Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang
Chào bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang!
Diễn Đàn là nơi giao lưu kết bạn, sưu tầm, lưu trữ, học hỏi và chia sẻ kiến thức.
Để cùng nhau tiến bộ trên con đường hướng thiện.
Chúc bạn sức khỏe và có nhiều thành công mới trong cuộc sống!

Om mani pad me hum
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang

Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho; một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tạo lấy.
 
Trang ChínhTrang Chính    CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Chào mừng các bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang! Chúc các bạn sức khỏe và thành đạt! Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang.

Share | 
 

 Lịch sử hình thành Chùa Hương.

Go down 
Tác giảThông điệp
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Lịch sử hình thành Chùa Hương.   Tue Mar 03, 2015 11:02 am


Chùa Hương gắn liền với tín ngưỡng dân gian thờ Bà Chúa Ba. Theo truyền thuyết thì ở vùng “Linh sơn phúc địa này “ vào thế kỷ đầu tiên đã có công chúa Diệu Thiện tục gọi là chúa Ba ứng thân của Bồ Tát Quán Thế Âm đã vào tu hành 9 năm đắc đạo thành phật đi cứu độ chúng sinh. ( Ngày Phật Đản là ngày 19 tháng Hai hàng năm theo Âm lịch ). Đây cũng là giữa mùa xuân, mùa của trăm hoa đua nở, cây cỏ xanh tươi khí trời mát mẻ.
Người xưa có câu “ Xuân du phương thảo địa “. Mùa xuân đến nơi đất có hoa cỏ đẹp. Hoặc quan niệm “tháng Giêng là tháng ăn chơi”, nên các tao nhân mặc khách thường lui tới những nơi có danh thắng đẹp thưởng ngoạn, chính vì thế Chùa Hương là nơi hội tụ của bao người.

Vào tháng 3 năm Canh Dần (1770) Chúa Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm tuần du Trấn Sơn Nam với cả quân dưới trướng. Nhà Chúa đã vào động Hương Tích thắp hương vãn cảnh và đề lên vách đá cửa động năm chữ “Nam Thiên Đệ Nhất Động”. Động Hương Tích đã là nơi linh địa, lại được Nhà Chúa ca ngợi “Nam Thiên Đệ Nhất Động” thì lại càng đắc địa với lòng người. Vì lẽ động Hương Tích thờ Phật Bà Quán Thế Âm, là chỗ dựa tinh thần của lòng dân để cầu bình an và mọi điều tốt lành.
Có thể nói, Chúa Trịnh Sâm là người đưa vị thế động Hương Tích trở thành một di tích lớn, và cũng là đặt nền móng cho sự phát triển lễ hội Chùa Hương về sau và cho tới bây giời, cũng từ đó hàng năm khi mùa xuân đến, dần dần du khách đến với lễ hội ngày một đông vui. Nhưng phải mãi đến năm 1896 niên hiệu Thành thái năm thứ 8 mới chính thức mở hội lớn. Xưa hội Chùa Hương thường được mở sau ngày lễ hội khai sơn của làng Yến Vỹ vào ngày mùng 06 tháng Giêng.
Làng Yến Vỹ làm lễ khai sơn tại Đền Trình ( Ngũ Nhạc Linh Từ ) thờ sơn thần là ông Hổ một tín ngưỡng thờ vật thiêng của cư dân làm nghề khai thác lâm sản, mà nay ta thường thấy dưới hạ ban trong đền, điện, phủ có thờ quan ngũ dinh. Trải qua các lớp thời gian, Đền Ngũ Nhạc từ tín ngưỡng thờ vật thiêng Đã cấy vào thờ một vị thần tướng có công đánh giặc Ân dưới cờ Đức Thánh Phù Đổng cứu nước Văn Lang thời Vua Hùng Huy Vương thứ VI.

Lễ khai sơn vốn là nghi lễ của người việt cổ tạ ơn thần núi, Chúa Sơn Lâm và cầu mong trong năm mới làm ăn may mắn tránh được tai ương, tà ma thú giữ. Trong ngày lễ này, sau những nghi thức cúng lễ dân làng cử một vị bô Lão có uy tín trong làng, gia đình song toàn, nhà không có tang… Thay mặt dân làng cầm dao đi ra phía sau Đền chặt một số cành cây, giây leo “làm phép”. Kể từ ngày hôm đó người dân mới chính thức vào rừng. 
Kể từ khi Vua Lê Thánh Tông niên hiệu Quang Thuận ( 1460 – 1469 ) khai phá ra vùng đất Hương Sơn đến nay, đã trải qua 13 đời Sư tổ, để có được danh thắng Chùa Hương như ngày nay.
Ngày nay cùng với sự phát triển của xã hội, lễ hội Chùa Hương đã trở thành một lễ hội lớn thu hút hàng triệu lượt du khách về thăm quan chiêm bái. Ban tổ chức lễ hội cũng lấy ngày mùng 6 tháng Giêng Âm lịch hàng năm là ngày khai hội Chùa Hương. Và mỗi độ xuân về du khách thập phương lại nô nức trẩy hội, tạo nên một lễ hội tâm linh vui bậc nhất cỗi trời Nam, có thời gian diễn ra lâu nhất và có lượng du khách về trẩy hội đông nhất. Giờ đây lễ hội Chùa Hương đã trở thành một nét văn hoá tâm linh của người dân Việt Nam. Và rồi đất nước lại báo một mùa Xuân nữa đến, khắp bốn phương du khách lại nô nức trẩy hội mong thắp một nén tâm hương trước đấng tối linh thỉnh một lời nguyện cầu. 
” Không đi thì nhớ thì thương
Ra đi mến cảnh Chùa Hương không về “
http://sinhcafe.vn/lich-su-hinh-thanh-chua-huong/

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử hình thành Chùa Hương.   Tue Mar 03, 2015 11:40 am

CHÙA HƯƠNG
Ký SựcủaCư Sĩ Nguyễn Ðức Can.
---o0o---
Bầu trời cảnh Bụt
Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay
Kià non non, nưóc nước mây mây
"Ðệ nhất động"hỏi là đây có phải?
Thỏ thẻ rừng mai chim cùng trái
Lững lờ khe Yến cá nghe kinh
Thoảng bên tai một tiếng chày kình(1)
Khách tang hải giật mình trong giấc mộng!
Này suối Giải Oan, này chùa Cửa Võng.
"Chu Mạnh Trinh"

Mỗi lần tôi trở về quê đi tới đâu tôi luôn luôn có ý niệm tìm hiểu các di tích lịch sử để chiêm ngưỡng, học hỏi hầu mở rộng tầm mắt nhìn về những danh lam thắng cảnh, nơi quê hương ngàn năm văn vật mà bao đời của tổ tiên, ông bà, cha mẹ và chính bản thân mình đã sinh ra, trưởng thành trong thời thanh bình cũng như lúc chinh chiến, nơi quê nhà.
Tôi sẽ lần lượt cống hiến quý độc giả bốn phương các nơi tôi đã đến với cảm nghĩ của mình, riêng bài này tôi mời quý vị cùng tôi đến thăm Chùa Hương Tích "Dệ nhất danh lam thắng cảnh của Việt Nam" Trong tác phẩm "Trở Về Cội Nguồn" Tôi xuất bản vào đầu thiên niên kỷ mới năm 2000, và nhà sách Văn Nghệ Tổng Phát Hành, hiện có bán tại các tiệm sách, tôi có nói về : "Những kỷ niệm khó quên với cảm nghĩ của lúc thiếu thời về Trẩy hội Chùa Hương, nhưng bài này tôi viết Chùa Hương với cảm nghĩ của tuổi đời trên thất thập cổ lai hy". Ðặc biệt, tôi đã dầy công sưu khảo, tìm hiểu với nhiều tư liệu giá trị để phong phú hoá bài ký sự này hầu lưu truyền lại cho các thế hệ mai sau biết về một thắng tích tuyệt vời mà mỗi năm có cả hàng triệu người từ bốn phương trên kháp thế giới đổ về chiêm bái, tham quan và lễ Phật trong suốt 3 tháng, giêng, hai, ba đó là mùa "Trẩy hội Chùa Hương".

-ÐỊA THẾ HƯƠNG SƠN:
Dẫy núi Hương Sơn ở bên sườn đông của dẫy núi đá vôi chạy từ Phong Thổ, Lai Châu, Sơn La, Mộc Châu xuống đến Hà Tây, Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá, hang động bao bọc Hương Sơn ở phía tây Nam sông Ðáy (một phụ lưu cấp 1 của sông Hồng) chạy theo hướng Bắc - Ðông. Giữa sông núi (sơn-thủy) là cả một hệ khe, nối suối ngầm (Suối Tuyết, Suối Yến) dẫn nước qua lại cung cấp cho Thung Dâu, Thung Mơ....phơi trải nước của các hang động. Nhũng khe núi này là nguồn cung cấp nước cho sông Ðáy. thuộc miền Bắc Việt Nam.
Bên trong dẫy núi nuớc chẩy xói mòn khoét thành nhiều hang động, có một ngọn núi nối liền là thắng cảnh lâu đời - Ðộng núi Hương Tích- Theo tương truyền rằng : Ðức Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát trước ngày tu hành rồi thành Phật tại đây. (xin xem bài sự tích Quan Thế Âm).
Ðộng Hương Tích còn gọi là Ðộng Hương Sơn, ở vào địa phận Huyện Mỹ Ðức, tỉnh Hà Tây tiếp giáp với tỉnh Hà Nam.miền Bắc Việt Nam. Nguời ta thường nói :
"Ðường vào Hương Tích lượn quanh,
Nước non gấm dệt, mầu xanh phủ màn.
Người niệm Phật khách tham quan.
Suối thanh tịnh, rửa nhẹ nhàng trần duyên".
Trước khi vào vãng cảnh Chùa Hương, mọi du khách đều phải đến bến Ðục và từ đây mọi người mới xuống đò (ba lá), hàng trăm chiếc (ghe) thuyền nho nhỏ bằng thiếc vỏ dầy 2 ly, hoàn toàn bàng gỗ, mỗi chiếc chở chỉ được 5 hoặc 7 người, quang cảnh bến đò lúc này thật là nhộn nhịp, từng đòan, lại từng đoàn người đi xuống các thuyền này, mỗi thuyền (ghe) có một cô lái đò chèo thuyền ra đi dọc theo suối Yến. ( có người gọi là suối Mơ). Trong cảnh đẹp Hương Sơn, những dòng suối có một vai trò hết sức quan trọng nó lôi cuốn du khách một cách vô cùng hấp dẫn. Chính vì thế mà từ thời xa xứa chúa Trịnh Sâm đã khắc trên tấm bia đá bốn chữ "Sơn Thuỷ Hữu Tình".
Său đây tôi xin mô tả những cảnh đẹp của dòng suối Yến : Suối Yến có những nét đặc thù riêng ở một địa danh vô cùng hấp dẫn nó không đẹp ở sự mênh mông, mà đẹp ở sự buông thả hiền hòa giữa hai triền núi. đường suối không xa lắm nhưng trông như không có chỗ tận cùng, quanh co lượn qua lượn lại chạy theo các dẫy núi hai bên bờ suối còn có những ruộng lúa nước bao la, ban ngày, ban đêm lúc nào cũng đẹp như mơ, cho nên còn có tên là Suối Mơ, những chiếc thuyền thoi của các cô gái làng Yến, vừa sinh đẹp vừa khoẻ mạnh ngày thường chở lúa, chở gạch, chở củi, chở cá... đến mùa Xuân lại chở khách thập phượng đến vãng cảnh chùa.
Trong cái trạng thái vui say ấy, các du khách thường gặp nhau trong những ánh mắt lời thơ với những tiếng cười dòn như pháo trên các con thuyền du Xuân dọc theo Suối Yến, Ta đồng hành với những vạt lúa xanh viền hai mép suối, trên giòng nước xanh trong veo, những đám rong mềm mại lay động dưới lòng suối, với những con le, con cốc thỉnh thoảng bay vù từ mặt nước...
Bây giờ tôi cùng quí độc giả ta haỹ nhìn lên trên hai dẫy núi, phía bên trái, kìa núi Ðụn, cao cao và nây tròn như một hột thóc. Núi Ðụn còn là đuôi của một con rồng, dẫy núi Hàm Rồng. gần múi Ðụn là núi Soi, giống như con Kỳ Lân, còn gọi là núi Lân, gần núi Soi là núi Ái, là núi Phương đang rộng cánh. Chỗ đầu và mỏ Phượng là động - chùa Thanh Sơn, hai cánh nó là hai chỏm núi, quá chút nữa là đến núi Ðổi Chèo. Ghe (đò) ra, ghe vào đến quãng này nhất thiết các cô gái phải đổi tay chèo cho nhau, đỡ mỏi. Núi đổi chèo giống như một con trăn lớn đang bò trên mặt nước. Gần núi Ðổi Chèo là núi Bưng. Gần núi Bưng là núi Voi. Núi Voi còn có một câu chuyện kể rằng :
Hương Sơn có một trăm ngọn núi thì 99 ngọn nghiêng đầu về phía động Hương Tích để tỏ lòng ngưỡng mộ. Ðúng như câu thơ : "Núi xô về cưa động." chỉ riêng một tên Voi bướng bỉnh, vô lễ quay đầu ra, quay mông vào. Ông Hộ Pháp giận quá lấy gươm phạt một mảng mông của tên voi. Bây giờ tên Voi vẫn mất một mảng mông.

LỊCH SỬ CHUÀ HƯƠNG :
Tôi mời quý độc giả hãy cùng tôi tìm hiểu sơ qua về lịch sử của Hương Sơn, để có một khái niệm tổng quát về địa danh, thắng cảnh tuyệt đẹp mà nay đã được gắn liền với 5 chữ "Nam Thiên Ðệ Nhất Ðộng". Non sông đất nước Việt Nam có biết bao nhiêu danh lam thắng cảnh do thiên nhiên tạo thành và cũng không ít những thắng cảnh do nhân tạo. Tuy nhiên, Chúa Trịnh Sâm là người đã nổi tiêng hay chữ và sành sỏi các thú du ngoạn xưa kia đã không phẩm bình Hương Sơn là một chốn "Sơn thuỷ hữu tình" (chữ đề bên suối Yến). Hay "Kỳ sơn tú thuỷ" (chữ đề bên suối Tuyết) mà còn phong cho Hương Sơn là "Nam Thiên Ðệ Nhất Ðộng".Hàm "đệ nhất" mà Tĩnh Ðô Vương Trịnh Sâm dành cho Hương Tích vừa là sự so sánh, vừa là một sự khẳng định một chốn cảnh đẹp tuyệt vời mà không đâu sánh nổi trên đất nước ta.
Ðã trải qua hàng chục thế kỷ trước đây cho đến ngày nay, các nhà khảo cổ vẫn chưa tìm hiểu nhiều về vùng đất Hương Sơn, nhưng những cảnh quan sinh thái và di tích đã phát hiện trên đất Hà Tây được biết, trên đất Hương Sơn xưa kia đã sớm có dấu tích của con người. Nhưng nhận biết ra Hương Sơn như một cảnh quan thẩm mỹ và tâm linh, người ta nói nhiều đến truyền thuyết về một bộ tướng của Vua Hùng đời thứ 16 (Hiển Quan) đến xây Hương Tích, Bếp Trời (thiên Trù). Hay truyền thuyết bên bờ Suối Yến về một chàng trai tên Hùng Lang cùng thời với Ông Gióng cũng tham gia đánh giặc Ân, có công diệt được tướng giặc Thạch Linh, khi chết được phong làm phúc thần làng Yến Vĩ.
Nhưng cứ theo sách "Hương Sơn Ký" của Nguyễn Uông người làng Thanh Oai (hà Tây) làm đốc học Nam Ðịnh thì đến (Khoảng đời Hồng Ðức (1470-1496) con đường vào Hương Sơn mới được mở...Nhờ đó mà phong cảnh kỳ thú của núi rừng mới lộ ra, rồi trở thành một kỳ quan lớn trong vũ trụ. Chính sức hấp dẫn của cảnh quan thiên nhiên Hương Sơn đã bồi đắp cho danh thắng này một giá trị lịch sử và đã trở thành nơi hội tụ của những danh nhân lịch sử về văn hoá dân tộc của những bậc đế vương còn lưu lại nơi các bia đá với những nét chữ để đời và những bài thơ Nôm hay Hán của Tĩnh Ðô Vương Trịnh Sâm vào năm Canh Dần (1770) người ta đã biết đến dấu tích của các bà Chúa, vợ của Trịnh Căn đã góp công, của để xây dựng các Chùa.
Các tao nhân mạc khách đến với Hương Sơn thường có những bài thơ còn để lưu truyền lại cho các thế hệ kế tục am hiểu được những cảnh quan tuyệt vời của Hương Sơn như : Chu Mạnh Trinh, Ngô Thi Sĩ, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Cao, Cao Bá Quát, Bùi Di, Bùi Kỷ,... rồi đến thế hệ Tản Ðà, Xuân Diệu, Chế Lan Viên.......Không kể đến những huyền tích về thời các Vua Hùng mà những chiếc trống đồng còn lưu lại nơi đây, trong đó có chiếc trống đồng tìm được ở Thượng Lâm (Mỹ Ðức năm 1934) mang truyền thuyết là món quà của Ðinh Tiên Hoàng tặng cho dân làng cùng với dấu tích của con đường mang tên Vua Ðinh .
Cả một vùng thiên nhiên hùng vĩ và tuyệt đẹp của Hương Sơn kể từ khi được vua Lê Thánh Tông , vị vua sáng chói của Triều Lê phát hiện, đến nay đã trải qua đúng nửa thiên niên kỷ. Thời gian ấy, bên cạnh những huyền thoại, những truyền thuyết trải qua của một thời lịch sử xa xưa, cũng đã đủ để tạo dựng lên một bề dầy truyền thống với những giá trị lịch sử. Không những giữ gìn cảnh quan thiên nhiên, đó là món quà của đất Mẹ trao cho hiện hữu, mà còn cả những di sản tinh thần đã được hun đúc từ khí thiêng sông núi, khí phách của cậc tiền bối để lại cho cảnh quan Hương Sơn có cả bề rộng của không gian và bề dầy  lịch sử.
Ðến chùa Hương tất cả các du khách từ bốn phương đổ về gặp nhau trong một trái tim. Cảnh sơn núi hữu tình, nên thơ. Trai gái trẻ già dập dìu dắt nhau lên chùa lễ Phật thật là "Bầu Trời Cảnh Bụt"bao la với những đoàn thiện nam, tín nữ từ khắp nơi đổ về hành hương chiêm bái, như thơ Tản Ðà đã diễn tả :
Chùa Hương trời điểm lại trời tô
Một bức tranh tình trải mấy thu
Xuân lại, Xuân đi bao dấu vết
Ai về, ai nhớ vẫn thơm tho.
Phong cảnh chùa Hương thật hữu tình,
thơ mộng nhớ đến Bến Ðục, Suối Yến, với giòng nước chẩy nhẹ nhàng trên sông, in bóng những dẫy núi chập chờn tô điểm cảnh thiên nhiên.
Theo tôi, những người Việt Nam cần phải tìm hiểu về các danh lam thắng cảnh ở quê nhà để mở rộng kiến thức và tầm hiểu biết về quê hương của mình, nhất là "Nam Thiên Ðệ Nhất Ðộng".Ðời người ít nhất cũng phải du xuân chùa Hương một lần để chiêm ngưỡng phong cảnh tuyệt đẹp của Hương Sơn mà Chu Mạnh Trinh đã diễn tả với những giòng thơ như :
Kìa non non, nước nước mây mây
"Ðệ nhất động"hỏi là đây có phải?
Thỏ thẻ rừng mai chim cùng trái
Lững lờ khe Yến cá nghe kinh
Thoảng bên tai một tiếng chày kình(1)
Khách tang hải dật mình trong dấc mộng !
Này suối Giải Oan, này chùa Cửa Võng
Này am Phật Tích, này động Tuyết Kinh
Nhác trông lên ai khéo vẽ hình.
Ðá ngũ sắc long lanh như gấm dệt
Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt
Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây
Chừng giang sơn còn đợi ai đây
Hay tạo hoá khéo ra tay xếp đặt
Lần hạt tràng niệm : Nam mô Phật
Cửa từ bi công đức biết là bao
Càng trông phong cảnh càng yêu./.
(1)Chày kình: Cái chày đánh chuông, làm theo hình con cá kình.
Hay là chơi động Hương Tích của Trịnh Sâm đã diễn tả như sau:
Trời vừa hé sáng, bước lên thuyền
Khoan mái chèo lan, ghé bến tiên
Phong nguyệt thờ ơ bầu ngọc đúc
Giang Sơn bỡ ngỡ, bức tranh in
Kìa kìa qui phượng ngong kinh bối (1)
Nọ lân lòng lắng gió thiền(2)
Cảnh lạ thú màu khôn xiết kể
Thanh kỳ đệ nhất chốn Nam thiên.
(Tâm thanh tồn duy thi tập)
(1)Kinh bối : Kinh Phật viết trên lá bối
(2)Thiên : Nhà chùa, giáo thiến tức là giáo lý của nhà chùa.
Sau đây tôi xin mời quí độc giả hãy cùng tôi đi tìm hiểu một số di tích, lịch sử và những đặc tính tiêu biểu của Phật Giáo tại Hương Sơn để cùng nhau suy ngẫm về cảnh tích tuyệt vời, có một không hai của quê nhà :

- Phật Giáo đã đến với Hương Sơn từ bao giờ ?
Nơi đây đạo Phật được truyền vào ngay từ khi phát hiện ra hang động Hương Sơn. Theo một số tài liệu chúng tôi khảo cứu thì vào đời Lê Thánh Tông thế kỷ thứ XV, có 3 vị Hoà Thượng chống tích Trượng tới đây tu hành. hàng ngày vào động Hương Tích lễ tụng - toạ thiền, tối lại ra khu vực Thiên Trù ngủ nghỉ. Hồi đó, Thiên Trù là một thung lũng hoang vu, 3 vị Hoà Thương lần lượt dựng lên một thảo am để trú ngụ tránh mưa nắng, sau một thời gian 3 vị Hoà Thượng viên tịch thì nơi đây gián đoạn trụ trì. Tên tuổi các ngài cũng không ai nhớ rõ. Di tích của các ngài để lại đến nay chỉ còn lại là 2 ngôi mộ cổ bằng đá xanh, được đục đẽo thô sơ trong vườn tháp Thiên Trù. Ngày khoa cúng cổ ở Hương Sơn cũng chỉ gọi là "Kị Tổ Bồ Tát" và các ngài thuộc giòng phái nào cho đến nay vẫn chưa ai biềt rõ.
Ðến năm 1687 - niên hiệu Chính Hoà mới có Hoà Thượng Trần Ðạo Viên Quang ở Ty Tăng Lục (thời Lê lập ra Ty Tăng Lục để coi sóc và quản lý các vị tu hành) chống thiền trượng tới đây mới lập cảnh Phật ở Hương Sơn, tiếp theo là các vị Hoà Thượng Viên Quang, trụ trì khoảng 20 năm, Ðaị Sư Thông Lâm thuộc giòng Thiền Lâm Tế, Hoà Thượng Thanh Quyết, HT Thanh Hữu...HT Thanh Quyết là một vị danh tăng đương thời, học thức uyên bác, phẩm hạnh thanh cao. Các nho sĩ bấy giờ đã tôn là "Tăng Trung Hào Kiệt".
Tiếp theo là các vị HT Thích Thanh Tích, Ðại Sư Thanh Tích tu tập Ðại bi Chân Ngôn và trì tụng đại Bát Nhã, hoàng truyền Phật Pháp đồng thời đã đào tạo hàng trăm đệ tử danh tăng như các HT Tố Liên, Thanh Chân, Thanh Uẩn, Thanh Khánh, Thanh Nga, Thanh Châu....
Lịch sử đất nước cũng có lúc thăng trầm, nhưng không thể bị huỷ diệt, con người cũng có lúc lên lúc xuống, đường đời thật là chông gai, nhưng rồi cũng vượt qua. Phật Giáo cũng vậy, đã trải qua 2000 năm trên đất nước VN là một chứng tích, đất nước thăng trầm thì Phật Giáo cũng nổi trôi theo sự tiến hóa của một dân tộc. Do đó, văn hoá Phật Giáo đã gán liền với văn hoá dân tộc Việt Nam vậy.
Khi các Thiền Sư chống tích trượng, dựng thảo am ở Hương Sơn là xây dựng nơi qui ngưỡng các du khách thập phương vân tập về chiêm bái ngôi Tam Bảo, tô bồi nơi danh lam của đất nước cho thế nhân du ngoạn. Có như vậy là đã làm tròn trọng trách giữa Ðạo Phật và Dân Tộc. Giáo lý Phật Giáo đã tùy duyên bất biến ăn sâu vào lòng dân Việt từ thế hệ này đến thế hệ khác. Nền văn hóa Phật Gáo ở Hương Sơn đã được bản địa hóa nhận thức của con người đương thời. Ðức Quan Thế Âm Bồ Tát (Avalokitesvaha Boddhisattva)- đã thành Phật Bà Chùa Hương, hình ảnh một người mẹ với tình thương bao la trong lòng người dân Việt.
Mỗi độ Xuân về thi lòng người lại thao thức rủ nhau đi "Trẩy Hội Chùa Hương" các du khách khi đến đây mới thấy "Bầu trời cảnh Bụt".Său đây tôi xin mượn 4 câu thơ của Tản Ðà để kết thúc bài Ký Sự này :

Chùa Hương trời điểm lại trời tô
Một bức tranh tình trải mấy thu
Xuân lại, Xuân đi bao dấu vết
Ai về ai nhớ vẫn thơm tho.
Phong cảnh Chùa Hương thật hữu tình

Cư Sĩ Nguyễn Ðức Can.
Tuệ Minh Ðạo
E-Mail : ndcan2000@yahoo.com

http://quangduc.com/p4603a6545/chua-huong

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
 
Lịch sử hình thành Chùa Hương.
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang :: Căn Bản Phật Pháp :: Giới Thiệu Đền,Chùa-
Chuyển đến