Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang
Chào bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang!
Diễn Đàn là nơi giao lưu kết bạn, sưu tầm, lưu trữ, học hỏi và chia sẻ kiến thức.
Để cùng nhau tiến bộ trên con đường hướng thiện.
Chúc bạn sức khỏe và có nhiều thành công mới trong cuộc sống!

Om mani pad me hum
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang

Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho; một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tạo lấy.
 
Trang ChínhTrang Chính    CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Chào mừng các bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang! Chúc các bạn sức khỏe và thành đạt! Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang.

Share | 
 

 MINH TÂM BẢO GIÁM

Go down 
Tác giảThông điệp
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5965
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: MINH TÂM BẢO GIÁM   Fri Oct 26, 2018 10:07 am


1 - Ý nghĩa tác phẩm.
Tên gọi Minh Tâm Bảo Giám   có nghĩa là "gưong báu” (soi) sáng lòng” - gương báu chỉ những lời răn dạy của thánh hiền (những nhân vật trong xã hội và lịch sử có trí tuệ, nhân cách vượt trội mọi người) Lời răn dạy của các nhân vật ấy vốn chịu nhiều ảnh hưởng của ba luồng tư tưởng chính thống trong xã hội Á Đông: Nho, Phật, Lão.

Những tư tưởng ấy tồn tại hăm lăm thế kỷ nay và đã góp phần tích cực cho đạo lý làm người. Ngày nav chúng không còn giữ nguyên vẹn giá trị giáo điều như buổi đầu mà phần lớn chỉ còn giá trị tham khảo. Tuy nhiên, chân lý của chúng vốn đã được loài người vận dụng vào cuộc sống suốt một thời gian dài, Vì vậy những ai cảm thấy dị ứng với chúng cũng có nghĩaa là dị ứng với nhân loại trong quá khứ, tức dị ứng với tiền nhân.

II - Nguồn gốc tác phẩm.
Sách Minh Tâm Bảo Giám xuất hiện ở Triều Tiên (Hàn Quốc) vào cuối thế kỷ XIII do một văn thần triều vua Trung Liệt vương biên soạn. Văn thần ấy là Thu Quát (1245 -1317) người Triều Tiên gốc Trung Quốc.
Tổ xa đời của Thu Quát là Thu Khải  giữ chức Môn hạ Thị trung (chức quan làm việc cạnh vua) ở Trung Quốc dưới triều Tống Cao Tông (1127 -1162). Bấy  giờ hầu hết lãnh thổ Trung Quốc đã về tay quân Kim (thuộc bộ tộc Nữ Chân, cư dân ở khoảng giữa sông Tùng Hoa và sông Áp Lục, tổ tiên của nhà Thanh sau nầy) lãnh thổ nước Liêu và nhà Tống đang bị thôn tính dần dần theo kiểu tằm ăn dâu (Kim Thái Tổ đã lên ngôi từ năm 1115) Cuối cùng vua tôi nhà Tống di tản về Phúc Kiến, trở thành nhà Nam Tống (1127-1179), thần phục nước Kim trong bước đường cùng, chấp nhận nhiều điều kiện cực kỳ nhục nhã.
Trong tình hình ấy, Thu Khái bỏ quan lưu vong sang Triều Tiên, định cư ở Hàm Hưng được khoảng năm đời, đến đời Thu Quát làm đến chức Dân bộ Thượng thư Nghệ văn quán Đại đề học (hàm nghĩa như Bộ Trưởng Văn Hóa ngàv nay).

Trong thời kỳ còn giữ chức Giáo dục Quốc Học, vào năm Trung Liệt 31, Thu Quát tiến hành chọn lọc tinh hoa chư tử biên soạn nên sách Minh Tâm Báo Giám gồm 260 câu, chia làm 19 thiên. Sách liền được hoan nghênh rộng rãi và được chọn làm tài liệu giảng dạy. Hiện nay tại thư viện Nhân Hưng trong khuôn viên từ đường họ Thu ở thành phố Đại Khâu, Hàn Ouốc còn bảo quản hơn 160 mảnh khắc gỗ sách Minh Tâm Bảo Giám của Thu Quát (tên người, tên đất trên đây được phiẻn âm theo Trung Ouổc).
Đến năm Cung Du Vương 12, cháu nội Thu Quát là Thu Suyền   quay về tổ quốc tham gia nghĩa quân Chu Nguyên Chương (1328 -1398). Khi nhà Minh thành lập (  1368) Thu Suyền trở thành công thần mở nước. Nhân cơ hội ấy, Thu Suyền bèn đưa sách Minh Tâm Bảo Giám của ông nội mình phổ biến vào Trung Quốc. Phạm Lập Bàn liền dựa theo sách ấy mở rộng thành tác phẩm có 20 thiên, chứa hơn 600 câu. Từ đó sách được biên tập, chỉnh lý, bổ sung nhiều lần (nhu cầu bắt buộc của một đất nước mênh mông nhưng giao thông hạn chế  !) đặc biệt là vào thời Vạn Lịch (Minh Thần Tông 1573 -1619).

Các sách Minh Tâm Bảo Giám lưu hành rộng rãi ở Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam trước đây phần lớn dựa theo bản Vạn Lịch (người ta không nhắc tên người biên soạn nữa có lẽ vì tác giả thực thụ chính là những người phát biểu ý kiến đã được trích dẫn). Người dùng sách ngày nay nên hiểu rằng bản gốc của Thu Ouát chỉ còn ý nghĩa lịch sử, còn ý nghĩa văn hóa thì thuộc về bản Vạn Lịch ra đời sau bản Thu Quát ngót hai trăm năm. Bản Vạn Lịch tuy chỉ nhiều hơn 1 thiên nhưng nội dung lại gấp đôi bản Thu Quát và chắc chắn là nó không cọng vào đó toàn văn bản Thu Quát.

III - Tình hình sách Minh Tâm Bảo Giám ở Việt Nam.
Hán học du nhập Việt Nam từ thời nội thuộc nhà Hán (179 trước công Nguyên). Các triều đại kế tiếp của Trung Quốc để duy trì ý thức vun đắp cho nền văn hóa và chính trị khu vực bằng tinh thần "đồng văn ". Do đó, sách vở Trung Ouốc lưu hành ở Việt Nam không thua kém gì ở Trung Ouốc nhờ sự qua lại khá thường xuyên của giới ngoại giao và giới doanh nhân hai nước. Tuy nhiên, sách Minh Tâm Bảo Giám có mặt nhan nhản trong dân gian hầu hết lại là sách chép tay gia truyền của những gia thục chứ các nhà xuất bản địa phương không hề tham gia phát hành, khắc in như đối với các sách khác - Phần lớn các ông Đồ lại thường dạy theo trí nhớ thành thử   ít đảm bào tính chính xác, thống nhất của văn bản. Tựu trung các sách ấy thuộc hai dòng chính:
- Dòng 1: Sách gồm 20 thiên (từ thiện Kế thiện đến thiên Phụ hạnh). Dân gian quen gọi sách nầy là "Minh Tâm mắc ".
- Dòng 2: Sách không chia thiên, chỉ rút những câu dễ hiểu ở cuốn trên, tổng số chữ chỉ còn phân nửa. Dân gian quen gọi sách nầy là Minh Tâm rẻ"
Cả hai sách ấy đều tập hợp những danh ngôn dạy đạo làm người, rất nhiều câu trong đó đã đi sâu vào cuộc sống đến mức người không hề học chữ Hán cũng vẫn nhắc đúng được nguyên văn.

IV - Tình hình dịch ra Việt ngữ sách Minh Tâm Bảo Giám.
Sách Minh Tâm Bảo Giám đã được Trương Vĩnh Ký (1837 -1898) dịch ra Vìệt ngữ từ cuối thế kỷ XIX. Sang thế kỷ XX có thêm các bản dịch của Tạ Thanh Bạch, Đoàn Mạnh Hy, Nguyễn Quốc Đoan, v,v... dựa vào những văn bản khác nhau nhưng đều có điểm chung là nguyên tác vốn từng được nhiều thể hệ thuộc lòng trước khi nó được giới dịch thuật chiếu cố (trong khi đại đa số dịch phẩm trên thị trường lại thường nhằm ý đồ giới thiệu những danh tác chưa được nhiều người biết đến nguyên bản).

Nay chúng tôi tuyển dịch và diễn ca dựa vào nguyên bản có vẻ nhiều chữ hơn (và có lẽ xưa hơn) từng được Trương Vĩnh Ký chọn dịch cách đây hơn trăm năm để giới thiệu lại bằng văn phong hiện đại.

Trong công việc này chúng tôi đã nhận được qua điện thoại và thư tín nhiều khích lệ tinh thần và nhiều giúp đỡ cụ thể của các bạn Hàn Quốc Trung, Châu Quàn Vũ, Từ Nguyệt Hoan, Phan Công Tuấn, Quản Bích Liên, cùng một số bạn khác. Nếu vắng họ, có lẽ sức ỳ của tuổi tác đã chặn chúng tôi lại giữa quãng đường khá hiểm trở của ngôn ngữ tác phẩm.

Giáo Sư Ngô Văn Lại
Trung tuần tháng 4, 2007.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5965
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: MINH TÂM BẢO GIÁM   Fri Oct 26, 2018 10:24 am

/ - Tuyển dịch thiên thứ 1: KẾ THIỆN
B. Dịch nghĩa: Làm điều thiện sẽ có điều thiện đáp lại. Làm điều ác sẽ gặp điều ác đáp lại. Nếu còn thấy không đáp lại (là vì) giờ giấc chưa đến.

c. Diễn ca:
Làm thiện gặp thiện,
Làm ác gặp ác.
Không gặp lúc này,
Thì gặp lúc khác.

2A. Nguyên văn:
B. Dịch nghĩa: Bình sinh làm điều thiện thì trời thêm phước cho - Nếu đúng là ngu bướng thì chịu tai ương. Làm thiện làm ác cuối cùng đều nhận báo ứng (dù) cao bay xa chạy cũng khó nấp.

c. Diễn ca:
Cả đời làm thiện, trời ban phước,
Nếu quen ngu bướng, hưởng điều xui.
Thiện ác cuối cùng đều báo ứng,
Cao bay xa chạy lối nào chui?

B.giải  nghĩa: Làm quan hay ở ẩn, cách nào chắc hay không chắc là tự mình biết. Họa phước sẽ từ đấy ra, lại còn phải hỏi ai? Thiện ác cuối cùng rồi có báo ứng, chỉ tranh nhau đến sớm với đến muộn thôi. Trong lúc rảnh rang hãy kiểm điểm việc đã làm trong đời. Lúc vắng lặng hãy nghĩ ngợi việc đã làm hằng ngày. Thường đem tinh thần "nhất tâm "   đi theo đường chân chính. Tự nhiên trời đất không làm sứt mẻ nhau đâu.

c. Điển ca:
Chọn đường chắc lép tự mình hay,
Họa phúc đấy ra chứ hỏi ai?
Thiện ác cuối cùng rồi báo ứng
Chỉ là xảy đến sớm hay chầy.
Rảnh rang kiểm điểm việc làm cũ,
Yên tĩnh nhớ ra chuyện mọi ngày.
Thường giữ vẹn lòng theo nẻo chính,
Tự nhiên trời đất xử không sai.

D. Chú thích: Nhất tấm: Đưa cái Tâm theo một hướng duy nhất. (Đạo gia dạy phải giữ cái Tâm theo ba trạng thái:
1 - Hư.
2- Nhất.
3- Tĩnh, để đưa nó về với Đạo.

B. Giải nghĩa: Ngạn ngữ nước Tấn nói: (Làm) theo điều thiện (khó) như lên (chỗ cao). (Làm) theo điều ác (dễ sa ngã) như ở chỗ sụp lở.

c. Diễn ca:
Làm theo điều thiện nhọc nhằn,
Như ở chỗ bằng leo ngược lên cao.
Làm theo điều ác dễ sao!
Như đứng chỗ lở, ngã nhào như chơi!

B. Dịch nghía: Thái Công (*) nói: Phải tham làm việc thiện. Đừng vui khi làm việc ác. Thấy việc thiện như khát (thấy nước) Nghe điều ác như bị điếc. Làm điều thiện rất vui (đó là) đạo lý lớn nhất.

c. diển ca:
Tham làm điều thiện là hay,
Thấy điều ác, chớ vui tay làm bừa.
Thấy thiện như khát thấy mưa,
Nghe ác giả điếc như chưa nghe gì.
Làm việc thiện, thích lạ kỳ!
Đó là đạo lý khó bì nổi đâu!

D. Chủ thích: Thái Công: Cách gọi tôn kính tuyệt đối dành cho Khương Tử Nha. Người ta cũng gọi Khương Thái Công (cụ họ Khương) Thái Công Vọng, Lã Vọng hay Lữ Vọng.
Tương truyền ông đợi thời bằng việc ngồi câu ở sông Vị Thủy mãi đến tuổi 72 mới được Vũ Vương mời làm quân sư, đánh vua Trụ tiêu diệt nhà Thương lập ra nhà Chu rồi cùng Chu Công tổ chức nền thịnh trị kéo dài 800 năm.

Giải nghĩa:
Tư Mã Ôn Công (*) nói: Tích lữy vàng để lại cho con cháu, con cháu chưa chắc giữ nổi, tích lùy sách để lại cho con cháu, con cháu chưa chắc đọc được, không bằng tích lũy âm đức trong mờ mờ để làm kế lâu dài cho con cháu.

c. Diễn ca:
Dành vàng để lại đời sau,
Chắc gì con cháu cùng nhau giữ vàng.
Dành sách hay, dạy khôn ngoan,
Chắc gì con cháu giỏi giang? đọc nhiều?
Âm đức (**) qúy biết bao nhiêu!
Để lại cho nhiều, con cháu hưởng lâu...

D. Chú thích: Tư Mã Ôn Công: Tư Mã Quang, được phong Ôn Ouốc Công, nhà chính trị và giáo dục lỗi lạc, đỗ tiến sĩ, làm đến Tể tướng, sách Tư trị thống giám của ông rất nổi tiếng.
Âm đức: Thứ ơn đức không nổi bật (xóa nợ, cứu nạn, w...;

A 7. Nguyên văn:  
B. Giải nghĩa: Tâm tốt mệnh lại tốt. Phát đạt vinh hoa sớm. Tâm tốt mệnh không tốt. Một đời cũng ấm no. Mệnh tốt tâm không tốt. Đường phía trước e khó giữ. Tâm, mệnh đều không tốt. Cùng khó thảng tới già.

c. Diễn ca:
Tâm tốt, số mệnh tốt,
Sớm phát đạt vinh hoa.
Tâm tốt, số mệnh xấu,
Cũng sống được qua loa.
Số mệnh tốt, tâm xấu,
Nghèo khổ bé đến già.

B. Giải nghĩa: Sách Cảnh Hạnh chép: Kẻ để lòng trung hiếu lại cho con cháu là để lại cho chúng sự phát đạt. Kẻ để ngón trí xảo lại cho con cháu là để lại cho chúng mầm suy vong. Kẻ đem lòng khiêm nhường giao tiếp mọi việc thì mạnh. Kẻ dùng điều thiện để tự vệ thì tốt lành.

c. Diễn ca:
Dạy con trung hiếu, con vẻ vang,
Dạy con trí xảo, con dở dang.
Cư xử khiêm nhường là sức mạnh,
Giữ lòng lương thiện, đỡ nguy nan.

9A. Nguyên văn:  
B. Giải nghĩa: Rộng ban ơn nghĩa, đến đâu lại chẳng gặp người (tử tế). Chớ kết oan gia, gặp họ chỗ đường hẻm khó lùi tránh.

c. Diễn ca:
Rộng gieo ơn nghĩa khắp nơi,
Đi đâu cũng gặp được người mến ta.
Oán thù nếu đã gây ra,
Vô vàn nguy hiểm rình ta đường đời.

ỉ OA. Nguyên văn:
B. Giải nghĩa: Trang Tử nói: Kẻ làm điều thiện cho ta, ta cũng làm điều thiện cho họ. Ta đã không ác, người có thể làm điều ác cho ta sao?

c. Diển ca:
Kẻ làm điều thiện cho ta,
Ta đáp bằng thiện, thế là đối  lưu.
Kẻ gây điều ác hại ta,
Ta đáp bằng thiện, ấy là ta khôn.
Ta không gây ác trả đòn,
Lẽ nào kẻ ác vẫn còn hại thêm?

B. Giải nghĩa: Thánh đế của Đông Nhạc (*) rũ ban lời dạy rằng: Trời đất không vì tình riêng, thần minh luôn xét, không vì tế lễ thịnh soạn mà gieo phước, không vì thất lễ mà gieo họa.
Người ta ở đời có thể không nên ỷ hết, có phước không nên hưởng hết, thấy kẻ bần cùng không nên khinh khi hết. Ba thứ ấy tuần hoàn trong trời đất giáp vòng rồi trở lại lúc đầu. Thế cho nên một ngày làm điều thiện, phước tuy chưa đến mà họa tự lánh xa, một ngày làm điều ác, họa tuy chưa đến mà phước tự lánh xa.
Người làm điều thiện như cỏ vườn xuân, không thấy sự lớn của nó nhưng mỗi ngày có lớn thêm. Người làm điều ác như viên đá mài dao, không thấy sự hao mòn của nó nhưng mỗi ngày có khuyết bớt.
Làm tổn hại người để thêm ích lợi cho mình nhất định phải nên e dè. Một mảy thiện cũng phải dành thuận lợi cho người, một mảy ác cũng phải khuyên người đừng làm. Ăn mặc tùy cơ may thì tự nhiên được vui sướng, tính toán số mạng làm chi? Coi bói làm chi? Khinh khi người ta là chuốc họa, tha thứ người ta là tạo phước. Lưới trời lồng lộng, báo ứng rất nhanh, cẩn thận nghe lời ta thì thần kính quỷ phục.

Diễn Ca:
Trời đất nào có vị tình?
Luôn luôn xét nét, thần linh nào lười?
Lễ to đừng tưởng thần cười,
Lễ nhỏ thần chẳng giận người bỏ bê.
Ở đời, đắc thế phải dè,
Gặp phước thì cũng chớ hề hưởng tham.
Chớ rẻ rúng kẻ nghèo nàn,
Bởi ba điều ấy thế gian xoay vần.
Tự nhiên ai cũng có lần,
Sau cuộc xoay vần, vòng lại đầu tiên.
Một ngày ý thiện dấy lên,
Phước tuy chưa đến, họa liền lánh xa.
Một ngày điều ác gây ra,
Họa tuy chưa đến, phước đà lùi chân.
Làm thiện như cỏ vườn xuân,
Phước lớn dần dần, chẳng thể nhận ngay.
Làm ác như khối đá mài,
Phước hao mòn mãi lâu ngày khuyết to.
Phải nên cân nhắc, đắn đo,
Chớ hại người để lợi cho phần mình.
Hãy nên suy xét cho tinh,
Nhận ai chút thiện, tận tinh đền ơn.
Thấy ai hành động mất khôn,
Nhúng tay gây ác, ta dồn sức ngăn,
Ở đời, cái mặc cái ăn,
Được chăng hay chớ; lăng xăng nhọc người.
Xem số, coi bói khắp nơi,
Ham chuyện đổi đời, nghĩ thật tham lam.
Khinh khi người họa đến thân,
Tha thứ người, mới hưởng phần phước may.
Lưới trời lồng lộng bủa vây;
Mọi điều báo ứng thấy ngay tức thì.
Khuyên ai cẩn thận nhớ ghi,
Quỷ thần cũng phục, nói chi loài người .

Chú thích:
Thánh đế núi Đông Nhạc: Vị thần chí tôn cai quản núi Thái Sơn.

Giáo Sư Ngô Văn Lại
Trung tuần tháng 4, 2007.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5965
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: MINH TÂM BẢO GIÁM   Fri Oct 26, 2018 1:42 pm


II-Tuyển dịch thiên thứ hai: THIÊN LÝ

1A. Nguyên văn:
B. Giải nghĩa: ThầyThiệu Khang Tiết nói: Trời nghe được cả lúc tuyệt nhiên không có tiếng. Xanh xanh biết tìm nơi đâu. Không cao cũng không xa. Đều chỉ ở nơi lòng người. Lòng người sinh một ý nghĩ. Trời đất đều biết tất cả. Thiện ác nếu không thấy báo ứng. Tất là trời đất có tư vị.

c. Diễn ca:
Trời nghe thầm, chẳng cần lời,
Nhìn lên xanh ngắt, tìm trời ở đâu?
Chẳng xa mà cũng chẳng cao,
Bất cứ lòng nào, trời cũng đều nghe.
Lòng người chỉ mới lăm le,
Đất trời biết tất, răn đe chẳng từ.
Đất trời phải thật riêng tư,
Thì mới mặc xác nhân từ, ác ôn!

2A. Nguyên văn:
B. Giải nghĩa: Người hiền xưa nói: Nếu người làm điều không thiện mà được nổi tiếng; người không hại thì trời tất giết hắn. Trồng dưa được dưa. trồng đậu được đậu, lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt. Cày sâu trồng cạn còn có thiên tai, lợi mình hại người, há không bị quá báo?

c. Diễn ca:
Làm ác mà được rạng danh
Người tha, trời cũng phái đành giết thôi.
Gieo gì gặt nấy lâu rồi,
Xưa nay ai thoát lưới trời được đâu?
Ngay như trồng cạn, cày sâu,
Thiên tai trừng phạt, trời đâu tha nào?
Hại người kiếm lợi cho cao,
Trời không quả báo làm sao cho đành!

Giáo Sư Ngô Văn Lại
Trung tuần tháng 4, 2007.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5965
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: MINH TÂM BẢO GIÁM   Thu Nov 01, 2018 9:08 am

III- Tuyển địch thiên thứ ba: THUẬN MỆNH

B. Giải nghĩa: Mạnh Tử nói: Làm hoặc sai người khác làm, thôi hoặc bảo người khác thôi. Làm hay thôi không phải là khả năng của con người vậy.

c. Diễn ca:
Mình làm hoặc bảo người làm,
Mình ngừng, bảo kẻ đang ham cũng ngừng.
Dù hăm hở, dù dửng dưng,
Đừng tưởng là bởi mình ưng thế mà!
Chính trời điều khiển từ xa,
Xui mình hăm hở hay là dửng dưng.

2A. Nguyên văn:
B. Giải nghĩa: Người hiền xưa nói: Người hiểu biết vận mệnh thấy lợi không động lòng. Gặp cái chết không oán, được một ngày qua một ngày, được một giờ qua một giờ. Đi gấp đi chậm thì đường phía trước cũng chỉ nhiều bấy nhiêu. Thời đến gió đưa tới gác Đằng Vương (*). Vận bỏ đi sét đánh bia Tiến Phước (**).

c. Diễn ca:
Vận mệnh khi đã rõ rồi,
Thấy lợi cũng chẳng đứng ngồi băn khoăn.
Coi thần chết như khách quen,
Nhưng với cuộc sống vẫn hằng nâng niu.
Một ngày qủa thật đáng yêu,
Một giờ thì cũng trời chiều chuộng ta.
Đường đời chẳng quản gần xa,
Đi gấp, đi chậm, vẫn là bấy nhiêu.
Gặp thời thì gió thuận chiều,
Vận hết gắng sức càng nhiều càng hư.

D. Chú thích: Gác Đằng Vương: tên một thắng cảnh ở huyện Nam Xương tỉnh Giang Tây. Đời Đường, nhân dịp trùng tu, người ta tổ chức cuộc thi văn, qui tụ nhiều văn tài nổi tiếng đương thời. Vương Bột (650 - 675) bấy giờ mới 14 tuổi nên không được mời dự chính thức và được tin quá trễ nhưng nhờ gió thuận nên đến nơi vừa kịp giờ và giật giải nhất, trở thành tứ kiệt đời Đường (về sau, cũng chính "gió đưa" làm ông đắm thuyền trên đường sang thăm bố làm quan đô hộ Giao Châu, tức Việt Nam ngày nay).
Bia Tiến Phước: tên một bia cổ có giá trị nghệ thuật rất cao, người sành điệu đua nhau thuê rập mẫu. Có anh hàn sĩ lỡ vận nọ nhận được mối đặt hàng lớn, hăm hở gánh giấy đến chân núi, gặp mưa to quá phải ngủ trọ. Khuya hôm ấy sét đánh vỡ bia.

B. Giải nghĩa:
Liệt Tử (*) nói: Kẻ ngây, điếc, ngọng, câm nhà giàu to. Kẻ trí tuệ, thông minh lại chịu nghèo. Năm, tháng, ngày, giờ đều đăng tải ổn định rồi. Tỉnh ra do mệnh
(chứ) không do người. Trong mệnh có thời thì rốt cuộc phải có-trong mệnh không có thời thì đừng gượng tìm.

c. Diễn ca:
Ngây, điếc, câm, ngọng, nhà giàu,
Thông minh trí tuệ rớt vào..mồng tơi!
Thì ra số phận xấu chơi,
Kẻ không thời vận, cố bơi cũng chìm!

D. Chú thích: Liệt Tử: tên thật là Liệt Ngự Khấu, người đời Chu, triết gia chịu ảnh hưởng Đạo Giáo. Đệ tử ông chép lời thầy làm nên sách Liệt Tử.

4A. Nguyên văn:
B. Giải nghĩa: Sách Cảnh Hạnh chép: Hễ gặp việc gì không thể xử lý bằng sức, tức là do mệnh vậy. Cơ hội không bằng mệnh, trí không bằng phước. Họa không thể nhờ may mà khỏi, phước không thể cầu mong dễ dãi.

c. Diễn ca:
Dốc sức việc chả êm xuôi,
Tức là tại mệnh đấy thôi, đừng buồn!  
Cơ hội còn phải chịu nhường,
Trí tuệ chẳng dám coi thường phước may.
Mệnh xui họa gió tai bay,
Dù bậc anh tài, cũng khó vượt qua.
Mệnh không dành phước cho ta,
Dù cố nài nỉ, chỉ là uổng công.

Giáo Sư Ngô Văn Lại  
Trung tuần tháng 4, 2007.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5965
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: MINH TÂM BẢO GIÁM   Fri Nov 02, 2018 1:33 pm

IV- Tuyển dịch thiên thứ tư: HIẾU HẠNH

IA. Nguyên văn:
B. Giải nghĩa Khổng Tử nói: Thân thể tóc da là thứ nhận của cha mẹ, không dám làm tổn thương, đó là bắt đầu lòng hiếu thảo vậy. Lập thân, làm đều đúng đạo, nêu tiếng tăm cho đời sau để làm vẻ vang cha mẹ là phần cuối của nết hiếu thảo vậy.
Con hiếu thờ cha me, cư xử phải hết mực cung kính, nuôi nấng phải hết mực vui vẻ, bệnh hoạn, phải hết mực lo lắng, lễ tang phải hết mực nghiêm túc.

Thế cho nên, kẻ không yêu mến người thân mà yêu mến người khác gọi là phản bội đạo đức, kẻ không tôn kính người thân mà tôn kính người khác gọi là phản bội lễ giáo.
Bậc quân tử phụng sự người thân hiếu thảo nên dời thành lòng trung với vua, phụng sự anh kính nhường nên dời thành lòng hòa thuận với người lớn hơn, ở nhà biết xử lý đúng nên cách quản lý dời đến việc quan, như vậy là lấy cái nết hình thành ở trong nhà mà tiếng tăm lập nên ở đời sau vậy.

c. Diễn ca:
Thân thể tóc da,
Cha mẹ cho ta.
Giữ sao lành lặn,
Hiếu thảo đấy mà!
Lớn lên giữa đời,
Danh tiếng vang xa.
Vẻ vang cha mẹ,
Cư xử nết na.
Phụng dưỡng vui vẻ,
Ốm đau xót xa.
Cúng tế nghiêm túc,
Bi ai tang ma...
Nếu yêu thiên hạ,
Hơn yêu mẹ cha.
Ấy là lỗi đạo,
Bất hiếu tối đa.
Nếu kính thiên hạ,
Hơn kính mẹ cha.
Ấy là trái lễ,
Rất đáng rầy la.
Làm con có hiếu,
Thờ vua mới trung.
Làm em nhường kính,
Mới trọng bề trên.
Việc nhà đúng đạo,
Việc quan mới nên.
Cư xử trọn vẹn,
Danh tiếng vang rền...

2A. Nguyên văn:

B. Giải nghĩa: Khổng Tử nói: Cha mẹ còn sống, con không nên đi chơi xa, nếu đi chơi phải có hướng cụ thể.

Tuổi của cha mẹ, con không thể không biết, một là để mừng, một là để sợ.

Cha còn sống, xem chí cha, cha mất, xem đức hạnh cha, ba năm không đổi đường lối của cha, có thể gọi là hiếu vậy.

c. Diễn ca:

Cha mẹ còn sống trên đời,

Phận con chớ có đi chơi mọi miền.

Nếu đi chơi có việc riêng,

Phải lưu địa chỉ, đỡ phiền mẹ cha.

Biết tuổi tác cha mẹ già,

Một là mừng rỡ, một là lo âu.

Cha còn, xem chí cao sâu,

Cha mất, xem nết bấy lâu cho tường.

Cư tang vẫn nhớ luôn luôn,

Thế là hiếu thảo, vẹn đường làm con.

SA. Nguyên văn:
B. Giải nghĩa: Thái Công nói: Hiếu thảo với song thân, con cũng hiếu thảo với mình. Bản thân mình đã không hiếu thảo, con làm sao hiếu thảo cho được? Hiếu thuận lại sinh con hiếu thuận, ngỗ nghịch lại sinh đứa ngỗ nghịch. Không tin hãy xem nước đầu thềm, nhỏ giọt, nhỏ giọt chẳng sai chệch.
c. Diễn ca:
Cha mẹ hiếu với ông bà,
Ắt con hiếu với mẹ cha sau này.
Cha mẹ bất hiếu thì gay,
Mong gì con cháu sau này hiếu cho?
Đời này ăn ở so đo,
Đời sau y hệt, chẳng lo sai lề.
Nước đầu thềm nhỏ một bề,
Giọt sau giọt trước chẳng hề chệch nhau.
4A. Nguyên văn:

B. Giải nghĩa: Mạnh Tử nói: Cái mà thế tục gọi là bất hiếu có năm điều: Biếng lười tứ chi, không chiếu cố nuôi dưỡng cha mẹ là tội bất hiếu thứ nhất. Ham cờ bạc, thích uống rượu không chiếu cố nuôi dưỡng cha mẹ là tội bất hiếu thứ hai. Ham của cải, chỉ nghĩ đến vợ con, không chiếu cố nuôi dưỡng cha mẹ là tội bất hiếu thứ ba. Buông thả cho sự ham muốn của tai mắt làm cho cha mẹ bị giết (*) đó là tội bất hiếu thứ tư. Thích to khỏe, đấu đấm đá làm nguy lây cha mẹ, đó là tội bất hiếu thứ năm.
c. Diễn ca: Năm điều bất hiếu trên đời,
Một là lười nhác, không nuôi sinh thành.
Hai là hưởng thụ một mình,
Bỏ bê cha mẹ mặc tình đói no.
Ba là nhiều vợ lắm kho,
Mặc cho cha mẹ ốm 0, nghèo nàn.
Bốn là mặc ý ngang tàng,
Để cho cha mẹ liên can, tội đời.
Năm là cậy khỏe đánh người,
Để cha mẹ phải thăm nuôi, bồi thường.
D. Chú thích: Cha mẹ bị giết: Ám chỉ hình phạt tru di tam tộc dành cho tội làm giặc.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5965
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: MINH TÂM BẢO GIÁM   Tue Nov 06, 2018 3:03 pm

V – Tuyển dịch thiên thứ năm: CHÍNH KỶ

1A. Nguyên văn:  
B. Giải nghĩa: Sách Tính Lý nói: Thấy điều thiện của người mà tìm điều thiện của mình. Thấy điều ác của người mà tìm cái ác của mình, như thế mới đúng là có ích.
c. Diền ca:
Thấy người làm điều thiện,
Xem lại mình làm chưa?
Thấy người làm điều ác,
Xem mình có biết chừa?
Tự xét kỹ như thế,
Chả cầu cạnh đền chùa!

2A. Nguyên văn:
B. Dịch nghía: Sách Cảnh Hạnh chép: Kẻ không tự trọng hứng lấy nhục nhã, kẻ không thấy sợ rước lấy tai họa, kẻ không tự mãn được có thêm, kẻ không tự cho mình đúng sẽ hiểu biết rộng.

c. Diền ca:
Không tự trọng ắt là chuốc nhục,
Không e dè, có lúc họa bay.
Kẻ không tự mãn mới đầy,
Không cho mình đúng mới hay biết nhiều.

SA. Nguyên văn:  
5. Giải nghĩa: Khổng Tử nói: Giấu cái thiện của người, đấy gọi là che người hiền. Nêu các ác của người, ấy là tiểu nhân. Nhắc điều thiện của người, cảm thấy mình có phần trong đó. Nhắc điều ác của người, cảm thấy mình chịu đựng nó.

c. Diển ca:
Không nêu điều thiện của người,
Là gìm kẻ tốt, đáng cười đáng chê. Người làm ác, mình hả hê,
Rêu rao, dè bỉu là bè tiểu nhân.
Hãy nên tu dưỡng bản thân,
Người làm thiện, tưởng có phần của ta.
Người làm ác, ta xót xa,
Cảm thấy như là mình chịu lỗi chung.

A. Nguyên văn:  
B. Giải nghĩa: Kẻ nói ra điểu xấu của ta đáng thầy ta. Kẻ nói ra điều tốt của ta, đúng là kẻ hại ta.

C.Diễn ca:
Bảo ta xấu, đáng là thầy,
Kẻ khen ta tốt có ngày hại ta.

B. Giải nghĩa: Không Tử nói: Ba người đi tất có người thầy ta, chọn cái của người thiện mà theo, cái của người bất thiện mà đổi.

c. Diển ca:
Ba người cùng một chuyến đi,
Tất chẳng thiếu gì thầy dạy cho ta. Cái hay ta học thêm ra,
Cái dở, ta rọi xấu xa của mình.

6A. Nguyên văn:
B. Giải nghĩa:
Sách Cảnh Hạnh chép: ít nói thỉ bớt bị chê bai, ít tình dục thì giữ được thân mình. Kẻ giữ sự sống thì ít tình dục, kẻ giữ thân thì tránh danh. Không tình dục thì dễ, không danh thì khó. Kẻ ham danh giết thân họ. Kẻ nhiều của giết đời sau của họ.

c. Diển ca:
Nói ít, giảm tiếng gièm pha,
Bớt ham tình dục, thân ta mới bền.
Giữ mạng, bớt dục mới nên,
Giữ thân, hãm bớt lòng thèm tiếng tăm.
Muốn yên danh giá đừng ham,
Muốn nên dòng dõi, đừng tham của nhiều.

7A. Nguyên văn:  
B. giải nghĩa:
Đám đông thích, tất phải xét đã, đám đông ghét, tất phải xét đã.

c. Diển ca:
Nhiều người nhất trí hoan hô,
Kẻ khôn phải xét: Vi sao nhiều người?
Nhiều người la ó, chê cười,
Kẻ khôn phải xét ai người giật dây.

8A. Nguyên vẫn:
B. Giải nghĩa: Trong cuộc rượu mà không nói mới thật là người quân tử. Trên chuyện tiền nong mà tách bạch rõ ràng mới đúng là bậc trượng phu.

c. Diển ca:
Rượu vào thường phải lời ra,
Chỉ người quân từ mới là làm thinh.
Hùn hạp với kẻ phân minh,
Phần người, phần mình sòng phẳng mới hay.
Mới hợp tác được lâu ngày,
Bản lĩnh thế ấy, sánh tày trượng phu.

9A. Nguyên văn:
B. Giải nghĩa: Lão Tử nói: Kẻ hùng biện như ấp úng, kẻ quá khéo như vụng về. Lắng lòng thanh tĩnh cơ thể an thần. Miệng gièm nhiều lời, tự đánh mất thân.

Diễn ca:
Kẻ hùng biện thường hay ấp úng
Cố chọn lời thật đúng tình hình.
Kẻ khéo thực hiện công trình,
Thoạt trông dơ dáng dại hình khó ưa.
Bởi kiểu xưa vốn không giống thế,
Chưa quen nhìn, khó thể vừa lòng,
Kẻ giữ tâm thật lắng trong,
Tinh thần mới hòng tĩnh tại, bình an.
Kẻ lắm lời, dễ dàng sơ hở,
Siêng gièm pha lại tự hại mình.
Khiến không ai dám thật tình,
Khiến cho thiên hạ muốn khinh muốn nhờn.

10A. Nguyên văn:

B. Giải nghĩa: Mạnh Tử nói: Người chỉ lo ăn uống thì bị người ta coi là hèn hạ vì cho là nuôi chí nhỏ, bỏ chỉ lớn.

c. Diễn ca:
Kẻ gầy độ nhậu thường xuyên,
Tự hào mình thật sẵn tiền, dám tiêu.
Thế nhirng quên mất một điều,
Thiên hạ đánh giá, kèm nhiều băn khoăn.
Gã nầy chỉ biết ham ăn,
Còn bao việc khác, chẳng bằng ai đâu!

11A. Nguyên văn:

5. Giải nghĩa: Thái Công nói: Không nên xỏ giày giữa ruộng dưa, không nên chỉnh lại mũ dưới cành mận.

c. Diển ca:
Xỏ lại giày giữa ruộng dưa,
Lẽ nào chủ ruộng lại chưa nghi ngờ?
Đi dưới cành mận tình cờ,
Giơ tay chỉnh mũ, có vờ hái không?
Đấy là lời của Thái Công,
Dạy đừng làm những việc không khỏi ngờ.

12A. Nguyên văn:  
B. Giải nghĩa: Mạnh Tử nói: Yêu người nhưng người không thân thiết lại là trái đạo Nhân. Trị người mà người ta không để cho trị là trái chữ Trí Lễ độ với người mà người không đáp lại là trái chữ Kính.

c. Diển ca:
Yêu người, người chẳng đáp tình,
Là chưa hết mình thể hiện chữ Nhân.
Trị người, chẳng lập trị an,
Ẩy thật rõ ràng chữ Trí chưa tinh.
Chào người, người vẫn làm thinh,
Ấy là chừ Kính hy sinh mất rồi!

Ỉ3A. Nguyên văn:  
B. Giải nghĩa: Thiên Khúc Lễ nói: Tính ngạo không thể để cho lớn, không nên buông thả lòng ham muốn, không nên thỏa mãn về chí hướng, không nên vui vẻ đến tột độ.

c. Diễn ca:
Thói ngạo chớ để phình tO,
Lòng ham muốn, chớ mặc cho buông tuồng.
Đừng rằng chỉ hướng đã xong,
Đừng vui đầy ứ cả trong lẫn ngoài.

14A. Nguyên văn:
B. Dịch nghĩa: Tâm không gièm pha cong vẹo có thế ở chung với sấm sét. Tai không nghe lỗi của người, mắt không nhìn chỗ kém của người, miệng không nói điều lỗi của người, ngõ hầu thành người quân tử đấy! Trong nhà có sẵn quân tử thì ngoài cửa mới có quân tử đến. Trong nhà có sẵn tiểu nhân thì ngoài cửa mới có tiểu nhân đến.

c. Diễn ca:
Tâm không gièm siểm quanh co,
Thảnh thơi thân thể, chẳng lo oan trời.
Không nghe điều quấy của người,
Không nhìn chỗ dở, không cười điều sai.
Xứng cùng quân tử sánh vai,
Tiểu nhân đứng ngoài, chả dám mon men.

15A. Nguyên văn:
B. Giải nghĩa:
Sách Tố thư nói: Không gì ngắn ngủi bằng cái kiếm được hú họa. Không nỗi cô đơn nào hơn nỗi cô đơn tự cậy mình.

c. Diễn ca:
Chợt được đã vội tự hào,
Kiểu thành tích ấy giữ sao lâu dài?
Tự cho mình chẳng cần ai,
Dù bậc kỳ- tài vẫn mãi cô đơn...

16A. Nguyền văn:  
B. Giải nghĩa: Không Tử nói: Người quân tử thư thái nhưng không kiêu. Kẻ tiểu nhân kiêu nhưng không cảm thấy  thư thái.

c. Diển ca:
Quân tử thư thái hồn nhiên,
Không hề vênh váo rằng mình thảnh thơi.
Tiểu nhân ra vẻ hơn đời,
Nhưng lòng thấp thỏm sợ người khinh chê.

17A. Nguyên văn:  
B. Giải nghĩa:
Tuân Tử (*) nói: Thông minh tài trí không lấy nó bắt chẹt người ta. Cứu giúp chu cấp mở lối thoát nhanh không nên lấy đấy lấn lướt người ta. Cương nghị dũng cảm, không nên lấy nó gây tổn thương người ta. Không biết thì hỏi, không có khả năng thì học. Tuy có khả năng nhưng phải khiêm nhường thì mới là có đức.

c. Diễn ca:
Thông minh tài trí hơn đời,
Đừng đem đè bẹp những người vận đen.
Cứu người bế tắc, khó khăn,
Đừng nên vin đó, tỏ rằng đàn anh.
Cương nghị, dũng cảm đã đành,
Đừng nên đem nó gây thành tổn thương.
Không biết phải hỏi là thường,
Khả năng kém sút, tìm đường nâng cao.
Tài giỏi đạt đến bậc nào,
Khiêm nhường nếu kém, đức hao hụt liền.

D. Chú thích: Tuân Tử: tên người đồng thời là tên tác phẩm Đạo Đức học 33 thiên. Ông tên Tuân Huống sống đồng thời với Mạnh Tử và đề xướng thuyết Tính Ác, đối lập thuyết Tính Thiện của Mạnh Tử. Ông quan niệm con người là kẻ ác bẩm sinh, không có giáo dục thì chỉ là dã thú.

Giáo Sư Ngô Văn Lại  
Trung tuần tháng 4, 2007.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5965
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: MINH TÂM BẢO GIÁM   Mon Nov 12, 2018 1:12 pm

VI - Tuyển dịch thiên thứ sáu: AN PHẬN

1 A. Nguyên văn:
B. Dịch nghía: Sách Cảnh Hạnh chép: Biết đủ thường vui, tham nhiều thì l0. Kẻ biết đủ, nghèo hèn cũng vui, kẻ không biết đủ, giàu sang vẫn lo. Biết đủ thường đủ, trọn đời không nhục. Biết dừng luôn dừng được, trọn đời không xấu hổ. So lên không đủ, so xuống có dư. Nếu cứ hướng xuống, tâm không có cảm giác không đủ.

c. Diễn ca:
Biết đủ lòng thấy vui,
Qúa tham mới lo sợ.
Biết đủ, nghèo vẫn vui,
Sợ thiếu, giàu vẫn khổ.
Biết đủ luôn thấy đủ,
Trọn đời chẳng nhuốc nhơ.
Biết dừng thường dừng được,
Trọn đời mặt đỡ trơ.
So lên, mình hơi thiếu,
So xuống, mình hơi thừa.
Cứ so xuống như thế,
Lòng ai thấy thiếu chưa?

2A. Nguyên văn:
B. Giải nghĩa: Khổng Tử nói: Giàu với sang chính là cái người ta ham muốn (nhưng) không lấy đạo lý để có được nó thì chẳng nên ở vào cảnh ngộ ấy. Nghèo với hèn là cái ai cũng ghét (nhưng) không lấy đạo lý để ghét thì không bỏ cảnh ấy. Bất nghĩa mà vừa giàu vừa sang, đối với ta (chỉ) như mây trôi.

c. Diễn ca:
Ai mà chẳng thích giàu sang;
Thể nhưng lỗi đạo, chẳng màng mới nên.
Ai mà chẳng ghét nghèo hèn,
Đạo trời bắt vậy, cố quen chẳng rời.
Giàu sang bắt nghĩa trên đời,
Ta coi như đám mây trời nổi trôi.

SA. Nguyên văn:
B. Giải nghĩa: Tuân Tử nói: Kẻ tự biết mình thì không oán người, kẻ hiểu mệnh thì không oán trời. Kẻ oán người thì khốn cùng. Kẻ oán trời thì không có chí. Kẻ nghĩ đến điều nghĩa trước, nghĩ đến điều lợi sau thì vinh. Kẻ nghĩ đến điều lợi trước, nghĩ đến điều nghĩa sau thì nhục. Kẻ vinh thường gặp thông thoáng, kẻ nhục thường gặp khốn cùng. Kẻ thông thoáng thường chế ngự được người ta, kẻ khốn cùng thường bị người ta chế ngự. Đấy là sự phân biệt lớn giữa vinh với nhục vậy.

c. Diễn ca:
Biết mình thì chẳng oán người,
Biết vận mệnh chẳng oán trời làm chi.
Oán người thì khó gặp thì,
Oán trời, chỉ hưởng khó bì nổi ai.
Lo nghĩa trước lợi mới oai,
Vinh quang tồn tại lâu dài thế gian.
Lo lợi trước nghĩa là tàn,
Nhục nhã cản trở bảo toàn thân danh.
Vinh quang mọi việc đều thành,
Nhục nhã cam đành bế tắc mà thôi.
Có thành mới khống chế người,
Bế tắc cả đời bị khống chế luôn.
Nhục vinh phân biệt đôi đường,
Là điểu lớn nhất, phải thường lưu tâm.

4A. Nguyên văn:
B. Giải nghĩa: Khổng Tử nói: Người quân tử bền lòng chịu bế tắc. Kẻ tiểu nhân lạm dụng sự bế tắc.

c. Diễn ca:
Khốn cùng, quân tử bền lòng,
Tiểu nhân gặp khốn, chỉ mong làm xằng.
Khốn cùng nghị lực mới tăng,
Thói hư mới lộ, chê khen mới nhằm.

Giáo Sư Ngô Văn Lại


_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: MINH TÂM BẢO GIÁM   

Về Đầu Trang Go down
 
MINH TÂM BẢO GIÁM
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang :: Các Đạo Khác-
Chuyển đến