là phạm nhân, tôi sẽ bỏ tiền ra chuộc. ông hãy dẫn cô ta vào nha môn lấy tiền chuộc nộp vào kho là được.
Trưởng ban vâng lời đi ngay. Đến tối người ấy đưa Xuân Anh tới nha môn, ngươi thường trực vào báo:
- Trưởng ban đã đưa Xuân Anh tới nhà xin lĩnh tiền chuộc.
Từ Bằng Tử đã chuẩn bị sẵn mười hai lạng bạc, giao cho trưởng ban, rồi lập tức gọi Xuân Anh vào nha môn. Thấy ông chủ bà chủ, Xuân Anh quỳ xuống nức nở khóc. Thật là:
Đoàn viên đêm kể bao nhiêu chuyện,
Gà chó cũng còn biết trả ơn.
Đừng tưởng uy danh lừng lẫy mãi,
Thành quách cũng thành đống gò hoang.
Từ Bằng Tử nói:
- Ta có phụ lòng ngươi đâu mà ngươi bỏ đi, suýt nữa thì hãm ta vào chỗ chết.
- Quả là con đáng tội chết, song trong đó cũng có nguyên nhân.
Phu nhân Vương thị nói:
- Duyên cớ gì vậy? Ngươi thong thả nói cho ta nghe.
- Dạo ấy ông công không thành danh toại. - Xuân Anh nói. - ông rất phiền não, con không biết khu xử, bởi thế ông đã nổi giận. Từ nhỏ con đã chịu ơn ông bà nuôi dưỡng, há đâu lại oán giận ông bà. Không ngờ hôm ấy Chu Bạch Quỷ tới chơi, lúc ấy ông gọi con bưng trà ra, Bạch Nhật Quỷ hỏi: "Sao mày lại khóc đỏ cả mắt lên thế?". Lúc ấy lẽ ra con không nên nói: "Tướng công không đỗ, mấy hôm nay cứ chửi con thậm tệ". Bạch Nhật Quỷ nói: "Thế thì tao thương cho mày quá, mày còn có cha mẹ không? Sao không tạm trốn đi mấy hôm, khi nào ông ấy qua cơn giận dữ thì hãy về có tốt không?”. Con nói với ông ta: "Cha mẹ con ở ngoại thành, con lại không biết đường, nếu trốn đi được vài hôm mới về thì quả là may cho con quá". Bạch Nhật Quỷ nói: "Sáng sớm mai ta sẽ làm phúc giúp mày, đưa mày về nhà vài hôm, sau đó tao quay lại xin với tướng công tha cho". Nào ngờ đâu hôm sau nhân lúc ông bà chưa dậy thì quả nhiên Bạch Nhật Quỷ đến gõ cửa, gọi con ra. Con tưởng ông ta có lòng tốt bèn theo đi. Ai ngờ ông ta dẫn con đến nhà Đinh Toàn rồi sau đó nhốt vào một gian nhà, con không biết gì về bên ngoài cả. Sau đó nghe nói Đinh Toàn mua chuộc cha mẹ con đến cãi nhau với ông bà, lại xúi giục cha mẹ con đi kiện, đã đưa cho viên quan ấy năm trăm lạng đòi phải xử tử ông mới yên tâm.
Phu nhân vô cùng kinh ngạc, nói với Bằng Tử:
- Anh với nhà họ Đinh có thù oán gì không?
Bằng Tử cúi đầu nghĩ: "Mình với ông ta chẳng có thù oán gì sao ông ta lại hại mình như thế?”
- Thưa ông bà. - Xuân Anh nói. - Con còn nghe nói bài của ông ta trúng cử nhân là sửa lại bài của ông. Ông từng nói với Bạch Nhật Quỷ phải lên giám trường sát viện kiện ông ta, ông ta là học trò của quan phủ hết sức giúp đỡ, đã lợi dụng con để áp chế ông. Quả là con đáng tội chết.
Nói xong Xuân Anh khóc nức nở. Bằng Tử gật đầu nói:
- Hóa ra là như thế, khiến ta chẳng biết đầu cua tai nheo thế nào. Chẳng trách hôm tới công đường hắn tỏ ra hết sức lúng túng, ai ngờ đấy là lòng dạ hắn tự bộc lộ ra.
- Loại người độc ác như thế, - Phu nhân nói, - tại sao trời còn cho hắn làm quan, suýt nữa thì chúng ta đã bỏ mạng nơi đất khách. - Bây giờ ta được thế này. - Từ Bằng Tử nói. - Mặc dù bị lưu lạc, long đong nơi đất khách quê người vẫn có ngày nhìn thấy mặt trời. Người khác tố cáo hắn, sao lại rơi đúng vào tay ta kết thúc, đây cũng là báo ứng.
Nói chưa dứt lời thì có người vào bẩm, ngài trưởng khoa họ Tiêu mời đi dự tiệc. Bằng Tử tới ngay nha môn ngài Tiêu. Đúng là:
Giết người thường ở ngay giữa chợ,
Gặp nhau mà chẳng dám nhận nhau. Tiếng khóc nghe sao thê thiết quá,
Lệ tràn cũng phải ngoảnh mặt đi.
Từ Bằng Tử tới nhà Tiêu trưởng khoa, rồi hỏi ngày hôm nay cùng dự tiệc còn có ai. Tiêu trưởng khoa nói:
- Tôi chỉ mời riêng ngài, ngoài ra không mời ai cả. Trong bữa tiệc tôi còn có một chuyện muốn thưa với ngài.
- Không dám. - Từ Bằng Tử nói.
Sau vài tuần rượu. Tiêu trưởng khoa nói:
- Tôi là người chịu oan khuất, chính là do Đinh Toàn gây nên. Vụ án đã lập xong, mong ngài sớm đưa ra xét xử, thi hành án không thể chậm trễ, nếu không hắn sẽ lọt lưới. - Tôi cũng đang muốn xin ý kiến ngài một việc. - Từ Bằng Tử nói. - Xin hỏi, tờ sớ của ngài lời lẽ đanh thép, song việc ngài nói về trường ốc tôi không biết rõ sự thực là như thế nào, mong ngài chỉ rõ.
- Việc này không nói đến thì thôi. - Tiêu trưởng khoa nói. - Mà nói đến là như đâm vào trái tim tôi. Chỉ tiếc tôi không xẻ thịt lột da ăn gan uống máu hắn. Nếu ngài không sợ làm phiền, tôi xin mượn chén rượu giải sầu này thưa để ngài biết. Tôi học về Xuân Thu, tới lúc tráng niên mới đỗ thi Hương, rồi sau đó thi Hội liền mất khoa mà không đỗ. Người làng đều cho tôi là tú tài “tiền". Lúc ấy chỉ vì một ngôi mộ mà cha tôi cãi nhau với người làng, người ấy đành lòng phải theo ý cha tôi. Vì tôi được cử đi thi Hội, lập tức người ấy nhằm vào sơ hở để trả thù trước lúc lên đường cha tôi dặn: "Tên người làng ấy thù cha đã lâu rồi, chuyến này đi nếu con đỗ tiến sĩ thì nó sẽ thôi không dám làm gì nữa, song nếu không đỗ thì nó sẽ không quên đâu. Con phải cố gắng đoạt lấy tiến sĩ để an ủi sự mong đợi của cha. Hôm nay là ngày con lên xe ra đi cũng là ngày cha mỏi mắt trông chờ". Lúc ấy tôi đáp: "Cha cứ yên tâm, không cần lo lắng gì, lần này ra đi con nghĩ rằng chắc chắn sẽ đỗ, quyết không phụ lòng mong mỏi của cha". Cha tôi gật đầu, tôi từ biệt cha ra đi. Đến khi thi Hội, tôi hết sức cố gắng làm xong bài văn, rồi lại xem đi xem lại và chắc chắn sẽ đỗ. Nộp bài ra khỏi trường thi, báo ngay về cho cha yên tâm. Đến ngày yết bảng thì lại không thấy tên tôi. Tôi vô cùng uất ức. Sau đó tôi tìm lại bài thi bị đánh trượt, nào ngờ tìm thấy bài ngoài bìa có ghi tên tôi lại hoàn toàn không phải là bài của tôi, đó chỉ là một bài viết lèo tèo mấy chữ, chẳng ra sao. Tôi lại tìm những bài đã thi đỗ thì thấy bài của Đinh Toàn giống hệt bài của tôi. Tôi tìm đến người sao lục để hỏi cho ra lẽ thì người ấy nói là việc nhỏ không liên quan gì đến ông, Chính ngài Giám trường đưa cho tôi chép, tôi không đâu dám không tuân lệnh. Tôi định cáo giác để trút đi nổi uất hận trong lòng, song lại nghĩ, tai họa trong nhà vừa lắng đi lại sinh thù oán khác, sợ cha tôi sẽ không yên lòng nên đành nhẫn nhịn. Nhân tôi không đỗ, tên người làng ấy lại kiện cha tôi lên huyện. Nào ngờ tri huyện và tôi vốn không hòa hợp, hắn đã thừa cơ trả thù. Hắn viết lệnh bắt cha tôi, vì uất ức cha tôi đỗ bệnh rồi chết, việc an táng sơ sài. Tất cả đều do tôi không đỗ, không đỗ là do Đinh Toàn, việc ấy đã khiến tôi nhức nhối, đau đớn, muốn đâm hắn để báo thù cho cha.
Dứt lời Tiêu trưởng khoa lại nói:
- Tiên sinh, mời tiên sinh uống đi, tiên sinh bảo như thế có đáng vạch mặt chỉ tên hắn không?
Bằng Tử gật đầu nói:
- Đáng lắm.
- Tiên sinh ạ. - Tiêu trưởng khoa nói tiếp. - Tôi vẫn chưa chịu cảnh đường cùng, gượng dậy tôi lại đi học. Song ngờ đâu số phận vẫn chưa qua, tôi nhặt được một tờ huấn dụ của học phủ Liễu Châu, Quảng Tây. Mặc dù đường sá xa xôi tôi vẫn mượn tiền làm lộ phí lại chịu đựng biết bao nỗi khổ sở kinh hoàng. Bộ mặt của học quan sao làm cho người ta sợ đến thế. Ở nơi man rợ sợ cướp đường chứ sao lại sợ học quan? Quả là do ăn uống kham khổ, đời mẹ tôi không được toại nguyện, lại chịu sơn lam chướng khí bà đổ bệnh, thuốc thang chạy chữa mất hàng trăm lạng mà vẫn không khỏi. Việc ấy là do thi không đỗ, không đỗ là do Đinh Toàn, bởi thế tim tôi đau buốt, muốn cầm dao đâm hắn để trả thù.
Nói tới đây Tiêu trưởng khoa mời:
- Tiên sinh, mời tiên sinh uống đi. Tiên sinh thấy đấy, liệu hắn có đáng vạch mặt chỉ tên không?
Từ Bằng Tử gật đầu, nói:
- Đáng lắm.
- Không phải chỉ có thế thôi đâu. - Tiêu trưởng khoa nói.
- Ngài bảo đám ma xa hàng ngàn dặm làm sao đưa về quê một cách dễ dàng. Tôi lo chạy chữa thuốc thang cho mẹ, trong túi không còn một xu, quần áo, đồ trang sức của vợ cái nào bán được thì bán, cái nào cầm được thì cầm, song cũng chỉ được bốn năm chục lạng. Tôi lại phải đến người bạn làm quan vay, họ giúp đỡ cũng chỉ khoảng trên năm mươi lạng. Rất may, một người làm quan ở tỉnh cùng quê, tôi đã trực tiếp đến van nài ông cho vay. Nhờ ông tôi vay được hai trăm lạng, làm văn tự cam kết rằng khi tôi về tới quê thì trả ông ấy. Tôi vô cùng cảm động trên đường đi tiêu pha hết sức tằn tiện, cuối cùng cũng đưa được linh cữu mẹ tôi về quê. Ngài thử nghĩ xem, một cử nhân vừa già vừa nghèo như tôi, trong lúc túng quẩn làm gì mà có tiền trả nợ. Những chủ nợ đến đòi nhiều lần, thấy hoàn cảnh tôi như thế có đòi tôi cũng chẳng có gì để trả, lời ra tiếng vào cuối cùng họ đập cửa chửi toáng lên. Hôm ấy tôi vắng nhà nhưng người đòi nợ vào tận nhà chửi bới lăng nhục, vợ tôi không kìm nổi chửi lại mấy câu. Những người ấy cố ý gây sự, nói: - Nợ đã chịu chày chịu bửa lại còn đánh người. - Họ đẩy vợ tôi ngã rồi ngất đi. Vì uất quá, từ đó vợ tôi đổ bệnh, ốm tới hơn nửa năm trời rồi mất. Việc ấy đều là do không đỗ không đỗ là do Đinh Toàn, bởi thế tôi đau nhói tận tim gan, muốn đâm cho hắn chết đi để báo thù cho vợ.
Nói tới đây Tiêu trưởng khoa lại giục:
- Tiên sinh, mời tiên sinh cạn chén đi chứ. Tiên sinh thấy đấy liệu hắn có đáng vạch mặt chỉ tên không?
- Đáng lắm. - Từ Bằng Tử gật đầu trả lời.
- Đấy là ba việc lớn. - Tiêu trưởng khoa nói. - Tôi chỉ kể qua cho tiên sinh nghe. Song thực ra trong đó long đong vất vả, khổ sở còn gấp trăm lần tôi không dám kể hết, sợ làm rát tai tiên sinh. Gần đây tôi mới đỗ tiến sĩ, lúc đầu được cất nhắc lên chức này, thấy được tội ác hắn chồng chất tôi định tố cáo, song mối thù không đội trời chung này chưa thể trả được, đành bấm bụng chịu đựng. May mà nay đã núi lở đá nhào, đội ơn Thánh thượng tôi phải trút hết nỗi căm giận này. Tóm lại phải treo cổ hắn giữa chợ cũng là để thỏa nỗi uất hận ngàn năm. Mong tiên sinh đừng trách tôi, thật là những lời tôi nói làm rác tai ngài.
Bằng Tử nói:
- Hóa ra là như thế, tôi e rằng những người chịu lụy như thế không ít.
- Theo như ngài nói. - Tiêu trưởng khoa nói. - Ngài hiểu biết nhiều, xin ngài cứ dạy.
Bằng Tử trả lời một cách mập mờ:
- Tôi nói như thế chưa hẳn là chỉ Đinh Toàn.
- Tôi khẩn thiết mong tiên sinh xử ngay cho.
Họ uống với nhau thêm mấy chén nữa rồi mới cáo từ. Đúng là:
Phật thuyết thật từ bi, Chúng sinh nhiều đau khổ.
Mong anh niệm Phật kinh, Muôn kiếp do nhân quả.
Giết người ngay giữa chợ,
Không biết rằng có ta. Bé gái nâng chén rượu.
Nước mắt tựa châu sa. Nghe nói ông đau đớn, Giết nó cũng được thôi. Thương cho người đọc sách Không biết tai họa này.
Từ Bằng Tử uống rượu xong ra về, nói với Vương phu nhân:
- Hóa ra Đinh Toàn gây oan nghiệt không phải chỉ có ta, lên nay mới bị báo ứng nặng nề đến thế.
- Hắn gây ra việc gì? - Vương phu nhân hỏi.
Bằng Tử kể chuyện Tiêu trưởng khoa, rồi nói: - Bày mưu tính kế để đỗ cử nhân, vội một chút cũng được, song nếu tiến sĩ thì muộn một kỳ thi cũng chẳng sao. Cớ gì hắn phải vội vả làm cho một người phải khuynh gia bại sản để mình được giầu sang phú quý? Tiêu trưởng khoa bị hắn làm cho khuynh gia bại sản, mình so với ông ấy còn đỡ hơn nhiều. Con đường công danh của hai người bị lâm vào cảnh khốn đốn như thế cũng là câu chuyện nực cười.
- Tên khốn nạn ấy đã dùng mọi mưu mô gian dối để hại người, nhân cơ hội này phải xử hắn thật nặng để làm bài học cho đời sau, trút đi nỗi uất hận của hai nhà và thỏa ý nguyện của ta.
- Đây cũng là tiền oan nghiệp chướng. - Từ Bằng Tử nói.
- Hắn nghĩ ra trăm phương ngàn kế để đỗ cử nhân, tiến sĩ chỉ mong tử ấm thê phong, rạng danh tiên tổ, tận hưởng phú quý nhân gian, chiếm hết của cải trong thiên hạ. Ai ngờ hắn đã phải rập đầu trước thềm, chán nản tuyệt vọng như thế cũng là đủ. Nếu lại cứ báo oán lẫn nhau thì sự báo oán đến bao giờ mới chấm dứt được. Theo ý ta, thôi thì hãy tha cho hắn.
- Tiêu trưởng khoa đối địch với hắn, mà ta lại tha hắn. - Vương phu nhân nói. - Chẳng hóa ra ta cởi bỏ nỗi oan trên của ta để chuốc lấy sự thù hằn sau này ư?
- Tiêu trưởng khoa là người hiểu biết từng trải, chắc ông ấy cũng sẽ tha thứ. Việc ta chịu tội, lâu ngày ta mới nhận ra, tương lai đã thành sự thật thì tất cả những cái trước kia ta xóa đi hết.
Nói chưa dứt lời, thấy có người vào thưa, cấp trên có văn thư đến. Bằng Tử cầm lấy mở ra xem cười ha hả. Phu nhân nói:
- Có gì mà anh cười thế?
- Em bảo báo thù, thì đây chẳng phải là sự báo thù ư?
- Báo thù nào?
- Văn thư của bộ Hộ gửi tới, - Từ Bằng Tử nói, - là nói về vụ cướp thuyền lương mà Lý Ma Tử là phạm nhân. - A Di Đà Phật, - Phu nhân chắp tay nói. - Tên gian ác ấy ta căm giận đến tận xương tủy, chưa trả thù được, song bây giờ mới chui đầu vào lưới, thế thì mắt trời chưa thật sáng suốt.
- Mắt trời chưa thật sáng nhưng mắt người sáng suốt hơn.
- Tử Bằng Tử nói. - Tên này phạm vào tội không thể tha thứ, ta phải tìm hiểu cho kỹ, việc này không phải một mình Đinh Toàn.
- Ý anh thế nào? - Phu nhân nói.
- Thấm vấn xong xuôi mới quyết định. - Từ Bằng Tử nói.
Ngày hôm sau cho giải Lý Ma Tử đến công đường, Từ Bằng Tử nói:
- Ngươi là Lý Ma Tử có đúng không?
- Thưa ngài, đúng ạ. - Ngươi có nhận ra ta là ai không?
- Thưa ngài con không dám.
- Ngươi có biết người vợ của họ Từ không? Có muốn gặp người vợ họ Từ không? Ta mời ra cho người gặp.
Lý Ma Tử biết việc ấy đã bị phát giác, chỉ cuối đầu nói:
- Phạm nhân đáng chết, phạm nhân đáng chết. Bằng Tử rút lệnh ra, sai người đánh hắn bốn mươi gậy.
Sau đó Bằng Tử nói:
- Ngươi là tên hung ác, ngươi chưa vào tay ta cũng biết ngươi phải chết, nay ngươi cướp thuyền lương thì ngươi có chạy đàng trời.
- Thưa ngài con là thằng vô lại, đã tiêu một ít tiền lương, con xin chịu hết.
- Ngươi muốn chết cũng khó đấy. - Từ Bằng Tử nói. - Ngươi có sản nghiệp gì không?
- Thưa ngài con chẳng có gì, chỉ có một mẹ già hơn sáu mươi tuổi, ở trên thuyền để lo cơm nước, ngoài ra con không còn chỗ dựa nào khác.
Bằng Tử quát, cho lính giải đi, hôm sau lệnh cho bắt những người chở lương trên thuyền. Bọn này đến. Từ Bằng Tử khuyên kẻ ít người nhiều trợ giúp hắn chút ít. Bằng Tử nói:
- Ta vốn vì các người, nếu hắn vu oan làm hại thì các ngươi cũng phải bồi thường, lại còn tốn kém cho nha môn. Hơn nữa góp tiền của để cho một người không phải chịu tội thì cũng đẹp mặt cho cả bọn các ngươi.
Mọi người cảm động trước tấm lòng ân nghĩa của Bằng Tử, kẻ nhiều người ít bồi thường cho Lý Ma Tử. Bằng Tử kết luận hắn mắc vào tội vặt, vẫn bồi thường, rồi đuổi ra khỏi kinh thành. Quả là:
Bây giờ mới hết nỗi oan, Ngoái đầu cứ hễ bồi hoàn là xong.
Vết xưa, Tần Hán, kìa trông, Gió mưa sấm chớp bão bùng khóc than. 
 
Lại nói, Đinh Hiệp Công đã bị khép tội, song không thấy bộ Hình công bố. Hắn nghĩ: "Mình đã rơi vào tay ông ta, ông ta lại gác lại bao nhiêu ngày như thế, nhất định sẽ thu thập thêm chứng cớ rồi ghép mình vào trọng tội". Bởi thế hắn sai người nói với một người thân trong làng, hiện đang nhậm chức tại kinh đô, nhờ ông ta tới Từ hình bộ nhận tội rằng:
Đinh Toàn tự biết mình đáng chết, trước hắn ác quá, song xin ngài nghĩ đến tình người làng, mở cho hắn con đường sống, hắn tình nguyện hiến nhà cửa, ruộng vườn ở quê quán để chuộc tội.
- Làm gì có chuyện đó. - Từ hình bộ nói. - Ta kéo dài ra là có ý khác. Đinh Hiệp Công có tội với Tiêu trưởng khoa, chứ đối ta hắn chẳng có liên quan gì.
- Cho dù không liên quan, - viên quan ấy nói, - cũng xin ngài làm một Lỗ Trọng Liên, ý ngài thế nào? - Đừng tưởng lầm như thế. - Từ hình bộ nói. - Tôi trì hoãn không có ý gì khác, ba hôm sau sẽ biết.
Viên quan về nói lại, Đinh Hiệp Công cứ nghi hoặc mãi. Quả nhiên ba hôm sau nghe chiếu chỉ lập Đông cung Thái tử, đại xá thiên hạ. Từ hình bộ theo lệ, tha tội cho Đinh toàn, chỉ bãi miễn chức, rồi làm văn bản tâu với Hoàng thượng, được Hoàng thượng chuẩn y rồi thi hành, lúc ấy Đinh Toàn mới hiểu Từ hình bộ lấy đức báo oán. Quả là một vị thánh trong quan trường, là vị Bồ Tát trong ân oán. Cả nhà Đinh Toàn vô cùng biết ơn, hôm sau Đinh Toàn khăn áo tới bộ Hình định chờ khi nào Từ hình bộ ra công đường, đích thân tới bái tạ. Bằng Tử biết được, treo một tấm biển đề rằng: "Việc hội thẩm đều theo chiếu chỉ, không cho phép đệ trình".
Đinh Toàn thấy bảng đề như thế nghĩ: "Đây là đấng quân tử đức độ có tấm lòng cao cả, không muốn gây ra cái ác đối với con người". Rồi hắn đứng ngoài cửa nghiêm trang vái tạ tám lần, không biết miệng xuýt xoa ca ngợi những gì. Đúng lúc Đinh Toàn đang nghiêm trang bái tạ thì thấy một người quần áo rách nát chạy tới quỳ trước cửa, nói oang oang:
- Cầu mong ông bà lớn đời đời công hầu, mãi mãi phú quý con cháu hưng thịnh, hưởng thọ nghìn năm.
Rồi anh ta cúi hàng ngàn hàng vạn lạy. Lúc đứng lên, đầu húc vào Đinh Toàn, hóa ra hai tên này thân nhau, bỗng chốc. những chuyện xưa lại hiện về. Hai người chuyện trò về quê nhà chắp tay niệm Phật rồi đi. Bạn có biết người đó là ai không, đó chính là Lý Ma Tử. Sau này họ đều trở thành người lương thiện từ cửa công đường của quan Từ hình bộ. Người gác cửa bẩm chuyện này với Từ Bằng Tử, song ông không hề để ý tới.
 

Các bạn thấy không, Từ Bằng Tử chịu biết bao giày vò, công danh bị người ta chiếm đoạt, tính mạng nằm trong tay họ và ngay tính mạng của người vợ cũng khó bảo toàn. Thế mà Từ Bằng Tử đã lấy đức báo oán, hoàn toàn quên hẳn mối thù. Tuy là một người từng trải, có học vấn, từ trong gian khổ mà ra song về cơ bản ông là một hạt giống của Phật. Còn như Tiêu trưởng khoa không phải là không gian khổ, không rèn luyện, song không thể học được sự quên mối thù của Từ Bằng Tử. Về sau Từ Bằng Tử được chuyển sang bộ Lại, được thăng lên Thái thượng tuần phủ, làm quan tới Thượng thư bộ Lại, hưởng thọ hơn chín mươi tuổi. Phu nhân sinh được hai con trai. Bằng Tử cũng không nghi ngờ gì Xuân Anh , nhớ lại tình xưa nghĩa cũ thời bần hàn, Bằng Tử lấy làm vợ lẽ và cũng sinh được một con trai. Ba đứa nối dõi thư hương. Hai người đỗ tiến sĩ, một người đỗ cử nhân, họ đều làm quan. Tất cả là do vợ chồng nhân từ tích đức mà được vậy.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 EmptySun May 04, 2014 11:04 am

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 21
Khinh Tài Sắc Kẻ Cướp Đường Thuyết Pháp
Thoát Tử Sinh Đấng Nghĩa Hiệp Từ Tâm
Đừng nói người quê cảm khái sâu.
Đất trời nào biết có gì đâu,
Mộ người hiệp khách đầy cỏ dại
Quách huống tài danh chỉ vì tiền.
Ai bao ngàn năm không chính sử,
Chỉ tại đời này lắm quan tham.
Thế gian bao việc xin thử hỏi,
Cướp phải chăng tại rừng xanh.
Đây là bài thơ hình như không chỉ điều gì cụ thể, chẳng qua là cảm khái gửi gắm những suy nghĩ, mượn nó để bộc lộ những bất mãn phẫn uất của mình. Ngẫm nghĩ cho kỹ thì hình như bài thơ như là nói về những việc cụ thể, tôi là người đã vứt bỏ công danh, ngày ngày chạy theo ba bữa cơm đạm bạc, trong lúc nhàn rỗi cứ suy nghĩ về bài thơ ấy xem thế nào. Các bạn bảo, triều đình đặt ra bộ Lại, hằng ngày tuyển rất nhiều quan viên. Nhũng viên quan này ta đòi hỏi họ phải làm gì? Không khác gì là đòi hỏi họ vỗ yên muôn dân. Việc vỗ yên muôn dân tuy nhiều, song không có gì quan trọng bằng đánh dẹp bọn cướp. Bởi thế người ta thường nói dẹp cướp yên dân. Triều đình có quan văn, lại có võ tướng, từ trấn tuần tướng lĩnh trở xuống, lại có du kích, phiên bổ. Nhũng người này ăn cơm gạo triều đình, rõ ràng là phải dẹp cướp yên dân.
Lẽ nào kẻ làm cướp, khi lọt lòng mẹ đã định sẵn mình nhất thiết phải là kẻ cướp? Cũng có kẻ đói khát bức bách, cũng có kẻ phạm tội không thể tha thứ được, không còn cách nào khác buộc phải đi vào con đường ấy. Trong đó cũng có rất nhiều người vì phẫn uất mà giấu mình ở đó. Cũng có người trọng nghĩa khinh tài, cũng có người cứu giúp người hoạn nạn, cũng có người vung dao trừ khử bọn cường đạo giúp đỡ kẻ yếu đuối, cũng có người là kẻ phá gia chi tử, hối cải hiến thân cho đất nước. Những người này không thực hiện chí lớn của đời song lại không muốn làm điều xấu xa vô liêm sỉ, không muốn sống như con sâu cái kiến, không chịu làm điều lừa dối lương tâm, vơ vét những tiền tài đen tối. Cho dù tiết tháo, phẩm hạnh của mình không lập được thì cũng làm một trang nam nhi tự do, sống ngang tàng, khi việc thất bại, sẵn sàng đưa cổ cho người ta chém. Những người như thế hơn hẳn kẻ thực hiện mưu đồ đen tối để cướp của người. Bởi thế Lý Thiệp, một bậc tiên hiền đã làm thơ tặng họ rằng:
Vừa gặp vì sao lại bỏ trốn,
Trên đời chỉ có một nửa anh.
Thời ấy có thể nói là "chỉ có một nửa anh". Song ngày nay, câu ấy phải sửa là "Trên đời có ai được như anh". Thế nhưng, thứ nhất là đòi hỏi nhũng người dẹp cướp yên dân phải chính trực, liêm khiết, chứ không đòi hỏi họ phải gương mẫu về mọi mặt. Thứ hai là, triều đình phải phá cách dùng người chứ không thể câu nệ cất nhắc người làm quan theo một con đường nhất định. Những người này nếu được làm quan sẽ phát huy hết tài năng và cống hiến hết mình cho đất nước. Tôi xin kể cho các bạn nghe một câu chuyện sau đây.
Thời Tư Mã Tấn, nước Ngô có hai danh sĩ, anh là Lục Cơ, em là Lục Vân, đời đời làm quan to. Chưa kể đến họ giàu có nhất nước, mà ngay học trò của họ cũng ở khắp thiên hạ. Nước Ngô thất bại, đất đai thuộc về triều Tấn. Hai anh em họ tài cao học rộng, không chịu nổi cuộc sống buồn tẻ, có người tiến cử họ, họ chuẩn bị rất nhiều của cải, mua thuyền chở tới Lạc Dương yết kiến triều đình. Hôm ấy, thuyền đậu dưới sông, nghe thấy có tiếng còi huýt thì thấy có rất nhiều người ập xuống cướp tất cả của cải trên thuyền. Của cải đã chất đống trên bờ mà họ vẫn còn gào thét bắt giết nó đi. Sợ quá Lục Cô vội chui vào khoang lái, ngồi thu mình ẩn nấp. Khoang lái có một khe hở. Lục Cơ len lén nhìn ra, thấy một tráng sĩ ngồi trên chiếc giường Hồ đặt trên bờ, đầu chít khăn xanh, mặc áo bào đỏ, dáng vẻ phi phàm, phong tư xuất chúng. Sai bảo mọi người, ai cũng nghe theo răm rắp. Phân chia của cải rất công bằng. Thấy thế Lục Cơ hết sức ngưỡng mộ, thầm khen ngợi. Không kìm nén nổi, tự nhiên gọi to:
- Tráng sĩ trên bờ có thể cho biết tính danh được không? Tôi có câu chuyện muốn nói. Tráng sĩ giật mình, ngẩng đầu lên thì thấy một người ngồi xổm trong khoang lái nói ra, bèn cười nói:
- Anh nói gì?
- Tôi đã gặp nhiều người. - Lục Cơ nói. - Song thấy tướng mạo và hành động của tráng sĩ thật khác thường nhưng rất tiếc con người cao cả ấy lại chôn vùi vào con đường này. Sao tráng sĩ không bỏ quách nó đi, cố gắng học hành thành tài để cống hiến cho triều đình, khỏi uổng phí tài năng và phẩm hạnh.
Người tráng sĩ ấy nói:
- Ông có thể ra đây để ta gặp mặt được không?
Thấy thế Lục Cơ vội nhảy ra khỏi thuyền lên bờ, vái chào tráng sĩ. Hai người nói cho nhau biết họ tên. Người tráng sĩ ấy nói:
- Tôi là Đới Uyên, nhân vì thiên hạ nhiễu nhương nên tôi phải một mình phiêu bạt nơi đây mai đó, quả thực tôi chưa từng đi học. Nếu ông không vứt bỏ thì tôi xin tôn ông làm thầy.
Từ đó tráng sĩ ấy miệt mài học tập. Vui vì thấy ông lập chí. Lục Cơ hết lòng dạy dỗ, tiến cử ông làm quan. Sau này là trụ cột của triều tấn, vì người dẹp loạn, trở thành một người trung thần mà tên tuổi còn lưu mãi tới ngày nay.
Thời Tống lại có một tể tướng tên là Trương Tế Hiền. Khi chưa gặp thời, nghèo rớt mồng tơi. Ông chưa từng cáu gắt với ai. Bụng ông cũng chưa bao giờ ăn được một bữa no. Hôm ấy đói quá chẳng có gì tiêu khiển, ông đành vào thành chơi cho khuây khỏa. Thấy trong một gian nhà dột nát có rất nhiều bậc anh chị, xắn tay phanh ngực, ăn uống ngồm ngoàm, nói năng hùng hổ. Trương Tế Hiền biết đây là những tên dao búa, liền nghênh ngang bước vào, chắp tay vái. Một trong số bọn họ đùa anh rằng:
- Tú tài có biết uống rượu không?
- Sao lại không biết. - Trương Tế Hiền nói. - Các ông đều là hào kiệt, chỉ vì tể tướng không biết, không dùng các ông nên các ông mới thế. Tôi là một học trò nghèo, rất ghét những kẻ bỉ ổi xấu xa, mà lại kính trọng các ông.
Những tay anh chị này thấy chí khí hiên ngang, nói năng tự nhiên thoải mái, bèn mời anh ngồi hàng đầu. Anh ngồi xuống cũng chẳng hề giữ gìn ý tứ, gắp ăn, rót uống rất ngon lành, thấy thế họ đều bỏ đũa bát xem anh. Anh mặc họ, cứ chén tràn, mâm bát hết nhẵn mới bỏ đũa, quệt quệt mồm nói:
- Tôi quấy rầy các ông nhiều, xin cáo lui.
Thoạt tiên anh như một tú tài, giờ đây trông anh còn hơn cả kẻ cướp. Mọi người nói:
- Anh đúng là một trang hảo hán, hiếm thấy trong đám nghèo kiết xác, xem ra sau này anh có thể làm tể tướng. Đến lúc ấy phải nhớ tới bọn này nhé.
Nói xong người mang gói, kẻ thì mang túi, ai cũng tặng cho anh. Tế Hiền không hề từ chối, vơ lấy hết rồi chắp tay vái, vác đồ đi ra. Sau này Trương Tế Hiền quả làm tể tướng thật. Xem ra người trước là trung thần, còn người sau là trí sĩ. Truyện này có ghi trong sử sách, song nếu lại cứ đưa thêm mấy chuyện nữa e rằng sẽ rờm rà. Tôi xin kể vào câu chuyện chính để các bạn nghe.
Vào nam Thuận Thiên, huyện Tân Kiến, phủ Nam Xương, tỉnh Giang Tây, có một tú tài tên là Thời Tăng, tự Đại Lai. Ông nội là một nhà nho, anh lấy một người vợ là Vạn thị. Thời ấy Đại Lai tuy học giỏi, nhiều lần đỗ loại ưu, song gia cảnh lại nghèo túng. Hằng ngày dựa vào dạy học mà sống. Vùng Giang Tây rất nghèo, tiền dạy học chẳng lấy gì làm nhiều. Tuy gia đình ít người, tiền dạy học cũng chỉ đủ tiêu pha tằng tiệm, chẳng dư dật chút nào. Năm ấy đúng vào năm hạn hán mất mùa, ăn còn không đủ lấy đâu mà cung đốn cho thầy. Bởi thế anh không tìm được chỗ dạy học. Phàm là tú tài thì chỉ có dạy học là kiếm sống. Không có chỗ dạy thì không còn kế sinh nhai, những người khác tuy không còn kế sinh nhai nhưng còn có tiền vốn để chi dùng hoặc có thể làm giúp người khác kiếm sống. Song cái nghề tú tài quý hóa này thì có vốn đâu mà chi dùng, cũng chẳng biết tính toán nên cũng chẳng ai nhờ. Lại không biết gồng nặng gánh nhẹ, làm ngày nào sống ngày ấy. Các bạn bảo thế thì sao mà không nghèo. Lúc ấy Đại Lai đang buồn rầu ngồi trong nhà, nhìn bộ mặt võ vàng của vợ, chẳng khác nào kẻ thù, lúc nào mặt vợ cũng cau có, bởi đã ăn nhờ vợ đã hai ba tháng nay rồi.
Hôm ấy đúng vào lúc không còn một hạt gạo, thanh củi, Vạn thị nói với chồng:
- Nhà đã hết sạch gạo, anh đi đâu vay mấy đấu gạo ăn tạm hôm nay. Ngày mai em lấy tiền công khâu giày về thì có thể ăn thêm được mười ngày, anh tính sao?
Thời Đại Lai đáp:
- Được rồi!
Nói xong anh vội vàng vào bếp, định lấy chậu nước nóng rửa mặt mới đi. Nào ngờ đâu bếp núc lạnh tanh, nồi niêu lỏng chỏng. Thấy tình cảnh ấy anh vô cùng buồn bã, cắm cúi đi ngay. Vốn là khi nhận lời vợ, Thời Đại Lai cũng chưa biết sẽ tới nhà ai. Đến khi ra khỏi cửa anh mới sực nghĩ: "Mình cứ vội vã đi nhưng đi đến nhà ai đây". Anh đứng lại nghĩ một lát. Người dì của vợ ở ngoài cửa Quảng Nhuận có lẽ hàng tháng nay mình chưa đến, mượn dì ít tiền hoặc vay dì ít bạc chắc là cũng được thôi." Vừa mới đi được mấy bước anh lại nghĩ: "Không được, người chồng của dì là người phố xá, họ giàu mình nghèo, họ sẽ khinh thường, hôm nay đến nếu ông ấy không cho mượn thì nhục quá". Anh quay trở lại, đứng nghĩ một lát: "Ngoài cửa Chương Giang năm ngoái có một nhà có con học ta, anh ấy cũng có ăn, thôi thì mượn anh ta cũng được". Anh vội vàng đi được mấy chục bước lại nghĩ: "Không được, nhà túng thiếu thì họ mới cho con thôi học, nay lại đến mượn thì quả là chẳng biết điều một chút nào". Anh lại quay về, vừa đi vừa nghĩ: “Cửa hàng của Uông Chiêu Phụng ở Liêu Châu là cửa hàng cầm đồ, mang thẻ đi cũng có thể vay được ít tiền". Rồi lại nghĩ: "Ta đến nhà người bạn họ Phó cũng có thể vay được mấy đấu gạo". Nghĩ đến nhà này đến nhà khác, cứ đi đi lại lại trên đường như một người điên mất trí. Cũng không biết anh đi đi lại lại bao nhiêu lâu mà vẫn chưa vượt ra ngoài mười bước. Không ngờ một đứa trẻ bảy tám tuổi, tay cầm một chiếc bát, bên trong có đựng một ít mỡ đi tới, vấp phải anh, chiếc bát rơi chát xuống đường vỡ tan tành. Đứa bé nào có sá gì đến anh, nó túm ngay lấy Thời Đại Lai bắt đền. - Hãy đền ta đi.
Thời Đại Lai lấy đâu ra tiền mà đền, cuống lên nói:
- Cháu đi đường, tôi cũng đi đường, cháu lỡ tay đánh rơi, sao lại bắt tôi đền.
Đứa trẻ khóc khóc mếu mếu, nói:
- Ông không trả tôi, tôi cũng không về nhà được, tôi cùng đi chết với ông thôi.
Trong phút chốc, người ta xúm đen xúm đỏ, có người nói:
- Đứa bé ấy đánh đổ nhiều hay ít mà khóc dữ vậy?
- Cháu đi mua một đồng mỡ. - Thằng bé nói. - Về xào rau cho bố cháu ăn, rồi đi Nam Kinh, thế mà ông ấy đánh vỡ mất cái bát của cháu.
Lại có người nói với Thời Đại Lai:
- Ông là người ở đâu, đã đánh vỡ bát của nó rồi, thôi thì hãy đền cho nó.
- Tôi là học trò của phủ này. - Thời Đại Lai nói. - Quả thực trong người tôi không mang một đồng nào. Nếu có thì một đồng chứ nhiều hơn tôi cũng đền.
Lại có người nói:
- Anh là học trò thì đi đường cũng phải có văn hóa một chút chứ, vì sao anh đánh vỡ chiếc bát của thằng bé, hóa ra anh cũng không bằng một đứa trẻ.
Trông chàng hào khí ba ngàn trượng,
Trong túi thế mà chẳng một xu.
Mặt ngựa đầu trâu đời bao kẻ,
Vàng đeo xủng xoảng, kẻ ngu ngơ.
Đứa bé ấy cứ túm chặt lấy anh, dù chết cũng không buông, bắt anh đền cho bằng được. Những người xem cứ nhao nhao cả lên ầm ĩ, khiến cho Thời Đại Lai không biết làm thế nào, nếu có thể chui xuống đất được thì anh cũng chui ngay. Chiếc áo dài may bằng vải của anh cũng bị xé toạc chẳng còn ra gì nữa. Bỗng anh thấy một trang nam nhi, thân cao bảy thước, hàm râu rậm dài hơn một thước, trông như Quan Công. Bước tới rẽ mọi người ra, vốc một vốc tiền trong túi trước ngực, bảo đứa bé:
- Hãy cầm lấy mang đi.
Sau đó, người ấy kéo Thời Đại Lai đi, nói:
- Tướng công hãy theo ta.
Cuối cùng đám đông bỏ đi. Bạn hãy xem người ấy ăn mặc thế nào.
Đầu đội khăn chữ nhất, Thân mặc áo chiến bào.
Lưng đeo bao tên,
Chân đi giày ủng.
Tóc búi trang nghiêm,
Chòm râu phất phới.
Lưng sáng loáng thanh đao,
Mắt đằng đằng sát khí.
Sợ gì ma quỷ quấy rầy.
Lúc ấy Đại Lai uất quá, anh như người ngây dại, thuận chân đi theo ông ta mấy chục bước. Người ấy kéo anh lên lầu của một tiệm lớn, ấn anh ngồi xuống rồi lớn tiếng gọi rượu. Thời Đại Lai lúc này đã bình tĩnh trở lại nói:
- Tráng sĩ là ai, tráng sĩ lầm rồi.
- Mỗ là người Bắc Trực, có chút việc ngồi trên lầu chờ một người bạn đã từ sớm, thấy ông đi đi lại lại trên đường. Ngay tôi nhìn thấy cũng không kìm nén nổi, tôi ngờ rằng tiên sinh đang có việc gì bất đắc dĩ ghê gớm lắm, đang định xuống lầu hỏi xem sao, không ngờ lại xảy ra việc này. Xin hỏi tiên sinh vì cớ gì vậy?
Thời Đại Lai không dám nói thẳng, chỉ nói hàm hồ:
- Chẳng có việc gì, chỉ định đi thăm một người bạn để tán gẫu thôi.
- Đại trượng phu, - người ấy nói, - một lời cũng trở thành tương đắc, đâu nhất định là một việc lớn nan giải, ta cũng có thể giúp được đôi chút. Sao tiên sinh lại giấu ta như thế, có thể nói tiên sinh chưa hiểu người.
Nghe thấy thế Đại Lai nghĩ rằng đây đây là một người lạ lùng, bèn nói:
- Không giấu ngài, tôi là thư sinh trường phủ, sống bằng nghề dạy học, năm nay hạn hán mất mùa nên học trò không đi học nữa, gạo củi trong nhà đều hết, định tới nhờ vả mấy người bạn vay ít tiền để sống qua những ngày đói kém. Vừa ra khỏi cửa, trong lòng cứ do dự chưa biết là tới đâu thì gặp đứa bé này cứ chửi toán lên, dáng vẻ xấu xa đớn hèn của hàn sĩ đã bị người ta ghẻ lạnh. Nếu đúng lúc ấy mà không gặp được ân nhân thì không biết bây giờ tôi đã ra sao.
Nói xong nước mắt cứ chực trào ra. Người ấy gật gật đầu thở dài, nói:
- Cũng là người đọc sách, người nào gặp thuận lợi thì suốt ngày chỉ cùm kẹp đánh đập người đời, nhẫn tâm vơ vét bóc lột của cải của người khác, giàu có không ai địch nổi vậy mà vẫn không biết chán, cứ vơ vét mãi, còn những người không gặp vận thì không những cái đói rét nó bám riết lấy bản thân, mà ngay cả vợ con cũng chẳng bảo toàn được. Vừa mới đây thôi, chỉ có một đồng không trả nổi đã chịu biết bao xấu xa cay đắng, xem ra ông trời xếp đặt rất bất công. - Thế rồi người ấy bô bô nói. - Tôi cứ ngỡ là có chuyện gì to tát lắm, hóa ra chỉ là cái việc cỏn con, đáng thương, đáng thương thay. Có điều tôi ngồi đây đã lâu muốn tới đó ngay, nay tôi không thể tiếp ông tới cuối bữa được.
Nói xong, người ấy đưa tay lên túi ngực, móc ra một gói đặt xuống bàn đến keng một tiếng, nói:
- Hôm nay ta không chuẩn bị, chỉ mang một ít bạc mua chút lót dạ, thôi thì ông cứ nhận lấy, đừng trách tôi. Chào ông. - Khi đi người ấy còn quay lại nói. - Rượu và thức nhắm hãy còn, tiên sinh cứ nhẫn nha, yên tâm dùng nốt tôi đã trả tiền.
Nói xong người ấy nhẹ nhàng xuống lầu. Lúc ấy Đại Lai đang định chối từ, chưa kịp nói thì người ấy đã xuống từng dưới, đưa một gói to cho chủ quán, nói:
- Đây là tiền uống rượu, trên gác đang còn một vị tướng công đang uống, tôi trả cả vào đấy. Hãy cầm lấy, tôi sẽ tính toán sau.
Thời Đại Lai xuống lầu đuổi theo thì người ấy đã đi tới đường, đi qua mấy nhà rồi. Thời Đại Lai gọi toáng lên:
- Hãy đứng lại đã. Xin ông cho biết quý danh.
Người ấy vừa đi vừa đáp lại:
- Biệt hiệu của ta là Phong Nhiễm Tử.
Vừa nghe hết câu thì không thấy người ấy đâu nữa. Thời Đại Lai quay lại tửu lâu, thấy rượu và thức ăn vẫn còn bày trên bàn, anh vừa ăn vừa ngẫm nghĩ: "Thiên hạ sao có những người lạ lùng như thế, đến ngay cả hai chữ cảm ơn cũng không nhận, cứ vội vàng đi như bay. Lẽ nào đây là giấc mơ? Không gói đồ vẫn đang nằm trên bàn, gõ vào kêu keng keng, ta nghĩ trên đời này còn có nhiều hiệp sĩ cao thượng, phần đông là những người như thế này. Đáng tiếc là người ấy đi quá vội không được chuyện trò lâu. Anh ăn hết những thức ăn trên bàn, rồi cầm lấy gói xuống lầu. Đúng là:
Có duyên nghìn dặm mà cũng gặp, Ai ngờ năm ấy vận chửa thông. Hôm nay gặp bác phải say khướt, Đừng theo chim nội chửi gió xuân. Lại nói, vợ Thời Đại Lai ở nhà, bóp bụng chờ đợi, song chẳng thấy bóng dáng chồng về. Mãi tới chiều Thời Đại Lai mới mở cửa bước vào, mặt đỏ phừng phừng, tươi cười hớn hở
Vạn thị hỏi: - Anh vay được bao nhiêu?
- Chẳng vay được một hào nào.
- Không vay được thì sao mãi đến tối mới về, lại ăn no uống say như vậy?
Thời Đại Lai vứt cái gói xuống bàn, nói:
- Em nhịn đói đến tận bây giờ, anh cũng rất thương em, anh đưa cái này cho em xem đây. - Cái gì thế?
Vạn thị cầm lên thấy nằng nặng, mở ra xem thì thấy có năm gói, mỗi gói mười lạng, đều là loại bạc cổ nguyên chất.
Vạn thị nói:
- Cái này ở đâu ra, hay lại làm điều gì sai trái.
Thời Đại Lai cười ha hả, nói:
- Ta là người có học, sao lại làm bậy được.
- Vậy thì ai cho anh mượn?
Thời Đại Lai kể lại tỉ mỉ từ đầu đến đuôi những chuyện đã xảy ra hôm nay cho vợ nghe. Vạn thị nói:
- Nhất định là thần tiên thương mình rồi, thấy vợ chồng mình cùng cực quá, đến đây cứu vớt chúng ta. Anh có hỏi tên người ấy không?
- Người ấy lông mày cao, mắt sáng, râu quay nón rậm mà dài, lại có phong khí phiêu diêu như lướt trên mây. Có thể là thần tiên chưa biết chừng. Anh vội chạy theo hỏi họ tên, thì người ấy chỉ nói là Phong Nhiễm Tử, rồi biến mất. Anh nghĩ, số bạc này có trả lại cũng không được, giờ hãy mượn một ít để chi dùng có ngại gì. Hãy mở gói ra lấy một phong mua mấy gánh củi, một gánh gạo, ít mắm muối, rau rợ, mau thêm chút rượu thịt, để anh với em ăn một bữa tươi.
Một lát sau, trong nhà náo nhiệt ồn ào hẳn lên như có thêm rất đông người. Hai vợ chồng cười nói râm ran chứ không buồn bã lạnh lẽo như trước nữa.
Các bạn thân mến, Phong Nhiễm Tử là ai vậy? Ông vốn là một tướng cướp, song ông đi ăn cướp khác với người khác. Những tên cướp khác ngay cả những người buôn thúng bán mẹt chúng cũng không tha, quần áo rách nát chúng cũng vơ cho bằng hết. Đại Lai cho rằng: "Làm người tốt có tông tích của người tốt. Ngay làm người xấu cũng có phẩm tiết của người xấu. Đại trượng phu đã đầu thai ở cõi đời, cũng phải vì trời mà để lại một chút nhân ái, vì triều đình mà cống hiến một chút công lao, vì gia đình mà để lại chút danh thơm. Nếu như buôn bán, mang tiền vốn của cha ông, băng đèo lội suối, lo lắng sợ hãi, chỉ kiếm được chút ít lãi, về nhà trả nợ, nuôi nấng cha mẹ vợ con. Nếu anh bán với giá cắt cổ thì trời cũng không dung. Còn những kẻ tham quan ô lại, ăn bổng lộc của triều đình, lại dùng cùm kẹp, để bóp nặn dân nghèo, dùng hết khiêng nặng gánh nhẹ để sống một đời xa hoa dâm đãng. Nếu triều đình biết được không những truy hồi tang vật, mà còn phải chịu tội. Nay ta phát hiện ra tang vật, tha tội cho ông ta, ta vì triều đình thực thi lòng nhân ái ngoài pháp luật, thì quả là có lợi cho ông ấy". Bởi Phong Nhiễm Tử gặp những người ít vốn cũng không để ý tới, gặp những người làm quan cũng không khúm núm. Tuy là cướp đấy, song có thể coi những hiệp sĩ cao thượng. Lúc ấy ngẫu nhiên gặp Thời Đại Lai ông ta động lòng thương cứu giúp, Thời Đại Lai cũng không biết đây là họa hay phúc. Hôm sau, Thời Đại Lai mua hai bộ quần áo mặc vào chẳng ai dám bảo anh là thầy đồ thất nghiệp
Hơn nhau tấm áo manh quần,
Thả ra mình trần ai cũng như ai.
Tây Thi nếu mặc đay gai,
Ra đường cũng chẳng có ai buồn nhìn.
Áo nâu giấu ngọc trong tim,
Dẫu là Khổng Mạnh ai nhìn cho ra.
Xuân về trời đất đầy hoa.
Líu lo chim chóc hát ca tưng bừng.
Bởi thế, ăn mặc vào, Thời Đại Lai ra dáng một cử nhân. Tục ngữ có câu, chó không cắn quân tử. Lẽ nào chó là loại thông minh, nó thấy anh ăn mặc sang trọng như một người quyền thế, chó không dám cắn. Thấy anh ăn mặc đẹp thì dù anh là thằng ăn mày, khi ăn cỗ người ta cũng mời anh ngồi mâm trên. Ngay đi đường tuy không quen biết anh, nhưng người ta vẫn nhường đường. Nếu như anh ăn mặc rách rưới thì dù văn anh có như Khổng Mạnh, võ ngang với Tôn Ngô(1) thì chẳng nói gì tới ngồi cỗ, mà ngay anh đi đường, đứa ăn mày nó cũng hất anh sang một bên để đi trước. Đấy là thói tục từ thuở khai thiên lập địa, trách sao được.
(1) Tôn Ngô: tức Tôn Tử, Ngô Khởi, hai nhà binh pháp thời Chiến Quốc. (ND)
Lại nói Thời Đại Lai, mặc chiếc áo dài lụa mới mua, đi thăm người bạn họ Phó trở về, nghe thấy có người đằng sau gọi: “Thời tướng công tiên sinh". Quay lại thì đó là Lữ Du Chi, anh dừng lại. Du Chi nhìn Đại Lai từ đầu đến chân nói:
- Mừng cho anh năm nay có chỗ dạy tốt.
- Có chỗ dạy đâu mà tốt.
- Không có chỗ dạy càng tốt, tôi có một chuyện định nói với anh.
- Xin sẵn sàng nghe anh đây. - Có một thái phú phủ Triều Châu, Quảng Đông, thuyền đậu ở Liễu Châu rồi đi nhậm chức, muốn mời một người giúp việc ở bản địa. Hôm kia tin ấy lọt đến tai, tôi định nhận đây kiếm mấy lạng bạc, đi suốt hai ba hôm nay vẫn chưa tìm được người quen biết. Nếu anh không có lớp dạy thì có chịu làm việc này không?
Thời Đại Lai hết sức mừng rỡ, nói:
- Xin nhờ anh giúp cho, việc này anh rất thành thạo.
- Nếu anh đã nói thế thì anh cứ đi về đi, tôi đi một lát sẽ tới.
Một lát sau, Lữ Du Chi cùng một vị áo xanh mang tờ thiếp hồng, một gói sáu lạng làm quà tặng. Người ấy nói với Thời Đại Lai:
- Nói bằng nào tôi trả bằng ấy, công mỗi năm tôi trả một trăm hai mươi lạng. Trả trước một nửa để nhà yên tâm, sáng ngày kia nhổ neo. Lát nữa mời ông tới gặp ông lớn.
Thời Đại Lai nhận tiền rồi hai người lên thuyền, tri phủ thấy Đại Lai áo là tươm tất, nói năng nhã nhặn, bèn nhận ngay và nói:
- Nhờ ông thu xếp sớm, trưa mai đã nhổ neo lên đường. Sau đó tri phủ gói sáu mươi lạng bạc ứng trước tiền công đưa cho Thời Đại Lai, Thời Lai nhận bạc rồi tri phủ tiễn ra khỏi thuyền. Lữ Du Chi đến sớm, Đại Lai mở gói ngay trước mặt lấy hai bao tạ ơn Dụ Chi, còn lại anh đưa cho vợ. Hôm sau Đại Lai thu xếp lên đường, ngày thứ hai họ hò reo nhổ neo. Đi tới Nam Lĩnh thuê ngựa thồ vượt qua núi. Đúng là:
Chẳng phiền dịch sứ gửi hoa mai,

Vận đến gió đưa, Đằng Vân Các.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 EmptySun May 04, 2014 11:06 am

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 21 (B)
Viên tri phủ này họ Nhậm, vốn xuất thân từ khoa giáp, là người cực kỳ tham lam, đầu tiên được nhậm chức tri huyện Cối Kê. Hắn chẳng giữ thể diện gì, lừa cả nguyên cáo lẫn bị cáo, bị người địa phương vạch trần, không trụ nổi hắn dùng tiền đút lót để được điều tới huyện Tĩnh An, tỉnh Giang Tây. Hắn vừa đến thì huyện Tĩnh An trở thành bất an. Hắn tìm mọi cách vơ vét cho bằng hết. Làm được hai năm thì bị phê phán, không được hai nha môn cất nhắc, song hắn đã tìm mọi cách để leo lên chủ sự bộ Hộ. Vận của hắn đang lên, hắn được trông coi việc quản lương và thu thuế, phụ thu lạm bổ quá nhiều. Số bạc hắn vơ vét được không sao kể xiết. Hắn thăm dò thấy Triều Châu sẽ là nơi phát tài, hắn bèn tìm cách để được làm tri phủ Triều Châu. Những người thân đi theo không nhiều, chỉ có phu nhân và một tiểu thư là Trại Nhí, với ý là con trai cũng không sánh kịp. Tiểu thư rất xinh đẹp, hiểu biết rộng, coi thường cha mình chỉ vì tiền tài, sợ rằng việc quan sẽ gặp nhiều bất lợi, cô thường can ngăn cha. Thấy con bất hiếu nên tri phủ cũng không quý cô, ông ta có hai thuyền lớn, thở đầy ắp, không kể tới đồ đạc to và nặng, ngay những đồ cổ quý hiếm cũng chất đầy cũng lóa mắt không sao đếm xuể. Hôm ấy thuê phu mang vác qua dốc núi, người gánh kẻ khiêng kìn kìn, kéo thành một đoàn dài. Không giống như người đi nhậm chức mà giống một viên quan dọn nhà về quê. Hành lý đi trước, phu nhân và tiểu thư đi sau, tri phủ Nhậm áp tải đi sau, bỗng thấy có tiếng còi vang lên, mấy mũi tên bằng gỗ liễu vụt qua trước mặt, tất cả đều hốt hoảng đứng lại. Thấy hơn mười người đàn ông xông tới cướp hành lý. Họ nói:
- Bắt trói tên cướp của ấy giết đi.
Một lát sau họ trói tri phủ Nhậm lại. Đang lúc kêu trời kêu đất thì bọn Thời Đại Lai đi ở đàng sau, ngồi trên xe, từ đầu dốc đi tới, được báo là hàng của quan bị cướp. Đại Lai giật mình vội chạy lên phía trước, đứng trên cao quan sát thì một người trong bọn họ nói:
- Hóa ra Thời tướng công cũng đến, thôi thả hắn ra.
Thế là đột nhiên những người này bỏ đi hết, tri phủ được mọi người cởi trói, song hành lý, lương thực, ngay cả tiểu thư cũng mất hút. Tri phủ nói:
- Rõ ràng vừa rồi nghe thấy bọn cướp nói tới Thời tướng công, vì sao chúng biết được lão Thời? Nếu hôm nay không đi cùng ông ấy thì ta đã toi mạng rồi. Ta không thể ở lâu trên dốc núi này, phải tới ngay phủ Nam Hùng rồi sẽ tìm hiểu sau.
Lát sau tới phủ Nam Hùng, vì không thấy tiểu thư, Nhậm tri phủ nghĩ, "bọn cướp này đã cướp của của ta lại còn cướp cả con gái của ta nữa". Rồi tri phủ Nhậm lại nghĩ tiếp, đúng rồi, đúng rồi, bọn cướp nhận ra lão Thời, tại sao không truy hắn tận gốc, lúc ấy sẽ tìm ra con gái, thế là hắn quên cả ơn cứu mạng. Đúng là:
Chỉ mưu thục hiện không thành kế,
Chẳng nghĩ mình đã hút máu người.
Hôm sau tri phủ Nhậm đích thân tới bái kiến tri phủ Nam Hùng, kể lại chuyện đã xảy ra, hắn nói:
- Cái khác thì thôi, tôi chỉ thương đứa con gái, ai ngờ người giúp việc mình mới tới lại câu kết với bọn người này, mong ngài nghiêm trị Thời Đại Lai, nhất định hắn sẽ khai. Con tôi được trở về, còn tất cả tang vật thu được sẽ dâng cho ngài, tôi sẽ hậu tạ.
- Xin nghe lời dạy bảo của ngài, xin cám ơn ngài. - Tri phủ Nam Hùng nói.
Vốn là, khi tri phủ Nhậm nghe thấy câu nói ấy thì Thời Đại Lai còn ở đàng sau, nên không hay biết gì.
Đến khi tri phủ Nhậm đến bái kiến tri phủ Nam Hùng trở về, Thời Đại Lai ra đón, nói:
- Bái kiến ngài nên nhờ ngài bắt là tốt nhất.
Tri phủ hùng hổ nói:
- Không cần bắt cũng tìm ra tám chín phần rồi.
Nói xong hắn đi vào, Thời Đại Lai chỉ nghĩ ông ta đang đau thương nên tỏ ra bực bội như thế. Vừa quay đầu lại đã thấy một bọn người hùng hổ cầm xích sắt xông vào tròng cổ anh lôi đi. Thời Đại Lai nói:
- Tại sao vậy?
Ra tới cổng gặp người quản gia, anh nói:
- Anh báo ngay cho ông lớn biết, những người này vô cớ bắt người, hãy cứu tôi ngay.
Người quản gia vờ vịt nói:
- Anh đi mà báo.
Thời Đại Lai kinh ngạc nghi ngờ, không sao quyết được, bèn nói với người ấy rằng:
- Các ông theo lệnh ai đến đây, đừng có làm bừa như thế, ta là tướng công do ngài Nhậm mời tới.
Những người ấy nói:
- Thì chính người mời anh là nguyên cáo.
- Việc này căn cứ vào đâu vậy? - Thời Đại Lai nói.
Những người ấy cứ lôi bừa đi, nói:
- Đến đấy rồi sẽ hiểu.
Đúng là:
Không gió mà nổi sóng
Nói ra thật đáng khinh.
Thời Đại Lai không biết tình hình bên trong thế nào, vẫn cứ trông chờ Nhậm tri phủ cứu giúp. Cả gan theo họ tới phủ Nam Hùng. Tri phủ lập tức lên công đường, nhìn Thời Đại Lai nói:
- Đúng là tên giúp việc lại là kẻ cướp.
Thời Đại Lai dõng dạc nói:
- Kẻ cướp là kẻ cướp, người giúp việc là người giúp việc, tại sao ngài lại bảo người giúp việc là kẻ cướp?
- Ngài Nhậm tri phủ có lòng tốt với ngươi, tại sao ngươi lại thông đồng với bọn cướp, cướp tài sản của ngài, mà lại còn cướp cả con gái ngài nữa? Ta cho rằng ngươi thấy cô đẹp, nên cướp cô ấy về làm vợ chủ trại. Như thế thì người làm quan ai dám mời ngươi giúp việc. Hãy kẹp nó ngay cho ta.
- Ngài căn cứ vào đâu? Ngài đã vô cớ đổ oan cho tôi.
- Mày không thông đồng thì tại sao bọn cướp biết mà gọi tên mày?
- Ai nghe thấy?
- Tất có người nghe thấy, mày hãy khai mau họ tên bọn chúng, tàng trữ ở đâu, nếu truy tìm được tang vật ta sẽ tha ngay.
- Giữa thanh thiên bạch nhật mà tôi mắc nỗi oan trái này, thà tôi chết làm quỷ, xuống diêm vương kêu oan chứ không biết ai mà khai.
Viên tri phủ chỉ mong tìm ra tang vật để làm vật tạ ơn, chứ kể gì đến oan hay không. Đột nhiên tri phủ nổi giận, gọi người kẹp Đại Lai. Bọn sai nha nhất tề xông tới đánh Đại Lai huỳnh huỵch. Tri phủ định bóc trần sự thật, thấy Đại Lai lần đầu chưa khai, đành hoãn lại, nói:
- Giam hắn lại, chờ thẩm vấn sau.
Sau đó tri phủ Nam Hùng sai người báo cho tri phủ Nhậm. Tri phủ Nhậm trực tiếp đến bàn với tri phủ Nam Hùng một lần nữa rồi mới từ biệt tới nhiệm sở.
Lại nói người cướp ở Mai Lĩnh là ai vậy? Đó chính là người của Phong Nhiễm Tử. Họ thấy Thời Đại Lai bèn cùng nhau quay về. Tới bản doanh, thấy trước cửa trại có một chiếc kiệu, Phong Nhiễm Tử hỏi:
- Kiệu này khiêng ở đâu về thế?
- Đây là con gái tên tham quan.
- Ai cho các ngươi khiêng về, có làm cô ấy sợ không?
- Chưa ai dám động đến cô ấy. Ngài hãy kiểm tra xem.
Phong Nhiễm Tử lập tức đến gặp tiểu thư, ông vái chào, nói:
- Tiểu thư đừng sợ, vì ta nghe người trị dân huyện Tĩnh An rất tàn ác, nhân dân ta oán, ta muốn trừ tai họa cho dân, nhưng chưa thực hiện được. Nay hắn lại được thăng chức quyền về Tuần Châu, hành lý mang theo nhiều vô kể, ta đã gặp tại Mai Lĩnh, động chạm đến ý muốn của ta xưa kia. Khi ở trên núi, ta trông thấy Thời tú tài. Ông là người chính nhân quân tử nếu ông cùng đi với cha cô thì hẳn ông đã giúp cha cô đi theo con đường ngay thẳng, bởi thế mới quay về. Không ngờ những người anh em của ta không hiểu lòng ta, làm phiền đến tiểu thư xin tiểu thư đừng sợ hãi, nhất định ngày mai tôi sẽ đưa tiểu thư về Nam Hùng, giao tiểu thư cho tri huyện.
Tiểu thư cúi đầu tạ ơn, nói:
- Nếu được trả về thì quả thật ngài là cha mẹ sinh ra thiếp lần thứ hai.
Phong Nhiễm Tử sắp xếp cho tiểu thư nghỉ tại một phòng sạch sẽ yên tĩnh, sai người trông coi tiểu thư. Hôm sau Phong Nhiễm Tử thuê mấy ngươi khiêng kiệu ở bản địa và sai mấy người đi theo. Tiểu thư nghĩ bụng:
- Trong thiên hạ sao lại có kẻ cướp tốt như thế, họ lại chịu trả ta về, mà không biết tại sao Thời tiên sinh lại quen biết những người ấy? Lẽ nào ông ấy lại là cướp? Vừa rồi ta đã nghe ông ấy nói về cha mình, quả là không sai. Người này đúng là một chính nhân quân tử. Việc này xem ra ông ấy không phải là cướp và vì sao những người ăn cướp ấy lại kính trọng ông ấy đến thế.
Một lát sau những ngươi tiễn tiểu thư tới Nam Hùng trở về. Nhậm tiểu thư được ra, bẩm với tri phủ Nam Hùng, ông ta gọi thuyền đưa ngay đến Triều Châu và sai người đi theo, rồi về nói lại với mình.
Những người tiễn tiểu thư về trại. Phong Nhiễm Tử hỏi:
- Đã đưa cô ấy tới nơi chưa? Không bỏ rơi đấy chứ?
Những người ấy nói:
- Không những không bỏ rơi mà còn nghe được một chuyện nực cười, ông hãy tới mà xem.
Phong Nhiễm Tử vội mở ra, thấy một tờ yết thị, trong đó viết:
“Nay ta hiểu dụ, theo Nhậm tri phủ Triều Châu nói, ngài đưa gia quyến tới nhiệm sở, qua Mai Lĩnh gặp cướp, cướp hành lý lương thục không sao kể xiết và còn cướp cả tiểu thư, hiện không biết ở đâu. Nay biết được Thời Đại Lai là đầu sỏ, đã thông đồng với bọn cướp làm nội ứng. Thời Đại Lai đã bị bắt và đã bị kêu án. Chờ điều ra, truy lùng bọn dư đảng. Nếu ai biết tin tức báo cho phủ quan, sẽ thưởng cho năm mươi lạng bạc, kẻ nào che giấu, bị phát giác sẽ bị trọng tội, quyết không tha thứ. Nay yết thị."
Phong Nhiễm Tử đọc xong, giậm chân nói:
- Ta đã làm hại anh ấy, là tú tài làm sao anh ấy chịu đựng nổi. - Ngẫm nghĩ một lát Nhiễm Tử nói tiếp. - Đúng rồi, đúng rồi.
Sau đó Nhiễm Tử tập hợp mọi người lại, nói:
- Ta có việc này, các anh em phải theo ta. Về chuyện ở Mai Lĩnh chúng ta đã làm hỏng việc. Đại trượng phu tự gây ra thì phải tự chịu trách nhiệm, chúng ta giơ cổ cho nó chém, chúng ta chẳng phải hối hận gì. Chỉ có điều chúng ta không đáng sai, nói có một câu mà đã làm hại Thời tú tài. Chúng ta được hưởng hạnh phúc mà để cho anh ấy vô cớ chịu oan. Không những chúng ta không chịu nổi, mà cũng phải làm cho chân lý sáng tỏ. Theo ta phải như thế... như thế... thì mới cứu anh ấy được, ta dù có chết cũng không ân hận. Anh em phải giúp ta đi một chuyến.
Tất cả mọi người nói:
- Đấy là việc lớn xin nghe theo ông dạy bảo.
- Thế rồi họ mổ trâu bò, ăn uống với nhau một bữa hả hê.
Hôm sau tất cả đều giấu vũ khí ngắn trong người, giả làm người bán thuốc, bán củi... lần lượt tiến vào thành trót lọt. Phong Nhiễm Tử nói với mọi người rằng:
- Đáng cười thay phủ Nam Hùng, quả là một gã ngu độn. Lẽ nào bọn cướp lại xưng danh với mọi người. Thế mà chó ngáp phải ruồi, hắn đỗ hai bảng mới được làm quan. Ta phải cứu được tú tài và đập nát cái đầu đần độn này mới hả giận.
Mọi người đồng thanh đáp:
- Đúng là như thế.
Quả là:
Rõ ràng người trong Thuỷ Hử truyện,
Chỉ thiếu Trương Thúc Dạ chiêu an.
Đợi tới khi trời tối, một tiếng hô vang, họ rút khí giới ra, xông vào phá cửa ngục. Phong Nhiễm Tử vọt lên trước, lục soát khắp mọi nơi mới tìm thấy Thời Đại Lai. Song anh đã bị chúng kẹp nát mất một chân. Nhiễm Tử lệnh cho mọi người cõng anh ra. Lúc ấy vì đã cứu được người nên không tiến vào phủ nữa . Đoàn người rút khỏi thành, đi mải miết suốt cả đêm. Được chừng năm mươi dặm mới ngừng lại. Họ đặt Thời Đại Lai xuống. Phong Nhiễm Tử nói với anh:
- Thời tiên sinh, chúng tôi đã làm anh phải khổ!
Thời Đại Lai nhìn Nhiễm Tử, nói:
- Đây là thực hay mơ, nếu không thì làm sao mà tôi được đến đây.
Phong Nhiễm Tử kể lại từ đầu đến cuối cho Thời Đại Lai nghe. Thời Đại Lai nói:
- Như thế thì ta chẳng trách lão Nhậm được, anh cũng đừng bắt con gái hắn.
Phong Nhiễm Tử lại kể cho anh nghe chuyện trả người con gái ấy. Thời Đại Lai nói:
- Anh đã làm một việc như thánh nhân, tôi dù có chết cũng cam lòng. Song chỉ có điều cứu tôi ra lẽ nào lại bảo tôi theo con đường của các anh.
Phong Nhiễm Tử nói:
- Chúng tôi cũng không khuyên anh làm theo chúng tôi, anh là người có học, phải có khát vọng thăng tiến. Nơi này không ở lâu được, trời lại sắp sáng, tôi chỉ còn một trăm lạng anh hãy cầm lấy làm tiền lộ phí về nhà. Phải nhanh chóng đi khỏi nơi này, nhất thiết không thể nấn ná mà hỏng việc.
Thời Đại Lai nhận bạc nước mắt giàn giụa nói:
- Tôi hết sức cám ơn anh đã quan tâm, tôi không biết lấy gì để đền ơn cứu mạng này, trượng phu có lòng xin đợi đến dịp khác bây giờ không sao nói hết được.
Đôi mắt giết người không chớp của Phong Nhiễm Tử cũng phải nhỏ mấy giọt nước mắt lạnh như thép, nói:
- Tiền đồ rất đáng quý, tôi không thể ở đây lâu mà nói được.
Nói xong vội vã ra đi. Thời Đại Lai nhìn theo chỉ thoáng một cái đã đi tới mấy dặm. Đại Lai chầm chậm nai nịt gọn gàng rồi thong thả lên đường. Trong người anh có tiền ăn đường nên rất vững dạ, đi theo đường vắng, vừa đi vừa nghĩ, Phong Nhiễm Tử quả là một trang nghĩa hiệp chân chính. Đúng là:
Anh em ruột thịt.
Tranh nhau bạc vàng.
Sao người lạ lẫm,
Cứu ta nhiều phen.
Ta chưa đọc được.
Quản Bão chia vàng.
Anh hùng lệ nhỏ, Ân oán rõ ràng.
Tri phủ Nam Hùng nghĩ, của cải lão Nhậm rất nhiều, truy ra tang vật thì nhất định sẽ lọt vào túi hắn. Hơn nữa ta đã tìm được con gái và dẫn đến trả ông ta, thật là việc ngoài ý muốn, nhất định ông ta phải bỏ ra số tài sản lớn để hậu tạ. Song quẻ tài này lại rơi vào chính Thời Đại Lai, ta không thể buông lơi. Thằng này ngang bướng không tra tấn cực hình hắn sẽ không khai. Lập tức hắn ra lệnh: "Phạm nhân Thời Đại Lai đúng vào trưa mai phải ra công đường thẩm vấn".
Đến tối, bỗng nghe thấy tiếng quát thét, tri phủ sợ run cầm cập, vội gọi lấy một chiếc thang trèo lên nóc nhà. Chờ tới khi yên ắng hắn mới xuống, rồi bảo tên đốc gác ra nghe ngóng tình hình, biết đây là vụ cướp tù. Tên này vào báo, tri phủ hỏi đã cướp mất tên nào, hãy kiểm tra báo ngay. Tên lính gác đem sổ ra kiểm tra tù nhân, thấy thiếu mất Thời Đại Lai, trở về báo:
- Các phạm nhân đều còn, chỉ có Thời Đại Lai là không thấy
Tri phủ tức tối nghĩ: "Đây đúng là bọn ở Mai Lĩnh, hôm kia đánh như thế nó vẫn ngang bướng không khai, rất tiếc là hai ngày đã buông lơi, giá mà tra tấn mạnh thì bây giờ chưa biết chừng đã tóm được người và tang vật. Chắc bọn này chưa đi được xa".
Ngày hôm sau lên công đường, tri phủ lệnh cho phiên bổ phải đi bắt ngay, không thể khác được. Một mặt báo việc bị cướp tù lên các cấp trên, đồng thơi gửi văn thư tới tri phủ Triều Châu biết việc này, mặt khác bẩm việc này tới hai viện phủ, án, xin gửi văn thư cho hai viện ở Giang Tây biết để phối hợp tiêu trừ. Tất cả đã bố trí xong xuôi. Chỉ mong bắt được Thời Đại Lai thì mới truất được nỗi uất hận này.
Thời Đại Lai chân đau, sức khỏe chưa bình phục, tiền tiêu lại dư dả, dần dần cũng vượt qua. Đi suốt tháng trời mới về tới quê. Hôm ấy đã về tới thành Nam Xương, anh nghĩ: "Trời vẫn còn sớm, nghỉ tạm một lát rồi hãy về", đang lúc do dự, ngán ngẫm cho nỗi oan ức của mình thì đụng phải Lữ Du Chi. Thời Đại Lai vội cúi đầu, song Lữ Du Chi đã nhìn thấy, nói:
- Thời tiên sinh làm gì đấy? Về từ bao giờ thế!
- Bây giờ tôi mới về tới đây, vẫn chưa về nhà.
Lữ Du Chi nghĩ một lát nói:
- Thế à vẫn chưa về nhà ư? Sao anh về vội thế, ở đấy một năm hãy về có tốt không?
- Không giấu gì anh, tôi và lãi Nhậm lúc đầu rất hợp nhau, không ngờ tới nhiệm sở lão tham lam quá đáng, tôi đã mấy lần can ngăn nhưng lão không nghe, tôi không thể tiếp tục ở được đành phải bỏ về.
- Vậy thì những người giúp việc lão ta có sao không, lão phải cho anh ít tiền đi đường chứ?
- Triều Châu giàu có, những người giúp việc ai mà chẳng thích. Còn như anh hỏi về tiền đi đường thì chẳng có một xu nào. Lão ta bỏ tôi, tôi bỏ lão thì hỏi tiền đi đường sao được.
- Theo anh nói thì cũng cám cảnh cho anh thật. Hôm kia tôi cũng định cùng một người đến Quảng kiếm anh ít tiền tạ ơn, thế mà cứ mất công mong ngóng.
Thời Đại Lai tưởng Lữ Du Chi nói thật; cũng không để ý tới chỉ nghĩ tới việc về nhà, rồi nói với Lữ Du Chi:
- Tôi vội về, ngày mai mời anh tới chơi.
- Tôi cũng muốn đi cùng anh, chúng ta đến đầu đường rồi hãy chia tay.
Quả đúng là:
Thấy cười mà tưởng khóc,
Giết người chẳng dùng dao.
Đời không phải cổ tích,
Sao tốn công đi tìm.
Thời Đại Lai về tới nhà gọi cửa, gặp chồng, Vạn thị nói:
- Em tưởng anh đi nhiều thì phải hai năm, mà ít ra thì cũng một năm, sao anh lại về sớm thế?
- Một câu không nói hết được, em hãy đóng cửa vào.
Thời Đại Lai kể lại hết cho vợ. Vạn thị dân dấn nước mắt nói:
- Quả là anh chết rồi được sống lại, vậy bây giờ anh tính sao?
- Trước khi chia tay, - Thời Đại Lai nói, - Phong Nhiễm Tử đưa cho anh một trăm lạng bạc, trên đường anh tiêu pha tằn tiện định để lại một nửa số bạc ấy cho em chi dùng, còn một nửa anh sẽ mang đi làm lộ phí, đến nơi nào đó lánh tạm một thời gian, chờ cho hai người này thăng quan chuyển đi nơi khác không còn lo gì, lúc ấy mới quay về làm cho ra lẽ.
Đang lúc tình cảm mặn nồng thì nghe bên ngoài có tiếng gõ cửa nhè nhẹ. Vạn thị hỏi:
- Ai gõ cửa thế?
Người đứng ngoài nói:
- Tôi là hàng xóm, sang xin chị tí lửa.
- Sao đến giờ này còn xin lửa làm gì? - Vạn thị nói.
- Hàng xóm với nhau, - Thời Đại Lai nói, - không cho thì còn mặt mũi nào nữa, thời thì cho người ta.
Anh ra mở cửa. Vừa rút then thì người đứng ngoài đạp toan cánh cửa. Bỗng chốc bọn hung thần xông vào đầy nhà.
Chỉ thấy:
Người nào cũng:
Mình mặc chiến bào
Tay dao tay gậy,
Sát khí đằng đằng,
Mặt mày dữ tợn.
Sáng rực đuốc đèn
Hét hò dậy đất.
Ngỡ là bọn cướp
Phong Nhiễm tìm đâu?
Thấy Thời Đại Lai, bọn người ấy dùng tay thước sắt đánh cho mấy cái ngã dụi xuống đất, đứa này xích tay, đứa kia khóa lại rồi chúng vội vàng treo hai chân tay Thời Đại Lai lên xà nhà. Vạn thị cứ cho là bọn cướp, kêu ầm lên.
- Làng nước oi, hãy mau mau cứu chồng tôi với. Bọn cướp đang giết người.
Một đứa trong bọn nhổ toẹt vào mặt Vạn thị nói:
- Mày nói sai rồi, sao không nói, chúng tao là người bắt cướp.
- Các ông là do nha môn nào sai tới, vì việc gì thế? - Thời Đại Lai nói.
- Chúng tao là do ngài tri phủ Nam Xương sai tới, theo lệnh của hai Viện Phủ, án, chúng tao ăn thịt tên cướp trốn ngục ở Nam Hùng, đây chỉ là việc cỏn con, đừng sợ!
Vạn thị lôi chồng lại van xin, gào khóc, kêu trời kêu đất vô cùng thảm thiết. Thời Đại Lai nói:
- Nghiệp chướng đến rồi, đúng là anh gặp em lần này là cuối cùng rồi chết, em khóc có ích gì?
Trời sáng, bọn người ấy nói:
- Thôi đừng có mơ màng nữa, hãy dọn cơm và đưa tiền , lệ phí ra đây, chỉ lấy ra một góc ở hòm da cũng đủ rồi.
Đang mỗi đứa một câu ngậu xị cả lên thì Lữ Du Chi đẩy cửa gọi:
- Thời tướng công có nhà không?
Bọn người ấy nói:
- Thời tướng công đang rất vui, vào đây mà đánh đu.
Lữ Du Chi chắp tay nói:
- Hóa ra là lệnh của phủ quan, các ngài đến đây làm gì.
- Ngươi hỏi làm gì? - Một đứa nói. - Ta sẽ đưa trát đòi cho ngươi xem.
Lữ Du Chi xem xong, cố ý khuyên:
- Tướng công là người tử tế, hãy cởi trói cho anh để nói cho ra lẽ.
- Ngươi đừng nói đến thả ra, đây là việc quan sai bảo, ngươi sai chúng ta làm sao được, ngươi quen biết tên cướp, xem có ngăn cản được chúng ta không?
Đúng là:
Chim lồng thú cũi trong hang quỷ,
Bắn lén khó phòng lũ bất nhân.
Lữ Du Chi đến ghé tai vào Thời Đại Lai nói:
- Việc này tới quan vẫn có thể giải quyết được, bọn này chỉ giả bộ thế thôi, anh phải tìm cách đút lót cho chúng, để đến trước mặt quan nó nới tay đôi chút.
Thời Đại Lai nói:
- Có chút bạc vợ tôi giữ, nhờ anh mang đi gỡ giúp tôi.
Nghe nói thế hắn nổi máu tham, nói với Vạn thị:
- Anh ấy vừa nói với tôi chị còn giữ rất nhiều bạc, hãy giao hết cho tôi để tôi tìm cách cứu anh ấy, hãy nhanh lên đừng để lỡ việc.
Đang lúc hoảng loạn Vạn thị đem cả gói bạc mà Phong Nhiễm Tử vừa cho, đưa hết cho Lữ Du Chi, rồi cúi đầu nói:
- Bác Lữ, trăm sự nhờ bác tìm cách cứu anh ấy.
Lữ Du Chi cầm lấy gói bạc nghĩ bụng: "Chẳng biết họ có nới tay không, chứ chết chém là cái chắc". Rồi hắn nói với Vạn thị:
- Tôi đem số bạc này đến nói với quan lớn, nếu không đủ thì chị cần phải đưa thêm.
Hắn quay lại nói với sai nha:
- Hãy cởi trói cho anh ấy, tất cả đều do ta.
Bọn sai nha biết ý nói:
- Tên cướp này không thể nương nhẹ được, thôi thì nể mặt anh Lữ, tạm thời cởi trói cho hắn.
Bọn hắn cởi đây, hạ Thời Đại Lai xuống rồi dùng xích khóa vào cổ cho hai người áp giải đi. Bọn chúng đi khỏi nhà, Lữ Du Chi kéo sáu bảy đứa đi. Các bạn có biết tại sao lũ sai nha này lại tới bắt Thời Đại Lai nhanh đến thế không? Thời Đại Lai bất chợt gặp Lữ Du Chi, cứ tưởng hắn không biết chuyện đã xảy ra ở đó nên giấu hắn. Không ngờ văn thư đã gửi về đây hơn một tháng rồi, hắn chuyên móc nối với nha môn, thì việc gì mà hắn chả biết. Hắn nói cạnh nói khóe song Đại Lai hoàn toàn không hiểu. Vậy thì anh mọt sách ấy làm sao mà không bị bọn người này bắt đi.
Đúng là:
Vừa thoát khỏi lưới rừng,
Lại sa vào cửa quỷ.
Đường đời lắm gian nan,

Chẳng ai lường hết được.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 EmptySun May 04, 2014 11:25 am

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 21 (C)
Đây là việc cướp ngực, làm sao có thể đút lót mua chuộc được. Sáng sớm hôm sau quan lên công đường. Thời Đại Lai bị giải tới phủ đường. Viên tri phủ này cũng là kẻ tham lam như tri phủ Nam Hùng. Thấy bắt được Thời Đại Lai hắn hỏi phủ đầu:
- Đã ăn cướp lại cướp ngục thoát thân, trông ngươi cũng bình thường mà sao lại nhiều thủ đoạn đến thế.
- Thưa ngài, - Thời Đại Lai nói, - con là sinh viên của phủ này, nếu hàng ngày quả là người bất chính, xin mong ngài cứ điều tra.
- Đừng có nói tới hai chữ sinh viên, - tri phủ nói, - ta hỏi việc ngươi ăn cướp, ngươi đừng có quanh co nữa. Hiện nay đã cướp ngục trốn về, lẽ nào còn chối cãi? Ta nói với ngươi, đây là việc ở tỉnh khác ngươi hãy khai ra một tên để thay cho ngươi thì ngươi chưa chắc đã phải chết. Ta có thể tha cho ngươi.
Thời Đại Lai làm sao có thể khai ra Phong Nhiễm Tử, anh chỉ nói:
- Thưa ngài con xin tình nguyện chết chứ có người nào đâu mà khai.
Tri phủ đùng đùng nổi giận quát: - Hãy kẹp nó cho ta.
Sau đó lại đánh một trăm gậy. Thời Đại Lai chết đi sống lại, song vẫn không chịu khai. Tri phủ nói:
- Hãy giam nó vào ngục.
Tri phủ lại bảo bọn cai ngục: - Ngươi có biết tên cướp này đã phá ngục để thoát thân không?
- Con có biết. - Tên coi ngục nói.
Thế rồi hắn giam Thời Đại Lai vào ngục, dùng cùm cùm lại.
Đúng là:
Quan mới và quan cũ.
Là hiểm họa của người
Phép nước sâu như biển,
Lòng người hiểm độc thay.
Lữ Du Chi vẫn không buông tha, hắn mua ít rượu và thức nhắm giả vờ vào nhà giam thăm Thời Đại Lai. Hắn nói:
- Thấy anh khổ như thế thật đau lòng, tôi mua chút rượu và thức nhắm tới thăm anh. - Xin cám ơn anh. - Thời Đại Lai nói.
Lữ Du Chi rót cho Đại Lai mấy chén nói:
- Anh có nghe hôm qua quan phủ nói thế nào không? Rõ ràng là muốn hại anh. Nếu anh chịu bỏ ra mấy lạng tôi sẽ tìm cách cứu anh, sớm muộn rồi cũng sẽ được tha.
- Đã đến nước này, - Thời Đại Lai nói, - lẽ nào tôi còn giấu anh. Tôi cũng đành liều thôi.
Thời Đại Lai nói lảng ra. Du Chi giả vờ rót vài chén rượu nữa rồi đi ra. Hắn về nói với Vạn thị:
- Tôi vừa mua rượu và thức nhắm đến nhà giam thăm anh ấy, anh ấy không sao chịu nổi đòn và bảo tôi về nói với chị bằng mọi cách lo lấy ít bạc, nhờ tôi đưa đút lót cho phủ quan để cứu anh ấy khỏi chết.
- Còn đâu ra nữa. Chỉ có gói bạc ấy tôi đã đưa cho anh hết cả rồi. Trong nhà hiện chẳng còn một đồng một chữ nào. Chồng tôi có chết cũng không cứu được nữa.
Nói xong chị kêu gào thảm thiết. Lữ Du Chi thấy hai bên nói khớp nhau, biết không còn gì nữa. Hắn nói:
- Ấy là vì tôi thấy anh ấy không có ai nên tôi mới giúp thôi chứ trách tôi làm sao được.
Lúc ấy nghe thấy ngoài đường có tiếng người nói ầm ĩ:
- Án viện đến rồi.
Lữ Du Chi nói:
- Án viện đã xuống ngựa, tôi có đơn phải đưa ra đệ trình cho ngài không ngài đi mất.
Vạn thị nghĩ: "Bạc không có, lẽ nào cứ ngồi đây mà nhìn chồng chết. Vừa rồi nghe nói án viện tới, ta cũng viết một lá đơn để kêu oan cho chồng, biết đâu lại gặp may. Rồi chị lập tức nhờ người viết đơn, đến cửa nha môn. Lúc ấy người đưa đơn rất đông, Vạn thị khóc lóc thảm thiết. Án viện gọi chị đưa đơn để ngài xem. Ngài nổi giận nói:
- Cướp phá ngục bỏ chạy là trọng tội, còn oan nỗi gì?
Nói xong ông vút lá đơn đi, quát:
- Đánh chết nó cho ta.
Thuộc hạ kẻ kẻo người đẩy, đuổi Vạn thị đi. Vạn thị nói:
- Tôi vốn kêu oan, lại chịu nhục, tôi còn sống làm gì nữa.
Chị gắng gượng về nhà, vừa đi vừa khóc. Phàm là đàn bà khóc họ thường hay kể lể đầu cua tai nheo. Vạn thị vẫn lải nhải kể lể. "Chỉ mong anh dạy học để nuôi gia đình, song lại đi vào chỗ chết. Giá anh không về nhà cũng được, đằng này về nhà lại chui vào bẫy". Chị vừa khóc vừa đi qua một tiệm rượu, đi được mấy bước thì nghe thấy đằng sau có người gọi:
- Chị ơi! Chị hãy dừng lại. Tôi có câu chuyện muốn nói với chị.
Vạn thị quay đầu lại thì thấy một người đàn ông lực lưỡng, râu dài, bước tới hỏi:
- Chị là thân quyến của ai? Vì sao mà khóc thảm thiết như thế?
Vạn thị nói:
- Chồng thiếp họ Thời, bị oan. Án viện tới, thiếp đưa đơn kêu oan, không ngờ ngài không xét đến nối oan của chồng thiếp mà còn đánh thiếp đuổi đi, thiếp thấy chẳng còn cách nào khác nên thiếp khóc.
Người ấy nói:
- Vậy tờ đơn ấy chị có có cần không?
- Coi như tờ giấy vứt đi thì còn cần làm gì?
- Chị không cần tới thì hãy đưa tôi xem xem thế nào.
Vạn thị đưa lá đơn cho người ấy rồi cứ thế khóc ra về.
Hai hôm sau, án viện gởi một tờ văn thư tới Hình sảnh Nam Xương. Quan hình sảnh mở ra thì đó là lá đơn như sau:
Người làm đơn là Vạn thị.
Vì sao chồng con phải chết!
Phê rằng:
“Thời Đại Lai là sinh viên thuộc phủ Nam Xương. Ta đã điều tra kỹ. Việc cướp tù là nghe phong thanh ở tỉnh ngoài không có tang chứng, phải trình lên Hình sảnh thẩm vấn xem xét kỹ” .
Tri phủ nghĩ: "Tên cướp này quả là tài giỏi, ở tỉnh ấy phá ngục chạy trốn, ở tỉnh này lại đút lót án viện. Đúng là phải nhiều tiền của, chờ cho án viện đi rồi ta sẽ bắt lại. Việc mua bán này nhất định phải trả cho ta". Tri phủ đành phải giải lên Hình sảnh hỏi qua loa.
- Ngươi là sinh viên phủ Nam Xương có đúng không?
- Thưa ngài, - Thời Đại Lai trả lời rất trôi chảy, - con được vào trường phủ học năm nào, năm nào đi thi, mấy lần đỗ loại ưu.
- Đã là tú tài tại sao không thận trọng mà lại bị liệt vào bọn trộm cướp. Âu cũng là số kiếp cả, án viện thả ngươi ra, có người bảo lãnh không?
Thời Đại Lai chưa kịp trả lời thì nha lệ hai bên quát thét:
- Quan hỏi ngươi có ai bảo lãnh không?
Bỗng ngoài cửa có một người bước vào, quỳ xuống nói:
- Bẩm quan, con là tổng giám của phương này, tình nguyện xin bảo lãnh. Hình sảnh nói:
- Tên phạm nhân giải lên đây rất hệ trọng.
Người ấy đáp:
- Bẩm quan con là Tiền Khả Thông, khi ngài đòi người, cứ gọi con là được.
Tiền Khả Thông đệ đơn xin bảo lãnh, quan quát lên một tiếng đuổi ra. Tiền Khả Thông cõng Thời Đại Lai ra khỏi dinh quan. Về tới nhà gõ cửa nói:
- Bà Thời ơi, mở cửa, chồng bà đã về rồi đây này.
Vạn thị ở trong hỏi vọng ra:
- Ngươi là ai mà dám đến trêu ta.
- Đúng là tôi về thật đấy. - Thời Đại Lai nói.
Vạn thị nghe thấy tiếng chồng vội vàng ra mở cửa, kinh ngạc nói:
- Tại sao anh lại được thả ra?
Chị dìu chồng vào nhà đóng cửa lại. Thời Đại Lai nói:
- Thật là một việc kỳ lạ. Ta nghĩ rằng chỉ trong vài ba ngày là ta sẽ bị hành hạ đến chết, ngờ đâu Hình sảnh điều ta ra khỏi ngục nói là án viện thả ra. Em hãy thắp hương lạy tạ tổ tông, cầu chúc cho án viện.
Quả nhiên Vạn thị chắp tay vái lạy, miệng lẩm bẩm cầu khẩn:
- Nhờ được trời đất tổ tông thương tình, cầu mong cho phủ quan sáng suốt, được trời đất phù hộ cho muôn đời con cháu, đời đời công hầu vinh hoa phú quý.
Cúng xong lại cúi đầu lạy mấy lạy.
Đúng là:
Một nén hương thơm dáng kính cẩn,
Trời cao im lặng chẳng nói năng,
Hóa phép thần thông ai thế nhỉ,
Cứu vớt người đời thoát hiểm nguy.
Vạn thị nói:
- Hôm kia em tới dâng đơn kêu oan, án viện đánh em đuổi đi. Sao hôm nay bỗng nhiên lại gia ân?
- Đi kêu oan không dùng tiền ư?
- Làm gì có tiền, gói bạc anh mang về đều đưa hết cho Lữ Du Chi mang đi rồi, sau đó hắn lại đến lừa mấy lần nữa nhưng em bảo hết sạch rồi.
- Thôi nói làm gì đến gã họ Lữ nữa, hóa ra việc này đều do hắn mà ra. Nhờ trời mà thoát khỏi tù ngục, dù cho có nghèo túng một chút còn hơn ngồi trong ngục mà chịu hành hạ. Nếu không gặp được án viện sáng suốt thanh liêm thì e rằng anh sẽ bị tù mọt gông.
Một lát sau trời tối mịt mùng, lại nghe thấy tiếng gõ cửa nhè nhẹ. Thời Đại Lai sợ quá sững sờ nghĩ: "Nhất thiết không thể tùy tiện mở cửa được, lần trước đang đêm mở cửa mà chuốc lấy đại họa, hôm nay lại sợ sẽ xảy ra như thế". Vạn thị không dám lên tiếng, người bên ngoài gõ cửa gấp gáp, nói:
- Vẫn không mở cửa ư? Ta là Phong.
- Có lẽ là Phong Nhiễm Tử tới, - Thời Đại Lai nói, - hãy mở ra đi.
Vạn thị vội vàng mở cửa, đã thấy Phong Nhiễm Tử bước vào. Nhiễm Tử nhìn Đại Lai thì thấy:
Mặt mày cáu bẩn
Đầu tóc bù xù,
Áo như tổ đỉa
Giày tất tả tơi
Gân xanh chằng chịt
Chấy rận đầy người
Túi chẳng một xu
Dáng đi thất thểu
Ngọn đèn leo lét
Nào khác quỷ ma.
- Quả là ân nhân đã tới. - Thời Đại Lai nói.
- Tôi đến để chúc mừng anh đây.
- Từ khi chia tay anh, dọc đường vô sự. - Thời Đại Lai nói. - Ai ngờ vừa tới nhà đã gặp cơn sóng gió này. May mà gặp được quan án viện thanh liêm, sáng suốt thả ra. Ngài đúng là đấng cha mẹ dân.
- Chà, quả là sáng suốt, - Phong Nhiễm Tử nói.
- Tôi nhiều lần gặp phủ quan, quan nào chẳng đánh đập cùm kẹp bắt khai ra đồng bọn, vơ vét tiền bạc, nếu không gặp ông quan này thì cũng không gặp được anh hôm nay. Mà cũng buồn cười thật, Hình sảnh vừa bảo là tìm người bảo lãnh, đang lúc bối rối thì lại rất may gặp một người tình nguyện bảo lãnh, rồi lại cõng tôi về nhà, đến một đồng tạ ơn cũng không nhận. Số chưa chết cho nên chỗ nào cũng gặp may, anh ạ. Đây không phải chuyện kỳ lạ trên thế gian này ư.
- Đúng là kỳ lạ thật. - Phong Nhiễm Tử nhìn Thời Đại Lai, vuốt râu cười nói. - Tôi nói thực với anh nhé, tôi tới gặp một người bạn, ngồi trên lầu tiệm rượu ngày trước, thấy chị ấy khóc lóc đi qua, tôi sinh nghi. Lắng tai nghe thì hình như là nói về anh. Tôi có ý hỏi chị. Lừa chị lấy tờ đơn kêu oan và ngay tối ấy đưa cho quan hình sảnh hai trăm lạng vàng, thì ngày hôm sau nghe thấy anh được thả. Tôi lại đưa cho Tiền Khả Thông mười lạng bạc và bảo anh ta chờ ở cửa nha môn xin bảo lãnh. Anh cứ nói nào là gặp may, nào là quan thanh liêm, nếu được như thế thì thiên hạ đã thái bình từ lâu rồi. Chúng ta đang đứng ở đâu anh có hiểu không. Anh đừng nói những lời ngốc nghếch của kẻ thư sinh nữa.
Thời Đại Lai như người say chợt tỉnh, đứng dậy chắp tay tạ ơn.
Đúng là:
Một ngày rắn người cắn
Ba năm con sợ lươn,
Nửa đêm nghe anh nói,
Hơn đọc sách mười năm.
 
Phong Nhiễm Tử nói:
- Tôi biết anh vẫn chưa ăn bữa tối, tôi đi một lát rồi về ngay.
Phong Nhiễm Tử đi một lát rồi trở về, thấy anh cho người gánh vào hai gánh, đó là chiếc chân giò, một đôi gà béo, một con cá to, một tảng thịt cừu, một vò rượu cùng với củi đuốc, gạo và rau. Phong Nhiễm Tử nói:
- Hãy bảo chị ấy làm cơm đi, tôi sẽ uống với anh suốt đêm nay.
Chỉ một thoáng, những thức ăn nóng hổi đã được bày đầy bàn. Hai người ăn uống thả sức. Phong Nhiễm Tử sao chịu dùng chén uống rượu, gọi:
- Đem một cái bát ra đây.
Thế rồi anh cứ dùng bát dốc ừng ực. Vạn thị trong bếp hâm rượu không kịp. Phong Nhiễm Tử nói:
- Hãy đổ cả vào nồi mà đun, hâm từng ấm như thế không đủ xấp giọng.
Một lát sau, họ uống cũng đã khá nhiều, mâm bát được dọn đi, Phong Nhiễm Tử trông như một kẻ sĩ. Anh nói:
- Rượu uống đủ rồi, hãy nói đi, nay đã thoát nạn thì bây giờ phải thế nào đây?
- Tôi cũng đang nghĩ tới điều ấy, - Thời Đại Lai nói, - song nhà không còn một đồng một chữ nên chưa biết làm thế nào.
- Chẳng lâu đâu án viện sẽ về phục mệnh, những người này sẽ không buông tha, họ sẽ bắt giam ngay như cũ, lúc ấy rất khó xoay xở. Tôi thấy anh là người trung hậu, sau này nhất định sẽ đỗ đạt. Anh hãy mau mau tới vùng biên ải phía Bắc, thay họ đổi tên, nuôi chí tiến thủ. Nếu có dịp chúng ta lại gặp nhau nơi chân trời góc bể.
Nói xong Phong Nhiễm Tử đưa tay lên hông, lấy ra một gói đặt lên bàn, nói:
- Đây là một trăm lạng bạc, để lại nhà một ít còn thì mang đi làm lộ phí. Ngày mai phải đi ngay để thoát khỏi tai họa. Tôi đi đây anh đi đường phải hết sức thận trọng.
Thời Đại Lai định bàn kỹ với Phong Nhiễm Tử, nhưng anh đã mở cửa đến kẹt một cái ra đi và cũng chẳng biết đi đâu. Vạn thị bước ra nói:
- Cách cư xử của Phong Nhiễm Tử thật khác thường, anh phải nghe theo anh ấy.
- Sao lại không nghe theo. - Thời Đại Lai nói. - Trước đây ta lo vì không có tiền, có tiền thì đúng là thuốc tiên. Chỉ ân hận là anh và em vừa mới gặp nhau đã phải biệt ly, lấy một người chồng như anh là một gánh nặng đối với em. Vạn thị an ủi chồng, đun nước cho chồng tắm, lấy quần áo cho anh thay, thu xếp hành lý và chia số bạc ấy. Gói ghém xong xuôi, Thời Đại Lai đáp theo thuyền tới Nam Kinh, họ ngậm ngùi rân rấn nước mắt chia tay.
Đúng là:
Ông tơ sao nở rẽ duyên, Hồng nam, nhạn bắc đôi miền cách xa.
Thời Đại Lai lên thuyền ngủ mấy ngày liền cho lại sức trông người lại ra dáng thư sinh. Thuyền thuận buồm xuôi gió chẳng bao lâu đã tới Nam Kinh. Thời Đại Lai nghĩ: "Lâu nay được nghe Nam Kinh là một danh thắng, mình chưa từng đặt chân tới, nhân thể đi du ngoạn mấy hôm rồi sẽ liệu việc học hành". Anh gửi hành lý tại một quán trọ, thay quần áo, dạo chơi trên những phố lớn. Anh lại nghĩ, chùa Báo ân là nơi danh thắng, phải tới đó chơi. Hỏi thăm đường tới chùa, thấy một hòa thượng đang ngồi đó kể chuyện, nhân lúc nhàn rỗi anh cũng đứng chen vào đám đông nghe. Người ấy kể một câu chuyện về Trương Văn Tú người Dương Châu, mới xảy ra gần đây. Nghe thấy nỗi khổ của Trương Văn Tú, Thời Đại Lai nghĩ: “Khổ như thế chưa thấm vào đâu, như mình đây mới thực là khổ”. Đại Lai mải mê nghĩ, quên cả về, mãi đến khi tan cuộc anh mới cùng mọi người đứng dậy về quán trọ ăn cơm. Tới phòng ngủ định cởi áo đi nghỉ thì thấy bên hông nhẹ bỗng, lấy tay sờ thì gói bạc biến đâu mất. Anh nghĩ: "Hay là mình để trong gói quần áo, không mang theo người". Mở gói ra xem, tìm đi tìm lại mấy lần, song nào có thấy. Anh xem lại túi thì thấy một đường dao rạch, anh dậm chân nói: "Thôi chết rồi. Đúng là lúc mình mải nghe đã bị kẻ cắp rạch túi lấy đi rồi".
Suốt đêm anh trằn trọc, đập giường lật gối, trăn trở mãi không sao ngủ được. Anh nghĩ: "Phong Nhiễm Tử đã dặn ta phải hết súc thận trọng, thế mà không nghe lời anh. Vừa mới lên bờ đã gặp rủi ro, may mà hai hôm trước đi thuyền, chứ nếu đi bộ thì chưa biết chừng đã hỏng việc từ lâu rồi. Bây giờ đâm đầu vào bức vách rồi, thật là tiến thoái lưỡng nan, đường cùng mà tiền cũng hết, làm thế nào bây giờ. Sáng mai Đại Lai đành bán chiếc khăn bông cho chủ hiệu để trả tiền cơm. Lại còn phải kiếm mấy đồng mà sống chứ. Đây là lúc quẫn bách nhất, không thể buông xuôi. Chẳng còn lòng dạ nào mà đi du ngoạn nữa. Anh tìm đường qua sông, tiền túi không nhiều, anh chỉ mua chiếc bánh bao lót dạ chứ không dám mua cơm. Đến Sơn Đông thì trong túi không còn một xu, bây giờ lại đang là mùa đông, rét mướt mà trên người chỉ có một chiếc áo dài, ban ngày làm áo, ban đêm làm chăn. Có bài thơ ghi lại tình cảnh này:
Người coi là áo,
Ta coi là chăn.
Ban đêm ta đắp,
Ban ngày ta mặc.
Người coi là áo,
Ta coi là vàng
Xin khuyên người đời
Đi xa nhớ kỹ.
Đang lúc bí thì làm gì có Lữ Mông Chính(1) cứu vớt. Đã liều thì ba bảy cũng liều. Thời Đại Lai đành liều vào một quán trọ nói:
(1) Lữ Mông Chính: thời Tống, ba lần được cất nhắc làm tể tướng.
 
- Năm hết tết đến tôi xin ở nhờ ông mấy hôm, ra Giêng tôi sẽ đi.
Người chủ cửa hàng nói:
- Xin tùy ông, chỉ có điều năm cùng tháng tận, muốn xin ông trước ít tiền để mua củi gạo.
Thời Đại Lai nói:
- Quả là tôi chẳng còn một xu nào, xin ông cứ cho tôi ở mấy hôm rồi sang giêng sẽ tìm cách trả ông:
- Tôi thấy ông, - chủ cửa hàng nói, - như một người có học, thế ông có viết chữ được không?
- Ông nói thế là thế nào? - Thời Đại Lai nói.
- Ông vừa nói là ông không có tiền. Ở vùng tôi rất ít người biết viết câu đối, nếu ông viết được thì cứ viết ào đi, một ngày cũng gỡ được tiền cơm.
- Ông nói đúng. - Thời Đại Lai nói.
Thế rồi anh mượn chủ nhà chiếc bút, đề mấy chữ. "Viết câu đối thuê".
Chỉ trong chốc lát đã thấy có người mang đến nhờ anh viết. Hôm ấy anh cũng kiếm được bốn năm trăm bạc. Hôm sau người tới nhờ anh viết càng đông. Người miền Bắc quả là rất thật thà thấy anh là người có học đã mang giấy đến nhờ anh viết các bức trướng. Anh cũng mạnh dạn viết, chẳng kể nhiều hay ít, cứ thấy mang đến là viết. Những người nhờ anh viết cứ tấm tắc khen:
- Anh học trò miền Nam viết tuyệt đẹp.
Đến giáp tết, hai sáu hai bảy cửa hàng đông nghịt, viết không kịp anh phải mang cơm ra ăn ngay tại bàn. Những ngày . ấy cũng kiếm được chừng mười mấy quan tiền, nên rất vui.
Đúng là:
Rồng bay phượng múa vung ngọn bút
Tiền của tuôn trào tự đó ra.
Phủ Đông Xương có một ông quan nghỉ hưu, họ Viên. ông vốn nhậm chức Thái thường tự khanh, vì dâng sớ kể tội Vương Trấn nên bị treo mũ từ quan. Vua xuống chiếu gia ân cho ông một chức quan danh nghĩa. Song ông là người lập ngôn, khi trở về ông khác hẳn với những viên quan xấu khác, tiếng tăm ông lừng lẫy, trong kinh ngoài nội ai ai cũng kính trọng. Ông nghe nói có một anh ngươi Nam viết chữ đẹp, nhân tiện ông dẫn con trai đi dạo và xem người ấy viết chữ. Con ông tên là Viên Kiệt, tuy chưa vào trường phủ học, song trong đám học trò cậu ta là người thông minh nhất. Hai cha con tới cửa hàng ăn, thấy câu đối treo la liệt, ông cầm lấy một tờ xem, nói:
- Chữ viết chưa thật điêu luyện, song cũng đẹp.
Lát sau ngài Viên cũng chen vào cửa hàng, nói với Thời Đại Lai:
- Xin chào anh.
- Xin chào ngài. - Chủ hàng nói. - Sao quý ngài cũng hạ cố tới tệ xá này.
Thời Đại Lai nghĩ đây chắc là ông lớn nên vội vàng sửa sang lại quần áo, đứng dậy vái chào. Ngài Viên nói:
Viết đẹp mà có cảm hứng.
- Con là người lưu lạc, - Thời Đại Lai nói, - dựa vào việc này để kiếm ăn chứ có biết viết gì đâu ạ.
Thấy nói năng nhã nhặn, ngài Viên hỏi:
- Anh cũng từng đi học rồi chứ?
- Thưa ngài con cũng học được chút ít.
Ngài Viên hỏi anh mấy bài cổ văn và mấy danh sĩ thời Ngô, Thời Đại Lai vừa viết vừa trả lời rất lưu loát. Ngài Viên hỏi họ tên, nghĩ bụng: "Người này không phải đến đây bán chữ” rồi nói:
- Thời tướng công có hành lý gì không? - Ngài Viên hỏi.
Chủ cửa hàng nói:
- Hành lý của khách đều cả trên người.
- Không có hành lý, - ngài Viên hỏi, - thì tới ngay nhà tôi đi.
Thời Đại Lai ngần ngại một lát rồi đi theo ngài Viên.
Đúng là:
Buôn bán thương cỏ yếu.
Nhàn nhã tiếc hoa rơi.
Bên đường vui câu chuyện,
Mới biết ông Mạnh Thường.
Thời Đại Lai tới nhà ngài Viên mới biết đây là một ông quan danh tiếng. Ngài Viên thết đãi cơm rượu rồi hỏi:
- Lưu lạc như thế, văn chương chữ nghĩa vẫn còn nhớ chứ.
- Con nhà nghèo, lại không được lên học quán, phiêu bạt đã nhiều năm song chữ nghĩa vẫn còn nhớ. Xin ngài dạy bảo.
Tối ấy anh nghỉ tại thư phòng. Sáng hôm sau ngài Viên thuận miệng đọc hai đề văn, bảo con và Thời Đại Lai làm. Đến trưa cả hai đều làm xong, trình lên ngài Viên. Nhìn chữ nghĩa, văn vẻ của Thời Đại Lai, ngài Viên khen:
- Không những chữ nghĩa không quên mà nội dung và nghệ thuật đều nổi bật, âm hưởng hòa quyện nhau, có tài giật bảng vàng. Anh xuất chúng như thế có muốn tôi tiến cử vào trường học trong vùng này không?
Thời Đại Lai không dám bộc lộ rõ ý tứ của mình, anh nói:
- Nửa đời lưu lạc, thời gian trôi đi một cách phí hoài, quả thực con vẫn chưa đỗ tú tài.
- Sang năm là năm thi, quan chủ khảo mở kỳ thi, anh hãy chịu khó lưu lại đây, cùng thằng nhỏ nhà tôi đèn sách, nhận quê quán ở đây anh mới là người miền Bắc, nhất định anh sẽ đỗ.
Là người lang thang phiêu dạt tới đây, Thời Đại Lai sao mà chẳng nghe theo. Ngài Viên dành riêng một phòng học cho hai người đọc sách. Từ khi bỏ học, nay được làm bạn với đèn sách. Thời Đại Lai suốt ngày miệt mài học tập. Gặp được người tri kỷ, sách vở lại nhiều, anh vùi đầu vào việc học hành. Ăn tết xong, thoáng cái đã sang tháng Ba. Ngài Viên nói:
- Quan chủ khảo đã tới bản phủ yết bảng mở kỳ thi, anh Thời thích đến xem trường thi không?
Thời Đại Lai nói:
- Anh nhà ta văn bài tiến bộ đã khá nhanh, tất sẽ đỗ cao, còn con nếu ngài thương thì cũng được đi theo anh nhà.
Ngài Viện bèn bảo anh đổi họ tên, anh muốn giữ lại tên vốn có và đặt là Viên Thời. Hai lần thi huyện và phủ Viên Thời đều đỗ đầu Viên Kiệt cũng có tên trong bảng phụ. Đến khi thi vào trường phủ thì Viên Thời đỗ thứ nhất. Viên Kiệt đỗ thứ ba. Họ báo tin về cho ngài Viên, ông vô cùng mừng rỡ.
Đúng là:
Tuy rằng đã đổi thay dạ lốt,

Xem ra vẫn giữ được nếp nhà.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 EmptySun May 04, 2014 12:30 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 21 (D)
Ngày hôm sau họ khăn áo chỉnh tề tới tạ ơn quan chủ khảo. Thấy quan chủ khảo gọi quan tuần bộ. Tuần bộ vào gặp, quan chủ khảo nói:
- Ngươi hãy đi theo hỏi người đỗ đầu ở đâu.
Tuần bổ đuổi theo, hỏi:
- Ngài chủ khảo hỏi người đỗ đầu ở đâu?
Viên Kiệt trả lời thay:
- Ở tại dinh ngài Viên.
Tuần bổ về thưa với quan chủ khảo. Quan nói:
- Ngươi hãy tới nói với ngài Viên Rằng, quan chủ khảo rất thích bài văn của người đỗ đầu. Trong nha môn có công tử còn nhỏ, muốn mời tới dạy. Phải lập tức tới đó ngay, nếu trái lệnh sẽ phạt nặng.
Tuần bổ dạ ran:
- Vâng ạ
Hai anh em họ Viên ra khỏi nha môn về nhà chào ngài Viên. Ngài Viên cho dọn rượu chúc mừng. Đang dọn tiệc thì người coi cửa vào bẩm.
- Ngài học đạo sai tuần bổ tới, nói là phải mời Viên tướng công, người đỗ đầu bảng vào nha môn để dạy công tử.
- Quả có thế chăng? - Ngài Viên nói.
- Thưa ngài, vâng ạ. Tuần bổ vẫn đang đứng đợi bên ngoài.
Ngài Viên vô cùng mừng rỡ nói:
- Hãy mời ông ấy vào đây, uống một chén cho vui. Viên học đạo này tuy không tài năng lắm song có con mắt của một người đỗ đạt. Ông ấy đã lấy anh đỗ đầu, lại mời đến dạy học, quả là biết người biết của. Hãy uống đi mấy chén lấy may.
Lát sau tuần bổ giục, ngài Viên đành phải để cho anh đi. Viên Thời theo tuần bổ về phủ.
Đúng là:
Dê lợn dã vào nhà đồ tể
Lại còn ve vẩy vẫy đuôi mừng.
Các bạn có biết vị đề học này là ai mà lại để ý tới Thời Đại Lai không? Ông ta là tri phủ Nhậm. Vơ vét đã nhiều bạc ở Triều Châu, ông ta lại đút lót để lên chức học đạo. Đầu tiên ông cũng công tâm chấm bài và lấy Thời Đại Lai đỗ đầu. Khi đến tạ ơn, thấy anh bước từng bước lên thềm, ông ta nghĩ: "Đây là tên cướp Thời Đại Lai, đã phá ngục chạy trốn nay lại đỗ tú tài ở đây. Tên này quả là thần thông biến hóa". Nhìn đi nhìn lại thì đúng là Thời Đại Lai không còn nghi ngờ gì nữa. Ông ta lại nghĩ: "Mà cũng lạ thật, sao lại họ Viên, lẽ nào người họ Viên này lại giống hắn như đúc thế?”
Lúc ấy Thời Đại Lai thấy ông ta cứ nhìn mình chằm chằm dù có bỏ về cũng không được. Nhậm đề học nghĩ ra cách mời dạy học để trực tiếp hỏi thẳng anh ta xem sao. Nếu không phải thì thôi, nhưng nếu đúng là kẻ cướp thì giết chết hắn có khó gì. Thời Đại Lai làm sao mà biết được sự nguy ngập như thế, anh tất tả nghênh ngang đi theo tuần bổ với vẻ dương dương tự đắc.
Tới nha môn truyền lệnh cho vào. Quan học đạo ngồi ở trên, nha lệ mở cửa mời Thời Đại Lai vào. Vừa bước gần tới quan học đạo thì nghe trống gióng báo hết giờ làm việc. Đề học chắp tay dẫn Thời Đại Lai vào phòng bên, rồi mời Đại Lai ngồi. Đề học nói:
- Bài hôm trước anh làm rất hay, cũng không phụ công tôi chấm, xin hỏi Viên thái thường với anh là người thế nào?
- Ông là bác tôi.
- Nghe tiếng anh nói thì không phải tiếng miền Bắc. - Đề học nói.
Xem ra không thể giấu được. Thời Đại Lai đành nói:
- Tôi quê ở Sơn Đông, vốn lâu nay du học ở Giang Tây.
Nhậm đề học đã biết chắc đây là Thời Đại Lai, liền hỏi:
- Tôi trông anh rất quen, hình như đã gặp ở đâu rồi.
Thời Đại Lai ngẩng lên nhìn, thì biết đó là tri phụ Nhậm. Anh chợt thấy lo lắng, nói mập mờ rằng:
- Hình như tôi cũng gặp ngài ở đâu rồi.
Đề học chắp tay chào rồi trở về nha môn. Thời Đại Lai hồn xiêu phách lạc, nghĩ: "Đúng là Nhậm tri phủ, không còn nghi ngờ gì nữa, trách nào ông ta cứ nhìn mình chằm chằm, lại còn mời mình tới đây. Hóa ra ta lại chết trong tay Diêm vương rồi. Ta đến đây chỉ mong dựa vào nơi này để mở mày mở mặt, ai ngờ, đâu đâu cũng đi vào chỗ chết, thôi thế là xong đời ta sẽ chết ở đây thôi. Nếu nói đến chết thì mấy lần ta đã suýt chết rồi, ta đã sống thêm một năm, nay thì biết chạy đâu cho thoát. Thôi thì chỉ cầu mong ở ông ta thôi". Thoáng cái trời đã tối, Thời Đại Lai trong lòng ngổn ngang trăm mối, làm sao mà ngủ được. Anh nghe thấy tiếng trống cầm canh. Trống điểm canh một, khoảng canh hai thì nghe có tiếng người truyền lệnh cho người gác nha môn đưa chìa khóa mở cửa. Người gác vâng theo, đưa chìa khóa cho một người, người đó cầm đèn lồng bước vào. Đầu người ấy chít khăn, mặc áo dài rộng tay, búi tóc đen nhánh thoang thoảng hương thơm, hai má ửng hồng, dáng đi khoan thai yểu điệu thướt tha như cành liễu mùa xuân, hàm răng trắng bóng, tiếng nói thánh thót như oanh vàng, trong không giống như người phủ Long Dương luôn luôn theo hầu sau kiện. Người gác nha môn nói:
- Thưa ngài đi đâu ạ?
- Viên tướng công được mời tới nha môn hiện ở đâu? - Người ấy hỏi. - Ở phòng bên. – Người gác nha môn nói.
- Thôi ngươi đi đi, - người ấy nói, - không cần theo ta nữa.
Người gác nha môn vâng lời bỏ di. Người ấy gõ cửa. Thời Đại Lai nghĩ: "Vào giờ này gọi người làm gì? Thật là quái lạ". Thời Đại Lai run cầm cập mở cửa, thấy một người đẹp trai, anh vội vàng vái chào, nói:
- Ngài đến đây có việc gì ạ. Ngài có việc gì cần sai bảo?
Người ấy ngồi xuống, cúi đầu tỏ vẻ ngượng ngùng, im lặng một lúc lâu không lên tiếng. Thời Đại Lai nói:
- Đêm đã khuya, ngài chưa ngủ sao?
Người ấy mặt đỏ bừng, nói:
- Anh là Thời Đại Lai người Giang Tây, sao lại đổi thành họ Viên?
Nghe thấy thế Thời Đại Lai như sét đánh ngang tai, trốn cũng không kịp nữa, hoảng hốt nói:
- Tôi người Sơn Đông, vốn là người lương thiện, có biết Thời Đại Lai là ai đâu.
- Đừng giấu tôi, - người ấy nói, - tai họa đã đến rồi mà anh còn nói dối. Anh cứ nói thực với tôi đi.
Thời Đại Lai nói:
- Ông hãy nói đi.
Người ấy bỏ mũ ra, nói:
- Tôi chẳng phải là ông nào cả, tôi là tiểu thư trong nha môn.
Thấy nói là tiểu thư, Thời Đại Lai ngẩn người ra, vội đứng tay nói:
- Xin cho phép hỏi, tiểu thư tới đây làm gì?
- Chẳng giấu gì anh, - tiểu thư nói, - từ khi gặp cướp ở Mai Lĩnh, thiếp bị bắt, nhờ ơn vị hảo hán tôi được trả về. Vị hảo hán ấy nói tiên sinh là một chính nhân quân tử. Khi thiếp được thả ra khỏi doanh trại, cha thiếp cứ nghi ngờ, không có lý gì ngọc trở về Triệu mà không tỳ vết. Tuy không nói ra nhưng ông đối đãi với thiếp rất lạnh nhạt. Thiếp là đàn bà con gái, là một viên ngọc không có vết nhưng đâu dám hé răng. Những điều tai tiếng không đâu ấy khiến thiếp phải quá lứa lỡ thì, cha thiếp cũng không muốn tìm người cho thiếp. Xin hỏi, tiên sinh đã là người đứng đắn sao lại giao du với bọn người ấy.
Thời Đại Lai lúc ấy mới thuật lại chuyện bỏ dở học hành, đến việc cướp tù cho tiểu thư nghe. Tiểu thư nói:
- Thiếp cũng biết tiên sinh không phải là người gây nên, tôi muốn thanh minh cho tiên sinh, song là gái, không duyên cớ gì nói được, đành phải nhẫn nhục. Bất ngờ tối nay cha thiếp về nha môn nói: "Tên cướp Thời Đại Lai đang ở đây, trước kia hắn phá ngục chạy trốn, sau đó lại mua chuộc án viện, nay lại mạo danh quê quán ở đây để đi thi. Tên cướp quả là có phép thần thông biến hóa, ta đã lừa tới, mai sẽ tìm cách ghép hắn vào tội chết để trừ họa sau này". Tuy lúc ấy nghe thấy, nhưng thiếp không sao cứu được. Chỉ có chờ tới khi cha thiếp ngủ say, mới cải trang tới đây cứu tiên sinh. Thiếp có hai mươi lạng bạc, tiên sinh hãy cầm lấy, rồi đi thật xa, càng nhanh càng tốt. Nếu thiếp giấu được tiên sinh thì sau này sẽ nguyện cắt tóc đi tu, còn chuyện vỡ lở thì thiếp cũng coi là người bỏ đi, sẽ lập tức tự vẫn, từ bỏ cuộc đời này mà thôi. Tiên sinh hãy mau mau theo ta, sợ rằng cha thiếp tỉnh giấc.
Lúc ấy Thời Đại Lai có muốn nói nhiều cũng không được, anh chỉ nói:
- Cám ơn tiểu thư đã thương tình, một ngày nào đó sẽ trả ơn kết cỏ ngậm vành .
Tiểu thư đội mũ lên như cũ, nói:
- Tuần bổ hãy mở cửa ra, ông lớn nói phải tiễn tướng công về.
Mọi người vâng theo, mở cửa cho ta ra. Tiểu thư bảo:
- Đóng cửa lại.
- Thấy cửa đã đóng, tiểu thư mới mang đèn lồng về phòng riêng.
Sáng hôm sau Nhậm đề học mang hai tờ văn thư tới công đường, gọi tuần bổ nói:
- Bức văn thư này gởi cho Hình sở phủ Đông Xương, còn bức văn thư này thì gửi cho quan Học giáo phủ Đông Xương.
Sau đó ông ta gọi nha lệ lấy một chiếc xích to, nói:
- Mở cửa này, khóa tay Viên sinh viên lại rồi áp giải về phủ Đông Xương ký giam, sau đó sẽ xử trí.
Bọn sai nha hùng hổ đạp tung cửa, không thấy người, quay lại bẩm:
- Thưa ngài, con đi bắt nhưng không thấy người.
- Làm gì có chuyện đó?
Ông ta bèn sai đứa ở trực tiếp hầu hạ mình cùng đi xem.
Họ lại trở về bẩm:
- Thưa ngài, quả đúng như thế.
- Nói bậy, - Đề học nói, - ta sẽ đích thân tới xem.
Mọi người đi theo ông ta, nhìn khắp phòng quả đúng là không có người. Ông ta ra lệnh mọi người phải tìm khắp nơi. Mọi người theo lệnh, tìm mọi ngóc ngách như xua mèo đuổi chó, ầm ĩ cả lên, hết chỗ này lại tìm chỗ khác, nhưng nào có thấy. Họ trở lại bẩm:
- Thưa ngài đã tìm hết mọi nơi, đều không thấy tung tích đâu cả.
- Cổng kín tường cao như thế lẽ nào nó bay qua?
Đề học không thấy người trong nha môn, nhưng lại không muốn chuyện ấy loang ra, đành nói:
- Thôi không tìm nữa.
Bọn sai nha lúc ấy mới thôi. Ông ta càng nghĩ càng tức, gọi tuần bổ tới, nói:
- Ngươi đến nhà ngài Viên nói rằng, Viên tướng công ta mời tới dạy học không ngờ đêm qua đã lấy trộm của cải trong nha môn rồi tẩu thoát, nếu nó ở nhà ông thì ông phải lôi ra để chúng tôi giải về. Nếu không ở nhà thì bắt ông ta cùng đi tìm. Đây là việc phải dâng sớ tâu lên triều đình chứ không phải chuyện nhỏ.
Đúng là:
Cáo đã chạy mất rồi
Phải truy tìm thỏ giảo
Hai bên quyết sống mái,
Họa phúc biết về ai.
Tuần bổ vâng lệnh tới nhà họ Viên nói hết sự việc đã xảy ra. Nào ngờ ngài Viên là người cứng rắn, thấy thế đùng đùng nổi giận, nói:
- Nói láo. Hôm qua rõ ràng có một người đến đây mời đi, không biết vì sao đã mưu hại anh ấy, lại còn đến ta hỏi người. Anh nói với ông ấy, quan họ Viên này không sợ đâu, ta phải hỏi tội ông ta.
Tuần bổ không dám giấu, đành phải thưa thật với đề học. Nhậm đề học hiểu rằng ngài Viên không phải là người dễ chơi, ta không làm thì ông ta cũng làm cho ra nhẽ. Nay thì không thể nói được nữa, đành phải làm một tờ yết thị. Trong tờ yết thị viết như sau:
“Quan họ Viên bị phế chức về nhà nghỉ, dựa vào thế lực, tác oai tác quái, làm rối loạn phép tắt trường học, khống chế triều chính. Thời Đại Lai là tên tướng cướp ở Giang Nam, phá ngục ở Việt Đông, hồ sơ vẫn còn. Hắn lại bị bắt ở Nam Xương rồi lại trốn thoát. Ngài Viên đã nhận hắn làm người trong họ, dùng hắn làm nanh vuốt. Ông đã nhận kẻ cướp làm con, rõ ràng là chứa chấp kẻ cướp, nếu không cấp bách trừ khử thì dần dần sẽ làm tổn hại đến sắc lệnh nhà vua".
Ngài Viên cũng không sợ đối đầu, cũng ra một bản yết thị, đại khái như sau:
"Đề đốc học chính là một chức hết sức tôn nghiêm. Việc tuyển chọn nhân tài phải cực kỳ thanh liêm và thận trọng. Nhậm đề học là người đê tiện bất tài hủ lậu, khiến người đời chê trách, giết học trò ngay trên giường chiếu, thật là xảo quyệt. Dùng những kẻ xấu xa hung ác làm tay chân, hãm hại tài năng. Tội ông ta là làm ô nhục lời răn dạy của triều đình đối với quan lại. Hằng ngày thường dùng hình phạt đối với mọi người. Học trò của phủ phải nộp bao nhiêu bạc để được vào trường, người nào là người trung gian nhận tiền. Sinh viên nào phải nộp bao nhiêu tiền thì được trợ cấp học bổng và được vào trường học. Ông ta lợi dụng mũ áo triều đình để vơ vét những tiền của hôi tanh. Triều đình phải trừng phạt ngay để răn đe kẻ khác".
Sau khi yết thị, cả hai đều dâng sớ tâu lên triều đình. Chỉ trong mấy ngày, chiếu chỉ nhà vua gửi xuống, viết:
"Nhậm đề học tham lam vô đáy, chứng cớ rõ ràng, các bộ phải hạch tội nghiêm túc, rồi tấu lên cho trẫm biết. Viên mỗ trẫm đã hiểu rõ được bản chất của ông, không cần phải trình bày kỹ. ông vốn là người có tiếng trong triều. Còn Viên Thời thì sức cho các quan địa phương truy nã xét xử và tấu lên cho trẫm biết". Đúng là:
Hại người là hại mình,
Tha người là tha mình.
Lòng quan mỏng như giấy,
Phép vua dày như sương.
Nhậm đề học bị một đòn nặng, cụt hứng, khuân tất tiền bạc tới Bộ đút lót mới được bãi chức làm thường dân, thu dọn về quê.
Sau khi được tiểu thư giải thoát, Thời Đại Lai vội vàng đến một ngôi miếu hoang ẩn náu. Sáng hôm sau ra khỏi cửa thành đi thẳng tới Bắc Kinh. Trong người đã có tiền, Đại Lai bèn thuê xe ngựa lên đường. Không đầy nửa tháng đã tới ngoại thành Bắc Kinh, Đại Lai thuê một gian phòng ở rồi vào thành nghe ngóng, tìm chỗ dung thân. Một hôm ngẫu nhiên đọc Kỳ báo biết được ngài Viên và Nhậm đề học vạch tội nhau tấu lên triều đình, phụng chiếu chỉ nhà vua, Nhậm đề học bị nghiêm trị anh như mở cờ trong bụng.
Chủ nhà của Thời Đại Lai là Cao Lâm, tự là Tiến Chi, thuộc dòng dõi chỉ huy Bắc Kinh. Anh ông chết trong vụ biến Thổ Mộc, lẽ ra Tiến Chi được thế tập, song bộ Binh đâu có dễ dàng cho ông tập chức, đòi phải đút lót mấy trăm, mấy ngàn mới chịu tấu danh sách lên triều đình. Cao Tiến Chi cũng là một người cứng đầu, ông nghĩ: "Mình làm gì có ngần ấy tiền đút lót cho họ. Mà dù có tập chức thì sau này cũng không có tiền leo lên chức chưởng sự, cái hố đựng tiền sâu hun hút ấy lấp bao giờ cho đầy. Ta có tài thì tự mình cũng tìm được công danh, làm rạng rỡ tổ tông. Bởi thế ông tự sống thanh thản tại gia đình. Trong võ giới có một người như thế cũng coi là một người trong sạch và cao thượng, Thời Đại Lai ở nhà ông, rất tâm đầu ý hợp. Họ rất kính trọng nhau, không sao nói hết được.
Đúng là:
Đười ươi thương đười ươi
Hảo hán thân hảo hán.
Sóng gió nổi trước mặt, Lòng băng, lạnh than hồng.
Một hôm Thời Đại Lai ở thành về, nghe thấy tiếng khóc của người trong nhà. Can Tiến chi mắt cũng đỏ hoẻn. Thấy thế Thời Đại Lai hỏi:
- Hôm nay nhà anh có chuyện gì không vui thế?
- Chẳng giấu gì anh, - Cao Tiến Chi nói, - tính tôi ngang ngạnh, không thiết công danh, lại không có việc gì sinh sống nên gia đình nghèo túng. Không gặp thời nên hình như ngay cả ngôi nhà này cũng không giữ mà ở được. Nay ta định bán đứa con gái nhỏ cho một người lấy ít lễ vật chi đùng, chứ bán nhà thì đi đâu, bởi thế cứ nhìn nhau khóc.
- Hóa ra là như thế, - Thời Đại Lai nói, - hãy giữ cháu lại, tôi còn mấy lạng bạc anh lấy dùng tạm, rồi sẽ tính sau.
Cao Tiến Chi là một người có hoài bão, không chối từ mà nhận ngay đưa cho vợ. Cô gái họ Cáo vô cùng cảm động. Từ đó Cao Tiến Chi với anh thân thiết như ruột thịt.
Một hôm Cao Tiến Chi nói:
- Thời tướng công tài giỏi như thế sao không đi thi?
- Chẳng khác nào anh hùng nhưng không có đất dụng võ.
- Năm nay đến kỳ thi, chủ khảo mở khoa thi, có tài sẽ đỗ luôn cả hai kỳ. Nếu anh thích thì nhận quê quán của tôi, thi vào học quán.
- Thế thì hay quá. - Thời Đại Lai nói.
Hôm sau thấy quan đề học yết thị thu nạp nhân tài. Thời Đại Lai đổi họ tên là Cao Thăng. Thi xong, yết bảng anh đổ đầu. Vợ chồng Cao Tiến Chi vô cùng mừng rỡ, quan tâm chăm sóc Thời Đại Lai. Thi xong tam trường, yết bảng Thời Đại Lai đỗ thứ ba. Ăn tết xong, thoáng cái đã đến kỳ thi Hội. Đại Lai lại đỗ khôi nguyên. Thi Điện đỗ tiến sĩ nhị giáp. Thời Đại Lai đã trải qua nhiều thử thách, luôn luôn tâm niệm mình sẽ làm một ông quan tốt chứ không chạy chọt mưu cầu danh lợi như một số người, chỉ tuân theo sự tuyển dụng công bằng. Thời Đại Lai được bổ dụng làm hình bộ chủ sự. Tuy ở bộ Hình nhạt nhẽo lãnh đạm song anh không tính toán. Anh chuẩn bị ít tiền nhờ Cao Tiến Chi đón gia quyến tới nhiệm sở. Tiến Chi cảm động không dám từ chối lên đường đi ngay. Không đầy hai tháng đã đón phu nhân Vạn thị về nha môn.
Đúng là:
Vợ chồng bè bạn ân nghĩa nặng,
Cả nhà vui vẻ đáng ngàn vàng.
Một hôm đang làm việc tại công đường, cấp trên gửi xuống một tờ văn thư. Thời Đại Lai mở ra xem thì thấy trong đó phê:
Vụ án Hoàng Hiệp là một vụ án rất nghiêm trọng, hẹn trong một ngày phải xét xử nghiêm minh, rồi tấu báo lên triều đình. Không được chậm trễ.
Thấy sự việc rất khẩn cấp, Thời Đại Lai lập tức đưa ra xét xử cho giải phạm nhân quỳ trước thềm. Thời Đại Lai nhìn kỹ phạm nhân thì giật mình nghĩ: "Người này rất giống Phong Nhiễm Tử, song tại sao gọi là Hoàng Hiệp?" Nhìn kỹ một lần nữa thì thấy khuôn mặt tuy gầy và đen song bộ râu vẫn như xưa. Đúng là Phong Nhiễm Tử rồi, không còn nghi ngờ gì nữa. Nhưng lại mắc trọng tội, vậy thì xử thế nào đây. Ta hãy thử hỏi xem rồi hãy bàn cách. Thời Đại Lai xem bản án, gọi Hoàng Hiệp tới, nói:
- Tại sao ngươi dám cả gan cướp lương của quan vận chuyển tại Thiên Tân lại còn giết mấy kỳ giáp? Đến nay ngươi còn bao che cho bọn đồng đảng, không chịu cung khai nhận tội?
- Việc ăn cướp ở vệ Thiên Tân có liên quan gì đến phạm nhân, kẻ ấy chính là bọn Phi thiên dạ xoa Đỗ Tiểu Nhị mà phiên mổ nhận lầm, tưởng gà hóa quốc, cho phạm nhân là hắn. Con đã từng nhiều lần bẩm với quan song đây là việc hệ trọng ai dám nhận sai lầm, cho nên phạm nhân chịu oan, không thấy được mặt trời.
- Vậy thì Phi thiên dạ xoa Đỗ Tiểu Nhị ở đâu? Điều ngươi nói có đúng không? - Thời Đại Lai hỏi.
- Sao lại không đúng thưa ngài, - Hoàng Hiệp nói, - hắn là người Sơn Đông. Nếu quả là phạm nhân thì tại sao nhiều lần tra tấn cực hình phạm nhân không khai ra đồng đảng mà lại chịu chết một mình?
Thời Đại Lai cố ý hỏi dò:
- Ở vệ Thiên Tân không phải là ngươi, nhưng kẻ cướp tài sản của tri phủ Nhậm ở Mai Lĩnh có phải là người không? Nay ông ta đang cáo giác ngươi. Hoàng Hiệp à lên một tiếng nói:
- Việc ở Mai Lĩnh là có thật, phạm nhân xin nhận. Song vụ này không thể so với vụ ăn cướp lương thực, giết người ở Thiên Tân được.
Cao Tiến Chi nghe thấy thế rất tán thành.
Đúng là:
Sẻ, chuột tranh thóc gạo,
Anh hùng cùng tử sinh.
Tới nay trên Thanh Đảo.
Rót rượu viếng Điền Hoành(1)
(1) Điền Hoành: một nhân vật thời Chiến Quốc, là tướng quốc của Tề vương, Hàn Tín diệt Tề, Hoành tự xưng là Tề vương, mang 500 người chạy trốn ra hải đảo. Lưu Bang xưng để dụ hàng, Hoành về Lạc Dương, giữa đường thấy xấu hổ rồi tự sát.
 
Thời Đại Lai viết một bản văn thư gửi lên cấp trên, đại ý như sau:
Thẩm xét vụ án Thiên Tân, quả thực là Đỗ Tiểu Nhị Sơn Đông. Hoàng Hiệp người miền Bắc xa xôi không có liên quan đến vụ án. Việc nhận gà hóa cuốc như thế thì đất nước sao mà tồn tại được? Giết người để xiểm nịnh người, bọn quan lại xấu xa ấy phải phế bổ. Cúi xin hoàng thượng ra lệnh cho phiên bổ truy tìm thủ phạm. Hoàng Hiệp vô tội, nên cho được bảo lãnh thả ra.
Thượng thư bộ Hình thấy Thời Đại Lai là một tiến sĩ tân khoa dám chịu trách nhiệm. Hằng ngày lại rất thanh liêm, hơn nữa lời nói nghiêm túc hợp lý hợp tình, hoàn toàn không thể bác bỏ. Lập tức phê trả lời:
Ty ấy phải ra sức bắt ngay thủ phạm chính. Đây là vụ án quan trọng phải nhanh chóng kết thúc, không được chậm trễ. Hoàng Hiệp quả là vô tội, ty phải xem xét kỹ cho được bảo lãnh.
Thời Đại Lai vô cùng mừng rỡ, ngay lập tức đưa Hoàng Hiệp ra nói:
- Bản ty thấy ngươi oan uổng nên ra sức trình bày giải thích với cấp trên, ngươi có biết không?
Hoàng Hiệp nói:
- Sống chết tuy là dân đen, song sự oan uổng lại can hệ đến phép nước, phạm nhân cũng biết được điều đó.
Thời Đại Lai cho gọi ngay một người gác ngục, bắt anh ta bảo lãnh. Người gác ngục nói:
- Đây là tên trọng phạm, một mình con khó mà đảm đương hai việc. Quả thực con không dám.
Thời Đại Lai quát lên.
- Còn có ta ở đây, ngươi sợ cái gì? Hãy mau mau đưa ông ấy bảo lãnh.
Bất đắc dĩ người gác ngục phải đưa Hoàng Hiệp về. Thời Đại Lai dặn thêm:
- Người này mà trốn mất thì có liên quan đến bản thân anh đấy.
Người gác ngục cứ luôn mồm kêu khổ, đành phải đưa Hoàng Hiệp về nhà mà lòng không vui. Hoàng Hiệp nói:
- Tôi hiểu ý anh rồi, Hoàng Hiệp này là một người đầu đội trời chân đạp đất lẽ nào lại bỏ trốn để làm liên lụy đến anh. Hơn nữa tôi đã đội ơn ngài Cao thì liên lụy đến anh là liên lụy đến ngài Cao. Thôi anh hãy giúp tôi đi mua ít rượu và thức nhắm mang về đây tôi với anh uống một bữa thoả thuê. Từ nay trở đi chúng ta là bạn với nhau có được không?
Hoàng Hiệp lấy ra một thỏi bạc, mà cũng chẳng thèm cân là bao nhiêu đưa cho người gác ngục, người gác ngục mới an tâm ra đi. Anh mua về một hũ rượu, một mâm bánh màn thầu và bánh cuốn, một đùi cừu, một thủ lợn, một con ngỗng béo. Hoàng Hiệp bảo anh làm thức nhắm cùng nhau uống rượu. Loáng một cái mâm rượu được dọn ra, hai người đóng cửa lên nhà, sắp sửa uống rượu thì chợt nghe có tiếng gọi cửa. Người coi tù hoảng hốt hỏi:
- Ai đấy?
- Tôi là người do ngài Cao ở bộ Hình sai tới, đòi Hoàng Hiệp, người mới được tha khỏi nhà giam. Ngài còn dặn là phải trả lời ngay. - Người đứng ngoài nói.
- Tôi đã biết trước là việc này không được rồi, - người gác ngục nói, - bây giờ lại đến gọi anh. Nếu không phải ông lớn lật lại bản án thì chiếu chỉ gửi xuống cũng phải chém đầu. Nếu không thì tại sao người ta nói là phải trả lời ngay.
- Thì cứ mở cửa ra sẽ biết. - Hoàng Hiệp nói.
Người gác ngục mở cửa, người ấy bước vào chắp tay nói:
- Ngài Cao có lời mời ông tới. Đúng là:
Đêm đêm thảng thốt không an giấc
Trời đất bao giờ lặng sóng đây.
Hoàng Hiệp nói:
- Tôi không phải là người sợ chết, hơn nữa chưa hẳn cái chết đã đến với tôi. Chỉ có điều ngồi trong ngục buồn đến chết người đi được. Rượu và thúc nhấm đã bày sẵn, ta hãy uống đi mấy chén rồi cùng đi một thể.
Người ấy thấy mâm rượu đã dọn sẵn nghĩ, đã đến đây thì cũng làm cho họ yên tâm, bèn ngồi xuống ăn uống. Được một lát Hoàng Hiệp bảo lấy bát ra rót rượu rồi uống liền hàng chục bát. Người ấy nói:
- Sắp gặp ông lớn, uống ít thôi. Ông lớn chờ đã lâu, xin mời các ông đi ngay cho.
Ba người cùng đứng dậy, đi tới nha môn. Cổng nha môn mở toang, công đường đèn nến sáng choang. Ngài Cao đang ngồi đợi. Người ấy quỳ xuống bẩm:
- Thưa ngài, Hoàng Hiệp đã tới.
Hoàng Hiệp phủ phục trước thềm, bỗng nghe thấy ngài Cao truyền lệnh đóng cửa. Ngài Cao bước xuống thềm kéo tay Hoàng Hiệp đi vào trong. Hoàng Hiệp nghĩ: "Thật là kỳ quặc, ta phạm tội với triều đình, lẽ nào lại điều ta đến nhà riêng xử tội", Đi quanh co mãi tới một thư phòng ở chính giữa, đèn nến sáng choang, bàn ghế bày ngay ngắn.
Dẫn Hoàng Hiệp vào tới phòng, ngài Cao bỗng nhiên bỏ mũ ra, nói to:
- Anh! Anh có nhận ra Thời Đại Lai không?
Hoàng Hiệp ngẩng đầu nhìn, nhận ta Thời Đại Lai, nói:
- Ôi! Tôi cứ tưởng ngài Cao thanh bạch là người ở đây. Ai ngờ đó lại là hiền huynh.
- Lúc đầu cứ gọi là Phong Nhiễm Tử, mà không hỏi họ tên thực, nào ngờ họ tên lại là một chòm râu, thế thì ai mà đoán ra được.
Hai người vái nhau bốn cái, Thời Đại Lai mời phu nhân ra gặp mặt. Vạn thị vô cùng biết ơn, vui mừng khôn xiết, không sao kìm nổi, phu nhân lại mời cả Cao Tiến Chi cùng ra tiếp đón. Phong Nhiễm Tử hỏi:
- Sau khi chia tay, thế nào mà anh lại tới đây.
Thời Đại Lai kể lại tỉ mỉ cho Phong Nhiễm Tử nghe, và nói:
- Nhậm đề học, ân hận rằng không đánh đổ được người mà ngược lại mình bị đổ, làm một kẻ tiểu nhân một cách oan uổng.
Mọi người cười rộ lên, Phong Nhiễm Tử nói:
- Vị Cao Tiến Chi đây là người thế nào?
Thời Đại Lai kể lại đầu đuôi việc mình kết giao với Cao Tiến Chi. Phong Nhiễm Tử hết sức khâm phục, nói:
- Lúc đầu tôi cứ tưởng thiên hạ là những hạng mặt người dạ thú, ai ngờ người tốt vẫn còn. Ngay như anh Cao người đang ngồi đây là một người thanh cao, em Thời là một người nghĩa hiệp, Viên thái thường là một người chính trực. Tất cả đều là những người hiếm thấy xưa nay. Đáng tiếc là tôi đã lầm lỡ nửa đời người, giờ có sửa lại cũng không được nữa.
Thế rồi Phong Nhiễm Tử dùng chiếc cốc lớn bằng sùng tê giác cùng với Cao Tiến Chi, thả sức say sưa. Họ bàn với nhau về võ nghệ, về những chuyện ở chốn biên cương rất tâm đầu ý hợp. Lúc ấy Phong Nhiễm Tử rất vui. Ba người như anh em ruột thịt, chẳng còn vấn vương gì. Phong Nhiễm Tử vốn là người không chịu sống yên một chỗ, song vì có Cao Tiến Chi, họ rất hợp nhau, nên hằng ngày thường thi đấu đao thương, cung tên, bởi thế họ vui vẻ quên cả ngày tháng.
Đúng là:
Tình cá nước biết bao sâu nặng,
Mười năm về trước, đó ân nhân.
Đời người vẫn có duyên hòa hợp,
Tình nghĩa anh em tựa keo sơn.
Thời Đại Lai luôn luôn là một viên quan thanh liêm, là một người tiếng tăm lừng lẫy Trường An cả triều đình điều muốn để cử Đại Lai vào bộ Lại, song không phải vào bộ Lại một cách dễ dàng, phải có mưu mô thủ đoạn thì mới vào được. Thời Đại Lai không hề quan tâm đến chuyện đó, chỉ nghe theo mệnh trời. Song Thời Đại Lai khó thoát khỏi công luận. Bộ Lại không chịu tiếp nhận Đại Lai mà chuyển sang hộ Binh. Thời Đại Lai vẫn cứ thản nhiên tới nhậm chức tại bộ Binh. Chưa đầy hai tháng thì có tin báo về: bọn Yểm Đáp đã tiến vào cửa ải áp sát đô thành, việc này phải do bộ Binh đảm trách. Song những quan viên dùng tiền đút lót thì đùn đẩy không đi, Thời Đại Lai là người không dùng tiền đút lót cho nên bộ Binh đã đẩy Thời Đại Lai đương đầu. Thời Đại Lai không hề từ chối, đến ngày thao trường, soái lãnh hơn một ngàn binh mã, đưa cả Phong Nhiễm Tử và Cao Tiến Chi đi cùng. Nào ngờ, vừa ra tới nơi thì gặp chúng đang cướp bóc, thấy thế Phong Nhiễm Tử và Cao Tiến Chi, hai người đang tràn đầy nhuệ khí, họ như một con chim ưng thích đấu, hào hùng xông lên chém đầu bốn năm chục tên, bọn Yểm Đáp phải bỏ chạy, họ thu được rất nhiều quân lương. Ngay sau đó họ phóng ngựa về triều đình báo tin chiến thắng. Thời Đại Lai dẫn quân về yết thị tại bộ Binh, thưởng công cho hai người. Nhà vua xuống chiếu giao cho Hoàng Hiệp làm đô ty, Cao Tiến Chi làm thủ bị, trở về nha môn mở tiệc ăn mừng.
Vì lập công ngoài biên ải, cả triều đình cho rằng Thời Đại Lai giỏi việc binh, bèn thăng làm binh bị đạo Trang Lãng. Thời Đại Lai đưa cả hai vị hảo hán này đi theo. Tới nơi cử Hoàng Hiệp làm tham tướng, Cao Tiến Chi giữ chức du kích. Từ đó họ đều binh luyện võ tại biên cương, thỉnh thoảng Yểm Đáp vào cướp bóc đều bị họ đánh bại. Không lâu sau hai người này được trao chức tước, đúng vào Chiết Giang có giặc Oa xâm phạm, bộ Binh lại tiến cử Hoàng Hiệp làm phó tướng đi cứu viện Tam Chiết. Không đầy nửa năm dẹp yên giặc Oa, Hoàng Hiệp được thăng làm tổng binh quan, đi ngựa tới nhiệm sở. Thời Đại Lai được triều đình giao cho trông coi vùng biên giới, thăng chức tuần phủ Diên Tuy. Hai người gặp nhau, hết sức vui mừng hòa hợp.
Đúng là:
Hen ước ban đầu cùng chung sống,
Chẳng còn nỗi khổ buổi thiếu thời.
Lại nói Nhậm đề học bị bãi chức, sống nhàn nhã, song ông ta là người hám của thì làm sao chịu đựng được nỗi cô quạnh. Ông ta đã chuẩn bị một ít bạc vào kinh đút cho chức sự để được trở lại làm quan. Được đút lót nhiều cho nên chức sự ra sức giúp ông ta đúng lúc ấy thì đạo Trang Lãng mà Cao tuần phủ mới nhậm chức thiếu người bèn cho rằng ông ta biết việc binh thăng giữ chức binh bị phó sứ đạo Trang Lãng. Lão Nhậm vô cùng mãn nguyện, lập tức đưa gia quyến tới ngay nhiệm sở bái yết tuần phủ. Được bẩm báo, Thời Đại Lai biết ngay đó là Nhậm tri phủ. Nhậm phó sứ tuổi đã cao, hám danh lợi, chỉ biết vái lạy mọi người và bợ đỡ cấp trên nên Thời Đại Lai cũng chẳng cần để ý đến họ tên lai lịch của lão làm gì. Một hôm trong bữa rượu, Thời Đại Lai hỏi Phong Nhiễm Tử:
- Có một người biết anh, xem anh có biết người ấy không?
- Ai đấy? - Phong Nhiễm Tử hỏi.
- Anh còn nhận ra Nhậm tri phủ không?
- Lâu lắm rồi tôi quên mất rồi.
- Thế chẳng phải anh đã gặp phó sứ Trung Lãng rồi sao?
- Chỉ nói hắn là họ Nhậm chứ ai ngờ lại là tên vô liêm sỉ ấy. Thật đáng tiếc đã không giết hắn ở Mai Lĩnh để hắn còn sống đến bây giờ làm nhơ nhuốc thanh danh những người khoa giáp.
- Loại người bỉ ổi ấy còn đầy rẫy ở Trường An. Hãy dung tha cho đồ vô dụng ấy.
Phong Nhiễm Tử tuy ngoài miệng nghe theo, song trong lòng cứ ấm ức. Một hôm lại nghe tin quân giặc phía tây tiến vào cửa ải. Phong Nhiễm Tử mang binh mã đi đánh đẹp, mãi xông lên Nhiễm Tử quên cả phòng bị phía sau. Cuối cùng bị phục binh xông ra vây hãm. Nghe tin cấp báo, Thời Đại Lai truyền lệnh điều Cao phó tướng đi cứu viện, đồng thời mình cũng tự dẫn binh mã tới ứng cứu. Cao Tiến Chi nghe thấy Phong Nhiễm Tử bị vây liều chết tiến lên. Phong Nhiễm Tử thấy quân tiếp viện tới gào thét xông lên chém giết, lại được quân của tuần phủ ứng cứu, ba cánh quân nhất tề xông tới đông như kiến cỏ, truy đuổi quân giặc tới hai ba trăm dặm mới trở về. Phong Nhiễm Tử đắc thắng trở về bèn nghĩ: "Binh mã của tuần phủ đều tới, lẽ nào phó sứ lại tọa hưởng kỳ thành? Nếu không nhân dịp này kết liễu đời hắn thì sau này khó mà trút được nỗi oán hận". Thế là Phong Nhiễm Tử làm một tờ trình lên bộ Binh, đại lược như sau:
Mở mang một cách quân yếu, bị bốn mặt tiến công, vây khốn hai ngày, song các dũng sĩ liều chết xông lên, may mà không làm nhục uy danh nơi đất người quân thù đã bị tiêu diệt. Song Nhậm phó sứ bất tài vô dụng, giữ trọng trách nhưng nhút nhác sợ chết, hoàn toàn không biết gì về việc binh, chỉ biết ra sức bóp nặn nhân dân, không thực hiện chức trách của một người làm quan. Khi ta xông lên diệt địch bị địch vây hãm, cơ hồ như sắp chết trong tay kẻ thù thì Nhậm phó sứ định mượn tay kẻ thù giết ta. Ta chết là việc nhỏ, song điều quan hệ đến biên cương lại là chuyện lớn...
Bộ Binh tấu lên triều đình. Vua lập tức xuống chiếu như sau:
Nhậm phó sứ thù riêng mà không lo việc biên Cương, phủ sứ phai thẩm xét xử lý nghiêm minh. Hoàng Hiệp lập công đã được ghi nhận, nay ra chiếu chỉ để Bộ biết.
Tuân theo chiếu chỉ, sáng hôm sau Nhậm phó sứ khăn áo chỉnh tề tới nha môn tuần phủ chờ xét xử. Thời Đại Lai ra lệnh đóng cửa rồi chắp tay chào phó sứ kéo đứng dậy mời trà. Nhậm phó sứ nói:
- Phạm quan đáng Trừng phạt, đâu dám mong đại nhân gia ân.
- Ông có nhận ra Thời Đại Lai trước đây không? - Tuần phủ nói.
Nhậm phó sứ lau mắt nhìn kỹ:
- Phạm quan đáng chết từ lâu rồi, chỉ mong ngài rộng lòng cứu giúp.
Nói xong Nhậm phó sứ quỳ xuống lạy. Thời Đại Lai nói:
- Không nói tới chuyện trước đây, chỉ xin hỏi người con gái yêu của ngài đã lấy chồng chưa?
- Không giấu gì ông lớn, - Nhậm phó sứ nói, - khi bị bắt trở về cháu không muốn sống trong đời tục nữa, từ lâu muốn cắt tóc đi tu. Phạm quan không nỡ bỏ mặc, cháu vẫn còn trong nha môn ăn chay niệm Phật, thề sẽ không đi lấy chồng.
- Thế thì tốt quá, - Thời Đại Lai nói, - tôi muốn làm mối cho con gái yêu của ông. Nếu ông bằng lòng thì không những ông được giải thoát mà còn có thể phục lại nguyên chức.
Nghe thấy có thể phục chức, Nhậm phó sứ cũng chẳng hỏi làm mối cho ai, mà bằng lòng ngay.
- Thưa ông lớn, nếu ông lớn nâng đỡ phạm quan thì phạm quan lo liệu một ít của hồi môn để chàng rể mới báo đáp đại nhân.
Nói xong Nhậm phó sứ quỳ xuống lạy. Thời Đại Lai nâng dậy nói:
- Tôi nói nghiêm túc đấy. Tôi làm mối cho vị này, sẽ không làm nhục ông. Nếu ông nói tới của hồi môn, điều ấy sẽ đụng chạm đến tông tích cũ. Không những con rể không nhận mà ngay tôi cũng không dám nói.
- Tôi xin nghe theo ngài. - Nhậm phó sứ nói.
Sau đó Thời Đại Lai lập tức dọn rượu mời Phong Nhiễm Tử tới. Trong lúc uống rượu Thời Đại Lai nói:
- Tôi xin chúc mừng anh.
- Có việc gì mà chúc mừng.
Phong Nhiễm Tử vốn là người trọng nghĩa, rượu đối với anh là không thể thiếu, song về mặt sắc thì anh chẳng hề màng tới, bởi thế tới nay vẫn chưa vợ con. Thời Đại Lai nói:
- Tôi đã làm mối cho anh một người.
- Ai đấy Phong Nhiễm Tử hỏi.
- Con gái Nhậm phó sứ.
- Anh sai rồi. - Phong Nhiễm Tử nói toáng lên. - Lấy loại người ấy để làm nhục tôi à? Sao bây giờ anh lại xử tệ với tôi như thế.
- Hãy nghe tôi nói đã, tiểu thư tên là Trại Nhi, không những đẹp mà còn là người nghĩa hiệp. Sau khi cô bị bắt, mặc dù anh là người đức hạnh không làm nhục cô ta, song là đàn bà con gái cô khó mà tự thanh minh được. Vì sự nghi ngờ ấy làm đời cô dang dở đến nay vẫn chưa đi lấy chồng. Điều ấy chẳng phải là do anh làm cô lỡ dở ư? Thế nhưng cô ở nhà ăn chay tụng niệm kinh Phật mà hoàn toàn không hề oán hận. Ngay khi tôi bị lừa, cái chết cầm chắc trong tay cô đã đóng giả đàn ông để cứu tôi. Anh tính nghĩa khí ấy, tài trí ấy thì trong hàng vạn đàn ông cũng không có lấy một người chứ đừng nói là con gái. Anh là bậc đàn ông kỳ tài trong thiên hạ, kết duyên với một cô gái kỳ tài thì đó chẳng phải là một đôi hiếm có do trời sinh ra ư? Tôi làm mối cho anh là phải lắm rồi, anh đừng có trách tôi.
Nghe thấy thế Phong Nhiễm Tử cười ha hả nói:
- Không ngờ minh châu từ bụng rắn mà ra. Tôi xin nghe theo lời anh.
Thời Đại Lai lập tức tâu lên triều đình gỡ tội cho phó sứ. bản tấu sớ đại lược như sau:
Tổng binh Hoàng mỗ hết lòng vì nước, anh dũng quên mình, bị vây hãm ở vùng sa mạc. Trong giờ phút gian nguy dám xông lên tiêu diệt địch lập công to. Song Nhậm phó sứ đang lúc tuần du không biết hỏa đài cấp báo, đến khi trở về điều quân theo sau. Tuy có sai lầm là chậm trễ song đó là sai lầm một cách vô tình chứ không phải cố ý. Xin bệ hạ phục chức đòi hỏi ông phải ra sức đáp đền.
Chỉ trong vài ba ngày nhận được chiếu chỉ, Nhậm phó sứ đến tạ ơn Thời Đại Lai và cùng tới tạ ơn con rể. Vốn là trước đây Nhậm phó sứ chỉ quan hệ với bọn người chó má, toàn bàn những chuyện chui luồn bợ đỡ, đến khi gặp quan tuần phủ Thời Đại Lai thanh liêm sáng suốt và gặp được chàng rể hào hiệp mới hiểu trên đời này còn có những chính nhân quân tử như thế. Từ đó về sau Nhậm phó sứ thương dân như con, coi tiền của như bùn đất.
Đúng là:
Sống lẫn trong cỏ dại
Chẳng đỡ mà thẳng ngay.
Lâu rồi quên hương sắc,
Nay bước vào phòng lan.
Thời tuần phủ đã bàn bạc với chàng rể nên trong bản tấu sớ đã biện bách cho Nhậm phó sứ, lại ca ngợi công lao của Hoàng tổng binh nên triều đình ban mãng ngọc, gia phong hàm Thiếu bảo. Thời tuần phủ có công lao dùng người cũng được thăng chức Thượng thư bộ Binh, gia phong Thái tử thiếu bảo, được tặng kiếm Thượng Phương, tổng đốc Tam Biên. Có một hôm Thời tổng đốc nói với Hoàng thiếu bảo rằng:
- Anh còn nhớ lúc tôi vì thiếu một đồng mà lâm vào chỗ chết không? Tôi và anh nay đã vinh quang tột đỉnh, nếu không sớm quay về thì khó tránh khỏi bị nhục.
Hoàng thiếu
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 EmptyMon May 05, 2014 3:18 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 22
Cứu Người Nghèo Làm Quan Hiển Đạt
Rửa Án Oan Hưởng Phúc Đời Đời
"Họa đường xuân"
Xưa nay việc thiện trời đều biết,
Huống hồ việc gỡ oán phù nguy.
Việc ấy người trời đều tôn trọng,
An nhàn hưởng lộc sẽ dài lâu.
Tích góp sách vở chưa chắc đọc,
Tích góp bạc vàng chưa chắc giàu.
Chẳng bằng tích đức cho con cháu,
Phú quý giàu sang sẽ bền lâu.
Dịch truyện viết: "Người tích thiện tất có nhiều phúc, người tích ác tất sẽ gặp tai ương". Chứng tỏ họa phúc là do người tạo nên chứ không phải trời đối xử xấu tốt đối với riêng ai. Song tích thiện không gì lớn bằng âm. Cho nên cái phúc do âm sắp đặt là lâu dài nhất, sử quả báo cho âm làm hại là tàn khốc nhất. Còn như việc hình ngục thì lại có quan hệ rất lớn: nếu hết lòng tha thứ thì người chết sẽ được sống lại, nếu rắp tâm độc ác thì người sống có thể chết ngay tức khắc. Huống hồ là kẻ nhận hối lộ uốn cong pháp luật, cố ý hãm hại người, mạng người rất quan trọng, sao có thể lợi dụng nó để hưởng lạc hay trả thù, để mặc sức hành hạ. Người xưa thường nói: "Người đương quyền, nếu không ra tay cứu vớt người, thì cũng chẳng khác nào vào núi vàng mà về tay không. Sĩ đại phu nắm quyền hành trong tay, mà không làm rõ các vụ án oan, không thương xót người vô tội, không mang tấm lòng yêu người của trời sao?".
Thời Hán có Vu Công, làm quan coi ngục, biết minh oan cho người đàn bà hiếu đễ. Ông thường tự hào nói rằng: "Con cháu ta sau này nhất định sẽ hiển đạt". Về sau con ông dẹp yên bờ cõi, quả nhiên làm đình úy, đúng như lời ông nói. Thời Đường có Hà Tỷ Can, cùng với Từ Hữu Công, Lai Tuấn Thần, Hầu Tư Chỉ là hình quan. Tỷ Can là người khoan dung, đã tha tội cho nhiều người. Người thời ấy thường nói rằng: "Nếu ai gặp Lai Tuấn ThầnHầu Tư Chỉ sẽ chết, mà ai gặp Từ Hữu Công, Hà Tỷ Can sẽ sống". Một hôm có một bà lão cầm hơn chín mươi thẻ tre, nói với Hà Tỷ Can. "Ông là người có âm đức, con cháu sẽ làm tới công khanh, quận thú. Được phong ấn tín, bằng số thẻ này". Về sau quả nhiên đời đời hiển đạt. Thời Tống có Trương Khánh làm quan coi ngục, ông luôn luôn quét tước nhà tù sạch sẽ, cho tù nhân ăn uống, không đến nỗi để cho họ đói rét. Người đau ốm thì chạy chữa thuốc thang. Tuy ông không thể minh oan cho họ được, nhưng sau này con cháu ông cũng được đỗ đạt. Còn như bọn Chu Hưng, Cát Tu tra tấn người tàn ác, hãm hại bình dân, sát hại quan lại, cuối cùng khi chết thì đầu một nơi, người một nẻo, vợ con họ tộc đều bị giết. Tại sao lại khác hẳn với việc đền ơn người làm điều thiện như thế?
Như trên đã nói, quyền hành trong tay mình hay không là do tấm lòng của mình, bởi thế gỡ oan cho họ không phải là việc khó. Nay tôi xin kể về một người, quan thì thấp, chức thì nhỏ chẳng có quyền hành gì, ông cũng không tham tiền mà cũng chẳng muốn ai khen, vậy mà lại minh oan cho tù nhân và thả họ ra khỏi nhà tù, đó chẳng phải là việc vô cùng khó khăn sao?
Thời Gia Tĩnh có một người tên là Diêu Nhất tường, người huyện Thượng Hải, Tùng Giang. Diêu mất cha từ thời tấm bé, nhà khá giả sống phóng khoáng, khinh tài trọng nghĩa. Từng theo dõi đèn sách, giỏi thơ văn, mấy lần thì không gặp vận nên không được nhập học. Những người trong làng thường chê cười anh, song anh vẫn thản nhiên chẳng để bụng làm gì. Mẹ anh ở vậy nuôi con, luôn luôn mong con công thành danh toại. Bà tích góp được bốn năm trăm lạng bạc, rồi bảo con tới Nam Kinh nhập học.
Nhất Tường vâng lời mẹ, từ biệt vợ, mang theo hai người hầu lên đường. Nam Kinh xưa kia gọi là Kim Lăng, lại còn gọi là Mạt Lang. Đây là nơi rồng cuộn hổ ngồi, là nơi đô hội bậc nhất của đế vương. Từ khi Đông Tấn vượt sông tới nay, Tống, Tề, Lương, Trần đều xây dựng kinh đô ở đấy. Sau đó Lý Dực, Lý Cảnh, Nam Đường cũng đóng đô ở đây, cho nên đây là nơi phồn hoa tráng lệ vào bậc nhất vùng Đông Nam. Vương Giới Phủ từng sáng tác một bài thơ nhan đề là Kim Lãng hoài cổ theo điệu Quế chi hương như sau:
Lên cao đưa tầm mắt.
Nhìn cố quốc buổi cuối thu,
Khi trời chớm lạnh,
Dòng nước trong xanh như dải lụa,
Núi biếc chọc trời tựa tên bay.
Dong buồm đưa mái chèo dưới bóng chiều tà.
Trên đỉnh tửu lâu dải biển hiệu phấp phới bay theo gió.
Bóng thuyền ngũ sắc mờ dần,
Sao sáng lung linh hiện trên dòng nước,
Đẹp như bức họa.
Xưa kia nơi đây một thời hào hoa.
Hận rằng trên lầu ngoài thành
Niềm vui nỗi buồn cứ theo nhau đắp đổi.
Việc cũ của sáu triều đại cứ trôi theo dòng nước
Nay chỉ thấy làn khói lạnh và những vạt cỏ mềm xanh ngắt,
Đến nay những kỹ nữ vẫn còn hát khúc Hậu Đình.
Đến hoàng đế Minh Thái Tổ khôi phục đất nước, xây dựng cung điện, hàng trăm hàng ngàn phủ điện nha môn, đường phố chi chít như bàn cờ. Những sản vật kỳ lạ tinh xảo, những con người áo mũ lịch thiệp, những trai thanh gái lịch, những người thuộc đủ mọi nghề, ùn ùn tụ tập về đây. Quả là không sao nói hết được sự phồn hoa, và cũng không sao hưởng hết được sự khoái lạc. Tuy thủ đô đã dời về Bắc Kinh, nơi đây không sao tránh khỏi hoang phế, song sông núi vẫn như xưa, cảnh vật vẫn y nguyên, nơi đây khác hẳn với tỉnh thành nơi khác.
Nhất Tường tới đây vô cùng thích thú. Anh nghĩ: "Gửi đơn nhập trường thì phải học hành, không được thỏa thích du ngoạn, thôi thì ta tìm một nơi trọ tạm du ngoạn mấy ngày rồi hãy tính sau”. Thế là anh cùng với hai người đầy tớ đến bến đò Đào Diệp trên sông Tần Hoài tìm một phòng trọ trên sông.
Nơi nghỉ trọ ở Nam Kinh thì phòng nghỉ trên sông là đắt nhất và cũng tuyệt vời nhất. Phía tây là trường thi, bên kia sông là nhà chứa. Bởi thế những kẻ sĩ phong lưu hào phóng rất muốn dốc tiền ra thuê. Nhất Tường cũng nghỉ ở đây một ngày, hôm sau đi du ngoạn. Thế rồi anh chơi tới hai ba ngày liền, chợt anh qua phường Võ Công, vượt qua cầu, tới một nhà chứa. Chỉ thấy:
Lầu hồng như hang núi, quán biếc chạm tầng mây. Lan can chạm trổ, ngoáy ngoéo quanh co, trồng rất nhiều hoa thơm cỏ lạ, phòng ốc sâu hun hút, ánh sáng lờ mờ, đàn ngọc sáo ngà, tiếng nhạc du dương, hương thơm sực nức. Những cô gái mặt hoa da phấn, dáng vẻ yểu điệu thướt tha chẳng khác nào tiên nữ trong động phủ. Những chàng trai bầu rượu túi thơ, ai ai cũng dáng vẻ văn nhân học sĩ. Ơ đây đêm đêm sáng rực, chẳng lo gì không trăng Theo mùi hương tới nơi mà xưa nay người ta gọi là mê hồn trận. Nơi rất mực phong lan này đã cuốn hút biết bao anh tài niên thiếu.
Nhất Tường không có ý định ngủ đêm chơi gái, nhưng đã đến đây thấy cảnh tượng như thế cũng thấy ngã lòng. Hơn nữa trong đám gái làng chơi thường nói: "Chỉ sợ anh không đến thì thôi chứ đã đến đây khó lòng mà bỏ đi được". Bởi thế, ngay cả những anh cực kì keo kiệt, chỉ chuyên sà đến với đàn bà góa chồng cũng phải nghỉ lại mấy đêm liền, hoang phí hàng chục lạng bạc mới ra khỏi cửa. Hơn nữa, ở đây có một bọn cò mồi, luôn luôn dỗ ngon dỗ ngọt, xu nịnh tâng bốc, thì dù có học vấn đến mấy cũng khó mà thoát được. Nhất Tường là người phóng khoáng, thoải mái, không tiếc tiền tài bỗng chốc mê hai cô gái làng chơi, rồi cùng họ hoan lạc. Người nào cũng tâng bốc nịnh nọt anh. Được mấy hôm Nhất Tường lại bảo mấy đứa theo hầu mang hành lý đến đó ở. Mụ chủ nhà chứa lại sai bọn đầy tớ gái tiếp họ. Cho nên hai đứa ở cũng khoái chí, không nhắc nhở Nhất Tường nữa.
Ý muốn chiếm danh đoạt lợi của Diêu Nhất Tường nay đã biến thành khao tiếc ngọc thưởng hoa. Số tiền mang đi để tiến thân bằng con đường học tập thì nay dùng để tiêu xài. Chẳng mấy chốc mất quá nửa, Tính ra thì không thể nhập học được nữa, thôi thì cứ thả sức vui chơi. Hơn nữa bọn cò mồi đêm ngày lôi kéo, khi thì hát xướng, khi thì cờ bạc, cứ mê đắm trong cảnh ăn chơi, tiêu tiền thoải mái. Sờ đến túi thì tiền gần hết.
Một hôm bọn cò mồi mời Nhất Tường tới du ngoạn ở Vũ Hoa Đài. Bọn kỹ nữ xinh đẹp đàn sáo réo rắt tỏ vẻ đắm say chàng, nhưng thật ra muốn rút hết hầu bao của anh, rồi tống khứ anh đi.
Các bạn thân mến, có phải anh dễ dàng mà đến đây được đâu và có phải anh sống bừa với họ được đâu. Diêu Nhất Tường không hiểu được điều đó, say sưa ăn uống thả sức hát ca, lại còn lấy bút đề thơ để ghi lại sự khoái lạc của mình.
Xưa kia mơ gái trinh
Nay chơi cùng kỹ nữ.
Linh Vận cũng dừng xe,
Ta chẳng ngại buộc thuyền.
Dòng sông như dải lụa,
Mái hiên vút mây xanh.
Rong chơi miền lạc thú.
Vui chẳng nói nên lời.
Đề thơ xong bọn chúng đua nhau tán tụng:
- Tài cao như thế sợ gì cửa rồng cao vạn trượng.
Ai ai cũng rót rượu chúc mừng. Mọi người đang ăn uống vui vẻ thì có một người quần áo rách rưới, thân hình tiều tụy, sắc mặt tái nhợt xăm xăm bước tới nhìn Diêu Nhất Tường vái chào xin tiền. Diêu Nhất Tường cho rằng đây là người ăn mày, cũng chẳng thèm để ý tới, bảo đứa hầu mang rượu và thức ăn cho ông ta. Người ấy không uống rượu mà cũng chẳng ăn, nói với Diêu Nhất Tường.
- Tôi là tú tài Hà Nam, giữa đường gặp cướp, tiền của mất hết mà người thì chúng đánh bị thương không thể về quê được, vậy xin ông cho ít tiền ăn đường, còn rượu và thức nhắm chỉ là chuyện vặt.
Hai tên cò mồi nói ngay:
- Diêu tướng công, mặc hắn. Ở nơi chúng tôi đây loại người như thế rất nhiều, chúng đều giả vờ là bị nạn rồi đánh lừa người. Ai hơi đâu mà đi điều tra xem hư hay thực, là tú tài hay không phải tú tài!
Người ấy rất tức giận nghĩ. Ta bị cướp đánh gần chết, sợ rằng phải lưu lạc nơi đất khách, bất đắc dĩ phải đi ăn xin, nay bị người đời nghi ngờ làm sao còn có thể ở đây mà ăn xin được. Song ta không phải là bọn người lừa dối, đã không cho ta thì thôi sao lại bị mang tiếng xấu, ta phải làm cho họ hiểu rằng ta không phải là kẻ lừa dối. Thế rồi người ấy cởi phăng áo ra, quả nhiên thấy vết thương chưa lành, máu còn đang rỉ ra thấm ướt áo. Nhất Tường bèn đứng dậy, cúi đầu xin lỗi, anh bảo đứa hầu mang hòm hành lý tới, xem qua thấy trong túi chỉ còn mười lạng bạc, một chiếc áo vải và một chiếc áo rộng tay. Nhất Tường cho hết, rồi rót rượu mời người ấy. Vị tú tài rưng rưng nước mắt, chắp tay cảm ơn, hỏi họ tên Diêu Nhất tường rồi từ biệt. Diêu Nhất Tường không hỏi gì thêm. Người ngày nay có giúp người nào đó chút ít đã huênh hoang khoe ta là người nhân đức, song Diêu Nhất Tường gặp người giữa đường giúp đỡ như thế mà cũng chẳng hỏi họ tên người ấy, hẳn là Nhất Tường giúp người mà không cần đền ơn, nên anh cũng quên ngay chẳng hỏi lại làm gì. Ngay như về chuyện này, người đời cũng không sao sánh kịp, huống hồ là những việc còn to lớn hơn thế thì sao mà sánh nổi.
Lúc ấy Diêu Nhất Tường nghĩ rằng: "Tiền trong túi đã hết nhẵn, chắc rằng chẳng có ai giúp mình, nếu ta cứ sống một cách nhàm chán ở đây, bị mụ chủ nhà chứa đuổi đi thì chẳng còn mặt mũi nào nữa. Thôi thì bỏ về sẽ không lộ chân tướng. Thế rồi Nhất Tường rượu cũng không thèm uống, trở về nhà chứa thu xếp quần áo chăn màn đi ngay. Hai kỹ nữ cứ nài nỉ Nhất Tường ở lại ngủ thêm một đêm nữa. Sáng hôm sau bảo đứa ở gọi thuyền rồi vội vã lên đường. Hai ả làng chơi tuy khóc lóc thề bồi đều là vì tiền cả thôi. Thấy anh hết tiền, đành phải mượn tay người khác tống khứ Nhất Tường ra khỏi cửa.

Diêu Nhất Tường là một người phóng khoáng, không vì hai cô gái kia mà quyến luyến, dứt khoát xuống thuyền ngay. Mấy ngày sau Nhất Tường về tới nhà. Thấy con trở về, mẹ hết sức vui mừng, hỏi tới chuyện học hành, Nhất Tường mãi không sao cất lời lên được. Cuối cùng chẳng còn cách nào khác anh đành nói thế. Mẹ anh nổi giận. Thường ngày Nhất Tường là một người rất có hiếu, luôn luôn vâng theo lời mẹ, nhưng nay vì bỗng chốc cao hứng, hoang phí năm trăm lạng bạc mà cũng chẳng lo lắng gì. Chỉ có điều không nghe theo lời dạy bảo của mẹ, say mê gái làng chơi mà làm hỏng cả công danh sự nghiệp, anh rất buồn rầu, song hối không kịp nữa. Từ đó về sau có cát vàng cũng không dám đi xa.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 EmptyMon May 05, 2014 3:39 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 22 (B)
Hai năm sau anh nghĩ rằng không thể cứ thế này mãi được bèn xin vào làm một chức dịch nhỏ trong huyện. Các bạn thân mến, một người phóng khoáng như thế, Nhất Tường có quan tâm đến những đồng tiền bẩn thỉu không? Anh lúc nào cũng nghĩ tới cứu giúp người hoạn nạn, đối đãi với mọi người bằng tấm lòng nhân hậu. Trong nha môn cũng có người khen anh, cũng có người cho anh là một thằng ngốc, song anh chẳng để bụng, mặc cho mọi người chê cười.
Thời gian cứ vùn vụt qua đi, mới thoáng cái mà đã sáu bảy năm, xem ra hai lần khảo hạch cũng sắp đến rồi, anh phải vào kinh phấn đấu. Vâng theo lời mẹ, anh vào kinh đô sống ba năm không dám hoang phí một xu nào, rồi được tuyển làm tri sự phủ Cửu Giang, Giang Tây. Tới nhiệm sở chưa được bao lâu thì ngục tì của bản phủ thiếu quan, cấp trên giao cho anh cai quản nhà tù. Anh dốc lòng vào công việc, quan tâm chăm sóc tù nhân, ngay cả những thường phạm tạm giam cũng không hề ngược đãi. Thậm chí những tù nhân phạm trọng tội, giam trong ngục anh cũng thường trực tiếp tới thăm hỏi. Người bẩn thỉu thì anh tắm rửa, người đau ốm thì anh thuốc thang chạy chữa, rét thì cho áo, đói thì cho cơm. Ai ai cũng mang ơn anh, nên hết sức cảm động. Còn đối với những người bị vu hàm oan khuất gặp cấp trên không công bằng sáng suốt đánh đập ép cung. Biết mười mươi là oan uổng nhưng không có thể trực tiếp minh oan cho họ được, anh luôn luôn cảm thấy hổ thẹn. Bởi thế phòng anh, rỗng tuếch. Anh ăn mặc hết sức giản dị. Anh từng đề một bài thơ ngắn trên tường như sau:
Đạo lý nay chẳng còn.
Người không vẽ được gió. Bao giờ hết hình phạt,
Thì thành sẽ bỏ không.
Thơ là nói cái chí của con người, cũng giống như Thiệu Nghiêu Phu mong rằng trời luôn sinh ra người tốt, người luôn làm việc tốt. Như thế mới biết được nỗi quan tâm hằng ngày của anh.
Được nửa năm thì có một vị án đài mới, được bổ nhiệm tới đây. Các quan lớn nhỏ đều đến yết kiến, dù không muốn nhưng anh cũng đôi ba lần theo họ tới bái kiến. Các bạn thân mến, dinh quan sát viện oai nghiêm biết là phương nào, những quan nhỏ ấy làm sao mà có thể nói năng với ngài được. Song sự thể đã như thế, không đi không được. Đi liền trong ba ngày, bái kiến xong mọi người ra về. Nhất Tường cũng phải cáo lui, bỗng nhiên thấy bên trong có lệnh gọi Diêu tri sự. Nhất Tường không hiểu vì sao, giật thót mình, anh nghĩ: "Ta làm quan ở đây chưa từng làm điều gì phi pháp, không lấy một xu nào phi pháp, chắc rằng chẳng có can hệ gì, ta ngại gì mà không vào". Thế rồi anh vội vã bước vào.
Sát viện hỏi:
- Anh có phải là Diêu Nhất Tường không?
- Thưa ngài, con chính là Diêu Nhất Tường.
- Anh đến đây đã lâu chưa?
- Thưa ngài con đến đây được mười tháng.
- Anh cai quản nhà giam bao lâu rồi?
- Thưa ngài con đã làm được năm tháng.
- Anh là người phong lưu khoáng đạt, sao lại làm một chức quan nhỏ như thế?
Thấy nói vậy Nhất Tường rất nghi hoặc, miễn cưỡng nói:
- Không dám.
- Năm ấy tháng ấy anh cặp kè uống rượu với gái điếm ở Vũ Hoa đài có phải không?
Nghe thấy nói thế Nhất Tường không biết vì sao, tự nhiên hốt hoảng tim đập rộn lên, chẳng khác nào dội một chậu nước lạnh từ đầu đến chân, toàn thân run lên cầm cập. Anh lập tức bỏ mũ ra, rập cúi đầu lạy như gà mổ thóc, nói:
- Con đáng tội chết, con đáng chết, cúi xin ngài tha tội.
- Đừng hốt hoảng. Ta hỏi ngươi, khi ở Vũ Hoa đài có một tú tài lâm nạn hồn xiêu phách lạc, xin ngươi cứu giúp, ngươi cho người ấy bạc và quần áo có đúng không?
Đến lúc ấy Nhất Tường mới bình tâm lại, vội đáp:
- Thưa ngài có ạ.
- Vậy ngươi có nhận ra người ấy không?
- Con bất chợt giúp đỡ người ấy con cũng không hỏi họ tên ạ.
- Người ấy chính là ta đó. - Rồi ông nói tiếp. - Hãy đứng dậy vái chào ta đi.
Sau đó ngài sát viện gọi người đóng cửa lại.
Lúc ấy Nhất Tường mới yên tâm đứng dậy vái chào, rồi đứng tránh sang một bên. Phép tắc của sát viện là, khi gặp các quan lại trong phủ không có lệ mời trà, hoặc có lưu lại mời trà thì cũng chỉ được đứng uống chứ không được mời ngồi. Bởi thế Diêu Nhất Tường tuy có ơn cũ với ngài sát viện nên cũng chỉ đứng uống trà mà thôi. Uống xong, sát viện nói:
- Từ ngày ta được ngươi chu cấp trở về quê, cũng may được đỗ đạt, lúc nào cũng nghĩ đến việc đền ơn, nhưng chưa gặp được. Nay gặp anh ở đây cũng là do trời dun rủi, song chỉ có điều tôn ti cách nhau quá xa, thể lệ nghiêm ngặt không thể năng đi lại để báo đáp được. Anh đã có tấm lòng thương người, hiểu được tường tận những phạm nhân. Trong đó nếu có những người oan uổng mà quả thực thương họ thì anh có thể khai ra mấy người, mỗi người kiếm được một ngàn lạng bạc, thì ta cũng sẽ tha cho họ để báo ơn anh.
Nhất Tường được phép, cảm ơn quan đã mời trà rồi ra về. Anh thấy những người trong nha môn cứ thấp thà thập thò để nghe ngóng, xem vì sao mà quan lớn lại mời trà. Những người viết báo ở phủ huyện viết việc này thông báo đến các nha môn trong phủ huyện. Thế là các quan trong phủ huyện gửi thiếp đến chúc mừng Nhất Tường, thậm chí có người còn mang cả lễ vật đến. Các bạn cho rằng những người này nịnh bợ viên quan coi ngục tép riu này ư. Đó chẳng qua là họ nịnh bợ người quen biết ngài sát viện mà thôi.
Về tới nha môn Diêu Nhất Tường vô cùng vui sướng, anh gọi ngay người thư lại tới rồi nói hết chuyện đã xảy ra. Thư lại đều chúc mừng:
- Xin mừng ông lớn, được một món tiền kếch xù.
Diêu Nhất Tường cười nói:
- Các anh là đồ ngu. Nếu ta là loại người cần tiền thì tại sao hằng ngày ta không hạch sách họ để kiếm tiền? Chỉ vì ta là quan nhỏ, chức thấp không thể minh oan cho họ được, bởi thế lúc nào ta cũng ân hận. Nay may mà ông lớn có lòng tốt ta cũng muốn dựa vào đó té nước theo mưa để thực hiện ý nguyện của ta bấy lâu nay. Há có phải vì được tiền mà vui mừng đâu? Nếu như đòi tiền, những người oan uổng không có tiền thì rốt cục sẽ không tha họ sao?
Nghe thấy thế, tuy ngoài miệng thư lại khen ngợi nhưng trong lòng cứ cười thầm: "Làm gì có người không cần tiền? Trước mặt mọi người tỏ vẻ thanh liêm đó thôi, chờ xem ông ta làm sẽ biết". Thế rồi thư lại nói:
- Nếu ngài không cần tiền thì ngài xem trong ngục có mấy người mắc oan?
- Ta tới đây làm việc, - Diêu Nhất Tường nói, luôn nghĩ tới điều này, cho nên ta thường thăm dò, thấy trong nhà tù có bảy người oan thực sự.
Thế rồi anh kể rõ họ tên và nổi oan khuất của họ, rồi nói:
- Các anh hãy trình bày thật tỉ mỉ nguyên nhân và sự việc dẫn đến oan khuất rồi trình bày lên ngài sát viện thả họ ra, ta không đòi họ một xu nào. Trong số đó có ba bốn phú gia, nếu thả họ ra thì các anh có thể đòi họ một vài chục lạng cũng không phải là quá đáng.
Ngục lại lập tức nói với bảy người ấy. Họ vô cùng cảm tạ, sai ngay người tới nhà báo tin là sẽ gom bạc mang tới cho thư lại. Bọn thư lại tính rằng: "Ông nói là không đòi bạc, chưa chắc là thật lòng? Ông ấy đã biết được ba bốn phú gia, ngài sát viện lại nói mỗi người lấy một ngàn lạng, thôi thì ta đòi mấy người gom lại hai ba ngàn lạng tới đây rồi đưa văn bản cho ông ấy. Nếu quả ông ấy không cần tiền thì lập tức sẽ mang văn bản đi ngay. Nếu giả vờ thì thế nào cũng trùng trình trì hoãn lại vài ba ngày, lúc ấy ta sẽ mang bạc tới cho ông ta. Mọi người bàn bạc xong, và số bạc cũng đã gom đầy đủ.
Mấy hôm sau làm xong văn bản, thư lại mang cho Diêu Nhất Tường xem, nhận được văn bản Nhất Tường vội vã lên gặp ngay ngài sát viện. Lúc ấy thư lại mới biết ông không cần tiền thật, thế là ai ai cũng tấm tắc khen ngợi. Đến sát viện, anh chờ mở cửa truyền lệnh cho vào. Lần này khác hẳn với lần trước, Nhất Tường vừa bước vào ngài sát viện lệnh đóng cửa. Nhất Tường trình văn bản lên, bẩm:
- Thưa ngài, hằng ngày tri sự tìm hiểu thực tình. Trong số trọng phạm, có bảy người quả thực oan uổng, được ngài cho phép con dám mạnh dạn tâu trình, mong ngài gia ân trời biển.
Ngài sát viện xem tờ trình, nói:
- Anh đã được gì chưa?
- Thưa ngài họ đã hẹn rằng đến ngày được thả ra sẽ tạ ơn tất cả là bảy ngàn lạng bạc.
- Nếu được như thế, - ngài sát viện nói, - cũng đủ đền ơn anh rồi. Anh hãy mang số bạc ấy về nhà sống thoải mái đến lúc già, rong chơi ở chốn suối rừng, hà tất cứ phải uốn gói khom lưng vì năm đấu gạo.
Nhất Tường nhận lệnh rồi đi ra.
Ngài sát viện phê chuẩn tha ngay bảy người ra khỏi nhà tù. Gia quyến của bảy nhà ấy dắt díu, thắp hương đội lễ, nước mắt tuôn rơi lã chã quỳ xuống đi bằng đầu gối tới nha môn lạy tạ. Tuy Diêu Nhất Tường nói là mình được bảy ngàn lạng bạc, nhưng thực ra không được xu nào. Nếu như vào tay người khác vì minh oan mà được bằng ấy tiền cũng không phải là quá đáng. Có nghĩ là người giàu thì lấy tiền còn người nghèo thì nói dùm, như thế cũng là bậc thánh nhân quân tử rồi. Người cao thượng nhất, nếu không được tiền thì cũng nói rõ với cấp trên, để cấp trên thấy được nguyện vọng minh oan chân thực của mình. Như thế thì cũng chẳng ai có thể đạt được. Song đằng này Diêu Nhất Tường không được một xu nào mà nói là được bảy ngàn lạng bạc. Ai có thể rửa oan cho người lại chịu mang tiếng mà không có quyền lợi thực, không lợi dụng để lấy tiền của của người khác. Không cần người khác khen mình để mưu cầu cấp trên khen thưởng. Há chẳng phải đó là tấm lòng của bậc đại thánh nhân đại Bồ Tát sao? E rằng những người như thế xưa nay quả là hiếm có.
Hôm sau Nhất Tường lập tức đệ đơn xin nghỉ. Ngài sát viện tưởng rằng Nhất Tường đã được bảy ngàn lạng bạc thật, phê chuẩn ngay, thế là ông treo mũ trở về. Bởi thế đã làm chấn động cả thành phố. Phủ, huyện, đạo không ai không khâm phục, nói:
- Một chức quan nhỏ bé không nhận hối lộ mà lại rửa oan được cho người thì quả là đến quan ngự sử cũng không sánh kịp.
Thế là khi về những người đồng liêu tặng ông rất nhiều quà. Họ hàng bảy người được tha tập hợp bạn bè với Tam viện, thuật lại việc Nhất Tường minh oan cho người mà không lấy một xu hối lộ, quả là một người đức độ liêm khiết, xứng đáng là tấm gương cho đời, nên đưa tên ông vào đền thờ những vị quan nổi tiếng. Lúc đầu chuẩn y cho ông về nghỉ, ngài sát viện cứ ngỡ là ông có bảy ngàn lạng bạc, về nghỉ hưu cũng đủ lắm rồi. Đến khi thấy người ta trình lên như thế mới biết Nhất Tường không cần tiền bạc. Ông vô cùng kinh ngạc nghĩ: "Một người tốt như thế quả là độc nhất vô nhị! Song ta muốn báo đền ơn anh mà lại làm cho anh phải thôi việc, không ngờ mình làm lỡ dở con đường thăng tiến của anh". Thế là quan lập tức phê chuẩn đưa ông vào thờ tại miếu thờ các vị quan nổi tiếng.
Các bạn thân mến, các bạn bảo rằng tri sự được đưa vào miếu thờ xưa nay được mấy người? Đó chính là sự báo đức vậy. Về tới nhà, hai túi rỗng không. Cháu tuy đã đỗ tú tài nhưng gia đình nghèo túng. Mọi người trong nhà đều oán trách ông không biết tính toán đã không được tiền thì sao không xin ông đền cho một chức quan nho nhỏ. Há rằng đây chẳng phải là việc mất cả chì lẫn chài sao. Diêu Nhất Tường vẫn cứ vui vẻ bình thản như thường.
Đến năm hơn chín mươi tuổi, bỗng một hôm Diêu Nhất Tường nằm mơ thấy năm sáu người mặt áo xanh đội mũ quỳ trước mặt bẩm rằng:
- Chúng tôi đến nghênh đón ngài.
Trong giấc mơ ngài Diêu cũng vẫn nhận ra đây là những người mình cứu họ thoát chết. Nhân đó mới hỏi lại:
- Vì sao các người đến đây.
- Chúng con đội ơn ông lớn cứu mạng được trở về, - những người ấy nói, - tất cả tổ tông cha mẹ của bảy nhà chúng con đều tâu lên Thiên Đế, Thiên Đế lệnh cho Tư mệnh Chân quân tăng tuổi thọ cho ngài và phù hộ cho con cháu ngài đời đời vinh hiển. Tuổi trời cho của ngài sắp hết rồi, chúng con đến đây hầu hạ ngài. Bên ngoài có sẵn kiệu, xin mời ngài đi ngay.
Ông Diêu nghe xong bèn lên kiệu. Người ta khiêng tới nha môn rồi đặt kiệu xuống. Thấy người gác cửa vào báo, sau đó một vị quan từ bên trong bước ra nghênh tiếp. Nhìn kỹ thì vị ấy ăn mặc không giống quan phủ, mà đội mũ miện, mặc áo long cổn, lúc ấy ông Diêu mới hiểu rằng đó là Diêm La Vương. Diêm Vương vái chào ông Diêu, rồi cùng ông lên thiên đình. ông thấy có một vị ngồi sẵn tại đó. Diêm Vương vái chào mời ông Diêu ngồi trên vị Tướng này. Ông Diêu chối từ không dám ngồi. Diêm Vương nói:
- Ông có âm đức. Hôm qua sắc luật trời gửi xuống mời ông làm Hình tào Thái Sơn. Ông hãy về nhà lo liệu công việc, sắp tới có người tới đón.
Thế rồi tiễn ông Diêu trở ra. Mọi người lại mời ông lên kiệu rồi khiêng về. Ông Diêu ngáp một cái rồi tỉnh dậy, thì hóa ra đó là một giấc mơ.
Sáng hôm sau lúc ngủ dậy, ông nói với người nhà rằng:
- Hôm qua ta nằm mơ, có lẽ ta sắp chết rồi. Hằng ngày mọi người cứ trách ta là không nghĩ đến gia đình, đêm qua ta nằm mơ thấy những người mà ta cứu họ khỏi chết oan đã tới đón ta và nói rằng đã tâu lên Thiên đế xin cho con cháu ta phú quý vinh hiển. - Rồi ông chỉ vào đứa cháu, nói:
- Người làm rạng danh cho nhà ta có lẽ con của anh này ư, Mọi người không cần phải lo nghèo đói.
Sau đó ông thuật lại nhũng việc đã xảy ra trong giấc mộng, ông nói tiếp:
- Diêm Vương nói với ta rằng, chỉ trong mấy ngày nữa sẽ sai người về đón. Nhất định ngày chết đã đến nơi rồi. Các con hãy nấu một nồi nước thơm cho ta tắm rửa để chờ họ.
Theo lời ông, người nhà nấu nước thơm. Ông Diêu tắm xong lại nói:
- Người đến đón ta đã tới cửa rồi.
Cả nhà đều ngửi thấy mùi thơm sực nức khắp phòng, phút chốc ông tạ thế.
Cháu của ông là Vĩnh Tế đỗ tiến sĩ khoa Mậu Tuất thời Vạn Lịch, về sau làm quan tới chức Tả bố chánh Chiết Giang, rồi xin cáo quan về nhà. Phúc Lộc đều do thịnh đức của ông, ông đã giỏi xây dụng gia thế cho nhà mình, bởi thế dòng dõi trâm anh không bao giờ dứt. Bảy người nói rằng đã tâu lên Thiên đế xin cho ông, quả thật chẳng sai chút nào. Thực hiện âm đức được đền đáp, việc ấy rất linh nghiệm. Những bậc quân tử đương quyền, sao không ra tay cứu vớt mọi người để mưu cầu phúc lộc cho con cháu? Thơ rằng:
Tích đức hơn tu hành.
Tu hành chẳng bằng học.
Số tận mình cũng hết,
Tích đức hưởng trăm đời
Lộc dành cho con cháu Đâu cứ phải công huân.
Xin nhắc người dương chức,

Biến bút thành trâm anh.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 EmptyMon May 05, 2014 5:45 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 23
Thục Nữ Giả Nhớ Chồng, Thất Tiết
Mạo Danh Lừa Gạt, Bạn Sói Lang
“Nam kha tử": Lấy nhầm đừng oán hận, lòng trinh gửi đỗ quyên. Nếu như nói việc kín với người khác thì sẽ làm cho bạn lãng tử trộm phấn son ngấm ngầm sinh lòng gian tà. Vì sao lại đi theo người. muốn ngủ với người ta ư? Cho dù tìm được nhân duyên cũ, thì mình đã bị ô nhục quá nhiều, khó mà rửa sạch được.
Con gái đã hứa gả cho người ta, trong đó thường có những biến cố, không thể lấy nhau được, thì lấy một người khác thích hợp. Nếu không chịu lấy người khác thì thủ tiết cho đến khi chết ấy là cao thượng nhất. Chẳng hạn như thời Vạn Lịch có một cô gái mà người ta đồn ầm cả lên, vì họ lấy nhau vội vội vàng vàng nên không biết nhầm bao nhiêu lần. Lúc ấy ở huyện Thanh Điền có một người đi xa vừa mới về nghe thấy câu chuyện ấy gả ngay con gái mình cho một người nông phu. Giữa đường không có gì, người ấy đã dùng một dải áo làm sính lễ. Khi về tới nhà, lại có một nhà giàu tới hỏi, mẹ cô lại gả cô cho người ấy. Đến tối họ mang kiệu đến đón dâu, vì cha đã hứa gả trước, nên không theo lời mẹ, cô mang theo con dao, rồi tự đâm cổ ngay kiệu đón dâu. Quan huyện thấy thế khen cô là một liệt nữ, lập đền thờ, rồi lệnh cho chồng phải làm ông từ đèn nhang hương khói tại ngôi đền này. Quả là trong hàng ngàn người, mới có một người như thế, chỉ tiếc rằng ta quên mất họ tên.
Trường hợp thứ hai là bất đắc dĩ phải lấy, nhưng rốt cuộc vì nhớ người chồng cũ mà chết. Đó là cô gái nước Lương. Cô này đã hứa hôn với một người, song người này đi xa quê, suốt một năm trời ròng rã mà vẫn không về. Cha mẹ ép cô phải lấy một người khác, tuy cô đã lấy người ấy, nhưng suốt ngày cứ nhớ người chồng cũ, rồi u uất mà chết. Ở nơi xa, người chồng nghe tin cô ấy vì thương nhớ mình mà chết, bèn tới mộ cô, đào quan tài lên, cô gái ấy tự nhiên sống lại. Người chồng sau thấy thế làm đơn đưa lên quan kiện anh kia. Quan nói:
- Đây là chuyện hết sức khác thường, không thể dựa vào lý bình thường mà xét xử.
Ông xử cho cô ấy thuộc về người chồng cũ.
Còn như chuyện về một cô gái, không đến nỗi chết ngay mà vẫn còn để tâm đến việc già trẻ giàu nghèo. Tuy không quên lời cha mẹ, nhưng lại thất thân với người khác. Tức là cô có lưu luyến người đã hỏi trước, đó cũng chỉ là điều bình thường thôi.
 
Thời ấy ở phía tây thành Lật Dương có một người tên là Thang Khôn Nguyên, hiệu là Tiểu Xuân, chừng hai mươi tuổi, khôi ngô tuấn tú, chẳng có chút nào tỏ ra quê mùa. Phía tây thành có một nhà giàu tên là Phùng Huyền, không có con trai, chỉ sinh một người con gái, gọi là Thục Nương cũng gần hai mươi tuổi. Lão Phùng thấy Thang Tiểu Xuân người sáng sủa, sau này chắc cũng không đến nỗi nào, thế là ông kén anh làm rể, rồi nhờ người mối đến nói với nhà họ Thang nhận Tiểu Xuân làm rể. Vì nhà nghèo không môn đăng hộ đối nên cha mẹ Tiểu Xuân không dám nhận lời. Người mối đi lại tới mấy lần, lão Phùng mới bằng lòng. Song tuy bằng lòng đấy cũng chỉ nói mồm thôi chứ không bắt tay vào lo việc cưới xin.
Một năm sau, nhà họ Phùng cho người mối đến giục cưới, nhà họ Thang nói:
- Tôi rất cám ơn tấm lòng tốt của ông Phùng, nhưng nay hoàn cảnh vẫn còn eo hẹp, chưa lo được sính lễ, lẽ nào lại tay không đến xin cưới thì còn ra cái gì nữa.
Ngươi mối nói:
- Thôi thì ông cứ đến nói trước đi, miễn là ông bằng lòng cho Thang Tiểu Xuân làm rể là được rồi, còn lễ lạt không cần phải lo, nhà họ Phùng sẽ đưa lễ vật tới, để chàng rể mang đi.
Vợ chồng ông Thang thấy thế mừng quýnh lên, nói:
- Vậy thì nhà ông Phùng chọn ngày cưới ngay đi.
Người mối trở về nói với lão Phùng, rồi ông chọn ngày mười lăm tháng Chín làm lễ cưới.
Tháng sau bàn định như thế thì ngờ đâu tháng Bảy lão Phùng đổ bệnh, chỉ sau mấy hôm là qua đời. Lo ma chay xong, gia đình họ Phùng giàu có, nhất định sẽ có nhiều của hồi môn, người ta đua nhau nhờ người đến hỏi. Khi còn sống ông Phùng đã hứa gả cho Thang Tiểu Xuân, gia đình không dám thay đổi, nên không nhận lời ai. Thấy ông Phùng chết ông Thang nghĩ rằng giàu nghèo không môn đăng hộ đối, ông Phùng lại chưa nhận sính lễ, chắc rằng đã thay đổi ý định nên nhà họ Thang không dám cưới xin nữa.
Lại qua mấy tháng nữa Thục Nương có một người chú tên là Phùng Kỳ. Thấy cháu đã lớn mà chưa có chồng để nương tựa ông đã đứng lên gả cháu làm vợ kế cho một tú tài ngươi phía nam thành. Ngươi tú tài này tên là Tiền Nham, tự là Hiện Dân, trạc bốn mươi tuổi, nghèo rớt mồng tơi, anh ta thường dựa vào mấy quyển sách nát, dạy học sống qua ngày.
Cưới được ba ngày, Tiền Nham hỏi Thục Nương:
- Em ơi, khi cha còn sống ông là một người giàu có, tại sao lại để em tới ngần này tuổi mới lấy chồng?
Thấy chồng hỏi thế cô chợt chau mày, quay đi gạt nước mắt, cúi đầu thở dài, im lặng. Tiền Nham không hiểu vì sao, rồi hớn hở tươi cười thân thiết hỏi:
- Em thân yêu, trong lòng em có gì vướng mắc sao không nói với anh, để anh cùng em chia sẻ.
- Chuyện này lẽ ra không nên nói với anh, - Thục Nương thở dài nói. - Mà có nói với anh cũng vô ích thôi, nói mà làm gì.
Tiền tú tài thấy thế cứ vò đầu bứt tai van nài đòi cô nói ra. Thục Nương nói:
- Anh bảo em có chuyện gì vướng mắc ư? Ngày cha em còn sống, vốn đã bằng lòng gả em cho Thang Tiểu Xuân, tháng sau chọn ngày mười lăm tháng Chín thì cưới. Không ngờ tháng Bảy cha em ốm rồi mất, nhà họ Thang chưa đưa sính lễ, thế là họ không vấn lại nữa, cuộc nhân duyên đành như nước chảy bèo trôi. Nói ra càng thêm đau khổ.
Nói xong, nước mắt lại giàn giụa rơi lã chã. Đấy quả là tấm lòng tốt của Thục Nương, lẽ ra phải giấu kín. Mà nói thì hóa ra người một dạ hai lòng. Tiền tú tài lại là một người thẳng như ruột ngựa, anh chẳng chút nghi ngờ bực bội. Tiền tú tài lại cười nói:
- Chuyện này vốn không nên nhắc tới, tóm lại đã là vợ chồng thì đã có đổ vỡ, rồi tự nhiên cũng sẽ xum họp. Mà đã không phải duyên số thì dù có hợp rồi thì nhất định sẽ tan. Đã gọi duyên số từ kiếp trước thì người ta không thể định đoạt được. Khóc mà làm gì.
Nói chưa dứt lời thì người nhà họ Phùng đã mang hòm của hồi môn tới. Thục Nương lau nước mắt, mặt mày rạng rỡ đứng dậy chuẩn bị ít quà bánh rồi cử người tiễn chân.
Đến ngày thứ năm, có một số bạn học và mấy học sinh đi theo đến chúc mừng. Trong lúc uống rượu bạn bè hỏi:
- Anh Tiền! Nghe nói chị ấy có nhiều của hồi môn lắm. - Hình như có tới hơn một ngàn lạng. Nhà tôi có nỗi buồn thầm kín, chưa mở ra nên cũng chẳng biết đích xác bao nhiêu, thì sao nói là giàu to được.
- Con gái vừa mới lấy chồng, - những người bạn nói, - có gì mà buồn, chẳng qua là do tuổi tác và diện mạo không xứng đôi mà thôi. "Chỉ hiềm em sinh ra quá muộn, không gặp được anh lúc thiếu thời". Anh Tiền, anh trả lời chị ấy thế nào?
- Không phải thế. - Tiền tú tài nói.
- Không phải vì thế thì vì cái gì cơ chứ? Mới có năm sáu ngày mà đã nói nỗi lòng thầm kín với anh, thì chắc rằng nhất định chị ấy cũng nói với người khác rồi. Anh còn giấu làm gì mà không nói ra.
Thấy bạn bè cứ hỏi gặng, rồi cứ pha trò mãi, Tiền Nham đành phải kể lại hết những lời của Thục Nương với bạn bè.
Bạn bè thấy đây là câu chuyện khó nói nên mọi người đều im lặng. Trong đó có một người tên là Dư Lâm, trạc hai lăm hai sáu, hằng ngày anh ta thường hay lừa gạt. Vừa nghe Tiền Nham nói hắn vừa ngấm ngầm tính toán. Đây quả là điều Tiền tú tài qua loa đại khái. Vì rằng qua những điều Thục Nương nói với Tiền tú tài ta cảm thấy hình như cô không thích Tiền tú tài. Nói ra người ta sẽ biết ngay là cô không yêu Tiền tú tài, như thế thì sao mà không khiến cho kẻ khác nẩy ra ý nghĩ lừa gạt! Điều này quả là Tiền tú tài đã dẫn chó vào nhà.
Hôm ấy uống rượu xong, mọi người ra về. Mười hôm sau đúng vào tết Đoan Ngọ. Dư Lâm biết rằng thế nào chủ nhà mà Tiền tú tài ngồi dạy học cũng mời anh tới uống rượu, nên đúng vào lúc giữa trưa cố ý mò đến nhà Tiền tú tài, rón rén bước vào. Thăm dò một hồi, quả nhiên Tiền tú tài không ở nhà thật. Hắn hỏi nhỏ:
- Có người ở nhà không?
Thục Nương ở trong nhà hỏi vọng ra:
- Ai đấy?
- Tôi là Thang Tiểu Xuân ở phía tây thành, muốn gặp ông Tiền nói câu chuyện.
Thục Nương nghe nói Thang Tiểu Xuân, tình xưa nghĩa cũ bèn trỗi dậy, vội vàng bỏ dở công việc chạy ra, thì thấy một người con trai trẻ đẹp, dáng vẻ nhanh nhẹn, bèn cảm thấy tuổi tác dung mạo Tiền Nham thật đáng chán. Thục Nương nói:
- Xin mời anh vào xơi nước.
Thấy thế Dư Lâm biết ngay chuyện Tiền Nham nói hôm trước quả không sai, bèn ngồi xuống ngay.
Thục Nương nghĩ, đây đúng là Thang Tiểu Xuân rồi, bèn bước tới nói:
- Anh, anh là Thang Tiểu Xuân thật ư?
Du Lâm cười nói:
- Thang Tiểu Xuân có phải là người tiếng tăm lừng lẫy gì đâu mà người ta phải mạo danh.
- Anh với nhà họ Phùng ở phía đông thành có quan hệ thông gia gì không? - Thục Nương hỏi.
- Không nên nói nữa. - Dư Lâm giả vờ nói. - Dạo ấy còn bác Phùng, bác có lòng tốt gã con gái cho tôi. Không ngờ chọn ngày xong thì bác Phùng mất, đến nay thì việc hôn nhân không thành quả là công toi.
Nói xong Dư Lâm thở dài. Thục Nương nói:
- Tôi là Phùng Thục Nương đây. Anh là người con rể mà cha mẹ khi còn sống rất ưng ý.
Thế rồi Thục Nương ưa khóc vừa nói:
- Anh ơi, khi cha em còn sống sao anh không cưới em?
- Nhà anh nghèo, - Dư Lâm nói, - một lúc kiếm đâu ra một đồng bạc, bởi thế ngay sính lễ cũng không lo được, nếu lo được sính lễ thì không đến nông nỗi này.
- Đáng trách là chú em chẳng biết ất giáp gì gả em cho một lão đồ kiết nho hủ lậu, làm lở dở cuộc đời em. - Thục Nương nói.
- Tiền tiên sinh, - Dư Lâm nói, - tuy là một nhà nho nghèo, nhưng sau này nhất định có ngày phát đạt. Chúng tôi làm sao mà bì với ông ấy được, cô đã lấy ông ấy thì chắc chắn sẽ là bà lớn gấp hàng vạn lần dân làm ruộng chúng tôi. Vì sao lại cứ nhớ tôi mãi.
- Sao anh nói thế! - Thục Nương nói. - Vợ chồng thì tuổi tác và dung mạo phải ngang nhau, tình ý phải hợp nhau. Khi cha em hứa gả cho anh, lúc nào em cũng mơ tưởng tới anh. Ai ngờ đâu lại xảy ra cớ sự thế này, chôn vùi em vào tay lão đồ nho nghèo và hủ lậu.
Các bạn thân mến, đó là lý do vì sao Thục Nương chê Tiền Nha và đó cũng là nguyên nhân Thục Nương trốn theo Dư Lâm. Thấy cá đã cắn câu. Dư Lâm giả vờ rớt nước mắt nói:
- Nói thế thì đúng là tại anh làm lở dở đời em. Song việc đã đến thế này nói lại cũng không được nữa, mà càng làm cho nhau đau khổ.
Dứt lời Dư Lâm đứng dậy đi ngay. Thục Nương kéo lại nói:
- Ngày nào em cũng nghĩ tới anh, hôm nay mới gặp được anh, sao anh nỡ nhẫn tâm bỏ em mà đi?
Dư Lâm lại ngồi xuống, rồi kẹp Thục Nương ngồi bên cạnh nói:
- Cám ơn em luôn luôn nghĩ tới anh. Anh có một kế là hẹn một ngày nào đó em sẽ trốn đi với anh.
- Thế thì tốt quá, - Thục Nương nói, - nhưng đi đâu cho an toàn. Nơi đến phải yên ổn mới tốt.
- Cách cửa thành phía đông năm dặm, - Dư Lâm nói, - đó là Mộc Gia trang, nhà cậu anh ở đấy, tới đó thì tuyệt vời, đến thánh cũng chẳng tìm thấy được.
- Việc này không thể chậm trễ, - Thục Nương nói, - dù thế nào chăng nữa đúng vào canh năm đêm nay anh đến cửa sau, hãy ho lên một tiếng ra hiệu rồi cùng nhau trốn ra khỏi thành.
Hai người đã bàn soạn xong. Dư Lâm ôm hôn Thục Nương rồi mới về.
Thục Nương nhận lầm Thang Tiểu Xuân, thấy rất mãn nguyện, vội vàng thu xếp của hồi môn và tư trang thành hai bao to, suốt đêm không ngủ, chờ mãi đến canh ba nghe thấy cửa sau có tiếng ho, cứ tưởng là Thang Tiểu Xuân tới mới len lén châm đèn mở cửa bước ra, thấy một người ngủ lăn quay bên ngoài cửa. Nhìn kỹ thì không phải là Thang Tiểu Xuân mà là Tiền Nham. Các bạn có biết vì sau lúc ấy Tiền Nham lại ở ngoài cửa sau không? Vốn là Tiền Nham uống rượu tại nhà chủ mình dạy học, anh cũng là người biết uống rượu, song anh nghĩ, mình mới cưới, đêm nay còn phải về nhà với vợ, không thể uống nhiều được, nghĩ thế nhưng anh không giữ được mà uống say khướt. Về tới nhà thì bất tỉnh nhân sự, nằm vật ngoài cửa sau tới quá nửa đêm. Nếu không ho thì ngủ ở ngoài cho tới sáng. Giá mà Dư Lâm đến cũng không dám hành động mà dứt khoát bỏ về. Chỉ vì Tiền Nham ho nên Thục Nương mới mở cửa, thấy chồng vẫn chưa tỉnh, bèn dìu chồng đi ngủ.
Một lát sau gần tới canh năm, cửa sau lại có tiếng ho. Thục Nương biết chắc lần này là ai rồi, vội vàng xách bao ra cổng sau, đúng là Dư Lâm. Hai người hết sức vui mừng, không nói không rằng mỗi người vác một bao rồi đi thẳng ra cửa phía đông thành. Có bài thơ tiếc cho việc này:
Hẹn ước xưa kia đâu dám quên
Đêm ngày vẫn mơ tưởng chàng Thang.
Thương thay nhẹ dạ theo kế xấu.
Đào Tiềm mà cứ tưởng Nguyễn Lang.
Tiền tú tài ngủ tới sáng hôm sau, tuy tỉnh rượu song vẫn không dậy, cứ luôn mồm gọi mang trà tới, nhưng gọi mãi mà chẳng thấy. Tiền tú tài dậy tìm khắp mọi nơi không thấy bóng dáng vợ đâu. Anh ra cửa sau thì thấy cửa mở toang, chiếc đèn vất lỏng chỏng dưới đất, mới biết được vợ mình đã cao chạy xa bay mất rồi. Tiền tú tài tri hô những người hàng xóm tới. Nghe tú tài nói người vợ mới cưới của mình đã bỏ đi, những người ấy thấy đó là chuyện lạ, tìm hỏi nguyên do.
Tiền Nham nói:
- Tối qua tôi uống rượu say, trở về vấp ngã ở cửa sau, cô ấy vẫn ra mở cửa dìu tôi đi ngủ. Không biết cô ấy đi lúc nào?
Một người láng giềng nói:
- Ông Tiền, ông ngã ở bên ngoài có gõ cửa không?
- Không! - Tiền Nham nói.
- Không gõ cửa sau chị ấy lại biết mà ra mở cửa. - Người ấy nói. - Vậy thì nhất định họ đã hẹn nhau từ trước, cho nên mới để tâm tới, chắc chị ấy đã bỏ đi từ lúc đó.
- Ông Tiền, vậy thì hoàn toàn là do ông rồi. - Một người khác nói. - Vợ chồng lấy nhau là một việc quan trọng, vả lại đã bỏ nhà đến với ông thì ít ra ông phải ở với chị ấy hàng tháng trời ấy chứ, Đằng này không ai như ông, mới ở với nhau bốn năm hôm đã đi dạy "tử viết" "thi vân", bỏ mặc vợ mới cưới ở nhà phòng không lạnh lẽo, sống cô đơn một mình như thế thì chịu làm sao nổi, nên chị ấy bỏ đi là chuyện đương nhiên.
Sự việc xảy ra đột ngột Tiền Nham ngơ ngác hỏi mọi người:
- Các vị ạ các vị bảo rằng liệu người đàn bà ấy có về không?
Mọi người ồ lên, nói:
- Những điều mà tú tài nói ra đều là những điều cứng nhắc. Nếu như cô ấy chịu về thì cô ấy đã không bỏ đi.

- Xin nhờ các vị làm chứng, - Tiền tú tài nói, - ta sẽ sớm làm quan rồi sẽ đi kiện.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 EmptyMon May 05, 2014 6:09 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 23 (B)
Mọi người nói rằng, đúng là phải kiện rồi. Nếu không kiện thì e rằng nhà họ Phùng cũng sẽ kiện. Lại có người nói, tú tài mất vợ thì còn mặt mũi nào mà đi kiện nữa? Chỉ cần viết một bản thông báo là được rồi. Lại có một người khác nói, dán tờ thông báo thì cũng chẳng ra sao cả, thôi thì cứ lặng lẽ mà đi tìm, thấy rồi hãy tính chuyện. Tiền tú tài thấy mỗi người nói một cách bèn hỏi:
- Theo ý các vị bàn thì viết một tờ thông cáo là phải lắm.
Thế là Tiền tú tài viết một tờ thông cáo, song tú tài không viết theo cách viết ngày nay, mà viết hơn mười câu như sau:
"Vì Tiền Nham không cẩn thận, nên vào đêm ngày tết Đoan Ngọ, vợ là Phùng Thục Nương trạc hai mốt hai hai tuổi, không biết bị kẻ gian nào đã cả gan lừa gạt rồi bỏ nhà đi theo hắn. Tiền bạc và đồ trang sức trong hòm lấy hết sạch không còn gì. Người hàn nho cô độc này muốn đi kiện nhưng không đủ sức. Nếu các bậc quân tử nào ở bốn phương thấy được tông tích thì xin báo cho hàn nho này biết, và tình nguyện hậu tạ số bạc là . Xin dán tờ thông báo này chứng tỏ là đúng sự thực".
Viết xong thông báo, đang định tìm người mang đi dán thì gặp một bà lão ở ngay sát vách bước tới nói:
- Ông Tiền, không nên nóng vội, kẻ đánh lừa bà nhà ông, lão cũng biết được chút ít.
- Cụ đã biết, vậy thì người ấy là ai? - Tiền tú tài nói.
- Người ấy thì tôi không biết được, - bà cụ nói, - có điều trưa hôm qua tôi ở nhà bóc bánh chưng, nghe thấy có một người tới tìm Tiền tiên sinh . Nói là Thang Tiểu Xuân ở cửa tây thành. Bà nhà ông gặp người ấy trò chuyện một hồi lâu rồi khóc. Hai người nói chuyện rất lâu, người ấy ra về, chắc là họ đã đánh lừa bà ấy rồi.
Nghe thấy thế tú tài dập tay xuống bàn nói:
- Thế thì đúng rồi, cô ấy từng nói là khi cha cô còn sống đã hứa gả cho Thang Tiểu Xuân, tới nay lúc nào cô ấy cũng tưởng nhớ tới anh ta. Nhất định là hai người vốn đã đi lại với nhau, cho nên nhân lúc sơ hở bỏ trốn. Ta phải tới cửa tây thành dò la xem sao, rồi bàn với mọi người.
- Nếu như tìm thấy bà ấy, - bà lão nói, - thì xin ông đừng bảo là già này nói nhé, sợ rằng khi về bà ấy lại trách già này.
Tiền Nham từ biệt bà lão đi một mạch tới cửa tây thành, hỏi nhà họ Thang, thăm dò những nhà láng giềng, dò la rất kỹ nhưng không thấy tăm hơi. Tiền Nham liền hỏi.
- Thang Tiểu Xuân là người như thế nào?
Chưa dứt lời thì thấy một người còn rất trẻ bước ra. Người láng giềng nói:
- Người ấy là Thang Tiểu Xuân đấy.
Tiền Nham nhìn kỹ thì thấy đó là một chàng trai có đôi mắt thanh tú, hàm răng trắng nõn, môi đỏ như son. Tuy không chuyên trang điểm son phấn như Hà Lang(1) song da trắng không kém Trần Bình(2) không diêm dúa như Đổng Tử, cũng phong lưu gần như Tống Ngọc(3). Anh đội một chiếc khăn hợp thời, mặc bộ quần áo rất vừa, trông rất đàng hoàng, cố nhiên không có dáng vẻ hiên ngang của con nhà giàu có. Song lại có dáng vẻ nho nhã, nhưng không có tài bẻ quế, nên đâu dám hái trộm hoa.
(1) Hà Lang: Hà Yến, một người thích trang điểm thời xưa.
(2) Trần Bình: người Dương Vũ thời Hán.
(3) Tống Ngọc: học trò của Khuất Nguyên thời Chiến Quốc.
 
Tiền Nham nghĩ bụng: "Thằng nhỏ này, đi đường còn sợ tiếng bước chân, lẽ nào lại liều lĩnh như thế? Hơn nữa nếu nó có lỡ gây ra việc này, thì nhất định nó sẽ giấu giếm lẫn tránh, hoang mang sợ hãi, chứ sao tự nhiên thanh thản thế kia? Xem ra không phải nó. Người xưa nói: “Làm việc có thư thả mới trọn vẹn . Ta hãy trở về hỏi rõ sự thực rồi sau sẽ nói chuyện với hắn". Tiền Nham buồn rầu trở về.
Bà lão trông thấy hỏi ngay:
- Ông Tiền! Đã dò la được tin tức gì chưa?
Tiền Nham lắc đầu nói:
- Việc này tuy có nguyên cớ, song vẫn chưa rõ ràng. Hai nhà hàng xóm kề bên đều nói là không biết.
- Ông hãy đến nhà họ Thang dò la xem động tĩnh thế nào.
Bà lão nói.
- Tôi đang định vào, - Tiền Nham nói, - thì thấy ngay Thang Tiểu Xuân đi ra, xem kỹ thì hình như nó không phải loại người làm việc ấy.
- Bây giờ còn sớm, ông hãy đến nói ngay cho người tộc trưởng họ Phùng biết, để ngày mai đỡ phải tốn công giải thích.
- Cụ nói đúng.
Tiền Nham nói xong đi ngay.
Đúng là người ta thường nói: "Tiếng lành đồn gần tiếng dữ đồn xa". Phùng Kỳ đã biết, đang đi tới. Tiền Nham nói lại lời bà cụ với Phùng Kỳ. Phùng nói:
- Vậy thì hòm của hồi môn có còn lại gì không?
- Chẳng còn gì cả.
- Như vậy thì đây là việc không thể biết ngay được. Bây giờ thì không khó nữa rồi, cứ theo lời bà cụ ta viết một lá đơn kiện Thang Tiểu Xuân, cứ khoác vào cổ hắn phải đền ngươi.
- Vợ của một tú tài, - Tiền Nham nói, - bị người ta lừa, bây giờ đi kiện, sợ rằng người ta chê cười.
- Tuy mất thể diện thật đấy, - Phùng Kỳ nói, - nhưng chẳng có lý nào, vợ mình bị người ta đánh lừa mà im đi không nghe ngóng gì. Theo tôi đệ đơn kiện mới phải.
Tiền Nham nghe theo, lập tức viết đơn và nhờ Phùng Kỳ làm chứng. Hôm sau đưa đơn lên huyện.
Quan huyện sai người đi bắt Thang Tiểu Xuân, cha mẹ Tiểu Xuân không hiểu vì cớ gì đành phải nhờ láng giềng cùng lên gặp quan. Quan huyện hỏi về sự việc xảy ra trước đây. Thang Tiểu Xuân kể lại tỉ mỉ việc hôn nhân trước đây khi ông Phùng còn sống. Còn việc hiện nay bỏ trốn thì anh không hề biết. Quan huyện nghiêm mặt nói:
- Trước đây có việc ấy thì đích thị nay ngươi đã lừa người đàn bà ấy rồi.
Rồi ông ghép anh thanh niên mặt còn búng ra sữa là một tên lừa đảo, cho người kẹp anh ta, buộc phải trả người. Những người láng giềng đều kêu với quan là anh bị oan ức, song quan huyện không nghe.
Cha mẹ Tiểu Xuân thấy con oan uổng khổ sở cứ rập đầu xuống đất van xin thảm thiết.
- Chúng con xin ông lớn gia hạn cho mấy ngày, tìm được người thì quả là ơn ngài to như trời biển.
Thấy thế quan huyện cho phép những người láng giềng bảo lãnh cho Thang Tiểu Xuân. Ngài còn đang dặn dò thêm mấy câu thì thấy quan điển sử vào bái kiến. Điển sử vái chào xong, hỏi:
- Thưa ngài, đây là việc gì vậy?
- Đây là vụ lừa gạt người.
Điển sử nhìn Thang Tiểu Xuân, nói:
- Thằng nhỏ này lừa gạt người, hay là nó bị người ta lừa?
- Thằng này là Thang Tiểu Xuân, - quan huyện nói, - tuy còn ít tuổi nhưng nó thật to gan. Đêm ngày mồng năm tháng Năm, lừa gạt vợ Tiền tú tài rồi dẫn đi, nay Tiền tú tài đưa đơn kiện song vẫn chưa phân quyết được.
Điển sử cúi đầu nghĩ một lát, nói:
- Thưa ngài, việc này điển sử cũng thấy nghi ngờ, chưa chắc là người này.
- Thế ông biết việc này ư? - Quan huyện nói.
- Con không biết việc này. - Quan điển sử nói. - Song vào lúc canh năm, đêm mồng năm rạng ngày mồng sáu, con đi tuần tra ở ngoài thành trở về, sắp vào cửa đông thì thấy một người đàn ông và một người đàn bà, mỗi người vác một bao đi ra khỏi thành. Lúc ấy con nhìn kỹ thấy hai người có phần hoảng hốt vội vã đi qua. Con sinh nghi, nhưng thấy hai người dáng vẻ tử tế, hình như không phải là trộm cướp, cho nên con không bắt. Bây giờ nghĩ lại, chắc đó là vợ anh Tiền. Song người đàn ông cùng đi lại khác hẳn tên này.
Thấy thế quan huyện càng nghi nghi hoặc hoặc, nghĩ bụng: "Việc này ta nghĩ sai rồi". Rồi ông nói:
- Truy lùng kẻ chạy trốn là việc của các ông, nay thì phiền các ông đi truy bắt thì mới giải thoát cho người vô tội này.
Điển sử nhận lời, xin cáo từ. Quan huyện cho Thang Tiểu Xuân được bảo lãnh tại ngoại. Lệnh cho năm ngày sau phải tới. Mọi người cúi lạy tạ ơn rồi ra về. Từng có người làm thơ ca ngợi Điển sử như sau:
Tù và báo sáng, ngựa tới nơi,
Vội vã đúng là kẻ gian rồi,
Một lời giải thoát người tù tội,
Lại bắt kẻ gian đã lừa người.
Điển sử về tới nha môn, song lại cảm thấy hơi ân hận, vì đã nhận lời ngài quan huyện, chỉ trong một thời gian ngắn làm sao mà bắt được hắn. Đang nghĩ cách thì thấy người của quan huyện tới nói:
- Ông lớn đang chờ gặp ông ở hậu đường.
Điển sử nghĩ bụng: "Ngài vừa mới dặn xong, lẽ nào lại vào nghe ông nói lại". Thế rồi vội vàng ăn mặc chỉnh tề tới hậu đường gặp ngài.
Ngài quan huyện nói:
- Tôi có một người bạn giỏi về dịch số. Ông vừa tới đây, tôi bèn đem chuyện ấy ra nhờ ông xem giúp. Ông nói: "Người đi mất, chưa ra khỏi chỗ gần mộc, cách thành về phía đông nam chừng hơn năm mươi dặm". Có một người gác cổng trong nha môn nói: "Cách năm mươi dặm về phía đông nam thành thì chỉ có Mộc Gia Trang". Vậy thì hai đứa trốn ở đó chăng? Nhờ ông hỏa tốc đi một chuyến xem sao. Hôm nay đi ngày mai quay về thì sẽ phán quyết được vụ án này.
Điển sử vâng lệnh ngài quan huyện, thay thường phục, mang theo một số người, rồi nhảy phóc lên mình ngựa ra khỏi thành. Chẳng mấy chốc đã đến gần Mộc Gia Trang. Một số người nông phu nhận ra quan Điển sử, vội bỏ cày bừa, đến cúi đầu chào, hỏi:
- Thưa ngài, hôm nay có việc gì mà ngài xuống làng?
- Ta nhận lệnh của ông lớn đến Mộc Gia Trang để bắt phạm nhân. Mùa màng đang vào lúc cày cấy bận rộn, chúng tôi không muốn làm trở ngại đến nông tang kỳ vụ, các ông hãy đi làm đi.
Trong đó có hai người ở Mộc Gia Trang hỏi:
- Không biết ông lớn tới Mộc Gia Trang bắt ai?
- Bắt bọn cướp chạy trốn.
- Vậy có phải là Dư Đại Lang, cháu ngoại của Mộc Trang không? - Hai người ấy nói.
- Đúng là Dư Đại, - Điển sử nói, - ngày mồng sáu hắn đưa một người đàn bà đến đây.
Hai người ấy nói ngay:
- Đúng là có một người đàn bà còn khá trẻ cùng đi theo anh ta. Họ còn đang ở đó.
Điển sử nhờ hai người này chỉ đường đến Mộc Gia Trang.
Thấy Điển sử trực tiếp đến bắt, nhà họ Mộc sợ rằng việc tày đình như thế sẽ mang họa vào thân, bèn vội vàng lôi Dư Lâm và Phùng thị ra. Lúc ấy trời cũng đã tối, Điển sử giao hai người này cho người trong làng coi giữ, rồi mượn chỗ ngủ nhờ một đêm. Người trong làng giết gà mổ dê tiếp đãi rất thịnh soạn.
Sáng hôm sau họ giải hai người về huyện. Tri huyện thấy Điển sử đã giải người tới rất vui mừng, lên ngay công đường, cho sai nha gọi Tiền sinh viên, Thang Tiểu Xuân và những người có liên can đến nghe xét xử. Tri huyện cho giải Thục Nương tới, rồi hỏi Tiền Nham:
- Đây có phải là vợ anh không?
- Thưa ngài, đúng là vợ con ạ. Đã bắt được vợ con rồi, vậy kẻ lừa đảo quan phụ mẫu đã bắt được chưa ạ.
- Hắn đang ở đây.
- Xin ngài cho con được gặp xem hắn là người thế nào?
Ngài quan huyện cho gọi Dư Lâm ra. Thấy Dư Lâm, Tiền Nham giậm chân đấm ngực kêu lên:
- Hóa ra là mày! Hóa ra là mày ư!
Dư Lâm tự thấy đuối lý, cúi gằm mặt xuống, chẳng nói chẳng rằng. Ngài quan huyện nói:
- Anh quen biết hắn ư?
- Thưa ngài, con với hắn là bạn học cùng trường, con cưới vợ được năm sáu hôm, nhân khi bạn bè tới, con làm một bữa tiệc để ăn mừng. Lúc ấy con đâu có biết mà đề phòng loại cầm thú đội lốt người đang ở đó. Trong lúc uống rượu, ngẫu nhiên bàn đến việc hôn nhân của vợ con, không biết thế nào lại lừa vợ con rồi dẫn đi.
Ngài quan huyện cười, rồi quay lại hỏi Dư Lâm:
- Đối với bạn bè ngươi không nên làm như thế. Ta hỏi ngươi, ngươi đã nói thế nào mà lại lừa được Phùng thị? Vì sao Phùng thị không quen biết nhau mà lại trốn theo ngươi? Hãy khai thực, nếu quanh co che giấu ta sẽ cho nếm đòn rồi nói chuyện sau.
- Thưa ngài, - Dư Lâm nói, - vì ông Tiền nói rằng vợ ông ấy vốn đã gả cho Thang Tiểu Xuân làm vợ, nhưng không thành. Vợ ông ấy không lúc nào là không thương nhớ Tiểu Xuân. Bởi thế, vào ngày tết Đoan Ngọ con đã cố ý đến nhà ông Tiền. Không ngờ Phùng thị ra hỏi, con bèn mạo nhận là Thang Tiểu Xuân. Phùng thị tưởng thật, muốn thỏa nguyện ước xưa, bằng lòng bỏ trốn. Thế là hẹn nhau bỏ trốn vào lúc canh năm ngay đêm ấy.
Nói chưa dứt lời thì Thang Tiểu Xuân đang quỳ bên cạnh đánh bừa vào đầu Dư Lâm, nói:
- Mày giả danh tao lừa người ta, khiến ta bị đòn oan.
- Không được ăn nói bừa bãi, - quan huyện nói, - không cho phép ngươi báo thù.
- Bẩm ông lớn, - Tiền Nham nói, - điều này không thể trách Thang Tiểu Xuân được, ngay con đây cũng không chịu nổi.
Quan huyện hỏi Phùng thị:
- Tại sao trong phút chốc ngươi nghe the mưu gian, rồi theo hắn trốn đi?
Thục Nương kìm nén nỗi xấu hổ, cố giữ không cho nước mắt chảy ra. Kể ra tỉ mỉ khi cha còn sống đã hứa nhận Thang Tiểu Xuân là con rể như thế nào. Ngài quan huyện nói với Tiền Nham:
- Anh Tiền, căn cứ vào lời khai của Phùng thị, thế thì chẳng phải là anh cưỡng ép người ta lấy anh ư?
- Thưa ngài, nhà con nghèo xơ xác, tiền không mà thế lực cũng không, thì làm sao mà cưỡng ép cô ấy được? Đó là do chú cô ấy bằng lòng gả cho con làm vợ kế. Đã thế thì nay cô ấy cũng không còn là vợ con nữa, Phùng thị một lòng muốn về với Thang Tiểu Xuân, nếu con giữ cô ta lại thì sau này sẽ sinh sự. Thôi thì ngài đứng ra gả Phùng thị cho Thang Tiểu Xuân để trọn mối tình xưa nghĩa cũ.
- Tuy anh nói như thế, - ngài quan huyện cười nói, - song ta sợ rằng lòng anh nghĩ khác!
- Thưa ngài, con là một tú tài kiết xác, nhưng cũng có chút khí tiết, một lời đã quyết thì sẽ không thay lòng đổi dạ. Huống hồ vợ đã thất thân, về lý cũng khó mà tái hợp được.
- Anh nói phải, - quan huyện nói, - song người đã về nhà họ Thang, thì phải trả lại lễ vật cho anh. Khi nào Thang Tiểu Xuân bồi hoàn xong lễ vật thì đưa Phùng thị về làm lễ thành hôn.
- Thưa ngài, - Tiền Nham nói, - khi con cưới Phùng thị, lễ vật chẳng đáng là bao. Nếu nay xử cho Thang Tiểu Xuân phải mang bạc đến trả thì chẳng hóa ra con lợi dụng vợ ư? Sau này bạn bè biết được, bảo con vì nghèo túng quá mà bán vợ đi thì chẳng đẹp mặt chút nào. Con chỉ mong ông lớn cho Thang Tiểu Xuân dẫn ngay Phùng thị về làm lễ thành hôn, như thế con mới giữ được thể diện và được trong sạch.
- Như thế - quan huyện nói, - thì quả là việc hiếm có trên đời, và cũng thấy được phẩm cách của anh. Dư Lâm gian dâm lừa dối vợ nhà lành xử theo luật định không thể tha thứ được.
Thế rồi ông quát tả hữu lôi Dư Lâm ra, đánh ba mươi gậy, đày đi Tĩnh Nam làm khổ sai ba năm. Phùng thị bằng lòng cho Tiểu Xuân đón về làm vợ. Hai người cúi lạy tạ ơn, ra khỏi cổng bèn gọi một chiếc kiệu nhỏ khiêng Phùng thị về nhà mình. Còn Tiền tú tài một mình lủi thủi trở về nhà.
Hai ba hôm sau, Tiền Nham lại tới bẩm với quan huyện rằng:
- Thưa ngài của hồi môn của Phùng thị rất nhiều, họ đều mang đến Mộc Gia Trang. Tuy là bỏ đi trốn, nhưng đây không phải là của ăn cắp, cho nên về lý vẫn thuộc về Phùng thị. Xin quan lớn cho người đến lấy về trả cho nguyên chủ.
Quan huyện chuẩn y, sai hai người tới chuyển về, thì chỉ còn khoảng năm sáu phần mười. Lúc ấy quan huyện coi trọng nhân cách của Tiền tú tài, bảo thư lại làm mối tìm cho Tiền một người vợ khác. Sau đó anh cũng làm được mấy việc công. Kiếm được khoảng một trăm lạng. Tiền Nham đã sống khá hơn trước.
Mấy hôm sau Thang Tiểu Xuân khăn áo tới tạ ơn quan huyện. Quan huyện nói:
- Không phải tạ ơn ta. May mà bổ nha trông thấy, chứ không thì bản thân anh có đến cũng không được. Bây giờ anh nên tới tạ ơn quan bổ nha.
Thang Tiểu Xuân vâng dạ, rối rít rồi tới ngay cảm ơn Điển sử. Điển sử cười nói:
- Quả là nếu trước đó tôi không nhìn thấy họ thì khó có thể gỡ oan cho anh được. Anh về còn phải lạy tạ ông bạn họ Tiền của anh. Một người nhẹ nhàng thoải mái giao vợ mình cho người khác như thế quả là hiếm có. Còn Dư Lâm tuy làm liên lụy khiến anh phải chịu chút ít hình phạt, song nếu anh ta không lừa cô ấy thì làm sao anh được vợ. Việc này quả là tội nặng mà công thì cũng lớn. Bởi thế tôi đi tuần tra suốt một đêm, không bắt được trộm mà lại làm mối cho anh được vợ, vậy mà tôi chưa được uống rượu cưới đấy. Hôm nào đó tôi đến chúc mừng anh kiếm bữa rượu.
Thang Tiểu Xuân rất mừng kêu lên:
- Xin mời, xin mời ông.
Tiểu Xuân cáo từ ra về, chuẩn bị hai tấm vải, ba bốn lạng bạc tới biếu Điển sử. Điển sử vui vẻ nhận, đây cũng là việc bình thường, nhận cũng chẳng có gì sai. Có bài thơ như sau:
Xưa nay bắt trộm được chia của,
Nay thì bắt trộm giải được oan.
Lại thêm nối lại nhân duyên cũ.
Đến tới bạc muôn cũng chẳng vừa.
Về sau nghe nói, Phùng Thục Nương và Thang Tiểu Xuân sống với nhau rất tâm đầu ý hợp. Sinh được mấy người con, chỉ vì nhẹ dạ tin những lời lừa gạt của kẻ khác lại thất thân với hắn, thật là ê mặt. Tuy nói là không bội ước; nhưng cũng không phải là thục nữ có tấm lòng trinh bạch. Hơn nữa lại nói rằng: "Ta lấy một tú tài nghèo kiệt xác hữu lậu”. Nếu như Tiền tú tài trẻ và giàu có thì chắc gì cô ta nhớ đến Thang Tiểu Xuân. Tiền tú tài không chú ý giữ gìn, sơ suất nói ra chuyện thầm kín của vợ mình, gây nên nỗi ô nhục cho chính mình. May mà còn có một chút ít chí khí, không nhận người vợ đã bỏ trốn, không nhận sính lễ, được ông lớn cho là người chưa nhụt mất nhuệ khí. Vả lại gặp những sự cố xảy ra trong gia đình, cũng không đến nỗi mất hết tinh thần, đó là do có lòng tốt mà được đáp đền. Còn như Dư Lâm là loài cầm thú đội lốt người, cho nên thật đáng ghét. Nếu Thục Nương không thương nhớ mối tình cũ, Tiền Nham cũng không nói lộ ra, không có kẻ hở thì Dư Lâm làm sao mà chui vào được. Ôi, phàm là mình tự khinh mình, rồi sau đó người khác mới khinh mình. Người ấy có lẽ là Tiền Nham chăng? Võ Tắc Thiên từng nói: "Sau này khanh có mời khách cũng phải chọn người"(1) Các bạn thân mến, xem tới đây mới thấy chúng ta nói năng phải thận trọng và giao du cũng phải thận trọng. Thời ấy có một bài thơ trào lộng như sau:
Thục Nương quyến luyến người tình cũ,
Một tháng ba lần phải thay chồng.
Chàng Tiền vợ mất, đêm chung gối.
Cớ sao làm mối, giúp Từ Lâm.
Mượn Lý khoe Trương còn giữ được,
Tưởng thật, theo gian chẳng phải ngoan.
Thương ôi! Phà tổ về chủ cũ,
Dù có phong lưu cũng sượng sùng.

(1) Võ Tắc Thiên ra lệnh cấm giết gia súc. Trương Đức sinh con trai giết để ăn mừng mời bạn đồng liêu tới dự. Đỗ Túc cũng được mời song hắn ngầm tâu với võ Tắc Thiên. Hôm sau vào chầu, Võ Tắc Thiên nói với Trương Đức: "Nghe nói ái khanh mới xin con trai, trẫm xin chúc mừng". Trương Đức cúi đầu lạy tạ. Võ Tắc Thiên hỏi: "Lấy thịt ở đâu ra mời khách đấy". Trương Đức hồn xiêu phách lạc cúi đầu nhận tội. Võ Tắc Thiên nói: "Trẫm cấm giết gia súc, nhưng việc hiếu lễ thì không hạn chế, có điều sau này khanh mời khách cũng phải chọn người". Trích Truyện Võ Tắc Thiên, NXB Thuận Hóa, 2003.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 EmptyFri May 09, 2014 10:06 am

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 24
Giữ Khí Tiết Liệt Nữ Lưu Danh
Tham Sắc Đẹp Kẻ Ngu Chịu Tội
Khổng Dung che giấu Trương Kiệm, việc ấy bị phát giác, em và mẹ tranh nhau chết thay, cả nhà đã trở thành những người nghĩa hiệp, được đời đời ca ngợi. Sau này lại có nhà tham quyền ỷ thế, không có cương thường nghĩa, cha, con không đồng lòng, anh em không cùng tiết lẫm liệt, trở thành một loại. Những việc này do quyền lực ngăn chặn, mai một đi, không ai còn biết được nữa, ta hoàn toàn không muốn nó mất đi.
Ta thường ghi những sự việc tai nghe mắt thấy: có một người đàn bà chồng chết, không đi lấy người khác, đã vẽ bức ảnh chồng để dưới gối, hằng ngày ngắm nhìn chồng. Thế rồi có một người khác biết được nói, chẳng phải cô ta yêu chồng đâu, cô chỉ yêu sắc đẹp đấy thôi. Có một người dung mạo đẹp hơn chồng cô, cuối cùng đã làm cho cô thay lòng đổi dạ. Một người thấy Long Dương là bạn thân của mình đẹp hơn hẳn chồng cô, anh ta bèn vẽ bức chân dung Long Dương rồi nhờ một bà già đưa cho cô. Quả nhiên bà già ấy làm cô thay lòng. Long Dương ép thuyền vào bờ chờ ba đêm thì cô ấy ra. Sau đó Long Dương trốn đi, chỉ còn lại một người trung niên râu quai nón, nên cô ấy đành phải lấy người này. Người nhà chồng cũ kiện người này đã dụ dỗ người gian dâm. Song người này đã dẫn cô ta cho một vị quan to, để dập tắt vụ kiện. Như vậy cô đã qua bốn đời chồng. Điều ấy chẳng có gì đáng nói.
Ở Ngô Giang có một người đàn bà giàu nhưng góa chồng. Vì muốn chiếm gia tài, nên người chú họ gả người ấy cho một người danh tiếng. Người ấy trốn thoát tố cáo việc này lên huyện. Quan huyện không dám thẳng tay xét xử. Người đàn bà ấy đã tự cắt cổ chết. ở Sở Trung có một người đàn bà giỏi văn chương, từng làm bài giúp chồng. Có một công tử cùng trường biết được, bởi thế đã đầu độc chồng chị ta. Sau đó lại tổ chức tang lễ cho chồng chị cực kỳ linh đình. Người đàn bà ấy vẫn không biết. Đến khi người này tìm mọi cách và dùng cả thế lực cướp chị về làm vợ lẽ. Người đàn bà này bèn nghi ngờ về cái chết của chồng. Rồi chị nghĩ: "Ta đã dùng tài sắc để giết chồng, rồi đi hầu hạ kẻ giết chồng mình". Sau đó tự đâm cổ chết. Người đàn bà này thật xứng đáng là một liệt nữ. Ở Chiết Giang lại có một người giữ trọn lời thề với người chồng chưa cưới, khi chồng chết cũng chết theo chồng, càng làm cho ta vô cùng kính trọng.
Đó là:
Một lời đã hứa,
Tiếc gì đến thân.
Cùng nhau sống chết,
Tuyệt vời vĩ nhân.
Người đàn bà ấy họ Trình, ở ngoại thành huyện Khai Hóa, phủ Cù Châu, vốn quê ở Vụ Nguyên. Cha là Trình ông, thường xẻ gỗ bán cho vùng Nam Trực, Triết Giang, bởi thế thường trú tại Khai Hóa. Vợ là Ngô thị, cũng là người thuộc dòng họ lớn ở Tân An. Trình ông có người con trai tên là Trình Thức. Tháng Chín lại xin được một con gái tên là Cúc Anh. Trình ông tính tình chất phát, thật thà, đã hứa với ai thì chẳng bao giờ sai lời, chẳng hạn như hẹn một người nào đó vào giờ tỵ, thì không bao giờ tới giờ ngọ. Đã hứa cho ai vay một trăm lạng thì không bao giờ đưa chín mươi chín lạng. Ông thường nói mình là một gã đi buôn, không thông hiểu chữ nghĩa, nhưng rất yêu mến những kẻ sĩ hiểu biết rộng. Trong nhà, ông thích lưu giữ sách vở và thư họa. Con cái còn nhỏ tuổi nhưng ông đã mời thầy về dạy học. Bởi thế Cúc Anh cũng biết đến sách vở chữ nghĩa và biết viết văn chương. Khi lớn lên ông lại dạy thêu thùa may vá. Xem ra sau này cô không chỉ là người đẹp, răng trắng lông mày lá liễu, da trắng như tuyết, thướt tha yểu điệu, hòa nhã nết na mà còn là một bậc nữ sĩ tài hoa. Vợ Trình Công thương nói: "Con gái ta nhất định sẽ không làm thiếp cho những kẻ phàm phu tục tử".
Người đẹp như băng tuyết,
Lại tỏa ngát hương thơm.
Lũ dê đục thèm thuồng, Cũng không sao chiếm được.
Trước hết Trình ông cưới cho Trình Thị một người con gái thuộc dòng dõi Nho gia. Sau đó ông chọn cho con gái một chàng trai cũng thuộc dòng dõi Nho gia. Trong làng có một tú tài người họ Trương. Con trai ông là Trương Quốc Trân, khôi ngô tuấn tú, cử chỉ lịch thiệp, cực kỳ thông minh, lại rất ham học. Chỉ có điều nhà rất thanh bạch nghèo túng. Trình ông thấy anh ta là người đức hạnh, lại học giỏi bèn gả con gái cho anh ta. Song Trương tú tài ra sức chối từ, ông nói:
- Người ngày nay chỉ muốn lấy vợ nhà giàu, mong của hồi môn, để hằng ngày dựa dẫm vào vợ. Không biết rằng người đời sẽ cậy của lấn lướt chồng, coi thường bố mẹ chồng. Hơn nữa không quen gian khổ, lại thích ăn ngon mặc đẹp. Nếu mình cứ chiều theo họ thì sẽ không có khả năng. Nếu không chiều theo họ thì cửa nhà sẽ không yên, cho nên không thể với cao.
Tùng bách vươn tầng mây,
Mộng đàn bà hạn hẹp.
Giữa đường mộng đã vỡ,
Lệ chảy tràn xiêm y.
Trình ông nghĩ: "Ông Trương nói như thế, ấy là người có phẩm giá cao. Con gái ta vốn là người có học vấn, biết lẽ phải. Hoàn toàn khác hẳn với con những nhà giàu có khác. Dù cho lễ vật ít hay nhiều ta vẫn gả cho Trương Quốc Trân".
Đúng vào lúc sắp cưới, thì gặp lại nhà họ Từ ở Thanh Dương, là một đại phú gia, ruộng đồng thẳng cánh cò bay. Thích kết giao với quan lại, chỉ có một đứa con trai tên là Từ Đăng Đệ. Vì là nhà giàu lại một con, nên cả nhà hết sức nuông chiều. Tuy có mời thầy, nhưng không dám dạy một câu viết một chữ. Đến năm mười ba, mười bốn tuổi vẫn mù tịt, chẳng biết chữ nào. Chạy hết chỗ này đến chỗ khác xin vào trường, tỏ ra ta đây là học sinh. Nay phá đề thừa đề, mai giảng giải, chọn ngày làm văn. Chẳng biết chữ nào do anh ta viết ra? Còn thầy thì cốt kiếm tiền, không nghĩ gì đến hậu họa. Từ Đăng Đệ thì vênh vang tỏ ra ta đây là người tài giỏi. Hắn cứ mở miệng ra là tục tĩu. Thường thì người ta tốt đẹp khoe ra, xấu xa đậy lại, nhưng hắn thì không thế, lúc nào cũng luôn miệng chi hồ giả dã(1), người khác xấu hổ thay, nhưng hắn không biết ngượng. Đến năm mười lăm mười sáu tuổi thì hắn la ca tới ngõ liễu đường hoa, quán rượu sòng bạc, chẳng nơi nào mà hắn không đến. Tới khi thi, thì cả nhà phải chạy chọt đút lót, thầy dạy cũng đi tìm người làm bài hộ, chẳng biết mất bao nhiêu tiền. Đến khi không đỗ lại ngông cuồng khoác lác rằng: "Lão đề học không hiểu được văn chương mới, rằng không biết chọn người có thực tài "
(1) Chi hồ giả dã: là các hư tự thường dùng trong cổ văn. Ở đây ý nói Từ Đăng Đệ dốt đặc nhưng hay khoe chữ.
Đúng là:
Bụng dạ tối om om,
Không phải là chứa mực.
Là mặt hoa da phấn,
Song chẳng phải văn nhân.
Lão Từ lại nói:
- Con tôi giỏi như thế, phải lấy một người cực kỳ xinh đẹp, cực kỳ giỏi giang.
Chẳng quản xa hay gần, cứ thấy nhà ai có gái đẹp là nhờ người tới hỏi. Rất may lão Từ tìm được con gái nhà họ Trình, lại biết được nhà họ Trình mời thầy về dạy chữ, mời người dạy thêu thùa. Cô gái ấy biết chữ lại biết thêu thùa may vá. Thế rồi lão ta nhờ một người mối đến nhà xem mắt, họ trở về nói, cô là một người quốc sắc thiên hương. Lão ta nhờ người tới hỏi, song Trình ông không ưng. Lão Từ đã định rằng, nếu Trình ông ưng thuận thì đưa tới năm trăm lạng bạc làm sính lễ. Trình ông không bằng lòng gả. Ông nói:
- Không phải là tôi bán con.
Thế rồi ông sai người mối tới nói với Trương tú tài, thôi thì sính lễ. thế nào cũng được, cứ dẫn lễ trước đi. Đó chính là:
Chim hoang sánh chim phượng,
Bạch chỉ sánh hoa lan.
Cười cho giống lau sậy,
Đòi sánh càng ngọc lan.
Thấy Trình ông nhiều lần chối từ, lão Từ túc giận nói:
- Ta nhờ một người có thế lực, sợ gì ông ta không nghe.
Thường ngày lão Từ kết thân với một viên quan họ Vương, đây là một tri huyện cử nhân, đã từng làm quan đốc phủ của tình này, ông ta luôn búi tóc. Lần này đốc phủ vẫn còn phấn chấn, lão Từ đã biếu bốn bộ quần áo, một bộ chén bạc có chân, và mười hai lạng bạc, nhờ ông ta bày mưu. Viên quan này nhận tất không từ chối.
Ông ta chọn ngày tốt, đội chiếc khăn đen nhánh, mặc chiếc áo đỏ sẫm, tay cầm ô tới gặp Trình ông. Trình ông thấy thế khiếp sợ sau khi ngồi vào bàn, ông ta nói ngay vào việc hôn nhân. Trình ông nói:
- Con gái tôi đã nhận sính lễ nhà họ Trương.
- Làm gì có chuyện đó, viên quan nói, mà nếu có nhận sính lễ rồi thì tại sao ông Từ lại còn nhờ tôi, đến nói? Tôi phải là người làm mối.
- Quả thực đã nhận sính lễ rồi, - Trình ông nói, - hiện lễ vật vẫn còn.
Thế rồi Trình ông bảo người mang lễ vật ra cho quan xem. Thấy thế quan nói:
- Sao ông lại bán rẻ con ông như thế? Đây không coi là sính lễ. Tôi xin đảm bảo với ông sính lễ năm trăm lạng.
- Việc hôn nhân mà bàn đến của cải thì đó là đạo cầm thú, quả thực tôi đã gả cháu cho người ta rồi, không thể thay đổi được nữa.
- Có khó gì mà không thay đổi được! - Viên quan nói. - Loại tú tài kiết xác, ông trả thêm cho ông ta một ít thì ông ta ưng ngay. Ông lại chuẩn bị một ít để lại quả cho ông Từ, như vậy vẫn còn bốn trăm lạng. Đây là điều ông ấy mong chờ ông, có mất thêm một chút cũng không ngại. Ngay tôi đây khi gặp may, có ba bà, tám đứa con gái mà cũng đã lấy chồng cả rồi, cháu nội cháu ngoại thì cũng phải đủ ba trăm lạng một đứa. Nhà tôi cũng như nhà ông Từ, hơn một trăm lạng có đáng kể gì tiền lãi hằng ngày của ông ấy còn nhiều hơn thế. Ông không nên cố chấp.
Trình ông vẫn không nghe, viên quan cụt hứng bỏ về. Lúc ấy cha con lão Từ đang chờ ở nhà, cầm chắc việc đã thành. Thấy ngoài cửa báo tin ngài Vương tới, viên quan họ Vương không giương ô, không mặc áo nhà quan, bước vào nói:
- Hai mươi năm đỗ cử nhân làm quan, ta đã nói không biết bao nhiêu người, song không có ai lại cố chấp như lão ta.
- Lẽ nào ông ta không nghe. - Lão Từ nói.
- Vẫn không nghe! - Viên quan nói. - Ta nghĩ rằng thiên hạ thiếu gì con gái, sợ gì không có người đẹp? Ta sẽ tìm cho một người khác.
Nói xong đứng dậy ra về. Cha con lão Từ cố giữ lại bằng được, nói:
- Mong ông ngồi lại một chút đã.
- Không có công mà ăn lộc. - Viên quan nói.
Ngồi yên chỗ, viên quan chỉ vào Từ Đăng Đệ nói:
- Tài cao như anh nhà đây giá làm phò mã cũng xứng. Chỉ hận một nỗi tôi không đứa con gái thứ chín.
- Cha con tôi ngu dốt bị cự tuyệt còn chịu được. Nhưng ông lớn nói lời vàng ý ngọc, không thể không nghe. Nhà tôi mất thể diện đã đành, mà ngay cả ông lớn nói không đắt lời cũng sẽ bị người ta chê cười. Mong ông lớn tìm cách giúp.
Viên quan nói:
- Tôi chẳng có kế gì, có gì ông cứ nói ra tôi sẽ đi làm.
Hồng nhan thường bạc mệnh, Xưa nay thật đáng thương.
Chỉ sợ mày ngài đẹp,
Gây nên bao chuyện buồn.
Lão Từ nói:
- Tôi biết ngài quan huyện rất phục ông lớn, mình cầu hôn không được thì kiện thôi.
- Lẽ nào lại đi kiện! - Viên quan nói.
- Tôi kiện nhà họ Trình bội ước, họ Trương cưỡng ép đưa sính lễ. Xin ngài nhờ quan huyện xét xử.
- Tôi được đốc phủ tin cậy yêu mến, song chuyện nhỏ không nên nhờ. - Viên quan nói. - Việc hôn nhân là việc nhỏ ông nhờ người khác thôi.
- Cốt là tranh lấy tiếng chứ không tranh giành về của cải, Từ Đăng Đệ nói, - chỉ cần xong việc là tôi sẽ tạ ơn một trăm lạng, cha tôi không bỏ ra thì tôi bỏ ra.

- Loại lăng nhăng ấy kể làm gì, chỉ cần kiện nhà họ Trình bội ước, gả con gái cho người khác thôi.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 EmptyFri May 09, 2014 10:10 am

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 24 (B)
Quả nhiên nhà họ Từ làm đơn kiện, còn viên quan sẽ được trả một trăm lạng bạc khi nhà họ Từ thắng kiện. Trước hết hai sai nha đến nhà họ Trình, Trình ông chẳng biết vì sao. Sai nha nói là nhà họ Từ kiện ông bội ước. Thật đáng là điều vừa tức giận vừa buồn cười. Trình ông dọn cơm rượu đãi sai nha, sai nha đòi lót tay sáu mươi đồng, nếu không thì giải con gái lên huyện. Không còn cách nào Trình ông đành đưa cho họ hai mươi đồng.
Mổ sẻ xuyên qua đuôi
Uy cáo quen cướp vàng.
Họa đến như có cánh,
Ngồi nhà cũng tai ương.
Khi xét xử, Trương tú tài cũng nhờ bạn bè tới nói giúp. Trước hết quan huyện nghe theo viên quan họ Vương trình bày rồi nói với Trương tú tài: - Anh là người không biết điều, bây giờ ta gọi lễ vật cho anh thôi.
- Nhà họ Từ chưa từng đưa sính lễ, mà cưỡng ép họ Trình phải gả. - Trương tú tài nói.
- Việc ấy anh mặc người ta, - quan huyện nói, - chẳng thiệt gì đến anh. Khi thẩm vấn chẳng biết lão Từ lấy đâu ra một chiếc vạt áo nói:
- Dạo ấy con đi buôn với Trình ông, hai người vợ chúng con đều có mang, và hai người đã từng cắt vạt áo để đính ước với nhau. Về sau con đẻ con trai, ông ấy sinh con gái, con từng đưa cho Trình ông một đôi vòng vàng, hai chuỗi ngọc và bốn mươi lạng bạc để tạ ơn ông ấy hứa gả con gái cho con trai mình. Sau đó vợ ông chê nhà con ở xa, rồi gả cho nhà họ Trương.
Quan huyện gọi Trình ông, Trình ông nói:
- Thưa ngài, con tuy đi buôn nhưng không quen biết ông Từ thì làm gì có chuyện cắt vạt áo để hẹn ước với nhau? Và cũng chẳng bao giờ nhận vòng vàng, chuỗi hạt châu và tiền bạc nào cả.
- Trên đời này làm gì có chuyện ăn không nói có đến như thế!
Quan huyện nói xong gọi người làm chứng, - một tên lưu manh do lão Từ mua chuộc, - hắn nói:
- Thưa ngài, con là Nha Hành. Mười bảy năm về trước hai người này buôn bán gỗ, họ đều nghỉ nhờ tại nhà con, không ngờ sau khi uống rượu họ cắt vạt áo đính ước với nhau và nhờ con làm mối. Con thấy họ đưa lễ cho nhau rồi sau đó có tới mười năm họ không đến nghỉ tại nhà con nữa. Cách đây ba năm, ông Từ đến nhờ con tới gặp ông Trình xin cưới. Trình ông nói: "Đường xa không gả". ông Từ không nghe, bởi thế cứ dây dưa. Còn việc nhận sính lễ của Trương tú tài thì quả thực con không biết.
- Đồ lừa dối gian xảo, - tri huyện chỉ vào mặt Trình ông nói - đúng là ngươi đã bội ước, nhận sính lễ của người khác rồi.
- Thưa ngài, - Trình ông nói, - con chưa từng đến buôn bán ở Thanh Dương, và cũng chưa từng nhờ Nha Hành làm mối. Đây là một tên vô lại, do lão Từ mua chuộc rồi tự đặt điều.
- Ta đến xin cưới, - tên vô lại nói, - ngươi còn mời ta uống rượu. Khi ta hỏi, thì ngươi nói còn phải bàn với vợ, đi đi lại lại tới mấy lần, sao ngươi lại bảo không quen biết ta? Đúng là:
Bịa đặt điều tày trời,
Lừa dối mà có lý.
Tài Tô Tần, Trương Nghi(1)
Mới bịt mồm hắn được.
(1) Tô Tần, Trương Nghi: hai nhà thuyết khách tài giỏi thời Chiến Quốc.
Tri huyện đùng đùng nổi giận, gọi sai nha đánh và kẹp Trình ông. Bắt sai nha áp giải về nhà trả lại sính lễ nhà họ Trương, và bắt họ Trương phải nhận. Đồng thời nhà họ Từ đưa lễ tới rồi trở về thưa lại với quan huyện.
Giải Trình ông tới nhà rồi sai nha lại đến tìm Trương tú Tài. Sợ rằng sẽ làm liên lụy đến Trình ông, Trương tú tài phải nhận lại sính lễ. Trình ông nói:
- Sao lại có chuyện này được.
Ông không chịu trả lễ vật. Đến khi nhà họ Từ mang lễ vật tới, Trình ông quẳng ra sân, giằng co nhau đến hơn một ngày mà không xong. Nhà họ Từ lại bẩm lên quan. Sai nha tức lên trói Trình ông lại nói:
- Ngươi trái lệnh quan, ta phải giải ngươi lên huyện, đánh cho ngươi một trận thì việc cưới xin này mới xong.
Cứ giằng đi kéo lại mãi như thế, Trình ông uất ức, đờm chẹn lấy cổ rồi ngã vật xuống. Vợ con trong nhà đều chạy ra, đổ thuốc dội nước. Trình ông trối trăng lại rằng:
- Con gái ta thật là bất hạnh, bị nhà có thế lực ức hiếp. Cha chết đi con phải giữ lời cha thì cha xuống dưới suối vàng mới nhắm mắt được.
Nói xong, đờm lại chẹn lên tận cổ, rồi tắt thở.
Sống chết giữ lời hứa,
Không bao giờ đổi thay.
Đáng đời bọn phản phúc,
Bị đời đời cười chê
Cả nhà gào khóc thảm thiết, bọn sao nha thấy vậy chuồn thẳng. Nhà họ Trình đập nát sính lễ nhà họ Từ rồi vứt đi. Cho người tới gọi nhà họ Trương, nhân lúc chưa phát tang sang cưới chạy tang. Trương tú tài sợ quan quở trách, không dám tới. Nhà họ Trình tự thu xếp rồi khâm liệm Trình ông.
Lão Từ nghĩ: "Nó không gả thì ta cũng không chịu! Trình ông chết rồi, con trai còn non trẻ, trước đây ta kiện hắn bội ước. Dù cho hắn kiện về án mạng cũng chỉ là chống đỡ". Nhất định đòi viên quan họ Vương đảm bảo đến cùng, và đưa cho ông ta mười lạng bạc làm lệ phí. Viên quan họ Vương nhận làm cháu ngoại, rồi đệ đơn kiện lên đốc phủ, quan đốc phủ phê: "Bội hôn ước, chống lại quan, rất coi thường phép nước. Mong rằng huyện phải nghiêm chỉnh phán quyết, định ngày thành hôn rồi đệ lên cấp trên". Nghe thấy viên quan họ Vương kiện lên tỉnh, tri huyện lo cuống vó. Đến khi nhận được trát quan tỉnh dào về, vội sai tới người tới bắt Trình Thức. Trình Thức ngang nhiên tới huyện đường. Mẹ anh dặn:
- Con không được thay đổi lời cha.
- Xương cha con chưa lạnh, - Trình Thức nói, - làm sao con nỡ nhẫn tâm trái lời cha.
Việc này quyết phải chống lại, - vợ anh nói, - không thể nhù nhờ với họ được.
Giữ nghĩa phải đồng tâm,
Hứa hôn không thay đổi.
Nghe những lời khích lệ,
Thấy đạo xưa vẫn còn.
Trình Thức tới nơi, quan huyện nói:
- Quan trên hẹn ngày con trai họ Từ cưới em ngươi, ngươi không thể trái lệnh được.
- Thưa ngài, cha con không hề gả cho anh ta, mà cũng chẳng có chuyện nhận sính lễ của họ.
- Anh đừng nói càn như thế, - quan huyện nói, - bỏ nhà giàu không gả, lại đi gả cho thằng kiết xác, thiên hạ không có ai ngu như ngươi! Bây giờ ta làm người mối, đốc phủ làm chủ hôn. Nếu ngươi cưỡng lại thì ta giải ngươi tới đốc phủ thì ngươi sẽ nát như cám.
- Sống chết đều có số, - Trình Thức nói, - còn nếu như hủy hoại đức hạnh, phẩm tiết thì con nhất định không làm. Ngay như ngài coi dân như con thì cũng phải làm cho phong tục ngay thẳng, kỷ cương sáng rõ. Tại sao ngài lại bảo con làm những điều như thế?
Nghe xong tri huyện đùng đùng nổi giận:
- Bọn ngu si lại dám chống ta!
Thế rồi quan huyện đánh Trình Thức ba mươi gậy, máu me chan hòa. Sau đó quan huyện gọi nhà họ Từ mang lễ vật đến giao ngay tại công đường. Trình Thức gào lên.
- Ông lớn, dù có phải chết tôi cũng không nhận lễ vật, em tôi quyết không lấy hắn!
- Thằng này bướng thật!
Dứt lời quan huyện sai người dùng bàn vả vả vào mặt Trình Thức bốn mươi cái, Trình Thức vẫn không chịu. Quan huyện nghĩ: "Mình cũng ngu rồi, đốc phủ hẹn ngày thành hôn, mình bắt nó thành hôn, còn nó có nhận lễ vật hay không mặc nó!". Sau đó giam Trình Thức vào ngục, rồi sai nha lập tức đi bắt Trình thị.
Ông tơ sai quan huyện
Bà Nguyệt sai lính hầu
Mượn một tờ lệnh trát
Dùng làm bùa đón dâu.
Bọn sai nha tới nhà, bà mẹ vội vào phòng con gái, nói:
- Việc này phải khu xử thế nào? Con không được quên lời cha trăng trối lúc lâm chung.
- Con có cách, - Trình thị nói, - mẹ đừng lo, con thà chết để báo đền cha mẹ, chứ quyết không thất thân với kẻ cường bạo.
Thế rồi cô ung dung rửa mặt chải đầu, mở hòm lấy bộ quần áo mới mặc vào. Mấy tên sai nha ngoài sân quát tháo ầm ĩ, Trình thị như không nghe thấy. Cô khâu chặt áo trong, bên ngoài thắt dây lưng thật chắc. Mẹ cô nói:
- Gặp quan phải mặc áo xanh.
Cô mặc thêm áo xanh bên ngoài, rồi đến bàn viết của mình mài mực, lấy ra một tờ giấy, viết mấy chữ giấu vào tay áo. Sau đó cô tới linh cữu cha khóc từ biệt. Tiếp đó cô lạy mẹ, mẹ cô khóc nức nở không nói lên lời. Cô lại quay sang nói với chị dâu:
- Em đã làm liên lụy đến anh, lại liên lụy cả đến chị. Em thật là bất hạnh, không thể suốt đời hầu hạ chị, đúng là số của em đã như thế rồi. Kinh Thi nói: "Há rằng chẳng phải lúc nào cũng đi trên con đường đẫm sương". Em không tham sống một ngày mà để cho "thế gian mãi mãi cười chê". Nhà còn mẹ già, may mà còn có chị trông nom săn sóc.
Chị dâu cũng khóc lóc, nói:
- Chị hứa với em sẽ chăm sóc mẹ già chu đáo, còn em cũng phải nhớ lời trăn trối của cha.
Trình thị đi tới bên kiệu, bọn sai nha thầm khen: "Quả là một người đẹp! Chẳng trách nhà họ Từ đòi lấy cô bằng được". Suốt dọc đường người ta lũ lượt kéo nhau lên huyện xem.
Ngựa cùng đường sa huyệt
Trai lột ra khỏi vỏ
Đi giữa, nến sáng rực
Hơn cả dạ minh châu.
Nhà họ Từ nghe thấy cô gái đã bị bắt tới huyện, nghĩ rằng tri huyện cuối cùng sẽ bắt làm lễ cưới ngay công đường. Họ Từ sai người về nhà chuẩn bị cỗ bàn, mời mọc khách khứa và thuê cả phường nhạc về giúp vui. Từ Đăng đệ trang điểm xong, suốt từ trong ra ngoài mặc toàn quần áo mới, ra dáng một chàng rễ mới. Hắn chỉ mong bọn phu khiêng kiệu khiêng ngay hắn lên huyện, rồi quan huyện lập tức cho cô về nhà. Hắn cứ thập thà thập thò đến là buồn cười.
Lúc ấy sắp đến chính Ngọ, bầu trời quang đăng sáng sủa. Trình thị trong hiệu hỏi vọng ra:
- Còn mấy dậm nữa thì tới huyện?
Bọn phu khiêng kiệu cười, nói:
- Sốt ruột à sắp tới nơi rồi.
Thế rồi bọn phu khiêng ra sức cười đùa trêu chọc:
- Trước đây tôi khiêng một cô dâu, cứ ngồi trong kiệu khóc là mình khổ cực. Tôi nghe thấy chướng quá nói: "Cô ơi, tôi khiêng cô tới chỗ khác nhé". Thế là cô nín ngay, bảo tôi rằng: "Tôi khóc mặc tôi, còn các anh khiêng thì cứ việc khiêng".
Người ấy nói xong, thì người phu khiêng kiệu đằng sau lại nói:
- Tôi cũng đã từng khiêng một cô dâu, đang khiêng thì đáy kiệu lâu ngày bị hỏng, cô dâu tụt xuống, làm thế nào bây giờ. Có người bảo dùng dây buộc, người thì bảo thợ rèn đóng đinh thợ mộc sửa kiệu, song chỉ sợ lỡ giờ. Lúc ấy cô dâu bảo: "Không sao, các anh bên ngoài cứ khiêng, ta ở bên trong kiệu cứ thế đi".
Bọn họ vừa đi vừa cười đùa như thế. Nào ngờ:
Nhạn không vì kết đôi,
Nhà chứa thích dâm đãng.
Trinh, dâm thật khác biệt
Chẳng ai rõ lòng người.
Đang nói, thì tự nhiên thấy một trận cuồng phong, đất trời mù mịt, đất đá bay tứ tung, không nhìn rõ mặt người. Họ đành phải dừng kiệu chạy vào nấp dưới hiên nhà, tới nửa giờ.
Tưởng như:
Mưa tuôn, trời nhỏ lệ,
Sấm chớp tiếng bi ai.
Phật từ bốn phương tới,
Tiễn Đức Phật Như Lai.
Từ Đăng Đệ muốn nhìn cô dâu nhưng không có kẽ hở nào để nhìn, hắn phải dùng tiền đút lót cho bọn sai nha và bảo họ đừng có bép xép. Người đi xem trước cổng huyện đông nghịt như kiến cỏ. Tới cổng huyện, một sai nha chạy vào trước bẩm với quan huyện:
- Thưa ngài chúng con đã bắt Cúc Anh tới.
Mấy người còn lại tới đưa Cúc Anh xuống kiệu, giục mãi mà không thấy cô xuống. Bọn sai nha quát:
- Ông lớn đang ngồi chờ trong công đường mà vẫn còn ngồi đó ư?
Họ mở rèm ra, bổng giật mình kinh ngạc, không biết Cúc Anh đã thắt cổ chết từ lúc nào rồi. Nhan sắc của cô xinh tươi như khi còn sống, nhưng không còn thở nữa.
Vẫn giữ trọn lời thề,
Vâng theo lời cha dặn.
Dám chết cho danh tiết,
Sống thêm hổ danh cha.
Bọn sai nha vội chạy vào bẩm quan:
- Trình Cúc Anh đã đến!
Quan bảo dẫn vào, không được làm cô ta sợ hãi.
- Thưa ngài, cô ta chết rồi. - Sai nha nói.
- Nói bậy, - quan huyện nói, - đã đến thì không chết, mà chết thì đến làm sao được? Các ngươi nói chẳng sao hiểu nổi.
- Rõ ràng khi ra khỏi cửa, lên kiệu cô ta vẫn còn sống, khi bảo cô ta xuống kiệu thì thấy cô đã chết rồi!
- Ta nghĩ rằng con gái nhát gan, - quan huyện nói, - các người đã làm cho cô ta sợ hãi mà chết. Hãy mau mau gọi người tới cứu!
- Cô ấy thắt cổ chết từ lâu rồi, - sai nha nói, - còn làm sao được.
Quan huyện giậm chân nói:
- Ta không chịu trách nhiệm việc làm lỡ người đàn bà này. Hãy thả ngay Trình Thức ra, bảo anh ta mang thi thể về mai táng.
Quan huyện làm ngay văn thư trình lên quan đốc phủ. Trình Thức ra khỏi ngục, thấy thi thể em gái, đấm ngực khóc rống lên:
- Em yêu quý của anh! Em là người trinh liệt như thế, anh chết vì em cũng không uổng.
Tiết nghĩa nặng như núi,
Sao nỡ hầu kẻ thù.
Cho dùng ngọc tan nát,
Hương thơm còn vấn vương.
Mệnh hết dây đàn đứt,
Danh thơm mãi mãi còn.
Nga Giang có thánh nữ,
Đi vào cõi thanh u.
Trong số những người đi xem trước cổng huyện có một người bất bình nói:
- Nhà họ Từ bức liệt nữ này phải chết. Phải tìm cha con nó làm nhục.
Bọn người nhà họ Từ sợ quá chuồn biệt tích. Mọi người la hét ầm ĩ, quan huyện nghe thấy, trống cũng không đánh, lủi khỏi công đường.
Theo tục lệ, chết ở ngoài, gọi "lãnh thi" không đưa về nhà. Trình Thức nói:
- Đây là một liệt nữ, không làm nhục nhà ta.
Rồi bèn khiêng thi thể nàng về nhà. Mẹ chị dâu ôm lấy xác nàng khóc lóc thảm thiết. Cởi đai áo cho nàng, trên người nàng đều mặc quần áo mới, quần áo lót bên trong nàng khâu chặt lại, cho nên không thay được quần áo. Người ta rút từ ống tay áo nàng ra một tờ giấy do tay nàng viết: "Xác ta đưa về nhà họ Trương, để toại lòng cha".
Có chồng dù chưa cưới,
Vẫn giữ trọn lời thề.
Vâng theo lời cha dặn,
Ý nguyện ắt phải thành.
Trình Thức sai người tới báo cho nhà họ Trương. Cảm động trước tấm lòng nghĩa khí của nàng, cha con nhà họ Trương đều đến đưa đám. Trương Quốc Trân phủ phục trước linh cữu nàng khóc nức nở như tang vợ mình thực sự. Chàng mặc tang bằng gấm, đứng trước quan tài thực hiện lễ chồng tang vợ. Chọn ngày đưa linh cữu nàng an táng tại khu phần mộ tiên tổ nhà họ Trương.
Sau đó Trương Quốc Trân dạy học, người ta muốn người đến nói sẵn sàng gả con cho anh, nhưng anh không chịu lấy vợ. Trương tú tài nói:
- Ta chỉ có một mình con, sao con cứ khăng khăng không lấy vợ thì dòng dõi nhà ta tuyệt tự ư? Ông khuyên nhủ con hơn một năm trời, anh chỉ nuôi một người đầy tớ gái. Được hơn một năm thì được đứa con trai. Từ đó anh không chung chăn gối với cô nữa. Trong thư phòng anh đặt bài vị thờ liệt nữ. Anh coi Trình Thức như anh vợ và đi lại thăm viếng luôn. Sau này đổ cử nhân, ra làm quan tới chúc đồng tri, nhưng vẫn không lấy vợ nữa. Anh nói:
- Nuôi người hầu gái cũng là vâng theo ý cha. Anh không lấy vợ không muốn làm mất cái tình cái nghĩa mà cha con Trình ông đối với anh.
Vì vướng quan huyện, nên những người trong huyện chỉ làm thơ văn phúng viếng với tư cách cá nhân, không thể dựng bia lập biển. Quan huyện cũng vì vướng đốc phủ nên không dám dâng biểu xin triều đình nêu gương. Sau này hối hận vì đã giết cha con họ Trình, quan huyện lo sợ ốm đau, thường mơ thấy một người đẹp, cổ cuốn dây, đứng trước mặt, rồi sau mắc chứng bệnh ngơ ngơ ngác ngác, không đầy một năm thì xin về quê Đốc phủ vì lãng phí quân nhu cũng bị giải về hạch tội. Viên quan họ Vương chẳng được xu nào mà bị nhiều người phỉ nhổ. Nhà họ Từ cậy của ngang ngược, bị đưa vào lính, gia sản phá tán, con hắn phải đi ăn mày. Trình liệt nữ tuy không được triều đình biểu dương, nhưng được Đồ Xích Thủy tiên sinh viết lại thành chuyện và mãi mãi trường tồn cùng trời đất. Đúng là một chữ khen ngợi còn hơn biển khen bốn chữ. Cha, mẹ, anh, chị dâu của liệt nữ cũng được ghi trong phụ bản của truyện, rạng rỡ chiếu sáng ngàn thu. Còn như nhà họ Từ cậy giàu có mà ngang ngược, và những quan lại nhúng tay vào vụ giết người này, nay còn đâu! mà vẫn bị người đời nguyền rủa.

Những người không có kiến thức nghe thấy câu chuyện này cho rằng: "Cha ngu, con cũng ngu, bỏ nhà giàu không gả, mà lại gây ra cái sai của quan lại". Nhà họ Từ giàu có sai khiến được cả quan lại, tú tài địch với họ Từ sao được. Chỉ cần đến kết cục chuyện, nếu cân nhắc một chút, thì cũng tự thấy rõ.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 EmptyFri May 09, 2014 1:24 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 25
Vì Tức Giận Giết Hai Nhân Mạng
Do Cưỡng Dâm Mang Họa Vào Thân
Vỗ tay chê cười kẻ điên loạn,
Chỉ vì tham sắc mà nên tội.
Đặt bẫy đào hố hãm hại người,
Đêm khuya dễ dàng lừa gái đẹp,
Những mong thỏa mãn thói dâm ô.
Mây mưa phút chốc tưởng thân yên
Song khó bề thoát khói lưới tù
Cưỡi ngựa ô tự khoe châu ngọc,
Sướng nhất thời, máu chảy đầu rơi.
Việc thành thì gọi là gì, việc không thành thì hậu quả thế nào. Đây là điều mà Dương Thục Sơn tiên sinh luận bàn về chủ trương quốc sự. Ta cho rằng người làm việc quốc gia, quả là phải có tấm lòng son đỏ vô tư, khảng khái gánh vác việc công, thành công không mong được tiếng trung nghĩa; thất bại thì không ngại gì làm ma trung nghĩa. Kẻ chuyên làm việc xấu, đứa thì lỗ mãng, đứa thì cực kỳ xảo trá, nếu thành cũng thuộc loại gian giảo lừa dối, mà không thành thì cũng không tránh khỏi bị treo cổ, chém đầu hay bị lưu đày.
Hậu quả ấy thật đáng chê cười. Song gánh chịu tai tiếng để cầu danh trục lợi, tham cái khoái lạc nhất thời cũng không tránh khỏi điều mổ bụng giấu ngọc châu. Còn nếu đến với rượu và gái, tìm sự khoái lạc trong chốc lát thì có gì là cần thiết đâu? Đấy là điều mà Thái Tổ Cao Hoàng đế đã cấm trong "Lục luận". Đừng làm những điều sai trái. Không biết tại sao người ta không tỉnh ngộ.
Ở kinh sư, dưới thiên tử, về cai trị dân có phủ huyện, có tuần tra năm thành, lại có thêm Nhiếp sự nha môn, Đông quảng bổ doanh cẩm y vệ. Dưới mỗi quan lại có một số Kỳ hiệu dịch, bên cạnh mỗi Kỳ hiệu phiên dịch còn có một số tay chân giúp việc. Hơn nữa lại còn có người mạo danh giả làm người tu hành, tụ tập đông như kiến, bí mật dò xét tới sát vách thế mà người ta vẫn không sợ. Hôm nay cùm chết người, ngày mai lại cùm chết người. Vụ án này vừa kết thúc thì lại phát luôn ra vụ án khác. Tóm lại đây là nơi bọn xấu ở khắp nơi và bọn người hám danh trục lợi ở các tỉnh dồn về. Bởi thế ở đây xảy ra biết bao tệ nạn. Còn về mặt pháp luật, bên trên thì ăn hối lộ bên dưới thì coi thường pháp luật. Cho nên ở kinh sư bọn côn đồ rất đông. Tôi cho rằng bọn người này đều là bọn thông minh. Song không hiểu vì sao bọn người thông minh này lại làm những điều ngu xuẩn. Người ta cho rằng chúng dùng sự giả dối để hại người cho nên trời làm cho chúng ngu tối đi, để rồi làm những việc tự giết mình. Tôi cho rằng bọn chúng chỉ nghĩ tới cái trước mắt mà quên mất cái hậu quả về sau, thấy lợi mà quên hại, chúng hoàn toàn không suy nghĩ về tiếng tăm và hậu quả mà thôi.
Trong sáng thì ngu thành thánh sống
Đen tối thì ngu thành khùng điên
Những người trong sạch hay ô trọc
Cách nhau chỉ gang tấc mà thôi.
Có một người họ Vương là con thứ tư, người Việt Trung, đến ngụ cư ở kinh sư, người ta thường gọi hắn là Tiểu Vương Tứ. Từ nhỏ tâm địa hắn đã xấu xa, nhưng hắn giả vờ tỏ ra có tấm lòng hào phóng. Bên trên thì hắn giao lưu với bọn cận thần và quản gia những nhà quyền thế. Lớp giữa thì hắn thân với bọn quan lại các nha môn. Bên dưới thì hắn liên hệ với bọn côn đồ lưu manh vô gia cư có thể đánh người, cùm người hoặc bắt người. Cho nên phàm gặp chuyện gì là hắn ăn sống nuốt tươi người ta ngay. Bán mình cho hắn thì hắn sán đến làm tình. Không bán mình cho hắn thì có ngay kẻ cáo giác, kẻ làm chứng giả, chưa làm cho anh khuynh gia bại sản hắn chưa thôi. Thậm chí có những nhà giàu sống an phận hắn cũng bất ngờ kiếm cớ gây sự. Bởi thế, có một số ngự sử nổi tiếng giàu có và thế lực cũng không bắt được hắn, mà dù có bắt được cũng không sao xử tội hắn được, trừ phi có chiếu chỉ nhà vua, ngoài ra phần lớn bắt được, hắn đều thoát thân.
Vương Tứ có một vợ và hai thiếp. Vương Tam là anh ruột. Hắn ỷ thế vào việc kiếm tiền một cách dễ dàng, hằng ngày hắn thường la cà đến các sòng bạc và nhà chứa. Thấy người đàn bà nào có nhan sắc là hắn chiếm bằng được mới thôi. Một hôm hắn đi qua xưởng làm đồ gốm, thấy một đứa bé rao:
- Ai bánh nướng đây!
Hắn chợt nghe thấy một tiếng gọi dịu dàng:
- Bánh nướng ơi!
Đúng là:
Hoa xuân khoe sắc chim ríu rít
Hành quân dùng bước ngẩn ngơ nghe.
Nghe tiếng nói êm ái, Vương Tứ cố ý đi chậm lại, thì thấy một cô gái mở mành bước ra, đúng là:
Một bông hồng hạnh vươn dậu,
Thoáng gió xuân về nhẹ nhẹ lay.
Cô đưa cho em bé mười đồng rồi nhặt từ trong chiếc làn sáu chiếc bánh nướng. Vương Tứ nhìn kỹ thì thấy, vừa sáng ra mái tóc nàng chưa kịp trang điểm giống như áng mây xanh, miệng nàng như một đóa hoa lê phảng phất sương khói. Đôi mắt nàng sáng long lanh như ngọc, nàng không son phấn mà má hồng như hoa đào. Hai trái đào tiên, non tơ như ngọc vừa đông, mềm mà đầy đặn, khiến người ta thèm muốn.
Thấy cô ấy bước vào trong nhà, Vương Tứ hỏi đứa bé bán bánh:
- Cô ấy con ai thế?
- Đấy là con gái ông Trần, chuyên sao chép thuê ở khoa thi võ vẫn chưa chồng.
Vương Tứ nghĩ: "Ta sẽ lấy cô ta làm thiếp thứ ba". Thế rồi hắn nhờ một bà mối tới hỏi. Lão Trần là người miền Nam, nhà nghèo, viết thuê để kiếm sống, vợ là Trương thị, con trai là Trần Nhất hai mươi tuổi, thường chơi bời với những người bình thường. Lão có một người con gái tên là Đại Thư. Hôm bà mối đến nhà khen ngay rằng:
- Hôm nay nhà ông gặp may rồi, ông Vương là một người rất nổi tiếng, vừa có tiền vừa có thế lực. Ông ấy có một bà vợ đẻ xong thì bại liệt, chỉ ăn rồi nằm đấy, không có ai trông coi việc gia đình. Ông ấy thấy Đại Thư nhà ta xinh đẹp lại giỏi giang nên nhờ tôi đến nói với ông bà xin cô ấy về làm vợ, quán xuyến việc gia đình.
Hỏi kỹ ra mới biết đấy là Vương Tứ. Trần Nhất trẻ người non dạ không biết gì nói:
- Vương Tứ là người kinh sư tới hỏi, chúng ta gả cho anh ấy, sau này sẽ có chỗ cậy nhờ.
- Ta chỉ có một đứa con gái, phải tìm một nhà giàu để cả nhà dựa dẫm vào nó.
Lão Trần nói thế song Trần thị lại nói:
- Việc gả bán không thể trả lời ngay được, để chúng tôi bàn bạc thêm đã. Đúng là:
Con gái như thân dây leo
Chọn nơi nương tựa là điều phải lo
Cây yếu chớ leo cành 
Cành gầy dây đứt thiệt thua một đời.
Về sau thăm dò thì thấy Vương Tứ đã có một vợ và hai thiếp. Trương thị nói:
- Đây là một kẻ phóng đãng, đã có vợ lại lấy thiếp, có hai thiếp rồi lại bỏ họ đi lấy thiếp thứ ba. Sau này, thấy một người đẹp khác, ai chắc rằng nó sẽ không bỏ Đại Thư để lấy người khác nữa.
Thế rồi họ khéo léo từ chối:
- Nhà tôi nghèo, trông mong vào một đứa con gái, vợ chồng tôi sức yếu tuổi già nhờ cậy vào nó, bởi thế tôi cần gả cho một người chưa vợ sống một mình, chứ không gả làm thiếp.
Bà mối đi lại tới mấy lần nhưng nhà họ Trần không gả.
Sau đó, Vương Tứ nói:
- Ông ta muốn gả cho người sống một thân một mình, thì Vương Tam nhà mình chưa vợ, sống một mình, vậy cứ hỏi cho Vương Tam.
Lại có một người nói với nhà họ Trần:
- Hắn chỉ lừa đấy thôi. Biết là gả cho Vương Tam hay Vương Tứ. Vương Tam tuy là anh thật nhưng chỉ là người cầm rổ cầm cân, như một thằng ở mà thôi.
Bởi thế nhà họ Trần không gả.
Ít lâu sau có người đến làm mối cho một người tại ngũ tên là Thi Tài. Anh ta có một ngôi nhà để ở, hai nhà cho thuê, hai xuất quân lương, một xuất dùng để thuê người hầu hạ, còn một xuất thuê ngựa cưỡi mua vui. Mỗi tháng được cung cấp hai thạch gạo lứt, bán mỗi thạch được tám trăm đồng, tương đương với một lạng bạc, dùng để mua than và rượu. Trần Đại Thư lấy ông ta sống cũng dễ chịu. Sáng dậy nhóm lửa đun nước rửa mặt rồi mua bánh nướng bánh bao hoặc là cháo đường ăn sáng. Tới trưa, thì nấu cơm hoặc kê ăn bữa trưa. Nếu ngại thì trưa và tối đều mua bánh mì ăn. Khi có tiền cũng mua ít cá thịt cải thiện, ít tiền thì mua mỡ hoặc tương, không có tiền thì ăn rau dưa, chứ cũng không đến nỗi bếp không đỏ lửa. Hai vợ chồng sống như thế cũng tạm ổn.
Đói có kê vàng, rét có chăn,
Còn tìm đâu nữa chốn thần tiên
Gái đẹp chiều chồng càng thêm đẹp
Mơ làm chi nữa chốn Đào Nguyên.
Bỗng một hôm có lệnh của cấp trên điều anh từ châu Xương Bình đến Hoàng Lăng làm việc, van nài xin ở lại nhưng không được. Nghĩ rằng vợ mình là đàn bà con gái không thể sống ở nhà một mình, anh bèn gửi vợ đến nhà bố vợ, rồi ra đi. Xương Bình cách kinh thành sáu mươi dặm, anh đi hai tháng trời mà chẳng thấy tin tức gì. Chị phải nhờ người đi hỏi thăm, thì có người nói là: "Nội tướng(1) đưa anh về nhà hầu hạ". Có người lại nói: "Anh đi ra ngoài chặt củi, chắc là bị bắt đi rồi". Và sau đó cũng không biết tin tức gì về anh nữa. Trần Đại Thư bỏ tiền ra bảo anh đi tìm nhưng cũng không thấy. Suốt một năm trời, Trần Đại Thư phải ở vậy một mình.
Xem bói khắp mọi nơi,
Ngày về vẫn mờ mịt
Đêm đêm phòng lạnh lẽo,
Đèn soi bóng lẻ loi.
(1) Nội tướng: Hàn lâm sĩ (ND).
 
Lúc ấy có một người tên là Nguyễn Lương, người Kim Hoa, trạc hai bốn hai nhăm tuổi, kết nghĩa anh em với Trần Nhất, thường năng lui tới nhà họ Trần, hắn cũng là người không tốt, luôn luôn chòng ghẹo Đại Thư. Song cô là người đứng đắn, nên cứ mặc xác hắn. Nguyễn Lương thường nói: "Chồng cô Thư lâu nay chẳng thấy tin tức gì, hình như không còn nữa, cô còn trẻ, chẳng khác gì một đóa hoa, đừng vì anh ấy mà lỡ cả một đời, thôi thì phải biết tùy thời". Lão Trần là một người sống yên phận, nói:
- Đàn bà đã có chồng, ai người ta còn lấy? Ta bỗng chốc gả cho người khác, nếu chồng nó có sống trở về kiện lên quan, thì có mà nhừ đòn.
- Nếu em nó muốn lấy chồng, - Nguyễn Lương nói, - thì tôi quen nha môn, xin cho nó thì sợ gì anh ta.
Trần Đại Thư nói:
- Ta ăn của anh, thì ta vẫn thuộc về anh, lấy người khác làm sao được!
Phiêu dạt gặp nhau nên chồng vợ,
Nhà tranh vách nứa có gái ngoan.
Hơn một tháng sau, bỗng thấy hai người tới, người đi sau mặc áo xanh chít khăn vuông, đeo kính, cổ quấn một chiếc thừng. Chúng chẳng nói chẳng rằng trói ngay lão Trần giải tới nha môn, giam liền trong năm ngày. Trần Nhất hoảng sợ không dám xuất đầu lộ diện, nhờ người hỏi dò thì đó là một thư lại bộ binh làm văn thư giả có dấu giả, hắn nói là Lão Trần mua cho hắn. Người có tiền thì quan trong triều cho sống, không có tiền thì họ bắt phải chết. Hoàng thượng biết rõ tệ nạn này, lão Trần tuy vô can, song không thể tha ngay được.
Phép quan thật thảm khốc,
Quan độc ác như hổ.
Dù có phép thần thông,
Cũng không sao thoát khổ.
Nguyễn Lương tới nói:
- Việc này không phải chỉ có một mình ông Trần chịu oan. Nếu có tiền thì có thể cứu thoát. Ta xem ra Vương Tứ là một người có nhiều mưu kế. Anh ấy hỏi Đại Thư về làm thiếp. Nếu anh gả em gái cho anh ấy thì tôi đoán chắc ông Trần sẽ được tha.
Đang lúc sốt ruột nấu gan, Trương thị nói:
- Lại là thằng Vương Tứ! Trời còn có mắt, thế nào ông Trần cũng được tha.
Trần Đại Thư nguýt mắt lườm Nguyễn Lương, nói:
- Ta không lấy hắn! Ngươi đừng có nhúng vào.
Nguyễn Lương cười nói:
- Đại Thư cô đi đêm không kiếm được người đâu.
- Cút! Ngươi cút đi! - Trần Đại Thư giận dữ nói. - Từ nay trở đi ngươi đừng đến đây mà nói bậy nữa.
Bị mắng như tát nước, Nguyễn Lương ê mặt bỏ đi. Vừa được mấy bước thì gặp ngay Vương Tứ. Hắn hỏi:
- Anh Nguyễn đi đâu thế?
Nguyễn Lương nói lấy lòng:
- Hôm nay tốt ngày, nhưng tôi lại bị con đĩ già mồm nó chửi.
- Bị con dâm phụ nào chửi thế? Nó dám xúc phạm đến người anh em của ta. Ta phải vặt lông nó cho hả giận. - Hắn kéo Nguyên Lương đi rồi nói tiếp. - Nó là mụ góa nào thế?
- Không phải mụ góa, mà là con Trần Đại Thư, nó không nhận sự nâng đỡ của tôi. Tôi nói với nó rằng chồng cô biệt tích, đừng tự giam hãm mình, thôi thì ta làm mối lấy anh Vương Tứ, để anh ấy nghĩ cách cứu cha cô. Thế mà con dâm phụ ấy không thấy được lòng tốt của tôi, trái lại nó chửi toáng lên, không cho tới nhà nó nữa. Ngay như Trần Nhất, tuy không thân thiết bằng anh, nhưng về tiếng cũng là anh em kết nghĩa, thế mà anh ta cũng không ngăn cản, mặc cho nó chửi bới tôi.
- Thôi đừng bực bõ nữa, - Vương Tứ nói, - hãy thư thả đến nhà tôi uống rượu đã.
Tìm được rượu ngon do bợm rượu,
Vứt bỏ rượu tồi cũng do anh.
Ngươi bảo ta trừ ngay phiền não,

Ta lại lo dễ nổi can qua.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 EmptyFri May 09, 2014 1:41 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 25 (B)
Tới nhà, Vương Tứ gọi mang rượu ra, rồi đặt lên bàn một bát xương hầm, một đĩa thịt gà rán, một đĩa dạ dày xào và một hũ guốc lủi. Đang uống rượu thì Vương Tam đến, Vương Tứ kéo Vương Tam cùng ngồi. Nguyễn Lương vừa uống rượu vừa nói:
- Thật đáng ghét, mẹ con Trần Đại Thư không nghe lời tôi.
- Trần Đại Thư cứ thách cao đá nặng như thế, nhất định ta sẽ hành cho một trận. - Vương Tứ nói.
- Tôi cũng phải trị nó mới hả giận. - Nguyễn Lương nói.
- Nó không chịu lấy chúng ta, - Vương Tam nói, - thì trị nó làm sao được?
- Người ta thường nói: "Người đẹp gan to bằng trời, rượu vào thì gan người ta còn to hơn cả trời".
Vương Tam nghĩ một lát nói:
- Thừa lúc mẹ con Trần Nhất vắng nhà, cứ bắt nó về nhà tha hồ mà dùng.
- Anh Tứ, một mình ta không trị được nó.
Vương Tứ, một tên lỗ mãng, ngẩm nghĩ một lát, nói:
- Ta có một kế, chặt đứt gốc rễ, làm cho gia đình nó không còn ai; là chiếm được Đại Thư.
Song hắn chỉ ghé sát vào tai Nguyễn Lương nói mấy câu gì đó rồi hắn nói:
- Tối mai ta sẽ dùng ngươi, xong việc ta cho hai mươi lạng bạc ròng, để cho ngươi lấy một cô vợ đẹp.
Sau đó Vương Tứ khe khẽ nói với Vương Tam, Vương Tam nói:
- Như thế thì tàn ác quá.
Uống rượu xong chúng ra về.
Ba tên đã quyết,
Coi tiền bằng vung.
Ai ngờ uống rượu,
Nghĩ cách hành hung.
Hôm sau là ngày mồng năm tháng Hai, mẹ con nhà họ Trần buồn rầu vì vụ án chưa kết thúc, không có cách nào cứu lão Trần. Nguyễn Lương bước vào, nói:
- Tối qua tôi uống mấy chén rượu suông nói năng bừa bãi, hôm nay tôi đến xin lỗi.
Trần Đại Thư thấy thế cũng mặc xác hắn, ngồi quay mặt đi. Trần Nhất nói:
- Đã là anh em, thì lần sau đi lại cần nói năng thận trọng.
- Đại Thư trách tôi, mà mẹ cũng vẫn còn giận tôi. - Nguyễn Lương nói. - Thôi thì tôi với anh đi làm mấy chén.
- Thôi, thôi, tôi không đi đâu. - Trần Nhất nói.
Thế rồi Nguyễn Lương cứ lôi Trần Nhất đi. Đúng là:
Thú vui chưa thấy ba chén rượu,
Trượng phu mắc bẫy khó lòng ra.
Đi một lúc lâu, chừng chưa tới canh một, Trương thị nghĩ: “Đến đêm rồi mà sao chưa thấy Trần Nhất về!?". Thì thấy Nguyễn Lương hớt hơ hớt hải mang tới một chiếc áo dài bằng vải xanh đã cũ mà Trần Nhất mặc lúc đi khỏi nhà, nói:
- Tôi và Trần Nhất uống rượu xong, vừa ra khỏi cửa thì gặp lão Trương Trọc Đầu, Trần Nhất nói là lão còn nợ một số bạc. Một người thì đòi, một người thì bảo là không có. Hai bên đánh nhau. Trần Nhất đưa cho tôi chiếc áo này mang về làm tin, bảo bà mau mau tới cứu anh ấy.
- Tôi đã có thai tám tháng, - Trương thị nói, - người nặng nề đi lại khó khăn.
- Đúng lúc đang cần một người to béo như bà, thì người ta mới sợ. Nhất định bà phải đi, tôi dìu bà là được rồi.
Hắn vừa nói vừa lôi bà ra khỏi cửa. Trần Đại Thư không biết là chuyện gì, nghĩ đây là sự chẳng lành. Nào ngờ Nguyễn Lương mời Trần Nhất đi uống rượu, khi trời sắp tối, đi qua xưởng làm đồ gốm, Nguyễn Lương nói:
- Trong xưởng có một ổ gái điếm, nhân đây tôi với anh vào xem một chút.
Thế rồi Nguyễn Lương cứ lôi tuột đi. Tới dốc núi, không có một bóng người, Trần Nhất không đề phòng, Vương Tứ cầm hòn gạch đập vào thái dương. Trần Nhất ngã gục. Vương Tam, Nguyễn Lương đá bồi thêm mấy phát. Trần Nhất tắt thở.
Đúng là:
Ba hổ vồ một dê.
Tính mạng khó bảo toàn.
Nguyễn Lương lột ngay chiếc áo xanh để đánh lừa Trương thị. Tới nơi, thấy xác con nằm gục bên vệ đường, Trương thị đang cúi xuống nhìn, thì ba tên hung thủ cùng lúc ra tay giết chết Trương thị.
Quỷ kế tìm hoan lạc,
Điên loạn gây tội thêm.
Thương cho mẹ con họ,
Chết gục bên vệ đường.
Nguyễn Lương nói:
- Bây giờ thì Đại Thư chẳng ai giữ được nữa, chúng ta cùng đi thôi.
Bọn chúng lột lấy chiếc quần lụa của Trương thị. Nguyễn Lương mang chiếc quần ấy đến nhà họ Trần. Trần Đại Thư đang thẫn thờ ngồi trên giường, một mình với ngọn đèn ngóng chờ tin tức. Đột nhiên thấy Nguyễn Lương tới, nói:
- Mẹ cô đi, đánh nhau với Trương Trọc Đầu bị hắn đẩy ngã, ngất xỉu. Tôi cầm chiếc quần này về làm tin, cô phải đi ngay.
Thế rồi hắn lôi Đại Thư đi. Trần Đại Thư nói:
- Tôi đi cũng không có sổ sách gì cả.
Thế rồi lại thấy một người nữa vào, cùng lôi với Nguyễn Lương, nói:
- Đi đi thôi.
Đại Thư hoảng hốt, kêu lên, Nguyễn Lương vội chộp lấy một con dao trên bàn, nói:
- Mày kêu tao giết chết!
Tên kia bịt mồm Đại Thư, lại có một tên nữa chạy vào tắt phụt đèn. Nguyễn Lương đè Trần Đại Thư xuống giường. Hai đứa kia giữ chặt lấy hai tay, Nguyễn Lương xé tuột quần áo lót của chị rồi hành sự đầu tiên.
Hoa rừng thơm ngan ngát,
Thấm đượm cả hang sâu.
Bướm ong bay loạn xạ,
Điên cuồng thả sức châm.
Trần Đại Thư không giãy giụa, không kêu lên được. Nguyễn Lương cứ mặc sức hãm hiếp. Vừa xong, lại một tên khác nói:
- Con đĩ dâm loạn, mấy lần tao xin cưới mà mày không nghe, hôm nay mày đã sa vào tay tao. Hắn hãm hiếp càng hung bạo. Trần Đại Thư đành phải chịu đựng, cô nghĩ: "Thằng này nhất định là Vương Tứ rồi". Lại một lúc lâu đứa bên cạnh nói:
- Mày đã thỏa mãn, hãy bỏ nó ra cho tao.
Thằng thứ hai buông ra, thì thằng thứ ba chồm tới, song nó vô tình buông tay bịt miệng cô ra. Trần Đại Thư vội kêu lên:
- Làng người ơi! Cứu tôi với! Có đứa đến cướp của hãm hiếp người.
Thấy kêu, thằng ấy buông ra. Trần Đại Thư bò dậy, thế là bọn chúng, đứa đẩy đứa lôi cô ra khỏi phòng. Một thằng trong bọn chúng tháo lấy chiếc dây bằng chỉ đỏ màu hồng đào mà cô dùng để thắt quần lót. Chúng lôi cô ra tới con hẻm nhỏ thì có người nghe thấy tiếng kêu, mở cửa chạy ra. Ba tên này bỏ Đại Thư lại, rồi hò nhau chạy.
Bướm ong điên loạn làm xơ xác,
Tan tác hương thơm mất mấy phần.
Tuần đêm cưỡi ngựa đi dò xét,
Một cành còn lại cũng là may.
Trần Đại Thư định thần lại, mặc quần áo rồi kể lại cho mọi người về nổi khổ của mình. Rất may lúc ấy Bả Bài và hai người nữa đi tuần tra đêm, sau họ là hai người mang đèn lồng đốt bằng dầu trám. Họ len lỏi vào những con đường vắng vẻ và nhìn thấy hai người như say rượu, nằm gục bên dốc núi. Ông hét to:
- Hãy mau mau gọi người cùng với ta cứu họ tỉnh lại.
Tới nơi thì đó là hai xác người không biết kẻ nào đã giết chết. Họ vội vàng gọi ngay người địa phương tới. Qua ánh đèn, một người trong số họ nói:
- Người đàn ông này hình như là Trần Nhất, người ở trước lò gốm.
Viên tuần đêm sai giải người ấy đi gọi người nhà. Tới nơi thì Trần Đại Thư nói là anh và mẹ cô bị lừa, không biết bây giờ thế nào. Nghe sai nha nói đã bị đánh chết bên dốc núi trước lò gốm, cô khóc toáng lên.
Hận số hồng nhan bạc mệnh,
Khiến người ruột thịt chết oan.
Cô khóa cửa rồi cùng mấy người hàng xóm tới gặp Bả Bài. Cô nói là đầu tiên anh cô bị Nguyễn Lương lừa đi uống rượu. Sau đó Nguyễn Lương lại trở về nói là anh cô cãi nhau rồi lại lừa mẹ cô đi, không biết vì sao bị đánh chết. Sau đó vào lúc canh ba, còn có hai đứa đến cưỡng dâm. Nghe ra thì một trong số đó là Vương Tứ. Hai đứa cưỡng dâm xong thì cô la lên gọi hàng xóm. Thế là chúng bỏ chạy. Bả Bài lập tức sai chức trách các làng lân cận cùng với Phiên kỳ truy bắt, náo loạn suốt một đêm. Tới nhà Vương Tứ thì hắn đã chạy trốn, họ bắt ngay những người thân thích của Vương Tứ truy hỏi đến cùng. Đến ngày thứ ba thì bắt được. Vì án mạng quá lớn, nên mặc dù phe cánh của hắn đông cũng không thể bao che được. Oan hồn cứ vây riết lấy hắn, nên hắn không sao thoát nổi.
Lòng trời thật nghiêm khắc,
Phép vua chẳng dung tha.
Đáng đời bọn gian ác,
Không thoát khỏi nhà pha.
Ba tên này đã đệ trình lời khai. Bả Bài căn cứ vào lời khai của Trần Đại Thư, bèn thẩm vấn từng tên một, sau đó ông hạ lệnh cùng kẹp tra tấn. Việc giết người này Vương Tứ là chủ mưu, Nguyễn Lương và Vương Tam là kẻ tiếp uy. Về hành dâm thì đầu tiên là Nguyễn Lương, sau đó Vương Tứ, Vương Tam chưa kịp hành dâm. Về việc đánh chết Trần Nhất, thì đầu tiên Vương Tứ đánh đòn hiểm khiến Trần Nhất hấp hối, sau đó là Nguyễn Lương và Vương Tam. Về việc đánh Trương thị thì đầu tiên Nguyễn Lương đá vào bụng, sau đó Vương Tứ, Vương Tam đá chết hẳn. Về việc cưỡng dâm Trần Đại Thư thì Nguyễn Lương là người cầm dao dọa, cởi quần đẩy chị ngã. Vương Tứ kéo tay trái, bịt mồm. Vương Tứ thổi tắt đèn, đè tay phải. Tất cả chúng đều khai ra hết.
Thuỷ Hoàng sáng suốt,
Hạ Vũ thần thông.
Gian tà ác độc,
Chẳng thoát tay ông.
Trông coi việc tuần tra là Mã thái giám, xem bản cáo trạng, thấy rằng việc giết người, cưỡng dâm đều là trọng tội. Trương thị có mang tám tháng, mẹ chết sẽ dẫn đến con chết, tuy không phải là trực tiếp đánh chết, nhưng đứa bé chết trong bụng mẹ là do chúng gây ra. Việc khám nghiệm đã thấy rõ ràng. Ông làm tờ trình về việc giết hại ba nhân mạng này lên bộ Hình. Bộ Hình phê khép vào trọng tội. Bọn tấn thân thấy thế rất run sợ. Những cử nhân thì đến tám chín phần mười là bất lực. Phàm là những vụ án do Vệ đề doanh tấu lên, không dám làm trái ý. Kế sách tốt nhất của họ là xác nhận đó là trọng tội để giữ thân. Bản án ghép vào tội giết ba nhân mạng thì bộ Hình cũng phải kết án là giết ba người, và khép Vương Tứ vào tội lăng trì, Nguyễn Lương, Vương Tam phải xử trảm ngay.
Khi sớ dâng lên hoàng đế, rất may hoàng đế là người rất thận trọng nghiêm minh, cho rằng cái thai trong bụng đã là người rồi, nhưng chưa đẻ thì không thể coi là ba nhân mạng, bèn giao cho bộ Hình định tội lại. Lần trước bộ Hình theo bộ Doanh, lần này bộ Hình theo ý chỉ của hoàng thượng, không dám ghép vào tội giết ba nhân mạng. Vương Tứ, Nguyễn Lương, Vương Tam đều bị khép vào tội xử trảm. Nguyễn Lương bị kẹp và bị tra tấn, đã chết tại bộ Hình. Tuân theo chiếu chỉ của hoàng thượng: Vương Tứ phải trảm đầu ngay, Nguyễn Lương thì phải đâm chết, Vương Tam thì chờ đến mùa thu xử quyết.
Cho Trần Đại Thư về. Văn thư phòng sao chiếu chỉ gửi tới Hình Khoa, Hình Khoa đóng dấu, Hiệu úy tới bộ Hình. Quan Cẩm y vệ trói phạm nhân lại, cùng với quan bộ Hình áp giải ra góc phía tây kinh thành. Khi ấy Đô sát viện đã ủy quyền cho quan ngự sử tại đó giám sát việc hành hình. Vương Tứ tới đó, dù có mười đầu sáu tay cũng không sao thoát được. Bọn vô lại hằng ngày cùng hắn rượu chè, vợ và hai thiếp của hắn cũng chỉ dương mắt nhìn hắn bị chặt đầu mà thôi.
Đừng nhỏ nước mắt nữa,
Hãy nghĩ đến lỗi lầm.
Kìa mẹ con Trần thị.
Cớ sao phải chết đâm.

Tóm lại Vương Tứ là tên độc ác đến cùng cực, trời đất chẳng dung tha, cho nên thần xui quỷ khiến thế nào mà lại gây ra cái trò độc ác ấy, khi cưỡng dâm lại để lộ ra tung tích. Trong thiên hạ liệu có kẻ giết hai mạng người mà không đền mạng không? Có kẻ cưỡng dâm mà không phát hiện ra không? Nếu như hôm ấy chúng giết cả ba mẹ con Trương thị, thì không biết đó là kẻ nào và vì thế sẽ liên lụy tới không ít những nhà hàng xóm. Nếu ba đứa ấy bắt Trần Đại Thư giấu một nơi rồi mặc sức hành dâm, thì mọi việc sẽ không bại lộ. Người ta sẽ cho rằng Trần Đại Thư cùng với bọn gian dâm mưu sát anh và mẹ rồi trốn đi. Thì đó cũng là một nghi án khó làm sáng tỏ. Cái ta đáng cười là nhà cao cửa rộng mà không ở, chăn gấm chịu hoa mà không nằm, nem công chả phượng cũng chỉ một miếng, quần là áo lượt cũng chỉ che được chiếu thân. Bọn chúng đã làm cạn kiệt cốt tủy, trở thành một chiếc đầu lâu khô chỉ vì sắc đẹp, làm thân trâu ngựa chỉ cốt để lại của cải cho con cháu. Chỉ vì thấy Trần Đại Thư mà hắn bỏ lại một vợ hai thiếp cho kẻ khác. Vì một vài chục lạng bạc, mà tính mạng mình không được bảo toàn, cuối cùng bị đâm chết. Cái bọn chúng được giờ đây không còn, mà bản thân đến nỗi như thế? Còn như chồng và cha của Đại Thư, người ta đều cho rằng đó là do âm mưu quỷ quyệt của Vương Tứ. Chồng Đại Thư mất tích. Cha Đại Thư vì thế mà được minh oan. Xem thế thì lòng dạ xảo trá có ích gì! Nếu như hằng ngày bọn gian dâm ấy nghĩ rằng, việc thành cũng chỉ được hoan lạc trong chốc lát, chẳng đáng kể gì. Nhưng việc không thành thì sẽ khuynh gia bại sản, bản thân cũng chết, sự khao khát cuồng nhiệt cũng sẽ trở thành băng giá. Đáng tiếc thay những người suy nghĩ thấu đáo ngày nay còn ít quá.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 EmptySat May 10, 2014 11:03 am

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 26
Hoàng Thượng Điên Liều Đoạt Ngai Vàng
Thuật Sĩ Ngu Nghĩ Bừa Mưu Phản
Người xưa thường nói: "Ai cũng có lòng trời, nhưng cái quý báu to lớn ấy khó mà giữ được”. Ngay như Lý Vệ Công, Trương Hồng Nhiễm anh hùng đến nhường nào, khi nhà Tùy mất, đám người xưng hùng xưng bá giành giật nhau, họ tự cho rằng giành thiên hạ dễ như trở bàn tay. Đến khi thấy Lý Thế Dân, người thì cúi đầu đi theo, người thì lẩn trốn ra hải ngoại. Lúc ấy Lý Mật cũng là một tay hào kiệt, chỉ vì không biết thời thế, không chịu hàng Đường, nên đã bị giết. Huống hồ là, khi thiên hạ đã thống nhất thái bình yên ổn, lại muốn khư khư giữ thói xấu xa nhòm ngó ngai vàng, thì chẳng khác nào trứng chọi đá, chỉ có tan nát mà thôi. Song lại có người nói, trời sinh ra, kẻ ngông cuồng, vô luận là thành công hay thất bại, thì lúc đẻ cũng có điềm lành. Người sinh ra có tướng mạo khác thường, lại được bọn người xằng bậy hùa vào, làm ra to chuyện.
Thời Đương Minh Hoàng, Tịnh Châu mục(1), ban đêm thấy phía đông nam có một luồng ánh sáng màu hồng, ông ta kinh ngạc nói: "Đây là khí tượng thiên tử". Hôm sau ông đi khắp nơi trong dân gian, thấy đứa trẻ nào vừa đẻ đều tới xem, nhưng không thấy đứa nào có tướng mạo khác thường. Sau đó ông kiểm tra trong quân lính, thì thấy một đứa bé mới sinh có tướng mạo khác thường. Viên châu mục ấy nói:
(1) Tịnh Châu mục: người đứng đầu Tịnh Châu. (ND)
- Đây là thiên tử giả.
- Đã là thiên tử giả, - những người cấp dưới nói, - thì hẳn sau này nhất định phản nghịch, sao không giết đi để trừ hậu họa?
- Thiên tử được sinh ra, - viên châu mục nói, - ai có thể giết được?
Các bạn có biết đứa bé ấy là ai không? Đấy chính là An Lộc Sơn, con nuôi Dương Quý Phi. Tương truyền An Lộc Sơn là Ma Diệt Vương chuyển kiếp, cho nên đã sát hại nhiều sinh linh, bức vua phải nhượng ngôi, sắp thành nghiệp lớn. Cuối cùng bị chết, cả họ diệt vong, mang tiếng là kẻ giặc. Nhưng do đã làm được chút ít sự nghiệp, chiếm được một số thành trì và đã từng một thời xưng đế. Còn Tế Bình Thành chẳng dựa dẫm vào đâu chỉ vì mặt vuông tai to, rồi tự cho mình là đế vương do trời sinh ra. Hắn kết bè kết đảng với bọn người vô lại, hòng chiếm giang sơn, song chưa khởi sự đã tự trói tay, chịu bắt. Vẫn chưa bằng Tề Vạn Niên, Tống Giang... một phen tung hoành ngang dọc, há chẳng đáng cười sao!
Thời Thành Hóa(1) ở huyện Dịch Châu, phủ Bảo Định, có một người Hầu, ông sinh được một người con trai tên là Trụ Nhi. Trụ Nhi ra đời đúng vào lúc nhà láng giềng dựng cột, cất nhà. Có một ông già nói:
(1) Thành Hóa: niên hiệu Hiến Tống thời Tống (1465 - 1487) (ND).
 
- Đúng là ngày tốt, sau này nó phải là người rường cột của quốc gia.
Thế là đặt tên nó là Trụ Nhi. Từ nhỏ Trụ Nhi ốm đau bệnh tật luôn, cha mẹ định cho nhà chùa, song vẫn chưa muốn. Lên sáu tuổi được bố mẹ cho đi học và đặt tên là Đắc Quyền, học rất sáng dạ. Không ngờ bố mẹ lần lượt qua đời, nó không còn nơi nương tựa, ông Kim một người hàng xóm, theo ý nguyện xưa kia của cha mẹ nó, bảo đưa nó tới chùa theo ý nguyện xưa kia của cha mẹ nó, bèn đưa nó tới chùa Quảng Thọ ở Lang Sơn làm hòa thượng, gọi là Minh Quả. Đầu cạo nhẵn thín, mặt vuông, tai to, trán rộng, mũi cao, quả là tướng mạo khác lạ. Khi ngoài hai mươi tuổi Minh Quả muốn tầm sư học đạo, khăn gói từ biệt sư trụ trì đi tìm danh sư có tiếng trong thiên hạ để học tập.
Nón tre xộc xệch trăng soi bóng,
Giày đi rách nát đẫm sương đêm.
Rửa bát thì tìm khe suối vắng,
Ngồi thiền thường tựa gốc cây rừng.
Ăn gió nằm sương, trải qua biết bao gian khổ, tới Thiếu Lâm Tự, Hà Nam. Đây là một ngôi chùa nổi tiếng, từng truyền dạy được nhiều võ sư thời Lương siêu thoát, và cũng là nơi các danh sĩ nổi tiếng trong thiên hạ thường lui tới. Minh Quả tới đây bái kiến sư trụ trì, vào phòng khách nghĩ chân. Hôm sau tới Phật đường thì thấy một người từ ngoài đi vào:
Râu phơ phất tiên phong đạo cốt,
Mắt long lanh như nước hồ thu.
Miếng liến thoắng thao thao bất tuyệt,
Phần lớn anh hùng lọt mắt xanh.
Người ấy nhìn Minh Quả nói:
- Tướng tốt.
Minh Quả vái chào, nói:
- Tiên sinh biết xem tướng sao?
- Cũng biết đôi chút, - đạo sĩ nói, - tôi chuyên xem tướng số.
- Xin mời tiên sinh tới phòng, - Minh Quả nói, - xem giùm số tôi tốt xấu thế nào?
Tới phòng, ông ta lấy ra một tờ giấy. Minh Quả bèn nói với ông ta về ngày sinh tháng đẻ của mình. ông ta múa bút viết tám chữ. Rồi lấy một lá số ông ta nhìn, rồi kinh ngạc nói:
- Hòa thượng, số ông tốt lắm. Phú quý tuyệt đỉnh, quyền uy vô song, là số của bậc đế vương, địa vị không dưới khanh tướng. Sau này sẽ có vợ có con, quý tới bậc đế vương, giàu tới mức có cả thiên hạ, mệnh và tướng đều hợp nhau. Chỉ có điều tới ngày đắc chí đừng quên Giang Chiêu hèn mọn này.
- Tiểu tăng nón tre bát gỗ, làm bạn với mây nước, mơ sao tới phú quý công danh. Tiên sinh đoán lầm rồi.
- Hòa thượng! - Giang Chiêu nói. - Thái Tổ Cao Hoàng Đế triều ta là người thế nào ông biết chứ? Ngài cũng từng là sư chùa Hoàng Giác, về sau lên ngôi báu. Hòa thượng cũng như thế, việc là do người định đoạt. Tôi đã từng xem số nhiều người, nhưng chưa từng thấy ai có số như thế này. Hơn nữa tôi đoán cho rất nhiều người nhưng chưa từng sai bao giờ.
Ta nghĩ rằng, những kẻ đi lang thang đoán số luôn luôn nói bậy để lừa người. Gặp thương nhân thì chúng nói là tiền ròng bạc chảy, gặp những kẻ nho sinh thì chúng bảo là sẽ đổ cử nhân tiến sĩ. Song không kẻ nào dám lấy ngôi hoàng đế để đoán cho người ta, gã Giang Chiêu này quả là kẻ điên rồ mất hết lương tâm. Song khi người ta được tâng bốc thì ai mà chả thích. Ngay đối với việc không thể làm được, lúc đầu thì kinh sợ nghĩ rằng làm gì có chuyện như thế. Nhưng sau lại nghĩ rằng: "Tại sao người ấy lại dễ dàng hứa với mình như thế, hay là có thật chăng?".
Ngựa đần vui mừng
Ngỡ mình tuấn mã.
Trong chuồng hí vang
Mơ ngoài ngàn dặm.
Minh Quả chăm chú nghe, mỉm cười nghĩ bụng: "Hoàng đế sao đến lượt mình, song ông này nói chắc rằng có duyên cớ gì đây". Chu Đạo Chân, cũng là một đạo sĩ ngồi bên cạnh lại nói bừa rằng:
- Nay thì vương chủ chân chính đã có rồi, người miền Bắc đều biết cả, ở trong sách chúng tôi cũng từng viết.
Nói xong Chu Đạo Chân lấy từ trong túi ra một cuốn sách, trong đó viết: "Thôn Khúc Giang, huyện Trường An, Thiểm Tây, nhà họ Lý ở Kim Bồn. Có một bà mẹ mang thai mười hai tháng, sinh đứa con trai là Tử Long, thấy trong nhà có một vầng ánh sáng màu hồng, bạch xà cuộn lấy đứa bé, lớn lên sẽ làm thiên tử".
Mọi người đều nhìn thấy. Đạo sĩ Chu nói:
- Nếu Lý Tử Long là bậc vương chủ, thì hòa thượng là mệnh công hầu.
Đạo sĩ Giang đứng dậy nói:
- Việc này có thể đoán bừa cho người ta sao? Nếu sau này không đúng thì tôi sẽ không làm thầy tướng nữa. Đăng cơ vào vận Sửu Tý, năm Thân Dậu. Phải tin ta Viên Liễu Trang một đạo sĩ chân chính.
Minh Quả hả hê sung sướng, mời hai người này vào quán đánh một bữa say túy lúy. Minh Quả hớn hở tự coi mình là Thái Tổ Cao Hoàng Đế. Giang Triều tự nhận mình là đạo sĩ chân chính. Chu Đạo Chân cũng tự coi mình là Lưu Bá Ôn.
Bọn điên khùng ngu dốt,
Mong phú quý giàu sang.
Cả người cùng hòa hợp,
Ai ngờ mắc vạ lây.
Hai thằng ngu đều nói: "Phú quý đừng quên", khiến Minh Quả thừa cơ mưu sự. Sau khi từ biệt, Minh Quả cứ nghĩ thầm trong bụng: "Theo Giang Triều nói thì ta là thiên tử, còn Chu đạo sĩ lại nói, chân mệnh thiên tử là Lý Tử Long. Nếu ta không nhận là Lý Tử Long thì chân mệnh không phải là ta ư? Cho dù Thái Tổ cũng phải nuôi tóc làm hoàng đế, ta cũng còn phải nuôi tóc đã. Trước tiên hòa thượng phải đi khất thực, sau đó búi tóc, giống như một hảo hán. Ở chùa Thiếu Lâm học một ít võ nghệ, rồi sẽ giao lưu với các hào kiệt. Đại thể là, phần lớn người dũng mãnh, trọng nghĩa khí, nhưng ít hiểu biết khi hứng lên họ không lường tính được việc ấy có nên làm không, có làm được hay không, làm được thì tốt hay xấu. Hoạn nạn thường liên quan với nhau, khó khăn nguy hiểm thường đến cùng một lúc. Chết vì người là trung, vì cha mà chết là hiếu. Việc này là đáng làm. Làm được là tốt, làm không được cũng chẳng sao. Nếu vì anh em bạn bè thì phải suy nghĩ: "Vì họ song có làm hại họ không? Và liệu vì họ không được mà ngược lại hại đến mình, làm cái việc xuống giếng cứu người thì có nên chăng? Việc đáng làm song việc ấy phải làm được, mà làm được là tốt". Điều ấy không phải vì khiếp sợ. Trong sách từng viết: "Kẻ thù của cha mẹ là không đội trời chung, kẻ thù của anh em, không thể quay mũi giáo trở lại". Điều ấy là có mức độ khác nhau.
Chính khí hẳn phải có,
Khách khí chưa chắc cần.
Khi tức giận bùng lên,
Suy nghĩ cần sáng suốt.
Nếu như một người thể hiện chí khí mà ngược đãi thân thuộc bạn bè, đánh bừa phủ quan, động một tí thượng cẳng chân hạ cẳng tay, kiện tụng hiếu thắng, điều đó không nên làm, không làm được, mà làm được cũng không tốt. Nói tới việc vì nghĩa hiệp mà đánh chết người, vì bất bình mà đánh chết người cũng là không cần thiết. Huống hồ là làm điều xấu, thậm chí mưu đồ những việc phận mình không đáng có. Hoặc là, mình đứng đầu kêu gọi tụ tập nhau. Hoặc là hùa theo kết bè kết đảng, mưu bá đồ vương, việc này không thể làm được, hoàn toàn làm không được, mà làm được thì cũng là kẻ phản nghịch, tội ấy không tha.
Nay thì đằng sau bọn phỉ lại có bọn lính trơn, đó là do chỉ biết tôn sùng sức mạnh không hiểu đạo lý. Không có cơ sở nào mà có cả thiên hạ, đó là Minh Thái Tổ hoàng đế. Không ngờ rằng, thời ấy người Nguyên từ Mông Cổ vào Trung Quốc. Tới Thuận đế thì hoang dâm bê trễ công việc triều chính. Hơn nữa họ lại dùng người Nguyên làm tri phủ tri huyện, không thấu hiểu dân tình, không biết vỗ về dân chúng, bởi thế lòng dân nổi loạn. Đầu tiên là một số kẻ tham dâm ngu dốt ra tay trước, làm loạn thiên hạ. Thời ấy dân chúng chịu sức ép của nạn binh đao, chỉ mong rằng không bị giết hại, không bị dâm ô. Lúc đầu những kẻ sĩ yêu thương dân lớp dưới mới xuất hiện. Bởi thế Minh Thái Tổ hoàng đế thuận theo lòng trời, đáp lại tiếng gọi của lòng người mà có được thiện hạ. Còn những kẻ khởi sự làm điều ác lại lâm vào cảnh không những mình bị chết mà cả họ cũng bị diệt.
Lòng trời luôn luôn thiên,
Ý dân theo đức nhân.
Ngang ngược bị diệt vong,
Thời loạn tự làm giặc.
Các bậc thánh nhân kế tiếp nhau, hoàn toàn không phải là thất đức. Trong số những quan lại cũng có người xấu, nhưng người tốt cũng nhiều. Không thể nói là bĩ cực thì sinh loạn, loạn đến cùng cực thì thịnh. Những người ngu si hung hãn, không hiểu được. Huống hồ là kẻ tiểu nhân lấy cái tham để cứu cái ngu, muốn làm bậc công hầu, bá của một nước, bèn kích động nơi này nơi khác, đánh lừa được một vài người ngông cuồng ngang ngược. Cũng có khi chúng quen biết nhau, cũng có khi là ngưu tầm ngưu mã tầm mã. Tại Châu Định hắn đã tập hợp được một số tên vô lại. Lý Tử Long nghĩ rằng đã có chút ít thế lực. Lúc ấy lại có một vài tên thầy bói không biết đoán số cho chính mình và cho người khác, đó là Hắc Sơn một tên đáng chém đầu, xem số cho Lý Tử Long và nói rằng: "Nếu gặp khỉ gà (năm giữa Thân - Dậu) và phượng hoàng giao phối ấy là đại mệnh". Song năm Thân Dậu sắp tới rồi, mưu việc lớn không thể trì hoãn được, Hắc Sơn luôn bên cạnh Lý Tử Long làm chủ mưu, dùng mệnh của Lý Tử Long đi mê hoặc xúi bẩy mọi người. Phàm là những người có thế lực dũng mãnh, những nhà giàu có hắn đều lân la tới đoán số, rằng họ là những người đáng làm quan to, hiểu hách một đời, để câu kết với họ. Bọn người vô học làm quan sao được, trừ phi lập được võ công, không ngờ bọn này đều mắc vào kế của hắn.
Ngu si và dốt nát,
Lại đòi làm quan to.
Quan to nào có được,
Chỉ mang vạ vào thân.
Lý Tử Long và Hắc Sơn bàn nhau rằng: "Mưu đồ đại sự phải cần người, tụ tập người phải có lương thực. Bên ngoài tuy có một số người, song cũng là bọn ô hợp khó mà cai quản được. Ta vẫn không có người giàu để làm chỗ dựa, một khi hành sự thì lấy đâu ra tiền. Nay cấm quân trong thành nhiều, ở đó cũng có nhiều hào kiệt, nếu trong bọn họ có nhiều người phù trợ, thì khí giới cũng không cần phải mua, nhà nào mà chẳng có cung tên đao súng. Bên trong nhiều người có máu mặt, những người này lại thích quyền lực, có thể lôi kéo được. Nếu lôi kéo được một số người, thì sợ gì không có tiền. Chúng quyết định phải vào kinh thành. Chúng lại được đạo sĩ Phương Thủ Chân, đây cũng là một kẻ không biết sống yên phận. Hắn nói:
- Trong kinh thành có Dương Đạo Tiên là thợ trong quân đội rất giàu có, phát lương hằng tháng, những lính nghèo trong kinh sư đều dựa vào ông ta, được ông ta chu cấp. Bởi thế quân sĩ đều biết ơn ông ta. Người vay mượn ông ta lại đông, hằng ngày xoay chuyển ứng phó, thợ ở khắp nơi rất thích giao du với ông ta, quả thật ông ta là một bậc hào kiệt.
Diều hâu có đầm cỏ,
Hổ báo có hang sâu.
Ở giữa nơi kinh thành, Đã gieo mầm tội ác.
Hắc Sơn nghe xong, nói:
- Chúc mừng, như thế là tốt lắm rồi. Thành công hoàn toàn do ông ta. Ông ấy quen biết với một số người trong quân ngũ. Chúng ta lo gì không có người, lại quen biết với những người giàu có thì chúng ta lo gì không có tiền. Bản thân ông ta là thợ trong quân lính thì làm ra vũ khí cũng chẳng khó khăn gì. Phải dựa vào ông ta thôi.
Vừa mới lôi kéo là bọn ngu xuẩn đáng chết này tụ tập lại ngay.
Dương Đạo Tiên thấy Lý Tử Long tướng mạo kỳ lạ. Hắc Sơn ra sức tán dương:
- Ông ấy là người cởi mở, độ lượng, rất có tài kinh bang tế thế.
Lý Tử Long lại hết lời khen ngợi Hắc Sơn là một thầy tướng kỳ tài độc nhất vô nhị trong thiên hạ. Dương Đạo Tiên bèn cầm ngay lá số của mình đưa cho Hắc Sơn. Hắc Sơn xem xong, nói:
- Đây là một vị nhân áo mão cân đai! So với ngài Lý Tử Long có kém một chút xíu. Đúng là ngài Hồng Tu(1) được gặp Lý Thế Dân(2). Sự nghiệp của ngài Lý Tử Long là do ngài Dương Đạo Tiên xây dựng nên. Công của ngài Dương do ngài Lý mà có được.
(1) Hồng Tu: Trương Thuyết thời Đường, râu dài (hồng tu) là một người dũng mãnh, có sức khỏe, bắn rất giỏi.
(2) Lý Thế Dân: Đường Thái Tông.
 
Lúc ấy Dương Đạo Tiên thấy tướng mạo của mình so với Lý Tử Long có kém chút ít, thì rõ ràng Lý Tử Long phải là bậc quân chủ, mà mình chỉ là người phò tá. Dương cười, nói:
- Tôi cũng nhờ vào ngài Lý.
Nói xong, Dương lấy lá số của vợ đưa cho Hắc Sơn xem, Hắc Sơn nói:
- Đây là một vị nhất phẩm phu nhân, số cũng tốt vào hàng đai ngọc. Điều ấy đã làm cho Dương Đạo Tiên hả hê sung sướng.
Nói tới công danh lòng tham muốn,
Tay vỗ kiếm rồng đã mấy phen.
Tài trí Hàn Bành đây chăng tá,
Nhớ lại phong hầu bá, tử, nam.
Dương Đạo Tiên giữ hai người này lại nhà. Quả là Đạo Tiên có quan hệ với một số người trong cung đình, song cũng không phải là những người thật sự hiển đạt, đó là Nội sử Bào Thạch, Thôi Hoằng, Trưởng tùy Thịnh Chí, Vương Giám, Thường Hạo, Tư thiết giám, Tả Thiết giám Chu Lương, Môn phó Mạc Kính. Thấy họ mặt vuông tai to, mũi sư tử, lông mày lưỡi mác, cũng là những người khác thường. Hắc Sơn lại thao thao bất tuyệt rồi lấy ra cuốn sách ma quái mà Chu Đạo Chân cho hắn, theo đó hắn vẽ ra mấy lá bùa, nói:
- Đeo là bùa này vào có thể tránh được mọi tai họa bệnh tật.
Dương Đạo Tiên lại khoác lác rằng:
- Ông Hắc còn có nhiều phép kỳ lạ như quạt thiết khiến cho thành trì đổ sụp, vạch đất thành sông, rắc gạo thành quân lính cắt cỏ thành ngựa, phi kiếm là rơi đầu quân địch.
Phàm là với những bậc hào kiệt thì nói về nghĩa khí; với những kẻ ngu si thì nói về phú quý lợi hại; với những kẻ không có tri thức thì nói những chuyện ma quỷ hoang đường; thì ai mà chả nghe theo. Bọn quan lại nhỏ trong cung đình đều không được học hành, không đọc sử sách. Những lời nói vô căn cứ ấy lôi kéo được họ, và ngay cả Phật cũng kính nể chúng. Hắc Sơn va Dương Đạo Tiên lại gắn cho Lý Tử Long một tôn hiệu, chúng nói:
- Lý Tử Long là Đức Phật Vương Như Lai cứu khổ cứu nạn trừ khử tai họa cho đời, chỉ chờ tới giữa những năm Thân Dậu sẽ đổi thay thiên hạ, vỗ về muôn dân. Nếu những dự định trước tiết lộ với những kẻ không tận tâm phù trợ, thì thiên thần sẽ tru diệt.
Những viên quan trong triều này, quả nhiên không dám truyền tin, mà chỉ riêng mình biết, tự đến bái kiến. Người nườm nượp, kẻ thì dâng áo quần yên ngựa, người thì dâng vàng bạc tiền nong. Tử Long vẫn khoác lác rằng:
- Những thứ bỏ đi này ta dùng làm gì? Nhưng thôi, các người cứ để đấy, để thử xem lòng trung thành của các người tới đâu.
Những quan lại trong triều, lúc đầu vẫn coi mình là khách, song sau đó lại gọi Tử Long là Đức Phật, là Thượng sư, và đều cúi lạy Tử Long. Hắn vẫn thản nhiên nhận mình như thế. Một hôm bọn Bào Thạch mời Tử Long vào trong thành chơi. Hắn tới một ngôi điện nhỏ ở Vạn Tuế Sơn, bên trên chỉ đặt một chiếc long sàng. Đi đường đã mệt mỏi, hắn thản nhiên như không, bước lên long sàng rồi ngồi xuống, nói:
- Ta đã có đài vàng bệ bạc, tòa sen bảo tọa, chứ đâu phải thứ này? Song chỉ vì do trời muốn cứu vớt sinh linh nơi trần thế nên trời đã đã sai ta xuống đây, thôi thì cũng chẳng lâu la gì, ta ngồi tạm cũng được.
Chim sâu đỗ cành cao, Giếc cạn tới Dao Trì,
Đâu phải nơi chúng ở,
Ngông cuồng chẳng nghĩ xa.
Những nội thần này nói:
- Chỉ nguyện Đức Phật ngồi vào bảo tọa là chúng con cũng như được lên thế giới cực lạc rồi. Hắn ngồi một lát sau đó ra khỏi hoàng thành. Ai ai trông thấy cũng cho rằng hắn thật xứng đáng, và còn quả quyết rằng Lý Tử Long có số làm thiên tử còn những thường dân thì bái phục đến sái cổ, từ đó ngày càng tôn kính và tin theo.
Lý Tử Long, Hắc Sơn và Dương Đạo Tiên bàn nhau rằng: "Trong và ngoài phối hợp với nhau là hai điều không thể thiếu được. Bên trong thì có nội thần, bên ngoài thì dựa các địa phương vùng Châu Định, những hào kiệt này quá xa, vậy phải có được một số võ quan trong kinh thành cùng một số cấm quân phù trợ mới tốt được". Họ nghĩ tới Vũ Lâm bách hộ Chu Quảng, là người thân của Bào Thạch. Tiểu Kỳ Vương Nguyên là người thân của Trịnh Trung, vậy bảo hai người này lôi kéo họ nhập bọn. Quả nhiên hai người ấy tới bái kiến Lý Tử Long và họ hứa rằng tới lúc lâm sự họ sẽ cho người tiếp ứng.
Trâm anh đời đời ăn lộc nước.
Dốc hết lòng trung với nước non.
Cớ sao cam lòng theo phản nghịch,

Để rồi di họa tới cháu con.
Về Đầu Trang Go down
https://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
Tri Âm Quán


Tổng số bài gửi : 6340
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Đoán Án Kỳ Quan - Page 6 EmptySat May 10, 2014 11:22 am

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 26 (B) Kết
Lúc ấy có một Ngự mã thái giám là Vĩ Hàm, tuy không ở Tư lễ giám, song rất thân cận với hoàng thượng, có quyền lực và giàu có. Bào Thạch vốn là thuộc cấp của ông ta. Vĩ Hàm ngẫu nhiên bị ốm, Bào Thạch đã đến xin một số bùa cho ông ta chữa bệnh, không ngờ bệnh khỏi. Viên thái giám ấy rất cảm động, mang tiền tới tạ ơn và mở tiệc mời Lý Tử Long. Thấy Lý Tử Long tướng mạo đàng hoàng chững chạc, Vĩ Hàm rất vui thích và từ đó thường đi lại với nhau.
Dương Đạo Tiên nói:
- Tốt rồi, ông ấy là người vừa có tiền vừa có thế lực, sự nghiệp của chúng ta phần lớn dựa vào ông ấy. Song ông này cũng có một chút hiểu biết, nên việc làm không được lộ liễu. Nếu đem việc này nói với ông ta, đây là việc mưu phản thì làm sao mà ông ta nghe theo. Hơn nữa, chúng ta mong phú quý, mà ông ta đã phú quý rồi thì làm sao ông ta dám làm việc mạo hiểm? Nếu một người không theo mà lộ ra thì sự nguy hại thật khó lường. Việc này phải dùng kế để lôi kéo ông ta.
Hắc Sơn nói:
- Ngài Dương rất giỏi mưu kế, ngài hãy tính kế đi.
Dương Đạo Tiên nghĩ một lát rồi nói:
- Nghĩ ra rồi. Ông ta có một người em là Vĩ Lão Nhị, một người ngu đần, chơi thân với Bào Thạch. Ông ta có một đứa con gái mười bảy tuổi, Vĩ thái giám nuôi từ hồi còn bé, cần phải tìm cho nó một tấm chồng. Song cô ta là tú tài, nên Vĩ Hàm không muốn gả cho những người phú quý bậc trung, và cũng không muốn kết hôn với võ quan. Ngoài ra những thương nhân và phú hộ Vĩ thái giám cũng không muốn gả. Thấy tướng mạo luôn luôn xuất chúng, thái giám rất kính trọng. Phải thuyết phục Vĩ Lão Nhị nói với thái giám. Nếu họ thông gia được với nhau, thì sướng khổ cùng nhau, lo gì Vĩ thái giám không theo.
- Nếu lấy vợ, - Lý Tử Long nói, - thì e rằng không phải là hành vi của Thượng sư.
- Chúng ta sẽ có cách nói để lay động ông ta. - Hắc Sơn nói.
Tưởng mình Lệ Thực Kỳ(1)
Uốn lưỡi Tề thành, hạ,
Giữa chừng gặp sự biến,
Đầu phải chui vạc dầu.
(1) Lệ Thực Kỳ (? - 203 trước CN), người Can Dương, Trần Lưu thời Hán, nhà nghèo làm lính gác cửa. Khi Lưu Bang tới Can Dương, hiến kế đánh thành Trần Lưu, được phong Quảng Dã Quân. Vì sau thuyết phục Tề vương là Điền Quảng theo Hán. Khi Hàn Tín theo kế Bàng Thống đánh Tề chiếm Lâm Tri, Điền Quảng cho rằng Lệ Thực Kỳ bán mình, bèn bỏ Thực Kỳ vào vạc dầu.
 
Đúng lúc ấy Bào Thạch tới, nói với Dương Đạo Tiên:
- Vĩ thái giám rất kính trọng thượng sư và cho rằng tướng mạo thượng sư không phải là người thường.
- Việc này rất may cho thái giám. - Hắc Sơn nói.
- Chỉ có điều gần đây thấy hơi lạ. - Dương Đạo Tiên nói. - Thượng sư bảo là: "Hoàng đế có phải dễ làm đâu, khi làm thật là phiền toái", hình như có ý không muốn làm hoàng đế. Tước công, hầu, bá sắp đến tay chúng ta rồi, nếu thượng sư thay đổi ý định, thì việc của chúng ta không thành. Ta muốn tiền tài và hưởng thụ thì Thượng sư cho rằng đó là cái bề ngoài hoàn toàn không quan tâm tới, cái đó không ràng buộc ngài được. Làm hoàng đế phải có hoàng hậu, tam cung lục viện, chúng ta phải dùng gái đẹp để giữ ngài lại. Mỹ nữ thuộc loại tà dâm, nhất định ngài không chịu. Trừ phi tìm cho ngài một chính cung phải tìm một người con gái có số đại phúc, và cần phải có một người làm hoàng thân quốc thích cũng không ai có con gái đẹp, cho nên rất lo.
- Thượng sư là Phật làm sao lấy vợ được? - Bào Thạch nói.
- Xưa kia Cưu Ma La Thập(1) là Phật, Tây Tần vương từng tặng ông mười cung nữ, hạnh một lần được hai đứa con trai, chuyện ấy đã có, ta e ngại gì nữa.
(1) Cửu Ma La Thập (344-413 sau CN), là một cao tăng thời Đông Tấn.
 
- Thế thì Vĩ thái giám có một người cháu gái, tướng mạo rất phúc hậu, - Bào Thạch nói, - Vĩ thái giám lại rất kính trọng Thượng sư, trước hết ta nói qua với Vĩ Lão Nhị để Vĩ Lão Nhị nói việc này với Vĩ thái giám.
Chim sâu sánh chim phượng,
Chép, mè muốn cưới rồng.
Tưởng rằng dưới mái tranh,
Nến hồng huy hoàng chiếu.
Hắc Sơn nói:
- Vĩ thái giám tuy kính trọng Thượng sư, song việc sắp tới của chúng ta không thể nói với ông ấy được. Chỉ nói là Thượng sư là người có quý tướng, hôm nào đó thái giám giúp ông ấy một chút, văn quan cũng phải làm tới trung thư thuộc phẩm hàm khanh, mà võ quan thì cầm chắc là làm tới chức cẩm chỉ huy. Cứ nói thế thôi.
Bào Thạch nói:
- Tôi sẽ nói y như các ông.
Khi Bào Thạch nói với Vĩ Lão Nhị thì Vĩ Lão Nhị nói:
- Việc này là tùy ở Vĩ thái giám.
Khi Vĩ Lão Nhị nói thì Vĩ thái giám chẳng hỏi han gì đến lai lịch của Lý Tử Long mà nói:
- Người này tướng mạo khác thường, nếu dựa vào ta thì ông ấy thiếu gì áo mão. Cháu cũng đã lớn rồi, ta cũng chẳng kể gì đến lễ vật, thôi thì gả cho ông ta.
Sau đó dựng cho Lý Tử Long một ngôi nhà ở ngoài cửa Đông Hoa, và chuẩn bị hàng ngàn lạng vàng làm của hồi môn, chọn ngày lành tháng tốt làm lễ cưới.
Lau sậy lướt theo dòng,
Thỉnh thoang lai vãng tới
Bao giờ sen bừng nở,
Lã lướt ở bên mình.
Ban đầu Dương Đạo Tiên biết lai lịch của gả côn đồ này, đến nay lại là thân thích của thái giám. Hằng ngày Lý Tử Long nghênh ngang xe ngựa, mũ cao áo thụng sai khiến kẻ hầu người hạ, giao lưu với mọi người. Ta nghĩ rằng một gã tiểu nhân nghèo kiết xác làm hòa thượng, vô gia cư, đi khắp nơi khất thực, nay đã có vợ có tiền của tha hồ sử dụng, ấy thế mà không biết dừng lại. Song dù hắn có dừng lại thì những kẻ mưu đồ vinh hoa phú quý cũng không muốn dừng. Người này dẫn người đến bái kiến, người kia móc nối người đến nhập bọn. Lòng dạ của những kẻ không biết thế nào là đủ, cứ nóng lòng sốt ruột nghĩ rằng năm Thân - Dậu cũng không muốn từ chối những người này. Bởi thế sự việc này dần dần lộ ra.
Lúc ấy có cẩm y vệ hiệu úy là Tôn Hiền, ở bên cạnh là một người lính nghèo là Cam Hiếu. Người này nghèo rớt mồng tơi cả nhà ăn đói mặc rét. Người vợ cứ thường trách móc anh ta, Cam Hiếu nói:
- Thôi đừng cắn rứt ta, chỉ chịu đựng vài ba tháng nữa thôi, ta theo ông ấy cũng kiếm được chức trăm hộ, được hàm chính thất phẩm, thì chúng ta tha hồ mà chi dùng. Hãy kiên nhẫn chờ đợi một chút nữa.
Tôn Hiền nghe thấy, ngày hôm sau nói với anh ta rằng:
- Anh Cam có chỗ nào tốt thế? Nói giúp cho tôi với.
- Ông giúp tôi được chứ làm sao mà tôi giúp được ông.
- Anh ạ, thuyền đông không ngại bến hẹp. Nếu tôi được chỗ tốt thì đâu dám quên ơn anh.
Biết rằng Cam Hiếu thích rượu, đến tối Tôn Hiền mua rượu và thức nhắm mời Cam Hiếu, nhờ Cam Hiếu dẫn đường chỉ lối. Uống được mấy chén thì Cam Hiếu chỉ trời vạch đất nói:
- Tôi không giúp nổi ông đâu, ở đấy chỉ có Lý thượng sư mới giúp được ông thôi. Thế nào ngày mai tôi cũng đưa ông tới bái yết ngài, chắc chắn ông sẽ có chỗ tốt.
Rượu vào lời ra,
Cơ mưu bại lộ.
Lời đã nói rồi,
Ngựa sao đuổi kịp.
Sáng sớm hôm sau Tôn Hiền đến tìm Cam Hiếu không sao nuốt lời được, chần chừ thêm mấy ngày nữa cuối cùng đành phải dẫn Tôn Hiền đến bái kiến Lý Tử Long. Tôn Hiền rập đầu thề rằng:
- Thề sẽ đồng tâm hiệp lực phù trợ Thượng sư cứu vớt sinh linh không hề thoái lui. Nếu một dạ đối lòng thì kiếm chém dứt đầu, cả nhà bị diệt.
Thề xong Tôn Hiền nhập bọn, trước hết theo dõi những người lai vãng, rồi nhớ thật kỹ. Sau đó xem xét khắp nơi, biết rằng đây là việc mưu phản, đã định vào giờ Thân - Dậu năm Ất Dậu, trong đánh ra, ngoài đánh vào chiếm đoạt kinh thành.
Lúc ấy Vĩ thái giám đang định tiến cử Lý Tử Long làm trung thư, rồi bảo với Vĩ Lão Nhị, Vĩ Lão Nhị nói:
- Ông ạ, ông ấy muốn làm to cơ, chứ không muốn cái chức lẹp nhẹp ấy đâu?
- Thế ông ấy muốn quan gì? - Vĩ thái giám nói.
- Ông ấy muốn chức sai khiến quan cơ. - Vĩ Lão Nhị hạ giọng nói tiếp. - Mệnh và tướng mạo đều khớp nhau, đáng là chân mệnh thiên tử. Bên ngoài đã sắp xếp xong xuôi rồi, bên trong cũng có người rồi, còn muốn anh giúp đỡ một chút. Việc thành anh không những là quốc thích mà còn là công thần.
Nghe xong thái giám thét lên một tiếng.
Cầu lưỡi không thể hạ,
M