Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang
Chào bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang!
Diễn Đàn là nơi giao lưu kết bạn, sưu tầm, lưu trữ, học hỏi và chia sẻ kiến thức.
Để cùng nhau tiến bộ trên con đường hướng thiện.
Chúc bạn sức khỏe và có nhiều thành công mới trong cuộc sống!

Om mani pad me hum
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang

Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho; một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tạo lấy.
 
Trang ChínhTrang Chính    CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Chào mừng các bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang! Chúc các bạn sức khỏe và thành đạt! Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang.

Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này
Share | 
 

 ***Mật tông***

Go down 
Tác giảThông điệp
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5933
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: ***Mật tông***   Tue Aug 06, 2013 9:54 am

Mật tông

Mật tông còn gọi là Mật giáo, là một nhánh của Phật giáo Tây Tạng. Mật tông cũng chủ
trương sự tự giác ngộ thông qua việc thiền định và niệm thần chú. Mật tông được ba vị cao tăng Ấn Độ là Thiện Vô Úy (subhākarasimha, 637 - 735)
, Kim Cương Trí (vajrabodhi, 663 - 723) và Bất Không Kim Cương (amoghavajra, 705 - 774) đưa vào Trung Quốc trong thế kỷ VIII. 

Thiện Vô Úy được phong làm Quốc sư, là người dịch Đại Nhật kinh ra tiếng Hán, một bộ kinh căn bản của tông này. Bất Không Kim Cương dịch các Chân ngôn[40] và Đà-la-ni[41] của bộ kinh đó.

Các yếu tố quan trọng của Mật tông là phép niệm Chân ngôn, phép bắt Ấn[42] và sử
dụng Mạn-đồ-la[43] cũng như các lần Quán đỉnh[44]. Mật tông là giáo pháp mà sư phụ truyền cho học trò bằng lời (khẩu quyết) và đó là lí do vì sao Mật tông không được truyền bá rộng rãi.

Sự truyền thừa của Mật tông tại Trung Quốc đơn giản hơn các tông phái khác. Tuy vậy,
tông này rất được các triều vua Đường như Huyền Tông[45], Túc Tông[46] và Đại Tông[47] ủug hộ. 

Ngài Bất Không rất được ba đời vua này trọng đãi. Các công trình phiên dịch kinh điển
Mật tông được tiến hành với quy mô đồ sộ. Theo sử Phật giáo Trung Quốc, Ngài Bất Không cùng với các Ngài Cưu Ma La Thập, Chân Đế và Huyền Trang được coi là “bốn nhà đại phiên dịch” của Phật giáo Trung Quốc. 

Không những trong Phật giáo mà Mật tông còn ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực trong nền văn hóa truyền thống Trung Quốc như điêu khắc, hội họa... Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng của nạn phế Phật cuối đời Đường nên Mật tông Trung Quốc suy yếu nghiêm trọng. 

Sau khi Bất Không mất, Mật tông suy tàn vì không có vị đạo sư nào từ Ấn Độ sang nữa.


Trường phái này được Đại sư Không Hải (774-835) đưa qua Nhật Bản dưới cái tên Chân
ngôn tông, là một trong những tông phái quan trọng của nền Phật giáo Nhật Bản. 

Không Hải là môn đệ của Đại sư Huệ Quả, một môn đệ của Bất Không.

.........................................................

[40] Chân ngôn (mantra): hoặc Chân âm, phiên âm sang tiếng Hán là Mạn-đát-la, dịch ý là Chú, Minh, Thần chú, Mật ngôn, Mật ngữ, Mật hiệu, hoặc có thể đọc thẳng âm tiếng Phạn là Mantra, có nghĩa là “lời nói chân thật”, là biểu hiện của chân như. Chân ngôn có thể là một câu chú, hay một Đà-la-ni ngắn. 

Lời nói huyền nhiệm chứa đựng năng lực đưa đến kết quả siêu nhiên hay thế tục. Vốn xuất phát từ đạo Bà-la-môn của Ấn Độ, Chân ngôn có thể là một âm tiết, một chữ
hoặc câu kệ được tiết lộ cho những vị Thấu nhị trong lúc thiền định. 

Trong Phật giáo, người ta cho rằng Chân ngôn chứa đựng sức mạnh đặc biệt của vũ trụ hoặc biểu hiện của một khía cạnh nào đó của Phật tính. Trong nhiều trường phái, Chân ngôn hay được lặp lại trong các buổi tu tập hành trì đặc biệt trong Kim cương thừa ở Tây Tạng. 

Ở đây, Chân ngôn trở thành phương tiện trợ giúp tâm thức hành giả. Trong ba ải “thân, khẩu, ý” thì chân ngôn thuộc về khẩu và tác động thông qua âm thanh rung động do sự tụng niệm Chân ngôn phát sinh. 

Hành giả thường vừa đọc Chân ngôn vừa quán trưởng một đối tượng và tay giữ một ấn nhất định như các bài thành tựu pháp (sādhana) chỉ dẫn


[41] Đà-la-ni (dhāranī): là câu kinh ngắn mang sức mạnh siêu nhiên. Đà-la-ni có thể là đoạn kết của một bộ kinh, cũng có thể đại diện một trạng thái tâm thức để khi hành giả niệm đến, có thể đạt đến tâm thức đó Thông thường Đà-la-ni dài hơn Man-tra


[42] Ấn (mudrā): là một dấu hiệu thân thể trong Phật giáo và Ấn Độ giáo. Trong tranh tượng, các đức Phật thường được trình bày với một kiểu tay đặc biệt, vừa là một cử chỉ tự nhiên, vừa là một dấu hiệu của Phật tính. 

Trong Đại thừa, các Thủ ấn chỉ các ấn nơi tay, đều tương ứng với các ý nghĩa đặc biệt, đối lập với Khế ấn là những tư thế khác nhau như cầm ngọc, tọa thiền... Đặc
biệt, trong các tông phái như Thiên Thai tông, Kim cương thừa, các ấn này thường đi đôi với Mantra. Ngoài ra, các ấn này giúp hành giả chứng được các cấp tâm thức nội tại, bằng cách giữ vững những vị trí thân thể nhất định và tạo mối liên hệ giữa hành giả với các vị Phật hoặc Đạo sư trong lúc hành trì một Thành tựu pháp


[43] Man-đa-la (mandala): là một khái niệm quan trọng trong Phật giáo Tây Tạng và Kim cương thừa. Đó là biểu tượng của vũ trụ và lực lượng trong vũ trụ diễn tả bằng những tranh vẽ. Người ta sử dụng Man-đa-la để tập trung thiền định, là xuất phát điểm của nhiều phương pháp Quán đỉnh. 

Tại Tây Tạng, người ta hiểu Man-đa-la là “trung tâm và ngoại vi”, là cơ sở để hiện tượng hợp nhất với bản thể. Vì vậy, trong một Man-đa-la, người ta thường thấy vô số cảnh vật, hình tượng khác nhau, nhưng chúng nằm trong một tranh vẽ duy nhất với thứ tự trên dưới rõ rệt.

Trong Kim cương thừa, Man-đa-la không chỉ là đối tượng thiền quán mà còn là bàn thờ để thiền giả bày biện các lễ vật bày pháp khí. Tuy nhiên, muốn làm được như vậy, hành giả phải được một vị đại sư thừa nhận và cho phép thực hiện Nghi quỹ đó. 

Mỗi Man-đa-la đều nhắm đến một vị Phật nhất định và vì thế lễ vật hay pháp khí đều phải phù hợp. 

Kim cương thừa xem mọi thứ đều có thể là Man-đa-la, từ thế giới ngoại cảnh đến chính bản thân hay tâm thức mình. Theo truyền thống, người ta xem Man-đa-la là một lâu đài hình vuông có bốn cửa nhìn ra bốn phía


[44] Quán đỉnh (abhiseka): là một nghi thức tôn giáo trong những buổi lễ long trọng. Trong Kim cương thừa, danh từ Quán đỉnh được dùng chỉ những nghi lễ, trong đó đạo sư cho phép đệ tử tu tập một Tan-tra. Vì vậy, trong Phật giáo tây Tạng người ta hay sử dụng danh từ “Truyền lực”


[45] Đường Huyền Tông (685 - 762): làm vua từ năm 712 - 756

[46] Đường Túc Tông (711 - 762): làm vua từ năm 756 - 762

[47] Đường Đại Tông (726 - 779): làm vua từ năm 762 - 779




http://www.facebook.com/triam.quan.1

flower

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Lời cuối cùng của Milarepa    Fri Aug 16, 2013 11:01 am

Lời cuối cùng của Milarepa 
Trích: SƯ TỬ TUYẾT BỜM XANH
Nguyên tác: Surya Das
Nguyễn Tường Bách dịch

Jetsun Milarepa(1) là một vị tăng phiêu bồng nổi tiếng nhất Tây Tạng, đồng thời là một du ca. Ngài sống cách đây khoảng chín trăm năm trong một hang đá ở Hi mã Lạp sơn và đặt những bài ca kệ một cách bất ngờ, không suy nghĩ, người đời sau viết lại thành sách và ngày nay, trong thế kỉ 20, sách này đã được in ra nhiều thứ tiếng, để lại cho chúng ta.

Tương truyền rằng, Milarepa là người đạt giác ngộ hoàn toàn chỉ trong một đời làm người, và bằng cách tu tập thiền định trong một cuộc sống độc cư hàng chục năm trời.

Trong thời gian tu tập Ngài sống bằng một loại rau mọc hoang, ví vậy da Ngài mang màu xanh. Vì lẽ đó mà học trò ngài, bên cạnh những cái tên tôn quý tặng Ngài, còn gọi là ‘tu sĩ màu xanh’.

Đạo sư của Milarepa có tên là Marpa(2), một nhà tiên tri nổi tiếng, đã từng thiền định mười bảy năm tại Ấn Độ và là người mang giáo pháp ‘Đại Pháp Ấn ‘ từ Ấn Độ qua Tây Tạng. Một trong những học trò giỏi nhất của Milarepa là Gampopa(3) mà câu chuyện sau đây kể về ông. 

Gampopa là một y sĩ và đã là một Lạt-ma thông thái. Một ngày kia, ông bỗng thấy linh ảnh của một vị tăng sỹ màu xanh, tóc tai rối bù. Trong ảnh đó, vị tăng sỹ nhìn ông cười, mắt sáng long lanh và nhổ nước bọt vào mặt ông.

Không bao lâu sau đó, Gampopa bắt đầu du phương, đó là một điều mà các vị Lạt-ma thỉnh thoảng vẫn làm. Trên đường đi, ông bị lạc vào một vùng hẻo lánh của Hi mã Lạp sơn và quả nhiên gặp một người có da màu xanh, trông rất ốm yếu.

Gampopa đi từ từ đến vị tăng sĩ ở trần, chắp tay chào hỏi, đó là người đầu tiên ông gặp sau mấy ngày đi lạc.

Milarepa nhếch mép cười khi thấy Gampopa ngần ngừ bước vào. Không nói gì cả, Milarepa đưa cho Gampopa một cái sọ người đựng đầy tràn một loại bia và yêu cầu Gampopa uống hết, theo cách của Mật giáo bày tỏ phép tâm truyền tâm giữa thầy và trò. Gampopa từ chối không uống, ông không thể uống rượu vì giới luật không cho phép. Milarepa cười lớn, giống như trong linh ảnh đã hiện, và nói ngay rằng, theo học một vị Phật đang hiện tiền tốt hơn bám giữ vào một giới luật. Ngay tại chỗ, Gampopa uống cạn một hơi. Sau đó Gampopa nhìn vào mắt Milarepa và nhận ra rằng, linh ảnh đã biến thành sự thật: vị tăng sĩ giác ngộ này xem như đã nhổ vào mặt ông và đã trao truyền năng lực cho kẻ thông thái nhưng chưa thực sự thức tỉnh đó. Cũng trong phút đó, Mirarepa biết đã tìm ra truyền nhân của mình.

Sau đó, Gampopa ở lại với thầy mình nhiều năm, tu tập thiền định và nghe giảng pháp. Một ngày kia, Milarepa cho hay Gampopa đã chín, đã tới lúc rời thầy ra đi. Tới ngày từ giã thầy và xa thầy mãi mãi, Gampopa quì dưới chân Milarepa, để cho vị đạo sư để hai chân lên đầu mình và nhận một luồng chân khí, nhờ đó Gampopa đạt được tâm thức đại viên cảnh chí của Phật.

Sau buổi lễ này, Gampopa xin thầy cho một lời nhắn nhủ cuối cùng. Milarepa nhún vai và nói: “ngồi thiền thì ngươi còn phải ngồi nhiều và thường xuyên, còn học thì tuyệt đối không còn gì để học nữa”.

Sau đó, Milarepa không nói gì nữa. Gampopa xuống núi, vừa đi qua khởi một con suối thì nghe phía sau Milarepa kêu réo: “ta còn một lời dạy cuối cùng”, tiếng kêu lẫn trong tiếng suối reo. “và lời này thật sự là bí mật và thâm sâu, riêng giành chỉ dạy cho những bậc xuất sắc nhất trong giới thượng căn”.

Gampopa yên lặng nín thở, tim đập thình thình. Milarepa quay lưng lại, vén váy lên và cho Gampopa thấy mông đít đã đóng thành sẹo sau nhiều năm ngồi trên đá. “lời dạy cuối cùng của ta đây hãy nhớ”. -Milarepa kêu to.

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Bài ca của Milarepa cho Dharmabodhi ở Nepal   Fri Aug 16, 2013 11:06 am

Bài ca của Milarepa cho Dharmabodhi ở Nepal

Người có thế nhìn tâm mình mà không phân tán

Không cần thiết phải lầm bầm hay tán gẫu

Người có thể hòa nhập với tính giác của mình

Không cần thiết phải ngồi cứng ngắc như một bộ xương

Nếu người đó biết bản tính của mọi hình tướng

Tám thói quen thế gian sẽ tự mình tan biến

Nếu không có ham muốn hay ghét bỏ trong tim

Người đó không cần phải phô trương hay giả tạo

Đại giác ngộ của Bồ Đề tâm,

Siêu vượt cả Niết bản và sinh tử,

Không bao giờ đạt được bằng tìm kiếm và mong cầu.







Dịch bởi Rangxi Sangbo

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Thần chú cầu được ước thấy   Fri Aug 16, 2013 11:09 am

Thần chú cầu được ước thấy 

Nhờ học Pháp, mà bạn hiểu được pháp; 
Nhờ học Pháp, bạn chấm dứt gây tội; 
Nhờ học Pháp, bạn từ bỏ những cái vô nghĩa; 
Nhờ học Pháp, bạn đạt đến Niết bàn. 



Om mani pad me hum....



Học là ngọn đèn
Xua tan bóng đêm
Là tài sản quý nhất
Trộm không đoạt được.
Là khí giới đánh bại kẻ thù -
Sự ngu tối về mọi sự.
Học là bạn tốt nhất
Dạy cho bạn các phương tiện;
Là một người quyến thuộc
Không bỏ bạn khi bạn nghèo.
Là phương thuốc giải sầu
Không làm hại bạn.
Là đạo quân công việc tốt
Phái đi dẹp giặc tà hạnh
Là vốn tối thượng của danh tiếng và vinh quang.
Không gì quý hơn là có học
Khi bạn gặp những người giỏi.
Bạn sẽ cảm kích những học giả
Trong bất cứ hội chúng nào.
Sự học như ngọn đèn xua tan bóng tối vô minh.

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: MẬT TÔNG VẤN ĐÁP   Fri Aug 16, 2013 12:10 pm

Nguyện cưỡi thuyền Pháp Nhẫn
Nguyện vào biển Luân Hồi
Làm vô biên Phật sự
Cứu độ hết chúng sanh,
Đang trầm luân sanh tử.

LỜI TỰA

Thế kỷ 21 là bước vào thời kỳ phát triển tâm linh của nhân loại trên trái đất. Các tôn giáo sẽ phải làm tròn sứ mạng của mình trong việc dẫn dắt con người tiến hóa vào giai đoạn này. Trong vườn hoa muôn màu của các tôn giáo hiện nay, Phật giáo đã đóng góp một phần không nhỏ.

Từ lâu, trong Phật giáo có những pháp môn mật truyền được trao dạy cho các đạo hữu nhưng không được quảng bá nhiều vì chưa đúng thời kỳ của nó.

Gần đây, theo với đà tiến hóa của nhân loại, cũng có nhiều pháp môn được đưa ra để thích ứng với nhu cầu đòi hỏi của tâm linh và có nhiều tôn giáo đã phải tìm cách hiện đại hóa tín ngưỡng của mình.

Phật giáo đã từ lâu hướng dẫn hàng tỉ con người đi vào con đường giải thoát mọi khổ đau trong kiếp sống, để biến trái đất này thành một thiên đàng hạ giới. Và Phật giáo quan niệm rằng, nếu ta không tìm được thiên đàng ngay trong cuộc sống này thì việc đi tìm một thiên đàng khác trên một cõi giới nào đó chỉ là mong chuyện xa vời, không tưởng. Phật giáo chú trọng vào việc xây dựng ngay con người đích thực để tìm nơi mình một sự tự do thực sự. Sự tự do đó có được là vì cởi bỏ được những ràng buộc phức tạp trong cái xã hội đang quay cuồng phát triển về vật chất hiện thời. Trên chiều hướng đó, Mật môn của Phật giáo là phương tiện thích hợp có thể đáp ứng được nhu cầu thời đại. Sau hai mươi năm tìm học và hành trì về pháp môn này, tôi đã nhận ra được điều đó.

Ngày nay bên thế giới Tây phương đang hướng về Đông phương để đi vào con đường phát triển tâm linh. Việc này đã được xác chứng qua hai thập niên gần đây về sự hoằng dương của Lạt ma giáo Tây Tạng cùng khắp Châu Âu và Châu Mỹ, mà Lạt ma giáo lại là một ngành của Phật giáo chuyên về khai triển các pháp môn mật truyền.

Đối với Việt Nam ta, Mật tông đã thịnh hành từ đời Đinh, Lê, nhưng rồi sau đó chìm sâu vào dòng tiến hóa của Đạo pháp, cho đến ngày nay gần như thất truyền. Giờ đây, mỗi khi nói đến Mật Tông thì đối với phần đông Phật tử gần như xa lạ và chẳng hiểu gì về môn phái này. Thậm chí có những người tự nhận là tu Mật, nhưng đã không hiểu rõ lý Mật và cũng chẳng có chút kiến thức nào, dù là rất nhỏ về Mật Tông nữa. Cũng vì vậy mà một số lớn Phật tử đã coi Mật Tông như một ngành chuyên về bùa phép, cầu phước, giáng họa, sai phái quỷ thần, trừ khử tà ma, dị đoan mê tín. Nếu hiểu một cách phiến hiện như vậy thì thật là oan cho Mật Tông quá!

Thật ra Mật Tông là một hướng đi gồm nhiều pháp môn chuyên tu giải thoát, với những phương tiện thiện xảo, có thể đưa hành giả đạt được những quả vị lớn hay nhỏ, chắc chắn thành tựu ngay trong hiện kiếp này.

Chúng tôi, sau một thời gian nghiên cứu và tu học đã thấy được cái xâu xa và cao vời của pháp môn này, rồi càng vào thì càng thấy được những hoa thơm cỏ lạ trong khu rừng cấm mà xưa nay ít người đặt chân vào đó.

Hôm nay, trên tinh thần thấy miếng bánh ngon muốn chia phần cho các bạn, tôi đã không quản tài sơ, trí thiển mà viết ra đây một số câu vấn đáp nhằm mục đích giới thiệu với các bạn có duyên với Mật môn về một ngành học của Phật giáo mà ít người biết rõ.

Tập sách này tuy mỏng nhưng tương đối đầy đủ và cô đọng, có thể nói lên được “Thế nào là Mật Tông”, người tu mật đứng ở vị trí của mình sẽ phải nhìn đời thế nào, cũng hành xử làm sao.

Đây chỉ là cuốn sách đầu tiên trong tủ sách Mật mà chúng tôi giới thiệu cùng quí vị. Rồi đây chúng tôi sẽ lần lượt trình bày một số vấn đề chuyên biệt, một vài pháp môn trong Mật giáo với nghi thức hành trì để giúp quí vị làm quen với Mật.

Chúng tôi nghĩ rằng sự đóng góp nhỏ bé của mình chắc chắn có nhiều thiếu sót, xin chân thành kính mong các bậc cao minh tha thứ và vui lòng chỉ dạy cho.

Chúng tôi xin hồi hướng công đức này về Nhất Thiết Trí cùng Pháp giới chúng sanh. Nguyện cho chúng hữu tình sớm thành chánh giác.

Nam Mô Tỳ Lô Giá Na Phật

MẬT NGHIÊM

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Mật tông***   Fri Aug 16, 2013 12:12 pm

CỬA MỞ

Cửa MẬT GIÁO ngày hôm nay đã mở,
Không khoa trương, không giới thiệu ồn ào.
Ai có duyên thì xin cứ bước vào,
Vườn hoa lạ chờ đón chào lữ khách.
Đến với mật phải là người trong sạch,
Tâm bao la và chẳng thấy còn TA.
Vũ trụ đây ấy mới thật là nhà,
Và vạn vật ấy mới là bạn hữu.
Con đường mật là con đường Vĩnh Cửu,
“Bản bất sanh” bừng sáng tự nơi Tâm.
Đến và đi đều lặng lẽ âm thầm,
Làm Phật sự không thấy mình trong đó.
Cũng chẳng thấy chúng sinh muôn vật có,
Vì duyên sanh nên vô ngại lâu rồi
Bởi người đời chấp trước đó mà thôi,
Nên mãi mãi luân hồi trong biển khổ,
Cửa Mật Giáo ngày hôm nay đã mở,
Rộng thênh thang đường thất bảo rõ ràng,
Chuyển mục thân thành Phật chẳng mơ màng.
Cứ tiến bước chẳng bàng hoàng sợ sệt.
Đường luân hồi chúng ta đi đã mệt,
Hãy dừng chân và quyết định ngừng thân.
Đừng mê trần và cuộc sống phù vân,
Phải chuyển hóa để chở về thể tánh.
Đừng đem trí thế gian ra so sánh,
Đường Mật thừa rực rỡ ánh hào quang.
Bước ngay đi đừng lúng túng ngỡ ngàng,
Chỉ một bước là qua ngay bến giác.
Cửa giải thoát là KHÔNG VÔ TƯỚNG TÁC,
Là vượt trên cả thiện ác bình thường.
Là trở về ngay cuộc sống miên trường.
Nhập vũ trụ thật bao la bát ngát.
Đến nhân thế với lời ca tiếng hát,
Khi đi rồi mà tiếng hát còn vang.
Thế nhân ơi! Sao chìm đắm mơ màng…

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Mật tông***   Fri Aug 16, 2013 12:15 pm

PHẦN I
MẬT TÔNG LÀ GÌ?

Hỏi: Mật Tông là gì?

Đáp: Mật Tông là một tông phái của Đạo Phật dùng các “MẬT NGỮ” của chư Phật làm phương tiện tu hành.

Hỏi: MẬT NGỮ là gì?

Đáp: Mật ngữ có nghĩa là “lời nói kín”. Mật ngữ còn gọi là “Chân ngôn” (lời nói chân thật). Mật ngữ còn gọi là “Chú”, đây là tiếng thông thường người đời hay dùng nhất.

Chú cũng có nghĩa là lời nói bí mật.

Hỏi:Tại sao nói là bí mật?

Đáp: - Bí mật vì nó không được giải nghĩa.
- Bí mật vì chỉ có chư Phật mới hiểu trọn vẹn.
- Bí mật vì tùy trình độ, căn cơ và sự ứng dụng mà mỗi người một khác, đạt một kết quả khác.
- Bí mật vì nó chỉ được thông đạt qua Tâm truyền Tâm, giữa thầy trò, giữa chư Phật (hoặc người nói ra chân ngôn) với hành giả. Điều này chỉ người nào tu Mật rồi mới chứng nghiệm được).
- Bí mật vì kết quả đạt được tùy Tâm hành giả.

Hỏi: Tại sao lại dùng “Chú” làm phương tiện tu hành?

Đáp: Tu theo đạo Phật có rất nhiều cách để đi tới “cứu cánh giải thoát”, có người niệm Phật, có người tụng kinh, có người ngồi Thiền, vậy thì dùng “Chú” cũng chỉ là mượn xe đi đến đích mà thôi.

Hỏi: Tại sao lại chọn “Chú” mà không dùng các cách niệm Phật, tụng kinh?

Đáp: Trong một cuộc hành trình muốn đi tới một điểm nào đó, người ta thường thích chọn xe nào đi cho nhanh và thỏa mái. Vậy thì việc chọn “Chú” mà không dùng các phương tiện khác là như thế.

Hỏi: Tại sao lại nói dùng “Chú” là phương tiện đi nhanh?

Đáp: Vì dùng “Chú” thì ngoài “tự lực” của mình còn nhờ “tha lực”, giống như đi thuyền biết trương buồm nên nhờ được gió đẩy mà đi nhanh hơn.

Hỏi: Thế nào là “tự lực” và “tha lực”?

Đáp: “Tự lực” là dựa vào sức của chính mình mà thành việc. “Tha lực” là nhờ vào sức khác ở ngoài mình trợ giúp. Người tu Mật Tông nói đến tha lực là nói đến sức hỗ trợ vô hình từ các cõi xuất thế gian đưa đến.

Hỏi: Tại sao lại phải nhờ vào tha lực?

Đáp: Bởi vì sức người có hạn mà sức ngoài thì vô hạn, nếu ta biết nương vào sức đó thì sẽ giúp ta sớm đạt kết quả.

Hỏi: Nhờ đâu ta có tha lực hỗ trợ?

Đáp: Nhờ ở chân ngôn tức “Chú”.

Hỏi: Căn cứ vào đâu mà nói “Chú” có tha lực giúp ta mau thành tựu?

Đáp: Điều này thuộc về bí mật, mà chỉ có thể chứng minh được bằng:

- Đức tin của mình,
- Sự chứng nghiệm, và
- Cảm nhận.

Kết quả chỉ được chứng minh khi đã hành trì.

Hỏi: “Chú” do đâu mà có?

Đáp: “Chú” do TÂM Phật mà có. “Chú” do lòng thương xót chúng sinh mà có. Chư Phật, chư Bồ tát hoặc các vị khác khởi từ tâm chân thật, từ lòng thương xót chúng sinh mà nói ra “Chú” để cứu độ. Vì “Chú” phát xuất từ TÂM CHÂN THẬT nên mới gọi là “Chân ngôn”.

Hỏi: Đọc “Chú” có lợi ích gì?

Đáp: Vì “Chú” xuất phát từ chỗ vô hạn là Tâm Phật nên lợi ích của nó cũng vô cùng, không thể kể hết. Tuy nhiên, đối với người tu thì lợi ích đứng đắn và thiết thực nhất là: “Chú” giúp ta được tìm cầu giải thoát mau chóng và giúp người khác cùng tiến với ta. Còn các lợi ích khác như có thần thông, trừ tà ma, chữa bệnh chỉ là phụ, không nên nhìn “Chú” bằng con mắt hạn hẹp đó.

Hỏi: Những ai đọc “Chú” được?

Đáp: “Chú” là phương tiện của Phật cho mượn nên ai mà chẳng có quyền đọc. Tuy nhiên khi ta mượn một cái xe thì điều cần thiết là ta có biết sử dụng nó hay không. Nếu không thì xe sẽ trở thành một trở ngại, một khó khăn cho ta, làm cho ta dừng lại với xe mà không tiến được trên đường Đạo. Bởi vậy, những người biết lái xe, hiểu bệnh của xe, phải là những người được huấn luyện chuyên môn. Do đó đọc “Chú” thì ai cũng có thể đọc được, nhưng có kết quả hay không, nhiều hay ít, đó mới là vấn đề, ấy là chưa nói đến cái hại có thể đến nữa.

Nói thế không hẳn là chỉ những người tu chân ngôn mới được đọc “Chú” mà bất cứ ai nếu với tâm thành thật, hướng đến sự tốt lành cho mình, cho người, vẫn có thể dùng “Chú” mà vẫn thấy linh nghiệm.

Hỏi: Đọc “Chú” đòi hỏi những điều kiện gì?

Đáp: Đương nhiên là cần một số điều kiện. Thông thường ta phải có:

- Sự tin tưởng vững chắc vào “Chú”,
- Lòng thành khẩn khi đọc,
- Hướng về làm lợi ích cho tha nhân hay các chúng sanh.

Đối với người tu Mật Tông thì còn cần nhiều điều khác nữa như:

- Phải xả thế nào.
- Phải dụng tâm ra sao
- Phải dụng ý thế nào
- Phải dụng lực làm sao
- Phải trì tụng thế nào trong bốn oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi.
- Phải làm thế nào Tam mật tương ứng
- Phải làm lợi ích cho chúng sanh thế nào, và
- Phải hồi hướng công đức ra sao.

Tất cả những điều đó, nói riêng cho người tu Mật, sẽ được giải đáp trong phần II, nói về người tu Mật Tông phải làm gì?

Hỏi: Khi nào nên đọc “Chú”, khi nào không nên đọc?

Đáp: Nên đọc những lúc tâm thanh tịnh, hướng về làm lợi lạc cho người khác, cho chúng sanh.

Tuy nhiên lúc Tâm rối loạn thì “Chú” cũng giúp cho tâm được an ổn. Không nên đọc “Chú” khi tâm ác, có ý hại người.

Đối với những người tu Mật Tông thì không lúc nào là không nên đọc “Chú”, vấn đề là nên đọc “Chú” nào và vào trường hợp nào để làm lợi lạc chúng sanh.

Hỏi: Đối với người tu Mật Tông thì việc trì “Chú” là gì?

Đáp: Mục đích tối hậu là giải thoát cho mình và để cứu độ người khác. Mục đích là phải tu thành Phật bằng phương tiện trì “Chú” ngay trong hiện kiếp này.

Hỏi: Muốn tu thành Phật bằng phương tiện trì “Chú” thì phải làm sao?

Đáp: Thì người hành giả tu Mật Tông phải thực hiện được “Tam Mật tương ưng”, nghĩa là làm sao cho “Thân, Khẩu, Ý giống như Phật”.

Hỏi: Làm thế nào để được “Tam Mật tương ưng”?

Đáp: Muốn được “Tam Mật tương ưng” thì phải qua một quá trình tu tập hành trì. Đi nhanh hay chậm là do sự tự ngộ và mở Tâm của mình.

Hỏi: Người tu Mật Tông đối với GIỚI, ĐỊNH, HUỆ như thế nào?

Đáp: Tu theo Phật đạo mà muốn thành tựu thì chẳng Tông Phái nào mà không có GIỚI – ĐINH - HUỆ cả.

Đối với Mật Tông, GIỚI là Tâm giới, tịnh giới. Như vậy có nghĩa là tự lòng mình thấy cần giữ giới, tự mình trở về với cái tịnh, cái sạch, đó là “thân tương ưng”, nếu không giới tịnh thì việc tu không kết quả. Khi đã giới rồi thì vào ĐỊNH chẳng khó, vì tự giữ giới đã sinh Định, rồi lại còn nương vào oai lực của chơn ngôn nữa thì kết quả phải đạt. Do Định đó mà Huệ phát là chuyện tất nhiên vậy. Tuy nhiên, nếu nhìn sâu hơn thì ĐỊNH HUỆ là một, không có rời nhau. Do đó, nếu giữ giới rồi sau đó nương vào chân ngôn mà hành trì thì tự nhiên đủ cả Định, Huệ.

Hỏi: Mật Tông thuộc Tiểu thừa hay Đại thừa?

Đáp: Phân chia Tiểu thừa, Đại thừa chỉ là tạm tách ra cho dễ hiểu về đường hướng tu tập và qua niệm hành trì mà thôi. Mật Tông không nằm trong thừa nào kể trên cả, mà đường đi của Mật Tông là con đường ngắn nhất, nhanh nhất, một bước đến giải thoát mà người ta gọi đó là “TỐI THƯỢNG THỪA”.

Hỏi: Thế nào là “Tối thượng thừa”?

Đáp: Tối thượng thừa là một bước đi lên “thành Phật”.

Tối thượng thừa là: vạn pháp thông đạt, vạn pháp đầy đủ, tâm vô cấu nhiễm, lìa các pháp tướng đi thẳng vào TÂM Phật.

Hỏi: Đường lối của Mật Tông ra sao?

Đáp: Đối với Mật Tông tu là để “cứu độ” chúng sinh chứ không phải là để “giải thoát” cho riêng mình. Do đó, đường lối của Mật tông là: ở mọi nơi, trong mọi lúc đều nhằm làm lợi lạc cho chúng sinh.

Hỏi: Mật Tông khác với các tông phái khác như thế nào?

Đáp: Về mục đích sau cùng của các tông phái đều đạt đến Giác ngộ giải thoát. Vậy thì Mật Tông cũng không đi ra ngoài mục đích đó, nếu có khác chăng chỉ khác trên phương diện hành trì đối với các Tông phái khác mà thôi, hay nói khác đi là chỉ khác nhau về cách dùng phương tiện để đạt đến mục đích “cứu cánh”. (Vấn đề này sẽ được bàn rộng hơn ở phần III nói về “Quan niệm của người tu Mật”). Còn về sự khác nhau trên phương diện độ sanh thì tôi không nói đến, vì tất cả đều “tùy duyên” mà đáp ứng.

Hỏi: Tu Mật Tông có khó không?

Đáp: Khó hay dễ là do mình. Các cụ thường nói “Vạn sự khởi đầu nan”, nghĩa là mọi việc khi bắt đầu đều khó, nhưng lúc quen rồi thì thấy dễ thôi.

Hỏi: Người nữ có tu được Mật Tông không?

Đáp: Đạo không phân chia nam, nữ. Phật không chọn nam, nữ để độ riêng. Vậy tại sao ta lại phân biệt? Đã là đi tìm giác ngộ thì già, trẻ, lớn, bé, trai gái gì mà không được!

Hỏi: Người ta thường nói “Tự Tu Tự Độ” vậy Mật Tông có như vậy không?

Đáp: Nên hiểu nghĩa “Tự Tu Tự Độ” là mình phải tự tu cho mình, không ai tu giùm hoặc tu mướn cho mình được, đừng hiểu là “tu không cần Thầy”. Các cụ đã dạy “Không thầy đố mày làm nên”. Vì vậy, dù là thế gian hay xuất thế gian, làm việc gì muốn đạt đến mục đích mau chóng và toàn mỹ thì đều phải có học và có Thầy cả. Mật Tông cũng như vậy thôi.

Hỏi: Người ta thường thấy đọc chú, bắt ấn cho là mê tín và hành tà giống như mấy ông thầy pháp. Vậy Mật Tông thì sao?

Đáp: Khi nào tin một cách mù quáng thì là mê tín thật, còn người tu Mật Tông thì biết rõ việc mình làm, thẩy rõ mục đích mình đi tới, vậy sao gọi là mê tín được.

Còn việc tà chánh thì phải hiểu là Đạo không có phân chia Tà, Chánh. Mà Tà hay Chánh là do TÂM ý người hành Đạo. Nếu ta tu theo Chánh đạo, nhưng ta dùng phương tiện đi làm việc xấu, cướp đoạt tiền bạc, vợ con của người, lòng đầy tham, sân, si, thì đó là ta hành tà. Còn nếu như thầy Pháp mà người ta làm việc cứu người không nghĩ đến lợi ích cá nhân, không hại người lành, ngăn chặn kẻ ác thì đó là chánh chớ đâu phải tà.

Về người tu Mật tông thì là “Tu để thành Phật” vậy tà làm sao được? Phật và Ma chỉ khác nhau ở lòng “Từ Bi Cứu Độ” mà “Từ Bi Cứu Độ” là tôn chỉ của Mật Tông đấy.

Hỏi: Tu Mật Tông có cần ăn chay giữ giới không?

Đáp: Nếu ăn chay được thì tốt, vừa ít bệnh tật lại mau tiến tu hơn, vì thân thể thanh tịnh. Còn như không ăn chay được thì cũng vẫn tu được, chỉ có điều là ta đã không thể hiện lòng từ bi của Phật, vì ta đã dùng thân mạng của một chúng sanh khác nuôi sống thân mạng của ta.

Về giữ giới thì người Phật tử nào đã quy y rồi thì đều phải giữ năm giới:

- Không sát sanh
- Không trộm cướp
- Không tà dâm
- Không nói sai, nói dối, nói đôi chiều, nói đâm thọc
- Không uống rượu.

Người tu Mật Tông cũng vậy thôi, và vấn đề này sẽ được bàn đến trong phần sau, khi nào người tu Mật Tông đã hành trì tự nhiên không nói đến giữ giới mà lại tự giữ giới hơn ai hết.

Hỏi: Biệt làm sao để chọn “Chú” nào mạnh, “Chú” nào yếu, “Chú” nào linh, “Chú” nào không?

Đáp: Mạnh hay yếu khi nào học và hành trì thì sẽ rõ, còn linh hay không là ở mình. Các cụ thường nói: “Linh tại ngã bất linh tại ngã” ta không nên quên điều đó.

Hỏi: Người Phật tử khi đọc kinh sách gặp một câu “Chú” thấy ghi những kết quả lớn nên đem trì tụng, như vậy có ích lợi gì không?

Đáp: Có lợi nhưng rất nhỏ nhoi, không đáng kể so với lợi ích đã ghi chép trong kinh sách.

Hỏi: Vì sao lợi ích lại nhỏ?

Đáp: - Vì lòng còn tham, muốn cầu lợi ích riêng mình,
- Vì tâm còn nhỏ hẹp nên sự linh ứng không lớn
- Vì không biết dùng “Chú” nên sự đáp ứng chẳng được như ý,
- Vì thiếu ấn pháp nên chưa trọn vẹn,
- Vì công đức chưa đủ mà lại muốn được thành tựu lớn.

Hỏi: Vì sao đọc “Chú” lại cần bắt ấn?

Đáp: Ấn là bí pháp thuộc về “thân mật”, khi nào tu lâu sẽ hiểu. Đại để có thể tạm giải thích: khi ta bắt ấn thì làm phát huy cái lực của “Chú”, cũng ví như mở đài, tivi mà có thêm cây ăngten vậy.

Đối với người tu Mật thì việc bắt ấn còn là một sự “thể nhập” vào pháp thân Phật nữa.

Hỏi: Tại sao người tu Mật Tông lại gọi là “Trì Chú”?

Đáp: Trì có nghĩa là nắm giữ lấy. Nếu ta chỉ đọc không thôi thì nó sẽ theo gió mà bay đi. Còn khi nói “Trì” thì phải nghe rõ “Chú” , phải theo âm thanh của “Chú” mãi mãi không rời. Đó là sự khác biệt giữa “ĐỌC” và “TRÌ”.

Hỏi: Trì chú, bắt ấn bao lâu thì có kết quả?

Đáp: Người tu Mật Tông nói đến “thành tựu” để cứu độ chúng sanh chớ không mong cầu kết quả cho mình. Còn thành tựu lâu hay mau, lớn hay nhỏ đều do ở mình, chỉ có hai điều chắc chắn cò thể nói được: Một là tu Mật Tông thì tiến từng giờ, từng ngày. Hai là đã tu thì sẽ có thành tựu, chỉ khác nhau ở chỗ lớn hay nhỏ mà thôi.

Hỏi: Thế nào là tiến từng ngày, từng giờ?

Đáp: Điều này thuộc về chứng nghiệm, chỉ khi nào tu mới thấy rõ được. Tuy nhiên có thể nói rằng nương vào chân ngôn, hành giả tiến được rất nhanh. Giờ sau khác giờ trước, ngày sau khác ngày trước.

Hỏi:Tại sao thành tựu lại khác nhau lớn hay nhỏ?

Đáp: Đối với một hành giả, thì sự thành tựu lớn hay nhỏ là do tâm mình. Còn nếu đem so sánh giữa hai hành giả tùy theo căn cơ, phước đức và sự mở tâm của mỗi người mà có sự khác biệt. Tuy nhiên, nếu gắng công tu để đạt được sự “tương ưng” thì cái thành tựu ban đầu nhỏ sau cũng sẽ lớn lên vô hạn. Do đó người hành giả đừng sợ là không thành tựu và cũng đừng buồn khi thành tựu nhỏ.

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Mật tông***   Fri Aug 16, 2013 12:18 pm

NGƯỜI TU MẬT PHẢI LÀM GÌ ?

Hỏi: Người tu Mật Tông phải làm gì?

Đáp: Người tu Mật Tông phải “vừa tu vừa cứu độ”. Thế có nghĩa là hàng ngày trong mọi lúc, ở mọi nơi đều phải nghĩ đến việc làm lợi lạc cho chúng sinh.

Hỏi: Thế nào là mọi lúc mọi nơi?

Đáp: Trong mọi lúc là khi ngủ cũng như khi thức, khi làm việc cũng như khi nghỉ ngơi, khi ăn cũng như khi uống… Tóm lại là bất cứ lúc nào.

Hỏi: Thế nào là ở mọi nơi?

Đáp: Ở mọi nơi có nghĩa là ở nhà cũng như khi ra đường lúc ngồi trên xe cũng như khi vào nhà quen, lúc đến công sở cũng như khi đi vào nhà thương… Tóm lại là trong mọi cuộc tiếp xúc hàng ngày.

Hỏi: Làm lợi lạc là thế nào?

Đáp: Làm lợi lạc có nghĩa là đem lại sự lợi ích và niềm an vui cho kẻ khác. Sự lợi ích và niềm an vui về tâm linh và tinh thần, đây là một điều mà chỉ có những người tu Mật Tông là có thể làm được.

Hỏi: Làm lợi lạc cách nào và bằng cái gì?

Đáp: Làm lợi lạc bằng cách “Chú nguyện”, dùng “Chân ngôi Chú pháp”. Đây là một hình thức bố thí có thể được xếp vào loại “Pháp thí”. Kinh Phật dạy: “Pháp thí cao hơn tài thí”, có nghĩa là cao hơn cho người ta tiền bạc. mà sự bố thí này lại là Ba la mật, nghĩa là tuyệt đỉnh, ở chỗ mình đem cho mà chẳng cần người được cho biết đến, và cũng không cần họ đền ơn.

Hỏi: Chúng sinh là ai?

Đáp: Chúng sinh đây phải hiểu theo nghĩa rộng, là mọi loài hữu tình cũng như vô tình ở trong thế gian cũng như ngoài thế gian. Tùy trường hợp, tùy hoàn cảnh mà cứu độ.

Hỏi: Như vậy thì việc chính của người tu Mật Tông là làm gì?

Đáp: Là cứu độ.

Lẽ dĩ nhiên người tu Mật Tông cũng phải lo cuộc sống hàng ngày như những người khác. Nhưng khác người thường ở chỗ vừa làm việc vừa tu, mà tu là “cứu độ”.

Sách có nói: “Những người tu Mật Tông là những người bình thường đi giữa cuộc đời, mang lý tưởng Bồ tát, trên tiếp thông với các bậc Giác Ngộ, dưới cứu giúp chúng sanh”.

Hỏi: Cứu độ thế nào?

Đáp: Cũng giống như người thường, trong những hoàn cảnh mà mình có khả năng giúp đỡ người khác, thì người tu Mật Tông không từ nan mà thật tình giúp đỡ một cách vô vị lợi. Có thể giúp bằng tài vật, bằng sức lực, trị bệnh… Nhưng khác người thường ở chỗ, kèm theo sự giúp đỡ đó, người tu Mật Tông dùng phương tiện mình có, đó là: “Nguyện lực và Chơn ngôn” cộng thêm vào nữa. Đây là sự giúp đỡ siêu hình, có ảnh hưởng tâm linh không nhỏ.

Thường thì nói “cứu độ”, đây là về mặt siêu hình nhiều hơn. Hay nói khác đi là dùng “Pháp thí” chứ không phải là “Tài thí”.

Hỏi: Xin nói rõ hơn và cho thí dụ.

Đáp: A. Thí dụ, khi cho tiền một người ăn xin, ngoài việc cho tiền, người tu Mật Tông còn phải chú nguyện:

- Để đồng tiền của mình và của những người khác bố thí giúp cho người hành khất đó no đủ, hết bệnh tật,
- Để cho người hành khất đó giải được nghiệp đi xin,
- Để cho những người cùng khổ như người hành khất này ở khắp mọi nơi đều được giải nghiệp…

B. Thí dụ đi thăm bệnh, thì ngoài việc biếu quà, hỏi thăm, an ủi người bệnh, người tu Mật Tông còn phải dùng phương tiện của mình để chú nguyện cho:

- Người bệnh được mau lành, được bình an,
- Giải bệnh căn, bệnh nghiệp cho người bệnh,
- Xin tăng thêm phước thọ cho người bệnh,
- Xin cho những người bệnh khác đều được qua khỏi…

C. Thí dụ đi ăn đám giỗ, ngoài những lễ nghi, quà cáp thông thường, người tu Mật Tông phải chú nguyện cho:

- Vong hồn người quá cố và những vong khác được siêu thoát,
- Các người sống đều được khỏe mạnh và bình an…

Tóm lại, trong mọi tiếp xúc, mọi nơi đều phải làm lợi cho người khác bằng phương tiện mình có. Lời nguyện thì tùy tâm của mỗi người, miễn sao nhắm đúng mục đích làm lợi cho người ta.

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: PHẦN III QUAN NIỆM CỦA NGƯỜI TU MẬT TÔNG   Fri Aug 16, 2013 12:29 pm

PHẦN III
QUAN NIỆM CỦA NGƯỜI TU MẬT TÔNG


Hỏi: Còn quan niệm của người tu Mật ra sao?

Đáp: Phần này trình bày về “cái nhìn” của người tu Mật với nhân sinh và vũ trụ. Điều này rất quan trọng, vì nó là mũi tên chỉ đường, và là cây gậy chống cho hành giả.

Hỏi: Thì cũng là nhân sinh quan và vũ trụ quan của Phật giáo chứ gì?

Đáp: Đại thể thì như vậy, nhưng vì Phật giáo quá bao la nên mỗi môn phái đều có một cái nhìn riêng, đứng từ vị trí và hướng đi của mình.

Hỏi: Vậy cái nhìn của Mật Tông ra sao?

Đáp: Người tu Mật cần phải thể hiện những điều sau đây:

- Lấy vũ trụ làm nhà
- Lấy thiên nhiên làm bạn hữu
- Lấy chúng sinh làm quyến thuộc
- Lấy vạn hữu làm chơn thân

Và một vị tổ Mật Tông bên Tây Tạng đã nói:

- Tất cả mọi hình tướng đều là Niết Bàn,
- Tất cả mọi âm thanh đều là Chân ngôn,
- Tất cả mọi chúng sanh đều là Phật.

Đó, Mật Tông là thế đó, bạn đã hiểu chưa?

Hỏi: Thế là nghĩa làm sao?

Đáp: Mật Tông là:

SỰ SỐNG HIỆN THỰC, hồn nhiên và tràn đầy.

GIÁO LÝ SỐNG ĐỘNG, hàm súc và phong phú rút ra từ cuộc sống, từ kinh nghiệm hàng ngày.

LỜI THẬT, là chân lý, xóa mọi thành kiến, mọi danh xưng, khai thông dòng sống trào tuôn bất tận.

Hỏi: Nói nghe kêu lắm, nhưng tôi không hiểu gì!

Đáp: Gấp quá! Từ từ bạn sẽ hiểu và sẽ thấm. đạo vốn tự nhiên, sao bạn lại muốn dồn ép vậy!

Bạn ơi! Như phần trên đã nói, Mật Tông chủ trương vào đời và nhập cuộc mà! Nhập cuộc, ở phần tướng là vào sự sống va chạm ở đời, và với “lớp áo thế tục” mà không bị cát bụi tình đời làm hoen ố. Vì sao? Vì tất cả cát bụi, tất cả cảnh vật đều là diệu dụng của Giác tánh Bồ Đề, nên mới nói “Mọi hình tướng đều là Niết bàn”. Nhập cuộc, ở phần hình là vào trong cái trật tự tự nhiên, không thủy không chung của trời đất mà vô ngại. Thế mới lấy “vũ trụ làm nhà” được chứ!

Hỏi: Có vẽ hấp dẫn đấy, thế rồi sao nữa?

Đáp: Câu trả lời trên đã nói lên vũ trụ quan của người tu Mật đấy. Vũ trụ quan đó là “Pháp giới dung thông, sự sự vô ngại”.

Quan điểm của Mật Tông là vũ trụ do:

- Pháp duyên khởi, hay
- Vô tận duyên khởi, hay
- Trùng trùng duyên khởi.

Phạm vi tài liệu này không cho phép giảng rộng hơn, nếu bạn muốn tìm hiểu xin đọc thêm kinh sách.

Hỏi: Còn gì về vũ trụ quan nữa không?

Đáp: Về bản thể của vũ trụ có hai quan điểm phát xuất:

Đông Mật chủ trương “Lục đại thể”
Thai Mật chủ trương “A tự thể”

Đây là những từ chuyên môn nói ra thêm nhức đầu, khi nào bạn đào sâu nghiên cứu sẽ rõ, hơn nữa, phần vũ trụ quan bạn chỉ nên tìm hiểu theo câu đáp trên về “Pháp giới duyên khởi” ngoài ra không nên quá quan tâm, mà cần chú ý đến phần “nhân sinh quan” tức là phần Hành nhiều hơn. Bởi vì Mật Tông là “Hành”.

Hỏi: Chủ trương “Hành” thế nào?

Đáp: Người tu Mật là người:

- Đem sự về Lý
- Đem Nhân về quả
- Đem Phật về với chúng sinh

Hỏi: Thế là thế nào?

Đáp: Đem SỰ về LÝ là chuyển tất cả những sự tướng khác biệt của thế gian và xuất thế gian trở về với “LÝ THỂ BÌNH ĐẲNG” duy nhất của mọi sự vật.

- Đem NHÂN về QUẢ là chuyển nghiệp báo sanh tử luân hồi của chúng sanh đến thành quả vị Phật.
- Đem PHẬT về với CHÚNG SANH là vận dụng tâm Từ Bi rộng lớn, dùng phương tiện nhiệm mầu để làm lợi lạc, để giải thoát cho tất cả chúng sanh trong toàn pháp giới.

Như vậy người tu Mật phải:

- Xoay SỰ về LÝ để có “LÝ SỰ VIÊN DUNG”. Tác nhân thành quả để “VƯỢT LÊN NHÂN QUẢ” hay là có “NHÂN QUẢ ĐỒNG THỜI”.
- Đem Phật đến với chúng sanh để được “TỨC THÂN THÀNH PHẬT”!

Hỏi: Tôi nghe nói tu theo Mật Tông là “TỨC THÂN THÀNH PHẬT”, xin nói cho rõ.

Đáp: Đây là đi vào yếu chỉ của Mật Tông rồi. Yếu chỉ đó là:

“ĐƯƠNG TƯỚNG TỨC ĐẠO”
“TỨC SỰ NHI CHÂN”
“TỨC THÂN THÀNH PHẬT”

Tức là cái tướng hiện hữu của thế gian này là ĐẠO. Tất cả các pháp hữu vi, sự vật đều là THẬT, và thân này là PHẬT.

Đây là phần nhân sinh quan sâu sắc, và cũng là điểm quan trọng khác biệt giữa cái nhìn của Mật Tông và Thiền Tông.

Hỏi: Nhìn khác nhau thế nào?

Đáp: Nói ra thì dài dòng lắm, viết thành cả cuốn sách mới hết, tuy nhiên, có thể tóm lược những điểm chính căn bản để dễ phân biệt:

Yếu chỉ của Thiền là:

“TRỰC CHỈ NHÂN TÂM
KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT”

Do đó cái nhìn của Thiền là trở về nội quan, cho nên:

- Thiền chủ trương “PHÁ Tướng nhập TÁNH”
- Mật chủ trương “DỤNG Tướng nhập TÁNH”,

Ngoài ra:

- Thiền chủ trương “TỪ TĨNH vào Định”
- Mật chủ trương “TỪ ĐỘNG vào Định”

Hỏi: Còn gì thêm nữa?

Đáp: Còn nhiều lắm chứ, nhưng trước khi nói thêm, xin mở ra đây một dấu ngoặc, để nói ra ngoài một chút. Đó là ở Việt Nam ta, quan điểm của Thiền thường được phổ biến nhiều hơn cả, do đó các đạo hữu Phật tử thường nhìn các pháp môn khác qua cặp kính Thiền, thế có nghĩa là đứng ở góc cạnh Thiền mà nhìn Mật, nhìn Tịnh Độ, nhìn Nguyên Thủy… nên thường có kiến chấp sai lầm, nhất là thường chấp vào hai quan điểm trên, đòi hỏi “PHÁ TƯỚNG” và đạt được “TĨNH” kiến chấp như vậy làm trở ngại lớn cho người tìm Đạo. Xin đóng ngoặc lại để tiếp tục trình bày và xin bạn, nếu có kiến chấp nào hãy bỏ đi nhé!

Hỏi: Vâng, xin cứ tiếp tục.

Đáp: Xin lần lượt kể:

1. Thiền là trở về nội tâm, mọi tướng đều phá. Mật là nội ngoại dung thông, tướng tâm đồng dụng.
2. Tinh thần Thiền là phá chấp triệt để, tinh thần Mật là chẳng chấp tướng mà cũng không phá tướng, nhưng từ hữu tướng vào vô tướng.
3. Chỗ ngồi của Thiền là “Đương sứ”, là ở đây, chỗ này, không quá khứ không vị lai. Chỗ ngồi của Mật là TỰ TẠI VÔ NGẠI, ra vào dung thông nhiếp cả Tam Thế.
4. Thiền cho rằng:

Một giờ Thiền là một giờ Phật
Một ngày Thiền là một ngày Phật
Một đời Thiền là một đời Phật

Mật cho rằng:

Phật ở trong ta
Phật ở ngoài ta
Phật hằng có đó
Phật chính là Ta

5. Thiền quyết định :

Gặp Phật cũng đuổi
Gặp ma cũng đuổi
Xua đi hết cả
Chỉ còn tâm ta

Mật quyết định :

Ta gửi ta nơi Phật
Phật gửi Phật trong ta
Cùng nhau đều cứu độ
Chẳng còn Phật còn ta

6. Thiền chủ trương :
Ngoài chẳng nhờ trợ duyên
Trong không móng khởi tâm tạo tác

Mật chủ trương :
Ngoài cần cầu tha lực
Trong tự lực khởi sanh
Tự - Tha đều là một
Mọi việc mới viên thành

Đó, tóm lược trên đây là những điểm khác biệt chính yếu.

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Mật tông***   Fri Aug 16, 2013 12:31 pm


Hỏi: Tôi đã khái quát thấy sự khác biệt, vậy tóm lược như thế nào?

Đáp: Tóm lại, người tu Mật:

Đi từ Sanh Diệt Môn vào Chân Như Tánh,

Đi từ TƯỚNG DỤNG vào THỂ, và chuyển “Phước nghiệp hữu lậu” thành “Công đức vô lậu” nhờ phương tiện là CHÂN NGÔN.

Hỏi: Mấy câu hỏi trên đã làm một sự so sánh giữa Thiền và Mật, giờ xin trở về phần quan niệm của Mật.
Đáp: Vâng, Mật khẳng định là:

“Đời Đạo không hai,
Đạo nằm trong Đời,
Đời không xa Đạo”.

Do đó địa bàn hoạt động của người tu Mật là ngay trong cuộc sống hàng ngày, đó chính là “Đương tướng tức Đạo” . Ngoài ra, người tu Mật quan niệm là chính việc làm hàng ngày sẽ làm tròn “cái Sự”, và hiển “cái Lý” để có “Lý Sự viên dung”.

Hỏi: Đồng ý điểm này, nhưng tại sao lại “Tức sự nhi chân”.
Đáp: Sự là muôn pháp hữu vi,

Sự là cái tướng bày ra muôn hình tượng. tất cả đều là “Diệu Hữu”, đó là thấy thực tướng.

Bởi vậy cho nên mới “Sự sự vô ngại”

Lại nữa, người tu Mật hiểu rõ Sự là “THỂ” nên thấy được cái thực nằm trong đó.

Hỏi: Đối với Mật Tông, giữa Sự và Tướng liên quan ra sao?
Đáp: Như trên đã nói, Sự là Thể, là Tướng. Mà Tướng do nhân duyên sanh, bởi diệu hữu mà thành thế nên “TỨC SỰ TỨC TƯỚNG”. Sự tức là Tướng vậy.

Hỏi: Tại sao lại “DỤNG TƯỚNG NHẬP TÁNH”
Đáp: Điểm này là căn bản, nếu không nắm được thì dễ lầm giữa Thiền và Mật, Thiền thì từ “KHÔNG” vào “CHÂN NHƯ TÁNH”. Mật thì từ “DIỆU HỮU” vào “CHÂN NHƯ TÁNH”. Vì như trên đã nói, Tướng do “DIỆU HỮU” thành, mà “DIỆU HỮU” là “CHÂN NHƯ”, là cái DỤNG của CHÂN KHÔNG cho nên thường nói “CHÂN KHÔNG DIỆU HỮU”.

Mật Tông vì “KHÔNG PHÁ TƯỚNG” và thấu được “THỰC TƯỚNG CỦA TƯỚNG”, nên dùng “TƯỚNG” mà đi vào.
Hỏi: Có tu Tiên đâu mà “lấy thiên nhiên làm bạn hữu”?

Đáp: Trở về với thiên nhiên là trở về với sức sống tràn đầy, với cái thượng hằng hiện hữu. Người tu Mật nhìn thiên nhiên để thấy vũ trụ, để thấy vạn pháp, để làm bạn tu, chứ không để an trụ, để thưởng thức như một Tiên Ông.

Hỏi: Hay quá! Xin khai triển thêm nữa.

Đáp: Người tu Mật hiểu rằng bên ngoài thiên nhiên hay vũ trụ là một dòng sống luân lưu không ngừng nghỉ, nó vận hành liên tục, không bao giờ lập lại. Còn bên trong con người thì mang đầy kiến chấp, nó là một ao tù chứa những thói quen, kinh nghiệm và khuôn thức định sẵn, do đó, phải bỏ cái trong để mở ra mà nhập vào cái ngoài. Khi đã hiểu rõ sự sống, đã nhập vào sự sống thì mới thấy được cái “DIỆU HỮU” để thấy cái “TÁNH KHÔNG” của Bát Nhã. Và thực hành trọn vẹn câu “NGŨ UẨN GIAI KHÔNG độ nhất khổ ách” trong Tâm Kinh.

Vậy thì thiên nhiên là người bạn đồng hành, là kẻ chỉ đường cho ta đến chỗ chánh giác.

Hỏi: Sao lại “lấy chúng sanh làm quyến thuộc”?

Đáp: Phật dạy: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”. Vậy thì bạn đã quyết định làm Phật hiện kiếp này, chúng sanh là Phật vị lai, vậy không là quyến thuộc là gì?

Nhưng câu này còn có ý nghĩa nhắc nhở nhiệm vụ của người tu Mật là chúng sanh đang cần cứu độ, vì là người đồng hội đồng thuyền với ta, và muốn người tu Mật không quên ơn chúng sanh, 

biết phục vụ chúng sanh là cúng dường chư Phật. Và sau cùng nó mang ý nghĩa đầy đủ nhất là “Một là Tất Cả, Tất Cả là Một”.

Hỏi: Còn “lấy vạn hữu làm chân thân”?

Đáp: Vạn hữu là thân ta trong cái nhìn đồng nhất thể. Trong cái nhìn hiểu Đạo của người tu Mật. 
Vì thật ra mình có mặt trong các thực thể khác, và các thực thể khác cũng có mặt nơi mình trong dòng chuyển lưu của vũ trụ. Ngoài ra còn nói lên cái tâm đại bi thương vạn hữu như thương chính thân mình không khác.




_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Mật tông***   Fri Aug 16, 2013 12:32 pm

Hỏi: Thế nào là “Tất cả âm thanh đều là chân ngôn”?

Đáp: Đây là câu nói của bậc chứng lý và đạt Đạo rồi. Đối với chúng ta thì không thấy được như vậy. Tuy nhiên ta có thể giải thích tóm lược như sau:

Vì chân ngôn phát ra từ chân như thể tánh, mà các âm thanh của vũ trụ cũng từ tánh hiện tướng, do đó nó đồng thể.

Đây còn nói thêm cái phần bí nhiệm của chân ngôn, mà nếu bạn muốn thấy, muốn hiểu thì xin thực hành, thực tu sẽ thấy.

Hỏi: Quan niệm của người tu Mật đối với chân ngôn thế nào?

Đáp: Là phương tiện để giải thoát cho mình. Để độ thoát chúng sinh.

Hỏi: Làm thế nào để trì “Chân ngôn” cho có hiệu quả?

Đáp: Câu này bạn sẽ được Thầy chỉ cho bạn khi nào bạn thực sự vào pháp hành, vì nó thuộc mật truyền. Thường bên Mật Tông khi một vị Thầy truyền cho đệ tử một câu chân ngôn là vị Thầy đó đã hành quan, đã giàu kinh nghiệm và đã nắm được yếu quyết của nó. Tuy nhiên, có thể trả lời bạn tổng quát như thế này:

1 Trước hết đừng nôn nóng cầu đắc, cầu chứng,
2 Tâm ý phải thanh tịnh, không mưu tính bất chánh,
3 Không dùng chân ngôn trong những trường hợp thiếu tâm Bi,
4 Không nói dối, xảo trá, lừa dối, ngụy biện,
5 Phải thành khẩn , siêng năng,

Sau nữa còn những điểm dành cho người tu Mật đó là:

6 Phải biết nguyện với thành
7 Phải có ấn mới quyết định…

Đa số các bạn của chúng ta thường bị cái lỗi lầm là nghe thấy một câu chú “hay”, có “công năng lớn” là đem ra hành trì, không cần có Thầy chỉ dẫn. Như vậy chỉ uổng công mà chẳng đem lại 

kết quả gì. Nếu tu chân ngôn mà dễ như thế thì ai tu chẳng được! Rất đáng buồn là đã có những bạn bỏ phí cả những năm tháng dài, để chạy theo sự tham mê vô vọng đó, rồi khi không được gì đâm ra chán nản, mất tin tưởng và quay ra phỉ báng. Lỗi đó tại ai?
Đây cũng là chỗ bí nhiệm của “Mật Môn”. Đừng tưởng coi sách là đủ đâu! Những gì được viết ra sách là không còn mật nữa, là thuộc về “công truyền”. Những gì không được viết ra, do Thầy truyền mới là “Mật truyền”, tâm truyền đấy bạn ạ!

Bạn ơi! Chân ngôn là một chén thuốc bổ, nhưng đối với người nào đó nó trở thành thuốc độc, và đối với người khác nó là thuốc trường sanh. Tôi đã trả lời bạn câu này hơi dài rồi, bạn hãy tự tìm ra câu giải đáp cho mình, xem mình đã áp dụng đúng chưa.

Hỏi: Khó quá, ông làm tôi nản chí, biết bao giờ mới gặp được Thầy, biết bao giờ mới tìm được Pháp?

Đáp: Bạn ơi, Phật Pháp bất khả tư nghì, có duyên rồi sẽ gặp. Bạn cứ chân thành cầu thì sẽ được!


 Hỏi: Ông có kinh nghiệm gì giúp tôi trong vấn đề này?

Đáp: Câu đáp chỉ có thể là “Tùy phước duyên” của bạn! Theo kinh nghiệm thì thời này thật ít, giả nhiều, nên phải hết sức thận trọng, đừng vội dễ tin, chính Đức Thế Tôn dạy ta như thế, thà một ngàn ngày không ngộ còn hơn một ngày vấy ma, đừng đuổi ma đi để đón quỷ về!
Có “đi” thì có “tới”, có “cầu” thì có “ứng”. Theo kinh nghiệm của tôi, quý bạn cần hết sức chân thành khẩn cầu gặp Mật thì sẽ được đáp ứng. Tôi xin tặng quý vị một bài kệ để khởi tâm chí thiết khẩn cầu:

1
Con chắp tay cầu Phật
Đức Bổn Sư Thích Ca
Xin cho con hiểu Mật
Để chuyển hóa Ta Bà

2

Con chắp tay cầu Phật
Phật Tỳ Lô Giá Na
Xin cho con gặp Mật
Để cứu độ Ta Bà

Hỏi: Người tu Mật Tông quan niệm về “Lý” thế nào? “Sự” thế nào?
Đáp: Lẽ dĩ nhiên là “tức lý tức sự, lý sự viên dung”, nhưng về hành thì:

Lý là tự giác để giải thoát mình bằng Trí Huệ. Sự là đại nguyện cứu độ chúng sanh bằng Từ Bi.

Hỏi: Còn phương tiện?

Đáp: Phương tiện là cứu cánh – vì dùng ngay phương tiện này để giải thoát cho mình và cho người.

Hỏi: Có giới hạn, phạm vi gì không?

Đáp: Đối tượng là chúng sanh vô lượng. Phạm vi là không có bờ mé, không phân biệt. Thời gian là mãi mãi không ngừng nghỉ, hay nói khác đi, phạm vi là vô biên, thời gian là vô tận vậy.

Hỏi: Nhưng vậy e rộng quá làm không nổi!

Đáp: Tu Mật phải có “TÍN TÂM” vững,
“NGUYỆN LỰC” lớn mới thành.

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Mật tông***   Fri Aug 16, 2013 12:37 pm

Hỏi: Vì sao?

Đáp: Vì quyết định thành Phật thì phải có tâm Phật chứ! Do đó người tu Mật Tông quan niệm là:

- Việc làm của chư Phật là việc làm của mình,
- Nguyện của chư Phật là nguyện của mình,
- Chúng sanh của chư Phật là chúng sanh của mình,
- Cái gì của chư Phật là của tất cả chúng sanh.

Hỏi: Vậy thì nhìn sự việc ở đời cũng phải khác chứ?
Đáp: 
- Nơi nào cũng là “DIỆU HỮU”
- Nơi nào cũng là “TAM BẢO”
- Nơi nào cũng là “NHƯ LAI PHÁP THÂN”.

Hỏi: Quan niệm hằng thường ra sao?

Đáp: 
- Hằng thường tri ân,
- Hằng thường thương xót,
- Hằng thường chân thật,
- Hằng thường quán chiếu,
- Hằng thường xả kỷ,
- Hằng thường hồi hướng,
- Hằng thường giải thoát.
Hỏi: Người tu Mật trụ tâm ở đâu?

Đáp: Trụ ở niệm giải thoát, và giải thoát luôn niệm đó.

Hỏi: Thế nào là trong niệm giải thoát?

Đáp: Trước hết người tu Mật phải “dán” chữ “không” ngay trên trán đã. Nếu không dán được thì đừng lý luận đến giải thoát.

Trụ trong giải thoát là:

- Làm muôn vàn hình tướng nhưng vẫn từ 
NHƯ hiện ra,
- Làm muôn vàn đối đãi nhưng vẫn hằng thanh tịnh.

Hỏi: Quan niệm về phước trí?

Đáp: Phước trí đồng hành song tu. Người tu Mật quan niệm “Hạnh ở đây, Trí bên kia” nghĩa là làm hạnh cứu độ để đạt lý tánh.

Hỏi: Như vậy cũng lấy “LỤC ĐỘ” làm căn bản phải không?
Đáp: Người tu Mật Tông hành đại hạnh của Bồ Tát gồm 10 độ Ba – La – Mật. Đó là:

1. Bố thí Ba – La – Mật,
2. Trì giới Ba – La – Mật,
3. Nhẫn nhục Ba – La – Mật,
4. Tinh tấn Ba – La – Mật,
5. Thiền định Ba – La – Mật,
6. Bát nhã Ba – La – Mật,
7. Phương tiện thiện xảo Ba – La – Mật,
8. Nguyện Ba – La – Mật,
9. Lực Ba – La – Mật,
10. Trí Ba – La – Mật.

trí sau cùng là trí huệ rốt ráo.

Hỏi: Từ Tước tới giờ chỉ thấy nói “Lục độ Ba – La – Mật” ít nói tới Thập độ Ba – La – Mật. Xin nói cho rõ chỗ khác nhau.

Đáp: Khác nhau ở chỗ:

- Hành lục độ đến quả vị Đẳng giác,
- Hành thập độ đến quả vị Diệu giác.

Thường thì Bồ Tát từ Bát địa trở lên mới thường 
hành Thập độ, vì lúc đó đã tự tại trong pháp rồi.

- Dùng “phương tiện thiện xảo” để cứu độ rộng rãi chúng sanh, để trang nghiêm quốc độ.
- Dùng “Nguyện Ba – La – Mật” để trang nghiêm thân.
- Dùng “Lực Ba – La – Mật” để thanh tịnh pháp thân.
- Dùng “Trí Ba – La – Mật” để vào Diệu giác.

Hỏi: Xin cho biết sự khác nhau giữa độ thứ sáu là “Tuệ” hay “Trí Tuệ Ba – La – Mật” và “Trí Ba – La – Mật” trong độ thứ 10.
Đáp: Độ thứ sáu là trí tuệ Ba – La – Mật, tiếng Phạn là Prajna paramita hay Bát Nhã Ba – La – Mật, chỉ sự quán thấu chân lý, thấy tánh Không của các pháp và Diệu Lý Bình Đẳng.

Độ thứ 10 là Trí Ba – La – Mật, tiếng Phạn là Jnãna paramita, chỉ sự quán thông vạn pháp, giữ vững Trung đạo, thấu suốt tất cả, thị hiện vô biên, y báo chánh báo tròn đủ.
Đúng ra độ thứ sáu phải dịch là Bát Nhã, độ thứ 10 mới dịch là Trí huệ, nhưng từ trước đến giờ đã quen dùng theo nghĩa Trí tuệ là chỉ độ thứ sáu thì cũng được thôi. Độ thứ 10 là Trí huệ rốt ráo, Trí huệ Phật đó.

Hỏi: Bây giờ thì tôi đã thấy tu Mật có nhiều điểm khác rồi, xin cho biết ý kiến về cái nhìn đối với Tịnh độ.


Đáp: Không cứ đối với Tịnh Độ, mà với bất cứ pháp môn nào người tu Mật Tông cũng đều “kính ngưỡng” cả. Người tu Mật không cho pháp môn mình là nhất, không dám chê một pháp môn nào, vì các pháp đều bình đẳng, đều là phương tiện để đi đến giải thoát.

Người tu Mật thấy trong pháp môn mình theo có đủ cả Thiền và Tịnh Độ, ngược lại, các pháp 

môn khác cũng có Mật nằm trong. Điều này khi nào các bạn thực hành, đi sâu vào pháp sẽ hiểu và thấy rất rõ.

Đối với tịnh Độ, yếu chỉ là:

“Nhất tâm bấn loạn,
Vãng sanh Tịnh Độ”

Cần phải TÍN SÂU, NGUYỆN THIẾT và HÀNH TRÌ miên mật. những điều này rất gần với Mật môn. Hơn nữa, sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật” là một đại thần chú, vô lượng lực, vô lượng quang, vô biên quang đấy.

Hỏi: Thế nào là Tam mật tương ưng?

Đáp: Nghĩa đơn giản của Tam mật là:

- Thân mật,
- Khẩu mật,
- Ý mật.

Tương ưng là ứng nhập cùng Phật, Bồ Tát. Thông thường giải chữ tương ưng là làm cho giống hay thành Thân, Khẩu, Ý của Phật. đó là cái nói của người trụ nơi lý thuyết không thật sự hành pháp, có thể nói thế này cho bạn dễ hiểu: 
người tu Mật dùng phương tiện của mình để:

- Biến “SẮC THÂN” hiện tại này thành “PHÁP THÂN”, đó là Thân mật.

- Đưa cái ngôn ngữ giới hạn này trở lại với thực tướng của nó, rời danh tự, rời ngôn ngữ, rời tư duy, rời phân biệt, về cái chỗ xuất sanh vô lượng, vô biên nghĩa, vì rốt cùng âm thanh chính là thực tướng, và ngôn ngữ chính là chân lý, đó là Khẩu mật.

- Biến THỨC thành TRÍ vô lậu đó là ý mật. nói ra dài lắm, phải hành mới hiểu được bạn ạ!

Hỏi: Vậy còn quan niệm nào tôi chưa hỏi?

Đáp: Còn chứ! Người tu Mật là:
- Dùng “NGHIỆP” giải “NGHIỆP”,
- Biến “SẮC THÂN” thành “PHÁP THÂN”,
- Lấy “MẠN ĐÀ LA” làm “NIẾT BÀN”
- Lấy “PHƯƠNG TIỆN” làm “CỨU CÁNH”
- Lấy “NIẾT BÀN” làm “LẠC”,
- Lấy “ĐỘ SANH” làm “NHIỆM VỤ”, là “SANH THÂN CÔNG ĐỨC”,
- Lấy “TRÍ HUỆ THÙ THẮNG” để đi vào “PHÁP”.
Hỏi: Xin nói cho rõ.

 Đáp: Có một vài câu bên trên đã giải rồi, giờ chỉ nói câu nào chưa đề cập thôi.

1. Lấy “Nghiệp giải Nghiệp” là làm “THIỆN NGHIỆP” để giải hoặc chuyện “ÁC NGHIỆP”.
2. Biến “SẮC THÂN” thành “PHÁP THÂN” là dùng phương tiện Mật môn, chuyển “THỨC” thành “TRÍ”, biến cái thân tạp nhiễm, uế trược này thành thân vô cấu thanh tịnh.
3. Lấy Mạn – Đà – La làm Niết Bàn đồng nghĩa với câu “Mọi hình tướng đều là Niết Bàn”, nghĩa là chỉ cuộc sống này phiền não tức Niết Bàn.
4. Lấy phương tiện làm cứu cánh đã giải ở trên rồi.
5. Lấy Niết Bàn làm Lạc. Vui vì ra khỏi sanh tử, vì vào chỗ thường hằng.
6. Lấy độ sanh làm nhiệm vụ đã giải rồi.
7. Lấy Trí huệ Thù Thắng để đi vào Pháp. Đây là ba nghiệp đều tùy Trí Huệ hành, luôn lấy Trí Huệ để soi sáng hành động.

Hỏi: Tôi vẫn còn thắc mắc ở chỗ Mật môn “dụng tướng”, xin nói rõ thêm.

Đáp: Câu hỏi rất hay,đây cũng là phần then chốt của Mật môn, và trả lời cũng khó, nếu không hiểu sâu vấn đề.

Thật ra con đường tu học Phật là “LÌA TƯỚNG”, “LÌA TRI KIẾN” và “KIẾN CHẤP”, Mật môn cũng không đi ra ngoài điều đó, nhưng nhận định thế này:

Có TƯỚNG thì có TƯỞNG,
Có TƯỞNG thì có NIỆM.

Do đó, muốn đạt được chỗ “VÔ TƯỚNG” thì phải đi từ chỗ “VÔ NIỆM”. Thiền môn đã lấy điều này làm “Tông”. Mật môn thì thấy rằng, đã là phàm phu mà diệt Tướng thật là khó, do đó mới dùng phương tiện là “Lấy Tướng chuyển Tướng”. Dùng “BIỂU TƯỢNG” để thay thế các tướng trong nội tâm (phần này đi sâu vào tiềm thức) nhập cái thuần khiết để thay thế cái tạp nhạp. Cũng ví như đứa trẻ đang chơi dao, nếu bạn, muốn nó bỏ dao đi kẻo sợ đứt tay thì tốt hơn hết là cho nó một cái gì cho nó nắm, đẹp hơn cái nó đang cầm thì nó sẽ bỏ ngay, còn nếu tự nhiên bảo nó bỏ thì khó quá! Đó là chỗ “Dụng Tướng để chuyển Tướng”, một cách êm thấm, ngoài ra, trong vấn đề dụng tướng này nó còn mang một ý nghĩa và công dụng rất là sâu sắc trong việc thanh lọc tâm thức của hành giả mà chỉ những người thấu hiểu Mật môn mới rõ.

Và khi mà cái thuần khiết, cái thanh tịnh đã nhập rồi thì nó dễ hòa vào tánh thể. Cho nên Mật môn “dùng tướng để lìa tướng”, “làm Thiện để lìa Ác”, khi đạt được Thiện rồi thì Thiện Ác đều bỏ, đó là chỗ rốt ráo.

Tâm chúng sanh thường “đa niệm” và “đa tướng” nên phải dùng “CHÂN NGÔN” và “BIỂU TƯỢNG” để phá “vọng tưởng” và “vọng niệm”, để sau cùng không còn trụ tướng nữa.

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Mật tông***   Fri Aug 16, 2013 12:40 pm


Hỏi: Như vậy trong các môn tu, môn nào khó?

Đáp: Thật ra môn nào cũng khó mà cũng dễ, tùy theo căn cơ mỗi người.

Hỏi: Vậy theo ông có nên chọn con đường Mật thừa không?

Đáp: Người nào có duyên với môn nào thì nên theo môn đó, đừng đứng núi này trông núi nọ, môn nào cũng là con đường đi đến giải thoát.

Hỏi: Nhưng hẳn là phải có con đường thù thắng chứ?

Đáp: Môn nào cũng thù thắng cả, nếu nắm được chìa khóa để mở cửa vào.

Hỏi: Vậy thì môn nào dễ tu nhất?

Đáp: Dễ tu nhưng khó nhập là Tịnh Độ. Khó tu và khó nhập là Thiền. dễ tu mà khó nhập là Mật, nhưng nhờ có Chân ngôn nên có tha lực, vì vậy dễ thành tựu Pháp. Tuy nhiên Mật môn đòi hỏi phải khởi tâm Thiện và mở rộng tâm Từ Bi, nếu không, dễ lạc vào đường Tà. Mật là con dao hai lưỡi nên phải hết sức thận trọng.

Hỏi: Về hành trì Mật môn có khác các môn kia nhiều không?

Đáp: Khác rất nhiều, khi nào bạn thực hành sẽ biết. Có điều cũng cần nói luôn với bạn là, muốn tu Mật thì phải có “ĐỨC TIN KIÊN CỐ”, phải có “TRÍ HUỆ ĐỂ NHẬN ĐỊNH” (đây là trí huệ thế gian), tức là phải sáng suốt, phải có “trực giác” nhạy bén, cảm quan để thấy.

Còn một điều nữa là tu Mật dễ đi vào mê tín dị đoan, dễ vào ảo tưởng, nên luôn luôn phải cảnh giác. Đó là điểm vì sao đòi hỏi trí huệ để không bị lạc đường.





 Hỏi: Đã có thể kết luận được chưa?

Đáp: Tổng kết về quan điểm của Mật môn như sau:

- Đại bí mật làm TÔNG
- Pháp giới chân như làm THỂ
- Bất tư nghì làm DỤNG
- Tam Mật làm MÔN
- Tối thượng thừa làm GIÁO TƯỚNG.

Hỏi: Còn điều gì khác biệt trong Mật môn nữa không?
Đáp: Mật môn là giai đoạn chót, nên trước khi nhập Mật thì phải hiểu rõ ĐẠI THỪA, vì MẬT là nằm ở chỗ “CHUNG GIÁO”.

1. Điểm khác thứ nhất của Mật môn là: 9 thức biến thành 5 trí thay vì 8 thức biến thành 4 trí như các luận của đại thừa thường nói.
2. Điểm thứ hai là: 7 đại làm thành vũ trụ thay vì 4 hay 6 như ta thường thấy.
3. Điểm thứ ba là: thường hành thập độ Ba – La – Mật thay vì Lục Độ.
4. Điểm thứ tư là: Dùng 4 pháp ấn thay vì 3 pháp ấn.
5. Điểm thứ năm là: Có Lục Hoằng thệ nguyện thay vì Tứ.
Và một số điểm đã được nêu ở trên. Phần này đi vào Pháp môn, khi nào bạn học Mật sẽ được giải rõ.

Hỏi: Có gì để khuyến cáo không?

Đáp: Bạn ơi! Chân lý không phải cái gì cao xa mà nó linh hoạt, sống động và vận hành quanh bạn và tôi. Sống động do sự hiện hữu của chúng ta và vạn vật vận hành qua muôn dạng tướng hằng ngày ta gặp. Khởi điểm con đường tu hành là tự tâm ta. Do đó bạn cần phải nhìn thấy thật tâm bạn trước đã. Nếu thiếu điểm này thì tu pháp môn nào cũng chỉ là “tu giả” mà thôi!
Khi bạn đã thấy “THẬT TÂM” của bạn rồi – không che đậy, không gạt gẫm, không bào chữa, không tự lừa dối mình – thì hãy quyết định tiến bước bằng con đường “BUÔNG XẢ” đó là chìa khóa để đi vào mọi pháp môn.

Và khi quyết định thì hãy dũng cảm mà tiến bước như người chiến sĩ tuốt gươm vào trận, quên đi mạng sống của chính mình.

Lấy trí huệ làm đèn soi, lấy niềm tin làm động lực, lấy nhiệt tình làm sức sống, bạn cứ bước vào đi, với bất cứ pháp môn nào bạn cũng sẽ đến được bờ giải thoát.
Đạo là chỗ đơn sơ chân thật nhất, tôi mong bạn và tôi cùng gặp nhau trong đó.

Chúc bạn thực tu, thực tiến tu!





Hỏi: Xin cho những lời nói sau cùng.

Đáp: Trước hết, tôi phải tri ân bạn đã bỏ nhiều thì giờ để đọc tài liệu này, kết đến là tri ân các bậc Thầy đã dạy tôi bằng hành động hay qua sách vở. sau nữa là tôi xin dâng hiến cúng dường Tam Bảo và hồi hướng về Nhất Thiết Trí cùng toàn thể chùng sanh trong tứ sanh lục đạo. tôi chỉ là “một người đầu bếp” dọn món ăn thôi! Và ở trên tôi đã tạm thời xào nấu lên một món ăn tương đối có chất lượng để mời bạn dùng làm duyên ban đầu.

Tất cả những gì tôi vừa nói trên, đều là những điều tôi đi vay mượn, rồi sắp xếp lại cho gọn gàng để “các bạn thiện duyên” suy ngẫm.

Tôi không ngại tài hèn, trí đoản mà dám làm một việc quá sức mình, tôi thành thực xin các Thầy, các Thiện trí thức hiểu nhiệt tình của tôi mà thương xót bỏ qua những lỗi lầm khiếm khuyết.

Sau cùng tôi xin sự chứng minh của:

- Tổ Pháp Mật Tông TỲ LÔ GIÁ NA Như Lai và các vị Tổ thị hiện như:
- Kim Cang Tát Đỏa,
- Long Thọ Bồ Tát, và
- Kim Cang Trí…

Xin cho mầm Bồ Đề của chúng ta còn mãi và mỗi ngày một tăng trưởng.

Xin chào các bạn Thiện duyên.

MẬT NGHIÊM 

OM
(Bài ca vào các cảnh giới)

Ta hát lời ca OM vang trời
Ta hát lời ca OM chơi vơi
Ta hát lời ca OM xa vời
Ta hát lời ca OM khắp nơi,
Ta hát lời ca OM vào đời
Ta hát lời ca OM vui tươi,
Ta hát lời ca OM cho người,
Ta hát lời ca OM rong chơi,
Ta hát lời ca OM rạng ngời,
Ta hát lời ca OM không thôi…
OM – OM – OM 
Tiếng hát nởi lên từ trong lòng vũ trụ,
Là âm thanh, là hơi thở của muôn loài,
Là thời gian, là cuộc sống lâu dài,
Là không gian, là muôn vàn ánh sáng.
OM – OM – OM 
Là tình Thương và Trí sáng
OM – OM – OM 
Là thân ta, là giấc ngủ muôn đời.
Ta hát lời ca OM tuyệt vời,
Ta hát lời ca OM tuyệt vời,
Ta hát lời ca OM tuyệt vời…
Ngọc châu tỏa sáng trên Sen rạng ngời,
Hồng, Hồng, hồng chiểu tỏa nơi nơi…
OM MANI PADME HUM
Diệu âm tuyệt vời

30-10-1986
MẬT NGHIÊM





_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: PHÁT NGUYỆN   Fri Aug 16, 2013 12:42 pm

PHÁT NGUYỆN

Nguyện thành chánh giác
Độ hết chúng sanh

Nguyện là nguồn sống
Thường luôn hằng hữu
Không đến không đi
Không gì thay đổi
Khi chìm khi nổi
Cứu đô tùy nghi
Cực lớn cực vi
Đều cùng độ hết

Nguyện là tình thương
Chan hòa tất cả
Từ lớn chí nhỏ
Không bỏ một ai
Vô hình hữu hình
Vô tướng hữu tướng
Vô tình hữu tình
Đều cùng độ hết

Nguyện là Chân Như
Bao la vô tận
Chân thật không hư
Trùm che cùng khắp
Chẳng thiếu chẳng dư
Chẳng hề phân biệt
Thọ mạng lâu dài
Bất sinh bất diệt

Nguyện luôn tự độ
Đồng cùng độ tha
Phiền não sinh ra
Là Bồ Đề sáng
Vô minh là giác
Độ khắp quần ma
Trở về tinh ba
Thuần chơn Phật tánh
Bặt đường so sánh
Không thể nghĩ bàn
Soi sáng muôn vàn
Đại thiên thế giới

Nguyện luôn ứng hóa
Thành vô biên thân
Đến vô lượng cõi
Đem tánh toàn chân
Độ khắp hết cả
Chẳng kể oán, thân
Đồng về biển giác
Báo bốn trọng ân

Nguyện thân tâm này
Là kinh vô tự
Là tiếng vô thanh
Hoằng dương chánh giáo
Độ khắp chúng sanh
Trí Bi đầy đủ
Chứng quả vô sanh
Làm tròn Phật sự
Đạo cả viên thành.


Mật Nghiêm





 LỜI BẠT


Trên con đường đi tìm phương tiện để mở cửa vào nhà giải thoát, tôi đã chọn một pháp môn tu không xa rời cuộc sống. Và với tinh thần phụng sự Đạo pháp, tôi xin dâng hiến những điều học hỏi được của mình qua soạn phẩm này gọi là để đóng góp một phần nhỏ bé vào biển Phật Pháp mênh mông.

Tôi rất vui mừng vì giờ đây có túc duyên để cuốn Mật Tông Vấn Đáp ra mắt cùng các đạo hữu gần xa.

Đây cũng chỉ là một sự giao duyên ban đầu đối với các bạn có căn cơ tu Mật. Tôi mong rằng quí bạn sẽ gặp được những điều hữu ích cho việc tìm tu và tiến tu trên con đường đi đến giải thoát.

Tập sách này tuy ngắn gọn nhưng tương đối đầy đủ để giới thiệu con đường “Mật thừa”, mong bạn nào có duyên gặp được cũng sẽ rút tỉa hữu ích.

Đời người khó đọc, Mật pháp khó gặp, xin quý bạn đừng bỏ phí kiếp này mà không quyết định cho mình “TỨC THÂN THÀNH PHẬT”.

Nhân đây tôi cũng xin tán thán công đức của các đạo hữu đã giúp chúng tôi trình bày, ấn hành và đóng góp tịnh tài để ấn tống soạn phẩm này.

Xin Tam Bảo mười phương hộ trì cho chúng ta và tất cả chúng sanh trong pháp giới đều có đủ cơ duyên học Đạo, tinh tấn tu hành để sớm đạt Phật quả

Nam Mô Bất Không Thành Tựu Phật.

MẬT NGHIÊM




_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Admin
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 293
Reputation : 1
Join date : 27/07/2013

Bài gửiTiêu đề: Một ngày trên núi Tây Thiên   Wed Aug 21, 2013 8:54 pm

Một ngày trên núi Tây Thiên


Qua sự giới thiệu của một vị Đại đức khá tinh thông giáo điển và ít nhiều am hiểu Mật tông, tôi đã tìm đến tịnh thất Tây Thiên - Vĩnh Phúc, nơi tôi có thể chứng kiến hầu như trọn vẹn pháp tu Mật tông Tây Tạng của dòng truyền thừa Drukpa tại Việt Nam.

Để lại tất cả hành trang dưới chân núi, chúng tôi - gồm: tôi, hai Phật tử và một tài xế - cùng nhau “thướng sơn”. Tôi dự định là sẽ ở lại đây một ngày để gặp gỡ và làm quen với các sư cô trước, rồi sau sẽ sắp xếp thời gian trở lại tập tu vài tháng, với mong muốn tự mình nếm trải xem hương vị giải thoát của pháp tu Mật tông thế nào!


   Chư Ni Tây Thiên trong một buổi hành lễ theo nghi thức Mật tông Tây Tạng

 Tháng Chín Âm lịch, đường lên Tây Thiên vắng khách hành hương, hàng quán hai bên đường đều kín cửa. Hơn ba giờ leo núi, chúng tôi chẳng hề bắt gặp một bóng người, không gian tịch lặng bao trùm cảnh núi. Dưới chân, tiếng suối chảy róc rách, và xa xa, một dòng thác bạc như dải lụa trắng rì rầm đổ xuống. Những bờ cúc dại mọc trắng hai bên đường khiến tôi cứ ngỡ rằng mình đang lạc vào cõi thiên thai. Cảnh Tây Thiên đẹp như tranh vẽ!

Lên được chừng hai phần ba đoạn đường, chúng tôi bắt gặp một nhóm khoảng 30 sư cô đang yên tĩnh thọ trai trong một quán trọ bỏ hoang. Hỏi ra mới hay quý sư cô đang xuống núi khuân vật liệu lên thất để xây chánh điện, nhà nghỉ, chuẩn bị đón Đức Pháp vương Gyalwang Drukpa đời thứ 12 cùng Tăng đoàn Drukpa sẽ tới thăm Việt Nam và lên Tây Thiên hành lễ vào giữa tháng 11 này. Biết trước đoạn đường leo núi sẽ rất dài, không kịp trở về tịnh thất thọ trai đúng giờ, nên các sư cô đã đem theo thức ăn và thọ thực ngay bên đường.

Nhìn những súc gỗ to, dài hơn 4m cùng những thứ như xi măng, cát, đá,… nằm ngổn ngang bên đường, bất giác tôi cảm thấy nể phục cho sức mạnh phi thường và ý chí tự lực của quý sư cô - vác bao thứ nặng nhọc như thế, gương mặt quý cô vẫn không biểu hiện sự nhọc mệt mà còn luôn miệng mỉm cười! Trong khi đó, tôi mình không leo núi, miệng hổn hển thở, lại phải dừng liên hồi để nghỉ. Phải chăng, đó chính là sự kỳ diệu của con người và là sự diệu kỳ của Phật pháp?!

Cuối cùng, chúng tôi cũng đến được tịnh thất. Lúc này độ khoảng hai giờ chiều, trời lất phất mưa. Đường vào thất thật đẹp với những hòn đá nhấp nhô phủ đầy rêu và con suối nhỏ chảy dọc theo khuôn viên tịnh thất, vắt ngang con đường dẫn vào chính điện; đường trơn, nếu không giữ chánh niệm sẽ rất dễ bị té ngã.

Do đã liên hệ từ trước, nên vừa đến thất, chúng tôi đã được sư cô quản chúng niềm nở đón tiếp. Có lẽ đây là lần đầu tiên đến chốn đông người xa lạ mà tôi vẫn không hề có cảm giác e dè, lạ lẫm. Thái độ thân mật của sư cô quản chúng và ánh mắt từ bi của sư bà trụ trì khiến cho tôi có cảm giác thân thương đến kỳ lạ! Đã ngoài 80, xả bỏ hết thảy những công việc lo toan thường nhật, giờ đây Sư bà chỉ nhứt tâm niệm Phật. Trước kia, Sư bà vốn trụ trì một ngôi tự viện tại trung tâm thủ đô Hà Nội. Do Ni chúng Tây Thiên ngày càng đông, quý sư cô đã cung thỉnh Sư bà lên núi để làm bóng cây đại thụ cho đại chúng nương náu tu tập. Do đó, vì lòng từ bi, Sư bà đã trở thành thạch trụ của chốn già lam Tây Thiên.

Sau khi đảnh lễ sư bà, chúng tôi cùng đàm đạo với sư cô quản chúng. Nói đàm đạo, chứ thật ra nội dung câu chuyện chỉ xoay quanh các vấn đề về Mật tông và thời khóa công phu tu tập.

Thật ngạc nhiên khi được biết, tại ngôi tịnh thất hẻo lánh mất nửa ngày đường leo núi này lại có đến gần 80 sư cô! “Ban đầu, tịnh thất Tây Thiên chỉ là một thảo am nhỏ của 3 sư cô trẻ ẩn tu không ai biết đến. Sau vài năm, khách hành hương lên núi lễ bái, tình cờ họ thấy thảo am, nên từ đó nhiều người tìm đến; đặc biệt, từ khi Ni chúng ở đây tu theo Mật tông, người dân địa phương theo lên tu tập ngày một đông”, sư cô quản chúng cho biết.

Toàn bộ Ni chúng Tây Thiên hiện tu theo pháp môn Mật tông của dòng truyền thừa Drukpa với một thời khóa hành trì nghiêm mật. Dòng truyền thừa này đã được truyền từ 800 năm, qua 12 đời pháp vương với vô số hành giả, trải rộng từ Á sang Âu.

Để hướng dẫn Ni chúng tu tập theo đúng khuôn mẫu, 12 vị Ni Tây Thiên đã được cử đi cầu pháp, thọ học các nghi quỹ và pháp tu Mật tông ở một Ni viện của Đức pháp vương dòng Drukpa tại Kathmadu, Nepal trong vòng 6 tháng. Hình thức tu tập và quản lý Ni chúng Tây Thiên theo mô hình của các Ni trường miền Nam, lấy pháp Lục hòa làm kim chỉ nam, không theo mô hình một chùa - một thầy - một trò như ta vẫn thường thấy ở miền Bắc. Trên danh nghĩa, chùa có Sư bà trụ trì, nhưng mọi sinh hoạt và tu tập của chư Ni đều do ba vị chức sự quản lý và điều hành, trong đó, một vị chịu trách nhiệm về nghi lễ và đời sống Ni chúng, một vị chịu trách nhiệm về giáo dục và một vị chịu trách nhiệm về ngoại giao. Do ở núi cao, chư Ni Tây Thiên không thể tham gia các lớp Phật học của Giáo hội và các trường thế học, nên các vị Ni mới vào chùa đều được các vị đi trước hướng dẫn tu học cặn kẽ theo khả năng và trình độ của từng người.

Tuy lao động nặng nhọc, song toàn thể Ni chúng Tây Thiên đều không ăn chiều, ngay cả uống sữa hay bột ngũ cốc cũng không. Tinh thần tu học và tác sự của quý sư cô thể hiện rõ sự nghiêm trì giới pháp cẩn tắc, đặc biệt là pháp Lục hòa. Tất cả vật dụng cá nhân của Ni chúng đều bằng nhau và giống nhau, không vị nào nhiều hơn hay ít hơn, không vị nào cất giữ của riêng; tịnh tài, phẩm vật do Phật tử hoặc thân nhân cúng dường, dù nhiều hay ít, đều được tập trung vào quỹ chúng rồi sau đó đem chia đều cho mỗi vị.


… Trời tối. Mưa mỗi lúc một lớn. Lúc này các sư cô trẻ xuống núi khuân vác vật liệu xây dựng đã tập trung về tịnh thất đông đủ. Các cô đều ướt sũng. Sư cô quản chúng nhắc nhở mọi người mau mau đi tắm rửa kẻo bệnh và còn kịp thời giờ lên tham dự khóa lễ tối.

Và rồi, tiếng tù và ù ù ngân vang tịnh thất, báo hiệu tới giờ khóa lễ - đó là thời điểm mà tôi mong đợi nhất: được tham dự một khóa lễ Mật tông! Tiếng tù và chấm dứt, Ni chúng đã vân tập đầy đủ trên chánh điện. Sư cô Duy na thỉnh chuông bắt đầu khoá lễ. Buổi lễ hôm đó, hầu như tất cả các pháp khí Mật tông đều được sử dụng, từ kèn, tù và, ốc biển trắng cho đến trống, linh, chử,… Mỗi khi quý sư cô "trình diễn" các pháp khí, một bản hợp xướng linh thiêng lại ngân vang. Tôi có cảm giác như các âm thanh này xuyên sâu vào từng mao mạch, huyết quản của mình. Có nhiều pháp khí rất khó sử dụng, như: kèn, tù và, ốc biển,… phải cần rất nhiều lực để thổi, thế mà quý sư cô đều sử dụng không kém gì các vị Lạt ma. Tôi không thể tin rằng quý sư cô lại có thể sử dụng nhuần nhuyễn các pháp khí như thế!

Một ngày ở Tây Thiên, tôi đã được các sư cô hướng dẫn cho một số pháp tu căn bản. Thật không dễ để hành trì theo đúng khuôn mẫu. Chỉ riêng việc lễ lạy năm vóc sát đất (lạy nằm dài) thôi cũng khiến cho tôi cảm thấy rệu rã. Nhưng an lạc, lòng thư thái như nhận được sức gia trì của ngài Kim Cương Tát đỏa…

Lòng hẹn lòng vào một ngày gần nhất sẽ buông bỏ hết mọi thứ để chuyên tâm tu tập…

Thường Văn

nguồn:   http://giacngo.vn/

_________________________________
Tri Âm Quán
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Admin
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 293
Reputation : 1
Join date : 27/07/2013

Bài gửiTiêu đề: Chùa Tây Tạng: Vết chân đầu tiên của Mật tông Việt Nam   Wed Aug 21, 2013 9:16 pm

Chùa Tây Tạng: Vết chân đầu tiên của Mật tông Việt Nam

Thật không ngoa chút nào, khi tạp chí Chùa cổ Bình Dương cho rằng, chùa Tây Tạng là "dấu ấn đầu tiên của Mật tông”. 
Muốn khám phá sự kiện quan trọng này, chúng ta hãy dở lại từng trang, cho dù là khái quát, cái mà các vị Phật tử của chùa yêu kính gọi là Nhật ký Sư ông, mà sau này, trong phần biên tập lại, các đệ tử của Ngài, sư ông - Hòa thượng Nhẫn Tế - đã ghi lại trong một cuộc du hành gian truân của mình về với tạng cội nguồn của Pháp: Sự tích tây du Phật quốc.


Ta cũng có thể tìm thấy hành tích này trong Sơ thảo Phật giáo Bình Dương của T. Huệ Thông. Tuy nhiên, các mẫu chứng cứ rời rạc và không nhất quán trong tác phẩm biên khảo ấy, chỉ cho ta biết những nét đặc trưng của công cuộc đấu tranh trong thời kỳ đen tối của đất nước và một ít phát triển đơn điệu của các ngôi chùa ở đây.


                                                    Cổng Chùa Tây Tạng-Bình Dương
Lịch sử phát triển của một dân tộc, không chỉ là các cuộc xung đột giữa thiện và ác, giữa nô lệ và giải phóng, mà nó còn phải chuyển tải cho được hệ thống phát triển văn minh của mình như thế nào trong lòng cuộc đấu tranh như vậy, nếu ta cho rằng, Phật giáo là cốt tủy văn hóa không thể thiếu, nói chung, của nhân loại, nói riêng, ở chính Việt Nam. Tuy nhiên, công phu của tác phẩm biên khảo này vẫn đáng trân trọng. Lịch sử không chỉ là những con số thống kê, dù chỉ là thống kê sơ thảo, mà nó còn liên quan đến các lãnh vực xã hội, văn hóa, kinh tế và giáo dục, phong tục học..., nhất là, trong đó có vai trò tất yếu của Phật giáo.
Sư ông thế danh Nguyễn Văn Tạo, tên thường gọi là ông Mười Tạo, sanh năm 1888, ở thôn An Thạnh (bây giờ là thị trấn Lái Thiêu, huyện Thuận An), tỉnh Bình Dương. Sư là bậc am tường Đông và Tây học, và là công chức của ngành y tế. Sư “đam mê” Phật giáo từ năm 16 tuổi, sau đó xuất gia với Hòa thượng Ấn Thành-Từ Thiện, chùa Thiên Tôn với pháp danh Chơn Phổ-Nhẫn Tế, thuộc về cây phả hệ của giòng thiền Lâm Tế đời thứ 40. Sở dĩ sư có thêm pháp danh Minh Tịnh là do cầu pháp học đạo với tổ Huệ Đăng và thụ giới với Hòa thượng Ngộ Định-Từ Phong. (Theo Sơ thảo Phật giáo Bình Dương, gọi tắt là ST). Thuận theo hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp đô hộ thời bấy giờ, sư ông từng đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Hội Phật giáo cứu quốc Thủ Dầu Một do mặt trận Việt Minh hướng dẫn, và theo ST, thì Hội ra mắt tại chùa Hội Khánh vào ngày 23-3-1945 dưới sự chứng nhận của bác sĩ Trần Công Vị, Chủ tịch Ủy ban Hành chánh của tỉnh Thủ Dầu Một thời bấy giờ.


HT Thích Nhẫn Tế

Theo tôn giả Thế Thân, sự tồn tại của Phật giáo được cấu thành trên “đôi chân” của Giáo và Hành. Giáo, tức là những công trình tư duy, nghiên cứu, xiển dương... những gì vốn được bẩm thụ từ Phật dạy, và Hành, tức là sự nghiêm chứng của tự thân, trên cơ sở truyền thừa. Cả hai, là toàn khối văn minh xuất thế của Phật giáo và nhờ đó mà Thế pháp được tồn tại, nói cách khác, sự thanh bình của thế gian, luôn sở y trên khối thống nhất vi diệu ấy. Thế là chúng ta có một cuộc xuất dương của một trong những hành giả mộ Phật vào những ngày giữa đầu thế kỷ thứ 20. ST cho biết rằng, sư ông là một trong những vị đầu tiên mang Xá lợi của Phật về Việt Nam và được nghiêm thờ đến giờ tại chùa Thiên Thai, Bà Rịa, Vũng Tàu.

Lên đường
Nhật ký sư ông (gọi tắt là NK), cho ta biết là, công việc xuất dương của sư được hoàn tất hơn 15 ngày với bao thủ tục phiền hà của một đất nước bị trị - chế độ mật thám và “lý lịch chánh trị” - đúng vào ngày 17-4-1935, sư lên tàu trực hướng Ấn Độ, khoảng 5 giờ chiều cùng ngày, sau khi lễ Phật và tạm biệt thân bằng đạo hữu. Sư cho biết là, mình xin Phật để lại pháp phục "theo tục lệ nước nhà mà đi. Qua đến Tây Thiên sẽ tùy cơ ứng biến. Đó là đề phòng ngoại đạo, e biết pháp phục mà sinh khó”. Và, "mới một lần thứ nhất có cái hạnh phúc này, vì sao lại không vui, mà lại có sắc buồn bã là cớ sao?” (NK. tr.4).
Tàu nhổ neo, bỏ Sài Gòn lại, chỉ còn sóng nước chập chùng, trùng dương viễn mộng. Bấy giờ là những ngày trăng tỏ, tháng ba Âm lịch, biển cả tịnh êm và như thế ta được hai khổ thơ tuyệt diệu như sau:

Cửa sổ ngựa qua, đời mấy lát,
Lỗ-bô tàu chạy cảnh thay liền.
Hỏi thăm giả thiệt, cùng Hoàn vũ,
Giấc mộng trả lời, dứt đảo điên.
Và,
Gió êm, biển lặng bóng trăng lồng, 
Đáy nước, bầu trời, một Hóa công,
Đuốc nguyệt, đèn soi trên dưới tỏ,
Thiên, Long hội yến tiễn bần tăng.
Thế đó, 8 ngày đã đi qua, 8 ngày trên đại dương mênh mông ảo hóa, bậc hành giả của chúng ta đã cảm nghiệm được "chân như" trong huyễn tượng, "thường tại" trong "cửa sổ ngựa qua, đời mấy lát", và rồi, tàu cũng thả neo khi đến tận bờ bên kia, nơi mà đức Phật hiện thân, đứa con của Bát nhã - Ấn Độ, Tây Thiên Trúc.
Thế đó, du khách của chúng ta, trong 8 ngày, tự mình tham học tiếng Anh, tiếng người Nam Ấn, tức là tiếng Tamil, tham quan cảnh trí Singapore và nơi đây, ta lại một lần nữa, được lắng mình trong vài khổ thơ trầm mặc:
Không kim, không cổ, vẫn quen nhau,
Cảnh huyễn, mài bôi, ngũ thể màu,
Mắt huệ toàn xem, nào có lạ,
Nơi mô cũng gặp, ngảnh là sao?
Là sao bỉ thử, buổi hôm nay?
Ngũ dục tranh mồi, quên lửng ai;
Nhượng hết cho đời, tay rũ sạch,
Xin đừng chia rẽ, nói là hai.

Rạng sáng ngày 25-4, tàu vào cảng Madras và hành giả lưu lại đây ba ngày, có khi thì cải trang thành đạo sĩ Bà La Môn, có khi thì cải dạng là đạo sĩ Hindu, nhờ vậy mà Ngài “xông pha” với họ một cách dễ dàng, “người bốn thổ [hay bốn châu thiên hạ], không lạ mắt như cái áo tràng”. (NK, tr.23). Bởi vì, ở đây, tuy người ta không sùng Phật, nhưng vẫn nể trọng kẻ xuất gia.
8 giờ sáng, tàu hỏa rú còi rời Madras hướng đến Xá Vệ Quốc (Calcutta) và  rạng sáng ngày 30-4 thì tàu đã đến nơi đây. Sau đó, khoảng 3 giờ chiều, hành giả làm thủ tục đi về Bénarés (Ba La Nại) bằng vốn liếng tiếng Bắc Ấn có được suốt ba ngày trên tàu hỏa, vì đôi chút tiếng Tamil đã học không sử dụng được nơi đây. 


Thủ bút của HT Thích Nhẫn Tế

Nhập thành Ba La Nại
Hướng về thành Ba La Nại, nơi mà giáo pháp đầu tiên vận chuyển và cũng là nơi mà năm anh em ông Kiều Trần Như đắc thánh quả. Nhật ký ghi rằng “mang gói ra đi, phú mặc cơ duyên, bần tăng chỉ vững lòng niệm Phật đi tới”. Chất văn bắt đầu từ tr.29 - tr.36 toát lên sự an ổn lạ kỳ, tuy đã vào nơi thánh địa, tuy gặp toàn ngoại đạo, nhưng lòng lữ khách vẫn không phân biệt, luôn kính ngưỡng, vẫn hướng lên phía trước cho đến khi nào chạm mặt Phật tích thì thôi. Suốt đêm thao thức nơi thành Ba La Nại, hành giả bỗng nhiên uất nghẹn, bao nhiêu tập khí muộn phiền ngàn xưa, bỗng đâu trút sạch và nghe trong hư không như có tiếng hộ trì. Vậy đó, hành giả đã lưu lại tại chùa ngoại đạo ngót cả hai tuần với tâm niệm “phép làm người tu hành trong đạo Phật, sở dĩ là tùy thuận, nhẫn nhục, là cái bài học cần yếu của nhà Thích tử”. Và ngày 31-4, bước chân hành giả đã nhập thành, tính ra trọn nửa tháng ròng mới thỏa ước mơ. "Có lẽ chí nguyện đạt thành từ đây”. (NK tr.34). Mãi đến ngày 14-5 "nghe nói có chùa Phật cách xa thành Xá Vệ tám ngàn cây số, xin cho người dẫn đi viếng chùa Phật”; và rồi "thẳng vào chánh điện thấy tượng Như Lai, phút chốc động lòng, sa nước mắt, vì từ 17 tháng Tư tới nay không đặng lễ bái thánh tượng”. Thì ra đây là chùa của hội Mahâ-Bodhi (Đại Bồ Đề) của Tích Lan, hội chúng đó đến đây để chấn hưng Phật giáo.

Sáng hôm sau đó, hành giả chúng ta từ giã nhà thờ đạo Hindu, "quảy gói đi bộ tầm Tăng-già mà vào, phút gặp hai vị Sa-di Xiêm đạo hiệu là Mêta và Karnna,” (NK, tr.53) sau khi ra mắt nhau, nhờ huynh Mêta biết đôi chút tiếng Pháp, nên chuyện vãn, hành giả mới biết chỗ mình vừa đến chính là Lộc-giả-viên (Sarnath) và như thế là, sư ông xin gia nhập hội. Ở đây, hành giả an lòng học tiếng Anh và tiếng Hindi vừa đủ giao tiếp phổ thông với những đạo huynh cùng hội. Và cho đến tháng 11-1935, sư ông mới chính thức xin đến cội bồ đề, nơi Đức Thích Ca tọa thiền để lễ bái cúng dường. 
Giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 11-1935, NK không cho ta biết sư đã làm gì, nhưng ta cũng đoán ra rằng, đây là khoảng thời gian mà sư ông, bậc hành giả của chúng ta, buộc phải học bản ngữ Ấn Độ và nhất là tiếng Anh, sự kiện này, chính những lá thơ sau đó mà sư đã viết cho tòa Lãnh sự Anh v.v... và thời gian còn lại, là những thời gian, ta biết chắc rằng, sư ông dành hết cho tọa thiền và quán tưởng các chủng tự Phật, như các tiểu đoạn của tr.51-53 đã ghi, khi sư quán chữ (अ)  hay là quán "mặt nhật ở mi gian của Phật tổ”, "chập lâu có đến 10 phút, tôi mới lấy mắt nhìn dòm người nơi mé sông, thì sắc diện ai cũng đặng màu kim sắc. Tôi toại nguyện bình đẳng quán”. (NK, tr.52).


Kỷ vật của HT Nhẫn Tế từ Tây Tạng

Đoạn nhật ký này dạy ta biết rằng, “Đại và Tiểu thừa” không có một ranh giới nào cả trong lòng của sư. Bởi vì, khi vào vườn Lộc Giả, chính sư đã xin gia nhập hội của chư sư người Tích Lan, tức là các vị Phật giáo Nguyên Thủy. Vấn đề ở đây, là “đứa con chung của một đấng cha lành - Đức Phật” và, người cha nào lại không muốn con mình “thành Phật” bao giờ. Sự kiện này cho ta biết rằng, với lòng thiết tha cầu Phật, với nơi nào có tháp tích, điện thờ Phật Đà, thì nơi đó luôn là Phật địa, luôn là bình đẳng địa, như phép quán mà sư ông từng thực hiện, cho những ai cầu pháp, và ta đã có một sư ông như vậy.
Một sự kiện thật là quan trọng diễn ra trong khoảng thời gian đầu tháng Giêng năm 1936 (15 / janvier / 1936), là sư đã được tháp tùng cùng các vị Lama đi Népal để lễ Thánh tháp. Phái đoàn hành hương gồm có: sư (người Việt Nam), tì-kheo Phạm Ngộ người Hoa và, Losang Lama, Losang Kompo, Kolchch Tâmpa (ba vị sư Tây Tạng). Sau khi vuợt qua hàng ngàn cây số, đoàn hành hương cũng đã đến Tuyết Sơn, tức thắng địa Népal, lúc đó khoảng 4 giờ sáng, ngày 2-2-1936, tức ngày mùng 10-1-Bính Tý.

Ta nói sự kiện này quan trọng, là vì, chuyến đi ấy, sẽ mở ra một nhân duyên cho việc tấn nhập Tây Tạng của sư mà mục đích duy nhất là: nếm tận nguồn pháp vị như vậy của cả hai pháp tu mà hành giả của chúng ta vốn đã thực hành, như ta biết, đó là: sư thực hành cả hai pháp tu, Thiền Mật như trong những trang nhật ký đã cho biết. Sự kiện này cũng nói lên rằng, lịch sử cụ thể của Thiền và Mật, trên dòng chảy của Phật giáo Việt Nam, nói chung, sư là vị được trực tiếp truyền trao, bởi vì, đúng như ST cho biết: “Ông nghiên cứu Phật giáo từ năm 16 tuổi, sau đó xuất gia với hòa thượng Ấn Thành-Từ Thiện, chùa Thiên Tôn với pháp danh Chơn Phổ-Nhẫn Tế, thuộc về dòng Lâm Tế đời thứ 40” và cũng đúng như bài viết của TS. Trần Hồng Liên, “Chùa Tây Tạng - dấu ấn Phật giáo Mật tông Tây Tạng” đăng trong tập san Khoa học Lịch sử Bình Dương, số 1, tháng 12-2005, và bài viết này được phát triển thành một tiểu luận, với tiêu đề: "Chùa Tây Tạng, Bình Dương: ngôi chùa duy nhất ở Nam bộ mang dấu ấn Mật tông Tây Tạng” đăng trong tập san Chùa cổ Bình Dương và đây là những gì mà ta đang đeo đuổi.

Tuy nhiên, tại nhiều nơi trong NK, cho phép ta tuyên bố rằng, sư còn là một hành nhân Niệm Phật nữa. Chúng ta nên nhớ, giáo pháp dù là giáo pháp gì được Phật thuyết ra, chính là Sắc, bởi vì nó là phương tiện và cũng bởi vì, nó được thuyết ra cho ba cõi. Và, chính Đức Phật đã nhập Niết bàn trên sắc pháp này, tức là cảnh giới của Thiền thứ tư vậy. Do đó, trên cơ sở như thế, Đại thừa kiến lập học thuyết “Tam Thân”, là vì ngoài sắc, thì chúng sinh trong ba cõi biết dựa vào đâu - chúng ta có Bồ tát hạnh. Nghĩa rằng, cho dù “Trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật”, thì “trực chỉ” vẫn phải luôn là Sắc trong mọi trường hợp, còn “kiến tính” thì hãy để cho hành nhân tự nghiệm bằng chính Phật tâm của mình. Theo chỗ tôi biết, chùa Tây Tạng, mỗi tháng vẫn hai ngày tổ chức lễ sám, mỗi chiều về viếng chùa, Phật tử luôn nghe chư sư tụng niệm Di Đà, Phổ Môn. Bởi vì, chúng ta, đôi khi đọc NK sư ông bằng cái tâm lạm phát (inflationary-mind) của mình nhiều hơn, cái mà thuật ngữ Phật giáo gọi là “ngã mạn - adhimàna”, cho nên ta làm sao mà hiểu được hành tích của sư ông, thế thì, có cái gọi là “tông môn”, “giáo phái” mới có cơ hội xuất sinh theo lẽ thường tình. Nói theo Duy thức, mọi thứ cưỡng danh, cũng chỉ là “danh ngôn tập khí - adhivacàna” mà thôi. Cái “phần mềm” của bất cứ giáo pháp nào, thì phải do ta tự nghiệm.

Trở lại, 4 giờ sáng ngày 3-2-1936, đoàn đã đến chân núi Hy Mã Lạp Sơn, thuộc nước Népal, họ đã viếng thăm tháp "Sư tử, tẩy uế và lễ Phật, nhiễu tháp”. (NK, tr.60). Sau đó, bằng mọi phương tiện, trải qua 6 ngày gian khó, đoàn đã trực nhập Népal. Và ở đây, nơi tháp Bouddha-Narth, sư đã thỉnh đặng một số Xá lợi Phật, hiện đang trang nghiêm tại chùa Thiên Thai, Bà Rịa, Vũng Tàu, và một ít cũng đang được phụng kính nơi chùa Tây Tạng. NK ghi rằng: "Đó là bình Xá-lợi của Phật Thích-Ca, thầy mà lễ đặng món ấy cũng như chơn Phật thân... Nghe qua, bần tăng chưng hửng. Chập lâu, bèn thưa: nghe rằng, xưa kia Xá-lợi đã phân từ bửu bình, chia mỗi tháp một bình, mà đây sao lại nhiều bình? Ngài [thượng tọa quản tháp] rằng: phải, nhưng duyên cớ ấy có lẽ ông cũng hiểu, vì ông là Thích tử, lựa hỏi tôi làm chi? Bần tăng chắp tay bạch rằng: ở An Nam qua tới xứ này là thiên sơn vạn hải, thì có đâu đặng rõ biết duyên cớ ấy, xin Ngài hoan hỷ. Đoạn Ngài dẫn tích: xưa thì Xá-lợi Phật tổ ở tại tháp Niết-Bàn (Cu-thi-na-quốc), lúc binh Ăng-lê náo loạn, thì tổ sư bèn dời qua nước Niếp-ba-lê, thờ tại Sư-tử tháp này. Từ khi ngoại đạo thạnh hành, Phật đạo đã qua [bước sang] thời kỳ mạt pháp. Ông qua tới Thiên Trúc, ông có thấy những tháp tự tiêu tan hư sập chăng?... Bần tăng về cả ngày buồn bã, bữa ngọ biếng ăn. Cái tham tâm đã dậy động và nghĩ rằng, "Mình đi, mình thấy, mình đặng lễ bái, mà ngặt một điều là: thương thầy bổn sư [y chỉ sư], tuổi đã cao mà công cũng cao trong nền đạo hạnh, nhưng không đặng thấy và lễ bái. Trọn ngày đêm van vái vọng tưởng đức Như Lai, xin thương Nam-Việt chư Thích tử và chúng sinh xui sao cho đệ tử cầu đặng chút phần Xá-lợi đem về nước Nam (đó là cái tham tâm nó lộ là vậy: đã lễ bái được rồi muốn thấy, thấy rồi lại muốn cho đặng đem về xứ mà chia phước với chư Tăng và bá tánh)... vì Ngài cũng rõ, Xá-lợi là vật báu nhà Phật đạo, sáu đời hằng giữ chỗ này, chưa có ai đặng hồng phúc ấy... Thôi thôi, vì đạo đức của thầy, vì công đức khổ hạnh của thầy, vì chúng sinh, dầu tôi có bị khổ sau khi dâng cho thầy chút đỉnh Xá-lợi, thì tôi cũng cam tâm.

Ôi! nghe qua dường như bệnh hấp hối mà gặp thuốc hồi dương, nên lễ nữa, ngài đỡ dậy và nắm tay kéo thẳng vào đại điện, lấy chìa khóa mở cửa tháp, vào vọng bái, quỳ lại, rồi đứng dậy, nói rằng: nhơn duyên bao nhiêu thì đặng bấy nhiêu, tôi không biết. Nói rồi, bưng bửu bình xuống, bảo bần tăng lấy một cái khăn vải vàng của bổn đạo cúng trên điện, để lên đầu, trải ra, ngài trút cả bình lên khăn, thì nghe có chút ít rớt vào khăn. Dở bình lên, bần tăng bèn túm lấy khăn, rồi lễ bái đi ra. Ngài căn dặn, cẩn thận, rồi ngài đưa ra cửa. Bần đạo kiếu luôn... lòng mừng khấp khởi”. (NK, tr.68-69).
Qua đây, ta thấy rằng, mục đích Tây du của sư không chỉ vì sự ham muốn của cá nhân mình, mà chuyến hành hương ấy, còn mang theo cả tâm nguyện của mình cho toàn dân tộc Việt, cho hạnh phúc của chư Tăng và bá tánh nữa. Một lần nữa, ta học nơi đây, hạnh nguyện của một chúng sinh có tuệ giác. Do vậy, khi bước vào cổng của chùa Tây Tạng, ta bắt gặp ngay hai câu kệ khắc trên hai trụ đá của chùa:

西歸獨?妙天真寶
藏出含靈地正香  
Tây quy độc diệu thiên chơn bửu
Tạng xuất hàm linh địa chánh hương.
Tạm dịch: 
Ngọc thật của trời độc diệu từ Tây lại
Chánh hương của đất chứa  linh thiêng do Tạng sinh.

TS. Trần Hồng Liên, cho rằng, “thiên chơn bửu” nhắm vào hai chùa Thiên Chơn và Bửu Hương (các ngôi chùa do sư kiến lập hoặc trùng tân) và “Tây” thì cho là Tây Tạng. Tất nhiên, để chứng minh cho bài viết của mình, ở góc độ lịch sử, nên ST đã quy như vậy, và đây cũng là một mẫu chứng cứ phổ biến, hợp lý (tiếc rằng, trong tiểu luận tạp san Chùa Cổ Bình Dương chữ 靈 đ viế lộ thành 零. Nguyên văn là hàm linh [含靈],chỉ cho chúng sinh có tình thức). Tuy nhiên, 天真寶, còn có nghĩa là ngọc Như ý (maniratna), bản chất trong sáng đặc thù và 藏出, có nghĩa là xuất từ Như Lai Tạng hay gọi là xuất từ chủng tính Như Lai, cũng có nghĩa là, ‘pháp giới Tạng thân, gọi là A Di Đà Phật”, chớ không phải là bọn dị sinh hay prthak; còn “正香 - chánh hương”, có nghĩa là: Định hương, Tuệ hương và Giới hương, ba yếu pháp làm nên đời sống xuất thế của Phật giáo và, 地, chỉ cho Thập Địa (dasabhùmi) của Bồ tát đạo; hàm linh (含靈), chỉ cho tính phương tiện Sắc châu biến hay phổ quát từ Phật tính; Tây (西)  và Tạng (藏) ghép lạ, chỉcho chùa Tây Tạg trong cách uyên thâm Nho họ củ sư Tóm lạ, hai câu trên, theo thiển ý có nghĩ là "ai cũg có thể tu thành Phậ cả vì sinh ra từ Tạng Như lai, nhưng pháp môn thù thắng nhất, phải là từTây lại".

Tấ cả những điều đó  sẽ có thể nên lý giải như thế nếu xét trên quan điểm triết học của Đại thừa. Song, trí phàm làm sao dõi được hành tướng của bậc “vô vị chân nhân” Thế nhưng, có một điều chắc chắn rằng, hạnh của sư phải là hạnh “vô công dụng hạnh” mới đúng, tức là thanh tịnh hạnh, hạnh không tư lợi, như ta bắt gặp bất cứ nơi đâu, trong toàn NK. Nếu chúng ta viếng chùa, trước khi vào chánh điện lễ Phật, ta sẽ gặp trước tiên là một cái tháp khiêm tốn có bốn tầng, tầng đầu có khắc họa hình của sư tầng kế là câu "từ Lâm tế pháp nhãn gia phong, húy  như đi Pháp Minh, diệu vân yết ma vị?, viết bằng Hán tự tầng ba là bài chú “Om manipadme Hùmॐ?ण?प?्?ेह?ं - Om trong hoa sen là ngọc Như ý Hùm”viết bằng tiếng Tây Tạng và tầng trên cùng là lục tự "Nam mô A Di Đà Phật” bằng Hán tự Tháp này do Hòa thượng Tịch Chiếu, tổ thứ nhì của chùa thực hiện. Đặc trưng cấu trúc của  tháp này cho ta biết theo “tư kiến” là, sư không xiển dương, hay chủ trương bất cứ giáo pháp nào, cho dù, sư là một Lama đắc pháp chánh truyền từTây Tạng.
Trở lại, vào ngày 7-2, đoàn khởi hành về Bồ Đề Đạo Tràng, ghé viếng đại học Nalanda, hồi tưởng đại sư Huyền Trang khi xưa có lần ở đây học đạo, lễ bái thạch tòa đạo tràng, nơi Phật dừng chân khai hóa. Đàn trú nơi đây suốt ba tháng và thực hiện mọi công hạnh của một Thích tử như công quả cúng dường, chiêm bái khắp các thánh tích. Và rồi, sư xin phép Hội Đại Bồ Đề đi Tây Tạng.

Nhập Lahsa, kinh đô Tây Tạng
Đã vào thành Lahsa rồi, mãi đến 3-7-1936, sư mới được yết kiến và hành lễ với quan nhiếp chánh với tư cách là Quốc vương Bơdalama (tức là quan nhiếp chính của vương quốc Tây Tạng thời bấy giờ, bởi vì đức Dalai Lama, người kế vị chánh thức mới chừng 5 tuổi mà thôi), lúc bấy giờ Quốc vương (quan nhiếp chính) chỉ 27 tuổi. NK ghi rằng: “ Bữa điểm tâm cải salade chấm muối, không có giấm mà trộn salade. Đoạn 9 giờ, quan thừa tướng cho người lại bảo, giờ này đi đảnh lễ Quốc vương Bơdalama đặng; Bảo rằng: bần đạo phải đắp y bí-sô, chớ không nên bận đồ Tây Tạng đi yết kiến Quốc vương. Y theo lời dạy, rồi cùng huynh đệ của Samdhen, bốn người khuân lễ vật... Lén ngó, thấy Đại đức Bơda Lama Quốc vương (tuổi) tác còn thơ (hỏi lại thì mới 27 tuổi, thế ngôi Tả-lê lama Quốc vương tịch, đặng bốn năm), mặt mày sáng láng, ngồi nơi long đơn trải gấm Tây Tạng. Nội bọn, chỉ bần đạo đắp y vàng rực từ trên sấp dưới, làm cho Quốc vương chăm chỉ ngó ngay, các quan nội điện đều để mắt. Đoạn Samdhen đảnh lễ, bần đạo y theo, rồi Samdhen đem Anh-lạc long tợ dưng... các quan hầu mời bần đạo ngồi nơi đơn cao... Đến nay đi ra mắt Quốc vương thì thừa tướng đã tâu trước, lại đi với bọn tôi, đi con đường đến ngự điện, ai ai thấy cũng biết, nào ai dám nói. Lại thêm lúc về tuy nội bọn đi không có Lama quan dẫn đường, nhưng nhân dân quan lại xem thấy cái niệt điều trên cổ [tức là khúc vải vàng quấn cổ vua ban] cũng đủ biết ở trong ngự điện, hoàng thiền mà ra. Bần đạo nghe qua, niệm Phật và cảm oai linh Phật lực ủng hộ làm cho bần đạo an ổn các nơi vô chướng ngại”.

Từ thời điểm này, sư chánh thức là một vị tu sĩ Tây Tạng, cho đến khi sư đắc thiền pháp và được Pháp danh là: Thubten Osall Lama (có nghĩa: Thubten là tên đức Tả-lê Lama Thái thượng hoàng đã băng hà. Thubten là vòng cứng bền chắc kim cương. Còn chữ Osall là: ánh sáng mặt trời, tên của đương kim quốc vương Lama, nên bần đạo biết là: Huệ nhật. (NK, tr.319-320) và pháp danh này được loan báo khắp nơi.

Ngày 30-6-1937, lúc “ 7 giờ sáng sư về Sài Gòn, về tới am 11 giờ trưa”. (NK, tr.406). Đúng ra, sư còn phải ở Tây Tạng một thời gian nữa, nhưng, theo NK, các sư Tây Tang cho biết là đất nước mình sẽ trải qua binh biến, nên sư không thể lưu lại được. Ta thấy, “pháp nạn” của Tây Tạng, vốn đã được người Tây Tạng biết trước rồi. Và đây cũng là vấn đề lịch sử, xét trên thánh trí của các Lama. 
Theo NK, ta có thể chia ra làm hai phần: từ tr.13-tr.186, là quá trình chiêm bái Phật tích ở Tây Trúc và, từ yt.192-tr.317, là quá trình tu học tại Tây Tạng. Nghĩa rằng, sư đã thật sự “hóa thân” làm một Lama Tây Tạng với mọi công hạnh đặc thù của một Lama - học Tạng văn, thiền định, quán tưởng Tứ niệm xứ theo cách riêng của Phật giáo Tây Tạng, trì chú và các phương pháp Yoga mang tính vật lý đặc thù (của Tây Tạng)... - cho đến khi đắc pháp và thọ pháp danh.

Với lối văn bình dị, khoa học và giàu lòng bi, NK dẫn ta đi vào chi tiết của lịch sử Phật tích ở Ấn Độ, các tập quán cũng như các phương thức tu hành Phật giáo cũng như của các ngoại đạo, lồng trong đó là các quan điểm trung thực và thắm đượm tình cảm của sư. Và rồi, bản văn dẫn ta vào đất nước Tây Tạng với các chuỗi gian truân trong quá trình cầu và đắc pháp. Có thể nói, vào những ngày giữa của phân nửa đầu thế kỷ XX, thì NK, không chỉ là một nhật ký, mà còn là một áng văn ký sự thiên tài, một vần thơ lộng lẫy của một nhà thơ giàu tình cảm, thấm đượm tính nhân bản và Phật bản. Hơn thế, NK còn thể hiện là một giáo pháp thực sự của một bậc chân tu. Nó chuyển tải hầu hết mọi thể nghiệm của “căn” và “cảnh”, một quá trình lịch nghiệm của một cá nhân. Xa hơn, NK đã trở thành kim chỉ nam cho cả hai mặt: lịch sử thuở “bình minh” của Mật giáo ở Việt Nam nói chung, và nói riêng tại Bình Dương, và lịch sử giáo chứng nữa.

Như một điểm son, một vết chân trên dòng lịch sử còn nhiều khuất tất, bởi vì, chỉ hai chữ “truyền thừa” vốn đã mang lại biết bao xung đột hệ phái trong bất cứ tôn giáo nào, bất kể Phật giáo hay là không. NK sư ông là một dấu ấn lịch sử, nó chia phần mình cho giáo pháp và cho tất cả chúng sinh, như chính chân lý chia phần bình đẳng cho tất cả. Phật giáo, thật vậy, như con Rồng thần, người ta chỉ có thể thấy được phần “đuôi” của nó. Chùa Tây Tạng, cũng như, có thể còn biết bao nhiêu ngôi chùa như thể với dáng vẻ khiêm nhẫn của mình, đã chuyển tải nơi tự thân biết bao điều huyền nhiệm và điều này cần đến sự phê xét và nghiên cứu của những nhà sử học. Bởi vì, nói cho cùng, cả Mật và Thiền mà sự tồn tại của cả hai, phải luôn được sở y trên bình diện trực truyền đúng như bản thân của chúng.

Nằm dưới rừng đại thọ đã thành lõi xám, chùa Tây Tạng ( “đã được nhiều lần trùng tu và ngày thêm trang nghiêm theo lối kiến trúc kết tân. Chánh điện thiết kế thờ phượng như một pháp hội khi Phật còn tại thế. Ở giữa điện thờ Phật Thích-Ca (tượng cao thiền tọa 2m3). Chung quanh gồm chư Phật ở các vị trí như tầng dưới thờ Địa Tạng, Di Lặc; tầng kế thờ Phổ Hiền, Văn Thù; tầng trên là Quan Âm, Thế Chí... Đặc biệt đích thân Hòa thượng trú trì (tức hòa thượng Tịch Chiếu, hiện còn tại thế, tuổi đã ngoài 95) cũng góp phần tham gia vào việc chỉnh sửa trong quá trình tạo tác một số ảnh tượng Phật như tượng Đức Bổn Sư... cho được hoàn mỹ hơn... Sau lần đại trùng tu vào năm 1992, chùa có dáng dấp gần giống như một ngôi chùa Tây Tạng. Chánh điện cấu trúc hình khối vuông, chính giữa là ngôi tháp (stupa), tứ giác có chiều cao trên 15 mét. Cách thiết kế tầng thượng ở mặt bằng nốc chùa... năm điện thờ năm vị gọi là ‘ngũ trí Như Lai’ (chiều cao mỗi vị 1m5)...

Đặc biệt hơn cả, có lẽ Minh Tịnh là nhà sư Việt Nam đầu tiên ghi chép, lưu giữ được hình ảnh, sự kiện cuộc hành trình về đất Phật một cách chi tiết đầy đủ từng ngày từ Viêt Nam qua Ấn Độ - Népal - Tây Tạng và ngược lại. Cuốn nhật ký này, có thể xem như là tập “Tây Trúc - Tây Tạng ký” ghi rõ thời gian, các địa danh và Phật sự suốt cuộc hành trình từ khi ngài xuất hành từ Thủ Dầu Một, Bình Dương, rời bến Nhà Rồng (Sàigòn) vào ngày 17- 4-1935 cho đến lúc trở về Việt Nam vào ngày 30- 6-1937 (kéo dài 2 năm 2 tháng 13 ngày). Cuốn nhật ký ghi bằng thủ bút của Ngài với nét chữ nghiêng, đẹp, rõ ràng bằng chữ quốc ngữ, có xen lẫn ghi chú thêm bằng tiếng Pháp, Anh (Tây Tạng, Phạn...). Nhật ký có độ dày trên 300 trang khổ lớn, hiện còn lưu giữ cẩn thận tại chùa Tây Tạng”. Và, có thể nói “Ngài là một “tiểu Huyền Tráng của Việt Nam” ) vậy. (Theo tập san Chùa Cổ Bình Dương).

Để kính tán công đức của sư đối với nước Việt nói chung và riêng đối với Bình Dương và rất riêng đối với người viết - bậc hành nhân sau khi đắc pháp từ Tây Tạng về, đã “mặc như lôi” cho đến khi thị tịch, nghĩa rằng, Phật giáo chỉ có thể tìm thấy nơi một vài vuông đất “thổ cư” khiêm tốn hơn là nơi hàng trăm mẫu đất “trồng cây ăn trái” hay “đất nông nghiệp” - đã có chút phước duyên đọc được NK này với “tư kiến” của mình. Cho nên, xin trích một bài chú thuộc hệ Bát Nhã nhằm quy mệnh dưới phẩm tính ấy. Chú viết:”ओं आ ई ऋ. ऊ  लरि पंचधातुविशोधनि स्वहा (Các linh tự như:  Om, ā, ī, ū, là những linh tự phải đắc thành trong cách tịnh hóa  ngũ căn.)

PHÁP HIỀN

nguồn: http://giacngo.vn/

_________________________________
Tri Âm Quán
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: ***Mật tông***   

Về Đầu Trang Go down
 
***Mật tông***
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn được quyền trả lời bài viết
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang :: Căn Bản Phật Pháp-
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề nàyChuyển đến