Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang
Chào bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang!
Diễn Đàn là nơi giao lưu kết bạn, sưu tầm, lưu trữ, học hỏi và chia sẻ kiến thức.
Để cùng nhau tiến bộ trên con đường hướng thiện.
Chúc bạn sức khỏe và có nhiều thành công mới trong cuộc sống!

Om mani pad me hum
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang

Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho; một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tạo lấy.
 
Trang ChínhTrang Chính    CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Chào mừng các bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang! Chúc các bạn sức khỏe và thành đạt! Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang.

Share | 
 

 Đoán Án Kỳ Quan

Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6  Next
Tác giảThông điệp
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Tue Apr 08, 2014 6:57 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 14
Thẩm Vấn Chiếc Tẩu Thuốc
Thuốc phiện vốn là thuốc độc
Thạch tín cũng chẳng độc bằng
Ai ơi, chớ nên hút xách.
Kẻo mà thuốc độc giết người.
Khoa Giáp Tý năm Đồng Trị thứ ba, huyện An Nhạc xảy ra một vụ án. Ở Vương Gia Câu thuộc huyện An Nhạc quản hạt, có một người là Vương Minh Sơn, nhà giàu có, tính tình giảo hoạt, nói năng thông thạo. Trong làng xảy ra việc gì thường hay đi dàn xếp, mọi người cử ông ta đứng ra giải quyết những rắc rối trong làng. Ông ta kết giao với quan trường, xúi bẩy người khác kiện tụng để kiếm tiền. ông ta lấy Ngữ thị, mãi mà không sinh đẻ. Về sau cầu trời khấn Phật, năm bốn mươi  tuổi mới sinh được một mụn con trai, đặt tên là Thiên Hỷ, vợ chồng quý nó như vàng. Ngay từ khi còn bé, Vương Minh Sơn đã nhờ Lẫm sinh Lý Thiệu Nho khai tâm. Thiên Hỷ tuy khôi ngô tuấn tú, nhưng rất tối dạ, Minh Sơn lại rất keo kiệt, hằng năm cũng mời mấy ông đồ rỗi việc tới dạy, Ngũ thị lại không cho phép các ông quở trách nó. Mười lăm tuổi đầu vẫn chưa học hết Tứ thư.
Gần đó có Thôi tiên sinh, là người ti tiện, thô bỉ, vô đạo đức, ông ta quen nịnh hót bợ đỡ để kiếm chỗ dạy học. Nghe thấy nhà ấy có con đi học, bèn lân la đến cầu cạnh làm quen. Ông ta lên phố mua quà, đến chúc mừng năm mới, xin dạy học. Minh Sơn nhận quà hai ba lần, nể quá đành cho Thiên Hỷ tới học. Ai ngờ Thôi tiên sinh đọc sách không thông, nhưng có rất nhiều bài văn mẫu, ra đề chữa văn đều theo những bài văn đó sửa chữa đôi chút cho học sinh chép, rồi cho điểm tốt, để học sinh về đánh lừa cha mẹ. Ông ta lại nghiện phiện, phàm là những bạn bè nghiện hút, bất kể tốt hay xấu, đều tới lớp học của ông, có khi ở tới mấy ngày, quyện quanh chiếc bàn đèn. Thượng bất chính, hạ tắc loạn, thầy đã nghiện thì trò cũng hút. Không những ông ta không ngăn cấm mà ngược lại còn bảo học trò đi lấy nhựa thông, rồi làm bài hộ. Thiên Hỷ cũng nghiện thuốc, lúc đầu hút sái, sau hút thuốc tốt, dần dà mua thuốc hút. Ngũ thị quá chiều con, lấy trộm tiền cho con mua thuốc. Học ba năm thì nghiện nặng, cha biết được thường luôn khuyên bảo. Ai ngờ thuốc phiện không giống các thứ khác, nói bỏ là bỏ thẳng được đâu. Không hút thì lúc nào cũng nghĩ tới nó, mà người lại sinh bệnh, nước mắt nước mũi lúc nào cũng chảy ra, đứng ngồi không yên, thì sao mà bỏ ngay được. Dù cho Minh Sơn khuyên rát cổ bỏng họng nhưng Thiên Hỷ nào có chịu nghe cho. Thấy con không bỏ được, Minh Sơn lại nhờ thầy quản chặt. Thầy Thôi vốn dựa vào Thiên Hỷ để hút, nên ông ta cũng sợ Thiên Hỷ bỏ thuốc, thế thì quản làm sao được. Không còn cách nào khác, Minh Sơn đành gọi con về, hết lời dạy bảo con:
Người ta sống trên đời phải có chí, đừng để cuộc đời phí hoài. Phải làm những việc ngay thẳng theo lẽ trời, đừng sống phóng đãng bệ rạc. Tình yêu tuổi trẻ vừa chớm nở. Đáng sợ là trên bàn còn nhiều quân cờ mà mình đi sai một nước. Phải phân biệt rõ xấu tốt, chính tà, phải học điều hay, ngăn ngừa điều dở, đừng mềm yếu. Đừng nghiện rượu, đừng tham của thì không bị khốn khó, đừng hiếu sắc hoang dâm với vợ con người. Kiếm tiền phải có nghĩa, khi tức giận phải biết nhẫn nại thì tự nhiên thấy thảnh thơi. Còn thuốc phiện thì tệ hại vô cùng, phải hết sức ngăn ngừa, đừng hút xách. Nếu như ngươi động vào nó thì sẽ mê nó như mê gái. Mới hút thì thấy tinh thần sảng khoái đê mê, nếu ho hay cảm sốt là khỏi ngay không phải mời thầy thuốc. Hút một điếu, thì muốn hút hai ba điếu. Hút một lần thì muốn hút hai ba lần, không thể nào xa rời nó được.
Nếu như mắc nghiện sẽ thành thói quen, thiếu một chút, chậm một chút đều không chịu được. Mà khi đã hút thì sinh ra đủ các thứ bệnh tật, nước mắt nước mũi chảy ra, rời bỏ nó dù có nhân sâm cũng chẳng sao mà gượng dậy được. Người khỏe mạnh cũng trở thành ốm yếu, người béo tốt cũng trở thành gầy còm, người thông minh cũng trở thành ngu đần, người siêng năng cũng trở thành lười nhác. Người giàu có phải bán ruộng bán vườn, người nghèo khổ thì bán vợ đợ con. Người đọc sách thì rớt khỏi bảng vàng, người phú quý thì lầu son gác tía tiêu tan. Nhà có đàn bà thì mọi việc chẳng ai giúp đỡ, nhà có con gái thì chẳng ai đến hỏi. Nhà có nghề nghiệp cũng chẳng còn cơm ăn áo mặc. Nó làm cho mặt bủng da chì, không còn sinh khí, đến lúc ấy thì nó mời anh về Tây Trúc. Xuống âm ti địa ngục nằm giường sắt, đốt đèn lên, ngươi muốn bỏ nó, nó vẫn không buông tha. Đốt ngươi chảy thành keo, làm ngươi chịu biết bao thê thảm. Lượng tính trên thế gian ngươi đã hút bao nhiêu, chờ tới khi nào ngươi nhả hết ra, nó mới buông tha. Trời ơi!
Rõ ràng thuốc độc hung ác vô cùng, hãy suy nghĩ kỹ đến nỗi khổ và sự tàn hại của nó mà bỏ ngay lập tức. Dù đã trót nghiện rồi thì phải cai ngay, phải cắt một nhát dao vào chỗ đau để dừng lại. Con ơi! Hãy xem những người chính trực thật hãnh diện biết bao, bữa cỗ họ được mời ngồi mâm trên. Còn những người nghiện hút, không biết dơ mặt dương dương tự đắc, song bị người ta chửi sau lưng. Con ơi, làm người phải đấu tranh với cái xấu phải ngăn ngừa thuốc phiện, thì mới hạnh phúc và sống lâu”.
Từ đó Vương Minh Sơn không cho Thiên Hỷ đến trường, giữ ở nhà cai nghiện, cho con uống thêm một ít thuốc bổ, mua gà vịt và trứng về cho con tẩm bổ. Qua hai tháng đã thấy đỏ da thắm thịt, béo tốt khỏe mạnh. Sợ rằng nó tới trường lại hút, Minh Sơn cho người gánh vở về, rồi bảo con ở nhà làm việc. Song Thiên Hỷ cứ rỗi rãi là mò ra phố, một số bạn bè xấu lại rủ rê tới ngõ liễu đường hoa, hút một vài lần, rồi tái nghiện, và lại thêm khoản chơi gái. Sợ cha mẹ biết được, sáng nó đi lối này, chiều nó đi lối khác, đi hút ở nhiều nơi, không muốn về nhà. Lâu sau nó giấu cha mẹ, cứ đêm đến chờ mọi người ngủ say nó mới dậy thắp đèn hút thuốc. Cha nó biết rõ, cũng chẳng làm sao được. Thế rồi Ngũ thị bàn với chồng, chọn ngày hai mươi sáu tháng Tư năm Đồng Trị thứ ba, nhờ bà mối mang danh thiếp tới nhà họ Lý xin cưới. Lý Thiệu Nho nhận lời, vội sắm sanh đồ cưới đưa dâu về nhà chồng.
Lý Thiệu Nho có một người con gái tên là Trinh Tú, dáng người xinh đẹp, vợ chồng ông rất yêu quý, dạy con học từ thuở nhỏ Trinh Tú rất thông minh, học được mấy năm đã biết ngâm vịnh Thiệu Nho lại giảng giải Nội tắc, Nữ liệt cho con, để con biết đạo làm con gái. Khi lớn lên, Trinh Tú đoan trang, thùy mị, có hiếu với cha mẹ, chăm chỉ vá may. Khi về nhà chồng ai ai cũng khen ngợi, vợ chồng Minh Sơn cũng rất vui mừng. Song phong tục nơi này rất thích vui chơi trong ngày cưới. Đêm ấy, khách dẫn chàng rể vào phòng, rồi gái trai nô đùa, cười cợt, chơi trò phạt rượu, lại đòi cô dâu chuốc rượu. Không sao được, Trinh Tú rót cho mỗi người một chén, sau đó vờ say bỏ đi.
Thiên Hỷ uống nhiều rượu, lên cơn nghiện, vội đóng cửa, dọn giường chiếu, lấy bàn đèn. Thiên Hỷ đã giấu tẩu dưới nền nhà, lấy ra tiêm thuốc vào hút, thấy không thông, rít thuốc hai lần vẫn thấy như thế. Thiên Hỷ mới biết tẩu bị tắc, tìm chiếc thông tre thông rồi mới hút. Trinh Tú thở dài. Thiên Hỷ nói:
- Tôi không nhịn được nữa đành phải hút, đã cai nhưng cai không nổi. Cha không cho hút, tha thiết mong nàng hết sức giữ kín cho, đừng nói với cha tôi. Nếu ông ấy mà biết được thì tôi sẽ phải đòn, mà nàng cũng không thoát khổ, hôm nay ta nhận tội trước với nàng.
Thiên Hỷ hút một lèo, rồi cất tẩu vào chỗ cũ, cởi áo đi ngủ. Trịnh Tú thấy Thiên Hỷ trằn trọc trên giường, cứ thở dài luôn, sau đó đập xuống phản mấy chiếc. Trịnh Tú ngỡ rằng chồng thấy cô không ngủ, không tiện gọi, mới làm như thế để gọi cô, cô bèn tháo trang sức, cởi đai bó chân đi ngủ. Thấy chồng quay mặt vào tường, cho rằng chồng giận cô đi ngủ muộn, cô cũng không lên tiếng. Khi gà gáy sáng, cô trở dậy trang điểm xong. Khách khứa đã dậy hết mà chồng vẫn chưa dậy. Cô sợ rằng khách vào phòng sẽ chê cười, muốn gọi lại thấy ngượng. Bên ngoài có tiếng gọi nhau bày cỗ, nên cô đành phải gọi.
- Anh vẫn không dậy ư?
Gọi liền mấy tiếng không thấy thưa, cô mở màn ra, thấy chồng vẫn quay mặt vào tường ngủ, cô lay dậy thì thấy người lạnh toát lay thật mạnh thì người đã cứng rồi. Cô sợ quá hồn xiêu phách lạc, gọi không thành tiếng. Nhũng khách con gái đều đã đi ăn cỗ, cô chạy ra ngoài gọi mẹ chồng:
- Mẹ ơi, anh ấy đã lạnh toát rồi, không biết vì sao?
Minh Sơn vội vã vào phòng, thấy mồm mũi mắt tai Thiên Hỷ đều chảy máu, đã chết cứng rồi, ông gọi:
- Con ơi! Vì sao mà con chết!
Thế rồi ông đấm ngực mình, ngã lăn ra đất. Lúc ấy khách khứa ùa cả tới, vội lấy nước gừng đổ vào mồm, mãi ông mới tỉnh dậy, nói:
- Con ơi, con chết đi thì cha sống làm sao được.
Ông bà già vỗ về xác con khóc:
Cha: - Vừa nhìn đã biết con tôi mất rồi.
Mẹ: - Mẹ đau lòng lắm con ơi!
Cha: - Trước đây cha hận rằng chưa có con.
Mẹ: - Cầu Thần khấn Phật mãi.
Cha: - Sinh được đứa con mới an tâm.
Mẹ: - Tôi quý nó như vàng.
Cha: - Nghe thấy cưới vợ, nó rất mừng.
Mẹ: - Mong vợ chồng con bách niên giai lão.
Cha: - Đêm qua nó còn vào phòng.
Mẹ: - Không biết vì sao sáng nay nó đã bỏ đi.
Cha: - Tiếc thay nó khôi ngô tuấn tú.
Mẹ: - Tiếc thay tôi chỉ có mình nó.
Cha: - Hằng ngày nó sống rất hiếu thuận.
Mẹ: - Mẹ mong con, đông con nhiều cháu.
Cha: - Tuổi đã già, mất con thật là bất hạnh.
Mẹ: - Trăm năm về nơi suối vàng ai chôn cất!
Cha: - Từ nay trở đi ai là người hương khói tổ tiên.
Mẹ: - Nhà họ Vương từ đây tuyệt tự.
Cha: - Không biết con tôi mắc bệnh gì?
Mẹ: - Nếu nó ốm thì phải nói với cha mẹ.
Cha: - Mồm, mũi, mắt, tai nó còn vết máu. 
Mẹ: - Vậy thì nó chết là do duyên cớ khác chăng?
Cha: - Phải hỏi con dâu cho ra lẽ.
Mẹ: - Nó chết oan phải được minh oan.
Vợ chồng Minh Sơn khóc xong, quay sang hỏi Trinh Tú:
- Con ơi, vì sao chồng con chết?
- Con không biết vì sao. - Trinh Tú nói. - Đêm qua anh ấy đi ngủ trước, con thấy anh ấy trằn trọc không ngủ, rồi cứ thở dài luôn. Sau đó con đi ngủ, thấy anh ấy quay mặt vào tường ngủ rất say, sáng ra con gọi, mới biết anh ấy chết.
- Mày đừng che giấu nữa, - Minh Sơn nói, - hãy nói thực ra.
- Con nói thực đấy, - Trinh Tú nói, - con hoàn toàn không nói sai.
- Rõ ràng là mày đã dùng thuốc độc đầu độc con ta, mày còn giả vờ không biết ư?
- Cha đừng đổ oan cho con, con tuy ngu đần, song cũng biết lễ nghĩa, đàn bà vốn phải nhờ chồng, lẽ nào lại giết chồng đi?
- Rõ ràng là mày ở nhà có tình nhân, đã tình sâu nghĩa nặng với nó, không muốn về nhà tao, cho nên mày giết con tao để lấy nó, mày giấu tao sao được? Bây giờ ta không thèm nói với mày nữa, phải đưa đến công đường cho ra lẽ.
Rồi ông bảo mọi người vào thành đệ đơn tố cáo con dâu gian dâm đầu độc chồng, xin khám nghiệm tử thi.
Quan xem đơn, ngày hôm sau đích thân tới khám nghiệm. Những người khám nghiệm kết luận chết vì thuốc độc. Quan hỏi Minh Sơn:
- Đêm hôm qua trong phòng con ông có người không?
- Đêm hoa chúc, sao lại không có người - Minh Sơn nói.
Quan hỏi Trinh Tú:
- Chồng người chết thế nào?
Trinh Tú nói, đêm ấy bạn bè thân thích vui chơi trong phòng, đòi anh ấy chuốc rượu, khách ra khỏi phòng thì chồng hút thuốc phiện.
Quan hỏi Minh Sơn:
- Trước đây con ông có hút thuốc phiện không?
- Con tôi nghiện phiện. - Minh Sơn nói.
- Cho dù có nghiện, thì thuốc phiện cũng không làm chết người được - Quan nói. - Cho nên cái chết này không phải chết do chất độc của thuốc phiện.
Quan hỏi mọi người thì ai cũng bảo, đêm qua vào phòng anh không có bệnh tật gì. Quan bèn cho giải Minh Sơn và Trinh Tú về huyện, rồi gọi Trinh Tú hỏi:
- Bố chồng ngươi tố cáo ngươi gian dâm, giết chồng, nay gặp quan huyện sao không khai thực?
Trinh Tú cúi đầu vừa khóc vừa nói:
- Thưa ngài đèn trời soi sét, con xin nói rõ nỗi oan ức của con. Cha con Lý Thiệu Nho được bổ làm Lẫm sinh, mẹ con là Lưu thị, được người làng khen ngợi là hiền thục. Con từ nhỏ cũng được học hành, biết giữ gìn phép tắc của phận đàn bà, biết thế nào là "tam tòng tứ đức"(1) cần cù chịu thương chịu khó.
(1) Tam tòng: ở nhà theo cha, đi lấy chồng thì theo chồng, chồng chết theo con.
 
- Đã biết tam tòng tứ đức, tại sao còn đầu độc chồng?
- Không biết kiếp trước con có lỗi lầm gì, kiếp này mới về nhà chồng thì chồng chết. Lúc ấy con chỉ biết khóc, tiếc rằng vợ chồng mới lấy nhau được một đêm đã chia lìa đôi ngả. Bố mẹ chồng thấy chồng con chết sinh nghi, rồi kiện con. Cha mẹ chồng nói rằng con đã ngấm ngầm thông dâm rồi đầu độc chồng.
- Đúng rồi, chồng ngươi vào phòng vẫn khỏe mạnh, ngươi không đầu độc thì còn ai nữa! Hãy khai mau, để khỏi phải tra tấn.
- Trời ơi, thưa ngài, con van ngài vì lòng nhân ái mà suy xét kĩ cho tình cảnh của con, quả là con oan uổng, thì làm sao mà con nhận được.
- Ta hỏi ngươi tử tế, mà ngươi không khai, quân bay đâu, hãy vả nó bốn mươi cái cho ta.
- Trời ơi, thưa ngài, cho dù con đã mưu hại chồng con, thì xin hỏi ngài con lấy thuốc độc ở đâu?
- Mày đã làm sẵn thuốc độc ở nhà mẹ đẻ, mày còn chối cãi gì nữa.
- Trời ơi, thưa ngài, vợ chồng trẻ mới cưới, chúng con chẳng có thù hận gì, làm sao có chuyện vừa về nhà chồng đã hại anh ấy!
- Ngươi ở nhà mẹ đẻ đã thông dâm, giết chồng để lấy chồng khác. Ta đã biết rõ rồi, ngươi không khai ư? Đánh, đánh, đánh đi cho ta.
- Trời ơi, thưa ngài, cái quan trọng của người làm quan là đức hạnh, sao ngài lại vu tiếng xấu cho con. Người đời thường nói: cái danh giá của người đàn bà là rất quan trọng, nếu mang tiếng thất tiết thì làm nhục cha mẹ, tổ tiên.
- Con dâm phụ này to gan thật, ngươi dám bảo ta vu oan cho ngươi, quân bay đâu kẹp mười đầu ngón tay nó cho ta.
- Trời ơi, thưa ngài, từ khi đẻ đến nay, con luôn luôn sống ngay thẳng thật thà, cho dù con chết làm ma không đầu con vẫn không khai.
- Con dâm đãng! Mày cố tình ngoan cố không khai, ta cũng không sợ mày già mồm. Quân bay đâu, hãy mang đinh tre ra đây đóng vào mười ngón tay nó cho ta.
- Trời ơi, con đau đến nỗi hồn xiêu phách lạc, chẳng khác gì xuống địa ngục Diêm vương. Không khai thì quan tra tấn, không chịu được đau đớn con phải gào lên kêu trời. Pháp đường ghép con vào tội giết người, con không oán hận, song vu cho con gian dâm thì con chết không nhắm mắt.
- Vì sao ngươi lại đầu độc chồng, đầu độc bằng cách nào?
- Con chê anh ấy xấu, cho nên đã bỏ thuốc độc vào đường cho anh ấy ăn.
- Kẻ gian dâm là đứa nào?
- Trời ơi, thưa ngài con không gian dâm thì sao con dám nhận. Dù có bị lăng trì con cũng không hủy hoại danh tiết.
Quan thấy việc gian dâm là không có bằng chứng, chỉ kết luận là vì ghét chồng mà đầu độc chồng, chẳng cần gì thêm. Thế rồi quan lệnh thôi không tra khảo nữa, bắt điểm chỉ vào lời khai, rồi giam vào ngục, viết bản tường trình đệ lên tỉnh.
Những người khách đưa dâu giận tím mặt, họ buồn rầu thấy quan giải Trinh Tú đi, họ trở về gặp Lý Thiệu Nho. Đúng lúc Lý Thiệu Nho bị cảm phong hàn, nằm trên giường không sao dậy được, nghe thấy được tin con gái bị oan ức rất lo lắng, nói:
- Nhà họ Vương thường rất hay nói đến công bằng ngay thẳng, sao họ lại hồ đồ như thế, chẳng có căn cứ nào mà vu cáo cho Trinh Tú gian dâm.

Lý Thiệu Nho hỏi vì sao con rể mình chết, thì chẳng ai biết, nghĩ rằng việc này làm sao mà gỡ được? Ông muốn lên huyện gặp quan, thì người đang ốm, hơn nữa lại phải ê mặt, cho rằng việc này quan cũng không sao giải quyết được? Lưu thị vợ ông, thấy con gặp oan, gào lên khóc lóc, chỉ giận rằng không bay ngay tới huyện để thăm con, trời lại sắp tối, suốt đêm ấy bà chỉ gào khóc.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Tue Apr 08, 2014 7:22 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 14 (B)
Ngày hôm sau bà gọi kiệu, mang Giảo Nhị mười tuổi tới Thành. Hỏi thăm đến nhà giam xin người gác ngục vào thăm, thấy Trinh Tú đeo gông, mắt sưng húp thâm quầng, ngủ trên sàn nhà tù, Lưu thị vừa kêu lên một tiếng "con ơi", thì ngã vật xuống. Trinh Tú vội đỡ mẹ dậy, kêu gào thảm thiết, lúc lâu sau mới nói nên lời.
- Thấy con, bỗng mẹ khóc sưng cả mắt, lòng mẹ đau như kim châm. Từ khi sinh con mẹ vô cùng hãnh diện, hằng ngày con luôn quẩn quanh bên mẹ. Con vừa thông minh vừa linh lợi lại biết vâng lời, coi mẹ như Phật sống. Mẹ luôn luôn dạy dỗ bảo ban con, biết thế nào là đạo tam tòng tứ đức, phẩm hạnh đoan trang. Từ nhỏ con đã bằng lòng về làm dâu nhà họ Vương. Mẹ chỉ mong vợ chồng con bách niên giai lão. Ai ngờ vừa mới về nhà chồng, đã gặp trắc trở. Chồng chết, khiến con phải giam cầm. Mẹ cầu mong con bước sang năm mới được mở mày mở mặt, mẹ mong con sau này lo ma chay cho mẹ lúc về già. Ai ngờ con gặp oan uổng, phải nhận là đã giết người. Mẹ sợ rằng chẳng bao lâu nữa con lìa bỏ cõi đời. Mẹ nhìn con không biết chán. Mẹ nghĩ con mà nát ruột nát gan. Mẹ nhìn con tiều tụy mà lòng đau như dao cắt, thôi thì mẹ ngồi tù cùng con.
Trinh Tú thấy mẹ khóc lóc hết sức thê thảm, lòng đau như vò xé, cô vừa khóc vừa nói cho mẹ nghe nỗi đau khổ của mình.
- Nhìn thấy mẹ con quặn đau như đứt từng khúc ruột, mẹ hãy nghe con kể hết số phận khổ đau của con. Mẹ nuôi con chịu biết bao vất vả nhọc nhằn, những mong con hơn người, con nghĩ rằng kiếp trước tội con chồng chất. Chẳng biết vì sao chồng con chết. Không biết lòng dạ của bố chồng thế nào mà cứ đổ riệt cho con là "giết chồng để thông dâm".
- Bố mẹ chồng con quả là kẻ hồ đồ, - Lưu thị nói, - chưa chắc quan đã thấy rõ trắng đen.
- Quan không cho phân trần, đánh đập con hết sức tàn khốc bắt con phải khai.
- Con đừng khai nữa.
- Trời ơi, đau đớn lắm mẹ ơi! Lần đầu họ vả con bốn mươi cái sái cả quai hàm, máu túa ra, nói không thành tiếng. Con không khai, họ lại kẹp mười ngón tay con, đau thấu tận tim gan. Con nghĩ khai ra sợ rằng họ sẽ lột da chết thê thảm, con thà chết chứ không chịu nhận gian dâm. Quan lớn nổi giận lôi đình, đập bàn, đóng đinh tre vào mười đầu ngón tay con. Thật khốn khổ thân con, mẹ không tin hãy nhìn kĩ mười đầu ngón tay con mẹ, vết máu chưa khô. Con xin mẹ đừng lo lắng, hãy coi như con đã chết. Công mẹ sinh thành nuôi dưỡng con chưa chút báo đền, xin mẹ hãy tha thứ cho con, đao phủ tới buộc con phải chết. Khi mẹ về nhà đừng nói với cha là con đã khai, sợ rằng tuổi cha đã cao, tóc đã bạc, uất ức quá mà sinh bệnh. Em ngoan của chị lại đây chị bảo, em về nhà phải chịu khó học hành. Chị không thể thấy được ngày em vinh hiển, cầu mong tổ tiên phù hộ cho em sớm đỗ đạt. Nếu em nhớ đến chị thì em cho chị chén nước bát cơm, vào dịp năm mới em đốt ngoài cửa cho chị ít giấy tiền. Từ nay trở đi chị không còn được nhìn thấy mẹ và em nữa, trừ phi gặp nhau trong giấc mộng.
Ba mẹ con khóc đứt hơi khản cổ. Có hai người nữ phạm nhân tới khuyên giải: - Bác Lý ơi, đừng khóc nữa, con gái bác đã khai rồi, khóc cũng chỉ vô ích, thôi thì hãy cho quan coi ngục ít tiền, để các ông ấy tháo cùm ra, cho chị ấy được dễ chịu một chút, rồi dần dần nghĩ cách cứu chị ấy, tất cả mọi việc trông nom chị đã có chúng tôi.
Thế rồi bà đi nói với những người coi nhà tù, song bọn họ lòng dạ xấu xa, họ bảo không tháo được. Khi ra đi Thiệu Nho đã bảo Lưu thị rằng: "Tôi và ngài Triệu ở hiệu tiền Nam Nhai rất thân nhau. Nếu vụ án chưa ổn, thì nhờ ông giúp đỡ”. Lúc đó Lưu thị đành phải đến nói với ngài Triệu, rồi lại nhờ một bà già đưa cơm. Trinh Tú khuyên mẹ trở về, đừng lo lắng nghĩ ngợi gì nữa, mẹ khóc lóc rồi từ biệt. Về nhà bà nói với chồng rằng, quan đánh đau quá, buộc nó phải khai, và giam vào nhà giam rồi. Tôi mượn tiền của ngài Triệu đút lót người coi ngục... Thiệu Nho nói:
- Trên đời này sao lại có những viên quan hồ đồ như thế, không xem xét lý tình, chẳng hỏi han hư thực, cứ muốn dùng hình phạt để kết án, họ không sợ báo ứng sao?
Ông định lên tỉnh minh oan cho con, nhưng bệnh tình chưa thuyên giảm. Đến tháng Sáu bệnh đã đỡ, nhưng kì thi lại sắp tới, chờ khỏe mạnh, thi xong sẽ đi cáo giác. Gần đó có một ngôi miếu thờ Thánh Đế Quân, hằng ngày Lưu thị đều đến trước tượng thánh khóc lóc cầu xin ngài hiển ứng, để con bà được minh oan thoát khổ.
Quan huyện bắt Trinh Tú phải khai. Trinh Tú chỉ khóc lóc kêu oan, quan nổi khùng, tát cho tám mươi cái. Mấy ngày sau lại hỏi, Trinh Tú không dám kêu oan, đành phải nói là chê chồng xấu rồi đầu độc chồng. Trước khi giải lên cấp trên thẩm vấn quan huyện dặn rằng:
- Nếu ngươi lên cấp trên phản cung, rồi bị trở về, thì bản huyện sẽ tra tấn ghê gớm hơn nhiều, khiến ngươi sống dở chết dở, thì lúc ấy hối không kịp nữa đâu. Ngươi chỉ có nhận tội thôi. Hồ sơ huyện gửi lên cũng đã giảm nhẹ tội cho ngươi rồi, ngươi đừng sợ.
Thế rồi quan huyện lập tức cho ba sai nha áp giải đi.
Biết tin, Thiệu Nho cùng vợ vào thành tiễn chân con, thuê một bà già đi theo hầu hạ, lại bảo người cháu họ cùng đi. Trinh Tú thấy cha mẹ òa lên khóc. Thiệu Nho nói:
- Đây là nỗi oan nghiệt kiếp trước của con, cho nên mới gặp phải việc này và gặp viên quan này, chờ xem con lên tỉnh thế nào, nếu không minh oan được, thì sau khi thi xong, cha sẽ đi kháng cáo.
Nói xong ông rót một chén rượu, rồi dặn Trinh Tú rằng:
- Con đi đường phải hết sức giữ gìn sức khỏe, gặp phủ, đạo cố chịu đựng tra tấn, đừng kêu oan. Đến Niết ti(1), Ngưu Công là một người cực kì thanh liêm, con mới có thể minh oan được.
(1) Niết ti: cơ quan tư pháp của một lộ (đơn vị hành chính cấp trên của huyện, phủ, đạo).
 
Trinh Tú quỳ xuống nhận rượu, rồi òa lên khóc:
- Cha mẹ hãy yên tâm, cứ coi như con đã chết rồi, đừng quá đau thương mà tổn hại đến tinh thần, con gặp quan trên sẽ tùy cơ ứng biến.
- Lưu thị uất ức, nức nở khóc, không muốn xa rời con. Trinh Tú an ủi mẹ mãi, bà mới dứt áo lên kiệu ra về.
Đến Đồng Châu, rồi tới Bảo Ninh, cô hoàn toàn không kiêu oan, mà vẫn khai như cũ. Khi lên tới tỉnh, đêm ấy ngủ tại quán trọ, sáng sớm hôm sau dậy thì không thấy áo đỏ đâu. Sai nha vô cùng sợ hãi, tìm khắp nơi, hỏi tất cả những người trong quán trọ, thì thấy chỉ mất mỗi chiếc áo đỏ, hành lí vẫn còn nguyên. Sai nha rất lo lắng sợ rằng quan trên trách phạt.
Ngưu Công án sát Thành đô tên là Thụ Mai, ông rất thương yêu dân, vụ án nào cũng xem xét tỉ mỉ, kĩ càng, chỉ sợ dân chúng mắc oan. Một hôm, đang lúc nghỉ ngơi, ông ra vườn ngắm hoa, bỗng nghe tiếng quạ kêu quang quác, ngẩng đầu nhìn lên, thấy mấy chục con quạ đen, tha một vật gì bay lượn trên mái nhà. Ngưu công quát ầm lên, đuổi quạ, đàn quạ bay đi, vật ấy rơi xuống vườn hoa. Nhặt lên thì đó là một chiếc áo đỏ, trên áo viết: "Lý Trinh Tú phạm nhân An Nhạc". Ngưu Công nghĩ rằng vụ án này nhất định có oan khuất chi đây. Nếu không thì tại sao áo phạm nhân mặc mà quạ lại tha được? Nhất định là có thần xui quỷ khiến. Thế rồi ông lệnh đưa hồ sơ vụ án cho ông xem, thấy bản án phán quyết là vì "chê chồng xấu mà đầu độc”. Ông nghĩ rằng chê chồng xấu, thì chỉ hối hận là cùng chứ làm gì đến nỗi cô dâu lại đầu độc chồng.
Ngày hôm sau sai nha trình rằng, nữ phạm nhân đã mất chiếc áo đỏ tại quán trọ. Chúng con tìm mãi không thấy, mong ngài tha tội. Ngưu Công nói:
- Chiếc áo đỏ ấy đang ở đây rồi.
Lập tức lệnh giải nữ phạm nhân vào, thấy người ấy dáng vẻ hiền lành, cử chỉ đoan trang, không giống loại người giết chồng. Ông hỏi:
- Có phải ngươi là Lý Trinh Tú không?
- Vâng ạ!
- Có điều gì oan khuất hãy nói ta nghe.
Trinh Tú cứ ngồi khóc không nói năng gì. Ngưu Công hỏi:
- Có phải quan phụ mẫu ở huyện xét hỏi không đúng, hay là đánh đau mà phải khai, nên ngươi khóc không? Hãy khai thực với ta, ta sẽ minh oan cho.
Trinh Tú cúi đầu nói:
- Thưa ngài cho phép con nói, vì vụ án này con đã chịu biết bao đau khổ, không sao thanh minh được nỗi oan khuất giữa ban đêm. Chẳng biết duyên cớ gì, vừa về làm dâu thì chồng đã chết. Cha mẹ chồng thấy thế giận dữ, vu cho con gian dâm rồi đầu độc chồng.
- Cha mẹ chồng vu cáo, mà quan huyện không xét hỏi cho ra lẽ ư?
Quan trên không hỏi rõ ràng, đã tra khảo tàn nhẫn, máu chảy đầm đìa. Không khai, quan kẹp mười đầu ngón tay rồi đóng đinh tre, khiến con chết ngất đi.
- Quan huyện tra tấn, bức ngươi phải khai có đúng không?
- Không còn cách nào khác, con đành phải khai. Thế rồi quan huyện cho giải lên tỉnh, giữa đường con mất chiếc áo đỏ.
- Chiếc áo đỏ, ta đã biết rồi, ta chỉ hỏi ngươi sự việc xảy ra trong đêm ngươi về nhà chồng thôi.
- Đêm ấy vào lúc canh hai, bạn bè thân thích đưa chồng con vào phòng, họ vui vẻ uống rượu, con rót rượu mời mọi người.
- Uống rượu trong phòng, bảo ngươi rót rượu mời, nam nữ kẻ đưa người nhận, thì còn ra thể thống gì nữa. Song sau khi vui tiệc rượu thì thế nào?
- Sau khi uống say, họ ra khỏi phòng con đóng cửa dọn giường chiếu. Chồng con cuộn chiếu lên, lấy ra rất nhiều thứ.
- Lấy ra những thứ gì, rồi để nó ở đâu?
- Đó là chiếc bàn đèn, rồi dặn con "Đừng nói với cha mẹ, tôi vốn dấu cha mẹ hút thuốc vụng, nếu cha mẹ mà biết tôi hút thuốc phiện thì quan hệ vợ chồng sẽ rắc rối đấy".
- À, anh ấy dặn ngươi đừng nói, thế thì ngươi thấy anh ấy hút thế nào?
- Anh ấy đốt đèn lên hơ cho thuốc nở ra, rịt vào mõ điếu hút, hút không được, rồi lại hơ thuốc vào đèn, vẫn không hút được. Thế rồi anh ấy lấy một chiếc thông tre dài chừng thước rưỡi, thông vào ống điếu, chỉ nghe thấy kêu sụt sịt.
- Thông điếu xong có hút được không?
- Hút xong anh ấy cất bàn đèn vào chỗ cũ, cởi áo rồi lên giường ngủ thiếp đi. - Ngươi nói chưa từng cái gì?
- Là dâu mới con sợ xấu hổ, chỉ biết cúi đầu không dám tỏ ra tức giận.
- Thế ngươi có ngủ không?
- Con ngủ một giấc cho đến sáng, tới lúc ăn cơm, chồng con vẫn chưa dậy. Con sợ khách khứa cười, con ngượng ngùng tới giường gọi anh ấy. Không thấy thưa mới biết anh ấy đã chết rồi, mồm mũi tai mắt đều ứa máu. Con sợ quá. Cha mẹ chồng vu cho con đầu độc chồng, mong ngài minh oan cho con.
Nghe xong quan ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi xem lại bản án một lần nữa, ông nói:
- Xem vụ án của ngươi, ta cho rằng không có lẽ ngươi đã giết chồng, chồng ngươi chết là vì thuốc. Cái hại của thuốc phiện là rất ghê gớm, người béo hút sẽ gầy, người gầy sẽ chết, ruộng đất nhà cửa vợ con đều hết sạch. Ta cho rằng chồng ngươi chết vì thuốc phiện. Nhưng tại sao quan huyện, quan phủ ngu tối lại cho là đầu độc. Ngươi phải thấy rằng đêm tân hôn là cái khoái nhất của đời người, động phòng hoa chúc còn hơn cả thi đỗ. Hơn nữa, trai tài gái sắc, hai nhà đều giàu có, cớ sao lại chê nghèo mà đầu độc chồng.
Thế rồi ông ra lệnh cho người tới nhà Vương Minh Sơn ở An Nhạc lấy ngay chiếc tẩu thuốc phiện, bàn đèn, thông điếu về. Áp giải Trinh Tú về nhà trọ chờ thẩm vấn. Những người xung quanh thấy thế đều bật cười. Ngưu Công nói:
- Các ngươi cười gì, hãy đi lấy về đây ngay, đừng có hút vào mà toi mạng đấy!
Sai nha của Niết ti nhận lệnh đến An Nhạc, bảo sai nha huyện tới nhà họ Vương, tìm bàn đèn. Tìm mãi trong phòng cô dâu vẫn không thấy, họ quay về huyện báo lại. Sai nha của Niết ti nói:
- Chúng bay đều là đồ vô dụng, không tìm thấy một thứ gì ư?
- Việc này ngài phải đi thì mới bắt được. - Sai nha huyện nói.
- Đòi ta phải đi bắt ư? - Sai nha Niết ti nói. - Các ngươi có biết phép tắc không?
- Chúng con không biết, mong ngài chỉ bảo. - Sai nha huyện nói.
- Vụ án này xưa nay hiếm thấy, phải bỏ tiền thuê, ta mới đi. - Sai nha Niết ti nói.
Thế rồi sai nha huyện đành phải bỏ ra hai mươi lạng bạc cho sai nha Niết ti, lúc đó họ mới đi. Tới nhà, hỏi Vương Minh Sơn, Minh Sơn cũng không tìm thấy. Thế rồi Minh Sơn lại đưa cho sai nha Niết ti hai nén bạc nữa. Sai nha Niết ti vào phòng cô dâu, moi dưới nền nhà ra chiếc tẩu thuốc, đưa về Thành Đô bẩm với Ngưu Công. Ngưu Công lệnh ngày mai trình lên, lập tức sẽ mở phiên tòa xét xử.
 
Khi xử án, Ngưu Công thường mở phiên tòa tại sảnh đường lớn cho phép mọi người vào xem, lần này cũng thế, ai ai cũng nóng lòng chờ đợi. Hôm sau, sảnh đường lớn chật ních người.
Ngưu Công tới công đường, gọi Trinh Tú hỏi: - Có đúng chồng ngươi hút thuốc xong rồi chết không?
- Thưa ngài đúng ạ!
Ngưu Công lệnh cho mang bàn đèn tới đặt dưới nền sảnh đường. Ngưu Công hỏi:
- Cái tẩu này to gan thật, tại sao ngươi giết chết Vương Thiên Hỷ? Ngươi có thù hằn gì mà giết anh ta? Trước mặt ta ngươi hãy khai thật.
- Thưa đại nhân, chiếc tẩu ngoan cố không nói. - Những người tay chân nói.
- Chiếc tẩu này to gan thật, - Ngưu Công nói, - trước mặt ta ngươi bướng sao được! Quân bay đâu, lấy tay thước đánh nó thật đau cho ta.
Thế rồi bọn tay chân đưa tẩu xuống, giơ tay thước lên đánh một phát, tẩu vỡ thành mấy mảnh. Bọn tay chân bẩm rằng:
- Thưa đại nhân, chiếc tẩu này không chịu được đòn, vừa quật một cái đã gẫy nát.
Ngưu Công quát, hãy đem nó lên đây. Ông bẻ ra xem thì bên trong có một con rết, đã bị thông tre thông nát thành mấy đoạn. Ngưu Công đưa cho Trinh Tú và mọi người xem, rồi hỏi Trinh Tú:
- Người có biết vì sao chồng người chết không?
- Bẩm ngài, con không biết, mong đại nhân chỉ cho.
- Tẩu dấu dưới nền nhà, - Ngưu Công nói, - tháng Tư rất nhiều rết, ngửi thấy mùi thơm tiết ra chất độc, chui vào tẩu, bị keo thuốc trong tẩu dính chặt lấy chân, không chui ra được. Cho nên nó ở trong đó tiết ra chất độc, lại dùng thông thông nát, cố sức hút, chất độc của rết và của thuốc vào bụng, thì sao mà không chết.
Người xung quanh hỏi rằng:
- Tại sao đại nhân lại biết vụ án này là do rết giết chết mà bắt tẩu thuốc?
- Ta nghe Trinh Tú nói là chồng lấy tẩu từ dưới đất lên, bởi thế ta biết chết là do hút thuốc.
Nghe xong ai ai cũng vô cùng thán phục Ngưu Công. Ông tha cho Trinh Tú, kết thúc vụ án. Ông hỏi Trinh Tú rằng:
- Ngươi về nhà chồng thì chồng chết, anh em lại không có bây giờ nương tựa vào đâu? Có thể tái giá không?
Trinh Tú im lặng không trả lời. Ngưu Công nói:
- Nhà mẹ đẻ có ai ở đây không?
- Thưa ngài, cha con đang ở dưới kia.
Lúc ấy Lý Thiệu Nho đang xem xử án, lập tức đi lên, cúi lạy nói:
- Thưa ngài, con có lỗi với ngài.
- Ngươi là ai?
- Con là Lý Thiệu Nho, Trinh Tú là con gái con.
- Ngươi hãy đưa con về nhà, rồi gả cho người khác.
Thiệu Nho tạ ơn, lui ra. Ngưu Công tuyên bố, từ nay cấm các phủ huyện không được phép vui chơi rượu chè trong phòng cưới điều đó làm tổn hại đến phong hóa.
 
Các bạn thân mến! Quạ đen vốn là một loài vật ngu xuẩn, tại sao lại tha chiếc áo đỏ của Trinh Tú tại quán trọ? Chỉ vì sớm chiều Lưu thị đã rất thành tâm cầu khấn Thánh Đế, cho nên Thánh Đế đã hiển linh, lại thấy Trinh Tú mắc oan, lệnh cho thần gió, thổi bay chiếc áo đỏ lên không trung, khiến quạ tha đi. Ngưu Công thấy cô oan khuất nên đã minh oan cho cô.
Ở thành có Hoặc Vân là cháu của ngài Dương, vợ chết chưa lấy vợ khác, nhà giàu có, lại rất đẹp trai, thấy Trinh Tú xinh đẹp đoan trang, thường khen cô trước mặt mọi người. Thiệu Nho biết được, nhờ mối nói vun vào, rồi gả Trinh Tú cho anh. Họ sống với nhau rất hòa hợp, suốt đời sung sướng. Về sau Thiệu Nho lại thi đỗ. Vương Minh Sơn không có người nối dõi, định nuôi con một người thuộc chi gần, nhưng không vừa ý. Ông ta bèn cưới một người vợ lẽ, song quá dâm đãng, đến nỗi đổ bệnh, ốm liệt giường, biết rằng không thể sống được nữa mới nuôi con của một người thuộc chi xa. Người chi gần không nghe, đâm đơn kiện. Minh Sơn đang ốm phải vào thành đút lót nên thắng kiện, rồi chết ngay tại huyện. Vợ lẽ trốn theo trai. Con nuôi không nên người, chỉ trong mấy năm gia tài khánh kiệt.
Các bạn thân mến, người ta sống trên đời, đáng sợ nhất là nghiện phiện. Cái hại của thuốc phiện còn nguy hiểm hơn nhiều so với rượu và gái. Rượu và gái nói bỏ là bỏ được ngay, còn cái hại của thuốc phiện đến chết vẫn không buông tha, nó còn đeo đẳng người ta tới mãi âm ti địa ngục, làm ma vẫn không yên. Thiên Hỷ giấu cha mẹ hút thuốc phiện, khiến cha mẹ đau buồn. Sau đó bị rết giết chết, làm cho vợ phải mắc oan, cha mẹ tuyệt tự, tuy giàu có, vợ đẹp cũng không được hưởng thụ. Vương Minh Sơn thương luân bại lí, xúi bẩy kiện tụng, keo kiệt đến nỗi phải tuyệt tự, người và của đều mất sạch. Lý Trinh Tú đoan trang hiếu thuận, tuy gặp oan khuất, cuối cùng được thần thánh minh oan, hưởng phúc suốt đời. Ngũ thị hùa theo cái xấu, bởi thế phút chốc lâm vào cái chết. Vợ chồng Lý Thiệu Nho biết nuôi dưỡng dạy bảo con, cuối cùng con gái nên người. Còn như Thôi tiên sinh dạy trò không nghiêm, khó mà dạy người ta được, khiến cho vợ theo trai, con phải chết, ấy là phạm nhân trong số Nho gia. Sau này nhất định sẽ chịu báo ứng.
 

Qua vụ án này, ta thấy thầy phải luôn luôn răn đe những học trò hút thuốc phiện. Phải hết sức thận trọng, đừng coi đây là chuyện trò đùa. Đã mắc nghiện thì không những sẽ lười nhác mà còn bê trễ học hành, công không thành, danh không toại mà còn khuynh gia bại sản. Đã là người thầy người trò, phải lấy Thôi tiên sinh, Vương Thiên Hỷ làm bài học cho mình. Vụ án này tôi nghe thấy khi đi thi, sợ rằng đã lâu ngày, tên người, tên địa phương có thể có chỗ sai, xin các bạn tha thứ.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Thu Apr 10, 2014 1:10 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 15
Giếng Nam Sơn
Tứ quan(1) vốn là mê hồn trận
Tửu sắc quả là nguy hiểm thay
Việc gì cũng phải nên đúng mức
Đừng quá đắm say phải ngồi tù.
(1) Tứ quan: rượu chè, cờ bạc, trai gái, tiền tài.
 
 huyện Lâm Tri, Thanh Châu, có một người giàu có, tên là Hà Giáp, cha là Hà Vĩnh, mẹ là Thân thị. Hà Vĩnh là người tham lam, hay tính toán chi li, cho vay nặng lãi, xuất ra thì cân nhẹ, thu vào thì cân nặng. Phàm những việc gì lợi mình hại người, thì hắn tìm mọi cách làm bằng được. Gia sản của hắn có tới hàng vạn lạng. Năm bốn mươi tuổi mới sinh được Hà Giáp. Hắn quý con như vàng, nhưng chẳng dạy dỗ gì. Khi Giáp mười bốn tuổi, thì Vĩnh mắc bệnh cấp tính chết. Thân thị quá thương chồng rồi cũng lần lượt qua đời. Từ đó Hà Giáp vênh vang đắc ý, tuy tiếng là học trò, nhưng dốt đặc, rượu chè, trai gái thì chẳng ai bằng. Ngày tới đường hoa đêm thăm ngõ liễu, tiêu tiền như rác. Mãn tang hắn lấy Phùng thị, do lúc còn nhỏ cha mẹ hỏi cho. Phùng thị là con nhà danh giá, tính tình hiền thục, cử chỉ đoan trang, rất giỏi nữ công gia chánh, dung nhan xinh đẹp, không ưa chải chuốt, không hay cười cợt chớt nhả. Hà Giáp không thích, cứ bảo là vụng về. Một hôm hắn nói với cô:
- Cô như một con lợn dịch, là đàn bà thì cũng phải trang điểm, thì dung nhan mới đẹp. Ta giàu có, vợ không như hoa như ngọc thì cũng phải yểu điệu thướt tha chứ. Trong nhà thiếu gì phấn son, lụa là, đồ trang sức, tại sao không dùng, cứ làm ra vẻ nghèo khổ ngu độn, khiến ta tức giận.
Nhân lúc chồng nói, Phùng thị lựa lời khuyên chồng:
- Anh ạ, người đàn bà phải đoan trang nền nã, điều đáng sợ là phóng đãng dâm loạn. Hầu hạ chồng, điều tối kị là ăn diện. Trong tứ đức tuy có nói tới dung nhan, song không cái gì hơn là ăn mặc sạch sẽ gọn gàng, há đâu cứ phải quần là áo lượt. Người đàn bà không hiền thục suốt ngày phấn son, mê hoặc chồng, buông thả tình dục, đến nỗi người đàn ông phải chết yểu, nếu không thì bệnh tật suốt đời. Anh cứ nghĩ xem, điều ấy có ích lợi gì chăng?
Hà Giáp chửi:
- Ngươi không biết ta đã quen sống ở ngõ liễu đường hoa, những người ta gặp đều là những gái đẹp như tiên giáng thế, tiếng nói như oanh vàng thỏ thẻ. Ta ghét nhất là cái dáng nhà quê bảo cô trang điểm một chút mà cô vẫn còn cưỡng lại ư?
- Anh ơi, người ta thường nói, trong hàng vạn cái xấu thì dâm là hàng đầu, trong hàng trăm việc làm thì hiếu là hàng đầu. Trong Địch dục văn có nói: "Mộ của kẻ tuyệt tự hoàn toàn là bọn hiếu sắc cuồng loạn, giống kĩ nữ đều là kẻ dâm đãng". Gần thì báo ứng đến vợ con, xa thì báo ứng đến cháu chắt, anh phải hết sức giữ gìn.
- Gái điếm vốn là một nghề sống, - Hà Giáp nói, - thì có gì là tội lỗi?
- Gái điếm có năm tội. - Phùng thị nói. - Một là hủy hoại phẩm chất; hai là mất hết gia sản; ba là gây ra tai họa, bốn là sinh ra bệnh tật; năm là tổn thương tính mạng. Anh ơi, gia sản của cha để lại lớn như thế, lẽ ra phải lập chí trau dồi phẩm hạnh, làm việc thiện để được phúc đúc, trở thành người hào kiệt, có ích, an ủi linh hồn cha mẹ dưới suối vàng, để lộc cho con cháu, mới không uổng phí đời người. Cớ sao cứ gây ra oan nghiệt, sống chịu quả báo, chết vào địa ngục!
Giáp đùng đùng nổi giận, chửi:
- Mày là đồ hèn hạ, mày nói thối lắm, ông đường đường là một đấng đại trượng phu, lẽ nào lại để cho đứa đàn bà dạy dỗ!
Thế là hắn giơ tay định tống, Phùng thị vội tránh được. Từ đó Hà Giáp thường mắng chửi rồi bỏ đi chơi bời ít khi về Nhà. Thấy khó mà khuyên được chồng, Phùng thị đành phải mặc quần áo mới một chút để vừa lòng hắn.
Một hôm hắn uống rượu, Phùng thị cầm bình rượu, Giáp đã ngà ngà say, cười nói:
- Trông em thế mà xinh, nếu em mặc thêm quần áo đẹp, thì quả là làm cho người khác hồn vía lên mây.
Rồi hắn bảo Phùng thị trang điểm. Phùng thị không nghe. Giáp tự lấy đồ trang sức và quần áo ra, bắt Phùng thị phải trang điểm. Phùng thị khăng khăng không mặc, Giáp đột nhiên nổi khùng, đập bàn chửi:
- Đồ chó má đê tiện, ông tức không chịu nổi. Ông là con nhà giàu có, đã thích thì chơi thả cửa. Ngay như đứa ở con sen cũng phải trang điểm, huống hồ người vợ mà hằng ngày ta đụng chạm vào da thịt, tuổi trẻ phải vui chơi thỏa thích. Mày là đồ đê tiện, không khác nào đống đất, chẳng đẹp đẽ gì. Ngay những kẻ quê mùa mộc mạc cũng còn yểu điệu được cơ mà. Đồ trang sức và quần áo đầy rẫy, thả cửa cho mày ăn diện, phải mặc quần hoa đi giày thêu, gót cao ba tấc, mặt hoa da phấn, lông mày lá liễu, thướt tha dạo bước ngoài hiên như hồ li tinh. Khi uống rượu hát khúc sa song, tiếng hát thánh thót như oanh vàng. Dáng vẻ phong lưu ấy mới thú, không uổng phí một đời người.
- Anh nghĩ quá đáng, em ở nhà mẹ đẻ, cha mẹ dạy em phải đoan trang, không được làm dáng. Tính em vốn đã như thế rồi, nay anh cứ bắt em phải chải chuốt, ăn diện, em không làm thế được đâu.
- Cái ngữ đoan trang ấy cứ chọc vào mắt làm ta tức lộn ruột. Mày là con ma lem hiện hình, mày còn gân cổ làu bàu. Hãy mau mau diện cho thật đẹp vào rồi tiếp rượu ông.
- Tiếp rượu việc gì phải trang điểm, e rằng như thế sẽ làm nhục tổ tiên.
- Bảo trang điểm mày không làm, lại còn dùng những lời xấu xa cãi lại, khiến ông tức uất đến cổ. Hôm nay ông phải tống khứ con ma này đi.
- Em không đi đâu cả, xem hôm nay thành con ma gì.
- Đồ đê tiện, mày nói càng làm ông thêm lộn tiết, mày ương ngạnh như con lừa. Mày như thế, ông không chịu nổi nữa. ông đá cho mày một cú cho chết mẹ mày đi.
Hà Giáp đùng đùng nổi giận, mượn rượu đá thẳng vào bụng dưới. Hà thị ngã lộn nhào xuống đất, mồm há hốc mắt trợn ngược Hà Giáp vội kéo dậy, nhưng ôi thôi Hà thị đã tắt thở. Khi tỉnh rượu gã hối hận vô cùng. Hôm sau hắn cho người đến nhà mẹ vợ báo tin, nói dối rằng vợ đã mắc chứng bệnh cấp tính chết. Anh em Phùng thị thấy bụng dưới có vết thương, làm rùm beng lên không nghe. Hà Giáp nhờ người nói khó xin cho và hứa sẽ làm ma linh đình. Hôm thiêu quan tài, một số tên vô lại nhà Phùng thị tới ngăn trở, khăng khăng đòi kiện lên quan. Hà Giáp khiếp sợ quá, phải đút lót một trăm quan tiền, lập đàn tràng cúng lễ bảy ngày mới yên ổn. Ít lâu sau hắn cưới vợ khác.
Đỗ Thái Hòa người trong thành, có một đứa con gái tên là Thúy Nương, người xinh đẹp, trước đây từng tư thông với Hà Giáp, khi còn nhỏ đã hứa gả cho nhà họ Trần. Hà Giáp thấy cô xinh đẹp muốn lấy cô. Thái Hòa biết được, cố ý không gả, khi chăn gối, Thúy Nương lại hẹn non thề biển, Giáp đã bỏ ra hai trăm quan tiền cho Thái Hòa buôn bán, Thái Hòa mới bằng lòng gả cho. Song nhà họ Trần không nghe, Giáp lại phải tung tiền ra mới ổn thỏa. Lúc sắp cưới, họ Trần lại nói là phải đến cướp dâu. Giáp phải nhờ hơn một trăm người mang khí giới đến đón dâu. Mọi người không nghe, nói rằng đất nước thanh bình, tại sao lại tụ tập đông người mang giáo mác gậy gộc như thế. Sau đó họ bắt nộp phạt bốn mươi quan tiền. Giáp đón vợ về, tính ra hết hơn năm trăm quan. Thúy Nương về nhà chồng, suốt ngày tô son điểm phấn, hát xướng tiếp rượu Hà Giáp, thả sức phóng đãng, áo không đẹp không mặc, thịt không ngon không ăn. Chỉ trong vòng hơn bốn năm, tiền của hết nhẵn, rồi bán hết cả mảnh đất cao chân đồi, chưa đầy hai năm cũng tiêu hết nhẵn, sau đó vay mượn để tiêu, về sau mượn cũng không được nữa, đành bán cả ruộng đất nhà cửa trang trại. Thanh toán hết các khoản nợ, chỉ còn lại bốn mươi quan tiền, thuê ruộng người khác trồng cấy. Thúy Nương bán quần áo trang sức mua rượu thịt, suốt ngày chửi chồng là đồ bất tài. Hà Giáp nhẫn nhục chịu đựng không dám hé răng, đành phải đi bán ít hoa quả bánh kẹo. Thúy Nương ở nhà bán dâm, đưa người cửa trước rước người cửa sau. Hà Giáp biết mà không dám nói.
Láng giềng có một người hàng xóm tên là Vương Ngũ, tính tình hung bạo, nổi tiếng là một tên giang hồ, kết giao với bọn đỏ đen, mở sòng bạc. Hắn thường đưa thịt trâu đến nhà Thúy Nương cùng nhau ăn uống rồi ngủ qua đêm ở đó, một mình chiếm Thúy Nương, không cho quan hệ với bất cứ ai. Mỗi lần đến nhà, bắt Hà Giáp phải nhượng giường chiếu, Hà Giáp vội vàng bỏ trốn, thảng hoặc có khi không vừa ý là Vương Ngũ chửi liền. Uất ức quá không chịu nổi, thấy trong thành hạt bồ đề(1) rất đắt, Hà Giáp đi buôn. Từ đó Vương Ngũ ở lì tại đó sống với Thúy Nương như vợ chồng.
(1) Hạt bồ đề tròn, màu đen. Người ta thường dùng làm tràng hạt (ND).
 
Trong làng có một người tên là Hồ Thành, khỏe mạnh cương trực tranh nhau một cây mọc nơi đất giáp ranh với Phùng An ở Tả Loan. Họ đôi co nhiều lần nhưng vẫn chưa ngã ngũ. Hồ Thành mượn nhiều người đến chặt cây. Phùng An đi kiện. Hồ Thành không kiện cứ gặp là đánh. Không sao được, Phùng An đành thôi, rồi luôn luôn tìm cơ hội trả thù. Thế là Phùng An hạ mình kết thân, lâu ngày Hồ Thành cũng quên đi, rồi họ luôn đi lại với nhau. Năm ấy, lên tuổi bốn mươi, Hồ Thành làm cơm, khách khứa không mời ai, chỉ mời con rể và những người lân cận. Phùng An cũng tới chúc mừng, cùng vui vẻ nâng chén. Khi đã chếnh choáng hơi men, Hồ Thành say sưa nói về sự tài giỏi trong cuộc đời mình:
- Người ta không cướp của không giàu, ngựa không ăn cỏ đêm không béo, chỉ cần bất lương là phát tài ngay.
Phùng An ton hót thêm:
- Ông Hồ Thành ơi! ông phát tài nhanh bằng cách nào sao không nói cho mọi người nghe, để chúng tôi học làm giàu.
- Đương nhiên rồi, anh hãy đến đây để thầy dạy cho.
Thế là Hồ Thành khoa chân múa tay nói oang oang:
- Các bạn thân mến, hãy lắng tai, tôi nói cho mà nghe để biết tôi đột nhiên có tiền vạn như thế nào. Tôi sinh ra vốn là con nhà khốn khó, tôi không nói dối đâu, hiện tôi có rất nhiều bạc.
- Có bao nhiêu?
- Tuy không nhiều, nhưng cũng có tới hơn mấy chục nén.
- Tôi e rằng đó là bạc làm bằng giấy.
- Hoàn toàn không phải bạc bằng giấy.
- Thế thì bạc anh lấy ở đâu ra.
- Hôm ấy, tôi đi chợ về, qua Nam Lĩnh, lúc ấy đã nhá nhem tối. Bỗng một lái buôn đi thu tiền về quận, thấy túi bạc nặng trình trịch, thế là tôi giơ thẳng cánh đập gậy vào đầu, đến bốp một cái hắn hộc máu, rồi về chầu trời. Tôi vứt xác hắn xuống một chiếc giếng cạn, lấy bạc mang về nhà.
- Nói mãi tôi cứ tưởng thật, hóa là ông say rượu.
- Ông Phùng nói thế làm mọi người cụt hứng. Hôm nay tôi đã uống nhiều đâu. Nói về tửu lượng tôi thường uống tới bốn năm cân mà vẫn chưa say đến mức nói liều, làm bậy bao giờ. Hơn nữa Hồ Thành đường đường là một đấng oai phong lẫm liệt, lẽ nào lại khoác lác để đánh lừa các ông.
- Ông Hồ này, - Phùng An nói, - ông cứ lấy bạc ra đây cho chúng tôi xem thật mục sở thị, thì chúng tôi mới tin.
- Nghe các ông nói làm tôi nóng mặt, chắc rằng các ông cả đời chưa nhìn thấy bạc bao giờ. Các ông hãy ngồi đấy, tôi đi lấy mấy nén cho các ông xem cho hai năm rõ mười.
- Số bạc ấy là của chồng chị Trịnh gửi anh mua đất, - vợ Hồ Thành nói, - sao ông cứ nói vớ vẩn lung tung, không sợ người ta chọc gậy vào ư?
- Đúng là đàn bà nhát như cáy, - Hồ Thành nói, - phải biết nói khoác mới làm người ta kinh hãi, bà cứ mặc tôi, việc ai người ấy lo, tôi sẽ lấy bạc ra ngay. Anh Phùng lại đây, mở to mắt ra mà nhìn, trắng toát óng a óng ánh, trông có thích mắt không? Hoàn toàn là bạc thật đấy, tất cả là mười tám nén. Các bạn thấy có sướng mắt không. Anh Phùng, từ nay trở đi hãy thật lòng tôn kính ta, nếu không ta sẽ làm như thế.
Phùng An nghe xong mừng thầm, về nhà báo quan, nói là Hồ Thành đã cướp của giết người, vứt xác xuống giếng Nam Sơn. Nơi ấy là vùng đất Lâm Tri nổi tiếng ai ai cũng biết.
Quan huyện Lâm Tri là Phí Y Chỉ, xuất thân từ khoa bảng, thanh liêm có tài. Thấy tờ trình Phùng An đệ lên, ông lập tức ra lệnh bắt Hồ Thành về xét hỏi. Hồ Thành nói:
- Thưa ngài, đấy là do con say rượu nói bừa, chứ hoàn toàn không có việc đó. Vả lại số bạc ấy là của Trịnh Luân, anh rể con nhờ mua đất. Phùng An thù hằn con nên tố giác bừa.
Quan gọi Trịnh Luân tới hỏi, Trịnh Luân cũng nói đó là số bạc anh nhờ Hồ Thành mua đất. Quan lệnh giải Hồ Thành tới giếng xem có xác chết không. Họ về bẩm rằng quả thật, có một xác chết không đầu. Hồ Thành sợ mất vía, kêu oan. Quan quát mắng:
- Mày là thằng chó má, cướp của giết người, hiện vẫn còn tang chứng, còn oan nỗi gì.
Thế rồi ông lập tức tống giam, gửi thông báo ai có người chết đến nhận xác.
Hôm sau, vợ Hà Giáp là Đỗ Thúy Nương tới trình đơn nhận xác, nói rằng Hà Giáp bán ruộng đất, còn thừa mấy trăm lạng bạc, tới huyện buôn bán. Trên đường về nhà qua Nam Lĩnh, bị Hồ Thành đánh chết, cướp số bạc ấy. Khẩn thiết mong ngài soi xét Quan nói:
- Tại sao người biết đó là chồng ngươi?
- Chồng con nói là đến ngày ấy mang bạc về, - Thúy Nương nói, - song nay đã quá hạn mà không thấy về, thế thì đó không phải là chồng con thì là ai!
- Chồng ngươi mặc quần áo gì - Quan hỏi.
- Chồng con mặc áo lót đã rách. Quan ra lệnh khám nghiệm, lập tức áp giải Hồ Thành tới giếng, lệnh cho người lôi thi thể lên, quả nhiên thi thể không có đầu mặc áo rách. Thúy Nương từ đằng xa òa lên khóc:
- Chồng tôi chết thật là thê thảm, bỗng chốc lòng tôi như vò xé. Thân xác cứng đơ, toàn thân rữa nát, không còn đầu tựa như một khúc gỗ nằm bên giếng. Tưởng rằng anh ấy đi buôn, kiếm được nhiều tiền, vợ chồng sống mãi tới già. Khốn khổ thân tôi tuổi còn trẻ mà không có người làm bạn, đôi uyên ương giờ đây chia lìa đôi ngả. May mà chàng linh thiêng, trời có mắt, đã nói ra kẻ giết người. Thiếp quỳ bên thi thể chàng, cầu mong quan lớn nghe thấu lời con: tên Hồ Thành đã cướp của, chặt đầu chồng con, làm hại đời con, khiến con không có cơm ăn áo mặc, sống lẻ loi đơn độc một mình. Mong quan lớn chiếu luật thi hành, khiến chồng con được mang ơn nơi chín suối.
Quan hỏi:
- Nhà ngươi có mấy người?
- Trời ơi, bẩm quan lớn, thương thay bố mẹ chồng con đã mắc bệnh qua đời, không có con cái cháu chắt, anh em. Mong quan lớn thương tình, truy hoàn số bạc cho con.
Quan huyện nói:
- Chờ giải quyết xong vụ án Hồ Thành, ta sẽ đứng ra cho phép ngươi tái giá.
- Con vô cùng biết ơn lòng nhân ái từ bi của quan lớn, con sẽ suốt đời kết cỏ ngậm vành đền ơn quan lớn.
Quan lệnh cho người khám nghiệm, thấy nạn nhân chết do một nhát dao đâm vào ngực, rồi sau khi chết mới cắt đầu. Thể rồi quan cho phép chôn xác chết, và an ủi Thúy Nương rằng:
- Ngươi hãy về nhà, ngươi còn trẻ không nên xuất đầu lộ diện, nay đã bắt được phạm nhân rồi, chờ tìm thấy đầu, vụ án kết thúc, rồi hãy tái giá.

Thúy Nương cúi đầu vái lạy ra về.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Thu Apr 10, 2014 1:37 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 15 (B)
Quan trở về nha môn, lệnh cho Hồ Thành cung khai rồi kí vào. Hồ Thành cứ kêu oan khuất, khóc lóc nói rằng:
- Quỳ dưới pháp đường mà nước mắt con chảy đầm đìa. Thưa ngài, con tuy nhà nghèo khó, nhưng cũng biết đạo lí làm người, không dám làm điều bất lương.
- Mày sợ không làm điều bất lương, cớ sao lại giết người cướp của. - Quan huyện nói.
- Thưa ngài, - Hồ Thành nói, - con không biết kẻ nào đã làm điều hung ác, giết người vứt xuống giếng để khiến con mắc phải điều oan uổng.
- Đồ chó má to gan thật, hãy khai mau, ta sẽ xử nhẹ tội, nếu không thì ta sẽ đánh nát chân thằng chó má này.
- Quả thực là con không biết người vứt xuống giếng, thì quan bảo con khai sao được!
- Mày còn cãi bướng, quân bay đâu, hãy đánh nó bốn mươi gậy cho ta!
Sắp tra khảo quan lại nói:
- Hồ Thành mày phải khai rõ sự thực, thì sẽ khỏi tra khảo.
- Trời ơi, - Hồ Thành nói, - thưa ngài, ngài cứ khăng khăng bắt con phải khai, con chỉ sợ rằng lại chết oan thêm một mạng người nữa.
- Đồ chó má, không khai ư? Các ngươi đánh nó cho ta. - Quan huyện thét.
- Trời ơi! Đánh hai chân con tóe máu, con mong ngài hãy cố gắng gia ân cho con.
- Có khai không? - Quan hỏi.
- Thưa ngài, ngài bắt con khai, thì chẳng khác nào con chôn người sống xuống huyệt.
- Thằng chó chết kia, mày vẫn còn già mồm cãi, quân bay đâu, hãy kẹp nó cho ta!
Lính hầu mang kẹp tới, quan ngăn lại nói:
- Hồ Thành, ngươi hãy khai mau, để khỏi phải chịu cực hình, ta sẽ gia ân, mở ra cho ngươi con đường sống, như thế không tốt ư?
- Trời ơi! Thưa ngài, vụ án này thật vu vơ, dựa vào chứng cớ nào mà bảo con giết người? Lão Phùng cáo giác sao mà tin được, con chết xuống nơi chín suối cũng không thể nhắm mắt.
- Chính mồm ngươi nói trong giếng Nam Sơn có xác chết, - quan nói, - đó chẳng phải là bằng chứng ư? Quân bay đâu hãy mau kẹp nó cho ta!
Vừa kẹp thì quan đã ngăn lại nói:
- Hồ Thành, ta vốn có lòng thương người, ngươi khai đi thì ta mới cứu được người, việc gì cứ phải cãi cố.
- Con đã nghĩ hết cả rồi mà không ra, khiến con nát ruột nát gan. Nếu không nhận thì ngài tra tấn, mà nhận thì sợ rằng phải chém đầu. Suy đi tính lại chẳng còn cách nào khác, đúng là kiếp trước tội con quá nặng. Thôi thì nhận quách đi cho xong. Thưa ngài, xin ngài rộng lượng từ bi tha cho con.
- Ừ mày nói thế mới đúng. Vậy thì mày đã giết người như thể nào? - Quan hỏi.
- Thưa ngài, hai năm nay, túng bấn quá, không còn cách nào, con đã đón đường ăn cắp ở Nam Sơn. Hôm ấy trời đã tối, con thấy Hà Giáp vác một chiếc bao về quận, con vung dao chém vào cổ, hắn ngã gục, con vứt xác xuống giếng, rồi về nhà ngủ. Ngày hôm sau nhân lúc say rượu, con mới kể lại chuyện này.
- Thế đầu người mày vứt ở đâu? - Quan huyện hỏi.
- Lúc ấy vội quá con quên mất chỗ giấu rồi. Chắc rằng không lợn thì chó đã ăn mất.
- Hừ! Thằng chó má này to gan thật, mày đã giấu xác, lẽ nào mày không giấu đầu. Phải khai ra ngay.
- Trời ơi! Thưa ngài, đó là sự thực, xin ngài gia hạn để con đi tìm.
Quan hẹn cho ba ngày, sai hai sai nha áp giải đi tìm. Tìm ròng rã suốt ba ngày, chẳng thấy đâu cả. Quan lại hạn cho năm ngày, vẫn không tìm thấy đầu. Quan đùng đùng nổi giận, bảo tay chân lôi ra tra tấn. Vừa mới lôi ra, thì quan gọi lại nói:
- Ta nghĩ rằng trong lúc mày giấu xác, trong lòng hoảng loạn, không biết đầu rơi ở chỗ nào, sao không tìm kĩ xem.
- Thưa ngài đúng là rơi ở đâu.
- Nếu chó lợn không tha, thì cũng còn xương. - Quan huyện nói. Nếu bị người chôn đi thì cũng còn mùi thối. Đúng là mày không chịu đi tìm thôi. Ta hạn cho mày hai ngày nữa, nếu không tìm thấy ta sẽ đánh chết tươi.
Hồ Thành thấy mình quá oan ức, song không sao nói được. Đi tìm rã rời cả chân tay, lại bị sai nha nạt nộ mắng nhiếc, cuống lên, ngồi lì xuống đất kêu trời kêu đất gào khóc:
- Trời ơi có thấu! Nước mắt cứ trào ra không sao nói nên lời. Tưởng rằng Hồ Thành xưa nay làm việc gì cũng tự vẩn lương tâm, chưa làm điều gì bậy bạ khiến người ta ghét bỏ. Trời ơi! Con thường giữ mình trong sạch để được sống bình an, suốt đời tai qua nạn khỏi, ăn nên làm ra. Vì sao lại làm con gặp phải vụ án mạng này, khiến con bị liên lụy. Con bị đánh toạc da ứa máu, khiến con bị tống giam, vợ con li tán, bán ruộng cầm vườn. Trời ơi, lẽ nào trời không có mắt, nỡ để con vô tội chịu oan. Kẻ cướp của giết người không biết ở đâu, đầu người chết không biết nơi nào. Trời ơi! Quan lớn nói rằng tìm thấy đầu mới kết án. Năm lần bảy lượt tra khảo bức con phải cung khai, con đau đớn không sao chịu nổi. Không còn cách nào ngài mới gia hạn cho con, sai Lý Vạn và Trường Thiên áp giải con đi tìm. Trời ơi, họ thương con, ban ngày dẫn con đi tìm, đêm tối con về nơi giam cầm. Đi khắp mọi nơi không tìm thấy thật là uổng công. Trời ơi! Trời hãy hiển linh báo ứng, - làm cho kẻ giết người phải tự nói ra. Thấy được đầu mới kết án. Lúc ấy con nguyện sẽ giết gà mổ lợn tạ ơn trời. Trời ơi chưa hẳn kiếp trước con độc ác bất lương, gây nên nỗi oan khiên tầy đình này. Có lẽ hằng ngày con nát rượu, uống say nói bừa, gây ra tai họa, hối không kịp nữa. Không tìm thấy đầu thì kết án làm sao được? Từ nay về sau con thề, vĩnh viễn không bao giờ uống rượu nữa. về nhà con sẽ đập hết chai lọ, vò hũ. Nếu con tái phạm thì trời đánh thánh vật, chó lợn tha xác ăn thịt gặm xương. Con cũng khuyên người đời giữ gìn đức hạnh, đừng nát rượu, đừng điên khùng, hãy trông gương tôi, thì mới vô sự, sống vui vẻ bình yên.
Hồ Thành nghĩ rằng lần này về không có đầu, thì nhất định sẽ không sống được nữa. Ai ngờ không thấy quan chửi bới trách móc, mà đưa một thông báo, nói rằng, đầu người này hẳn là lợn chó đã tha, để tiện cho việc kết án, ai nhặt được chôn đi nay đem nộp sẽ thưởng một quan tiền. Ngày hôm sau, Vương Ngũ mang đầu tới, nói rằng chó đã tha chiếc đầu này tới bờ rào, nên mang nộp quan. Quan thưởng ngay cho một quan tiền. Sau đó gọi Thúy Nương lên hỏi:
- Cô còn trẻ như thế, lại chưa có con cái thì sống dựa vào đâu? Thôi thì cô hãy tái giá ngay đi.
Thế rồi ông cho tay chân loan tin, ai muốn lấy cô thì hãy trình đơn lên, quan sẽ se duyên ngay tại công đường. Thúy Nương lạy tạ rồi lui ra. Vương Ngữ lập tức nộp đơn xin cưới Thúy Nương làm vợ. Quan gọi hai người ra công đường, hỏi:
- Có phải chúng bay đã giết người không?
- Hồ Thành giết người cướp của, - Thúy Nương nói, - con quả đội ơn ngài đã tìm ra. Xin ngài chiếu luật hành tội.
- Không phải, không phải, - quan nói, - đấy là kẻ cướp giả, còn có một tên cướp thật.
- Con quả không biết, mong đại nhân chỉ rõ. - Thúy Nương Đáp.
- Kẻ cướp thật đó là mày và thằng Vương Ngũ.
Thúy Nương và Vương Ngũ sợ run cầm cập kêu oan.
Ta vốn biết chúng mày giết người từ lâu rồi, sở dĩ ta kéo dài không đưa ra ánh sáng ngay, sợ rằng lỡ ra chẳng may bị mắc oan. Xác chưa đưa lên, tại sao ngươi tin chắc đó là chồng, có lẽ mày biết trước được cái chết của chồng. Vừa ra khỏi cửa, thì sao đã biết tường tận về quần áo. Vậy ngươi không vứt xuống thì ai vứt. Hà Giáp có hàng mấy trăm đi buôn, cớ sao lại mặc quần áo rách.
Quan lại hỏi Vương Ngũ:
- Tại sao ngươi lại nộp đầu ngay như thế! Sở dĩ vội vàng nộp đầu, là muốn nhanh chóng lấy Thúy Nương.
Hai tên cứng họng không trả lời được. Quan lệnh phải cung khai, hai tên còn cố cãi. Quan lệnh tra khảo, Thúy Nương và Vương Ngữ biết rằng không thể che giấu nổi, đành phải khai rõ sự thật.
 
Các bạn thân mến, Hà Giáp phẫn chí lên huyện buôn hạt bồ đề, về tới nhà thì gặp Vương Ngũ mua cá chép cùng với Thúy Nương phè phởn ăn uống với nhau. Hà Giáp tới ăn, Thúy Nương chửi là đồ bất tài, không cho ăn. Vương Ngũ giật lấy đũa. Hà Giáp biết dao của Vương Ngũ đặt bên giường, rút ngay dao giết Vương Ngũ. Thúy Nương thấy thế ôm chầm lấy Hà Giáp, Vương Ngũ giật lấy dao, nhè vào ngực đâm một nhát chết tươi. Hai đứa bàn nhau vứt xuống giếng Nam Sơn. Chúng sợ người xuống giếng nhận ra, cho nên cắt mất đầu. Nào ngờ Hồ Thành vận đen, chỉ vì say rượu nói bừa, chui vào lưới của chúng. Vương Ngũ mừng rơn, lại nghe thấy mấy nén bạc, hắn vội vàng thúc Thúy Nương đi nhận, tưởng rằng sẽ được tiền, nào ngờ ngài Phí Y Chỉ là một người có tài, thấy Hồ Thành không phải là người hung ác, cho nên yết thị gọi thân nhân của xác chết đến. Thấy Hà Giáp bị dao đâm, Thúy Nương từ đằng xa đã khóc, biết ngay đó là cô ta, cho nên dụ cô ta tái giá để cô ta yên tâm. Quan lại bắt Hồ Thành nhận tội một cách oan ức, khiến cho cô ta không còn nghi ngờ gì nữa, mang ngay đầu ra nộp. Quan nhẹ nhàng khéo léo bắt phạm nhân.
Án oan đã được sáng tỏ, thế rồi đưa Hồ Thành ra, gọi Phùng An tới. Vương Ngũ, Thúy Nương đều đã khai rõ sự thực. Phí Công đùng đùng nổi giận, đập bàn quát:
- Đỗ Thúy Nương là đồ chó má đê tiện. Người đàn bà phải sống đứng đắn, biết lễ nghĩa liêm sỉ. Vì quá dâm đãng nên phá hoại hạnh phúc gia đình, mưu sát hại chồng, không tuân theo luân thường đạo lí phong tục, bèn sinh ra lòng lang dạ sói. Thế rồi ông gọi sai nha dùng roi gân bò đánh năm trăm cái. Tống vào nhà ngục, chờ tường trình lên tỉnh, rồi sau đó mới lột da rút gân. Duy có Vương Ngũ là đáng căm giận, hắn hoàn toàn là một tên súc sinh, vô đạo đức, hoành hành ngang ngược, mất hết lương tâm. Dám cả gan giết chồng cướp vợ, không sợ phép vua, chẳng hãi thánh thần. Hãy lôi hắn ra đánh đủ bốn mươi gậy cho ta, tâu lên cấp trên chém đầu. Phùng An hãy dỏng tai lên mà nghe, tai họa này bắt đầu từ ngươi. Làm người phải biết giữ bổn phận, sống chan hòa với mọi người, không nên kiện cáo nhau. Ngươi chẳng biết thực hư thế nào đã đi kiện. Tội vu cáo phạt nặng không dung tha. Hãy lôi hắn ra dùng bàn vả da, vả vào mồm hắn thật đau, phạt hắn một trăm đồng.
- Xin quan lớn thương tình, con không có tiền nộp phạt.
- Nếu không nộp phạt thì cùm ba tháng, để sau này chừa cái thói vu cáo đi.
Sau đó ngài gọi Hồ Thành:
- Hồ Thành ngươi hãy nghe cho kĩ, ngươi hẳn biết rằng ta đã khổ như thế nào rồi. Ta biết ngay là Quít làm Cam chịu. Bởi thế ta mới dần dà tìm ra, chỉ sợ rằng, chẳng may trong muôn một mà người tốt phải chịu oan. Vì ngươi say rượu nói bừa nên gây ra tai vạ. Chính ngươi đã mở cửa gọi trộm vào, chẳng khác gì con thiêu thân nhảy vào đĩa đèn. Ta tha ngươi về yên phận giữ mình, sống tiếp cuộc đời. Cỗ bàn mời mọc bạn bè phải thận trọng, đừng có uống nước của nhà bên, người ta thường nói rượu làm cho người ta mụ mẫm đi, tai họa đều từ mồm mà ra. Từ nay trở đi đừng uống rượu nữa, nhất định ngươi sẽ ăn lên làm ra, con cháu đầy đàn.
Xét xử xong, ông cho giam tất cả vào nhà giam, tường trình lên cấp trên, tha Hồ Thành, sau ba tháng tha Phùng An.
Hồ Thành về nhà, hối hận về lỗi lầm của mình, rồi yên phận cai rượu. Phùng An cũng tự hối cải, sau rất thân thiết với Hồ Thành. Hai nhà sau này đều trở nên giàu có. Cấp trên sút giấy về thăng chức cho Phí Công, xử trảm Vương Ngũ, lăng trì Thúy Nương.
Qua vụ án này ta thấy, trên thế gian này chỉ có rượu chè, cờ bạc, trai gái, tiền của là cực kì nguy hiểm. Nó rất dễ mê hoặc người, chẳng kẻ nào mắc phải mà không gặp tai họa, thậm chí mất mạng. Hãy xem Hà Giáp vì sắc mà khuynh gia bại sản, hắn chết cũng còn vì Hà Vĩnh cha hắn là kẻ tham của nên bị báo ứng, cho nên Hà Vĩnh mới sinh ra đứa con ngu muội. Ngũ Vương vì tham sắc nên ngang nhiên giết chồng cướp vợ người, tưởng rằng che mắt thiên hạ, ai ngờ lâu ngày cũng bại lộ, bị tử hình. Đỗ Thúy Nương dâm đãng vô liêm sỉ mưu giết chồng đến nỗi bị lăng trì, chết phải bị tội cắt mũi. Hồ Thành thích rượu, vì rượu mà mắc oan. Phùng An vì tức giận, muốn báo thù nên chịu khổ. May mà hai người biết hối cải, mới gặp được vị quan thanh liêm minh oan, thoát tội. Còn như Phùng thị không thích ăn diện, biết được đạo đàn bà, tiếc rằng lấy phải người chồng không xứng đáng, nàng chết không phải vì tội của mình, mà có lẽ đây là tiền oan nghiệp chướng của kiếp trước chăng.
 

Tóm lại, người ta sống trên đời, dù là nam hay nữ, nếu không sa vào vòng rượu chè, cờ bạc, trai gái tiền của, thì có thể hưởng hạnh phúc, và cũng chẳng phải hối hận gì.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Thu Apr 10, 2014 5:41 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 16
Hai Chiếc Áo Vấy Máu
Kẻ sĩ quý nhất là phẩm hạnh.
Người thầy tối kị ấy nói bừa
Ý nghĩ nảy sinh tai họa đến,
Chưa chết mà danh tiếng nhuốc nhơ.
Lạc Tâm Điền người huyện Việt Tây, Ninh Viễn, học hành rất thông minh, khôi ngô tuấn tú, nhiều lần thi đều xếp thứ nhất. Nhà không giàu, làm nghề dạy học, nói năng hoạt bát, hay nói chuyện phòng khuê. Năm Quang Tự thứ hai, anh ta mở trường tại Nam Hoa Cung, ngoài trường thi Thái Bình, lớp học có mấy đứa trẻ. Nhà phía tây có một người tên là Nghê Trạch Sơn, xuất thân từ buôn bán, tích góp được hơn một ngàn quan tiền, thuê một ngôi nhà ở Nam Hoa Hội buôn thuốc phiện. Lấy một người vợ tên là Bành thị, dung nhan xinh đẹp tính tình hiền thục cần kiệm, tôn trọng và vâng lời chồng, song lại rất thích trang điểm, hàng ngày chỉ điểm phấn tô son. Bành thị có một đứa con trai tên là Xuân Lâm, mới tám tuổi cũng học ở lớp học của Lạc Tâm Điền. Lớp học có một nhà trên và một nhà ngang, không có tường bao. Bành thị thường ngồi ngoài thềm thêu hoa, lúc nghỉ Tâm Điền thấy Bành thị đẹp, lại rất khéo trang điểm, không khỏi thèm muốn khát khao, thường ra ngoài nhìn trộm. Hằng ngày, mỗi khi Trạch Sơn đi khỏi nhà, lại thấy một thanh niên đến chuyện trò cười cợt với Bành thị. Thèm muốn mà chưa được, Tâm Điền bỗng nổi máu ghen, nghĩ rằng ta đã muốn từ lâu còn chưa được, người là đứa nào dám đến chiếm nước ta. Tâm Điền rất ghét người thanh niên ấy.
Một hôm, Tâm Điền ngắm nhìn người đàn bà ấy, lúc trở vào thấy xung quanh chẳng có ai, thấy Xuân Lâm bước ra, Tâm Điển hỏi ngay. Nó bảo:
- Đó là chú Tôn, mở cửa hàng ngoài phố, chú ấy có đứa cháu con ông anh cũng học ở đây.
- Có phải là Tôn Quế Nguyên không? Chú đến nhà con làm gì thế?
- Chú ấy đến chuyện gẫu với mẹ.
- Thế thì nhất định chú ấy phải lòng mẹ rồi.
- Phải lòng là gì.
- Đi đi.
Xuân Lâm nghĩ, "phải lòng" có nghĩa là đi, cách nói ấy rất lạ và thú vị, thế là nó nhớ kỹ.
Một tối, Xuân Lâm ngồi học, thấy nó đọc sang sảng, câu chữ rõ ràng. Trịnh Sơn rất vui, nghĩ rằng năm nay được thầy Lạc dạy, nó khá lên rất nhanh, nếu học mấy năm nữa e rằng sẽ học hết chữ thầy. Thế rồi Trạch Sơn bảo vợ:
- Nếu có thức ăn hoặc rượu ngon thì đưa biếu thầy, thầy sẽ hết lòng dạy dỗ Xuân Lâm.
Bành thị vâng lời rồi đi ngủ. Xuân Lâm học một lúc lâu, nói:
- Cha ơi, con học thuộc rồi.
- Đọc thêm mấy lượt nữa, sáng mai dậy sớm đọc thuộc làu như thế mới ngoan.
Xuân Lâm đọc thêm một lúc, thấy buồn ngủ nói:
- Cha ơi cha, con không học nữa, con phải lòng đây.
- Phải lòng là gì?
- Phải lòng là đi.
- Đi là đi sao lại gọi là phải lòng? Ai dạy con đấy!
- Thầy dạy con.
Trạch Sơn truy hỏi, Xuân Lâm kể lại hết những lời Lạc Tâm Điền nói. Trạch Sơn đùng đùng nổi giận, quát Xuân Lâm đi ngủ.
Trạch Sơn nghĩ: vợ mình là người xấu, làm những điều xằng bậy, thầy trông thấy, làm xấu mặt ta, ra ngoài ta đâu còn dám ngửng mặt mà nhìn mọi người nữa. Ta giết quách đi cho khuất mắt, nhưng phải bắt cả đôi, không chứng cớ thì giết làm sao được. Thế rồi Trạch Sơn nghĩ ra một kế.
Hôm sau Trạch Sơn sắp sẵn một gánh thuốc, sau đó để ra ngoài bốn bát, rồi dặn vợ rằng:
- Nghe thấy thuốc trên phủ rất đắt, anh mang đi bốn bát lên phủ bán thăm giá, nếu đắt thì anh viết thư về, em sẽ thuê người mang lên.
Bành thị nói:
- Bao giờ thì anh gửi thư về?
- Chậm lắm thì cũng phải năm sáu ngày.
Trạch Sơn bèn gánh thuốc lên huyện. Người em họ hỏi:
- Anh bán ở đâu?
- Trạch Sơn bảo lên phủ bán thăm giá.
- Thế bao giờ anh mới về?
- Cũng phải nửa tháng, bán xong rồi về.
Người em họ là Tôn Tử Lương, tính tình khinh bạc, chẳng nghề nghiệp, chỉ thích chơi gái. Cha mẹ khuyên bảo nhưng vẫn không nghe lời. Thấy Bành thị xinh đẹp, muốn hái hoa. Hắn thường kiếm cớ đến nhà Bành thị tán chuyện. Tuy Bành thị thích chuyện trò, nhưng lòng dạ vẫn đoan chính, chị nghĩ rằng anh ta là người thân, nên thường tiếp thuốc mời chè, bàn với anh chuyện nhà cửa. Tử Lương ngỡ chị họ có tình ý riêng tư, song còn ngại anh họ chưa dám ra tay. Nay nghe thấy anh họ lên phủ, thật là một dịp may hiếm có. Vì chồng đi xa, đêm chỉ có một mình nên rất sợ, Bành thị liền rủ chị Vương Tam sang ngủ. Chị Vương Tam tính khí kì quặc, lười nhác, chỉ thích ngủ, thường chửi mẹ chồng, cãi cọ với chị dâu, lại chơi thân với Bành thị nên hôm ấy gọi sang ngủ là chị sang ngay. Đêm ấy sau khi lên giường thấy bụng hơi đau, chị nói với Bành thị là đi ngoài, thế rồi Bành thị tự nhiên ngủ thiếp đi.
Tôn Tử Lương chờ đến canh hai, tới nhà họ Nghê trèo qua cửa sau đi tới nhà xí thì trượt ngã. Thấy dưới đất có một đống lù lù nhìn kĩ giống như đàn bà, tưởng rằng chị dâu họ chờ mình ở đây. Sờ thấy bó chân, Tử Lương rất mừng, lay không động đậy, sờ lên ngực, thấy áo ướt, lôi mạnh mới biết đã chết, sợ quá hồn xiêu phách lạc, co dúm người bỏ chạy. Vừa tới phố thì thấy một người xách đèn đi tới, thì đó lại là người anh họ Nghê Trạch Sơn. Nghê Trạch Sơn hỏi:
- Em đi đâu thế?
- Em... em đến đằng kia lấy nợ. - Tử Lương nói.
- Cái gì trên người em thế?
- Em bị ngã bên nhà xí nên áo bẩn.
Nói rồi vội vã bỏ đi.
Trạch Sơn nghĩ: "Ta giả vờ đi xa, vốn là để bắt kẻ gian phi, ai ngờ nó chạy thoát, tại sao mình hắn lại đầy máu?". Trạch Sơn vội vã về nhà, thấy cửa khép hờ, gọi vợ, không thấy thưa, cửa phòng lại mở, càng nghi đẫy, chửi ầm lên:
- Ghê thật, đêm không đóng cửa, chờ đứa nào?
Bành thị tỉnh giấc, thấy chồng, nói:
- Sao anh lại về?
- Mày hẹn hò đứa nào mà bây giờ chưa đóng cửa?
- Em chờ chị Vương Tam, chị ấy đi ngoài.
- Chị ấy đến làm gì?
- Anh bảo lên phủ, một mình ở nhà em sợ, gọi chị ấy sang ngủ.
- Chị ấy đi ngoài lâu rồi mà vẫn chưa về ư?
Bành thị gọi đến mấy tiếng, không thấy thưa, xách đèn ra ngoài xem, thấy chị bị giết chết ở góc nhà, sợ quá kêu ầm lên:
- Nguy rồi, nguy rồi, đứa nào đã giết chị ấy rồi.
Trạch Sơn ra xem, bèn nói:
- Đúng là Tôn Tử Lương giết rồi, tôi vừa thấy nó khắp người đầy máu.
Bành thị nói:
- Nếu anh biết nó giết, đêm nay mà không đi bắt, nó chạy thoát mình gỡ tội sao được.
Trạch Sơn thấy nói có lí, nghe giọng nói thì hình như vợ mình không thông dâm với hắn, bèn tới báo cho Bảo Ước người hàng xóm gần đó tới nhà xem, nhờ Bảo Ước cử người đi bắt hung thủ. Khi mọi người sắp vào, Trạch Sơn nói:
- Đợi tôi đứng chặn cửa sau, không thì nó chạy thoát mất.
Đến nhà họ Tôn, Bảo ước gọi Tử Lương, vợ hắn đáp:
- Không có nhà.
- Vừa thấy về nhà, sao lại không ra, chúng tôi phá cửa vào đấy.
Nào ngờ Tử Lương sợ quá, quả nhiên chạy ra lối cửa sau, vừa mở cửa thì Trạch Sơn tóm được, lôi ra phố, Bảo Ước khóa hắn lại. Sáng hôm sau giải lên quan.
Nơi ấy cách huyện không xa, quan lập tức xuống hiện trường khám nghiệm, thấy người bị chết do một nhát dao đâm vào mạng sườn. Quan gọi Bảo Ước tới hỏi, Bảo Ước nói đúng là Trạch Sơn thấy áo Tử Lương đầy máu. Quan hỏi Nghê Trạch Sơn:
- Ngươi với hắn là thân thích, tại sao hắn lại đến nhà anh ta giết người?
- Nó định đến gian dâm với vợ con, hận vì chị Vương Tam ngăn trở, cho nên giết chị.
- Ngươi đã biết hắn gian dâm, thì phải phòng bị chứ, - quan nói, - tại sao lại để gây ra án mạng?
- Con giả vờ đi xa, - Trạch Sơn nói, - vốn là để bắt kẻ gian dâm, ai ngờ hắn chạy thoát.
- Nó đã chạy thoát, sao lại biết nó gian dâm?
Trạch Sơn nói rằng thầy Lạc thường thấy hắn đến nhà, rồi nói với con mình rằng, đã phải lòng rồi, - rồi nói tiếp. - Còn việc hành dâm hay chưa con không biết.
Quan gật đầu, lệnh cho Trạch Sơn khâm liệm thi thể, rồi lập tức giải Trạch Sơn về huyện hầu tòa. Quan gọi Tôn Tử Lương hỏi:
- Mày là thằng chó má, tại sao giết người, hành dâm? Trước mặt ta ngươi phải khai rõ sự thật.
Tử Lương kêu oan, đúng là con đi lấy nợ về rồi trượt ngã.
- Tại sao không trình chiếc áo máu lên?
- Bẩm quan, con đã giặt rồi. - Tôn Tử Nương nói.
Quan đùng đùng nổi giận quát:
- Rõ ràng là mày giết, mà mày còn cãi bướng.
Rồi ông lệnh cho tay chân đánh một trăm roi. Tử Lương vẫn cứ kêu oan, quan lệnh đem kẹp Tử Lương. Tử Lương không sao chịu được đành phải kêu:
- Ngài tha cho con, con xin khai.
Quan thét thôi không kẹp nữa, Tử Lương khóc lóc nói:
- Chiếc kẹp này thật là khủng khiếp, mồ hôi con vã ra đầm đìa, đầu ngón tay bị dây cuốn chặt, gân cốt như đứt đoạn, đầu nhức, mắt hoa, sống dở chết dở. Việc này do con hiếu sắc nên bị báo ứng, vừa bắt đầu đã bị phạm tội, còn oán trách ai.
- Vẫn không khai ư? - Quan quát.
- Thưa ngài, con xin khai. Hằng ngày thấy chị dâu đẹp nõn nà, lại khéo trang điểm khiến con say đắm không sao kiềm chế nổi, thường kiếm cớ đến nhà chơi. Chị họ con là người khiêm tốn hòa nhà, tiếp đãi thuốc nước rất lịch sự. Con nghĩ rằng chị ấy cũng có tình ý với con. Thấy anh họ đi xa con khấp khởi mừng thầm, đêm ấy vào trước lúc canh ba con mò tới thông dâm. Vượt qua bức tường phủ rạ bên cạnh nhà xí, đến gần cửa trượt chân ngã. Đứng dậy thấy hình như có một người đàn bà ngủ. Sờ tay vào mới biết đã chết rồi. Hãi quá, con vội vã cắm cổ chạy, gặp anh họ con, anh ấy nghi ngờ bắt con giải lên thành. Những điều con khai hoàn toàn là sự thật, con không hề che giấu. Con cũng không biết ai đã giết chết người trong nhà anh ấy.
- Ta cho rằng mày và Bành thị thông dâm, người đàn bà ấy biết được, nên mày đã giết đi để bịt đầu mối, mày còn chối gì nữa.
- Trời ơi, thưa ngài, tuy con có ý nghĩ tà dâm, nhưng con chưa hành dâm. Tấm lòng con thề có quỷ thần chứng giám. Chị Vương Tam là một người hèn hạ, con biết cũng chẳng đụng đến chị ấy để mắc tội.
- Nếu chưa hành dâm, - quan nói, - ta cho rằng ngươi thấy người đó, tưởng là Bành thị, rồi cưỡng dâm nhưng Bành thị không chịu, ngươi sợ chị kêu lên, cho nên ngươi giết đi. Người không khai ư?
- Chao ôi! Thưa ngài, hoàn toàn không phải là con cưỡng dâm mà giết người. Trước đó chị ấy đã bị người ta giết chết rồi. Điều ấy quả là do con gặp cơn đen vận túng, chui vào lưới của nó, con tha thiết mong ngài thương tình.
- Đồ chó má, mày là đứa già mồm. Quân bay đâu, nhốt nó vào cũi cho ta.
- Nhốt con vào cũi thật là đau đớn, chẳng khác nào chui vào địa ngục Diêm vương. Nếu không khai thì sẽ chết, thôi thì hãy khai rồi sau này tìm cách. Thưa ngài thả con ra, con đã giết chị Vương Tam.
Khai xong, kí tên, quan ra lệnh phải trình áo dính máu và hung khí. Tử Lương nói là để ở nhà, rồi quan tống Tử Lương vào nhà giam, bắt sai nha đi lấy dao và áo. Ai ngờ mẹ Tử Lương thấy con đã cung khai, sợ rằng áo dính máu thì sẽ không còn đường sống, nên cả nhà đã bỏ trốn. Sai nha tới chẳng thấy một ai. Trở về bẩm quan. Quan lại lôi Tử Lương ra đánh một ngàn roi. Thương thay Tử Lương không có ai thân thích đút lót cho bọn coi ngục, nên đã bị chúng đánh đập tàn nhẫn. Những vết thương lại đau, song cũng chẳng biết làm sao được. Sau đó năm ngày lại đánh thêm hai trăm roi nữa. Đến nỗi Tử Lương không sau đứng ngồi được, chỉ còn thoi thóp thở. Lần thứ ba bức khai, phải dùng cánh cửa khiêng lên công đường. Tử Lương van nài:
- Thưa ngài, con không chịu nổi đòn nữa, cha mẹ con không nộp áo máu, con mong ngài thương con, giải con về nhà tìm. Cha mẹ thấy con khổ, ắt phải đưa chiếc áo ấy ra.
- Đồ chó má, - quan nói, - mày định về nhà tìm cách chạy trốn ư?
- Thưa ngài, con sắp chết rồi, một mình con về nhà cũng khó mà chạy được, - Tử Lương nói, - huống hồ có sai nha áp giải thì con có chạy đằng trời.
Quan lập tức lệnh cho sai nha khiêng Tử Lương về nhà. Thấy Tử Lương, cha mẹ, vợ và anh chị nhìn nhau khóc. Trước tình cảnh ấy Tử Lương khóc rống lên:
- Thấy cha mẹ mà con đứt từng khúc ruột. Thấy vợ và anh chị lòng con như vò xé. Đều chỉ vì nhà anh Nghê Trạch Sơn xảy ra án mạng, con không tham dâm mà chui vào thòng lọng. Không biết kẻ nào lòng lang dạ sói, giết chết người, khiến áo con dây máu. Anh Nghê Trạch Sơn đã nghi cho con, bắt con giải lên huyện. Con đã chịu biết bao cực hình, buộc con phải cung khai. Vì không có áo và dao nên con chịu hàng ngàn roi, đánh đến nỗi dù con nát bét, rách da toạc thịt, máu chảy đầm đìa. Quan tống con vào ngục, con không có người thân đút lót cho người coi ngục, nên họ vứt vào nhà xí thối không chịu nổi, cứt đái bê bết đầy người, họ còn khạc nhổ vào người, bắt chấy rận bỏ lên đầu con. Đêm đến rệp lổm ngổm kéo đàn kéo lũ, mặc sức cắn no trên những vết thương ở chân và tay. Những con rận bụng no kềnh bâu vào những vết lở loét vừa ngứa vừa đau đớn nhức nhối. Từ chập tối cho đến sáng, hai mắt cứ mở chong chong. Ban ngày thì bị giày vò chẳng được một phút yên thân. Vết thương vừa đóng vảy thì quan lại gọi lên truy hỏi, tuy là hai trăm gậy còn đau đớn hơn hai ngàn gậy. Khiến con đứng không được mà ngồi cũng không xong. Không có tiền đút lót, không ai thăm hỏi thì con sống được bao lâu nữa! Bức cung lần thứ ba, con cầu xin quan lớn gia ân, ngài mới sai người áp giải con về nhà. Ôi! Cha mẹ ơi! Nếu không tin thì cha mẹ hãy nhìn kĩ hai chân con máu mủ dính bết vào vẫn chưa khô. Ôi trời ơi! Cha mẹ ơi! Lẽ nào con chịu khổ mà cha mẹ không thương con, vì sao giấu dao và áo đi không trình lên quan.
- Quan nói rằng có chiếc áo máu mới kết án, - người mẹ nói, - thì con sống sao nổi, ai ngờ con tôi khổ tới nông nỗi này.
- Trời ơi! Cha mẹ ơi! Có áo máu thì nhất định con phải chém đầu, không có áo máu con bị truy bức thì càng khổ hơn. Bị chém đầu thì chỉ một nhát dao là kết liễu, còn bị truy bức thì cứ cách mấy ngày lại phải làm tình làm tội. Thôi thì chết sớm cho yên phận.
- Có áo máu mà không có dao thì lấy gì mà trình quan?
Người mẹ nói.
- Không có dao giết người, con nghĩ dao giết lợn hay dao nào cũng phải nộp.
- Con ơi! Đừng khóc nữa, mẹ biết rồi và sẽ làm ngay.
- Ôi cha mẹ ơi! Muốn biết con, mẹ hãy nhìn vào đôi mắt con. Cha mẹ hãy tha thứ cho, khi cha mẹ về già con không thể tiễn đưa cha mẹ về nơi chín suối. Ôi, em yêu của anh ơi! Em muốn nhìn anh thì hãy nhìn đi, từ nay về sau uyên ương đôi ngả, xẻ nghé tan đàn. Ôi, anh chị ơi! Nếu đao phủ tới pháp trường xử trảm, em mong anh chị hãy nhặt lấy đầu em đừng để chó tha. Em nghĩ rằng linh hồn hung dữ của em khó mà vào nhà được hằng năm vào dịp tết, anh chị hóa ngay ngoài cổng cho em ít giấy tiền. Lời dài ngày ngắn nói sao hết tấm lòng li biệt. Nếu muốn gặp em chỉ trong giấc mộng.
Khóc xong, vợ anh lấy ra chiếc áo máu, cha anh tìm dao, đến chiều đi cùng Tử Lương tới giao cho quan huyện, đút lót cho bọn cai ngục rồi mới về nhà.

Ngũ thị vợ Tử Lương cũng là con nhà danh giá, tính tình hiền thục. Thấy chồng bị oan, khóc lóc suốt ngày, cầu thần khấn Phật, xem bói rút thẻ, đều thấy nói rằng chồng mình rồi sẽ tai qua nạn khỏi. Ngũ thị lên huyện nói điều ấy với chồng. Tử Nương nghĩ: "Anh gặp oan ức vốn là do ý nghĩ tà dâm mà ra, chứ đã hành dâm đâu mà mắc nạn". Rồi lại nghĩ: "Tội tày trời mình biết hối hận thì cũng sẽ tai qua nạn khỏi". Từ đó trở đi anh rất hối hận, sống chết cứ phó mặc cho tạo hóa. Rồi anh thề với trời xanh rằng: từ nay về sau bỏ hẳn tà dâm, tu dưỡng phẩm hạnh, nếu được minh oan ra khỏi tù, nguyện tự khuyên nhủ mình để chuộc lại lỗi lầm.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Thu Apr 10, 2014 6:16 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 16 (B)
Viên quan huyện ấy qua kiểm tra hằng năm thấy có thiếu sót, nên bị miễn nhiệm. Quan mới được bổ nhiệm họ Lâm, là người yêu thương dân và có tài năng thực sự. Tử Lương đệ đơn kêu oan, vì quan mới được bàn giao, công việc rất bận chưa kịp xét hỏi. Tối mồng sáu tháng Ba, là ngày sinh nhật Tử Lương. Ngũ thị vợ Tử Lương đem hương nến, trầu rượu cùng với cháu là Quế Nguyên tới đền chùa miếu mạo thắp hương, kêu cầu Bồ Tát phù hộ cho chồng thoát nạn. Tới cung Nam Hoa thắp nhang, chưa kịp cúi đầu vái lạy, đã thấy chuột kêu rúc rích trên nóc khám thờ, khiến chị giật mình. Cúng thần xong, Quế Nguyên là đứa táo gan, trèo lên xem, thấy một con chuột chạy ra, bèn bò lên, thấy một bộ quần áo, lôi ra xem, thì đó là quần áo của thầy Lạc. Nó nói:
- Hôm trước thầy mất bộ quần áo này, nhờ hết người này đến người khác đi tìm, sao hôm nay lại thấy ở đây.
- Có đúng là của thầy ấy không? - Ngữ thị hỏi.
- Chiếc áo này cháu biết mà, - Quế Nguyên nói, - tết bằng vải đen, không tin thím cứ đi hỏi chúng nó mà xem.
Lúc ấy bọn học trò nhóc đang chơi trước sân, đều nói là của thầy. Ngữ thị thấy chiếc áo đầy máu đã bị chuột gặm thủng hai lỗ. Chuột đang nhai chiếc áo máu, chợt đốt vàng hương, hơi nóng và khói xông lên, chuột kêu chin chít, chạy tán loạn.
Ngũ thị cầm áo, dặn lũ học trò đừng nói với thầy, về nhà nói với bố mẹ chồng. Bố chồng nói:
- Đúng là người ấy bị thầy giết rồi, xem ra ông ta có tình ý với Bành thị, tới thông dâm, đụng đầu chị Vương Tam, chị kêu lên, nên đã giết đi. Nếu không thì tại sao ông ta nói là phải lòng nhau?
Mọi người đều cho rằng đúng là ông ta giết, không còn nghi ngờ gì nữa. Thế rồi họ lập tức lên huyện cáo giác, và trình chiếc áo máu lên quan làm chứng cứ.
Quan xem xong, lại lấy bản án ra xem, rồi ông so sánh vết máu trên hai chiếc áo, lật xem cả trong ngoài, sau đó ông xem tới con dao. Ông nói:
- Người đàn bà ấy là do người này giết.
- Tại sao ngài biết? - Những người cấp dưới hỏi.
- Chiếc áo trước máu không thấm vào bên trong, chỉ là bôi máu lên mà thôi, dao không có dấu vết, nên biết đó là giả. Còn chiếc áo này máu thấm cả trong lẫn ngoài, thì quả thật người đó giết người rồi.
Những người cấp dưới hết sức bái phục. Quan lập tức lệnh cho sai nha bắt Lạc Tâm Điền. Quan hỏi:
- Ngươi là đồ chó má, tại sao làm thầy mà không giữ pháp luật dám cả gan hành dâm, giết người, việc đã bại lộ mà vẫn không khai?
- Con làm thầy nên luôn giữ gìn đức hạnh, con chưa từng hành dâm, giết người, xin ngài đừng vu tội cho con.
- Đồ chó má, mày đã gian dâm với Bành thị vợ Nghê Trạch Sơn rồi giết chị Vương Tam. Vẫn còn chiếc áo máu, tại sao mày không nhận?
- Mấy hôm trước đây con mất chiếc áo, - Tâm Điền nói, - có thể người khác đã lấy trộm áo, rồi đi giết người cũng nên. Xin ngài xem xét kĩ.
- Mày không lừa dối được ai đâu. - Quan nói. - Áo là của mày, hơn nữa mày còn nói với học trò là "phải lòng nhau”, mày cãi sao được nữa.
- Đó là do con thấy cử chỉ không đẹp nên nói thế, con biết như thế là sai, còn như giết người thì quả thực con không biết.
Quan ngẫm nghĩ một lát rồi nói:
- Không có hành động dâm đãng, sao lại nói những lời bậy bạ.
Thế rồi ông lệnh cho bọn tay chân đánh hai trăm roi. Tâm Điền vẫn không nhận. Quan lại kẹp thật đau, Tâm Điền không sao chịu nổi, kêu khóc:
- Ngài kẹp con đau quá, khiến con nuốt nước mắt chịu đựng. Mồ hôi vã ra đầm đìa, toàn thân rát bỏng, đau đớn hơn cả xéo da cắt thịt. Quả thật là tai bay vạ gió, dù có mồm năm miệng người cũng không sao thanh minh được. Con là người có học, tại sao ngài cứ đổ riệt cho con. Con tuy nhát gan, chân yếu tay mềm, song con đọc hết sách Thánh hiền, đêm tối con có ra khỏi cửa đâu mà bảo con giết người.
- Kẻ sĩ vô hạnh thì làm bất cứ điều gì. Quân bay đâu hãy tra khảo nó cho ta. - Quan nói.
- Lại tra khảo thì con đến chết mất. Đánh con đến sống dở chết dở, lục phủ ngũ tạng như thiêu như đốt, đầu như vỡ tung, mắt như lồi ra. Thưa ngài, cách đây mười năm con đã mấy lần thi đỗ. Lòng những mong rằng sẽ được ghi tên trên bảng vàng bia đá, được đỗ hai khoa. Con không thể hủy hoại phẩm giá tự gây nên tội, bỗng dưng xóa bỏ cả công danh của mình. Hơn nữa chị là người hàng xóm có con học hành, lẽ nào lại lòng lang dạ thú, thông dâm với người ta?
- Mày vẫn còn cãi bướng, - quan nói, -. quân bay đâu, hãy tra khảo cho ta.
- Thưa ngày, quả thực là lần này con càng thấy không thể nào chịu đựng nổi. Kẹp con đến nỗi vãi cứt vãi đái, suýt nữa con tắt thở, kết liễu cuộc đời, thế rồi bỗng chốc không biết sao con sống lại. Con nghĩ rằng nhận thì thanh danh mất hết, nếu không nhận thì nhất định cũng phải gặp Diêm vương. Là người có học không thể làm mất thanh danh, dù có chết đi cũng bị người đời vạch mặt chỉ tên. Thôi thì ngài cứ kẹp con tan nát, song việc oan uổng con quyết không nhận, ngài làm gì được con.
- Đồ chó má, quả thực nó không khai thì hãy buông nó ra.
Sau một thời gian quan lại lệnh cho tra khảo.
Lạc Tâm Điền nghĩ: "Lần tra khảo này vô cùng độc ác, tàn nhẫn, chết đi sống lại như thế thì chịu đựng sao nổi. Trước đây ta không nhận quả thực là sai, dù cho có lên trời hay chui xuống đất cũng không sao thoát được. Thôi thì chịu oan khuất, khai ra, sẽ có Quan âm Bồ Tát cứu giúp. Điều này hoàn toàn do mình có ý nghĩ tà dâm nói năng bừa bãi mà gây họa. Thế thì mình chịu đánh đập cùm kẹp, còn trách ai nữa!".
- Hãy khai mau. - Quan quát.
- Thưa ngài, đúng là ngài sáng suốt, quả thật con đã giết người.
- Vậy thì dao mày giấu ở đâu?
- Hôm ấy con hốt hoảng chạy trốn, con đã giấu dao vào hốc đá, con quên mất chỗ rồi.
- Thế thì ngươi với Bành thị đã gian dâm chưa? - Quan hỏi.
- Nói về hành dâm thì đây là lần đầu, nhưng chưa hành sự con chỉ làm bại hoại thanh danh vì đã ăn nói bậy bạ.
Khai xong, bèn cho Tôn Tử Lương ra khỏi ngục, và tha ngay tại chỗ.
Lạc Tâm Điền chưa có vợ, chỉ có một người mẹ đã góa chồng, nghe thấy con mắc oan, vội vã lên huyện. Hỏi thăm đến nhà giam, bọn coi tù cho vào. Thấy con mang xiềng, chân tay bị khóa, không áo quần, đứng dưới hố phân, người teo tóp gầy như que củi, bà kêu lên một tiếng "Con ơi!" rồi ngã vật xuống. Tâm Điền vội vã gọi mẹ, một lúc lâu sau mới tỉnh, khóc rằng:
- Mẹ chỉ khuyên con học hành đỗ đạt cho mẹ mở mày mở mặt, nào ngờ chịu oan vào tù, khiến mẹ không sao tưởng tượng
- Đây là nghiệp oan kiếp trước của con, - Tâm Điền nói, - nên ngày nay mới chịu tội, chỉ nói sai một câu mà dẫn đến tai họa này, nay có hối thì cũng đã muộn rồi.
- Con hãy viết một lá đơn kêu oan để mẹ liều mạng lên trên kháng cáo. - Người mẹ nói.
- Lòng con bây giờ rối như tơ vò, - Tâm Điền nói, - sao có thể viết đơn được. Con nghĩ rằng dù mẹ có kháng cáo lên trên cũng chẳng được nữa.
- Không kháng cáo lên trên, nếu có điều gì bất trắc thì mẹ dựa vào ai.
- Mẹ đừng lo, áo máu tuy là của con nhưng không có hung khí thì vụ án cũng chưa phán quyết được, dần dà tìm cách, sẽ có cơ hội sống được. Hãy đút lót cho người coi ngục thì con mới thoát chết.
Mẹ Tâm Điền nói với họ rất thảm thiết, đút lót cho họ, nhưng họ vẫn không nghe. Tâm Điền bảo mẹ tới nhà Cục ThânTuy Tâm Điền nói năng hoạt bát sắc bén, song không có thiếu sót gì lớn những nho sĩ đều nể mặt. Cục Thân thấy được nhờ cậy, bèn bỏ ra một quan tiền đút lót mới xong. Lúc ấy quan đưa Tâm Điền ra truy hỏi con dao dùng để giết người. Tâm Điền cắn răng chịu đựng. Viên quan này là người tài giỏi, lại là người có học, chỉ đánh hai mươi roi để răn dạy, bởi thế mấy lần truy hỏi cũng không đến nỗi phải chịu đòn đau. Tâm Điền nghĩ: "Ta là thầy, mà lại nói những lời bậy bạ, nên gặp phải nỗi oan này, đạo đức tổn thương, danh dự không còn, tiếng tăm mất hết, làm ô uế cửa Khổng sân Trình, quả là tội của kẻ sĩ vậy. Nếu không mau mau hối cải thì e rằng sẽ phải tù mọt gông". Từ đó Tâm Điền lặng lẽ cầu trời khấn Phật: phải sửa sang đức hạnh, chặn đứng ý nghĩ tà dâm, giáo dục nhân tài, thường xuyên hối cải.
Nào ngờ người đã thành tâm thì thần Phật cũng phù hộ, một hôm ngài Lâm đi khám nghiệm thi thể trở về, cách Thái Bình Trường không xa, đường rừng núi hẹp và hiểm trở rất khó đi. Bên đường có một ngôi mộ cổ, kiệu của quan đi quanh co ngoắt ngoéo, qua ngôi mộ cổ, bỗng nhiên trượt chân, phu khiêng kiệu rơi xuống hố, thấy một con dao, người ấy nhặt lên.
Quan hỏi vật gì, phu kiệu giao cho quan. Quan thấy dao có vết máu, lại có chỗ han gỉ, nghĩ rằng Lạc Tâm Điền khai dao giấu ở hốc đá, vậy thì con dao này nhất định là của nó rồi. Trở về nha môn quan gọi Tâm Điền lên hỏi. Tâm Điền vẫn khai như thế. Quan nói:
- Con dao giết người ấy ta đã tìm thấy rồi, giấu ta làm sao được?
Thế rồi ông đưa con dao ấy cho Tâm Điền xem. Tâm Điền nói:
- Con dao này là của người đầu bếp của con.
- Đồ chó, mày đã khai là giấu ở hốc đá, con dao này tìm thấy ở hốc đá, tại sao lại đổ cho đầu bếp?
- Đây là con dao mà nhà bếp thường dùng, học trò đều biết cả. Thực ra con sợ tra tấn mà nhận bừa đó thôi, quần áo con cũng mất. Tấm lòng con quả thật có thiên địa quỷ thần hai vai chứng giám, con hoàn toàn không lừa dối.
- Áo mất từ bao giờ? - Quan hỏi.
- Người đầu bếp giặt quần áo đưa cho con, con gối xuống đầu giường, hôm sau nhà họ Nghê xảy ra án mạng, rồi hai hôm nữa con mới biết, con tìm mãi mà không thấy.
Quan bỗng nhiên hiểu ra nói:
- Vụ án này, ngươi mắc oan rồi, người đầu bếp của ngươi tên là gì?
- Thưa ngài đó là Hà Tứ Ma.
Quan lập tức sai người đi bắt Hà Tứ Ma. Chửi rằng: - Đồ chó má, hãy khai mau việc mày giết chị Vương Tam.
- Việc giết người, quan hỏi thầy mới biết, chứ con sao mà biết được.
- Đồ chó má, mày lấy trộm áo để đội lốt giết người mà vẫn không nhận ư?
- Thưa ngài, thật là oan cho con, quả tình con không biết.
Quan lệnh mang kẹp ra, kẹp hắn lại. Hà Tứ Ma trông thấy kẹp sợ run cầm cập, nói:
- Thưa ngài, đừng tra tấn nữa, con xin khai.
Thế là hắn khai tỉ mỉ từ đầu:
- Ngài đừng tra khảo, con xin khai tường tận từ đầu. Con là một thằng khốn nạn, nhà nghèo. Năm nay con làm thuê cho lớp học. Mỗi lần ra khỏi cửa, con thấy một người đàn bà rực rỡ. Chị mặc quần áo rất đẹp. Ngày nào con cũng ước mơ. Một hôm con đến nhà xép lấy củi, con nghĩ rằng thầy đã mê người ấy nhất định thầy muốn hái hoa, nếu thầy cùng cô chung chăn gối thì ta sao thưởng thức được niềm khoái lạc. Ta phải ra tay trước, giả danh thầy đến phòng cô, nói là thầy thì hẳn là cô ấy phải kính trọng, chẳng tốn sức mà lại được chung chăn gối. Bỗng nghe thấy chồng cô lên phủ, con lấy trộm quần áo lẻn ra ngoài. Lấy dao nhét vào bụng phòng thân. Vào lúc canh hai, con nhẹ nhàng vọt qua tường. Thấy có người mang đèn đi về phía con, bỗng đèn phụt tắt. Rồi thấy bóng người đàn bà thấp thoáng hiện ra. Con nói Bành thị đẹp quá, rồi chạy tới ôm chầm lấy cô. Người đàn bà cuống lên, định kêu nhưng con bịt chặt lấy mồm không kêu được. Người ấy bóp dái con đau điếng, thế là con đâm chết. Sợ hãi quá con quay đầu chuồn thẳng. Con len lén tới miếu giấu chiếc áo máu trên nóc khám thờ, nghĩ rằng có mà trời biết được. Con dao dính đầy máu, mà đi lại sáng quắc. Sợ người khác biết được, con giấu nó vào ngôi mộ cổ. Ai ngờ kẻ ác, trời không phù hộ. Ngày ngày oan hồn cứ bám riết lấy con. Bị lũ chuột ngầm chỉ cho nhà họ Tôn tìm ra quần áo máu. Thấy thầy mắc oan con yên tâm tưởng rằng thoát khỏi tai vạ. Khi kiệu của ngài đi qua ngôi mộ cổ, phu khiêng kiệu trượt chân ngã, đã vớ được con dao trình lên quan. Bởi thế quan hiểu ra, bắt con lên xét hỏi. Sợ quá, không còn cách nào khác con phải khai ra. Đây là lần đầu con giết người, mong ngài rộng lòng thương, tha cho con.
Khai xong quan Hà Tứ Ma ký tên, tống hắn vào ngục và tha cho Lạc Tâm Điền. Quan nói:
- Vụ án này do lời nói của ngươi mà gây ra oan khuất. Lẽ ra phải đánh để răn đe ngươi, song ta nghĩ rằng trước đây ngươi đã bị tra khảo, cho nên ta tha. Đã là kẻ sĩ không được nói bừa, tuân theo bốn điều đừng làm của Nhan Tử(1). Làm gì cũng phải thận trọng theo lời dạy "tam tư” của Quý Văn(2), Còn như việc dâm dục nhất thiết không được sai phạm. Từ nay về sau phải cải tà quy chính, đừng coi thường thanh danh kẻ sĩ là được.
(1) Nhan Tử Nhan Uyên, học trò của Khổng Tử. Ông nói: "Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động". Đại ý là cái gì không phải là lễ thì đừng nhìn, đừng nghe, đừng nói, đừng làm.
(2) Quý Văn: là học trò của Khổng Tử. ông nói: "Tam tư nhi hậu hành", có nghĩa là phải suy nghĩ kĩ rồi mới làm.
 
Tâm Điền cúi đầu nhận lỗi, về nhà tu thân lập chí, nói năng, làm việc thận trọng, hết lòng dạy học. Thường nghiêm ngặt, dạy bảo học trò phải thực hành điều hiếu và bỏ điều dâm. Năm sau ông thi đậu tú tài, về sau được cử làm cống sĩ. Hà Tứ Ma bị giam vào ngục, chịu biết bao cực hình, đao phủ tới chặt đầu trước đông đảo mọi người. Bành thị tuy thích trang điểm, nhưng là người rất hiền thục, kính trọng chồng, cho nên hai lần chịu tiếng oan, nhưng danh tiết vẫn bảo toàn. Về sau Bành thị hối cải, không trang điểm nữa, biết kính trọng yêu quý sách vở và được hưởng hạnh phúc suốt đời. Tôn Tử Lương sửa chửa lỗi lầm giữ gìn bổn phận, về sau cửa nhà khá giả, và suốt đời vẫn là người tốt.

Từ vụ án này ta thấy, lòng người vừa mới nhen lên, thần Phật đã biết ngay. Con người không chỉ gây ra tội ác khó tránh khỏi báo ứng, mà ngay cả một ý nghĩ xấu mới nẩy sinh cũng bị báo ứng. Ngay cả những kẻ mới có ý nghĩ tà dâm nói ra miệng, thì có kẻ nào thoát khỏi tai họa, khổ nhục đâu. Ta mong rằng người đời hãy lấy Tôn Tử Lương, Lạc Tâm Điền làm bài học cho mình.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Thu Apr 10, 2014 6:34 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 17
Chiếc Áo Vấy Máu
Chuyên chốn phòng the gây tai vạ,
Nói năng bừa bãi dễ chết oan.
Ai ơi, xin chớ coi thường nó,
Kẻo mà trời nổi giận lôi đình.
Chuyện Nghi Tân có Diệp thị, là người còn rất trẻ, nhà giàu có tính tình hiền lành, thường hay đi cúng bái vào mồng một hay ngày rằm hằng tháng. Diệp thị tới quán Tam Vương dâng hương lễ bái rất thành tâm. Diệp thị sinh được một đứa con, đặt tên là Tất Đạt. Con còn đang ẵm ngửa thì chồng chết, Diệp thị vất vả nuôi con, dạy bảo nghiêm khắc, không chút nuông chiều. Tất Đạt khôi ngô tuấn tú, học hành thông minh, chỉ tiếc rằng hay nói năng bừa bãi, thích bàn chuyện phòng the. Mười bốn tuổi đã biết viết văn, mười tám tuổi đỗ tú tài, cưới vợ, hai việc vui mừng đến cùng một lúc. Đúng là đêm động phòng hoa chúc cũng là lúc được ghi tên trên bia đá bảng vàng. Đây là ngày vui sướng nhất trong cuộc đời. Ai ngờ vợ là Cừu thị, người rất xấu, mặt rỗ chân to, Tất Đạt không thích, thường đánh chửi luôn. Cái gì không lấy được bắt vợ lấy, việc gì không làm được bắt vợ làm, hành hạ vợ cho chết đi để lấy vợ đẹp. Cừu thị là người hiền lành hiếu thuận, lại rất ân cần, nhưng tính tình nóng nảy. Mỗi khi chồng đánh chửi thường uất nghẹn tới cổ, nỗi uất ức cứ tích tụ lại, hai năm sau thì đổ bệnh, tim đập gấp, khí uất cứ ứ lên, rồi sinh ho, khạc ra đờm. Tất Đạt mừng thầm. Thấy con dâu hiền lành, hiếu thảo, Diệp thị thường khuyên nhủ con, nhưng Tất Đạt không nghe.
Một hôm, bỗng thấy chim khách kêu táo tác, bọn trẻ con vui thích cười rộ lên. Tất Đạt chạy ra xem, thấy đằng sau nhà có một đôi chim khách đang mớm con trong tổ. Mấy đứa trẻ mục đồng trèo lên bắt chim con. Tất Đạt chửi ầm lên, bắt chúng bỏ vào tổ, rồi thuê người lấy gai rào rấp để chúng khỏi trèo. Không được ăn thịt chim khách, bọn mục đồng tức giận. Thấy Tất Đạt không có nhà, chúng dùng súng bắn vào tổ, chim mẹ rơi xuống. Diệp thị nghe tiếng động chạy ra, thấy chim khách rơi ở vườn sau, đuổi bọn mục đồng đi. Nhặt chim lên, thấy nó gẫy cánh. Diệp thị mang về, lấy gạo cho ăn. Đến chiều Tất Đạt về, thấy chim chồng cứ bay xuống chỗ chim vợ kêu thảm thiết, như an ủi và nghe vợ kể về nỗi đau khổ của mình. Diệp thị nói:
- Con ơi! Con thấy vợ chồng con chim khách biết yêu thương nhau đến thế. Một con bị thương thì con kia liều chết tới thăm, một con nói về nỗi khổ sở của mình, còn con kia thì an ủi vợ. Chúng yêu thương nhau sao mà thắm thiết đến thế. Chúng khác hẳn vợ chồng con. Vợ con tuy xấu, âu cũng là do cha mẹ sinh ra, nó chỉ biết chịu vậy, chứ làm sao khác được. Con chửi bới đánh đập giày vò nó, khiến mẹ yên lòng sao được? Con đường đường là một vị tú tài, lẽ nào không bằng cầm thú.
Tất Đạt tỉnh ngộ, lấy thuốc bôi vào vết thương cho chim, rồi đưa nó lên tổ. Từ đó vợ chồng sống rất hòa thuận. Nào ngờ, Cừu thị khí uất quá lâu, gan bị tổn thương nặng, khó mà chữa trị, được một năm thì chết. Mai táng vợ xong, Tất Đạt ở nhà miệt mài đèn sách để đi thi.
Một hôm ra ngoài chơi, thấy Uông thị đi qua. Uông thị là người giảo hoạt, mồm nói ngọt sớt, nhưng lòng dạ thì độc địa, chuyên làm thuốc trụy thai, lại hay đưa tin mối manh qua lại giữa những bọn dâm phu. Thấy Tất Đạt thị hỏi:
Ông Văn Tất Đạt, vợ ông đã mất nửa năm rồi, tại sao không tìm người khác?
- Cũng muốn tìm đấy nhưng không có ai đẹp.
- Mắt ông như thế mà không thấy người đẹp xung quanh sao, không biết người như thế nào thì ông lấy?
Tất Đạt cười, nói: - Hôm qua thấy bên nhà chị có Khấu thị vợ của Chu Vinh rất xinh đẹp và đoan trang, được người như thế thì tôi mới lấy.
- Thế thì quả là ông đã yêu cô ấy rồi. - Uông thị nói.
- Không những yêu, mà muốn lấy, không biết cô ấy có bằng lòng không? - Tất Đạt nói.
- Cô ấy có chồng rồi. - Uông thị nói. - Làm sao mà cô ấy chịu lấy! Nếu ông muốn tôi sẽ có cách, làm cho cô ấy lấy ông.
- Cách gì? - Tất Đạt hỏi.
- Cứ lấy dao giết quách chồng cô ấy, thì tự nhiên cô ấy lấy - Uông thị nói.
- Được thôi - Tất Đạt cười, nói.
Nửa tháng sau, Chu Vinh đi chợ về bị giết chết và lột hết quần áo ở đèo Hoàng Giác. Đèo Hoàng Giác là đất của Uông thị. Vì đất cày cấy ít nên Uông thị thuê thêm rồi làm chung với Chu Vinh. Uông thị báo ngay cho lí trưởng tới xem, và nói lại chuyện nói đùa với Tất Đạt trước đây. Lí trưởng bẩm quan, tố cáo Tất Đạt. Quan lệnh cho sai nha đi bắt, quan hỏi:
- Văn Tất Đạt, ngươi đã giết Chu Vinh. Tại sao ngươi nhận mũ áo triều đình, biết pháp luật mà còn phạm pháp?
- Thảo dân hằng ngày đọc sách, không rời khỏi nhà nửa bước, - Tất Đạt nói, - vậy thì con giết người ở đâu?
- Mày từng nói với Uông thị là sẽ giết Chu Vinh để lấy Khấu thị, nay tại sao mày không nhận?
Uông thị cúi đầu nói:
- Ông ta bảo với con là vợ Chu Vinh đẹp, rồi lại hỏi liệu cô ấy có lấy ông ấy không? Con nói đùa là nếu giết chồng cô ấy đi tự nhiên cô ấy sẽ lấy. Ông ta bảo "được thôi". Tôi thấy ông ngông cuồng nên đưa việc khó ra để chặn ý nghĩ của ông ta, chứ biết đâu ông ta lại làm thật.
- Chị hỏi đùa tôi, - Tất Đạt nói, - nên tôi cũng trả lời thế để đùa chị, cả hai đều vừa cười vừa nói thì thật sao được?
- Ta hỏi ngươi mà sao ngươi không khai? - Quan nói.
Sau đó quan bảo bọn tay chân tra khảo, rồi quan lại bảo:
- Ngươi khai thành thực đi, ta nghĩ rằng ngươi là kẻ sĩ ta sẽ tha cho.
Tất Đạt cứ kêu oan. Quan đùng đùng nổi giận tát cho tám mươi cái, Tất Đạt hộc máu mồm, khóc lóc:
- Đánh trận này con hộc cả máu mồm, con run cầm cập không nói được. Nghĩ rằng từ khi sinh ra con luôn luôn giữ mình lương thiện, và chưa từng làm tổn thương đến đức hạnh, không vi phạm pháp luật, không gian dâm. Vợ chết con đóng cửa đèn sách, không ra khỏi nhà, không biết việc giết người xảy ra như thế nào?
- Ngươi giết chồng cùng vợ người khác, hiện có Uông thị làm chứng, ngươi chối cãi sao được.
- Con đã từng tới trường, đã nhận được ơn mưa móc của triều đình con sao có thể lấy vợ hai lần để người đời cười chê. Nếu giết người thì sao con lại đem chuyện ấy nói với người khác hoàn toàn đây chỉ là lời nới đùa thôi.
- Đồ chó má vẫn còn cãi bướng, quân bay đâu, hãy đánh nó hai trăm gậy cho ta!
- Trận đòn này đánh nát cả hai chân con, ngài cứ bức con phải khai. Đúng là tai bay vạ gió. Vu hãm cho con, đẩy người sống xuống huyệt. Ngài thay mặt triều đình cai trị dân, lẽ ra phải gỡ oan cho dân. Tại sao kết án vu vơ, dù cho có đánh chết con, cũng uổng công thôi.
- Mày là thằng chó má, rõ ràng mày thông dâm với vợ Chu Vinh, rồi bàn nhau giết Chu Vinh để sống với nhau lâu dài, vậy mà còn cãi bướng.
- Ngài bắt con khai oan, cớ sao ngài bắt chị ấy cũng phải chịu oan? Ngài nói là gian dâm, và đồng mưu giết người thì ai trông thấy? Ngài làm tổn hại danh tiết chị ấy mà không sợ trời trừng phạt ư?
- Đồ chó má, mày còn già mồm cãi, lại còn dám dạy bảo ta ư? Quân bay đâu hãy kẹp nó cho ta!
- Trận đòn này chẳng khác nào vào chốn thiên la địa võng, vì sao bỗng chốc nó lại ở thế gian này.
- Có khai không?
- Ngài muốn làm gì con thì làm, con không giết người thì sợ gì luật lệ hà khắc của ngài. Bắt con khai chẳng khác nào bắt con hủy hoại danh tiết chị ấy, dù cho núi Thái Sơn thành đất bằng, biển cả cạn khô con cũng không nhận.
Quan thấy Tất Đạt không khai, lệnh cho đưa xuống. Gọi Khấu thị tới hỏi:
- Ai giết chồng ngươi?
- Ông Văn Tất Đạt, mong ngài trừng trị.
- Vì sao hắn lại giết chồng ngươi? - Con không biết, xin ngài xét hỏi nghiêm minh.
- Điều ấy rõ ràng là ngươi và Tất Đạt thông dâm, rồi bày mưu giết chết chồng, để lấy hắn. Trước mặt ta ngươi không khai ư?
Khấu thị kinh sợ, nói:
- Xưa nay con vốn đoan trang, vợ chồng hòa thuận, con chưa đi đâu bao giờ, thì làm gì có chuyện gian dâm. Mong quan lớn xem xét kĩ.
- Đã có gian tình, sao chẳng nghĩ mưu kế lấy nhau? Đã tính kế lấy nhau, thì sao chẳng bàn với Uông thị? Ngươi chối làm sao được?
Khấu thị cứ nằng nặc kêu oan, quan nổi giận lôi đình, lệnh vả cho tám mươi cái. Khấu thị vẫn kêu oan. Quan lệnh kẹp vào mười đầu ngón tay. Khấu thị thà chết cũng không khai. Quan lại lệnh cho đóng đinh vào mười đầu ngón tay. Khấu thị chết đi sống lại, mồ hôi vã ra đầm đìa, gào lên khóc:
- Xin ngài đừng tra tấn nữa, con xin khai.
Quan lệnh dừng tra tấn, hỏi:
- Thông dâm bao giờ?
- Vợ anh ấy chết thì tới nhà con. - Khấu thị nghĩ mãi mới trả lời.
- Ngươi đã thông dâm rồi thì thôi, sao còn giết chồng? - Quan hỏi.
- Chê chồng nghèo, yêu anh ấy giàu sang.
Lúc ấy Tất Đạt đang ở dưới, thấy Khấu thị phải nhận một cách oan ức. Anh nghĩ: "Vụ án này là do kiếp trước mình có tội cho nên lời nói của mình đã gây nên nỗi oan ức này, ta đã làm cho chị ấy chịu oan, làm bại hoại danh tiết chị ấy. Sao ta nhẫn tâm đến thế. Đã là đấng trượng phu, mình làm mình chịu, tại sao lại để lụy đến người khác". Thế rồi Tất Đạt bước tới nói:
- Con là Văn Tất Đạt xin ngài được kêu oan. Chỉ mình con giết Chu Vinh, con chưa từng thông dâm với chị ấy.
- Thằng chó má này to gan thật, nó đã nhận rồi, việc gì mày phải cãi cho nó.
- Ôi thưa ngài, chị ấy vốn là viên ngọc trắng trong không có tì vết chỉ vì con nói mà gây tai họa. Hai tay chị bị kẹp đứt gân, xương dập nát, đinh tre đóng vào mười đầu ngón tay đau nhói tận tim gan. Thịt da non nớt, chân yếu tay mềm, thì làm sao chịu đựng được sự hành hạ, bởi thế những lời khai của chị là không đúng sự thật.
- Đồ chó má, mày đã không nhận lại còn cãi cho người khác thật là đáng ghét.
- Đại trượng phu làm việc gì cũng phải rõ ràng minh bạch, mình gây nên tội thì mình chịu tội. Con đã chết oan lại làm tổn hại danh tiết người khác, thì dù có chết cũng chẳng cam lòng.
- Đồ chó má, vậy thì tại sao mày giết người ta?
- Con muốn lấy vợ nên con giết chết chồng, chỉ một nhát dao anh ấy đã xuống suối vàng.
- Con dao giết người mày để đâu?
- Sợ người ta biết con đã vứt nó xuống sông cái rồi.
- Đồ chó, toàn là những lời lừa dối, mày âm mưu dựa vào đó để chịu đựng hình phạt, thật đáng ghét, đánh, đánh, đánh chết nó đi.

- Xin ngài đừng nổi giận nữa, ở nhà con vẫn còn áo máu. Nếu ngài không tin thì hãy cho người tới đó xem. Con tình nguyện chết thay cho chị ấy.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Thu Apr 10, 2014 6:54 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 17 (B)
Viên quan này xuất thân từ người có công lao trong chiến trận, chưa từng học hành, tính tình lại hung bạo đa nghi, thích dùng hình phạt. Thấy Tất Đạt nhận minh oan cho Khấu thị, ông ta lại càng nghi gian tình là thực, cho giam hai người vào nhà giam. Cử sai nha đến nhà tìm áo máu.
Từ khi con bị mắc oan, mẹ Tất Đạt khóc lóc suốt đêm ngày, thấy sai nha đòi áo máu, bà nói:
- Quan là cha mẹ của dân, không suy xét thục hư, đánh đập tàn nhẫn để bức cung, coi những người có công danh là kẻ hung ác, không biết lòng dạ ông ta thế nào. Con tôi không giết người thì làm gì có dao?
Sai nha trở về bẩm quan, quan lại lôi Tất Đạt ra tra tấn, cứ dăm ba ngày lại bức cung một lần. Tất Đạt van nài:
- Áo máu mẹ tôi giấu đi, sợ rằng đưa ra tôi phải đền mạng. Ngài hãy lệnh cho sai nha áp giải về nhà thì sẽ có áo máu trình lên quan.
Theo lời quan lệnh bốn sai nha áp giải Tất Đạt về lấy áo. Mẹ con trông thấy nhau khóc như mưa như gió, đứt hơi khan tiếng. Diệp thị nói:
- Con ơi! Tại sao khai ra áo máu!? Con không giết người thì lấy áo máu ở đâu ra?
Tất Đạt khóc lóc nói với mẹ:
- Thấy mẹ con nghẹn ngào không sao nói được. Không cầm nổi nỗi thương tâm, nước mắt con trào ướt đầm vạt áo. Con bất hạnh gặp oan, quan tra hỏi, không khai quan đánh con, máu tươi lênh láng. Ngài lại đánh đập bắt Khấu thị phải khai, dùng kẹp và đinh tre hành hạ, khiến chị chết đi sống lại. Con không nỡ thấy chị chịu oan khuất, hủy hoại danh tiết. Không còn cách nào khác con đành phải nhận con giết Chu Vinh. Quan hỏi dao giết người để kết án. Bởi thế con mới khai ra áo máu để làm bằng chứng. Không có áo máu cứ dăm ba ngày quan lại đánh đập tra khảo con thập tử nhất sinh. Có áo máu thì nhất định con phải đền mạng, không có áo máu thì con cũng chịu cực hình mà chết. Có áo hay không có áo, sớm hay muộn thì cũng chết. Thôi thì chết sớm cho đỡ phải chịu tra tấn cực hình. Nếu không tin thì mẹ hãy nhìn những vết đánh đập trên hai chân con, thịt da tướp hết, lòi cả xương ra.
- Quả là oan nghiệt, quan là kẻ bất lương.
- Ôi đau lòng lắm mẹ ơi. Mẹ nỡ lòng nào để con phải chịu nhục hình. Sao mẹ không đưa áo máu ra để con khỏi phải đau đớn?
- Là mẹ sao lại không đau, nhưng không có áo máu, thì bảo mẹ lấy đâu ra mà nộp.
- Ôi! Đau lòng lắm mẹ ơi! Không có áo máu thì nghĩ cách để có áo máu đem nộp. Con chịu khổ đau lẽ nào mẹ không thương xót.
- Được rồi, con mẹ đừng khóc nữa, mẹ biết rồi.
- Ôi mẹ ơi, từ nay về sau mẹ tha thứ cho đứa con bất hiếu này. Khi mẹ hai năm mươi về già, con không thể mặc áo xô chống gậy, đưa mẹ về nơi an nghỉ cuối cùng. Con chết là hồn con về nhà chăm sóc mẹ ngay. Mẹ ơi, mẹ đừng lo nghĩ quá mà tổn hại đến tinh thần, sức khỏe.
Diệp thị làm cơm rượu thết đãi sai nha, bà nghĩ: "Làm thế nào để có áo máu bây giờ? Thấy tình cảnh con như thế, bà đứng ngồi không yên. Không có áo máu khiến ruột gan mẹ như vò xé. Thôi thì cắt đùi mình bôi lên áo, để giải thoát nỗi bức thiết của con". Thế rồi bà lấy chiếc áo cũ, cầm dao ra sau nhà vừa khóc vừa cắt vào chân lấy máu bôi lên áo, rồi hơ vào lửa cho khô giao cho sai nha mang về huyện trình quan. Quan kết án, trình lên cấp trên. Mẹ Văn Tất Đạt ngày ngày tới quán Tam Vương kêu oan, cầu mong thần hiển linh phù hộ. Nhà mẹ chồng Khấu thị đệ đơn kháng cáo lên cấp trên, nói là hung thủ đã khai tự nó giết người, song quan lại tra khảo tàn khốc, vu cho là gian dâm. Quan trên phê chuẩn, lệnh cho quan huyện hãy xem xét kĩ càng rồi tường trình lên. Quan đưa Khấu thị ra xét hỏi. Khấu thị cứ một mực kêu oan. Lại hỏi Tất Đạt, Tất Đạt khai:
- Chị ấy hoàn toàn không có gian tình. Giết chồng mưu lấy vợ người, hoàn toàn là do một mình con.
Quan lập tức tha cho Khấu thị, rồi tường trình lên cấp trên rằng, vì thấy vợ Chu Vinh đẹp định lấy làm vợ mà giết Chu Vinh. Khấu thị được tha rất biết ơn Tất Đạt, đêm đêm cầu trời khấn Phật, mong anh được minh oan thoát khổ.
Viên quan này chuyên dùng cực hình để lấy cung, một phạm nhân quan trọng đã bị ông ta đánh chết, quan trên đòi người, ông ta cứng họng không nói được, bởi thế bị bãi miễn, ngài Tiêu được bổ nhiệm về nhậm chức. Tiêu Công xuất thân từ tiến sĩ, là một vị quan thanh liêm, thương yêu dân. Khi về nhậm chức, mọi người trong huyện đều ra đón. Đang trên đường về nơi nhậm chức, cách thành không xa, một con chim khách sà vào trong kiệu, quan giơ tay bắt, nó bay đi, lát sau lại bay tới cứ như thế tới ba bốn lần. Tiêu Công nghĩ: "Chim khách thường sợ người, nay lại thấy chim bay vào kiệu, hẳn là do oan hồn sai khiến”. Rồi ông bảo với chim khách rằng:
- Nếu quả thật có oan tình thì chim hãy bay tới chỗ bị oan, ta sẽ tới khám nghiệm ngay.
Thế là chim khách bay trước dẫn đường. Tiêu Công lệnh khiêng kiệu đưa ông theo sau. Đi tới hai mươi dặm, thấy bên đường có một chiếc giếng, bỗng chim khách bay xuống đó. Tiêu Công lệnh sai nha xuống xem, giếng sâu hun hút nên phải dùng giây thừng buộc vào một chiếc ghế, người ngồi vào ghế rồi từ từ thả xuống. Thấy đây là một chiếc giếng cạn, trong giếng có một chiếc áo và một chiếc quạt lụa. Sai nha đưa lên trình quan. Tiêu Công thấy áo có máu, quạt một mặt vẽ hoa, còn mặt kia có dòng lạc khoản "Lý Văn Ngọc”. Tiêu Công thu lấy áo và quạt về huyện nhận bàn giao, lệnh cho Hình phòng(1) trình hồ sơ vụ án cho ông xem. Đọc tới hồ sơ vụ án Văn Tất Đạt ông thấy nghi hoặc, anh ta là một thư sinh, không có gian tình, tại sao thấy người đẹp, lại giết chồng cướp vợ? Xem biên bản khám nghiệm thì người ấy bị chết do một nhát dao đâm vào ngực, lập tức truyền gọi thân nhân của người đã chết đến. Khấu thị tới công đường, quan cho xem áo. Khấu thị nhận ra nói:
- Chiếc áo này là của chồng con.
(1) Hình phòng: bộ phận theo dõi hồ sơ các vụ án.
 
Quan cho Khấu thị về, đồng thời cho bắt Lý Văn Ngọc.
Lý Văn Ngọc là bạn học của Tất Đạt. Anh ta cũng hay nói chuyện phòng the, thường hay đùa cợt với Tất Đạt, hay dùng tài ăn nói để đánh cuộc thắng thua. Tới công đường, quan đưa cho anh xem chiếc quạt. Văn Ngọc nói:
- Chiếc quạt này, trước đây con đã đánh mất, không biết nó rơi ở đâu, vì sao nay lại trong tay quan.
Quan chửi:
- Đồ chó, mày đã giết chết Chu Vinh, trời không dung tha, làm mày đánh rơi quạt, nay thấy ta mày không khai ư?
- Thưa ngài, con đi chợ uống rượu say, đánh rơi mất chiếc quạt mấy tháng nay không thấy, chứ con có giết người đâu. Mong ngài soi xét.
- Ta hỏi, ngươi không khai ư?
Thế rồi quan lệnh tát cho bốn mươi cái, Văn Ngọc vẫn một mực kêu oan, nói rằng quả thật con mất quạt.
- Ngươi đánh rơi ở đâu?
- Hôm ấy con uống rượu say, - Văn Ngọc ngẫm nghĩ nói,
- Chắc rằng rơi ngoài phố.
- Căn cứ vào đó ta biết ngay là ngươi lừa dối.
Ông lệnh vả cho bốn mươi cái nữa. Văn Ngọc khóc lóc kêu oan. Quan thấy Văn Ngọc tuy sống phóng khoáng, song dáng vẻ nho nhã, không giống bọn hung ác, bèn cho vào nhà giam, rồi dần dà tìm hiểu ra sự thực.
Văn Ngọc vào nhà giam, đút lót cho bọn coi ngục, gặp Tất Đạt nói rằng:
- Anh gặp vụ án này, lại liên lụy đến em. Hai chúng ta lâu nay không học với nhau, ai ngờ hôm nay lại cùng ngồi tù. Văn chương đã quên mất quá nửa rồi, chúng ta thường chuyện gẫu với nhau anh còn nhớ không?
- Anh và tôi đều gặp oan khuất. - Tất Đạt nói. - Hoàn toàn là do mình nói chuyện phòng the mà sinh ra. Từ nay chúng ta phải sửa chữa những lỗi lầm xưa. Hằng ngày ta hãy ngửa mặt lên trời cầu trời phù hộ cho hai chúng ta được minh oan. Đừng giẫm vào vết xe đổ trước đây nữa.
Văn Ngọc gật đầu. Rồi hai người hướng lên trời cao, hết sức thành khẩn xin sửa chữa lỗi lầm. Em của Văn Ngọc là Văn Hoàn đi khắp nơi dò la xem ai nhặt được quạt. Một hôm có một người thợ hàn nồi tới nhà, nói tới chuyện vì mất chiếc quạt mà anh mắc tội oan. Người thợ hàn nồi nói:
- Hôm ấy tôi thấy Ngũ Hắc Ngưu quạt một chiếc quạt, dòng lạc khoản có đề tên anh anh, hỏi nhặt được chiếc quạt này ở đâu, anh ta nói nhặt được ở cửa hàng.
Văn Hoàn bèn lấy tiền thuê anh thợ hàn nồi làm chứng. Quan hỏi thấy đúng bèn ra lệnh bắt Ngũ Hắc Ngưu tới xét hỏi: Hắc Ngưu không khai. Đánh hắn tám mươi roi, hắn vẫn không nhận. Thấy vẻ mặt hắn hung ác, quan nghi hắn là kẻ sát nhân, lệnh cho quân bay kẹp hắn, song Hắc Ngưu vẫn không khai, lúc ấy hắn nghe văng vẳng bên tai tiếng oan hồn quát: “Khai mau!". Biết rằng không thể chối được, hắn buộc phải khai từ đầu:
- Ngài tra tấn, con không sao chịu nổi, lòng con đau như dao cắt. Ngài hãy tháo kẹp ra, con xin khai để ngài rõ. Từ khi ra đời con sống rất bừa bãi, suốt đêm ngày con ở sòng bạc. Gặp cơn đen vận túng con thua nhẵn túi. Hôm ấy Chu Vinh đi lấy nợ, con nghĩ thế nào anh ta cũng phải về nhà. Rồi con cầm sẵn một dao chờ ở đèo Hoàng Giác. Chu Vinh đi tới, con chém một nhát chết ngay. Rủi thay, trong người anh ta không có một xu, con đành lột áo mang vào thành bán. Đi được mấy dặm, con mới nghĩ ra, trên áo có máu, sợ bị lộ, tiện tay con vứt áo xuống giếng. Nào ngờ chiếc quạt cũng rơi theo. Về nhà, suốt từ hôm đó con vô cùng sợ hãi và lo lắng. Ngài vừa tới nhậm chức, chim khách sà vào kiệu kêu ai oán, chim đã dẫn ngài tới giếng, sai nha tìm thấy áo và quạt nộp cho ngài. Con đã bị ngài bắt về tra khảo cùm kẹp. Quả thực không sao chịu nổi, con đành phải cung khai, xin ngài gia ân tha cho con.
Ngữ Hắc Ngưu vốn là một tên vô lại, không có việc gì xấu mà hắn không làm. Một hôm Hắc Ngưu thua bạc nhẵn túi, thấy Chu Vinh đi lấy nợ về, định giết người cướp của. Hôm ấy thấy trời tối anh định về, song lại gặp một người mời uống rượu, nói là có việc cần, muốn mượn anh số bạc và trả lãi cao. Chu Vinh cho người ấy mượn, rồi uống rượu tới say khướt mới trở về nhà. Có lẽ vì trước đây Chu Vinh là một kẻ ngỗ ngược, bất hiếu, lại hay rượu chè, đến nay những cái xấu đã tích tụ chồng chất cho nên bị Hắc Ngưu giết chết. Mẹ Văn Tất Đạt ngày ngày thành tâm cầu nguyện tại quán Tam Vương, Tất Đạt hằng ngày hết lòng hối cải, bởi thế Tam Vương động lòng, lệnh cho chim khách tới sà vào kiệu. Tiêu Công đã tìm được áo và quạt nên bắt Hắc Ngưu tới truy hỏi. Ngay hôm ấy Hắc Ngưu bị giam vào nhà ngục. Tiêu Công cho gọi Tất Đạt và Văn Ngọc tới. Ngài nói với Tất Đạt rằng:
- Tới nay vụ án đã được sáng tỏ, mới hay ngươi oan uổng. Song vì tìm thấy áo máu nên vụ án này mới tìm ra thủ phạm. Ngươi lại dùng áo máu để tạo ra chứng cứ giả, vậy chiếc áo máu ngươi lấy ở đâu ra?
- Quả thực con không biết, - Tất Đạt nói, - việc này phải hỏi mẹ con mới biết được.
Quan mời mẹ Tất Đạt lên hỏi, mẹ Tất Đạt trả lời:
- Thấy con con chịu nhục hình, con vô cùng đau đớn, nên đã cắt chân lấy máu bôi vào áo.
- Không có áo máu thì vụ án không kết thúc được, - quan nói, - quan có thể hiểu ra nỗi oan mà tha cho. Nay lại nộp áo máu, há chẳng phải làm cho con chết nhanh ư?
- Chịu oan mà chết, chỉ đau một nhát dao thôi, - mẹ Tất Đạt nói, - còn tra khảo để bức cung chết đi sống lại, hết khổ này đến khổ khác, cho nên nhanh còn hơn chậm.
Nhân đó bà vén áo cho quan xem. Quan thấy vết dao cắt nói:
- Ôi người cai trị dân xử án không thể không thận trọng, nếu lạm dụng hình phạt thì án oan sẽ chồng chất, còn dân, tiếc rằng họ không thể làm gì được.
Ông lại hỏi mẹ Văn Tất Đạt đã ở vậy từ khi nào.
- Từ khi con hai mươi hai tuổi. - Mẹ Tất Đạt nói.
- Bà cắt thân cứu con, quả là một người mẹ hiền trên thế gian này. Ta sẽ tâu lên cấp trên xin được nêu gương bà. - Ông lại quay sang nói với Tất Đạt. - Ngươi mắc nỗi oan là vì thường ngày hay nói năng bừa bãi. Kẻ sĩ nhất thiết nói năng hay làm gì cần phải thận trọng, như thế mới xứng đáng là học trò của Đức Thánh. Bởi thế người xưa kén rể tất phải chọn người tốt như ngọc trắng. Thế mới biết cái tai hại của lời nói thật là khôn lường. Các ngươi về nhà phải sửa chữa ngay những lầm lỗi trước đây đừng mắc sai phạm nữa.
Sau đó quan tha cho hai người về, lại cho dùng kiệu của mình đưa mẹ Tất Đạt tới tận nhà. Rồi ông cho gọi Uông thị tới mắng:
- Tại sao ngươi bảo Tất Đạt giết người?
- Đó là con nói đùa. - Uông thị nói.
- Đã là nói đùa, tại sao coi đùa là thật, khiến người ta phải chịu oan. Lẽ ra phải trừng trị ngươi, ta thấy ngươi đã già, nên chỉ vả ngươi hai trăm cái.
Thị bị đánh đến nỗi rụng cả răng, mặt mũi sưng húp, trở về nhà không lâu thì chết. Quan tường trình vụ án lên cấp trên. Tới mùa thu thì có trát súc về, chém đầu Ngũ Hắc Ngưu. Văn Tất Đạt, Lý Văn Ngọc trở về sửa chữa lỗi lầm, luôn luôn làm điều thiện, về sau cả hai người đều thành đạt.
Khấu thị vô cùng biết ơn Tất Đạt đã bảo vệ danh tiết cho mình, vì chồng chết không biết nương tựa vào ai, nhờ người mối mang nguyện làm vợ Tất Đạt để báo đền ân đức chàng. Tất Đạt nói:
- Trước đây là nói đùa, nay lại thành sự thật.
Rồi nhờ mối đem sính lễ đến hỏi làm vợ. Từ đó hai người sống rất hòa hợp. Về sau sinh được hai con, một người được cử làm hiếu liêm.
 

Các bạn thân mến, người ta sống trên đời, vợ chồng phải hòa thuận, dù xấu cũng không nên chê, nói năng phải cẩn thận, đừng đổi trắng thay đen. Hãy trông gương Văn Tất Đạt chê vợ rồi giày vò vợ nói đùa mà chuốc lấy tai vạ, khiến mẹ phải cắt chân, vậy thì có hiếu ở chỗ nào? May mà thấy chim khách rồi tỉnh ngộ, chịu oan nhận tội để bảo toàn danh tiết cho Khấu thị lại biết cải tà quy chính mới được minh oan, thoát nạn. Văn Diệp thị chịu khổ ở vậy thờ chồng nuôi con nên người mới được ân mưa móc vua ban. Khấu thị chịu oan mà không oán hận, suốt đời không quên ơn cứu mạng, cho nên đẻ được con ngoan, hưởng phúc suốt đời. Lý Văn Ngọc nói năng bừa bãi, hay bàn chuyện phòng the, cho nên bị liên lụy. Ngũ Hắc Ngưu cướp của giết người nên bị chém đầu. Uông thị hại người nên chịu tội. Chu Vinh bất hiếu nên hãm hại. Tất cả đều do lưới trời lồng lộng, thưa mà không kẻ nào trốn thoát. Ở hiền gặp lành, gieo gió gặt bão, quả là đúng thay.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Fri Apr 11, 2014 1:46 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 18
Thẩm Vấn Cây Lúa
Xưa nay con gái phòng khuê,.
Công dung ngôn hạnh mọi bề giỏi giang
Cha mẹ không dạy con ngoan,
Hồng nhan bạc mệnh chết oan có ngày
Huyện Cao Bình, Sơn Tây, có một người là Liêu Chương Đức, vợ là Hồ thị, con trai là Vĩnh Quý, nhà giàu có nhưng sống không có khuôn phép. Năm bốn mươi tuổi sinh được một đứa con gái út, tên là Quế Anh, dung nhan xinh đẹp. Vợ chồng Chương Đức vô cùng yêu quý. Từ nhỏ nó đã thích ăn diện, xem kịch xem rước đèn. Chương Đức làm cho Quế Anh một ngôi lầu cao to lộng lẫy, bốn mặt đều có cửa sổ, một mặt nhìn ra đường để tiện giải khuây. Một hôm trong làng có người làm lễ cầu phúc, Quế Anh đi xem, giữa đường gặp một tên đồ tể. Thấy Quế Anh dung nhan xinh đẹp, hắn dán mắt nhìn. Hồ thị thấy con gái mình xinh đẹp, làm xiêu lòng người thì dương dương đắc ý. Hôm sau tên đồ tể kiếm cớ đến nhà Hồ thị mua lợn. Hắn đi đến bên lầu, thấy Quế Anh đang thêu hoa. Vì đêm qua đi xem rước đèn, thức khuya nên Quế Anh ngủ gật, tên đồ tể chỉ nhìn được nửa khuôn mặt. Quế Anh buồn phiền mệt mỏi, bèn hát bài Tiểu Đán thường hát để giải khuây, hát rằng:
Hỡi người yêu của em ơi Hãy nghe em nói những lời thiết tha.
Từ ngày em gặp anh qua,
Tương tư sầu muộn diết da sớm chiều.
Quế Anh không nhớ hết, rồi cứ vừa ngủ gật vừa hát đi hát lại mấy câu ấy. Nghe thấy thế, gã đồ tể tưởng cô đã có tình ý với mình sướng quá khoa chân múa tay. Nào ngờ, đúng lúc ấy Quế Anh cắn gút chỉ nhổ ra ngoài cửa sổ, rơi đúng vào mặt gã đồ tể. Gã đồ tể cứ nếm đi nếm lại giọt nước bọt rơi vào mặt mình. Gã định leo lên nhưng lầu cao không có lối. Bỗng thấy tiếng chó sủa, hắn vội vã bỏ đi, thấy chủ nhà bước ra. Hắn hỏi : - Ông Liêu! ông có bán lợn không?
- Tôi không bán, dành để cưới con gái. - Chủ nhà nói.
- Cô nhà gả cho ai?
- Gả về làm dâu nhà ông Vương Chính Bang, ngày mười sáu tháng Tám thì cưới.
Gã đồ tể nghe thấy như dội một gáo nước lạnh, tiu nghỉu bỏ đi.
Vương Chính Bang giàu có vì cho vay nợ lãi với giá cắt cổ, mua được hơn một trăm mẫu ruộng. Mặc dù giàu có nhưng một xu hắn cũng không bao giờ bỏ ra để làm việc từ thiện. Đường con cái của hắn lại rất hiếm hoi, cầu trời khấn Phật mãi đến năm Chính Bang bốn mươi tuổi, mới sinh được một mụn con trai, đặt tên là Mậu Sinh. Lớn lên Mậu Sinh quen thói được cưng chiều, mặc thì đòi toàn lụa là, ăn thì toàn thịt gà cá chép, những đòi hỏi của con, Chính Bang nhất nhất chiều theo. Mậu Sinh thích ăn chân ngỗng, nên trong nhà lúc nào cũng nuôi mấy chục con. Vì sát sinh quá nhiều nên mắc tội, bởi thế người Mậu Sinh gầy gò nhiều bệnh tật. Mười sáu tuổi đã bị người khác rủ rê đi chơi gái, trở thành một kẻ hết sức dâm đãng, chẳng việc xấu nào nó không làm, vợ chồng Chính Bang rất lo buồn về nó. Bởi thế muốn cưới dâu về để giữ chân Mậu Sinh. Rồi vợ chồng nhờ mối manh hẹn ngày chuẩn bị cỗ bàn đón dâu về. Liêu Chương Đức nhận lời sắm sửa đồ cưới, mời một người cháu bên ngoại là Hà Lương Dị và đứa con trai là Vĩnh Quý đưa dâu.
Hà Lương Dị là người khôi ngô tuấn tú, tính hay chơi bời, nói năng hài hước, thích bàn chuyện phòng the. Mười tám tuổi đỗ đầu bảng, Hà Lương Dị vô cùng đắc ý. Nay được cậu mời đi đưa dâu, anh ta diện rất sang. Khi cô dâu về tới nhà, ai ai cũng khen: "Đẹp trai, ăn mặc hợp thời, đi đứng khoan thai, dáng vẻ thướt tha- mềm mại như nhành liễu”.
Đêm ấy tân khách ngủ dưới nhà ngang, phòng trên là phòng của cô dâu chú rể. Hà Lương Dị nghe thấy những người đưa dâu cười nói ầm ĩ, anh không thích, muốn đi ngủ. Là khách quý nên anh ngủ cùng với với Vĩnh Quý. Đêm khuya yên ắng, Lương Dị dậy đi tiểu, hút điếu thuốc lào, bỗng nghe thấy phòng cô dâu kêu:
- Cướp cướp giết người! Làng nước ơi!
Hà Lương hỏi:
- Ở đâu?
Đáp:
- Phòng cô dâu!
Lương Dị vội chạy lên, vì chạy quá nhanh, vấp vào bàn, chiếc đèn trên đó rơi xuống, dầu tràn ra phụt tắt. Quay lại vướng phải một vật gì, ngã soài xuống đất, rồi đứng dậy. Vương Chính Bang và tân khách chạy ập tới. Hỏi:
- Giết ai đấy?
- Giết anh Mậu Sinh. - Quế Anh nói.
Chính Bang soi đèn xem, thì chân tay còn đang giật giật, không nói được nữa. Hỏi:
- Cướp đâu?
- Nó chạy rồi!
Mọi người tìm khắp nơi không thấy, quay lại nhìn Hà Lương Dị, thấy người đầy máu, lôi ra chửi:
- Mày giỏi thật! Vì sao mày giết chết con tao?
- Tôi nghe thấy kêu, chạy vào cứu, - Lương Dị nói, - chạy vội vấp vào bàn, đèn rơi vỡ phụt tắt. Tôi vấp ngã, bị máu thấm vào áo, ông đừng đổ oan cho tôi.
- Tên cướp từ gầm giường chui ra, - Quế Anh nói, - anh Mậu Sinh tóm lấy nó, tên cướp rút dao đâm anh chết. Khi anh Lương Dị tới, tên cướp chạy vụt ra, cha đừng đổ oan cho người tốt.
- Tao biết việc hai đứa chúng mày làm rồi, - Vương Chính Bang nói, - chúng mày ở nhà đã thông dâm từ lâu, rồi tìm cách giết con tao để sống với nhau lâu dài, thế mà mày còn bênh nó ư?
- Ông đừng nói bừa, bôi nhọ danh tiết người ta. - Lương Dị nói.
- Tao không nói với mày nữa. - Chính Bang nói.
Thế rồi ông ta lập tức hô trói hai người lại. Uất ức quá, Quế Anh khóc như mưa như gió. Đúng là dù có mồm năm miệng mười cũng không sao cãi nổi.
Hôm sau, người ta giải hai người lên huyện trình quan. Quan hỏi, Chính Bang bảo hai đứa đồng mưu giết chồng. Quế Anh nói cướp ở trong gầm giường chui ra, chồng tóm lấy rồi bị giết; Hà Lương Dị nói nghe thấy tiếng kêu chạy tới cứu, trượt ngã máu dây vào. Quan cho khóa tay giải hai người về khám nghiệm thi thể. Tới nhà họ Vương, khám xét phòng cô dâu và tất cả mọi chỗ, không thấy lỗ ngạch, chàng rể chết do một nhát dao đâm vào mạng sườn. Quan hỏi Vương Chính Bang:
- Ngươi vào phòng thì con đã chết chưa?
- Còn thoi thóp thở.
- Ta ngờ rằng cướp giết người rồi chạy trà trộn với khách, đêm tối không nhận ra, ngươi phải dần dà dò xét xem.
- Nếu cướp chạy trốn phải có dấu vết, con nghe thấy chạy lên ngay. Cửa nhà ngang vẫn chưa mở, chỉ có mỗi Hà Lương Dị ở trong phòng, máu me khắp người, thế thì đích là nó rồi. Quan gật đầu. Về tới nha môn, quan lôi ngay Hà Lương Dị tới công đường xét hỏi: 
- Ngươi là học trò, tại sao không biết pháp luật, giết chết chàng rể? Nay trước mặt ta, ngươi phải khai thành thực.
Hà Lương Dị cúi đầu nói:
- Thưa ngài cho phép con khai rõ ràng. Con nhà nghèo, đọc sách Thánh hiền, biết pháp luật và luôn luôn giữ gìn phẩm hạnh. Hôm kia cậu con mời đi tiễn em con về nhà chồng. Con từ chối mãi nhưng không được. Chú con nói rằng có ít người đi đưa dâu, nên cháu phải đi. Đến nhà họ Vương, họ xếp con ngủ ở phòng dưới, phòng trên khách khứa cười đùa ầm ĩ. Người thì bảo cô dâu chuốc rượu, người thì chơi trò phạt rượu. Ồn ào mãi tới canh ba mới yên tĩnh, bỗng con nghe thấy có tiếng kêu cướp giết người. Con sợ tên cướp cao chạy xa bay, bỏ điếu xuống rồi chạy ngay tới phòng cô dâu. Vì chạy vào quá nhanh, con vấp phải chiếc bàn. Dầu tràn ra rồi đèn phụt tắt, tối om. Con vấp vào xác chết, ngã vật xuống, máu dính vào người con. Ông Vương nói những lời bất nhã, vu cho con giết chồng cô ấy. Mong quan đèn trời soi xét, gia ân tha cho con.
- Thằng chó má này to gan thật, mày không giết người thì máu ở đâu ra? Mày còn bướng hả! Quân bay đâu đánh nó bốn mươi roi, xem nó có chịu khai không?
- Ôi! Thưa ngài, con hoàn toàn không giết người, tại sao ngài không hỏi rõ đã tra tấn. Hơn nữa con là học trò học hành để mong đỗ đạt, sao có thể gian dâm giết người?
- Đồ chó, mày không phải là người cùng họ, tại sao lại đi đưa dâu. Hơn nữa mày còn trẻ, thì gian dâm là điều hiển nhiên, cãi sao được. Quân bay đâu, hãy kẹp hắn cho ta.
- Đau đớn quá con không sao chịu nổi, kẹp con vãi cả cứt đái chết đi sống lại, tim con như dầu sôi lửa đốt. Nếu khai thì tổn hại thanh danh, không khai thì không chịu nổi hình phạt tàn khốc. Người học trò, phẩm hạnh là điều quan trọng nhất, sống hay chết đối với ta nhẹ như mây nổi. Ta là người mình đồng da sắt, dù phép vua hung tàn như lò lửa ta cũng không sợ.
- Có khai không?
- Chỉ trừ khi mặt trời mọc ở đằng tây ta mới chịu khai.
Thấy Hà Lương Dị không khai, quan đùng đùng nổi giận, bảo tay chân tra khảo. Lương Dị thà chết không khai. Quan lệnh cho Lương Dị xuống, rồi lại gọi Liêu Quế Anh lên. Quan nói:
- Ngươi là đồ đê tiện, tại sao lại thông dâm với Hà Lương Dị, rồi bày mưu giết chồng. Tại sao không khai?
Quế Anh cúi đầu nói:
- Thưa ngài, cho phép con nói. Con thật đáng thương, điều oan khuất. Đêm hoa chúc hai vợ chồng con vừa lên giường ngủ, bỗng thấy một người dưới gầm giường chui ra. Lúc ấy con sợ quá hồn xiêu phách lạc. Thấy thế chồng con nhảy xuống tóm lấy tên cướp. Tên cướp quay lại rút dao đâm chồng con chết. Con cuống lên kêu cướp, nó vội bỏ chạy.
- Con dâm phụ này to gan thật. Rõ ràng Hà Lương Dị giết chồng ngươi mà ngươi còn cố cãi. Hãy khai mau, thì khỏi phải tra tấn.
- Trời ơi, thưa ngài, Hà Lương Dị cùng ngủ với anh con ở phòng dưới, thì làm sao có thể mang dao vào phòng cưới giết người? Hơn nữa bạn bè thân thích cùng ngủ tại đó, họa chăng anh ấy có phép tàng hình?
- Hừ! Con dâm phụ to gan này thật là đáng ghét. Mày còn cãi cho nó ư? Quân bay đâu, vả cho nó bốn mươi cái!
- Trời ơi, đánh đến nỗi hàm răng con tóe máu, bảo con là gian dâm thì dù có đánh chết con cũng không nhận. Ghép tội cho người chẳng có bằng chứng gì. Tự nhiên con lại bị vu tiếng xấu.
- Đồ dâm phụ to gan, chính mày gây nên lại bảo quan vu cáo thật là đáng ghét. Quân bay đâu hãy mang kẹp, kẹp nó cho ta!
- Trời ơi, con đến chết mất! Mười đầu ngón tay con bị kẹp dập nát, đứt gân. Thôi thì cứ khai để chết quách đi, rồi xuống Diêm vương địa ngục kêu oan. Thưa ngài hãy buông con ra để con khai, con đã gian dâm rồi bàn mưu giết chồng, để hai người lấy nhau lâu dài.
Thấy Quế Anh khai, quan lệnh dẫn Hà Lương Dị tới. Lương Dị thấy Quế Anh đã khai, thì dù có cãi cũng vô ích, nên cũng khai là đồng mưu giết chết Vương Mậu Sinh, quan bắt hai người kí vào tờ khai, rồi tống vào nhà giam.
Vĩnh Quý về nhà nói với cha mẹ. Vợ chồng Chương Đức vật vã khóc rồi sai người tới nhà họ Hà báo tin, đem bạc tới huyện thăm con gái. Nghe thấy con đã cung khai và bị tống giam, đến ngay nhà giam xin với người coi tù để vào thăm. Thấy Quế Anh xiềng xích đầy người, thân hình tiều tụy, kêu lên một tiếng "Con ơi!" rồi ngã vật xuống đất ngất lịm. Quế Anh gọi mãi mới tỉnh dậy, rồi khóc nức nở. Người coi tù khuyên:
- Ông Liêu, ông thương con, sao không đút lót để họ nới lỏng cùm ra cho cô ấy đỡ khổ.
Ông Liêu bàn với phạm nhân nữ đưa tiền đút lót, lại đưa cho Quế Anh một ít tiền chi dùng, rồi ra khỏi nhà giam. Ra tới cửa thấy vợ chồng ông Hà cũng đến, họ van nài xin người coi tù mở cửa cho vào. Thấy Hà Lương Dị cổ bị xích sắt xích, chân tay cùm kẹp, buộc bên cạnh hố xí. Vợ chồng ông Hà khóc:
- Ôi con ơi! Sao con đến nông nỗi này?
- Cha mẹ không biết ư? Vì không có tiền đút lót cho bọn coi ngục nên họ hành hạ con đến chết đi sống lại. Đúng là một ngày ở tù như một năm ở ngoài. Quả thật khó mà sống nổi.
Bốn ông bà già thấy tình cảnh ấy lòng như dao cắt, kẻ khóc con người khóc cháu, náo động cả trại giam. Lương Dị phải khuyên mãi họ mới lau nước mắt. Liêu Chương Đức đưa tiền cho Lương Dị đút lót bọn coi ngục, rồi vào thành nhờ một bà già đưa cơm cho hai người. Họ về nhà chỉ biết khóc lóc, không biết làm thế nào để cứu con.

Quan huyện lấy khẩu cung hai người xong, rồi trình hồ sơ vụ án gian dâm, mưu giết chồng lên tỉnh. Quan trên nhận được hồ sơ nghĩ rằng, tại sao lại giết người vào đêm động phòng hoa chúc? Hơn nữa chứng cứ chỉ có áo máu, không có dao, ông nghi hoặc, rồi bác bỏ.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Fri Apr 11, 2014 2:08 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 18 (B)
Quan huyện tuy xuất thân từ khoa bảng, song hết sức phóng túng, không nghe lời thầy. Thấy quan trên bác bỏ hồ sơ vụ án, nói rằng không có hung khí để kết án, rồi ông ta lại lôi Hà Lương Dị ra xét hỏi:
- Mày là đồ chó má. Đêm ấy mày giết Vương Mậu Sinh, vậy mày để dao đâu? Hãy khai mau để khỏi phải tra tấn.
- Trong lúc vội vã, con không biết dao thất lạc ở đâu. Quan đùng đùng nổi giận, cho tay chân kìm kẹp. Lương Dị không còn cách nào khác, đành phải đẩy cho Quế Anh, nói:
- Con đưa cho Quế Anh. Quan lại lôi Quế Anh ra truy hỏi. Quế Anh nói:
- Tên cướp giết người rồi chạy trốn, làm sao mà biết được dao.
- Mày là dâm phụ, - quan chửi, - mày lại phản cung ư?
Thế rồi quan lập tức lệnh tát bốn mươi cái. Quế Anh uất nghẹn cổ, gào lên khóc lóc. Quan thấy Quế Anh không nói, lại gào tra tấn tiếp. Quế Anh bỗng nghĩ ra một kế, rồi nói:
- Đêm ấy con bỏ dao vào hòm mang lên huyện, trên đường đi vào nhà vệ sinh con vứt nó ở bên đường, không biết ai đã nhặt được.
- Nói bậy! - Quan quát. Rồi lại hô vả hai mươi cái nữa. Quế Anh dù chết vẫn khai là mất rồi, không sao được, quan đành lệnh tống giam: Cứ năm hôm lại bức cung một lần, Quế Anh đau đớn khó lòng mà chịu đựng nổi. Cha biết tin con vào ngục tới thăm, thấy Quế Anh mặt mày sưng húp, mắt thâm quầng, người gầy như que củi, nói:
- Con ơi! Sao con tới nông nỗi này.
Thấy cha hỏi, Quế Anh nghẹn ngào mãi không nói nên lời, khóc:
- Đau lòng lắm cha ơi. Cha biết sao được nỗi khổ của con, cha hãy nghe con nói.
Đúng là "Người nghe phải đau lòng, người thấy phải rơi nước mắt".
- Thấy cha, con như đứt từng khúc ruột, không cầm nổi nỗi thương tâm, nước mắt con ướt đầm vạt áo. Chẳng biết con kiếp trước mắc tội gì mà đêm động phòng hoa chúc, cướp đã giết chồng con, khiến con phải liên lụy. Người ta lại vu oan cho anh ngoại con, rồi trói anh giải lên huyện, nói rằng anh đã thông dâm với con, mưu giết chồng con. Quan không cho phép chúng con phân giải. Không khai quan kẹp mười đầu ngón tay đau buốt tận ruột gan. Không còn cách nào, con đành nhận để khỏi phải tra tấn, chỉ nghĩ rằng chết quách để khỏi phải bị hành hạ, ai ngờ rằng không có dao thì không thể kết án được, bởi thế quan bức cung đến chết đi sống lại. Lần đầu vả con bốn mươi cái, bàn vả bằng da rách nát, đánh đến nỗi răng rụng máu tuôn ra như suối. Cứ năm ngày lại truy bức đòi dao, vết thương chưa lành lại bị đánh trọng thương không sao ăn uống được. Vào nhà giam chấy, rận, rệp kéo đến hàng đàn cắn lở loét khắp người. Hằng đêm đến mãi canh năm vẫn không tài nào chợp mắt được. Ban ngày nghĩ đến nỗi khổ đau nước mắt chảy đầm đìa. Ôi, cha ơi! Chưa nói nên lời mà lòng đau như cắt nghĩ đến số con khổ sở vô cớ chịu oan. Nếu như đao phủ đến chém đầu, thì mong cha hãy thu nhặt xác con đừng để cho chó tha đi. Vào những ngày tuần tiết hãy đặt ngoài cửa cho con bát cháo bát cơm, đốt cho con ít giấy tiền. Cha hãy tha thứ cho con chưa chút báo đền ơn dưỡng dục, sau này con không thể tiễn đưa cha về nơi chín suối. Thôi, tình cha con từ nay đứt đoạn, có chăng chỉ gặp nhau trong giấc mộng mà thôi.
Hai cha con khóc lóc mãi, rồi ông trở về. Trong ngục, Quế Anh nghĩ, ta thích thêu chữ, hay làm dáng, xem kịch xem đèn, khiến cho bọn lãng tử thèm muốn, cho nên mới gây ra tai họa này. Mình làm mình chịu còn trách ai nữa! Có điều vì liên lụy mà chồng bị giết, anh họ bị oan khuất, quả là ta mắc tội tầy đình. Quế Anh cứ hối hận mãi không thôi.
Thu qua đông tới, vì trái ý quan trên, hơn nữa có nhiều người kháng cáo, quan huyện bỗng chốc bị triệu hồi, bổ sung người khác.
 
Quan mới là Bạch Lương Ngọc, người huyện Tử Đồng, Tứ Xuyên, thanh liêm tài giỏi, xuất thân từ tiến sĩ, ông lĩnh văn bằng tới nhậm chức vào mùa đông năm Khang Hy thứ bảy. Ông đi gần tới huyện Cao Bình thì gặp một trận mưa tuyết rất to. Ông cho dừng kiệu nghỉ chân, Lương ngọc ra khỏi kiệu ngắm nhìn. Thấy bầu trời trong như ngọc, mặt đất như dát bạc, ánh sáng lạnh ngòi chiếu, tất cả đều bừng sáng, lòng ông khoan khoái. Chợt thấy ngôi mộ mới trên dốc núi, không mọc một nhánh cỏ nào, mà cũng không thấy một bông tuyết nào. Trên mộ chỉ có một nhánh lúa xanh tươi, trông thật đáng yêu bông lúa đang vào mây. Ông nghĩ lúa là loại cây trưởng thành vào mùa hạ, kết hạt vào mùa thu, không chịu rét. Nay đang lúc cuối đông, vạn vật khô héo, song chỉ có mỗi cây lúa này là tươi tốt, há chẳng phải là điều lạ lùng ư? Đang lúc băn khoăn, thì những người trong huyện đường đến nghênh đón. Ông hỏi đây là mộ của ai. Họ nói:
- Đây là Vương Gia Câu, chúng con không biết là phần mộ của ai.
Lúc ấy có một ông già chăn trâu, tới bẩm:
- Đây là ngôi mộ Vương Mậu Sinh, con Vương Chính Bang. Vợ anh ta thông dâm với một người đưa dâu rồi âm mưu hãm hại. Người ta đã trói hai người này giải lên quan, nay vẫn đang bị giam giữ.
- Đã khai chưa? - Lương Ngọc hỏi ông già.
- Trước thì không khai, - ông già nói, - sau đó họ bị cùm kẹp nên đã khai ra rồi.
Lương Ngọc lập tức truyền lệnh gọi lí trưởng tới hỏi, lý trưởng cũng đều nói thế. Lương Ngọc nói:
- Vụ án này nhất định mắc oan sai, các người cho người coi giữ cây lúa này, không để trâu ăn hoặc dẫm nát.
Về tới huyện nhậm chức, ông lệnh đưa ngay hồ sơ vụ án Hà Lương Dị. Xem xong Lương Ngọc đập bàn nói:
- Người học trò này mắc oan rồi, làm gì có chuyện gian dâm giết chồng, mà người đưa dâu lại giết người.
Ông gọi ngay hai người tới xét hỏi, Lương Dị kêu oan, Quế Anh nhân đó nói rằng tên cướp từ trong gầm giường chui ra rồi giết chồng. Quan gật đầu, song vẫn lệnh cho giam vào ngục, rồi lập tức cho tay chân tới hiện trường. Quan trực tiếp tới xét hỏi cây lúa.
Hôm sau, ông tới ngôi mộ xem xét kĩ lại một lần nữa, rồi cho người đào lên. ông lại dặn người đào phải hết sức cẩn thận, không để đứt rễ lúa. Mà cây lúa này cũng lạ thật, chỉ có một chiếc rễ mọc ra từ quan tài, mở quan tài ra xem, thì thấy nó mọc từ mồm xác chết ra. Quan nghĩ: "Điều này chắc ẩn chứa nỗi oan ức chi đây, hoặc là họ tên của hung thủ. Suy xét kĩ về nghĩa của hai nữ sinh hòa (cây lúa sống) tức là ngậm thóc (cốc) rồi sau đó mới suy ra, ý của nó có lẽ là "Hàn Cốc Sinh" chăng? Thế rồi ông cho lấp ngôi mộ lại và trở về nha môn hạ lệnh nội trong nửa tháng phải bắt bằng được Hàn Cốc Sinh.
Sai nha cầm lệnh truy nã lùng sục khắp mọi nơi. Một hôm họ đến Đà Tử Điếm, thấy trong miếu đang giảng kinh, hai sai nha vào nghe, bài giảng là "Yết lục Văn” của Văn Đế, rồi lại giảng đến sự quả báo về gian dâm. Bỗng thấy có một người nói bô bô:
- Ông đang dùng những lời nói tầm phào quái quỷ để mê hoặc mọi người, ta một đời dâm đãng, người không cho chơi cũng cứ chơi, không gian dâm được cũng cứ gian dâm, mà ta chẳng thấy báo ứng gì cả.
Người đang thuyết giảng nói:
- Anh này lạ thật, đây là lời Bồ Tát khuyên mọi người, anh tin thì nghe, anh không tin thì đừng nghe nữa. Có phải là Bồ Tát nói bừa đâu.
Mọi người nói:
- Sao lại có loại người quái lạ như thế. Đây là lời huấn dụ của hoàng đế, khuyên người ta hãy trở lại đạo làm người, sao ngươi lại phỉ báng, chúng tôi không nghe theo anh đâu.
Thế rồi anh ta bực tức bỏ đi.
Hai sai nha nghe xong, về quán ăn cơm, thấy gã đồ tể đứng bên phản thịt gần cửa quán. Sai nha mua nửa cân thịt, gã cắt một miếng rồi đưa cho. Sai nha nói:
- Anh hãy cân lại xem có đủ không?
Gã đồ tể quắc mắt nói:
- Ông Hàn Cốc Sinh này cắt thịt không cần phải cân lại, cả cái huyện Cao Bình này ai mà không biết tiếng!
Sai nha nghe thấy tên vừa giật mình vừa vui mừng, lặng lẽ lấy xích sắt khóa tay lại, lôi vào cửa hàng. Mọi người hỏi vì sao, sai nha đưa lệnh truy nã cho họ xem. Có người nghe thánh dụ nói:
- Vừa giờ hắn còn nói là gian dâm không bị báo ứng, ai ngờ rằng chưa đầy một giờ sau hắn đã lập tức gặp báo ứng, bị sai nha bắt, thế mới biết hôm nay trời thấp, hắn không gây được tội ác.
Hôm sau sai nha giải về huyện, quan ngồi trên công đường quát:
- Hàn Cốc Sinh, tại sao ngươi giết chết Vương Mậu Sinh, trước mặt ta, không khai ư?
- Con mở cửa hàng thịt, - Hàn Cốc Sinh nói, - chưa từng làm điều gì xấu, ngay Vương Mậu Sinh con cũng không biết mặt, thì sao có thể giết được?
- Ngươi đã giết Vương Mậu Sinh, cớ sao còn chối? - Quan nói.
- Con là người đức hạnh, - Cốc Sinh nói, - tại sao ngài đổ oan cho con?
Sai Nha nói:
- Khi chưa bị bắt, người này còn khoác lác rằng cả đời dâm đãng, mà chẳng thấy báo ứng đâu cả, bây giờ anh ta còn chối quanh.
- Không tra khảo thì ngươi không khai. - Quan nói.
Thế rồi ông gọi tay chân mang cùm kẹp ra, Cốc Sinh sợ run cầm cập, bỗng nhiên bên tai thấy có người quát "khai mau”, biết rằng oan hồn vẫn theo bám mình, khó mà thoát tội, đành phải khai rõ sự thực.
- Mong ngài đừng tra tấn nữa, con xin khai hết. Con ở Đà Tử Điếm, tên là Hàn Cốc Sinh. Con là tay dao thớt, mở cửa hàng giết mổ. Một hôm xuống làng mua lợn, thấy một cô gái xinh đẹp đến nhà hàng xóm xem rước đèn. Hôm sau con tới nhà họ Liêu mua lợn, thấy cô ấy ngồi trên lầu thêu hoa, vừa thêu vừa hát bài tình ca gọi con, cô ấy nhổ nước bọt xuống mồm con. Con định lên lầu nói với cô ấy những lời yêu thương, song lầu cao không có lối nào lên được. Hỏi cha cô mới biết ngày mười sáu tháng Tám cô ấy đi lấy chồng. Con đến nhà họ Vương làm cỗ, rồi lẻn vào phòng cưới, chui vào gầm giường, chờ khách khứa đi ăn cỗ hết, con sẽ thông dâm với cô dâu. Ai ngờ khách khứa nườm nượp, kẻ ra người vào. Họ chơi bời uống rượu mãi tới canh ba mới tan cuộc. Cô dâu cởi áo lên giường ngủ. Con nghĩ mình chui dưới gầm giường quả là nhục nhã, thịt chưa được ăn mà đã phải muối mặt. Chậm một chút nữa thì thật là khó coi thế là con lập tức chui ra. Lửa tình ngùn ngụt bốc cháy, con lôi lấy tay cô dâu. Chàng rể trên giường trông thấy, nắm lấy tay con đá cho mấy cái. Đang lúc giằng co, con khó mà thoát thân, thế là con đâm một nhát, anh ta chết. Sợ quá cô dâu kêu ầm lên, con chạy ra khỏi phòng lẩn vào bóng tối. Chính Bang mở cửa vào xem, con đã lẻn vào bếp ngủ. Hôm sau thu xếp về nhà. Nghĩ rằng trời cũng không thể nào biết được. Ai ngờ ngài vô cùng sáng suốt, bắt con xét hỏi, cùm kẹp tra tấn, thấy thế con run sợ. Đành phải khai thực, xin ngài tha thứ cho con.
Khai xong, quan cho cùm lại rồi tống ngục. Cho Quế Anh, Hà Lương Dị ra, rồi lại gọi Vương Chính Bang, Liêu Chương Đức tới Quan nói với Quế Anh rằng:
- Vụ án này là do ngươi thích đi xem kịch xem rước đèn mà ra, nghe những câu hát tà dâm để giải khuây, nên bọn du đãng để ý tới mới gây ra tai họa này. Cũng mừng vì ngươi vô tâm, mới được ta minh oan cho.
Sau đó ông lại nói với Vương Chính Bang:
- Ta thấy người con gái này trẻ đẹp, khó lòng mà thủ tiết được thôi thì cho cô đi tái giá.
- Con chỉ thương mình già cả, đã sáu mươi tuổi rồi, khi qua đời không ai hương khói. Con dâu con tuy không giết người nhưng nó gây ra mầm họa, con muốn nó thủ tiết để phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già, để an ủi quãng đời còn lại.
- Người ta thường nói: "Không có cây thì chim không đậu”. - Quan nói. - Con ngươi không còn thì cô ấy dựa vào ai.
- Con định nuôi con nuôi. - Chính Bang nói.
- Ngươi muốn nuôi con nuôi ư? - Quan nói. - Ta nghĩ rằng, ngươi đã làm cho Hà Lương Dị oan khuất, chịu biết bao nhiêu đau khổ, sao không lấy đức báo đức, gả con dâu cho anh ấy có phải đẹp cả đôi đằng không?
- Tốt thì tốt đấy, - Chính Bang nói, - song không biết Lương Dị có ưng không?
Quan lại gọi Lương Dị nói:
- Ngươi có mấy anh em, đã vợ con gì chưa?
- Con có năm anh em. - Lương Dị nói. - Con đã lấy hai đời vợ mùa xuân năm nay bỗng nhiên chết, hiện nay con vẫn chưa lấy vợ khác.
- Việc này hoàn toàn không phải ngẫu nhiên, - quan cười nói, - như có người xui khiến vậy. Nay ngươi hãy nghe lời ta nhận làm con Chính Bang, kết duyên với Quế Anh.
- Con có cha có mẹ, -: Lương Dị nói, - há rằng lại bỏ cha mẹ sinh ra mình đi phụng dưỡng người khác sao? Hơn nữa Chính Bang đã vu cáo cho con, là kẻ thù của con, sao lại nhận ông ấy làm cha được!?
- Ý ngươi cũng quá đáng, ngươi gặp tai họa này vốn là Chính Bang, ngộ nhận mối quan hệ giữa ngươi và Quế Anh Thôi. Quế Anh không mắc oan, thì không thể là vợ ngươi, ngươi không chịu oan thì cũng không thể làm chồng cô ấy. Hơn nữa Chính Bang vốn tố cáo là nghi cho ngươi, và không phải chỉ có Vương Chính Bang nghi, mà ngay cả quan huyện trước cũng nghi cho ngươi, sao ngươi lại trách sự lầm lỡ của ông ấy. Ta nghĩ rằng ngươi nên nhận ông ấy làm cha nuôi thì trên mới hợp ý trời, dưới mới hợp lòng người, khiến ngươi không vợ mà có vợ, Quế Anh không có chồng mà có chồng, Chính Bang không có con mà có con, thì việc ấy có gì là không tốt.
- Con xin nghe theo lời dạy bảo của ngài. - Lương Dị nói. - Song con còn cha mẹ, con không tự ý quyết định được.
- Ta có cách xử trí việc này. - Quan huyện nói.
Thế rồi ông thả hai người, lệnh cho hai người ở tại quán trọ điều dưỡng, quan sẽ chọn ngày lành tháng tốt làm lễ cưới ngay tại huyện đường. Rồi ông sai người bảo vợ chồng ông Hà tới huyện đường, nói rõ ý định của mình. Lão Hà rất vui.
Đến ngày lành tháng tốt, quan ngồi trên sảnh đường, gọi cha mẹ đôi bên gia đình tới, bảo Hà Lương Dị trước hết lạy Vương Chính Bang nhận làm cha, tặng hoa hồng. Hai người lạy trời đất, sau đó lạy quan huyện rồi lạy bố mẹ vợ, bố mẹ đẻ. Lạy xong quan cho dùng kiệu của mình đưa hai người về nhà làm lễ hợp cẩn. Dọc đường đốt pháo tấu nhạc tiễn cô dâu chú rể. Mọi người đổ ra đường xem, ai ai cũng khen, đây là một đôi tài tử giai nhân rất hợp nhau, và ca ngợi tài năng của ngài Bạch Lương Ngọc. Từ đó trở đi hai vợ chồng sống với nhau rất hòa thuận. Họ đều sửa đổi lỗi lầm xưa, thề trước thần thánh, nguyện suốt đời làm điều thiện, giữ gìn phẩm hạnh làm gương cho người khác. Quế Anh khuyên Lương Dị cố gắng học hành, năm sau đỗ tú tài. Quan giải quyết xong vụ án này, đệ trình văn bản lên cấp trên, cấp trên ra lệnh chém đầu Hàn Cốc Sinh.

Bởi thế người ta sống trên đời, con gái không nên xem hát xướng, phải biết rằng trang điểm diêm dúa là khiêu dâm. Con trai đừng bàn tới chuyện phòng the, mới không dẫn đến tai họa: Ta hãy thử xem, nếu Quế Anh không trang điểm, không ra ngoài thì sao có thể dẫn đến tên đồ tể giết chồng, mắc oan chịu khổ! May mà thành tâm hối cải, cho nên gặp được ngài Bạch Lương Ngọc minh oan. Hà Lương Dị hay nói bừa nên vô cớ chịu oan. Về sau biết hối cải lỗi lầm trước đây nên mới chuyển họa thành phúc. Vương Chính Bang cay nghiệt mà trở thành giàu có rồi gia tài cũng rơi vào tay người khác. Vợ Chính Bang nuông chiều thói xấu của con nên không có người hương khói. Vương Mậu Sinh vì ăn uống mà sát sinh quá nhiều, chơi gái, đánh bạc, không vâng lời cha mẹ, cho nên bị giết. Hàn Cốc Sinh trông thấy sắc đẹp là nghĩ đến dâm ô, nên bị chém đầu. Từ đó ta thấy, kẻ gây ra tội ác dù mưu kế có tinh vi bí mật đến thế nào chăng nữa, nhưng mà người hiểu biết mưu cao mẹo giỏi sắc sảo nhạy bén, lại được trời báo ứng, thì sớm hay muộn tội ác cũng sẽ bị trừng phạt.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Fri Apr 11, 2014 4:00 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 19
Ong Minh Oan
Đứng đầu vạn ác là dâm dục,
Trời đất, quỷ thần chẳng dung tha,
Ý xấu vừa nhen mầm họa nảy,
Thế nào cũng mang vạ vào thân.
Trần Đại Trung ở Đức Dương, nhà nghèo bán bánh trong thành, người ta gọi là "Trần Bán Bánh". Tính vốn chất phác, nói năng khiêm tốn, hòa nhã. Bánh của anh nhỉnh hơn bánh của người khác, bán rất chạy. Ngoài ba mươi tuổi góp nhặt được hơn bốn mươi quan tiền, anh cưới Hà thị. Tuy tái giá nhưng Hà thị khá xinh đẹp. Là con nhà nghèo, Hà thị không coi trọng giấy chữ Thánh hiền. Thưa các bạn, chữ vốn là do thánh nhân sáng tạo ra cho đời sử dụng, rất ích lợi cho quốc gia và cho muôn đời con cháu. Hà thị không biết quý trọng nó, dùng những tờ giấy có chữ đã rách để xe dây cắt mẫu giày, bịt miệng vò... Tuy đây là lỗi do vô ý, song hủy hoại quá nhiều nên khó tránh khỏi thần thánh nổi giận.
Ở cách nhà Trần Đại Trung không xa có Đàm Lão Thiểm, một người chuyên cho vay bạc lấy lãi, và đổi bạc. Tính lão giảo hoạt, mồm nói ngon ngọt, nhưng lòng dạ độc ác. Thấy người ta làm việc thiện, trước mặt thì lão khen, sau lưng thì nói xấu, bảo như thế chẳng khác nào bỏ tiền ra để mua lấy tiếng. Đời lão, một việc thiện cỏn con lão cũng không làm, không dám rỉ ra một xu, lúc nào cũng chỉ nói đến tiền của lợi lộc. Lão rất ghét nhện, nói rằng nhện chăng lưới, chẳng khác nào bọn tiểu nhân gian hiểm, ngấm ngầm hại người, nếu không đề phòng sẽ mắc bẫy, gặp phải thủ đoạn độc ác. Hễ trông thấy nhện là lão lấy gậy khua đi, may mà lão chưa đến nỗi giết, mà chỉ vứt nó đi. Hằng ngày lão Thiểm ăn bánh nhà lão Trần, thấy Hà thị xinh đẹp nên hay bắt chuyện với chị. Hà thị vốn là gái ở phố xá, quen giao tiếp nam nữ, thấy lão Thiểm thích chuyện trò cũng hay cười nói với lão ta. Nào ngờ người nói thì vô tâm mà người nghe lại hữu ý, lão Thiểm muốn vụng trộm, song lại ngại Trần Bán Bánh.
Một hôm, lão Thiểm hỏi Trần Bán Bánh:
- Anh buôn bán như thế một năm gỡ được bao nhiêu tiền?
- Có đáng kể gì, chỉ đủ ăn thôi.
- Sao anh không buôn to một chút, - Đàm Lão Thiểm nói, vả lại năm nay anh đã bốn mươi tuổi rồi, không kiếm thêm ít tiền thì khi về già lấy gì mà độ thân.
- Tôi cũng muốn buôn to một chút như thầy Đoàn nói, nhưng không có vốn.
- Nếu anh muốn, - Đàm Lão Thiểm nói, - tôi sẽ cho vay.
- Chỉ cần thầy Đoàn yên tâm, thế thì tốt quá còn gì!
- Tôi thấy anh thật thà chất phác, cho nên tôi nâng đỡ anh, - Đàm Lão Thiểm nói, - có gì mà yên với chẳng tâm.
- Giá đi buôn thì buôn ngả nào hay nhất?
- Hiện nay Kiến Xương vải đang đắt, nếu ta mua ở đây mang đi sẽ lãi gấp đôi, một chuyến cả đi lẫn về không đầy hai tháng.
Thế rồi Trần Bán Bánh mượn lão Thiểm bốn mươi lạng bạc, hẹn đến hai mươi sáu tháng chạp sẽ trả. Có tiền, Trần Bán Bánh đi mua vải, Hà thị ở nhà chuẩn bị bữa rượu tiễn chồng. Bán Bánh dặn dò vợ rằng:
- Tôi là chồng, cô phải nghe lời, số tôi khổ. Từ nhỏ đã bán bánh nuôi thân. Từ khi về nhà này, cô cũng chịu nhiều vất vả, thêm người nên thiếu tiền chi tiêu. Nay nhờ ơn thầy Đoàn, cho tôi mượn tiền lấy lãi. Tôi buôn vải tới Kiến Xương, để cô phải ở nhà một mình.
- Đi buôn là việc hệ trọng, - Hà thị nói, - đến lúc tuổi già có ít vốn sống sẽ yên tâm, dù ở nhà chịu lẻ loi một mình em cũng chẳng ngại gì.
- Không có việc gì thì đừng đi đâu. Sớm tối phải trông coi cẩn thận đừng có sơ ý. Cần cảnh giác đề phòng bọn du đãng chòng ghẹo, lỡ thất tiết sẽ làm nhục chồng.
- Em biết thế nào là đạo làm vợ, xin anh cứ yên tâm.
- Dầu muối, gạo, nước, củi đuốc xem ra dùng trong một tháng vẫn không đủ. Cô ở nhà lấy tiền công phụ thêm vào, một mình cũng thừa sống. Tôi đi Kiến Xương, đường cũng không xa, có lẽ không đến cuối năm thì tôi về.
Hai người gạt nước mắt chia tay nhau. Nghĩ rằng chồng đi xa, để sau này khỏi phải nghi ngờ, Hà thị nhận việc khâu vá mang về nhà làm, rất ít khi ra khỏi cửa. Lão Thiểm thường lai vãng tới. Một hôm thấy Hà thị đang thêu hoa trong nhà. Lão Thiểm đến bên cửa chòng ghẹo. Hà thị nghiêm nét mặt, nói:
- Con gái chúng tôi danh tiết là cái quý nhất, từ nay trở đi thầy Đoàn đừng nói như thế nữa, e rằng người khác nghe thấy sẽ cho là bất nhã.
- Ta cho em mượn nhiều bạc như thế, - lão Đoàn nói, - lẽ nào lại không trả ơn?
- Có mượn có trả, còn trả ơn cái gì? Tôi không phải là loại đàn bà vô sỉ, thầy đừng có nghĩ bậy.
Lão Đoàn cụt hứng bỏ đi. Đến cuối năm lão lại đến hỏi:
- Bà chị Hà ơi, ngày mai đã hết hạn rồi, số bạc chị mượn tôi đã có chưa ?
- Bạc thì hỏi chồng tôi, đàn bà chúng tôi kiếm đâu ra tiền?
- Bạc của tôi đến hạn phải trả, không dây dưa được đâu, nếu không tôi sẽ có cách.
Tối ngày hai mươi sáu lão lại tới đòi, rồi lại nói những lời chớt nhả. Hà thị chỉ đành van xin, và tỏ rõ là người tiết nghĩa, Đoàn Thiên Lương trông thấy, Đàm Lão Thiểm xấu hổ bỏ về.
Vùng này thường ăn tết vào hai mươi chín tháng Chạp, ngày ba mươi tết ăn chay. Đến ngày hai mươi chín Hà thị giết con gà tơ mình nuôi, chuẩn bị mâm cỗ chờ chồng về. Tới chiều bắt đầu hầm gà, chờ tới canh hai, người mệt mỏi rã rời, chị bỏ thức ăn vào nồi hầm, rồi khép cửa hờ, để cả quần áo đi ngủ.
Hôm sau, nghĩ rằng thế nào Trần Bán Bánh cũng về, Đàm Lão Thiểm tới đòi nợ, cửa mở toang, gọi mấy tiếng không ai thưa nhìn vào trong nhà không thấy ai, chắc rằng Hà thị ra ngoài. Tiện tay Lão Thiểm với cái ghế đẩu ngồi bên cửa, rồi rịt thuốc vào điếu hút. Bỗng dưng thấy Trần Bán Bánh cùng với hai người gánh thuê trở về, Đàm Lão Thiểm nói:
- Anh đã về đấy à, lần này có thêm được khá tiền không?
- Rất cám ơn ông, được ông giúp đỡ cũng kiếm được chút ít.
Thế rồi lão Trần gọi vợ rót trà, không thấy thưa, tự mình vào bếp rót nước, thấy trà nguội ngắt, nói:
- Đàn bà gì mà đoảng thế, ba mươi tết nước cũng không đun.
Lão vào phòng lấy ấm rót nước sôi, trượt chân ngã, bò dậy, vô cùng kinh hãi, nói:
- Không biết kẻ nào đã giết vợ tôi, ngay đầu nó cũng cắt mất.
Lão Thiểm nghe thấy hỏi:
- Cái gì mà ầm lên thế?
- Vợ tôi bị giết rồi!
Lão Thiểm vào phòng xem, Trần Bán Bánh túm lấy lão đấm đá túi bụi, nước mắt anh tự nhiên trào ra, bất giác khóc rống lên.
- Thấy người vợ hiền chết mất đầu, khiến ta vô cùng đau đớn xót thương. Vợ ta vốn là người hiền thục biết người biết việc, hòa nhã với láng giềng, tôn kính chồng con. Việc trong nhà ta đều dựa vào tay người vợ, cô biết ăn dắt để dành, dệt vải nuôi lợn. Ban ngày nhận hàng về thêu, đêm đến chong đèn khâu giày, vá áo tình nghĩa vợ chồng gắn bó như keo sơn vợ chồng hòa thuận chẳng khác nào Lương Hồng với Mạnh Quang(1). Không biết kẻ nào lòng lang dạ sói, giết chết vợ tôi. Khó mà kể hết được tình nghĩa của người vợ đức hạnh. Bây giờ tôi như nhạn lẻ đôi. Lão Thiểm, vì duyên cớ gì lại giết chết vợ ta?
(1) Lương Hồng và Mạnh Quang thời Đông Hán. Lương Hồng thường đi giã gạo thuê, về tới nhà đã thấy Mạnh Quang bưng cơm lên cao ngang mày lễ phép mời Lương Hồng. Xem Từ điển điển cố Trung Hoa, NXB Văn hóa - Thông tin, H, 2002.
 
- Tại sao anh đổ bừa cho tôi? - Lão Thiểm nói.
- Ta biết lòng dạ ngươi gian tà, không ăn vụng tóp mỡ sao vào bếp.
- Tôi đến hỏi nợ anh, thấy anh chưa về. Bởi thế mới ngồi đây hút thuốc.
- Ta cho rằng ngươi cưỡng dâm, song vợ ta chống cự, nên ngươi đã đâm chết. - Ôi ! ông đừng có đổ oan cho tôi, nhất định là bọn cướp giết chết chị ấy.
- Nếu là trộm cướp thì nó phải lấy đồ đạc, áo quần, chứ lẽ nào lại chỉ lấy chiếc đầu lâu?
- Ôi thật là oan tôi quá.
- Ngươi làm việc này quả là ác độc, nếu ta không tố cáo ngươi thì ta chết sẽ không nhắm mắt.
Thế rồi Trần Bán Bánh lôi Đàm Lão Thiểm đi gọi láng giềng và lí trưởng. Xưa nay lão Thiểm là một người tồi cho nên hàng phố ai ai cũng ghét. Họ nói:
- Anh mới đi khỏi cửa, ngày nào hắn cũng lai vãng tới, nói nói cười cười với vợ anh.
- Nếu như tôi giết, - lão Thiểm nói, - thì tại sao tôi không chạy trốn, mà lại ngồi ở đây để chờ cho ông bắt?
- Chỉ là tới xem động tĩnh mà thôi. - Mọi người nói.
Lão Thiêm kêu trời kêu đất, nói là mình bị oan uổng. Trần Bán Bánh lôi lão Thiểm tới huyện đường, đệ đơn kêu oan.
Quan lệnh khóa tay lão Thiểm, rồi lập tức tới khám nghiệm tử thi. Toàn thân không có thương tích, cổ có vết bóp, chứng tỏ bị cưỡng dâm rồi giết chết. Quan hỏi lí trưởng:
- Đức hạnh Đàm Lão Thiểm xưa nay thế nào?
- Người này giảo hoạt tham lam, - lý trưởng nói, - chỉ có điều lão Thiểm thường lui tới nhà này, còn giết hay không chúng tôi không biết.
Quan trở về nha môn, gọi Đàm Lão Thiểm lại hỏi:
- Tại sao người giết Hà thị? Trước mặt ta sao không khai thực!
Đoàn cúi đầu nói:
- Xin ngài cho phép con nói. Gặp điều oan khuất này con vô cùng đau đớn. Xưa nay cho vay bạc, con luôn luôn giữ phận mình. Mua vào bán ra đều cân ngang bằng sổ ngay, không bao giờ lừa dối. Luôn thương người và làm việc thiện, ai ngờ Trần Bán Bánh không có lương tâm. Con thương tình cho anh ấy vay bạc làm vốn buôn vải tới Kiến Xương, không thấy về. Nhân dịp ăn tết con nghĩ rằng thế nào anh ấy cũng về, con tới hỏi, thì thấy cửa mở toang, nhìn vào không thấy người. Ngồi ngoài cửa, rịt thuốc hút, chờ anh ấy, vừa ngồi xuống thì Trần Bán Bánh về. Thấy vợ chết bèn đổ cho con cưỡng dâm giết người.
- Anh ta chưa về ngươi tới đó làm gì? Ngươi không cưỡng dâm giết người thì ai?
- Hằng ngày con luôn giữ gìn đức hạnh, con đến nhà anh ấy lấy nợ chứ có gian dâm đâu?
- Nếu không thấy anh ấy về thì ngươi phải đi ngay chứ, tại sao còn chối cãi. Hãy tra tấn nó cho ta!
- Con cho rằng vợ anh ấy sang nhà hàng xóm, con hút điếu thuốc ngồi chờ cho đỡ buồn.
- Đồ chó, vẫn còn cãi bướng ư? Hãy đánh nó bốn mươi gậy cho ta.
- Xin ngài đừng nổi giận tra tấn con, việc này con hoàn toàn bị oan uổng, vậy con khai làm sao được.
- Đồ chó má, mày không khai ư? Đánh, đánh chết nó đi!
- Ôi! Thưa ngài, chỉ trừ phi mặt trời mọc ở đằng tây con mới nhận cưỡng dâm giết người.
- Thằng này không chịu khai, quân bay đâu, hãy kẹp nó cho ta.
- Trời ơi, đánh đến nỗi hai chân con tóe máu, bây giờ kẹp con đến vãi cứt vãi đái. Thôi thì chết xuống cõi âm cho yên chuyện, chết đi rồi sống lại làm gì cho khổ. Nếu không khai thì quan tra tấn rất tàn ác, mà khai thì cũng bị chém đầu, ta còn đâu người vợ hiền lành, đức hạnh, trong hòm còn đâu những thỏi bạc óng ánh trắng ngời. Từ nay về sau không còn được chung chăn chung gối với người vợ hiền và số bạc ấy cũng không còn là của ta nữa. Thôi thì ta khai quách cho xong. Hà thị chính là do con cưỡng dâm, giết chết.
- Đầu người vứt ở đâu?
- Đêm ấy xách đầu đi vứt rồi bỏ chạy, con không nhớ là vứt ở chỗ nào, tìm lâu rồi sẽ thấy.
Khai xong quan tống lão Thiểm vào nhà giam.
Vị quan này chính là mua chức tước mà lên, ông ta tham lam và tàn nhẫn. Tuy biết đây là án oan, song vì muốn đòi bạc, nên ông ta đã đánh đập tàn ác để bức cung, rồi bảo người khác gợi ý vòi tiền. Nào ngờ Đàm Lão Thiểm coi của hơn người, thà rằng chịu nhục hình chứ không chịu bỏ tiền ra. Trong nhà giam chịu hàng trăm kiểu đánh đập phi pháp của bọn tù nhân, lão Thiểm mới chịu bỏ ra mười lạng bạc. Bọn phạm nhân hành hạ lão dở sống dở chết. Mấy hôm sau, quan lôi ra hồi cung, thấy lão bất động, chỉ còn thoi thóp thở, biết bọn tù nhân dùng hình phạt phi pháp để tống tiền, quan đùng đùng nổi giận, đem bọn cai ngục và phạm nhân mỗi đứa đánh một ngàn roi mới dẹp yên. Quan thấy Đàm Lão Thiểm tiếc của, cứ cách dăm ba ngày lại hỏi đầu lâu đâu. Lão Thiểm hai chân nát bét, lòi cả xương, song lão vẫn không chịu bỏ ra một đồng. Tổ tiên lão Thiểm xưa kia cũng tham của hám lợi như thế chứ đâu phải riêng lão Thiểm.
Trong tù lão Thiểm suốt ngày khóc lóc, hai mắt sưng húp, chỉ còn có cách bó tay chờ chết.
 
Hơn một tháng sau, bỗng nghe thấy một người thầy dùi thủ đoạn cao cường từ xa tới, mượn người nhờ ông ta nghĩ cách. Khác với người khác, người thầy dùi này đã từng bị báo ứng. Vốn là có một người vô cớ giết vợ, thuê ông ta nghĩ cách. Ông ta bảo cứ im lặng đừng làm ồn lên, tới đêm nếu có một đứa con trai nào vào nhà thì giữ lại chuốc rượu thật say rồi cắt đầu lên báo quan, bảo nó gian dâm với vợ, thế là tự nhiên vô sự. Nào ngờ, đứa con mười bảy tuổi của ông ta vào thành đón cha, người ấy đã giữ con ông ta lại, cắt đầu báo quan. Người thầy dùi biết được đó là con mình, ông ta vô cùng đau khổ, ngậm đắng nuốt cay không dám nói ra, biết đó chính là quả báo.
 
Từ đó ông ta không muốn làm cái nghề thất đức ấy nữa, song không còn kế sinh nhai, thế là ông ta hối cải lỗi lầm, không hại người mà cứu người, thấy những vụ án oan uổng vô cớ mắc tội, ông ta mới giúp. Ai đi kiện, ông khuyên thôi đừng kiện cáo nữa, rồi kiếm mấy đồng theo phận sự của mình. Cứ làm như thế trong mấy năm, thì vợ ông ta một người đã năm mươi tuổi bỗng sinh được một đứa con trai.
Người thầy dùi ấy rất mừng, biết rằng làm việc thiện là có ích. Ông ta chuyên gỡ án oan cho mọi người, khuyên người ta nên sửa chữa lỗi lầm, hướng theo điều thiện. Nay thấy Đàm Lão Thiểm tới mời, biết đó là oan uổng, ông bèn tới nhà tù khuyên lão Thiểm:
- Phàm là những người gặp oan khuất, đều do mầm ác hằng ngày dẫn đến. Xem ra vụ án của anh tuy là quan đòi bạc, song không biết được hung thủ, thì biết đâu mà giải quyết. Dù có thủ đoạn tráo trở mấy cũng không sao gỡ nổi. Ông hãy thử suy nghĩ xem, về tiền bạc, về luân thường đạo lí, về xử sự, hằng ngày mình có tội lỗi gì không. Hãy thật sự hối cải, đừng quá coi trọng tiền của, bỏ ra một ít làm điều thiện, lập công chuộc tội. Ta sẽ làm cho ông một lá sớ, cúng ở miếu Thành Hoàng, lòng trời sẽ thay đổi, người và việc hợp nhau, thì tự nhiên sẽ có cơ may, khiến ông dược minh oan thoát khổ.
Đàm Lão Thiểm nghe xong tỉnh ngộ, nhờ ông ta làm sớ lập đàn tràng cầu nguyện mất bốn trăm lạng bạc, và trong tù lúc nào cũng thành tâm hối cải.
Một hôm quan huyện ra ngoại thành khám nghiệm tử thi trở về, thấy hàng ngàn vạn con ong đen bay lượn vây kín lấy kiệu, không sao đi được. Quan vô cùng kinh ngạc nói:
- Oan có đầu, nợ có chủ, các ngươi không cần phải tìm đến ta.
Đàn ong đen vẫn không chịu bay đi, quan lại nói:
- Nếu có oan tìm ta minh oan thì các ngươi cứ bay đi trước, ta sẽ theo tới đó xem sao.
Thế là đàn ong bay đi, quan lệnh cho phu khiêng kiệu theo sau. Đi tới chùa Quan âm, thấy đàn ong bay xuống giếng. Quan lập tức gọi sư lại hỏi:
- Chiếc giếng này tại sao ngươi lấy đá đậy lại, rồi dùng bùa yểm.
- Giếng này có yêu quái, - nhà sư nói, - chúng con mời sư nhốt yêu quái dưới giếng, không thể mở ra được, nếu mở yêu quái ra nhất định sẽ hại người.
- Làm gì có yêu quái. Bọn chó má này đừng có giở trò. - Quan mắng.
Thế rồi quan ra lệnh bẩy hòn đá lên xem. Mọi người sợ ong đốt không dám xuống. Quan cho đốt lửa soi, thì trong giếng không có một con ong nào. Quan bảo đúng là oan hồn biến thành ong, chứ có ong gì đâu.
Bọn tay chân đành phải mời một người biết lặn, rồi dùng thừng buộc vào lưng, giồng xuống giếng xem. Người ấy trở lên báo có một xác chết và một chiếc đầu lâu. Quan lệnh lấy thi thể và chiếc đầu lên. Thi thể chưa bị thối rữa, xét nghiệm thấy đó là một bé trai mười hai tuổi, khắp người không có thương tích, bị dao chặt vào tai mà chết. Còn chiếc đầu kia là đầu đàn bà. Quan gọi sư tới hỏi xác chết và đầu lâu ở đâu ra, sư thoái thác là không biết. Quan quát chửi:
- Đây quả là bọn các ngươi gian dâm, vi phạm pháp luật, giết người giấu xuống giếng. Tại sao trước mặt ta không khai thực, quân bay đâu, hãy đánh nó cho ta.
Biết rằng không thể che giấu được, sư nói:
- Mong ngài đừng tra tấn, con xin khai. Thưa ngài cho phép con được nói từ đầu. Con tu tâm dưỡng tính tại chùa này. Con có một đồ đệ nhỏ tên là Đinh Đinh. Năm ngoái chúng con ăn tết rất vui vẻ, hai thầy trò ngồi vót thẻ tới mãi canh ba. Bỗng nghe thấy tiếng chó sủa như xóc ốc, rồi nghe thấy ở chân tường có vật gì rơi đến "bịch" một cái. Con bảo Đinh Đinh ra xem động tĩnh, nó ra khỏi cửa rồi không thấy vào nữa. Gọi mấy tiếng không thấy thưa. Con chạy ra thấy nó đứng ngay như tượng gỗ, con dùng sống dao đập vào vai để đánh thức nó. Trời tối đen như mực, soi đèn nhìn không rõ, thấy nó ngã vật xuống, nhìn kĩ mới biết con đã chém nhầm vào lỗ tai. Hãi quá tâm thần bất định, lại thấy chiếc đầu người đàn bà lăn trên đất, con run như cầy sấy, hất chiếc xác và chiếc đầu xuống giếng.
- Thế chiếc đầu ở đâu ra? - Quan hỏi.
- Không biết chiếc đầu ấy ai vứt vào, bởi thế đồ đệ của con sợ chết đứng. Con bỗng chốc ngộ sát nó, xin ngài tha tội.
- Ngươi đã giết ai, rồi vứt đầu xuống giếng, ngươi vẫn không khai. Hãy đánh nó cho ta!
- Ôi! Thưa ngài, con không giết người thì biết đâu mà khai. Điều ấy thật là vô lí.
- Ngươi không khai ư? Hãy đánh nó tám mươi gậy cho ta.
- Ôi thưa ngài, vì sao ngài khép tội vu vơ, dù có chết con cũng không khai.
Rồi cứ thế, sư gào lên khóc, luôn mồm kêu van xin tha.
- Đồ chó, quả thực nó không khai, thì hãy đánh chết nó cho ta.
Sắp tra tấn, bỗng thấy một người quỳ xuống kêu oan:
- Bẩm ngài, con là tuần canh, xin quỳ lạy.
- Người là ai, tới đây kêu oan?
- Con là Hoàng Mao Ngưu.
- Làm nghề gì?
- Những người hàng phố nhờ con gác đêm!
- Có gì oan?
- Ngày hai mươi chín vào đúng canh ba con đánh trống sang canh, thấy nhà Trần Bán Bánh không đóng cửa, sợ có trộm, con vào nhà xem sao, thấy rượu thịt con uống say bí tỉ. Vào phòng, thấy vợ anh ấy đang ngủ lăn trên giường, bỗng chốc nẩy ra ý định cưỡng dâm. Ai ngờ, Hà thị là người trinh tiết không chịu, kêu ầm lên. Con cầm sống dao giả vờ cắt vào cổ dọa chị ta, song cắt nhầm đằng lưỡi dao, thế là chị ấy qua đời.
- À vậy ra Hà thị là do thằng chó này giết, thế đầu mày vứt ở đâu?
- Con sợ cuống lên mang đầu chạy ra ngoài, ném qua bức tường bao rồi về. Hôm nay con đến xem xử án, thấy người đàn bà cổ đẫm máu đánh con một trận, bức con phải khai ra sự thực. Bởi thế con quỳ xuống xin nhận tội, mong ngài tha cho con.
Hoàng Mao Ngưu còn có tên là Đại Xuyên, vốn là nhà giàu có bị sa cơ lỡ vận phải đi ăn mày. Các bậc cha chú bảo đi đánh trống cầm canh. Đêm ngày hai mươi chín đi qua cửa nhà họ Trần, thấy cửa chưa đóng, sợ rằng có trộm, rồi vào nhà thấy nồi thịt bốc hơi ngùn ngụt, mở ra xem thì đó là thịt gà, lại sẵn rượu nóng, một mình ăn cho bằng hết. No say, phanh cúc áo vào phòng Hà thị. Hà thị kêu ầm lên, Mao Ngưu bịt mồm bế chị lên ghế, rút dao ra cứa sống dao vào cổ nói:
- Mày kêu thì tao giết.
Đột nhiên Hà thị ngã vật xuống đất, máu ở cổ vọt ra, nhìn kĩ hóa ra là dùng nhầm lưỡi dao, cổ đứt quá nửa, thế rồi chặt đứt luôn, mang cả đầu và ghế đi ra. Chợt nghĩ: "Ta say nên đầu óc lú lẫn, đã giết người lại xách đầu đi ra, nếu có ai nhìn thấy thì sao?". Thế là vứt ngay chiếc đầu qua bức tường bao, rồi trở về nhà.
Bên trong tường là chùa Quan âm, ở đó có một vị sư và một chú tiểu tên là Đinh Đinh. Đêm ấy ăn tết, vì ống thẻ không đủ nên hai thầy trò đang ngồi vót thẻ, bỗng nghe đánh "uỵch", một tiếng, chó sủa rất dữ. Sư bảo chú tiểu ra xem, chú chừng mươi hai tuổi, thấy đầu người, sợ quá chết lặng đi. Sư hỏi, chú tiểu không trả lời liền cầm đèn ra xem; sờ không thấy động đậy đang cầm sẵn con dao quắm trong tay, dùng sống dao đập vào vai, chú tiểu gục ngã, máu chảy đầm đìa, tắt thở. Nhìn kĩ thì thấy đã dùng nhầm lưỡi dao chặt vào lỗ tai. Vị sư này thường ngày đối xử với đồ đệ rất hà khắc, quen thói đánh đập, trách mắng, bởi thế mà lần này đã làm chết người. Nhìn kĩ, lại thấy chiếc đầu đàn bà, ông ta sợ hãi nghĩ: "Năm mới gặp phải việc tai quái này, lại giết chết đồ đệ, thế thì làm sao mà thoát chết được?". Bên tường có một chiếc giếng, ông ta bèn hất luôn xác chú tiểu và chiếc đầu người đàn bà xuống đó tìm đá đậy lên, rồi nói rằng là có yêu quái phải vẽ bùa dán kín mới yên tâm. Ai ngờ Hà thị chết, xuống gặp Diêm Vương kêu oan, Diêm Vương nói, vì Hà thị làm ô uế chữ thánh hiền nên phải chết non. Hà thị nói:
- Hồn con tuy đáng chết non, song không đáng chết một cách thê thảm như thế, con bảo toàn danh tiết, chết vẫn không cam lòng.
Hơn nữa Đàm Lão Thiểm cầu nguyện sửa chữa lỗi lầm, Thành Hoàng trình giấy xuống âm phủ, Diêm Vương sai ong đen dẫn quan tới giếng, lệnh Hà thị báo thù trước mặt quan, để giải oan cho Lão Thiểm tại chùa này.
Nghe tin ong đen vây kín kiệu quan, Hoàng Mao Ngưu tới chùa Quan âm xem, biết rõ sự thực, vội vã quay về. Trong lúc bối rối, gặp ngay Hà thị kéo tay đòi mạng, tạt tai mấy cái, bắt hắn phải đến khai trước mặt quan, thế là Mao Ngưu như ngây như dại thông thốc nói ra bằng hết. Quan lệnh khóa tay, tống ngục cùng với sư thầy. Ông trở về huyện thả Đàm Lão Thiểm, trình giấy lên cấp trên. Cấp trên súc giấy về, xử trảm Hoàng Mao Ngưu. Sư thầy ngồi tù ba năm.
Về nhà quả nhiên Đàm Lão Thiểm tu thân tích đức, quên hẳn mối thù với Trần Bán Bánh, thương Bán Bánh nghèo túng, bảo Trần Bán Bánh cứ để số tiền ấy lại mà buôn bán, vẫn mở cửa hiệu như cũ. Vợ Hoàng Mao Ngưu là người hiền thục, thấy Mao Ngưu đi ăn xin vẫn không đi lấy người khác. Nay chồng chết không nơi nương tựa, đành phải tái giá. Những người hàng phố bảo với Trần Bán Bánh rằng:
- Hắn ta giết vợ anh, anh hãy lấy vợ hắn, thì bọn dâm đãng mới thấy báo ứng.
Trần Bán Bánh bèn nhờ mối lái đến hỏi chị làm vợ. Về sau hai người chịu thương chịu khó, nhà ngày một khá giả.

Qua đây ta thấy, con người không được tà dâm, ngay cả khi anh mới có ý định tà dâm thì thần tà dâm đã theo anh, khiến cho anh gặp oan khuất chịu khổ sở, khó mà thoát khỏi, thì tội gì mà phạm dâm cho khổ đời, khổ thân.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Fri Apr 11, 2014 5:27 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 20
Vắt Óc Nghĩ Ra Hình Phạt Ác 
Mọc Lên Nhọt Độc Chết Thảm Thê
Vùng Hào Châu, An Huy, có một nơi, dân chúng thường đeo bên mình một con dao nhỏ, bất kể thân thích hay bè bạn, nói câu gì trái ý là lôi ngay đao ra. Dân ở đây rất thích đánh nhau. Thường thì khi hai nhà mâu thuẫn nhau, hoặc là hai thị trấn hiềm khích nhau, hai bên bèn tự động đi tụ tập lôi kéo mấy trăm người, hẹn nhau vào một ngày nào đó, đến một nơi nào đó đánh nhau. Đã hẹn rồi thì phải đến. Nếu không đến thì người ta coi người ấy chẳng ra gì, thậm chí người ấy không phải là giống người. Người bị hẹn tuy chẳng có liên quan gì đến mình, nhưng đã nhận lời thì phải liều mạng. Tới ngày hẹn, đợi hai bên đến đủ, thì xông vào đánh nhau. Tuy không có súng ống, hỏa pháo, nhưng dao kiếm, câu liêm đều có cả. Nếu thôn Đông chết năm người, thôn Đoài cũng chết năm người, thì coi như huề, tất cả đều vô sự. Song nếu như thôn Đoài chết nhiều hơn hoặc thôn Đông chết nhiều hơn, thì thôn chết ít bèn họp lại, cử ra mấy người đền mạng để số người chết ngang bằng nhau. Người bị cử cũng hiên ngang như mình đồng da sắt không chau mày không thoái thác. Bởi thế họ đánh nhau rất hung bạo, cứ động một cái là mấy chục người toi mạng.
Làm quan ở vùng này vô cùng khó. Nếu dùng đạo đức lễ nghĩa để cảm hóa, thì hoàn toàn thất bại, cho nên dần dần buộc quan địa phương phải dùng hình phạt hà khắc tàn khốc. Có người xảo quyệt, sau khi nhậm chức, chỉ cần dùng một chút thủ đoạn độc ác, đã làm họ phải khuất phục, không những họ không kêu là quan tàn ác, mà ngược lại họ rất bái phục, ca ngợi là quan tốt. Nếu như ông quan nào nhân hậu một chút, thì họ lại chê là quan tồi. Nhũng án mạng và án trộm cắp ở địa phương tự nhiên tăng vọt, thậm chí khu vực sát cổng thành cũng xảy ra án mạng lớn. Bởi thế, mỗi lần quan địa phương vùng này khuyên cấp trên chọn từ hàng ngũ hậu bổ tìm ra người dũng mãnh, không cần phải trong sạch đứng đắn. Người ấy lại vốn là người hay luồn lọt thích phong chức, tìm đến người có quyền cao chức trọng viết thư tâu trình lên mấy lần, thì mới được gọi tới dinh thự giao việc.
Lần này một vị người Hà Nam tên là Đan Tán Cao, xuất thân từ cống sinh, lên tỉnh chưa đầy một năm thì vừa hay chức quan huyện ấy khuyết và ông ta được chọn vào thay thế. Bởi khi tới tỉnh ông ta có mang một bức thư của vị Quân cơ đại thần, lại có mấy vị hậu bổ tại phủ, đạo khoác lác tâng bốc cho ông ta rằng, ở Phát thẩm cục, ông ta là người thủ đoạn lão luyện, rất giỏi phát hiện kẻ gian. Phiên đài thấy thế rất mừng, bèn trở về Phủ đài yết bảng chọn ngài Đan nhậm chức ở Hào Châu. Gia đình ngài Đan vốn ít người, chỉ có một mình bà lớn, không con cái. Để giảm bớt người đi theo, ngài vẫn để bà lớn ở tỉnh một mình một ngựa tới nhiệm sở. Chưa đầy một ngày thì tới địa giới Hào Châu, thư lại, nha dịch đã có mặt từ sớm đón tiếp. Ngài tới ngay công đường chọn ngày nhận ấn tín.
Đến ngày xử kiện, ngài Đan ngồi giữa công đường nhận đơn xem xét phê chuẩn và bác bỏ. Bỗng ngoài cửa có tiếng gào lên kêu oan, ngài Đan cho gọi vào, hỏi họ tên. Đó là Trương Đại tố cáo Lưu Ngưu Nhi cướp mất quan tiền của mình ngoài phố. Theo Trương Đại nói thì nhà có một người khách đến chơi nên mang một quan tiền lên phố mua chút thức ăn về đãi khách. Vừa tới ngã tư thì bị Lưu Ngưu Nhi giật lấy, bởi thế hai người đánh nhau. Không ngờ Lưu Ngưu Nhi lại kêu oan trước, xin ngài phân xử.
Ngài Đan nghe xong mỉm cười, rồi hỏi Lưu Ngưu Nhi, anh ta nói: - Con mang tiền đi trả Từ Ngũ. Vừa đi tới ngã tư thì Trương Đại giật lấy bảo là tiền của anh ta, bởi thế cãi nhau. Trương Đại nghèo đói, thấy của tối mắt lại, thật là đáng ghét, xin ngài phân xử.
- Tiền của ngươi lấy ở đâu ra. - Ngài Đan hỏi.
- Hôm qua con bán gạo được một đồng, - Lưu Ngưu Nhi nói..- Hôm nay con tới hiệu tiền Tụ Phong để đổi.
Ngài Đan lại hỏi Trương Đại:
- Tiền của ngươi từ đâu ra? - Con mở cửa hàng bán bánh rán và bánh trứng gà. - Trương Đại nói. - Hàng bán khá chạy, đây là tiền hằng ngày con bán bánh thu về.
- Bán tiền lẻ, chắc rằng quan tiền này phải tự ngươi xâu?
- Ngài Đan hỏi.
- Vâng, chính tay con xâu tiền ạ!
- Nếu ngươi tự xâu thì tất cả đều phải đủ trăm chứ, hay là xâu thiếu? - Ngài Đan hỏi.
Trương Đại không ngờ quan hỏi như thế, bèn cứng lưỡi, ấp úng mãi mới nói:
- Đủ trăm ạ.
Ngài Đan bảo người cởi quan tiền ra đếm lại một lượt, trong đó có xâu thứ năm và xâu thứ sáu chỉ có chín mươi sáu đồng, các xâu còn lại đều đủ. Ngài Đan bèn gọi người giúp việc mang tiền đến hiệu Tụ Phong đổi.
Một lát sau người đi đổi tiền về, ngài Đan lại bảo cởi tiền ra đếm lại một lần, cũng giống như quan tiền trước chỉ có tám xâu là đủ trăm, còn hai xâu chỉ có chín mươi sáu đồng. Ngài Đan nghiêm sắc mặt, trước hết gọi Lưu Ngưu Nhi nhận lấy quan tiền đó đem xuống rồi đập bàn quát mắng Trương Đại:
- Mày là đồ vô lương tâm, mày cướp tiền của người ta, lại dám kêu oan tại bản huyện. Tội này về tình lí thật khó dung tha, tội mày chưa đáng chết, song một tên điêu oa như mày, pháp luật không thể tha thứ. Hơn nữa ta vừa tới nhậm chức, ngươi đến vu cáo, rõ ràng là ngươi muốn thử tài ta. Ngươi đã thế thì ta cũng cho ngươi trông gương.
Nói rồi ngài nói người trực công đường rằng:
- Hôm trước ta dặn ngươi đóng cái cũi đã xong chưa?
Người trực công đường nói:
- Đã mang tới một chiếc.
- Rất tốt. - Ngài Đan nói.
Sau đó ngài gọi sai nha trực ngày hôm ấy, cho Trương Đại vào cũi đứng. Trương Đại nghe thấy hết sức kinh sợ, khóc lóc van xin:
- Con bỗng chốc ngu tối, từ nay về sau con không dám làm thế nữa, cầu mong ngài gia ân. Con còn vợ và một đàn con dại, con chết, thì cả nhà chết đói, xin ngài hết sức thương tình. Con cầu mong ngài đời đời hiển đạt.
Vừa nói Trương Đạt vừa khóc, rồi cứ đập đầu cồng cộc xuống đất. Ngài Đan như chẳng nghe thấy gì, dùng bút son đánh dấu một chiếc phong bì, rồi thúc Trương Đại bước vào. Trương Đại vẫn đứng đó khóc lóc van xin, sai nha hai bên bèn xông tới lôi Trương Đại. Ngài Đan nói:
- Thật là phiền phức! Dù thế nào cũng cứ lôi nó vào cũi.
Thấy quan không buông tha, sai nha đành phải ra tay, chẳng nói chẳng rằng, cứ lôi bừa nhét vào cũi, độn vào năm viên gạch, toàn thân co dúm lại, chưa đầy một giờ đồng hồ Trương Đại tắt thở. Ngài Đan rời khỏi công đường, ngồi thờ thẫn tại thư phòng, nghĩ ngợi hồi lâu, rồi rút ra một tờ giấy, vẽ đi vẽ lại dập dập xóa xóa, cuối cùng đã vẽ xong, ngài còn chú thêm một dòng chữ nhỏ, xem lại một lần nữa, ngài cười ha hả rồi sai người đi gọi thợ mộc, thợ rèn tới nha môn. Khi họ tới, ngài Đan đưa bức vẽ cho họ. Thợ mộc phải làm hai tấm ván, chiều dài tương tự bằng thân người, đúng như ngài vẽ không thể nào khác được. Thợ rèn phải rèn năm chiếc đinh to, bốn cái bằng nhau, một cái thật dài và to; một chiếc búa sắt to; ba thanh sắt tròn, một dài hai ngắn, cái ngắn cũng phải dài bốn thước, tiết diện cắt ngang thanh sắt phải to bằng quả trứng gà. Ngài lại cử người giám sát đốc thúc chế tạo gấp. Mọi người không hiểu ngài dùng làm gì, cũng không dám hỏi, chỉ việc tuân lệnh làm ngay. Chưa đầy ba ngày thì làm xong. Ngắm những dụng cụ ấy, ngài Đan rất thích thú, bảo mang vào công đường rồi ngài khăn áo chỉnh tề bước ra, lôi hai tên ăn cắp trong nhà giam tới. Vốn là vùng Hào Châu cách tỉnh rất xa, những tên trộm bình thường thì ở Hào Châu tự xử lấy, cấp trên không hỏi đến. Nếu theo các châu huyện Nam Hoãn, cứ gọi giải về, thì quan địa phương không có tiền bồi phụ, hơn nữa dọc đường lại sợ xảy ra việc cướp tù. Cho nên những châu huyện Bắc Hoãn không có châu nào huyện nào không có cũi đứng. Lúc ấy ngài cho lôi hai tên tù trộm cắp, đó là phạm nhân trước đây quan tiền nhiệm bắt được chưa xử, giao cho ngài. Ngài gọi tên, cũng chẳng hề hỏi han gì, bèn cho lôi ngay một tên, đặt nằm ngửa trên tấm ván, trước hết dùng bốn chiếc đinh sắt đóng chặt hai chân hai tay. Tên trộm kêu gào, la hét, chửi bới, ngài Đan vẫn cứ lờ như không. Đóng chân tay xong, tên trộm đau đớn không sao chịu nổi, cứ gào lên chửi. Ngài Đan bảo lấy chiếc đinh to, đóng vào đúng tim tên trộm. Bọn sai nha đưa mắt nhìn nhau không dám làm. Ngài Đan đùng đùng nổi giận quát mắng:
- Chúng mày là đồ vô dụng, đồ cơm toi.
Ngài Đan lại lệnh cho hai người đứng ngay bên cạnh phải đóng. Có một người đặt mũi đinh vào buồng tim, song tay run cầm cập không sao giơ nổi búa. Ngài thấy thế đùng đùng nổi giận, lập tức rời khỏi bàn, nhảy xuống, tát hai tên sai nha ngã gục xuống đất, nằm lăn quay bất động. Rồi ngài cúi xuống cầm chiếc búa sắt và đinh sắt, nhằm thẳng vào tim tên trộm, đóng chan chát. Vừa đóng được vài nhát búa, thì thấy một dòng máu nóng phọt ra, phun vào mặt ngài đỏ lòm. Mặt tên trộm trắng bệch như tờ giấy, mắt, tai, mũi, lưỡi đều phun ra máu, rồi chết.
Ngài Đan đóng xong, lại bước lên ghế ngồi, mặt đầy máu cũng không thèm rửa, lại bảo lôi một tên khác ra, cũng để nằm ngửa. Sau đó dùng hai thanh sắt, một thanh đè lên đùi, một thanh đè lên ngực. Khí hai đầu không lưu thông, tích tụ lại ở khoang bụng. Phút chốc, bụng chướng lên, căng phồng như chiếc trống cái. Ngài Đan nói:
- Đã đến lúc rồi, ta ngờ rằng việc này các ngươi cũng không biết làm, đợi ta làm mẫu cho các ngươi xem.
Thế rồi ngài lại rời khỏi chỗ ngồi, cầm thanh sắt dài, giơ thẳng cánh đập trúng bụng tên trộm, nổ đánh bốp một tiếng thật to lục phủ ngũ tạng theo đầu thanh sắt bắn ra tung tóe.
Ngài Đan làm xong hai việc, bảo sai nha rằng:
- Các ngươi hãy bình chọn ra mấy người đi luyện tập ngón nghề này. Nếu lần sau không làm thành thạo, thì tao sẽ đuổi về với mẹ chúng mày.
Nói xong ngài ra khỏi công đường. Người xem hai bên, ít nhất cũng có tới hai, ba trăm, ai ai cũng nghiến răng lè lưỡi lắc đầu, nói:
- Thật là ác độc thật là ác độc. Chúng ta ở đây mấy trăm năm nay, chưa từng thấy viên quan nào tàn ác như thế.
Người thì ta thán, người thì oán hận, rồi lũ lượt ra về. Song những sai nha võ dũng không còn cách nào khác, đành phải cử người ra luyện cách dùng hình phạt ấy. Khó khăn lắm mới cử được một người họ Sử, nhận làm việc ấy.
Ngài Đan đặt tên cho hai loại hình phạt này. Hình phạt đánh vào bụng gọi là "Ba tiên ông vào động", phép đóng đinh gọi là "Ngũ tử đăng khoa" (năm con thi đỗ). Hình phạt "Ngũ tử đăng khoa" chuyên trừng trị trộm cướp, còn "Ba tiên ông vào động", thì không định ra tiêu chuẩn. Hai tên trộm trừng trị lần đầu tiên này không có khổ chủ, hoàn toàn do ngài Đan trừng trị. Vì Hào Châu cách tỉnh rất xa, lại không có tiền lộ phí nên các vụ án oan, không ai tới tỉnh thành cáo giác. Còn như đạo hoặc phủ đều từng nhận lễ vật trong các dịp lễ tết, mừng thọ... nên quan trên cũng không hề quan tâm đến, nếu thấy người kháng cáo, không những không phê chuẩn mà trả về huyện, đã về huyện, thì cầm chắc sẽ chết. Bởi thế ngài Đan mặc ý giải quyết, và đương nhiên ngài Đan cũng không sợ, chỉ có điều khổ dân, họ chẳng khác nào con sâu cái kiến.
Tính ngài Đan hiếu động chứ không hiếu tĩnh, nếu không có việc gì làm ngài không chịu nổi cảnh thanh nhàn. Thường là ngay từ tờ mờ sáng, hoặc tới gần tối, ngài Đan thay quần áo, mang theo một vệ sĩ đi lùng sục khắp mọi ngõ ngách, gặp kẻ nào đánh chửi nhau, bất kể đúng sai, tất cả đều bắt về nha môn, nhẹ thì đứng cũi, nặng thì "Ba tiên ông vào động". Cũng có khi ngài mang gói đồ vứt bừa trên đường rồi nấp một chỗ theo dõi, nếu ai nhặt liền bắt ngay về cho đứng cũi. Trừng trị một lần như thế quả nhiên chưa đầy hai tháng, thì người đi nhường đường nhau, của rơi không ai dám nhặt. Vì bọn trộm cướp ở Hào Châu rất nhiều, nên ngài Đan đề ra kế hoạch rồi ra lệnh cho người đi bắt cứ nửa tháng mà không bắt được một hai tên trộm thì sẽ bắt bổ dịch(1) phải đứng cũi, khép họ vào tội nhận tiền hối lộ rồi tha tội chúng. Bởi thế những bổ dịch này phải thuê rất nhiều người tới các vùng nông thôn bắt bừa, khiến cho gà chó cũng không yên.
(1) Bổ dịch: người thừa hành đi bắt bớ.
 
Có một người mới được sung vào bổ dịch tên là Hồ Tác, đến cửa hàng đổi tiền Du Phong, thấy một thanh niên đứng trước quầy đổi tiền, ăn mặc rất sang trọng, bê một bao bạc, đặt lên quầy, rút ra hai đồng đổi. Nhà hàng hỏi anh ta bao nhiêu. Anh ta nói:
- Ông cân bao nhiêu thì đổi bấy nhiêu.
Bổ dịch thấy anh ta không giống tên ăn trộm, song lại thấy anh ta có vẻ lúng túng, rất lấy làm lạ, bèn tới vỗ vai anh ta nói: - Anh bạn vẫn phát tài đấy chứ?
Anh ta quay lại nhìn, mặt đò nhừ, miệng lắp bắp nói không thành tiếng. Bổ dịch càng sinh nghi, bèn chỉ vào bao bạc nói:
- Bao bạc của anh có tất cả bao nhiêu lạng?
Nghe hỏi thế, anh ta ngớ người ra không sao trả lời được.
Thấy thế bổ dịch nghi anh là kẻ gian, bèn lôi đi rồi bảo anh ta ra chỗ khác gặp. Anh ta nói:
- Tôi đang bận việc.
- Bận việc cũng phải đi, - bổ dịch nói, - mà không có việc cũng phải đi.
Rồi vừa nói vừa lôi đi. Người ấy sợ hãi, mặt lúc thì tím tái, lúc thì trắng bệch. Vừa đi qua chỗ rẽ, thì gặp ngay ngài Đan cũng đi dò xét. Từ xa thấy bổ dịch lôi người, ngài bèn gọi ngay tới. Bổ dịch vội vàng nói lại sự nghi ngờ của mình với ngài. Ngài Đan bảo giải ngay về nha môn, rồi lập tức tới công đường. Đầu tiên ngài đập bàn quát:
- Ngươi là tên cầm đầu của bọn nào? Ngươi to gan thật, dám dẫn xác vào đây nộp mạng.
Người ấy hoảng sợ, hai hàm răng va vào nhau cầm cập, giọng run run nói:
- Con là người huyện Thẩm Khâu, Hà Nam, họ Vu. Cậu con họ Vương ở Chu Gia Trang ngoài Cửa Bắc vùng này. Lâu nay con thường đọc sách tại thư phòng, vì thầy cho nghỉ, mẹ con bảo đưa số tiền này cho cậu con. Mẹ con dặn, đi qua thành mua chút gì ăn biếu cậu, cho nên con mới đến hiệu đổi tiền.
- Có tất cả bao nhiêu nén bạc, nặng bao nhiêu, - ngài Đan hỏi - thư mẹ ngươi gửi cho cậu đâu?
Anh họ Vu nói:
- Mẹ con bảo cứ trực tiếp nói với cậu ấy, không phải viết Thư. Bạc là do chính tay mẹ con gói, không bảo với con là bao nhiêu.
- Ngươi là thằng ma mãnh, - ngài Đan nói, - mới một tí tuổi đầu mà đã lọc lõi giảo hoạt! Mẹ ngươi gửi tiền cho cậu mợ ngươi, nếu không viết thư thì cũng phải nói rõ số bạc là bao nhiêu chứ? Cho dù không nói rõ số tiền, thì đã có số bạc lớn gửi cho nhà mẹ, sao lại không đưa vài đồng bạc lẻ cho ngươi mua quà, mà lại bảo ngươi lấy bạc trong bao ra dùng, điều đó thật là vô lí. Ta xem ra ngươi không phải là kẻ cắp mà là tên trùm trộm cắp ngồi đấy mà được chia của và nếu không thì cũng là con cháu của bọn oa trữ của ăn cắp. Tóm lại ngươi là kẻ bất lương. Ngươi không thấy ta phát hiện kẻ gian giỏi như thần thánh sao. Ngươi quả là to gan lớn mật, đã đến đây thì không có ngày về. Ngươi còn trẻ, ta sẽ cho ngươi chết toàn thây.
Nói xong, ngài Đan lật từng trang cuốn sổ ghi cũi đứng, rồi nói:
- Cũi số mười chín vẫn còn để trống, hãy cho hắn vào đó, sau hai ngày mới cho chết.
Anh họ Vu thấy thế kêu khóc thảm thiết:
- Con quả thực là con nhà tử tế, hoàn toàn không phải là trộm cắp. Thưa ngài, ngài cứ để con sống, con chẳng chạy đâu cho thoát. Nếu ngài không tin thì ngài cho người đến trang trại nhà họ Vu ở huyện Khâu hỏi một câu sẽ rõ. Nếu sai xin ngài cứ trừng phạt thật nặng, hoặc ngài cho người đến nhà cậu con hỏi, nếu không có người thân, thì con xin chịu ngài ghép con vào tội ăn cắp
- Đừng có lôi thôi, làm gì phải phí công như thế!
Ngài Đan nói xong, cầm ngay bút son đánh dấu vào chiếc phong bì, bảo người lôi anh họ Vu đi, và đem số bạc ấy nhập kho, lần đầu tiên gã bổ dịch này lập công to. Anh họ Vu vẫn cứ van nài kêu xin, nhưng ngài Đan đã rời khỏi công đường.
Sai nha lôi anh họ Vu đi, anh vẫn kêu khóc thảm thiết, cầu xin mọi người thương xót. Sai nha nói:
- Ngài Đan đã quyết, chúng tôi không thể làm khác được.
- Xin các ông rộng lòng từ bi bác ái, - anh họ Vu nói, - cử một người đến nhà tôi, bảo cha mẹ tôi đến nhận, nhà tôi cũng có chút của cải, nếu các ông đi thì nhất định cha mẹ tôi không dám quên ơn, mà các ông cũng tích đức cho con cháu.
Lúc ấy có một người hầu trong công đường tên là Bạch Lão Tứ, ngẫm nghĩ một lát, thấy anh nói phải, thôi thì thử đi giúp anh xem sao. Nếu đúng, thì may ra có thể được món tiền lớn, nếu sai thì cũng phí một chút công thôi. Thế rồi ông hỏi họ tên, nhà cửa ở đâu, tên cha mẹ là gì rồi vội vã ra đi.
Nhưng sai nha vẫn mở cũi đứng rồi lôi anh họ Vu vào. Vì quan bảo là cho đứng hai ngày, nên họ không kê gạch. Nhà họ Vu cách huyện không đầy bốn mươi dặm, vừa đi vừa về chỉ mất một ngày, nếu đứng cũi hai ngày, thì người nhà sẽ đến kịp. Không ngờ tối hôm ấy, bỗng quan huyện lệnh phải trị anh họ Vu chết ngay. Mọi người chẳng hỏi vì sao, chỉ biết thương anh. Song đây là lệnh quan, không ai dám trái, đành phải theo lệnh kết liễu đời anh.
Nào ngờ vào lúc canh hai, quả nhiên thấy một ông già và Bạch Lão Tứ, mồ hôi đầm đìa lao tới. Sai nha biết ngay đây là cha anh họ Vu. Ông già họ Vu chạy đến chiếc cũi, thấy con mình đã chết, khóc rống lên:
- Cha đến muộn rồi! Cha nghe ông Bạch nói ngày mai con mới chết, không biết tại sao con đã chết rồi.

Mọi người bảo với ông đây là lệnh của ngài Đan. Ông già họ Vu vừa đau đớn, vừa vội vã vừa uất ức, chạy ngay tới cửa công đường, nhặt một thanh gỗ đập thùng thùng vào chiếc trống kêu oan, làm náo động cả công đường. Sai nha ngăn cản cũng không được, đành phải vào bẩm quan, song bên trong ngài đã nghe rõ.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Fri Apr 11, 2014 6:11 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 20 (B)
Vốn là ngài Đan định cho anh họ Vu đứng cũi hai ngày, để xem anh là người thế nào. Sau khi rời khỏi công đường, thì Tôn Tự Lan một người thầy chính trực có tiếng hiểu biết pháp luật đến xin cho anh. Ngài Đan hứa sẵn sàng tha, song thầy vừa ra khỏi cửa ngài bèn ra lệnh giết chết ngay anh họ Vu. Tính khí của ngài Đan là như vậy, ngài rất không thích người nào đó thọc vào công việc của ngài. Nếu như có người nào đó hỏi, thì bao giờ ngài cũng làm ngược lại. Đúng thì nhất định ngài bảo là sai; rõ ràng là sai, thì ngài cứ khăng khăng là đúng. Bởi thế anh họ Vu bị người thầy nổi tiếng hiểu biết pháp luật giết chết.
Khi nghe thấy bên ngoài đánh trống, ngài Vu lập tức ra công đường. Thấy ông già kêu khóc bước tới, nói:
- Con ta phạm tội gì mà bị người giết chết, người phải đền mạng. Ta không cần cái mạng già này nữa, ta sẽ liều chết với ngươi!
Ngài Đan biết ngay là cha anh họ Vu bèn nói:
- Không cho phép ngươi làm loạn công đường, ngươi nghe ta nói đây. Con ngươi chết rồi, bạc của ngươi vẫn còn đây, ngươi cầm về lo chôn cất.
Lão Vu nghe xong nổi giận lôi đình, gào lên chửi. Ngài Đan cười lạnh lùng, gọi người cùm ông lại, bảo sai nha xem có chiếc cũi nào còn trống thì nhét ông vào cho xong chuyện. Thế rồi ngài Đan lập tức lấy ra một chiếc phong bì viết rằng: "Chẳng coi quan ra gì, kêu gào náo loạn công đường, mắc trọng tội, hãy cho đứng cũi chết để làm gương cho mọi người”, Sai nha lập tức lôi ông đi. Ngài Đan rời khỏi công đường.
Về tới thư phòng, thầy Tôn Tự Lan đã ngồi ở đó, chủ khách chuyện trò một vài câu. Ngài Tôn hỏi người nào đánh trống ngoài đó, ngài Đan nói đó là cha anh họ Vu, rồi nói:
- Không ra tay thì không chịu nổi, thôi thì dứt khoát làm cho tuyệt giống.
Thầy Tôn nghe xong, tức dựng tóc gáy, nghĩ một hồi, rồi khuyên lên mặt bàn một vòng tròn, chặc lưỡi khen:
- Chà chà! Thật là một ý hay, ta không thể không bái phục.
Ngài Đan rất đỗi kinh ngạc, nói:
- Sao thầy lại khen ngợi như thế?
- Hiện ngài ở đây, cách tỉnh rất xa, dù cho hình phạt tàn khốc đến thế nào quan trên cũng không thể biết. Nếu không giết chết lão Vu, nhất định lão ta sẽ kháng cáo lên cấp trên, lúc ấy việc thăng tiến của ngài sẽ rất khó khăn. Bởi thế bây giờ phải bảo toàn công danh của mình, ngoài việc trị tội cho lão Vu chết đi, không còn cách nào khác. Ta tính đã lâu rồi, không ngờ ngài cũng nghĩ như thế, đúng là ý kiến của anh hùng thật giống nhau. Những việc ngài làm trước đây tôi không hiểu được, nay chỉ một việc này tôi có thể đoán ra.
Vừa nói ông vừa khuyên những vòng tròn lên bàn: Thấy thế ngài Đan nói thầm: "Ngươi là một thằng ngu, ngươi nói đã đoán được dụng ý của ta, song ta không để cho ngươi đoán được đâu”. Chuyện phiếm một hồi, thầy Tôn trở về thư phòng. Đúng vào lúc sai nha cho lão Vu vào cũi đứng thì ngài Đan nói:
- Giao số bạc trong kho cho ông ta, rồi thả ông ta ra.
Nghe thấy thế, sai nha hết sức kinh ngạc, không dám nhiều lời sợ ngài Đan sẽ làm trái lại, chỉ biết vội vàng làm theo, thả lão Vu ra khỏi cũi, rồi khuyên giải an ủi ông. Sai nha lấy bạc từ trong kho ra giao cho ông. Chẳng còn cách nào khác, lão Vu lấy một đồng bạc tạ ơn Bạch Lão Tứ, lại mua một cỗ quan tài mỏng, thuê người khiêng con đến một ngôi miếu hoang để tạm, rồi lão Vu về nhà tìm kế khác.
Sau khi việc này xảy ra, mấy ngày sau ngài Đan thấy mệt mỏi. Bà lớn cũng theo đường thủy đến chỗ ông. Bà kể lại chuyện từ ngày tạm xa nhau, và những chuyện nghe thấy dọc đường về những lệnh cấm và những việc làm oai nghiêm ở đây, ngài Đan rất đắc ý.
Mới chỉ mấy tháng, mà ngài đã thi hành biết bao nhiêu vụ án, song cách tra tấn cũ như gậy nhỏ, bàn vả, roi da... ngài không hề dùng đến.
Vào một hôm ngài Đan mừng thọ tuổi bốn mươi, trong nha môn ồn ào náo nhiệt. Bà lớn chuẩn bị riêng một mâm cỗ để tỏ rõ tấm lòng của mình, rồi mời ngài Đan vào nhà trong uống rượu. Bà lớn nói tới chuyện hiện nay chưa có đứa con nào, rồi nhân đó khuyên ngài tu thân tích đức. Nghe thấy vậy ngài Đan rất không vui, đỏ mặt nói:
- Như thế nào mới là tu thân tích đức?
- Như thế nào ư? - Bà lớn nói. - Lẽ nào cứ phải niệm Phật ăn chay. Chẳng hạn như mỗi lần ra công đường là mấy mạng người phải chết. Nếu như họ đáng chết, thì cũng phải theo phép nước, hoặc là chém đầu hoặc treo cổ, thì họ chết cũng không oán. Còn như ông tự tạo ra hình phạt sẽ động đến lòng trời.
- Theo bà, - ngài Đan nói, - ta xử tội cũng là gây ra oan nghiệt ư?
- Xử kiện sao coi là oan nghiệt, có điều mọi việc ông cũng phải biết khoan dung, thì người ta sẽ đội ơn ông. Mới nhậm chức chưa đầy nửa năm, mà nghe nói ông đã bắt đứng cũi chết mất gần hai ngàn người. Lẽ nào trong số hai ngàn ấy, không có một ai chết oan ư? Hơn nữa hình phạt "Ba tiên ông vào động", "Năm con thi đỗ" chỉ nghe nói cũng đã sởn tóc gáy, huống hồ là người trực tiếp chịu hình phạt! Thịt da người ta cũng như mình, có điều cảnh ngộ của mình có khá hơn, mà lại chà đạp họ như con sâu cái kiến, nếu tự vấn lương tâm, mình cũng thấy chẳng an lòng.
Ngài Đan gật gật đầu nói:
- Bà nói chí phải, tôi rất phục bà.
Bà lớn rất hiểu tính khí chồng, không nên nói quá lời, vội vã nói lảng sang chuyện khác.
Sau khi tiệc tan, ngài Đan trở về thư phòng, lấy cuốn danh sách phạm nhân, xem qua một lượt, thấy tất cả còn ba mươi mốt ngươi, bèn lệnh gọi tất cả ra công đường. Phút chốc họ đã có mặt đầy đủ. Ngài Đan mặc thường phục, điểm danh phạm nhân, cho quỳ sang một bên. Sau đó ngài bảo lấy một chiếc thanh la lớn, đứng ngoài cửa khua thật to, nói là ngài Đan lên công đường, ai muốn xem thì cho vào hết không hề ngăn cản. Chỉ chốc lát trong công đường đã có mấy chục người. Ngài Đan nói:
- Các người là những tội phạm, song không đáng tội chết, trong đó phần lớn là trộm vặt, ta không muốn xử tội các ngươi. Vì rằng bà lớn khuyên ta nên tích đức, để mong có con cái, cho nên ta không thể không xét hỏi.
Thấy nói thế những phạm nhân tưởng rằng ngài sắp tha mình, tất cả đều cúi đầu nói:
- Cầu xin ngài gia ân.
- Bây giờ chẳng có gì phải nói, - ngài Đan nói, - ta sẽ đuổi tất cả về nhà các ngươi, đó chính là ta rất thương các ngươi vậy!
Bọn phạm nhân đều kinh hoàng cúi đầu xin tha.
Ngài Đan chẳng nói chẳng rằng, rồi bắt hai mươi bốn người đứng cũi, còn bảy người kia đập vỡ bụng. Bọn sai nha đứng hai bên dạ vang. Bọn tù nhân biết rằng không thể sống được, gào thét chửi bới. Trong phút chốc tiếng sai nha lôi kéo người, tiếng quát thét, tiếng tù nhân chửi bới, tiếng nhục mạ, và tiếng gậy sắt đập vào bụng nổ đôm đốp, náo loạn cả công đường. Song ngài Đan mắt như mù, tai như điếc, chưa đầy vài khắc đã xong xuôi tất cả. Ngài Đan cười ha hả nói:
- Khoái thật, khoái thật!
Ngài Đan rời khỏi công đường, bà lớn biết được, tự oán trách mình:
- Đúng là ta đã hại họ rồi?
Càng nghĩ bà càng đau đớn, khóc lóc suốt đêm. Ngài Đan mặt mày hớn hở như chẳng có việc gì xảy ra, và như ngài chẳng biết gì.
Sau khi xử vụ này, thì nhà tù trống rỗng, người kiện cáo cũng ít đi dần dần đến kì xử kiện chỉ nhận được vài tờ trình, hoặc không có lá đơn nào. Ngài Đan rất khó chịu cảnh vắng vẻ này, ngài bèn gọi một số người đi gây sự quấy nhiễu xóm làng. Dân chúng không sao sống nổi. Tiếng đồn nhanh chóng lan truyền tới tỉnh thành, Phủ Phiên Niết đều ca tụng tài năng chăn dân của ngài: Còn như việc lạm dụng hình phạt giết người, thì chỉ vì dân Hào Châu đáng phải chết như thế. Hơn nữa phủ, đạo đều bị tiền của ngài Đan, sai khiến họ nói với cấp trên. Bởi thế cấp trên có ý định để ngài Đan nhậm chức lâu dài tại Hào Châu. Song bà lớn suốt ngày thấp thỏm lo âu, không sao quyết được, nhân lúc rảnh rỗi bèn nói với ngài Đan rằng, phần mộ ở quê hương lâu ngày không tu sửa, phải về hương khói, đắp điếm phần mộ tổ tiên. Ngài Đan thừa hiểu ý bà lớn, bèn bằng lòng ngay, và nói còn phải tiễn đưa bà. Bà lớn cho rằng đó chỉ là một bữa cơm bình thường mà thôi, ai ngờ lần tiễn chân này xuýt xảy ra to chuyện.
Đêm ấy vào lúc canh hai, ngài Đan mặc thường phục, nai nịt gọn gàng, đeo một con dao bên hông, tay cầm một khẩu súng lục trước hết ngài gọi mấy vệ sĩ tùy thân, đứng đợi phía sau tường, ngài vượt tường ra ngoài. Ngài Đan là người Hà Nam, tuy xuất thân từ con đường thi cử, song ngài cũng có mấy miếng võ. Lần hành động này, ngài không cho những người gác cổng biết. Lúc ấy kể cả ngài Đan là chín người, họ len lỏi qua các đường phố, vừa đi được một đoạn thì thấy cỏ một nhà cửa mở toang, người ra kẻ vào rất nhộn nhịp.
Ngài Đan bèn dẫn người ập vào. Đi vòng vèo, thấy một sảnh đường lớn, có ba gian quay hướng tây, đèn nến sáng choang, chiếc bàn bên trái có bốn người ngồi đánh bài, chiếc bàn bên phải cũng có tới mười mấy người đánh bài xương, dưới hiên còn có mấy người đứng hầu, người thì quạt lò, người thì ngủ gà ngủ gật. Ngài Đan dẫn người xông thẳng vào sảnh đường, người dưới hiên tới hỏi, thì ngài Đan quát thét:
- Hãy khóa tay chúng lại, không cho đứa nào trốn thoát.
Bọn đi theo thét vang tuân lệnh. Thấy bọn người này nai nịt gọn gàng, hông đeo dao, tay lăm lăm súng, người trong nhà tưởng cướp, có người chuồn ra cửa sau, cũng có người bị bắt, tất cả đều run rẩy, kêu:
- Xin đại vương tha chết!
- Nói láo, - ngài Đan nói, - Ai là đại vương! Ta đã nhiều lần cấm cờ bạc, nếu kẻ nào vi phạm sẽ trong trị nghiêm minh, cớ sao các ngươi công nhiên mở toang cửa, tụ tập đánh bạc, các ngươi ghê thật, dám bất chấp pháp luật.
Đang nói thì thấy một ông già đầu râu, tóc bạc bạc tới, cúi chào ngài Đan nói:
- Xin ngài bớt giận. Hôm nay là ngày mừng thọ của tôi, tôi mời bạn bè thân thích tới chuyện trò, không có việc gì, chơi một chút cho vui, chứ hoàn toàn không dám mở sòng bạc, xin ngài xem xét kĩ.
Ngài Đan cười lạnh lùng:
- Thật là bẻm mép, mặc lão ta, điệu hết về nha môn xét xử.
Hai tên vệ sĩ định lôi đi. Ông già nói:
- Hãy từ từ, để tôi đi, không cần phải lôi. Tôi cũng là người có công danh, há lại để cho các ông chà đạp ư?
Ngài Đan nhìn ông già, rồi bảo:
- Không cần phải lôi lão ta.
Lúc ấy, ngài Đan có tất cả chín người, còn cả khách và chủ nhà ấy có cả thảy tám người, còn những người khác thừa cơ bỏ chạy. Ngài Đan cho thu tất cả những cỗ bài trên bàn, sau đó cũng không đi đâu khác, mà về thẳng nha môn. Ngài cũng không về phòng mình, mà vào thẳng công đường xét xử. Trước hết giải ông già có râu ra, hỏi ông có công danh gì, tên là gì ông già nói:
- Tôi là Ân Hạo, biểu Tử Trình là Đô Ty(1) Sơn Tây, trước đây theo Tằng Vương tới nơi này đánh giặc, sau đó định cư tại đây. Tôi luôn nghiêm chỉnh tuân theo luật pháp. Hôm nay là ngày mừng thọ sáu mươi tuổi, tôi mời bạn bè thân hữu tới chơi, đêm đánh chút bài tiêu khiển, chứ hoàn toàn không phạm pháp, không biết vì sao khiến ngài nổi giận.
(1) Đô ty: chức quan võ thuộc hàng tứ phẩm đời Thanh (ND).
 
Ngài Đan cười lạnh nhạt nói:
- Nay đã bắt được người và tang vật, ngươi còn cãi bướng. Ngươi là Đô ty, chẳng phải công danh gì to lớn. Pháp luật như Sơn, ngươi đứng sang bên chờ đã.
Ngài Đan nhìn những người kia một lượt rồi nói:
- Những tên tội phạm cờ bạc này ta không hoài hơi dài lời với chúng, hãy xem xem có còn cũi đứng để trống không.
Người theo dõi cũi đồng quỳ xuống trả lời:
- Cũi đứng đều đầy hết cả rồi, không còn chiếc nào để không.
Ngài Đan cảm thấy khó xử, một lát sau nói:
- Như thế thì may cho chúng.
Thế rồi ngài Đan bảo sai nha đốt một lò than, lấy mười đồng tiền đồng to, chỉ một lát sau họ đã mang tới. Ngài Đan lệnh bỏ tiền đồng vào lò nung đỏ, dùng kẹp than gắp ra, "bỏ vào tay mỗi đứa một đồng".
Bọn người ấy sợ mất vía, khấu đầu lia lịa xin tha, ngài Đan vẫn điềm nhiên không chút động tâm. Cứ hai người phục dịch một người, một người giữ chặt tay, còn người kia gắp đồng tiền đỏ rục bỏ vào lòng bàn tay phạm nhân. Phút chốc, tiếng kêu rên thảm thiết, hết sức thương tâm và thấy mùi thịt cháy khét lẹt xông vào mũi mọi người. Có người đau giãy đành đạch, lăn lê trên mặt đất. Ngài Đan bèn lệnh đuổi ra từng người một, nói:
- Vì thấy các ngươi hám tiền, cho nên ta cho mỗi đứa một đồng tiền mẹ. Nhưng ta muốn các ngươi cứ vĩnh viễn nắm lấy nó mà không buông ra là tốt rồi.
Sau đó ngài lại gọi mang Ân Hạo tới, nói:
- Công danh của ngươi thật hay giả ta không cần xét hỏi. Hiện bọn kia đã mang tiền đồng đi rồi, song ngươi là chủ nhân cần phải được nhiều hơn thế. Ta cho ngươi hai đồng, mỗi tay một đồng.
Thấy thế Ân Hạo đùng đùng nổi giận, nói:
- Ta đã ngần này tuổi đầu, ngươi giết thế nào cũng được. Nếu ngươi không giết thì ta cũng quyết chết cùng ngươi.
Thấy vậy ngài Đan đang định ra tay, thì một sai nha chạy vào, ghé vào tai ngài Đan nói mấy câu. Ngài Đan bỗng chốc sững sờ, ngay cả Ân Hạo nói cũng không nghe thấy.
Ngừng một lát, mới quay lại nói với già Ân rằng:
- Ngươi đã nói thế, chỉ cần ngươi biết sửa chữa lỗi lầm, ta sẽ rộng lòng tha thứ không truy cứu nữa. Đi đi!
Nói xong ngài Đan đứng dậy rời khỏi công đường. Người đứng hai bên không hiểu vì sao! Chỉ thấy trước cửa nha môn có tới một trăm mấy chục người đứng lố nhố. Ân Hạo vẫn khoa chân múa tay gào lên chửi, rồi cùng đám người ấy bỏ đi.
Ân Hạo vốn là người Sơn Tây, trước đây theo Tăng Trung Thân vương đánh quân Thái Bình tới An Huy. Về sau Trung Thân Vương chết, đại quân tan tác. Ân Hạo bèn đi nơi khác buôn bán. Trong gia tài ngổn ngang bừa bãi ấy, ông cũng kiếm được một ít. Ông có hai người con đều là người có tài năng, cũng làm mấy năm Đoàn trưởng(1). Đoàn trưởng vùng Hoãn Bắc, thế lực rất lớn, quan địa phương chẳng làm gì nổi, ngược lại họ càng tỏ rõ sức mạnh mà thôi. Mấy năm nay tuy không giữ chức Đoàn trưởng nữa, nhưng những thuộc hạ vẫn còn tới năm sáu trăm người, có người buôn bán nhỏ, có người trồng cấy ở nông thôn. Song nếu nhà họ Ân có việc, chỉ cần ới một tiếng là lập tức họ tụ tập rất đông. Hôm ấy, khi ngài Đan tới nhà bắt người, hai người con ông thấy việc chẳng lành, lập tức chạy ra lối sau, phút chốc tụ tập tới hơn một trăm người, tất cả đều cầm dao, gậy và các loại vũ khí, nhất tề xông tới nha môn. Nếu ngài Đan không gây khó dễ cho Ân Hạo thì thôi, nhưng nếu nhất loạt thi hành hình phạt tàn khốc, thì họ sẽ giết quan cướp kho. Người lính gác cổng thấy tình thế nghiêm trọng vào nói ngay với lính trực công đường, thế rồi người này lại vào nói nhỏ với ngài Đan. Ngài Đan định cố trừng phạt, song lại thay đổi ngay ý định nói: "Bậc anh hùng trước mắt không nên chịu thiệt. Ta nhượng một bước, sau này chúng có chạy đằng trời". Thế rồi ngài vui vẻ tha cho Ân Hạo giải trừ mối đại họa tức mắt. Ngài trở về thư phòng, suy đi tính lại hồi lâu, định giăng một mẻ lưới tóm gọn, và tạm thời gác chuyện đó sang một bên, coi như chẳng có việc gì xảy ra.
(1) Đoàn trưởng: một chức quan võ.
 
Đến ngày thứ năm, ngài sai người đi năm trăm..dặm báo lên cấp trên tin bọn võ biền mưu phản, chọn ngày dựng cờ điều quân đi bắt. Việc này là kế hoạch bên trong, người ngoài không ai biết. Sau khi báo cáo việc này, ngài Đan ngấm ngầm sai người đi dò la ngay tên tuổi và chỗ ở của những người này, để thực hiện một kế sách sét đánh mà không kịp trở tay. Nào ngờ Ân Hạo thấy ngài Đan quyết không chịu buông tay, đã chuyển toàn bộ gia đình đi nơi khác. Ngài Đan cụt hứng, đành gửi giấy bẩm lên trên rằng, ngay đêm ấy, đi bắt, song thủ phạm đã trốn thoát bọn tòng phạm giải tán, địa phương vẫn yên ổn như thường. Các Đại hiến trong thành, hôm trước nhận được văn thư của ngài Đan, vội vàng truyền lệnh luyện quân, chuẩn bị đêm sau hành quân gấp tới tận sào huyệt bắt bọn mưu phản.
Đang chuẩn bị hành động, thì lại nhận được văn thư lần thứ hai của ngài Đan nói là đã dẹp xong. Thượng Hiến quả thực rất mừng, tán tụng ngài mấy câu, rằng ngài Đan đã dẹp được tai họa ở chỗ vô hình, quả là một người tài giỏi nhất tỉnh. Lần này cụt hứng, ngài rất buồn. Mặc dù Thượng Hiến ngày càng quý mến tín nhiệm, song không thể che mắt mọi người, càng nghĩ ngài càng chán nản. Sau khi đã hết nhiệm kì ở Hào Châu, ngài Đan lại tiếp tục nhậm chức thêm một năm nữa. Tuy ngài Đan thi hành những hình phạt tàn khốc, song hình như không ảnh hưởng gì đến những công việc ở Hào Châu. Nào ngờ về tiền bạc ngài Đan cũng rất ranh mãnh, quyết không . chịu buông rơi một đồng nào, dù không tới mức ra sức vơ vét, song so với tiền công, tiền tư và những khoản thu tồi tệ của vị tiền nhiệm, thì ngài Đan chẳng kém chút nào. Ai cũng biết rằng mặc dù ngài dùng hình phạt tàn khốc, song số tiền đút lót cho ngài cũng không thể thiếu được. Trong hai năm ngài đã tích cóp được khá nhiều tiền, bỗng nhiên ngài muốn thăng quan. Năm ấy đúng vào lúc Tần Tấn mất mùa, ruộng nương hoang hóa hàng ngàn dặm, triều đình mở cuộc bán quan tước, với giá rất rẻ. Ngài Đan bỏ ra một ít bạc mua chức tri phủ, rồi được cử về Giang Tô. Chờ chiếu chỉ tới tay bèn dâng một tờ thiếp bàn giao. Đúng vào lúc phủ đài cần thay người. Từ lâu đã thấy ngài Đan dùng hình phạt tàn khốc, thấy có thiếp bẩm lên, lập tức phê chuẩn, và Phiên đài chọn một người khác nhậm chức. Ngài Đan bàn giao xong, định ngày mười bốn tháng năm sẽ lên tỉnh bằng đường thủy. Trước đó ba ngày ngài thuê một chiếc thuyền lớn, trên thuyền treo một lá cờ "quan Hào Châu, hậu bổ phủ Giang Tô". Lúc ấy những người dân bị hại, chờ tại một nơi cách thành hơn hai mươi dặm. Ngờ đâu ngài Đan rất ranh mãnh, thuê thuyền treo cờ để che mắt những người dân "ngu xuẩn". Còn ngài thì vào  một mình ngày tháng Năm, nhân lúc trời chưa sáng, cưỡi ngựa, đem theo mấy người tùy thân, đi thẳng tới Hà Nam. Hành lí mang theo có hạn, số còn lại gửi quan vừa tới nhậm chức. Tiền còn lại, ngài đã gửi về nhà theo phiếu chuyển tiền. Gia quyến chỉ có mình bà lớn, song bà cũng đã về từ lâu rồi.
Đám người đón đường tới hai ngày, mà không thấy thuyền ngài Đan tới, lẽ nào hắn lại thay đổi ngày đi. Họ sai mấy người trở về dò la, thì thuyền vẫn còn đó, mà cờ thì đã hạ rồi. Họ vội vàng hỏi nhà thuyền, mới biết rằng ngài Đan đã đi theo đường bộ tới Hà Nam từ ngày mười một tháng Năm. Biết đích xác rồi họ vội vã báo cho mọi người biết. Tính ra thì ngài Đan đã đi được năm trăm dặm, có đuổi cũng không kịp nữa. Không còn cách nào, họ gào lên chửi một hồi, rồi bỏ về.
Ngài Đan đã dùng một kế nhỏ để ra khỏi Hào Châu, tới Hào Nam nghỉ lại mấy ngày sau đó mới tới Hà Bắc, rồi từ Vũ Hán đáp tàu thủy tới An Huy, xin lệnh tới tỉnh Giang Tô làm Hậu bổ. Lần đi tàu xe này ngài Đan mệt mỏi, người khó chịu. Đến tỉnh thành lại gặp bạn bè cũ, yến ẩm liên miên, vui chơi tới mấy ngày, ngài vô cùng mệt mỏi, dần dần thấy người phát sốt ngày một trầm trọng, đêm ngày không yên giấc. Ngài thấy sau lưng nóng như lửa đốt, toàn thân nặng nề, không cất mình lên được. Ngài cho người mời Kha Xuân Kiều, một thầy thuốc giỏi trong thành đến chữa trị, uống mấy ngày thuốc. Kha Xuân Kiều cho rằng ngài mắc bệnh thương hàn, càng chữa càng quá ra, dần dần không ngồi dậy được, sau lưng thấy một chỗ bị sưng. Ngài Đan cuống lên, lại mời một thầy lang khác chữa trị ông nói rằng ngài lên hậu bối, rồi ông điều chế thuốc, rửa sạch chỗ đau, đắp thuốc vào, cắt cho ngài mấy chén thuốc tống độc thấy đỡ dần.
Lúc ấy, lệnh của Phiên Đài đã gửi xuống từ lâu, ngài Đan bèn gắng gượng đến các nha môn chào từ biệt. Chọn ngày đáp tàu thủy, tới Trấn Giang thì lên bờ, chuyển sang thuyền dân tới Tô Châu. Ngài Đan chưa khỏi hẳn, vất vả mấy ngày liền, nên bệnh lại tái phát. Ngài Đan kêu rên suốt ngày, muôn phần khổ sở dần dần ở cổ lại sưng một cái mụn, rồi vỡ, chảy ra rất nhiều nước vàng: Nước vàng chảy đến đâu thì ở đó lại lở loét. Đến Tô Châu thì khắp người như một quả dưa hấu nẫu. Ngài vội vàng bảo người tìm nhà ở, nộp lại lệnh cho cấp trên, rồi cho người mời thầy chạy chữa. Tô Châu có khá nhiều thầy thuốc, song họ đều không biết đây là chứng bệnh gì. Thuốc uống vào mà như ném sỏi xuống biển sâu, chẳng có chút kiến hiệu nào. Hơn nữa ngài Đan lại không tự tin và khiếp sợ, suốt ngày bắt người ngồi bên mình, đầu giường ngài không lúc nào vắng bóng người. Hễ không có người thì ngài thấy ma quỷ cứ gào khóc. Đi Tô Châu lần này bà lớn không đi cùng ngài. Mấy người theo hầu và những vệ sĩ cho rằng ngài khó mà sống nổi.

Tục ngữ có câu, ốm lâu không có con hiếu thảo. Huống hồ những người theo hầu thì sao họ thật sự yêu thương ngài. Thấy tình hình ngày một xấu đi, họ lần lượt vờ cáo ốm, hoặc xin nghỉ bỏ về. Những người mới tìm đến càng không ai quan tâm. Ngài Đan đến Tô Châu, hai mắt thâm quầng, tứ cố vô thân, khốn đốn vô cùng. Toàn thân thối rữa, đầu óc ngài vẫn tỉnh táo, song tay chân thì vướng víu. Ngài Đan bèn đánh điện về cho bà lớn, và tìm người lo việc tang ma. Khi bà lớn tới, thì cánh tay ngài rữa nát, chỉ còn trơ lại chiếc xương, thân thể không còn mẩu nào nguyện vẹn. Bà lớn nói là ngài Đan bị quả báo, bèn đi khắp các đền chùa miếu mạo cầu thần khấn Phật cho ngài song hoàn toàn vô dụng. Đến tháng Tư năm sau thì ngài trút hơi thở cuối cùng. Toàn thân chỉ còn là một nhúm xương, không thể mó tay khiêng lên được, người ta đành chèn cả chăn đệm, bỏ vào quan tài. Đây là kết cục cuộc đời ngài Đan. Theo những người hầu hạ nói lại thì, trước khi ngài Đan chết tiếng ma quỷ cứ rên rỉ khóc suốt đêm ngày, ngài vẫn gào lên đòi đánh đuổi. Những chuyện đó hư hư, thực thực, không đáng tin. Người viết chuyện này hoàn toàn không theo những người thủ cựu, khuyên người ta thắp hương niệm Phật. Song ngài Đan tới Hào Châu mới được hai năm mà thảm sát biết bao nhiêu nhân mạng. Ông ta tàn ác hiếu sát mà vẫn phú quý trường thọ, con cháu đầy nhà, thì chẳng khác nào khuyên người ta làm điều ác.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Fri Apr 11, 2014 6:48 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 21
Nhuộm Thịt Tay, Bổ Đầu(1) Dạy Bí Quyết 
Nạn Vu Vơ, Quỷ Kế Khó Phòng Ngừa
Thôn Minh Phượng làng Tây huyện Thiên Trường, tỉnh An Huy, có hơn năm trăm nhà. Đây là một thị trấn khá lớn. Cư dân phần đông làm nghề chài lưới. Có một người tên là Chử Trung, trạc hai mươi mốt tuổi. Trước đây khi cha mẹ còn sống, nhà cũng có bát ăn bát để. Chử Trung cũng tới trường học được mấy năm, tuy không thông thạo lắm, nhưng những giấy tờ và sách vở thông thường cũng đọc được. Sau khi cha mẹ chết, chỉ còn lại một mình, không bị ràng buộc, lại nhàn rỗi, nên suốt ngày rong chơi. Vì anh ta không có nghề nghiệp gì nên chẳng ai thèm để ý tới. Hằng ngày ngủ dậy anh ta mang hàng trăm đồng đi bát phố, gặp rượu là uống, gặp cơm là ăn. Quả đúng như người xưa nói, miệng ăn núi lở. Chưa đầy hai năm, gia tài khánh kiệt, dần dần nghèo túng, không sao sống nổi. Về sau có một người anh em họ xa, sống ở thành làm nghề buôn bán nhỏ, gọi anh ta tới bán hàng giúp.
(1) Bổ đầu: người đứng đầu tổ chức truy lùng tội phạm ở huyện thời xưa
 
Nào ngờ Chử Trung là người hay ăn mà chẳng hay làm. Người anh em họ ấy bị thua thiệt, đành phải cho anh ta mười quan tiền rồi đuổi đi. Anh ta dùng mười quan tiền ấy nhờ người tìm việc, tìm được việc rồi lại không chịu làm, chỉ được dăm bữa nửa tháng lại chuyển sang nhà khác, chẳng làm cho ai được lâu dài.
Một hôm không có việc, anh ta đi chơi lăng quăng trên phố, lại đúng vào ngày cúng Thành Hoàng có diễn kịch. Chử Trung cũng chen vào đám đông xem, thấy một ông già đứng trước ăn mặc rất sang trọng. Đầu tiên, ánh nắng chiếu lóa mắt mọi người, người thì đội mũ, người thì dùng tờ giấy gấp vào rồi dùng chiếc đuôi sam kẹp lấy trước mặt. Chỉ có ông già là đeo một chiếc kính râm, chẳng sợ gì lóa mắt. Một lát sau ánh nắng dịu đi, ông già đeo kính râm nhìn không rõ, bèn tháo kính ra, bỏ vào túi áo khoác, Chử Trung nhìn thấy. Tiếp đó, trên sân khấu, hát bài Bát Lạp miếu, người xem náo nhiệt hẳn lên. Võ Tiểu Sinh múa đao tuyệt diệu, ai ai cũng sững sờ. Lại có thêm người mới đến, chen lấn vào. Đúng lúc kẻ xô người đẩy Chử Trung rón rén rút lấy chiếc kính trong túi ông già. Sung sướng quá, chẳng thiết xem kịch nữa, cố sống cố chết chen ra.
Vừa ra khỏi đám đông, anh ta bèn đeo kính lên, thấy đằng sau có người vỗ vào lưng nói:
- Anh bạn, làm ăn có khá không?
Chử Trung vội quay đầu lại, thì đó là một người đàn ông cao lớn vạm vỡ, vẻ mặt hung ác, đôi mắt dữ tợn, song không hề quen biết. Chử Trung ngơ ngác hỏi:
- Xin ông cho biết tính danh, chúng ta gặp nhau ở đâu nhỉ? Tôi bỗng chốc không nhớ ra.
- Khá, khá lắm, - người ấy nói, - ngay đến ta mà anh cũng không nhận ra, trước mặt có quán trà, ta đến đó uống rồi nói chuyện.
- Tôi vốn không quen biết ông, đâu dám quấy rầy.
- Chúng ta đến đó uống trà, thì anh sẽ biết ta là ai.
Chử Trung hỏi họ tên. Người ấy nói:
- Tí nữa sẽ biết.
Chử Trung theo người ấy vào quán trà, quán đông nghịt, không có chỗ ngồi. Người ấy nói:
- Ở đây không tiện nói, chúng ta đi chỗ khác.
Nói xong người ấy kéo Chử Trung đi loanh quanh mãi mới tới một nơi vắng vẻ bên góc tường thành, ở đó có mấy gian nhà cỏ. Xung quanh đấy không có nhà dân. Chử Trung thấy nhờn nhợn. Người ấy bảo Chử Trung vào, rồi ngồi ngay trước mặt, nhìn xoáy vào Chử Trung cười. Chử Trung chẳng biết thế nào, mặt đỏ lên rồi tím tái. Dừng một lát, người ấy nói:
- Ta xem ra thì ngươi mới nhảy cầu!
Chử Trung không hiểu, cứ ngây người ra nhìn người ấy.
- Ngươi đừng giả vờ ngốc nghếch nữa, việc của ngươi đã vỡ lở rồi
Chứ Trung hoảng sợ nói:
- Tôi làm gì mà vỡ lở! Ông là ai?
- Việc ngươi làm, ngươi tự hiểu. - Người ấy cười lạnh lùng nói. - Những việc khác không nói, ta chỉ hỏi chiếc kính ngươi lấy ở đâu?
Chử Trung nghe xong, nghĩ bụng: "Nguy rồi, người này nhất định là Bổ khoái(1). Song đã như thế, không thể không cãi lại. Thế rồi Chứ Trung vội đứng đậy nói:
(1) Bổ khoái: người ở nha môn chuyên đi bắt người thời xưa.
 
- Kính của tôi, liên quan gì tới ông. Tôi cứ tưởng ông mời tôi làm gì, hóa ra là vì chiếc kính. Chiếc kính là của tôi, lẽ nào tôi đeo cũng phải nói với ông! Điều ấy thật nực cười!
Nói xong định bỏ đi. Người ấy nói:
- Khá, khá, ngươi khá lắm! Bây giờ không còn cách nào khác không cho mày nếm thử đòn thì mày không sợ. Còn như mày muốn đi, thì dù mày có cánh cũng không bay được.
Chử Trung vừa ra tới cửa thì người ấy lôi lại, rồi huýt một tiếng sáo, bỗng thấy hai ba người ở nhà bên đi tới, đều là những kẻ mặt mũi gớm guốc, mắt tráo trưng, lông mày dựng ngược.
Người ấy nói:
- Hôm nay chộp được một tên mới vào nghề, các người dạy cho nó một bài học, không cần phải ghê gớm lắm. Song thằng này rất bướng, không cho nó biết phép tắc thì nó không sợ. Các người ở đây hành sự, hỏi nó về hoàn cảnh gia đình. Ta có việc phải đi, tối nay về nói lại cho ta biết.
Hai người này vâng lệnh, còn người kia bỏ đi.
Hai người vào phòng nhìn Chử Trung một lượt, Chử Trung vội đứng dậy chào, chúng chẳng thèm để ý. Một đứa lại, túm tóc Chử Trung lôi, còn đứa kia lấy chiếc thừng quấn từ cổ tay lên khuỷu tay, cánh tay thẳng đứng, cứng đơ không cử động được. Chúng lại dùng chiếc thừng khác quấn chân vào một chiếc cột. Khi chúng cuốn, Chử Trung gào lên kêu cứu.
Song nơi đây cách nhà dân rất xa, không ai nghe thấy. Cho dù có nghe thấy họ cũng cho là bổ khoái bắt trộm nên chẳng ai hơi đâu mà để ý tới, dù anh có kêu khản cổ rát họng cũng chỉ uổng công. Chử Trung kêu được một lúc, thấy hai cánh tay tê dại, đau đớn như đóng thành băng giá, hoàn toàn không phải là của mình không sao chịu nổi. Hai người ấy lại lấy ra một nắm đũa nêm vào từng vòng thừng quanh tay. Càng nêm càng chặt, những chiếc đũa kẹp vào thịt, cứ thế mỗi vòng một chiếc, nêm vào đến bảy tám chiếc đũa. Chử Trung như lợn chọc tiết mắt nẩy đom đóm, kêu khóc van xin, chúng vẫn cứ mặc thây không thèm để ý tới. Chử Trung không còn cách nào khác đành phải nói: - Tôi là thằng ngu đần. Các ông muốn sao thì tôi làm vậy. Các ông cứ nói rõ tôi sẽ làm theo các ông.
Thấy nói thế, hai người kia mới hỏi họ tên. Biết nhà Chử Trung không còn ai, chúng rất mừng. Rồi bảo anh rằng, đó là lễ ra mắt khi làm nghề ăn trộm.
- Tôi có ăn trộm, ăn cắp gì đâu. - Chử Trung nói.
- Phải rồi. - Hai người ấy nói. - Từ nay mày tha hồ mà ăn trộm. Ta còn phải dần dần dạy ngươi tất cả mọi phép tắc nhà nghề.
Đang nói thì người bỏ đi trước đó trở về, nhìn một lát rồi cười nói:
- Nó đã nhận đủ rồi, thôi tháo ra, đánh dấu cho nó.
Hai người ấy cởi thừng ra, những chiếc đũa kẹp vào thịt, tháo ra thành vết tím bầm, xung quanh máu sưng mọng. Một người vào phòng bê ra một chậu mực đặc mầu chàm, quét lên những chỗ thịt toạc ra, một lát sau mực ngấm vào thịt, đến khi thành sẹo rửa cũng không sao sạch được.
Xong xuôi, chúng bắt Chử Trung quỳ xuống nghe giáo huấn. Chử Trung chỉ biết chịu đau theo lệnh quỳ xuống. Người ấy nói:
- Ta nói cho ngươi biết, ta là bổ khoái đầu Ngô Lương. Ngươi mà vào nghề phải cúi lạy ra mắt ta, tại sao ngươi tự ý làm bừa. Nay ta nhận ngươi làm đồ đệ, ngươi tha hồ hành nghề. Song quy tắc hành nghề là phải nộp cho ta bảy phần hoa hồng. Ngươi buôn bán ta cũng khấu đi bảy phần, còn ba phần để cho ngươi sử dụng. Nếu che giấu ta việc gì ta sẽ giết chết. Lại còn thế này nữa, người nào phòng bị nghiêm cẩn, hoặc là quan nhất định đòi phá án, phải làm gấp, bất luận thế nào, bắt đồ đệ phải đứng ra nhận, thì ngươi phải nhận và khi nhận cũng không được nói là người đứng đầu, chỉ nói là làm theo, hoặc là canh chừng, như thế bất quá cũng chịu đánh mấy gậy.
Những trận đòn ấy cũng chỉ là món nợ nhân tình mà thôi. Người nắm hình phạt đều là bạn bè của ta. Biết được đồ đệ của ta họ sẽ không đánh đau, mà cũng chỉ là đánh làm phép để che mắt mà thôi. Đánh xong lại trả về chỗ ta. Còn cái này nữa, ngươi đi ăn trộm phải nhớ nhà cửa, phương hướng, khi có cơ hội thì có thể trèo vào. Hiểu rõ ngọn ngành thì tiền của nó là tiền của mình. Việc này mọi người đều có lợi. Đó cũng chỉ là nhà buôn bán hoặc bỗng nhiên giàu có thôi, còn những thân hào thân sĩ, hoặc là kẻ sĩ thì chớ có đụng vào. Lại nữa, khi thi huyện cũng đừng động vào những ông trời con ấy. Sợ rằng gây sự với họ, họ sẽ dựa vào đông người, thì lúc ấy quan cũng bênh họ. Còn như bình thường lấy trộm nhà người ta cũng có mấy điều bí quyết. Đó là lấy trộm lúc có gió, không lấy lúc có trăng.
Lấy trộm lúc có mưa, không lấy lúc có tuyết. Tại sao phải như thế! Là vì khi gặp gió to, then cửa, cánh cửa nhà người ta luôn có tiếng động, người ta sẽ không nghi ngờ, thì mình nhờ tiếng gió ấy mà áp sát, rồi lẻn vào. Nếu trăng sáng, người ta nhìn thấy rõ cũng bất lợi. Khi trời mưa cũng có tiếng động như khi có gió. Nếu là trời có tuyết rơi cũng không được, bởi vì nếu chẳng may có động, họ chợt tỉnh, thì họ cứ theo dấu chân hằn lên tuyết mà đuổi. Còn như mùa hạ, mấy ngày liền trời nóng nực oi bức, bỗng đột nhiên mát mẻ, người ta sẽ ngủ say, hoặc là nhà nào có việc cưới xin, ma chay, mấy ngày liền bận rộn mệt mỏi, thì đây là những cơ hội tốt nhất. Khi đi lấy trộm, điều đáng sợ là bị người ta đuổi, bởi vậy khi vào nhà, phải chuẩn bị trước đường tháo chạy, những lối cửa ngoắt ngoéo, và sân, vườn, đều đặt sẵn những chướng ngại vật như ghế tựa ghế đẩu để người rượt đuổi vô tình mà vấp ngã. Mà đã ngã thì phải nắn bóp chỗ đau như thế mới có thời gian chạy thoát thân.
Nếu nhà ấy đóng chặt cửa không lấy được gì, thì đó là điều tối kị. Người xưa nói, đi lấy trộm đừng về không, không cần câu nệ, cứ phải lấy một chút gì đó. Mà nhược bằng không lấy được gì thì cũng phải ỉa một bãi giữa sân. Đây là những bí quyết bất di bất dịch không thể nào thay đổi được. Còn như đã đào tường khoét ngạch xong, phải chui ra chui vào thử đi thử lại. Nếu khoét ngạch mà vướng phải gỗ thì phải đào lại chỗ khác. Vì ngươi mới vào nghề, cho nên ta dạy tỉ mỉ như thế. Ngươi đừng nói rằng ngươi đi ăn trộm ta bắt được ngươi rồi lại bảo ngươi đi ăn trộm. Ta nói thực với ngươi, bổ khoái cũng là trộm cắp. Ngươi thử nghĩ mà xem, ông lớn không cho tiền, thì bổ khoái chúng ta ăn sương sa uống nước lã sương sa mà sống à, bởi thế ta phải làm trò ma quỷ này. Rất may nhà ngươi không còn ai, tạng ngươi cũng không buôn bán được, nên chỉ theo con đường này là ổn định nhất. Nếu ngươi vào công đường gặp quan, dám cả gan nói là ta bức ngươi đi ăn trộm thì ngươi cứ nói. Nếu thế thì sau khi ngươi ra khỏi công đường ta sẽ tính sổ với ngươi.
Chử Trung nghe một thôi một hồi như thế, cứ do dự mãi. Người xưa thường nói, người sợ vào tròng, sắt sợ vào lò. Hơn nữa tay mình đã nhúng chàm rồi thì mồm năm miệng mười cũng không sao cãi lại được, thôi thì nghe theo họ sẽ được ăn no mặc ấm. Thế rồi Chử Trung gật đầu. Ngô Lương rất mừng, bèn gọi hai người kia bảo:
- Từ nay về sau, các ngươi sẽ là anh em, các ngươi phải giúp đỡ nhau.
Rồi hắn nói cho Chử Trung biết, một người tên là Sử Đan, một người tên là Cái Tứ. Mọi người làm lễ ăn thề, Chử Trung một lòng một dạ làm nghề ăn trộm, hết lòng vì bổ khoái.
Ngô Lương lại cặn kẽ dạy dỗ Chử Trung một hồi, rồi quay lại nói với Sử Đan rằng:
- Hai thằng nhãi kia thế nào?
- Nó bảo đúng là nó ăn trộm, - Sử Đan nói, - nhưng ở đây mới là lần đầu, song nó không hề gây ánBảo nó nhận gây ra vụ án ấy, nó không chịu nhận.
- Lần trước đã ép mạnh, mà nó không nhận thì hãy cho nó nếm thử một chút phép tắc. - Rồi lại chỉ vào Chử Trung nói. - Chử Trung mới đến, vẫn chưa yên tâm, hãy cho đi xem hai thằng nhãi ranh này, dù nó mình đồng da sắt cũng phải bắt nó khuất phục. Ngươi hãy đi làm mau lên.
Sử Đan rủ Chử Trung và Cái Tứ cùng tới gian nhà phía Tây. Chử Trung sợ quá, trống ngực đập hơn trống làng, đầu óc anh cứ loạn cả lên. Lúc thì nghĩ, đúng là không nên lấy chiếc kính này, nay họ bắt quả tang, thì làm thế nào cho phải. Thôi thì tới khi nào vào cửa quan, ta cứ khai hết ra, lẽ nào quan lại cứ bắt mình đi ăn trộm! Hơn nữa tổ tiên ta còn có chút danh dự nếu đi ăn trộm thì còn mặt mũi nào mà nhìn người ta nữa! Còn như chứng cứ thì khi gặp quan mình cứ nói thẳng, lẽ nào trước công đường mình không thanh minh được!
Đang lúc ngổn ngang do dự, thì đã thấy Cái Tứ dẫn một người tới, hắn để anh ta ngồi xuống rồi nói:
- Thầy chúng ta quả là đã bắt bừa. Ngươi không gây án ở đây thì cớ gì cứ bắt ngươi đi nhận án! Quả là đã vô cớ bắt ngươi phải nhịn đói một ngày, ta là người rất nhân từ, bây giờ ta giấu thầy Ngô Lương bưng cho anh hai bát mì, có điều mì sợi to và không được ngon lắm, anh hãy ăn tạm cho đỡ đói.
Nghe xong người ấy rất cảm động. Cái Tứ bèn bưng ra hai bát mì to. Những sợi mì bằng ngón tay út, đó là hai bát mì suông, dở sống dở chín. Người ấy đói ròng rã một ngày, chẳng nề hà gì, rối rít cám ơn, rồi bỗng lên húp soàn soạt, ăn hết một bát, lại bát nữa, phút chốc hai bát mì hết nhẵn.
Ăn xong, Cái Tứ giở giọng, nghiêm mặt nói:
- Tí nữa thầy ta hỏi việc ấy thì ngươi nói sao?
- Quả thực lần đầu tiên tôi đến đây thì bị thầy tóm được, thực ra tôi chưa từng gây án, tôi không hề nói dối.
- Ngươi thề cũng chẳng được. - Cái Tư cười nói. - Ta nói thực với ngươi. Hiện nay thầy bị cấp trên bức bách, phải phá án gấp vụ án nhà họ Dư ngoài cửa Đông. Không còn cách nào khác, đành phải bắt ngươi nhận cho xong chuyện. Ngươi nhận thì nhận, nếu không nhận thì ngươi là người trong nghề, lẽ nào ngươi không biết luật nhà nghề! Đã nói đến thế mà ngươi không nghe thì cũng đành phải vô phép ngươi thôi!
Nói xong, bèn gọi Sử Đan tới xem, còn Cái Tứ thì lấy ra một chiếc chiếu, và hai cái thừng, trải chiếu xuống đất, lật ngã sấp người ấy xuống giữa chiếu, rồi lại dùng thừng buộc xung quanh, thẳng đuỗn như một khúc gỗ, rồi dộng ngược lên, chống vào sau cửa.
Các bạn thân mến, đây là hình phạt phi pháp, gọi là: “Hai con rồng mọc râu”. Bị dộng ngược xuống chỉ độ một lát, người ấy mặt mũi tối sầm lại, hàng trăm mạch máu đảo lộn, tất cả dồn xuống óc, hai bát mì sợi to, từng sợi tùng sợi một theo mắt, tai, mũi mồm chui ra khiến đầu óc người ấy quay cuồng, không còn biết đâu là trời đất. Người ấy còn đau đớn hơn gấp mấy lần bị tùng xẻo(1) lăng trì(2). Chúng coi hai lỗ mũi là hai con rồng, những sợi mì là râu rồng. Người bị dộng ngược rơi vào tình trạng muốn chết đi cũng không xong, cứ thế kêu gào, sau đó tiếng kêu yếu dần, chỉ còn nghe thấy tiếng nói mơ hồ mới thả ra. Chờ đến khi tỉnh hẳn, chúng hỏi thế nào. Người ấy đáp:
- Trời ơi! Thôi, thôi tôi xin nhận. Sử Đan và Cái Tứ thấy thế vui mừng nói:
- Chẳng phải ngươi đã phí công ư? Nếu ngươi chịu nhận sớm thì đâu đến nỗi thế?
(1) Tùng xẻo: là hình phạt dã man thời xưa, đánh một tiếng trống xẻo một miếng thịt.
(2) Lăng trì: buộc chân tay phạm nhân vào bốn con ngựa, đánh ngựa chạy về bốn phía xé xác người ra.
 
Đứng bên cạnh, Chử Trung thấy thế khiếp mất vía, nghĩ bụng: "Tàn khốc đến thế, thật khó mà chịu nổi: Nó không bắt mình chết, giá mà chết ngay đi, thì còn dễ chịu hơn. Thấy tình cảnh này, nếu mình lên công đường khai thẳng ra, thì hãy nhìn tấm gương ấy".
Đang lúc do dự thì Cái Tứ và Sử Đan lại lôi một người vào cũng bảo người ấy phải nhận một vụ án nào đó. Người ấy không chịu, xem ra anh ta lâm vào tình thế vô cùng khốn đốn. Cái Tứ, Sử Đan cũng không nhiều lời, hành động ngay, chúng lôi anh ta tới đặt nằm trên một chiếc ghế dài, dùng hai chiếc thừng một chiếc buộc đùi vào ghế, một chiếc chằng ngực vào ghế, trói chặt hai tay ngoặt ra phía sau. Vừa buộc vừa làu bàu chửi, sau đó lấy một viên gạch nhét xuống dưới lưng, dù không nhét được, nhưng chúng cũng cố nhét, lát sau lại nhét thêm một viên nữa, bụng anh ta ưỡn lên, chân và đầu cong oặt xuống. Sống lưng người ấy đau đớn vô cùng. Lúc đầu còn miễn cưỡng chịu được khi nhét đến viên thứ hai trở lên, anh ta kêu như bò chọc tiết. Đến khi nhét vào viên gạch thứ tư, người ấy luôn mồm xin tha tội, bất kể bảo anh ta làm gì anh ta cũng không dám chối từ. Cái Tứ, Sử Đan thấy anh ta tình nguyện, mới từ từ cởi thừng ra, người ấy không sao ngồi dậy được. Cứ nằm thế một lúc lâu mới đứng dậy.
Thấy thế Chử Trung vô cùng sợ hãi. Cái Tứ, Sử Đan nói với Chử Trung:

- Đây là ghế ông hổ, đó là phép tắc chúng ta vào nghề. Cái đó ngươi đều biết rồi. Không biết thầy có duyên gì với ngươi mà không để ngươi thử nếm mùi một chút. Tóm lại, nếu anh không vào thì thôi, mà đã vào thì dù là mình đồng da sắt cũng không thể trốn tránh được. Hai người này trước đây cũng như ngươi, song nhẹ không ưa lại ưa nặng, nếu không thế thì chúng không chịu nhận, thế mới biết chúng là đồ hèn. Nói thực với ngươi nhé, hình phạt của quan nặng nhất cũng chỉ là quỳ, xiềng xích, cùm kẹp, song cũng không dùng tùy tiện, chỉ có những kẻ cứng cổ mới chịu phạt đến thế thôi. Còn như hình phạt riêng ở đây chẳng lo gì ngươi không sợ, dù anh có đúc bằng sắt cũng phải dìm xuống nước để tôi.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Sun Apr 13, 2014 1:07 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 21 (B)
Chử Trung nghe xong run cầm cập, rụng rời cả chân tay, tới lúc này mới thực sự một lòng một dạ đi theo họ, không nghĩ gì khác nữa. Cái Tứ và Sử Đan lại đi lấy cơm gạo hẩm cho họ ăn, chỉ coi đây là chút điểm tâm, chứ không được ăn noLục phủ ngũ tạng của hai con rồng này chưa trở lại bình thường, cũng không dám ăn thêm. Thế rồi chúng nằm bừa xuống đất ngủ.
Sáng sớm hôm sau, Ngô Lương tới. Cái Tứ nói mấy câu, Ngô Lương gật gật đầu. Trước hết bảo người ngồi ghế ông hổ đi nhận:
- Ngày mồng một tháng Tư chúng tôi cạy cửa vào nhà họ Chu ở ngoài cửa Đông lấy mười hai chiếc áo da, một gói đồ trang sức gồm: một chiếc xuyến vàng, hai đôi khuyên vàng, hai chiếc trâm vàng; một vòng cổ bạc, với bốn pho tượng Phật nhỏ bằng đồng, một chiếc áo khoác ngoài bằng đoạn màu thanh thiên, một chiếc áo khoác ngoài bằng nhiễu Hồ đen, một chiếc áo khoác lụa Ninh màu lam, đều là áo lông cừu và chín chiếc áo cộc tay bằng da. Ngươi chỉ nói có hai người đầu sỏ là Triệu Lão Tứ, còn người đứng ngoài canh chừng nhận đồ. Lúc ấy Triệu Lão Tứ ôm một bao ra, đưa cho hai đôi khuyên vàng, một chiếc xuyến còn lại anh lấy hết. Vì anh ấy vào lấy nên đòi chia nhiều hơn. Nếu quan hỏi ngươi, quần áo đâu thì ngươi bảo bán cho người không quen biết được hai đồng, tiện tay đánh bạc thua hết. Hỏi đồ trang sức thì ngươi bảo bán cho thân quyến nhà quan đi thuyền ngang qua chỉ được hai đồng, cũng ăn hết rồi. Hỏi sau đó ngươi đã lấy của ai, ngươi cứ nói bừa là đã lấy trâu của Từ Ngũ và vải của Trịnh Nghĩa Hòa. Hỏi tang vật đâu thì vẫn cứ nói là đã bán cho người không quen biết. Hỏi tiền, thì ngươi nói đã dùng hết rồi. Hỏi xong chẳng qua chỉ đánh ngươi mấy trăm tay thước, ngươi phải chịu đựng qua cửa này, sau này dù ngươi thế nào cũng không đến nỗi chịu thiệt. Ngươi phải nhớ hết từng lời, nếu sai mà lộ ra, bị quan bác bỏ, thì sau này chúng ta không sao trả hết nợ được. Sau đó Ngô Lương lại gọi người kia ra, bắt người ấy phải nhận một vụ án khác, đại khái cũng dặn dò gần như người trước. Sợ rằng người ấy quên, lại bảo Cái Tứ và Sử Đan luyện tập cho người ấy một hồi. Chử Trung nghĩ rằng: "Đây quả thật là những ngày đen tối. Trước đây ta chỉ nghe thấy bị mất trộm thì báo bổ khoái, bổ khoái bèn đi bắt kẻ trộm, nếu không thì quan ắt không dựa vào họ. Nào ngờ họ bất chấp cả trời đất, pháp luật, bắt người tốt phải nhận là trộm cắp. Từ đó mà suy ra, giá không có bổ khoái thì có lẽ trộm sẽ ít đi. Cứ làm theo họ, thì về sau ba người chúng ta, ngoài việc đi lấy trộm ra, còn có việc gì đáng làm nữa, chẳng phải họ đã dung dưỡng toàn những kẻ trộm cắp ư? Ta đã mắc tròng, bây giờ chẳng còn cách gì khác nữa, trước mắt ta theo họ sống cuộc sống bụi đời ít ngày, đợi khi nào họ không phòng bị, thì ba mươi sáu kế, chuồn là tốt nhất. Song tay ta đã có chứng cứ thì phải thế nào mới được! Ít lâu nữa ta phải đi bàn bạc với người anh em họ".
Trong lúc Chử Trung đắn đo tính toán, thì thấy Ngô Lương hỏi:
- Đã nhớ kĩ chưa?
- Nhớ kĩ rồi - Hai người kia vội trả lời.
Ngô Lương đích thân hỏi lại một lần nữa, quả thấy rất đúng, rồi không nói gì thêm, bảo họ đi ăn chút cơm, nói đã chiều rồi chắc là quan cũng đã dậy. Rồi dẫn hai người này đi báo quan.
Đến tối, Ngô Lương trở về, theo sau còn có hai người và một người còn trẻ bị xích bước vào. Trước hết Ngô Lương bảo người ấy dẫn họ sang gian bên, rồi Ngô Lương tới nói chuyện với Chử Trung:
- Ngoài cửa Tây có một nhà giàu họ Trần, xuất thân từ cử nhân, lại có chút thế lực. Quan huyện cũng hết lòng với ông ta. Vì địa phương đang cần một khoản tiền quyên góp, tất cả đều trông ở ông ta. Cờ quạt và tấm biển Chính Đức của ngài quan huyện đều nhờ ông ta đóng góp đầu tiên, nếu ông ta không lên tiếng đóng góp thì dân chẳng ai đóng góp. Những quan nhậm chức trước đây, không ai dám làm mếch lòng ông ấy. Hơn nữa ông ấy đối xử với quan Huyện rất tốt. Không ngờ cuối tháng trước bỗng nhiên ông ấy bị mất một mẻ đồ, đó là hai hòm quần áo trong đó có một số hàng da, hai nén bạc, cả thảy là hơn trăm lạng, lại còn năm mươi đồng bạc thật, ngoài ra còn mất một tờ hóa đơn. Quan hết lòng vì việc nhà của ông, nên kiên quyết phá án. Trước tiên ngài hạn trong nửa tháng phải phá án nay lại gia hạn trong ba ngày. Ta nghĩ việc này cần ngươi phải đương đầu với vụ án này.
Chử Trung nói:
- Tôi nghe nói tội trạng đầy rẫy, như thế thì nguy hiểm lắm. Tôi nhận thì tính mạng của tôi sẽ ra sao?
- Không sao, việc này còn phải bàn. Hôm sau ta đưa ngươi ra tòa, ngươi nói tất cả có bốn người, hẹn nhau vào lấy trộm. Vì tôi là người ngoài nghề, sợ tôi lỡ gây ra điều gì sơ suất, nên họ chỉ bảo tôi đứng ngoài nhận đồ, bởi thế nhà cửa họ Trần thế nào tôi không hay biết. Nếu hỏi họ tên ba người kia, thì ngươi cứ bịa ra họ tên mấy người ấy. Nhưng đã bịa ra thì phải nhớ cho kĩ, lần thứ hai không thể nói sai một chi tiết nào. Quan hỏi ngươi được chia những gì, thì ngươi chỉ nói được chia bốn đồng bạc thật. Nhất định quan không tin, ngươi nói đây là lần đầu tiên tôi nhập bọn, theo lệ thì không được chia nhiều, đây là luật giang hồ. Quan hỏi, những người kia hiện nay ở đâu, ngươi nói không biết. Lúc đầu cùng đến tụ tập tại trang trại nhà họ Chu ở Nam Hương, trang trại này có một người tên là Chu Tử Ngọc, mở cửa hàng tạp hóa lớn, phía sau là nhà ở, cửa hàng quay hướng nam. Đêm lấy trộm đồ, mọi người về nhà Chu Tử Ngọc, họ Chu đón vào, nhặt lấy mấy chiếc áo và giữ lại một nén bạc, còn bao nhiêu chia cho chúng tôi. Vì tôi được chia quá ít, có ý không bằng lòng, Chu Tử Ngọc còn chửi bới, nhiếc móc tôi, và nói rằng lần sau sẽ được chia thêm. Nếu quan hỏi cửa hàng như thế nào thì ngươi bảo cửa hàng nửa cũ nửa mới, quầy hàng bày gọn gàng khéo léo. Trong cửa hàng có bốn người làm thuê. Bước vào thấy có hai cửa trước và hai cửa sau, có ba gian nhà và hai gian nhà trống, chúng tôi đều tới đó ngồi. Đằng sau còn có một vườn rộng, phía tây là bếp, dưới đó là nhà xí phía đông là một cây du to, bên cây du là một chiếc nhà nhỏ đó là nơi thờ Quan âm, bên trong có một cái khám dặt tượng Phật. Tôi thấy Chu Tử Ngọc để những thứ ấy trên nóc khám. Nhà ấy có một bà trạc bốn mươi tuổi, và một đứa trẻ độ tám chín tuổi. Chu Tử Ngọc để râu, mặt rỗ hoa, tóc lưa thưa hói tận chỏm đầu. Còn tai bà kia có một cái sẹo to. Còn những đồ bày trong quầy hàng, không có liên quan nên tôi không nhớ rõ. Những điều trên ngươi phải nhớ kĩ, không được coi thường. Còn những việc khác ta đã sắp đặt xong xuôi cả rồi. Nếu quan bảo ngươi đi phát hiện tang vật, thì ngươi phải nhận lời ngay. Việc này ngươi làm tốt, thì sau này ta sẽ quan tâm đến ngươi.
Chử Trung vừa nghĩ vừa vâng vâng dạ dạ. Bàn xong Chử Trung trầm ngâm hồi lâu, rồi đột nhiên hỏi:
- Làm như vậy thì Chu Tử Ngọc phá sản ư?
- Mặc xác hắn. - Ngô Lương cười nói.
- Tôi chẳng sợ gì, chỉ sợ gây ra oan nghiệt.
Ngô Lương nghe xong rất bực, nghiêm mặt hỏi lại:
- Oan nghiệt thế nào được!
Chử Trung thấy thế vội đánh trống lảng:
- Nói thế thôi, kể gì oan với nghiệt.
Ngô Lương đập bàn nói:
- Tốt! Coi như ngươi đã hiểu rõ rồi. Ngươi đừng ngủ, hãy xem ta làm một việc.
Chử Trung đành phải nghe theo.
Ngô Lương bèn gọi dẫn một người vừa đưa tới. Cái Tứ lôi người ấy ra, rồi bắt quỳ xuống. Ngô Lương nói:
- Đây có phải là người mà Phùng Lão Tam tóm được không?
- Đúng ạ! - Cái Tứ nói. - Hôm nay đến công đường xét hỏi, đánh một trăm gậy, bảo giam ba tháng mới tha.
Ngô Lương cúi xuống hỏi:
- Ngươi phạm tội gì? Tên là gì?
- Tôi là Từ Lão Bát, người huyện Đồng Thành. Vì nhà nghèo không sao sống nổi, lấy trộm một chiếc quần đã rách phơi ngoài sân, thì bị các ông bắt được.
- Ngươi đã ăn cắp mấy lần?
- Đây là lần thứ nhất.
- Ta xem ra người là một tên trộm già đời, sao lại bảo là lần đầu! Cái chiêu bài ấy của ngươi đã xưa rồi, ngươi không thể che mắt được ta đâu. Ta khác hẳn với ngài quan huyện xét hỏi ngươi hôm nay. Ngươi phải khai thực với ta mới đúng, người thì có tình, nhưng pháp luật không có tình, chắc rằng ngươi hiểu được, ta không cần phải nói nhiều. Từ Lão Bát thấy nói thế, biết rằng không thể giấu được, đành phải khai qua một số vụ án mình đã gây ra. Thấy đây không phải là việc ở địa phương này, Ngô Lương không thèm để ý tới, nghiêm mặt nói:
- Ta cho ngươi là một tay già đời quả không sai. Song ngươi đã đến đây cũng phải nói thế nào chứ!
- Tôi cũng chẳng biết nói thế nào!
- Khá lắm! Cái mồm ngươi chỉ biết ăn thôi ư?
- Được ông cho ăn, tôi vô cùng cảm ơn.
- Con mẹ mày chứ! Tao không mở hàng cơm, mà mở hàng cơm thì cũng phải trả tiền mới được ăn. Mày đừng giả vờ ngu ngốc, mày xảo quyệt cũng không được lâu. Người xưa nói, nhờ vào núi ăn núi, nhờ vào nước ăn nước, lại nói, chỉ có cá ăn nước, chứ nước không ăn cá. Chúng tao suốt ngày bận bã vất vả, kiếm tiền để nuôi mày ư!
- Xin ông bớt giận, - Từ Lão Bát nói, - tôi đã hiểu rồi. Nếu tôi có tiền lẽ nào tôi lại đi ăn trộm! Quả tình tôi không có ăn nên buộc phải đi vào con đường này. Xin ông thương tình, sau này tôi sẽ hết sức báo đền ông.
- Khá thật! Tiền ta không lấy mà để lại cho ngươi nợ, ngươi đừng tưởng bở. Ngươi có tiền cũng được, không có tiền cũng được, xem ra ngươi muốn quấy rầy ta. Ta không cần nhắc tới, vả lại ngươi có hiểu được luật vào cửa của ta không?
- Tôi không còn cách nào khác, tôi là người nơi khác tới, còn như luật vào cửa phải thế nào tôi cũng xin theo, không dám nói gì.
Ngô Lương giận dữ nói:
- Được rồi! Được rồi để xem mày có phải thòi tiền ra không. Cái Tứ hãy dạy cho nó biết luật. Vào cửa có ba phép, không để sót phép nào, ngày mai ta sẽ tới.
Nói xong Ngô Lương bỏ đi. Cái Tứ gọi Sử Đan tới. Sử Đan nói:
- Đây quả là một tên cứng đầu, thế mà ta không nhận ra hắn.
- Sao nó lại không biết, đúng là nó chỉ giả vờ ngu ngốc mà thôi. Anh đừng coi nó là người ngoài nghề, chúng ta hãy dạy cho nó biết. Nếu không được, chúng ta lại làm tiếp. Tuy nó chịu khổ nhưng chúng ta cũng rất vất vả.
Cái Tứ nói với Từ Lão Bát:
- Ông bạn là người trong nghề, đừng có giả vờ ngốc. Ngươi tưởng ngươi ranh mãnh, nhưng chúng tao cũng không phải là thằng ngu. Ngươi đã đến, nếu có thì bỏ ra, ngày rộng tháng dài bạn bè đánh chén mừng gặp mặt. Lẽ nào thầy phải cung đốn cho ngươi ăn ư? Nếu quả ngươi không có thật thì ngươi cũng phải nghĩ cách mà kiếm chớ, chả nhẽ anh em mình không giúp đỡ được nhau sao. Nếu anh cứ quẫn sĩu, nói suông như thế thì sẽ chịu đau đớn hơn những chiếc gậy nhỏ của quan lớn ở công đường. Ngươi lầm rồi hãy nghĩ lại đi.
- Trời ơi, cái ăn thì đã ở trong bụng, cái mặc thì đang ở trên người, tôi xa nhà, tứ cố vô thân, cửa quan buộc tôi phải thu nhân tích đức, các ông thương tôi là tốt rồi.
Cái Tứ nói:
- Ngươi xem đấy, chúng ta nói nghiêm chỉnh, mà cái thằng nhóc này không biết yên thân. Chúng ta chẳng hoài hơi mà nói với nó nữa. Còn thằng này, mày không chịu nổi thì đừng có trách chúng tao.
Nói xong bèn bước tới, đẫy Từ Lão Bát ngã xuống, Sử Đan trói chặt chân tay, rồi bước một chiếc thừng treo ngang lưng, đầu kia vắt qua xà nhà, rồi hai người ráng hết sức kéo ngược lên, treo Từ Lão Bát chổng mông lên trời, người rũ xuống, thừng buộc chân tay càng thít chặt. Lúc đầu còn có thể chịu đựng được độ hơn mười lăm phút sau đau đớn cứ kêu gào. Đầu Từ Lão Bát lơ lửng chẳng tựa vào đâu, dộng ngược xuống, xương cổ như sắp đứt. Từ Lão Bát khóc lóc, chừng một giờ họ mới thả xuống.
Đúng lúc ấy thì Ngô Lương mang một chiếc túi bước vào, ngồi xuống nói với Chử Trung.
- Chúng ta đi làm một việc. Việc chúng ta bàn, ngươi đã nhớ kĩ chưa? Không được quên. Ngày mai chúng ta gặp nhau. - Sau đó lại nói với Cái Tứ. - Ta giao Từ Lão Bát cho ngươi.
- Ông cứ yên tâm. - Cái Tứ nói.
Ngô Lương mang túi đi ra.
Từ Lão Bát được thả xuống, chừng hai giờ mạch máu vừa hoạt động trở lại, Cái Tứ và Sử Đan lại trói Từ Lão Bát vào một chiếc ghế dài, song khác với lần trước là đầu chúc xuống, rồi đốt một đóm giấy, hun vào lỗ mũi. Chử Trung nghĩ bụng: "Đây không biết là trò gì" Lẽ nào làm như thế mà khó chịu ư?. Nào ngờ chưa đầy mười lăm phút, Từ Lão Bát không sao chịu nổi. Lúc đầu còn kêu van, về sau cũng chẳng van xin nữa mà cứ réo cả tam đại tổ tiên họ lên chửi. Cái Tứ và Sử Đan cũng mặc, như chẳng nghe thấy gì.
Chử Trung lạnh cả gáy, song cũng nói cho Từ Lão Bát vài câu. Cái Tứ bèn hỏi Từ Lão Bát:
- Có nói gì không?
- Xin các ông thả tôi ra, tôi sẽ nói.
- Thật là phí công. - Cái Tứ nói. - Lúc thì trói, lúc thì cởi, tốn cả thời gian. Ngươi nói thì nói đi, không nói thì lại hun, có thế thôi.
- Nó chẳng bay đi đâu mà sợ? Để cho nó thử một chút.
Nếu như nó vẫn thế, chúng ta không chơi kiểu này với nó nữa, mà hun bằng vỏ đay.
Cái Tứ nghe theo. Chử Trung cũng tới giúp họ cởi thừng cho Từ Lão Bát. Lão Bát thở gấp một cái, vừa mới hoàn hồn, vừa khóc vừa nói:
- Tôi hoàn toàn không phải giả vờ ngu ngốc, quả thực tôi không có tiền. Dù cho các ông có giết chết tôi thì cũng thế, nếu các ông có cách nào thì cứ bảo tôi, dù phải gieo mình xuống sông hay lao người vào đống lửa tôi cũng làm.
- Ngươi đã nói thế, - Sử Đan nói, - ta cũng không thể nào từ bi bác ái được, ta sẽ cùng ngươi nghĩ cách. Chờ thầy về, người nói là người có mất tấm lụa, để tại cửa hàng lụa Vĩnh Thuận Hòa ngoài phố. Ta sẽ nói thêm cho ngươi mấy câu thì nhất định thầy sẽ cùng ngươi đi lấy. Tới đó ngươi đừng nói khác đi. Cho dù thầy có đánh chửi, ngươi cũng đừng nản chí, việc ấy cũng là giả thôi. Ấy là ta chỉ ra con đường sống cho ngươi.
Từ Lão Bát nghe xong, tính toán một hồi rồi theo họ.
Đến chiều hôm sau, Ngô Lương tay không trở về, Cái Tứ nói quả thực Từ Lão Bát không có tiền, chỉ có bốn tấm lụa, gửi lại hàng lụa Vĩnh Thuận Hòa, có thể lấy được. Họ nhìn nhau, hiểu ra ngay, và cũng không nói gì thêm.
Ngày hôm sau Ngô Lương dẫn Chử Trung đi thú tội. Khi quan tới công đường, Chử Trung bước lên nói rành rọt theo đúng như Ngô Lương đã dạy. Quan huyện nghe thấy có nhà oa trữ, đang định cử người đi bắt, thì Ngô Lương quỳ xuống nói:
- Con đi điều tra vụ án, nhiều lần nghe người ta nói nhà họ Chu có một nơi oa trữ. Nhưng dò hỏi không ra. Nay Chử Trung đã nói rõ ràng, xin mong ngài nhanh chóng cử sai nha mang lệnh bắt, nếu không e rằng biết được tin chúng sẽ tẩu tán mất. Nghe xong quan huyện gật gật đầu, lập tức cử bốn thân binh và bốn sai nha theo bổ sảnh đi phát hiện tang vật, bắt người. Chử Trung bị áp giải tới nơi oa trữ, nói sẽ thẩm vấn tiếp ở nơi cách thành không xa, bổ khoái dậy rất sớm, dẫn thân binh và sai nha đi cùng với Chử Trung, Ngô Lương tới trang trại nhà họ Chu, gặp địa bảo (lính bảo an địa phương), tới thẳng cửa hiệu nhà họ Chu, quát thét xông vào.

Bọn người vào nhà thấy gì lấy đó, Chu Tử Ngọc thấy ồn ào chạy ra, Ngô Lương trông thấy tóm ngay, bảo bổ khoái khóa tay lại. Sau đó tới nóc khám tại nhà thờ Quan âm khám xét, quả nhiên thấy một túi, trong đó có gói quần áo và năm mươi đồng bạc thật. Nhà cửa, phương hướng trong cửa hàng đúng như Chử Trung nói. Họ vẽ ngay một bản sơ đồ. Bổ sảnh muốn đuổi những người làm thuê ra khỏi nhà, rồi niêm phong. Sau đó rất may có một giám sinh ra, nói là cửa hàng này có phần của ông ta, thế rồi không phải niêm phong nữa, chỉ niêm phong phòng ở. Vợ của Chu Tử Ngọc cũng bị khóa tay giải vào thành. Chỉ có đứa con chín tuổi, bỏ đi cũng chẳng ai hỏi tới, còn có một người chú họ xa cùng đi với gia đình Chu Tử Ngọc. Lần rắc rối này, không chỉ những đồ trang sức quý hiếm của Chu Tử Ngọc không còn mà ngay cả những quần nâu áo vải, tất cả đều không cánh mà bay. Ngay cả hai con lợn và mười con gà cũng mất. Chu Tử Ngọc khóc lóc, chẳng biết mình phạm tội gì, đành phải chịu xích tay theo mọi người vào thành.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Sun Apr 13, 2014 1:42 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 21 (C)
Tới thành, bổ sảnh gặp quan huyện, cho sai nha nghỉ. Quan huyện định thẩm vấn ngay, song người lập bản án bước tới nói là, chờ gọi chủ mất đến nhận tang vật rồi sẽ thẩm vấn. Quan huyện vốn là người rất lười nhác, nghe thấy nói thế gật ngay. Nhân viên lập bản án trở ra, gọi Ngô Lương nói:
- Việc này do ngươi chịu trách nhiệm chính, ta nghe nói vốn liếng Chu Tử Ngọc cũng kha khá. Ngươi là người hiểu, đừng chỉ có biết mình thôi nhé.
- Vâng, vâng, - Ngô Lương vội đáp, - ông đã dạy thế, đương nhiên chúng tôi sẽ hết sức cố gắng. Ngay như ông không dạy bảo chúng tôi cũng không dám cả gan như thế. Ông hãy yên tâm.
- Khá, khá lắm, - ngươi lập bản án nói, - ngươi đi nhé!
Thế rồi quan huyện sai người gửi giấy báo cho người mất của đến nhận tang vật. Ngô Lương dựa Chu Tử Ngọc vào phòng giam riêng. Vợ Chu Tử Ngọc thì cho bà môi giới dẫn di coi giữ.
Chu Tử Ngọc tới phòng giam riêng, ngồi một lát thì Ngô Lương giả vờ ân cần nói mấy câu bâng quơ. Sau đó Chu Tử Ngọc hỏi mình phạm tội gì. Ngô Lương nói:
- Tôi cũng không biết. Nếu ngươi muốn biết thì tôi sẽ đi nghe ngóng xem sao. Có điều việc này không có tiền thì không xong. Việc quan chắc ngươi cũng hiểu rõ, không thể nói bằng nước bọt.
Chu Tử Ngọc biết được Ngô Lương muốn đòi tiền, vì khi tới đây Tử Ngọc đã nhờ người cậu là Tôn Hữu Đức lo liệu việc này, sao không biết bao giờ mới đến, bỗng chốc lo lắng, cởi chiếc áo khoác đang mặc đưa cho Ngô Lương, nhờ Ngô Lương dò xem mình đã phạm tội gì. Ngô Lương xem qua chiếc áo thấy tuy mới song không mấy giá trị, bực bội nói:
- Ngươi mắc tội này lẽ nào không nhờ người đút lót chút ít chỉ dựa vào phép thần thông của chiếc áo này sao?
Chu Tử Ngọc vội cười lấy lòng, nói:
- Ông đừng nghĩ ngợi gì, ta đã nhờ người rồi, có lẽ tối nay mới tới. Song tôi muốn biết ngay tôi đã phạm tội gì, đây mới là chút tình xin ông nhận cho, tôi sẽ đưa thêm. Ông không chịu nhận, thì khi cậu tôi tới cũng sẽ xin gặp ông, cái áo cũng chẳng đáng gì.
- Việc này ta không biết. - Ngô Lương nói. - Chờ người thân ngươi đến, lúc đó sẽ nghĩ cách.
Ngô Lương biết rằng nhất định Chu Tử Ngọc sẽ có người đến đút lót, nên cũng không gây khó dễ nữa, rồi đúng dậy ra ngoài, thấy một người ăn mặc tươm tất, tay xách một liễn cơm, bên trên còn có hai bát thứ ăn, đang định đi vào. Thấy Ngô Lương, người ấy vội chạy ào tới.
Thuận tay Ngô Lương tát người ấy một cái, người ấy kêu ối lên một tiếng, tiếp đó Ngô Lương quát:
- Mày làm gì thế?
- Chu tiên sinh ở đây. - Người ấy đáp. - Tôi đến đưa cơm.
- Chu Tử Ngọc ăn cắp, mắc trọng tội, - Ngô Lương cười lạnh nhạt nói, - đây là nơi nghiêm cấm, các ngươi cứ xông bừa vào được ư? Hãy cút mau.
- Từ sáng sớm đến giờ Chu tiên sinh chưa ăn, - người ấy van nài, - xin ông rón tay làm phúc.
- Đồ mù, - Ngô Lương nói, - có cút ngay đi không, còn lải nhải ta trói lại, bảo quan đánh què chân.
Thấy thế người ấy sợ quá, né sang một bên, vẫn cứ đứng đấy. Ngô Lương nổi giận đá cho người ấy một cái, cơm nước văng vãi tung tóe, lũ chó thấy thế chạy tới ăn hết sạch. Người ấy đứng nhìn, tức giận mà không dám hé răng, không sao được, đành ngượng ngùng bỏ đi.
Ngô Lương định quay trở lại bàn bạc gì đó với những người đồng nghiệp, thì đã thấy một người hầu bàn ở quán trà Phi Vân Các đến tìm gọi:
- Ông Ngô, có người mời ông, ông Chu, ông Ngưu và ông Mã tới.
Ngô Lương biết ngay là người thân của Chu Tử Ngọc tới, vội đáp:
- Ta đến ngay đây.
Thế rồi cùng người bồi bàn đến quán trà.
Vừa bước vào cửa, những người cùng làm việc với Ngô Lương trông thấy, tới chào, lại thấy một người tầm thước mặt mũi sáng sủa, mặc chiếc áo dài màu lam, đứng lên mời ngồi, người ấy tự tay rót trà, đặt trước mặt Ngô Lương. Ngô Lương hỏi bạn bè rằng:
- Vị này tên là gì?
- Đây là Tôn Hữu Đức, - những người bạn nói, - là thân thích của Chu Tử Ngọc.
- Tôi đã ngưỡng mộ ông từ lâu. - Ngô Lương nói.
Đầu tiên nói mấy câu xã giao, rồi chuyển ngay sang việc chính hỏi dò xem cuối cùng Chu Tử Ngọc đã phạm tội gì, Ngô Lương bèn nói với Tôn Hữu Đức, là phải chờ khổ chủ đến mới xét xử.
- Vụ án này quả thực là oan uổng quá. - Tôn Hữu Đức nói.
- Điều ấy thì chúng tôi không biết, đợi khi nào xét xử, quan thẩm vấn mới rõ trắng đen.
Tôn Hữu Đức vội cười lấy lòng nói:
- Tôi chẳng có liên can gì, vì nhà ấy không có người, tôi mới thay ông ấy lo liệu tiền phí tổn cho sai nha. Vốn là việc sét đánh ngang tai, không biết rồi sẽ như thế nào, nghe các ông nói mới biết qua loa như thế. Thôi thì chẳng biết có oan hay không, song các ông vất vả nhọc nhằn, ngày mai lại xét xử thì sự phí tổn ấy không thể thiếu được. Tôi là người nông thôn, không biết việc, nhà em rể tôi cũng chẳng giàu có gì. Xin các ông nới lòng cho một chút, đây không coi là vận may của em rể tôi, mà đây là sự chiếu cố của các ông đối với tôi, tôi vô cùng biết ơn các ông, bây giờ nhận trước một số, sau này tôi sẽ lo liệu thêm.
- Việc này không phải chỉ một chỗ. - Ngô Lương nói. - Một là hai vị lập bản án, hiện mồm đang há to như mồm sư tử ông nói thế, tôi là người rất am hiểu sự đời, chúng tôi cũng không muốn anh phải chạy, đường xa, đi vòng vèo ngoắt ngoéo, tôi cũng nói thẳng một câu xin ông chỉ bảo, các ông giữ tiền hay giữ người. Lẽ nào người thân của ông không đáng bảy tám ngàn đồng ư!
Tôn Hữu Đức nghe xong trợn tròn mắt, lát sau mới nói:
- Ông nói sao?
- Nếu giữ tiền ư, - Ngô Lương nói, - thì tôi khuyên ông không cần phải hỏi tin tức nữa, hãy về cho sớm để lo liệu việc nhà. Còn nếu giữ người thì lẽ nào vị người thân của ông không đáng giá bảy tám ngàn đồng! Vì hai ông lớn đã nói với tôi rồi, ông ấy nói tình hình rất nghiêm trọng, nếu ông chịu bỏ ra tám ngàn đồng thì tôi đảm bảo với ông chẳng việc gì, mà yên ổn trở về. Tôi đã nói giúp cho ông là Chu Tử Ngọc người nông thôn, lấy đâu ra nhiều tiền như thế. Hai ông lớn nói là ông đã biết rõ nhà họ Chu có nhà cửa, có ruộng vườn, có cửa hàng cửa hiệu, chứ đâu phải là kẻ khố rách áo ôm. Về sau tôi nói mãi ông ấy mới chịu nhân nhượng lấy một ngàn, không thể thiếu một đồng. Tôi lại van nài một hồi, hai ông lớn nổi giận, chửi tôi như tát nước vào mặt, tôi không dám nói nữa. Ngoài ra tất cả các loại tiền phí tổn cũng phải tới một ngàn, ông cũng phải biết rằng người các ban của ta đông, đi biền biệt suốt ngày, đến hột cơm cũng chẳng kịp vào miệng, lẽ nào việc này không bồi dưỡng họ mấy đồng! Hơn nữa phận sự của mỗi người đều có hạn, tôi cũng rất muốn nói giúp cho ông, nhưng rất tiếc là tôi làm không nổi, bởi thế tôi mới nói với ông là giữ tiền hay giữ người. Còn như người của chúng tôi thì cũng có hạn thôi, móc ra mấy đồng thưởng cho họ cũng xong. Tôi cũng là người lân la bên ngoài, lẽ nào tôi không biết số tiền ấy quả là không ít!
Tôn Hữu Đức nghe xong im lặng không nói, cầm lấy điếu rít sòng sọc một hơi dài. Ngừng một lát mới nói:
- Khoản tiền ấy xin nhờ ông giúp đỡ, tôi vô cùng biết ơn ông. - Rồi vừa quỳ xuống vừa nói. - Quả thực em rể tôi không lo nổi.
Ngô Lương vội kéo Tôn Hữu Đức dậy nói:
- Coi như ông hết lòng với em rể. Tôi khuyên ông đừng hỏi nữa.
- Nói thế sao được! Tôi là người lo lắng việc này, xin mong các ông giúp đỡ cho.
- Tôi không làm được, không làm được đâu. - Ngô Lương lắc đầu nói.
Tôn Hữu Đức ngừng một lát nói:
- Đúng ra thì người làm ra của, chứ của không làm ra người, còn người thì còn của. Chúng tôi cần người, còn tiền thì không quan trọng. Song tài sản của chú ấy, tôi biết chứ, lấy đâu ra nhiều như thế!?
- Tôi xem ra ông là người rất từng trải, - Ngô Lương nói, nên tôi không hề nói dối ông một câu nào. Ông lo được thì lo không lo được thì thôi. Theo tôi, ông thôi không hỏi nữa là tốt nhất, chẳng phải lo nghĩ cho ông ta làm gì cho mệt xác, mặc cho ông ta sau này oán trách.
- Oán trách cũng chẳng được. - Tôn Hữu Đức nói. - Tôi được chú ấy dặn trực tiếp thì làm sao bỏ mặc chú ấy được.
Nói xong Hữu Đức vò đầu bức tai không tìm ra cách nào khác. Địa bảo bèn tới nói chêm vào.
- Chúng tôi tới từ sáng sớm, bây giờ đã trưa rồi, chúng ta cũng phải cho cái dạ dày nó ăn thôi.
- Xem ra đều quấy rầy ông anh Tôn Hữu Đức. - Ngô Lương nói. - Thôi thì chúng ta ăn cơm, rồi sẽ nói dần dần.
Nói xong Ngô Lương bèn đứng dậy. Tôn Hữu Đúc phải trả tiền trà, đi theo họ tới quán ăn gần bờ sông, gọi bốn cân rượu, thịt gà, thịt lợn, thịt vịt và cá bày la liệt đầy bàn. Mọi người thả sức ăn cơm no rượu say. Có mấy người đòi đến tiệm thuốc phiện hút, Tôn Hữu Đức đành phải đi theo. Về vụ này, Ngô Lương cứ lúc nắn lúc buông, làm cho Tôn Hữu Đức cuống lên, mồ hôi đầu vã ra, nhỏ tong tong, suýt nữa phát khóc lên. Những người ngồi bên chau mày nheo mắt nhếch mồm làm trò cười.
Lúc ấy Ngô Lương mới kéo Tôn Hữu Đức đến một chiếc bàn khác nói:
- Tôi nói thực với ông nhé, rốt cục ông lo được bao nhiêu?
- Khi tôi đi đã biết rõ, ít thì không thể xong được, chỉ chuẩn bị bảy tám trăm quan, nay thì còn thiếu quá nhiều.
- Thế này vậy, - Ngô Lương nói, - ông cứ chi ra ba ngàn đồng tôi sẽ cố gắng lo cho.
Tôn Hữu Đức thấy Ngô Lương nhượng bộ khá nhiều, thấy đã có chút hy vọng. Nghĩ ngợi một lát rồi nói rõ là hai ngàn bốn trăm, trong đó một ngàn đưa cho hai ông lớn, năm trăm tiền án phí, năm trăm tiền bồi dưỡng mọi người vất vả, trừ đi hai trăm tiền cơm rượu, hai trăm cho những người hầu hạ quét tước và tiền vui vẻ cho những người áp giải.
Nói thế nhưng Tôn Hữu Đức không có tiền mặt, chỉ có hai tờ văn khế, song không có khách mua, không bán được. Lúc ấy có một người lao công nói là nhà Trịnh Hương Thân trên phố cần mua ruộng, Tôn Hữu Đức nhờ người ấy dẫn đi, rồi cho ít tiền, quả nhiên Tôn Hữu Đức tới đó ba mặt một lời thỏa thuận bán hai ngàn sáu trăm, trả trước một nửa, còn lại xem ruộng sẽ giao nốt. Tôn Hữu Đức dùng nửa số tiền ấy chi được khá nhiều việc, số còn lại làm giấy cam đoan trả đúng hạn. Ngô Lương gọi Tôn Hữu Đức cùng tới chỗ Chu Tử Ngọc để ông kí vào.
Chu Tử Ngọc bị đói mất hai ngày một đêm. Hai bên bàn ngã ngũ mới được đưa cơm vào cho Chu Tử Ngọc, lúc ấy Chu Tử Ngọc mới biết qua về sự việc mới xảy ra. Tử Ngọc vừa tức vừa oán giận, lại vừa tiếc tiền và cũng không biết vợ mình đã bị làm tình làm tội như thế nào rồi. Song rất may là bà mối là chị em nuôi của Tôn Hữu Đức. Hơn nữa bà ta lại biết Chu Tử Ngọc là nhà có tiền, thế nào cũng đến dàn xếp. Còn vợ Chu Tử Ngọc đã cao tuổi chẳng trẻ đẹp gì, bởi thế cũng không bị làm tình làm tội. Về sau Tôn Hữu Đức cũng đưa cho bà mối một trăm đồng.
Mọi việc xong xuôi, thì cũng đã báo tin cho người mất biết. Ngô Lương tới nói với Chử Trung:
- Ngày mai xét hỏi, nếu như mình mất của không nhận tang vật, quan hỏi ngươi , đánh ngươi thì ngươi phải linh hoạt một chút, rằng vì sợ tra tấn mà khai bừa, con không biết Chu Tử Ngọc, mà là do bạn con nói với con, nhà cửa như thế nào, có những ai, đằng sau có nhà thờ Quan âm, trong nhà thờ có cỗ khám đặt tượng Quan âm, vì bạn lấy trộm đồ không có chỗ bèn để vào đó. Nhà nó còn có chút gạo ăn, mấy bộ quần áo vải không đáng giá, cho nên không lấy. Còn như mấy đồng bạc thật, và một ít quần áo có phải là vụ án này không thì con không rõ. Số bạc ấy của khổ chủ, quả thực con không lấy. Còn như bạn như thế nào, quả tình con không biết. Khai xong cứ một mực xin tha. Xem ra thì ngươi cũng chỉ bị đánh hai ba trăm tay thước thôi. Ngươi phải nghiến răng mà chịu, thì mới tốt được.
Chử Trung nhất mục nghe theo, song thực ra cũng không dám trái lời. Quả nhiên quan xét hỏi không xảy ra to chuyện. Chử Trung chỉ bị đánh năm trăm tay thước rồi trả về cho người áp giải. Chu Tử Ngọc vô tội được tha. Chử Trung tuy bị đánh năm trăm tay thước, song có Ngô Lương phối hợp, cho nên cũng chỉ vài ba chục gậy vào người. Chu Tử Ngọc tuy được minh oan, song gia tài khánh kiệt, chỉ còn lại mấy gian nhà ở, cửa hàng không thể duy trì được, hàng quán ở nông thôn không đủ nộp thuế, đành phải để cho bảo an địa phương bán đi. Bảo an địa phương lại muốn cả nhà ở nữa, cho nên không cho Chu Tử Ngọc đi qua cửa trước. Không còn cách nào khác Tử Ngọc bèn trổ cửa sau đi lại, sống rất khổ sở vất vả.
Ngô Lương kiếm được món tiền lớn rất mừng, mấy hôm sau lại dẫn Từ Lão Bát tới trước cửa hàng của Vĩnh Thuận Hòa, quát:
- Chủ hiệu có nhận ra người này không?
Người quản lí cửa hàng bước ra, thấy Ngu Lương là một bổ khoái, chợt giật mình, vội hỏi:
- Có việc gì đấy ông Ngô?
- Có nhận ra người này không? - Ngô Lương chỉ vào Từ Lão Bát nói.
Người quản lí nhìn Từ Lão Bát nói:
- Tôi chưa từng quen biết.
- Ông là kẻ vô lương tâm. - Từ Lão Bát quát mắng. - Quen hay không quen, ta không thèm nói. Ta gửi ngươi mười hai tấm lụa, ngươi cần thì trả ta hai trăm đồng, ngươi không cần thì trả lại vải, ta đang cần tiền tiêu.
- Sao người lại nói thế - Người quản lí nói. - Ta có quen biết gì ngươi đâu! Ngươi gởi ta mười hai tấm lụa bao giờ? Đưa cho ai?
- Buổi chiều ngày cuối tháng, chính tay ta giao cho ngươi, ngươi bảo mấy hôm nữa đến lấy tiền, vì ta bị bắt, không tới lấy được, ngươi định nuốt không của ta ư! Thật là đồ mặt dày tim đen. Ngươi không thương ta, còn ức hiếp ta, thật chẳng còn đạo lí gì cả.
Người quản lí điên tiết, quát mấy người làm công ra đối chất. Từ Lão Bát nói:
- Họ đều là người làm công của ngươi, ai mà chẳng bênh ngươi.
- Các người phải nhớ cho kĩ. - Ngô Lương nói chen vào, rồi lại chỉ vào Từ Lão Bát nói. - Ngươi không nhận sai cửa hàng này chứ! - Rồi lại quay sang nói với người quản lí. - ông chủ đừng nói những điều hồ đồ nữa.
- Thật là nực cười, - người quản lí nói. - Quả là vô căn cứ.
- Đúng chứ chẳng sai chút nào, ông ta nhẫn tâm ăn hiếp tôi - Từ Lão Bát nói.
- Ông chủ - Ngô Lương nói, - công bằng mà nói, tôi là người bênh ông. Nếu có việc ấy thì phải trả lụa cho người ta, không thì phải trả tiền. Anh ta hiện là phạm nhân, các khoản chi tiêu không phải ít, cuống lên đã khai trước công đường. Ông chủ ạ! Không phải tôi nói bừa đâu, dù ông có lắm mồm đến mấy cũng chẳng thanh minh nổi.
Người quản lí thấy thế mới vỡ lẽ ra đôi chút, biết rằng muốn cho xong chuyện bèn mời Ngô Lương vào nhà trong, và để Từ Lão Bát ngồi ở một chiếc ghế băng gần cửa.
Ngô Lương vào nhà trong, người quản lý rót trà mời thuốc, cung kính lễ phép chào mời một hồi, mới nói tới việc chính. Ngô Lương nói:
- Vì là chỗ quen biết tôi không thể không quan tâm. Nếu như vào tay người khác thì sẽ đưa ông tới công đường cáo quan. Dù có trả đi chăng nữa, thì ông cũng phải tốn kém, có điều chỉ khổ những người làm việc quan như chúng tôi, ông nên thể tất nhân tình một chút.
Người quản lí vội vàng cảm ơn, rồi nói: - Tôi chẳng hiểu việc này thế nào.
- Xem ra, - Ngô Lương nói, - thực ra chẳng có chuyện gì.
Người quản lí chỉ trời vạch đất, thề bồi để thanh minh. Ngô Lương lim dim mắt ngồi thừ ra một lúc rồi nói:
- Tôi hiểu rồi. Đúng là trong trại giam có người đòi tiền hắn, không còn cách nào cũng chẳng biết kẻ nào đã bày mưu cho hắn. Hắn mới giở cái trò này ra. Song lòng dạ hắn đã như thể cũng khó mà phủi tay được, huống hồ hắn đã thù ông, cho nên hắn không tới nhà khác, mà chỉ đến quý hiệu của ông. Tục ngữ có câu, cơm không lành canh chẳng đặng, không phải là tôi bênh hắn, xem ra ông cũng phải tốn phí ít nhiều, chỉ rón tay làm phúc cho hắn một tí là xong.
- Nó há cái miệng Sư tử to như thế, - người quản lí nói, thì làm sao mà chiều được nó. Ông đã nói thế thì tôi xin tuân theo, nhưng nên cho nó bao nhiêu, mong ông định cho.
- Tùy ông, tôi làm sao mà định thay cho hắn được. - Ngô Lương nói. - Tôi thấy ông là người yên phận, ông đã nói thế thì tôi cũng mạnh dạn thử định xem sao, ông theo đó mà làm. Việc này ít cũng sợ không xong, mà nhiều cũng không được, thôi thì cho nó một phần tư vậy.
- Nó nói giá hai trăm đồng, vậy thì mất cho hắn năm mươi đồng cơ à! Đúng là tay bay vạ gió.
- Ông đừng nói thế. Người xưa nói, trộm đã cắn thì thối đến xương. Nếu như ông bỏ ra số tiền ấy, nó không nghe, e rằng tới cửa quan cứ khai bừa, như thế chẳng phải càng hổ thẹn ư?
- Đã thế thì tôi cũng không dám trái lời ông. - Người quản lí nói. - Nhưng mà cái tin này loang ra, thì rõ ràng mình ngay thẳng mà bị nghi ngờ. Vả lại sau này các ông bắt được người, lại đến chiếu cố tới hiệu chúng tôi, thì cái hiệu này liệu có mở được không?
- Điều ấy thì ông cứ an tâm, - Ngô Lương nói, - đã có tôi.
Như thế thì hôm nay ông cứ giao số tiền ấy cho tôi, khi về tôi sẽ giao cho hắn, giao tiền trước mặt mọi người cho nó sẽ khiến người ta sinh nghi: Tôi trở ra chỉ chửi hắn một trận, lôi hắn đi, người ngoài sẽ không ai biết đến. Sau này ông cứ an tâm mà mở cửa hàng, phàm có việc gì đã có tôi lo, tôi không hề nói sai chút nào. Không phải tôi nói khoác, đồng sự của tôi đều kính nể tôi, lẽ nào những bạn bè tôi lại không chịu xuê xòa cho ông!
- Thế thì tốt quá! - Ngươi quản lí nói. - Trăm sự nhờ ông.
Nói rồi người quản lí gọi người đưa cho năm mươi đồng, đếm giao cho Ngô Lương.
Ngô Lương gói vào khăn, song vẫn đứng đấy vẻ ngập ngùng không nói ra được. Một lát sau mới nói:
- Người thân của tôi ở huyện Hu Di sắp cưới vợ cho con, tháng trước gửi thư về bảo tôi mua giúp bốn chiếc áo dài, sáu tấm nhiễu Hồ màu hồng, sáu tấm nhiễu Hồ màu lục, tối qua lại sai người đưa tiền đến. Thấy rằng vải vóc ở đây cũng sẵn, tôi định tới quý hiệu mua một thể, rồi giao luôn cho người ấy mang về. Hôm nay lại rất bận, vậy thì chiều mai xin ông cho một người giúp việc mang mấy loại hàng tốt nhất đưa đến nhà nghỉ Nghĩa Hưng trên phố. Tôi chờ ở đấy. Cùng với người họ Kỷ của ông ấy, xem vải xong sẽ tiền trao cháo múc, nhưng mà giá cũng phải chăng một chút đấy!
Người quản lí nghe thấy ngoài ông ta ra còn có người xem hàng, tiền hàng trao tay, bèn sơ ý, vội vàng nhận lời ngay. Ngô Lương lại dặn đi dặn lại đừng làm lỡ hẹn, rồi mới đứng dậy, nhét tiền vào tay áo, bước ra cửa, lôi chiếc xích tay của Từ Lão Bát nói:
- Đi! Đi!
- Tiền đâu? - Từ Lão Bát hỏi.
- Mày là thằng mù, - Ngô Lương chửi, - ta đã kiểm tra sổ xuất nhập hoàn toàn không có việc này. Mày định lừa người ta ư? Chúng mày là bọn trộm cướp vô lương tâm.
- Sao ông lại bênh người ta? - Từ Lão Bát nói.
Ngô Lương giận dữ xấn tới vả vào mặt Từ Lão Bát, chửi:
- Lẽ nào ta lại bênh thằng nói dối.
Vừa nói vừa quay vào nói với người trong quầy hàng ngày mai gặp nhau, rồi lôi Từ Lão Bát đi. Người quản lí thấy việc đã xong, như cất được hòn đá đè lên người.
Tối hôm sau, sai người mang số hàng tới khách sạn Nghĩa Hưng, quả nhiên Ngô Lương đang ở đó. Khi đã chọn xong hàng, bảo người giúp việc mở tờ hóa đơn ra ghi. Ngô Lương cùng với mấy người ấy xem qua hàng, rồi nói với người làm công.
- Tối nay khi lên đèn tới đây lấy tiền, nếu không thì đến nhà tôi mà lấy.
Người làm công gói số hàng còn lại đưa về hiệu, rồi trở lại khách sạn Nghĩa Hưng lấy tiền, song người ấy đã đi rồi. Người quản lí cửa hàng khách sạn nói:
- Chẳng phải ông Ngô Lương đã dặn đến nhà ông ấy ư?
Người làm công đến nhà Ngô Lương, song Ngô Lương không ở nhà. Người nhà nói là không biết. Người làm công kể sơ qua, rồi hẹn ngày mai tới lấy.
Chiều hôm sau, lại tới nhà Ngô Lương, chỉ thấy Ngô Lương trong nhà chửi:
- Sao nó không mở mắt ra, sự việc hôm ấy nếu không có ta thì bây giờ vải vóc trong cửa hàng ấy đã sang tay người khác rồi. Nó bảo ta ăn của nó ư! Đồ bố láo! Nếu bọn làm công của nó tới thì chúng mày bảo với nó rằng, chút vải ấy là công lao của tao. Nếu nó đòi tiền, thì bảo nó lên quan mà đòi. Nếu nó còn lắm lời, chúng mày cứ cho nó vài cái tát.
Người làm công nghe thấy hết, vội vã lui ra, chuồn thẳng về cửa hiệu, nói hết với người quản lý. Người quản lí tức điên đầu nhưng cũng chẳng làm sao được, sợ Ngô Lương moi lại chuyện hôm trước, đành ấm ức một mình, coi như chẳng có việc gì xẩy ra. Chỉ mới quấy có thế thôi mà cửa hàng này mất không hơn bốn trăm đồng, đó chính là vô vàn những bằng cứ mà bọn bổ khoái gieo vạ vu cáo người lương thiện.

Cũng chẳng phải thấy rằng, nếu Tôn Hữu Đức không thay mặt Chu Tử Ngọc chỉ ra một món tiền lớn, hôm sau Chử Trung cứ khăng khăng nói thế, thì Chu Tử Ngọc cũng chịu thiệt to. Còn như việc khổ chủ nhận tang vật chẳng hề quan trọng gì cho lắm. Nếu như khổ chủ thấy không phải, thì bổ khoái sẽ đến xin họ, bảo họ cứ tạm thời nhận lấy, rồi có thể truy tìm kẻ khác. Hoặc là nói, nếu người không nhận án này thì về sau không có hi vọng phá án nữa. Nếu không thì dùng khổ nhục kế, nói là quan chẳng khác gì lang sói, chẳng ai xơi được đâu, xin họ cứ tạm thời nhận đi để mọi người xả hơi. Người khổ chủ ấy mềm lòng nghe theo lời họ, thì tội của Chu Tử Ngọc to như trái núi. Còn như vụ Vĩnh Thuận Hòa, vẫn là biện pháp mềm dẻo của Ngô Lương. Nếu như người quản lí không hiểu thời thế thì lại có mưu kế mới. Tóm lại dọa nạt, lừa gạt là bí quyết của chúng, càng là kẻ già đời chúng làm càng gọn ghẽ. Phàm là sai nha, bổ khoái trong thiên hạ đều như thế cả, hoàn toàn không phải chỉ có ở huyện Thiên Trường, An Huy.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Sun Apr 13, 2014 4:39 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 22
Dạo Công Viên Cò Cưa Kháng Cáo, Tất Cả Đều Vô Ích 
Trở Về Theo Gia Tô Giáo, Tiếp Tục Kiện Lên Quan
Ở Dương Bối Đầu thành Nhân Hòa, phủ Hàng Châu, Chiết Giang, có một tú tài rất uyên thâm tên là Ngụy Hoán hiệu Hữu Văn, trạc hơn hai mươi tuổi. Chàng vốn là người cực kì thông minh, lại rất chuyên cần, thông kim bác cổ, hạ bút thành thơ. Thấy thời thế ngày càng suy vi, chàng ngày đêm than vãn, song vốn tính thăng trầm, không thổ lộ ra ngoài, thường viết chữ "chao ôi” vào khoảng không trung(1), tỏ ý không thể làm sao cứu vãn được. Có một người bạn học cùng lớp rủ ông đi Đông Dương chơi. Ngụy Hữu Văn nói:
(1) Nguyên văn là "đốt đốt thư không": viết hai chữ “đốt đốt" (chao ôi) lên trời. Ân Hạo đời Đường khi bị bãi chức, suốt ngày dùng tay viết hai chữ vào khoảng không. Có người ngầm theo dõi thấy ông ta chỉ viết bốn chữ "chao ôi lạ quá" (đốt đốt quái sự). Về sau dùng "đốt đốt thư không" để hình dung việc xảy ra quá bất ngờ khiến người ta kinh ngạc. Xem Từ điển điển cố Trung Hoa, NXB Văn hóa - Thông tin, H, 2002.
 
- Đây là việc rất hay. Song tôi sinh trưởng tại Hàng Châu mà chưa ra khỏi nhà. Nếu nay muốn ra nước ngoài, thì trước tiên hãy đi hết hai mươi hai tỉnh trong nước, khảo sát nhân tình phong tục hình thế sông núi các nơi, rồi hãy ra nước ngoài, như thế mới có ích.
Từ khi có ý định ấy chàng không thiết học hành, hơn nữa gia đình lại giàu có, cha mẹ đều qua đời, người vợ mới cưới là Mai thị lại thùy mị hiền thục, rất giỏi thu xếp việc nhà, Hữu Văn rất yên tâm, không phải lo nghĩ gì về nhà cửa, bèn chọn ngày tốt lên đường. Trước hết tới Thượng Hải, từ Thượng Hải đi tàu thủy tới Thiên Tân, từ Thiên Tân tới Bắc Kinh, rồi từ Bắc Kinh tới Hà Nam, Sơn Đông, quay sang Yên Đài, rồi lại từ Yên Đài lên tàu thủy về Thượng Hải theo ca nô tới Hán Khẩu từ Hán Khẩu tới Thiểm Tây. Mặc sức thưởng ngoạn các danh lam thắng cảnh, Hữu Văn lại mang theo mấy cuốn sổ, ghi những điều mắt thấy tai nghe trên suốt dọc đường.
Trước lầu trống thành Thiểm Tây, có khách sạn Tam Nghĩa. Hữu Văn ở đó mười ngày. Phòng Hữu Văn ở có ba gian. Hữu Văn ở gian đầu, gian giữa người giúp việc đi theo đặt một chiếc giường, còn gian bên kia là một người vùng này ở. Ngụy Hữu Văn thường thấy người ấy khóa cửa khi đi khi về. Thấy nét mặt người ấy buồn rầu ủ rũ như có việc gì ghê gớm lắm. Hữu Văn còn trẻ, nên cũng thích những chuyện không đâu, chàng luôn luôn để ý tới hành tung của người này. Tối hôm ấy, thấy có một người ở ngoài vào, mặc áo dài màu lam, khoác một chiếc áo lông, tay xách đèn lồng, trên đó có viết bốn chữ "nhân viên hành chính". Thấy người ấy đứng ngoài gọi:
- Anh Lâm có nhà không ?
Người bên trong thưa rồi bước ra nói:
- Lâu nay không gặp chú, hãy vào đây.
Họ vào phòng, không biết thì thầm với nhau những gì, chỉ nghe thấy người họ Lâm nói:
- Thế nào thế nào!
Những câu sau nói khẽ quá nghe không rõ. Ngừng một lát, lại thấy người vừa đến nói:
- Anh Hai, không sao khác được, chỉ có tám chữ là ba mươi sáu cách trốn là thượng sách.
Song không thấy người họ Lâm nói gì. Một lúc lâu sau, người họ Lâm tiễn người ấy ra về, miệng cảm ơn rối rít. Hữu Văn thấy rất lạ.
Một lát sau thì người họ Lâm về, chỉ nghe thấy phòng bên ấy có tiếng gói buộc đồ đạc loạt soạt. Vốn là ngày mai Hữu Văn lên đường, bèn rụt rè đi tới, đứng ngoài cửa nhìn vào. Người họ Lâm có chiếc rương tre, chiếc lăn và bọc chăn đệm, trông thấy Hữu Văn cũng không lên tiếng. Không nén nổi, Hữu Văn hỏi:
- Ông họ Lâm ư?
Người họ Lâm rất ngạc nhiên, vội đáp lại:
- Vâng ạ!
Hữu Văn lại hỏi tên hiệu của ông ta, ông ta bảo tên là Thiêm Khải. Hữu Văn cũng cho người ấy biết họ tên mình, rồi hỏi người ấy đi đâu. Người họ Lâm nói:
- Tôi tới Đồng Quan.
- May quá, chúng ta đi cùng đường.
Rồi nói rõ lai lịch của mình. Lâm Thiêm Khải bèn vội mời ngồi, nói:
- Ông Hữu thật là người có phúc.
Hai người trò chuyện với nhau rất tâm đắc, rồi hẹn ngày mai dậy sớm cùng đi. Vì đi một mình buồn, nên Lâm Thiêm Khải vui vẻ nhận lời.
Sáng sớm hôm sau, xe họ thuê đã tới, trả tiền khách sạn rồi lên xe. Người xà ích ra roi, xe chạy như bay, phút chốc đã rời khỏi thành. Đi suốt ngày, đến tối nghỉ tại nhà họ Hàn. Cơm nước xong xuôi hai người lại chuyện trò rất tâm đắc. Họ đều tiếc rằng gặp nhau quá muộn. Hữu Văn hỏi Thiêm Khải lần này tới tỉnh làm gì. Lâm Thiêm Khải thở dài nói:
- Nói ra thì dài và cũng thật đau lòng. Tôi là người huyện Bảo An, quê tôi rất khổ. Hai anh em tôi thì tôi là anh cả. Tôi cũng cắp sách tới trường được bốn năm. Chú em kém tôi bốn tuổi, năm nay cũng mười bảy tuổi. Chúng tôi được ông chú nuôi nấng trưởng thành. Chú đối xử với tôi rất tốt. Từ nhỏ, em tôi đã đính hôn với cô gái nhà họ Vệ. Cô ấy rất xinh đẹp, định sang năm thì cưới. Không ngờ chỗ chúng tôi có một ác bá, tên là Tưởng Minh Doãn, vốn là một quan võ, chẳng biết vì sao giàu có. Lão ta chỉ có một đứa con trai tên là Tưởng Diệc Lương, nay đã mười sáu tuổi. Hắn xuống làng thu tô, chẳng biết ai đã nói với hắn, cô gái nhà họ Vệ rất đẹp, hắn bèn nhờ người tới cầu hôn. Nhà họ Vệ nói là đã có nơi có chốn rồi, hắn bảo nhà họ Vệ đến dãn cuộc hôn nhân này. Nhà họ Vệ sợ thế lực của hắn, nhờ người đến nói, bị chú tôi mắng cho một trận. Nhà họ Vệ không còn cách nào, đành trở về nói lại với Tưởng Minh Doãn. Tưởng Minh Doãn tức giận luôn luôn kình địch, song chưa từng giáp mặt với chúng tôi. Lại vì một đằng ở thành, một đằng ở nông thôn, xa xôi cách trở, chứ không có cách gì khác. Chú tôi cũng hết sức đề phòng, không tùy tiện tới thành, sợ rằng vô ý xảy ra việc gì. Nào ngờ lòng dạ Tưởng Minh Doãn rất ác độc, hắn thuê một số người xuống làng bắt thỏ, giẫm nát cả hoa màu của chúng tôi. Chú tôi chạy ra làm ầm cả lên, bọn chúng xông vào đánh chú tôi một trận thừa sống thiếu chết. Tôi đang dạy học ở một thôn cách đó ba dặm, nghe tin trở về thì chúng đã bỏ đi rồi. Chú tôi nằm bất động. Theo bảo an địa phương nói, thì bọn ấy là người nhà họ Tưởng, và họ lại nói, trước khi chúng đi, còn bảo hãy từ bỏ hôn nhân với nhà họ Vệ đi thì sẽ chẳng có việc gì xảy ra nữa, nếu không thì họ nhất định sẽ đánh chết. Tuy tôi về nhà, cũng chẳng biết làm sao, chỉ nhờ người đặt chú tôi nằm trên tấm phản khiêng tới thành kêu oan, xét nghiệm thương tật. Chờ ba ngày, tưởng rằng ngài quan huyện sẽ ra lệnh bắt người. Nào ngờ chẳng thấy động tĩnh gì. Tôi có một người thân thích tại thành, nhờ ông tìm đến người thư biện, hỏi vì sao mà chưa có người đi bắt, lúc ấy mới biết trong đó còn sự ngoắt ngoéo tế nhị. Và người thư biện nói, nếu cho sai nha đi, thì trước hết phải nộp tiền phí tổn, tôi không còn cách nào khác. Huyện Bảo An chúng tôi đều dùng tiền giấy, một lạng bạc có thể đổi được hơn bốn quan tiền.
Họ cứ nhất định đòi lấy bạc. Sau đó người thư biện tới, nói là phải trả tiền phí tổn để làm đơn. Tôi nghĩ, anh em tôi được chú nuôi nấng trưởng thành, sao không hết lòng vì ông. Vì muốn minh oan cho chú nên buộc phải nghe theo họ, quả nhiên bạc vừa trao xong thì sai nha tới ngay: một người là Lam Năng, một người là Khả Quý. Hai người này cầm lệnh, họ lại đòi nào là tiền phí tổn ăn ở dọc đường, nào là khi lên đường phải lễ cầu may mắn... Đận ấy, tiền tôi mang đi hết nhẵn, mai mà vị thân quen ấy rất là hào hiệp, đã bỏ ra hết cho chúng tôi. Trước sau chúng tôi mất tới ba mươi lạng, ấy thế mà sai nha vẫn chưa bước ra khỏi cửa.
- Vụ này khó mà kiện được. - Ngụy Hữu Văn nói.
- Đợi tới ngày thứ hai lên đường, - Lâm Thiêm Khải nói, - tôi chờ họ ngoài quán trà, từ sáng sớm cho mãi tới non trưa, hai người sai nha mới tới. Trà thuốc xong rồi lên đường, đi đã mươi dặm, họ kêu đói không nhấc nổi chân. Tôi bảo không còn xa nữa, tới đó các ông sẽ dùng cơm. Họ bỗng sa sầm mặt lại nói, thế ngươi bắt ta nhịn đói để đi làm việc công ư, xem ra không được. Tôi dành tìm một cửa hàng ăn quen biết đưa họ tới đó ở nông thôn làm gì có thức ăn ngon, họ bảo chủ quán mù, khinh thường họ, rồi chửi chủ quán. Tôi nói mãi họ cũng không nghe. Bắt chủ quán phải đi mua một con gà với hai cân thịt về làm cơm. Họ tới ngay cửa hàng thuốc phiện liền đó, hút chán rồi mới trở lại ăn cơm. Ăn no mới đứng dậy đi. Chủ quán hỏi tiền, lại bị chúng cho vài cái tát và chửi là đồ khốn kiếp, đó là quy tắc đương nhiên, có nghĩa là tôi phải trả. Tôi không một xu dính túi, may mà đó là người quen, nên mới ghi cho tôi nợ tiền cơm tiền thuốc, thế rồi tôi đi theo họ. Đến thị trấn của chúng tôi, họ đòi tôi phải trả họ hai lạng bạc, nói là tiền ở trọ và tiền ăn. Trước đó tôi đã tiêu một món tiền lớn, chả lẽ món tiền vặt này lại không đưa cho họ. Đưa tiền cho họ, rồi vào thăm chú. Tôi bỗng giật mình sợ hãi.
Hữu Văn vội hỏi vì sao, Lâm Thiêm Khải lau nước mắt thở dài nói:
- Không ngờ chú tôi mê mệt bất tỉnh nhân sự. Tôi cuống lên, suốt ngày hôm ấy chẳng thấy tăm hơi họ đâu cả. Mãi đến ngày thư ba, gặp Lam Năng thì anh ta nói là Tưởng Minh Doãn đã sai một người tá điền tên là Thi Tứ Đức vào thành đưa đơn kiện chú tôi. Rồi anh hỏi tôi đến đâu nhờ người giúp đỡ. Tôi sợ họ gây rắc rối, bèn nói tôi định vào thành mua thuốc nên mới đi trước, Lam Năng không nói gì. Sáng sớm hôm sau, tôi vội vã vào thành, mang theo mấy bộ quần áo đi bán để chi tiêu trả tiền người thân, và thanh toán tiền cơm, thuốc hôm trước. Khi tới thành, lại không gặp họ, chờ suốt ba ngày tôi cuống lên, lòng dạ rối bời. Đến chiều ngày thứ tư mới thấy họ tới. Tưởng rằng sẽ xét xử, nào ngờ sau đó lại đi dạo công viên.
- Ai mời anh đi dạo công viên - Ngụy Hữu Văn hỏi.
- Làm gì có người mời tôi đi chơi công viên! - Lâm Thiêm Khải nói. - Đó là tiếng lóng của sai nha. Vụ án đã đủ điều kiện mà không xét hỏi, những người này rỗi việc đi quanh quẩn thì gọi là "dạo công viên". Cứ thế tới nửa tháng tôi không dám về nhà, lại không thể cứ ở đó mãi được. Lúc nào lòng dạ tôi cũng lo lắng về chú. Tâm trí tôi rối bời, mới nảy ra một ý, tôi đi tìm người thầy dạy tôi. Lúc đầu thầy nói là thầy không giúp được, sau đó tôi biếu thầy một thùng gạo, thầy mới nhận lời gặp quan huyện. Chờ khi thầy trở về mới biết ngài quan huyện đã già, việc buổi sáng thì chiều đã quên, việc hôm qua thì hôm nay càng khó mà đưa ra giải quyết. Việc này là việc tháng trước ngài đã để nó bay lên chín tầng mây rồi. Thấy thầy nhắc rồi ngài mới lệnh cho người lập bản án đi hỏi cho rõ ràng, rồi lập tức bảo sáng sớm ngày mai xét xử.
- Thầy lại nói với người lập bản án giúp tôi. Quả nhiên, sau bữa cơm chiều ngày hôm sau, ngài quan huyện mở phiên tòa xét xử. Thoạt tiên ngài hỏi tôi mấy câu, tôi cũng không hiểu là ngài hỏi gì. Lại thấy ngài hỏi người tá điền nhà họ Tưởng, người tá điền theo lệnh chủ cứ vu cáo bừa. Hai bên cãi vã nhau một hồi, quan chán ngán cho về, mai lại xét xử tiếp. Đến hôm sau, cũng không xét hỏi, tôi đi dò hỏi tại sao lại như thế thì có người gọi là "cò cưa", đó cũng là tiếng lóng của sai nha, có nghĩa là xử mà không kết án. Việc này kéo dài tới hai tháng. Chú tôi đã chết rồi, tính ra vẫn còn trong thời hạn xét xử. Tôi đành đệ đơn lên đốc thúc, song quan vẫn cứ ì ra không giải quyết. Tôi lại đệ lá đơn thứ hai thúc giục thì bị quan chửi là kẻ điêu oa. Ông tính, nhà tôi người thì chết, tiền thì mất, không những không được quan minh oan mà còn cho là kẻ điêu oa, thì ông bảo có tức không cơ chứ! Tôi lo đưa đám cho chú xong, rồi đành mang tiền lên phủ kháng cáo. Đây cũng là việc bất đắc dĩ, do họ bức phải làm mà thôi. Nào ngờ đưa tờ trình lên chờ rất nhiều ngày quan phủ chỉ phê là "mong huyện ấy tập hợp nhân chứng hai bên rồi kết án ngay, người học trò phải về ngay huyện để dự phiên tòa xét hỏi". Tôi cho rằng lần này thì quan huyện phải giải quyết gấp, về ngay huyện để dự xét xử.
Thật là nực cười, quan huyện lại chơi một trò kì lạ, nói là nhân chứng chưa đủ, lại cử sai nha tới bắt nhà họ Vệ, và một đống người chẳng có liên quan gì. Quan huyện không sao kết án được. Lại nghe thấy Tưởng Minh Doãn cũng dấn vào vụ án này rất nhiều tiền, quan huyện không muốn truy cứu đến cùng, muốn đưa người ta vào chỗ lùng nhùng, đương nhiên không kết thúc mà hóa ra kết thúc. Xem ra chẳng còn cách nào khác. tôi nghĩ đến lòng tốt của chú đối với chúng tôi nên rất thương xót ông. Nghĩ đến cái chết của chú tôi, chúng tôi vô cùng phẫn uất lại nghĩ tới thế lực nhà họ Tưởng, và sự ngu muội của quan huyện, chúng tôi càng thêm nôn nóng. Nghĩ rằng khi chết đi tôi vẫn thấy có lỗi với chú và đứa em của tôi, thế rồi tôi lại đi kháng cáo. Tháng Chín năm ấy tôi tới đạo đưa đơn. Thật là nực cười, quan đạo phê ý như quan phủ. Tôi nghĩ rằng không thể chịu như thế được, tôi dứt khoát chơi hắn một keo, lên trình đệ đơn cho Niết đài để định giải quyết dứt điểm. Thật là lạ lùng Niết đài vẫn đưa về huyện và cũng phê y như đạo và phủ đã phê. Tôi tức quá, lại tiếp tục đệ một lá đơn nữa, xin trực tiếp giải quyết. Không những họ không chuẩn y mà còn chửi tôi một trận. Họ phê rằng: "Vụ án này trước đây đã đưa về phủ, lệnh cho huyện tập hợp nhân chứng giải quyết ngay. Đương sự phải trở về quê quán, tới huyện nghe xét hỏi. Nay lại đệ đơn xin giải quyết, có ý thử cấp trên, quả là một vụ kiện điêu oa". Điều ấy khiến tôi tức uất tận cổ.
- Đến nông nỗi này tôi cho rằng vụ án không thể giải quyết được. Vừa rồi tôi lại nhận được thư và tiền của chú em, bảo tôi rằng đệ đơn không được phê chuẩn, thì cứ lần lượt đệ đơn lên các cấp trên. Tôi nghĩ rằng không gì bằng cứ để thẳng lên Phiên đài. Đệ đơn lên tới Phiên đài thật không dễ chút nào, cứ phải mất bốn năm lạng bạc. Đã đến nước này thì không thể không kháng cáo, đành làm theo lời em. Nào ngờ lần phê này quả không dễ dàng, tôi chờ đúng hai tháng trời ròng rã, ông có biết họ phê thế nào không!? Họ phê rằng: "Đúng như Niết đài đã phê về huyện chờ giải quyết". Chuyện này xẩy ra trước khi tôi lên đường ba ngày. Sự việc đã đến nước này, thì bỏ cuộc quách đi cho xong, chứ không còn cách nào khác. Nào ngờ tôi tới đây kháng cáo quan huyện cũng biết. Chính vì việc này mà huyện đã đệ trình giấy lên, đòi cấp trên giải tôi tới đầu huyện, và huyện sẽ cử sai nha áp giải tôi về xét xử. Cấp trên lại đưa giấy về huyện phê rằng: "Hãy tước áo mũ để răn đe những kẻ kiện điêu”. Quan trên đã phê như thế rồi. Người tới tối hôm qua là em của thầy tôi, ông ấy làm ở bộ phận chuyển giao giấy tờ. Thấy phê như thế, cho nên vội vàng tới báo cho tôi, rồi bảo tôi rằng ba mươi sáu chước trốn là thượng sách. Song đi đâu thì đi, vụ án này cũng sẽ không bao giờ tìm ra sự thực. Đây là những việc đã xảy ra từ trước tới nay. Ông đã quan tâm đến tôi nên tôi cũng kể hết để ông nghe, xem ông có kế gì giúp tôi được không!
Ngụy Văn Tử nghe suốt từ đầu đến cuối, tức đến bầm gan tím ruột, đập bàn chửi. Lâm Thiêm Khải lại khuyên giải hồi lâu. Ngụy Hữu Văn nói:
- Ông ạ! Nhà ông có nỗi oan lớn, mà nay thì người đã chết, gia tài khánh kiệt. Theo tôi thì ông có kiện tới Bộ cũng thế thôi. Tôi có một cách tốt nhất, song tôi không muốn nói ra, hiện nay chẳng còn trông mong vào đâu được. Giả dụ ông có thi đỗ cũng chỉ là một tú tài quèn, và cũng chẳng nên coi đó là lộc nước. Nay tôi bị tước mất áo mũ, nên chẳng kiêng nể gì nữa. Tôi xem ra nếu ông lật được vụ kiện này, trừ phi ông đi theo đạo nước ngoài, làm giáo dân, mới không sợ. Tưởng Minh Doãn thế lực lớn như thế cũng phải thua ông.
Lâm Thiêm Khải nghe thấy những lời khảng khái ấy, trầm tư hồi lâu, chợt hiểu ra vội vàng cúi lạy nói:
- Xin nghe theo lời dạy bảo của ông. Nếu theo cách ấy tôi cũng phải đến Đồng Quan. Vốn rất sợ quan trên bắt, nên tôi phải đến nương nhờ người bạn ở đó. Bây giờ thì tôi không sợ nữa.
Lúc ấy Lâm Thiêm Khải rất vui, cùng với Ngụy Hữu Văn kề đùi kề vế chuyện trò, chuyện trò thoải mái suốt đêm, mãi đến khi trời sáng bạch thì họ chia tay nhau. Ngụy Hữu Văn từ Đồng Quan tới vùng Sơn Tây; Lâm Thiêm Khải về huyện Bảo An chuẩn bị theo đạo Gia Tô, rồi lại đi kiện bọn quan lại hồ đồ. Rốt cục sau khi theo Gia Tô giáo thế nào, người viết truyện không nỡ kể tiếp.



Hết Tập 2

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Sun Apr 13, 2014 5:02 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Tập 3 - Chương 1
Huyện Tam Hà, Đến Thăm Chùa Lý Giang, 
Bề Tôi Hiền Nhận Chức Trừ Kẻ Ác
Có bài từ theo điệu Tây Giang nguyệt rằng:
Càn khôn cuồn cuộn sóng biển,
Nhật nguyệt vằng vặc đưa thoi,
Phúc Thiên, họa dâm khó lòng thoát,
Người nên biết lỗi sửa sai.
Giàu sang đời trước đã định,
Có, không chẳng tự bôn ba,
Từ nay yên phận dưỡng tính hòa,
Người lành được vui mãi mãi.
Khúc Tây Giang nguyệt này nói tới một câu chuyện lạ kỳ chép trong bộ sách lạ kỳ của Trung Quốc. Từ khi vua Khang Hy lên ngôi, sông trong biển lặng, ngũ cốc được mùa, muôn dân vui sướng, nước ổn dân yên.
Ở một ngõ đầu tiên qua cổng chào Đông Đơn cửa Sùng Văn có nhà một danh sĩ họ Bành, tên Định Cầu, sau đổi thành Bành Bằng, tên chữ Hữu Nhân. Cha là Đức Thọ làm quan ở kinh đô nhưng mất sớm, mẹ họ Diêu cũng qua đời. Vợ là Mã Thị tính hiền thục lại thông minh. Bành Bằng quyết chí học hành, nhà cũng đủ ăn. Năm Khang Hy thứ 39 (1700), đỗ tiến sĩ khoa Canh Thìn, được bổ tri huyện huyện Tam Hà. Ngày hôm ấy người đưa tin tới nhà báo tin vui, gia nhân là Bành Hưng vào thưa với chủ:
- Có người đem tin vui tới nhà báo cho lão gia biết đấy ạ!
Bành Công thưởng cho người báo tin vui hai lạng bạc tốt, sau đó đến lạy chào thầy, chào các bạn cùng đỗ, bận rộn suốt mấy ngày.
Ngày hôm ấy mọi việc đã xong, Bành Công cho gọi viên quản gia già là Bành An đến trước mặt, bảo:
- Bành An, nhà ngươi tuổi gần thất thập nhưng còn khỏe mạnh. Ta nay sắp đi nhận chức, để ngươi ở lại trông coi việc nhà mọi việc trong ngoài người phải lưu tâm lo việc. Ngày mai ta đi thăm mộ, tế nhà thờ họ, bái liệt tổ tiên, định đến ngày kia thì khởi hành. Ngươi hãy thu xếp hành lý cho ta. Ta đem theo một mình Bành Hưng, người khác không dùng đến. Ngươi gọi hắn lên đây.
Bành An lui ra, gọi Bành Hưng vào. Bành Hưng tới trước mặt, nói:
- Nô tài xin chúc mừng lão gia.
Bành Công nói:
- Ngươi thu xếp hành lý đi, ngày kia cùng ta lên đường.
Bành Hưng đáp:
- Nô tài biết rồi ạ!
Bành An bảo:
- Cháu đi mua ít đồ cúng đi!
Bành Hưng đáp:
- Vâng.
Hai người đi ra, Bành Công tới phòng phu nhân, nói:
- Tôi chịu ơn hoàng thượng trao cho chức huyện lệnh huyện Tam Hà. Đấy là nơi vất vả, tôi không thể đưa bà đi cùng. Việc trong nhà, tôi nhờ bà để tâm thu xếp. Sau khi đến nơi nhận chức rồi, có thế nào tôi sẽ sai người về đón bà.
Phu nhân Mã Thị người hiểu tam tòng tứ đức cùng bảy điều phải giữ chữ trinh, chín điều phải giữ tiết liệt, nên vừa nghe chồng dặn đã nói:
- Xin lão gia cứ yên tâm, thiếp cũng không thể theo lão gia đi được. Hiện nay thiếp đang thai nghén, đợi sau khi sinh nở xong thì báo tin mừng cho lão gia là được rồi.
Phu nhân nói xong, cô hầu Thu Hương thưa:
- Cơm tối đã xong rồi, lão gia ăn ở đâu ạ?
Bành Công đáp:
- Ở đây ta cùng ăn với phu nhân.
U già Lưu Thị cùng Thu Hương dọn cơm ra, vợ chồng Bành Công ăn cơm xong, tối hôm đó không có chuyện gì.
Sáng hôm sau, Bành Hưng vào thưa:
- Nô tài đã mua xong đồ cúng, mời lão gia tới thăm mộ.
Bành Công dùng cơm sáng xong, mang theo Bành Hưng ra khỏi thư phòng, tới ngoài cổng thì lên xe. Bành Hưng dắt ngựa, ra khỏi thành tới phần mộ. Người coi mộ đón tiếp lão gia, chào hỏi và chúc mừng Bành Công. Bành Công xuống xe nhìn xem, thấy các nơi cây cối đều ngay ngắn, bèn sai bày đồ cúng, đốt nhang cầu khấn, thầm khấn rằng:
- Trên có tổ tiên, con là Bành Bằng cúi lạy tổ tiên phù hộ; nhờ ơn đức thánh thượng, con được trao chức huyện lệnh huyện Tam Hà, nay con đến lạy tổ tiên và xin bái biệt.
Nói xong vái tám vái. Lễ mộ xong, người coi mộ tới nói:
- Nô tài đã chuẩn bị trà ở nhà trên, xin mời lão gia uống trà.
Bành Công tới nhà trên ngồi xuống, gọi người coi mộ tới, nói:
- Ta sắp sửa đi nhận chức, ngươi hãy trông nom phần mộ cho tốt và sửa sang cây cối.
Người coi mộ tên là Lai Thuận, nói:
- Nô tài xin tuân lệnh.
Bành Công thưởng cho Lai Thuận tám lạng bạc tốt, sau đó lên xe về nhà. Tới nhà, Bành Công xuống xe, vào thư phòng. Bành An đến nói:
- Bẩm lão gia, nay có Viên ngoại lang bộ Lại là Thụy Tam lão gia và Tát Đại lão gia đến chúc mừng lão gia và tiễn đưa, có để lại mấy thứ như trà và bánh điểm tâm, nói rằng sáng sớm mai còn đến tiễn chân nữa.
Bành Công nói:
- Ta biết rồi!
Nhưng Bành Công thầm nghĩ: "Thụy Tam đệ là một người bạn tri kỷ của ta, ta đang muốn gặp ông ấy, nhờ ông ấy trông nom giúp việc nhà. Một khi ta đi nhận chức là phải tận tụy với nước, trừ hại cho dân, trên báo ơn vua, dưới làm dân được yên vui, cắt bỏ cái ác cho người lương thiện được sống yên. Nam tử hán, đại trượng phu đã sinh ra ở đời, ắt phải làm nên sự nghiệp oanh liệt để lưu lại tiếng thơm đến nghìn xưa". Trong lúc suy nghĩ thì trời đã muộn, bèn về phòng an nghỉ.
Ngày hôm sau trở dậy, gia nhân vào báo:
- Thụy Minh lão gia đã đến, hiện đang ngồi trong thư phòng đợi lão gia.
Bành Công nói:
- Ta biết rồi!
Nói xong tự đi đến thư phòng, nhìn thì thấy Thụy Minh mặc quan phục càng thêm oai nghiêm. Ông này mình cao bảy thước, tuổi gần tam tuần, mặt vuông, mày dài mà thanh tú, hai mắt tinh nhanh, mũi thẳng, mồm vuông, mặc hộ quần áo lụa Ninh màu lam, áo bào đơn có hình rồng cuộn, trùm bên ngoài là áo ngắn lụa hồng thanh may riêng cho quan ngũ phẩm, đầu đội mũ quan, chân dận đôi giày cao cổ bằng đoạn đế trắng. Vừa thấy Bành Công, ông ta đã đứng lên. Hai người hỏi thăm sức khỏe của nhau rồi Thụy Minh nói:
- Đại ca được nhận chức ở Tam Hà, đệ xin đến chúc mừng.
Bành Công nói:
- Hôm qua được huynh hậu tặng, chưa được cảm ơn tận mặt. Nay tôi đang muốn đến phủ thì lại được huynh chiếu cố đến nhà. Hai ta là bè bạn tri kỷ, không cần phải khách sáo. Tôi vốn định hôm nay lên đường nhưng công việc trước sau chưa làm được hết. Tôi còn có một việc muốn nhờ, ấy là việc trong nhà, mong huynh thường xuyên để ý. Tôi lên đường cũng không ngồi xe của nhà mà thuê hai con lừa cưỡi cho thuận tiện.
Thụy Minh biết Bành Công là người thanh liêm, trong nhà cũng không giàu có gì, bèn tặng hai chục lạng bạc để đi đường. Bành Công cũng không chối từ. Hai người ăn cơm xong thì Thụy Minh đứng dậy cáo từ.
Hôm sau nữa Bành Công mới đem theo văn bằng, thu xếp hành trang, trước hết thuê một cái xe ra cửa Triều Dương, bảo Bành Hưng thuê hai con lừa. Trả xong tiền xe, chất hành lý lên hai con lừa rồi chủ tớ cưỡi lừa theo đường cái mà đi về phía trước.
Đi được hơn hai mươi dặm thì đến Tam Giang Phòng, thấy ở phía bắc đường có một quán rượu, cờ rượu treo cao, thêm biển quán trà, hướng chính bắc là năm gian nhà trên, phía trước dựng rạp, chủ tớ bèn xuống lừa. Bành Hưng buộc lừa rồi cùng lão gia vào ngồi trong quán trà. Người hầu trà mang ấm và chén tới, nói:
- Hai vị vừa mới tới, có mang trà theo không?
- Có trà đây rồi! - Bành Hưng đáp.
Bèn lấy trà trong túi ra bỏ vào ấm pha một ấm trà. Bành Hưng rót cho chủ một bát rồi rót cho mình. Đang uống chợt thấy hai người xuống ngựa trước quán rồi đi vào gọi trà uống. Người đi trước tuổi chừng ngoài đôi mươi, mặc bộ quần áo bằng lụa màu lam, chân đi đôi giầy ống bằng đoạn xanh, tay cầm roi ngựa, ngồi vào bàn phía tây, gọi:
- Hầu trà đâu, mau mang trà tới đây. Hai chúng ta uống xong còn phải vào trong cửa Tề Hóa mua mấy thứ.
Hầu trà vội vàng tươi cười chào:
- Hai vị đại gia vừa mới tới ạ!
Nói rồi đưa một ấm trà to tới nói:
- Trà vừa mới pha, xin mời hai vị dùng.
Hai người kia uống liền hai bát rồi bảo:
- Thôi chúng ta đi đây!
- Hai vị lên đường ạ! - Hầu trà đáp. Bành Hưng hỏi hầu trà:
- Sao họ không trả tiền mà nhà anh còn cung kính thế?
- Anh bạn không biết đó thôi, hai vị này là quản gia Vũ gia trang ở huyện Hương Hà đấy. Vị chủ nhân trang ấy nổi danh khắp tám huyện miền Đông, chẳng ai không biết. Ông ấy tên Vũ Khuê thuộc Bao Y Kỳ(l) trong Vương phủ Thần Lực, biệt hiệu là Phi Thiên Báo Vũ Thất Thái Tử. Nhà có hai trăm khoảnh ruộng tốt, luyện được đầy mình võ công, Trương quyền đánh ngắn, đao thương côn bổng thứ gì cũng tinh thông, thu nhận vô số môn đồ. Chỉ có một điều không hay là chuyên kết giao với anh hùng lục lâm. Ngày mồng năm tháng Năm năm nay mở hội lớn ở miếu Bà chùa Lý Giang tại Trương Gia Loan, ông Bảy Vũ mời khách đi chơi hội. Hai người vừa nãy tên Vũ Hưng, Vũ Thọ là gia nhân nhà ấy. Ông Bảy Vũ là anh hùng khinh tài trọng nghĩa, năm nay hội miếu náo nhiệt lắm, sao hai vị không đi xem?
(1) Bao Y Kỳ: một trong tám tổ chức quân đội và biên chế hộ khẩu của dân tộc Mãn. (ND).
 
- Chúng tôi đang định đi đây! - Bành Công nói.
Trả tiền nước xong, Bành Công cùng Bành Hưng nhảy lên lừa theo đường cái. Đến Thông Châu thì dừng lừa, hai thầy trò ra cửa Nam môn, Bành Hưng gánh hành lý, Bành Công theo sau. Qua Trương Gia Loan, đến đầu thôn chùa Lý Giang, thấy người buôn bán đi hội miếu đông lắm, chiêng trống rầm trời. Các loại trò thì có trò cưỡi ngựa, trò ảo thuật, hát tích sử, xem bệnh, bói toán, thôi thì đủ mọi cách kiếm tiền, người đứng xem xúm xít. Chủ tớ đang định đi tiếp thì thấy phía nam có một quán trà dựng bằng chiếu cói, trong quán có sáu bảy chiếc bàn bát tiên, có chừng hơn hai chục người đang ngồi uống trà, đều là người đi xem hội, trẻ già đều có. Bành Công thấy khát, vào ngồi trong quán gọi một ấm trà.
Chủ tớ đang uống trà, chợt nghe một khách uống trà bên cạnh nói:
- Trò hôm nay hay lắm nhưng không xem được vì người quá đông.
Lại một ông già nói:
- Chùa Lý Giang hương khói trăm ngàn năm nay, những năm nay không chừng xảy ra chuyện.
Một người trẻ tuổi nói thêm:
- Ông Bảy Vũ ở Vũ Gia Trang đến đây chơi hội cùng các bạn bè. Tuy ông Bảy là người tốt nhưng bọn thủ hạ làm bậy lắm. Lại còn tay chủ hiệu Tả Bạch Kiểm ở Hạ Điếm nữa, tay này là chủ hiệu lương thực cung cấp cho vua thuộc phủ Dụ Vương, hôm nay cũng đem theo một số người đua ngựa ở mé bắc kia. Hắn có một người cháu họ xa là Tả Khuê, tên hiệu là Tả Thanh Long đem theo toán phỉ quấy phá hung hãn, dám cướp đàn bà con gái nhà người ta. Nay người của cả ba huyện đến đây xem hội, huyện ta này, huyện Hương Hà này, lại cả huyện Thông Châu nữa.
Ông già nghe xong, bảo:
- Thế quan huyện Tam Hà bị Tả Thanh Long làm hư rồi sao?
Một ông già khác gạt đi:
- Người anh em nên nói ít chuyện thị phi đi. Thường có câu: "Lời nào vô ích đừng nên nói, Việc chẳng liên quan ít hỏi tra, Chớ quản sương kia rơi mái khác, Hãy lo quét tuyết mái nhà ta". Người xem hội rất đông, lời tôi nói có đúng không nào?
Chủ tớ họ Bành đang nghe đến hồi hay thì người trẻ tuổi bị ông già nói cho mấy câu liền không nói nữa. Bành Công đành trả tiền trà rồi thầy trò ra khỏi quán. Vừa hay trước mặt có người đi đến, người này thân cao chín thước, vai rộng lưng tròn, trên người mặc chiếc áo trắng dài, trong mặt bộ quần áo lót bằng vải màu lam, giữa là chiếc áo lụa cùng màu, giày xanh tất trắng, tay cầm chiếc quạt lông, mắt to mày rậm, hai mắt long lanh, mồm vuông, vẻ mặt hung ác, đi theo sau có đến hơn hai chục người, đều mặt mũi dữ tợn, nổi hằn cơ thịt. Bọn chúng mặc quần áo hoa màu tía, chân dận giày ống bằng vải mỏng màu xanh, không ra dáng con nhà lành, theo tên chủ trẻ vào hội miếu. Chủ tớ họ Bành đi theo sau. Chợt trước mặt có một thiếu phụ trẻ trông chừng ngoài đôi mươi đi tới, cao sáu thước, đầu chải bóng mượt, cài trâm đeo hoa bằng vàng, mái tóc giắt bông hoa hải đường, mặt tựa hoa đào, mắt hạnh mày liễu, răng trắng môi son, mình mặc chiếc áo ngắn bằng lụa tuyết thanh, trên lụa trang trí nhiều đường ngang dọc, áo nền màu xanh nhạt, áo giữa màu phấn hồng, đôi gót sen đi giày bằng đoạn màu hồng trên thêu đôi bướm, vai gánh một gánh hoa tứ quí, tay dắt thằng bé chừng tám chín tuổi. Thằng bé tết bím lệch sang một bên, mình mặc áo xanh lam, chân đi đôi giày đế mỏng bằng đoạn xanh lục, tay cầm chiếc quạt tròn, cười hì hì đi theo người thiếu phụ. Dáng đi của thiếu phụ lộ vẻ phong lưu, thật đúng là:
Mặt hoa lê nhàn nhạt,
Eo dương liễu thon thon,
Xinh tươi tô điểm thắm môi son,
Quả thật phong lưu thanh tú!
Đám người kia thấy thiếu phụ phong lưu xinh đẹp nhường ấy thì anh chen tôi lấn, đổ xô về phía trước. Thiếu phụ nói:
- Đừng chen nữa, xô vào người ta rồi!
Người trẻ tuổi mặc áo dài trắng dắt theo lũ vô lại vẫn cố ý chen người thiếu phụ. Chủ tớ Bành Công thấy vậy, nghĩ thầm: “Người đàn bà này cũng không nền nếp. Trang điểm thế kia là ít được dạy dỗ, chẳng trách đàn ông bám theo. Bọn kia xúm lại như thế, còn ra thể thống gì nữa!".
Trong bọn ấy có một người họ Trương tên Hoằng, biệt hiệu là Thám Hoa Lang Tiểu Hồ Điệp, là quản gia cho Tả Thanh Long Tả Khuê ở Hạ Điếm huyện Tam Hà, cũng đem thủ hạ đi chơi hội. Cùng đến với hắn có tên Hồ Thiết Đinh là loại hư đốn từ lúc còn trứng nước. Thấy đàn bà nào xinh đẹp hơn người, bọn chúng bèn dựa thế chủ, hoành hành mặc sức, bắt nạt người lành cướp bắt phụ nữ, gian dâm đùa cợt, không điều gì mà không dám làm. Hôm nay thấy thiếu phụ này, bọn chúng hùa nhau chen lấn. Nghe thiếu phụ nói "Đừng chen nữa" với giọng thỏ thẻ càng khiến chúng say mê. Tên Thai Lý Hoại(1) Hồ Hắc Cẩu nói một tràng tiếng lóng, có nghĩa là: “Anh em hãy ngoảnh lại nhìn kìa, con bé vừa xinh vừa trẻ, lại không có chồng cùng đi thử hỏi xem nhà nó ở đâu”. Chủ tớ Bành Công đều không hiểu vì đó là tiếng lóng của bọn giang hồ. Trương Hoằng thấy thiếu phụ kêu đừng chen lấn, hắn liền nói:
- Sợ chen thì ở nhà, đừng đi chơi hội nữa. Người đông như thế này, không chen sao được?
(1) Thai Lý Hoại: hư hỏng từ trong thai, biệt hiệu của Hồ Thiết Đinh, cũng gọi là Hồ Hắc Cẩu (chó mực). (ND).
 
Bành Công nghe hắn nói thế, liền lên tiếng:
- Làm người cũng nên có lòng tự tôn. Nhà ai chẳng có đàn bà con gái? Làm việc nên theo lẽ trời, nói lời phải thuận lòng người mới được!
Trương Hoàng nghe xong, tức lắm hỏi lại:
- Cô ta là thế nào với ông?
- Tôi không quen người ta, tôi chỉ khuyên chú không nên chen thôi! - Bành Công đáp.

- Nói thối lắm, Trương đại gia đây không cần ngươi khuyên bảo. Người đâu, trói nó cho ta, đem về trang trại xử lý.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Sun Apr 13, 2014 5:44 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương (B)
Bành Hưng sợ quá run như cầy sấy, nhìn bọn kia ùa tới.
Bỗng từ ngoài bước vào một người ra dáng chững chạc, mặt mũi ngay ngắn, mình cao tám thước, da mặt, hai mày hơi cau, đôi mắt có hồn, đầu tóc đoan trang, mồm vuông, quanh mép lún phún râu, mình mặc áo la hán hai vạt màu xanh nhạt để hở vạt áo trong màu xanh đậm, tất trắng, giày bằng đoạn màu xanh, oai phong lẫm liệt, tuy ăn vận nho nhã nhưng lại có oai của kẻ nghĩa hiệp; theo sau chừng hơn mười gia nhân.
Trương Hoằng thấy người này thì hồn bay phách tán bởi người vừa đi đến là một anh hùng nổi tiếng ở Kinh Đông, nhà ở Lý Tân Trang huyện Tam Hà, họ Lý tên Thất Hầu, biệt hiệu Bạch Mã Lý Thất Hầu, một hào kiệt trong chốn lục lâm, hành hiệp trượng nghĩa, chuyên trừ quan lại tham nhũng và bọn ác bá, thích làm việc nghĩa, thương con côi gái góa, lấy tiền bạc của kẻ bất nghĩa chu cấp cho nhà khốn cùng, bởi vậy nổi tiếng khắp năm tỉnh miền Bắc. Có ông ta thì huyện Tam Hà thực là không người nhặt của rơi, đêm ngủ khỏi đóng cửa. Hôm nay theo lời hẹn với Vũ Thất Thái Tử đến chơi hội, thấy Trương Hoằng đang nói những lời khó nghe với Bành Công, bất giác nổi giận:
- Thằng nhãi Trương Hoằng kia, ngươi lại dám làm chuyện thương thiên hại lý ư? Từ lâu ta đã nghe những việc phạm pháp của ngươi!
Nói xong, bước tới tát luôn giữa mặt Trương Hoằng, khiến hắn ta sợ quá vội cười nịnh:
- Bẩm ông Bảy, tiểu nhân đâu dám làm bậy. Chị ta bảo tiểu nhân chen lấn nhưng tiểu nhân có chen đâu, thế mà ông này còn răn đe.
Hắn chỉ tay vào Bành Công. Lý Thất Hầu nói:
- Tiên sinh bất tất phải ngăn đứa tiểu nhân này, đã có tôi dạy bảo chúng.
- Hắn định trói tôi, may tôn giá vừa đến kịp. Xin cho biết quí tính cao danh. - Bành Công nói.
Lý Thất Hầu xưng tên họ xong, Bành Công dẫn Bành Hưng lui ra một bên, thiếu phụ cũng bỏ đi. Trương Hoằng không dám đi còn bọn thủ hạ đã hoảng sợ tẩu tán từ nãy. Lý Thất Hầu bảo:
- Này thằng nhãi Trương Hoằng, từ nay ngươi phải sửa đổi lỗi lầm. Ta tha cho tính mạng ngươi, nếu ta còn gặp lần nữa, ắt giết không tha. Thôi ta đi đây! - Nói xong dẫn bọn gia nhân bỏ đi.
Bành Công và Bành Hưng đứng bên thấy thế, nghĩ thầm: "Lý Thất Hầu quả là người tốt!". Chợt nghe người chơi hội đi đằng sau nói:
- Hôm nay Trương Hoằng gặp phải người đối đầu rồi! Ông Bảy thật là người thích vơ chuyện không đâu vào người, chuyên giết quan tham, diệt trừ ác bá, chỉ có điều, những việc làm của em trai ông ta là Lý Bát Hầu khiến cho huyện Tam Hà chẳng được yên thì ông Bảy lại chẳng quản nổi. Lại còn tên gia nhân Khổng Lượng nữa, thằng này quấy đảo càng hung, thật là thằng đầy tớ gian ác.
Bành Công nghe họ nói thì ghi nhớ trong lòng nghĩ bụng: “Nay ta đã là quan, phải trừ hại cho dân, làm địa phương được trong sạch, bắt hết ác bá, côn đồ". Nghĩ xong cùng Bành Hưng đi thẳng về huyện Tam Hà.
Ngày hôm đầu, hai thầy trò ở trong quán trọ. Sáng hôm sau trở dậy, chủ tớ đến huyện nha, đã có nha lại ra đón tiếp. Bành Công nhận ấn xong, viên điển sử và bả tổng tới vái chào. Điển sử họ Lưu tên Chính Khang, vốn xuất thân từ đề lại; bả tổng họ Thường, tên Vạn Niên xuất thân cửa nhân võ. Bành Công chào hỏi lại, cùng các quan chức trong huyện đi lễ nhà thánh miếu. Mọi việc xong xuôi, nhớ lời người dân bàn tán ở chùa Lý Giang, nói rằng Tân Trang họ Lý ở bản huyện có ác bá Lý Bát Hầu, chuyên làm điều ác, ta phải ngầm thăm dò người này. Có khi hắn là người tốt cũng chưa biết chừng. Tục ngữ nói rất đúng: "Mắt xem việc ấy còn nghi giả, Lời nói bên tai chẳng ắt tin".
Ngày hôm sau, Bành Công mặc áo quần thường dân, đem theo Bành Hưng ra khỏi nha môn. Gần đến Lý Tân Trang, ông dặn Bành Hưng:
- Ta đóng giả thầy bói đến nhà tên Lý Bát Hầu, ngươi ở quanh đây hỏi dò tin tức. Nếu tới lúc mặt trời lặn mà không thấy ta ra, ngươi phải về ngay nha môn để quân lính đến bắt tên giặc ấy.
Bành Hưng vâng dạ. Bành Công đi thẳng vào trong trang, chỉ thấy thôn trang này lại có hẳn một nơi có thể dạo chơi:
Suối nhỏ quanh rừng biếc,
Nhà tranh mấy mái hiên.
Kề suối cửa phên nhỏ,
Bờ khe đường đá xiên.
Thông già rễ xoắn xuýt,
Tre xanh mấy khóm nghiêng.
Tiếng chó gà ngõ thẳm,
Bò dê nằm cát êm.
Một thôn nhiều non nước,
Mười mẫu mây khói chen.
Hương thu xem hoa lúa,
Tiếng xuân cùng tiếng chim.
Liễu đào lệnh rũ cửa,
Dưa thiệu bình vườn xen.
Ngòi đông câu được cá,
Làng tây rượu nợ tiền.
Nhà nông cùng bạn suối,
Bên dâu, gai hàn huyên.
Bành Công xem xong phong cảnh, bước thẳng vào thôn. Nghĩ thầm: "Lý Bát Hầu phải là một người giàu có, mình phải vào tận nơi xem xét cho chính xác". Thế là tay gõ thẻ tre bước về phía trước. Chỉ thấy phía bắc đường có cánh cổng lớn, hai bên có hơn mười cây dương liễu rủ bóng. Trong cổng có chiếc ghế lớn, một người đứng giữa cổng. Người này mình cao chín thước tay khỏe lưng tròn, mày rậm mắt to, mặt gân guốc, mồm vuông vắn nhưng không có râu, mình mặc áo quần màu lam, tất trắng, giày đoạn đen, tay cầm quạt lông ngỗng, phía sau có hai thằng nhỏ đứng hầu. Nhìn rõ rồi, Bành Công liền rao:
- Một bút như nhát dao, mở núi Côn Sơn chia ngọc, đá. Hai mắt như tia chớp, xem tường Thương Hải tách cá, rồng. Xem vận mệnh trong năm, xét số phận suốt đời đây!
Người đứng trước cổng chính là Lý Bát Hầu. Hắn đang buồn bực trong lòng, thấy ông thầy bói bèn nghĩ: "Sao ta không mời hắn vào xem cho ta năm nay thế nào, vận số ra sao nhỉ?". Liền gọi:
- Đồng nhi ra gọi ông thầy bói vào cho ta.
Tên hầu nhỏ nói:
- Xin ông Tám vào nhà đã, chúng con đi gọi đây!
Nói rồi ra cổng gọi:
- Ông thầy bói ơi, chủ chúng tôi mời ông vào nhà.
Bành Công hỏi:
- Quý tính chủ người là gì?
Bọn nhỏ nói:
- Chủ nhân chúng tôi họ Lý, tên là Bát Hầu. Ông xem cho tốt còn thưởng tiền cho ông đấy!
Bành Công biết đó chính là tên ác bá bèn theo bọn nhỏ vào cổng, thấy ba gian phía đông là phòng cho người coi cổng, ba gian phía tây là phòng tiếp khách. Chính bắc có một bức tường quét vôi trắng, chính giữa là cửa đi vào bên trong gồm bốn cánh. Vào qua cửa ấy, trong sân hoa cỏ đưa hương. Chính bắc có năm gian, ba gian xép về phía đông, ba gian thư phòng có dựng rạp. Dưới bậc thềm hướng chính bắc đặt một bàn để đàn, bên trên để ấm chén uống trà; sau bàn là chiếc ghế thái sư trên đó là người vừa đứng ngoài cổng ngồi chễm chệ. Bành Công nhìn xong, nói:
- Xin kính chào trang chủ, Thập Đậu Tam(1) tôi xin có lễ.
(1) Thập Đậu Tam: ba chữ này hợp lại thành chữ Bành. (ND)
 
Lý Bát Hầu nói:
- Ngồi đi ! Ông xem tôi nguyệt lệnh cao thấp, vận số thế nào?
Bành Công thầm nghĩ: "Ta nên nhân dịp này khuyên can hắn, xem tâm địa hắn ra sao". Nghĩ thế rồi nói:
- Trang chủ mình thủy, tướng mạo đẹp lắm. Sách xem tướng có mấy câu rằng: "Mình mộc thì gầy, mình kim vuông vắn, mình thủy béo tốt, mình thổ thì lưng như mai rùa, còn phía trán mà rộng mở thì đó là mình hỏa. Tướng mạo theo ngũ hành mà suy ra cho kỹ". Theo tướng mạo của trang chủ thì hồi nhỏ vận không được tốt, cha mẹ mất sớm, chỉ nhờ vả anh em. Lông mày đậm nét nên tính tình hơi khó hòa. Phàm việc gì làm trong đời đều không nghe lời khuyên. Trung niên vận số bình thường nhưng lúc này ấn đường có màu đen, hẳn là nhằm vào việc mắc mớ với cửa quan. Xin ngài giữ gìn cẩn thận thì phúc mới được dài lâu, nếu không, e rằng vạ lớn xảy ra, hối thì đã muộn.
Lý Bát Hầu nghe nói vậy thì không vui. Bỗng có người tới bên cạnh, ghé sát tai nói mấy câu gì đó. Lý Bát Hầu trợn mắt lên. Người ấy là gia nhân của Lý Bát Hầu, họ Khổng tên Lượng, biệt hiệu người ta đặt cho là Bạch Nhởn Lang(1) Hán chuyên cậy thế chủ đổi trắng thay đen, gian dâm cướp bóc, không việc xấu nào là không làm, nào cướp đàn bà con gái trẻ, chiếm đoạt nhà cửa ruộng nương, bắt nạt người lương thiện. Hôm nay thấy chủ mời ông thầy bói vào nhà. Ông thầy nói năng nho nhã, cử chỉ đoan trang khiến hắn phải suy nghĩ. Lại nghe ông ta xưng tên họ là Thập Đậu Tam, hắn ngờ ông thầy chính là tri huyện mới đến nhận chức vi hành hỏi thăm. Những việc mà hắn cùng Lý Bát Hầu làm đều là thương thiên hại lý, bất nghĩa dối người nên hắn cũng có phần sợ hãi. Hắn bèn nói với Lý Bát Hầu:
(1) Bạch Nhởn Lang: sói mắt trắng dã. (ND)
 
- Xin ông Tám vào nhà trong, nô tài có chuyện muốn nói.
Lý Bát Hầu đứng dậy, vào tới nhà trong liền hỏi:
- Khổng Lượng, người muốn nói gì với ta thế?
Khổng Lượng nói:
- Thưa ông Tám, vừa nãy ông cho gọi thầy tướng này vào để xem tướng số. Ông ta có lai lịch đấy. Nguyên là tri huyện mới tới nhậm chức họ Bành tên Bằng từ Kinh đô về đây. Hôm ấy con ở huyện nha nhìn thấy ông ta đi lễ thánh miếu, rất giống người này. Nếu ông ta đến nhà thì việc làm của ông con mình e rằng không hay. Theo ý con, ông con mình nên xét hỏi lai lịch của hắn, không thể để cho hắn đi thoát được.
Lý Bát Hầu nói:
- Ta biết rồi!
Nói rồi quay trở lại nhà ngoài, hỏi:
- Tiên sinh, ông là người ở đâu? Họ tên là gì?
Bành Công nói:
- Tôi họ Thập tên Đậu Tam, hiệu là Song Nguyệt, người ở kinh đô.
Lý Bát Hầu nói:
- Tôi xem ông dường như giống tri huyện Bành Bằng mới tới nhận chức, ông đến đây để dò la. Ông hãy nói thật đi, tôi sẽ thả ông về mọi sự đều xong. Còn nếu ông không nói thực, tôi sẽ khảo đả buộc ông phải khai đấy!
Bành Công nói:
- Trang chủ, ngài không nên làm như thế. Tôi đúng là thầy tướng giang hồ, không phải đến dò la.
Lý Bát Hầu nói:
- Chữ Thập bên dưới có chữ Đậu, thân ba nét ở bên cạnh là chữ Bành. Hai chữ Nguyệt ghép vào với nhau chính là chữ Bằng. Ông còn nói gì được nữa?
Nghe đến đây, Bành Công giật nảy người, nói:
- Trang chủ, xin ngài chớ đa nghi. Tôi thực sự là thầy tướng mà!
Lý Bát Hầu bảo gia nhân:
- Trói hắn lại cho ta!
Bọn gia nhân không dám trái lời chủ, bảo thầy tướng:
- Ông không nói thực, chúng tôi đành trói ông vậy!
Tên nô tài độc ác Khổng Lượng nói:
- Cứ trói lại, không cần phải nói nhiều.
Bọn chúng liền trói chặt Bành Công. Lý Bát Hầu ra lệnh:
- Đem treo nó lên trong chuồng ngựa, tra hỏi kỹ cho ta!
Bọn gia nhân điệu Bành Công đến sân phía tây, treo ông lên trong chuồng ngựa. Lý Bát Hầu ngồi trên ghế gần đó, trước mặt kê chiếc bàn bát tiên. Gia nhân đứng thành hai hàng.
Khổng Lượng tay cầm roi mây nói:
- Ngươi mau khai thực đi, tránh cho da thịt bị đánh đòn đau đấy!
Bành Công bị trói, treo trong chuồng ngựa, vừa nghe tên ác nô Khổng Lượng nói như thế thì nghĩ thầm: "Ta vừa mới đến nhậm chức, trước hết đến hỏi thăm tên ác bá này mà nó đã làm dữ. Thôi ta cứ nói thật, xem bọn giặc này dám làm gì ta! Ta lập chí trừ ác an dân, diệt bọn gian tà ác bá!". Nghĩ rồi, nói:
- Này bọn nhỏ, ta chính là Bành lão gia, quan chính đương huyện Tam Hà đấy! Các người dám làm gì ta nào?
Khổng Lượng nghe nói, kinh hãi vô cùng. Lý Bát Hầu ngồi ngoài chuồng ngựa cũng sợ run khắp người, thầm nghĩ: "Vụ làm loạn này không nhỏ đây. Ông ta là tri huyện mới nhận chức, là quan phụ mẫu của nơi này. Giết quan cũng là làm phản. Ta trói ông ta, đúng là bắt hổ dễ, thả hổ khó, ta không biết làm thế nào đây!". Nghĩ rồi, nói:
- Các con, trước hết hãy cho tên quan chó má này đứng xuống, đem giam ở gian phòng phía tây khu nhà trên phía bắc, đợi đến lúc canh ba, ta đến kết liễu tính mạng nó là xong.
Nói rồi đứng lên, trở ra nhà phía trước, gọi hai tên hầu nhỏ là Tam Đa và Cửu Như, bảo chúng xuống bếp sửa soạn mâm rượu. Tam Đa vâng lời đứng lên, xuống bếp lấy món nhắm bày sẵn. Lý Bát Hầu tự uống rượu một mình, thầm nghĩ việc này tiến thoái lưỡng nan, không biết nên thu xếp như thế nào cho ổn thỏa, chỉ đành uống rượu.
Đúng là tục ngữ nói rất hay: "Ngày dài tựa năm, nhàn mới thấy; việc lớn như trời, rượu cũng thôi". Đang lúc hồ nghi thì gia nhân là Khổng Lượng ở bên ngoài nghĩ: “Việc làm vừa rồi là phạm tới quan, tội danh ấy không nhỏ. Trước hết ta hãy vào nói đúng với tâm tư của chủ, kết liễu tính mạng viên quan chó chết này đi để tránh mối lo về sau”. Nghĩ xong, vào thư phòng, thấy Lý Bát Hầu bèn nói:
- Thưa trang chủ, việc hôm nay nên thu xếp ra sao?
Lý Bát Hầu nói:
- Ta chẳng còn biết quyết định ra sao nữa.
Khổng Lượng nói:
- Theo ý kiến nô tài, bắt hổ dễ thả hổ khó. Thế nào cũng phải kết liễu tính mạng của hắn để tránh mối lo về sau mới là kế vẹn toàn.
Lý Bát Hầu nói:
- Ngươi mở cái tay nải của hắn ra xem bên trong có gì. Khám cả người hắn nữa, xem có giấy tờ gì không.
Khổng Lượng trước hết khám người Bành Công, sau đó đi một lúc, trở về nói:
- Con đã khám rồi, trên người không có giấy tờ gì. Con lại mở tay nải thì trong đó chỉ có mấy cuốn Vạn niên thư, Hiệp ký biện phương, Đoán Dịch đại toàn chứ không có thứ gì khác. Trang chủ cứ nên giết cho sớm, đừng để Thất lão gia biết. Nếu Thất lão gia biết thì lúc ấy không xong đâu!
Lý Bát Hầu vốn là người không có chủ ý, nghe Khổng Lượng nói thế, lại thêm có men rượu bèn bảo:
- Lượng nhi, ngươi nói không sai. Ta cũng đang có ý ấy. Ngươi ra ngoài xem trời, xem đã đến lúc nào rồi, vào bảo cho ta biết.
Khổng Lượng ra ngoài nhìn trời, vào nói:
- Đã tới lúc định canh rồi(1).
(1) Định canh: lúc bắt đầu vào canh một, tức khoảng tám giờ tối. (ND)
 
Bát Hầu nói:
- Đợi thêm lúc nữa hãy hay.
Hắn tự uống thêm mấy chén rượu nữa cho thêm bạo gan. Đúng như câu nói: "Giận bốc lên từ tim, Gan sinh ra cái ác". Uống rồi gọi:
- Các con ơi, mang thanh Quỷ đầu đao đến đây cho ta!
Gia nhân dạ ran, vào nhà sau mang Quỉ đầu đao tới. Bát Hầu lại gọi:
- Các con ơi, theo ta đến phòng phía bắc sân đằng tây, giết luôn tên quan chó má đó đi cho xong!
Đám gia nhân đi theo sau, thẳng tới sân đằng tây, thắp đuốc và đèn lồng lên, thắp cả đuốc nhựa thông nữa, soi sáng cả sân như ban ngày. Trước đó đã có gia nhân lên phòng trên, đưa Bành Công bị trói ra, vứt xuống trước mặt Lý Bát Hầu. Bành Công lớn tiếng chửi mắng:
- Thằng nghịch tặc kia, ngươi dám giết quan ngay tại nhà à? Mày trên thì là giặc của bố mẹ, giữa là giặc của vợ, dưới là giặc của con, chung thân là giặc, tên tuổi bị chửi rủa đến ngàn đời. Nếu ngươi bị quan huyện là ta đây bắt được thì ta sẽ san phẳng mộ ba đời, trừ họa cho đến chín họ. Lão gia tuy chết cũng là vì nước tận trung, mày muốn giết muốn xẻo cũng cho mày tha hồ!
Nghe Bành Công chửi mắng như thế, Lý Bát Hầu cả giận nói:
- Đồ cẩu quan, trang chủ ta đây có làm điều gì xấu đâu mà mới vừa nhận chức ngươi đã vi hành dò laCũng là số mày đáng được như thế. Thiên đường có lối sao mày không đi; địa ngục không có cửa, sao hôm nay mày cứ bước vào?
Nói xong, giơ đao lên nhằm vào cổ Bành Công toan chém xuống. Bỗng gia nhân ở ngoài nhà coi cổng là Lý Trung hốt hoảng chạy vào nói:
- Bẩm trang chủ, hiện có quan Điển sử huyện Tam Hà là Lưu lão gia đến thăm, đang ở ngoài cổng, trang chủ có cho gặp hay không ạ?
Lý Bát Hầu nghe thấy thế, thầm nghĩ: "Tay Lưu Điển sử đến vào lúc này cũng lạ đây!".
Lưu Điển sử vì sao lại đến đâyTrong việc này có nguyên do của nó.
Đó là Bành Hưng chờ Bành Công ở ngoài thôn, tới lúc mặt trời đã lặn về tây mà vẫn không thấy Bành Công ra. Đang sốt ruột thấy phía đông có ông già đang đi tới, tuổi chừng ngoài bảy mươi, thần sắc phóng khoáng, tư thế hiên ngang. Bành Hưng đi tới, nói:
- Kính chào cụ, xin hỏi quí trang tên là gì? Chủ nhà giàu này tên họ là gì?
Ông già đáp:
- Thôn trang của chúng tôi đây là Đại Đạo Lý Tân Trang. Chủ nhà giàu kia họ Lý, chính là Bạch Mã Lý Thất Hầu nổi tiếng ở tám huyện miền Đông. Bác tìm ai?
Bành Hưng nghe nói nghĩ thầm: "Lão gia nhà ta trên đường đi nghe người ta kháo rằng Lý Bát Hầu là tên ác bá, vì thế vừa tới nhận chức đã vi hành dò la. Đến giờ này mà lão gia còn chưa ra, phải chăng trong đó đã xảy ra biến cố gì rồi? Chi bằng ta trở về huyện nha báo tin là việc cần kíp nhất". Nghĩ xong, Bành Hưng quay người đi luôn, về thẳng nha môn huyện Tam Hà.
Vừa vào tới nha môn, những sai dịch ở đấy đều chào:
- Bành nhị gia về rồi à? Ông đi đâu đấy. Cũng chẳng lấy một con ngựa mà cưỡi!
Bành Hưng đáp:
- Không có việc cho các anh đâu! Các anh gọi mấy người trực nhật tới phòng canh cổng, tôi có chuyện muốn nói.
Bọn sai dịch đều đáp: "Vâng ạ!". Biểu hiện ra phòng canh cổng ngồi sẵn, người công sai trực nhật theo nha dịch bước vào hỏi:
- Nhị gia, ông gọi chúng tôi có việc gì? Xin ông cứ nói.
Bành Hưng nói:
- Các anh hãy đi mời gấp Tứ lão gia và Thường lão gia đến đây, tôi có việc cần kíp muốn bẩm.
Người đầu mục trực nhật nhận lời đi ngay. Chẳng bao lâu, Lưu lão gia đến. Bành Hưng mời vào ngồi trong hoa sảnh. Một lát sau, Thường lão gia cũng đến. Vị coi doanh lính giữ thành này tên là Thường Hằng, vốn xuất thân cử nhân về võ, bốn mươi tuổi, hiện giữ chức Bả tổng doanh Thủ thành; tính tình cương trục, cánh tay có sức mạnh. Từ khi nhận chức đến nay, ông ta để tâm bắt giữ kẻ xấu. Nay người của quan huyện có lời mời, vội vàng mang theo tùy tòng tới huyện nha. Tới nơi đã thấy Lưu lão gia có ở đấy rồi.
Hai người chào hỏi nhau xong, đồng thanh hỏi:
- Huyện chủ bây giờ ở đâu?
Bành Hưng không dám giấu, kể lại tình hình Bành Công vi hành đến Đại Đạo Lý Tân Trang cho hai người nghe. Lưu Điển sử vừa nghe đã hoảng lên: - Việc này không hay rồi! Nếu quả có việc này thì huyện chủ gặp tốt xấu ra sao, chúng ta biết làm thế nào?
Thường Hằng hỏi:
- Nhân huynh, việc này nên xử trí ra sao đây?
Lưu Điển sử đáp:
- Lý Thất Hầu là người quang minh chính đại, trong huyện Tam Hà chưa hề phạm pháp. Nhưng người em ruột là Lý Bát Hầu thì gian trá trăm điều, người ta đều nể mặt Lý Thất Hầu mà không chấp đó thôi. Việc hôm nay chỉ có cách là điều quân lính đến tróc nã Lý Bát Hầu mới xong.
Thường Bả tổng nói:
- Lời bàn của nhân huynh rất hay. Việc này theo ý tôi, nên báo cho Bạch Mã Lý Thất Hầu. Ông ấy là người khẳng khái, nghĩa hiệp, những việc đã làm đều trên thì hợp với lẽ trời, dưới thì thuận với lòng người. Nếu huyện chủ hôm nay gặp được ông ấy ở nhà thì chắc chắn không kẻ nào dám mưu hại, thế nào cũng được họ cung kính. Nếu ông ấy vắng nhà, thì Lý Bát Hầu không khi nào chịu yên phận. Nay bỗng nhiên ta điều quân lính đến, e không tránh khỏi vội vàng. Chúng ta chỉ nên điều một trăm quân, lại thêm một trăm nha dịch. Tôi trước hết đóng ở đầu thôn chờ nhân huynh. Còn ông đem theo mấy người tùy tòng trước hết hãy đến thăm nhà đã. Nếu Lý Thất Hầu đi vắng, ông dùng lời dẫn dụ để hắn nói ra sự thực. Nếu hắn chưa làm hại huyện chủ, ông có thể tùy cơ ứng biến. Nếu hắn không tuân lệnh, ông sai người báo tin cho tôi, tôi đem quân đến bắt hắn là xong.
Lưu Điển sử nói:
- Hay lắm! Ta cứ thế mà làm.

Hai người bàn xong, điểm quân lính, ai nấy cầm theo đèn lồng và đuốc rồi hai vị quan lên ngựa ra khỏi huyện nha Tam Hà.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Sun Apr 13, 2014 6:16 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 1 (C)
Trời đã sang canh một, cả đoàn đến Đại Đạo Lý Tân Trang. Thường Bả tổng đem quân đến đóng ngoài đầu thôn. Lưu Điển sử đem theo mấy người tùy tùng cầm đèn lồng đến trước cổng nhà Lý Thất Hầu, bảo gia nhân cầm vòng cổng đập cửa. Đập mấy cái, không thấy ai thưa. Ông Lưu tự xuống ngựa, đứng trước cổng bảo gia nhân gọi nữa. Gia nhân lại gọi mấy tiếng, nghe bên trong có người lên tiếng hỏi:
- Ai đấy. Chúng tôi ngủ rồi, có việc gì ngày mai hãy nói.
Ở bên ngoài, gia nhân của Lưu Điển sử là Lưu Trung nói:
- Tôi là Lưu Trung, gia nhân của Lưu lão gia ở huyện Tam Hà. Nhân Lưu lão gia chúng tôi đi tuần tra đêm, nhân tiện đến thăm chủ nhân nhà bác.
Tiếng bên trong nói:
- Xin đợi một lát, chúng tôi ra mở cổng ngay đây!
Đứng bên ngoài, Lưu Điển sử ngẩng đầu lên nhìn, thấy sao sáng đầy trời nhưng tịnh không có ánh trăng, có lẽ đã sang canh hai. Bỗng nghe cổng kẹt một tiếng mở ra, hai người phu báo canh cầm đèn lồng đứng ở hai bên. Gia nhân nhà họ Lý là Lý Trung nói:
- Thì ra là Lưu đại lão gia, lão gia có được khỏe không? Con xin thỉnh an lão gia!
Lưu Điển sử nói:
- Bất tất phải thỉnh an, ta nhân xuống kiểm tra việc công, khuya rồi không trở về được nên ta có ý đến thăm Thất trang chủ của ngươi.
Lý Trung nói:
- Thất gia nhà chúng con được Vũ Thất Thái Tử Phi Thiên Báo ở Vũ gia trang mời chơi hội chùa Lý Giang, chỉ có Bát gia ở nhà. Xin lão gia đợi ở đây một lát, con vào bẩm một tiếng đã.
Lưu Điển sử nói:
- Ngươi vào bẩm cho Bát gia nhà ngươi biết, ta ở đây đợi ngươi.
Lý Trung trở vào nhà trong, tới thư phòng, thấy trên bàn bày cốc chén và thức ăn thừa, hai tên hầu nhỏ là Tam Đa và Cửu Như đang nói chuyện với nhau. Vừa thấy Lý Trung vào, hai đứa nói:
- Lý nhị gia vẫn chưa ngủ à?
Lý Trung hỏi:
- Bát trang chủ đi đâu rồi?
Tam Đa đáp:
- Ông chưa biết à? Ban ngày Bát trang chủ chúng ta chẳng phải đã gọi một ông thầy xem tướng vào nhà, tên là Thập Đậu Tam, hiệu là Long Nguyệt đó sao? Ông ấy vốn là tri huyện mới tới nhận chức, vi hành đến nhà ta dò la, bị Khổng nhị gia nhận ra được nên đã trói người ấy đưa vào trong sân phía tây. Nhân lúc Thất trang chủ đi vắng, Bát trang chủ đã lấy Quỉ đầu đao để kết liễu tính mạng người ấy. Ông muốn tìm Bát trang chủ thì vào sân phía tây mà tìm!
Lý Trung là quản gia của Lý Thất Hầu, tính vốn trung hậu, vừa nghe bọn hầu nhỏ nói thì sợ đến nỗi tái mặt đi, nói:
- Thôi hỏng rồi, gây họa diệt tộc rồi?
Vội cầm đèn lồng chạy tới sân phía tây thì thấy Bát Hầu ngồi trên bàn kê ở giữa sân, hai bên gia nhân hơn mười người, ai nấy đều cầm cương đao, dưới đất có một người bị trói. Lý Trung nói:
- Thưa Bát gia, hiện có Lưu lão gia, Điển sử huyện Tam Hà tới thăm.
Lý Bát Hầu nghĩ bụng: "Vô cớ mà đêm khuya tới thăm để làm gì? Phải chăng có kẻ đã để lộ tin? Trong việc này hẳn có tình tiết đây!". Nghĩ rồi nói:
- Lý Trung, ngươi ra nói là ta ngẫu nhiên bị cảm lạnh, đầu nhức không thể tiếp khách được.
Lý Trung nói:
- Thưa Bát trang chủ, nói như thế sợ không ổn. Vị Lưu lão gia này xưa nay qua lại với Thất trang chủ và Bát trang chủ, hôm nay không phải là khát thì nhất định là đói, nếu không thì mỏi mệt quá nên mới đến đây nghỉ chân. ông ấy có thân với hai lão gia mới đến vào giờ này. Nếu Bát gia không tiếp kiến thì một là làm thương tổn đến hòa khí; hai là, nói Bát gia ốm thì lời nói dối ấy càng không thể nói ra, vì Lưu lão gia thế nào cũng đích thân vào thăm. Theo ý con, nếu đã không thể làm thương tổn đến hòa khí thì nên gặp ông ta là hơn. Không biết ý kiến trang chủ ra sao?
Lý Bát Hầu vốn là kẻ không có chủ ý, thấy Lý Trung nói có lý bèn bảo đám gia nhân:
- Nếu quản gia đã nói thế thì các con hãy băm vằm tên quan chó má này cho ta đã, sau đó ta tới tiền sảnh tiếp khách cũng không muộn.
Đám gia nhân không dám trái lệnh chủ, ai nấy cầm cương đao xông vào Bành Công. Lý Trung nói:
- Khoan đã! Theo ý nô tài, trang chủ nên trước hết đưa người này lên phòng trên canh giữ, tiếp khách xong Bát gia làm việc ấy cũng không muộn, không biết ý Bát gia như thế nào?
Lý Bát Hầu vốn là kẻ chẳng có chủ kiến nào cả, vả hắn cũng hơi sợ, thấy Lý Trung nói thế bèn bảo:
- Thôi cũng được. Trước hết hãy đem giam tên quan chó má này ở phòng trên. Các ngươi trông giữ nó để ta lên sảnh trước tiếp khách, lát nữa sẽ xử lý.
Nói xong đem theo Khổng Lượng và Lý Trung lên sảnh trước. Bát Hầu nói:
- Lý Trung, ngươi mời Lưu lão gia vào, ta đợi ở đây.
Lý Trung vâng lời, một lát sau dẫn Lưu lão gia từ ngoài cổng vào, dẫn cả bảy, tám người tùy tòng theo vào. Bát Hầu vội vàng đứng lên nói:
- Không biết Lưu lão gia lại đến vào lúc này nên không ra đón tận cổng.
Lưu Điển sử nói:
- Đến vào lúc đêm khuya, xin thứ lỗi làm kinh động. Tôi vì đi tuần tra quá muộn song cũng có một việc cần kíp khác, đó là quan huyện mới về nhận chức chưa được bao lâu đã vi hành thăm hỏi, đến giờ còn chưa biết tin nên tôi phải đem theo người đi tìm. Không biết trang chủ có nghe phong thanh được gì không?
Lý Bát Hầu nghe nói thế thầm nghĩ: "Nguy rồi, hẳn là có người đến huyện nha báo tin nên họ mới biết tri huyện ở nhà mình". Bất giác Bát Hầu biến sắc mặt, một lúc không nói được gì. Lưu lão gia vốn là người tinh nhanh thạo việc, thấy bộ dạng
Lý Bát Hầu như thế liền cười:
- Bát trang chủ, tại sao ngài lại ngẩn người ra như thế?
Lý Bát Hầu ngẩn người một lúc lâu, thấy Lưu lão gia hỏi thế đành vội trả lời:
- Ngài hỏi tôi vì sao ngẩn người ra ư? Tôi cũng vì có mấy điều tâm sự không thể nói ra, đúng là ứng với câu nói của người xưa là: "Việc chẳng ưng lòng thường tám, chín. Không ngỏ cùng ai được hai, ba". Ngài vừa hỏi quan tri huyện mới đến nhận chức đã vi hành thăm hỏi, không biết vì cớ gì, phải không ạ?
Lưu lão gia nói:
- Tôi cũng không biết vì cớ gì. Chỉ riêng việc tôi đi tìm huyện chủ thì có nghe được chút phong thanh.
Lý Bát Hầu nghe đến câu này thì sợ nhợt mặt ra, thầm nghĩ: "Giết quan tội ngang làm phản, tôi Lưu Điển sử này mang theo người cũng không nhiều, phải chăng ta đã không làm thì thôi, đã làm là làm tới! Ta giết luôn cả bọn này đi để tránh nỗi lo về sau là hơn". Nghĩ đến đây, gan làm giặc nở to ra, hai mắt mở trừng trừng.
Lưu Điển sử đã sớm nhìn rõ tình thế, ghé vào tai một người đi theo nói mấy câu, gia nhân ấy rảo chân đi như bay, Lý Bát Hầu gọi:
- Khổng Lượng, người tập hợp hết gia nhân nhà ta lại, ai nấy ngầm cầm theo binh khí, sau đó nghe lời ta chỉ bảo!
Hắn trừng mắt nói với Lưu Điển sử:
- Lưu Chính Khanh, ngươi không phải đến tìm tri huyện mà là đến chịu chết! Muốn bỏ chạy cũng không chạy nổi đâu.
Lưu Điển sử nghe xong, đang định nói lại thì nghe tiếng huyên náo ở bên ngoài. Gia nhân họ Lý chạy vào báo:
- Hiện có Thường Bả tổng mang theo quân lính vây chặt nhà rồi!
Lý Bát Hầu biết thế nguy, tay cầm Quỷ đầu đao, nói:
- Lưu Chính Khanh, ngươi dám xin chết trước mặt Bát gia à?
Nói rồi vung đao chạy thẳng tới Lưu Điển sử. Tiếng hô reo ở phía ngoài vang lên, vô số quân lính và nha dịch xông vào, trước hết vây chặt lấy Lý Bát Hầu, quát:
- Lý Bát Hầu, mày muốn làm phản hay sao mà định giết quan?
Lưu Điển sử ra lệnh:
- Quân lính bắt Lý Bát Hầu cho ta! Cũng bắt cả Khổng Lượng nữa! Xong, đi khám xét khắp nơi!
Đám gia nhân nhà họ Lý quỳ xuống kêu:
- Việc này không liên can gì tới bọn chúng con, đều do Bát trang chủ tự ý làm cả.
Thường Bả tổng nói:
- Tri huyện lão gia ở đâu? Mau khai thực ra thì tha chết cho chúng bay!
Đám gia nhân nói:
- Bát trang chủ trói quan huyện giam ở phòng trên phía bắc, chúng con đến mời ngài ra là xong.
Thường Bả tổng nghe nói thế mới yên tâm, nói:
- Mau vào mời ngài ra đây gặp ta!
Đám gia nhân vào phòng trên phía bắc sân đằng tây, trước hết cởi trói cho Bành Công, sau đó quỳ hết cả xuống kêu:
- Bẩm quan lớn, việc này do Bát trang chủ chúng con gây ra, không liên can gì đến bọn tiểu nhân chúng con, xin quan lớn tha mạng!
Bành Công định thần rồi nói:
- Các ngươi đứng lên đi! Người nào sai các ngươi cởi trói cho ta?
Đám gia nhân nói:
- Đấy là Lưu Điển sử và Thường Bả tổng của huyện Tam Hà tới đây bắt Bát trang chủ rồi sai chúng con đến mời quan lớn.
Bành Công nói:
- Cho các ngươi đứng dậy. Hãy đưa ta đi gặp các ông đó!
Đám gia nhân dẫn Bành Công đến thư phòng. Chào hỏi hai vị Thường, Lưu xong, hai vị này liền nói với Bành Công:
- Nhân huynh hôm nay bị một phen kinh sợ.
Bành Công nói:
- Thân vào hiểm địa gặp tên ác nhân. Nếu không có hai vị nhân huynh đến kịp thì tính mạng tôi xong rồi!
Hai vị Thường, Lưu lại nói:
- Bành nhân huynh, huynh vì việc của địa phương mà đi tra xét tên côn đồ nên mới bị chao đảo, kinh sợ một phen. May có thần Phật phù hộ, chúng tôi mới biết tin mà đến, ấy là hồng phúc của nước nhà vậy!
Bành Công nói:
- Tiểu đệ tính toán sai một nước, chỉ định đến thăm hỏi tên côn đồ mà bị nó hãm hại. May nhờ được hai vị mang quân lính đến, đệ mới bảo toàn được mạng sống. Mong hai vị tiểu trừ tặc đảng nhổ cỏ thì nhổ tận gốc, ấy mới là kế vạn toàn.
Lưu Điển sử nói:
- Hãy đưa tên Khổng Lượng vào đây tra hỏi đã!
Gia nhân đứng hai bên đã thắp sẵn đèn lồng chiếu sáng như ban ngày. Quân lính và nha dịch sắp hàng đứng hai bên.
Lưu Điển sử ra lệnh:
- Giải tên Khổng Lượng lên đây!
Quân lính kéo Khổng Lượng tới dưới thềm, quát:
- Quỳ xuống!
Khổng Lượng sợ hãi quỳ mọp dưới đất, kêu:
- Xin lão gia tha mạng. Việc này không liên can gì đến tiểu nhân, toàn là do lỗi ở trang chủ.
Bành Công nói:
- Ta chưa hỏi đến việc ấy. Ta chỉ hỏi, các ngươi đều là con dân của triều đình Đại Thanh, không biết báo cái ơn của đất nước mà chúng mày còn định giết hại quan huyện, thử hỏi người khác thì thế nào? Ta hỏi ngươi, giết huyện quan là chủ ý của ai?
- Thực là chủ ý của một mình trang chủ của tiểu nhân, con không biết gì hết! - Khổng Lượng nói.
Lý Trung đứng cạnh nói:
- Xin lão gia khai ân, tất cả những việc làm của Bát trang chủ chúng con đều do một mình Khổng Lượng xúi bẩy.
Bành Công nói:
- Khổng Lượng, ta biết nếu không dùng cực hình thì mày không khai thật, đợi đưa mày về tới nha môn, ta sẽ hỏi nữa.
Bành Công sai nha dịch chuẩn bị sẵn ngựa rồi nói:
- Xin hai vị Thường, Lưu cùng lên ngựa.
Quân lính cầm đèn lồng dẫn đường, phía sau bổ đầu của huyện Tam Hà là Mã Thanh và Đỗ Minh áp giải Lý Bát Hầu và Khổng Lượng đi thẳng về huyện Tam Hà.
Ngồi trên ngựa, Bành Công ngẩng đầu nhìn lên trời thấy đầy trời sao sáng mà không có ánh trăng. Nghĩ lại những chuyện ban ngày, ông thấy sợ hết hồn, bất giác thở dài, thầm nghĩ: “Vừa về nhận chức không lâu mà đã gặp mối đại hiểm. May mà trên nhờ hồng phúc của quốc gia, dưới nhờ mệnh ta chưa đến lúc hết. Từ nay về sau ta vẫn phải tận trung với nước, trừ hại cho dân, nhưng không được sơ suất nữa. Hôm nay bắt được thằng gian ác này thì cũng là làm cho địa phương được sạch sẽ!" Đang nghĩ thì cách thành không còn xa, trời đã rạng sáng. Lưu, Thường hai vị, ai nấy về bản nha của mình. Về đến nha môn, Bành Công đổi sang mặc áo quan, uống mấy chén trà rồi truyền nha dịch thăng đường. Ba ban nha dịch hô to lấy oai rồi giải Lý Bát Hầu lên. Bành Công ngồi ở giữa công đường, ba ban nha dịch đứng hai bên.
Lý Bát Hầu trông thấy thế nói ngay:
- Ngươi bắt Lý lão gia mang về đây, muốn giết muốn xẻo thì cứ việc. Tội ta chịu cả, nhưng không được để trang chủ của ngươi phải bực mình!
Bành Công nói:
- Tam ban nha dịch, các ngươi nghe thấy rồi chứ? Tên côn đồ gian ác này dưới mắt không có tướng quan, dám gào lên giữa công đường, còn ra gì nữa? Thấy bản huyện mà nó còn như thế thì đủ biết thường ngày nó hoành hành thế nào rồi!
Lý Bát Hầu, lão gia mới đến nhận chức cũng chưa biết ngươi ngông cuồng đến như thế. Ta vi hành đến nhà ngươi thế mà ngươi dám giết quan huyện. Nếu không có quân lính đến cứu thì bản huyện chết vì tay ngươi rồi. Ngươi hãy khai những việc đã làm cho rõ ràng để bản huyện khỏi phải dùng cực hình tra khảo.
Lý Bát Hầu mắng:
- Đồ quan chó má, Bát trang chủ của ngươi không có khẩu cung đâu, hà tất phải hỏi nhiều!
Bành Công nói:
- Ta hỏi ngươi, ta giả làm thầy tướng, vì sao ngươi toan giết ta? Mau khai ra!
- Ta thấy ngươi không phải người tốt nên định giết đi! -
Bát Hầu đáp.
Bành Công phán:
- Tên nô tài kia, ta không cho đánh thì ngươi chưa biết ta lợi hại đến mức nào. Ngươi đâu, hãy lôi nó xuống đánh thật nặng tay, không được nể tình. Nếu kẻ nào vì tình riêng, ta sẽ xử luôn bọn bay một thể.
Nha dịch nghe nói thế đều sợ vị quan huyện mới tới nhận chức nên không dám nể tình, dằn Lý Bát Hầu nằm xuống đất, giơ hèo lớn lên đánh đủ bốn chục hèo. Đánh xong, Bành Công lại hỏi:
- Tên nô tài kia, ngươi có mau khai không?
Lý Bát Hầu vốn chưa chịu hình phạt của quan bao giờ, lại lớn lên trong một nhà giàu có, nay chịu một trận đòn, đánh đến nỗi máu rơi thịt nát, chẳng biết làm sao. Thấy Bành Công hỏi nữa, hắn thở dài nói:
- Ông không phải hỏi nữa. Tôi đã bị ông vi hành đến nhà điều tra rõ rồi, ông còn hỏi nhiều lời làm gì nữa?
Bành Công gọi nha dịch giải Khổng Lượng lên, nói:
- Tên nô tài gian ác kia, ngươi xúi giục chủ ngươi làm gỏi dân chúng, ăn hiếp dân lành. Ngươi cứ thực khai ra thì tránh được đòn vọt.
Khổng Lượng thấy quan hỏi đến bèn thưa:
- Bẩm lão gia, những việc chủ nhân con đã làm, tuy con có biết nhưng không dám quản đến, xin lão gia soi xét.
Bành Công nhìn Khổng Lượng biết hắn là một kẻ tiểu nhân xảo quyệt lại thấy hắn mồm miệng trơn tru, hôm qua trong trang trại ấy, hắn đã từng khiến người khác phải sợ. Tên nô tài kia mới run rẩy nói:
- Xin lão gia tha mạng?
- Trước hết hãy đánh tên nô tài này bốn chục hèo lớn cho ta, sau đó tra hỏi cũng chưa muộn! - Bành Công ra lệnh.
Đám nha dịch lôi Khổng Lượng xuống, đánh một trận thẳng tay. Bành Công đang định sai đưa Lý Bát Hầu lên tra hỏi lần nữa thì trời đã sáng, gà gáy ba hồi, mặt trời mọc từ phương đông. Bỗng bên ngoài có người vào báo:
- Bẩm lão gia, ngoài kia có Bạch Mã Lý Thất Hầu xin gặp lão gia. Hiện đang đứng ngoài đó.
Bành Công nghe nói thầm nghĩ: "Lý Thất Hầu là tên cướp nổi tiếng cả một vùng kinh đông. Nay hắn đến đây vì em hắn bị bắt, e rằng có chuyện không hay". Nghĩ rồi, Bành Công cố ý hỏi ba ban nha dịch:
- Lý Thất Hầu là người thế nào, các ngươi có biết rõ không?
Lưu Tường ở ban thư ký mỉm cười nói:
- Đại lão gia muốn hỏi về người này thì người đó nổi tiếng ở huyện ta. Ở bản địa, không có một vụ án nào là do người ấy gây ra. Trong địa phận huyện Tam Hà, người ấy còn cai quản để không có án trộm cướp. Nay người ấy đến đây hẳn là vì việc người em. Lão gia gặp hay không đều có thể được cả.
Bành Công nghe thư dịch nói thế bèn gọi người đứng đầu cả ba ban sai dịch là Đỗ Hùng tới trước mặt, bảo:
- Ngươi ra gọi Lý Thất Hầu vào đây cho ta, ta sẽ hỏi hắn ngay tại công đường.
Đỗ Hùng ra tới bên ngoài, gọi:
- Thất thái gia ở đâu?
Thì ra Lý Thất Hầu nhân đi chơi hội ở chùa Lý Giang, họp mặt cùng Vũ Thất Thái Tử Phi Thiên Báo và các anh hùng lục lâm. Bọn họ chơi hội cả một ngày, trong số đó có Vũ Văn Hoa, Tả Thanh Long, Tả Bạch Kiểm, Vũ Thất Thái Tử đã về nhà Lý Thất Hầu mang theo bọn bạn bè tri kỷ là Kim Nhỡn Ma Vương Lưu Trị, Hoa Diện Thái Tuế Lý Thông, Bạch Kiểm Lang Phùng Báo, Tiểu Thái Tuế Đỗ Thanh, Tiểu Quân Sư Phùng Thái, Song Đao Tướng Lý Long, Lam Diện Quỷ Lưu Ngọc, Xích Phát Ôn Thần Cát Hùng. Họ đều là bạn thân của Bạch Mã Lý Thất Hầu nên đi theo về Đại Đạo Lý Tân Trang. Về đến trang, trời đã sáng bạch. Vừa vào đến cổng, gia nhân đã báo:
- Thất lão gia, nguy to rồi! Bát trang chủ nhà ta đêm qua bị điển sử và bả tổng đang đêm đưa quân lính đến đem đi cùng với Khổng Lượng, đến nay chưa có tin gì. Chúng con đang định đến chùa Lý Giang thỉnh Thất lão gia đây. May quá, lão gia về nhà thật là đúng lúc.
Lý Thất Hầu vừa nghe gia nhân nói đã giật nảy người, miệng không nói gì nhưng trong lòng thầm nghĩ: "Bát đệ thường ngày không coi luật pháp ra gì, nhưng hôm nay vì cớ gì bị người ta bắt đi, thật là chuyện lạ". Thất Hầu đưa các bạn vào phòng khách. Các anh hùng lục lâm nghe nói Lý Bát Hầu bị bắt lên huyện Tam Hà thảy đều tức giận, nói:
- Lý trại chủ, anh em ngài chưa hề gây án ở nơi này, sao quan lại chó má lại dám càn rỡ đến thế? Theo ý chúng tôi, mọi người chúng ta cùng xông vào huyện nha, cướp Bát đệ đem ra, sau đó giết luôn tên quan chó má đó đi. Xong việc, chúng ta cao chạy xa bay là xong.
Lý Thất Hầu nói:
- Xin các vị hãy khoan, để tôi hỏi gia nhân trước đã, xem vì cớ gì?
Bèn gọi gia nhân là Lý Trung đến hỏi:
- Bát trang chủ vì sao bị người ta bắt đi?
Lý Trung đáp:
- Nhân tri huyện mới tới nhận chức họ Bành tên Bằng có vi hành đến trang trại ta dò la, ông ta đóng giả thành thầy xem tướng, bị Bát trang chủ nhận ra được nên đã trói ông ta và định giết. Việc ấy bị người nào đó nói lọt ra, Lưu Điển sử và Thường Bả tổng đang đêm mang quân lính và nha dịch đến nhà ta, cứu tri huyện đó ra rồi bắt Bát trang chủ. Cả Khổng Lượng cũng bị giải đi. Chúng con đang nóng lòng sốt ruột thì Thất trang chủ về.
Lý Thất Hầu nghe nói lại như thế thì thầm nghĩ: "Theo lý thì em ta sai rồi". Bạch Kiểm Lang Phùng Bác đứng cạnh nói:
- Thất huynh, huynh không cần nói nữa. Chúng ta chờ đến tối cùng nhau đến huyện, giết tên quan chó má, cứu Bát đệ ra là xong!
Đám anh hùng phía bên kia cũng nói:
- Phùng hiền đệ nói phải lắm!
Lý Thất Hầu cũng gọi được là anh hùng cái thế, bèn nghĩ: "Một là em ta tự ý làm càn, hai là hẳn viên tri huyện kia là quan thanh liêm. Ta nên đến huyện để tùy cơ ứng biến". Nghĩ xong nói:
- Các vị huynh trưởng theo tôi, chúng ta không nên thô bạo, tạm thời xem thế nào đã rồi hãy hay.
Nói xong, mọi người ra khỏi nhà khách đi tới đầu thôn, dặn gia nhân chuẩn bị ngựa rồi ra khỏi trang trại, đi thẳng tới huyện Tam Hà.
Chỉ một lát đã tới huyện thành Tam Hà rồi mọi người đến nha môn. Lý Thất Hầu là một hào kiệt của bản huyện, các nha dịch của ba ban sáu phòng không ai là không biết. Thấy Lý Thất Hầu tới nha môn, ai nấy đều chào hỏi:
- Thất lão gia đã đến rồi sao?
Nhờ các vị vào bẩm với lão gia, nói rằng tôi xin gặp về một việc cần kíp. - Lý Thất Hầu nói.
Người trực ban vào báo tin, Bành Công sai Đỗ Hùng ra gặp. Đỗ Hùng thấy Lý Thất Hầu thì thỉnh an, nói:
- Thất lão gia, lão gia có được khỏe không? Lão gia chúng tôi có lời mời.
Lý Thất Hầu quay qua bảo các anh em:
- Các vị ở ngoài này đợi tôi.
Đỗ Hùng đưa Lý Thất Hầu vào công đường xướng to:
- Lý Thất Hầu xin vào!
Nha dịch đứng hai bên hô: "Ồ!". Lý Thất Hầu thầm nghĩ: "Đỗ Hùng rất nể tình với ta, còn xướng trước khi ta vào, hẳn là có duyên cớ chi đây!".
Vào tới công đường, Thất Hầu nói:
- Đại lão gia ngồi trên, Thất Hầu tôi xin khấu đầu!
Bành Công vừa nhìn đã nhận ra ngay người khiến Trương Hoằng sợ phải bỏ đi ở chùa Lý Giang, bèn nói:
- Nhà ngươi thật là lớn mật, dám dung túng cho em trai hành hung tác quái, tự ý làm càn. Hôm nay ngươi đến đây nên xử như thế nào?
Lý Thất Hầu thưa:
- Xin lão gia đặc cách gia ơn, tha cho em tôi, tôi tình nguyện chịu tội thay em. Không biết ý kiến của lão gia thế nào?
Bành Công biết Lý Thất Hầu là người trọng nghĩa khinh tài có thể thu phục để tróc nã trộm cướp ở địa phương, bèn nói:
- Lý Thất Hầu, việc này ngươi có biết hay không?
Lý Thất Hầu thưa:
- Chỉ vì tiểu nhân quản lý giáo dục không nghiêm nên em tiểu nhân mới làm việc nghịch lý đó. Tiểu nhân tình nguyện nhận tội.
Bành Công nói:
- Từ ngày dựng nước đến nay, người nào phạm pháp thì người ấy phải nhận tội, luật đã định như thế. Bản huyện lâu nay được biết ngươi là lục lâm, chứa giặc trong nhà. Hôm nay ngươi dựa thế những kẻ tác oai tác quái đến đây định làm rối loạn việc công của ta, có đúng thế không?
Lý Thất Hầu thưa:
- Lão gia đã biết tiểu nhân không hề gây án ở bản huyện. Nếu còn ngờ xin lão gia cứ tra xét sổ sách và gọi sai dịch lên hỏi. Tiểu nhân chỉ biết trừ ác an dân, chuyên giết ác bá thổ hào để trừ hại cho dân. Em của tiểu nhân là kẻ vô tri, xin lão gia nghĩ đến dân ngu không biết gì mà trị tội tiểu nhân là được.
Bành Công nói:
- Ngươi đã là người hiểu biết thì cũng nên biết lẽ trời sáng tỏ báo ứng không sai. Đại trượng phu sinh ra ở trên đời, thế nào cũng phải nêu danh làm vẻ vang cho cha mẹ, đấy mới là cái gốc của việc lập thân. Ngươi hôm nay đến đây, bản huyện thấy tướng mạo ngươi không tầm thường nên có mấy câu muốn nói cho ngươi biết. Nếu ngươi muốn trở thành anh hùng thật sự thì bản huyện sẽ thu dụng ngươi làm người đứng đầu nha dịch, chịu sự sai bảo của bản huyện, không biết ý ngươi thế nào?
Vừa nghe mấy câu này, Thất Hầu thấy khó xử quá. Nếu không bằng lòng thì chỉ sợ không cứu được em ra; còn nếu bằng lòng lại sợ làm mếch lòng những bạn bè thân trong đám lục lâm. Nghĩ rồi, nhích lên phía trước một bước, nói:
- Được lão gia thi ân, nâng đỡ, tiểu nhân đâu dám trái lệnh. Chỉ vì việc riêng trong nhà không ai lo liệu, tiểu nhân tạm thời xin cáo từ, ngày sau bẩm lại với lão gia để xin góp sức.
Bành Công nói:
- Hôm nay ta nể mặt ngươi đó. Người đâu, đem Lý Bát Hầu ra đánh tám chục hèo cho ta!
Nha dịch dạ ran rồi kéo cổ Lý Bát Hầu xuống đánh tám chục hèo nữa.
Đánh xong lôi dậy, bắt quỳ xuống khấu đầu. Bành Công nói:
- Ta tạm thời tha cho ngươi. Từ nay ngươi nên biết sai trái mà sửa đổi lỗi lầm, như thế còn có thể miễn tội. Nếu tái phạm trong tay bản huyện thì ta sẽ xử thật nặng. Lý Thất Hầu, ngươi mang em về, ắt phải quản lý giáo dục thật nghiêm.
Lý Bát Hầu luôn miệng xin tha, còn tên gia nhân Khổng Lượng vẫn còn quỳ một bên. Lý Thất Hầu lại khấu đầu trước Bành Công:
- Xin tạ ơn lão gia, mong lão gia thả nốt cho Khổng Lượng về.
Bành Công nói:
- Lý Thất Hầu, ngươi lại còn xin tha cho tên nô tài kia ư? Ngươi nghĩ mà xem, những việc sai trái mà em ngươi làm đều do tên nô tài này xúi bẩy cả. Hôm nay ta phải trừng trị để nó không còn làm được chuyện thị phi nữa.
Thất Hầu cũng biết ngày thường Khổng Lượng làm nhiều điều quá độc ác em mình cũng do hắn xúi giục mà làm bậy nên chỉ gọi Bát Hầu cùng mình tạ ơn Bành Công. Hai anh em ra khỏi nha môn, gặp lại các anh hùng lục lâm. Kim Nhỡn Ma Vương Lưu Tự hỏi:
- Hai vị trang chủ, sự việc như thế nào rồi?

Lý Thất Hầu bèn kể lại tình hình trong công đường, sau đó mọi người cùng về nhà. Bành Công sai đánh Khổng Lượng một trận nữa rồi sai gông lại bằng cái gông nặng hơn hai mươi cân. Sau khi gông đủ ba tháng, lúc đó mới tha cho về.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Mon Apr 14, 2014 4:53 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 2
Triệu Vĩnh Trân Kêu Oan Nơi Để Xác, 
Bành Huyện Lệnh Xét Đoán Án Ly Kỳ
Một buổi sáng Bành Công vừa thăng đường tra xét, bỗng nghe bên ngoài ồn ào rồi có tiếng kêu oan, xin quan huyện cứu mạng. Các nha dịch toan ngăn cản thì Bành Công sai đưa người kêu oan vào. Nha dịch trực ban đưa tám người vào đều là nông dân, trẻ có già có. Người đi trước tuổi ngoài năm mươi, mặc quần áo vải chàm, giày xanh tất trắng, mặt mũi ngay ngắn nhưng buồn rầu ứa lệ. Bành Công hỏi:
- Ngươi tên gì? Ở đâu? Có oan uổng gì nói ra!
Ông già mặt còn ngấn nước mắt, thưa:
- Thảo dân họ Trương tên Vĩnh Đức, từ nhỏ theo nghề nông, chỉ sinh được một trai một gái, vợ đã qua đời. Con trai tên Trương Ngọc, hai mươi tuổi, con gái tên Phượng Nhi mới mười bảy tuổi. Con trai chưa vợ, con gái chưa nhận lễ ăn hỏi. Gia đình ở thôn Hạ Điếm. Hôm ấy là ngày hai mươi tám tháng Tư, trong thôn có đám hát, con gái đi xem, bị một tên vô lại nổi tiếng ở Hạ Điếm cướp đi. Tên này tên họ là Tả Khuê, biệt hiệu Tả Thanh Long. Chú hắn là người cung cấp lương thực cho phủ Dụ vương, hắn cũng mở cửa hàng lương thực, thủ hạ là những tên đầu gấu. Thằng bé Trương Ngọc của con tìm đến nhà nó, nó đánh cho một trận, con gái cũng không biết sống chết ra sao, còn con trai bị thương rất nặng nên con mới đến đây kêu oan, xin quan lớn gia ân cho tìm con gái về thì cả nhà con đội ơn đức của ngài.
Bành Công nói:
- Được rồi! Còn những người khác thì vì việc gì, có đơn trình hay không?
- Chúng con đều tố cáo tên Tả Thanh Long, có đơn trình ở đây!
Bèn đưa tờ trình lên. Nha dịch nhận lấy, chuyển lên cho lão gia. Bành Công xem đơn thấy tờ đầu người đứng đơn là Dư Thuận, là dân thôn Tiểu Đông thuộc Hạ Điếm ở huyện Tam Hà. Đơn rằng:
Đơn trình về việc ỷ thế ăn hiếp người, dọa nạt lừa dân.
Kẻ buôn bán hàng lương thực ở Hạ Điếm là Tả Khuê, tên hiệu là Tả Thanh Long ỷ thế chú hắn là Tả trang đầu ức hiếp dân làng. Trước đây, ngày mồng chín tháng Tư, hắn mua tám mươi thạch lúa mạch, ba mươi thạch ngô ở phố Hạ Điếm, thành tiền là năm trăm hai mươi lạng bạc nhưng hắn không trả tiền. Đến tận nơi đòi hắn thì hắn sai đồng đảng hơn mười người, trong đó có tên Tôn Nhị Lừa, tên Hà Mắt Trố, và tên Gia Hữu Lý, cùng những tên khác, lại bảo Thuận tôi sai ngoa, cầm gậy và thước sắt đánh thành hơn hai chục vết thương nặng khắp người. Trước đây đã được quan huyện tiền nhậm khám nghiệm rõ ràng nhưng đến nay vẫn chưa truyền gọi hắn đến xử án. Vì thế Thuận tôi đánh liều mạo phạm thiên uy, chỉ xin gia ơn truyền gọi hắn đến xử án để xét xử cho công bằng.
Bành Công xem xong, lại xem đến tờ trình thứ hai, vẫn kêu về việc Tả Thanh Long chiếm nhà đất; lại còn cấu kết hợp mưu làm giả giấy tờ, ức hiếp gái góa, gian dâm với trẻ con, xâm chiếm ruộng vườn, tự ý lập ra công đường khảo đả lương dân, uy hiếp phải gả con, v.v... Xem hết các đơn trình, Bành Công thấy việc này có mối quan hệ trọng đại, thật giả khó biết.
Nếu hắn quả là ác bá, tại sao quan huyện trước đây không có hồ sơ truy tố hắn? Có thể là chuyện ghen ăn tức ở, một nhà ấm no nghìn nhà oán hận, cho vay mượn không đồng đều nên mọi người mới tố cáo hắn chăng? Ông tự nhủ phải xem xét tận nơi, mắt nhìn thấy mới là thực, còn tai nghe chưa lấy gì làm chắc. Nghĩ rồi Bành Công nói:
- Các ngươi hãy về đi, ba ngày nữa đến nghe ta phán xử. Dân bèn ra về. Bành Công lui khỏi công đường, sai Bành Hưng ra ngoài kiếm mấy bộ quần áo để Bành Công giả thành một tiên sinh nho nhã. Ông đi một mình, lấy lạng bạc giắt lưng đổi thành tiền lẻ, thuê một con lừa đi thẳng tới Hạ Điếm.
Lúc ấy là sau tết Đoan Ngọ, trời đang nóng nực, lúa má ngoài đồng đang lên tươi tốt, khí trời trong sáng, cây xanh rợp bóng. Vào đầu mùa hè, nông dân đang cày bừa ngoài ruộng, người đi lại trên đường cái hầu hết là chịu khổ bôn ba vì danh vì lợi. Bành Công ngồi trên lưng lừa, thấy Hạ Điếm không còn xa. Bỗng thấy trước mặt có một đám đông, đến gần để xem, trong đám ấy có người dắt lừa thuê khoảng ngoại tứ tuần, mình mặc áo vải chàm đã cũ, bên ngoài là chiếc áo cộc tay đã rách, chân trần, xỏ đôi giày cũ, trên mặt lấm tấm vết bùn, râu ngô, mắt tròn, lông mày ngắn. Đứng bên là một người ngoài ba chục tuổi, mặt trắng trẻo, mình mặc áo ngắn rộng vải lam, áo trong cũng vải lam, tất trắng giày xanh, mày dài mắt to, miệng đang kêu lớn:
- Mi là cái đồ ngang ngược. Ta hỏi mi, mi phải nói cho rõ. Nay mi lại chày bửa, đất nhà mi bắt nạt người lạ quá lắm!
Người mặc áo cộc tay nói:
- Không cần nói nhiều, ta đánh mi trước đã?
Nói xong giơ nắm đấm lên đánh liền. Người kia nói:
- Ta không muốn đánh nhau với mi. Nếu mi muốn đánh ta thật thì ta cũng đánh lại đấy!
Mọi người kéo đến hỏi xem là chuyện gì. Người trẻ tuổi mặt trắng trẻo nói:
- Tôi ở trong huyện thành Tam Hà, họ Tào tên Nhị, mở một hiệu tạp hóa An Lạc Đường ở chân thành phía Bắc sau cửa Kinh đô. Vì ở quê còn có mẹ già tám mươi tuổi, lại có một chú em, hôm qua có gửi cho tôi một bức thư, nói mẹ tôi đã mất. Tôi vội vàng mua mấy chiếc quần áo. Trời sáng, tôi ra thành đến cửa Tề Hóa thuê con lừa đến Thông Châu. Nghe tin mẹ mất tôi chẳng thiết ăn cơm. Mẹ con gắn bó, tôi hận không có cánh để bay về nhà. Đến Hạ Điếm tôi lại thuê con lừa khác, đã nói rõ với ông ta là trả hai trăm tiền. Tôi cưỡi lừa, đi được một quãng, ông ta bảo tôi đi nhanh quá, trời nắng nóng, tiết trời viêm nhiệt nên nói rằng ông ta không theo nổi và không dắt lừa nữa, kéo lừa lại bảo tôi xuống. Tôi liền xuống, chẳng hơi đâu bực mình với ông ta. Tôi nghĩ mình đã cưỡi lừa đi một đoạn đường nên trả ông ta năm mươi tiền, ông ta cứ đòi đủ hai trăm tiền, nếu không trả, ông ta không cho tôi đi, vì thế mà cãi nhau như các vị đã thấy.
Nghe thấy thế, Bành Công bèn xuống lừa, bảo người dắt lừa:
- Ông là người dắt lừa cho thuê, sao lại không biết điều?
Người ấy không nghe, sấn tới cho người thuê lừa một đấm. Tào Nhị giơ đấm lên đón đỡ, vừa đấm trả, lập tức đã đánh chết ngay người kia. Tào Nhị sợ tái mặt. Mọi người thấy là án mạng đều rạt cả sang hai bên. Lúc ấy có hai người làm việc quan đi tới hỏi:
- Ai đánh chết người này? Người kia phải không?
Đám người đứng xem đều giơ tay chỉ vào Tào Nhị. Người làm việc quan bảo:
- Đi lấy cái khóa mang lại đây, khóa Tào Nhị lại rồi sau sẽ xử lý.
Lát sau có mấy người chức dịch trong làng như hương ước, bảo giáp đi tới, ai nấy nói:
- Đi lấy cái nong đậy lại, cử một người ở lại trông.
Một chức dịch địa phương tên Đỗ Lượng bảo:
- Cậu Ngụy Bảo Anh trông xác đi, chúng tôi giải người này đến nha môn báo có án mạng. Án mạng là chuyện hệ trọng, không phải chơi.
Nói xong lôi Tào Nhị về huyện Tam Hà.
Bành Công thầm nghĩ: "Nhà anh kia số đen quá, vừa một đấm đã đánh chết người. Lạ thật, tuổi thọ người ta có số định sẵn thật". Nghĩ rồi quay người đi vào phố Hạ Điếm, thấy người đông đúc, cửa hiệu rất nhiều, đường nam nẻo bắc, hàng hóa buôn bán thật là hưng thịnh. Đang đi, thấy phía bắc có một quán rượu, cửa hàng sạch sẽ. Bành Công bước vào, người hầu bàn chạy tới nơi:
- Quí khách muốn gọi món gì?
Bành Công nói:
- Cho hai dĩa thức nhắm và hai hồ rượu.
Lát sau, rượu và thức nhắm bày lên. Bành Công hỏi người hầu bàn:
- Ta muốn hỏi thăm anh về một người, không rõ anh có biết không?
Hầu bàn nói:
- Quí khách cứ nói. Người nào có tên thì biết, không tên thì chịu. Xin hỏi quí khách trước, người ấy là ai?
Bành Công nói:
- Ta muốn hỏi thăm ông Tả Thanh Long Tả Khuê, chủ cửa hàng lương thực.
Người hầu bàn lè lưỡi đáp:
- Ngài hỏi người khác thì tôi có thể không biết chứ hỏi Tả Khuê thì ai cũng biết. Quí tính ngài là gì?
- Ta họ Thập, muốn mua ít lương thực ở đây.
- Mua lương thực mà quen biết ông Tả thì lợi lắm. Giá lương thực ở phố này do ông ấy định. Hàng đáng giá mười lạng, ông ấy trả năm lạng, không ai dám không bán, ít người dám bực bội. - Hầu bàn đáp.
- Vậy chứ ông Tả Thanh Long ở đâu?- Bành Công hỏi.
- Hôm nay ông ấy không ở đây. Phiên chợ ngày ba, ngày sáu ngày chín mới tới.
Bành Công thầm nghĩ: "Hôm nay uổng công rồi, chi bằng ta về xem xét vụ án mạng kia đã, sau sẽ thăm Tả Thanh Long cũng chưa muộn". Nghĩ rồi uống vài chén rượu, trả tiền, trở lại nha môn.
Trời đã sẩm tối, Bành Công tới cổng sau gọi cổng. Bành Hưng đang mong chủ, bỗng thấy tiếng gọi cổng liền hốt hoảng đi ra mở cổng sau, cầm đèn lồng lên soi, hóa ra lão gia đã về.
Vào qua cổng rồi, Bành Công bảo đóng cổng lại, đi thẳng tới thư phòng ngồi xuống. Bành Hưng tới thỉnh an xong, hỏi:
- Lão gia đã dùng cơm chưa?
- Ta ăn rồi. Hôm nay có công văn giấy tờ gì không?
- Có hai văn kiện, một trong số đó là vụ án mạng do ẩu đả của Tôn Lượng ở Hạ Điếm trình báo. Hung thủ Tào Nhị cũng được giải đến, hắn là người trong thành của bản huyện. - Bành Hưng nói.
Bành Công nghe xong, uống mấy chén trà rồi gọi trực ban chuẩn bị cho ông thăng đường. Thay xong quan phục, ông vào ngồi giữa công đường. Đèn hai bên chiếu sáng như ban ngày.
Bành Công phán:
- Đưa hung thủ vụ án mạng do địa phương Hạ Điếm trình báo lên công đường để nghe xét xử.
Người đứng đầu trực ban vâng lời, đưa phạm nhân đứng bên dưới lên. Tào Nhị quỳ xuống nói:
- Bẩm quan lớn, tiểu nhân là Tào Nhị xin cúi lạy.
Bành Công để ý nhìn, hung thủ chính là người vừa đánh nhau ban sáng, bèn hỏi:
- Ngươi là Tào Nhị phải không?
- Bẩm vâng.
- Vì sao ngươi đánh chết người. Người bị chết là người ở đâu?
Tào Nhị kể lại đúng như tình hình lúc ban sáng. Bành Công nghe xong, sai người giải xuống, dặn trông giữ cho kỹ.
Ông làm thêm mấy việc của nha môn rồi lui khỏi công đường về thư phòng nghỉ ngơi. Sáng hôm sau, Bành Công ăn cơm sáng xong dẫn theo nha dịch làm ở phòng hình sự cùng đi đến Hạ Điếm nghiệm xác.
Ra khỏi thành huyện Tam Hà, người ngựa, phu kiệu đi thẳng về Hạ Điếm. Tới nơi để xác, chức trách địa phương đã đứng đón quan huyện. Bành Công xuống kiệu nhìn thì có người đã lợp mái che, giữa để bàn xét xử, trên bàn đặt giấy bút, bèn vào ngồi trước bàn, sai người đến nghiệm xác. Người nghiệm xác tên Lưu Vinh, xem xong, quì thưa:
- Xin quan lớn xem qua, người này khắp người bị bốn mươi tư vết thương, bảy vết thương chí mạng.
Bành Công nghe nói không vui, thầm nghĩ: "Hôm qua chính mắt bản huyện nhìn thấy Tào Nhị vung một đấm đánh chết người dắt lừa, tại sao hôm nay lại có đến bốn mươi tư vết thương?". Tức thì đứng dậy lại xem, quả nhiên xác này khắp người là vết máu, mặt mũi khó nhận ra. Bành Công trở lại ghế, bảo Tào Nhị:
- Tào Nhị, rốt cuộc ngươi làm sao lại đánh hắn chết?
Tào Nhị thưa:
- Tiểu nhân vì việc thuê lừa, cãi nhau rồi chỉ đấm một cái hắn đã chết. Nếu bảo con đâm hơn bốn mươi vết thương thì thật là không đúng.
- Tào Nhị, ngươi đến nhận xem sao? - Bành Công nói.
Tào Nhị được người dẫn đến bên xác chết. Vừa nhìn thấy, Tào Nhị đã ngẩn ra vì đó là xác một thanh niên chừng mười tám, mười chín, nước da trắng trẻo, bị máu loang nên không nhận ra mặt mũi; mình mặc bộ quần áo lụa màu lam dính đầy máu, khắp người bị thương. Tào Nhị xem xong, trở về quì tâu với Bành Công:
- Bẩm quan lớn, tiểu nhân oan uổng! Hôm qua bị con đấm chết là người đàn ông ngoài bốn mươi mặc quần áo rách, còn hôm nay là người trai trẻ, khắp người thương tích, không biết bị ai đánh chết.
Bành Công nghe nói, suy nghĩ một lát rồi bụng bảo dạ: "Hôm qua chính mắt ta nhìn thấy đó là người đàn ông tuổi hơn bốn chục, sao hôm nay lại là người khác? Nhất định là có chuyện". Nghĩ xong lại đến cạnh xác chết xem kỹ một lượt, đúng là không phải người bị đánh chết sáng hôm qua, đúng là có duyên cớ chi đây. Xem xong, Bành Công trở về chỗ ngồi, bảo:
- Cho gọi quan chức địa phương lên đây.
Người đứng cạnh vâng dạ, dẫn tới một người. Người này quì mọp, nói:
- Bẩm lão gia, Đỗ Lượng xin khấu đầu.
- Ngươi là chức dịch ở địa phương đây. - Bành Công hỏi.
Đỗ Lượng nói:
- Vâng tiểu nhân được làm chức dịch ở địa phương.
- Ta hỏi ngươi, hôm qua Tào Nhị đánh chết người dắt lừa, ngươi trông coi xác phải không?
- Không ạ.
- Không phải ngươi thì là ai? - Bành Công hỏi.
- Vì tiểu nhân phải giải hung thủ lên nha môn trình báo, nên nơi này chỉ để người giúp việc của tiểu nhân là Ngụy Bảo Anh trông xác thôi ạ.
Bành Công phán:
- Đưa Ngụy Bảo Anh lên đây cho ta hỏi.
Đỗ Lượng vâng dạ rồi đứng lên gọi Ngụy Bảo Anh. Lát sau có người thưa và bước vào lán, tới trước mặt Bành Công quì xuống khấu đầu. Bành Công nhìn xuống, nói:
- Ngươi ngẩng mặt lên cho ta coi!
Ngụy Bảo Anh ngẩng đầu lên, Bành Công thấy hắn khoảng hai mươi tám, hai mươi chín tuổi, da mặt xanh xao, không có lấy một giọt máu, lông mày vàng, mắt ba góc múi thịt hằn trên mặt, mũi cao, môi mỏng, mình mặc áo vải màu lam, tất vải có hoa tím, giày vải xanh, quì mọp thưa:
- Trên có quan lớn, tiểu nhân là Ngụy Bảo Anh xin cúi lạy.
Bành Công nói:
- Nguy Bảo Anh, ngươi năm nay bao nhiêu tuổi, làm việc được mấy năm rồi?
Nguy Bảo Anh thưa:
- Tiểu nhân hai mươi chín tuổi, từ nhỏ đã giúp việc ở cửa công. Cha tiểu nhân tên hiệu là Ngụy Bất Hoạt, từng làm bảo giáp ở nơi này, nay đã chết. Tiểu nhân giúp việc cho ông Trưởng Đỗ.
Bành Công hỏi:
- Một mình ngươi trông xác hay còn người khác nữa?
- Một mình con trông xác, không có người nào khác.
Đã không có người khác, vậy ta hỏi ngươi, tại sao xác lại bị đánh tráo trong đêm qua? - Bành Công hỏi.
- Tiểu nhân trông xác suốt đêm không hề ngủ, sao lại có chuyện đánh tráo được? - Ngụy Bảo Anh cãi.
Bành Công mỉm cười:
- Ta thấy đồ nô tài đáng chết là ngươi to gan thật, trong đêm qua đã đánh tráo xác mà còn dám không khai thực.
Ngụy Bảo Anh vẫn cãi:
- Tiểu nhân đâu có dám gây chuyện gì, xin lão gia lượng xét.
Bành Công phán:
- Ta hỏi mà ngươi không chịu khai thật. Người đâu, lôi xuống vả vào miệng hắn cho ta!
Nha dịch lôi Ngụy Bảo Anh xuống, vả cho bốn mươi cái, lại đánh thêm bốn chục hèo nữa. Ngụy Bảo Anh nói:
- Lão gia dù có đánh chết tiểu nhân, cũng không có khẩu cung đâu. Mong lão gia làm ơn cho!
Bành Công nói:
- Ta đã biết ngươi không phải là người lương thiện, nếu ngươi không chịu khai thật, ta cho người đánh chết tươi! Người đâu đánh nữa cho ta!
Nha dịch lại lôi xuống đánh nữa, Ngụy Bảo Anh đành nói:
- Xin lão gia đừng đánh nữa, con xin khai là xong.
Bành Công sai nha dịch lôi dậy, Ngụy Bảo Anh cúi lạy rồi khai:
- Hôm qua được Đỗ Đầu mục sai phái, con ở lại trông xác. Con ăn cơm tối xong, uống hai lạng rượu, tới nằm ngủ bên xác chết. Tới trống canh hai, một luồng gió lạnh thổi thấu xương, khiến con dựng tóc gáy. Trở dậy nhìn trời, khắp trời đầy sao mà không có trăng, không có một ai làm bạn. Con định thần nhìn, thấy bên xác chết đèn bấc lụi dần, con bèn cắt muội bấc đèn rồi toan đi ngủ. Bỗng một trận gió lạnh nữa thổi tới, thật là rùng rợn, cứ thổi quây tròn lấy con. Con bèn bịt mắt lại ngủ đến khi trời sáng bảnh rồi gọi mấy người dựng mái che, chờ quan lớn đến nghiệm xác. Lời khai này là thực, không có nguyên cớ gì khác xin quan lớn tra xét kỹ, đừng đánh con nữa.
Bành Công thấy Ngụy Bảo Anh-mồm mép liến láu che đỡ như thế liền gọi:
- Người đâu, đánh chết tươi tên Ngụy Bảo Anh cho ta.
Sai dịch dạ ran, lôi Ngụy Bảo Anh xuống vít cổ, giơ hèo lên đánh cho hai chục hèo. Ngụy Bảo Anh không chịu được đòn, lại kêu:
- Thôi thôi con xin khai, quan lớn đừng cho đánh nữa!
- Tên nô tài gian trá kia, ngươi đã chịu khai, ta bảo người thả ra cho ngươi khai.
Ngụy Bảo Anh đầm đìa nước mắt, chịu khai ra:
- Đêm qua tiểu nhân canh cái xác bị đánh chết. Khoảng canh ba, một trận gió lạnh thổi tới làm con tỉnh giấc. Trở dậy xem thì không thấy cái xác bị đánh chết ấy đâu nữa. Con nghĩ, nếu đến sáng mà không thấy xác, quan lớn đến xét nghiệm thì con ắt bị đòn. Con chợt nghĩ ra trong đám gò mả có một xác chôn liền nảy ra ý đem xác ấy tới đây để thay thế vào xác kia, tránh được đòn vọt của quan. Xin quan lớn gia ân, lời khai này là sự thực.
Bành Công hỏi:
- Ta hãy hỏi ngươi, sao ngươi biết có xác mới chôn ở đó?
- Bẩm quan lớn, cái xác ấy là do tiểu nhân tham chén làm hỏng việc. Hôm ấy là tối ngày chín tháng Năm, con đánh bạc ở quán rượu phố sau, thua mất bốn mươi hai quan. Đang lúc nguy cấp, ở ngoài bước vào một người, gọi: "Ngụy Bảo Anh ra đây tớ bảo". Con nhìn ra, nhận được đó là tên bom rượu Trương Bướng Đầu. Con mới hỏi: "Anh Hai Trương gọi em làm gì thế?". Hắn lôi con ra chỗ vắng người, bảo con đem chôn một người. Con theo hắn vào vườn hoa nhà ông Tả Thanh Long, hắn bảo: "Này chú Hai Ngụy, tôi bảo cho chú biết nhé! Hiện tôi theo lệnh Tả lão gia Tả Thanh Long. Trong vườn hoa này có một cái xác, lão gia tho tôi tám lạng bạc, bảo tôi đem xác đi, tôi gọi chú để chú giúp tôi, tôi cho chú ba lạng bạc". Tiểu nhân nhận lời cũng là trong một lúc xiêu lòng vì mấy lạng bạc, con theo hắn vào vườn hoa. Vào đến nhà sau, con thấy quản gia và người báo canh đều đứng đấy canh giữ. Hai chúng con nhận bạc xong mới khiêng xác chết ra khỏi vườn hoa, đem chôn ở bãi tha ma vô chủ. Đến tối hôm qua mới đem xác ấy tới để thay thế, đó là việc thực lời thực không sai một chút nào.
Bành Công nghe lời khai, biết rằng lại có một vụ án mạng nữa nên hỏi tiếp Ngụy Bảo Anh:
- Ta hỏi ngươi thêm một việc nữa, cái tên dắt lừa thuê không rõ họ tên bị Tào Nhị đánh chết hôm qua, xác hắn hiện ở đâu? Ngươi khai thực đi!
Ngụy Bảo Anh thưa: - Xin quan lớn gia ân, tiểu nhân thực sự không biết trong vụ này có duyên cớ gì. Con thật sự không biết cái xác bị đánh chết kia làm sao lại tác quái, khiến con khổ sở như thế này!
Đúng lúc ấy, phía ngoài có người nói:
- Xin quan lớn gia ơn thả người thuê lừa ra. Tiểu nhân chưa chết, xin trả lừa cho tiểu nhân.
Bành Công nhìn ra, thấy người nói đó thì giật nảy người vì đó chính là người bị đấm chết hôm qua. Bất giác ông tái mặt, hỏi:
- Ngươi là thế nào, mau nói ra để bản huyện khỏi phải dùng đến cực hình. Ngươi đến gặp bản huyện là vì cớ gì?
Người kia nói:
- Con là người ở Yên Giao, tên Lã Lộc, nhà cửa điêu linh, còn mẹ già hơn bảy mươi tuổi. Vì không biết làm gì, chỉ sống về nghề dắt lừa thuê. Hôm qua, có một người ở Hạ Điếm thuê lừa tới huyện Tam Hà. Người thuê lừa là Tào Nhị. Con và người ấy tranh chấp rồi cãi nhau, trong lúc nóng nãy không nhẫn nại được chúng con liền đánh nhau. Con bị đấm một cú, chết giấc. Khoảng canh ba đêm qua, con tỉnh lại, thấy chiếu đắp trên người, bên cạnh có chiếc đèn lồng, lại có một người nữa cũng nằm ở đấy. Con hiểu ra là do mình bị chết giấc, sau đó nhìn đến lừa thì không thấy lừa đâu. Con nghĩ người đánh con hẳn đã dính đến việc quan, con bèn không đánh thức người canh giữ dậy, sợ làm người ấy sợ hãi trong lúc đêm khuya canh vắng. Con lại đói quá, chỉ muốn về ngay nhà để ăn cơm rồi đợi đến khi quan lớn đến nghiệm xác sẽ xin lại lừa. Nhưng khi tới nơi để xác thấy quan lớn đã đến rồi và lại có một cái xác nữa, hẳn trong việc này có duyên cớ chi đây, vì thế con chưa dám thưa với quan lớn. Vừa nãy Ngụy Bảo Anh đã khai hết thực tình con mới dám thưa với quan lớn gia ơn đặc cách, thả Tào Nhị ra, cho con được nhận lừa về để còn dắt lừa thuê, lấy tiền nuôi sống mẹ già.
Bành Công nghe Lã Lộc nói, nghĩ hắn và Tào Nhị đều thuộc người làm ăn nhỏ, nếu không thể tất cho họ thì họ sẽ oán. Bèn nói:

- Lã Lộc, ta trả con lừa cho ngươi, việc của ngươi thế là xong.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Mon Apr 14, 2014 5:23 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 2 (B)
Ông gọi chức dịch địa phương trả lừa cho Lã Lộc, kết thúc vụ án ngay tại chỗ. Chức dịch địa phương nghe Bành Công phán bảo, vội gọi:
- Người đâu, con lừa hôm qua các ngươi buộc ở đâu?
Người giúp việc là Trâu Văn nói:
- Dạ, buộc ở Đinh Gia Điếm, con xin dắt đưa đến.
Trâu Văn đi một lát đã dắt con lừa về trao cho Lã Lộc. Cả Tào Nhị cũng được cho về.
Bành Công lại nói:
- Ngụy Bảo Anh, ngươi dẫn chức dịch của ta đưa tên Trương Nhị nát rượu ấy về đây để ta tra hỏi kỹ lưỡng.
Một vài chức dịch cùng Ngụy Bảo Anh ra đi, một lúc sau trở về báo:
- Thưa quan lớn, không thấy Trương Nhị nát rượu đâu cả.
Bành Công lại bảo người dân ở đấy:
- Những người đứng xem quanh đây, nếu có ai nhận được xác này thì nên đến nhận, bản huyện không bắt tội đâu.
Quan nói xong, những người đến xem xúm xít đứng quanh, cả nam lẫn nữ nhưng không một ai chen ra. Bành Công lại sai chức dịch truyền lời lần nữa:
- Trong số những người đến xem đứng quanh đây, nếu có ai nhận được xác này thì không việc gì phải sợ hãi, chỉ cần nói rõ lai lịch là được.
Người nào người nấy trong số người đến xem đều bước tới nhìn kỹ cái xác. Thấy xác không nát rữa, ai nấy thầm nghĩ:
"Cậu thanh niên này không biết con cái nhà ai. Mặt mũi xinh đẹp da lại trắng bóc, xem ra chỉ khoảng mười bảy, mười tám tuổi không biết đứa ác độc nào giết chết thế? Đáng thương khắp mình đều là thương tích, gặp chuyện rủi ro này mà không có người thân nào kêu oan cho cậu ta?". Đám người đứng xem bàn ra tán vào, ồn ào cả lên. Bỗng ở một phía có tiếng người kêu to:
- Oan uổng quá! Oan uổng quá!
Bành Công ngẩng lên nhìn, thấy người kêu oan tuổi chừng ngoài sáu chục, mình mặc áo quần vải màu nguyệt bạch, giày xanh tất trắng, da mặt hơi vàng, hai lông mày rậm, đôi mắt mở to, đầu tóc ngay ngắn, quanh mép có râu đen, quỳ trước bàn kêu:
- Trên có quan lớn, tiểu nhân oan uổng quá!
Bành Công bảo: - Ngươi có việc oan uổng gì cứ nói thật ra!
Ông già nói:
- Con là Triệu Vĩnh Trân, nhà ở đầu đằng đông phố Hạ Điếm, làm nghề nông. Con có một trai một gái, với hai vợ chồng con nữa là bốn người. Con trai con mười tám tuổi đang đi học, con gái con hai mươi tuổi, chưa gả chồng. Thằng bé Triệu Cảnh Phương của con thường ở ngay tại trường, đêm ngày mười ba tháng này không về nhà, hôm sau cũng không thấy về. Con cho người đi tìm nhưng không biết cháu ở đâu. Hôm nay thấy quan lớn nghiệm xác ở đây mới biết xác ấy chính là cháu Triệu Cảnh Phương, không biết cháu bị kẻ nào sát hại. Kính mong quan lớn đặc cách gia ân, truy bắt hung thủ cho con được báo thù rửa hận.
Bành Công bảo:
- Ông hãy nhận lấy xác con, tạm thời quản ở một nơi, chờ ta bắt hung thủ báo thù cho.
Ông già nhận xác con đem về. Bành Công gọi:
- Mã Thanh, Đỗ Minh, hai ngươi cấp tốc tróc nã tên Hồ Thiết Minh đưa về huyện để thẩm vấn.
Hai người vâng lời đi ra. Bành Công giải Ngụy Bảo Anh về huyện Tam Hà giam lại, sau đó cho người đi bắt Trương Nhị nát rượu.
Sáng hôm sau, trời vừa sáng, cơm nước xong xuôi, Bành Công truyền ba ban sai nha hầu quan thăng đường. Bổ đầu Mã Thanh, Đỗ Minh thưa lại là không tìm thấy tên Hồ Thiết Đinh ở phủ của Tả Thanh Long. Bành Công nghĩ bụng: "Tả Khuê là một tài chủ nơi này, có mấy tờ đơn đều tố cáo hắn. Lần trước ta vi hành về Hạ Điếm, giữa đường gặp vụ án người dắt lừa. Vụ án này, ta phải đích thân dò la mới xong. Chỉ e trên phố Hạ Điếm có người nhận ra ta mà thôi".
Nghĩ xong liền gọi Đỗ Hùng, trưởng bổ đầu ba ban. Bành Công nói:
- Đỗ Hùng, ngươi đến Đại Đạo Lý Tân Trang mời Bạch Mã Lý Thất Hầu đến đây!
Đỗ Hùng vâng lời, xuống nhà gọi người giúp việc chuẩn bị ngựa rồi lên ngựa ra khỏi thành, đi thẳng tới Lý Tân Trang.
Tới đầu trang, Đỗ Hùng xuống ngựa, vào đến cổng nhà họ Lý thấy gia nhân nhà này là Lý Trung đứng ngoài cổng. Đỗ Hùng gọi:
- Ông Lý ơi, phiền ông vào bẩm có Đỗ Hùng ở huyện Tam Hà đến thỉnh an Thất lão gia và có chuyện muốn thưa.
Lý Trung nói:
- Vâng. Ngài hãy ngồi chờ ở đây, tôi vào bẩm với trong nhà một tiếng.
Nói rồi quay người đi vào bên trong. Tới thư phòng, thấy Lý Thất Hầu đang bế con trai tên gọi Lý Vân, mới lên ba. Thằng bé bụ bẫm, tai to mặt vuông, mắt mũi mồm miệng ngay ngắn. Lý Thất Hầu từ khi nhận em trai đưa về nhà khuyên giải một hồi, lại chỉ bảo một hồi thì Lý Bát Hầu cũng thông suốt, hối hận về những sai lầm của mình, từ đấy đóng cửa ngồi nhà, thôi không bao giờ dám làm những việc trái lẽ nữa. Tám người bạn lục lâm của Thất Hầu là Lưu Trị, Lý Thông, Phùng Báo, Đỗ Thanh, Phùng Thái, Lý Long, Lưu Ngọc, Cát Hùng muốn tới Sơn Hải Quan chơi một chuyến. Lý Thất Hầu nghĩ, trong đám lục lâm có người nào thọ đến bát tuần đâu! Tuy nói là lấy của kẻ giàu giúp cho người nghèo, hành hiệp trượng nghĩa song không tránh khỏi làm tổn hại, vì thế từ đấy đóng cửa tạ khách, không gặp ai nữa. Ngày hôm ấy ở thư phòng với con là Lý Vân, thấy gia nhân Lý Trung vào báo, nói:
- Thưa lão gia, ngoài cổng có bổ đầu của huyện Tam Hà là Đỗ Hùng xin thỉnh an.
- Mời vào đi! Lý Thất Hầu nói.
Lý Trung đi ra mời Đỗ Hùng vào thư phòng. Thất Hầu đứng dậy nói:
- Đỗ hiền đệ, đã lâu không được gặp.
Đỗ Hùng thỉnh an xong, nói:
- Thất lão gia, hôm nay tôi vâng lệnh huyện chủ đến mời lão gia tới nha môn, có việc cần kíp muốn nhờ.
Thất Hầu nói:
- Huyện lão gia hôm nay bảo đệ đến gọi tôi. Ông ấy là quan phụ mẫu, đáng ra tôi phải đến. Có điều việc nhà quấy rối, tôi không xẻ được người thành hai nửa. Phiền đệ trở về nói lại tôi thực không thể vâng mệnh.
Đỗ Hùng nói:
- Thất lão gia mà không đi thì e rằng chủ tôi còn sai người đến mời nữa, chi bằng cùng tôi đi là hơn.
Thất Hầu nói:
- Đệ ở đây ăn cơm xong rồi hãy về, tôi thực không thể đi cùng được.
Đỗ Hùng thấy Thất Hầu không chịu đi đành ăn cơm rồi cáo từ về nha môn, bẩm rõ với Bành Công.
Bành Công nói:
- Ngươi cầm danh thiếp của ta đi mời lần nữa. Ngươi nói là bản huyện công việc đầy mình, không thể đến được.
Đỗ Hùng cầm danh thiếp, lại tới Đại Đạo Lý Tân Trang mới mời được Lý Thất Hầu. Tới nơi, Thất Hầu nói:
- Trên có quan lớn, tiểu nhân xin thi lễ. Không biết lão gia cho gọi là có việc gì?
Bành Công nói:
- Hạ Điếm có tên Tả Khuê, biệt hiệu là Tả Thanh Long. Người này tiếng tăm ra sao?
Lý Thất Hầu trầm ngâm một lúc, thầm nghĩ: “Việc này ta biết làm thế nào đây? Tả Thanh Long là đứa vô tri, ta mà không nể mặt chú hắn thì đã dạy bảo hắn rồi. Nay huyện lão gia hỏi về hành vi của hắn, hẳn là có duyên cớ đây?". Nghĩ rồi nói:
- Lão gia muốn hỏi về Tả Thanh Long thì đấy là con người vô tri không biết hắn đã làm điều gì rồi?
Bành Công kể lại việc dân chúng tố cáo, rồi ông vi hành dò xét và lúc này đã nhận được đơn từ, cũng đã nghiệm xác cho Thất Hầu nghe. Lý Thất Hầu nói:
- Lão gia định truyền gọi hắn thì chỉ phí công. Hắn dựa vào thế lực người thân vì hắn là con nuôi của Sách thân vương, không điều gì không làm. Theo ý của tiểu nhân, lão gia nên dùng một kế thỏa đáng để mời hắn đến. Trước hết truyền gọi nguyên cáo đến nghe thẩm vấn, sau đó mới hỏi hắn.
Bành Công gọi. - Mã Thanh, Đỗ Minh, hai ngươi mang danh thiếp của ta đi mời Tả Thanh Long đến đây?
Hai nha dịch vâng lời đi ngay tới nhà của Tả Thanh Long ở phố Đông Hậu thuộc Hạ Điếm. Tới nơi, nói với người canh cổng:
- Phiền các bác vào bẩm một tiếng, nói là có bổ đầu của huyện Tam Hà là Mã Thanh, Đỗ Minh tới thăm hỏi trang chủ.
Người coi cổng đi vào bên trong, thì Tả Thanh Long đang cùng uống rượu với hai người là Thai Lý Hoại Hồ Thiết Đinh và Lư Khiếm Đường. Gia nhân đến báo:
- Hiện có bổ đầu huyện Tam Hà là Mã Thanh, Đỗ Minh muốn gặp trang chủ, không biết trang chủ có cho gặp hay không?
Tả Khuê nói:
- Mời họ vào đây!
Gia nhân ra cổng dẫn hai vị bổ đầu vào trong đại sảnh.
Mã, Đỗ nhìn xem thì đại sảnh có năm gian, phía đông và tây lại có ba gian phòng nữa. Trong phòng phía bắc có kê chiếc bàn dài mà hẹp, trước bàn dài là chiếc bàn bát tiên, mỗi bàn một ghế bát tiên. Trên ghế phía đông có một người ngồi, chính là Tả Thanh Long, mình cao chín thước, mặt thâm như tương, hai hàng lông mày dựng đứng, hai mắt thô lố, miệng vuông, râu đen chạy quanh mép; trên người là chiếc áo dài lụa màu xanh, quần lụa màu lam, áo trong cũng màu lam, chân dận đôi giày thanh vân tất trắng, tuổi chừng ngoại tam tuần. Trên ghế ở phía dưới là một người gầy gò, khô đét, tướng mạo bình thường, đó chính là tên Thai Lý Hoại Hồ Thiết Đinh. Hai vị bổ đầu nhìn rồi nói:
- Thưa trang chủ, chúng tôi vâng lệnh của huyện lão gia mang danh thiếp đến mời trang chủ.
Tả Thanh Long nghe hai vị Mã, Đỗ nói xong, quay sang hỏi Lư Khiếm Đường:
- Việc này ta đi thì hơn hay không đi thì hơn?
Lư Khiếm Đường nói:
- Đi vẫn là thượng sách.
Hồ Thiết Đinh nói:
- Tôi đi với.
Tả Khuê sai sắp sẵn ngựa, cùng Mã, Đỗ ăn cơm. Cơm xong lên ngựa cùng hai bổ đầu và Hồ Thiết Đinh đi thẳng tới huyện Tam Hà.
Trời đang giữa trưa, vào đến huyện thành Tam Hà rồi tới ngoài nha môn. Hai nha dịch vào bên trong bẩm với Bành Công.
Lát sau nghe bên trong nói: "Xin mời!". Tả Thanh Long dẫn Hồ Thiết Đinh đi qua nghi môn; thấy trên công đường không có một ai. Qua khỏi công đường chợt nhìn thì giật nảy người.
Thì ra Bành Công quan phục chỉnh tề ngồi ở chính giữa, nha dịch ba ban chia ra đứng hai bên; Lý Thất Hầu cũng có mặt, không rõ vì cớ gì. Tả Thanh Long đang còn hồ nghi thì nghe thấy tiếng hô của hai hàng nha dịch:
- Tả Thanh Long đã được dẫn tới!
Sau đó người của ba ban đều hô: "Quì xuống!". Tả Khuê quát:
- Bành Bằng, ông về nhận chức chưa được bao lâu, thế mà mời thân sĩ đến lại ngạo mạn đến thế kia ư?
Bành Công nói:
- Ngươi ỷ vào thế lực kim tiền, hiếp đáp người lương thiện, gian dâm đàn bà con gái, chiếm đoạt nhà cửa ruộng đất của người ta, lại còn gian dâm cả với con trẻ, không điều gì là không dám làm. Hôm nay ngươi tới trước mặt bản quan huyện mà còn không coi trưởng quan ra gì, quát tháo cả ở công đường hay sao?
Bèn bảo tả hữu:
- Bắt nó quỳ xuống cho ta!
Hai hàng nha dịch hô vang lấy oai: "Quỳ xuống!". Bành Công thẩm vấn:
- Ngươi cướp con gái của Trương Vĩnh Đức, đánh què Trương Ngọc, khấu trừ quá nhiều giá lương thực của Dư Thuận, nhân đây hãy khai thực ra!
Tả Khuê đùng đùng nổi giận:
- Bành tri huyện, ông tự tiện bịa đặt tội danh cho ta, định vòi vĩnh tiền của ta, ta phục ông sao được?
Bành Công nói:
- Đưa Trương Vĩnh Đức lên đây để đối chất ngay giữa công đường.
Nha dịch vâng lời, đưa Trương Vĩnh Đức lên quỳ trước mặt lão gia, nói:
- Xin lão gia làm chủ thay cho tiểu nhân. Đây chính là kẻ cướp con gái tiểu nhân, xin lão gia báo thù rửa hận cho cháu.
Bành Công nói:
- Tả Khuê, ngươi nghe thấy chứ? Có chịu khai thực không?
Tả Khuê biết có người tố cáo hắn bèn nói:
- Huyện lão gia tham tiền của người ta nên đối đầu với ta chứ gì?
Bành Công mắng:
- Ngươi nói láo, lôi xuống đánh cho ta!
Tả Khuê giật mình sợ hãi, Hồ Thiết Đinh cũng run như cầy sấy. Nha dịch hai hàng lập tức vít cổ Tả Khuê xuống đất, đánh cho bốn chục hèo đến nỗi da thịt tơi tả. Đánh xong, Bành Công nói:
- Cả cái tên theo hầu hắn cũng đưa lên đây để ta xét hỏi.
Hồ Thiết Đinh quỳ mọp, kêu:
- Đại lão gia, con không phải là người theo hầu Tả Khuê. ông ta với con cùng ở một phố, hôm nay ông ta bảo con đi cùng. Xin lão gia tha cho con, con hiện còn mẹ già bảy mươi tuổi.
Bành Công nghe Hồ Thiết Đinh luôn mồm kêu nài, lại thấy mặt mũi hắn không có gì hung ác liền phán:
- Ngươi đâu, đuổi tên này ra khỏi nha môn cho ta.
Hồ Thiết Đinh sợ đến nỗi vãi đái nên được lệnh là chuồn thẳng. Bành Công phán:
- Tả Khuê, nếu ngươi còn định giấu giếm thì làm sao thoát khỏi tay bản huyện? Từ khi đến nhận chức, ta đã biết tiếng ác của ngươi vang dội. Con gái của Trương vĩnh Đức hiện giờ ở đâu? Tiền bạc của Dư Thuận, ngươi nuốt rồi mà còn không chịu khai thực à?
Tả Khuê vốn chưa từng chịu hình phạt của quan, quen dựa vào thế lực kim tiền, ở nhà chuyên kết giao với quan lại, oai vang dậy một phương, không ai dám gây sự. Nay bị đánh bốn chục hèo, hắn đau quá van nài:
- Lão gia không phải đánh nữa, tôi bảo bạn tôi đến gặp ngài là xong.
Bành Công nói:
- Bạn bè ngươi thế nào, cứ đánh cho hắn bốn chục hèo nữa!
Hai bên nha dịch đều nói:
- Khai mau! Nếu không chịu nói lại đánh nữa đấy!
Tả Khuê không biết làm thế nào đành phải thừa nhận những việc đã làm và khai:
- Con gái Trương Vĩnh Đức hiện ở trong vườn hoa của tôi. Số bạc của Dư Thuận, tôi có thể đền bù. Còn con trai Triệu Vĩnh Trân, vì say rượu, tôi có gian dâm với cậu ấy; sau khi tỉnh rượu, cậu ấy đòi tố cáo tôi nên tôi đã đánh chết, gọi Trương Nhị nát rượu và Ngụy Bảo Anh khiêng đi chôn ở bãi tha ma vô chủ trên đồi. Việc chiếm đoạt năm chục mẫu ruộng của Lưu Tứ, tôi cũng xin thừa nhận hết.
Thư ký viết lời cung khai, Tả Khuê in tay vào. Bành Công cho gọi Dư Thuận:
- Ngươi hãy đợi bản huyện đòi lại số bạc cho ngươi.
Lại bảo Trương Vĩnh Đức:
- Trương Vĩnh Đức, ông hãy đợi bản huyện dẫn con gái ông về đây để nhận lại con gái ngay tại công đường.
Bành Công sai Mã Thanh, Đỗ Minh và Lý Thất Hầu:
- Ba ngươi hãy tới nhà Tả Khuê ở Hạ Điểm, đưa con gái Trương Vĩnh Đức về đây, lấy năm trăm hai mươi lạng bạc, truyền cho trương Nhị nát rượu và Hồ Thiết Đinh tới nha môn, ngày mai nghe nghị án!
- Ba người vâng lời ra đi, còn Tả Khuê thì đem giam vào ngục.
Bành Công lui khỏi công đường dùng cơm. Canh hai đêm ấy mới được nghỉ ngơi.
Sáng hôm sau, mọi việc đã xong, Bành Công thăng đường, nha dịch ba ban đứng hầu hai bên. Mã Thanh, Đỗ Minh, Lý Thất Hầu trình bạc lên nói:
- Vâng lệnh lão gia, hiện đã đưa Trương Phượng Nhi đến.
Trương Nhị đã bỏ trốn, không biết đi đâu. Còn Hồ Thiết Đinh cũng bỏ trốn hôm qua.
Bành Công phán:
- Gọi Trương Vĩnh Đức nhận con gái đưa về nhà, Dư Thuận nhận số bạc để kết thúc vụ án ngay tại đây!
Lại sai đem Tả Thanh Long lên, đối chất đúng lời khai, in dấu tay. Bành Công xử hắn vào tội chém đầu không được hoãn thi hành.
Vừa mới dẫn Tả Thanh Long ra thì từ ngoài bước vào một người mình cao tám thước, cổ ngắn mà to, mặc quan phục, đội mũ quan, da mặt hơi vàng, lông mày dựng đứng, hai mắt thô lố mặt vuông, miệng vuông, tuổi khoảng ngoài tam tuần. Người này đi thẳng vào công đường, hai tay nắm vào nhau giơ lên, nói:
- Lão phụ đài, vãn sinh Vũ Văn Hoa xin có lễ.
Bành Công nhìn ra thấy người này ăn vận theo lối cử nhân, bèn hỏi:
- Ngươi là ai, đến có việc gì?
Người này nói:
- Tôi là Vũ Văn Hoa, cử nhân của bản huyện. Vì lão gia bắt Tả Khuê là một thân sĩ; nhà giàu có nên bị người ta vu cáo, lão gia không xét kỹ, dùng cực hình lấy khẩu cung, lăng nhục thân sĩ. Tôi rất lấy làm bất bình nên đến thỉnh thị ngài.
Thì ra Vũ Văn Hoa là người ở Vũ Gia Trang, nhà có hơn hai trăm khoảnh ruộng, bản thân lại là cử nhân về võ, chơi rất thân với Tả Khuê. Nghe người ta kháo nhau Tả Khuê bị bắt đưa về nha môn, nên đến đây định cứu bạn. Bành Công nói:
- Vũ Văn Hoa, ngươi cậy mình là cử nhân võ mà làm náo loạn công đường. Tả Thanh Long vi phạm phép nước, hiện có người đối chứng, ngươi há không biết vương tử mà phạm pháp thì cũng xử như dân hay sao? Người đâu, đuổi Vũ Văn Hoa ra khỏi công đường cho ta!
Vũ Văn Hoa nói:
- Bành tri huyện, ông về nhận chức chưa lâu mà đã làm nhục thân sĩ, lộn cả đất lên. Tôi mà để cho ông ngồi ở ghế lâu dài thì tôi là kẻ bất tài! - Nói xong, hiên ngang xuống khỏi công đường, bỏ đi.
Bành Công sai giam Tả Thanh Long vào ngục, định hình phạt xử chém ngay không được hoãn. Vừa toan lui khỏi công đường thì nghe bên ngoài lại có người kêu oan. Ông sai người đưa lên. Khi nha dịch trực ban đưa hai người kêu oan lên công đường thì hai người này đều ngoài ba mươi tuổi, mình mặc quần áo vải màu nguyệt bạch, chân dận giày xanh tất trắng.
Người quỳ phía đông mặt mũi ngay ngắn, da hơi đen, vẻ mặt nhân từ. Người quỳ phía đông mặt mũi cũng hiền lành trung hậu. Bành Công nhìn xong, hỏi:
- Hai ngươi vì sao kêu oan, nhân đây hãy nói thực ra.
Người quỳ phía đông nói:
- Tiểu nhân họ Diêu, tên là Quảng Lễ, nhà ở thôn Hà, chỉ có một mình, sống với cô mẫu cho qua ngày tháng, năm nay ba mươi tuổi. Tối hôm qua, tiểu nhân dạo chơi ở đầu thôn, thấy Tiếu Lâm Trương Hưng đi rất vội vàng như có chuyện gì vậy. Tiểu nhân thường ngày hay nói đùa với hắn nên hỏi: " Trương Nhị ca, anh phát tài rồi lờ bạn bè đi đấy à?". Hắn đứng ngay lại tái mặt đi nói: "Diêu Tam ca, anh gọi tôi có việc gì?". Tiểu nhân nói: "Anh mời tôi uống một chén rượu đã!". Hắn kéo con vào một quán rượu ở trong thôn, nói: "Hai chúng mình uống hai hồ nhé!". Hắn gọi rượu và thức nhắm, hai chúng con uống, rồi con hỏi hắn: “ Anh ở đâu về thế, làm sao lâu nay không thấy anh?". Tiếu Lâm Trương Hưng nói: "Hôm nay tôi từ huyện Hương Hà về đây, có phát tài được một món nhỏ, anh có dám nhận một phần hay không?". Nói xong, hắn lấy trong lưng ra hai đỉnh bạc, đặt lên bàn rồi nói: "Anh cần dùng thì cho anh một đĩnh đấy!". Con nói: "Tôi không dám nhận đâu!". Con hỏi hắn do đâu mà phát tài, hắn nói hắn hại một người ở trạm Hòa Hợp, vứt xác xuống giếng, được một trăm lạng bạc. Con nghe xong giật nảy người, nói: "Tôi không lấy đâu, anh cầm lấy đi!" Uống xong hai hồ rượu, chúng con chia tay, càng nghĩ càng thấy không ổn sợ bị liên lụy với hắn. Sáng nay con trở dậy đang định vào thành tố cáo hắn thì lại gặp Trương Hưng hốt hoảng như muốn bỏ trốn. Con bước tới túm lấy hắn, bảo: "Hai chúng ta vào thành kêu oan nhé?". Con liền kéo hắn đến đây kêu oan. Con và Trương Hưng tiếu lâm ngày thường không có thù oán gì. Chỉ vì hắn phạm tội, con biết mà không tố cáo thì phạm vào tội dung túng cho kẻ phạm tội bỏ trốn.
Bành Công hỏi Trương Hưng:
- Ngươi tên gì, khai ra?
Trương Hưng nói:
- Con tên Trương Hưng, côi cút một mình, ở cùng với cậu con cho qua ngày tháng. Cậu con ở Kinh đô theo hầu quan, tên là Lưu Tường. Mợ con không có con. Hôm qua cậu con được nghỉ về nhà, con ở nhà cậu giúp việc mua sáu mươi mẫu ruộng của Triệu Đình Tuấn ở huyện Hương Hà, định rõ giá tiền là bốn trăm tám mươi lạng bạc. Hôm qua cậu con hết hạn nghỉ phép, người theo hầu quan khi nào dám để lỡ việc nên cậu con vội về kinh ngay. Trước khi đi, cậu con có dặn, bạc đặt cọc là một trăm lạng và bảo mợ con giao bạc để con giao cho nhà họ Triệu ở trong thành huyện Hương Hà. Đến nhà, người nhà họ nói ông chủ không có nhà, đi thăm bạn rồi. Con đợi đến khi mặt trời lặn mới nói: "Khi nào ông chủ về nhà thì nói với ông ngày mai đợi tôi ở nhà. Bây giờ tôi về nhà đây!". Con về đến đầu thôn thì gặp Diêu Quảng Lễ. Hắn hay đùa với con, mà tên hiệu của con là Tiếu Lâm Trương Hưng, nên khi nghe hắn hỏi con phát tài, con mới cố ý nói đùa, bảo đã giết một người ở trạm Hòa Hợp, ném xác xuống giếng. Quan lớn soi xét, nếu con giết người thật thì đời nào con lại kể với hắn? Đấy là do lỗi ở con thích bông đùa, bởi vậy mới có việc ngày hôm nay. Nếu lão gia còn chưa tin thì gọi Triệu Đình Tuấn đến hỏi sẽ rõ.
Bành Công thấy người này mặt mũi hiền lành, lời khai cũng có thể tin được, bèn nói:
- Đỗ Minh thảo văn thư, truyền gọi Triệu Đình Tuấn ở huyện Hương Hà đến đây để ta thẩm vấn ngay tại công đường.
Đang nói thì bên ngoài lại có hai người nữa bước vào, đó là hương ước Lưu Thăng và chức dịch địa phương ở trạm Hòa Hợp là Lý Phúc. Hai người vào khấu đầu, thưa trình:
- Bẩm lão gia, trước miếu Thiên Tiên ở trạm Hòa Hợp chúng con có một cái giếng, người ở đấy đều ăn nước giếng này. Sáng sớm hôm nay có người đi lấy nước thì thấy trong giếng có một xác chết, không biết bị ai ném xuống. Vì vậy chúng con phải đến trình báo cho quan lớn biết.
Bành Công nghe nói thấy vừa khớp với vụ án ông định hỏi, bèn gọi:
- Này Tiếu Lâm Trương Hưng, ngươi là đồ nô tài đáng chết ngươi giết chết người ta ở chỗ nào, cứ thực khai ra, tránh cho da thịt bị đòn.
Trương Hưng cuống lên nói:
- Thưa quan lớn, tiểu nhân oan uổng quá! Tiểu nhân có biết gì đâu!

Bành Công sai trước hết canh giữ Diêu Quảng Lễ và Trương Hưng cho cẩn thận, tự mình đem theo nha dịch trông coi hình sự đi thẳng tới trạm Hòa Hợp nghiệm xác.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Mon Apr 14, 2014 6:03 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 2 (C)
Bành Công ngồi kiệu ra khỏi nha môn, đi chừng hơn một canh giờ thì tới nơi để xác. Quan chức địa phương đã sớm dựng lán, chuẩn bị sẵn bàn hỏi cung. Bành Công xuống kiệu vào ngồi trước bàn, sai người xuống giếng vớt xác lên. Chức dịch địa phương đã sai chuẩn bị thừng, sọt từ trước, một người xuống giếng, lát sau vớt lên một cái xác đàn bà, tuổi chừng ngoài hai mươi, bị thắt cổ đến chết. Người vớt xác nói:
- Dưới giếng còn một cái xác nữa, xin lão gia cho lệnh.
Bành Công bảo:
- Ngươi xuống lần nữa vớt nốt cái xác ấy lên đây!
Người ấy lại xuống vớt lên. Xác này không có đầu, nhưng là của một người đàn ông. Bành Công sai nghiệm xác, người nghiệm xác xem xét xong tới trước mặt Bành Công thưa:
- Xác đàn bà là do bị thừng thắt cổ, xác đàn ông là do bị dao chém chết. Xin trình để lão gia định đoạt.
Bành Công nghe xong thấy lòng rung động, đoán chắc Tiếu Lâm Trương Hưng không phải là hung thủ giết người, trong chuyện này tất có duyên cớ chi đây. Đang khó nghĩ thì bỗng nghe có người kêu oan. Bành Công nói:
- Đưa người kêu oan vào đây?
Lát sau nha dịch đưa người kêu oan vào quỳ trước bàn Bành Công ngồi. Người ấy kêu:
- Tiểu nhân oan uổng quá!
Bành Công nhìn người kêu oan. Đó là ông già khoảng ngoài lục tuần, nhưng tinh nhanh quắc thước, mặc bộ quần áo vải màu nguyệt bạch, giày xanh tất trắng, quỳ mọp trên đất, nước mắt đầm đìa, nói:
- Tiểu nhân là Tưởng Đắc Thanh, người ở thôn Hà. Nhà có hai vợ chồng, sinh được một con gái là Cúc Nương, gả cho Diêu Quảng Trí ở bản thôn làm vợ, vợ chồng rất hòa thuận. Hôm nay con đến thăm con gái, thấy cửa buồng nó mở toang, trong nhà không có một ai. Con nghĩ hẳn là con gái về nhà thăm vợ chồng con nên lại về nhà, nhưng con gái con cũng không có ở nhà. Con vội vàng đi các nơi tìm song đều không thấy. Con rể con mở quán trà ở trạm Hợp Hòa, con đến quán tìm cũng không thấy, chồng nó cũng không biết việc của vợ. Con nghe nói lão gia đang nghiệm xác ở đây, con cũng vào xem cho vui nào ngờ xác đàn bà ấy chính là con gái con, không biết vì sao bị người nào thắt cổ đến chết. Xin quan lớn báo thù cho con gái của con.
Bành Công nói:
- Tưởng Đắc Thanh, ông đến cạnh xác kia xem xác đàn ông không đầu. ông có nhận ra người đó là ai không?
Tưởng Đắc Thanh đến bên xác đó xem xét rồi trở về thưa:
- Con không quen biết người này.
Bành Công gọi:
- Người đâu, gọi chức dịch địa phương là Lưu Thăng, Lý Phúc lên đây, bỏ xác vào quan tài quàn lại để xem xét sau.
Bành Công lên kiệu trở về huyện Tan Hà, vào nha môn nghỉ ngơi, rồi cho người gọi Mã Thanh và Đỗ Minh. Hai người đến, Bành Công nói:
- Hai người dẫn theo Diêu Quảng Lễ tới trạm Hòa Hợp bắt tên Diêu Quảng Trí về đây cho ta xét hỏi.
Hai người vâng lời, dẫn theo Diêu Quảng Lễ ra khỏi nha môn, đi thẳng tới trạm Hòa Hợp. Tới quán trà, người hầu trà ra nhìn, chào:
- Ông Ba Diêu đã đến, hay quá! Mời các ông vào uống trà.
Diêu Quảng Lễ hỏi:
- Chú tư ta đi đâu rồi?
Người hầu trà nói: - Ông Tư đang ở nhà họ Hoàng ở phía đông, nhà thứ sáu kể từ đây, phía bắc đường là nhà ấy.
Quảng Lễ nói:
- Chúng ta đến đó tìm!
Nói xong đưa hai viên nha dịch đến phía bắc đường đằng đông, nhìn xem thì đó là nhà lầu có tường bao quanh, cửa ván đóng kín, trong sân có ba gian nhà ngoảnh về phía bắc. Diêu Quảng Lễ lấy tay đập vòng cửa gọi, bên trong có tiếng đàn bà ỏng ẹo hỏi:
- Tìm ai đấy?
Nói rồi ra mở cổng. Vừa thấy Diêu Quảng Lễ và hai người nữa liền hỏi:
- Họ tên mấy ông? Đến tìm ai?
Diêu Quảng Lễ nhìn người đàn bà này thấy tuổi chừng đôi mươi, người thon thả, tóc xức dầu chải bóng lộn, son phấn tô nhạt lông mày vẽ nhỏ, mình mặc chiếc áo vải màu lam nhạt như màu trời hửng sau mưa, áo trong màu xanh mướt như lá hẹ, chân dận đôi giày hoa bằng đoạn đỏ, gót sen ba tấc nhọn thon thon, vừa gầy vừa nhỏ; da mặt trắng trẻo, mắt hạnh đượm tình má thơm cười nụ. Diêu Quảng Lễ nhìn rồi nói:
- Tôi họ Diêu, tên Quảng Lễ, tới tìm chú em họ là Diêu Quảng Trí.
Người đàn bà quay vào trong gọi:
- Ông Tư ơi, có người đến tìm ông, ông ra mà mời vào nhà.
Diêu Quảng Trí từ phía trong đi ra, thấy là Quảng Lễ, nói:
- Anh Ba, anh từ đâu đến đây? Vào nhà ngồi chơi đã!
- Chú Tư, chú đến đây, nay tôi vâng lệnh lão gia đến bắt chú!
Mã, Đỗ hai người nhìn rồi nói:
- Ngươi là Diêu Quảng Trí phải không? Ngươi phạm pháp rồi!
Liền lấy xích sắt ra khóa luôn Diêu Quảng Trí. Người đàn bà sợ quá nói:
- Chuyện gì thế?
Mã, Đỗ hai người nói:
- Nhà chị cũng trốn không thoát đâu!
Rồi cũng khóa luôn cả người đàn bà, giải cả hai về thẳng huyện Tam Hà.
Gặp đúng lúc Bành Công thăng đường, Mã, Đỗ điệu Diêu Quảng Trí vào, nói:
- Chúng tôi đã đưa Diêu Quảng Trí ở trạm Hòa Hợp về đây. Còn một người đàn bà nữa ở cùng với hắn, chúng tôi cũng giải về để lão gia thẩm vấn.
Bành Công nói:
- Ta biết rồi? Ông nhìn xuống Diêu Quảng Trí ở phía dưới thấy người này khoảng ngoài hai mươi tuổi, mặt trắng trẻo, người dong dỏng cao, mình mặc áo lụa màu lam, giày xanh tất trắng, lông mày thanh tú, hai mắt tinh nhanh, là loại đẹp trai. Ông lại nhìn người đàn bà thì người này càng xinh đẹp. Xinh đến nhường nào? Có thơ làm chứng:
Nghiêng mái tóc mây trâm phượng cài,
Long lanh châu ngọc cánh hoa tai.
Phấn son thoa nhạt, trời cho đẹp,
Thật đúng phong lưu niên thiếu tài.
Bành Công nhìn xong, hỏi:
- Kẻ quỳ dưới kia có phải Diêu Quảng Trí không?
Tiếng bên dưới vang lên:
- Thưa vâng.
- Nhà ngươi ở đâu? Buôn bán gì?
- Tiểu nhân ở thôn Hà, có mở một quán trà trên phố tại trạm Hòa Hợp, cách nhà ba dặm. Cha mẹ đều đã mất, chỉ còn một mình con, lấy vợ là Tưởng Thị. - Diêu Quảng Trí đáp.
- Vợ ngươi là Tưởng Thị bị người nào thắt cổ chết, vứt xuống giếng? - Bành Công hỏi.
Diều Quảng Trí thưa:
- Hôm nay tiểu nhân ở quán trà mới nghe nói, tiểu nhân đang định lên báo quan. Cúi mong lão gia thi ân, báo thù cho vợ tiểu nhân. - Nói xong hai mắt đỏ hoe, dân dấn nước mắt.
- Người đàn bà kia là thế nào với ngươi? Sao hôm nay ngươi lại ở nhà chị ta? - Bành Công hỏi.
Người đàn bà nói:
- Tiểu phụ nhân là Lý Thị, người ấy cùng chồng con là anh em kết nghĩa.
Bành Công gõ đánh chát thước gỗ trên bàn, mắng:
- Đừng có lắm lời, bao giờ ta hỏi đến ngươi hãy nói.
Nha dịch ba ban đứng hai bên đều hô vang ra oai, khiến người đàn bà kia giật mình sợ hãi. Diêu Quảng Trí vội vàng nói:
- Tiểu nhân là bạn với chồng cô ta Hoàng Vĩnh. Người ấy buôn bán ở Thông Châu, thường đem trà từ Thông Châu về cho con. Hôm nay con đến nhà người ấy để hỏi có mang trà về hay không thì vừa hay gặp lúc anh Ba con là Diêu Quảng Lễ đến tìm, lại có cả quý nha dịch của lão gia tới còng con và cô ta cùng giải về đây. Mong lão gia thả người đàn bà ấy vì cô ấy vô can.
Bành Công nghe xong thầm thấy sự việc đã rõ, bèn hỏi người đàn bà:
- Chồng ngươi buôn bán gì? Ở nhà còn có ai khác không?
Lý Thị thưa:
- Tiểu phụ nhân Lý Thị, chồng con tên Hoàng Vĩnh, năm nay hai mươi bốn tuổi, cha mẹ chết sớm lại không có anh em, lấy con làm vợ, hai vợ chồng sống với nhau. Nhà con buôn bán ở Thông Châu về mặt hàng lương thực.
Bành Công hỏi:
- Cửa hàng lương thực đặt tên là gì, chồng ngươi ra khỏi nhà hôm nào?
Lý Thị tái mặt đi, vội vàng thưa:
- Chồng con đi sau tết Đoan Ngọ tháng Năm năm nay, chưa được mấy ngày.
- Chồng ngươi một năm về nhà mấy lần? - Bành Công hỏi.
- Chồng con về nhà hai ba lần, vào những ngày lễ, Tết. - Lý Thị nói.
Bành Công lại hỏi Diêu Quảng Trí: - Tưởng Thị vợ ngươi bị người thắt cổ đến chết, vứt xác xuống giếng ở trạm Hòa Hợp là vì sao?
- Tiểu nhân không biết. - Diêu Quảng Trí đáp.
Bành Công cười nhạt:
- Ta phải đánh cho đồ tội hạm đáng chết này! Trước mặt bản huyện đây mà ngươi còn chưa chịu nói thật. Người đâu, lôi xuống vả miệng cho ta!
Nha dịch ba ban vâng lời, lôi Quảng Trí xuống, vít cổ vả cho bốn chục cái, nhưng Quảng Trí vẫn không chịu khai, chỉ kêu oan uổng. Bành Công nói:
- Vợ ngươi bị ai thắt cổ chết, ngươi khai thật đi!
- Quả thật con không biết! - Quảng Trí vẫn chối.
- Lôi xuống đánh nữa cho ta! - Bành Công ra lệnh.
Lại đánh tám chục hèo mà Diêu Quảng Trí vẫn nói là không biết. Bành Công nhíu mày nghĩ ra một kế, phán:
- Diêu Quảng Trí, ngươi hàm oan thật rồi. Bản huyện có sai đánh ngươi, vậy ta đền cho ngươi năm lạng bạc, ngươi lo thu xếp mai táng cho vợ, chờ bản huyện bắt được hung thủ báo thù cho ngươi. Ngươi cứ việc buôn bán, đừng để xảy ra việc gì nữa.
Rồi Bành Công cho thả cả Lý Thị, hai người rạp đầu nói:
- Lão gia đã gia ơn! - Nói xong ra về.
Bành Công nói nhỏ vào tai Lý Thất Hầu:
- Lý tráng sĩ, tráng sĩ cứ làm như thế, như thế!
Lý Thất Hầu gật đầu, ra khỏi nha môn, lén đi theo Diêu Quảng Trí, thấy hai người này đi thẳng về nhà Hoàng Vĩnh ở trạm Hòa Hợp. Trời đã tối, Thất Hầu thay quần áo, lưng giắt đơn đao, đứng chờ nơi không người ở trạm Hòa Hợp. Chờ đến canh một thì nhảy lên mái nhà, đi tới nhà Hoàng Vĩnh, rồi từ nhà trên phía bắc nhảy xuống, thấy trong phòng có ánh đèn.
Lý Thất Hầu thầm nghĩ: "Ngày hôm nay đám công sai làm việc sơ suất quá, chưa chi đã bắt ngay người đàn bà tới nha môn. Nếu chúng là gian phu dâm phụ thì không nói làm gì; nếu là người tốt thì chẳng phải đó là ỷ thế quan ăn hiếp dân lành hay sao? Hôm nay lão gia cử ta bí mật theo dõi việc này, không biết thật, giả ra sao?". Đang nghĩ như thế thì nghe trong phòng có tiếng đàn bà, chính là Lý Thị. Thất Hầu đưa đầu lưỡi thấm ướt giấy dán cửa sổ, làm thủng một lỗ nhìn vào thấy trên giường lò trong nhà đặt một cái bàn thấp, trên bàn bày mấy món ăn, Diêu Quảng Trí ngồi phía đông, Lý Thị ngồi phía tây. Lý Thị cười hi hi nói:
- Chàng uống thêm vài chén rượu đi, vô cớ mà hôm nay bị mấy trận đòn. Họ đánh đến nỗi em thấy đau lòng quá!
Diêu Quảng Trí nói:
- Ngày mai đem cái vật ở gầm giường lò vứt đi, có thế thì tôi mới hết lo. Nàng hạ thủ ghê thật đấy, một nhát đã giết chết hắn, thế là tâm bệnh của tôi cũng trút đi được!
Người đàn bà nói:
- Chàng và em từ nay có thể làm vợ chồng dài lâu được rồi. Chàng hại một người, em hại một người. May mà chúng ta giấu cái đầu lâu đó đi, nếu không thì nguy rồi còn gì nữa?
Nói rồi cười, tay cầm một cốc rượu đưa đến tận môi Diêu Quảng Trí. - Tứ ca, chàng uống chén rượu này đi!
Lý Thất Hầu nhìn rõ, biết là gian phu dâm phụ rồi, liền quát lên một tiếng, xông vào phòng trói nghiến hai đứa lại.
Sáng sớm ngày hôm sau, gọi chức dịch địa phương là Lưu Thăng và Lý Đức, dùng xe lôi hai đứa lên nha môn, đúng lúc Bành Công đã thăng đường.
Thì ra do Bành Công truyền gọi, Triệu Đình Tuấn đã đến và ông đang hỏi:
- Triệu Đình Tuấn, vì sao ngươi bán sáu mươi mẫu ruộng cho Lưu Tường ở Thôn Hà?
Triệu Đình Tuấn thưa:
- Vì con cần tiền gấp nên bán cho Lưu Tường sáu mươi mẫu ruộng, hôm qua người mua đặt cọc một trăm lạng bạc là chuyện thật.
Bành Công nói:
- Việc này không liên can gì đến ngươi, thôi về đi!
Lý Thất Hầu giải gian phu dâm phụ tới, Bành Công hỏi Thất Hầu:
- Tráng sĩ làm thế nào bắt được hai đứa?
Lý Thất Hầu kể rõ lại những lời nghe lỏm được. Bành Công gật đầu hỏi Diêu Quảng Trí:
- Ngươi còn dám chối nữa không?
Diêu Quảng Trí mất cả hồn vía, biết lưới trời lồng lộng, thưa mà không để lọt lưới nên vừa nghe Bành Công hỏi đã khai ngay:
- Lão gia, tội con đáng muôn chết. Vì con mê muội nên đã thông gian với vợ Hoàng Vĩnh. Lý Thị bảo con: "Chàng muốn chúng mình làm vợ chồng lâu dài hay làm vợ chồng ngắn ngủi?". Con hỏi lại: "Làm vợ chồng lâu dài thì thế nào, làm vợ chồng ngắn ngủi thì thế nào?". Lý Thị nói: "Nếu muốn làm vợ chồng lâu dài thì giết vợ đi, em cũng giết chồng em, thế chẳng phải được làm vợ chồng lâu dài hay sao? Nếu chàng không nghe lời em thì từ nay chàng bất tất phải sang nhà em nữa!". Con vì nhát gan nên không dám nhận lời. Hôm kia chồng cô ta về nhà, cô ta bảo con mời Hoàng Vĩnh uống rượu. Con mê muội đã mời chồng cô ấy uống rượu ngay tại nhà anh ta. Hai chúng con uống đến canh một thì Hoàng Vĩnh say. Lý Thị bảo con cầm dao giết chồng, con sợ không hạ thủ được, chính cô ta cầm dao giết chết Hoàng Vĩnh, cắt đầu bỏ xuống gầm giường lò. Cô ta xui con thắt cổ vợ. Con nhất thời mê muội đã về thắt cổ vợ là Tưởng Thị, rồi đem vứt hai cái xác xuống giếng.
Lý Thị cũng khai nhận và điểm chỉ vào tờ khai. Bành Công lại sai người đến nhà Lý Thị, lấy cái đầu lâu về rồi cầm bút phê rằng:
Diêu Quảng Trí vì gian dâm mà mưu hại hai mạng, theo luật phải xử trảm ngay; Lý Thị vì gian dâm mà mưu hại chồng mình, theo luật phải tùng xẻo. Hai người là Diêu Quảng Lễ và Trương Hưng, vì đùa bỡn mà thưa kiện, theo lệ đáng phải đánh mỗi người bốn chục hèo, chỉ vì nghĩ đến nỗi dân ngu không biết gì nên miễn cho chịu đòn, tha cho về nhà.
Cũng ngay tại công đường, Bành Công gọi Trương Đắc Thanh đến, nói:
- Bản huyện nghĩ đến tình ông già rồi mà không nơi nương tựa nên cho Diêu Quảng Lễ được cai quản gia nghiệp của Diêu Quảng Trí và cho người ấy làm con nuôi của ông, phụng dưỡng đến già. Nếu không hiếu thuận, ông cứ bẩm quan để quan trị tội. Hoàng Vĩnh không có ai là họ hàng, ruộng vườn nhà cửa cho đứt Tưởng Đắc Thanh để dưỡng lão.

Vụ án thế là được kết thúc.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Tue Apr 15, 2014 12:27 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 3
Chém Nhầm Thôi Ninh
Thông minh linh lợi bởi trời sinh
Ngờ nghệch ngu si tự hại mình
Đố kỵ thường vì nhìn thô thiển
Gầm ghè do bởi nói năng thâm
Chín khúc Hoàng Hà lòng hiềm trở
Mười lần giáp sắt mặt gớm ghê
Chỉ vì tửu sắc mà mất nước
Thường thấy thi thư hại người hiền.
Bài thơ này nói về cái khó của sự làm người, chỉ vì đường đời trắc trở, lòng người khó lường, đạo lớn đã xa, nhân tình trăm ngả. Ồn ào tất bật đều vì lợi lộc mà đến; ngu si ngốc nghếch mắc họa vào. Gìn giữ tính mạng và gia đình, gặp muôn vàn khó khăn trắc trở. Bởi thế người xưa thường nói: "Cười vì cười, chau mày vì chau mày", cười hay chau mày đều phải thận trọng.
Câu chuyện này kể về một người, chỉ vì sau khi uống rượu đã nói đùa mà dẫn đến tan cửa nát nhà, chết tới mấy nhân mạng. Trước tiên tôi dẫn ra đây một câu chuyện tạm coi là "hồi đầu đắc thắng".
Thời Nguyên Phong có một sĩ tử tên là Ngụy Bằng Cử, tự là Xung Tiêu. Mười tám tuổi Ngụy Bằng Cử lấy vợ, vợ anh là một người đẹp như hoa như ngọc. Vợ chồng lấy nhau chưa đầy một tháng thì gặp kì thi, Ngụy Sinh thu xếp hành lí, từ biệt vợ trẩy kinh ứng thí. Trước khi đi, vợ dặn chồng rằng:
- Thi đỗ hay không cũng liệu mà về cho sớm, đừng bỏ mặc người vợ ái ân ở nhà giường không chiếu lạnh.
- Hai chữ công danh vốn là niềm hi vọng của anh, - Ngụy Sinh đáp, nàng không phải bận tâm.
Ngụy Sinh từ biệt vợ lên đường vào kinh, quả nhiên thi đậu xếp thứ chín giáp bảng. Được vào kinh làm việc, chàng vô cùng sung sướng, viết cho gia đình một lá thư, sai người đón gia quyến vào kinh. Trong thư, Ngụy Sinh viết những lời thăm hỏi và việc mình được bổ nhiệm làm quan, cuối cùng viết thêm một dòng: "Ở kinh đô sớm chiều không ai chăm sóc, anh đã lấy một người vợ lẽ. Chờ nàng tới kinh đô, cùng hưởng vinh hoa phú quý". Người hầu cầm lá thư, đi một mạch về nhà, trước tiên chúc mừng phu nhân, rồi đưa thư cho bà. Phu nhân bóc thư xem, thấy chồng nói thế, bèn nói với người hầu rằng:
- Quan đã phụ tình, mới được làm quan mà đã lấy bà hai.
- Con ở kinh đô, - người hầu nói, - hoàn toàn không thấy việc này, chắc rằng quan chỉ nói đùa thôi. Phu nhân tới kinh đô sẽ rõ đừng bận tâm làm gì.
- Nếu anh đã nói thế, thì tôi tin anh.
Vì thuyền bè chưa tiện, người vợ vừa chuẩn bị lên đường, một mặt tìm người chuyển thư báo tin ở nhà vẫn bình an. Người mang thư tới kinh đô, hỏi thăm tới nơi ở của vị tân khoa Ngụy tiến sĩ, rồi đưa thư nhà, được Ngụy Bằng Cử đãi cơm no rượu say rồi ra về.
Ngụy Sinh nhận được thư, bóc ra xem, chẳng thấy nói chuyện phiếm, mà chỉ viết: "Chàng ở kinh đô đã lấy vợ lẽ, thì thiếp ở nhà cũng lấy một người chồng, sớm muộn sẽ tới kinh đô". Ngụy Sinh thấy thế chỉ cho là vợ nói đùa, hoàn toàn không để ý tới. Chưa kịp cất thư đi, thì được báo bên ngoài có một người bạn học tới thăm. Nơi ở chốn kinh kỳ không được rộng rãi như ở nhà, người ấy là bạn chí thiết, lại biết Ngụy Sinh không có người thân ở đó, đi thẳng vào nhà trong, chuyện trò thăm hỏi mấy câu thì Ngụy Sinh đi tiểu tiện, người bạn học ấy ngẫu nhiên lật qua nhũng giấy tờ trên bàn, thấy lá thư nhà viết đến buồn cười, cố ý đọc to lên. Ngụy Sinh trở tay không kịp, mặt đỏ như gấc chín, nói:
- Chẳng có gì đâu, vì tôi viết thư đùa nàng, nên nàng cũng đùa lại mà thôi.
Người ấy cười phá lên nói:
- Việc này đùa làm sao được.
Anh ta từ biệt ra về. Người này còn trẻ, thích đùa cợt, phút chốc nội dung bức thư đã loan ra khắp kinh thành. Cũng có một số người ghen tị vì Ngụy Sinh đỗ cao, đưa chuyện này thành một tin ngắn tai nghe mắt thấy, tâu lên triều đình, nói Ngụy Sinh trẻ tuổi không biết giữ gìn, không nên để giữ chức quan trọng, mà cho đi nhậm chức nơi xa. Ngụy Sinh hối hận - thì đã muộn. Về sau con đường công danh của Ngụy Sinh rất khó leo lên, bỏ lỡ mất niềm vinh hạnh, một bước đi ban đầu tốt đẹp. Đây chẳng qua chỉ là một câu nói đùa mà để mất một chức quan to.
 
Lại có một người cũng chỉ vì uống rượu, nói đùa mà làm liên lụy đến ba người. Tất cả phải bỏ mạng chỉ vì câu nói đùa.
Vì sao vậy? Có bài thơ làm chứng:
Đường đời lắm nỗi gian nan
Chỉ vì đua cợt mà oan có ngày
Vô tình mây trắng nào hay
Cuồng phong thổi bạt mây bay khôn cùng.
Thời Cao Tông định đô tại Lâm An, đây là nơi phồn hoa đô hội, không kém gì Biện Kinh xưa kia. Cạnh Tiễn Kiều có một người tên là Lưu Quý, tự là Quân Tiến. Ông bà tổ tiên vốn là người căn cơ nhưng đến đời Quân Tiến thời vận rủi ro. Đầu tiên cũng cắp sách tới trường, nhưng xem ra không học được bèn quay sang buôn bán, chẳng khác nào giữa đường cắt tóc đi tu. Khi mở hàng lại không biết nghề nên cứ lỗ lụi mất cả vốn liếng. Dần dần nhà to biến thành nhà nhỏ, thuê hai ba gian nhà, sống hòa thuận với người vợ là Vương ThịVì không có con nối dõi, nên lại lấy một người vợ lẽ họ Trần, đó là con gái của Trần Bán Bánh, người nhà thương gọi là Nhị ThưĐây là việc xẩy ra khi gia cảnh chưa cùng quẫn. Ba miệng ăn cứ chòng chọc ở nhà. Lưu Quân Tiến vốn rất hiền lành, hòa nhã, được người làng yêu quý, đều gọi anh là Lưu Quan Nhân và bảo rằng: "Anh không gặp vận may nên mới trắng tay, sau này nhất định anh sẽ có ngày mở mày mở mặt". Nói thế thôi, chứ làm sao mà khá lên được. Anh chỉ buồn bã, chẳng có cách nào.
Một hôm đang ngồi chơi, thấy lão Vương, người nhà bố vợ, tuổi gần bảy mươi đến nói với Lưu Quan Nhân:
- Sắp tới ngày sinh nhật của Lão Viên Ngoại, ông cho lão sang mời anh chị tới dự ngày mừng thọ.
- Quả là tôi đang buồn rầu lo nghĩ, nên ngay cả ngày mừng thọ bố vợ mà cũng quên khuấy đi mất.
Thế rồi Lưu Quan Nhân cùng với vợ cả thu xếp áo quần bỏ vào túi, giao cho lão Vương mang đi. Dặn Nhị Thư trông coi nhà cửa:
- Tối nay có lẽ tôi chưa về được, tối mai dứt khoát tôi sẽ về.
Nói xong anh đi ngay. Nhà Vương viên ngoại cách thành hơn mười hai dặm, tới nơi, anh cũng chỉ chuyện trò thăm hỏi sức khỏe bố vợ. Hôm ấy khách khứa đông, chàng rể không thể nói hết cảnh khó khăn túng quẫn của mình. Đến khi khách ra về hết, bố vợ giữ anh nghỉ tại phòng khách. Sáng hôm sau, bố vợ mới chuyện trò với chàng rể:
- Anh Lưu này, anh không nghĩ ư, "miệng ăn núi lở”, "cuống họng sâu như biển" mà "ngày tháng tựa thoi đưa". Anh phải tính kế làm ăn. Tôi gả con cho anh cũng chỉ mong đời nó được cơm no áo lành, không đến nỗi khổ sở vất vả là được rồi.
- Thưa thầy, - Lưu Quan Nhân thở dài nói, - đúng là "lên núi bắt hổ dễ, mở miệng nói ra thì khó". Thời thế ngày nay liệu có ai thương con được như thầy đâu! Con gánh chịu khốn khó thôi. Nếu đi cầu xin người ta thì cũng hoài hơi mà chẳng ích lợi gì.
- Điều này thầy cũng chẳng trách con, - bố vợ nói, - thầy nghĩ rằng con đang lúc khó khăn, thầy giúp con ít vốn, mở bừa một cửa hàng bán gạo, củi, kiếm ít lãi mà độ thân, sao lại không được.
- Thế thì tốt quá, - Lưu Quan Nhân nói. - Con vô cùng cảm ơn thầy.
Ăn cơm xong, bố vợ lấy ra mười lăm quan tiền đưa cho Lưu Quan Nhân, nói:
- Anh Lưu, hãy mang số tiền này về chuẩn bị mở cửa hàng. Hôm khai trương thầy sẽ cho con thêm mười quan nữa. Vợ con hãy tạm ở đây ít ngày, hôm nào mở cửa hàng, thầy sẽ trực tiếp dẫn nó về, chúc mừng con. Ý con thế nào?
Lưu Quan Nhân cứ cảm ơn rối rít, rồi mang tiền về. Đến giữa thành thì trời gần tối, chợt nhớ tới người bạn thân, lại tiện đường qua nhà. Anh ấy lại là người kinh doanh, nên bàn bạc với anh ấy một chút thì tốt biết mấy. Thế rồi Lưu Quan Nhân gõ cửa, thấy có tiếng thưa, và người bạn ra mở cửa chào, rồi hỏi:
- Hôm nay có gì cần dạy bảo mà ông anh hạ cố tới đây?
Lưu Quan Nhân nói hết dự định của mình. Người ấy nói:
- Em đang chơi dùi ở nhà, khi nào anh cần em sẽ tới giúp.
- Thế thì tốt quát - Lưu Quan Nhân nói.
Lưu Quan Nhân nói hết nhưng dự định về công việc mình sẽ làm. Người ấy giữ anh lại, dọn cơm rượu mời anh. Uống với nhau vài ba chén, Lưu Quan Nhân tửu lượng kém, thấy người choáng váng bèn xin phép ra về, nói:
- Hôm nay quấy quả anh quá, sáng mai phiền anh sang nhà tôi bàn việc làm ăn.
Người ấy tiễn Lưu Quan Nhân ra tận ngõ rồi từ biệt về nhà. Nếu như người bạn ấy giữ anh ở lại thì sẽ không đến nỗi xẩy ra tai họa, song Lưu Quan Nhân mang tiền đủng đỉnh về nhà lúc ấy trời đã lên đèn, anh gõ cửa, vợ bé là Nhị Thư ở nhà một mình, không có việc gì làm, thấy trời tối, đóng cửa chong đèn ngủ gà ngủ gật. Lưu Quan Nhân gõ cửa thì vợ sao mà nghe thấy được. Gọi mãi chị mới lên tiếng, rồi đứng dậy mơ cửa.
Lưu Quan Nhân bước vào nhà, Nhị Thư cầm lấy tiền, đặt lên bàn, hỏi:
- Anh lấy ở đâu ra những ngần ấy tiền, định dùng số tiền làm gì? Lưu Quan Nhân, một là đang chếnh choáng say, hai là tức với vợ vì gọi mãi mới mở cửa, lại muốn dọa vợ chơi, bèn nói:
- Nói ra sợ cô trách, dù không muốn cũng phải nói cho cô biết. Chỉ vì tạm thời không có cách nào khác, đành phải bán cô cho một người. Song vì rất thương cô nên chỉ bán với giá mười lăm quan tiền. Nếu sau này làm ăn khá lên, sẽ dùng tiền lãi chuộc cô về. Nếu như làm ăn không thuận lợi thì đành vậy thôi.
Người vợ bé không tin, song lại thấy mười lăm quan tiền đang sờ sờ trước mặt. Sao từ trước tới nay anh ấy không hề nói cho mình biết, chị cả được sống hạnh phúc, còn mình thì anh ấy lại lòng lang dạ sói, bán mình đi như thế. Chị cứ nghi nghi hoặc hoặc, đành hỏi lại:
- Nếu thế sao anh không nói với cha mẹ em một tiếng?
- Nếu nói với cha mẹ, thì việc ấy nhất định không xong.
- Ngày mai cô đến nhà người ta, rồi dần dà tôi sẽ nói cho cha mẹ biết, cha mẹ cũng không trách được.
- Hôm nay anh uống rượu ở đâu về thế? - Người vợ bé hỏi.
- Bán cô cho người ta, - Lưu Quan Nhân nói, - viết văn tự xong, uống rượu mới về.
- Thế chị cả sao không về? - Vợ bé lại hỏi.
- Vì chị cả không nỡ thấy cô phải bỏ nhà mà đi, ngày mai cô đi khỏi nhà mới về. Đây là hoàn cảnh bức anh phải thế, việc đã quyết rồi.
Nói xong anh bấm bụng cười thầm, để cả quần áo, ngả mình xuống giường rồi ngủ thiếp đi. Người vợ bé nghĩ rằng: "Chẳng biết anh ấy bán mình cho loại người nào. Ta phải về nói cho cha mẹ biết. Ngày mai người ta đến đòi mình thì phải đến nhà mình mới ngã ngũ”. Nghĩ ngợi hồi lâu, chị cầm lấy mười lăm quan tiền đặt vào phía sau lưng chồng. Nhân lúc chồng say, Nhị Thư rón rén thu xếp quần áo mang theo, rón rén mở cửa ra khỏi nhà, rồi lại khép cửa vào. Cô tới nhà một người láng giềng thân thiết là Chu Tam, nhờ vợ Chu Tam cho nghỉ lại một đêm, nói là:
- Hôm nay chồng em vô cớ bán em, em phải về nhà nói với cha mẹ. Phiền chị ngày mai nói với anh ấy một tiếng, đã có người mua thì người ấy phải cùng với chồng em đến nói với cha mẹ em biết.
Sáng hôm sau, người vợ bé từ biệt ra đi. Thật là:
Cá kia thoát khỏi lưỡi câu
Vẫy đuôi cút thẳng, ngoái đầu làm chi.
Lưu Quan Nhân ngủ tới canh ba mới tỉnh. Thấy đèn trên bàn vẫn sáng, không thấy vợ bé bên cạnh, cứ tưởng là vợ còn đang dọn dẹp dưới bếp, bèn gọi Nhị Thư lấy nước. Gọi mãi mà không thấy thưa, làu bàu, rồi lại ngủ thiếp đi. Không ngờ có kẻ xấu, ban ngày thua bạc, bí quá đêm ấy hắn đi khoắng một ít đồ vừa may hắn đi qua nhà Lưu Quan Nhân. Vì vợ bé bỏ đi cửa chỉ khép hờ chứ không cài then, tên trộm khẻ đẩy, cửa mở ngay. Hắn rón rén đi thẳng vào nhà, chẳng có ai hay biết.
Hắn tới bên giường, thấy sau lưng Lưu Quan Nhân có một bọc tiền, bèn rút lấy mấy quan. Không ngờ Lưu Quan Nhân giật mình tỉnh dậy, quát:
- Mày liều thật, tao mượn bố vợ được mấy quan tiền nuôi thân, mày lấy của tao thì tao sống vào đâu.
- Tên trộm chẳng nói chẳng rằng tống thẳng vào mặt. Lưu Quan Nhân né người tránh, đứng dậy chống cự. Tên trộm thấy Lưu Quan Nhân tay đấm chân đá bèn bỏ chạy. Lưu Quan Nhân không buông tha, đuổi tới bếp, định kêu làng xóm dậy bắt. Tên trộm cuống lên, bí quá, thấy chiếc búa bổ củi sáng loáng bên cạnh. Đường cùng, hắn cầm búa bổ vào mặt Lưu Quan Nhân ngã vật xuống, hắn lại bồi thêm một nhát nữa, Lưu Quan Nhân chết hẳn. Tên trộm nghĩ: "Một là sống, hai là chết, ngươi đã đuổi ta, buộc ta phải giết, chứ không phải ta đến để giết ngươi". Thế rồi hắn trở vào phòng, lấy mười lăm quan tiền, xé chiếc chăn đem gói chặt lại, rồi hắn khép cửa ra khỏi nhà.
Sáng sớm hôm sau người láng giềng tỉnh dậy, thấy cửa nhà Lưu Quan Nhân để ngỏ, nhà lại im ắng, liền gọi:
- Lưu Quan Nhân, sáng rồi!
Không ai thưa, người láng giềng bước vào nhà thì thấy Lưu Quan Nhân đã bị bổ chết. Hai hôm trước vợ cả về nhà mẹ đẻ, vợ bé cũng không thấy, họ tri hô lên. Chu Tam người láng giềng mà đêm qua cho vợ bé của Lưu Quan Nhân ngủ nhờ chạy sang, nói:
- Tối qua vợ bé Lưu Quan Nhân ngủ nhờ nhà tôi, chị ta nói là, Lưu Quan Nhân vô cớ bán chị, chị phải về nhà mẹ đẻ, và còn bảo tôi nói với Lưu Quan Nhân là nếu bán cho người khác thì cùng với người ấy đến nói với cha mẹ chị cho ra nhẽ.
Bây giờ một mặt phải cử người đuổi theo bắt chị ta về thì mới biết rõ sự thực, một mặt phải báo cho người vợ cả về rồi mới phân xử.
- Ông nói phải. - Mọi người nói.
Thế rồi họ tới báo tin dữ cho Vương viên ngoại. Được tin, Vương viên ngoại và con gái òa lên khóc, nói với người ấy rằng:
- Hôm kia Lưu Quan Nhân về, lão đã cho mười lăm quan tiền làm vốn, sao lại bị giết như thế?
- Ông và chị ạ! Tối hôm qua Lưu Quan Nhân về thì trời đã khuya, uống rượu say, chúng tôi cũng không biết anh ấy có tiền, về sớm về muộn thế nào. Chỉ thấy sáng nay cửa nhà Lưu Quan Nhân để ngỏ, mọi người đẩy cửa bước vào, thì thấy Lưu Quan Nhân chết gục dưới đất, mười lăm quan tiền mà ông bảo cho chẳng còn một đồng nào, vợ cũng biệt tăm biệt tích. Tri hô lên thì Chu Tam mới chạy tới, nói là tối qua vợ bé anh ấy tới ngủ nhờ, chị ấy nói rằng Lưu Quan Nhân vô cớ bán chị ấy cho người khác, chị ấy phải về nói với cha mẹ. Ngủ ở đó một đêm, sáng dậy ra đi. Bây giờ mọi người cho rằng phải báo cho ông và chị cả biết, và cho người đuổi theo người vợ lẽ. Nếu như giữa đường không tìm thấy thì đến thẳng nhà bố mẹ đẻ, thế nào cũng tìm được chị ấy về hỏi cho ra nhẽ. Xin ông và chị phải về nhà ngay, để lo liệu cho Lưu Quan Nhân.

Vương viên ngoại và vợ cả Lưu Quan Nhân vội vàng chuẩn bị lên đường, sai người dọn cơm rượu mời người tới báo tin, rồi ba chân bốn cẳng về ngay thành.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Tue Apr 15, 2014 12:56 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 3 (B)
Ngay từ sáng sớm người vợ bé đã dậy đi khỏi nhà người láng giềng. Đi được một hai dặm, thấy chân đau mỏi không đi được bèn ngồi nghỉ bên vệ đường. Bỗng thấy đằng sau có một chàng trai, đầu chít khăn mỏ rìu, mặc áo bông rộng, vai khoác chiếc túi bên trong là tiền đồng, chân đi giày tơ không tất, người ấy đi tới. Chàng trai đến trước mặt Nhị Thư, nhìn qua, thấy tuy không phải là mười phân vẹn mười, song răng trắng bóng, đôi má như hoa sen đầy xuân sắc, đôi mắt sáng, lúng liếng như sóng nước hồ thu, đầy sức gợi cảm. Đúng là:
Hoa đồng ôi lóa mắt
Rượu quê ngây ngất say.
Chàng trai ấy đặt túi xuống, bước tới lễ phép chào:
- Cô đi một mình, không có bạn ư? Cô về đâu?
Cô gái đáp lễ:
- Tôi về nhà mẹ đẻ, mỏi chân quá, tạm nghỉ ở đây, thế anh ở đâu tới, bây giờ anh về đâu?
Chàng trai ấy chắp tay, không rời nửa bước:
- Tôi là người thôn quê, vào thành bán tơ, lấy được ít tiền, bây giờ về Chữ Gia Đường.
- Nhà em cũng ở Chữ Gia Đường, nếu được anh đưa về thì hay quá.
- Có gì mà không được! - Chàng trai nói. - Nếu chị đã nói thế thì tôi xin tình nguyện đưa chị về.
Thế rồi hai người cùng đi. Đi độ hai ba dặm đường, bỗng thấy đằng sau có hai người mồ hôi nhuễ nhại, thở hổn hển chạy tới gọi hồi hồi:
- Cô ơi hãy dừng lại, tôi có chuyện muốn nói với cô.
Cô gái và chàng trai thấy họ đuổi theo lấy làm lạ bèn đứng lại. Hai người phía sau xông tới, chẳng để hai người phân giải, mỗi người tóm chặt lấy một người, nói:
- Các người ghê thật, định dẫn nhau đi đâu?
Người vợ bé giật mình, trợn tròn mắt, song hai người láng giềng thì một người là chủ nhà cô ngủ nhờ đêm qua. Người vợ bé Lưu Quan Nhân hỏi:
- Tối qua tôi đã nói cho ông biết rồi, chồng tôi vô cớ bán tôi, tôi phải về nói cho cha mẹ tôi biết. Có việc gì mà ông đuổi theo tôi.
- Tôi không nói chuyện dông dài. Hiện nay nhà chị có chuyện giết người, chị về ngay mà đối chất.
- Chồng tôi bán tôi, đêm hôm qua mang tiền về, có chuyện giết người gì đâu? Tôi không về.
- Cây ngay không sợ chết đứng. - Chu Tam nói. - Nếu cô không về tôi sẽ gọi người địa phương tới, nói có kẻ trộm giết người ở đây, nếu không sẽ liên lụy đến chúng tôi, mà vùng các ngươi ở cũng không yên tĩnh.
Chàng trai thấy chị không phải là đầu mối bèn bảo với chị rằng:
- Đã nói thế thì chị dứt khoát phải về, tôi đi một mình cũng được.
Hai người láng giềng cùng kêu lên:
- Nếu không có ngươi thì thôi, đã có hai ngươi cùng đi với nhau thì ngươi không đi được đâu.
- Thật là kì quặc! - Chàng trai nói. - Tôi gặp chị ấy giữa đường ngẫu nhiên trở thành bạn đường, điều ấy có liên quan gì với nhau đâu mà bắt tôi phải đi.
- Nhà cô ấy có chuyện giết người , không thể thả ngươi được đâu. Nếu không thì có đầu mối đâu mà kiện.
Xem ra lúc ấy họ không thể dung tha vợ bé Lưu Quan Nhân và người con trai này. Người xem mỗi lúc một đông, họ nói:
- Anh không đi không được. Cây ngay không sợ chết đứng.
- Đi thì đi có ngại gì.
- Nếu anh không đi thì đúng anh là kẻ gian: - Người láng giềng nói. - Chúng tôi không chịu đâu.
Thế rồi họ lôi hai người về.
Tới cửa nhà Lưu Quan Nhân, thấy người ồn ào đông nghịt. Người vợ bé vào thấy xác Lưu Quan Nhân bị búa bổ, nằm sóng soài trên đất, mười lăm quan tiền trên giường không còn lấy một xu. Chị há hốc miệng, lưỡi cứng đơ không nói được. Người con trai cuống lên nghĩ: "Sao ta lại đen đủi thế này! Bỗng dưng đi cùng đường với chị ấy lại bị liên lụy". Mọi người cứ làm ầm lên. Đang lúc chưa biết phân xử thế nào, thì Vương viên ngoại và con gái hớt hơ hớt hải chạy tới. Thấy xác con rể, ông gào lên khóc, rồi nói với Nhị Thư rằng:
- Tại sao ngươi lại giết chồng? Cướp lấy mười lăm quan tiền trốn đi. Nay thì lẽ trời đã sáng rõ, ngươi chối làm sao được??
- Quả thật có mười lăm quan tiền. - Nhị Thư nói. - Tối qua chồng con về bảo không còn cách nào buộc phải bán con cho người khác lấy mười lăm quan tiền và nói là hôm nay bắt con đến với người ấy. Không biết anh ấy bán con cho loại người nào, con bèn về nói với cha mẹ. Bởi thế đêm qua con đặt mười lăm quan tiền vào sau lưng anh ấy, khép cửa, đến nhà ông Chu Tam ngủ nhờ một đêm, sáng dậy sớm về nói cho cha mẹ biết. Khi đi con cũng đã nhờ ông Chu Tam nói với chồng con, nếu có người mua tới thì cùng đến nói với cha mẹ con giao nhận xong xuôi. Con hoàn toàn không biết kẻ nào đã giết chồng con.
- Khéo nói thật! - Vợ cả Lưu Quan Nhân nói. - Tối qua rõ ràng cha ta đã đưa cho anh ấy mười lăm quan tiền mang về làm vốn nuôi vợ con, đâu có nhẽ anh ấy lại nói dối đó là tiền đã bán cô! Đúng là hai ngày cô ở nhà một mình đã gian díu với người khác, thấy gia cảnh khó khăn, không chịu đựng nổi, lại thấy mười lăm quan tiền chợt nẩy ra ý định giết chồng cướp tiền, rồi dùng mánh lới khôn khéo tới nhà hàng xóm ngủ nhờ một đêm, thông đồng bàn mưu, tính kế chạy trốn. Bây giờ cô cùng đi với một người đàn ông thì còn nói sao được nữa. Thật khó mà chối cãi được.
- Chị cả nói có lí. - Mọi người cùng nói, rồi lại nói với người con trai kia. - Anh kia? Ngươi đã bàn mưu với Nhị Thư giết chồng, rồi lại ngấm ngầm hẹn nhau tại nơi vắng vẻ, định rủ nhau đi trốn.
- Con là Thôi Ninh, chẳng hề quen biết chị ấy. Tối qua con vào thành bán được mấy quan tiền tơ, số tiền ấy vẫn còn đây. Trên đường về gặp chị ấy, ngẫu nhiên con hỏi chị ấy về đâu mà lại đi một mình như thế. Chị ấy nói là đi cùng đường, bởi thế mới đi cùng nhau, chứ con cũng chẳng biết trước sau thế nào.
Không ai chịu nghe lời phân trần, họ bèn khám ngay chiếc túi của anh, thì quả nhiên trong đó có mười lăm quan tiền, không thừa không thiếu. Mọi người reo ầm lên:
- Đúng là lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt. Ngươi đã cùng với Nhị Thư giết người cướp của, rồi cùng trốn đi nơi khác, làm liên lụy đến những người láng giềng, làm cho người ta không còn đầu mối để kiện.
Ngay lập tức người vợ cả trói người vợ hai lại, còn Vương viên ngoại trói Thôi Ninh, làng xóm đều chứng kiến, hò nhau giải vào phủ Lâm An.
Viên phủ doãn nghe thấy có vụ giết người, lập tức lên công đường, cho gọi phạm nhân vào, thuật lại từ đầu sự việc. Thoạt tiên, Vương viên ngoại bước lên thưa:
- Thưa tướng công, con là người thuộc địa phương của bản phủ. Nay đã gần sáu mươi tuổi, chỉ có một người con gái. Trước đây gả cho Lưu Quý người trong thành của bản phủ. Về sau, vì không có con, Lưu Quý lại lấy Trần thị làm thiếp, tên là Nhị Thư. Nhà có ba người, xưa nay đều không có điều tiếng gì? Chỉ vì hôm kia là ngày mừng thọ, lão đã sai người đến đón con rể và con gái tới nhà ở lại một đêm. Hôm sau, vì nhà con rể không còn kế sinh nhai, lão đã cho con rể mười lăm quan tiền làm vốn mở hiệu, buôn bán nuôi thân. Chỉ có mình Nhị Thư ở lại coi nhà. Đến tối hôm qua, khi con rể con về nhà, chẳng biết vì duyên cớ gì, Nhị Thư đã dùng búa bổ chết chồng. Nhị Thư trốn theo một người con trai tên là Thôi Ninh, bị đuổi theo bắt được. Mong tướng công thương con rể lão chết bất minh, gian phu dâm phụ, tang chứng vẫn còn, cúi xin tướng công phán xét.
Phủ doãn nghe thấy thế, bèn gọi Trần thị lên hỏi:
- Tại sao ngươi thông đồng với gian phu, giết chồng, cướp tiền rồi cùng nhau chạy trốn? Hãy khai mau.
- Con lấy Lưu Quý, tuy là vợ bé, song được anh ấy đối xử rất tốt. Chị cả cũng là một người hiền lành tốt bụng, thế thì sao con lại có lòng dạ độc địa, xấu xa như thế. Tối qua khi chồng con về nhà thì đã chếnh choáng say, lại mang theo mười lăm quan tiền. Con hỏi tiền ở đâu ra, chồng con nói, vì hoàn cảnh khó khăn nên đã bán con cho người khác được mười lăm quan tiền. Chồng con cũng không cho cha mẹ con biết là bán con, mà ngày mai chồng con bắt con phải đến nhà người ta. Con cuống lên, ngay đêm ấy con đi khỏi nhà, và đã ngủ nhờ nhà hàng xóm. Sáng ra con về nhà bố mẹ đẻ, lại nhờ ông Chu Tam nói với chồng con: nếu đã bán con cho người ta thì phải đến nói với cha mẹ con. Mới đi được nửa đường thì thấy người hàng xóm mà con đã ngủ nhờ đêm qua đuổi theo, bắt con về. Con hoàn toàn không biết vì sao chồng con chết.
- Nói láo! - Phủ doãn quát. - Mười lăm quan tiền rõ ràng là của bố vợ cho con rể, ngươi lại bảo là tiền bán ngươi, ngươi nói thật là vô lí. Hơn nữa tại sao đàn bà con gái đang đêm lại bỏ nhà đi! Nhất định đây là kế thoát thân. Việc này không phải chỉ có riêng người đàn bà làm, mà nhất định phải có gian phu giúp người lấy tiền, giết chồng. Ngươi phải khai rõ sự thực từ đầu.
Nhị Thư đang định nói thì mấy người hàng xóm quỳ xuống nói:
- Tướng công nói quả là ý trời! Tối qua cô ấy quả thật có ngủ nhờ nhà hàng xóm thứ hai bên trái, sáng nay đi sớm. Chúng con thấy chồng cô bị giết chết, một mặt cho người đuổi theo, tới giữa đường thì thấy cô đi cùng với một người con trai, cô ta khăng khăng không chịu về, buộc chúng con phải bắt về. Đến khi Vương viên ngoại nói rằng, tối qua cho con rể mười lăm quan tiền để kiếm kế sinh nhai, nay con rể đã chết, số tiền ấy không biết đi đâu. Hỏi mãi, người vợ lẽ mới nói rằng, khi cô ra khỏi nhà thì số tiền ấy để trên giường. Song khám xét người con trai thì túi anh ta có mười lăm quan tiền, không thiếu một xu. Cô không cùng với người con trai ấy giết chồng cướp của thì còn ai vào đây nữa. Tang chứng rành rành, chối sao được nữa?
Phủ doãn nghe thấy họ nói có lí, bèn gọi người con trai lên hỏi:
- Tòa không thể dung tha ngươi làm bậy. Ngươi đã bàn mưu tính kế với Nhị Thư giết người cướp tiền như thế nào? Hôm nay dẫn nhau đi đâu? Hãy khai thực ra.
- Con là Thôi Ninh, - người con trai ấy nói, - là người nông thôn. Hôm qua con vào thành bán tơ, được mười lăm quan tiền. Sáng nay ngẫu nhiên gặp chị ấy, con không hề biết họ tên. Nào ngờ nhà chị ấy xẩy ra chuyện giết người.
- Nói láo! - Phủ doãn nổi giận quát. - Không thể tin rằng trên thế gian này lại có chuyện trùng khít đến như thế. Nhà anh ta mất mười lăm quan tiền, ngươi bán tơ cũng có mười lăm quan. Đây hoàn toàn là lời nói hàm hồ. Hơn nữa vợ người không được yêu, ngựa người khác không được cưỡi. Ngươi không gian díu gì với người đàn bà này thì tại sao ngươi lại đi cùng với chị ta. Ngươi quả là một tên bướng bỉnh, không đánh thì ngươi không chịu khai.
Thế rồi người ta tra tấn Nhị Thư và Thôi Ninh đến chết đi sống lại. Vương viên ngoại, con gái và những người hàng xóm cứ một mực kết tội hai người này. Phủ doãn đành phải kết án. Tra khảo một hồi, thương thay Nhị Thư và Thôi Ninh không chịu được đành phải nhận. Nói là vì bỗng chốc tham của mà giết chồng, cướp mười lăm quan tiền cùng gian phu chạy trốn. Những người hàng xóm chỉ vạch chữ thập vào bản án. Mang hai chiếc cùm to cùm hai người, rồi tống ngục. Hoàn trả mười lăm quan tiền cho chủ, song số tiền ấy cung phụng cho những người trong nha môn vẫn không đủ. Phủ doãn gởi hồ sơ lên triều đình. Triều đình phê chuẩn hồ sơ, lệnh: "Thôi Ninh gian dâm vợ người, cướp của giết người, theo luật phải chém đầu. Trần thị thông dâm với gian phu, giết chết chồng, là kẻ đại nghịch vô đạo, phải lăng trì để làm gương cho mọi người".
Quan phủ đọc xong cáo trạng, cho người lôi ngay hai phạm nhân ra pháp trường hành hình. Hai người không sao chối cãi được. Thật là:
Người câm phải nếm mùi hoàng bá
Khó nói cùng ai vị đắng này.
Bạn thấy đấy, nếu quả là Nhị Thư cùng với Thôi Ninh ham của giết người, thì ngay đêm ấy hai người phải trốn đi nơi khác, chứ sao lại sang nhà láng giềng ngủ nhờ một đêm, sáng sớm hôm sau mới về nhà mẹ đẻ rồi bị bắt? Nỗi oan uổng này, nếu chú ý có thể suy ra ngay. Ai ngờ quan xử kiện ngu tối, chỉ cốt xong việc, vì không chịu suy xét ngọn ngành thì sao mà tìm ra được. Nơi cõi âm, tích tụ âm đức gần thì bản thân mình bị trừng phạt, xa thì báo oán đến cháu con, hai oan hồn ấy quyết không tha. Bởi thế quan xử kiện nhất thiết không được khinh suất mặc ý dùng hình phạt. Đòi hỏi người xử kiện phải công bằng sáng suốt. Người chết không thể sống lại, cái đứt không thể nối lại. Thật đáng thương thay!
Người vợ cả về nhà, lập bài vị ở vậy thờ chồng. Vương viên ngoại khuyên con đi bước nữa. Chị nói:
- Không phải nói ba năm mãn tang, mà con phải chờ tới khi cha về già.
Cha bằng lòng rồi ra về.
Ngày tháng như thoi đưa, người vợ cả sống vất vưởng tới gần một năm. Người cha thấy chị khó mà chịu đựng nổi, bèn bảo với lão Vương đón chị về. Ông nói:
- Bảo nó thu xếp về nhà, tang Lưu Quan Nhân tròn năm, rồi đi tái giá là được rồi.
Người vợ cả nghĩ đi nghĩ lại, thấy điều cha nói là phải, bèn thu xếp hành lí cho lão Vương mang về. Chị chia tay những người láng giềng, nói tạm đi dăm bữa nửa tháng sẽ về. Lúc ấy đang vào giữa thu, ra khỏi thành thì mây đen ùn ùn kéo tới, rồi trời mưa như trút, hai người đành phải theo con đường vào rừng trú mưa. Không ngờ lại đi nhầm đường. Đúng là:
Trâu dê đi vào nhà đồ tể
Bước bước nhích gần tới hiểm nguy.
Vào tới rừng, nghe thấy đằng sa có tiếng quát thét:
- Ta là Tĩnh Sơn Đô Vương! Các ngươi hãy đứng lại mau, đưa ngay tiền mãi lộ cho ta.
Người vợ cả và lão Vương giật bắn mình, quay lại thấy một người xông tới. Người ấy đầu chít khăn đỏ, mình mặc áo chiến bào cũ, lưng thắt đai hồng, chân đi đôi ủng da đen, tay lăm lăm con dao, múa may bước tới. Lão Vương chết tiệt ấy lại nói:
- Mày là tên cướp đón đường. Tao sắp hết đời rồi, tao phải liều mạng với mày.
Thế rồi lão húc đầu vào hắn, hắn né người, húc quá mạnh, lão Vương ngã dập đầu xuống đất. Tên cướp nổi khùng:
- Thằng già này thật vô lễ!
Hắn xỉa luôn hai nhát dao, máu tươi vọt ra lênh láng, lão Vương đã chết, lại thấy tên cướp hung ác, người vợ cả khó mà thoát thân, bèn nghĩ ra một kế đánh lừa. Chị ta vỗ tay nói:
- Giết giỏi lắm!
Tên cướp dừng tay trợn tròn mắt kinh ngạc, hỏi:
- Đây là người thế nào với ngươi.
Người vợ cả giả vờ nói:
- Tôi thật là bất hạnh, chồng chết, bị người mối lừa dối dụ dỗ lấy một ông già, chỉ biết ăn mà không biết làm. Hôm nay được đại vương giết chết lão, coi như đã diệt trừ tai họa cho tôi.
Thấy người vợ cả thương tâm như thế, lại thấy cô xinh đẹp bèn hỏi:
- Cô có muốn theo ta làm phu nhân chủ trại không?
Chị nghĩ ngợi hồi lâu, không còn cách nào khác, nói:
- Thiếp xin tình nguyện hầu hạ đại vương.
Người ấy chuyển giận thành vui, cầm đao trượng, hất thi thể lão Vương xuống suối, rồi dẫn người vợ cả họ Lưu về trang trại. Đường tới trang trại ngoắt ngoéo, tới một ngôi nhà, người vợ cả thấy đại vương nhặt một hòn đất ném lên mái, bên trong có người ra mở cửa. Tới thảo đường, người ấy bảo bọn đàn em giết dê làm cỗ cưới họ Lưu. Hai người ấy đúng là:
Biết rõ không là bạn,
Việc gấp phải theo hầu.
Không ngờ, sau khi đại vương chiếm được người vợ cả họ Lưu, chưa đầy nửa năm cướp được mấy món to, trở nên giàu Có. Người vợ cả là người rất hiểu biết, sớm tối dùng lời hơn lẽ thiệt khuyên giải hắn:
- Người xưa thường nói: "Ang sành gần giếng sẽ vỡ, tướng quân khó tránh khỏi cái chết khi xung trận". Số tiền có được thiếp và chàng cũng đủ dùng lúc cuối đời rồi, nếu cứ làm những việc không có lương tâm như thế này thì cuối cùng cuộc đời sẽ chịu những hậu quả xấu, ấy là chưa nói, "Nơi đây tuy tốt, nhưng không phải gia đình mà ta lưu luyến mãi". Thôi thì bỏ nghề làm người lương thiện, buôn bán nhì nhằng cũng đủ nuôi thân.
Quả nhiên đại vương hối cải, từ bỏ con đường trộm cướp. Họ vào thành mua một ngôi nhà, rồi mở cửa hàng tạp hóa. Gặp những ngày nhàn rỗi thường tới các chùa chiền niệm Phật ăn chay. Bỗng một hôm đang ngồi chơi, đại vương nói với người vợ cả:
- Ta tuy xuất thân từ cướp đường, song cũng biết được nỗi oan có đầu mối, nợ phải có chủ. Hằng ngày sống dựa vào dọa nạt người khác để cướp của. Về sau lấy được nàng, buôn bán luôn luôn xuôi chèo mát mái, nay bỏ đường cũ theo điều thiện. Ngồi nghĩ lại những ngày đã qua, ta thấy đã giết oan mất hai người, rồi lại làm liên lụy đến hai người và đã phải chết oan. Ta thấy lúc nào cũng canh cánh bên lòng, muốn làm việc công đức siêu sinh tịnh độ cho họ. Điều này ta chưa từng nói với nàng bao giờ.
- Giết oan hai người thế nào? Người vợ cả nói.
- Một là chồng của nàng. - Đại vương nói. - Trước đây cái ngày trong rừng ấy, ông ấy húc vào tôi, tôi đã giết ông ấy. Ông ấy lại là một người già cả, chẳng thù hằn gì ta, nay lại cướp vợ ông ấy, dù ông ấy chết cũng không chịu cam tâm.
- Nếu lúc ấy không thế thì thiếp sao được hầu hạ chàng. - Người vợ cả nói. - Thôi chuyện cũ không nói nữa. - Rồi lại hỏi. - Giết người kia là ai?
- Về người ấy, nói ra thì trời sẽ không tha, lại làm liên lụy đến hai người phải đền mạng. Cách đây một năm, tôi thua bạc không còn một xu dính túi, đêm ấy tôi mò đi lấy trộm, không ngờ đi qua một nhà, thấy cửa không cài, đẩy cửa nhìn vào trong nhà không có ai, bèn lẻn vào, thấy có một người say rượu nằm ngủ trên giường, sau lưng có một đống tiền, bèn rút lấy mấy quan. Đang định đi thì người ấy tỉnh dậy nói: "Đây là số tiền bố vợ cho ta làm vốn, mày lấy đi thì cả nhà ta chết đói," Thế rồi người ấy nhổm dậy đuổi tôi ra tận cửa, định tri hô. Tôi thấy nguy cấp, cầm ngay chiếc rìu bổ củi đang dưới chân quát: "Mày không chết thì tao cũng chết", rồi bổ liền hai nhát. Sau đó vào nhà lấy hết mười lăm quan tiền. Về sau nghe thấy cái chết của người ấy đã liên lụy đến người vợ lẽ của anh ta và một người con trai tên Thôi Ninh. Họ mắc tội oan là cướp của giết người. Cả hai đều chịu hình phạt của triều đình. Tôi tuy là một anh hùng nhất khoảnh, song đã giết chết oan hai mạng người này thì trời đất sẽ không dung tha, sớm muộn thì cũng phải siêu sinh tịnh độ cho họ, đó là một việc nên làm.
Người vợ cả nghe xong, âm thầm đau khổ. "Hóa ra chồng mình bị người này giết, Nhị Thư và Thôi Ninh bị liên lụy đã phải gánh chịu hậu quả. Lẽ ra lúc ấy mình không nên bắt họ phải đền mạng, hai người dưới âm phủ chắc sẽ không buông tha ta". Lúc ấy người vợ cả tỏ vẻ vui mừng và cũng không hề để cho Đại vương biết chuyện. Ngày hôm sau đại vương vắng nhà, người vợ cả bèn tới thẳng phủ Lâm An kêu oan.
Quan phủ doãn mới vừa nhậm chức được nửa tháng. Lúc đó ông đang làm việc tại công đường, bọn tay chân dẫn người vợ cả vào. Người vợ cả bước tới thềm òa lên khóc, khóc xong chị kể:
- Đại vương đã giết Lưu Quý chồng chị như thế nào, quan xử kiện không chịu suy xét kĩ, đã hàm hồ kết án cho xong chuyện, bắt Nhị Thư và Thôi Ninh đền mạng. Sau đó Đại vương giết lão Vương, cưỡng ép mình như thế nào. Nay thì lẽ trời đã sáng tỏ, chính Đại vương đã nói ra, cúi xin tướng công soi xét, minh oan cho nhũng người đã chết. Nói xong chị khóc lóc thảm thiết. Phủ doãn thấy chị thật đáng thương, lập tức khép Đại vương vào tội tử hình, tâu bản án lên quan trên. Sau sáu mươi ngày, chiếu chỉ của vua ban xuống: "Xét thấy, Tĩnh Sơn đại vương là kẻ giết người cướp của, làm liên lụy, khiến ba người phải chết oan, tội phải chém đầu. Quan xử kiện quyết án bừa bãi, cách chức xuống làm dân thường. Thôi Ninh, Trần Thị chết oan uổng thật đáng thương, quan hữu trách phải tới gia đình an ủi họ; cân nhắc thi hành ưu đãi tiền tử tuất. Vương Thị bị bọn côn đồ bức lấy làm vợ, lại minh oan cho chồng, được chia một nửa gia tài của tên cướp để nuôi thân, một nửa gia tài còn lại nhập vào công quỹ". Hôm ấy người vợ cả họ Lưu tới pháp trường xem hành quyết Tĩnh Sơn đại vương, rồi lấy đầu hắn cúng chồng, Nhị Thư và Thôi Ninh, khóc than thảm thiết. Sau đó đem số tài sản được chia, cúng tiền vào am ni cô. Sớm chiều tụng kinh niệm Phật, cúng những oan hồn, hưởng thọ trăm tuổi mới qua đời. Có bài thơ làm chứng:
Thiện ác bất phân, chỉ hại mình,
Nói đùa nên thường gặp tai ương.
Nói năng ta phải luôn thận trọng,

Tai họa xưa nay tại miệng người.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   

Về Đầu Trang Go down
 
Đoán Án Kỳ Quan
Về Đầu Trang 
Trang 4 trong tổng số 6 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang :: Các Đạo Khác :: Gương Xưa Tích Cũ-
Chuyển đến