Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang
Chào bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang!
Diễn Đàn là nơi giao lưu kết bạn, sưu tầm, lưu trữ, học hỏi và chia sẻ kiến thức.
Để cùng nhau tiến bộ trên con đường hướng thiện.
Chúc bạn sức khỏe và có nhiều thành công mới trong cuộc sống!

Om mani pad me hum
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang

Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho; một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tạo lấy.
 
Trang ChínhTrang Chính    CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Chào mừng các bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang! Chúc các bạn sức khỏe và thành đạt! Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang.

Share | 
 

 CHIẾN QUỐC SÁCH

Go down 
Tác giảThông điệp
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5966
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: CHIẾN QUỐC SÁCH    Tue Apr 25, 2017 8:41 am

CHIẾN QUỐC SÁCH  



Chú dịch và giới thiệu: Giản Chi – Nguyễn Hiến Lê

Nhà xuất bản: Từ điển Bách khoa

Năm xuất bản: 2006

Số trang: 496


MỤC LỤC

PHẤN I: GIỚI THIỆU
PHẦN II: TRÍCH DỊCH
Chương I: Chu sách
Chương II: Tần sách
Chương III: Tề sách
Chương IV: Sở sách
Chương V: Triệu sách 
Chương VI: Nguỵ sách
Chương VII: Hàn sách
Chương VIII: Yên sách
Chương IX: Tống, Tề sách 
Chương X: Trung Sơn sách
PHỤ LỤC
Niên biểu đời Chiến Quốc 

Vài lời thưa trước

Đọc danh mục sách của cụ Nguyễn Hiến Lê, chúng ta thấy có khá nhiều tác phẩm cụ viết chung với cụ Giản Chi. Riêng hai bộ Chiến Quốc sách và Sử kí của Tư Mã Thiên, cụ Nguyễn Hiến Lê cho biết: 

“Chiến Quốc sách đã được các nhà Nho trong Nam Phong trích dịch vài chục bài; Sử ký được Nhượng Tống dịch dăm chương. Ông Giản Chi và tôi tính làm kỹ hơn, phân công nhau: tôi giới thiệu bộ Chiến Quốc sách và trích dịch, chú thích hết các bài hay; ông Giản Chi tuyển dịch độ một phần tư bộ Sử ký và chú thích rất kỹ; tôi giới thiệu tác giả cùng tác phẩm. Người này làm xong, đưa người kia coi lại.

Chúng tôi sưu tập tất cả các sách Hoa và Anh, Pháp viết về hai tác phẩm đó, để giúp độc giả hiểu thời đại, nguồn gốc, nội dung, giá trị về sử liệu, giá trị về phương diện văn học (điều mà các nhà khác không chú trọng tới mấy) của mỗi tác phẩm. 

Riêng về Chiến Quốc sách, chúng tôi còn dùng tài liệu trong tác phẩm để vẽ lại xã hội Trung Hoa thời Chiến Quốc. Trong bộ Sử ký, chúng tôi nhấn mạnh vào cuộc đời oan khổ của Tư Mã Thiên, nó ảnh hưởng tới tư tưởng và phương pháp viết sử của ông ra sao.

Bộ Chiến Quốc sách có phụ lục: Niên biểu thời Chiến Quốc, Nhân danh và Địa danh. Bộ Sử ký có hai bản đồ: Trung Hoa thời Chiến Quốc và Trung Hoa thời Hán.

Bị hạn chế về phương tiện in, chúng tôi không thể dịch trọn hai tác phẩm bất hủ đó được, nhưng đọc hai bản dịch của chúng tôi – 700 và 800 trang – độc giả cũng có một số tri thức tạm đủ và rõ rệt rồi, và chúng tôi mong rằng vài ba chục năm nữa sẽ có người dịch trọn bộ Sử ký. Ai cũng nhận hai bộ đó của chúng tôi có giá trị”[1]. 

Theo Wikipedia thì “Chiến Quốc sách là cuốn cổ sử Trung Quốc viết về lịch sử thời Chiến Quốc, từ năm 490 TCN đến năm 221 TCN, lúc Cao Tiệm Ly[2] không thành công ám sát Tần Thuỷ Hoàng”[3]; nhưng theo hai cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê bảo: “(…) bộ Chiến Quốc sách – thực ra chưa đáng gọi là sử - chép việc của mười một nước: Chu[4], Tần, Tề, Sở, Triệu, Nguỵ, Hàn, Yên, Tống, Vệ, Trung Sơn từ năm 453 (đời Đông Chu Định Vương) tới năm 221 trước Tây lịch (tức năm 16 đời Tần Thuỷ Hoàng, năm mà Tần diệt xong lục quốc và thống nhất Trung Hoa)” (trang 15). Hai cụ còn cho biết thêm: “(…) xét về nội dung Chiến Quốc Sách thì phần lớn không phải là tài liệu đáng tin về sử, mà có lẽ chỉ là những luận thuyết, biện thuyết dựa vào lịch sử mà viết” (trang 18); và “chúng ta đừng nên coi Chiến Quốc Sách là tác phẩm của Sử-phái đời Tiên Tần mà nên coi nó là tác phẩm của Luận-phái đời Tiên Tần hoặc đời Tây Hán; mà đọc Chiến Quốc sách thì chúng ta đừng nên tìm tài liệu lịch sử trong đó, chỉ nên tìm hiểu xã hội Trung Hoa, tư tưởng và chính sách của bọn chính khách, mưu sĩ thời Chiến Quốc, nhất là thưởng thức giá trị nghệ thuật tự sự, luận thuyết, tức giá trị về văn học của bộ đó thôi” [5](trang 26). 

Cũng theo Wikipedia thì “Sách này (tức Chiến Quốc sách) có khoảng 120.000 chữ và chia thành 33 chương và 497 tiết đoạn[6], gồm có 12 sách lược như sau: Đông Chu sách (
东周策), Tây Chu sách (西周策), Tần sách (秦策), Tề sách (齐策), Sở sách (楚策), Triệu sách (赵策), Ngụy sách (魏策), Hàn sách (韩策), Yên sách (燕策), Tống sách (宋策), Vệ sách (卫策), Trung Sơn sách (中山策)”. Và theo hai cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê thì Lưu Hướng là người thu thập và chỉnh lý bộ Chiến Quốc sách[7]. Hai cụ bảo: “…ngày nay, còn lưu lại bài Tựa Chiến Quốc sách của ông, trong đó đại ý nói rằng khi thu thập các tài liệu, ông tìm được nhiều quyển sắp đặt lộn xộn, lại thấy tám thiên chép riêng về các nước, nhưng không đủ, ông bèn theo từng nước và theo thứ tự thời gian mà sắp đặt lại thành ba mươi ba thiên[8], hiệu đính lại nhiều chữ sai lầm” [9]. 

Vì Lưu Hướng không sắp đặt tất cả các bài trong trọn bộ Chiến Quốc sách theo thứ tự thời gian, cho nên đọc những bài do hai cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê tuyển dịch, ta thấy bài Trí Bá quá tham mà bị diệt (Triệu I 1), có thể xem như bài đầu tiên chép việc xảy ra đầu thời Chiến Quốc lại không phải là bài đầu tiên trong Chu sách, và bài chép việc xảy ra cuối thời Chiến Quốc là bài Thái tử Đan và Kinh Kha (Yên III 5), cũng không phải là bài cuối cùng trong Trung Sơn sách. Cũng vì các bài trong Chiến Quốc sách được chia ra thành nhiều “sách”, cho nên ta thấy các bài liên quan đến việc Tần đánh Nghi Dương nằm trong Đông Chu sách (bài 2), và trong Tần sách (bài II 6, bài II 7, bài II 8, bài II 9, bài II 10). Người chỉ huy trận đánh đó là Cam Mậu, mà muốn tìm hiểu về nhân vật này, ngoài các bài vừa nêu, chúng ta cần đọc thêm 3 bài trong Tần sách: bài II 11, bài II 12, bài II 13, và cả trong Sở sách nữa như bài I 15… Các bài viết Tô Tần, được xem là nhân vật chính trong Chiến Quốc sách, còn nhiều hơn nữa và nằm rải rác trong nhiều “sách” hơn nữa: Tần sách, Tề sách, Sở sách, Triệu sách, Nguỵ sách, Yên sách, Tống sách. Mà ngay trong một thiên, ví dụ như thiên Tần II, chúng ta thấy có hai bài viết về nhân vật Cam Mậu vừa kể trên cũng không theo đúng thứ tự thời gian: bài Tần II 12 (Tô Đại giúp Cam Mậu) chép việc xảy ra vào đời Tần Chiêu Tương Vương, và bài Tần II 13 (Vua Tần đuổi Công Tôn Diễn) chép việc xảy ra vào đời Tần Vũ Vương, mà Tần Chiêu Tương Vương (307 tr.T.L. -250 tr.T.L.) là người kế vị Tần Vũ Vương (311 tr.T.L. - 307 tr.T.L.), cho nên theo chúng tôi thì bài Tần II 12 phải đặt sau bài Tần II 13 mới phải. 

Trong phần dịch, hai cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê bảo là chỉ “lựa khoảng nửa số bài trong Chiến Quốc sách”, và: “Tất nhiên chúng tôi dịch hết những bài có giá trị về nghệ thuật”, chúng tôi lại dịch thêm những bài để dẫn chứng cho phần I (phần giới thiệu), và một số bài khác có tính cách vui vui nữa”. Trong những bài đó ắt hẳn có vài chục bài, như lời hai cụ, đáng coi là những viên ngọc quý nhất của cổ văn Trung Quốc, đến Sử ký và Nam Hoa kinh cũng không hơn được (trang 64). Hai cụ không nêu tên những “viên ngọc quý đó”, nhưng về phương diện văn học, hai cụ bảo hai bài Tư Mã Thác bàn lẽ đánh Tần (Tần I 7) và Nhạc Nghị đáp Yên Chiêu Vương (Yên II 10) được mọi học giả Trung Hoa khen là hay; các bài Truyện Tô Tần (Tần I 2), Thái tử Đan và Kinh Kha (Yên III 5), Đường Thư không nhục sứ mệnh (Nguỵ IV 25), Phùng Uyên làm thực khách nhà Mạnh Thường Quân (Tề IV 1), Nhan Xúc thuyết Tề Tuyên Vương (Tề IV 5), Dư Nhượng (Triệu IV), Nhiếp Chính (Hàn II 19)… đạt tới mức cao về nghệ thuật kể truyện và miêu tả tính tình nhân vật, cảm động nhất là truyện Thái tử Đan và Kinh Kha (Yên III 5); các bài Trương Mao khuyên vua [Nguỵ] đừng đánh Hàn (Nguỵ IV 3), Thuốc bất tử (Sở IV 
, Tử Tượng khuyên Tống đừng giúp Tề (Sở I 1), Trai, sò găng nhau, chỉ lợi ông chài (Yên II 13), Vẽ rắn thêm chân (Tề II 4), Cáo mượn oai cọp (Sở I 3), Trang Tân dùng ngụ ngôn khuyên Sở Tương Vương (Sở I 12), Xúc Chiệp thuyết thái hậu nước Triệu (Triệu IV 18), Khỏi bị cách chức (Đông Chu 9), Người đất Ôn khéo đối đáp mà khỏi bị giam (Đông Chu 10), Du Đằng biện hộ cho vua Chu (Tây Chu 3), Cam La thuyết Trương Đường và vua Triệu (Tần V 6)… có giá trị cao về thuật thuyết phục.

Trong những bài hay đó, có ba bài ngụ ngôn mà hai cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê cho là bất hủ: Yên II 13, Tề II 4 và Sở I 3. Hai bài Yên II 13 (Trai, sò găng nhau, chỉ lợi ông chài) và Sở I 3 (Cáo mượn oai cọp), trước kia cũng đã được hai cụ Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân chọn và cho vào tập Cổ học tinh hoa tức bài Con cò và con trai và bài Hồ mượn oai cọp[10]. Còn bài Triệu 18 mà hai cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê cho là cho là toàn bích thì cụ Nguyễn Hiến Lê cho vào Phụ lục cuốn Đắc nhân tâm cùng với bài Trung Sơn 8 và bài Nguỵ IV 21. Sau khi dẫn gần trọn bài Xúc Chiệp thuyết thái hậu nước Triệu (Triệu 18), cụ Nguyễn Hiến Lê kết luận: 

“Tâm lý của con người phương Đông cũng như phương Tây, thời xưa cũng như thời nay. Thuật thuyết phục của Xúc Chiệp ăn khớp với học thuyết của Dale Carnegie: sinh trước Carnegie trên hai ngàn năm mà chỉ trong một câu chuyện với Thái hậu, ông bất giác tìm ra được sáu qui tắc của Carnegie trong phần IV (qui tắc 1, 2, 3, 4, 7, 9) cộng với ba qui tắc nữa của Carnegie trong chương I phần II (tự đặt mình vào địa vị người, chú trọng tới cái lợi của người), trong chương độc nhất phần V (xin người ban cho mình một ân huệ để cho người được vui lòng) và trong chương II phần I (khen người một cách tự nhiên, tế nhị). Chúng ta có thể hiểu biết nhiều hơn cổ nhân, nhưng cái khôn của cổ nhân vẫn còn đáng cho ta học. Đó là một nguồn vui khi ta đọc sách của cổ nhân”. 

Đọc Chiến Quốc sách, đôi khi chúng ta còn bắt gặp một số điển tích, một số thành ngữ. Ví dụ điển tích “tựa cửa”, tức hai chữ ỷ môn
倚門 trong câu: Nhữ triêu xuất nhi vãn lai, tắc ngô ỷ môn nhi vọng (sáng con ra đi mà chiều về thì mẹ tựa cửa ngóng con) lấy trong bài Tề VI 1, điển tích này được Nguyễn Du dùng trong Truyện Kiều: Xót người tựa cửa hôm mai, Đặng Trần Côn dùng trong Chinh phụ ngâm khúc: Lão thân hề ỷ môn (Đoàn Thị Điểm dịch là: Lòng lão thân buồn khi tựa cửa). Còn nhân vật Nhiếp Chính trong bài Hàn II 19, thì có liên quan đến điển tích “khúc Quảng Lăng” trong câu Kiều: Kê Khang này khúc Quảng Lăng[11]. Các ngụ ngôn Trai, sò găng nhau, chỉ lợi ông chài (Yên II 13), Vẽ rắn thêm chân (Tề II 4), Cáo mượn oai cọp (Sở I 3)… cũng được xem là những điển tích. Còn sau đây là một vài thành ngữ có xuất xứ từ Chiến Quốc sách[12]: Bất dực vô phi 不翼而飛 (hai cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê dịch là: Chưa đủ cánh thì chưa thể bay cao được – Tần II 2), Huy hãn thành vũ 揮汗成雨 (Mồ hôi vẩy thành mưa - Tề I 16), Hoạch xà thiêm túc 画蛇添足 (Vẽ rắn thêm chân[13] - Tề II 4), An bộ đương xa 安步當車 (Thủng thẳng đi bộ thì cũng thích như ngồi xe - Tề III 5), Vong dương bổ lao 亡羊补牢 (Mất dê[14] rồi mới lo rào chuồng - Sở IV 4), Cao chẩm vô ưu 高枕無 (Gối cao ngủ kỹ - Nguỵ I 10)…
*

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5966
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: CHIẾN QUỐC SÁCH    Tue Apr 25, 2017 9:17 am

Trong Đời viết văn của tôi, cụ Nguyễn Hiến Lê viết: “Văn Chiến Quốc sách rất cổ, rất khó hiểu mà tôi lại không kiếm ra được một bản chú giải nào vừa ý, nên phải so sánh ba bốn bản, dùng cả bản bạch thoại, lại phải tra hai bộ từ điển Trung Hoa, có khi mất cả một ngày mới dịch được một trang. Trong khi dịch bộ đó tôi đau bao tử liên miên, phải vừa xoa bụng vừa viết, đau quá thì nằm nghỉ một chút rồi ngồi lên viết tiếp. Năm đó nhà tôi qua Pháp, tôi phải dạy thay mấy tháng, nên tôi làm việc quá sức. Bộ đó tôi phải dựa vào ba chặng, cuối mỗi chặng nghỉ nửa tháng”[15]. “Năm đó” là năm 1965, cụ bà Trịnh Thị Tuệ qua Pháp để dự đám cưới của con trai của hai cụ là Nguyễn Nhật Đức[16]. Trong cuốn Chiến Quốc sách này, ta thấy ngày cụ Nguyễn Hiến Lê viết bài Lời dẫn (trong phần II: Trích dịch) là ngày 15.11.1966. Đến 1968, cuốn Chiến Quốc sách được nhà xuất bản Lá Bối in lần đầu, và được tái bản vào năm 1973[17]. 

Ebook này, tôi gõ theo bản của nhà xuất bản Từ điển Bách khoa in năm 2006 mà tôi mua được vào ngày 06.07.2010. Sau khi gõ được vài bài trong Tần sách, tôi tình cờ tìm thấy bản của nhà xuất bản Lá Bối in năm 1973 (bản scan do 
TimSach.com cung cấp). Sau khi đối chiếu vài ba trang, thấy bản Từ điển Bách khoa 2006 có nhiều chỗ sai sót so với bản Lá Bối 1973, nên tôi nhờ bạn Tuanz dùng bản Lá Bối 1973 để sửa lại và sửa cả những lỗi do tôi gõ sai; mà tôi thì gõ sai nhiều lắm! Rồi sau khi gõ được vài bài trong Tề sách, ngày 11.09.2010, tôi lại mua được từ một cửa hiệu bán sách cũ một bản của nhà xuất bản Trẻ in năm 1989, bản này in trên giấy xấu, lại cũ, đọc rất mệt mắt, nhiều chỗ không đọc được, nhưng có cái lợi là chữ Hán được in đầy đủ như bản Lá Bối 1973. Tôi không biết bản Trẻ 1989 in lại từ bản nào vì bản Lá Bối 1973 thì có in bản đồ thời Chiến Quốc còn bản Trẻ 1989 thì không, và vì trong bản Trẻ 1989 có một số chữ Hán không giống với chữ Hán tương ứng trong bản Lá Bối 1973 (về chữ Hán thì bản Tự điển Bách Khoa 2006 lược bỏ gần hết)[18]. Còn bản Tự điển Bách Khoa 2006 thì, theo tôi đoán, in lại từ bản Trẻ 1989 vì trong bài Hàn III 5 có một chú thích mà cả hai bản đó đều in là “Xem (1) trang 228”, nhưng mấy chữ đó chỉ đúng trong bản Trẻ 1989 mà thôi. Tuy có được ba bản, nhưng tôi vẫn dùng bản Từ điển Bách Khoa 2006 để gõ tiếp, gặp chỗ nào ngờ sai thì dò hai bản kia, nếu sai thì châm chước mà sửa lại; có khi cả ba bản đều sai thì phải tìm thêm các tài liệu khác, thường gặp nhất là nhan đề thứ hai, tức mấy chữ Hán Việt đầu bài, tôi phải theo các bản chữ Hán tìm thấy trên mạng mà sửa lại. Bạn Tuanz vẫn tiếp tục giúp tôi sửa lỗi đến cuối ebook cũng như góp ý về các chú thích mà tôi thêm vào (để khỏi rườm, nhiều chỗ chúng tôi sửa sai mà không chú thích). Xin chân thành cảm ơn bạn Tuanz và xin trân trong giới thiệu cùng các bạn.
Goldfish 
Tháng 10 năm 2010

-------------------------------------------------

Chú thích:
[1] Nguyễn Hiến Lê, Đời viết văn của tôi, Nxb Văn hoá Thông tin, 2006, trang 221, 222.

[2] Cao Tiệm Ly, người nước Yên, có tài chơi đàn trúc, bạn của Kinh Kha. Xem bài Điền Đan và Kinh Kha (Yên III 5).

[3] 
http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%...%91c_s%C3%A1ch.

[4] Vì trong thời Chiến Quốc có đến hai nước Chu: Đông Chu và Tây Chu nên có tài liệu bảo rằng Chiến Quốc sách chép việc 13 nước. 

[5] Trong Đời viết văn của tôi, cụ Nguyễn Hiến Lê sắp bộ Chiến Quốc sách và cả bộ Sử ký của Tư Mã Thiên nữa vào loại Văn học.

[6] Số tiết đoạn (tức số bài) tuỳ theo người chia tách mà nhiều ít khác nhau. Theo bản Chiến Quốc sách của Cao Dụ thì gồm có 473 bài (xem trang 68). 

[7] Trong Cổ học tinh hoa ((Nxb Văn học – 2006, trang 69), hai cụ Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân bảo Chiến Quốc sách là của Lưu Hướng. 

[8] Ba mươi ba thiên: Wikipedia gọi là 33 chương. 

[9] Cao Đài Từ Điển bảo: “Chiến Quốc Sách: Sách nầy do Lưu Hướng thu thập các sách đời trước, sắp đặt lại cho đúng theo thời gian liên tục”. (
http://caodaism.org/CaoDaiTuDien/x/x5-023.htm). 

[10] Trong Cổ học tinh hoa còn có các bài được chọn từ Chiến Quốc sách: Vợ lẽ phải đòn, Dư Nhượng báo thù...

[11] Xem bài Cổ Cầm trên trang 
http://svbk52.biz/forum/showthread.php?t=1888.

[12] Theo 
http://zhidao.baidu.com/question/16450381

[13] Mấy chữ Hoạch xà thiêm túc
画蛇添足 (Vẽ rắn thêm chân) không có trong nguyên văn bài Tề II 4, nó là đại ý của bài Tề II 4, và hai cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê dùng đại ý đó làm nhan đề. (Goldfish).

[14] Hai cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê dịch thoát là bò, mà cũng có thể sách in sai dê thành bò.

[15] Sđd, trang 152-153.

[16] Trong bài phỏng vấn Sống và viết với Nguyễn Hiến Lê của Nguyễn Ngu Í đăng trên tạp chí Bách Khoa năm 1965 (bài này được in lại trong tập Nguyễn Hiến Lê – Con người và tác phẩm, Nxb Trẻ 2003, trang 163) có câu: “Hỏi anh (tức Nguyễn Hiến Lê) hiện nay có chương trình gì không, thì anh đáp: Lo dịch nốt Chiến Quốc Sách và Sử ký của Tư Mã Thiên với anh Giản Chi”. 

[17] Có lẽ bản Lá Bối là một bộ gồm hai quyển.

[18] Trong các chú thích của tôi, có chỗ tôi chép chữ Hán dạng phồn thể, có chỗ dạng giản thể là do tôi chép lại từ các bản đăng trên mạng. Mong các bạn lượng thứ cho sự thiếu nhất quán đó.

Bản đồ thời Xuân Thu
(
http://www.tuyettran.de/typo3temp/pics/b756639e57.jpg)


_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5966
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: CHIẾN QUỐC SÁCH    Tue Apr 25, 2017 10:34 am

PHẦN I
GIỚI THIỆU

Trong phần này chúng tôi sẽ:

- Đặt Chiến Quốc sách vào thời đại của nó về phương diện lịch sử và phương diện văn học;

- Tìm hiểu nguồn gốc của nó: tác giả, nhan đề, và các bản được hiệu đính;

- Trình bày ít lời phê bình của một số học giả từ đời Hán tới nay;

- Sau cùng phân tích giá trị của tác phẩm về phương diện văn học.


THỜI CHIẾN QUỐC

Đời Chu chia làm hai thời kỳ: Thời kỳ thứ nhất đóng đô ở đất Phong, đất Cảo (miền Thiểm Tây bây giờ), nên gọi là Tây Chu (1134-770); đến đời Chu Bình Vương, bị rợ Hiểm Doãn và rợ Khuyển Nhung uy hiếp, nhà Chu phải dời đô qua Lạc Dương (Hà Nam) ở phương đông, từ đó bắt đầu thời kỳ thứ nhì gọi là Đông Chu (770-221).

Các sử gia chia thời Đông Chu này làm hai thời kỳ nữa: thời Xuân Thu (722-474) và thời Chiến Quốc (479-221).

Sự phân chia đó chỉ dựa trên một bộ sử biên niên của Khổng Tử, bộ Xuân Thu. Bộ này chép sử nước Lỗ từ năm thứ nhất đời Lỗ Ẩn Công (722) đến năm thứ mười bốn đời Lỗ Ai Công (481), gồm 242 năm; năm 749 là năm Khổng Tử mất. Chữ Xuân Thu mới đầu trỏ một năm (người ta lấy mùa xuân và mùa thu để tượng trưng một năm); rồi trỏ những bộ sử chép việc từng năm (vì vậy ngoài bộ Xuân Thu của Khổng Tử, còn nhiều bộ sử khác như của Công Dương, Cốc Lương, Tả Khâu Minh… cũng gọi là Xuân Thu).

Nhiều nhà đã thấy năm 722 và năm 481 (hoặc năm 479) không đánh dấu một biến chuyển nào lớn lao trong lịch sử, nên đã chia lại như sau: thời Xuân Thu: 770-403, từ đời Chu Bình Vương tới cuối đời Chu Liệt Vương; thời Chiến Quốc: 403-221, từ đời Chu An Vương đến khi nhà Tần diệt Tề và thống nhất Trung Quốc.

Lối phân chia này hợp lý hơn (lấp được chỗ trống từ 770 tới 722) nhưng cũng là ép vì suốt đời Đông Chu, lịch sử và xã hội Trung Hoa biến đổi liên tục, không bị gián đoạn, từ chế độ phong kiến tới chế độ chuyên chế, từ tình trạng phân tán tới tình trạng thống nhất; mà năm 403 cũng không có một biến cố nào quan trọng đủ để mở đầu một thời đại.

Từ khi dời đô qua phía đông, nhà Chu suy nhược lần: đất đai thì phải chia cắt để phong cho các vương hầu công khanh, nên mỗi ngày một thu hẹp lại, chỉ còn trông vào sự cống hiến của các chư hầu mà chư hầu thì như nước Lỗ, trong 242 năm chỉ triều cống có ba lần; không những vậy, vì cái danh nghĩa thiên tử đôi khi còn phải giúp lương thực cho chư hầu những năm họ mất mùa hoặc có chiến tranh.

Nhà Chu tuy suy, nhưng các nước chư hầu chưa dám bỏ, vì chưa nước nào đủ mạnh để dẹp tất cả các nước khác. Họ lộng quyền, tranh giành, đánh nhau không ngớt, lại mượn danh nghĩa tôn Chu để sát phạt nhau nữa.

Số chư hầu trước kia trên một ngàn, tới đầu đời Đông Chu chỉ còn lại trên một trăm, vì nhiều nước nhỏ đã bị các nước lớn thôn tính. Nhưng trong số trên một trăm nước đó, thời Xuân Thu chỉ có mười lăm nước là đáng kể: Tấn, Tần, Tề, Ngô, Việt, Sở, Lỗ, Vệ, Yên, Tào, Tống, Trần, Thái, Trịnh, Trâu. Trong số mười lăm nước đó lại chỉ có năm nước là hùng cường, kế tiếp nhau làm minh chủ, tức là ngũ bá: Tề (Hoàn Công), Tấn (Văn Công), Tống (Tương Công), Sở (Trang Công), Tần (Mục Công).

Qua thời Chiến Quốc, số chư hầu giảm xuống còn trên một chục: Tề, Tần, Sở, Nguỵ, Triệu, Hàn (ba nước này xưa là nước Tấn). Tống Lỗ, Tần, Sở, Đằng, Yên, Trung Sơn…;[1] nhưng chỉ có bảy nước lớn tranh hùng với nhau (thất hùng), tức: Tần, Tề, Sở, Hàn, Nguỵ, Triệu, Yên… Trong số thất hùng, mạnh nhất là Tần, Sở, Tề vì đất đai rộng (rộng nhất là Sở) mà tài nguyên lại nhiều. 

Các nước đó tổ chức những liên minh để đánh lẫn nhau. Có hai kế hoạch liên minh lớn nhất là kế hoạch “hợp tung” của Tô Tần và kế hoạch “liên hoành” của Trương Nghi. Tung có nghĩa là đường dọc, mà hoành có nghĩa là đường ngang. Các nước từ Bắc tới Nam, tức từ Yên đến Sở liên hợp với nhau thành một cái trục dọc để chống lại Tần, cho nên gọi là hợp tung. Để chống lại thế đó, Trương Nghi thuyết phục một số nước ở phía đông Tần cắt đất cầu hoà với Tần thành một trục ngang để đánh với các nước kia, cho nên gọi là liên hoành. Tới cuối thời Chiến Quốc, rốt cuộc các mâu thuẫn lần lần tập trung lại thành mâu thuẫn giữa Tần và sáu nước: Hàn, Nguỵ, Triệu, Yên, Tề, Sở.

Càng gần tới mãn cục thì chiến tranh càng khốc liệt mà tình cảnh càng bi đát: có nước bắt lính tới một phần năm dân số, ông già bảy chục tuổi cũng phải tòng quân, có nước thu thuế của dân tới hai phần ba huê lợi mới đủ nuôi quân đội. Trong khi đó, các chính khách, các nhà du thuyết bôn tẩu không ngớt từ nước này qua nước khác, tấp nập trên đường, xe ngựa nối nhau, tán lọng chạm nhau, vàng bạc châu báu tuôn ra để mua chuộc nhau, ly tán nhau, phản gián nhau.

Thời đó là thời “đánh nhau để tranh đất, giết người đầy đồng; đánh nhau để tranh thành, giết người đầy thành”[2], thời “không có bực thánh vương nào ra đời, các vua chư hầu thì phóng túng, bọn xử sĩ bàn ngang, luận càn”, thời “không dùng uy quyền thì không đứng được, không dùng thế lực thì không thi hành được chính trị”.

Sở dĩ có cảnh loạn lạc đó, là vì xã hội Trung Hoa đương biến chuyển mạnh về phương diện chính trị, văn hóa, kinh tế.

Cái thế ở đầu đời Chu (trong nước có cả ngàn chư hầu) chỉ tạm vững khi nhà Chu còn mạnh. Khi nhà Chu bắt đầu suy, dời đô qua phía đông thì các nước chư hầu tất tranh giành nhau, vua Chu can thiệp, ngăn cản không được, do đó có nước thì mạnh lên, có nước thì suy đi. Một nước mà suy thì tất có một bọn quí tộc mất địa vị. Muốn phục hồi địa vị, họ phải dùng những người tài giỏi về chính trị, quân sự, kinh tế, trong mọi giới, cả trong giới bình dân. Nhờ vậy mà bọn giai cấp sĩ phu, lần lần tranh được quyền hành của bọn quí tộc.

Đầu đời Chu, chỉ hạng quí tộc mới được cầm quyền, mới được học. Khi học sa sút mà thành bình dân thì trong giới bình dân bắt đầu có người học rộng. Khổng Tử là hạng người đó; ông đã mở phong trào tư nhân dạy học, bất kỳ giới nào xin vô học ông cũng nhận, và ông có công lớn trong sự khai hoá quần chúng. Đời sau, Mặc Tử, một triết gia trong giai cấp bình dân, tiếp tục công việc đó mà sự giảng học phát triển rất mạnh. Nhờ vậy, trong giai cấp bình dân, có nhiều người tài giỏi như Tô Tần, Trương Nghi, Cam Mậu, Phạm Tuy, Ngô Khởi, Bạch Khởi… Chính bọn này đã đóng vai trò quan trọng trong cái thế chiến quốc.

Lại thêm kinh tế mở mang cũng là một nguyên nhân thúc đẩy sự biến chuyển về chính trị nữa.

Dân số tăng lên (tổng số nhân khẩu thất quốc đời Đông Chu đã tới hai chục triệu), chế độ công điền, “thực ấp” hồi trước không còn hợp thời và nông dân oán trách bọn chủ nhân là “không cày không cấy mà lúa chứa đầy vựa”. Thương Ưởng một phần vì hiểu rõ sự thế tự nhiên của thời đại, một phần vì muốn khuếch trương kinh tế cho Tần được mạnh, cho nhân dân tự do khai khẩn (nông bản chủ nghĩa: coi Thương Quân thư, thiên Nông chiến và thiên Khẩu lệnh), do đó có một số bình dân thành phú gia, mà một khi địa vị đã cao thì quyền lợi cũng phải thay đổi, gây thêm một mâu thuẫn nữa trong xã hội.

Phương pháp canh tác cũng tiến bộ: thời Xuân Thu người ta đã biết dùng bò kéo cày, thời Chiến Quốc người ta đã chế tạo dụng cụ bằng sắt[3], nhờ vậy mà cày sâu hơn, nhanh hơn; người ta lại biết bỏ phân, làm hai mùa, đào kênh dẫn nước, tháo nước. Sự khẩn hoang (đặt biệt ở Tần) phát triển mạnh, và để khuếch trương công việc thuỷ lợi, bọn chủ điền muốn thống nhất đất đai, nhất là thống nhất những nước nhỏ cùng nằm trên một dòng sông[4].

Chính sách thực sản của Quản Trọng ở nước Tề (khai mỏ đúc tiền, nấu nước làm muối bể, phát triển công nghệ, lập kho lẫm…) có kết quả rất tốt, ảnh hưởng tới nhiều nước khác và làm cho nền kinh tế chung tiến thêm một bước nữa.

Thương mại cũng có thêm hiện tượng mới: những nơi như Hàm Dương ở Tần, Lâm Tri ở Tề, Hàm Đang ở Triệu, Đại Lương ở Nguỵ đều là những thành phố phát đạt về thương mại, dân chúng các nơi di cư lại thành một hạng thị dân. Bọn phú thương rất có thế lực, mua quan bán tước và bắt đầu tham gia chính trị, muốn phá bỏ biên giới giữ các nước chư hầu để cho giao thông và thương mại khỏi bị trở ngại. Sử còn chép những thương gia danh tiếng như Y Đốn (người nước Lỗ, thời Xuân Thu), Bạch Khuê (người nước Ngụ, thời Chiến Quốc), Phạm Lãi, Đoan Mộc Tứ (Tử Cống)… Họ chẳng những buôn hàng hoá mà có khi còn buôn vua nữa, như Lã Bất Vi.

Sau cùng còn tâm lý chung này nữa: làm dân một nước nhỏ thì phải chịu nhiều gánh nặng, nhiều điều điêu đứng khốn khổ trong thời loạn, cho nên ai cũng mong được làm dân một nước lớn, được thấy Trung Quốc thống nhất.


*

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5966
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: CHIẾN QUỐC SÁCH    Tue Apr 25, 2017 3:43 pm

Trước cảnh loạn lạc ấy, làm sao vãn hồi được trật tự? Điều làm cho các triết gia Trung Hoa đời Chu thắc mắc. Đại loại có hai chủ trương:

Một chủ trương muốn giữ lại chế độ cũ, chế độ phong kiến, tăng uy quyền cho thiên tử, bắt các chư hầu phải phục tòng.

Một chủ trương muốn đập đổ chế độ cũ vì biết rằng nó không thể tồn tại được lâu nữa, mà lập một chế độ mới.

Theo chủ trương thứ nhất có Nho gia và Mặc gia. Mới đầu Khổng Tử muốn cứu vãn nhà Chu. Rồi sau, Mặc Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử thấy nhà Chu suy quá, bất lực quá, không thể cứu được, mong có một vị minh quân thay nhà Chu để thống nhất Trung Quốc mà thi hành chế độ cũ sau khi sửa đổi ít nhiều. 

Rõ nhất là chủ trương của Mạnh Tử. Một lần Lương Tương Vương hỏi ông: “Khi nào thiên hạ yên định được?”. Ông đáp: “Khi nào thống nhất thiên hạ thì yên định được… và không ai thích giết người thì thống nhất được… Hiện nay trong thiên hạ chẳng có bậc chăn dân nào mà chẳng ham giết người. Nếu có một vị vua có lòng nhân chẳng ham giết người hại chúng thì mọi người trong thiên hạ sẽ quay đầu ngổng cổ trông về vị ấy” (Lương Huệ Vương). Nghĩa là ông chẳng tin nhà Chu nữa, muốn gặp bất kỳ một nhân quân nào biết theo đạo của ông để ông phò tá mà thống nhất thiên hạ.

Theo chủ trương thứ nhì có Đạo gia và Pháp gia. Đạo gia muốn dùng chính sách phóng nhiệm, giảm thiểu chính quyền, cứ theo tự nhiên như thời sơ khai; họ tin rằng khi không còn giai cấp thì sẽ hết loạn, chẳng thống nhất mà cũng như thống nhất. Như vậy phái này đả đảo một cái cựu (chế độ phong kiến) để về một cái cựu hơn (chế độ bộ lạc).

Pháp gia trái lại, không muốn trở về cái cựu mà muốn tiến tới một chế độ mới: họ muốn dùng chính sách độc tài, dùng vũ lực lật đổ chế độ phong kiến mà lập chế độ quân chủ chuyên chế. Họ cho đạo “vô vi” của Lão, Trang là hoang đường, họ muốn cực “hữu vi”; họ lại cho “vương đạo” của Khổng Mạnh chỉ làm cho quốc gia thêm loạn[5], nên họ chủ trương “bá đạo”.

Chỉ xét sự biến chuyển về ý nghĩa của hai tiếng vương, bá, ta cũng thấy được đại cương của sự biến chuyển về tư tưởng chính trị trong thời Đông Chu.

Suốt đời Xuân Thu, tiếng vương trỏ vua Chu, tiếng bá trỏ vị đứng đầu chư hầu, nghĩa là chỉ có sự phân biệt địa vị chứ tuyệt nhiên không có ý nghĩa gì về chính sách trị dân, về tư cách ông vua. 

Qua thời Chiến Quốc, Mạnh Tử là người đầu tiên dùng hai tiếng đó làm danh từ chính trị: vương là chính sách dùng nhân nghĩa, bá là chính sách dùng sức mạnh mà trị dân. Trong thiên Công Tôn Sửu ông viết: “Người dùng sức mạnh mà mượn tiếng làm điều nhân là bá; người làm bá phải có nước lớn. Người lấy đức làm điều nhân là vương, người làm vương không đợi có nước lớn”.

Đời sau, Tuân Tử cũng theo nghĩa của Mạnh Tử, chỉ có khác một điều là Mạnh Tử trọng vương mà ghét bá, cho vương và bá là hai chính sách khác nhau, còn Tuân Tử thì không ghét hẳn bá, mặt dầu vẫn trọng vương. 

Tới Hàn Phi, môn đệ của Tuân Tử, thì nghĩa của vương, bá đổi hẳn: ông vua nào giỏi dùng pháp, thuật mà có cái thế mạnh thì là vương, ông vua nào cũng dùng pháp, thuật mà thế không mạnh thì là bá; chính sách vương hay bá chỉ là một.

Hết thảy các nước đời Chiến Quốc đều theo chủ trương của Pháp gia.


                                          *

Như trên, chúng tôi đã nói, trong số thất hùng, chỉ có Tần và Sở mạnh nhất, rồi tới Tề. 

Tần nhờ địa thế hiểm trở (cửa Hàm Cốc khi mà đóng lại thì không đội binh nào qua được) nhờ đất đai rộng (Tần đã chiếm thêm được miền Ba Thục), nhờ dùng “biến pháp” của phái Pháp gia (Thương Ưởng, Lý Tư), nhờ tài cầm quân của Bạch Khởi, mà lần lần chiếm ưu thế về chính trị, kinh tế, quân sự, thôn tính các nước Hàn, Triệu, Nguỵ, rồi uy hiếp Sở. Sở đáng lý phải thay đổi chính sách trị nước, liên hiệp với Tề mà chống Tần, phải ủng hộ chính sách hợp tung mà phản đối chính sách liên hoành; nhưng từ vua tới quan, đều mờ ám, không nghĩ tới dân, tới nước, chỉ cầu an nhất thời nếu không phải là mưu tư lợi – Khuất Nguyên rất đau đớn về tình trạng đó – thành thử bị Tần diệt. Tướng Tần là Bạch Khởi, sau khi chiếm Sở, phân tích nguyên nhân thất bại của Sở như sau: “Vua (Sở) thì mê muội, cậy nước lớn, không để ý đến chính trị suy đồi; quần thần thì tranh quyền đoạt lợi, xu nịnh vua, hãm hại người trung, không sửa thành quách, không lo phòng thủ”.

Sở bị diệt rồi thì tới phiên Tề, và lúc đó ở Sơn Đông mọi người đều kinh khủng, lo cho thân phận của mình. Người ta nghĩ tới lời của Lỗ Trọng Liên (coi bài Triệu III 12), thấy cái nguy cơ sắp phải chịu cảnh lưỡi gươm Tần kề cổ, hốt hoảng hô hào một lần chót sự đoàn kết để chống Tần (coi bài Yên II 11), và tiếng kêu của thái tử nước Yên vang lên ai oán vô cùng (coi bài Yên III 5). Nhưng đã quá trễ. Vua Yên phải nhẫn tâm giết thái tử là Đan, dâng thủ cấp cho Tần Thuỷ Hoàng mà Tần Thuỷ Hoàng cũng không tha, san phẳng kinh đô Yên để kết thúc thời Chiến Quốc, mà hoàn thành công việc thống nhất Trung Quốc. Thế là “lục vương tất, tứ hải nhất”[6].


---------------------------------------------------

Chú thích:
[1] Đoạn này chắc sách in sai. Trong Sử Trung Quốc, cụ Nguyễn Hiến Lê viết về thời Thất hùng như sau: Các sử gia cho thời Chiến Quốc bắt đầu từ năm 376 TrCN, năm mà nước Tấn bị ba đại phu chia nhau thành ba nước Ngụy, Triệu, Hàn. Sự thực thì biến cố đó không quan trọng gì mà xã hội Trung Hoa vẫn biến chuyển đều đều từ thời Đông Chu đến đầu đời Tần. Sự phát minh ra thuật nấu sắt vào khoảng 500 TrCN có ý nghĩa hơn nhiều như tôi đã trình bày ở trên. Kể cả ba nước Ngụy, Triệu, Hàn (sử gọi là Tam Tấn) mới thành lập đó thì đời Chiến Quốc có trên mười chư hầu, nhưng không kể những nước nhỏ như Tống, Lỗ, Trâu, Đằng, Trung Sơn... mà một số thành những nước phụ dung của các nước lớn, thì chỉ còn bảy nước đáng kể, sử gọi là Thất hùng: Yên, Tề, Hàn, Ngụy, Triệu, Sở và Tần”. (Goldfish).

[2] Tướng Tần là Bạch Khởi, một đêm giết tới 400.000 quân Triệu đã đầu hàng.

[3] Năm 513, Tần đã dùng sắt để đúc những đỉnh ghi hình luật.

[4] Đời Chu Tương Vương (thế kỷ thứ 7 trước Tây lịch), Tề Hoàn Công một lần triệu tập chư hầu ở Quí Khâu, thay mặt vua Chu mà tuyên cáo năm điều cấm kỵ của nhà Chu, mà hai điều quan trọng nhất là:
- Không được lấp dòng nước chảy.
- Không được cấm đong thóc.
Coi truyện “Tây Chu tháo nước cho Đông Chu” (phần trích dịch – Đông Chu 4) ta thấy vấn đề nước để trồng lúa quan trọng ra sao.

[5] Coi bài Tần 1, 2 đoạn Tô Tần thuyết Tần Huệ Vương và bài Trung Sơn 7.

[6] Đỗ Mục – A Phòng cung phú. Nghĩa là: sáu vua bị diệt, bốn bể thống nhất.
________________________________________

Bản đồ thời Chiến Quốc
(
https://2img.net/h/i303.photobucket.com/albums/n...ochienquoc.jpg)

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5966
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: CHIẾN QUỐC SÁCH    Tue Apr 25, 2017 3:58 pm

NGUỒN GỐC CHIẾN QUỐC SÁCH

Thời đại đó là thời đại quan trọng nhất trong lịch sử Trung Hoa, nên nhiều sử gia ghi lại; nhưng những bộ sử căn bản làm nguồn tài liệu cho đời sau thì rất ít. 

- Vào đời Xuân Thu, ngoài bộ Xuân Thu của Khổng Tử, có những bộ: 

Tả truyện, còn gọi là Tả thị Xuân Thu, một bộ sử biên niên chép tình hình ngoại giao, quân sự, chính trị của các nước từ 722 (đầu đời Lỗ Ấn Công) đến năm 478 trước Tây lịch (đời Lỗ Ai Công).

Quốc ngữ chép lịch sử tám nước: Chu, Lỗ, Tề, Tần, Trịnh, Sở, Ngô, Việt từ năm 990 (đời Tây Chu Mục Vương) đến năm 453 trước Tây lịch (Đời Đông Chu Định Vương).

- Về đời Chiến Quốc chỉ có mỗi bộ Chiến Quốc sách – thực ra chưa đáng gọi là sử - chép việc của mười một nước: Chu, Tần, Tề, Sở, Triệu, Nguỵ, Hàn, Yên, Tống, Vệ, Trung Sơn từ năm 453 (đời Đông Chu Định Vương) tới năm 221 trước Tây lịch (tức năm 16 đời Tần Thuỷ Hoàng, năm mà Tần diệt xong lục quốc và thống nhất Trung Hoa).

Một học giả gần đây của Trung Hoa, La Căn Trạch, căn cứ vào câu này trong Sử ký của Tư Mã Thiên: “Khoái Thông[1] giỏi về trường đoản thuyết, có tám mươi mốt bài luận thuật về quyền biến thời Chiến Quốc” mà khẳng định rằng Khoái Thông là tác giả Chiến Quốc sách. Nhưng thuyết đó chưa được nhiều người chấp nhận và hiện nay các sách viết về văn học sử Trung Quốc đều theo thuyết cổ: Chiến Quốc sách do nhiều người viết và Lưu Hướng thu thập, chỉnh lý, trễ lắm là năm 8 trước Tây lịch.

Lưu Hướng (78-
, tự Tử Chính, người đất Bái, là tôn thất nhà Hán, khoảng hai mươi mốt tuổi làm chức Gián Đại phu, dưới triều Tuyên Đế. Tính tình giản dị, không có uy nghi, ít giao du, chỉ thích sách vở, đúng là một học giả. Ông có tài văn chương (dâng mấy chục bài phú, tụng, được Tuyên Đế rất khen), giỏi về ngũ kinh, lại thích cả thiên văn, phương thuật, có lần dâng cách luyện kim, suýt bị tội gạt vua. Thời Nguyên Đế, ông ghét bọn ngoại thích chuyên quyền, tính can vua, nhưng bị chúng hãm hại, bị truất làm dân thường trong mười năm. Thời Thành Đế, ông lại được bổ dụng, mới đổi tên cũ là Cánh Sinh ra tên mới là Hướng, làm tới chức Quang lộc đại phu, lãnh việc hiệu đính ngũ kinh bí thư. Nhưng bọn ngoại thích họ Vương lại chuyên quyền, ông dâng thư can vua, vua hiểu lòng ông, muốn dùng ông làm chức Cửu khanh, mà bị họ Vương ngăn cản. Ông mất được mười ba năm thì Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán. 

Các sách (Từ Hải, Từ Nguyên, Trung Quốc văn học gia liệt truyện – Quang Hoa thư điếm) chỉ chép rằng ông lưu lại những tác phẩm: Hồng phạm ngũ hành truyện luận, Liệt nữ truyện, Liệt tiên truyện, Tân tự, Thuyết uyển, và ba mươi ba bài phú mà bài Cửu thán nổi danh nhất; không nhắc đến việc ông thu thập, chỉnh lý Chiến Quốc sách, có lẽ cho rằng công đó không đáng ghi chăng?

Nhưng ngày nay, còn lưu lại bài Tựa Chiến Quốc sách của ông, trong đó đại ý nói rằng khi thu thập các tài liệu, ông tìm được nhiều quyển sắp đặt lộn xộn, lại thấy tám thiên chép riêng về các nước, nhưng không đủ, ông bèn theo từng nước và theo thứ tự thời gian sắp đặt lại thành ba mươi ba thiên, hiệu đính lại nhiều chữ sai lầm. Các bản ông dùng có nhiều tên khác nhau: Quốc sách, Quốc sự, Đoản trường, Sự ngữ, Trường thư hoặc Tu thư; ông nghĩ rằng sách chép những mưu mô của bọn du sĩ thới Chiến Quốc, nên đặt tên là Chiến Quốc sách[2].

Theo bài tựa đó thì Chiến Quốc sách không phải của một người viết. Đọc qua một lượt, ai cũng nhận ra ngay rằng tác phẩm không thuần nhất, tất phải là công trình của nhiều tác giả. 

Vì cùng một việc mà mỗi chỗ chép một khác. 

Chẳng hạn truyện Tần tấn công Nghi Dương (đất của Hàn). Bài Tần II 7, chép rằng Phùng Chương khuyên vua Tần mua lòng Sở, đem Hán Trung hứa tặng Sở, để Sở Hàn đừng liên kết với nhau; còn bài Tần II 10, chép rằng Sở phản Tần mà liên kết với Hàn, vua Tần sợ, Cam Mậu bảo vua Tần không có gì đáng lo. Hai bài đó cách nhau có một trang, cũng chép việc xảy ra trước khi Tần chiếm được Nghi Dương, mà đã chép việc khác nhau như vậy. Còn một bài thứ ba nữa, bài Đông Chu 2, thì không chép gì về việc Sở liên kết với Hàn cả, mà Cảnh Thuý, tướng Sở, đi nước đôi để được cả thành của Tần lẫn bảo vật của Hàn. Những tài liệu đó không hẳn là mâu thuẫn nhau, nhưng nếu do một người viết tất đã gom lại để có sự nhất quán.

Lại thêm tên một vài người cũng không được nhất trí, chẳng hạn bài Đông Chu 21, chép là Xương Tha; bài Tây Chu 14, chép là Cung Tha; Giang Ất có chỗ chép là Giang Nhất hoặc Giang Doãn; Chu Tối có chỗ chép là Chu Tụ.

Bút pháp cũng không đều, điểm này chúng tôi sẽ xét riêng trong đoạn “Giá trị Chiến Quốc sách về phương diện văn học” ở dưới.
                                             *

Vậy Chiến Quốc sách do nhiều người viết, điều đó đã hiển nhiên. Nhưng những người đó ở thời nào? Hồi xưa người ta cho rằng Chiến Quốc sách là tài liệu của sử quan các nước thời Chiến Quốc. Ngày nay đa số các học giả nghi ngờ thuyết đó vì hai lẽ:

Năm 213 trước Tây lịch, Tần Thuỷ Hoàng ra lệnh đốt các sách thời Tiên Tần để thống nhất tư tưởng, diệt tinh thần địa phương; mặc dầu sử chép rằng mỗi cuốn còn lưu lại một bản ở Gác Thạch Cừ (thư viện triều đình), nhưng những tài liệu về sử, nhất là những tài liệu có hại cho Tần, không chắc gì Tần đã chịu giữ lại.

Vả lại, xét về nội dung Chiến Quốc sách thì phần lớn không phải là tài liệu đáng tin về sử, mà có lẽ chỉ là những luận thuyết, biện thuyết dựa vào lịch sử mà viết; điểm này chúng tôi sẽ xét thêm ở một đoạn sau.

Vì vậy, hiện nay người ta tạm cho rằng Chiến Quốc sách do các chính khách hoặc các nhà văn học viết trước đời Tần và do Lưu Hướng thu thập, xếp đặt lại[3].

Nhưng chính bản của Lưu Hướng thì chúng tôi không thấy ai nhắc tới nữa, mà chỉ thấy nhắc tới những bản do người đời sau hiệu đính.

Trong bài Tựa cuốn Bạch thoại dịch giải Chiến Quốc sách độc bản của Diệp Ngọc Lân (Quảng Ích thư cục – 1947) có chép: “Những nhà hiệu đính Chiến Quốc sách thì Tăng và Diêu là đúng hơn cả; những nhà chú thích Chiến Quốc sách thì Bão và Ngô là minh bạch hơn cả”.

Tăng là Tăng Củng (1019-1073), một văn sĩ đời Tống, đồng thời với Vương An Thạch, Tô Thức, và cùng với hai người này, nổi tiếng về cổ văn, đứng vào hàng “bát đại gia” của Trung Quốc.

Diêu là Diêu Bá Thanh là một người đời Tống, đồng thời với Nhạc Phi.

Bão là Bão Bưu (chưa rõ đời nào).

Ngô là Ngô Sư Đạo, người đời Nguyên, thế kỷ 14.

Nhưng chính trong bài Tựa, Tăng Củng có nói Cao Dụ đã chú thích trước ông. Cao Dụ là người Đông Hán, ngoài bộ Chiến Quốc sách còn chú thích Hiếu kinh, Lã thị Xuân Thu, Hoài Nam Tử.

Ngoài ra còn rất nhiều người hiệu đính và chú thích nữa, theo bài Tựa bản Quảng Ích thư cục in gần đây thì bản Chiến Quốc sách chú của Vu Hương Thảo là công phu nhất, không bản nào hơn.

Những bản hiện nay người ta thường dùng là:

Chiến Quốc sách hiệu chú trong Tứ bộ tùng san – Thương vụ ấn thư quán – 1920-1922.

Trùng Khắc Diêm Xuyên Diêu thị bản Chiến Quốc sách – Sĩ Lễ Cư tùng thư.

Bạch thoại dịch giải Chiến Quốc sách của Diệp Ngọc Lân, in lại ở Hương Cảng sau năm 1960, không rõ năm nào. Bản này ít nhiều lỗi. 

Chiến Quốc sách bổ chú của Vương Tăng Kỳ và Chu Nguyên Thiện – Thương vụ ấn thư quán – 1922.

Chiến Quốc sách tường chú của Quách Hi Phần – Vương Mậu xuất bản năm 1931.

Chiến Quốc sách tuyển giảng – Lưu Đức Huyên[4] xuất bản 1958. Nhiều chú giải thiên kiến.

Các học giả Nhật Bản cũng nghiên cứu Chiến Quốc sách như: Hoành Điền Duy Hiếu (Yokota Iko) có cuốn Chiến Quốc sách chính giải in lần đầu năm 1829.

Hộ Kỳ Đạm Viên (Tosaki Tan’en) có Chiến Quốc sách thảo thông in năm 1776.

Quan Quân Trường (Saki Kuncho) có Chiến Quốc sách Cao chú bổ chính in năm 1786.

Trung Tỉnh Lý Hiên (Nakai Riken) có Chiến Quốc sách chính giải[5].


---------------------------------------------------------------

Chú thích:
[1] Một người đầu đời Hán.

[2] Trong tập Cổ học tinh Hoa (Nxb Văn học – 2006, trang 69), Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân bảo: “Chiến Quốc sách: bộ sách này còn được gọi là Trường Đoản thư của Lưu Hướng đời Hán làm ghi chép những việc về đời Chiến Quốc”. Trong sách, chữ thư (Trường đoản thư) bị in sai thành như. (Goldfish).

[3] Chúng tôi nhận thấy có một số truyện trong Chiến Quốc sách gần y hệt (chỉ sai vài chữ) một số truyện trong hai thiên Thuyết lâm thượng và Thuyết lâm hạ của bộ Hàn Phi Tử. 
Như các truyện:
- Trí Bá sách địa ư Nguỵ Hoàn từ (Nguỵ sách) [tức bài Nguỵ 1]
- Ôn nhân chi Chu (Đông Chu sách) [Đông Chu 10]
- Hữu hiến bất tử chi dược (Sở sách) [Sở IV 8]
- Nhạc Dương vi Nguỵ tướng (Nguỵ sách) [Nguỵ I 2] đều chép trong Thuyết lâm thượng. 
và truyện:
- Tĩnh Quách Quân tương thành Tiết (Tề sách) [Tề I 3] chép trong Thuyết lâm hạ.
Vì vậy chúng tôi ngờ rằng người biên tập Chiến Quốc sách đã chép cả một số bài của Hàn Phi, nói cách khác, Hàn Phi cũng là một trong những tác giả của Chiến Quốc sách.
[Trong chú thích này, các chữ trong dấu [ ] do tôi thêm vào. (Goldfish)].

[4] Chỗ này Từ Hải và Khang Hi tự điển đều không có. Chúng tôi không biết đọc ra sao.

[5] Tài liệu đoạn này rút trong cuốn Intrigues của J.I. Crump, Jr (The University of Michigan Press -1964). 

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5966
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: CHIẾN QUỐC SÁCH    Wed Apr 26, 2017 11:24 pm

GIÁ TRỊ VỀ TÀI LIỆU LỊCH SỬ

Các sách văn học sử của Trung Hoa đều sắp Chiến Quốc sách vào loại tản văn lịch sử đời Tiên Tần, nhưng nhiều học giả cho rằng nên sắp nó vào các loại luận thuyết, đúng hơn vào loại biện thuyết, vì giá trị về tài liệu lịch sử của bộ đó rất kém.

Dưới đây chúng tôi xin tóm tắt ý kiến những học giả đó do Crump thu thập trong cuốn Intrigues.

Từ thế kỷ mười hai, đời Tống, Triều Công Vũ, trong cuốn Quận Trai độc thư chí đã cho rằng Chiến Quốc sách không chứa những thực lục (nghĩa là không biên chép các sự thực xảy ra trong triều đình, trong nước) nên không thể coi bộ đó là sử, mà chỉ nên coi là tác phẩm của bọn người theo phái tung hoành.

Phái tung hoành tức là bọn mưu sĩ đời Chiến Quốc như Tô Tần, Trương Nghi… Nhân vật quan trọng nhất trong Chiến Quốc sách là Tô Tần. Mà ngay nhân vật đó, một số học giả cũng cho là vị tất đã có thật, có lẽ chỉ là một nhân vật tiểu thuyết.

Đầu thế kỷ mười chín, Mã Quốc Hàn (1794-1857), đã thu thập tất cả các đoạn, bài trong Chiến Quốc sách và Sử ký (của Tư Mã Thiên) viết về Tô Tần, xếp đặt theo thứ tự để viết lại một cuốn đã thất truyền nhan đề là Tô Tử mà trả tiểu sử Tô Tần về khu vực văn chương, nếu không phải là khu vực tiểu thuyết. 

Lưu Ngọc Thăng, cũng ở thế kỷ trước, còn trách Tư Mã Thiên là đã tạo nên tính tình và tư cách của Tô Tần.

Tề Tư Hoà phân tích các lời biện thuyết của Tô Tần, Trương Nghi và thấy nhiều chỗ sai niên đại, rồi cho rằng những lời đó không thể do Tô, Trương thốt ra, viết ra được, mà tất do những tung hoành gia đời sau chép. 

Gần đây (1955), Dương Khoan bảo có nhân vật Tô Tần thật, nhưng những biện thuyết của Tô thì đều là của bọn tung hoành gia đời sau.

Có điều này đáng để ý là truyện Tô Tần tự biện hộ (Yên I 5), chép lại gần đúng trong truyện Tô Đại thuyết vua Yên (Yên I 3)[1]. Dưới đây chúng tôi xin trích trong mỗi truyện một đoạn để độc giả so sánh:

Truyện Yên I 5 chép:

“Hàng xóm của tôi có một người đi làm quan ở xa, người vợ cả ở nhà tư thông với kẻ khác. Khi người chồng sắp về, tình nhân của người vợ tỏ vẻ lo lắng, người vợ bảo: “Anh đừng lo, em đã chế một thứ rượu độc để sẵn cho hắn rồi”. Hai ngày sau người chồng về, người vợ cả sai người vợ bé bưng chén rượu dâng chồng. Người vợ bé biết là rượu có thuốc độc, dâng chồng thì là giết chồng mà nếu cho chồng hay thì người vợ cả sẽ bị đuổi, bèn làm bộ té, rượu đổ hết. Người chồng cả giận, lấy roi quất người vợ bé”.

Truyện Yên I 3 chép:

“Xưa (…) có người chồng đi làm quan ở xa ba năm không về nhà, người vợ cả có tình nhân. Người tình nhân này bảo: “Chồng của em mà về thì làm sao bây giờ?”. Đáp: “Anh đừng lo, em đã chế thứ rượu độc để sẵn cho hắn rồi”. Quả nhiên người chồng về, người vợ cả bèn sai vợ bé đem rượu độc dâng chồng. Người vợ bé biết là rượu độc, đương đi ngừng lại suy nghĩ: “Nếu đưa cho chồng ta uống thì là giết chồng; nếu cho chồng hay sự thực thì chị cả bị đuổi, sao bằng làm bộ vấp cho rượu đổ hết đi”. Rồi làm bộ té, đổ rượu. Người vợ cả bảo chồng: “Anh ở xa mới về cho nên chế thứ rượu ngon để dâng anh mà dì ấy té đánh đổ mất rồi”. Người chồng không biết đầu đuôi, trói người vợ bé mà quất”.

Vì có những chỗ trùng nhau như vậy, cho nên có người nghi rằng cả ba anh em họ Tô – Tần, Lệ, Đại – đều không có thật. 

Nhưng đại chúng từ Tây Hán về trước cứ cho Tô Tần là có thực vì họ muốn tin là có thực. Họ muốn tin rằng có một nhân vật liên kết Lục quốc để chống nhà Tần mà họ ghét là độc tài, tàn nhẫn, không văn minh, lại có dã tâm xâm chiếm Trung Nguyên. Nhất là từ khi Tư Mã Thiên đem Tô Tần vô Sử ký, đề cao tư cách Tô Tần bằng giọng văn cảm khái, hùng hồn thì người đời sau chịu ảnh hưởng của ông, càng cho Tô Tần là có thật, Chiến Quốc sách là tín sử.

Ngoài ra, còn nhiều đoạn chép về những nhân vật khác cũng không đúng nữa. Theo Ngô Sư Đạo thì truyện Trâu Kị khuyên vua Tề nghe lời can (Tề I 12) là sai: không phải là Trâu Kị mà có lẽ là Điền Ba, người nước Tề. Trong Chiến Quốc sách dật văn khảo của Chư Tổ Cảnh có chép một truyện giống truyện đó rút trong bộ Tân tự mà nhân vật đẹp trai là Điền Ba. Lã thị Xuân Thu cũng chép một truyện đời Tề Mẫn Vương, ý nghĩa như vậy mà nhân vật là Liệt Tinh Tử Cao.

Theo Phượng Niên thì truyện Tần III 11 cũng sai vì khi Tần vây thành Hình, Trương Nghi đã chết rồi.

Những truyện chép về Lỗ Trọng Liên, một nhân vật lý tưởng trong Chiến Quốc sách cũng không đáng tin. Bài Mạnh Thường Quân không biết trọng kẻ sĩ (Tề IV 3) chứa một ý thường lặp đi lặp lại: phải thực tôn trọng kẻ sĩ thì kẻ sĩ mới hy sinh cho mình. Tác giả bài đó cho Lỗ Trọng Liên trách Mạnh Thường Quân là chưa thực trọng kẻ sĩ thì rõ là có giọng khắc nghiệt quá, e không đúng vì trong lịch sử Trung Quốc, Mạnh Thường Quân là nhân vật đáng khen nhất về đức chiêu hiền đãi sĩ.

Tiền Mục là người tố cáo mạnh nhất tính cách không xác thực về sử liệu của Chiến Quốc sách. Ông rán kiếm trong Sử ký một đoạn, đoạn Nhạc Nghị trả lời vua Yên[2], lại dẫn lời của Trương Văn Hổ (1808-1885) để chứng minh rằng thời Chiến Quốc, danh từ hợp tung không nhất định có nghĩa liên kết để chống Tần, mà chỉ có nghĩa là liên kết thôi, liên kết để chống Tề cũng gọi là hợp tung.

Chung Phượng Niên trong Quốc Sách khám nghiên (Bắc Kinh – 1936) cũng chủ trương rằng tự ý liên hợp vì cái lợi chung thì gọi là tung, ép buộc người ta theo mình là hoành. Tung do chữ tòng mà ra, có nghĩa là dọc, là thuận, theo; hoành có nghĩa là ngang, trái, nghịch với phép thường.

Khi các học giả Trung Hoa dẫn sách cổ để tranh luận với nhau về ý nghĩa các danh từ thì chúng ta chỉ thêm phân vân và cuộc tranh luận kéo dài hằng năm, không bên nào thuyết phục được bên nào.
*

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5966
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: CHIẾN QUỐC SÁCH    Thu Apr 27, 2017 2:03 pm

Các học giả phương Tây cũng góp ý kiến vào vấn đề.

Maspéro trong bài Le roman de Sou Ts’in, Etudes Asiatiques 2 (1925), và trong Le roman historique dans la littérature chinoise de l’antiquité (1929), Mélanges posthumes 3 (1950), chứng minh rằng một phần lớn Chiến Quốc sách là tưởng tượng, tiểu thuyết; rằng nhân vật Tô Tần được hoan nghênh, nên tác giả tạo thêm hai nhân vật tưởng tượng Tô Lệ, Tô Đại cũng giỏi biện thuyết như Tô Tần; rằng cứ đối chiếu các niên đại về cái mà người ta gọi là chính sách hợp tung của Hàn, Nguỵ, Triệu, Tề, Yên để chống Tần với niên đại những việc xảy ra (theo Chiến Quốc sách) trong khi có chính sách hợp tung đó, thì cái trục hợp tung phải tan rã một năm trước khi nó thành lập! (Intrigues – 29). 

Crump nhận rằng Chiến Quốc sách quả có chép những việc thực xảy ra như việc Lương Huệ Vương chiếm Hàm Đan, Tần đánh Nghi Dương, Yên đánh Tề, Tần đánh Hàm Đan, nhưng người chép truyện chỉ dựa một chút vào lịch sử rồi tưởng tượng thêm.

Chẳng hạn truyện Lương Huệ Vương chiếm Hàm Đan (coi bài Tề I 6), ông bảo nếu là thực lục thì không có hình thức như vậy. Có lý nào vua Tề là Điền Hầu muốn cứu Triệu mà lại đem quân đóng ở ngoài thành Hàm Đan trong khi Hàm Đan (kinh đô Triệu) bị Lương (tức Nguỵ) bao vây. Lại thêm thái độ của Đoàn Can Luân cũng lạ lùng: để vua Tề ra lệnh cho quân đóng ở ngoài thành Hàm Đan rồi sau mới bảo như vậy không có lợi, phải đem quân đánh Tương Lăng cho Lương mệt mỏi. Chẳng qua người viết muốn vạch rõ sự ngu muội của vua Tề mà bịa ra như vậy. Vả lại theo Crump, trong sử không chép tên Đoàn Can Luân, nhưng có chép hai người khác ở Đoàn Can – có lẽ là một châu thành của Lương – có liên lạc với triều đình Lương và một trong hai người đó có liên lạc với triều đình Tề. 

Vậy tác giả truyện đó có dựa trên một sự kiện lịch sử và tạo thêm nhân vật Đoàn Can Luân để có vẻ đúng sự thực phần nào, dùng tên Đoàn Can đó để tỏ rằng mình biết chuyện chứ không phải là nói mò.

Truyện Đánh Nghi Dương (ba bài này Crump đánh số 66-10, 66-11, 66-12, chúng tôi đều bỏ) chép rất lộn xộn, khó hiểu; mà truyện Cam Mậu tấn công Nghi Dương (Tần II 6), nhân vật Hướng Thọ rõ là thừa.

Về việc Yên đánh Tề, ông cũng nghĩ như Ngô Sư Đạo rằng bài Lỗ Trọng Liên thuyết tướng Yên (Tề VI 2) và cả bài Lỗ Trọng Liên không chịu tôn vua Tần làm đế(Triệu III 12) nhất định không phải là sử liệu, chỉ là những bài văn luận thuyết hoặc biện thuyết. Trong Sử ký, Tư Mã Thiên chép trọn hai chuyện đó. Ngoài ra không nói gì thêm về Lỗ Trọng Liên. Nhân vật đó hiện ra như để đại diện cho Nho gia ở cuối thời Chiến Quốc, không có vẻ là một nhân vật lịch sử, một nhân vật thật.

Rồi Crump kết luận rằng Chiến Quốc sách không phải là một bộ sử mà chỉ là một bộ luận thuyết.

Tóm lại, các học giả đều đồng ý với Triều Công Vũ rằng Chiến Quốc sách không phải là thực lục, những truyện trong đó có dựa vào ít tài liệu lịch sử, nhưng không nên coi bộ đó là một bộ sử. Người ta chỉ còn phân vân ở điểm này, những nhân vật Tô Tần, Trương Nghi, có thực hay không. Một nhóm – số ít – cho là không có thực, như vậy Chiến Quốc sách gần như có vẻ tiểu thuyết và những bộ sử chép về thời đó phải viết lại vì không có Tô Tần, Trương Nghi thì không có cả chính sách hợp tung và liên hoành; một nhóm khác – số đông – cho rằng tài liệu trong Chiến Quốc sách tuy không đáng tin hẳn, nhưng Tô Tần, Trương Nghi có thực, chính sách hợp tung và liên hoành có thực. Hai nhà đó là thuỷ tổ của phái tung hoành gia, tức bọn ngoại giao mưu sĩ; phái này sau khi Tần bị diệt, vẫn còn, tức như Khoái Thông, tác giả 81 bài luận về quyền biến mà Tư Mã Thiên đã chép trong Sử ký. Tuy nhiên, những lời biện thuyết của Tô và Trương, phần nhiều do người đời sau thêm bớt, tưởng tượng. 

Vậy chúng ta đừng nên coi Chiến Quốc sách là một tác phẩm của Sử-phái đời Tiên Tần[3] mà nên coi nó là tác phẩm của Luận-phái đời Tiên Tần hoặc đời Tây Hán; mà đọc Chiến Quốc sách chúng ta đừng nên tìm tài liệu lịch sử trong đó, chỉ nên tìm hiểu xã hội Trung Hoa, tư tưởng và chính sách của bọn chính khách, mưu sĩ thời Chiến Quốc, nhất là thưởng thức giá trị về nghệ thuật tự sự, luận thuyết, tức giá trị về văn học của bộ đó thôi.

Trước khi xét những giá trị đó, chúng tôi muốn nêu qua điểm thắc mắc này mà chúng tôi chưa thấy học giả nào bàn tới.

Tư Mã Thiên sanh năm 145 trước Tây lịch (trước Lưu Hướng), mất năm nào chưa rõ; bộ Sử ký của ông, đến đời Hán Tuyên Đế (73-49) được một người cháu ngoại tuyên bố.

Lưu Hướng thu thập Chiến Quốc sách hồi ông giữ chức Quang lộc đại phu, dưới triều Thành Đế; nghĩa là trong khoảng 32-8 trước Tây lịch. Như vậy Lưu Hướng có biết bộ Sử ký không? Chắc là không vì trong bài tựa Chiến Quốc sách không thấy ông nhắc tới.

Mà Sử ký và Chiến Quốc sách chép nhiều truyện giống nhau, chẳng hạn những truyện:

Vẽ rắn thêm chân (Tề II 4).

Đàm Thập Tử khuyên Mạnh Thường Quân nên quên oán (Tề IV 4).

Truyện Tô Tần (Tần I 2).

Tô Tần tự biện hộ (Yên I 5); hai bài chỉ khác nhau có ít chữ.

Lỗ Trọng Liên thuyết tướng Yên (Tề VI 2).

Lỗ Trọng Liên không chịu tôn vua Tần làm đế (Triệu III 12)

Điền Đan[4] và Kinh Kha (Yên III 5).



Như vậy tất hai bộ phải cùng chung một nguồn; nguồn đó là nguồn nào?


------------------

Chú thích:
[1] Cũng nên so sánh hai truyện Tề III 3 và Triệu I 8: Tô Đại và Tô Tần đều dẫn truyện tượng đất và tượng gỗ để được tiếp kiến.

[2] Đoạn đó như sau, do Crump trích dẫn trong Intrigues trang 91:
…Và Yên Chiêu Vương hỏi (Nhạc Nghị) về việc đánh Tề. Nhạc Nghị đáp:
“Tề là một nước đời trước đã làm bá, đất rộng, dân đông, không dễ gì một mình đánh Tề được. Nếu đại vương muốn đánh Tề thì nên hợp lực với Triệu, Sở, Nguỵ…”.
Các nước chư hầu đều bất bình về thái độ ngạo mạn của Tề Mẫn Vương , và họ hăng hái hợp tung với Yên để đánh Tề.

[3] Trong cuốn Cổ văn Trung Quốc, chúng tôi đã sắp như vậy, là lầm – Nguyễn Hiến Lê.

[4] Tôi ngờ rằng Yên Đan bị in sai thành Điền Đan. Thái tử nước Yên tên là Đan nên được gọi là Yên Đan, ông họ Ki (chữ Ki còn đọc là Cơ) chứ không phải họ Điền.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5966
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: CHIẾN QUỐC SÁCH    Thu Apr 27, 2017 3:07 pm

XÃ HỘI TRUNG HOA TRONG CHIẾN QUỐC SÁCH

Tài liệu lịch sử trong Chiến Quốc sách tuy không đáng tin nhưng cũng cho ta hiểu được tình trạng xã hội Trung Hoa thời Đông Chu vì dù tác giả của bộ đó có tưởng tượng các mưu mô, các lời biện thuyết của bọn biện sĩ thì ít nhất cũng phải dựa một phần nào vào sự thực để không trái ngược với cảnh huống xã hội.

Thời Chiến Quốc là một thời đại loạn, mà trong thời loạn nào cũng có những sự đảo lộn về địa vị một vài hạng người và về một số giá trị tinh thần.

Sự đảo lộn về địa vị trong xã hội thời Chiến Quốc 

Đầu đời Xuân Thu, Trung Hoa có ba giai cấp: giai cấp quí tộc nắm hết quyền trị dân, chỉ họ mới được học và có phương tiện để học, nếu họ có tội thì không bị hình phạt như giai cấp dưới; giai cấp thường dân, hầu hết là nông dân mà tình cảnh cũng giống tình cảnh nông nô ở châu Âu làm đế[1]; - sau cùng giai cấp nô lệ gồm những thường dân bị hình phạt và tù binh, dân chúng các nước bại trận[2].

Tới đời Chiến Quốc đã có nhiều sự thay đổi trong hai giai cấp trên. Trong giai cấp quí tộc, có những kẻ mạnh lên và có những kẻ suy vi, lần lần tụt xuống hàng thứ dân, thành thử trong giai cấp thứ dân có được một hạng người có học (Khổng Tử sinh trưởng trong tầng lớp quí tộc suy tàn). Nhất là từ khi Khổng Tử, Mặc Tử, Mạnh Tử gây phong trào giáo dục bình dân thì trong giới bình dân, có một hạng sĩ mà địa vị mỗi ngày mỗi lớn như đoạn dưới tôi sẽ xét.

Qua thế kỷ thứ 4 trước T.L, theo chính sách trung ương tập quyền, Thương Ưởng đã đánh những đòn mạnh nhất vào giai cấp quí tộc, tước lần quyền của họ. Ông lập chính sách khẩn hoang, cho dân chúng quyền làm chủ những đất mới họ có công khai thác, do đó thêm một bọn phú nông xuất hiện, bọn này với bọn phú thương sẽ tranh quyền với bọn quí tộc. Ông lại cả gan bãi bỏ cái tục quí tộc không bị hình phạt như thứ dân: thái tử Tần phạm phép nước, ông bảo: Mọi người không kể sang hèn đều bình đẳng về pháp luật, nhưng thái tử sẽ kế ngôi vua, không thể bắt thái tử chịu tội, thì bắt hai viên thái phó dạy thái tử phải chịu tội thay. Rồi ông thích chữ lên má hai viên này, và cắt mũi họ.

Đọc Chiến Quốc sách, ta thấy tác giả ít nhắc đến địa vị của hạng phú thương, không nhắc tới địa vị bọn nô lệ, mà nhắc nhiều tới địa vị của bọn vua chúa và của kẻ sĩ. 

Trong bọn vua chúa, có một sự đảo lộn về địa vị: vua Chu tuy vẫn còn cái danh là thiên tử, tuy vẫn xưng vương nhưng đã mất hết cả quyền hành và thường bị chư hầu lấn hiếp. 

Lưu Hướng đặt nhà Chu lên đầu sách (sau tới Tần, Tề, Sở: ba chư hầu mạnh nhất, cuối cùng là những chư hầu yếu nhất: Tống, Vệ, Trung Sơn) nhưng số bài về Chu rất ít, chỉ bằng một phần ba của Tần.

Coi trên bản đồ ở đầu sách[3], ta thấy đất Chu rất hẹp; đã vậy lại chia làm hai: Đông Chu và Tây Chu, mà hai nước đó lại có khi hục hặc với nhau (coi bài Đông Chu dữ Tây Chu chiến – Đông Chu 3 –chúng tôi không dịch), làm sao mà không bị chư hầu coi rẻ được. 

Cho nên ở đầu sách, chúng ta đã thấy ngay Tần muốn phế Chu Hiển Vương để lên ngôi thiên tử (bài Tần đòi chín cái đỉnh của Chu – Đông Chu 1), rồi Triệu lấy tế điền của Chu (Đông Chu 17). Đã nghèo mà Chu phải tiếp tế cho Hàn, tiếp tế rồi sợ Sở giận (Đông Chu 7); một lần khác vì chứa một kẻ muốn ám sát tể tướng Hàn, sợ Hàn giận, vua Chu phải xin lỗi: Nước nhỏ đâu dám chứa kẻ thích khách…” (Đông Chu 23).

Đọc bài Vua nước nghèo nên lựa bề tôi ra sao? (Đông Chu 18), thấy tình cảnh Chu thật đáng thương: vì nghèo, nhà Chu muốn “thờ” các chư hầu cũng không được, thậm chí muốn dùng những kẻ sĩ có danh vọng cũng không được, họ khinh mà không thèm nhận chức tước của Chu, đành phải dùng kẻ sĩ cùng khốn vậy. Và ta thấy bọn mưu sĩ tài giỏi như Tô Tần, Trương Nghi, Phạm Tuy, Cam Mậu… chỉ bôn ba qua Tần, Tề, Sở… chứ không bao giờ tìm tới Chu[4].

Đời Xuân Thu, chỉ vua Chu mới được gọi là vương, còn các chư hầu dù mạnh, dù làm minh chủ, cũng chỉ gọi là bá, là công: Tề Hoàn Công, Tần Mục Công, Sở Trang Công…; qua đời Chiến Quốc, vua nước chư hầu nào cũng là vương cả: Tần Huệ Vương, Tề Tuyên Vương, Sở Hoài Vương, Yên Chiêu Vương… Có lẽ như vậy mới thực là danh chính ngôn thuận, vì vua Chu đã biết thân phận, phải xử nhũn với các chư hầu, gọi nước mình là một ấp nhỏ (tệ ấp), thì gọi họ là bá, nghe sao được.

Đời Xuân Thu, đôi khi vị bá còn mượn danh thiên tử nhà Chu tập hợp chư hầu để mưu tính một việc có lợi riêng cho mình hoặc có lợi chung cho các chư hầu (như Tề Hoàn Công chín lần tập hợp chư hầu hoặc để tôn Chu, hoặc để phạt Lỗ…); qua đời Chiến Quốc, họ không thèm mượn danh nghĩa thiên tử nữa, cơ hồ như không biết có vua Chu nữa, mà vua Chu cũng chỉ cầu họ để yên cho mình giữ chín cái đỉnh thêm được năm nào hay năm ấy. Thậm chí tới các nhà trí thức, các triết gia (như Hàn Phi), các bậc quân tử (như Lỗ Trọng Liên, Nhan Súc) cũng quên hẳn nhà Chu, không một ai lên tiếng nhắc nhở thiên hạ trọng nhà Chu cả. 

Về phương diện xã hội, một sự đảo lộn địa vị cũng không kém quan trọng là sự thăng tiến của hạng sĩ, và Chiến Quốc sách là bộ duy nhất đặc biệt chú ý tới hạng đó.

Đời Xuân Thu, đã có một ít người tài giỏi trong giai cấp bình dân nhảy lên địa vị cao, như Bách Lý Hề, Quản Trọng, Ninh Thích… Nhưng thời Chiến Quốc mới thực là hoàng kim thời đại của kẻ sĩ. Thời thế mỗi lúc một cấp bách, các vua chư hầu muốn tồn tại được thì phải dùng những người tài giỏi về chính trị, ngoại giao, kinh tế, võ bị… bất kỳ trong giai cấp nào: ngay các quí tộc như Mạnh Thường Quân, muốn giữ địa vị của mình cũng cần có nhiều kẻ sĩ làm quân sư, hoặc làm hậu thuẫn để cho nhà vua phải kính nể mình; vì vậy người ta đua nhau chiêu hiền đãi sĩ và như Crump đã nói trong Intrigues: “tiếng kêu bất tuyệt trong thời Chiến Quốc là biết phải biết dùng người”. 

Ở đây chúng ta cần định nghĩa rõ thế nào là kẻ sĩ.

Thời Chiến Quốc, chữ sĩ trỏ bốn hạng người:

1. Học sĩ như các nhà theo Nho, Mặc, Lão.

2. Sách sĩ – cũng gọi là biện sĩ – tức các nhà giỏi biện luận, du thuyết bọn cần quyền, thường theo Danh gia, Pháp gia, như Tô Tần, Trương Nghi, Phạm Tuy…

3. Phương sĩ hoặc thuật sĩ gồm những Thiên văn gia, Y gia, Nông gia (ngày nay ta gọi là kỹ thuật gia), và những nhà chuyên về bói toán, nghiên cứu về âm dương, cách tu tiên, luyện đan.

4. Bọn thực khách rất đông và rất tạp của các quí tộc như Mạnh Thường Quân, Bình Nguyên Quân. Bọn này gồm các hiệp sĩ, cả những kẻ thích khách, tội phạm, sống bám vào chủ, chờ lúc nào chủ nhờ cậy việc gì thì làm, nhưng được coi như khách trong nhà (nên gọi là thực khách, chứ không thuộc hàng tôi tớ.

Trong cả bộ Chiến Quốc sách gồm bốn năm trăm truyện dài hoặc ngắn, chỉ có năm sáu truyện chép về hạng sĩ thứ nhất, hạng học sĩ, như truyện Lỗ Trọng Liên (Tề IV 3, Tề VI 2, Triệu III 12), về Mặc Tử (Tống 2)…; vài ba truyện về phương sĩ như truyện Biển Thước mắng vua Tần (Tần II 5), nếu muốn kể thêm những nhà quân sự đại tài như Bạch Khởi (Trung Sơn 10), Triệu Xa (Triệu III 1) thì cũng chỉ được bảy, tám truyện; một số nhiều hơn (một, hai chục) chép truyện các hiệp sĩ như Dư Nhượng (Triệu I 4), Nhiếp Chính (Hàn II 19)…; còn bao nhiêu toàn là chép mưu mô của bọn sách sĩ, bọn dùng ba tấc lưỡi mà lần lần chiếm địa vị của giai cấp quí tộc trong các triều đình, gây thành một giai cấp quan lại ở Tần và Hán sau này.
                                           *

Bọn sách sĩ do hầu hết sinh trong giai cấp bình dân, hồi nhỏ sống trong hang cùng ngỏ hẻm, nhưng thông minh, có chí, quyết lập nên sự nghiệp.

Tô Tần là nhân vật điển hình cho bọn họ. Tô Tần có thể do óc tưởng tượng của tác giả tạo ra, nhưng cái tâm sự cùng những nỗi long đong thuở hàn vi, cảnh vinh hiển khi đắc chí kể trong truyện thì tất đúng sự thật.

Thuyết vua Tần mà thất bại, Tô Tần lủi thủi về nhà, “đùi quấn xà cạp, chân đi dép cỏ, đội sách, đeo đẫy, hình dung tiều tuỵ, mặt mày xanh xạm, có vẻ xấu hổ”. Bị cả nhà hất hủi, phẫn chí, ngay đêm đó Tô Tần lấy sách ra học, khi buồn ngủ thì tự cầm dùi đâm vào vế, máu chảy tới bàn chân, bảo: “Có lẽ nào du thuyết bọn vua chúa mà không làm cho họ đem vàng ngọc, gấm vóc tặng mình, đem chức khanh tướng tôn quí phong tặng mình không?” (Tần I 2). Có sách chép bọn biện sĩ học những cuốn binh pháp của Lã Vọng hoặc của Quỉ Cốc; chúng tôi ngờ rằng dù có học những sách đó chăng nữa thì họ cũng coi thêm những học thuyết của bọn Danh gia, Pháp gia, và công tự học của họ mới là quan trọng; họ phải nghiên cứu tình thế các nước, suy nghĩ về nghệ thuật thuyết phục bọn cầm quyền, tìm ra những mưu mô khác người, như vậy mới mong thành công được.

Khi tự xét là đủ sức làm cho bọn vua chúa phải đem vàng bạc gấm vóc tặng mình. Chức tước sang trọng phong mình rồi, họ mới lựa một nước nào mạnh để “thờ”.

Quan niệm quốc gia ở Trung Hoa thời đó rất phức tạp. Tuy có mấy nước, nhưng nước nào trên danh nghĩa cũng là bề tôi của nhà Chu cả, dân nước nào cũng là dân Trung Hoa cả. Tất nhiên, giữa Trung Nguyên như Chu, Hàn, Nguỵ, và những nước xa Trung Nguyên Tần, Sở, cũng có một sự khác biệt về ngôn ngữ, phong tục… và người Chu, Tề có thể coi người Sở là dã man; nhưng cả khi Tề đánh nhau với Sở chẳng hạn thì người Tề cũng không căm người Sở như trong thế chiến vừa rồi người Pháp căm người Đức. Số người ái quốc như Khuất Nguyên (thâm oán Tần, kẻ thù của nước mình) thực là hiếm, còn đại đa số, nhất là bọn biện sĩ thì có quan niệm “tứ hải” hơn; không phục vụ được ở nước mình thì phục vụ cho nước khác (trường hợp Thương Ưởng bỏ Vệ mà giúp Tần, Hàn Phi bỏ Hàn mà giúp Tần để sau Tần diệt luôn cả Hàn); phục vụ nước khác mà không được tin dùng như ý muốn thì lại kiếm nước khác nữa để phục vụ. Mà chính Khổng Tử, Mạnh Tử chẳng vậy ư?

Vậy bọn biện sĩ đó phải tìm hiểu kỹ tình hình mỗi nước, và phải bôn tẩu khắp các nước. Con đường công danh ở cái thời bọn quí tộc vẫn còn nắm mọi đặc ân đó, tuy thênh thang nhưng đâu phải là dễ dàng. 

Bọn vua chúa chiêu hiền đãi sĩ thật đấy, nhưng dù có một “mũi nhọn” như Mao Toại, thì cũng phải vào trong một cái đẫy rồi mới ló đầu nhọn ra được. Mà làm cách nào để vào được một cái đẫy được đây?

Phải có người giới thiệu. Người đó phải trọng tài của mình mà không ghen với mình, lại rất tin mình, vì nếu mình làm bậy họ có thể bị tội lây; tóm lại là phải gần như Quản Di Ngô với Bão Thúc Nha, mà trường hợp này thời nào cũng rất hiếm. Cho nên hầu hết các biện sĩ phải dùng phương pháp đút lót, phải ăn dằm nằm dề ở một quán trọ một kinh đô nào đó cả tháng, có khi cả năm, vung tiền ra mua chuộc những kẻ hầu cận nhà vua để xin được tiếp kiến. Khó tới nỗi Tô Tần phải trách vua Sở:

“Thức ăn ở Sở đắt như ngọc, củi đắt như quế, kẻ thông báo của nhà vua khó được thấy mặt như quỉ, mà nhà vua khó được yết kiến như Thượng Đế”. (Sở III 2).

Vì vậy mà lần đầu, Tô Tần lại yết kiến vua Tần, phải chầu chực đến nỗi rách chiếc áo cừu và tiêu hết trăm nén vàng[5].

Được yết kiến chưa chắc được thâu dụng (Tô Tần dâng thư mười lần mà không có kết quả). Được thâu dụng chưa chắc được trọng dụng.

Vì ngay thời đó cũng đã mật ít ruồi nhiều. Có một Mạnh Thường Quân mà có mấy ngàn thực khách! Cho nên bọn sĩ có khi phải dùng thuật để được chủ chú ý tới mình, cả những thuật trâng tráo như thuật Phùng Nguyên gõ vào kiếm mà hát để xin được ăn thịt, xin được ngồi xe. (Tề IV 1).

Được bọn quí tộc để ý rồi mới có thể trình bày kế hoạch của mình ra, và muốn cho kế hoạch của mình được dùng thì phải đánh át ảnh hưởng của bọn “phụ huynh” nhà vua. Bọn quí tộc cầm quyền ở triều đình, họ là bọn “cha anh” của vua, ảnh hưởng lớn tới chính sách của vua. Họ phần nhiều là bảo thủ, ghét những chính sách mới mẻ, lại muốn bám lấy quyền lợi, nên nghi kỵ bọn biện sĩ. Cho nên, Phạm Tuy phải dùng thuật làm thinh, vua Tần Chiêu Vương hỏi gì cũng chỉ “da, dạ”, bắt vua phải năn nỉ mình rồi mới thưa:

“Nay thần là người lạ tới đây, đối với đại vương còn là sơ tình, mà những điều thần muốn bày tỏ đều là để củ chính sự tình của vua tôi, xen vào tình cốt nhục của người; thần nguyện tỏ tấm lòng trung thành ngu muội mà chưa biết rõ lòng đại vương, vì vậy đại vương hỏi ba lần mà thần không dám đáp. Không phải thần sợ mà không dám nói; thần biết rằng hôm nay nói thì ngày mai sẽ bị giết, biết vậy nhưng thần không sợ chết (…); thần sợ là sau khi thần chết rồi, thiên hạ thấy thần tận trung mà thân bị giết, ai cũng câm miệng chùn chân, không dám tới giúp Tần nữa”.

Rồi Phạm Tuy thuyết một hồi cho vua Tần thấy cái nguy của bọn “cốt nhục” nhà vua tức bọn “phụ huynh”, bọn quí tộc cầm quyền, mà cương quyết truất phế thái hậu, đuổi Nhương Hầu, đày Cao Lăng, Kinh Dương (Tần III 9); lúc đó Phạm Tuy mới dám lãnh chức tướng quốc. 

Trong Chiến Quốc sách ta thấy bọn biện sĩ sợ thế lực của bọn “phụ huynh” đó nhất. Tính mạng họ ở trong tay bọn này; ngày nào mà vua không dùng họ, nghe lời bọn phu huynh thì họ phải trốn đi nước khác nếu không thì chết, có khi trốn mà không thoát, rốt cuộc cũng bị phanh thây (trường hợp Thương Ưởng – Tần I 1). Cho nên họ luôn luôn nhắc vua phải trọng kẻ sĩ, tức trọng họ (coi truyện Vương Đẩu yết kiến Tề Tuyên Vương (Tề IV 6); truyện Nhan Súc thuyết Tề Tuyên Vương (Tề IV 5); truyện Yên Chiêu Vương chiêu hiền (Yên 11)…); nhắc vua chúa về cách dùng người theo tài năng, như bài Tiến hiền là việc khó nhất (Sở III 1); bài Coi quốc gia không bằng thước lụa (Triệu II 15); bài Lựa ngựa và lựa tướng quốc (Triệu IV 13); bài Vương Đẩu trách Tề Tuyên Vương coi quốc gia không bằng thước sa mỏng (Tề IV 6)[6]; đặc biệt nhất là bài Biển Thước mắng vua Tần (Tần II 5).

Crump cho rằng bài Biển Thước mắng vua Tần không đáng tin vì Biển Thước là một y sư đời Hiên Viên, chết trước đời Chiến Quốc đã mấy ngàn năm, làm sao nói chuyện với Tần Vũ Vương được, nhưng lại có người cho rằng đời Tần Vũ Vương có một y sư tên là Việt Nhân, rất có tài nên người đương thời gọi là Biển Thước. Ta không biết hư thực ra sao nhưng tâm lý trong truyện rất đúng. Vũ Vương đau, Biển Thước xin trị, kẻ tả hữu can vua đừng nghe lời Biển Thước, Biển Thước giận, mắng vua Tần:

“Đại vương vấn kế bực trí giả mà lại nghe lời kẻ ngu để hỏng việc. Điều đó đủ cho tôi thấy chính trị của nước Tần; chỉ vì một hành động của đại vương mà mất nước”.

Rõ ràng là lời cảnh cáo vua chúa phải dùng người tài năng chứ đừng dùng bọn quí tộc ngu dốt.

Bọn vua chúa thời nào cũng đa nghi: bọn biện sĩ mồm mép quá, làm sao mà tin cho được? Huống hồ đa số chỉ vì danh vì lợi, chứ chẳng có lý tưởng gì cả, nên có dùng họ cũng vẫn phải thận trọng. Vì vậy bọn biện sĩ lại phải thuyết phục nhà vua giữ chữ tín với bề tôi (truyện Cam Mậu sợ Tần Vũ Vương nghe lời gièm pha - Tần II 6); và ta thấy truyện Tăng Sâm giết người được nhắc đi nhắc lại hoài để răn vua đừng nghe lời gièm pha (Nghe riết rồi thì tin - Nguỵ II 17; Diêu Cố đáp vua Tần - Tần V 


Đã phải đối phó với bọn quí tộc, các biện sĩ còn phải đối phó chính bọn họ với nhau nữa, vì chính bọn họ với nhau cũng thường gièm pha nhau, lừa gạt nhau, kèn cựa nhau, xô đẩy nhau, như Cam Mậu và Công Tôn Diễn (bài Vua Tần đuổi Công Tôn Diễn – Tần II 13), Công Tôn Hãn và Điền Kị (bài Công Tôn Hãn mưu hại Điền Kị - Tề I 
… Phạm Tuy may mắn lắm mới gặp được một địch thủ tuy bẩy mình mà còn cho mình biết trước; Thái độ của Thái Trạch (cho Phạm Tuy hay rằng nên lui đi, nhường chỗ cho mình, kẻo hoạ tới thân) tuy chẳng đẹp gì nhưng là hiếm thấy trong giới biện sĩ thời đó (bài Thái Trạch thuyết Phạm Tuy – Tần III 17); vì tư cách đa số các biện sĩ đời Chiến Quốc – cũng như mọi thời loạn khác – rất bỉ ổi đến nỗi tác giả bài “Các kẻ sĩ trong thiên hạ tranh nhau” (Tần III 13), đã coi họ như một bầy chó tranh ăn: 
“Tể tướng Tần là Ưng Hầu bảo vua Tần: “Đại vương đừng lo, thần xin giải tán họ (tức bọn sĩ theo chính sách hợp tung mà chống Tần). Kẻ sĩ trong thiên hạ không có gì oán Tần, họ họp nhau mà đánh Tần là mong được phú quí đấy thôi. Đại vương thấy bầy chó của đại vương không? Nằm thì cùng nằm, dậy thì cùng dậy, đi thì cùng đi, ngừng thì cùng ngừng, không cắn nhau. Nhưng ném cho chúng một khúc xương thì chúng vùng dậy mà nhe răng ra cắn nhau. Tại sao vậy? Tại tranh ăn”.”

-----------------

Chú thích:
[1] Câu này chắc sách in thiếu. (Goldfish).

[2] Có lẽ nên kể thêm hạng quan nhân, giúp việc quí tộc (nhạc công, lễ quan và võ quan) sau này, khi thất thế, hợp với bọn thứ dân có học, thành giai cấp sĩ và hiệp sĩ.

[3] Bản in của Nxb Từ điển Bách Khoa không có bản đồ hay bất kỳ hình ảnh nào cà. (Goldfish).

[4] Ngay Khổng Tử và Mạnh Tử thời trước, bôn ba khắp các nước mà cũng không bao giờ tới Chu.

[5] Nguyên văn: giật là 24 lượng. Vậy 2400 lượng!

[6] Lời của Vương Đẩu trong bài Vương Đẩu yết kiến Tề Tuyên Vương (Tề IV 6): “Nhà vua lo việc nước và yêu dân không bằng yêu một thước sa mỏng”.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5966
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: CHIẾN QUỐC SÁCH    Fri Apr 28, 2017 12:24 pm

Vì sống trong một không khí xảo trá, phản phúc như vậy, nên người ta càng thấy tình tri kỷ là quí và người ta đề cao những hiệp sĩ như Dư Nhượng (Triệu I 4), Nhiếp Chính (Hàn II 19), Tề Mạo Biện (bài Tề Mạo Biện cứu tri kỷ - Tề I 5). 

Dự Nhượng, Nhiếp Chính chỉ đáng là hiệp sĩ, bọn Lỗ Trọng Liên, Nhạc Nghị, Nhan Súc, Vương Đẩu[1] mới đáng là quân tử. Và Chiến Quốc sách được hậu Nho cho là lành mạnh, có tính cách răn đời, một phần cũng nhờ chép những chuyện của những kẻ sĩ quân tử đó.

Bọn biện sĩ khi lên như diều: một bước nhảy lên ghế tướng quốc như Tô Tần, Trương Nghi, Phạm Tuy… nhưng vì những lẽ trên – họ có nhiều kẻ thù trong bọn quí tộc và cả trong bọn họ, họ bị vua chúa nghi ngờ, họ không có lý tưởng, chỉ mưu danh và lợi – nên ít kẻ giữ được địa vị cho tới khi chết. Thương Ưởng bị phanh thây ở Tần, ngay đến Tô Tần cũng bị xé thây ở Tề, và Phạm Tuy đáng gọi là thức thời, biết rút lui đúng lúc mà được toàn mệnh.

Về phương diện đó, một số biện sĩ thất bại, nhưng về phương diện khác họ đã thành công: họ đã tự gây được một uy thế hiển hách, bắt giai cấp quí tộc phải nhận rõ giá trị của họ, phải chia sẻ quyền bính với họ, tuân lời họ.

Tô Tần, Trương Nghi du thuyết nước nào thì vua nước đó cũng ngoan ngoãn, khúm núm đáp:

“Quả nhân vụng tính, nay ông đem lời vua Triệu ban bảo cho, quả nhân xin đem xả tắc để theo kế hoạch hợp tung” (Tề Tuyên Vương đáp Tô Tần – Tề I 6), hoặc:

“Tề là nước hẻo lánh thô lậu ở trên bờ Đông Hải, chưa được nghe cái lợi lâu dài cho xả tắc. Nay quí khách vui lòng lại chỉ bảo cho, xin đem xả tắc để thờ Tần” (Tề Mẫn Vương đáp Trương Nghi – Tề I 17).

Vua Sở, vua Triệu, vua Yên… đều có cái giọng đó cả, “quả nhân xin kính cẩn…”, “nước quả nhân ở nới hẻo lánh…” (Sở); “quả nhân tuổi nhỏ…”, “quả nhân xin cắt đất để tạ tội cũ…” (Triệu)… Y như một điệp khúc ở cuối mỗi bài chép truyện Tô, Trương đi du thuyết chư hầu.

Có thể rằng người viết đã đề cao bọn biện sĩ mà tưởng tượng ra những lời đó, nhưng quả thực là kiến thức bọn vua chúa thường kém xa bọn biện sĩ, mà có vài kẻ rất đổi xuẩn ngốc nữa. Kẻ thì tin có thuốc bất tử (Sở IV 
, kẻ thì bị Trương Nghi gạt tới hai lần liên tiếp (mới đầu Trương Nghi chối phăng rằng chỉ hứa cắt đất cho Sở Hoài Vương sáu dặm chứ không phải sáu trăm dặm - Tần II 1; Hoài Vương giận, đòi vua Tần phải nộp Trương Nghi, Trương Nghi ngang nhiên qua Sở, Hoài Vương bắt giam rồi mà sau lại thả, thả rồi thì lại tiếc – Sở II 4); có kẻ trách bề tôi, bề tôi cãi lại, gần như mắng lại mà chịu im (Tần I 12); ngu nhất là vua Yên tên Khoái, ham cái danh thánh hiền, nhường ngôi cho một kẻ bất tài để nước phải mất, thân phải chết (Yên I 12)… Họ ngu như vậy thì trách chi chẳng thành cục đất sét trong tay bọn biện sĩ mà bảo sao nghe vậy.

Bọn biện sĩ không phải là môn đệ của Khổng giáo, chính sách của họ ngược hẳn với nguyên tắc nhân trị (đấng nhân chủ dùng đức nhân mà trị dân) của Khổng giáo, họ dùng quyền thuật mà trị dân, nhưng chính sách họ đã mở đường cho giai cấp quan lại từ Tần, Hán trở đi, giúp cho chủ trương “tuyển hiền dữ năng” của Khổng giáo sớm thực hiện ở Trung Quốc, làm cho xã hội Trung Quốc bớt sự bất bình đẳng, tiến sớm hơn xã hội Âu Tây hai ngàn năm: ở Pháp, mãi đến năm 1848, người ta mới dùng thi cử để tuyển nhân tài (trước đó các chức vụ trong chính quyền đều do quí tộc nắm trọn), ở Trung Hoa thì từ thời Chiến Quốc, bọn bình dân có tài đã được giao cho những địa vị then chốt trong chính quyền, tới đời Hán lại có lệ dân đề cử người hiền tài (như chức hiếu liêm) lên triều đình, rồi từ đời Tuỳ trở đi, triều đình đặt ra các kỳ thi để tuyển quan lại, làm cho các học giả, triết gia Âu Tây ở thế kỷ 18 phải thán phục, nhận rằng Trung Quốc tiến trước họ rất xa.

Chiến Quốc sách chỉ chép hoạt động của kẻ sĩ mà ít chú ý tới hạng bình dân không có học, hạng nông dân. Nhưng đọc bài Triệu Uy Hậu hỏi thăm về nước Tề (Tề IV 7) và truyện Quán Châu khuyên Tề Tuyên Vương (Tề VI 3), ta cũng thấy rằng một số nhà cầm quyền thời đó cũng biết trọng dân: Triệu Uy Hậu hỏi thăm sứ giả của Tề về tình cảnh dân chúng Tề, rồi mới hỏi thăm về vua Tề, tức theo chủ trương “dân vi quí, quân vi khinh” của Mạnh Tử; Tề Tuyên Vương nghe theo ý kiến của Quán Châu (có sách cho Quán Châu là một dân thường ở chân núi, có sách lại bảo là một kẻ xỏ hạt châu[2] ở dưới hiên chỗ vua ngồi – dù theo thuyết nào thì cũng là một người bình dân ít học) – mà khéo cư xử với Điền Đan, như vậy là nhận rằng trong hạng thường dân cũng có những người sáng suốt.

Nhưng bên cạnh hai truyện đó còn biết bao truyện coi dân như cỏ rác, vua chúa chỉ tranh giành cướp đất của nhau, chẳng kể gì tới sinh mạng của dân cả. Đó là một chứng cớ rằng có sự đảo lộn về giá trị tinh thần mà chúng tôi sẽ xét dưới đây.
                                           *

Sự đảo lộn về giá trị tinh thần thời Chiến Quốc 

Xét sự đảo lộn về giá trị tinh thần thời Chiến Quốc tức là xét hành động, chính sách của bọn người làm mưa làm gió trên chính trường thời đó: bọn biện sĩ. Nhưng bọn này có thực chủ trương một đường lối, chính sách nào nhất định không?

Không kể những triết gia theo thuyết “vô vi”, “tuyệt thánh khí trí”, hoặc khuyên nhà cầm quyền trở về chế độ tự nhiên thời nguyên thuỷ, đừng can thiệp gì vào việc dân cả, như Lảo Tử; hoặc tiêu cực hơn nữa như Trang Tử, không chịu dự vào việc đời, không muốn nhắc tới việc đời, cứ tiêu dao ở cõi lục hợp (trời, đất, bốn phương), coi sinh tử như nhau, thịnh suy như nhau; trừ hạng “siêu quần độc thiện” đó ra, còn thì cuối đời Xuân Thu và đầu đời Chiến Quốc, các triết gia, chính khách đều tôn trọng một bảng giá trị gồm nhân, nghĩa, lễ, tín, đều đặt vương đạo lên trên bá đạo.

Mạnh Tử bênh vực những giá trị đó một cách hăng hái nhất. Ông cũng là một biện sĩ, có lẽ là biện sĩ nhiệt tâm, hùng hồn nhất đầu đời Chiến Quốc, nhưng ông không cầu danh lợi, chỉ cầu thực hiện được đạo của Khổng Tử, nên khác hẳn những biện sĩ đời sau và không ai gọi ông là một biện sĩ cả.

Ông rất ghét nghe người ta nói đến tiếng lợi, cho nên lần đầu yết kiến Lương Huệ Vương, nghe Huệ Vương hỏi: “Ông có điều gì làm lợi cho nước tôi không?”, ông gạt ngay: “Nhà vua hà tất phải nói lợi. Chỉ có nhân nghĩa mà thôi”.

Ông rất quả quyết, không chịu sự thoả hiệp nào cả - nguyên tắc là nguyên tắc – như khi Đái Doanh Chi nước Tống, nghe ông thuyết phục, xin hãy tạm giảm nhẹ thuế cho dân rồi năm sau sẽ bỏ hẳn, ông mắng ngay vào mặt, đại ý bảo rằng: có kẻ ăn cắp gà hàng xóm, biết vậy là trái, xin ăn cắp bớt đi, mỗi tháng một con thôi, rồi năm sau sẽ chừa hẳn, thì nghe có được hay không.

Mặc Tử khác Mạnh Tử ở điểm rất hay giảng về lợi, nhưng cái lợi của ông là cái lợi chung cho xã hội, chứ không phải cái tư lợi, rốt cuộc chủ trương của ông không khác của Mạnh Tử là mấy: lấy nhân, nghĩa mà trị dân (đạo nhân của ông tức đạo kiêm ái).

Cả hai đều ghét chiến tranh, Mạnh Tử bảo:

“Đánh nhau để tranh đất, giết người đầy đồng; đánh nhau để tranh thành, giết người đầy thành, như thế gọi là đem đất ăn thịt người, đem xử tử còn chưa hết tội”.

Còn Mặc Tử thì nói:

“Giết một người thì bảo là bất nghĩa, phải chịu một tử tội. Cứ theo đó mà suy, giết mười người thì bất nghĩa gấp mười, giết trăm người thì bất nghĩa gấp trăm, tất phải chịu trăm tử tội”.

Ý nghĩa hai lời đó y như nhau.

Càng tới cuối đời Chiến Quốc những giá trị đó càng bị khinh rẻ. Bọn biện sĩ chỉ xét tới cái lợi, cái lợi trước mắt, cái lợi cá nhân, cái lợi của họ và của ông vua họ thờ. Ba phần tư bộ Chiến Quốc sách, hoặc hơn nữa, chép toàn những mưu mô của bọn biện sĩ để tìm lợi. Những truyện đó nhiều quá không sao dẫn ra hết được. Ở trên chúng tôi đã kể một truyện kẻ sĩ trong thiên hạ tranh nhau vì lợi (Tần III 13); Lữ Bất Vi buôn vua vì lợi; các vua chư hầu liên kết với nhau rồi phản nhau vì lợi, người ta đề cử tướng quốc cũng vì lợi (Sở I 15, Sở II 1), vua giết bề tôi để cầu lợi (trường hợp vua Nguỵ và Phạm Toàn – Triệu IV 6); ngay đến hai biện sĩ nổi danh, đa tài nhất tức Tô Tần và Trương Nghi cũng chỉ ham danh lợi: Tô Tần dùng cái Sở học chỉ để được tặng vàng ngọc, gấm vóc, chức tước, bổng lộc; còn Trương Nghi thì gạt vua Sở Hoài Vương hiếu sắc để kiếm được một số vàng (Sở III 4).

Họ muốn bọn vua chúa tin dùng họ mà chính họ lại khuyên vua chúa đừng giữ chữ tín trong việc ngoại giao: Trương Nghi hứa cắt đất cho vua Sở sáu trăm dặm đất, rồi sau nuốt lời, bảo vua Sở nghe lầm sáu dặm thành sáu trăm dặm (Tần II 1); Phùng Chương cũng dùng thuật xảo trá đó với vua Sở (Tần II 7); Sở Tương Vương cũng nghe lời mưu sĩ mà nuốt lời hứa với Tề một cách quỉ quyệt (Sở II 7). Và còn nhiều truyện thất tín nữa, như truyện Chu Hân can vua Nguỵ đừng vô Tần (Nguỵ III 4), truyện Tôn Thần can Nguỵ đừng cắt đất cho Tần (Nguỵ III 5)…

Nếu bọn biện sĩ có một chính sách thì chỉ là chính sách đầu cơ: không nhơn nghĩa gì ráo, nước nào mạnh thì theo, theo để hễ nước đó chiếm được một nước khác thì kể công mà xin chia đất của nước bị diệt; nếu rủi mà thờ một nước yếu thì ăn hối lộ của nước mạnh mà khuyên vua cắt đất thờ nước mạnh.

Tô Tần phẫn uất về bọn đó lắm, mấy lần lớn tiếng mắng ở Sở: 

“Cậy cái uy lực của Tần ở ngoài mà ở trong hiếp đáp vua mình để đòi vua cắt đất cho Tần, đại nghịch bất trung đến vậy là cùng cực (Sở I 16).

Rồi ở Triệu:

“Họ cầu hoà với Tần thì có thể xây cất đài cao, sửa sang cung đẹp (…) rồi khi có cái hoạ vì Tần thì bỏ mặc vua” (Triệu II 1).

Ở Nguỵ:

“Làm bề tôi cắt đất của vua để kết giao với nước ngoài, lấy trộm được cái công một ngày mà không nghĩ đến sau này ra sao, phá hoại của công mà làm của riêng, ở ngoài thì dựa vào uy thế của cường Tần để áp bách vua ở trong”, “rồi tới khi thình lình nước gặp tai hoạ thì họ chẳng chịu tội vạ gì cả” (Nguỵ I 9).



Nhưng chính Tô Tần muốn dụ vua các nước đó theo kế hoạch hợp tung cũng hứa dâng họ những sản phẩm, bảo vật cùng gái đẹp của nước mà Tô đương phụng sự. Cho nên thời đó đường cái nườm nượp xe ngựa của các sứ thần mà xe nào cũng chở đầy nhóc vàng bạc gấm vóc… Càng đọc Chiến Quốc sách, chúng ta càng thấy truyện xưa mà y hệt truyện ngày nay!

Tần Huệ Vương hiểu rõ tâm lý vị lợi, vị kỷ đó của thời đại, cho nên bảo Hàn Tuyền Tử:

“Chư hầu không thể hợp nhất được. Kế đó (kế hợp tung của Tô Tần) chỉ như cột chân gà với nhau khi người ta đậu một chỗ”.

Vì làm sao có thể đoàn kết với nhau khi người ta không có một lý tưởng, và ai nấy đều tìm cái lợi riêng của mình, cái lợi nhất thời? Cho nên khi Tần tỏ ra mạnh nhất trong số chư hầu, có cơ dựng được nghiệp đế thì có kẻ đề nghị mau mau sớm thờ Tần để hưởng công đầu (Hàn III 5):

“Là nước đầu tiên giúp cường quốc, ta được cái lợi là nếu cường quốc lập được vương nghiệp thì ta tất sẽ làm bá”.

Nhưng khi Tần dựng nghiệp đế thì chẳng có nước nào được làm bá cả, vì chư hầu bị diệt hết, còn cần gì đến ngôi bá nữa.
*


_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5966
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: CHIẾN QUỐC SÁCH    Fri Apr 28, 2017 2:53 pm

Nhưng đứng về một phương diện khác, ta phải nhận rằng bọn biện sĩ có tư tưởng tiến bộ.

Họ không tin hoặc tin rất ít ở thần quyền mà chỉ trọng nhân sự. Hạnh phúc con người là do con người tạo nên chứ không do trời đất, quỉ thần gì cả.

Trong toàn bộ Chiến Quốc sách, chỉ chép mỗi một truyện về đồng dao, truyện Tại sao Điền Đan không thắng được rợ Địch (Tề VI 5) mà lại không có tính cách mê tín. Đọc truyện đó, ai cũng thấy ngay rằng bài hát của đứa trẻ (đồng dao) nước Tề đó do một người lớn – biết đâu chừng chẳng phải là Lỗ Trọng Liên – đặt ra cho nó để tới tai Điền Đan mà Điền Đan phải lo sợ, quyết tâm hi sinh đánh rợ Địch. 

Cũng chỉ có mỗi một truyện tả sự cảnh cáo của Trời, và có tính cách dị đoan, truyện Tề Mẫn Vương vì tàn bạo mà bị giết (Tề VI 1), nhưng người chép truyện không cho sự cảnh cáo đó là ý chính của truyện, vì kẻ viện sự cảnh cáo của Trời mà giết Mẫn Vương, sau bị dân Tề đâm chết để trả thù cho Mẫn Vương.

Ngoài ra còn có vài truyện về ma quỉ, truyện Tô Đại can Mạnh Thường Quân (Tề III 3), truyện Tô Tần thuyết Lý Đoái (Triệu I 
, nhưng hai nhân vật trong hai truyện đó, Tô Đại và Tô Tần, giống nhau ở chỗ cùng nhắc tới thần đất và thần cây để đạt một mục đích là được tiếp kiến mà trình bày ý kiến của mình. Vậy thì hai nhân vật đó kể chuyện ma quỉ mà chỉ dùng một thuật trong phép biện thuyết. Vả lại Tô Tần và Tô Đại là hai anh em, chắc chắn là người này đã bắt chước người kia, thành thử tuy hai truyện, mà chỉ nên coi là một.

Ngay đến khoa bói, các biện sĩ cũng không tin; hơn nữa còn lợi dụng nó để thuyết phục, hoặc để hại người.

Trong truyện Triệu lấy tế điền của Chu (Đông Chu I 17), Trịnh Triệu đút lót cho một viên thái bốc nước Triệu để dùng môn bói gạt cho vua Triệu sợ quỉ thần mà trả lại tế điền cho Chu. Còn trong truyện Công Tôn Hãn hại Điền Kỵ (Tề I 
 thì thầy bói là một tên điểm chỉ, báo người bắt kẻ coi bói, kẻ này do Công Tôn Hãn sai đi để ngầm hại Điền Kị. 
*

Không tin thần quyền, mà chỉ tin ở nhân sự, nhưng các biện sĩ cũng nhận rằng nhân sự không thể luôn luôn có kết quả được, rằng có thịnh có suy, biết rút lui khi thịnh tới tột bực mà sắp suy, mới là người khôn.

Ở trên chúng tôi đã dẫn truyện Thái Trạch đem thuyết thịnh suy hữu thời ra thuyết phục Phạm Tuy nhường chức tể tướng lại cho mình.

Truyện Vẽ rắn thêm chân (Tề II 4) cũng rất thú: Trần Chẩn nhờ thuyết đó mà làm cho tướng Sở là Chiêu Dương lui binh, do đó cứu được Nguỵ. Hai truyện nữa cũng có ý nghĩa gần như truyện đó là truyện Tần tấn công Nghi Dương (Đông Chu 2) và truyện Tô Lệ bày kế cho vua Chu khuyên Bạch Khởi đừng đánh Hàn (Tây Chu 6). Trong Trung Sơn 10, Bạch Khởi cũng biết cái lý không thể thắng trận hoài được nên khuyên Tần Chiêu Vương đừng đánh Triệu. Nội một việc sáng suốt, hiểu thời thế đó cũng đủ cho Bạch Khởi là một danh tướng trong thời Chiến Quốc rồi.

Ngoài ra còn ba bốn truyện nữa mà bọn biện sĩ dùng thuyết thịnh suy hữu thời để thuyết phục kẻ đối thoại: truyện lý thú nhất có lẽ là truyện Đàm Thập Tứ khuyên Mạnh Thường Quân nên quên oán (Tề IV 4), vì ai cũng có lúc thịnh lúc suy, khi thịnh thì người ta bu lại, khi suy thì người ta lảng ra, đó là thường tình; người ta cũng chẳng yêu chẳng ghét gì mình đâu, chỉ theo lợi của người ta thôi, cũng như, chẳng ai yêu ghét gì chợ, chỉ vì nhu cầu mua bán mà chợ sáng thì đông, chiều thì vắng. Mạnh Thường Quân hiểu được lời khuyên đó, đem chẻ những bảng tre khắc tên năm trăm người mà ông oán. Thuyết thịnh suy có thời không có tính cách dị đoan. Do nhận xét thiên nhiên và xã hội mà nhân loại bất kỳ nơi nào, thời nào, cũng rút ra được luật đó. Đạo Lão và Kinh Dịch đều nhắc tới và nhắc tới thường.

Vậy ta có thể nói rằng các biện sĩ đời Chiến Quốc rất có tinh thần tự cường và không tin dị đoan, như nhiều thời đại sau, chẳng hạn đời Tần và Hán.
---------

Chú thích
[1] Thái độ tự trọng, đến mức khinh bọn vua chúa, của Nhan Súc (Tề IV 5) và của Vương Đẩu (Tề IV 6) sao mà giống nhau thế, từ ý nghĩa đến ngôn ngữ. 

[2] Trong cuốn Đắc nhân tâm, cụ Nguyễn Hiến Lê giảng thêm: “Quán châu: xỏ hạt châu”.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5966
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: CHIẾN QUỐC SÁCH    Fri Apr 28, 2017 3:27 pm

GIÁ TRỊ CHIẾN QUỐC SÁCH VỀ PHƯƠNG DIỆN VĂN HỌC

Có tới chín phần mười truyện trong Chiến Quốc sách chép những mưu mô xảo trá của bọn biện sĩ, tức môn đệ của phái danh gia, và một số pháp gia cực đoan, bọn chủ trương bá đạo – không, không được là bá đạo nữa, chỉ là vong quốc chi đạo, theo quan niệm của Mặc Tử - hoàn toàn ngược với vương đạo của Khổng, Mạnh, vậy mà các nhà nho từ Hán trở đi, bắt đầu là Lưu Hướng, rồi tới Tăng Củng, Vương Giác… đều coi trọng bộ đó, sưu tập, chú giải, hiệu đính, đề tựa, là tại sao?

Nhiều nhà nho đã đưa ra lý do, đại loại như sau:

Chiến Quốc sách là một bộ sử, thì người viết tất phải chép đủ những điều hay điều dở chứ không thể lựa được (Bảo Bưu).

Hành động, chính sách của bọn biện sĩ không đẹp nhưng muốn cho đời sau lấy đó ra răn mình thì trước hết phải chép ra đã, đập bỏ tấm gương thì lấy đâu ra mà soi? (Tăng Củng – Lý Cách Phi – Ngô Sư Đạo).

Huống hồ Chiến Quốc sách còn cả truyện của những nhân vật đáng gọi là kiệt sĩ như Lỗ Trọng Liên, Nhan Súc, Vương Đẩu, Dư Nhượng.

Vả lại bọn biện sĩ dù sao cũng là có tài cao, mưu kỳ, chuyển nguy thành an, chuyện của họ vui, rất đáng đọc (Lưu Hướng); mà những thuật thuyết phục, biện luận của họ cũng rất điêu luyện, đáng làm kiểu mẫu (Vương Giác).

Xét những lời phê bình đó, ta thấy Lưu Hướng có tinh thần khoáng đạt hơn nhiều nhà nho đời sau, nhận rằng Chiến Quốc sách có giá trị về văn học. Chính giá trị về văn học đó được các nhà khảo cứu ngày nay chú ý hơn cả. Họ đều bỏ phương diện luân lý, phương diện răn đời mà chỉ xét phương diện nghệ thuật, và đều nhận Chiến Quốc sách là một tác phẩm bất hủ, đáng trọng ngang với Tả truyện.

Trịnh Chấn Đạc trong Sáp đồ bản Trung Quốc văn học sử (Văn học cổ tịch hành xã – Bắc Kinh 1959) biết:

“Thời đại Chiến Quốc sách là một thời đại mới, mà thời đại cũ đã hoàn toàn bị lật đổ, bị huỷ diệt rồi, (cho nên) ngôn luận (trong Chiến Quốc sách) độc sáng, trực tiếp gồm những mưu cơ cảnh ngữ và những hùng biện lý thú. Những hành động (trong truyện) đều là dũng cảm, không có cái thói thủ cựu… nhờ vậy mà Chiến Quốc sách có một nội dung đặc sáng, không khác gì những bộ truyền kỳ của châu Âu thời Trung Cổ”.

Trung Quốc văn học sử của Viện Đại học Bắc Kinh (1959) khen:

“Mỗi đoạn trong Chiến Quốc sách là một cố sự hoàn chỉnh. Tình tiết, kết cấu, nhân vật chạm trổ rất linh động, tuy chỉ là phiến đoạn nhưng hoàn chỉnh, có cái phong vị tiểu thuyết”

Chúng tôi chưa hiểu vì lẽ gì mà thanh niên Trung Hoa trong khoảng 1920-1930 bỗng ham đọc bộ đó[1].

Các học giả phương Tây như Margouliès, Crump đều nhận rằng Chiến Quốc sách có nhiều truyện nghệ thuật rất cao, mặc dù tác phẩm không đều, không nhất trí.

Nhưng theo Cổ văn uyên giám, thì người mê Chiến Quốc sách nhất là Tô Tuân (1009-1066), cha của Tô Đông Pha. Tương truyền Tuân đi đâu cũng mang theo bộ đó, đọc đi đọc lại tới thuộc lòng, nhờ vậy mà ông có một giọng văn nghị luận mạnh mẽ, cổ kính, tinh luyện khiến cho Tăng Củng và Vương An Thạch phải phục.

Các nhà nho đề tựa Chiến Quốc sách mà chúng tôi đã nêu tên ở trên chắc cũng phải nhận rằng giá trị bộ đó chính ở phương diện nghệ thuật, nhưng có lẽ vì chủ trương văn dĩ tải đạo, nên không nói ra, hoặc có nói chỉ nói phơn phớt như Lưu Hướng. Dù họ không nói ra thì các nhà trích tuyển Cổ văn Trung Hoa cũng ngầm nói thay họ rồi.

Từ Cổ văn tích nghĩa, của Lâm Văn Minh (Lâm Tây Trọng – thế kỷ 17), tới Cổ văn từ loại toản, thế kỷ 19, Cổ văn uyên giám, Cổ văn quan chỉ, Cổ văn bình chú[2]… bộ nào cũng tuyển trên dưới hai chục bài trong Chiến Quốc sách. 

Ở Pháp, Margouliès trích dịch non hai chục bài trong Anthologie raisonnée de la littérature chinois (1048) và trong Le Kou Wen Chinois (1926).

Ở Mỹ, B. Watson, trích dịch ba bài trong Early Chinese Literature và J.I. Crump, Jr trong Intrigues cũng trích dịch trên năm chục bài[3].

Có điều đáng chú ý là hai bài:

Tư Mã Thác bàn lẽ đánh Thục (Tần I 7)

Nhạc Nghị đáp Yên Chiêu Vương (Yên II 10)

Được mọi học giả Trung Hoa khen là hay.
*

Thuật miêu tả và tự sự.

Do tính chất của nội dung (chép mưu mô của bọn biện sĩ), Chiến Quốc sách thiên về tự sự hơn là miêu tả. Tuy nhiên trong tự sự, tác giả cũng thường xen những đoạn miêu tả cho câu chuyện thêm linh động, mà sự phân biệt tự sự và miêu tả nhiều khi cũng khó định được.

Thuật miêu tả cao nhất là trong Truyện Tô Tần (Tần I 2) và truyện Thái tử Đan và Kinh Kha (Yên III 5).

Truyện Tô Tần bố cục rất chặt chẽ, có hai phần dài gần ngang nhau và đối xứng nhau.

Phần trên chép sự thất bại của Tô Tần khi đem kế liên hoành ra thuyết Tần Huệ Vương. Lý luận cũng đã chặt chẽ (vạch những ưu điểm của Tần cho Tần Tin ở sự thành công, rồi dẫn những truyện đời trước để thuyết vua Tần dùng võ lực), nhưng Huệ Vương không có chí lớn, gạt đi, rốt cuộc Tô Tần mười lần dâng thư mà thất bại cả mười, tới nỗi:

“Áo cừu đen đã rách, trăm nén vàng đã tiêu hết, thiếu tiền chi dụng, phải bỏ Tần mà về quê nhà, đùi quấn xà cạp, chân đi dép cỏ, đeo đẫy, hình dung tiều tuỵ, mặt mày xanh xạm, có vẻ xấu hổ. Về tới nhà, vợ thản nhiên không rời khung cửi, chị không nấu cơm cho ăn, cha mẹ không hỏi han tới”.

Phần dưới chép sự thành công rực rỡ của Tô Tần. Tủi thân, kích phẫn, Tô Tần học thêm mấy năm nữa, rồi đi du thuyết các chư hầu, lần này đem kế hợp tung ra thuyết, được vua Triệu tán thành liền, phong làm tướng quốc, ngồi xe cưỡi ngựa theo hầu vua Triệu mà liên kết lục quốc. Khi du thuyết Sở, ngang qua nhà ở Lạc Dương, thì:

“Cha mẹ Tô Tần hay tin, cọ nhà quét sân, bày nhạc đặt tiệc ra ngoài bốn chục dặm để đón rước, vợ chỉ dám liếc trộm nghe trộm, còn chị thì bò như rắn, lạy bốn lạy, quỳ xuống tạ tội”.

Mỗi chi tiết phần dưới đều tương phản với một chi tiết trong phần trên. Tô Tần tuy mưu mô, ham phú quí công danh, nhưng tương đối đứng đắn, đàng hoàng, không xảo trá, phản phúc, nghênh ngang như Trương Nghi.

Trương Nghi nuốt lời, gạt Sở, hứa cắt đất sáu trăm dặm, rồi lại chối, nói chỉ hứa có sáu dặm; lúc nghèo túng thì dám xoay tiền cả của hoàng hậu và ái phi của vua Sở mà vua Sở đành ngậm miệng (Sở III 4); lúc đắc thế, thay mặt vua Tần đi thuyết lục quốc thì dùng cái giọng doạ nạt, cơ hồ như bảo nếu không nghe tôi thì bị diệt đấy, đừng có trách là không báo trước (Triệu II 3, Yên I 6…). Tâm lý đó rất hợp với một vị tướng quốc của một nước mạnh; và nếu Tô Tần, Trương Nghi là những nhân vật tưởng tượng thì tác giả thực là khéo cho họ những tính tình, tâm lý khác nhau đó, vừa hợp với vai trò của họ, lại vừa gây cho ta mối thiện cảm với phe hợp tung và mối ác cảm với phe liên hoành[4].

Nhân vật Lỗ Trọng Liên chỉ xuất hiện ba bốn lần, nhưng để lại cho ta một ấn tượng sâu và đẹp. Khi Lỗ Trọng Liên can đảm vạch sự tàn bạo của Tần, nói khích Tân Viên Diễn, tướng của Nguỵ, khiến Tân Viên Diễn phải bỏ ý thờ Tần đi – nhờ vậy Tần không dám đánh Triệu nữa. Bình Nguyên Quân muốn phong Lỗ Trọng Liên, Lỗ ba lần từ chối:

“Kẻ sĩ sở dĩ đáng quí ở trong thiên hạ là vì giải trừ được hoạn nạn, cởi bỏ được mối rối loạn mà không nhận một chút báo đáp nào cả. Nếu nhận sự báo đáp thì thành con buôn rồi. Lỗ Trọng Liên tôi không nở làm như vậy”.

Rồi ông từ biệt Bình Nguyên Quân, tới chết không còn ai thấy ông nữa” (Triệu III 12).

Ta có cảm tưởng được ngắm ngôi sao chổi hiện lên rực rỡ trên nền trời rồi biến mất[5].

Những truyện Đường Thư không nhục sứ mệnh (Nguỵ IV 25), Phùng Uyên làm thực khách nhà Mạnh Thường Quân (Tề IV 1), Nhan Súc thuyết Tề Tuyên Vương (Tề IV 5), Dư Nhượng (Triệu IV), Nhiếp Chính (Hàn II 19)… cũng đều đạt tới mức cao về nghệ thuật kể truyện và miêu tả tính tình nhân vật, đều được chép lại gần đúng từng chi tiết, không sửa đổi thêm bớt bao nhiêu, trong những tác phẩm đời sau, chẳng hạn trong bộ Đông Chu liệt quốc.

Cảm động nhất là truyện Điền Đan và Kinh Kha (Yên III 5) đã được người đời sau viết lại thành tiểu thuyết hoặc dựng lại thành kịch[6]. Trong toàn bộ, truyện này dài nhất. Tần lúc đó đã diệt được Hàn, Nguỵ, đương tiến vào Triệu và sắp tới Yên. Đọc đoạn đầu ta thấy rõ nỗi lo lắng bồn chồn của thái tử Yên là Điền Đan; mấy lần xin quan thái phó tìm cho một kế nào để cứu nước:

“Mưu kế của thái phó mất nhiều thì giờ lắm, lòng tôi lo lắng, rối loạn, sợ không đợi được một khoảnh khắc khác nữa (…). Gấp quá rồi, vận mệnh Đan tôi quyết định lúc này đây, xin thái phó tính lại cho”.

Khi đã tìm được hiệp sĩ là Kinh Kha và Kinh Kha nhận qua uy hiếp vua Tần, uy hiếp không được thì giết, Điền Đan đối đãi với Kinh Kha còn hơn bề tôi đối với chúa: đích thân ngày ngày tới vấn an, cung cấp mọi vật trân kỳ, xe ngựa cùng mỹ nữ, và nóng lòng mong Kinh Kha qua Tần.

Cảnh Phàn Ô Kỳ chịu hy sinh, tự vẫn để Kinh Kha chặt đầu mình đem dâng Tần Thuỷ Hoàng đã là cảm động, mà cảnh dũng sĩ qua sông Dịch mới thê thảm làm sao:

“Thái tử (Điền Đan) cùng với khách khứa (…) đều chít khăn tang, bận đồ tang để tiễn đưa (Kinh Kha). Tới bờ sông Dịch, tế thần Đường sá rồi, Cao Tiệm Ly gảy cây đàn trúc[7], Kinh Kha ca để hoạ nhạc, thanh âm thê thảm, ai nghe cũng nhỏ lệ, sụt sùi. Rồi lại tiến lên trước mà ca rằng:

Gió hiu hắt hề, sông Dịch lạnh tê,
Tráng sĩ một đi hề, không trở về[8].

Lại ca một điệu khảng khái bi tráng, ai nấy đều trợn mắt, tóc dựng đứng, đâm lên mão, rồi mới lên xe đi, không hề ngoái cổ lại”.

Kinh Kha như đã đoán trước là sẽ thất bại, sẽ chết mà vẫn khảng khái ra đi để tạ lòng tri kỷ là Điền Đan. Và cái chết của Kinh Kha mới hiên ngang làm sao:

“…Kha bị hết thảy tám nhát (kiếm) tự biết là việc không thành, dựa cột mà cười, ngồi xoạc chân ra mà mắng vua Tần”.

Kết cục câu chuyện gây một mối hận môn đời: vua Yên phải giết con là Điền Đan để mong Tần tha tội cho mình, mà Tần cũng không tha. “Về sau bạn của Kinh Kha là Cao Tiệm Ly, gảy cây đàn trúc vào yết kiến Tần hoàng đế, lấy cây đàn đập Tần hoàng đế để báo thù cho Yên, đập không trúng, bị giết”.

Tác giả chỉ khách quan chép lại như vậy, không phê bình gì cả, vì có khéo phê bình tới đâu thì cũng chỉ làm cái việc vẽ rắn thêm chân, mà đứt mất cái mối cảm xúc triền miên của người đọc.

Trong các truyện khác, tác giả cũng giữ bút pháp đó: kể truyện thôi chứ không phê bình, đây cũng là một ưu điểm nữa của Chiến Quốc sách; trừ mười truyện như truyện Xúc Chiệp thuyết thái hậu nước Triệu (Triệu IV), tác giả chép thêm cảm tưởng của người đương thời, truyện Khéo ton hót (Nguỵ IV 23), truyện Lỗ Trọng Liên thuyết tướng Yên (Tề VI 2) tác giả đưa thêm ý kiến của mình, điểm này có thể chứng tỏ rằng Chiến Quốc sách do nhiều người viết[9].

Một vài nhà phê bình gần đây trách rằng các hiệp sĩ trong Chiến Quốc sách như Dự Nhượng, Nhiếp Chính, Kinh Kha… nặng tình tri kỷ hơn là tình quốc gia, họ chết cho tri kỷ chứ không cho tổ quốc. Chúng tôi nghĩ rằng chính điểm đó làm cho Chiến Quốc sách có một cái hương vị thời xưa, khác hẳn những chuyện đời sau. Như chúng tôi đã nói, ở Trung Quốc thời Chiến Quốc, tinh thần quốc gia khác hẳn tinh thần quốc gia của chúng ta ngày nay, không nên đem quan niệm của ta mà xét quan niệm của người xưa. Mà cái tình tri kỷ của cổ nhân nay đã không còn nữa, thì ta nên quí người xưa ở chỗ khác ta hay ở chỗ giống ta?

 Một cách dễ thuyết phục nhất là đặt câu hỏi để người đối thoại của mình tìm những câu đáp rồi lần lần tự nhiên phải chấp nhận kết luận mà mình muốn đưa ra. Ở Hy Lạp thời xưa, Socrate chuyên dùng cách đó mà nổi danh. Mạnh Tử cũng có lúc dùng nó, chẳng hạn trong đoạn ông bác thuyết của Hứa Hành (Hứa Hành chủ trương rằng mọi người từ vua tới dân đều cày ruộng lấy mà ăn thì xã hội sẽ hết loạn) trong chương Đằng Văn Công – thượng.

Trong Chiến Quốc sách, chúng tôi chỉ thấy hai ba bài áp dụng thuật đó. Đáng coi là mẫu mực là bài Nguỵ IV 3[2]. Vua Nguỵ muốn đánh Hàn, Trương Mao hỏi: 

“- Hàn sẽ ngồi đó đợi lúc bị diệt chăng? Hay sẽ cắt đất mà theo nước khác?

Vua Nguỵ đáp:

- Sẽ cắt đất mà theo nước khác.

- Hàn oán Nguỵ hay oán Tần?

- Oán Nguỵ.

- Hàn cho Tần là mạnh hay Nguỵ là mạnh?

- Cho Tần là mạnh.

- Hàn sẽ cắt đất mà theo nước mạnh mà mình không oán hay là cắt đất mà theo nước không mạnh mà mình oán?”.

Chỉ đặt bốn câu hỏi như trên mà Trương Mao làm cho vua Nguỵ bỏ cái ý đánh Hàn.

* Một cách nữa, cũng có công hiệu mạnh là lối song đề (dilemme), chỉ cho đối thoại thấy hai trường hợp, giải pháp, một có lợi một có hai, một có lý một vô lý để họ tự lựa lấy. Truyện Thuốc bất tử (Sở IV 
 viết thật tài tình. Thời Chiến Quốc và thời Tần, một môn phái đạo Lão bỏ phần triết lý mà thiên về phép luyện đan để được thành tiên; bọn vua chúa tin thuật đó lắm, như Sở Khoảnh Tương Vương và Tần Thuỷ Hoàng.

Một kẻ dâng thuốc cho Khoảnh Tương Vương. Một người lính thị vệ muốn can, biết rằng biện luận gì cũng không đánh đổ nổi lòng tin của vua, nghĩ ra một kế, giật lấy thuốc mà uống. Vua Sở nổi giận, sai người đem chém, như vậy mắc mưu rồi. Đã là thuốc bất tử, uống vào thì còn làm sao chết được nữa. Đã ra lệnh chém, tức thị là ngờ công hiệu của thuốc. Ngờ mà còn dùng, thái độ đó thật vô lý. Và vua Sở đã nhận ngay ra được rằng kẻ dâng thuốc chỉ là lừa gạt, mà tha cho người thị vệ.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5966
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: CHIẾN QUỐC SÁCH    Sun Apr 30, 2017 4:16 pm

Các biện sĩ thường dùng phép song đề đó để thuyết phục người đối thoại.

Tề, Sở đánh nhau, Tống muốn trung lập, nhưng bị Tề ép buộc, nên phải hứa giúp Tề. Tử Tượng, sứ giả của Sở, thuyết vua Tống: Tề áp bức Tống mà Tống theo Tề, đánh Sở. Một là Tề và Tống thắng thì Tề sẽ quen mùi, lần sau lại áp bức Tống nữa, như vậy có lợi gì cho Tống không? Hai là nếu Tề và Tống mà thua Sở thì Sở tất trả thù Tống, càng có hại cho Tống.

Vậy thì trong hai giải pháp: Tống giúp Tề với Tống trung lập, giải pháp nào hơn? (Sở I 1)[3].

Hai bài Trung Sơn 5 và 6 đều chép về nàng Âm Giản, ý nghĩa như nhau nhưng bài 6 dài hơn, nhiều tình tiết hơn, có nghệ thuật hơn. 

Nàng Âm Giản, một sủng phi của vua Trung Sơn, ghét tướng quốc Tư Mã Hi, Điền Giản bày kế cho Tư Mã Hi:

Đẩy nàng Âm Giản đi, nếu không được thì giúp nàng khuyên vua Trung Sơn lập nàng làm chánh cung.

Tư Mã Hi tìm cách làm cho vua Triệu biết rằng nàng Âm Giản rất đẹp. Vua Tề ngỏ ý với vua Trung Sơn để xin nàng. Vua Trung Sơn rất khó nghĩ: cho thì nhục, không cho thì nguy vì Triệu mạnh hơn Trung Sơn.

Tư Mã Hi bèn khuyên vua Trung Sơn lập nàng Âm Giản làm chánh phi, vua Triệu không còn lý do gì để xin nàng Ân Giản nữa, và nàng mang ơn Tư Mã Hi từ đó. 

Còn nhiều bài khác nữa như Tần III 11, Sở I 5… Ngay cả trong những bài Tô Tần, Trương Nghi thuyết các vua chư hầu theo hợp tung hay liên hoành, họ cũng đưa ra giải pháp – tung hay hoành – và theo giải pháp nào thì có lợi ra sao, không theo thì có hại ra sao… Như vậy là đối chiếu hai giải pháp, hai hoàn cảnh, người nghe dễ nhận thấy chính đề và phản đề, dễ bị thuyết phục.

Một số học giả cho rằng chính vì Chiến Quốc sách thường dùng thuật đó nên còn có tên là Trường đoản.

Ở trên chúng tôi đã nói trong bài Tựa của Chiến Quốc sách, Lưu Hướng bảo những tài liệu ông thu thập được mang nhiều tên, mà trong những tên đó có nhan đề là Trường đoản.

Sử ký cũng có đoạn chép rằng Khoái Thông giỏi về trường đoản thuyết và viết 81 bài luận về quyền biến, La Căn Trạch căn cứ vào đoạn đó mà bảo tác giả Chiến Quốc sách chính là Khoái Thông. 

Hai chữ Trường đoản đó làm cho nhiều học giả thắc mắc và một số cho rằng trường đoản vốn có nghĩa là dài, ngắn, sau dùng trỏ cái tốt, cái xấu (sở trường, sở đoản của một người, một giải pháp…) và Chiến Quốc sách chép những biện thuyết tức những bài vạch cái tốt cái xấu của các mưu mô, giải pháp, nên có tên là Trường đoản. Có học giả lại bảo trường trỏ chính sách hợp tung vì nó tốt (chống kẻ tàn bạo là Tần), đoản trỏ chính sách liên hoành vì nó xấu (về phe kẻ tàn bạo). Từ những nghĩa đó, trường đoản chuyển qua nghĩa thuật biện thuyết (coi trong Intrigues, chương IX). Những lối giải thích đó đều gò ép ít nhiều. Có thể rằng “trường đoản” chỉ biểu thị ý nghĩa đối lập, tương phản, như khi bàn về Dịch, người ta vẫn dùng trường đoản (hay đại tiểu) để thay âm dương, cương nhu. 

*

Dùng ngụ ngôn. Mạnh Tử đã dùng cách này, như khi ông kể truyện người Tống nhớm mạ lên cho mau lớn và chuyện người nước Tề có hai vợ. Có tài nhất là Trang Tử. Sức tưởng tượng của ông phong phú lạ lùng và bộ Nam Hoa kinh đầu những truyện ngụ ngôn lý thú, như truyện Bào Đinh mổ bò, hoặc quái đản mà cực sâu sắc như hai chuyện hai “quốc gia” sinh vật cực nhỏ sống trên hai sừng con ốc sên, đánh nhau nửa tháng, thây chết hàng vạn…[4]

Chiến Quốc sách nghệ thuật không bằng Nam Hoa kinh, nhưng cũng chứa nhiều ngụ ngôn bất hủ như truyện Trai, sò găng nhau, chỉ lợi ông chài (Yên II 13), truyện Vẽ rắn thêm chân (Tề II 4), truyện Cáo mượn oai cọp (Sở I 3)… 

Có hai truyện ngụ ngôn nữa ý nghĩa như truyện Trai, sò găng nhau, chỉ lợi ông chài tức truyện Chó đuổi thỏ, nông phu bắt được cả hai (Tề III 11) và truyện Trần Chẩn thuyết vua Tần: hai cọp tranh nhau một người (Tần II 2), đều là khuyên để hai nước đánh nhau, mình đứng ngoài mà thủ lợi. 

Có khi tác giả không dùng ngụ ngôn mà dùng một tỉ dụ có tác dụng như ngụ ngôn. Truyện Nghe riết rồi tin (Nguỵ II 17), Bàng Thông bảo vua Nguỵ đại ý rằng: ở chợ không có hổ, lẽ đó hiển nhiên, nhưng nếu một người bảo, rồi hai người bảo, rồi ba người bảo thấy hổ ở chợ, thì tự nhiên lòng tin của người ta phải lung lay.

Muốn cho vua chúa tin dùng mình, các biện sĩ thường phải dẫn tâm lý chung đó ra để ngăn họ đừng nghe lời gièm pha. Lần đó Bàng Thông kể chuyện cọp ở chợ; lần khác Cam Mậu nhắc lại cố sự Tăng Sâm giết người: Tăng Sâm vốn là một người rất hiền hậu, học trò của Khổng Tử, mẹ Tăng Sâm rất tin con, vậy mà khi có một người, rồi hai, rồi ba người chạy tới bảo Tăng Sâm giết người, bà cụ đâm hoảng, trèo tường mà trốn (Tần II 6).

Ngụ ngôn người nước Sở ghẹo hai người đàn bà, một người thuận, một người mắng lại, rồi sau hỏi cưới người đàn bà đã mắng lại mình (Trần Chẩn lại đáp vua Tần – Tần I 12) cũng thường được dùng để thuyết phục nhà cầm quyền tin mình. 

Nhiều khi lời biện thuyết có giọng ai oán. Tận trung mà vẫn bị nghi ngờ, Trần Chẩn phải dẫn truyện Hiếu Kỷ hết lòng thờ cha mà bị cha đuổi đi (vì nghe lời vợ kế) rồi chết ở xa nhà, Ngũ Tử Tư hết lòng thờ vua Ngô mà bị vua Ngô đem bêu đầu (Tần I 11). Còn Diêu Cổ lập được công với vua Tần mà bị gièm pha, bị vua Tần nghi ngờ, cũng phải dẫn truyện Tăng Sâm và Ngũ Tử Tư để giải bày lòng mình (Tần V 
.

Vậy thì cái đạo “thờ người” cũng khó thật. Trách chi chẳng có người thích con rùa lê đuôi trong bùn của Trang Chu.

Một truyện ngụ ngôn cảm động là chuyện Bá Nhạc và con ngựa kí (Sở IV 11) tả nổi khát khao gặp tri kỷ của những kẻ có tài mà không được ai biết tới.

“Khi con ngựa kí tới tuổi già, người ta bắt nó kéo xe muối lên núi Thái Hàng, móng nó duỗi ra, đầu gối nó khuỵu lại, đuôi nó, chân nó mồ hôi đầm đìa, rỏ giọt xuống đất, trộn với mồ hô trắng. Giữa dốc nó thụt lùi, (rán) đội càng xe lên nhưng không leo được nữa, Bá Nhạc gặp nó, xuống xe, vịn (ôm) đầu nó mà khóc, cởi áo mà phủ cho nó; nó cúi đầu xuống mà phì hơi ra, ngửng cổ lên mà hí, tiếng hí động tới trời, trong trẽo như tiếng kim thạch”.

Truyện đó nhắc ta nhớ tới chuyện mua đầu ngựa (Yên I 10). Cũng đem loài ngựa giỏi ra để làm tỉ dụ, mà hai truyện ý nghĩa ngược nhau; gặp người giỏi mà không dùng, với muốn có người giỏi mà phải đi tìm khắp nơi.

Cũng có khi các biện sĩ không dùng ngụ ngôn, không dùng cố sự hay tỉ dụ mà lấy ngay chuyện mình để can vua, như bài Trâu Kị khuyên vua Tề nghe lời can gián (Tề I 12).

Bài Trang Tân khuyên Sở Tương Vương (Sở I 12) chứa một ngụ ngôn có cái giọng của Trang Tử. Con chuồn chuồn, con se sẻ, con hộc vàng trong truyện đó làm ta liên tưởng tới truyện con ve, con bọ ngựa, con chim khách của Trang[5]. Một bên vì mãi vui mà quên thân, một bên vì lợi mà quên thân. Ý nghĩa đều sâu sắc mà kỷ thuật cũng giống nhau: đều dùng loài vật với người, đều theo phép tiệm tiến, từ những nhân vật nhỏ tiến tới những nhân vật lớn, sau cùng tới bản thân kẻ đối thoại.

Chúng tôi mới kể vài ngụ ngôn chính, còn nhiều nữa như Nguỵ IV 16, Yên I 5… Xét chung thì về mặt ngụ ngôn, Chiến Quốc sách tuy kém Nam Hoa kinh[6] nhưng hơn hẳn Mạnh Tử.

Có một truyện mà tôi hơi lấy làm lạ, vì nó lẻ loi và lạc lỏng trong Chiến Quốc sách, truyện Mặc Tử can vua Sở đừng đánh Tống (Tống 2). Mặc Tử sanh trước Mạnh Tử, chép cố sự của Mặc Tử thì sao không chép cố sự của Mạnh Tử, mà sao trong bao nhiêu lần biện thuyết của Mặc Tử lại chỉ chép có lần đó? Phải chăng vì tác giả thích tỉ dụ Mặc Tử dùng trong truyện đó chăng? Đại ý Mặc Tử bảo vua Sở:

Nước Sở đã giàu mạnh hơn Tống, mà lại còn muốn chiếm đất của Tống, thì cũng không khác chi một người không thích chiếc xe đẹp đẽ của mình mà thích trộm lấy chiếc xe tồi tàn của hàng xóm.

Vua Sở nhận thấy mình trái, thôi không đánh Tống nữa. Trong Chiến Quốc sách chỉ có vài ba truyện chống chiến tranh nhưng không chống một cách triệt để như bài trên mà chỉ chống trong một giai đoạn vì cái lợi của quốc gia (chẳng hạn bài Tề V 1).
*

* Muốn thuyết phục thì phải hiểu tâm lý người đối thoại, dựa theo họ mà dẫn dắt họ lần lần theo ý mình; qui tắc đó còn quan trọng hơn tất cả những thuật kể trên, và Hàn Phi trong bài Thuế nan đã đặt nó lên hàng đầu. Ông viết:

“Du thuyết khó, nhưng không khó ở chỗ trí thức của ta đủ thuyết phục được vua chúa hay không, cũng không khó ở chỗ khẩu tài của ta phát biểu được rõ ý ta hay không, cũng không khó ở chỗ ta có dám tung hoành phóng dật diễn hết ý của ta hay không, mà khó ở chỗ hiểu tâm lý đối phương để cho lời của ta hợp với tình lý của họ”.

Xúc Chiệp không phải là một biện sĩ, chỉ là một vị lão thần của Triệu, hiểu rõ tâm lý đàn bà mà thuyết phục được Triệu thái hậu cho con là Trường An Quân qua Tề làm con tin (Triệu IV 18). Cả triều đình Triệu cũng đã rán khuyên Triệu thái hậu mà đều thất bại chỉ vì không nghĩ đến tấm lòng cưng con của một bà già, chỉ đem cái lợi của quốc gia ra mà nói, làm cho thái hậu nổi đoá lên, bảo: “Ai mà còn nói đến chuyện đưa Trường An Quân đi làm con tin thì già này tất nhổ vào mặt”.

Chính lúc thái hậu còn hầm hầm như vậy mà Xúc Chiệp vô yết kiến.

Ông chẳng nói gì đến chuyện Trường An quân cả, mà toàn nói những chuyện bâng quơ: hỏi thăm sức khoẻ của thái hậu, kể lể bệnh tật của mình, lại xin ân huệ cho đứa con của mình để thái hậu nguôi giận, quên hẳn chuyện bực mình đi, rồi mới nói khích rằng đàn bà không cưng con bằng đàn ông. Thái hậu cãi lại, ông không đáp, thình lình chuyển qua tình thái hậu yêu con gái là Yên hậu, để so sánh tình thái hậu yêu Trường An Quân, rốt cuộc làm cho thái hậu nhận rằng yêu con thì phải lo đến tương lai của con, và bằng lòng cho Trường An Quân qua Tề để có cơ hội “lập công với nước”.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5966
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: CHIẾN QUỐC SÁCH    Sun Apr 30, 2017 6:01 pm

Bài văn toàn bích, có mở, có kết, mạch lạc sáng sủa, không một chi tiết nào thừa, không một chi tiết nào thiếu, sự kiện biến chuyển một cách tự nhiên, tuy đột ngột mà vẫn là tuần tự, tài tình đến nổi chính ta là độc giả, người ngoài cuộc mà cũng bị tác giả lôi kéo tới mục đích của tác giả mà không ngờ.

Một bài khác (Yên II 7), chép một truyện tình tiết gần giống hệt truyện trên (cũng là một bà thái hậu – nước Yên – không chịu cho con qua làm con tin ở Tề) nhưng nghệ thuật kém xa.
*

Một thú nữa khi đọc Chiến Quốc sách là được nghe những ứng đối mẫn tiệp, chuyển nguy thành an như:

Khỏi bị cách chức (Đông Chu 9).

Người đất Ôn khéo đối đáp mà khỏi bị giam (Đông Chu 10).

Du Đằng biện hộ cho vua Chu (Tây Chu 3).

Cam La thuyết Trương Đường và vua Triệu (Tần V 6).

Có khi lại được mỉm cười vì sự ngốc nghếch của bọn cầm quyền như truyện Đông Chu 1, Tần I 12.

Vua Tề ham chín cái đỉnh của Chu mà bị Nhan Suất gạt, phàn nàn:

- Thế ra ông tới đây mấy lần cũng như không, ta chẳng được gì ư?

Mặt vua Tề lúc đó chắc phải ngẩn ra như một em bé mất kẹo.

Vậy mà Nhan Suất vẫn nghiêm trang thưa:

- Thần đâu dám gạt đại quốc, xin đại vương gấp quyết định chở đỉnh theo đường nào, tệ ấp sẽ dời đỉnh để đợi lệnh.

Vua Tần nghe lời gièm pha của Trương Nghi, hỏi Trần Chẩn muốn đi đâu, nếu không được dùng ở Tần nữa, định bụng rằng Trần Chẩn mà xin qua Sở thì mắng cho một trận, chưa biết chừng sẽ giết nữa (vì Tần với Sở nghịch nhau).

Trần Chẩn thản nhiên xin qua Sở, rồi thuyết một hồi, làm cho vua Tần cứng họng, đã không trách Trần Chẩn vào đâu được mà lại trọng đãi Chẩn hơn trước.

Thời Chiến Quốc quả là thời tung hoành của bọn tung hoành gia, chỉ vì bọn vua chúa thường ngu dại mà bọn biện sĩ thì quá thông minh, quỉ quyệt.
---------------

Chú thích
[1] Coi cuốn Cổ văn Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê.
[Cũng có thể xem thiên Thuế nan (Du thuyết khó) trong cuốn Hàn Phi Tử của Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê, Nxb Văn hoá – 1994. (Goldfish)] 

[2] Coi thêm bài Nguỵ IV 10, bài Triệu VI 13.

[3] Thực ra trong bài đó, tác giả áp dụng phép song đề tới hai từng.

[4] Sau này, trong bộ Trang Tử - Nam Hoa kinh, cụ Nguyễn Hiến Lê cho rằng, truyện trước (bài Dưỡng sinh chủ 2), hai chữ “bào đinh” có nghĩa là “tên làm bếp” không phải tên người; và phần Tạp thiên trong đó có truyện sau (bài Tắc Dương 6) cũng như phần Ngoại thiên đều không phải do Trang Tử viết. (Goldfish). 

[5] Tức bài Sơn mộc 8. (Goldfish).

[6] Kém cả Liệt Tử nữa. Bộ Liệt Tử do Nguyễn Hiến Lê soạn và Lá Bối in. [Nhan đề đầy đủ là Liệt Tử và Dương Tử.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5966
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: CHIẾN QUỐC SÁCH    Mon May 01, 2017 3:31 pm

Sau cùng chúng tôi xin giới thiệu một bài kỹ thuật rất đặc biệt, chúng tôi chưa từng thấy trong văn học Trung Quốc, bài Mưu mô Tô Tần (Tề III 1). Bài đó không phải là một bài biện thuyết, chỉ là một bài tự sự mà có pha chút phê bình. Tác giả chép lại mưu mô của Tô Tần: vua Sở Hoài Vương mất, trong khi thái tử tên là Hoành làm con tin ở Tề; Tô Tần khuyên Tiết Công (vua Tề) không cho thái tử Hoành về Sở để “khai thác” biến cố đó.

Rồi tác giả liệt kê ra tới mười hậu quả của việc giữ thái tử Sở lại, cả mười hậu quả đều do mưu mô Tô Tần gây ra, có hậu quả có lợi cho Tô Tần, có hậu quả có lợi cho Tề hại cho Sở, cho thái tử Sở, lại có hậu quả tưởng như hại cho Tô Tần nữa. 

Đó là đoạn đầu bài dài, dài khoảng nửa trang. Qua đoạn sau, dài ba trang, tác giả dẫn chứng về mười hậu quả mới kể trên, chép lại những hành động kế tiếp của Tô Tần trong vụ ấy. Ta có cảm tưởng là được coi lại một ván cờ trong đó xảo thủ Tô Tần tính trước được mười nước đi.

Nhưng đây mới là chỗ đặc biệt của bài văn. Tác giả kê mười hậu quả (trong bản dịch chúng tôi đã làm thêm công việc đánh số từ 1 đến 10 để độc giả dễ nhận ra); mà khi dẫn để chứng minh, tác giả theo đúng thứ tự từ một đến 9, rồi ngừng lại, làm cho chúng ta phải tự hỏi: Tác giả đã sơ ý bỏ dở hay cố ý bỏ lửng.

Xét lối trình bày của cả bài, ta thấy tác giả đã sắp đặt, bố cục rất kỹ lưỡng, đã chứng minh một cách rành rọt gần như một bài toán Hình học (cứ mỗi đoạn ở phần sau, tác giả lại kết một câu: Vì vậy mà bảo rằng: “…nhắc lại đúng hậu quả đã kê ở phần trên)…”, y như những chữ C.Q.F.D.[1] mà hồi xưa người ta thường ghi sau mỗi bài toán Hình học); xét như vậy thì chúng tôi không tin rằng tác giả đã sơ ý bỏ dở, không chứng minh điểm thứ 10. Chắc tác giả đã cố ý bỏ lửng, để chúng ta tự chứng minh nốt, tự đoán ra những lời Tô Tần tự biện hộ với Tiết Công. Và thuật đó làm cho ta ngạc nhiên một cách thích thú.

Bài đó không phải là bài hay nhất trong bộ, nhưng quả là có một kỹ thuật mới mẻ, nhưng phải đọc kỹ mới nhận ra được dụng công của người viết.
*

Chiến Quốc sách có nhiều khuyết điểm: thiếu tính cách nhất trí, mà nghệ thuật cũng không đều.

* Thiếu tính cách nhất trí vì cùng một việc mà mỗi chỗ chép một khác, cùng một người mà mỗi chỗ gọi tên một khác (coi trang 25, 26), và ngoài cái việc chép lại hết những mưu mô của người thời đó (chính khách có, triết gia có, bình dân có, trẻ em cũng có nữa), ta không thấy tác phẩm có một chủ đề nào cả, không thấy tác giả có một chủ kiến nào cả. Tác phẩm do nhiều người viết – điều đó mọi học giả đều nhận rồi – nhưng người thu thập các bài văn cơ hồ cũng không nhằm một mục đích nào, chỉ gom góp cho đủ.

* Một phần vì lẽ đó mà nghệ thuật các bài cũng không đều.

Có những bài nghệ thuật rất cao mà trên chúng tôi đã giới thiệu, thì lại có những bài rất kém.

Chẳng hạn bài Phùng Chương gạt vua Sở (Tần II 7), chỉ chép một hành động gian trá chứ không xảo trá, không đáng gọi là thuật gạt người, chứ đừng nói thuật biện thuyết. Vua Tần sai Phùng Chương hứa cắt đất Hán Trung cho Sở để Sở về phe mình. Khi Sở nhắc lại lời hứa, thì nhà vua làm bộ đuổi Phùng Chương đi rồi trả lời vua Sở rằng mình có hứa gì đâu. Thật là con nít! Vua chúa gì mà như vậy.

Còn nhiều bài nửa mà chúng tôi bỏ đi không dịch.

Có nhiều bài thuật kể chuyện không phải là kém, nhưng thiếu tính cách nhất trí, đoạn trên và đoạn dưới không ăn khớp với nhau, cơ hồ như tác giả tham lam chi tiết, muốn chép lại cho nhiều, hoặc vội vàng, đáng lẽ tách bài ra làm hai thì gom lại làm một, như bài Tề Mẫn Vương tàn bạo mà bị giết (Tề VI 1). Mẫn Vương tàn bạo tới nỗi dân chúng, bách quan và cả tôn thất đều ghét. Náo Xỉ giết là phải rồi. Sao đoạn cuối, tác giả còn chép thêm việc Vương Tôn Giả trả thù Mẫn Vương làm chi. Ít nhất tác giả cũng phải giảng gì thêm (chẳng hạn Vương Tôn Giả được Mẫn Vương đặc biệt tín nhiệm, yêu quí thì ta mới có thể hiểu được hành động của Giả. Trong Intrigues, Crump dịch mà cắt bỏ đoạn cuối đi cho có lý.

Truyện Tô Tần thuyết Lý Đoái (Triệu I 
 cũng rời rạc, và cần phải đưa thêm nhiều chi tiết nữa để chứng thực lời này của Tô Tần: “Hôm qua lời bàn của tôi thô bạo mà chúa công của ông động lòng; hôm nay lời bàn của tôi tinh tế mà chúa công của ông không động lòng”.

Nhiều bài trùng nghĩa, rất giống nhau.

Chẳng hạn bài Tần III 9, Phạm Tuy thuyết vua Tần Chiêu Vương mà gièm pha Nhương Hầu là chuyên quyền, vua Tần nghe lời, đuổi Nhương Hầu đi. Rồi sau bài Tần III 10, nửa dưới gần như lập lại đúng những ý trong bài trên, cũng lại cho Phạm Tuy gièm pha Nhương Hầu nữa, cho nên Chung Phượng Niên ngờ rằng hai bài đó do hai người viết.

Ngụ ngôn tượng thần bằng đất và tượng thần bằng gỗ nhắc đi nhắc lại nhiều lần, truyện Hiếu tử Tăng Sâm và trung thần Tử Tư cũng vậy. Và như chúng tôi đã thưa, truyện Xúc Chiệp thuyết Triệu thái hậu và truyện Trần Thuý thuyết Yên thái hậu gần y hệt nhau; truyện Yên 15 (Tô Tần tự biện hộ) và truyện Yên 13 đều chép ngụ ngôn – hay cố sự - người vợ bé muốn cứu chồng mà bị chồng đánh nhưng truyện trên là lời Tô Tần, trong truyện dưới là lời Tô Đại.

Mặc dầu có những khuyết điểm đó, Chiến Quốc sách vẫn là một tác phẩm bất hủ. Tuy về phương diện chép truyện nhiều chỗ kém Sử ký của Tư Mã Thiên, về phương diện dùng ngụ ngôn, cố sự thường kém Nam Hoa kinh của Trang Tử, nhưng trong bốn năm trăm bài dài ngắn khác nhau đó, chúng ta có thể lựa được vài chục bài hoặc tự sự hoặc biện thuyết đáng coi là những viên ngọc quí nhất của cổ văn Trung Quốc, đến Sử ký và Nam Hoa kinh cũng không hơn được. Người đời sau thường nêu cuốn đó là mẫu mực về cổ văn cũng là phải.


*
* *

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: CHIẾN QUỐC SÁCH    

Về Đầu Trang Go down
 
CHIẾN QUỐC SÁCH
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang :: Các Đạo Khác :: Gương Xưa Tích Cũ-
Chuyển đến