Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang
Chào bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang!
Diễn Đàn là nơi giao lưu kết bạn, sưu tầm, lưu trữ, học hỏi và chia sẻ kiến thức.
Để cùng nhau tiến bộ trên con đường hướng thiện.
Chúc bạn sức khỏe và có nhiều thành công mới trong cuộc sống!

Om mani pad me hum
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang

Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho; một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tạo lấy.
 
Trang ChínhTrang Chính    CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Chào mừng các bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang! Chúc các bạn sức khỏe và thành đạt! Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang.

Share | 
 

 NHO LÂM NGOẠI SỬ

Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2
Tác giảThông điệp
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5965
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: NHO LÂM NGOẠI SỬ   Fri Apr 10, 2015 11:03 am

HỒI 12 - DANH SĨ ĐẠI YẾN HỒ OANH ĐẬU;
dương Chấp Trung nói với hai công tử:
- Thưa hai công tử, hai công tử thực là người yêu kẻ sĩ; nhưng những hạng người như tiểu đệ thì chở hàng xe không hết, kể đến làm gì! Tôi có một người bạn họ Quyền tên là Vật Dụng, tự là Tiềm Trai, người huyện Tiêu Sơn hiện nay ở trong núi. Nếu mời được người ấy đến đây nói chuyện với hai công tử, thì hai công tử sẽ thấy ông ta có tài kinh luân của Quản Trọng, Nhạc Nghị, có sức học của Trình Hiệu, Chu Hy(1). Quả thật là con người bậc nhất trong thời đại này!
Lâu Bổng kinh ngạc nói:
- Ông ta đã là người hiền tài như thế, tại sao chúng ta không đến thăm.
Lâu Toản nói:
- Chúng ta và Dương tiên sinh, ngày mai sao không thuê một chiếc thuyền cùng đi chơi?
Vừa nói đến đây, thấy người giữ cửa vào đưa một tờ thiếp đỏ nói:
- Có ông Ngụy mới bổ làm Nhai đạo sảnh đang đợi ở ngoài cửa, muốn vào thăm hai công tử. Ông ta có mang một bức thư của ông cả ở kinh và muốn gặp hai công tử để thưa chuyện.
Hai công tử quay lại nói với Cừ Dật Phu:
- Cháu hãy tiếp ông Dương, các cậu ra một lát rồi lại vào ngay.
Hai người bèn thay đổi y phục, ra ngoài nhà khách. Ngụy bước vào nhà khách, áo mũ chỉnh tề, sau khi chào xong, hai bên phân ngôi chủ khách cùng ngồi.
Hai công tử hỏi:
- Cụ ở kinh đi từ bao giờ? Chúng tôi chưa đến chúc mừng cụ mới đến nhận chức lại phải phiền cụ đến thăm chúng tôi!
- Không dám! Mồng ba tháng trước, tôi được lệnh ở kinh ra đi. Tôi có được gặp ông cả. Ông cả có đưa bức thư này cho hai công tử. Cho nên tôi đến đây để hầu thăm hai công tử! - Ngụy hai tay cầm bức thư đưa ra.
Lâu Bổng cầm bức thư mở ra xem rồi đưa cho Lâu Toản và nói với Ngụy:
- Thơ này nói về việc coi sóc phần mộ. Cụ định lo ngay việc ấy khi cụ mới đến nhậm chức sao?
- Vâng! Sáng nay tôi được lệnh quan trên bảo tôi phải làm ngay. Mấy hôm nữa, tôi sẽ đến đây thưa với hai công tử để biết lăng mộ của cụ. Thái Bảo rộng bao nhiêu. Khi nào tôi đến đấy làm lễ tôi sẽ bảo nhà chức trách ở địa phương xem xét cho kỹ, sợ bọn dân chúng không biết gì cứ đến đó chặt củi hay giẫm bừa lên trên. Tôi sẽ hiểu dụ cho chúng biết.
Lâu Toản nói:
- Cụ định đi ngay sao?
- Ba bốn ngày nữa, sau khi bẩm với quan trên, tôi sẽ đi.
Lâu Bổng nói:
- Nếu vậy chúng tôi mời cụ ngày mai đến đây ăn một bữa cơm. Khi nào cụ đi thăm lăng mộ cố nhiên chúng tôi cũng sẽ đi theo.
Uống ba chén trà xong, Ngụy vái chào hai ba lần rồi ra về.
Hai công tử tiễn ra cửa, thay quần áo và bước vào thư phòng, tần ngần nói:
- Toàn là những việc như vậy cả! Chúng mình định đến thăm Quyền tiên sinh thì cái ông kia lại đến.
- Ngày mai phải đãi ông ta một bữa cơm, rồi lại phải cùng ông ta đi thăm mộ Thái Bảo. Thế là phải hoãn việc đi Tiêu Sơn. Làm thế nào bây giờ?
Dương Chấp Trung nói:
- Hai vị thật là lòng mong người hiền như khát nước. Nếu hai vị nóng lòng muốn gặp Quyền tiên sinh như vậy, thì không cần thân hành đi làm gì. Hai vị viết một cái thư, tôi thêm vào đấy ít chữ. Hai vị cho một người nhà đem thư đến tận tay cho ông ta ở trong núi, mời ông ta đến phủ chơi thì ông ta sẽ nhận lời ngay.
Hai người nói:
- Tôi sợ Quyền tiên sinh cho chúng mình là người ngạo mạn.
Dương Chấp Trung nói:
- Ở phủ lắm công việc, không làm thế không được! Hết việc này lại đến việc khác. Không làm thế thì trong lòng cứ áy náy mãi không bao giờ thỏa nguyện hết.
Cừ Dật Phu nói:
- Phải đấy! Các cậu muốn đến gặp Quyền tiên sinh lại không bao giờ được rảnh. Chi bằng viết một bức thư sai người đem đến, lại có thư riêng của Dương tiên sinh thì chắc Quyền tiên sinh cũng không từ chối được!
Công việc bàn bạc xong. Họ chuẩn bị lễ vật sai người con của Tấn Tước là Hoạn Thành mang hành lý, thư, và lễ vật đến Tiêu Sơn. Hoạn Thành vâng lệnh chủ đáp thuyền đi Hàng Châu. Chủ thuyền thấy y hành lý chỉnh tề, dáng người nho nhã nên mời y vào trong khoang ngồi. Trong khoang đã có hai người đội mũ vuông ngồi đấy. Y chào họ và ngồi xuống. Ăn cơm chiều xong, mọi người trong thuyền trải hành lý ra ngủ. Hôm sau, trong thuyền không có việc gì, họ bắt đầu nói chuyện suông. Hoạn Thành nghe hai người khách nói tiếng Tiêu Sơn (khách ở trên thuyền hay trên đường đều gọi nhau là “ông khách”, bất kể người như thế nào) Hoạn Thành bèn nói:
- Này hai “ông khách”, hai ông có phải là người Tiêu Sơn không?
Một người khách có râu đáp:
- Phải, tôi người Tiêu Sơn.
Hoạn Thành nói:
- Ông có biết ai là ông Quyền ở Tiêu Sơn không?
Người khách trẻ tuổi nói:
- Ở Tiêu Sơn không có ai là ông Quyền cả!
Hoạn Thành nói:
- Nghe nói ông ta hiệu là Tiềm Trai.
Người trẻ tuổi nói:
- Ông Tiềm Trai nào? Trong đám học sinh chúng tôi không thấy có tên ai như thế cả!
Người có râu nói:
- Thế nào, có phải lão ấy không? Nếu như thế thì thật là buồn cười!
Và quay lại nói với người trẻ tuổi:
- Anh không biết chuyện hắn ta đâu. Để tôi nói cho mà nghe! Hắn ta sống trong núi. Tổ tiên đều là dân cày. Cha hắn ta làm ăn khấm khá cho nên cho hắn ta đến trường học. Hắn ta học đến năm mười bảy, mười tám. Ông thầy của hắn ta thật là một anh không có lương tâm vì ông đã đưa hắn đi thi. Sau đó cha hắn chết. Hắn không làm nên trò trống gì. Cày thì không biết, buôn cũng không hay. Miệng ăn núi lở, ruộng vườn đều bán sạch. Hắn ta theo đuổi thi cử suốt ba năm chẳng đỗ đạt gì. Ngay thi ở huyện cũng chẳng đỗ. Hắn ta nói năng chẳng có nghĩa lý gì hết. Hắn sống trong một cái miếu thổ địa, dạy dăm ba đứa trẻ con, mỗi năm lại lo việc thi cử. Như thế cũng đủ sống. Không ngờ hắn không gặp may. Vừa năm trước đây, hắn gặp một lão họ Dương, kế toán của một hiệu buôn muối ở Tân thị trấn đến đây đòi tiền. Lão trọ ở miếu. Lão này là một tay cuồng nho, suốt ngày huênh hoang nào thiên văn, địa lý, nào kinh bang tế thế đâu đâu(2). Hắn nghe lão Dương nói như người bị ma ám, dở điên dở cuồng. Từ đó không thi cử nữa muốn làm một “cao nhân ẩn sĩ”! Nhưng từ khi làm “cao nhân ẩn sĩ” rồi, thì học trò không đến nữa. Hắn không làm nên trò gì kiếm ăn, chỉ còn một cách lừa dối người ta mà sinh sống. Mở miệng ra là hắn nói: “Chúng ta là bạn thân thiết với nhau đừng nên phân biệt làm gì. Cái gì của anh là của tôi, cái gì của tôi là của anh”. Câu đó làm châm ngôn của hắn.
Người trẻ tuổi nói:
- Chắc hắn chả lừa được mấy người!
- Cái gì của hắn cũng nhờ lừa gạt mà có cả. Tôi với hắn là người cùng làng với nhau, tôi không muốn nói nhiều về hắn nữa.
Và quay về phía Hoạn Thành nói:
- Này ông khách, tại sao ông lại hỏi đến lão ấy?
Hoạn Thành nói:
- Có gì đâu, tôi hỏi chơi đấy thôi.
Nhưng nghĩ bụng rằng: ông Ba và ông Tư nhà ta là những người buồn cười. Bao nhiêu quan to, có tiếng tăm đến thăm, thế mà các ông vẫn cho là không có bạn. Ông ta lại bắt mình đi tìm một thằng cha lường gạt như thế này để làm gì? Đang lúc suy nghĩ như thế thì thấy một chiếc thuyền đi ngang qua trước mắt, trong thuyền có hai người con gái giống như là chị em Thái, Tần ở trong Lỗ phủ. Y giật mình thò đầu ra xem nhưng té ra không phải(3). Hai người khách kia cũng không nói gì với y nữa.
Vài hôm sau, Hoạn Thành sang thuyền khác đi Tiêu Sơn. Đi tìm nửa ngày trời thấy một cái thung lũng, trong thung lũng có một cái nhà cỏ. Ngoài cửa dán một tờ giấy trắng. Y gõ cửa bước vào. Quyền Vật Dụng đang mặc tang phục, đầu đội mũ vải trắng. Y hỏi Hoạn Thành đến đây có việc gì. Y mời Hoạn Thành vào một gian nhà ở đằng sau, để Hoạn Thành nằm trên một cái ổ rơm. Buổi chiều, Quyền mời Hoạn Thành uống rượu ăn cơm. Sáng sau, viết một bức thư đưa cho Hoạn Thành và nói:
- Tôi rất cảm tạ hai công tử, nhưng hiện nay tôi đang có tang, không thể ra khỏi nhà. Ông trở về nói với hai công tử và ông Dương rằng tôi đã nhận lễ. Độ hai mươi hôm nữa, qua trăm ngày bà cụ tôi, tôi xin đến phủ thăm hầu hai công tử. Ông quản gia! Tôi thực thất lễ với ông: ông hãy tạm cầm hai đồng cân bạc này để uống rượu.
Quyền đưa một gói bạc nhỏ cho Hoạn Thành. Hoạn Thành nhận lấy và nói:
- Cảm ơn ông, mong rằng ông sẽ đến phủ đúng hẹn, để các ông chủ của tôi khỏi chờ đợi!
Và tiễn Hoạn Thành ra cửa. Hoạn Thành lại thuê thuyền về Hồ Châu và mang thư của Quyền Vật Dụng về cho hai công tử. Hai người cứ tiếc mãi, bèn đặt tên một lầu rộng ở đằng sau thư phòng gọi là “Tiềm đình” treo một cái biển đề “Tiềm đình” để tỏ ý mình chờ đợi Quyền Tiềm Trai đến. Lại để Dương Chấp Trung ở một cái phòng sau đình. Dương Chấp Trung già mắc bệnh đờm, ban đêm phải có người săn sóc, cho nên đưa con thứ hai là Lão Lục lên ở đấy. Ngày hắn cũng say tuý luý không cần phải nói. Độ một tháng sau, Dương lại gửi cái thư khác để giục Quyền Vật Dụng lên phủ ngay. Nhận được thư của Dương, Quyền Vật Dụng thu xếp hành lý, đáp thuyền đi Hồ Châu. Thuyền cập bến ở ngoài thành. Quyền mình mặc áo tang, tay trái ôm cái chăn, tay phải vung vẩy tay áo thụng bước thấp bước cao ở ngoài đường. Khi đi qua cái cầu vào thành, cầu chật, y không biết rằng người ở trong thành đi ra thì đi phía bên trái, người ở ngoài thành đi vào thì đi bên phải, để cho tiện khỏi chạm nhau. Y cứ ngang nhiên xông bừa. Vừa lúc ấy, một người nhà quê bán củi ở trong thành đi ra. Đòn gánh nhọn hoắt vác bên vai. Quyền Vật Dụng va phải đòn gánh. Mũ của y mắc vào đấy. Người bán củi cứ xăm xăm bước đi không biết gì. Quyền giật mình sờ lên đầu thấy cái mũ đã biến mất. Nhìn thấy nó đang lơ lửng ở đầu đòn gánh, y hoa tay rối rít và kêu lên:
- Mũ của tôi! Mũ của tôi!
Người gánh củi kia nào có biết, cứ cắm cổ bước nhanh. Quyền vốn không quen đi đường phố, vội vàng ba chân bốn cẳng chạy theo. Mắt y lại không nhìn phía trước, cho nên chạy được một quãng thì va đầu vào một cái kiệu, suýt nữa va phải ông quan ngồi ở trên kiệu, làm ông ta suýt bắn ra ngoài. Ông quan giận lắm, hỏi y là ai, gọi người nhà trói y lại. Quyền vẫn không cho là mình trái, cứ vùng vằng hoa tay múa chân nói huyên thuyên. Ông quan bèn xuống kiệu hỏi. Bọn tôi tớ bắt Quyền quỳ xuống, nhưng y không chịu quỳ.
Lúc bấy giờ sáu bảy mươi người đến xúm lại xung quanh để xem. Ở trong đám đông có một người mặc áo chẽn xanh, đầu đội mũ võ sĩ, râu đỏ hoe, mắt to, bước đến nói với ông quan:
- Thưa ngài, xin ngài đừng giận! Vị này là một vị thượng khách ở Lâu phủ mới đến. Mặc dầu ông ta va phải ngài, nhưng nếu đối với ông ta như thế sợ không tiện với Lâu phủ.
Người ngồi trong kiệu chính là Ngụy làm Nhai Đạo Sảnh. Ngụy nghe nói thế, chỉ quở mắng qua loa rồi lên kiệu đi ngay. Quyền Vật Dụng thấy người kia là người quen biết cũ tên là Trương Thiết Tý. Trương Thiết Tý mời Quyền vào uống trà trong một tiệm trà để nghỉ một lát. Rồi Trương Thiết Tý nói:
- Hôm trước tôi đến lễ điếu cụ nhà, nghe người nhà ông nói rằng các công tử ở Lâu phủ có mời ông lại chơi. Hôm nay không hiểu tại sao thấy ông đi một mình ở trong thành va hết người này đến người khác như vậy?
Quyền Vật Dụng nói:
- Lâu công tử mời tôi đã lâu nhưng hôm nay tôi mới đến được. Không ngờ lại va phải một ông quan, cho nên xảy ra lắm chuyện. May có anh đến giúp tôi. Bây giờ chúng ta cùng đi đến Lâu Phủ.
Hai người cùng đến Lâu Phủ. Người giữ cửa ngạc nhiên thấy một chàng mặc quần áo tang không mũ đi với một người ra vẻ võ biền. Hai người cứ nói muốn gặp ông Ba, ông Tư. Khi hỏi đến họ tên, thì họ nhất quyết không chịu nói mà chỉ trả lời:
- Ông chủ anh đã biết cả rồi!
Người giữ cổng không dám vào bẩm, thì họ ở ngoài cửa kêu ầm lên. Làm náo động một hồi và nói:
- Mày vào bảo cụ Dương Chấp Trung ra đây!
Người giữ cổng không biết làm thế nào đành phải vào mời Dương Chấp Trung ra.
Dương Chấp Trung thấy Quyền Vật Dụng nông nỗi như thế này thì giật mình, cau mày, nói:
- Ông làm sao mà cả mũ cũng không có!
Dương bảo họ ngồi trên một cái ghế ngoài cửa đợi, còn mình chạy vào lấy một cái mũ cho Quyền Vật Dụng. Dương Chấp Trung hỏi:
- Ông này là ai?
Quyền Vật Dụng nói:
- Đó là ông Trương Thiết Tý mà tôi thường nói với ông.
Dương Chấp Trung nói:
- Tôi mong mỏi được gặp ông đã lâu.
Ba người cùng nhau bước vào. Họ kể cho Dương Chấp Trung nghe việc vừa xảy ra ở cửa thành. Dương Chấp Trung lắc đầu nói:
- Khi gặp các công tử, đừng nói việc này.
Hôm ấy hai công tử đều không ở nhà, hai người theo Dương Chấp Trung vào thư phòng rửa mặt, ăn cơm, có người chăm sóc chu đáo.
Buổi chiều, hai công tử đi ăn tiệc về, vào thư phòng, nói chuyện. Hai bên tỏ ý gặp nhau hơi muộn. Hai công tử chỉ cho Quyền Vật Dụng thấy Tiềm Đình để tỏ ý mình hâm mộ như thế nào. Lại thấy Quyền đem một vị hiệp khách đến, càng cho Quyền Vật Dụng cử chỉ khác những người thường, nên ra lệnh làm một bữa tiệc nữa. Quyền Vật Dụng ngồi đầu; Dương Chấp Trung, Trương Thiết Tý ngồi đối diện, hai công tử ngồi tiếp. Trong lúc ăn tiệc mới hỏi tại sao Trương có hiệu là Thiết Tý (cánh tay sắt) Trương Thiết Tý nói:
- Lúc còn trẻ, khoẻ mạnh, các bạn tôi có đánh cuộc với tôi, bảo tôi ra nằm giữa đường cái, dang hai tay ra. Cho một cái xe bò chở rất nặng, ít nhất cũng đến bốn năm nghìn cân, lăn qua cánh tay tôi. Tôi có bắp thịt lại gạt tay một cái. Bỗng nghe rầm một tiếc, cái xe lăn mấy mươi thước. Nhìn lên cánh tay tôi không có một dấu vết gì. Cho nên người ta mới đặt cho tôi cái hiệu ấy.
Lâu Bổng vỗ tay nói:
- Nghe chuyện này thì phải uống một đấu rượu mới được. Chúng ta thay chén tống mà uống đi!
Quyền Vật Dụng từ chối nói:
- Tôi có tang không dám uống rượu!
Dương Chấp Trung nói:
- Cổ nhân có câu: “Già thì không câu nệ về lễ, mắc bệnh thì không câu nệ về lễ”. Tôi thấy ông dùng các thức nhắm một cách tự nhiên(4) vậy uống một vài chén rượu mà không đến nỗi say thì cũng không can gì!
Quyền Vật Dụng nói:
- Ông nói như thế không đúng! Người xưa nói kiêng năm thứ: hành, tỏi, các thứ kích thích. Rượu thì cũng vào hạng ấy, tôi không thể nào uống được.
Lâu Toản nói:
- Cái đó cứ tự nhiên, không nên ép. Liền bảo rót trà thay rượu.
Trương Thiết Tý nói:
- Tôi thông thạo hầu hết các thứ võ nghệ. Tôi có thể sử dụng mười tám thứ võ khí không có ngựa, cũng như khi ngồi trên lưng ngựa. Tôi có thể dùng roi, dùng búa, đao, thương, kiếm, kích. Không có thứ võ khí nào là tôi không học. Hễ giữa đường gặp sự bất bình là tôi tuốt gươm ra giúp đỡ. Tôi rất thích đánh nhau với những người hảo hán trong thiên hạ. Khi tôi có tiền là tôi đem cho người nghèo. Cho nên mãi đến nay bốn bể không nhà. Hôm nay lưu lạc đến đất quý vị.
Lâu Toản nói:
- Như thế mới gọi là anh hùng!
Quyền Vật Dụng nói:
- Ông Trương vừa nói đến chuyện võ nghệ. Nghề múa kiếm của ông lại càng đặc biệt tài. Sao các vị không bảo ông ta múa mà xem!
Hai công tử rất mừng rỡ, sai người nhà lấy ra một thanh Tùng văn cổ kiếm đưa cho Trương Thiết Tý. Trương Thiết Tý tuốt kiếm dưới ánh đèn xem, thấy nó sáng quắc. Thiết Tý cởi áo ngoài, mang áo chẽn thắt lại đai, tay cầm bao kiếm bước ra sân. Mấy người khách cùng ùa ra theo. Hai công tử bảo:
- Khoan! Để thắp đèn lên đã.
Vừa nói một tiếng thì mười mấy người quản gia, đầy tớ, mỗi người cầm một ngọn nến sáng choang đứng thành hai hàng ở giữa sân.
Thiết Tý múa kiếm, lên, xuống, tả, hữu. Càng múa càng nhanh, múa theo nhiều kiểu. Khi múa nhanh không thấy người, chỉ thấy một cái gì lấp loáng, như những con rắn bạc bay ra bốn phía. Đồng thời một ngọn gió lạnh thổi làm mọi người rùng mình. Quyền lấy một thau nước, bảo một người nhà vẩy nước vào người Trương Thiết Tý. Nhưng không giọt nước nào bắn vào mình. Đột nhiên, Thiết Tý hiện ra một mình với thanh kiếm trong tay, mặt mày không hề đổi sắc. Mọi người đều thán phục. Họ uống rượu mãi đến canh tư tiệc mới tàn. Mấy người khách đều nghỉ lại thư phòng. Từ đấy, Quyền Vật Dụng và Trương Thiết Tý là những thượng khách ở trong Lâu phủ.
Một hôm, Lâu Bổng nói với họ:
- Vài hôm nữa, chúng tôi sẽ mở một ngày hội, mời các vị tân khách ra chơi hồ Oanh Đậu.
Bấy giờ trời đã ấm dần. Quyền Vật Dụng mang trên mình một cái áo vải to trắng, quá dày nên cảm thấy bức, muốn đem đi cầm lấy vài đồng cân bạc may một cái áo để làm vị thượng khách dự hội ở hồ Oanh Đậu. Bụng nghĩ như vậy nên giấu công tử nhờ Trương Thiết Tý đem đi cầm được năm trăm đồng tiền, giao cho Quyền Vật Dụng để ở dưới gối. Ban ngày Quyền Vật Dụng ra Tiềm Đình chơi, đến tối trở về phòng, sờ lên đầu giường tiền đã không cánh mà bay. Biết chắc việc này chính là do thằng con xuẩn ngốc của Dương Chấp Trung ăn cắp, y bèn đi thẳng ra cái phòng ở ngoài. Thấy Lão Lục đang ở đấy Quyền bèn nói:
- Lão Lục, tao muốn hỏi mày một việc!
Lão Lục đang say mềm nói:
- Bác gọi tôi để làm gì?
- Năm trăm đồng tiền của tao ở dưới gối, mày có thấy không?
- Có.
- Mày đem đi đâu rồi?
- Buổi chiều tối đem đi đánh bạc thua hết cả rồi. Chỉ còn lại mười đồng ở trong bao, tôi định dùng để mua rượu uống.
- Lão Lục! Tiền của tao mà máy dám đi đánh bạc à?
- Này bác! Tôi với bác cũng là một cả, “cái gì của tôi là của bác, cái gì của bác là của tôi” chứ gì!
Nói xong ôm đầu chạy.
Quyền giận lắm nhưng không dám nói gì, mắt cứ nhìn trừng trừng, tức nghẹn họng. Từ đó Quyền Vật Dụng và Dương Chấp Trung hai bên không hợp nhau. Quyền Vật Dụng cho Dương Chấp Trung là thằng ngốc. Dương Chấp Trung cho Quyền Vật Dụng là thằng điên(5). Lâu Bổng thấy Quyền Vật Dụng không có gì mặc, bèn lấy một cái áo màu lam biếu Quyền. Hai công tử mời các vị tân khách xuống hai cái thuyền lớn. Những người bếp sửa soạn bữa tiệc và những người hầu trà thì đi một cái thuyền khác. Cái thuyền thứ tư dành cho những người chơi nhạc và hát.
Bấy giờ vào khoảng giữa tháng tư. Trời sáng và ấm. Tất cả các vị tân khách đều mặc áo mát, tay cầm quạt. Mặc dầu không phải là một cuộc đại hội nhưng ở đây cũng đủ mặt mọi người. Có hai công tử Lâu Ngọc Đình, Lâu Sắt Đình, có Cừ Dật Phu, ẩn sĩ Ngưu Bố Y, có tư huấn Dương Chấp Trung, ẩn sĩ Quyền Vật Dụng, hiệp khách Trương Thiết Tý, thầy bói Trần Hòa Phủ. Có mời Lỗ Biên Tu nhưng không đến. Ngoài tám vị danh sĩ, tân khách, lại có thêm thằng ngốc con của Dương Chấp Trung là Dương Lão Lục, thành chín người tất cả. Ngưu Bố Y ngâm thơ, Trương Thiết Tý múa kiếm, Trần Hòa Phủ nói chuyện bông đùa, hai công tử ung dung phong nhã, Cừ Dật Phu đẹp trai phong lưu, Dương Chấp Trung dáng điệu như người xưa, Quyền Vật Dụng dáng người kỳ quái, thật là một cuộc họp vui vẻ. Cửa thuyền nhìn ra bốn phía có thể nghe tiếng âm nhạc ở hai bên vang lại từ những chiếc thuyền con trong khi chiếc thuyền lớn vẫn từ từ tiến đến hồ Oanh Đậu. Tiệc rượu đã bày ra. Mười người quản gia mặc áo rộng, đội mũ cao ở trước thuyền thay nhau rót rượu và rót trà. Món ăn tinh khiết, trà rượu thơm ngon không cần phải nói. Họ uống mãi đến khi trăng lên mới thôi. Trên những chiếc thuyền con ở hai bên, sáu, bảy mươi ngọn đèn chiếu sáng rực rỡ như ban ngày. Âm nhạc vang lên. Âm hưởng vang đi xa đến cách mười dặm vẫn còn nghe thấy. Những người đứng hai bên bờ xem đều cho là thần tiên, ai cũng thán phục. Họ chơi thuyền suốt đêm, sáng sau mới về.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5965
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: NHO LÂM NGOẠI SỬ   Fri Apr 10, 2015 7:55 pm

Khi Cừ Dật Phu trở về gặp Lỗ Biên Tu, Biên Tu nói:
- Các ông cậu của anh nên ở nhà đóng cửa, lo việc cử nghiệp để nối gia thanh còn hơn là chơi với những người như thế! Cái lối ngông nghênh như vậy thật là không nên.
Hôm sau Cừ Dật Phu đem chuyện ấy nói với hai cậu. Hai công tử cười phá lên mà rằng:
- Không ngờ rằng ông nhạc của anh lại là con người tục như thế.
Nói chưa dứt lời thì người giữ cổng vào bẩm:
- Cụ Lỗ được bổ làm Thị Độc, giấy báo ở kinh vừa về đến nơi. Hai ông nên đến chúc mừng!
Cừ Dật Phu nghe nói vậy, vội vàng chạy về để mừng ông nhạc.
Nhưng chiều hôm đó, Cừ Dật Phu sai một người nhà chạy đến bảo:
- Hỏng rồi! Cụ Lỗ tiếp được mệnh lệnh của triều đình. Trong lúc cả nhà đang vui mừng định đón tiếp không ngờ bệnh đờm của cụ lại phát. Bệnh nhập vào tạng, bất tỉnh nhân sự. Mời hai cậu qua thăm.
Hai công tử nghe vậy, không có thì giờ đợi kiệu nữa vội vàng sang thăm. Đến nơi bước vào cửa đã nghe tiếng khóc vang, biết rằng Lỗ Biên Tu đã chết(6). Mọi người thân thích đang bàn nhau lập người nào trong họ để làm thừa tự, sau đó lo việc tang lễ. Cừ Dật Phu làm trọn nghĩa vụ của chàng rể.
Bận rộn mất mấy hôm, lại có thư của Lâu Thông Chính gửi về nhà. Hai công tử đang ở thư phòng bàn việc viết thư trả lời gửi lên kinh. Hôm ấy là hôm hai mươi bốn, trăng chưa mọc, hai người ngồi dưới ánh đèn sáp đang bàn bạc. Qua canh hai đột nhiên trên mái ngói có tiếng động. Một người trên mái nhà nhảy xuống mang một cái bị, thân hình máu me đầm đìa. Dưới ánh đèn, hai người nhận ra là Trương Thiết Tý và giật mình kinh ngạc nói:
- Anh Trương! Anh làm gì mà nửa đêm vào phòng chúng tôi! Việc gì thế? Cái gì ở trong gói thế này?
Trương Thiết Tý nói:
- Xin hai vị ngồi yên tôi trình bày. Trong đời tôi có một người ân nhân và một kẻ thù. Tôi ôm mối thù đã mười năm nay nhưng không có dịp giết nó. Hôm nay tôi đã lấy được đầu nó ở đây. Trong cái bị da này là một cái đầu người! Nhưng người ân nhân của tôi lại ở xa ngoài mười dặm và tôi cần năm trăm lạng bạc để trả ơn cho ân nhân. Một khi đã trả ân ấy rồi, tâm hồn tôi sẽ nhẹ nhàng và tôi sẽ suốt đời đem thân hầu hạ người tri kỷ. Tôi biết rằng chỉ có hai công tử có thể giúp tôi, cho nên tối nay đánh bạo tới đây để được cứu giúp. Nếu không được, tôi xin đi xa và không bao giờ gặp nhau nữa.
Y cầm cái bị da giơ lên và định đi.
Hai công tử sợ mất hồn, mất vía, vội vàng ngăn lại nói:
- Anh Trương! Khoan đã! Làm gì mà vội thế! Năm trăm lạng là việc nhỏ, lo việc ấy làm gì! Nhưng còn cái bị này?
Trương Thiết Tý nói:
- Cái đó dễ lắm. Tôi chỉ dùng một chút kiếm thuật là tiêu hết dấu vết. Sau khi tôi đã giao năm trăm lạng bạc, chỉ trong hai canh nữa là tôi sẽ về, lấy cái vật ở trong bị da ra, bỏ vào đấy một ít thuốc là nó biến thành nước ngay, không còn một sợi tóc nữa. Hai vị cứ dọn một bữa tiệc mời tân khách đến cho đông, tôi sẽ làm việc đó cho mà xem.
Hai người nghe vậy rất làm kinh ngạc vội vàng vào trong nhà lấy ra năm trăm lạng bạc giao cho Trương Thiết Tý. Thiết Tý đặt bị da trên thềm, bỏ năm trăm lạng bạc vào người, cảm tạ một tiếng rồi nhảy lên mái ngói phi hành như bay. Chỉ nghe tiếng một miếng ngói vỡ, người biến đi mất. Đêm yên tĩnh, mặt trăng mới lên, chiếu ánh sáng vào trong thềm. Cái bị đựng đầu người bê bết những máu đang nằm ở đây.
Phen này khiến cho:
hào hoa công tử đóng cửa không hỏi đến thế tình;
danh sĩ, văn nhân, đổi nết tìm tòi văn cử nghiệp.
Muốn biết cái đầu ấy như thế nào hãy xem hồi sau phân giải.
(1) Quản Trọng nhà chính trị gia đời Xuân Thu, Nhạc Nghị viên tướng giỏi thời chiến quốc. Trình Hiệu và Chu Hy là hai triết gia đời Tống.
(2) Tác giả mượn Dương Chấp Trung và Quyền Vật Dụng để chế nhạo bạo cuồng nho chỉ ăn nói ba hoa, thực ra không có tài năng, chí khí gì ngoài cái thái độ ra về “ưu thời mẫn thế”.
(3) Câu này để chuẩn bị cho việc sẽ xảy ra ở hồi mười ba, khi Hoạn Thành đem Song Hồng đi trốn.
(4) Cách cư tang của Quyền Vật Dụng cũng là cách cư tang của Phạm Tiến.
(5) Vừa mới khen Vật Dụng có tài của Quản Trọng, Nhạc Nghị chỉ vì mấy đồng tiền mà Chấp Trung đã gọi là thằng điên.
(6) Lỗ Biên Tu chết khi được tin ra làm quan cũng như mẹ Phạm Tiến chết khi được tin con mình giàu có.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5965
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: NHO LÂM NGOẠI SỬ   Sun Apr 12, 2015 8:05 pm

HỒI 13 - CỪ DẬT PHU TÌM THẦY HỌC HỎI;
hai công tử họ Lâu đã cho Trương Thiết Tý năm trăm lạng bạc để Trương tạ ơn ân nhân. Trương ra đi để lại trong nhà cái bị da trong đấy có một cái đầu người. Mặc dầu họ là người nhà quan tể tướng không có việc gì phải lo sợ, nhưng khi thấy một cái đầu người đầy máu me ở ngoài thềm thì họ cũng không khỏi lo lắng. Lâu Toản nói với anh:
- Trương Thiết Tý là một tay hiệp khách, chắc chắn ông ta không thất tín với chúng ta đâu. Chúng ta không nên làm như thể tục. Chúng ta cứ dọn một bữa tiệc, mời tất cả các bạn thân nhất, đợi ông ta đến mở cái bị kia ra. Có phải dễ dàng gì mà ngày nào cũng thấy đầu người biến thành nước? Tại sao chúng ta không tổ chức làm một bữa “tiệc đầu người”?
Lâu Bổng nghe vậy bằng lòng? Trời vừa sáng, y ra lệnh dọn một bữa tiệc, mời Ngưu Bố Y, Trần Hòa Phủ, Cừ Dật Phu đến. Cố nhiên ba người khách ở trong nhà cũng được mời. Hai công tử nói:
- Đây là một bữa cơm xoàng!
Họ không nói vì sao lại mời ăn tiệc để cho những người khách kia ngạc nhiên hơn khi thấy Trương Thiết Tý trổ tài.
Mấy người khách đều đến và nói chuyện suông suốt ba bốn giờ. Nhưng mãi đến trưa vẫn không thấy Trương Thiết Tý trổ tài.
Lâu Bổng thì thầm với em:
- Việc này xem ra không hay rồi!
Bị da của ông ta vẫn còn đây. Nhất định thế nào ông ta cũng lại!
Họ đợi mãi đến chiều nhưng Trương vẫn không lại. Bữa tiệc đã dọn xong. Họ mời khách cùng ngồi vào ăn. Hôm ấy trời lại nóng, cái bị da bắt đầu bốc ra hơi thối. Hai công tử nóng ruột tự nghĩ:
- Nếu như hắn không đến thì còn cái đầu ở ngoài thềm làm sao bây giờ?
Đợi mãi đến chiều, hơi thối bốc ra. Các bà vợ ngửi thấy mùi thối không chịu nổi sai người đến nhờ hai công tử ra xem một chút. Hai người không biết làm thế nào, đành bảo mở bị ra nhìn thì chẳng thấy đầu người đâu cả. Chỉ thấy một cái đầu lợn nặng năm, sáu cân. Hai người nhìn nhau không nói một lời. Liền ra lệnh đem thủ lợn xuống bếp cho đầy tớ ăn. Hai người bàn nhỏ với nhau đừng đem việc này nói cho ai biết và trở lại tiếp khách như thường. Trong lòng đang buồn rầu thì có người giữ cổng vào bẩm:
- Có sai nhân huyện Ô Trình mang thiếp của quan huyện đến đây. Hắn lại mang thêm hai sai nhân ở huyện Tiêu Sơn đến muốn thưa chuyện với ông.
Lâu Bổng nói:
- Lạ thật! Có việc gì vậy?
Lâu Bổng để Lâu Toản ngồi tiếp khách, còn mình thì ra nhà khách, bảo đưa sai nhân vào. Người này đến vái chào và nói:
- Quan huyện chúng tôi có lời hỏi thăm ngài. Sai nhân đưa ra một tờ công văn. Lâu Bổng sai đem đèn nến đến. Tờ công văn viết:
Tri huyện Ngô, ở huyện Tiêu Sơn báo về việc bắt cóc. Theo lời của thầy tăng chùa Lan Nhược là Tuệ Viễn thì người ni cô trong chùa là Tâm Viễn đã bị một tên côn đồ là Quyền Vật Dụng quyến rũ và bắt về nhà. Trước khi việc lộ ra tên này đã chạy trốn đến quý huyện. Vì vậy, tôi gửi giấy này đến quý huyện xét và nhờ quý huyện giúp bọn sai nha của tôi để tìm xem tên phạm nhân hiện nay trốn ở đâu đặng bắt về huyện tôi xét xử. Việc gấp.
Lâu Bổng đọc xong. Người sai nhân nói:
- Quan huyện chúng tôi muốn bẩm với ngài rằng quan tôi biết tên ấy hiện nay đang ở trong quý phủ. Vì ngài không biết việc làm của hắn cho nên ngài cho hắn ở tại phủ. Quan tôi xin ngài giao hắn cho những người sai nhân hiện đang đợi ở ngoài cửa để giải hắn đi. Nếu hắn biết việc này thì sẽ bỏ trốn, khó lòng mà trả lời với quan huyện Tiêu Sơn.
Lâu Bổng nói:
- Ta biết rồi! Hãy đợi một chút.
Sai nhân vâng dạ bước ra đứng đợi ở ngoài cổng.
Lâu Bổng trong lòng hết sức buồn bực, gọi Lâu Toản và Dương Chấp Trung đến, đưa công văn và giấy của huyện đòi bắt Quyền Vật Dụng. Lâu Toản cũng không biết làm sao. Dương Chấp Trung nói:
- Ông Ba, ông Tư! Người xưa có câu: “Con ong đã vào ống tay áo thì phải cởi ra mà giũ nó đi”. Nay ông ta đã làm việc ấy thì dù hai công tử có che chở cũng không được. Tôi xin đến nói thẳng với ông ta và giao ông ta cho bọn sai nhân để ông ta lo liệu với họ.
Hai người không biết làm sao. Dương Chấp Trung bước vào thư phòng, nói sơ qua việc này với những người ăn tiệc. Quyền Vật Dụng đỏ mặt nói:
- Sự thật là sự thật! Giả dối là giả dối! Tôi cứ đi với họ, sợ cái quái gì?
Hai công tử tiễn Quyền ra cửa, vẫn đối xử như một thượng khách và tỏ ý bất bình về việc xảy ra. Sau khi uống hai chén rượu tiễn biệt và đưa cho Quyền hai gói bạc làm tiền đi đường, hai công tử tiễn y ra cổng, bảo một người nhà mang hành lý, rồi vái chào từ biệt. Sai nhân vừa thấy Quyền ra khỏi phủ, lập tức giữ chặt lấy và xích tay lại.
Sau hai việc này, hai người chán nản. Họ ra lệnh cho người giữ cửa hễ có người lạ đến thì bảo họ đã lên kinh rồi. Từ đó trở đi, họ đóng cửa, chỉ lo việc nhà(1).
o O o
Vài ngày sau, Cừ Dật Phu đến cáo từ hai cậu trở về, nói rằng thái thú mắc bệnh nên phải về Gia Hưng chăm sóc. Hai công tử nghe vậy cũng đều về Gia Hưng với Cừ Dật Phu. Nhưng về đến Gia Hưng thì thái thú đã mắc bệnh nặng lắm, xem chừng không sống nổi. Thái thú bảo Cừ Dật Phu nhờ hai cậu thu xếp để đưa Lỗ tiểu thư về nhà. Hai công tử viết thư sai một người đầy tớ gái đến bẩm với Lỗ phủ. Lỗ phu nhân không chịu nhưng tiểu thư hiểu đạo làm vợ nên xin phép mẹ về nhà chồng để chăm sóc thuốc thang. Bây giờ Thái Tần đã lấy chồng, chỉ còn Song Hồng cùng đi với tiểu thư, mang tất cả của hồi môn xuống thuyền. Khi đến nhà thì nghe tin thái thú đã chết và Cừ Dật Phu đã được lập làm thừa tự. Tiểu thư chăm sóc mẹ chồng và lo lắng việc nhà đâu vào đấu. Thân thích ai cũng khen ngợi. Hai công tử ở lại đến khi chôn cất xong mới trở về Hồ Châu.
Cừ Dật Phu chịu tang ba năm. Cừ nhận thấy hai ông cậu của mình suốt đời lo tìm kiếm người tài nhưng cuối cùng hoàn toàn thất vọng cho nên lòng hiếu danh của Cừ cũng do đó mà nguội lạnh. Y không in thơ để biếu ai nữa. Sau khi đoạn tang, con trai của Lỗ tiểu thư đã được bốn tuổi. Ngày nào tiểu thư cũng dạy cho đứa con học “Tứ thư” và “Văn bát cổ”. Cừ Dật Phu ở bên cạnh dạy bảo thêm. Cừ cũng nghĩ đến việc giao du với những người khoa cử ở Gia Hưng, nhưng tất cả những người này cho rằng Cừ là một nhà thơ có danh cho nên không đến gần. Cừ cũng cảm thấy buồn. Một hôm, Cừ đang đi chơi ngoài phố, thì thấy một hiệu sách ngoài cửa dán một tờ giấy đỏ, ở trên viết:
“Hiệu chúng tôi đã mời ông Mã Thuần Thượng người ở Xử Châu tuyển giúp những bài văn đi thi. Ai có những bài văn cho chúng tôi mượn xin làm ơn gửi đến hiệu sách Văn Hải Lâu ở đường phố chính, phủ Gia Hưng”.
Cừ nghĩ bụng:
- Ông này là một tay tuyển văn, tại sao ta không đến thăm một chút?
Bèn vội vàng về nhà, thay quần áo, viết một cái thiếp và đưa đến hiệu sách. Cừ hỏi:
- Ở đây có ông Mã không?
Người chủ hiệu sách nói:
- Ông Mã ở trên gác.
Và gọi lớn:
- Ông Mã! Có khách đến thăm.
Ở trên gác có tiếng đáp:
- Tôi sẽ xuống ngay!
Mã ở trên gác bước xuống. Cừ nhìn thấy Mã người cao tám thước, rất to lớn, đầu đội mũ vuông, mình mặc áo màu lam, chân đi giày đen đế trắng, da mặt đen xạm, râu thưa. Hai người vái chào nhau và mời nhau ngồi. Mã Thuần Thượng nhìn thấy tờ danh thiếp nói:
- Tôi đã thấy quý danh trong nhiều bài thơ. Tôi mong được gặp ông đã lâu.
Cừ Dật Phu nói:
- Hiện nay ông làm văn tuyển thật là một tay cự phách về văn chương. Tôi mong mỏi từ lâu. Tiếc không được gặp sớm hơn!
Người chủ hiệu sách mang trà vào. Cừ Dật Phu nói:
- Có phải ông thi đỗ ở Xử Châu không? Chắc ông đỗ cao lắm.
- Tôi thi đỗ ở Xử Châu, đã hai mươi bốn năm nay. Tôi được các quan chấm thi cho đỗ đầu sáu, bảy lần ở phủ, nhưng lên thi ở tỉnh mãi vẫn không đỗ.
- Đó chẳng qua là số phận. Chắc chắn lần sau ông sẽ đỗ khôi nguyên.
Nói chuyện một lát, Cừ cáo từ ra về. Mã Thuần Thượng hỏi chỗ ở của Cừ để ngày hôm sau đến thăm. Cừ về nói với vợ:
- Ngày mai có ông Mã Thuần Thượng đến chơi. Ông ta là một người thạo về văn chương cử nghiệp, phải chuẩn bị làm cơm cho ông ta ăn!
Tiểu thư vui vẻ chuẩn bị cơm nước. Sáng hôm sau Mã Thuần Thượng mặc áo, viết một cái danh thiếp rồi đến nhà Cừ Dật Phu. Cừ Dật Phu nói:
- Chúng ta không phải là hạng bạn bè tầm thường. Tâm hồn chúng ta gặp nhau từ lâu. Hôm nay ông đã hạ cố đến đây. Chắc ông cũng vui lòng ăn cơm với tôi. Tôi đã sửa soạn một bữa cơm thường, xin ông tha thứ cho việc thất lễ.
Mã Thuần Thượng rất mừng rõ. Cừ Dật Phu hỏi: - Khi ông chọn các bài văn thì ông theo những tiêu chuẩn gì?
- Theo lý pháp(2) là chính. Phong cách thì thay đổi luôn. Nhưng lý pháp thì vẫn không thay đổi gì. Thời Hồng Vũ và Vĩnh Lạc, theo phong cách khác, đến thời Thành Hoá và Hoằng Trị lại theo một phong cách khác. Nhưng nếu ta xem kỹ thì cách lý pháp vẫn là một. Nói chung không nên viết văn chương như văn chú thích. Nhưng viết như văn thơ phú lại càng phải tránh. Bởi vì viết như văn chú thích thì chỉ kém về hình thức mà thôi, còn nếu viết như thơ, phú thì trái với khẩu khí của thánh hiền. Cho nên lại càng phải tránh lối văn thơ, phú.
- Viết văn thì như thế, còn phê vào các bài văn thì như thế nào?
- Cũng như vậy cả! Hoàn toàn không có khẩu khí của thơ phú. Tôi đã đọc nhiều lời phê của các vị tiền bối. Khi nào lời văn có vẻ “phong hoa tuyết nguyệt”(3) làm cho người sau tưởng như là thơ, phú thì tức là có hại cho tâm thuật. Người xưa có câu rất hay:
“Lòng người viết văn cũng như con mắt vậy”. Con mắt người ta không thể có bụi bậm gì hết, dù bụi bậm ấy là ngọc hay là vàng cũng không được. Vì vậy khi nào tôi chú thích hay phê bình văn chương, tôi lấy tinh thần của Chu Hy ở trong “Ngữ Loại”, “Hoặc Vấn”. Tôi thường ngồi mãi đến nửa đêm không dám viết một câu. Tôi muốn người đọc một chương của tôi có thể hiểu được đạo lý của mười mấy chương khác. Như thế mới có ích. Khi nào làm tuyển tập xong tôi sẽ gửi một quyển đến nhờ ông chỉ giáo.
Hai người nói chuyện thì cơm đã dọn ra. Đó là một bữa cơm thường. Có một bát vịt hầm, một bát gà nấu, một con cá, một bát thịt lợn bung. Mã Thuần Thượng là người ăn khoẻ. Vừa giơ đũa vừa nói với Cừ Dật Phu:
- Chúng ta là những người bạn thân gặp nhau, không cần làm khách. Con cá này thì chưa cần ăn đến. Chúng ta hãy ăn bát thịt trước.
Mã liền ăn ngay bốn bát cơm và ăn hết sạch cả bát thịt. Ở trong nhà biết vậy lại đưa ra một bát khác. Mã cũng ăn hết cả thịt cả nước. Sau đó, người nhà dọn dẹp và bưng trà lên. Hai người bắt đầu nói chuyện. Mã nói:
- Ông tài năng như thế, lại là con nhà danh tiếng. Đáng lẽ ông phải thi đỗ đã lâu rồi. Tại sao vẫn cứ nằm một xó ở đây như thế?
Cừ Dật Phu nói:
- Vì phụ thân tôi mất sớm. Ông tôi nói tôi phải lo việc nhà. Cho nên không có thì giờ lo đến việc khoa cử.
Mã nói:
- Thế là sai! Hai chữ cử nghiệp là việc từ xưa đến nay ai cũng phải làm. Khổng Phu Tử sống vào thời Xuân Thu bấy giờ làm quan là căn cứ vào lời nói và việc làm tốt. Cho nên Khổng Tử nói: “Nói ít điều sai, làm ít điều phải thẹn, lộc là ở đó”. Đó là lối “cử nghiệp” ở thời Khổng Tử đấy. Đời chiến quốc lấy việc du thuyết để làm quan. Cho nên Mạnh Tử đi khắp Tề, Lương. Đó là lối “cử nghiệp” của thời Mạnh Tử. Đời Hán thi “Hiền lương phương chính” nhờ vậy Công Tôn Hoằng, Đổng Trọng Thư đều đỗ. “Hiền lương phương chính” là lối “cử nghiệp” đời Hán. Đời Đường, lấy thi phú để ra làm quan. Nếu có ai nói giỏi như Khổng Tử hay Mạnh Tử thì cũng chịu ngồi xó thôi. Cho nên những người đời Đường đều biết làm thơ. Đó là lối “cử nghiệp” đời Đường. Đời Tống, lấy “lý học” để chọn người làm quan cho nên Trình, Chu đều giảng lý học. Đó là lối “cử nghiệp” đời Tống. Đến bản triều lấy người thi đỗ làm quan bằng văn chương. Đó là cái cách tốt nhất. Nếu Khổng Phu Tử sống lại bây giờ thì ngài cũng phải làm văn chương theo kiểu cử nghiệp. Nhất định, không còn nói câu: “Nói ít sai lầm, làm ít điều phải thẹn”(4) nữa. Vì sao? Vì nếu ngài cứ lo “nói ít điều sai lầm, làm ít điều phải thẹn” thì ai cho ngài ra làm quan và cái đạo của Khổng Tử không thể thực hiện được(5).
Lời nói ấy làm cho Cừ Dật Phu như người trong mơ sực tỉnh. Cừ giữ Mã ở lại uống rượu, ăn cơm chiều và kết nghĩa bạn bè suốt đời. Mã cáo từ ra về. Từ đó họ thường đến chơi với nhau.
Hôm ấy, hai người nói chuyện với nhau ở hiệu sách Văn Hải Lâu, Cừ thấy mục lục quyển “Lịch khoa mặc quyển trì vân”(6) đã được khắc xong để trên bàn, ở dưới có một hàng chữ viết: “Do Mã Thuần Thượng ở Xử Châu chọn lọc và phê duyệt”. Cừ nói với Mã:
- Tôi muốn hỏi ông một việc. Không biết trên tên của ông có thể thêm tên của tôi được không? Như thế thì tôi cũng được thơm lây vì tôi cũng tham dự vào việc làm văn tuyển với ông.
Mã nghiêm sắc mặt nói:
- Cái đó không được. Viết cái tên ở ngoài bìa không phải là một chuyện dễ. Riêng tôi, tôi phải mất mấy mươi năm theo dõi khoa cử, đỗ đạt cao mới có một chút hư danh. Cho nên họ mới nhờ tôi làm. Cố nhiên, tên của ông có giá trị hơn là viết vào cái bìa sách này, nhưng chỉ một trong hai ta nên có tên ở đây mà thôi. Cái đó có lý do.
- Lý do như thế nào?
- Chẳng qua là hai chữ “danh, lợi” mà thôi! Tôi không chịu bỏ cái danh của tôi để mang tiếng chạy theo thế lợi. Nếu như viết tên ông đứng thứ hai, thì người ta nghĩ rằng: người xuất tiền ra khắc chính là ông. Còn tôi làm việc chỉ vì tiền. Trái lại, để tên ông đứng trước thì tất cả cái hư danh mấy lâu nay tôi có được chẳng qua là giả dối sao? Nếu ông ở địa vị tôi thì ông cũng cảm thấy như thế.
Trong lúc nói chuyện, cơm đã dọn lên. Đó là một bữa cơm thường, chỉ có một bát canh rau và hai đĩa rau. Mã nói:
- Tôi không dám mời ông ăn bữa cơm rau này! Tôi biết làm thế nào?
- Chẳng cần gì đâu! Tôi biết ông không quen ăn cơm rau nên đã mang theo ít tiền lại đây!
Nói xong đưa ra một lạng bạc bảo người con thứ hai của chủ hiệu sách đi mua thịt nấu. Ăn cơm xong, Cừ Dật Phu từ biệt.
Ở nhà mỗi ngày Cừ Dật Phu và tiểu thư dạy cho con mãi đến nửa đêm. Và nếu con không học thuộc bài, thì tiểu thư giữ lại cho đến sáng. Tiểu thư để Cừ Dật Phu đi ngủ trước, sai Song Hồng mang trà và nước đến hầu hạ. Song Hồng hầu hạ rất chăm chỉ, lại biết đọc thơ, thường thường đem thơ đến cho Cừ Dật Phu giảng hộ. Cừ Dật Phu thấy Song Hồng chăm chỉ cũng giảng thơ cho Song Hồng nghe. Cừ đem cái tráp cũ của Vương Huệ cho Song Hồng đựng đồ kim chỉ. Lại vô tình kể lại câu chuyện gặp Vương Huệ ngày trước cho Song Hồng nghe.
Không ngờ gã Hoạn Thành từ trước đã dan díu với Song Hồng. Y liều mạng chạy đến Gia Hưng mang Song Hồng đi. Cừ Dật Phu giận quá, báo với quan tri huyện ở Tú Thuỷ. Quan huyện viết công văn ra lệnh bắt giữ Song Hồng và Hoạn Thành ở nhà một người sai nhân. Hoạn Thành nhờ một người bạn đến xin Cừ Dật Phu đưa ra mấy mươi lạng bạc xin chuộc người đầy tờ gái đem về làm vợ. Nhưng Cừ không nghe. Nếu người sai nhân đem Hoạn Thành lên quan huyện thì y sẽ bị đánh một trận và Song Hồng bị giao lại cho gia đình họ Cừ. Vì vậy, Hoạn Thành phải đem tiền đút lót. Tiền hết, áo quần Hoạn Thành cũng phải đem cầm.
Buổi chiều hôm đó, ở trong nhà người sai nhân, Hoạn Thành và Song Hồng đang bàn nhau làm thế nào đem bán cái tráp lấy một ít tiền mua cái gì ăn. Song Hồng là một người đầy tớ gái, chưa hiểu gì về việc đời. Song Hồng nói:
- Cái tráp này trước là của một ông quan to. Chắc là nó đắt tiền. Nếu đem bán đi, lấy một ít tiền thì chẳng tốt hơn sao?
- Nó là của ông Cừ hay ông Lỗ.
- Đều không phải tất! Nó là của một ông quan to hơn cả Cừ thái thú nữa cơ! Tôi nghe ông chủ nói cái tráp này là của Vương thái thú, làm thái thú ở Nam Xương sau Cừ thái thú. Sau đó, ông Vương còn làm chức quan gì to lắm nữa, rồi đầu hàng Ninh Vương. Ninh Vương ngày đêm nghĩ đến chuyện giết Hoàng Đế. Không ngờ Hoàng Đế lại giết Ninh Vương và muốn giết luôn cả ông Vương. Ông Vương chạy đến Chiết Giang. Nghe nói Hoàng Đế vì một lẽ gì không rõ muốn lấy cái tráp này nên ông Vương không dám mang theo trong mình, sợ lộ tung tích. Ông Vương mới giao cho ông chủ. Ông chủ giữ nó ở nhà giao cho tôi đựng đồ kim chỉ, không biết tôi lại mang nó theo đây. Tôi cho rằng cái gì Hoàng Đế muốn lấy thì chắc là đắt tiền. Có phải không? Nếu anh nhìn vào trong tráp thì anh sẽ thấy chữ ông Vương viết ở đây.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5965
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: NHO LÂM NGOẠI SỬ   Mon Apr 13, 2015 8:07 pm

- Hoàng Đế cần cái tráp này để làm gì? Chắc là có lý do nào khác, chứ cái tráp này thì đáng mấy đồng!
Vừa lúc ấy, người sai nhân đứng bên ngoài nghe tất cả, chạy vào mắng:
- Mày thật là đồ ngu! Tiền nằm trong tay mà không biết dùng, cứ nằm đấy mà chịu tội!
Hoạn Thành nói:
- Thưa ông, tôi có tiền của gì đâu?
- Thật là đồ ngu! Nếu tao nói cho mày biết thì thật là may cho mày. Mày không những được vợ không mất một đồng tiền mà sẽ có mấy trăm lạng bạc nữa kia! Mày có chịu thết tao một bữa tiệc và chia cho tao một nửa tiền, tao mới nói cho mà nghe.
- Tôi mà có tiền thì tôi chia ngay cho ông một nửa, nhưng tôi không thể nào đãi ông được, trừ phi ngày mai tôi đem bán cái tráp đi.
- Bán tráp đi! Thì hết mẹ tiền rồi còn đâu nữa. Mày không có tiền thì tao cho mượn. Bữa tiệc chiều nay tao trả cho! Từ ngày mai trở đi, mày cần gì cứ nói với tao. Tao sẽ lo liệu giúp rồi sau này trả lại gấp đôi.
Lại nói tiếp:
- Thật là mày không làm nên trò trống gì hết!
Sai nhân liền đưa ngay ra hai trăm đồng tiền mua rượu, thịt cùng Hoạn Thành ngồi ăn. Hắn nói rằng cho Hoạn Thành mượn và lấy bút ghi vào sổ. Trong lúc ăn Hoạn Thành hỏi:
- Ông nói tôi biết lấy tiền ở đâu ra?
- Hôm nay chúng ta cứ uống rượu. Đến ngày mai sẽ bàn.
Tối hôm ấy chúng đánh bạc, uống rượu suốt đêm, tiêu hết cả hai trăm đồng tiền.
Hoạn Thành uống rượu say cùng ngủ với Song Hồng đến trưa vẫn chưa dậy. Tên sai nhân thì dậy từ sáng tinh mơ. Hắn đi tìm một tên sai nhân già nghề, kể tất cả mọi việc và hỏi:
- Việc này nên làm thế nào thì hơn. Có nên báo quan, hay chỉ nên giương cung mà không bắn để rồi tìm cách kiếm tiền.
Tên sai nhân kia nhổ toẹt một cái và nói:
- Thế cũng báo quan! Làm thế còn được xơ múi gì? Chi bằng bảo cho hắn biết. Hắn nhất định phải “xuỳ” tiền ra. Làm việc quan mấy mươi năm nay, không biết gì hết! Việc này mà lại báo với quan à! Báo cái mả tổ nhà mày!
Tên sai nhân bị mắng, vừa thẹn lại vừa mừng, vội vàng chạy về nhà. Hoạn Thành vẫn chưa dậy. Hắn liền chửi:
- Sướng nhỉ! Bây giờ vẫn còn ôm nhau như hai con chó ấy à? Dậy mau, tao nói cho mà nghe!
Hoạn Thành vội vàng dậy, đi ra cửa phòng. Tên sai nhân nói:
- Đi ra ngoài tao nói cho mà nghe!
Hai người dắt nhau ra ngoài đường, đến một chỗ vắng. Họ vào trong một tiệm trà. Tên sai nhân nói:
- Mày là một thằng ngốc! Mày chỉ biết có uống rượu, ngủ với gái; ngoài ra, chẳng còn biết gì nữa! Mày có một món bở mà không biết vồ lấy! Như thế khác nào vào trong cả một kho vàng mà ra tay không!
- Có việc gì xin ông làm ơn cho biết!
- Tao sẽ nói cho mày biết nhưng mày phải cảm ơn tao mới được!
Vừa lúc ấy, một người đi ngang qua chào tên sai nhân rồi đi thẳng. Tên sai nhân nhìn thấy hắn có vẻ lo lắng cho nên bảo Hoạn Thành ngồi đợi, còn mình thì chạy theo. Tên sai nhân nghe người kia lẩm bẩm:
- Nó đánh mình một trận nhưng không có thương tích gì. Ta lên quan kiện thì không kiện được. Ta phải làm ra bị thương thì mới có thể nhờ quan xét được!
Tên sai nhân im lặng, nhặt một viên gạch ném thẳng vào giữa đầu người kia làm vỡ một miếng lớn máu chảy đầm đìa. Người kia lảo đảo ngã, hỏi sai nhân:
- Ông làm gì thế?
Sai nhân nói:
- Mày vừa nói không có thương tích! Đấy! Thương tích đấy! Lại không phải do tay mày làm ra. Tao không sợ quan khám xét dâu! Mày cứ lên quan mà kiện.
Người kia cảm ơn sai nhân rồi đi. Hắn lấy máu xoa cả mặt mày đỏ ngầu rồi lên phủ kiện.
Hoạn Thành đứng ở ngoài cửa nhìn ra thấy việc đó, học được một bài học. Tên sai nhân trở lại ngồi, nói:
- Hôm qua nghe vợ anh nói cái tráp kia là của Vương thái thú. Bấy giờ Vương thái thú đầu hàng Ninh Vương và sau đó chạy trốn. Vì vậy Vương thái thú là một tên phản nghịch và cái tráp kia là một tang chứng rành rành. Nay ông Cừ là bạn của Vương, lại giấu đồ vật cho Vương. Nếu ta phát giác việc này ra, thì ông Cừ bị giết hay bị đày chứ còn làm gì được anh!
Hoạn Thành nghe vậy như người trong mơ sực tỉnh. Hoạn Thành nói:
- Tôi sẽ báo với quan việc ấy.
- Thằng ngốc! Chẳng làm được việc gì! Mày phát giác việc ấy ra thì gia đình ông ta bị giết sạch còn mày thì được cái gì? Mày không được một đồng tiền nào hết. Vả chăng mày với ông ta không có thù hằn gì nhau. Bây giờ ta cứ đưa một người đến doạ cho ông ta một mẻ bắt phải đưa cho mày vài trăm lạng bạc và mất không Song Hồng cho mày. Thế là tốt hơn cả.
- Ông thật là tốt quá! Tôi làm theo lời ông.
- Mày không nên gấp!
Trả tiền trà xong, hai người cùng đi ra. Tên sai nhân dặn dò:
- Khi nào về nhà mày chớ nói một câu gì với vợ mày về việc ấy hết!
Hoạn Thành vâng dạ. Sau đó, tên sai nhân đưa tiền cho Hoạn Thành ăn uống thỏa thích và Hoạn Thành sống rất hể hả.
Cừ Dật Phu đợi sai nhân đem Hoạn Thành lên quan nhưng vẫn thấy y dùng dằng mãi. Hôm nay thì nói ngày mai, ngày mai lại nói ngày kia, đến ngày kia lại nói ba, bốn ngày nữa... làm cho Cừ Dật Phu sốt cả ruột doạ đem việc ấy lên kiện quan. Bấy giờ sai nhân mới nói với Hoạn Thành:
- Lúc này có thể làm được rồi! Ông Cừ thường ngày có bạn bè gì với ai không?
- Tôi không biết.
Về nhà hỏi Song Hồng, Song Hồng nói:
- Ở Hồ Châu ông ta có nhiều bạn. Nhưng ở đây tôi không thấy ai. Tôi chỉ thấy có ông Mã ở ngoài hiệu sách hay đến chơi.
Hoạn Thành đem việc này nói lại với tên sai nhân. Tên sai nhân nói:
- Thế thì tốt lắm!
Bèn đi tìm một người lại nhờ viết một tờ giấy tố cáo bọn phản nghịch rồi mang đi. Hỏi thăm ông Mã khắp các hiệu sách trên đường phố cho đến khi đến hiệu Văn Hải Lâu. Mã thấy có người trong huyện muốn tìm mình không hiểu y đến có việc gì nhưng cũng mời lên gác nói chuyện. Tên sai nhân nói:
- Thưa ông! Ông có quen ông Cừ Dật Phu cháu cụ Cừ thái thú ở Nam Xương không?
- Ông ta là người bạn tốt nhất của tôi. Ông hỏi việc gì vậy?
Tên sai nhân nhìn quanh:
- Ở đây có ai không?
- Không.
Tên sai nhân kéo ghế lại gần, đưa ra tờ giấy cho Mã đọc và nói:
- Nhà ông ta có việc như thế này! Chúng tôi là người nhà quan muốn giữ phúc đức nên đến đây báo cho ông ta biết việc này để tiện lo liệu. Chúng tôi nỡ nào để mất lương tâm.
Mã đọc tờ giấy, mặt tái mét và hỏi thêm về những chi tiết. Mã nói với tên sai nhân:
- Việc này không thể nào báo quan được. Xin ông làm ơn giữ tờ giấy này cho đến khi ông Cừ trở về, ông ta vừa đi sửa mộ. Chúng ta đợi khi về hãy bàn.
Sai nhân nói:
- Hắn cứ muốn gửi đơn kiện ngay hôm nay. Việc này là một việc lớn, ai dám cản trở được.
Mã hoảng sợ nói:
- Làm thế nào bây giờ?
Tên sai nhân nói:
- Có lẽ nào một người thông thái như ông mà lại không biết việc ấy sao? Người xưa đã có câu “Tiền đưa ra việc nhà phải xong; lửa đưa ra lợn ta phải chín”. Cứ đưa ra một ít tiền mua cái tráp kia thế là xong.
Mã vỗ tay nói:
- Hay quá! Hay quá!
Liền khoá cửa kéo sai nhân đến một quán rượu. Mã ngồi ngôi chủ, bảo dọn một bữa cơm thật sang rồi cùng bàn bạc.
Nhân phen này khiến cho:
ở nơi đô ấp lại thêm mấy vị tuyển văn;
vào chốn cùng hương xuất hiện một người danh sĩ.
Muốn biết tên sai nhân đòi bao nhiêu tiền để chuộc cái tráp kia, hãy xem hồi sau phân giải.
(1) Tác giả dùng hình tượng hai công tử họ Lâu để tả hạng nhà nho ngông, con quan to lớn giao du với những người danh sĩ nhưng rốt cục chỉ vớ phải hạng nhà nho gàn, và những tên lường gạt. Hình ảnh Lâu Bổng đối lập với hình ảnh Đỗ Thiếu Khanh sau này.
(2) Cách lý luận theo lối Tống nho.
(3) Gió, hoa, tuyết, trăng bốn đề tài hay nhắc đến ở trong thơ.
(4) Khổng Tử câu “Ngôn quá vưu, hành quá hối, lộc tại kỳ trung hi” tức là nói ít điều sai, làm ít điều phải thẹn, tước lộc chính là ở đó.
(5) Đoạn này rất nổi tiếng, nó lột tất cả tư tưởng của Mã Thuần Thượng. Đặc biệt vì mê bát cổ quá nên Mã Thuần Thượng bê cả lối lý luận kiểu bát cổ để bênh vực văn bát cổ.
(6) Tuyển tập các bài văn trong các kỳ thi.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5965
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: NHO LÂM NGOẠI SỬ   Thu Apr 16, 2015 8:22 pm

HỒI 14 - CỪ DẬT PHU ĐƯA NGƯỜI BẠN CHỐN THƯ PHÒNG;
mã Thuần Thượng ngồi trong quán rượu bàn với tên sai nhân để chuộc cái tráp hộ Cừ Dật Phu. Sai nhân nói:
- Hắn cầm tờ giấy tố giác trong tay thực chẳng khác cầm văn tự đòi nợ. Ông đưa ít tiền đời nào hắn lại xuỳ cái của ấy ra? Ít nhất cũng phải hai, ba trăm lạng! Đó là tôi đã phải doạ dẫm nó mãi. Tôi phải nói với nó rằng: Nếu anh phát giác việc này, thì anh không được xơ múi gì hết. Anh lại còn phải mang đơn đi kiện hết quan này đến quan kia, từ quan nhỏ đến quan lớn. Anh thử nghĩ xem: Anh có đủ tiền làm cái việc ấy không? Tôi phải doạ nó mãi. Thế rồi, khi nó nghe có tiền, nó lại nóng ruột nóng gan, muốn có tiền ngay mới chịu. Tôi đến đây vì lòng tốt nên mới nói cho ông biết câu chuyện ấy. Thực ra, tôi cũng lo lắng như ông. Tính tôi muốn vô sự, “trong ấm ngoài êm”. Nhưng làm việc gì thì cũng phải làm cho nó chu đáo, “đánh trúng đầu rắn, bắn trúng đầu chim”. Ông nghĩ xem?
Mã lắc đầu nói:
- Hai ba trăm lạng thì không thể được! Đành rằng hiện nay, ông Cừ Dật Phu không ở nhà, vì vậy tôi phải lo liệu giúp. Nhưng dù có ở đây nữa, thì cũng chịu. Ông cụ cố tuy có làm quan thật đấy, nhưng ngày nay nhà cửa đã sa sút, làm thế nào trong một lúc mà có được bấy nhiêu tiền?
- Đã thế thì thôi! Ông ta đã không có tiền, lại không ở đây thì chúng ta cũng không nên kéo dài việc này làm gì? Tôi sẽ giao đơn kiện cho Hoạn Thành. Còn hắn làm gì thì kệ xác hắn!
- Sao lại làm thế! Ông với tôi là chỗ quen biết, chứ tôi và ông Cừ là chỗ thâm giao. Nay nhìn thấy ông ta có việc mà lại không lo liệu cho thì còn đâu là bạn hữu nữa. Như vậy, tôi phải cố hết sức giúp ông ta.
- Thế cũng được! Ông đã muốn giúp thì tôi cũng giúp ông một tay.
- Chúng ta đã bàn bạc nhiều về điều này rồi! Thực ra, chẳng giấu gì ông, tôi làm văn tuyển ở đây mấy tháng người ta mới trả công cho tôi được mấy lạng bạc. Tôi còn phải giữ một ít để dùng, phòng khi có việc gì cần đến. Nhờ ông nói hộ với ông Hoạn Thành rằng tôi sẽ đem đến cho ông ta hai, ba mươi lạng, xin ông ta nhận tạm để cởi cái điều oan trái này.
Sai nhân nổi giận nói:
- Thật là đúng như lời nói của người xưa: “Giá thì cao tầy trời mà tiền thì thấp như đất”. Tôi nói hai, ba trăm lạng mà ông lại nói hai, ba chục lạng! Tôi không muốn như người ta “gãi ở ngoài giày đâu”. Thảo nào mà người ta nói mấy anh chỉ biết có “Thi vân” “Tử viết”(1) không bàn cãi gì hết! Thật là rán sành có bao giờ ra mỡ được đâu! Đã vậy thì thôi! Tôi cũng bận nhiều việc, không đến đây gây chuyện làm gì!(2)
Hắn nói xong, đứng dậy cáo từ ra về. Mã vội vàng giữ lại.
- Mời ông ngồi bàn một chút đã! Đi đâu mà vội thế? Ông tưởng tôi nói dối ông sao? Quả thực ông Cừ không ở nhà! Không phải là tôi nghe phong thanh việc này rồi tôi giấu ông ta để bàn chuyện giá cả với ông đâu. Vả chăng, ông là người ở đây thì ông cũng biết ông Cừ là người như thế nào. Ông ta là người không hào phóng lắm. Số tiền này không biết bao giờ ông ta trả lại. Nhưng nếu việc này xảy ra, thì sau đây tôi có hối hận cũng không kịp nữa. Tóm lại, tôi với ông đều là những người ngoài cuộc. Tôi mắc vào việc này cũng là không may cho tôi. Còn ông thì cũng phải giúp tôi một tay. Một người đưa tiền một người góp sức, như thế là chúng ta được một việc phúc lớn. Hai chúng ta nếu còn giữ kẽ nhau, thì không thể xong việc được.
- Ông Mã! Riêng tôi, tôi không cần biết là ông bỏ tiền ra hay ông Cừ bỏ tiền ra, bởi vì các ông đều là chỗ bạn bè thân thiết với nhau. Nếu ông muốn tôi giúp đỡ thì xin nói thẳng một câu. Tôi cứ xin nói toạc móng heo ra: Việc này mấy chục lạng bạc thì chẳng bõ bèn gì hết! Tôi xin nói thẳng: Không có ba trăm lạng bạc thì ít nhất cũng phải hai trăm lạng rồi mới nói chuyện với nhau được. Tôi không muốn khó dễ với ông, nhưng mấy chục lạng của ông thì không bõ bèn gì hết.
Mã thấy rõ ràng hắn muốn kiếm chác, trong lòng rất lo lắng:
- Này ông! Tiền công của tôi tóm lại thật chỉ có một trăm lạng bạc. Tôi đã dùng mất mấy lạng lại còn phải giữ một ít để làm tiền lộ phí đi Hàng Châu. Góp nhặt tất cả, móc cả túi áo chỉ còn chín mơi hai lạng, nếu ông không tin, xin cứ khám hành lý, rương, hòm, còn một đồng tiền nào nữa thì thật tôi không làm người, nếu ông không giúp được thì tôi cũng không biết làm thế nào và ông Cừ cũng đành oán trách số mệnh mình mà thôi.
- Nếu ông đã có lòng tốt với bạn như thế có lẽ nào lòng người sai nhân như chúng tôi lại không phải là lòng người? Nếu nước non còn có phen hội ngộ thì con người cũng phải giúp đỡ nhau chứ! Chỉ vì cái thằng chết tiệt kia nó đòi một số tiền quá cao biết làm sao bây giờ! Không biết nó có nghe cho không?
Rồi hắn im lặng một lát ra vẻ suy nghĩ và nói:
- Tôi đã có chú ý. Thật đúng như lời người xưa: “Mấy ông đồ nho thì phải có giấy trắng mực đen mới được”. Hiện nay, hắn đã quyến rũ người a hoàn đi rồi, lại xảy ra việc này thì ông Cừ cũng chẳng có cách nào đòi a hoàn về được. Chi bằng bây giờ ta viết một tờ giấy chứng nhận rằng Hoạn Thành đã đưa cho ông Cừ một trăm lạng bạc, cộng với chín mươi hai lạng của ông nữa là gần hai trăm lạng. Với hai trăm lạng trên giấy tờ mà không có trong thực tế như thế là có thể dán cái miệng hắn lại. Ông nghĩ thế nào?
- Như thế thì được, nhờ ông giúp cho một chút! Còn về việc giấy tờ thì không khó khăn. Tôi sẽ lo liệu.
Thế là công việc bàn định xong. Sau khi đã trả tiền ăn, Mã trở về nhà. Tên sai nhân cũng giả vờ về nhà để gặp Hoạn Thành. Hắn đi độ nửa ngày mới trở lại Văn Hải Lâu. Mã dẫn hắn lên lầu. Hắn nói:
- Việc này thật là hao hơi tốn sức. Thằng kia cứ nằng nặc bảo tôi đòi cho được một ngàn hay tám trăm lạng bạc. Nó nói rằng gia tài ông Cừ có bao nhiêu thì phải đưa hết tất cả cho hắn. Tôi giận quá phải doạ đem hắn lên quan. Tôi nói: Trước tiên, phải xét xem cái tội mày quyến rũ con gái người ta. Chúng tao phải báo việc này lên quan và bắt mày bỏ tù đã. Rồi sau đó, mới xét việc mày kiện cáo người ta. Điều đó làm cho hắn hoảng sợ, phải chịu nghe lời tôi. Tôi đã đem cái tráp đến đây. Hiện nay nó ở dưới lầu, ông mau mau viết tờ hôn thú đem tiền ra trang trải cho xong. Còn tôi sẽ làm tờ bẩm với quan thế là xong cái việc này. Như thế để cho thằng ấy nó đi cho rảnh không còn sinh sự gì được nữa.
Mã nói: - Ông làm như thế là phải lắm. Tôi đã viết tờ hôn thú rồi.
Mã đưa tờ hôn thú và số tiền cho tên sai nhân. Sau khi tính số tiền, thấy đúng chín mươi hai lạng. Tên sai nhân lấy cái tráp ở dưới nhà giao cho Mã và cầm tờ hôn thú ra về.
Khi hắn về đến nhà, việc làm đầu tiên của hắn là giấu tờ hôn thú đi và viết một tờ kê số tiền Hoạn Thành đã mượn cùng với tiền ăn, tiền ở, v.v... Tất cả là trên bảy mươi lạng. Còn lại mấy lạng giao cho Hoạn Thành. Hoạn Thành cho là ít. Hắn mắng ngay:
- Mày quyến rũ con gái người ta, phạm vào phép quan! Tao không che chở cho mày thì quan huyện đã đánh gẫy cẳng mày đi rồi. Đồ chó! Tao kiếm cho mày một con vợ không mất một đồng tiền nào lại kiếm cho mày bao nhiêu tiền. Mày đã không cám ơn tao thì thôi lại còn đòi tiền của tao à! Mày có muốn tao đưa mày lên quan huyện để quan huyện đánh cho mày vài chục gậy về tội quyến rũ con gái nhà họ Cừ, xem mày có chịu được không?
Hoạn Thành bị mắng, mở miệng không được, vội vàng lấy số tiền cám ơn rối rít, mang Song Hồng đến một châu khác kiếm kế sinh nhai.
Cừ Dật Phu đi sửa phần mộ về, đang muốn đến nói với tên sai nhân để giục hắn bẩm với quan về việc Hoạn Thành thì thấy Mã Thuần Thượng đến. Cừ mời vào thư phòng. Mã hỏi chuyện mồ mả rồi dần dần đem câu chuyện kia ra nói. Lúc đầu, Cừ còn trả lời hàm hồ. Mã nói:
- Anh còn giấu tôi việc ấy làm gì nữa Hiện nay cái tráp ấy ở trong phòng của tôi.
Cừ nghe vậy mặt đỏ như gấc. Mã đem chuyện tên sai nhân kể lại một lượt. Mã kể chuyện hai bên bàn bạc với nhau như thế nào và mình phải trả chín mươi hai lạng để chuộc cái tráp như thế nào:
- May quá, công việc như thế là xong xuôi. Còn về việc tiền nong thì tôi tiêu tiền vì tình bạn, cố nhiên tôi không muốn nghe đến việc anh trả cho tôi. Nhưng tôi cũng phải nói cho anh biết việc đó để ngày mai anh sai người đem cái tráp về hoặc chẻ nó đi, hoặc là đem đốt đi. Không nên giữ nó nữa sợ sau này lôi thôi.
Cừ nghe vậy hoảng sợ vô cùng. Vội vàng đặt một cái ghế ở ngay giữa thư phòng, bắt Mã ngồi lên để cho mình lạy bốn lạy. Cừ mời Mã ngồi đấy rồi chạy vào nhà nói với vợ về những việc đã xảy ra. Cừ nói:
- Ông Mã thật là một người văn nhân và một người bạn chí tình! Con người chí khí làm sao, can đảm làm sao! Ta thật may mắn mới có một người bạn chính nhân quân tử như thế. Các ông cậu của ta ở Lâu phủ kết bạn với nhiều người, phần lớn đều là hàng tiểu nhân, cuối cùng đều không ra gì. Nếu các cậu ta nghe chuyện này thì có thể chết thẹn được!
Tiểu thư nghe vậy cũng rất lấy làm cảm kích, sửa soạn cơm rượu mời Mã ăn, sai người đi lấy cái tráp về và huỷ nó đi(3).
Hôm sau Mã từ biệt Cừ để đi Hàng Châu. Cừ nói:
- Chúng ta mới gặp nhau, bây giờ đã chia tay rồi. Sao mà vội thế?
- Tôi vốn là người soạn sách ở Hàng Châu. Người chủ hiệu Văn Hải Lâu mời tôi lên đây soạn bộ sách. Nay đã xong, bây giờ tôi không có việc gì ở đây nữa.
- Nếu công việc soạn sách xong, sao ông không đến nhà tôi ở để tôi có thể sớm chiều nghe lời dạy bảo?
- Bây giờ không phải là lúc nuôi khách nữa. Vả chăng, những hiệu sách ở Hàng Châu đang đợi tôi về đấy để soạn sách. Tôi còn có mấy việc chưa làm xong, không biết làm thế nào, đành phải đi thôi. Khi rảnh thì thế nào ông cũng phải đến Tây Hồ chơi. Ở Tây Hồ nước non thật là đẹp! Ông tha hồ tìm thi tứ mà làm thơ.
Biết là không thể giữ Mã ở lại, Cừ muốn mời ở lại ăn bữa tiệc tiễn hành, nhưng Mã từ chối:
- Tôi còn phải đi từ biệt mấy người bạn nữa. Mã ra về, Cừ tiễn ra cửa. Hôm sau, Cừ gói hai lạng bạc với một ít thịt kho và nem thân hành đến Văn Hải Lâu để tiễn và xin về hai bộ văn tuyển mới in.
Mã xuống thuyền đến bên Đoạn Hà hỏi đường đi đến hiệu sách Văn Hãn Lâu. Hiệu này cũng thuộc một người chủ với hiệu Văn Hải Lâu. Mã đến đấy ở mấy ngày nhưng không thấy có bài văn bát cổ nào để làm văn tuyển bèn mang theo một ít tiền đi chơi Tây Hồ.
Tây Hồ là một nơi phong cành đẹp nhất trong thiên hạ. Không cần nói đến chùa Linh Ẩn thanh u, chùa Thiên Trúc xinh đẹp, chỉ cần đi qua cửa Tiền Đường đến chùa Thánh Nhân Tự bước lên đê Tô Đông Pha, ở giữa là bến Kim Sa, đi quanh một quãng thì nhìn thấy tháp Lôi Phong, đến chùa Tĩnh Từ, đi thêm mười dặm nữa thì quang cảnh thực là hoa lệ. Rõ là năm bước một lầu, mười bước một cái gác, lầu hồng gác tía xen lẫn với giậu trúc, mái tranh. Nơi này đào liễu xen nhau đua thắm, nơi kia dâu, gai san sát đầy đồng. Bảng các cửa hiệu bán rượu rung rinh, trong các tiệm trà than hồng đỏ rực. Con trai, con gái, khách đi chơi kéo nhau đi lũ lượt, thật là: “Khắp nơi tiệm rượu, khắp chốn cầm ca”.
Mã một mình mang một ít tiền đi bộ ra khỏi cửa Tiền Đường vào một quán trà để uống trà. Đến Tây Hồ, Mã lên một cái lầu ngồi nhìn những chiếc thuyền chở phụ nữ ở thôn quê đi hành hương. Những người này đều chải tóc cao, có người mặc áo màu lam, cũng có người mặc quần áo màu lục. Những người trẻ tuổi thì mặc áo lụa đỏ. Có những người đẹp, mặt mày trắng trẻo, hai gò má cao. Cũng có những người gầy gò mắc bệnh hủi, bệnh đậu mùa, bệnh lở. Chỉ trong một chốc đã có năm sáu chiếc thuyền đi qua. Theo sau những người đàn bà là chồng mang ô, tay cầm gói quần áo bước lên bờ, đi vào trong các miếu để làm lễ. Mã nhìn một lượt không thấy thú vị gì bèn đứng dậy, đi thêm một dặm nữa, nhìn ra ven hồ thấy quán rượu san sát, ngoài cửa treo thịt dê rất béo. Ở trên các mâm, ở trong các tủ hàng đầy cả hải sâm, vịt nấu với rượu, cá tươi, vằn thắn và những bánh hấp to tướng đang bốc hơi nghi ngút. Mã không đủ tiền mua tất cả những thứ này. Mà thèm chảy nước dãi đành phải vào một hiệu bán mì ăn một bát mì mười sáu đồng tiền. Vẫn chưa no, Mã đi vào một hiệu trà uống thêm một chén trà, vào một cái hàng bên cạnh mua hai đồng măng khô để nhai, lấy thế làm thú vị. Ăn xong, Mã đi ra, nhìn thấy hai chiếc thuyền buộc dưới bóng liễu ở bên bờ. Trên thuyền đàn bà đang thay áo. Một người cởi cái áo màu huyền để mặc cái áo màu xanh. Một người cởi cái áo màu da trời để mặc cái áo màu ngọc thạch. Một người khác có vẻ đứng tuổi cởi cái áo màu lam để mặc cái áo màu da trời thêu kim tuyến. Mấy người đầy tớ gái đi theo cũng đều thay áo. Ba người bước lên, theo sau mỗi người là một người đầy tớ gái tay cầm cái quạt để che ánh mặt trời. Họ ung dung bước lên bờ. Những viên ngọc ở trên đầu lấp lánh dưới ánh mặt trời, những viên ngọc ở tà áo chạm nhau kêu lanh tanh. Mã rảo bước, đầu không dám ngẩng lên nhìn(4). Mã đi qua sáu cái cầu và đi vòng quanh một cái vũng, đến một nơi có vẻ thôn dã, ở đấy người ta xếp các quan tài thành một dãy dài đi một hai dặm chưa hết. Mã cảm thấy chán ngấy muốn trở về, thì gặp một người, Mã nói:
- Đằng trước có cái gì đẹp không?
- Đi quanh một đoạn là chùa Tĩnh Từ, tháp Lôi Phong đẹp lắm chứ!
Mã lại đi đến phía trước. Đi được nửa dặm thấy một cái lầu nổi lên trên mặt nước. Có một cái cầu bằng ván bắc sang. Mã qua cầu. Ở ngoài có một tiệm trà. Mã vào đấy uống một chén trà. Cửa đi vào lầu khoá chặt. Mã muốn vào xem thì người giữ cửa đòi tiền. Cửa mở, Mã bước vào, thấy ba cái lầu lớn, trên lầu có chữ do chính tay Nhân Tôn hoàng đế viết. Mã giật mình đánh thót một cái, vội vàng sửa áo mũ ngay ngắn, lấy cái quạt giắt ở dưới giày lên làm cái hốt và cung cung kính kính lạy năm lạy, đúng như một ông quan lạy nhà vua(5). Lạy xong, Mã định thần, quay lại tiệm trà ngồi. Bên cạnh là một vườn hoa, người bán trà nói chuyện rằng quan Bố chánh đang tiếp khách ở đấy nên không được vào. Bếp đặt ở bên ngoài. Mã đứng ở bên ngoài nhìn vào thấy yến sào, hải sâm bưng lên tới tấp. Mã tán thưởng một hồi rồi đi ra, đi qua tháp Lôi Phong, xa xa nhìn thấy nhiều ngôi nhà cái cao cái thấp, lợp bằng ngói lưu ly quanh co uốn khúc với những cái lan can đỏ rực. Mã đi nhanh đến một cái cửa rất cao ở trên núi, trên có một tấm biển đề mấy chữ vàng: “Sắc tứ Tĩnh từ tự”(6). Bên cạnh cái cửa lớn là một cái cửa nhỏ, Mã bước vào thấy ngôi chùa rộng rãi, một cái sân rộng gạch láng như nước. Mã đi qua cửa thứ hai thì đến hai cái hành lang gồm mấy chục bậc tam cấp thật cao. Con gái nhà giàu có và sang trọng đang kéo nhau đến tấp nập thành từng đàn từng lũ ra ra vào vào không ngớt. Họ đều mặc áo thêu, áo gấm, trận gió đưa lại, mùi hương thơm nức đến ngạt mũi. Mã vốn người đã cao, lại đội mũ vuông cao, da mặt đen xạm, bụng thì to, chân đi đôi giày cũ đế dày, mình mặc bộ áo quần đã cũ, đụng hết người này đến người khác. Nhưng những người con gái cũng không để ý gì đến và Mã cũng không để ý nhìn họ. Đi quanh một vòng, Mã lại trở lại ngồi trong một tiệm trà. Trước tiệm treo một cái biển viết hai chữ vàng “Nam Bình” (Bình phong phía Nam). Mã ngồi đấy uống một chén trà. Ở trên quầy hàng, có nhiều đĩa mứt cam, kẹo vừng, bánh, táo, hạt dẻ nướng. Mã mua mỗi thứ vài đồng, ăn không kể gì đến mùi vị. Ăn xong, thấy no. Trong người cũng cảm thấy mệt, Mã đi thẳng đến cửa Thanh Ba về nhà đóng cửa làm một giấc. Vì đi đường xa nên ngủ một mạch cho đến sáng.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: NHO LÂM NGOẠI SỬ   

Về Đầu Trang Go down
 
NHO LÂM NGOẠI SỬ
Về Đầu Trang 
Trang 2 trong tổng số 2 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang :: Các Đạo Khác :: Gương Xưa Tích Cũ-
Chuyển đến