Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang
Chào bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang!
Diễn Đàn là nơi giao lưu kết bạn, sưu tầm, lưu trữ, học hỏi và chia sẻ kiến thức.
Để cùng nhau tiến bộ trên con đường hướng thiện.
Chúc bạn sức khỏe và có nhiều thành công mới trong cuộc sống!

Om mani pad me hum
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang

Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho; một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tạo lấy.
 
Trang ChínhTrang Chính    CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Chào mừng các bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang! Chúc các bạn sức khỏe và thành đạt! Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang.

Share | 
 

 Đoán Án Kỳ Quan

Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6  Next
Tác giảThông điệp
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Tue Apr 01, 2014 5:06 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 3 (B)
Một hôm, hai mẹ con đang lo lắng đau buồn, thì thấy ni cô Tĩnh Tu vào nhà, Trương thị đứng dậy đón tiếp. Tĩnh tu nói:
- Tôi từ thành về, nghe thấy quan đang truy hoàn khoản tiền thiếu hụt, tôi không yên lòng, nên tới đây thăm bà và cô.
- Xin cám ơn bà! - Trương thị nói.
Sau đó kể lại chuyện chồng mình làm thủ quỹ, thiếu hụt nên phải đền khống, chưa trả hết nên bị bắt để truy hoàn. Nay phải bán nhà, song vẫn không có ai mua. Nói xong nước mắt bà giàn giụa. Tĩnh Tu nói:
- Bà không cần phải lo lắng, Phật Quan âm Bồ Tát trong am của tôi là đấng cứu khổ cứu nạn. Ngày mai bà cùng với cô tới thành tâm kính cẩn cầu khẩn trước Phật đài. Phật sẽ phù hộ cho ông nhà bình an vô sự. À! Nếu bà bán nhà, thì trong thành có vị quan lớn người thôn quê muốn mua nhà ở đó để làm chỗ thu tô, tôi sẽ báo tin giúp, có thế nào ngày mai tôi trả lời thẳng phải là nhất cử lưỡng tiện sao.
- Nếu thế thì ngày mai mẹ con tôi sẽ tới. - Trương thị nói. Song xin sư cô đừng bày vẻ tốn kém.
- Chúng tôi tu hành, có gì mà tốn kém, chỉ cần bà không coi tôi như người dưng nước lã là được rồi.
Nói xong Tĩnh Tu giả vờ than vắn thở dài rồi ra về.
Trương thị tin lời ni cô, sáng sớm hôm sau dậy trang điểm, mua hương nến, khóa cửa cùng với Kim Thư đến am. Ni cô ra đón mẹ con Trương thị. Đầu tiên họ đưa mẹ con bà tới Phật đường thắp hương nến, hai mẹ con quỳ trên tấm thảm bằng cỏ hương bồ lầm rầm khấn khứa, cầu Phật phù hộ độ trì. Lễ xong, Tĩnh Tu mời vào nhà khách, rồi nói với Trương thị rằng:
- Việc bán nhà, sáng sớm nay tôi đã cho người vào thành nói rồi, trưa nay nhất định có người tới. Người này vốn là thí chủ lớn, thường rất tin tôi, tôi nói thêm vào thì nhất định việc sẽ xong. Xin bà hãy yên tâm nán lại chút nữa.
Trương thị thấy nhà sư nói có thí chủ cứu được chồng mình, nỗi buồn bỗng vơi đi một nửa. Khi ni cô bưng cơm ra, mẹ con không dám chối từ. Ăn cơm sáng xong, lại bưng tới một khay trà thơm. Tĩnh Tu nói với một ni cô trẻ rằng:
- Ta ở đây tiếp chuyện bà, ngươi hãy dẫn cô nhà đi dạo quanh am cho đỡ buồn.
- Đến phòng tôi chơi một chút được không? - Ni cô trẻ nói với Kim Thư.
Hai người dắt tay nhau. Đi qua hai dãy phòng, ni cô trẻ mở cửa ngách bước vào, thì đó là một gian phòng tuyệt đẹp. Trên treo một bức tranh cổ, lò hương trên ghế đốt loại hương trầm thơm ngát, hoa cắm trong bình còn tươi nguyên, ở giữa đặt một chiếc bàn vuông và bốn chiếc ghế bành; bên trái kê một chiếc giường, trên giường có đệm gấm, gối tựa, tất cả đều tinh xảo trang nhã; trước sân trồng các loại hoa cỏ. Kim Thư thấy thế nói:
- Nơi đây tôi chưa từng đến bao giờ, quả là cảnh thần tiên.
- Cô cứ ngồi tạm đây, - ni cô trẻ tuổi, - tôi đi lấy trà mời cô dùng.
Ni cô đi ra, gài trái cửa. Kim Thư hoàn toàn không để ý, bước tới giường ngồi. Chỉ nghe thấy bên phải có tiếng kẹt cửa, rồi sau đó một người đàn ông đẩy cánh cửa nhỏ lẻn vào. Kim Thư hốt hoảng sợ hãi định trốn. Người đàn ông ấy cười hi hí, chắp tay chào:
- Tôi nghe thấy cha cô thiếu hụt tiền thuế, hiện đang bị giam trong ngục, tôi đã mang bạc đến đây. Chỉ cần cô bằng lòng lấy tôi thì tôi sẽ cứu cha cô khỏi giam cầm.
Chẳng cần Kim Thư đồng ý hay không, hắn đã xộc đến. Thấy thế cô sợ hãi kêu khóc toáng lên:
- Mẹ ơi, tới đây mau!
Dù cô gào khản cổ cũng chẳng ai nghe thấy. - Người ấy nói. - Hôm nay chúng ta gặp nhau, quả là duyên trời định. Cô hãy nghe theo tôi.
Hắn ôm chầm lấy cô. Kim Thư dùng hai tay đẩy hắn ra, gào to hơn:
- Cứu! Cứu tôi với!
Trương thị đang ngồi trò chuyện với Tĩnh Tu, bỗng nghe tiếng khóc văng vẳng đâu đây, bèn hỏi:
- Có tiếng khóc ở đâu đó?
Đấy là tiếng cô gái nào khóc ở bên ngoài, bà chẳng cần phải để ý tới làm gì.
Lắng tai nghe, bà thấy hình như là tiếng con gái mình, nói:
- Quái lạ thật.
Rồi chạy thẳng vào trong. Thấy đám ni cô ngăn lại, Tĩnh Tu nói:
- Tôi nói nhỏ với bà là không nên vào nữa.
Trương thị càng sinh nghi, vội vã chạy đi. Bọn ni cô kéo bà lại, bất chợt bà cuống lên, gào thét.
Dù cho phòng ốc sâu hun hút, song lẽ nào xung quanh không ai nghe thấy. Cũng cần biết rằng những nhà gần am, hàng ngày Tĩnh Tu đã mua chuộc để bịt miệng họ rồi, chẳng ai quan tâm đến những việc không đâu trong am, bởi thế mà Khắc Xương mặc sức làm liều, mưu toan cưỡng hiếp, chẳng biết sợ hãi là gì. Đáng thương thay hai mẹ con nhà họ Trương, gọi trời không thấu, mà chui xuống đất cũng chẳng có đường! Chính lúc đang phải bó tay, không biết làm sao thì đất bằng bỗng như sét đánh ngang tai. Một người ở cửa am đi vào, thét lên một tiếng. Bạn có biết người đó là ai không? Đó chính là Tăng công tử đi mừng thọ ở Quy Đức trở về qua đây. Ngồi trên mình ngựa, khát nước, thấy chiếc am thấp thoáng bên đường, công tử nói với tùy tùng rằng:
- Trời vẫn còn sớm, chúng ta vào am xin chén nước.
Thế rồi họ cho ngựa men theo đường tắt, đi vào. Đến trước am, nghe thấy trong am có tiếng con gái khóc, và kêu cứu ầm ĩ. Biết bên trong có việc quái lạ, công tử vội xuống ngựa, đẩy cổng không được, công tử lấy sức đạp mạnh, hai cánh cửa đổ sập xuống, kêu đánh ầm một tiếng như sét đánh.
Công tử bước vào Phật đường, thấy bọn ni cô đang giữ chặt một người đàn bà, người đàn bà ấy giãy giụa kêu gào, bèn quát to:
- Vì sao các người lại làm thế?
Thấy một người khăn áo chỉnh tề bước vào, theo sau là bốn năm người, bọn ni cô hoảng hốt buông tay bỏ đi. Người đàn bà ấy quỳ xuống nói:
- Còn có đứa con gái bị nhốt ở phía sau, xin ông cứu mạng.
Công tử lắng nghe, quả nhiên đằng sau có tiếng khóc, đi thẳng tới thấy cửa khóa trái, công tử đập tung khóa, đạp cửa bước vào, thấy một người con gái đầu tóc rối bù, nằm vật dưới đất khóc đứng bên cạnh là người đàn ông. Thấy có người hùng hổ bước vào, hắn sợ quá đứng sững sờ, không sao trốn kịp. Công tử xông tới tóm chặt lấy hắn. Sau đó Trương thị bước vào ôm chầm lấy con, khóc ầm lên. Người ấy quỳ xuống xin tha. Công tử quát:
- Ngươi là ai mà giữa ban ngày ban mặt dám làm điều phi pháp.
- Tôi là Cố Khắc Xương, - người ấy nói, - nhà họ Lục hẹn tôi tới đây để mua nhà, tự dưng cao hứng nói đùa cô ấy mấy câu thế là cô khóc, chứ hoàn toàn không làm gì cả, xin ông tha cho.
Công tử bảo tùy tùng trói Khắc Xương lại. Biết được cô gái chưa bị làm nhục, công tử nói với Trương thị rằng:
- Mẹ con bà đừng đau buồn nữa, hãy nói cho ta biết họ đã lừa dối mẹ con bà đến đây như thế nào?
- Chồng tôi là Lục Tất Đại, vì tiền thuế thu bị thiếu hụt, chưa trả hết, muốn bán nhà để nộp cho đủ. Ni cô nói rằng đã có người mua, rồi lừa mẹ con tới đây. Nào ngờ họ đã nấp ở đó, rồi cưỡng dâm con gái tôi.
Nghe xong công tử vô cùng giận dữ, nói:
- Hãy đi báo quan ngay, tôi sẽ đi minh oan cho bà.
Thế rồi họ ra khỏi Phật đường.
Lúc đầu những người lân cận không để ý tới những việc lăng nhăng, về sau thấy to chuyện, họ túa đến nghe ngóng. Thấy họ, công tử hỏi:
- Các vị có biết nhà Lục Tất Đại không?
- Biết - Có người nói. - Xin phiền ông gọi giúp người nhà Lục Tất Đại tới đây.
Sau đó bảo gia nhân trói hết bọn ni cô lại. Lát sau thì thấy người làng Tích Thiện tới. Nghe thấy việc này họ đều phẫn nộ, chửi Khắc Xương và bọn ni cô hết sức thậm tệ. Công tử nói:
- Có ai là người địa phương này không?
- Con chính là người làng này. - Một người trong đám đông nói.
- Nếu là người địa phương, tôi giao bọn phạm nhân này cho ông giải ngay lên huyện.
Công tử lại nói với Trương thị:
- Mẹ con bà cũng tới huyện ngay bây giờ, tôi sẽ tố cáo với quan huyện, nói với ngài xét xử vụ này.
Sau đó công tử lên ngựa đi trước, để một gia nhân ở lại áp giải. Mọi người hỏi gia nhân rằng:
- Chủ ông là người như thế nào?
- Chủ tôi là công tử Tường Phủ Tăng, là cháu của người bạn đồng khoa với ông lớn phủ Quy Đúc. Ông vừa đi mừng thọ ông lớn về, nghe thấy tiếng kêu khóc cho nên tới cứu. Công tử chúng tôi chuyên dẹp những nỗi bất bình, ra sức cứu giúp người. Các ông đừng lơi lỏng bọn phạm nhân mà chuốc vạ vào thân.
Trong số đó có người biết tiếng công tử, bèn vỗ tay nói:
- Hay, hay lắm! Lần này vị hào kiệt quyết không tha bọn ni cô dâm đãng và bọn côn đồ!
Trương thị, Kim Thư thuê một chiếc xe nhỏ, cùng với những người địa phương áp giải Khắc Xương và bọn ni cô lên huyện. Công tử tới trước đưa danh thiếp rồi vào huyện. Quan huyện đã gặp công tử tại buổi tiệc mừng thọ quan phủ, vừa thấy danh thiếp vội sai người ra mời vào. Chủ khách ngồi xong, công tử kể lại việc Khắc Xương, bọn ni cô đánh lừa và việc mình đến cứu như thế nào cho quan huyện nghe. Quan huyện đùng đùng nổi giận nói:
- Bọn ni cô và bọn côn đồ gian ác, coi thường pháp luật, đệ sẽ xử tội nặng là được rồi.
Công tử bái từ ra về.
Tiếp đó quan huyện gọi Trương thị và các phạm nhân vào xét hỏi. Tin ấy làm náo động cả huyện Ninh Lăng. Nhân dân cả huyện đều đổ tới xem đông nghịt.
Quan huyện ngồi tại công đường, tất cả bọn phạm nhân quỳ bên dưới. Trước tiên quan huyện gọi Trương thị tới hỏi. Trương thị kể lại việc chồng bị giam trong ngục, muốn bán nhà để bồi thường công quỹ. Ni cô Tĩnh Tu đã lừa dối tới am, tìm cách giữ bà lại và lừa đưa con gái bà tới một phòng đã có người nấp sẵn trong đó, rồi cưỡng dâm con bà. Thấy con gái kêu, bà chạy tới cứu, song bọn ni cô giữ lại. Sau đó rất may được công tử cứu thoát. Tiếp đó quan huyện lấy khẩu cung Tĩnh Tu. Tĩnh Tu cứ quanh co không khai thực. Quan huyện nổi giận quát:
- Kẹp nó cho ta.
Lính hầu đem kẹp tới kẹp chặt. Tĩnh Tu quen ăn trắng mặc trơn, chịu đau sao được, thị kêu như lợn chọc tiết, mồ hôi trên chiếc đầu trọc túa ra như mưa, đái cả ra quần, buộc phải kêu lên:
- Con xin khai!
Thế rồi Tĩnh Tu khai hết, từ việc Khắc Xương muốn lấy Kim Thư, nghĩ kế thế nào, rồi việc sai Tĩnh Tu lừa dối, và hắn đã đóng cửa hành dâm ra sao... Quan huyện hỏi:
- Bọn ni cô các người có gian dâm với Khắc Xương không?
- Không ạ! - Tĩnh Tu đáp.
Quan huyện bảo người kẹp tiếp. Tĩnh Tu cuống lên, vội nói:
- Có ạ! Có ạ! Quả thực chúng con quan hệ với nhau từ lâu rồi.
Thấy bọn ni cô đã cung khai, quan huyện bảo thôi không kẹp nữa. Sau đó gọi Cố Khắc Xương lên hỏi, quan huyện giận dữ quát:
- Ngươi là đứa đáng chết, đất nước thanh bình mà lại dám hoành hành ngang ngược, quả là ngươi đã coi trời bằng vung. Nay bản huyện sẽ tặng ngươi chiếc kẹp.
Rồi ông bảo với lính hầu:
- Kẹp hắn lại cho ta!
Hằng ngày bọn lính hầu thường thân thiết với Khắc Xương, thấy quan huyện nổi giận, bọn họ không dám nương nhẹ, đành phải lôi hắn ngã sấp, ngã dụi rồi lấy kẹp kẹp. Quan huyện ngồi trên quát:
- Phải kẹp thật đau!
Khắc Xương vốn là một tên quen thói ăn chơi, chưa từng nếm mùi đau đớn, nay bị cực hình, hắn hồn xiêu phách lạc, ngất lịm đi. Lính lệ hắt nước lạnh hắn mới tỉnh dậy. Tri huyện hỏi:
- Ngươi đã bày mưu cưỡng dâm, còn biện bạch gì nữa.
- Con không dám biện bạch. Song con chỉ trót dại chòng ghẹo thôi, quả thực con chưa hại cô ấy, xin ngài tha tội!
- Tuy chưa hành dâm, nhưng sự thực là đã cưỡng ép cô ấy. - Quan huyện nói.
Rồi ông lệnh giam Khắc Xương vào nhà ngục, sẽ định tội. Còn bọn ni cô bị đưa ra ngoài, đánh mỗi đứa bốn mươi gậy, bắt hoàn tục.
Khi ấy người đến xem đông nghịt, tắc đường nghẽn lối. Kim Thư quỳ đằng sau mẹ, nhưng quan huyện không hỏi đến, chỉ bảo Trương thị dẫn cô về. Trương thị xin tha cho chồng, rồi sẽ bán nhà bồi hoàn. Quan huyện nói:
- Không được! Phải hoàn trả tiền xong mới được tha.
Trương thị đành ra về. Theo lệ địa phương, quan huyện bắt Khắc Xương phải sung vào quân lính vùng biên ải.
Mẹ con Trương thị tới nhà giam thăm Tất Đại, kể hết chuyện đã xảy ra, rồi nhìn nhau khóc lóc. Tất Đại nói:
- Tính mạng của mẹ con bà hoàn toàn do Tăng công tử cứu vớt. Ta không thể tới cảm ơn công tử được, mẹ con bà phải đến cảm ơn mới đúng.
Mẹ con Trương thị lập tức ra khỏi ngục, nhờ người láng giềng thân thiết dẫn đến chỗ công tử. Công tử thấy thế bèn hỏi:
- Chồng bà đã ra khỏi trại giam chưa?
Trương thị nước mắt lưng tròng nói:
- Thưa công tử, quan huyện nói rằng: "Phải chờ giao nộp xong tiền mới tha".
Công tử than rằng: "Làm cho người ta khánh kiệt gia tài, mà còn cố chấp như thế". Rồi hỏi:
- Còn thiếu bao nhiêu?
- Còn thiếu hơn một trăm lạng nữa. - Trương thị nói.
Công tử lập tức bảo gia nhân lấy ba gói bạc đưa cho Trương Thị, rồi nói:
- Mỗi gói là năm mươi lạng, cả thảy là một trăm năm mươi lạng, hãy cầm lấy số bạc này để trả nợ, còn bao nhiêu cứ để lại mà dùng.
- Chồng tôi bảo tôi đến cảm ơn công tử, chứ có dám đến xin ngài gia ân đâu ạ!
- Thôi đừng từ chối nữa, - công tử nói, - hãy về lo liệu công việc đi.
Lúc ấy Trương thị như người bị rơi xuống vực được lôi lên, bà vội quỳ xuống khấu đầu lia lịa tạ ơn công tử. Nhưng công tử đã bỏ đi ngay.
Vì sao công tử không về trang trại ngay? Bởi việc của Tất Đại chưa xong, công tử không yên tâm, nên đã nán lại trong thành chờ xem sao. Khi hai mẹ con Trương thị đi rồi, công tử lập tức trở về trang trại. Trương thị đã có bạc, tới ngay giao cho huyện, Lục Tất Đại lập tức được tha. Thời ấy, cả huyện ai ai cũng khen ngợi công tử là người nghĩa khí. Ra khỏi trại giam, Lục Tất Đại đến ngay chỗ công tử tạ ơn, song công tử đã đi từ Lâu. Tất Đại đành khóc trở về.
Công tử về tới nhà, tuyệt nhiên không hề nhắc tới việc này, nếu không đọc sách làm thơ, thì công tử cưỡi ngựa bắn cung, luôn luôn mong muốn có cơ hội sẽ làm nên sự nghiệp. Bỗng một hôm, có một quân nhân đến nhà, hỏi người gác cổng rằng:
- Đây có phải tư dinh của công tử không?
- Thưa ngài đúng ạ! - Người gác cổng nói.
- Tôi là người giúp việc của ngài Vương Đại Tuần phủ Quý Châu, ngài gửi thư tới muốn gặp công tử.
Người gác cổng vào bẩm, công tử lập tức mời người ấy vào. Vào sảnh đường, thấy công tử người ấy vội quỳ xuống. Công tử đỡ dậy nói: "Người được Bác Vương sai tới sao lại quá kính cẩn như thế. Xin mời ông ngồi uống nước, rồi hãy nói".
Người ấy ngần ngừ mãi, sau mới dám ngồi, rồi vội lấy thư trình lên. Công tử bóc ra xem, nói với người ấy rằng:
- Đến mai bàn bạc, rồi cùng đi một thể.
Vì sao quan Tuần phủ lại mời công tử? Vương Công tên là Tam Thiên, vừa là anh em kết nghĩa của cha công tử, vừa là bạn đồng khoa, thân nhau như ruột thịt. Ông luôn luôn nghĩ tới và mến mộ tài năng văn võ của công tử, nghĩ rằng công tử sau này sẽ có ích cho đất nước. Nay vì Quý Châu loạn lạc, triều đình giao cho ông làm tuần phủ, đúng lúc cần dùng người, cho nên đã sai người tới mời. Một là giúp mình, hai là muốn cho công tử hiến dâng tài năng làm nên sự nghiệp. Lá thư ấy rất hợp với tâm sự của công tử. Đến hôm sau, công tử giao lại toàn bộ việc nhà cho một gia nhân tâm phúc cai quản, còn mình mang theo một ít bạc cùng bốn gia nhân và người đem thư lên đường.
Đi hơn bốn mươi ngày mới đến thành Quý Châu. Thấy công tử đến, Vương Tuần phủ vội ra đón ngay vào thư phòng dự tiệc tẩy trần. Ban đêm công tử cũng nghỉ tại đây để tiện bàn việc cơ mật. Vương Tam Thiên thấy công tử có tài năng và rất thận trọng chu đáo, bởi thế tất cả những nhiệm vụ quan trọng về quân sự và mọi kế hoạch, công tử đều được tham dự bàn bạc, và đã đưa ra những ý kiến rất xác đáng.
Một hôm hội thao quân lính, Vương Tuần phủ lệnh cho công tử tới bãi tập thao diễn trước quân sĩ, rồi ông cười hỏi Tăng công tử rằng:
- Võ nghệ của cháu chắc là phải cao cường lắm?
- Cháu cũng biết đôi chút, xin mong bác dạy bảo.
- Chính ta đang cần thỉnh giáo. - Vương Tuần phủ đáp.
Công tử nhảy phóc lên lưng ngựa, phi quanh bãi tập, bắn trăm phát trúng cả trăm. Sau đó công tử ngồi trên mình ngựa múa đại đao, ngựa phi vòng quanh, rẽ phải rẽ trái, người xem hai bên chỉ thấy một vầng ánh sáng che kín người ngựa, khiến mọi người hoa cả mắt, ai ai cũng phải trầm trồ thán phục. Vương Tuần phủ rất mừng, cùng công tử trở về nha môn, hỏi công tử rằng:
- Cháu thấy quân sĩ thế nào?
- Dàn trận tuy tề chỉnh, nhưng quân luyện chưa thuần thục. - Công tử nói. - Người xưa có nói: "Quân không cần nhiều, mà cần tinh". Thà rằng hãy tuyển chọn người tinh nhuệ thành lập riêng ra một đội, ngày đêm luyện tập, trọng thưởng quân sĩ cùng chia ngọt sẻ bùi, thì khi lâm trận họ sẽ anh dũng xông lên. Một địch mười, thì trăm trận trăm thắng.
Vương Tuần phủ thấy công tử bàn rất chí lí, bèn nói:
- Muốn nhờ công tử làm chức giám kỉ, hiện có tờ trát lưu không, điền họ tên công tử vào, lúc đó công tử có thể ra lệnh cho ba quân.

- Xin tuân lệnh tuần phủ, - công tử đáp, - cháu xin hết sức cố gắng.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Tue Apr 01, 2014 5:31 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 3 (C)
Hôm sau, Vương Tuần phủ trao trát và hiểu dụ trước ba quân, giao Giám kỷ tuyển chọn. Công tử bèn lệnh cho quân sĩ, ai có thể bắn ngoài trăm thước, nâng được năm trăm cân thì mới trúng tuyển. Chọn mười ngày chỉ được ba trăm người. Công tử mua trâu, rượu khao quân, trực tiếp huấn luyện võ nghệ, cùng đồng cam cộng khổ với quân sĩ, ai ai cũng phải khâm phục. Chỉ mấy tháng, tất cả quân sĩ đều dũng mãnh như hổ lang. Có lần giặc đến, công tử xông pha gươm giáo cung tên, chỉ huy ba trăm hùng binh, xung phong hãm trận, không trận nào không chiến thắng. Ngay cả bọn giặc mạnh nổi tiếng xưa nay, thấy quân của công tử đến đều bỏ chạy. Vương Tuần phủ dâng tấu tâu với triều đình về công tích của công tử, được triều đình phong lên chức phó tổng binh. Tuy được phong chức quan võ cũng coi là một dịp may, không uổng công nuôi chí lớn lâu nay, song họa phúc khôn lường, thăng trầm khó biết.
Dân tộc Miêu, Man ở vùng Quý Châu sống xen kẽ nhau, bên ngoài là động Miêu, chủ động gọi là Thổ ty, có quyền sinh quyền sát cả một vùng, song cũng chịu sự khống chế của Tuần phủ. Thời ấy có một động chủ tên là An Bang Ngạn, tính hay lật lọng ngang ngược khác thường. Hắn cậy quân mạnh, địa thế hiểm trở không theo lệnh vua, nhiều lần quấy nhiễu nội địa, giết hại nhân dân. Khi Vương Tuần phủ tới nhậm chức, có ý định tiến đánh vào sào huyệt của chúng. Song dưới trướng chưa có tướng tài, nên tạm thời nín nhịn chưa tiến quân. Nay công tử làm tướng, thắng giặc khắp nơi, uy danh lừng lẫy, bèn quyết tâm đánh dẹp. Một mặt gửi giấy về kinh, đồng thời hạ lệnh xuất quân, chọn công tử làm tiên phong, đem ba ngàn quân đi tiên phong, còn mình chỉ huy trung quân tiếp viện phía sau.
Quân tiên phong tiến vào biên giới đất Miêu, quân Miêu nghe tin bỏ chạy tán loạn, thế mạnh như chẻ tre. Xem chừng còn cách động không xa, có quân sĩ về cấp báo: "Trước mặt động là cửa rừng hiểm trở, có quân Miêu chốt giữ". Thấy trời đã tối công tử ra lệnh dựng trại đóng quân, ngày mai sẽ tiếp tục tiến. Thấy bên cạnh có núi, trên núi, đá nằm ngổn ngang rất nhiều, công tử bèn lệnh cho quân sĩ rời trại lên núi, không cho quân sĩ nghỉ ngơi, nhặt thật nhiều đá chất bên mình, cao ngang vai mới thôi. Nếu có giặc đến sẽ dùng đá ném xuống, nhất thiết không được dùng súng và cung nỏ.
Động chủ An Bang Ngạn biết có quân triều đình tới gần, tụ tập quân lính, trước hết chốt giữ nơi hiểm yếu chờ địch tới. Thấy quân triều đình đóng cách đó gần mười dặm, bèn truyền lệnh đến canh hai tiến quân, cướp trại, giết cho bằng hết. Bọn giặc đến, công tử hạ lệnh: "Khi nào bọn giặc tới, cách mười bước mới bắt đầu ném đá xuống". Quân Miêu xông tới như ong vỡ tổ chỉ thấy đá ném xuống như mưa, sát thương gần hết, không sao tiến lên được, cứ liên tục như thế tới mấy lần, quân Miêu chết không sao kể xiết.
Trời gần sáng, trên núi bỗng có một tiếng pháo nổ đinh tai, quân lính ồ ạt xông xuống, tất cả đều dũng mãnh tiến lên, tranh nhau lập công, súng, cung tên bắn như mưa. Bởi vì ban đêm hoàn toàn dùng đá chống địch, hỏa khí và cung tên dư thừa nên bây giờ thả sức bắn vào quân địch. Quân Miêu làm sao chống cự nổi, chúng đại bại bỏ chạy. Công tử dẫn ba trăm quân tinh nhuệ đuổi sát nút, tiến thẳng vào cửa hiểm yếu. Quân Miêu chốt giữ tại đó, kẻ chết, đứa bỏ chạy. An Bang Ngạn dẫn tàn quân chạy về đông, cố thủ không ra. Công tử một mặt báo tin thắng trận, một mặt chốt giữ cửa động, chờ hậu quân tới cùng ồ ạt tấn công vào động.
Vương Tuần phủ biết tiền quân đã thắng lớn, bèn dẫn đại quân tới, vây chặt cửa động, ngày đêm đánh vào. Bang Ngạn thấy quân triều đình thế mạnh, nghĩ rằng khó mà chống nổi, bèn chạy trốn ra phía sau, tới một động khác cầu cứu. Thấy tình hình trong động thay đổi, công tử thừa thế tấn công vào.
Người xưa thường nói: "Rắn mất đầu không sao bò được", số quân Miêu còn lại đều quỳ gối xin hàng. Vương Tuần phủ lập tức đóng quân trong động, kêu gọi thổ ty các động nếu không đến thì lập tức đem quân tiến công vào sào huyệt. Các thổ ty đều sợ kéo quân ra hàng, nguyện sẽ sẵn sàng theo triều đình.
Công tử nói với Vương Tuần phủ rằng:
- Tên đầu sỏ đã chạy trốn, quân Miêu đã hàng phục. Nếu như chia đất của Bang Ngạn cho các thổ ty cai quản, thổ ty các động khác nhất định hợp sức tấn công, chẳng mấy chốc có thể chặt được đầu Bang Ngạn mang về tế cờ. Toàn quân kéo về đó là thượng sách. Nếu không thì việc để lâu sẽ sinh biến, khó bảo toàn thắng lợi lâu dài.
- Quân Miêu ngang ngạnh từ lâu, - Vương Tuần phủ nói, ta đang thắng thế, chúng rất khiếp sợ, ta muốn sát nhập các nơi vào bản đồ, chiếm các nơi hiểm yếu, đặt quan đàn áp, vĩnh viễn diệt trừ tận gốc cái hại vùng biên giới. Hơn nữa Bang Ngạn chưa bị bắt phải bắt ngay để trị tội, mới thể hiện rõ quốc Uy.
- Nếu thực hiện kế ấy, - công tử nói, - e rằng các động sẽ nghi ngờ, sợ hãi rồi sinh ra thay lòng đổi dạ, mà đã thay lòng đổi dạ tất sẽ cắt đứt các đường, quân ta vào sâu khu trung tâm sẽ tiến thoái lưỡng nan.
Vương Tuần phủ cho rằng công tử nói thế không đúng.
Mấy hôm sau, quân Miêu thấy đại quân không rút, hết thảy đều nghi kị, cho rằng tuần phủ muốn chiếm đất của họ. Về sau quân triều đình kêu gọi, thì chẳng thấy động nào ra. Lúc ấy, thấy quân Miêu đã thay lòng, theo lời công tử, Vương Tuần phủ lệnh cho quân sĩ, đổi trung quân thành quân tiên phong, lệnh cho công tử bảo vệ phía sau, lần lượt rút khỏi biên giới quân Miêu.
Nào ngờ An Bang Ngạn trốn tới động Sinh Miêu, nói bừa rằng tất cả của cải châu báu không biết bao nhiêu mà kể đã bị quân triều đình chiếm hết, mong được mang quân đến cứu, giết hết quân triều đình, trừ đất đai ra, con gái, ngọc lụa... các chủ động sẽ lấy hết mà dùng. Người Miêu vốn rất tham lam, nghe thấy nói thế, hớn hở theo ngay. Thế rồi đem mấy ngàn quân cùng với số quân còn lại của Bang Ngạn nhất tề tiến công. Quân Miêu đều nhận được lệnh, thấy đại binh đã lên đường đều theo các ngả đường kéo tới.
Tuy đã rút quân, song chưa biết Bang Ngạn quay lại, quân Miêu theo quân phản nghịch, Vương Tuần phủ dọc đường dựng trại đóng quân, hoàn toàn không phòng bị biến loạn. Đêm ấy, vừa lúc canh hai, quân sĩ đang ngủ say, bỗng nghe thấy tiếng la hét ngoài doanh trại, vội vàng bật dậy, mang quân ra ngoài doanh trại nghe ngóng. Chỉ thấy quân Miêu rất đông tràn vào doanh trại. Quân lính đang ngủ chợt tỉnh, hồn vía rụng rời, bị quân Miêu chém chết như ngả rạ, bó tay chịu chết. Tuần phủ đem quân nghênh chiến, thấy quân Miêu tràn tới, quân của mình bị giết gần hết, khí giới mất sạch, không còn đường thoát, than rằng: "Tiếc thay ta không theo lời công tử!". Rồi dùng dao tự vẫn.
Đội quân phía sau của công tử cách đó mấy dặm, nghe thấy phía trước có tiếng thét "giết, giết", vang trời dậy đất, biết rằng đại quân đã thất bại, vội vàng đem quân tới cứu. Bỗng thấy mấy người lính sống sót chạy tới báo:
- Chủ tướng đã chết, toàn quân bị tiêu diệt!
Công tử vô cùng kinh hãi, quân lính hoảng loạn, vừa truyền lệnh phải bình tĩnh, thì quân Miêu đã ập đến trước mặt. Công tử liều chết nghênh chiến, tuy giết được mấy trăm quân Miêu, nhưng hình như càng giết càng thấy đông, giặc vây bốn phía, ba ngàn quân chết gần hết, chỉ còn ba trăm quân thân cận theo công tử, tả xung hữu đột. Quân Miêu vây chặt, đến khi trời sáng tất cả đều trọng thương. Quân Miêu biết đấy là đội quân tinh nhuệ, chúng dùng nỏ, cung tên tẩm thuốc độc từ xa bắn tới như mưa, dính tên là ngã vật. Công tử liều mạng chạy. theo đường tắt, nào ngờ ngựa trúng tên gục ngã, công tử bị quân Miêu bắt được, giam vào doanh trại. Đúng là:
Rồng sa vũng cạn bị tôm cười
Hổ lạc đầm sâu khiến chó khinh
Công tử không còn hi vọng, chỉ có đường bó tay chờ chết. Tự nhiên thấy một tên lính Miêu đi tới, nhìn công tử từ đầu đến chân, rồi khe khẽ hỏi:
- Ngài có phải là công tử Tường Phù Tăng không?
- Đúng đấy. - Công tử đáp.
Người ấy bỏ đi, tối đến mang rượu thịt tới nói với quân tiêu rằng:
- Chủ tướng đang mang quân truy đuổi, để chúng ta lại đây coi giữ, bọn người này có chạy lên mây. Đêm nay chúng ta cứ việc ăn uống cho thỏa thích.
Thế rồi chúng reo hò ầm ĩ, uống thả sức say túy lúy. Người ấy bèn cởi trói rồi kéo công tử chạy. Ra khỏi cửa doanh trại, đến chỗ đường tắt vắng vẻ, người ấy biếu công tử một thanh gươm, một bao lương khô, rồi nói:
- Đây là con đường nhỏ đi hai ngày hai đêm sẽ tới vùng Trung Thổ thì công tử sẽ sống.
Công tử hỏi họ tên. Người ấy nói:
- Công tử còn nhớ tên ăn trộm tại trang trại của công tử Không? Người ấy chính là tôi. May mà được công tử cho tiền lộ phí trở về nhà, sau đó vào động gia nhập quân Miêu. Nay quân Miêu động ta bắt được công tử, may mắn gặp được công tử, nên tìm cách cứu, để báo đền ơn xưa. Xin công tử đi ngay đừng nấn ná nữa.
Đang lúc cuống cuồng gấp gáp, công tử không kịp cảm ơn, ba chân bốn cẳng rời khỏi nơi này, chẳng quản gì đến núi rừng hiểm trở, gập ghềnh. Đi tới sáng, thấy bụng đói cồn cào, mới lấy gói lương khô ra, thì thấy một mảng thịt trâu, dùng dao cắt ăn một bữa no, rồi lại tiếp tục đi. Tuy gặp mấy chỗ hiểm yếu song không thấy một tên lính Miêu nào ngăn cản. Đi thêm một thôi đường nữa, thì thấy đường dần dần bằng phẳng, xa xa đã thấy nhà dân, lúc đó mới tin rằng đây là địa giới miền Trung Thổ. Nhân dân vùng biên đang lo sợ quân Miêu tới, vừa thấy bóng công tử, biết là trốn từ động Miêu ra, tranh nhau hỏi. Công tử kể hết sự tình, họ mới biết đây là một vị quan, rồi vội vàng mời công tử lưu lại ăn cơm. Công tử hỏi:
- Từ đây tới tỉnh thành còn bao xa nữa?
- Đi theo đường tắt còn gần một trăm dặm nữa, - có người nói, - chờ chúng tôi chuẩn bị ngựa đưa đi cho tiện.
Lại đi thêm một ngày, tới tỉnh thành, quan viên coi giữ ở đây biết Tuần phủ đã tử trận, đại quân không trở về, hoàn toàn lấy dân chúng lên thành canh gác, cửa thành đóng chặt. Thấy công tử trốn về, mới mở cửa cho vào. Công tử nhìn các quan òa khóc, nói là mình đã làm mất quân, làm nhục nước, thật đáng tội chết. Có người nói:
- Tướng quân đừng đau buồn nữa, bây giờ thành đang trơ trọi, cần phải hợp sức coi giữ.
Công tử đến dinh Tuần phủ, an ủi gia quyến ông, rồi lên thành coi giữ như cũ. Bởi vì công tử trước đây uy danh lừng lẫy nay trốn về được các quan tôn làm Trưởng thành, lúc ấy nhân dân mới yên tâm đôi chút. Rất may quân Miêu chỉ cướp đoạt vùng biên giới, không dám vào sâu, cho nên tỉnh thành vẫn an toàn.
Công tử nghĩ rằng xưa kia mình tình cờ cứu giúp một người, nay cũng tình cờ được người ấy cứu thoát, chẳng phải là việc kì lạ sao? Song không biết rằng tội thua trận, triều đình sẽ xử trí thế nào, nên suốt ngày lo lắng.
Chưa đầy nửa tháng, bỗng nghe tin Tuần phủ mới đi ngựa tới nhậm chúc, công tử mang quân ra nghênh tiếp, đưa tờ thiếp, lập tức truyền cho vào gặp. Công tử cùng các quan yết kiến quan Tuần phủ xong. Tuần phủ hỏi:
- Ai là Tăng Anh?
- Thưa ngài, tôi là Tăng Anh. - Công tử thưa.
- Ngươi có biết chiếu chỉ của triều đình không? - Quan Tuần phủ hỏi.
Nghe thấy có chiếu chỉ, công tử bèn quỳ xuống. Tuần phủ nói:
- Chiếu chỉ của vua nói là, Vương Tuần phủ chết vì nước, tặng chức tước, ban thụy hiệu, những tướng quân bại trận chạy trốn về, không ứng cứu đều giải về kinh, giao cho Tam pháp ty xét xử định tội. - Sau đó Tuần phủ mới lại nói với công tử rằng: "Ta cũng biết ngươi là viên tướng tài, nhưng thánh chỉ rất nghiêm minh, ai dám bảo lưu ý kiến của mình".
Nói xong Tuần phủ lập tức cho cởi bỏ áo mão cân đai, đeo gông vào cổ, rồi sai người giải về kinh. Những bạn đồng liêu quyên góp tiền biếu công tử làm lộ phí, và dặn dò công tử đi đường phải cẩn thận.
Công tử cho hết những người hầu của mình về, chỉ giữ lại bốn người nhà đi theo tới kinh đô. Ngày đi đêm nghỉ, tới kinh đô công tử bị đưa đến giam trong nhà giam Bộ Hình, giao cho Tam pháp ty thẩm vấn. Ngày hôm sau công tử được dẫn ra khỏi ngục, thẩm vấn ngay tại chỗ. Đứng ngay dưới thềm nhà tù công tử tự viết lời khai, khai hết mọi việc đã xảy ra, từ nguyên nhân thất bại, đến việc mình ở đội quân phía sau, không kịp ứng cứu, để đến nỗi bị bắt, và thừa cơ trốn thoát. Tam pháp ty nói:
- Ngươi là tiên phong, không bảo vệ được chủ tướng, bị bắt rồi trốn thoát, tội này quá lớn. Sau đó lại cho vào nhà giam, xin chiếu chỉ định đoạt.
Cần hiểu rằng pháp luật thời Minh tội nặng nhất là để mất thời cơ, phàm là những người để mất thời cơ đều bị hành quyết. Huống hồ là công tử thoát thân một mình, không cứu viện, nhất định sẽ chịu tội nặng. Thời ấy, ai bị giam ở Thiên lao thì chỉ còn đường kề cổ vào lưỡi đao. Bốn người nhà công tử cũng nghĩ rằng chủ mình sớm muộn rồi cũng bị tử hình. Họ khóc lóc tiếc thương. Bỗng một hôm, ngục quan cười ha hả tới nói rằng:
- Ngài Tăng, rất may ngài vô sự! Thượng thư Bộ Binh dâng sớ tâu rằng, ngài là nhân tài có ích cho đất nước, hãy nghĩ tới việc dùng ngài sau này. Thánh thượng chuẩn y, hạ lệnh miễn tội chết, cho ra chiến trường lập công chuộc tội.
- Tôi đáng tội chết, làm sao mong được ơn trời biển ấy. - Công tử nói.
Đang lúc nửa tin nửa ngờ, thấy Bộ Hình gửi giấy tới, lập tức công tử được thả ngayCông tử vui mừng không sao kể xiết chẳng khác nào thoát khỏi địa ngục của quỷ sứ Diêm vương. Công tử từ biệt quan coi ngục ra khỏi Thiên lao, tìm chỗ nghỉ ngơi. Người nhà vô cùng vui sướng.
Song công tử nghĩ rằng: "Trần thị lang mình vốn không quen biết, sao lại dâng sớ cứu mình". Thế rồi công tử đưa danh thiếp quỳ trước cửa tạ ơn. Thị lang nói:
- Xin mời ông đứng dậy, đó là do ngài cống hiến tài năng cho đất nước, chứ đâu phải tôi ra ơn cho ngài. Người thi ân cho ngài, đó là vị tân khoa Hàn lâm Kim Lương, xin ngài đi tạ ơn quan Hàn lâm mới phải.
Công tử vâng dạ rồi cáo từ. Công tử nghĩ: "Kim Hàn lâm mình cũng chưa gặp bao giờ, vì sao ngài lại cứu mình, cứ mờ mờ mịt mịt không sao hiểu nổi". Thế rồi ông mang danh thiếp tới nhà ngài Kim Hàn lâm. Hàn lâm thấy đanh thiếp, lập tức mời vào tư dinh. Hai người chào hỏi, rồi ngồi vào bàn. Công tử nói:
- Tôi vừa tới tạ ơn Trần đại nhân, ngài nói tính mạng của Tăng Anh hoàn toàn do lão tiên sinh cứu vớt, cho nên tôi tới tạ ơn ngài.
Nói xong định quỳ xuống, quan Hàn lâm đỡ dậy nói:
- Tính mạng của ông do một người khác cứu, tôi không dám nhận ơn. Cũng không phải là người này cứu mà do ngài tự cứu.
Nghe xong công tử càng thêm khó hiểu, chắp tay nói:
- Xin tiên sinh nói rõ.
- Chút nữa sẽ biết. - Kim Hàn lâm nói.
Sau đó ông mời vào thư phòng, bày tiệc khoản đãi. Hai người uống xong vài tuần rượu, quan Hàn lâm hỏi công tử về việc xuất quân. Công tử kể lại tỉ mỉ từ đầu đến cuối. Quan Hàn lâm nói:
- Đây là do trời quý trọng tài năng, không nỡ hủy hoại anh hùng, đây là phúc lớn của triều đình, cho nên khắp nơi gặp hiểm nguy mà vẫn thoát chết.
Hai người đang nói chuyện vui vẻ, thì tiểu đồng vào báo:
- Phu nhân đã tới.
Chỉ thấy một đám con gái, đi theo một vị phu nhân ăn mặc lộng lẫy. Công tử định đứng dậy tránh ra, thì phu nhân đã quỳ xuống nói:
- Xin mời ân nhân ngồi lên để thiếp bái tạ.
Quân tử không kịp tránh, đành quỳ xuống. Quan Hàn lâm hai tay đỡ dậy. Công tử phủ phục xuống đất không dám dậy, chờ phu nhân bái xong quay vào trong mới đứng dậy hỏi, quan Hàn lâm nói:
- Lẽ nào ngài không nhận ra? Người ấy là Lục thị, từng lâm nạn ở am ni cô đấy. Nhờ ngài cứu vớt, rồi lại cứu cha bà ra khỏi nhà tù, cả nhà đã mang ơn công tử. Thời tôi chưa đỗ, lưu lạc tới Ninh Lăng, vì vợ trước qua đời, lấy bà làm vợ. Lúc nào bà cũng ca ngợi ân đức của ngài. Tôi kính phục nghĩa khí của ngài từ lâu. Nay nghe thấy ngài mắc tội bị giam trong ngục, bà nhà tôi ăn không ngon, ngủ không yên. Tôi thuộc loại thư sinh mới đỗ tiến sĩ. Những việc lớn trong triều không dám nói, đành phải khẩn thiết nhờ thầy đứng ra dâng tấu sớ. Rất may được ơn vua tha tội. Điều ấy hoàn toàn do đức độ của ngài vậy. Hôm nay bà nhà tới bái tạ như thế mới phải. Nếu trước đây ngài không trọng nghĩa, thì sao được báo đền như ngày nay, vậy ngài phải tạ ơn chính mình.
Nói xong Kim Hàn lâm vỗ tay cười ha hả. Lúc ấy công tử mới rõ, rồi nói :
- Kì lạ, kì lạ thật.
Quan Hàn lâm nói với công tử rằng:
- Tôi và ngài tuy mới gặp nhau lần đầu, song về tinh thần thì đã biết nhau từ lâu rồi, xin nguyện kết nghĩa anh em, không biết ngài có cho phép không?
- Đã nhận thì bao giờ bỏ nhau, - công tử nói, - đâu dám không vâng lệnh.
Thế rồi họ bày hương án, hướng lên trời cao vái lạy. Nói về tuổi tác Kim Hàn lâm hơn công tử ba tuổi làm anh, công tử làm em. Phu nhân bên trong nghe thấy rất vui. Công tử nói:
- Đã là anh em thì phải coi nhau như ruột thịt, xin mời chị ra bái kiến.
Hàn lâm mời phu nhân ra phòng ngoài, rồi cùng với vợ chào em kết nghĩa. Công tử tạ ơn cứu mạng. Kim Hàn lâm nói:
- Hai bên làm ơn, thì cứ nói thẳng ra.
Cả ba người cùng cười, rồi lại tới thư phòng. Hai người vui vẻ uống rượu cho mãi tới tàn canh mới chia tay.
Sau đó mấy hôm, Bộ Binh gửi trát xuống, lệnh công tử tới Quý Châu làm việc, công tử không dám nấn ná. Vợ chồng quan hàn lâm đến hậu tạ, bàn tiệc tiễn chân, gạt nước mắt chia tay. Công tử tới Quý Châu, gắng sức mấy năm, nhận chiếu chỉ phục hồi chức cũ. Mãi hơn ba mươi tuổi mới lấy vợ, quả như đã nói trước đây. Về sau tiêu diệt hết quân Miêu, nhiều lần lập công, được thăng tới chức Đô đốc, áo gấm về quê. Công tử sinh được hai con trai, đến thời Sùng Trinh họ đều đỗ tiến sĩ.

Những người đọc truyện này, nếu không phải là người hào kiệt trời sinh như công tử, thì cũng học làm những việc vì nghĩa mà cứu giúp người, thì sau này nhất định sẽ được đền đáp.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Wed Apr 02, 2014 11:53 am

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 4
Dẹp Bọn Côn Đồ Tạm Thời Gặp Biến 
Khiến Huyện Quan Phẫn Uất Quyết Rửa Oan
Thời cuộc đổi thay như bàn cờ, trắng đen khó biết, thắng bại khôn lường. Danh thủ thắng người một nước. Lòng trinh giữ tiết gặp quỷ ma. Đạo trời lồng lộng, công luận vô tư, danh thơm lưu truyền muôn thuở.
Hữu Điệu "Thái Tang tử”
Xưa nay, con gái không gì quan trọng bằng "tiết liệt". Tiết có nghĩa là giữ mình trong sạch, vượt mọi gian khổ suốt đời không thay đổi chí mình. Liệt tức là ý muốn cháy bỏng, nếu chồng chết thì hi sinh cả bản thân, nếu gặp bọn cường bạo bức bách, không chịu ô nhục, dám quyên thân để bảo vệ. Cần biết rằng việc quyên sinh là điều bất hạnh của người con gái. Song khi sống, ngọc nát châu chìm, nhưng chết đi thì như trời quang mây tạnh, mặt trời sáng tỏ, người thân hết lời ca ngợi, nhà nước ra sức nêu gương, không uổng chí quyên sinh. Xưa nay chưa có ai, vì phải trái đảo lộn đến nỗi sau khi chết phải ngậm oan. May mà nhân tâm trong sáng, công luận rõ ràng. Bởi thế bọn gian phu dâm phụ, bọn côn đồ độc ác đều bị tiêu diệt. Không đến nỗi trong đục bất phân, vàng thau lẫn lộn. Hãy nhìn trời cao lồng lộng, đạo trời thật không sai.
 
Thời Gia Tĩnh triều Minh, ở trấn An Đình, huyện Gia Định, phủ Tô Châu, có liệt nữ Trương thị. Cha là Trương Diệu, mẹ là Kim thị. Từ nhỏ Trương thị nết na dịu dàng, cử chỉ đoan trang, nói cười phải lẽ. Năm mười sáu tuổi cha mẹ muốn gả chồng. Vừa may có người họ Vương quê ở Gia Hưng tới sống tại Yên Đình, người ta đều gọi là Uông Khách. Vợ ông ta là người dâm đãng, tên là Mỗ thị, chỉ đẻ được một người con trai. Khi chưa lấy Uông Khách, Mỗ thị đã là người lăng nhăng, đến khi lấy chồng thì vẫn tựa cửa bán hoa, thường ngày chơi thân với một đám bạn mới. Tuy đã trung tuổi, con cũng đã mười mấy tuổi, song vẫn chứng nào tật ấy. Uông Khách là gã nát rượu chỉ mấy chén quốc lủi là gã quên hết sự đời. Bọn trai tơ đi lại lăng nhăng mà Uông Khách vẫn điềm nhiên như không. Vợ ông ta được đà lại càng ngang ngược khác thường. Mọi việc trong nhà Uông Khách chẳng có quyền gì.
Khi tìm vợ cho con trai, Uông Khách bàn với vợ. Vợ nói:
- Nghe người ta nói con gái Trương Diệu rất xinh đẹp, thật hợp ý tôi.
Vợ nói thế, Uông Khách đồng ý, rồi nhờ mối tới hỏi. Người xưa nói: "Mối lái nói như rồng như phượng". Bà ta đến nhà Trương Diệu, tô vẽ nhà họ Uông như hoa như gấm. Nào là chàng rể thông minh, nào là mẹ chồng hiền thục. Nếu như ngày ấy Trương Diệu tìm hiểu kĩ một chút thì không đến nỗi con gái mình phải rơi vào địa ngục trần gian. Nào ngờ, ông vốn tính thẳng thắn, tin người. Bà mối vừa nói ông đã bằng lòng gả con gái cho con Uông Khách.
Hai năm sau, trai to gái lớn, nhà họ Uông chọn ngày tốt cưới về, cũng chăng đèn kết hoa, cũng kèn sáo vang lừng. Thời ấy bọn giúp việc cho nhà họ Uông đều là loại chó má, rất thân thiết với vợ Uông, Uông Khách vẫn cứ buông lơi. Trương thị về nhà chồng, bái lạy cha mẹ chổng, mẹ chồng lại lệnh phải bái lạy khách khứa. Tục ngữ nói rất đúng: "Người vừa đến không biết chuồng xí ở đâu”. Lạy hết lượt chẳng biết những người này thân thích với chồng mình thế nào. Cưới được mấy ngày, thì thấy những người này luôn ở trong phòng mẹ chồng, ra vào chẳng hề e dè kiêng kị. Cứ tối đến là tụ tập, chong đèn uống rượu, cùng với mẹ chồng cười cợt đùa bỡn, hoàn toàn chẳng biết sợ là gì. Bên kia, bố chồng ngày đêm say sưa. Chồng thì cũng mặc kệ không tiếp đãi. Một đêm cô nói riêng với chồng rằng:
- Bọn người này quan hệ với nhà anh thế nào?
- Họ đều là bạn tốt của cha tôi, - chồng nói, - họ quan hệ với gia đình đã từ lâu rồi.
- Đã là bạn tốt của cha anh, - Trương thị nói, - cớ sao lại cứ tụ tập suốt đêm, uống rượu trong phòng mẹ, làm những việc vô liêm sỉ, há không sợ người ta chê cười sao!?
- Mẹ muốn thế, - chồng cô nói, - thì cứ mặc mẹ, cô cũng đừng để ý làm gì.
Trương thị thấy chồng thản nhiên nói như thế, cũng không dám nói nữa. Cô cảm thấy vô cùng xấu hổ.
Trong bọn xấu đó có một đứa tên là Hồ Nham. Cha hắn là Hồ Đường, là người không chịu yên phận, thường hay ra vào cửa quan, thân quen với quan lại. Hồ Nham cậy thế cha, mặc sức ngông cuồng, khinh rẻ, áp bức người lương thiện. Ở trấn An Đình này không chỗ nào là hắn không tới. Song hắn lại là người mà vợ Uông thích nhất. Còn nhũng đứa xấu xa khác như Chu Luân, Chu Mân, đều theo hắn sai bảo. Tuy tất cả đều thông dâm với vợ Uông, nhưng chúng vẫn dành phần cho Hồ Nham.
Một hôm, Hồ Nham nói với vợ Uông:
- Con dâu nhà bà rất xinh đẹp, nhưng từ khi về nhà này nó chưa từng nói với chúng ta một câu nào, hình như nó trách bà. Thôi thì cứ kéo tuột nó xuống vũng bùn cho hòa cả làng, sau đó có thể mặc sức vui thú. Ý bà thế nào?
- Được voi còn đòi tiên. - Vợ Uông nói.
- Nếu không thế thì hành động của bà nhất định bị nó khinh bỉ. - Hồ Nham nói. - Chúng ta ở đây bị nó nhòm ngó, chẳng khoái chút nào.
- Việc này ta rất khó nói, - vợ Uông nói, - anh đi mà dụ dỗ nó vào tròng.
Từ đó mỗi khi gặp Trương thị, Hồ Nham thường cười cợt, nói với cô những điều chớt nhả, tục tĩu dâm đãng. Trương thị đều bỏ ngoài tai, giận dữ bỏ đi.
Một hôm Hồ Nham ngủ với mẹ chồng, rồi hắn nói:
- Con dâu mới của bà sợ bà chửi, cho nên không chịu thân thiết với ta. Thôi thì cứ gọi nó tới để nó nhìn tận mắt chúng ta đang ngủ xem nó thế nào.
Dâm phụ lập tức lên tiếng gọi con dâu vào. Trương thị tuy biết mẹ chồng không đoan chính, song cô hết sức vâng lời. Nghe thấy tiếng gọi, ngỡ rằng không có người trong phòng, cô liền vào ngay. Chỉ thấy mẹ chồng đang nằm trên giường gọi, mở màn ra cô nhìn tận mắt thấy người đàn ông và một người đàn bà đang hành dâm. Trương thị quay ngoắt về phòng mình, đấm ngực dậm chân khóc tức tưởi bỏ về nhà mẹ đẻ. Người chồng dẫn cô về. Thấy bố mẹ, cô gào lên khóc, nói:
- Con thà chết ở nhà, chứ không đến nhà ấy nữa.
Lúc đầu cha mẹ hỏi tại sao, cô không nói. Sau mẹ cô tỉ tê hỏi, lúc đó cô mới nói hết những hành vi xấu xa của mẹ chồng, và muốn nhảy xuống sông chết cho rảnh. Cô nói:
- Con không muốn tấm thân trong sạch của con bị ô nhục như thế, cho nên thà chết con cũng không về.
Kim thị thấy thế cứ than khóc mãi, song hối không kịp nữa. Ở nhà mẹ đẻ mấy tháng, chồng cô nhiều lần đến đón về, song cô khăng khăng không chịu.
Nào ngờ Hồ Nham mưu gian chưa đạt, tà dâm vẫn còn. Hắn nói với vợ Uông rằng:
- Dâu mới về nhà mẹ đẻ đã lâu sao không đón nó về? Cứ để nó ở ngoài phỉ báng bà, thử hỏi bà còn mặt mũi nào nữa. Hãy đón nó về, giữ chặt nó trong tay mình thì nó chạy đằng trời.
- Nó không chịu về, thì làm sao bây giờ - Vợ Uông nói.
- Bảo con trai bà ngọt ngào dỗ nó, - Hồ Nham nói, - thì nó về ngay.
Quả nhiên vợ Uông theo lời, bảo con trai dùng lời ngon ngọt để dụ dỗ vợ về.
Người chồng đến nhà bố vợ, nói với Trương thị rằng:
- Từ khi cô về nhà mẹ đẻ tới nay, mẹ tôi đã hối cải rồi. Bây giờ thì bà sống trong sạch, không như trước nữa. Cho nên tôi tới đón cô về.
Trương thị nửa tin nửa ngờ, cha cô nói:
- Mẹ chồng có thể đoạn tuyệt, nhưng vợ chồng không thể bỏ nhau. Người xưa nói: "Trong thì vẫn trong, đục thì cứ đục", "vàng ròng không sợ lửa", sợ gì bà ta. Hơn nữa bà ấy đã nghĩ lại rồi thôi con về đi, đừng cố chấp như thế nữa.
Không còn cách nào khác, Trương thị đành chào cha mẹ về nhà chồng. Về đến nhà, thấy mẹ chồng vẫn y như cũ. Bọn côn đồ xấu xa vẫn dâm loạn ngay tại nhà. Vợ Uông giở trò độc ác suốt ngày gây gổ với con dâu, không chửi thì đánh. Trương thị cứ khóc lóc với chồng, khuyên chồng trừ khử bọn côn đồ. Lại nhân lúc Uông Khách tỉnh táo, thẳng thắn khuyên giải bố chồng:
- Cha nên ít uống rượu, chủ động trông nom cửa nhà.
Bố chồng là kẻ bù nhìn, hoàn toàn không để ý tới lời con dâu, mà còn đem chuyện đó nói với vợ. Vợ Uông tức giận, càng đánh chửi thậm tệ. Trương thị vẫn cứ phải lầm lũi nghe theo, và chỉ biết giữ gìn mình, không cho bọn Hồ Nham xúc phạm, để sống cho qua ngày đoạn tháng.
Một hôm, vào buổi tối, bọn côn đồ tụ tập trong nhà uống rượu Trương thị từ bếp lên, đi qua mặt Hồ Nham, đột nhiên hắn rút lấy chiếc trâm ngọc trên đầu. Trương thị dừng lại, vừa khóc vừa chửi. Hồ Nham nói:
- Nếu xin ta trả lại nguyên vẹn, thì nàng phải thế nào với ta đây?
Nói xong hắn đưa trâm cho Trương thị. Trương thị không cầm, hắn ném xuống đất, chiếc trâm gãy đôi. Vợ Uông nói:
- Ta đền thay cho anh Hồ.
Rồi rút chiếc thoa ngọc trên đầu đưa cho con dâu. Trương thị ném xuống đất, trâm gẫy đôi, rồi bực bội bỏ đi. Hồ Nham nói:
- Khó mà động vào được người Trương thị. Ta phải làm thế nào đây? Bà không sợ mất uy mẹ chồng ư?
Bọn người ấy xúm vào nói với vợ Uông rằng:
- Quả là bà không muốn vun vào cho Hồ Nham, mới đến nỗi như thế.
- Đừng nóng vội, - vợ Uông nói, - khi nào Hồ Nham muốn thì sẽ gặp vận may.
Thế rồi bọn ấy lại tiếp tục ăn no uống say mới về.
Trong nhà có một thằng ở tên là Vương Tú, cũng là người tình của vợ Uông. Một hôm mẹ thông đưa chiếc khăn tay cho con dâu thêu để tặng Vương Tú. Trương thị giận dữ nói:
- Nó chỉ là đứa ở mà thôi! Ta không quen thêu hoa cho bọn con ở!
Nói xong Trương thị ném chiếc khăn tay xuống đất không Thêu. Vợ Uông vừa phẫn uất vừa xấu hổ, chửi ầm lên, rồi thầm nghĩ: "Mày đừng cuống lên như thế, trời có sập thì mày mới thoát khỏi tay tao".
Lúc ấy đang là mùa hè, mỗi khi vợ Uông tắm, đều bắt con dâu lấy nước. Một hôm vừa mới tắm đã nghe thấy mẹ chồng gọi lấy nước thêm. Trương thị mang nước vào, thấy Hồ Nham cùng nằm trong bồn với mẹ chồng. Cô kinh hoàng chạy ra khỏi phòng khóc nức nở. Tắm xong vợ Uông nói với Hồ Nham rằng:
- Đêm nay anh hãy ngủ với đứa con dâu của ta.
Trước hết Hồ Nham cùng với vợ Uông bàn mưu, sai con trai tới huyện học quan coi ngục, để cho con dâu ngủ một mình, nhân lúc đêm tối lẻn vào là xong việc. Vì chồng đi vắng nên Trương thị luôn luôn phòng bị. Cô gối vào đầu giường một thiếc gậy ngắn để phòng thân. Đêm ấy, theo lời vợ Uông, Hồ Nham rón rén đến cửa buồng Trương thị, cửa cài chặt hắn bèn tháo cánh cửa sổ chui vào. Thấy có người vào buồng, Trương thị bèn đập giường kêu lên có kẻ giết người. Hồ Nham ôm chầm lấy cô. Trong đêm tối Trương thị cầm gậy quật túi bụi vào đầu vào mặt Hồ Nham. Hắn giơ tay ra đỡ, gậy vụt trúng tay, hắn tức tối chạy ra. Trương thị tuy không bị nhục, song càng nghĩ càng tức khóc suốt đêm. Đến hôm sau chẳng ăn uống gì, định bỏ về. Song cô không sao cất bước nổi, hơn nữa cửa buồng bị vợ Uông khóa chặt, không có lối thoát thân, trương thị chỉ biết ngồi kêu gào, muốn chết đi cho xong.
Đêm ấy, Hồ Nham tụ tập tất cả bọn côn đồ trong phòng, uống rượu, rồi bàn mưu tính kế. Hồ Nham nói:
- Nhẹ không ưa lại muốn ưa nặng. Lần này đành phải ra tay thôi.
- Tùy anh! Tùy anh! - Vợ Uông nói.
Uống rượu tới canh hai, rồi đứa nào đứa ấy cầm khí giới xông đến buồng Trương thị. Hồ Nham dứ dao vào mặt Trương thị nói:
- Đêm nay, theo ông thì sống! Không theo, thì ông sẽ xả thịt mày tan nát thành từng mảnh vụn.
Trương thị liều chết, gào lên chửi. Bọn chúng nói:
- Đến nước này mà mày còn bướng hả?
Hồ Nham tức khí quát:
- Đánh chết nó đi!
Thế là gậy gộc, rìu búa bổ xuống tới tấp. Trương thị mình đầy thương tích. Cô vẫn còn quằn quại chưa chết, gào lên nói:
- Sao chúng bay không đâm cho ta chết ngay đi!
- Mày muốn chết ngay thì ông cho mày chết. - Hồ Nham nói.
Rồi hắn đâm vào cổ, thuỗn qua vai, lại đâm luôn vào âm hộ. Cô chết hẳn.
Vợ Uông nói:
- Nó đã chết, giờ phải làm thế nào?
- Sợ quái gì! - Hồ Nham nói. - Chỉ cần mấy lạng bạc đút lót cho quan lại là xong hết.
Rồi hắn hò bọn đàn em khiêng xác chết đi chôn cho mất tích. Nào ngờ xác chết cứ như đóng đinh xuống đất, càng khiêng càng không nhấc nổi. Bọn chúng nói:
- Khiêng không nổi thì làm thế nào?
- Tiếc gì mấy gian nhà, hãy phóng hỏa đốt luôn chiếc xác này đi, thì còn đâu tang vật nữa?
Bọn chúng xúm vào châm lửa. Ai ngờ gió nổi lên thổi tạt lửa đi nơi khác. Xác cô gái vẫn còn nguyên tại chỗ, lửa không sao bén được. "Chẳng ai biết có quỷ thần hay không", đó là ý trời bắt chúng phải bại lộ. Thấy nhà Uông bốc lửa, những người láng giềng xông đến cứu. Lửa cháy ở nhà phía sau, họ bèn chạy ùa ra lối sau. Ngọn lửa dần dần bị dập tắt. Họ quay lại phía trước, thì thấy một xác chết nằm trên vũng máu tươi lênh láng. Mọi người kêu lên:
- Đúng là chúng giết người, rồi đốt nhà. Đã giết người ta còn muốn thiêu xác cho phi tang. Bọn chúng thật là vô lương tâm!
Lúc ấy bọn hung thủ đều trốn vào phòng vợ Uông. Mọi người la hét ầm ĩ, báo cho địa phương và báo cho nhà họ Trương biết. Vợ chồng Trương Diệu biết tin, lập tức chạy đến nhà Uông. Quả nhiên thấy xác con mình nằm trên vũng máu, họ đều gào lên khóc lóc. Lúc ấy vợ chồng họ Uông đều đã chạy trốn. Vợ chồng Trương Diệu chỉ biết khóc lóc báo lên quan để minh oan cho con, và nhờ những người láng giềng làm chứng, rồi lập tức viết cáo trạng.
Bọn côn đồ trốn trong phòng vợ Uông, thấy thân nhân người chết đã đi chúng mới thập thà thập thò, rồi chạy ra mồm năm miệng mười, bàn với nhau. Vợ Uông nói với chúng rằng:
- Trương Diệu nhất định sẽ kiện, giờ phải nghĩ ra kế gì để đối phó .
- Sợ gì, - Hồ Nham nói, - chỉ cần một mình bà nhận là được. Mẹ chồng đánh chết con dâu, có tội gì nặng đâu. Còn có một kế nữa là, cứ bảo rằng con dâu gian dâm với Vương Tú, tôi quở trách nó, song nó lại chửi lại, tôi lỡ tay đánh chết. Còn thằng Vương Tú cũng phải bảo cho nó biết trước, rồi hứa cho nó ít bạc, sau này sẽ chuộc tội cho nó, thì nhất định nó sẽ nhận. - Sau đó hắn lại nói với Uông Khách. - Ngày mai ông lên huyện tự thú trước đi.
- Ta chưa gặp quan bao giờ, - Uông Khách nói, - anh hãy lên huyện thay ta.
- Việc riêng trong nhà thì làm thay được, - bọn chúng nói, còn việc kiện tụng thì làm thay sao được.
- Đồ ngu! - Vợ Uông bảo chồng. - Hãy bảo vệ ta thì ta sẽ lo mọi việc cho, ngày ngày lại có cơm ăn rượu uống, như thế chẳng tốt lắm sao? Ngày mai lên huyện, mang sẵn đi mấy hũ rượu xuống thuyền mà nốc, có được không?
Nghe thấy có rượu uống, Uông Khách gật đầu lia lịa, nói:
- Chưa biết chừng ta chỉ phải đi một lần này thôi.
- Lần kiện này, - Hồ Nham ghé vào tai vợ Uông khẽ nói, không thể tiếc tiền được đâu.
- Tiền của tôi, - vợ Uông nói, - lâu nay gửi tạm anh, nếu không đủ dùng thì dưới giường vẫn còn một ngàn lạng. Chỉ cần mọi việc ổn thỏa, lấy thêm mà dùng cũng được.
Hồ Nham về nhà nói với cha là Hồ Đường. Hồ Đường nói:
- Trước hết phải mua chuộc xong xuôi đã, ấy là "kế phủi tay". Còn một kế nữa phải hối lộ trước ấy là kế "đi trước nước cờ" Con có biết ông ngoại của đứa con gái ấy là ai không? Đó là Kim Bính ở thị trấn. Bố ông ta là Kim Gia, từng đỗ tiến sĩ, làm Tri châu Bồi Châu. Nay tuy đã chết, song vẫn là nhà quan lại. Trương Diệu là kẻ vô dụng, ngày mai đi kiện nhất định phải đến hỏi bố vợ. Theo ta, trước tiên phải đến mua chuộc Kim Bính, bảo ông ta rằng trong đơn kiện chỉ cáo giác bọn kia, mà không viết tên con vào đó, thế là con ung dung đứng ngoài cuộc.
- Hay, hay lắm! - Hồ Nham nói. - Thế thì phải làm ngay không nên chậm trễ, cha đi ngay đi là hay nhất.
Đêm ấy Hồ Đường lập tức đến ngay nhà Kim Bính, đưa một trăm lạng bạc, xin ông ta đừng viết tên con mình vào đơn. Kim Bính thấy bạc tối mắt lại, ưng ngay.
Trương Diệu khóc hồi lâu, nghĩ rằng phải đi kiện, nhưng mù tịt chẳng biết gì, quả nhiên đến nhà bố vợ bàn mưu tính kế. Kim Bính té nước theo mưa, an ủi qua loa vài câu, bảo không phải con cà con kê nữa, không cần phải chỉ rõ tên Hồ Nham. Trương Diệu nói: - Hồ Nham là tên đầu sỏ, sao lại không kiện nó?
- Kiện cáo thì cũng phải vuốt mặt nể mũi chứ. - Kim Bính nói. - Cha Hồ Nham là người quen biết nha môn, không phải dễ chơi đâu. Tôi nghe nói khi đánh thì nó vào phòng khuyên can, đứng về tình cũng đáng tha thứ. Vả lại kiện bọn kia thì nhất định chúng phải khai ra nó, con không cần phải kết tội cho một người có thế lực.
Đúng là tiền đã làm cho lưỡi ông ta lắt léo. Ông ta đâu có nghĩ tới sinh mạng của đứa cháu ngoan. Xưa nay Trương Diệu là kẻ ngu đần, quả nhiên nghe theo bố vợ, trong đơn kiện bỏ ngay tên Hồ Nham đi. Theo lời Hồ Nham, Uông Khách cũng đưa đơn lên huyện nói là, vì con dâu bất chính, bị mẹ chồng đánh chết. Quan huyện nhận hai lá đơn, một mặt lệnh bắt người, một mặt sai người xét nghiệm tử thi.
Cũng cần hiểu rằng, theo luật lệ về nhân mạng triều trước, thì tử thi phải do quan Chính ấn khám nghiệm. Song nay thì khác hẳn, bởi thế quan Điển sử cũng có thể khám nghiệm tử thi. Hồ Nham biết rằng việc này giao cho quan Điển sử càng dễ hối lộ, do đó hắn đã sắp đặt sẵn những quan khám nghiệm. Vì trong đơn kiện không có tên hắn, nên hắn dương dương đắc ý nghênh ngang đi lại ngoài phố, ai ai trông thấy cũng căm phẫn, song sợ hắn giở trò ác độc, nên không ai dám nói. Điển sử đến nhà họ Uông, ngồi quay ra ngoài. Người cả trấn tới xem, đứng đông nghịt hai bên. Đến khi khám nghiệm thì thấy vết dao đâm dưới hầu có thể để lọt hai ngón tay, hai mạng sườn và âm hộ đều có vết dao đâm, ai trông thấy cũng thương tâm. Những kẻ khám nghiệm nhận hối lộ chỉ báo có mấy vết thương do gậy đánh, còn tất cả những vết dao đâm đều lờ đi. Thấy vậy tất cả những người ở đó gào lên:
- Người khám nghiệm tử thi ăn tiền hối lộ! Tại sao những chỗ trọng thương lại che giấu không báo.
Họ định xông vào đánh những kẻ khám nghiệm. Điển sử cũng nhận hối lộ, thấy dân công phẫn giả vờ phạt những kẻ khám nghiệm mấy tay thước để dẹp yên sự bất bình của dân chúng. Sau đó cho người khâm liệm thi thể, rồi trở về vẫn để nguyên tờ trình đó đệ lên quan huyện. Đúng là:
Chỉ cần tay họ cầm bạc trắng

Trên đầu nào có sơ trời xanh.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Wed Apr 02, 2014 12:16 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 4 (B)
Qua một đêm, quan huyện lập tức bắt hết những người liên quan tới xét hỏi. Việc ấy đã làm náo động cả huyện. Nghe thấy chuyện kì lạ đó, ai ai cũng thương xót Trương thị, và nghiến răng căm giận con dâm phụ. Họ đến đông nghịt cả huyện đường, để xem quan huyện xét xử thế nào. Bọn sai nha cũng nhận hối lộ của Hồ Nham, nên cứ nói lấp la lấp lửng che giấu cho hung thủ. Những người liên quan trong vụ án, có người đứng về phía họ Trương, cũng có người đứng về phía họ Uông, nên họ nói khác nhau. Khi bọn phạm nhân quỳ trước tòa, trước hết tri huyện hỏi Trương Diệu:
- Con gái đã chết bao nhiêu tuổi?
- Dạ bẩm quan, mười chín tuổi, mới về nhà chồng năm ngoái. - Trương Diệu nói:
- Ngươi kiện Chu Luân, Chu Mâu vào phòng đánh chết con gái có đúng không? - Quan huyện hỏi tiếp.
- Vì vợ Uông gian dâm với bọn này, - Trương Diệu nói, - nên chúng muốn gian dâm với con gái con, song nó không chịu, rồi bị chúng đánh chết. Hiện con sen trông thấy tận mắt.
Quan huyện lại gọi tới cha con lão Uông. Con trai Uông nói thoái thác rằng:
- Lúc ấy con không ở nhà, xin quan cứ hỏi bố mẹ con.
Uông Khách say xỉn, quan huyện hỏi không trả lời, khấu đầu như đang ngủ gật. Quan huyện cáu tiết. Thư lại bẩm rằng:
- Tên này say khướt chẳng còn biết gì nữa.
Quan huyện bèn gọi vợ Uông. Vợ Uông quỳ xuống nói: - Từ khi con dâu về con vẫn đối xử tốt với nó, chỉ vì gần đây nó gian dâm với Vương Tú, con trách cứ, nhưng nó không nghe, con lỡ tay đánh chết, đó là sự thực. Trương Diệu cáo giác hoàn toàn là bịa đặt. Xin ngài đừng nghe lão.
Quan huyện bèn gọi Vương Tú hỏi:
- Ngươi có gian dâm với Trương thị không?
- Có ạ! - Vương Tú nói.
- Vì gian dâm mà Trương thị phải chết, - quan huyện quát, phải khép mày vào trọng tội.
- Con nguyện xin chịu tội. - Vương Tú đáp.
Những người xem đứng hai bên, thấy hai người nhận tội, họ đều kêu Trương thị bị chết oan khuất.
Thấy Vương Tú nhận tội ngay, quan huyện cũng hơi nghi. Bởi vậy ông gọi láng giềng hỏi:
- Hằng ngày Trương thị có trong trắng không?
Chức trách địa phương thoái thác rằng:
- Vì ở xa, chúng con không biết được.
Hai người láng giềng nói:
- Trương thị là người con gái tốt ở trấn An Đình. Hằng ngày giữ mình trong sạch, làm trọn đạo đàn bà. Còn những lời nói vô lương tâm kia, chúng con không dám nói.
Vợ Uông bèn hỏi ngay:
- Các ngươi là người ngoài biết sao được việc nhà ta!
Tai vách mạch rừng, - hai người láng giềng nói, - người tốt vẫn là người tốt, kẻ xấu vẫn là kẻ xấu. Chỉ giấu ông lớn, chứ giấu sao nổi mọi người.
- Không phải lắm lời! - Quan huyện quát. - Ta hỏi ngươi, Trương thị bị đánh chết như thế nào?
- Việc này chúng con không trông thấy. - Hai người hàng xóm nói. - Đêm ấy, vào lúc canh hai, thấy cháy nhà chúng con đến cứu, khi lửa bị dập tắt, chúng con chỉ thấy con dâu nhà ấy bị đánh chết, nằm dưới đất, mình đầy máu me. Vì sao bị đánh chết, xin ông lớn cứ hỏi đứa ở thì biết, chính nó tận mắt nhìn thấy.
Quan huyện bèn hỏi đứa ở. Đứa bé ấy mới chỉ mười một mười hai tuổi, đến trước mặt quan, nó như bị oan hồn Trương thị nhập vào, thông thốc nói hết những hành vi của vợ Uông. Không ai bịt mồm nó được. Quan huyện nói:
- Đây là việc của chủ mày, không phải khai. Ta chỉ hỏi, Trương thị bị đánh như thế nào?
- Đêm hôm trước, vào đầu canh một, - đứa ở nói, - Hồ Nham chui qua cửa sổ vào phòng Trương thị, bị Trương thị dùng gậy ngắn đánh. Hồ Nham lại về ngủ trong phòng bà chủ. Cô chủ khóc suốt đêm, sáng hôm sau không ăn uống gì. Đến tối, họ tụ tập tại phòng bà chủ ăn uống. Vào canh hai, họ cầm khí giới vào phòng cô chủ, bức cô phải ngủ với chúng. Cô không chịu, bọn chúng dùng khí giới đánh cô rất đau, thấy cô chưa chết, chúng đâm liền mấy nhát, rồi cô tắt thở.
Nghe xong quan huyện đùng đùng nổi giận, bèn hỏi Trương Diệu rằng:
- Tên Hồ Nham là đầu sỏ, sao ngươi không tố cáo?
- Con sợ cha hắn là kẻ độc ác, thường đi lại chốn nha môn, cho nên con không dám kiện.
- Nói láo!
Thế rồi ông ra lệnh bắt Hồ Nham.
Lúc ấy Hồ Nham cũng đang ở đó xem thẩm vấn, bị sai nha lôi vào, bẩm rằng:
- Đã bắt Hồ Nham tới.
Quan huyện hỏi cung, hắn cứ quanh co không thừa nhận. Quan bèn bắt bọn hung đồ quỳ xuống, rồi hỏi đứa ở ngay trước mặt bọn chúng. Đứa ở chỉ từng tên nói:
- Tên này dùng chùy đánh cô chủ; tên này dùng búa bổ cô chủ; tên này cũng dùng chùy đánh cô chủ, cô chủ kêu cứu.
- Rồi lại chỉ vào Hồ Nham nói. - Tên này đâm vào cô liền mấy nhát.
Hồ Nham vẫn còn chối quanh. Đứa ở nói:
- Ngươi đâm vào cổ cô, lại đâm vào ngực cô, rồi lại đâm vào âm hộ cô hai nhát, có đúng không? Sau đó bà chủ và người gọi bọn chúng khiêng xác cô đi, nhưng khiêng không được, rồi mới châm lửa đốt nhà. Tất cả có đúng thế không?
Đứa ở vạch rõ từng tên như thế, khiến bọn chúng sợ xanh mắt, cứng họng không nói được gì. Quan huyện lại hỏi:
- Lúc đó bà chủ có ở đó không?
- Bà chủ không ở đó mà đứng ngoài nghe. - Đứa ở nói.
- Lúc ấy mày ở đâu? - Quan huyện hỏi.
- Con không dám ra, - đứa ở nói, - con nấp ở sau cánh cửa nên đã nhìn thấy hết.
Thấy đứa ở khai đúng sự thực, quan huyện nhìn bọn chúng nhếch mếch cười, nói:
- Bọn chúng mày còn chối cãi nữa đi, sắp chết đến nơi rồi! Bản huyện hôm nay chưa dùng hình phạt.
Sau đó quan huyện lệnh giam tất cả lại, chờ ông đích thân khám nghiệm rồi sau mới định tội. Cha con Uông Khách được người bảo lãnh. Đứa ở dẫn Trương Diệu đi. Lúc ấy, người xem vỗ tay reo hò, nói rằng:
- Đúng là trời có mắt, thần xui quỷ khiến, nhập vào mồm đứa bé khai ra, Trương thị nhất định được minh oan!
Thấy con bị tống ngục, tính mệnh khó bảo toàn, Hồ Đường vội vã tìm người đút lót, lên huyện nói giúp. Thời ấy ở Gia Định có Trương Phó sứ, bị bãi chức, nghỉ tại quê, Khâu Bình sự có đại tang cũng ở nhà. Hai người này tham lợi, không kể gì đến liêm sỉ, họ câu kết với nhau làm những việc xấu trong huyện, hằng ngày vẫn đi lại thân quen với Hồ Đường. Ngay hôm ấy, Hồ Đường mang tới nhà Trương Phó sứ năm trăm lạng bạc. Phó sứ mời vào thư phòng. Hồ Đường đặt bạc lên bàn rồi nói:
- Con tôi bị giam trong ngục, muốn nhờ tiên sinh lên nói giúp với quan huyện thả cháu ra. Xin biếu trước ngài năm trăm lạng, xong việc sẽ biếu thêm ngài năm trăm lạng nữa.
- Việc này không phải mình tôi làm được, mà tôi cũng phải bàn với lão Khâu cùng lo việc này.
Thế là ông ta sai người đi mời Khâu Bình sự. Một lát sau, Khâu Bình sự tới, Trương Phó sứ nói rõ chuyện này, hẹn nhau đi nói giúp, rồi cùng nhau chia bạc. Khâu Bình sự gật gật đầu nói với Hồ Đường rằng:
- Chúng tôi xin đảm bảo con ông vô sự, nhưng ông phải giữ lời hứa đấy.
- Đâu dám, đâu dám thế!
Hồ Đường nói xong, cảm ơn ra về.
Hôm sau, Trương và Khâu lên huyện, đưa danh thiếp. Quan huyện lập tức mời vào. Chủ khách ngồi vào bàn, nói mấy câu thăm hỏi xã giao. Khâu Bình sự nói:
- Gần đây nghe thấy ở Yên Đình có án mạng, không biết ngài đã xử thế nào?
- Vẫn chưa định tội. - Quan huyện nói. - Đang tìm cách xử vụ án này.
Trương Phó sứ chỉ vào Khâu Bình sự nói:
- Ông là quan tư pháp nổi tiếng, sao không bàn với ngài?
- Xin được ngài dạy bảo. - Quan huyện nói.
- Không biết tình tiết thế nào? - Khâu Bình sự nói.
Quan huyện thuật lại khẩu cung đương sự đã khai.
- Đúng thì đúng rồi, - Khâu Bình sự nói, - nhưng có điều, những người làm quan hình sự chúng ta cũng phải thể tất chút đức hiếu sinh của trời, vì một người con gái mà giết bốn năm mạng người, về tình lí có lẽ hà khắc quá. Hơn nữa tên Hồ Nham trong nguyên đơn không có, căn cứ vào lời khai của con sen nhỏ tuổi, nếu xử nặng tội, tâu trình lên quan trên, e rằng quan trên bác bỏ, như thế sẽ mất uy tín. Xin ngài hãy đắn đo. Theo thiển ý của tôi, thì một người chết cũng chỉ nên một người đền mạng. Đã có thằng Vương Tú đền tội, thì người chết cũng toại nguyện rồi. Không biết ý ngài thế nào?
Quan huyện mới ra làm quan, thấy Khâu Bình sự dỗ ngon dỗ ngọt như thế, bèn nói:
- Xin nghe theo lời dạy bảo của ngài.
Hai người thấy đã ổn, bèn cáo từ ra về.
Quan huyện giải quyết theo cách nhẹ nhàng, ngay xét nghiệm cũng không làm nữa, và cũng chẳng xét xử gì thêm. Mấy hôm sau cho bọn gian ác được bảo lãnh ra khỏi nhà tù. Chỉ giam vợ Uông và Vương Tú. Toàn huyện nghe thấy thế đều kinh sợ. Về sau họ biết được hai gã Trương, Khâu đã đến nói với quan huyện, ai ai cũng chửi hắn hết sức thậm tệ. Họ cứ truyền nhau bàn tán, rồi sau đó đến tai một vị từng lừng lẫy tiếng tăm, tài kiêm văn võ.
Vị này tên là Quy Hữu Quang, tự là Chấn Xuyên, người Côn Sơn. Dạo ấy ông đến sống tại An Đình, nghe thấy đường thị chết thê thảm, ông cho rằng bọn hung đồ này có bị giết cũng không đền hết tội! Đến khi thấy quan huyện nghe theo Trương Phó sứ và Khâu Bình sự thả bọn hung đồ, rồi vu cho Trương thị gian dâm với Vương Tú, bèn đập bàn giận dữ nói:
- Việc đến thế này thì đâu còn là lẽ trời, đâu còn công lí.
Nhân đó viết một thiên "Bàn về người đàn bà trinh tiết" để nói với thân sĩ ấp Gia.
Những thân sĩ ấp Gia đọc bài văn ấy, ai ai cũng xúc động, phẫn uất. Họ nói rằng:
- Tiên sinh ở huyện khác, thấy thế còn bất bình, huống hồ chúng ta là người cùng ấp, lại ngồi đấy để cho trinh nữ chịu oan, bọn côn đồ lọt lưới, thì còn mặt mũi đâu mà nhìn người khác.
Có người nói:
- Phải làm cho hai gã Trương, Khâu chịu nhục nhã và xấu hổ.
Có người nói:
- Ta chấp gì với bọn người ấy? Ngày mai là ngày rằm, quan huyện nhất định đến Học Miếu dâng hương, chúng ta hẹn bạn bè cùng đến Minh Luân Đường nói với quan huyện mới được.
Quan huyện định xử vụ án này qua loa cho xong chuyện, yết thị trưa mai sẽ phúc thẩm. Đêm ấy ngủ, ông nằm mơ thấy thần Kim Giáp, hai tay máu chảy ròng ròng, cầm đao chỉ về phía trước nói:
- Kẻ sát nhân là Hồ Phong, Hồ Nham, nếu không nhanh chóng xử vụ án này, thì ta đâm vào tim ngươi.
Quan huyện kinh sợ giật mình tỉnh giấc. Sáng hôm sau dậy, hỏi người xung quanh rằng:
- Hồ Phong và Hồ Nham là thế nào?
- Hồ Nham có cha là Hồ Đường. - Người xung quanh trả lời.
Quan huyện ngẫm nghĩ: "Chữ Đường với chữ Phong âm gần giống nhau. Có lẽ trong mộng ta nghe nhầm." Đang lúc kinh hãi, ông đến Học Miếu, thì thấy những thân sĩ trong ấp ùn ùn kéo tới gặp ông, nói về việc ấy, đòi ông phải xác định đúng tội giết người của Hồ Nham, để minh oan cho Trương thị, rồi trình lên quan xem bài "Bàn về người đàn bà trinh tiết" của tiên sinh Chấn Xuyên. Quan huyện xưa nay vốn coi trọng nhân cách của Chấn Xuyên, thấy lời bàn rất xác đáng, chợt hiểu ra, rồi ông nói với thân sĩ rằng:
- Vụ án chưa xử xong, trở về huyện đường tôi sẽ lập tức xét xử ngay.
Thế rồi ông lên kiệu ra về.
Hôm ấy, bọn Hồ Nham đến cửa huyện nghe ngóng, chúng nói rằng vụ án xét xử xong chúng sẽ thoát tội, và bình yên vô sự. Ngay cả vợ Uông cũng sẽ được bảo lãnh ra tù. Trương và Khâu ngồi tại một nhà gần huyện chờ tin tức, vụ án kết thúc sẽ kiếm thêm năm trăm lạng bạc chia nhau. Chúng không ngờ lại xảy ra sự biến. Hôm ấy đến nha môn, quan huyện lệnh cùm bọn hung thủ lại, trói giật cánh khuỷu rồi dùng sơn quét lên mặt. Sau đó sai áp giải tới An Đình hầu tòa, cho mang lễ đi trước cúng oan hồn tiết phụ, mang theo những người khám nghiệm tử thi, và ông đích thân tới khám.
Trước đó thấy Gia Định đại hạn, ba tháng không mưa, khi quan huyện tới An Đình thì trời mưa như trút. Trương thị chết đã ba tháng, lại gặp trời nóng nực, ai cũng tưởng thi thể đã thối rữa. Song khi mở quan tài ra thì nhan sắc vẫn tươi nguyên như khi còn sống, không hề thấy mùi hôi thối. Thấy dưới cổ và trước ngực có hai vết dao đâm, máu tương đang rỉ. Người xem vô cùng kinh ngạc, ngay cả những người khám nghiệm cũng phải lè lưỡi lắc đầu. Khám xong, quan huyện hạ lệnh kẹp bọn tội phạm ngay tại chỗ, đứa nào cũng chết đi sống lại. Bọn chúng đau đớn không chịu nổi, đều phải khai ra hết. Vợ Uông cũng bị kẹp, đành phải khai hết sự thể. Khi hỏi đến Vương Tú, vì sao vu cáo Trương thị, hắn khai rằng đã gian dâm với vợ Uông, vợ Uông bắt hắn phải vu cho Trương thị. Quan huyện nổi giận, về công đường lại hạ lệnh đánh mỗi đứa bốn mươi gậy rồi khóa tay tống ngục. Uông Khách dung túng cho vợ dâm loạn, phạt bốn mươi gậy. Ba hôm sau vợ Uông chết trong ngục, quan huyện thấy thị dâm ác, lệnh phơi thây thị, không cho thân thuộc khâm liệm. Hằng ngày vợ hắn cho hắn uống rượu thả cửa, khi chết hắn rất thương, lấy chiếc khăn xanh che lên người thị đến đêm khiêng đến một chiếc quan tài gỗ, định khâm liệm, vừa đến bên xác chết, thì một tiếng sét ngang trời đột nhiên ập xuống, thấy hàng trăm ngàn tên quỷ hung ác đến đuổi. Hắn thất thểu bỏ chạy. Về sau xác thị bị diều tha quạ mổ.
Vì sao vợ Uông lại chết ngay tại ngục? Vì đời thị chưa từng chịu khổ, suy đi nghĩ lại thị thấy vì Hồ Nham mà mang vạ, lại thấy Hồ Nham giấu biến số tiền thị tạm gửi, rồi định kiện lên quan đòi lại, sợ bị rầy rà, Hồ Nham bèn hối lộ bọn coi ngục giết thị để bịt đầu mối. Điều ấy cũng là sự báo ứng cuộc đời dâm loạn của thị.
Hôm ấy hai gã Trương và Khâu đang ngồi trước cửa huyện, thấy sự việc đã đổi khác, tiu nghỉu bỏ về. Sau đó Hồ Đường lại tới bàn mưu lật lại bản án. Khâu Bình sự còn muốn kiếm chác ít tiền nữa, nên hắn nói:
- Ta lại sắp được bổ làm quan, nếu đến gặp Đại lý(1) thì có thể lật ngược vụ án này.
 
(1) Đại lý: cơ quan pháp luật trung ương (ND).
 
Song bỗng nhiên hắn mắc chứng bệnh ác tính, toàn thân lở loét thối rữa, chưa kịp bổ làm quan, thì đã về chầu trời! Trương Phó sứ sống tại quê, chẳng ai thèm để ý đến hắn, đi đến đâu cũng bị người ta phỉ nhổ, không dám ló mặt ra ngoài đến nỗi u uất rồi chết. Vừa trình vụ án về kinh đô, bọn côn đồ Hồ Nham đều bị chặt đầu giữa chợ. Không bao lâu Hồ Đường cũng chết, thế là hắn tuyệt tự. Kim Bính thấy Hồ Nham giơ đầu nộp mạng, rồi cũng chết theo. Vì xử tử quá nhiều, nên chỉ có Chu Mân, mặc dầu nhúng tay giết chết cô gái nhưng được lọt lưới. Bỗng một hôm, chẳng biết vì sao, hắn quỳ xuống khấu đầu xin tha tội, rồi hộc máu mồm chết.
Trước đây, ở Gia Định vốn có một ngôi miếu thờ tiết phụ, hôm Trương Thị chết, người ở cạnh miếu nghe thấy có tiếng trống, tiếng nhạc từ trên cao vọng xuống, rồi thấy ánh lửa sáng rực chiếu ra bên ngoài, ba đêm mới hết. Người ta cho rằng, sau khi chết Trương thị đã trở thành thần. Thế rồi họ rước bài vị của Trương thị vào miếu thờ, hằng năm xuân thu đều tế lễ. Chấn Xuyên tiên sinh có bài "Ký về vị nữ thần Trương thị".
Thời Ung Chính, có Ngụy thị là tiết phụ, người Sản Than, huyện Thiên Tân. Năm mười bảy tuổi lấy Cao Nhĩ Tín. Cao Nhĩ Tín nhà nghèo, dọn nhà đến ở phía đông Quan Ngao, liền sân với Tống Mỗ. Vợ Tống thường làm ăn không cẩn thận, Ngụy thị thường cười thầm, khiến vợ Tống giận dữ, nói xấu sau lưng Ngụy thị.
Một hôm mẹ đẻ Ngụy thị sai cháu là Tự Tiển tới đón con về. Lúc ấy mẹ chồng và chồng không có nhà, cô gái cùng ngồi trong phòng với Tự Tiển. Tống thị báo cho những người láng giếng xung quanh, vu cho cô thông dâm với Tự Tiển trong nhà. Bọn vô lại ở đông Quan Ngao, nghe thấy thế ập vào, hùa nhau vu cáo. Chúng bắt Tự Tiển cởi quần áo, rồi nói là Tự Tiển hành dâm với cô gái, bắt "phải lập biên bản làm chứng cứ rồi mới thả về. Nếu không thì hô hoán mọi người cùng làm chứng". Cô gái gào lên bảo Tự Tiển rằng:
- Đừng viết biên bản. Nếu nghe bọn chúng viết giấy để làm chúng cứ, thì tôi sẽ chết ngay tức khắc.
Tự Tiển là loại người nhút nhát, khẩn thiết van nài được thoát thân trở về, cầm bút định viết. Thấy thế cô gái tự đâm cổ chết. Sau khi cô chết. Bọn chúng trói Tự Tiển, buộc anh phải viết chúng cứ. Tự Tiển sợ bọn hung ác, đành viết giấy tự nhận để mong thoát thân. Đến khi quan thẩm vấn, lấy tờ giấy Tự Tiển viết làm chứng cứ, kết tội chị em thông dâm với nhau, ghép Tự Tiển vào trọng tội. Sau đó biết anh ta bị oan, năm Càn Long thứ nhất thì được tha.

Ôi! Thời ấy Ngụy thị đã tự dùng cái chết để minh oan, mà người có chức trách không xem xét, ngược lại khi cô chết đã ghép tội cho cô, không nghĩ rằng đó là do hành động của bọn mặt người dạ thú nên cô đã tự giết mình để minh oan. Bất chợt lâm nạn mà ngàn năm ngậm oan nơi chính suối, so với liệt nữ Trương thị đau đớn hàng ngàn lần. Tiên sinh Vọng Khê ở Đồng Thành Phương đã viết "Cao liệt phụ truyện" để ca ngợi cô và cũng thương cho số phận bất hạnh của cô. Bởi thế ta chép thêm việc này vào đây.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Wed Apr 02, 2014 11:35 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 5
Gian Tà Ác Độc Bị Lăng Trì 
Mơ Thấy Điềm Lành Thoát Lưới Giăng
Tu nhân tích đức để nuôi thân.
Sâm, hay thuốc quý đã thất truyền. Sâm, linh chưa hẳn cứu người được,
Mới biết thầy lang đoán bệnh nhầm.
Ngài Phạm Văn Chính từng nói: "Không làm lương tướng mà làm lương y." Bạn nghĩ rằng từ tể tướng trở xuống, trong triều đình là thượng thư, thị lang, hàn chiêm khoa đạo, rồi đến những người giữ các chức sắc khác, bên ngoài là đốc phủ tự đạo, cho tới quan các châu, huyện, biết bao nhiêu người thèm khát muốn làm nên sự nghiệp. Song vì sao ngài Văn Chính, ngay cả lương tướng cũng không muốn làm, mà lại muốn làm lương y. Nên biết rằng, tể tướng có quyền sinh quyền sát. Tể tướng cứu vớt cả thiên hạ, thì là lương tướng. Thầy thuốc cứu vớt cả một vùng, thì là lương y. Chưa thấy người nào mạo muội mà làm việc này cả.
Những người thầy thuốc ngày nay chỉ ghi ra mấy vị thuốc, nghĩ ra mấy thang, ấn tay xem mạch, không phân biệt được phù, trầm, trì, xác(1) thế mà cầm bút kê đơn, không biết gia giảm điều hòa. Hễ đến nhà người bệnh thì nói ông nọ ông kia mời tôi, quan ở làng nọ đến nói với tôi, người nọ người kia tôi đã chữa khỏi... Đến căn bệnh này, thì chẳng khổ công suy nghĩ tìm hiểu bốc bừa một thang, thuốc chẳng đúng bệnh, bèn dương dương tự đắc khoe khoang, như Lô Y, Biển Thước(2) tái sinh. Nếu như uống không khỏi bệnh bèn nói rằng loại bệnh này rất kỳ quái, e rằng có biến chứng. Hỏi nó biến thành chứng gì, thì mù tịt không biết. Họ lại còn có một sai lầm nữa là, biết rằng bốc thuốc sai, nếu chịu thay một phương thuốc khác, thì bệnh ấy có thể cứu được nhưng họ khăng khăng không nhận sai, sợ rằng thang trước thang sau khác nhau, tổn hại đến thanh danh của mình, thôi thì để họ chết cho xong. Người xưa nói: "Người thầy thuốc phải biết thương người". Ngày nay họ chỉ làm nghề để mưu sinh, cốt sao kiếm được nhiều tiền, sống chết mặc bây, tiền thầy bỏ túi.
 
(1) Phù, trầm, trì, xác: các biểu hiện khi mạch đập (phù: nổi, trầm: chìm, trì: chậm, xác: nhanh).
(2) Lô Y, Biển Thước: những thầy thuốc giỏi thời xưa ở Trung Quốc.
Xưa kia, ở nhà một viên quan nọ có một cô con gái, tìm được một người đến ở rể mà vẫn chưa cưới. Một hôm cô gái ấy bị cảm qua loa, quan vội mời một vị thầy thuốc đến thăm bệnh. Người thầy thuốc này vốn nổi tiếng xưa nay, đặt ngón tay lên mạch là ông đoán ngay được tình trạng bệnh tật, không cần phải hỏi bệnh nhân, cho nên cả ấp đều cho ông là danh y. Mời năm lần bảy lượt ông mới chịu đến. Cha cô đưa ông vào phòng khám bệnh, xem xong trở ra ông bèn chúc mừng, nói:
- Đây không phải là bệnh, mà rất mừng là mạch ấy chứng tỏ đã có thai. Có điều thai nhi không an, uống vài chén thuốc an thai là khỏi ngay.
Cha cô im lặng không đáp. Nào ngờ chàng rể ngồi bên nghe thấy, đột nhiên nổi giận, bỏ về nhà nói với cha mẹ, định bỏ cô. Chờ cho thầy thuốc đi khỏi, cha cô nghĩ: "Gia pháp của nhà ta rất nghiêm, sao lại có chuyện đó! Phải nghĩ cách nào bịt mồm thầy thuốc lại mới được". Thấy con rể bỏ về nhà, ông đến nhà thông gia, nói nhỏ với chàng rể mấy câu, chàng rể không nói năng gì, trở lại nhà bố vợ như cũ.
Hai hôm sau, ông lại mời người thầy thuốc ấy đến nhà, nói với ông rằng:
- Sau khi uống thuốc xong, thấy người dễ chịu, thuốc rất hiệu nghiệm. Song thai vẫn chưa điều hòa, xin ông xem mạch, cho ít viên thuốc.
Thầy thuốc hớn hở tới giường xem mạch. Xem xong nói:
- Tôi nói không sai mà, thai đã ba tháng, chỉ cần làm một tể thuốc viên để dưỡng thai, xem ra đứa bé là một vị tướng công.
Cha cô mời thầy thuốc ngồi tại giường kê đơn.
Vừa mới viết xong, thì thấy một người con trai từ trong màn bước ra, vả đánh bóp vào mặt thầy thuốc, chửi:
- Ta là đàn ông mà bảo ta mang thai, sinh ra tướng công! Trách nào con gái trinh tiết lại nói đã có thai! Ta phải kiện ngươi lên quan.
Thấy thuốc cuống lên, xấu hổ, mặt đỏ như gấc chín. Họ lôi ra nhà ngoài, ông ta quỳ xuống khấu đầu nhận tội. Cha cô nói:
- Ngươi nói con rể ta có thai, thì cũng chẳng sao, song ngươi nói con gái ta có thai, thì điều ấy quan hệ đến thanh danh, chẳng khác nào ngươi đã làm hại cả đời con gái, ta không thể tha ngươi được.
Bỗng thấy một đứa ở xách ra một cái thùng trông rất sạch sẽ nói:
- Đây là của bà tôi, thấy ông vất vả, bà tôi xin tặng ông cái thùng này.
Thế rồi nó mở nắp thùng ra, một thùng phân đầy tràn, dốc từ đầu ông ta dốc xuống, như một chiếc mũ có những tua hạt châu. Mọi người bịt mũi cười. Thầy thuốc cuống cuồng chui xuống gầm bàn, giãy giụa loạn xạ, phân tươi cả vào mồm, không sao há ra được. Cả nhà càng tức cười. ông chủ cũng bật cười:
- Ta định giải ngươi lên quan trị tội, nay thấy thế này, thôi hãy tha cho nó! Nó không sợ ăn cứt, song chúng ta sợ thôi.
Rồi bảo người nhà lấy tro bếp trát lên mặt hắn đuổi đi.
Gã thầy thuốc cắm cổ chạy, chiếc kiệu của gã cũng bị người nhà đập nát, không ngồi được nữa, hắn đành vừa đi vừa xé vạt áo lau lên mặt. Ai ngờ phân với tro quyện vào nhau như đắp sơn đen lên mặt, làm sau có thể lau sạch được. Mặt hắn nhem nhuốc kinh tởm. Những người hai bên đường nhìn thấy ai ai cũng cười rũ rượi, nói:
- Tiên sinh trước đây cứ làm bộ làm tịch, ra vẻ ta đây là một danh y, nay quả là mất mặt.
Người thầy thuốc ấy về nhà, cứ nằm lì trên giường, hai ba tháng không dám ló mặt ra ngoài.
Nhưng đó chỉ là loại thầy thuốc thông thường, chữa những bệnh thông thường, ta cũng chẳng trách họ nhiều. Song có một loại thầy thuốc, dùng những phương pháp bí truyền, quả thực chửa được những bệnh hiểm nghèo, cải tử hoàn sinh, mà những vị thuốc của họ hết sức kỳ quái, họ đã ám hại không biết bao nhiêu người. Nói ra không ai hiểu nổi. Thầy ta là Vương Nguyên Lỗ tiên sinh. Trong di cảo của ông có Lão Thần Tiên truyền, sự việc kỳ lạ mà văn cũng kỳ lạ, nay ta xin chép lại dưới đây.
"Thời Minh thiên hạ loạn lạc, Trương Hiến Trung chiếm Hà Nam, bắt được một người đàn ông, anh ta nói rằng có một phương thuốc bí truyền, có thể làm cho người sống lại. Bọn giặc cũng bỏ qua, không ai tin. Hiến Trung tính tàn bạo, thường đánh chết bọn đàn em, song sau đó lại hối hận. Bỗng Hiến Trung nhớ tới người đàn ông ấy, gọi ông ta đến chữa, quả nhiên sống lại thật, thế rồi rất quý mến anh ta. Hiến Trung ở Trường Sa, một hôm lệnh cho mỗi người lấy một chiếc ghế, phút chốc được mấy vạn chiếc, xếp thành một cái đài cao tới mấy chục trượng, rồi lệnh cho tướng sĩ cầm sẵn cung tên đứng vòng quanh ở dưới, nói:
- Ta hô thì toàn quân phải hô theo.
Thế rồi bảo người đàn ông kia trèo lên đài. Người đàn ông mới trèo được non nửa, sợ quá chân tay run cầm cập định thôi. Song nhìn xuống dưới, thấy người nào cũng giương sẵn cung, sợ quá đành leo lên đỉnh. Thế là, Hiến Trung hô lên: "Lão Thần Tiên, Lão Thần Tiên!". Tiếng hô vang dội vào hang núi. Từ đó trong quân đều gọi là "Lão Thần Tiên".
Lão Thần Tiên người Trịnh Châu, tên là Trần Sĩ Khánh. Thời trẻ ham mê thuật thần tiên, ngao du khắp sông núi vẫn không gặp tiên. Về sau đến Chung Nam, thấy một ông già đội mũ mo nang, mặc áo lông, ngồi trong hang đá sâu thẳm. Sĩ Khánh nghi là một người phi phàm, bái lạy xin làm đệ tử. Ông già lau mắt ngước nhìn rồi chậm rãi nói:
- Ta đâu phải là thần tiên, cút đi đừng làm bẩn mắt ta?
Sĩ Khánh quỳ lạy mấy ngày, đến khi đói quá thì xuống núi xin ăn. Ông già lại cho một thứ như mạch nha, ăn vào, khí trong bụng bốc lên, không thấy đói nữa. Sĩ Khánh càng ì ra không chịu đi. Lại qua mấy ngày nữa ông già mới trao cho một quyển sách. Sĩ Khánh bái tạ rồi ra đi. Nhìn vào sách, phần lớn chẳng hiểu gì, chỉ có mấy trang cuối là hiểu được, đó là phương thuốc bí truyền. Trở về, qua Lạc Dương, có một nhà quyền quý chơi đu ngã gãy chân. Họ nói rằng ai chữa khỏi sẽ trả một trăm lạng vàng. Sĩ Khánh thử chữa, quả nhiên khỏi thật, mang vàng về nhà. Thời ấy, cướp bóc nổi lên như ong. Cha mẹ nghi con là đứa vô lại, đi lâu ngày mới về, và khăng khăng cho rằng nó đã theo bọn giặc nên mới có nhiều vàng như thế. Sĩ Khánh đưa sách ra để thanh minh cho mình. Đang lúc tức giận, cha ném sách vào đống lửa. Sĩ Khánh vội vàng nhặt lấy, song chỉ còn bốn trang cuối. Lúc đầu Sĩ Khánh giấu biệt tên tuổi. Sau đó văn sĩ đất Thục tên là Lưu Thần chơi thân với ông, và được ông truyền cho. Nguyên do có thuật thần tiên là như thế.
Những kẻ giặc được cứu sống rất nhiều. Lão Cước là một cung nhân trong Bế Sở phủ của Hiến Trung. Hiến Trung ngẫu nhiên nổi giận, đâm Lão Cước lòi ruột ra ngoài, rồi bảo Sĩ Khánh chữa trị. Sĩ Khánh nói:
- Ôi làm gì có người bày ruột, bày gan hết ra ngoài còn có thể làm sống lại được. Song đại vương đã ra lệnh tôi đâu dám chống lại.
Thế rồi họ cùng nhau khiêng Lão Cước đặt lên tấm phản. Trước hết dùng nước rửa sạch, nhét lục phủ ngũ tạng vào, dùng chỉ khâu lại rồi đắp thuốc. Qua một đêm, thấy Lão Cước rên, ba ngày sau muốn ăn uống, năm ngày ngồi dậy được, chưa đầy mười ngày đã có thể hầu hạ Hiến Trung. Tôn Khả Vọng giết một người thiếp yêu. Sĩ Khánh chắc là ông ta sẽ hối lại, lập tức mang đi, chữa trị như Lão Cước. Sĩ Khánh lấy chăn cuốn lấy người, rồi đặt lên xe. Sau mấy ngày thấy Khả Vọng, Sĩ Khánh nói:
- Vì sao mấy hôm trước đây tướng quân giết người mình yêu?
Khả Vọng đấm ngực than:
- Tiếc rằng khi ấy ta không nhờ ông chữa trị.
Sĩ Khánh nói:
- Đừng quá đau thương, hôm nay ta hiến dâng ngài một mỹ nữ, nàng rất muốn thờ phụng tướng quân.
Thế rồi Sĩ Khánh cho xe chở đến, khi mở rèm ra thì đó hình là người thiếp yêu mà mình đã giết. Nhìn vào cổ nàng, vết thương cuộn lấy cổ như tơ, đẹp hơn xưa gấp bội. Bạch Vân Tuyển đánh nhau với triều đình, đạn trúng bắp chân gần chết. Sĩ Khánh nói:
- Vết thương của ngươi rất nặng, ta lại không có con. Nếu ngươi coi ta như cha, nuôi dưỡng hết đời, thì ta sẽ cứu sống ngươi. Song ngươi vốn là người phản phúc, phải làm tờ cam đoan ta mới yên tâm.
Thế rồi Bạch Vân Tuyển làm tờ cam đoan như Sĩ Khánh nói. Sau đó Sĩ Khánh dùng thuốc tê đắp vào chỗ đau, rồi cưa xương đi, giết chó lấy xương đùi cũng dài bằng ấy ghép vào. Qua ba ngày thì Vân Tuyển cưỡi ngựa xông vào quân triều đình, trảm thủ người bắn pháo mang về. Rất nhiều ca kỳ lạ như thế.
Hiến Trung chết, Sĩ Khánh ngao du với các tướng lĩnh, tuổi già uống rượu nhiều, lại chơi gái, người ta muốn cầu mong ông truyền cho phép thuật. Sĩ Khánh nói:
- Thuật này ta không thể truyền được, đã có người giữ nó rồi. Cuối cùng, khi Vân Tuyển đầu hàng, ông đổ bệnh, chết tại Đằng Việt. Ô hô! Ta nghe người đời truyền tụng chuyện Lão Thần Tiên, quả thật là rất kỳ quái, những phương thuốc cổ thật hiếm có chỉ tiếc rằng bị quân giặc lợi dụng, chứ không thuật đó để cứu sống trung thần nghĩa sĩ. Ta cũng đã nghe hàng tướng Vương Cát trong đám quân giặc cũng đã từng xin thuốc Lão Thần Tiên, thấy ông ta tụ tập rất nhiều đàn bà xẻo chừng một phân thịt âm hộ trộn lẫn với thuốc cho vào lò đốt. Phút chốc lửa bốc lên, sáng rực cả nhà, lửa ấy không làm cháy vật gì. Lâu lâu sau, Lão Thần Tiên nói:
- Thuốc được rồi.
Sau đó đổ thuốc vào, lửa tắt. Nếu như thế thì thuật ấy không phải là kẻ làm giặc, thì không nở làm thử, vả lại cũng không có lý do mà làm thử. Mà không làm thử thì sao có thể ưa chuộng được.
Xem xong "truyện" này, đủ biết rằng môn thuốc nào cũng có. Nhưng trong thời loạn lạc này, khi nhân dân bị bọn cướp bắt được, mới có thuật quái đản, giúp kẻ cướp làm điều bạo ngược, cắt thân thể người làm dược liệu. Vào đầu năm Khang Hy, thiên hạ thái bình, mà nhà Kỳ Hoàng cũng ngấm ngầm giết người để trộn vào thuốc chữa trị bệnh. Các bạn có biết việc này xảy ra ở đâu không?
Kỳ Hoàng thuật ấy vốn tầm thường,
Sao họ đồn rằng thuốc bí truyền.
Chúng giết chết người cứu người khác,
Khác nào cắt thịt chữa vết thương.
Ở Tô Châu không hồ nào lớn bằng Thái Hồ, chu vi tới tám trăm dặm, biên giới trải dài hai tỉnh Giang, Triết, trong lòng hồ có bảy mươi hai ngọn núi, và cũng là nơi dân cư đông đúc, nhiều làng mạc, đi lại bằng thuyền. Ở đó có một thầy thuốc ngoại khoa, tên là Ma Hi Đà, ở Tiêu Hạ Loan nằm giữa lòng hồ, ông ta học làm thuốc từ lúc còn nhỏ. Về sau không biết tìm ở đâu được một tập sách thuốc bí truyền và hành nghề thầy thuốc rất phát đạt. Phàm là những bệnh khó khăn hiểm nghèo, người ta không chữa được, uống thuốc của ông, lập tức khỏi ngay. Ông ta không bao giờ kê đơn, mà chỉ xem bệnh rồi cho thuốc. Ông ta thường nói với mọi người rằng:
- Thuốc là cái vốn rất quý, nó đáng giá ngàn vàng.
Phàm những người nhà giàu có, mắc bệnh hiểm nghèo, mời ông ta tới thăm, trước hết ông ta nói rõ giá thuốc là bao nhiêu, tạ ơn bao nhiêu, rồi sau đó mới cắt thuốc. Hàng trăm hàng ngàn lạng bạc vào tay ông không có gì lạ. Chính tay ông ta pha chế thuốc trong một phòng kín. Mỗi năm ông ta chỉ về nhà mấy lần. Tiếng tăm lừng lẫy khắp nơi, trước cửa nhà ông ta lúc nào cũng đông như chợ. Họ đều cho ông là danh y cứu thế. Đâu có biết ông ta là một thuật sĩ, lòng lang dạ sói, độc ác như rắn rết.
Tô Châu có một vị tú tài, tên là Giả Nhậm Viễn, kiếm ăn bằng nghề dạy học. Năm ấy mất mùa, đói kém không ai đi học ông muốn đến chỗ bạn bè thân thiết ở núi Động Đình tìm chỗ ngồi dạy tạm một năm. Thuê thuyền không được, ông ra khỏi bến tìm thuyền đi ké, nhưng tới thuyền nào họ cũng không chịu cho đi nhờ. Đang lúc chưa biết tìm thuyền cách nào, Giả Nhậm Viễn gặp được Ma Hy Đà đi khám bệnh ở một nhà quan trở về. Nghe thấy trên bờ có người gọi đi nhờ, ông đẩy cửa thuyền nhìn ra, thấy một người dáng vẻ thư sinh, bèn bảo thuyền ép vào bờ đón người ấy. Nhậm Viễn xuống thuyền, thấy người ngồi trên thuyền ăn mặc theo kiểu người Tế Sở, trên sàn thuyền lại để một hòm thuốc. Nhậm Viễn mới biết ông là thầy lang, bèn chắp tay chào.
Thưa tiên sinh, tôi làm phiền ngài quá!
Hy Đà bèn mời vào trong khoang thuyền ngồi, hỏi:
- Ông anh đi đâu?
- Em muốn vào núi Động Đình. - Nhậm Viễn đáp. - Ông cho em đi nhờ tới Hồ Khẩu, rồi đáp thuyền đi tiếp.
- Ông tới đó làm gì? - Hy Đà hỏi.
- Em định tới đó nhờ bạn thân tìm chỗ ngồi dạy học.
- Tôi có hai đứa con, cũng đang muốn tìm một thầy giỏi về dạy. - Hy Đà nói. - Thật là duyên may. Hôm nay được gặp ông, liệu ông có thể dừng lại nhà tôi dạy cho các cháu được không? Ông không phải tìm nơi khác nữa. Mỗi tháng gửi ông năm mươi lạng bạc. Nếu ông bằng lòng, thì ông cùng về với tôi, ông thấy thế nào?
Phàm là các thầy đồ tìm được một chỗ dạy khá, quả thật vô cùng khó khăn, ai mà không thích. Nhậm Viễn nghe xong, bằng lòng ngay. Đúng là:
Đi rách cả giày không tìm thấy,

Ngẫu nhiên vớ được không tốn công.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Wed Apr 02, 2014 11:53 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 5 (B)
Ngồi trên thuyền suốt một đêm, sáng hôm sau thuyền cập bến, họ lên bờ. Ở đây cư dân rất ít, lại sống rải rác khắp nơi, thấy một khu đất rộng rãi, nhà cửa thâm nghiêm, nhà nào cũng kín cổng cao tường, bao xung quanh khu dân cư là một con sông nhỏ. Đây là một trang trại biệt lập. Hy Đà chắp tay mời vào nhà khách. Gia nhân mang trà ra, rồi Hy Đà bảo làm cơm. Cơm xong, chủ nhân nói với Nhậm Viễn:
- Tôi định sang năm mới mời thầy, nay đã lưu được ông ở đây thì ngày mai khai trương. Hàng quý tôi trả tiền cho ông, ông thấy thế nào?
- Nhà tôi còn một số việc, - Nhậm Viễn nói, - muốn về thu xếp khi nào xong tôi sẽ tới ngay.
- Như thế này vậy. - Hy Đà nói. - Tôi sẽ sai người đem tiền quý này đến nhà ông, và mang thư người nhà về đây cho ông, còn ông không phải viết thư nữa. Thế có được không?
Nhậm Viễn mừng rơn, nói:
- Rất cảm ơn sự nhiệt tình của ông! Có tiền lương một quý thì tôi không phải về nữa.
Đêm ấy, Hy Đà đưa ông tới thư phòng nghỉ ngơi. Hôm sau là ngày tết, hai đứa học trò đến chào thầy, thấy chúng khôi ngô tuấn tú, Nhậm Viễn hỏi tuổi, thì đứa lớn mười bảy tuổi, đã biết học văn, đưa bé mười sáu tuổi, đã học cổ văn. Hai đứa trẻ khá thông minh, Nhậm Viễn dạy chúng cũng nhàn nhã, giảng bài là chúng hiểu ngay. Mấy hôm sau Nhậm Viễn nhận được thư nhà, biết nhà đã nhận được tiền lương. Từ đó Nhậm Viễn yên tâm dạy học, không cần phải lo nghĩ gì việc nhà nữa. Trường đầy đủ tiện nghi, thầy trò rất tương đắc. Khi nào học sinh không tới lớp, ngồi một mình trong phòng, Nhậm Viễn cảm thấy cô đơn lạnh lẽo, sau mới hỏi học sinh:
- Ở đây có chỗ nào dạo chơi cho đỡ buồn không?
- Ở đây hoang vắng, chẳng có chỗ nào đáng đi. Chỉ có một điều chúng con muốn dặn thầy là: tối đến không có việc chi thì cứ đi ngủ sớm, đừng bước ra khỏi thư phòng nửa bước. Thầy nhớ kỹ nhé!
Nhậm Viễn nghĩ bụng: "Bên ngoài thư phòng thì là nội thất cho nên nó dặn mình không nên ra".
Thế rồi ông gật đầu nói:
- Hiểu rồi, hiểu rồi.
Năm sau, vào tiết Thanh minh, lại nhận được thư nhà, nói rằng ở nhà đang rất cần tiền, tiền lương tiết Thanh minh đã nhận đủ rồi. Ngoài tin đó ra, thì là những chuyện lặt vặt trong nhà. Nhậm Viễn nói với học trò rằng:
- Người nhà mang tiền đi cũng nên nói qua với thầy một Câu, thầy cũng muốn gửi thư về nhà.
- Viết thì cũng chẳng khó gì - học trò nói. - Chỉ có điều trong thư đừng viết địa chỉ ở đây, nếu viết cha sẽ quở trách.
Hỏi vì sao, thì chúng chỉ cười mà không nói. Nhậm Viễn nghĩ: "Ông ấy không muốn mình viết rõ địa chỉ, chắc là ông ấy sợ người nhà mình biết được, hoặc người khác tìm đến quấy rầy, như thế cũng là cố chấp. Song cũng phải thừa nhận là, ông đã mang tiền lương tới cho gia đình, và đem thư trả lời của người nhà, nên mình cũng yên tâm, chẳng cần viết thư làm gì khiến ông mất vui".
Tới mùa hè, ông dạy người học trò lớn làm văn, còn người học trò bé học văn chương của các bậc tiền bối. Học trò rất thích thú. Chỉ có ông chủ, thì sau khi gặp lần đầu đến nay chẳng thấy bóng dáng ông đâu, thỉnh thoảng có hỏi đến thì chúng bảo không có nhà. Điều ấy ông cũng không hề để ý tới. Vào một đêm, đúng vào lúc Trung thu, học trò nghỉ học, Nhậm Viễn dạo quanh sân. Trăng sáng rất đẹp, thấy thư phòng mở, ông ra cổng nhìn, không phải là nhà trong. Ông lặng lẽ bước ra, thấy bên cạnh có một lối đi nhỏ, hai bên là tường cao quét vôi trắng, trăng sáng vằng vặc như ban ngày, trông xa, không một bóng người. Nhậm Viễn lững thững dạo bước, thấy một luồng gió tanh mùi thịt sống phả vào mặt, lại nghe văng vẳng đâu đây có tiếng kêu rên thảm thiết. Đi thêm mấy bước nữa, thì thấy mấy gian nhà thấp lè tè, tiếng rên rỉ từ trong đó vọng ra, bên trong có ánh đèn leo lét. Nhìn qua khe cửa, ai ngờ, không nhìn thì thôi, khi nhìn vào, ôi thôi, hồn bay phách tán, bủn rủn chân tay, run như cầy sấy.
Bạn biết trong nhà có gì không? Đều là những người thân thể không trọn vẹn. Có người mất mũi, có người mất tai, có người cụt chân, nền nhà sâu tới mấy thước. Có những người máu chảy đầm đìa, nằm chết vật dưới đất. Tất cả những người đó đều rên rỉ đau đớn. Trong chiếc rãnh bao quanh nền nhà, máu, thịt, còn ngổn ngang bừa bãi. Nhậm Viễn vội vã rời khỏi nơi đó, tim cứ đập rộn lên, như ma đuổi. Ông nghĩ: "Chẳng phải ta nằm mơ ư? Lẽ nào ở đây lại là âm ti địa ngục? Thoát ra khỏi địa ngục này đâu phải dễ". Suốt đêm hôm ấy Nhậm Viễn không sao ngủ được.
Sáng hôm sau, thức dậy, Nhậm Viễn cứ ngồi thờ thẫn trong phòng. Nhậm Viễn nghĩ: "Chẳng trách nào bọn học trò bảo mình đừng bước ra khỏi phòng, đó chính là vì thế". Lát sau học trò vào thấy sắc mặt thầy tái nhợt phờ phạt, chúng nói:
- Đêm qua thầy có dám ra ngoài không?
- Không. - Nhậm Viễn đáp.
- Thầy đừng giấu con, chỉ e thầy sợ, - học trò nói.
Thấy nó đoán đúng, Nhậm Viễn nói:
- Thầy đang muốn hỏi con, vì sau nhà con lại có người tàn tật khổ sở như vậy.
- Bây giờ không thể nói thẳng cho thầy biết. Những người bị thương ở trong đó đều do cha con cắt thịt họ làm thuốc. Chỉ vì xưa kia cha con tìm được cuốn sách thuốc bí truyền. Phàm là những người mắc bệnh đều cần những bộ phận trong cơ thể làm dược liệu để chữa trị. Chẳng hạn như, đau ở tai mắt, tứ chi, thì cắt tai mắt, tứ chi luyện thành thuốc; chống ung thư trong lục phủ ngũ tạng thì cắt lục phủ ngũ tạng làm thuốc chữa trị. Chẳng có bệnh nào là không kiến hiệu. Bởi thế, đi bắt một số người về để làm dược liệu, người nào chết thì vứt đi, người nào còn sống thì để dùng đến. Bởi thế mà họ ở đấy chịu khổ sở đau đớn.
- Những người bị cắt thịt lấy ở đâu? - Nhậm Viễn hoảng sợ nói.
- Có người làm nghề thủ công, - học trò nói, - có người là khách giang hồ, cha đã lừa họ tới, rồi không cho họ ra.
Tuy Nhậm Viễn mồm hỏi, song sợ đến thót tim, mặt như chàm đổ, nước mắt lã chã, nói:
- Số phận ta nhất định cũng phải như thế chăng?
- Thầy đừng sợ. - Học trò nói. - Trước đây mời thầy về cũng định thế. Nay mang ơn thầy dạy dỗ, chúng con quyết không bao giờ hại thầy. Sau ba năm sẽ cho thầy về. Song nay thì không về được, thầy phải sống ở đây thôi.
Nhậm Viễn nắm chặt lấy tay học trò, nói:
- Thầy sẽ.. ở lại đây, tính mạng của thầy trong tay các con, miễn chết cho thầy là tốt rồi.
Học trò an ủi thầy mấy câu rồi đi ra.
Từ đó trở đi, ngày ngày Nhậm Viễn như ngồi trên đống lửa, muốn chạy trốn nhưng tường vây quanh rất cao, làm sao có cánh mà bay được? Lại sợ học trò thay lòng đổi dạ, tính mệnh khó bảo toàn, chỉ đành vờ vịt phụng thờ chúng, làm chúng vui lòng. Nghĩ rằng hằng ngày phải tụng "Bạch y Quan âm thần chú” là đấng cứu khổ cứu nạn, mỗi ngày tụng niệm hàng ngàn lần, sớm tối hướng về phía tây, quỳ lạy để cầu mong Quan âm cứu vớt. Vào một đêm, Nhậm Viễn mơ thấy một người đàn bà mặc áo trắng, nói với ông rằng:
- Phải thoát tai họa, chờ gặp vải.
Mấy hôm sau, bỗng thấy học trò mang đến một tấm vải dài khoảng năm sáu trượng, nói là biếu thầy may quần áo, chờ thợ may đến cắt, rồi để ngay trong phòng. Nhậm Viễn nhớ đến giấc mộng, bỗng nghĩ ra một kế. Vào lúc đêm khuya thanh vắng, không một bóng người, ông nhúng vải vào chậu nước cho ướt sũng, buộc vào chiếc bàn, đặt bên cạnh tường, đứng lên đó, rồi cầm lấy đầu kia tung qua tường, vải ướt dính chặt vào bên kia tường, lôi thử thấy đã chắc, rồi sau đó kéo vải bò lên mặt tường. Nhìn xuống dưới là vườn rau, ông lại theo vải đu mình xuống. Đi khỏi vườn rau, vượt ra bờ rào, thấy một con sông nhỏ chặn lối. May mà từ bé Nhậm Viễn đã biết bơi, thế là ông vượt qua sông lên bờ, vắt chân lên cổ chạy. Đúng là:
Bơ vơ như chó mất chủ
Vội vã như cá sẩy câu.
Chạy thục mạng cho tới khi trời sáng, được khoảng mấy dặm, ai ngờ gặp phải đường cùng, trước mắt là Thái Hồ rộng mênh mông bát ngát.
Nhậm Viễn tuy đã trốn chạy, sợ có người đuổi sau bắt được thì chỉ có đường chết. Trước mắt không thấy chiếc thuyền nào đi qua, cuống lên không còn biết cách nào khác. Đợi một lát, thấy đằng trước có một chiếc thuyền buồm đi tới. Nhậm Viễn gào lên kêu cứu. Chiếc thuyền ấy hạ buồm ép mạn vào bờ. Nhậm Viễn nhẩy phốc lên thuyền. Nhà thuyền thấy ông ướt như chuột lột, dáng vẻ kinh hoàng, bèn hỏi:
- Có phải ông gặp cướp không? Bây giờ đi đâu?
- Đúng là gặp cướp, - Nhậm Viễn nói. - Bây giờ cho tôi về núi Động Đình.
- Về đấy cũng thuận đường, - nhà thuyền nói, - Cho ông đi nhờ tới đó được rồi.
Thế là họ kéo buồm lên. Chưa đầy hai giờ thì tới núi Động Đình. Từ biệt nhà thuyền lên bờ, Nhậm Viễn đến ngay nhà người bạn thân. Người bạn trông thấy vội hỏi:
- Tôi nghe thấy anh đang dạy học ở nơi xa, sao trông anh lại phờ phạc thế này. Có phải bị đắm thuyền không?
- Chuyện dài lắm, nói một câu không hết được - Nhậm Viễn nói. Thế rồi anh kéo bạn đến chỗ vắng, kể lại hết hành động của Ma Hy Đà và việc tranh bị lừa thế nào cho bạn nghe.
Đã như thế - người bạn kinh hãi nói, - phải đi báo quan ngay.
Thế rồi họ cùng nhau tới Thái Hồ Sảnh bẩm quan. Quan Thái Hồ Sảnh gọi vào, hỏi tỉ mỉ từng việc, rồi lệnh cho nha lệ biết. Đồng thời báo cho phó tướng Thái Hồ mang quân lính phối họp cùng đi bắt. Cho Nhậm Viễn làm nhân chứng sống, cùng đến Tiêu Hạ Loan.
Hôm ấy bọn học trò dậy, không thấy thầy đâu, còn tấm vải thì vắt trên tường. Biết là thầy đã vượt tường chạy trốn. Song nơi này không có thuyền làm sao chạy thoát. Chúng gọi người nhà vạch bãi lau sậy, tìm khắp nơi, không thấy Nhậm Viễn đâu. Lúc ấy Ma Hy Đà ở Hồ Châu chưa về, bọn người nhà hết sức lo lắng. Thế rồi bất chợt quan quân kéo đến, gác chặt cửa trước cửa sau. Nhậm Viễn dẫn quân quan đánh thốc vào tìm thấy rất nhiều người cụt tay chân. Hai đứa con trai Ma Hy Đà thấy việc đã bị phát giác, hồn bay phách lạc, nhìn thầy gào lên khóc. Nhậm Viễn thấy tình cảnh của chúng hết sức thương tâm, nhưng cũng chỉ biết nói với chúng rằng:
- Cha các con tội ác tầy trời, ta không giúp nổi các con.
Quan phủ cùm tất cả bọn người nhà Ma Hy Đà lại, rồi giải về nha môn. Sau đó gởi giấp đến phủ Hồ Châu bắt Ma Hy Đà về xét xử.
Khi Ma Hy Đà bị giải đến không cần phải kiềm kẹp truy hỏi gì hắn đã khai hết tội ác của mình. Ngay lập tức quan hạ lệnh đánh bốn mươi gậy, tất cả gia thuộc đều bị tống ngục. Sau đó khép Ma Hy Đà vào tội lăng trì, vợ con đều bị chém đầu. Tịch thu toàn bộ tài sản, cấp cho người bị oan, mai táng xương thịt còn vứt ngổn ngang. Hai phủ Tô, Hồ thời ấy đồn ầm lên về chuyện kỳ quái này. Từ đó Nhậm Viễn thờ phụng Quan âm, cả nhà đều quy cửa Phật, không dám ra ngoài dạy học nữa. Đúng là ác giả ác báo. Nhậm Viễn kính cẩn tụng kinh niệm Phật, thì cuối cùng được Đại Sĩ phù hộ, thoát khỏi địa ngục trần gian. Có người nói:
- Hai đứa học trò không nỡ hại thầy, tại sao thầy lại hại chúng. Như thế có phải bất nhẫn không?

Họ không hiểu rằng, trừ hại cho một vùng, tức là một vùng được hưởng phúc. Người xưa thường vì đại nghĩa mà diệt người thân, con còn chẳng tiếc, thì tiếc gì học trò.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Thu Apr 03, 2014 12:27 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 6
Hồ Tú Tài Cáo Trạng Kêu Oan 
Thi Hiển Thần Nằm Mơ Xử Án
 huyện Giang Đô có một vị tú tài tên là Hồ Đăng Cử. Cha mẹ ông bị giết, đầu bị lấy mất. Cả nhà Đăng Cử hồn bay phách lạc, hốt hoảng lên báo quan huyện Thi Công. Tới huyện thì gặp lúc quan đang làm việc, ông vào huyện đường, cúi chào rồi trình đơn lên quan, nói:
- Thưa thầy, thầy là bậc bề trên, tai họa bỗng dưng giáng xuống đứa học trò này. Con xin cúi đầu thưa với thầy, thầy hãy lập tức bắt ngay.
Nói xong ông dâng lá đơn lên, thư lại nhận đơn đặt lên bàn. Thi Công lặng lẽ nghiền ngẫm. Trong đơn viết:
"Người trình đơn là học trò Hồ Đăng Cử, đời ông con sống tại huyện Giang Đô. Cha con từng làm Hàn lâm, khi tuổi già sức yếu về sống tại quê nhà. Ông làm nhiều việc thiện, xót thương người nghèo khổ, không bao giờ hà khắc với mọi người. Thế mà vào một đêm nọ, cha mẹ con đóng cửa ngủ. Đến khi trời sáng, chúng con tới thăm, gõ cửa, không thấy cha mẹ thưa, con cuống lên, đạp cửa vào, thấy cha mẹ con đều nằm trên giường, hai chiếc đầu mất tích. Con hổ thẹn học tại trường, mà để cha mẹ chết thảm hại như thế. Con gắn bó với trường học, rất hổ thẹn với cha mẹ. Bởi thế con trình lên ngài, thiết tha mong ngài ra ơn, cho bắt ngay bọn hung thủ, để rửa mối hận cho con. Xin vô cùng biết ơn ngài. Xin dâng đơn".
 
Thi Công xem xong đơn, bất giác gật đầu, kinh sợ. Ông nghĩ: "Đêm khuya vào nhà, không phải kẻ gian thì là giặc. Vợ chồng Hồ Hàn lâm già mà bị giết, lại không lấy của, mà lấy đầu đi, thì rõ ràng là hành động trả thù. Việc này, lại không viết giấy để lại, thì làm thế nào bây giờ.". ông cảm thấy khó khăn, một lúc lâu ông nói:
- Ta sẽ cử ngay bốn quan Bổ sảnh đi khám nghiệm tử thi, xong sau đó anh cứ khâm liệm cha mẹ. Nhất định ta sẽ tìm ra manh mối giải quyết.
Hồ Tú Tài nghe thấy thế đành nuốt nước mắt, rời khỏi công đường về lo việc khám nghiệm tử thi.
Thi Công cho người đi báo ngay với quan Bổ sảnh, tới nhà họ Hồ khám nghiệm tử thi, về trình báo với Thi Công. Bỏ tờ đơn vừa nhận vào túi, Thi Công kết thúc buổi làm việc. Trở về thư phòng nghỉ ngơi, uống trà, dùng cơm, rồi rút tờ đơn ra đặt trên bàn đọc đi đọc lại. ông cúi đầu suy nghĩ, vụ án này thật khó giải quyết. Ông ngoái người giơ tay với lấy một bộ sách cổ trên giá, đó là cuốn "Đập bàn kêu lạ", đặt lên xem. ông so sánh với vụ án này, cho rằng, đây là việc không có đầu mối, khó mà giải quyết được. Thấy người mệt mỏi, ông đặt sách xuống bàn, gục trên án thư, mơ màng rồi ngủ thiếp đi lúc nào không hay.
Trong giấc mơ ông thấy, trên bờ tường có một đàn chín con sẻ vàng, đang vẫy đuôi, gạt mỏ kêu chích chích. Thấy vậy Thi Công rất kinh ngạc. Tiếp đó lại nghe thấy tiếng lợn kêu ụt à ụt ịt. Đó là bảy con lợn con của Du Quang Nhi, nhìn hiền thần kêu ngậu xị. Thi Công thấy lạ, vừa định nhìn kỹ thì chín con sẻ vàng bay vụt xuống đất, cùng với mấy con lợn con đứng cả hai chân nhìn sẻ vàng, sẻ vàng quắp móng, rồi cùng nhau kêu loạn cả lên. Sẻ kêu, lợn hộc, bỗng nhiên thấy một trận gió quái lạ cuốn cả sẻ và lợn đi. Thi Công giật mình tỉnh giấc, kêu ầm lên: "Thật là quái lạ". Thi An đứng bên cạnh thấy chủ nhân kinh sợ kêu lên như thế, chẳng hiểu vì sao, vội vàng gọi:
Ngài! Ngài hãy tỉnh dậy.
Thi Công nghe thấy, ngẩng đầu mở mắt, trầm ngâm hồi lâu. Nghĩ lại việc trong mơ, nói:
- Lạ thay, kỳ quặc thay!
Rồi hỏi Thi An đã mấy giờ rồi. Thi An đáp:
- Mặt trời đã lặn rồi.
Thi Công gật đầu, lại hỏi:
- Vừa giờ anh có trông thấy gì không?
- Con chẳng thấy gì cả, - Thi An nói. - Nhưng có một cơn gió thổi qua tường.
Nghe thấy thế Thi Công nghĩ lại, chín con sẻ vàng, bảy con lợn con quái lạ, chắc là trong đó có uẩn khúc gì đây. Thế rồi ông để sách lên giá nghĩ ngợi liên miên, không sao ngủ được.
Sáng hôm sau trở dậy, Thi Công rửa mặt, mặc quần áo chỉnh tề, rồi truyền lệnh mở công đường. Ngồi vào ghế, ông rút lệnh gọi Anh Công Nhiên và Trường Tử Nhân tới. Hai người tới quỳ lạy dưới công đường, Thi Công nghĩ tới chín con sẻ vàng (hoàng tước) và bảy con lợn con (thất chư) ghi vào lệnh, nói:
- Hạn trong năm ngày, hai người phải bắt được Cửu Hoàng và Thất Chư về đây cho ta, nếu chậm trễ ta sẽ phạt nặng chứ không tha.
Rồi ông đưa lệnh cho hai người. Hai người tiến lên nửa bước, quỳ xuống nói:
- Thưa ngài, chúng con xin ngài cho biết Cửu Hoàng và Thất Chư là tên người hay tên vật, hiện chúng đang ở đâu, xin ngài chỉ rõ. Chúng con đi tìm sẽ bắt về.
Nói xong lại cúi lạy. Thi Công thấy thế nói:
- Các ngươi là đồ vô dụng, ngay cả Cửu Hoàng, Thất Chư cũng không biết, thì làm sai dịch thế nào được? Rõ ràng các người muốn lẩn tránh, đùa với pháp luật. Hãy lôi bọn này ra đánh cho ta.
Hai người này bị sai nhân lôi ra, đánh mỗi người mười lăm gậy. Họ quỳ xuống, nói:
- Thưa ngài, rốt cục thì ngài cũng nên nói rõ, chúng con mới đi bắt được.
Nghe nói thế, Thi Công đùng đùng nổi giận, nói:
- Hai thằng này to gan thật, mỗi khi nhận việc là rất hay kêu ca, nếu còn dám cãi nữa ta sẽ phạt cho các người nặng hơn.
Hai người thấy thế không sao được nữa, đành đứng dậy lui ra. Tiếp tục di dò bắt Cửu Hoàng và Thất Chư. Thi Công cũng rời khỏi công đường.
Năm ngày liền Thi Công vờ ốm, không mở công đường. Sang ngày thứ sáu, vừa sáng dậy đã bảo đánh trống mở cửa công đường, rồi ngồi vào bàn. Sai nha đứng hầu. Thấy một người bước tới bàn dâng tờ trình, nói:
- Thưa ngài, học trò Hồ Đăng Cử, cha mẹ bị giết oan, xin ngài soi xét. Nếu để kéo dài không bắt, hung thủ trốn thoát, lúc đó càng khó thêm. Vả lại con cũng được học hành, lẽ nào không xấu hổ sao? Nếu con dâng tờ trình kêu oan tới nơi khác, xin ngài lúc ấy đừng trách con.
Nói xong cúi lạy, rồi lại đệ tờ trình lên quan. Thi Công cười nói:
- Ông đừng quá nôn nóng như thế. Bản quan đã cho người bí mật dò tìm những người có dấu vết khả nghi, nhất định sẽ minh oan cho cha mẹ ông.
Hồ Đăng Cử không còn cách nào, nói:
- Thưa ngài, ngài nhanh chóng minh oan cho con, con vô cùng biết ơn ngài.
Thi Công nói:
- Xin ông cứ về đi, hãy để tờ trình lại đây.
Hồ Đăng Cử cúi đầu chào, rời khỏi nha môn.
Thi Công cảm thấy rất khó, định gọi người quản gia nhà họ Hồ thẩm vấn, thì thấy nha lệ Anh Công Nhiên và Trương Tử Nhân tới, hai người quỳ xuống thưa rằng:
- Hai chúng con không tìm thấy Cửu Hoàng, Thất Chư, xin ngài gia hạn.
Thi Công thấy thế nổi giận, gọi tay chân lôi ra đánh mỗi người mười lăm gậy. Không cho phép phân trần, cứ đánh tiếp, đau đớn cầu xin cũng không tha, máu chảy đầm đìa. Đánh xong, họ kéo quần, run cầm cập, quỳ xuống thưa:
- Thưa ngài, cúi xin ngài chỉ rõ, thì chúng con đi bắt mới dễ dàng hơn.
Nghe thấy thế, không còn cách nào khác, Thi Công miễn cưỡng nói:
- Gia hạn cho các ngươi thêm ba ngày nữa, nếu không bắt được hung thủ, thì ta tử hình.
Hai người thấy thế thì run như cầy sấy, chỉ biết gật đầu lia lịa. Thi Công lại nói:
- Các ngươi không được lắm lời, hãy đi bắt chúng ngay.
Nghĩ tới hai người sai nha bị hình phạt, ông cảm thấy mình bất nhẫn, rồi rời công đường. Thương thay, hai người ấy vẫn còn cúi đầu kêu oan. - Ông lớn, xin ông thương cho sinh mệnh chúng con.
Nói xong, lại khấu đầu lia lịa. Những người còn lại trong công đường, thấy hai người như thế, ai cũng thương tình, nói:
- Thôi, đứng dậy! ông lớn đi rồi, còn cầu xin ai!
Hai người nghe thấy, ngẩng đầu lên, không thấy ông lớn đâu cả đành nén giận đứng dậy, đôi chân bị đánh trọng thương, bước đi khập khểnh. Những người xung quanh dìu họ ra khỏi công đường.
Thi Công trở về thư phòng ngồi. Ông nghĩ: "Giấc mơ đêm qua rất kỳ lạ: Cửu Hoàng và Thất Chư, ta cho đó là tên người, ta ra lệnh bắt. Quả là khó tìm ra thật, vì chẳng có chứng cứ gì. Hai lần phải đánh sai dịch tại công đường mà vẫn không tìm ra manh mối kẻ giết người. Ta bị bãi miễn quan chức chỉ là một việc nhỏ, song dân chúng khắp nơi sẽ oán giận, để lại tiếng xấu cho muôn đời". Suy đi nghĩ lại, đầu ông bỗng sáng lên, thấy người phấn chấn, rồi ông cho gọi Thi An lại nói:
- Ta cũng phải đi dò xét.
Thấy vậy, Thi An giật mình, nói:
- Thưa ngài, nếu ngài đi dò xét, tôi nghĩ rằng trước đây ngài đã đóng vai người già, tới nhà Hùng dò xét, may mà bên trong có người cứu, không thì đã nguy hiểm đến tính mạng. Còn nay ngài đi, người trong kẻ ngoài, ai mà chẳng nhận ra ngài
Thi Công nghe xong nói:
- Không phải nói nhiều, ngươi hãy đi lấy quần áo rách của ngươi lại đây cho ta:
Thi An không dám trái lệnh, đành phải về ngay phòng mình lấy quần áo rách đến cho ông lớn.
Thi Công mặc áo rách, mang theo mấy trăm lạng chi dùng. Từ khi tới nhiệm sở, Thi Công không có ai thân thích, chỉ sống với hai người trong bọn Thi An, mấy người trong nha môn và hai người đầu bếp. Thi Công bảo, cơm chiều xong, nhân lúc trời tối ra khỏi nha môn để tiện hành sự. Trước lúc đi Thi Công dặn dò Thi An trông nhà cửa cẩn thận. Thi An vâng lời, rồi len lén tiễn chủ ra, bảo người gác cổng rằng:
- Hôm nay ông lớn tự đi điều tra, đừng có nói bô bô lên. Hãy mau mở cửa ra.
Thi Công ra khỏi cửa rồi mất hút.
Đang đi thì thấy trong quán trà có một số khách ngồi dưới ánh đèn, Thi Công định bước vào, người hầu bàn thấy ông ăn mặc rách rưới, không giống khách uống trà, bèn nói những lời bất nhã. Nghe thấy thế, Thi Công không vui, nhưng sau nghĩ rằng: "Đã là người đi điều tra bí mật, thì chấp gì những lời nói đó? Cứ coi như mình không nghe thấy". Ông gọi:
- Anh hãy mang trà đến cho tôi, loại trà thơm ấy nhé. Đun nước nhanh lên. Bất kể là loại bánh điểm tâm nào cũng mang ra đây. Ăn xong ta sẽ thanh toán tiền.
Người hầu bàn thấy vậy không dám coi thường nữa, vội vàng mang ngay trà và các thứ điểm tâm ra.
Thi Công ngồi uống trà, lắng nghe những người bên cạnh nói chuyện. Trong đó có một người nói:
- Ngài quan huyện của các ông rất liêm chính. Từ khi tới nhậm chức, mọi việc đều giải quyết nhanh chóng, Vừa công minh, vừa thể tất nhân tình. Ông là đấng cứu tinh, là trời xanh lồng lộng.
Người ấy nói xong rồi bỏ đi. Thi Công nghe nói cũng chả góp vào câu gì, chỉ cúi xuống lấy tiền trả, rồi ra khỏi quán.
Đêm đến, trên đường thưa thớt bóng người, mây đen phút chốc phủ kín bầu trời, rồi gió ào ào thổi tới, trời lắc rắc mưa. Đang lúc lo lắng, mình mẩy lại đau nhừ, ông chợt nghĩ: "Sao ta không tới miếu Thành Hoàng trú mưa, nghỉ đêm tại đó?". Thế rồi ông lom khom rảo bước, chạy tới miếu. Xung quanh miếu chẳng thấy một ai, cửa miếu khóa chặt. Mưa mỗi lúc một nặng hạt, ông trầm ngâm nghĩ ngợi. Không còn cách nào khác, đành phải nghỉ bên ngoài. Đáng mừng hơn nữa, trời đã quang mây, mưa ngớt dần, rồi tạnh hẳn. Một vầng trăng tròn vành vạnh đã nhô lên. Đường lầy lội khó đi. Trống lầu đã điểm canh ba, đêm lạnh lẽo, người Thi Công bắt đầu ngấm lạnh. Hiền thần vì dân, nên ông không hề hối hận, chỉ biết rằng làm quan phải trừ kẻ hại dân. Như thế mới gọi là thờ vua phải gắng hết sức mình, vui vẻ mà không kêu ca. Chỉ khổ một nỗi, tính mạng nhà họ Hồ, làm thế nào tìm ra thủ phạm, làm thế nào để giải quyết vụ án này.
Đang mãi suy nghĩ Thi Công nghe thấy trống điểm canh năm, trời dần dần sáng rõ. Một đêm qua đi, trời đã sáng, thấp thoáng có bóng người qua lại. Thi Công vội vàng trở dậy, rời khỏi miếu Thành Hoàng, lủi thủi đi vào phố. Đội chiếc mũ sụp xuống tận mắt, nếu gặp người quen thì cúi đầu đi qua. Để tâm, dò xét bọn thổ hào ác bá, và bọn tội phạm giết người. Khoảng vào giờ Tỵ, bụng đói mềm. Thấy một quán cơm, ông vội vã bước tới Chủ quán thấy Thi Công mặt mũi đen sạm, quần áo rách rưới quát to:
- Gã kia, không được vào đây.
Thi Công nghe thấy tiếng quát, đứng sững lại mỉm cười, rồi bảo:
- Ông chủ! Đừng nói những lời độc địa như thế. Tôi là khách chiếu cố đến cửa hàng của ông, chứ có phải đến xin ông đâu? Bây giờ tôi sẽ trả tiền trước, rồi sau mới ăn cơm, ông thấy thế nào?
Nói xong, ông rút tiền ra, đặt lên quầy. Thế rồi họ bưng thức ăn ra. Thi Công vừa ăn vừa ngán ngẩm. Đúng là thói đời đen bạc. Nhìn ra ngoài thì thấy một người đàn bà trung tuổi đến trước cửa hàng, vừa khóc vừa kêu gào. Người ấy trạc hơn ba mươi, đầu tóc rối bù, mặt mày tím tái, tay ôm con nhỏ, hai hàng nước mắt đầm đìa, miệng kể lể: "Nhà con thật vô cùng oán hận. Nỗi oan này làm con chết mất! Định đi báo quan, nhưng quan huyện lại ốm, nha môn ngăn lại không cho vào. Nỗi oan khuất của con bao giờ mới được minh oan? Nghe nói ngài quan huyện trong sạch như nước, ngờ đâu ngài lại không mở cửa công đường. Chẳng biết ngài ốm thật hay ốm giả. Nếu như ốm giả mà trốn việc, thì ngài đã phụ ơn vua, không giải quyết đơn từ của dân, uổng công làm cha mẹ dân! Sáng mai tôi lại tới công đường đánh trống kêu oan. Nếu như không nhận giải quyết đơn kiện của tôi, thì tôi dập đầu mà chết quách đi cho rồi". Nói xong, người ấy vừa chửi vừa khóc. Mọi người xúm lại xem, Thi Công thấy thế thầm nghĩ: "Thật không sao hiểu nổi! Một người đàn bà dám chửi quan. Song không biết vì sao! Ta hãy ra khỏi cửa, theo bà để hỏi dò xem sao".
Hai người đi dò xét, không có cách nào tìm ra Cửu Hoàng và Thất Chư, đành về nhà ngồi uống rượu, rồi lại bàn nhau việc dò tìm Cửu Hoàng và Thất Chư. Tử Nhân nói:
- Anh Anh ạ, hãy quên kỳ hạn đi, chúng ta cứ nghĩ đêm nay đã, ngày mai giả làm ăn mày, tới vùng Quan Ngoại trong thành ngày đêm tuần tra dò xét. Chúng ta chẳng sợ khó khăn, chỉ sợ mình không chuyên tâm mà thôi.
Thấy Tử Nhân nói vậy, Công Nhiên gật đầu nói:
- Đã làm việc công, chúng ta phải hết sức cố gắng.
Hai người ăn uống xong rồi nghỉ một đêm. Sáng hôm sau dậy, họ vội vã cải trang, rồi ra khỏi nhà dò tìm tung tích Cửu Hoàng và Thất Chư. Tử Nhân nói:
- Hôm nay là rằm tháng Bảy, năm ngoái rất nhiều chùa thờ Quan âm ở Quan Ngoại thuộc huyện Giang Đô mở hội. Bây giờ chưa truy tìm hung thủ, thì sao chúng ta không đến chùa Hoa Liên ở Quan Ngoại xem một chút.
- Thì đi! Anh Công Nhiên đáp.
Hai người cùng đến chùa. Tới nơi, chùa vắng ngắt, chẳng thấy hội hè đâu. Hai người đứng một lúc, thấy hai chú tiểu từ cửa ngách bước ra. Nhìn kỹ thì chú lớn trạc mười lăm, mười sáu tuổi chú bé trạc mười một mười hai. Các chú môi đỏ chót, răng trắng bóng như những cô bé gái. Người cầm chổi, kẻ cầm hốt rác, cười khúc khích đi ra. Hai sai nha trông thấy, vội nhường đường.
Hai chú tiểu ngẩng lên, thấy họ ăn mặc rách rưới, cúi đầu phàn nàn rằng:
- Hai người tới đây không gặp may rồi! Bằng giờ năm ngoái chùa chúng tôi mở hội Vu Lan, hai anh nghèo khổ có muốn ăn chút cơm chay thì cũng dễ thôi. Nhưng năm nay thì không thể được. Chùa chúng tôi có mấy người mới tới, hình như có tang nên không mở hội.
- Các anh đã tới đây, - chú tiểu lớn nói, - cũng không đến nỗi về không. Nếu chịu khó quét giúp chúng em, thì chúng em sẽ cho các anh ăn cơm.
Hai người sai nha nghe thấy thế, một người cầm chổi, một người cầm hốt rác, vừa quét vừa trò chuyện với hai chú tiểu. Họ hỏi:
- Hai vị sư nhỏ ơi! Bao giờ thì được làm hòa thượng? Sư phụ của các chú tên gì?
- Chúng tôi vốn con nhà tử tế. - Hai chú nói. - Vì lúc nhỏ ốm đau, không làm gì được, đành phải làm hòa thượng, suốt từ sáng đến chiều chỉ có thắp hương, quét dọn chùa, rồi tụng kinh. Sư phụ chúng tôi rất ghê, pháp danh của ông là "Cửu Hoàng Tăng Nhân". Chú tiểu nhỏ nói rất vô tình, hai sai nha nghe thấy, bỗng giật thót mình. Anh Công Nhiên nháy nháy mắt ra hiệu: "Cửu Hoàng" đây rồi!
Sau đó thấy có người gánh thức ăn đi vào chùa, trong đó có cả gà, vịt, cá, thịt. Công Nhiên nhìn thấy, muốn dò la tình hình mới la lên:
- Hai vị sư phụ nhỏ, tôi mạnh dạn hỏi hai vị nhé, theo như tôi nghĩ đây là đất không sát sinh, không biết vì sao lại dùng những thứ này. Nếu không mở hội, thì có lẽ mời khách chăng?
Thấy hỏi, chú tiểu nhỏ nhìn chú tiểu lớn, rồi vội nói chen vào. Chú tiểu nhỏ khoảng mười hai tuổi, đã biết gì về hay dở, nhanh mồm nói:
- Tôi nói cho các anh biết, các anh chớ có nói với ai nhé! Sư chùa chúng tôi rất là ghê, có thể sử dụng đao, có thể bay lên mái hiên, vượt qua tường, kết giao với những anh hùng trong thiên hạ, và những tay hảo hán giang hồ. Hôm nay mời khách, cho nên mua thịt gà. Còn một điều nữa, chùa chúng tôi thiếu một người nấu ăn, nếu hai anh muốn làm thì tốt quá.
Hai sai nha nghe thấy nó nói đúng ý mình. Tử Nhân cười hỏi:
- Chắc rằng sư phụ các ngươi đang ở nhà, hai vị thử vào gặp xem sao, nếu quả thật dùng chúng tôi thì chúng tôi vô cùng biết ơn.
Thấy thế chú tiểu hạ thấp giọng nói:
- Sáng hôm nay sư phụ chúng tôi vào thành, còn ở am ni cô trong thành chưa về chùa. Rằm tháng Bảy mở hội, mời khách tới diễn kịch. Đêm nay ở đấy còn đốt cây bông. Ni cô là em nuôi sư phụ chúng tôi, trạc hơn hai mươi tuổi, rất xinh đẹp. Sư phụ chúng tôi còn mua miếu cho ni cô, dạy ni cô võ nghệ, cưỡi ngựa, sử dụng đao, cái gì ni cô cũng giỏi. Pháp danh của ni cô là Thất Chư Cô Cô, xa gần ai ai cũng biết.
Chú tiểu lớn bên cạnh, quát mắng:
- Đồ con lừa, đừng có nói linh tinh, hôm trước sư phụ đánh cho một trận nhừ đòn không nhớ à, nay lại nói bậy rồi. Sư phụ biết được thì ốm xương.
Đang nói chuyện, thì thấy một người từ trong đi ra, người cao to, bộ mặt gớm guốc dữ tợn. Ông ta gọi toáng lên:
- Tiểu lớn! Các anh đàng sau đang gọi!

Chú tiểu lớn dạ ran, rồi chạy ngay vào trong chùa.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Thu Apr 03, 2014 1:05 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 6 (B)
Thấy trời đã muộn, Công Nhiên bảo Tử Nhân tìm chỗ nào ăn cơm, nay đã biết được tin thực rồi, hãy về nha môn ngay. Tử Nhân đáp:
- Chúng ta đi về thôi, về thành bẩm báo với ông lớn, kết thúc nhanh vụ án này. Đây cũng là công lao lớn của chúng ta.
Nói xong, lòng họ tràn đầy vui sướng ra về.
 
Thi Công từ cửa hàng ăn đi ra, đi theo người đàn bà, dò la về nguyên nhân bà đi kiện. Song thật uổng công, chẳng biết được gì thêm. Thấy trời còn sớm, về nha môn không tiện, ông nghĩ: "Sao ta không vào thành dò la xem sao, khi nào trời tối mới về nha môn...". Thế rồi ông rảo bước vào thành, thì gặp hai viên sai nha hớn hở đi tới. Từ xa Thi Công đã nhìn thấy hai người giả ăn mày, tự nhiên ông thấy thương họ: "Thôi hãy tránh vào một chỗ cho họ đi qua". Không ngờ hai người cũng đã nhìn thấy ông, bám theo ngay. Thi Công vào miếu, hai người cũng theo gót bước vào. Thi Công ngồi trên thềm, thấy không có ai, hai người vội bước tới, quỳ xuống nói:
- Bẩm ông lớn, bọn chúng con vâng lệnh ông, đã dò tìm được Cửu Hoàng và Thất Chư, hiện chúng đang ở chùa Liên Hoa. Chúng con còn dò biết Thất Chư là em nuôi của Cửu Hoàng, người Tô Châu. Trước đây họ gian dâm với nhau, rồi đưa nhau tới đây.
Nghe thấy thế, Thi Công đang buồn bỗng vui hẳn lên. Rồi ông hỏi:
- Vì sao lại gọi là Cửu Hoàng và Thất Chư?
Hai người nói: - Hai đồ đệ của họ đã nói với chúng con, vì sau lưng sư phụ có chín mụn cơm bằng hạt đậu nên gọi là Cửu Hoàng. Còn trước ngực ni cô có bảy nốt ruồi đen, nên gọi là Thất Chư. Trong miếu còn có mười hai tên đầu gấu, hắn làm bất kể việc gì.
Nghe xong Thi Công trầm ngâm một hồi lâu rồi nói:
- Trời đã muộn, hai người theo ta vào thành. Tối nay các người đến đường Chữ Thập theo dõi hành tung của tên ác tăng và ni cô dâm đãng ấy.
Nói xong đứng dậy. Hai người theo ông vào thành. Họ thấy đám đông bàn tán ồn ào. Có người nói:
- Quan huyện này tốt hơn quan huyện trước.
- Đừng có nhẹ dạ mà tin bọn nha dịch. - Có người nói thế.
- Tự mình đi dò la, thì ông quả là con người yêu thương dân.
Có người nói:
- Quan huyện thật là một người thanh liêm.
Trong đó có một người kêu lên:
- Các ông có im mồm hay không, đừng có nói càn. Cẩn thận không quan huyện nghe thấy thì no đòn.
Vì vụ án chưa xét xử được, Thi Công trà trộn trong đám đông nghe ngóng người dân bàn tán. Ngẩng đầu lên Thi Công thấy ánh đèn, người ồn ào chen lấn, nói:
- Đến rồi! Đến rồi!
Thi Công đang đứng trong đám đông, thấy một lễ đài - đài dựng đối diện với cửa am Quan âm - đài kết hoa bằng các tấm the màu, đèn lồng treo la liệt. Chính diện dựng một chiếc bục, một hòa thượng đang ngồi chễm chệ, mắt to, lông mày rậm, đầu đội mũ Phật, mình mặc áo hồng, mồm đọc kinh, tay bắt quyết. Những sư khác ngồi hai bên, nhìn kỹ thì không phải chỉ có sư nam, mà có cả sư nữ, họ ngồi bên đọc họa theo. Tuổi họ đều trạc trên dưới ba mươi. Vào tiết rằm tháng Bảy, trời vẫn oi bức nên người nào cũng đầu trần, mặc áo choàng qua vai, tuy nói là đọc theo, song trong đó có một người vẫn mặt mày hớn hở, liếc mắt đưa tình với gã sư dữ tợn. Cô ta cứ nghiêng nghiêng ngó ngó liếc ngang liếc dọc, Thi Công quay lại nhìn xuống dưới lễ đài. Ở chính giữa đặt một chiếc bàn cao, hai bên là hai chiếc ghế dài, mỗi bên có chín ni cô, cả thảy mười tám người đều mặc áo cà sa, đầu trần, đánh chuông gõ mõ. Họ đều trạc trên dưới hai mươi tuổi, cô nào cũng có vẻ lả lướt, lẳng lơ. Tuy không son phấn, nhưng đều răng trắng má hồng, trông tựa đào hoa. Họ đánh chuông gõ mõ, mồm niệm Phật, nhưng lại cứ nhìn trước ngó sau, mặt tươi như hoa sen chớm nở, chẳng có chút dáng dấp một người tu hành.
Thi Công xem xong, lặng lẽ gật đầu. Như thế chẳng trách nào chúng làm loạn Giang Đô. Vị ngồi chính giữa chính là Cửu Hoàng, còn trong đám ni cô không biết ai là Thất Chư. Nhìn kỹ người ngồi đầu bàn là một sư nữ trông rất lẳng lơ và là người xinh đẹp nhất, cô ta cũng đánh chuông gõ trống. Xem xong, Thi Công nói thầm: "Chẳng trách khiến lòng sư rối loạn!". Nghe xong ba hồi chuông trống, đã vào lúc canh hai, của bố thí cũng phát hết, dân chúng tản mát ra về. Thi Công nói với hai nha lệ:
- Duyên do Cửu Hoàng Thất Chư ta đã hiểu hết rồi. Ngày mai các anh không phải đến nha môn nữa, hãy trở lại chùa Liên Hoa, phải hết sức cẩn thận, dụ dỗ hai chú tiểu, hỏi cặn kẻ tình hình, và gốc gác họ tên của mười hai tên đạo tặc, rồi về nha môn báo lại, để ta định ra kế hoạch bắt chúng.
Hai người vâng lệnh, còn Thi Công nhân lúc đêm tối trở về nha môn.
Thi An đón Thi Công vào phòng, tắm rửa, thay quần áo. Cơm nước xong ông lên giường ngủ một mạch tới sáng hôm sau. Khi trở dậy rửa mặt, thay quần áo xong, ông bèn sai người đánh trống mở công đường. Thi Công ngồi oai vệ ở giữa, nha lệ đứng xếp hàng hai bên. Rồi với tay lấy hai tờ lệnh, gọi Vương Nhân và Từ Mậu. Hai người dạ ran, tiến đến trước mặt quỳ xuống. Thi Công nói:
- Ngươi hãy đến am Quan âm tại đường Chữ Thập mời ni cô Thất Chư, và đến chùa Liên Hoa ở ngoại thành mời Cửu Hoàng tới đây cho ta. Bản huyện muốn mời họ lập đàn cầu phúc.
Hai người vâng lệnh rời khỏi công đường.
Sau đó Thi Công lại quay xuống dưới bảo: đi mời Chấn Thủ phủ, và cử một số sai nhân chuẩn bị sẵn sàng.
Vương Nhân và Từ Mậu đi mời Cửu Hoàng và Thất Chư. Hai người cùng đi một đường, nên vừa đi vừa nói chuyện về quan huyện, thoáng một cái đã đến am Quan âm. Một người vào am. Thất Chư là một ni cô dâm đãng, đang trong am say sưa nghĩ tới cuộc làm tình mê đắm với hòa thượng Cửu Hoàng, bỗng nghe thấy tiếng chân bước, giật mình nghĩ: "Không biết ai thế? Chắc là thí chủ đến dâng hương". Thế rồi ni cô lên tiếng gọi: - Tiểu ni cô.
Nghe thấy tiếng thưa, rồi tiểu ni cô bước vào, tươi cười nói:
- Thưa sư phụ, có việc gì cần sai bảo tiểu đệ!
Thấy ni cô hỏi, dâm ni cô nói:
- Ngươi hãy mau ra ngoài, xem có ai đến!
Tiểu ni cô vâng lời, vội chạy ra xem, thấy hai người đi tới, bèn hỏi:
- Hai ông từ đâu tới? Đây là nơi ở của sư nữ, sao các ông cứ sồng sộc vào như thế!
Hai nha sai thấy thế nói:
- Chúng tôi từ huyện đường tới. Ngươi hãy vào nói với sư thầy chúng tôi vâng lệnh quan huyện đến mời Thất Chư Cô Cô tới ngay nha môn lập đàn tràng cầu phúc.
Ni cô nhỏ nghe thấy thế, nói:
- A! Hóa ra các ông là sai nha. Xin các ông chờ một chút, tôi sẽ vào báo với sư thầy, rồi sẽ trở lại thưa với các ông sau.
Nói xong tiểu ni cô quay vào phòng , nói lại với Thất Chư. Nghe xong Thất Chư thấy khó hiểu, nói:
- Quan huyện mời ta hành lễ ư?
Rồi ni cô Thất Chư nghĩ: "Thi Công hoàn toàn không quan hệ với ta. Gần đây nghe thấy những chủ trại đã gây ra nhiều án mạng, ông ta đã biết rồi chăng? Nếu không đi thì với danh nghĩa là quan huyện, ông ấy sẽ trị cho. Nếu đi e rằng bất lợi". Ngẫm nghĩ một lát, Thất Chư chợt nghĩ ra một kế, thầm nghĩ: "Được rồi! Sao ta không lôi kéo dụ dỗ ông ta", rồi bảo ni cô nhỏ :
- Ngươi hãy ra mời họ vào đây gặp ta.
Tiểu ni cô nghe theo, ra mời hai vị sai nha vào phòng.
Thất Chư liếc mắt nhìn, hai sai nha áo mũ nai nịt, gậy gộc lỉnh kỉnh, tướng mạo như cú vọ. Thất Chư ngán ngẩm đành phải hỏi:
- Quan sai các ông tới đây có việc gì?
Ni cô dâng trà. Hai người nhìn thấy bủn rủn cả chân tay, hồn vía lên mây, dục vọng khó kìm. Ai ai cũng đồn rằng Thất Chư tuyệt đẹp, nay nhìn thấy mới biết lời đồn quả không ngoa. Dâm ni cô hỏi họ tên hai người quan sai nha. Hai người nói:
- Chúng tôi vâng lệnh quan huyện tới đây mời sư thầy tới nha môn, thiết lập đàn tràng cầu mong phúc lành. Quan huyện phải mời bằng được sư thầy cùng đi với chúng tôi tới huyện đường là tốt nhất.
Nói xong nghẹo đầu nghẹo cổ tỏ vẻ lo lắng, nhưng lại cứ dán mắt nhìn ni cô. Thất Chư thấy vậy chửi thầm hai sai nha: "Đồ mặt dày đáng ghét, nếu không có phép vua thì lập tức đầu các ngươi sẽ rơi xuống đất. Không biết hôm nay Thi Công cho người tới mời là việc lành hay việc dữ, điều ấy khó mà đoán được. Ta nghĩ rằng, sinh mạng trong thành bị chết rất nhiều, hay ông đã đánh hơi thấy, chẳng sao mà biết được nữa. Nếu ông chưa biết được động tĩnh mà không đi thì càng bất lợi...". Trầm ngâm hồi lâu, Thất Chư quyết: "Nghĩ tới làm gì, thôi thì ta cứ tới xem sao. Dù có biển động thì bên ngoài đã có anh Cửu Hoàng và các chủ trại, hơn nữa, mình lại có thuật bay lên mái hiên, nhảy qua tường, lên ngựa múa đao thì sợ gì! Tức khí ta lên ngựa tới ngay Giang Đô, ra tay để chúng kinh hoàng. Gặp thì gặp, ngại gì". Nghĩ xong ni cô giả vờ tươi cười, nói:
- Thưa hai ông, có phải chỉ mời mình tôi hay còn mời ai khác tới huyện.
Từ Mậu nói:
- Có mời cả sư phụ Cửu Hoàng ở chùa Liên Hoa Cửa Bắc. Đi thôi quan huyện đang chờ chúng ta.
Thất Chư cười nói:
- Quan sai hãy nán lại một chút, chờ tôi thay quần áo cùng đi. Hai sai nghe thấy ni cô nói là cùng đi, họ rất mừng. Thất Chư thay quần áo mới trở ra. Hai sai nha thấy từ ni cô thoang thoảng tỏa ra mùi hương hoa lan. Họ nhìn kỹ, thấy ni cô thật đáng yêu, một lời không sao lột tả hết, khiến lòng họ cứ rạo rực, khó mà kìm nén nổi, và cảm thấy thèm khát vô cùng. Họ nói:
- Đi mau lên!
Thất Chư ra khỏi phòng, bảo tiểu ni cô đóng cửa. Tiểu ni cô nói:
- Con ra đây ạ!
Ni cô đi trước, hai sai nha theo sau, cùng ra khỏi am.
Từ Mậu cùng với Thất Chư trở về nha môn, bảo Vương Nhân ra khỏi thành đi mời hòa thượng Cửu Hoàng. Vương Nhân nhận lời đi ngay, không dám chần chừ. Ra khỏi cửa Bắc, chẳng còn lòng dạ nào nhìn quang cảnh quanh chùa, vội đi vào cửa ngách. Đang đi thì thấy Công Nhiên và Tử Nhân, Vương Nhân chợt giật mình. Hai người này đóng giả ăn mày đang quét dọn sân sau chùa. Vương Nhân buồn rầu định tới nói chuyện. Thấy Công Nhiên xua xua tay, Tử Nhân lắc đầu đau mắt. Họ sợ có người nhìn thấy, biết được cơ mưu, làm lộ tin tức. Vương Nhân nhanh trí gật đầu đi ra ngoài: Rất mừng là trong chùa không có ai nhìn thấy. Ba người lần lượt ra khỏi chùa, tới chỗ vắng, họ thuật cho nhau nghe về công việc của mình. Vương Nhân nói:
- Tôi được lệnh tới đây mời Cửu Hoàng về huyện đường.
Nghe thấy thế Công Nhiên và Tử Nhân giật thót mình, nói:
- Em hãy về ngay, mời Cửu Hoàng hoàn toàn không được đâu.
- Xin mong hai anh chỉ bảo. - Vương Nhân nói. - Em phải làm cách nào mới mời được Cửu Hoàng?
- Em ạ! - Công Nhiên nói. - Tên ác tăng này rất nguy hiểm, một đao hai gậy có thể đi trên không, vượt qua lầu gác như đi dưới đất bằng. Hiện ở đây đang tụ tập rất nhiều bọn cường đạo, đứa nào cũng võ nghệ cao cường, địch nổi hàng vạn người.
Nghe Công Nhiên nói, Vương Nhân cười nói:
- Anh không nên dọa tôi! Tôi đi lại cửa Lục Phiến, nếu không có bản lĩnh thì tôi làm sao dám xin vào làm việc ở cửa quan? Nay điều cốt yếu là phải mời cho bằng được hòa thượng Cửu Hoàng. - Rồi anh nói tiếp. - Chỉ có như thế thì mới gọi hắn đi được, xin hai anh cứ yên tâm.
Nói xong Trương và Anh đứng dậy vào chùa trước, lát sau Vương Nhân mạnh dạn bước vào chùa, gọi to:
- Chùa có ai không?
Thấy có một gã sư bước ra hỏi Vương Nhân:
- Ông từ đâu tới đây? Tới đây có việc gì? Hình như ông là sai nha của huyện phải không? - Gã sư ấy cười nói. - Xin mời ông vào phòng uống nước.
Vương Nhân theo sư vào chùa. Để họ mời trà xong, Vương Nhân nói:
- Nếu không có việc, thì tôi cũng chẳng tới đây làm gì. Tôi được lệnh của quan huyện, mời sư phụ Cửu Hoàng đến huyện lập đàn cầu phúc.
Sư nghe xong, cười nói:
- Xin ông ngồi chờ một chút, tôi vào thưa với hòa thượng trụ trì, rồi sẽ ra thưa lại với ông.
Nói xong người sư ấy đi vào, đến một phòng bí mật. Hòa thượng Cửu Hoàng đang chén chú chén anh với mười hai tên cướp, bỗng ngẩng đầu hỏi chú tiểu:
- Sao không ở ngoài canh cửa? Mày vào đây làm gì?
Chú tiểu nói lại lời Vương Nhân với Cửu Hoàng. Cửu Hoàng có phần bực bội, không vui nói:
- Mày bảo với nó là lát nữa ta ra gặp.
Chú tiểu vâng lời, ra khỏi phòng bí mật, gặp Vương Nhân nói:
- Sư phụ tôi sắp ra đấy.
Gã ác tăng nghe sai nha tới mời mình, nhìn bọn cướp nói:
- Các vị trại chủ, theo tôi nghĩ, Thi Bất Toàn sai người tới mời không biết là có ý tốt hay ý xấu. Chúng ta phải bàn xem, thì mới bảo toàn vô sự. Hơn nữa, nghe nói, lão ta có nhiều mưu ma chước quỷ, là con cáo lừa dối. Sợ rằng tới công đường sẽ bất lợi.
Thấy hỏi thế, bọn cướp nói:
- Tuy là những việc các ông làm rất ghê, song chúng tôi cho rằng có to gan đến mấy, chúng cũng không dám đụng tới ông. Bọn quan viên văn võ ở Giang Đô có gì đáng sợ. Nếu dứt dây động rừng, chiến mã tung ra sẽ làm cỏ cả Giang Đô này. Xin ông cứ đi gặp, ngại gì. Tùy cơ ứng biến, xúc cảnh sinh tình. Nếu lập đàn tràng thì ông cứ đọc kinh niệm Phật, chúng tôi sẽ đi lại bên ngoài nghe ngóng, hẹn trước với nhau thì còn sợ kẻ nào nữa? Hơn nữa ông anh có thuật bay lên hiên, vượt qua tường. Nếu có gì bất trắc, bọn em ở đây, tất cả sẽ ào đến, giết quan cướp kho, chém hết bọn chúng, thành này sẽ ra nước. Xong đâu đấy, chúng ta sẽ lên núi cao, quân quan làm gì nổi ta!
Tên ác tăng nghe thế rất mừng, nói:
- Các anh nói có lý. Các anh cứ ở đây, tôi đi trước xem thế nào. Nếu như chúng biết điều, cung kính thì ta sẽ nhận lời còn như kiêu căng ta đây là nha lệ, thì chúng sẽ biết tay ta.
Nói xong tên ác tăng đứng dậy, lảo đảo bước ra, quát tháo:
- Đứa nào mời ta đi cúng Phật? Ông Cửu này không cần tiền.
Thấy Cửu Hoàng hung ác, Vương Nhân nghĩ bụng: "Đúng như hai người nói, ta phải thận trọng mới được".
Vương Nhân thấy thế hỏi chú tiểu:
- Đây là sư trụ trì của chú ư?
- Vâng! - Chú tiểu đáp.
Vương Nhân thấy bực, vội tới chỗ ác tăng. Cửu Hoàng mắt lim dim, mùi rượu sặc sụa. Vương Nhân nhanh trí đến bên Cửu Hoàng vui vẻ hỏi:
- Xin kính chào đại sư phụ! Đại sư phụ có khỏe không?
Tuy uống nhiều rượu, nhưng Cửu Hoàng vẫn tỉnh táo, thấy sai nha chào mình, hắn mở mắt ra, đáp:
- Khỏe, còn ngươi thế nào?
Vương Nhân chửi thầm: "Một thằng côn đồ giở thói lưu manh. Thật đáng ghét". - Rồi lại nghĩ.- "Phải kìm nén, vì mình đến cầu nó, không được tỏ ra tức giận". Đành đáp:
- Con đâu xứng đáng được ngài hỏi thăm.
Gã ác tăng liếc mắt nhìn, nói:
- Anh là sai nha của huyện ư?
- Vâng ạ - Vương Nhân đáp. - Con được ngài quan huyện sai đến mời ngài tới huyện lập đàn tràng cầu phúc. Cho nên con mới dám tới làm phiền quý chùa.
Nghe nói thế, gã ác tăng không vui, nói:
- Anh bạn, anh ghê thật? Anh coi thường ta quá. Ta thiếu gì tiền, cần gì đến tiền đi cúng. Hãy về nói với ông lớn của anh, ta không đi.
Thấy thế Vương Nhân lo lắng. Làm thế nào bây giờ, thôi thì cứ chịu nhún với hắn xem sao. Bỗng ác tăng cười nhạt nói:
- Vô lý! Trong huyện Giang Đô, ngoài ông Cửu Hoàng này ra, lẽ nào hòa thượng chết hết cả rồi? Không phải ông Cửu Hoàng nói khoác, ngay đến ông trời mời, ta cũng không đi, huống hồ là Thi Bất Toàn, ông ta chỉ là một người thường thôi.
Nghe thấy thế Vương Nhân vội nhún mình cười nói:
- Ông lớn! Đừng nổi nóng! Ông lớn không đi thì con chết. Con về biết nói thế nào với quan huyện con. Nếu quan lớn không thương con thì con về quan huyện sẽ đánh chết tươi! Ông lớn là đệ tử của Phật, chỗ nào mà ông lớn không mở rộng từ bi, đó chẳng phải ông lớn làm điều thiện ư? Ông lớn hãy thương cho thân phận sai nha khổ sở này. Con cắn rơm, cắn cỏ van xin ông hãy cứu con. Xin ông lớn hãy lên xe Phật tới huyện thì con mới sống được.
Gã ác tăng ngồi trên ghế, đang giận dữ, nghe thấy sai nha một điều ông lớn, hai điều ông lớn, nói những lời xu nịnh, gã ác tăng thấy thế mỉm cười, chửi:
- Thằng bẻm mép, mày nói khiến ta không còn cách nào khác. Được rồi! Nếu ông lớn không thương mày, thì mày khổ.
Thấy ác tăng nhận lời, Vương Nhân nói:
- Thật là một đấng cứu tinh, xin đa tạ ông lớn, xin ông lớn lên xe tới huyện. Con có người đồng sự cũng đến am Quan âm mời vị ni cô Thất Chư tới huyện, cùng lập đàn tràng, họ đã đi rồi. Ta hãy đuổi theo, rồi cùng đến huyện, quan huyện thấy tới cùng một lúc chắc là rất vui.
Gã ác tăng nghe nói cả ni cô Thất Chư cũng tới huyện thì mừng ra mặt, hắn nghĩ thầm: "Cứ ngỡ là họ chỉ mời mình ta, ai ngời lại mời cả em Thất Chư. Nếu biết trước thì ta đã nhận lời từ lâu rồi. Ta cứ mạnh dạn đi ngại gì! Nếu Thi Bất Toàn không có ác ý, thành tâm mời ta, thì mọi chuyện sẽ bình yên vô sự. Thế rồi hắn nói:
- Anh hãy đợi ta một chút.
Gã ác tăng đi vào trong. Bọn cướp hớn hổ đón tiếp, hỏi rõ nguyên do, rồi lại chúc luôn. Sau đó hắn vào phòng thay quần áo đẹp, bí mật giắt theo binh khí phòng thân, từ biệt bọn cướp rồi bước ra, gọi: - Sai nha! Ta đi thôi.
Vương Nhân dạ ran, rồi cùng gã ác tăng ra khỏi chùa.
 
Thi Công đang lặng lẽ tính kế bắt Cửu Hoàng và Thất Chư thì sai nhân bước vào quỳ xuống nói:
- Ngài Thủ phủ Trấn của thành này đã đi ngựa tới. Xin lệnh của ngài.
Thi Công thấy thế xua tay nói:
- Biết rồi.
Thi Công vội đứng dậy ra sảnh đường đón tiếp. Hai ông tay cầm tay, nói tiếng Mãn Châu. Thi Công hỏi Thủ phủ Trấn:
- Ông anh có khỏe không?
- Cám ơn ngài, tôi vẫn khỏe. - Trấn Công trả lời.
Thấy sảnh đường đông người không tiện bàn bạc, Thi Công nói:
- Các ngươi không cần phải đi đâu, ta tiếp chuyện ngài Trấn rồi sẽ quay lại làm việc.
Tất cả mọi người đều vâng lệnh. Thi Công và Thủ Phủ vào nhà trong. Sau khi mời trà, Thi Công thấy xung quanh không có ai, nói:
- Hôm nay có ý mời ngài tới đây, phiền ngài hết sức giúp đỡ. Chỉ vì hiện nay những vụ án giết người do tên ác tăng và con ni cô dâm đãng cùng với bọn cướp gây ra chưa kết thúc. Hiện đã sai người mời Cửu Hoàng và Thất Chư tới huyện đường với lý do là đến lập đàn tràng cầu phúc, để lừa chúng tới huyện. Ngoài việc đó ra, hoàn toàn mong ngài giúp đỡ, thì đại sự mới xong được.
Thủ phủ Trấn đáp:
- Đương nhiên chúng ta phải hợp lực với nhau để bắt bọn chúng. Tôi xin cáo từ về nha môn, bí mật chuẩn bị điều khiển binh mã.
Thi Công tiễn Thủ phủ Trấn rồi trở về công đường. Ngồi trước án thư, ngẩng đầu thấy kẻ la người kéo. Người bị kéo mặt xám ngoét, áo rách toạc, cả hai đều quần nâu áo vải, dáng vẻ bình thường, trạc trên dưới bốn mươi, đến công đường, họ cùng quỳ xuống kêu van ầm ĩ.
Thi Công quát:
- Các người không hiểu gì cả, đến công đường kiện cáo, vì sau còn kêu toán lên. Hãy thong thả nói ta nghe, nếu còn làm ầm lên ta phạt ngay lập tức.
Hai người thấy thế không đám kêu to. Người này nói:
- Thưa ông lớn, con là Chu Hữu Tín, ông tổ con sống ở Giang Đô. Học hành từ nhỏ, cũng biết thế nào là lễ nghĩa. Hiện con đang buôn bán để kiếm sống. Vì con đến bến đò cất hàng, đi qua hiệu tiền đổi chín lạng tám bạc, tất cả có bốn thỏi. Chủ hàng đang cân, thì con thấy cậu con đi qua, vội vả bỏ bạc đấy đi đón cậu. Gặp cậu xong trở lại cửa hàng, thì anh ta đã giấu bạc của con đi rồi cãi xóa. Bởi thế con cáo giác, mong ngài soi xét.
Nói xong cúi rập đầu xuống đất. Thi Công hỏi người kia:
- Ngươi có mở hiệu tiền không?
Thấy hỏi, người kia khấu đầu thưa:
- Con là Lưu Danh Vĩnh, vốn người Từ Châu, chuyển gia đình tới Giang Đô mở cửa hiệu tiền để sinh sống. Đã hơn mười năm nay con chưa lường gạt bất cứ ai. Con chưa thấy mặt mũi đồng bạc của Chu Hữu Tín thế nào, thế mà hắn đổ oan cho con, rồi xé rách áo con. Người bên cạnh khuyên, hắn chửi bới ầm ĩ, rồi đòi con bốn thỏi bạc, cả thảy là chín lạng tám. Con không hề biết anh ta ở đâu. Vậy xin cầu mong ngài giải quyết công bằng. Nếu không cho dân làm chủ, thì e rằng hắn sẽ giở thói điêu oa mãi.
Lưu Vĩnh nói xong, hai hàng nước mắt oan khuất rơi lã chã. Thi Công nghe xong, trầm ngâm hồi lâu, nghĩ "Dân Giang Đô giỏi điêu oa lừa đảo. Việc này không có chứng cớ, thì xét xử rõ ràng sao được". Ông suy đi tính lại, mới nghĩ ra một kế, rồi mỉm cười gọi:
- Chu Hữu Tín! Ta hỏi ngươi. Trên đời này, đồng tiền liền khúc ruột, ngươi không cẩn thận để mất bạc, trước hết ngươi có tội, ngươi còn cáo giác gì nữa?
Người ấy tức quá gào lên. Thi Công ra vẻ giận dữ quát:
- Hãy lui xuống, lát nữa hỏi tiếp.
Chu Hữu Tín vâng dạ rồi lui xuống. Thi Công gọi:
- Lưu Vĩnh ta hỏi ngươi, quả thực ngươi không trông thấy bạc của anh ta ư?
Thực tình con không trông thấy bạc của Chu Hữu Tín. - Lưu Vĩnh nói. - Nếu như lương tâm con mờ ám thì cho trời chu đất diệt.
- Ngươi không trông thấy tiền thì thôi. : Thi Công gọi. - Nay ta bảo ngươi, nếu ngươi không nghe, ta sẽ xử tội nặng. - Rồi Thi Công lại nói. - Ngươi hãy lại đây nghe ta nói.
Lưu Vĩnh đứng dậy đến bên cạnh bàn quan ngồi. Vừa quỳ xuống, Thi Công vẫy tay, Lưu Vĩnh lập tức đứng vào bên cạnh. Thi Công cầm bút sơn, nói:
- Lưu Vĩnh đưa tay đây.
Lưu Vĩnh đặt tay lên bàn, Thi Công viết chữ "bạc", rồi đặt bút xuống, mỉm cười:
- Lưu Vĩnh nghe cho rõ: ngươi hãy tới ban công quỳ quay ra ngoài, ngồi im không được nghiêng ngó, chỉ nhìn vào chữ “bạc" trong tay. Nếu lau đi tí nào thì không những bắt ngươi phải bồi thường, mà còn phải phạt nặng.
Một lát sau, thấy người nha lại giải vợ Lưu Vĩnh hiệu buôn tiền đến quỳ trước công đường. Thi Công thấy người đàn bà này thanh nhã, không thô tục, bèn nói:
- Chồng ngươi còn thiếu mấy lạng bạc tiền công quỹ, anh ta bảo chị mang tới giao trả khoản nợ này. Có hay không, hãy nói mau.
Người đàn bà thấy hỏi thế, thưa:
- Ngài nói sai rồi! Phàm việc gì cũng đều do chủ, chồng con thiếu tiền thì lý ra phải đòi chồng con, chứ con làm gì có bạc mà trả. Con là gái khuê các, con nhà lành, sống thanh bạch, cớ sao lại cho gọi con, giơ mặt lên huyện gặp quan, khiến cho người đời chê cười. Người biết, nói là do chồng mà bị liên lụy. Người không biết, bảo con làm bại hoại gia phong. Chỉ sợ những người hàng xóm nói những lời bất nhã. Ngài là một quan huyện, là cha mẹ dân, làm quan không ngay thẳng mà lại rất hồ đồ, nhận tước lộc ban mà không làm được việc.
Thi Công thấy người đàn bà nói có lý, cảm thấy vui mừng, không nổi giận mà mỉm cười nói:
- Người đàn bà kia đừng có nói càn, người ta thường nói, làm bề tôi phải trung, làm con phải hiếu, quan thanh liêm thì nha lại phải nghiêm, trên có pháp luật, thì triều đình mới ổn định. Ngươi đừng kêu bừa, tất cả mọi việc đều có quỷ thần chứng giám. Ngươi hãy chờ chút nữa sẽ biết rõ, kẻ xấu xa, trời sẽ không dung thứ.
Nói xong, Thi Công gọi:
- Sai nha tới ngay ta nói nhỏ.
Rồi lại bảo:

- Người đàn bà kia, không cần phải nổi nóng nữa. Ngươi hãy nhìn ra ngoài ban công. Vì chồng ngươi còn thiếu bạc chưa giao, ta phạt quỳ tại đó. Chờ ta hỏi hắn trước mắt ngươi, ngươi nghe hắn nói xem có bạc không, ngươi đừng trách ta.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Thu Apr 03, 2014 3:22 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 6 (C)
Nghe xong người đàn bà ấy quay ra, quả thấy chồng đang quỳ ngoài ban công, cúi đầu không biết đang nhìn gì trong tay. Thấy vậy người đàn bà rất buồn.
Thi Công bảo sai nha:
- Ngươi ra đứng trước cửa, hỏi thật to xem Lưu Vĩnh có bạc hay không?
Sai nha ra cửa, cất tiếng gọi to:
- Lưu Vĩnh, quan lớn hỏi ngươi, còn bạc hay không?
Lưu Vĩnh cứ tưởng hỏi chữ "bạc" trên tay, đáp to:
- Còn bạc.
Sai nha vào bẩm:
- Thưa ông lớn, vừa giờ Lưu Vĩnh trả lời là còn bạc, không dám động tới.
Thi Công hỏi:
- Người đàn bà kia, ngươi có nghe thấy chồng ngươi trả lời: còn bạc vẫn chưa dám động tới, cho nên hắn bảo ta phải lệnh cho ngươi tới. Ta nghĩ rằng ở nhà ngươi nhất định có bạc. Ngươi không chịu nói thực, ta cũng không cần truy hỏi. Ngươi đã không nghĩ tới tình vợ chồng thì bản huyện cũng không thương dân, sẽ dùng hình phạt nặng nề để truy hỏi chồng ngươi, ngươi đừng có trách ta.
Vừa nói, quan huyện vừa nhìn. Thấy người đàn bà này có phần khiếp sợ. Thi Công lấy hết sức đập bàn đến rầm một cái, nghe váng cả tai, quát:
- Hãy mang kẹp loại lớn ra đây.
Bọn sai nha dạ ran, rồi chạy đi khệ nệ khiêng cùm, tới đặt trước công đường. Mang cùm đến cốt để dọa người đàn bà, Thi Công vẫn không cho cùm, mà lại quay sang nói với người thư lại đứng bên cạnh rằng:
- Các ngươi theo hầu ta, các ngươi biết ta dùng hình phạt nặng như thế nào rồi, phải mặt sắt, không chút thương tình. Ta chỉ thương những người buôn bán, vất vả kiếm được ít tiền nuôi vợ con. Nay nếu Lưu Vĩnh vào nha môn nhận bồi thường cho khách thì mọi việc sẽ dễ dàng, mà lại thể hiện đức tốt của ta. Ngờ đâu người đàn bà này đã không hiểu đạo lý, lại còn oán trách ta. Thị không nghĩ tới tình cảm vợ chồng, ta bất đắc dĩ phải dùng hình phạt.
Người thư lại ấy hiểu được dụng ý của quan huyện, trả lời rằng:
- Ông lớn rất sáng suốt. Phải dùng hình phạt nặng mới khuất phục được dân tâm.
Thi Công lại nhìn sắc mặt của người đàn bà, thấy bộ mặt phấn son ấy cúi gằm xuống. Thi Công lại đập bàn rầm rầm, bảo sai nha bắt đầu cùm kẹp chồng chị. Thị sợ, mặt tái mét, khấu đầu lia lịa, nói:
- Xin quan lớn đừng cùm, con xin khai thực.
Thi Công mỉm cười, chỉ vào mặt thị nói:
- Hãy mau khai ra, nếu đúng ta sẽ không cùm kẹp chồng người.
Người đàn bà nói:
- Ở nhà có một gói bạc, chồng con bảo cất đi, con không biết là bao nhiêu, chồng con dặn không được phép nói với ai. Vừa rồi ngài truy hỏi, con không dám nói ra số bạc ấy. Ngài vừa hỏi, chồng con bảo còn bạc không động tới, con mới dám khai thật. Xin ngài rộng lòng thương, con xin tình nguyện nộp số tiền ấy cho quan, khẩn thiết mong quan lớn miễn hình phạt.
Nghe xong, Thi Công cười ha hả, truyền lệnh đưa Lưu Vĩnh vào xét hỏi. Lính hầu vội ra cửa công đường gọi:
- Lưu Vĩnh vào công đường cùng đối chất với vợ.
Nghe thấy Lưu Vĩnh rảo bước đi vào, tới nơi nhìn thấy vợ, bất chợt giật mình, biết rằng việc giấu bạc đã bại lộ, mặt hắn tái nhợt, quỳ xuống. Thi Công quát hỏi:
- Lưu Vĩnh, "bạc" có động tới gì không?
Thấy Thi Công hỏi, Lưu Vĩnh giơ tay lên, nói:
- "Bạc" vẫn còn.
Thi Công gật đầu, nói:
- Còn bạc là được rồi.
Còn Lưu Vĩnh nói với vợ:
- Sao bà không ở nhà, lại tới đây làm gì?
Ngô thị thấy chồng bực tức hỏi, thị mắng:
- Đồ vô lương tâm, ông còn mặt mũi nào mà hỏi tôi như thế! Tôi hỏi ông, ông là đàn ông, nợ công khoản, là chủ sự, trả hay không là do ông, sao lại nói với quan lệnh cho đàn bà tới xuất đầu lộ diện. Ông phải biết rằng, tôi còn mặt mũi nào mà gặp bạn bè. Hãy về lấy ngay tiền mà ông đưa cho tôi - tôi để ở chiếc va li da gác lên trần nhà, tới giao nộp khoản tiền công quỹ mong ngài tha đánh.
Ngô thị nói thế khiến Lưu Vĩnh sững người, trợn tròn mắt, cứng họng không sao nói được. Ngừng một lát, chẳng biết vì sao, Ngô thị lại giục:
- Sao không về ngay mà lấy đi, lẽ nào cứ ngồi ngây ra đấy mà trả được nợ à!
Thấy thế Lưu Vĩnh chửi toáng lên:
- Bà là con ngu xuẩn, ai bảo bà lắm lời!
Thấy việc của hắn đã bại lộ, Thi Công nổi giận quát:
- Vợ chồng ngươi còn cãi nhau nữa ư. Ta sẽ vả vỡ mồm các ngươi.
Lưu Vĩnh, Ngô thị sợ quá, cúi đầu không dám nói nữa.
Thi Công nổi giận quát:
- Lưu Vĩnh, ngươi đã giấu số bạc của ông ấy, ngươi là kẻ lừa dối. Song không ngờ, lẽ trời sáng tỏ, quỷ thần giám sát. Mày là kẻ đáng chết. Con người ta sống trong khoảng trời đất, phải trung hiếu tiết nghĩa, biết liêm sĩ, giữ niềm tin, kẻ trượng phu phải răn dạy vợ con, phải biết giữ mình, buôn bán giao dịch, phải công bằng, không lừa dối bất cứ ai, luôn ngay thẳng thì thần linh sẽ phù hộ độ trì, buôn bán mới phát đạt. Tâm địa hại người vừa nẩy sinh, thần Phật đều biết cả, các ngài im lặng mà biết rất rõ. Chu Hữu Tín vừa đổ bạc, ngươi muốn giấu đi, trời không dung tha. Lôi đến cửa quan, ngươi còn dám quanh co. Tang chứng không có, nếu ta không sáng suốt thì sao mà xử được vụ án này. Ngươi chỉ biết gian dối, chứ ngươi không biết ta phán đoán sự việc như thần thánh. Mới dùng một kế nhỏ ngươi đã mắc tròng. Lẽ ra ta phải xử tội nặng, song quan thấy ngươi ngu muội, phạt ngươi năm lạng bạc cho ngươi tự sửa lỗi lầm. Nếu còn điêu oa thì ta sẽ xử ngươi nặng hơn.
Thi Công lại nói với Điêu thị:
- Là đàn bà ngươi dám oán trách ta, này hãy nghe ta nói đây: chồng ngươi không phải nợ công quỹ, mà hắn đã đánh cắp bạc của người đổi bạc. Vì truy hỏi, chồng ngươi không chịu nhận, ta phải nghĩ ra mưu kế truyền lệnh gọi ngươi đến. Đầu tiên ngươi oán trách quan huyện không nên gọi ngươi tới đối chất, nay việc đã bại lộ, còn nói năng gì nữa không? Vì sao đàn bà mà cũng vô lương tâm, ám hại người. Ta nghĩ ngươi cũng là đàn bà, nên ta không phạt ngươi.
Ngô thị nghe quan nói, khấu đầu, vô cùng cảm ơn quan huyện.
Đứng bên cạnh Ngô Vĩnh sợ quá, mặt tái xanh tái xuất, khấu đầu nói:
- Bẩm quan lớn, con xin nguyện nộp phạt.
Thi Công thấy thế cười ha hả, nói:
- Hãy lôi Lưu Vĩnh ra, đánh cho hắn mười lăm gậy.
Thấy chồng bị đánh, Ngô thị lòng đau như cắt, không sao chịu nổi. Thi Công cho gọi Chu Tín vào, nói:
- Ngươi đánh mất số bạc là do sơ ý. Đồng tiền liền khúc ruột. Dù nói chuyện với cậu thì cũng phải thu lấy bạc. Nếu như bị bọn trộm xung quanh lấy đi thì khó lấy lại. May mà Lưu Vĩnh lừa dối lấy đi, đến nỗi cãi nhau, rồi đưa cửa quan. Nếu ta không tìm ra, ngươi sẽ trách móc ta là không sáng suốt, rồi sẽ bàn tán những lời bất nhã. Bây giờ thì bạc đã lấy lại, nhưng phải nói, ngươi cũng có lỗi trong việc này. Ta định phạt ngươi về thói lơ đễnh, nhưng ta tha cho ngươi. Từ nay phàm làm việc gì ngươi cũng phải cẩn thận.
Chu Hữu Tín khấu đầu tạ ơn. Thi Công lại nói với Lưu Vĩnh:
- Lưu Vĩnh, ngươi lương tâm mờ ám, ta đánh ngươi, lại phạt nặng. Số tiền ấy nhập vào công quỹ, cứu tế người nghèo để ngươi thấy đó mà sửa chữa lỗi lầm, và cũng chứng tỏ rằng, ngoài phép vua, còn có quỷ thần chứng giám.
Thi Công làm việc danh chánh ngôn thuận, không những Lưu Vĩnh cảm ơn, mà tất cả mọi người đều tâm phục khẩu phục. Thi Công cho người cùng đến hiệu đổi tiền, lấy bạc về giao cho Chu Hữu Tín, và lấy năm lạng bạc nhập vào công quỹ. Rồi quan huyện lại hỏi hai người rằng:
- Lời ta nói có đúng không?
- Dạ rất đúng ạ. - Hai người đáp.
- Đã biết thế thì ta tha tho cả hai người. - Thi Công nói.
Mọi người tạ ơn quan huyện. Sai nha lại cùng Lưu Vĩnh ra khỏi nha môn.
Thi Công sắp rời khỏi công đường, lại thấy có hai người từ cửa ngách bước tới hiên. Một người gánh đôi hòm cắt tóc đặt trước hiên rồi bước vào công đường quỳ xuống, ngước lên quan nói:
- Con đã giải Đổng Lục tới.
- Hãy gọi người đàn bà kia vào đây ta hỏi. - Thi Công nói.
Sai nha tuân lệnh bước ra khỏi công đường. Thi Công nhìn xuống, chú ý sắc mặt Đổng Lục, da thô nháp, mắt to, mũi cao, râu đuôi én, trạc trên dưới bốn mươi tuổi, mặt dữ tợn, hằm hằm giận dữ. Thi Công nhìn xong, hiểu ra ngay, hỏi:
- Ngươi tên gì? Hãy nói mau.
Thấy hỏi, người ấy cúi đầu nói:
- Thưa ngài, con là Đổng Lục, là con thứ sáu, đời đời sống tại Giang Châu. Con sống bằng nghề cắt tóc. Không biết vì sao quan lệnh cho con đến nha môn.
Thi Công nghe xong nói:
- Vợ ngươi tố cáo ngươi.
Thấy thế Đổng Lục giật thót mình, bèn thưa:
- Thưa ngài, vợ con là Phùng thị, mắc chứng bệnh điên đã hơn nửa năm nay. Không biết vì sao bà ấy lại kiện con, cúi mong ngài gọi bà ấy đến đây đối chất, xem bà ấy kiện con về cái gì!
Thi Công nói:
- Việc thị kiện ngươi, ta đã nghĩ từ lâu, nếu là vô lý thì: một là, thị lừa dối trời, mất hết luân thường đạo lý; hai là, thị mắc chứng điên. Bởi thế ta mới cho gọi ngươi tới đây đối chất xem thật giả thế nào.
Rồi Thi Công cho lính hầu khiêng cùm đến, sau đó giải Phùng thị vào quỳ một bên. Thấy vợ, Đổng Lục quát:
- Con đàn bà ngu xuẩn, có bệnh thì ở nhà mà chữa trị mới phải. Vì sao lại lên huyện cáo giác?
Phùng thị thấy chồng nói thế, tức run người, chửi:
- Sao trời không giết chết ngươi đi? Ngươi vẫn còn nói những điều điên rồ như thế ư? Hãy thôi đi, giờ đây ngươi là kẻ thù của ta.
Thi Công thấy thế quát thét:
- Các ngươi không được chửi càn. Trước hết ta cho Phùng thị nói. Ngươi mà cãi ta vả vỡ mồm.
Phùng thị khấu đầu thưa:
- Thưa ngài, nỗi oan ức của con đến gỗ đá nghe thấy cũng phải động lòng thương. Con đời đời sống ở Giang Đô, cha mẹ đều mất sớm, chị dâu gã con cho Quách Ngộ Bằng. Chồng con mở cửa hàng bán quần áo, vốn ham mê rượu chè. Là người thật thà hiền lành, chồng con đã giao du với tên bất nghĩa Đổng Lục này. Hắn là người sống bừa bãi. Khi chồng con còn sống, dẫn hắn về, thân thiết như người nhà. Ai ngờ tên này mặt người dạ thú, hắn để ý đến con, rồi ngấm ngầm toan tính kế bất lương. Từ đó trở đi họ uống rượu với nhau suốt ngày, không uống rượu với thức nhắm mà uống rượu với gừng. Không đầy mấy tháng sau, chồng con đổ bệnh, người sưng húp ho ra máu rồi chết. Thật khổ cho con, không có chú bác, anh em. Đang lúc trời nóng nực, thi thể chồng con vẫn còn nằm đó, con không biết làm sao, đành phải bước đi bước nữa, bán thân lấy mấy lạng bạc lo ma chay cho chồng. Đáng giận là, đang lúc tang gia bối rối, con không nghĩ ra, mà cũng chẳng còn lòng dạ đâu mà nghĩ, nên con đành phải nhắm mắt, đưa chân. Đi qua mấy chục nhà, rồi đến nhà hắn, thấy hắn mới biết là mình lấy Đổng Lục.
Phùng thị lại nói tiếp:
- Con đã bằng lòng, càng khó mà hối tiếc được, tiền con bán mình cho người ta đã tiêu rồi. Con đành phải ngậm oan, sống cho qua ngày đoạn tháng. Mấy mươi năm nay con sinh được hai đứa con. Ai ngờ lưới trời lồng lộng, thưa mà không để lọt việc báo ứng quả không sai. Hôm kia đứa ác ấy uống rượu say về, không biết thần xui quỷ khiến thế nào, nó đã thông thốc nói ra hết. Nó nói rằng: vì muốn chiếm con, nên nó đã dùng mưu kế, cho chồng con uống rượu với gừng làm nát phổi, không ai biết được. Chỉ trong vòng một trăm ngày đã giết chết chồng mày, chắc mày cũng không biết được, tình xưa nghĩa cũ mày có thương nó không. Nói xong nó ngủ thiếp đi. Nghe nói thế, con vô cùng đau đớn và căm giận. Con nghe người ta sinh ra trên đời này, đàn ông phải trung hiếu, đàn bà phải trinh tiết. Kẻ không biết nghĩa lý liêm sĩ thì khác nào chó lợn. Hiện con đang trong dinh của ngài lẽ nào vì liên quan đến con cái mà cứ để cho nước chảy bèo trôi. Nếu như vì tình con cái máu mủ thì không thể minh oan cho chồng được. Nay may mắn con báo được thù, con có nhắm mắt xuôi tay xuống dưới cửu tuyền cũng không ân hận. Con với thằng khốn nạn ấy, ân ái biến thành cừu thù Con chỉ có một nguyện vọng là mình minh oan cho chồng, thì dù bị dao đâm thành muôn vạn mảnh con cũng vui lòng.
Nghe Phùng thị nói, ai ai cũng xót thương. Đổng Lục bên cạnh vừa nghe thấy thế, cuống lên, bất chấp cả luật pháp, hắn phồng mang trợn má chửi Ngô thị:
- Con dâm phụ nói càng. Đúng là nó điên rồ rồi! ăn mặc chưa vừa ý mày thì mày cũng phải chịu vậy, tại sao trước mặt ngài mày dám nói bừa. Mày không nghĩ rằng thằng Đổng Lục này đã kéo cho mày bao nhiêu vòng, có phải là việc dễ đâu? Mày là con đàn bà chua ngoa, điên khùng. Mày kiện tao có chứng cứ gì không? May mà được ông lớn khoan dung, không trách mắng mày, để cho mày nói bậy.
Phùng thị giận tím mặt, chửi:
- Đồ chết giẫm, mày còn dám cãi bướng! Quỷ thần đã bắt mày tự nói ra, mày cho chồng tao uống rượu với gừng cho nát phổi, mày mưu hại chồng tao. Trước mặt quan mày vẫn không chịu nhận.
- Mày là con dâm ác chua ngoa! - Đổng Lục chửi. - Chồng mày chết không có tiền chôn, mày van xin tao lấy mày. Có mối lái cưới xin hẳn hoi, sinh con đẻ cái, sống với nhau mấy chục năm nay. Vì cơm ăn, áo mặc không đủ, mày mắc chứng điên, giả thành ma quỷ kiện cáo, đổ cho tao giết chồng mày để lấy mày. Có chứng cớ gì về việc tao hại chồng mày không? Hơn nữa mày biết tao là kẻ thù sao trước đây không đi kiện. Tao hỏi mày, vì sao mày lấy tao, rồi lại kiện tao?
Phùng thị giận run lên, không sao nói được. Thi Công đã hiểu, cố ý chau mày, quát mắng:
- Mày là con mụ chua ngoa, điên khùng! Mày không có lý gì để kiện chồng. Không biết thế nào là tam tòng tứ đức. Đã biết chồng chết oan, sao không minh oan từ sớm? Mày đã lấy người ta, rồi lại trở thành kẻ thù, chẳng phải mày đã đồng mưu hãm hại chồng sao? Sống với nhau đã mấy chục năm, nay lại đi kiện chồng! Ta cho rằng người chồng mới không làm vừa lòng mày, nên mày đi kiện. Người xưa nói: "Trái tim người đàn bà độc ác đỏ như mào hạc!".
Thế rồi ông bảo người hầu mang dụng cụ tra tấn ra, nói:
- Ta phải cho con đàn bà điêu oa này một trận, tha thứ cho mày thì sợ mày không hối cải, lại làm hại người khác. - Thi Công càng nói càng phẫn nộ, rồi hạ lệnh: - Các ngươi đâu, hãy lôi con đàn bà độc ác này ra ngoài, đánh cho nó một trận.
Lính hầu dạ ran, rồi như quạ vồ gà con, họ hằm hằm lôi người đàn bà ra ngoài, mang theo hàng loạt dụng cụ tra tấn. Phùng thị sợ run như cầy sấy, cuống cuồng chết lặng đi, rồi sau đó gào lên, giọng khản đặc:
- Oan con quá! Oan con quá!
Bọn lính hầu dẫn người đàn bà ấy sang phòng bên. Một lát sau, người đàn bà ấy kêu gào thảm thiết như bị tra tấn. Trước khi gọi Đổng Lục, Thi Công đã dặn lính hầu đưa Phùng thị vào phòng bên, không được tra tấn, nhưng bảo Phùng thị cứ kêu rên như bị tra tấn. Lính hầu lại giả vờ làm cho dụng cụ tra tấn kêu loảng xoảng y như tra tấn thật. Tên ác nhân không biết, nghe thấy vợ kêu ran, đau xót không sao cầm lòng được. Hắn quỳ xuống rồi tiến lên nửa bước, nói:
- Bẩm quan lớn, cho phép con được thưa: vợ con có bệnh, xin ngài đừng phạt, để lại cho vợ con mười ngón tay, để may và kiếm sống. Con thấy phạt thế vợ con biết được lỗi lầm là được rồi.
Nghe xong Thi Công quát:
- Mày là thằng to gan, tao vả mồm mày bây giờ. Triều đình lập ra nha môn, dùng lý để dạy dân, vợ chồng ngươi đến đây cãi nhau lộn bậy, ta không giải quyết được việc nhà của ngươi ư? Các ngươi đâu, hãy mau sang phòng bên tra tấn vợ nó thật nặng cho ta.
Lính hầu lại dạ ran, chạy sang phòng bên hò hét, rồi sau đó nghe thấy tiếng dụng cụ tra tấn kêu loảng xoảng, tiếng quát thét và tiếng kêu van thảm thiết của Phùng thị.
Thi Công lén nhìn, thấy Đổng Lục cứ quay ra ngoài nhìn, dáng vẻ vô cùng thương xót. Thi Công nói:
- Đổng Lục, ngươi đừng thương tiếc con đàn bà độc ác ấy, cứ mặc nó chịu tra tấn, để sau này nó phải sợ, không dám đi kiện nữa. Bây giờ ta hỏi ngươi: trước đây ngươi có vợ không? Lấy Phùng thị được mấy năm rồi? Hiện có mấy đứa con? Cứ nói thật, ta sẽ ra ân cho ngươi.
Tên ác nhân thấy thế, nói:
- Xin ngài cho con nói, cha mẹ con đều qua đời, không có anh em ruột. Học nghề cắt tóc kiếm ăn, rồi kết bạn với anh thợ may Hách Tài Phùng, nhà anh rất khá giả. Con đi lại chơi bời như người trong nhà, thân thiết như ruột thịt. Về sau chẳng may anh mắc bệnh chết. Vợ anh không có con cái, không anh em, một thân một mình, không có tiền chôn cất, thật đáng thương. Đáng mừng là Phùng thị là người hiền lành, tốt bụng, bán mình đi bước nữa lấy tiền chôn cất chồng. Song người mối nhắc đến tên con, thấy con chưa có vợ, nói rằng: "Bạn bè chẳng qua cũng là nghĩa khí, thôi thì nhất cử lưỡng tiện. Con nghĩ rằng anh Hách chết đi, cần tiền mai táng mà chị Phùng thị cũng có chỗ dựa. Người chết được yên ổn dưới suối vàng, mà người sống cũng có chỗ dựa suốt đời". Hôm ấy con mang trầu, rượu sính lễ đến. Lúc ấy con đau buồn, nửa tỉnh, nửa mê, không kịp nghĩ ra. Vừa được bảy ngày, đã thúc giục cô ấy về với con. Nay nghĩ tới anh Hách, con cảm thấy xấu hổ vô cùng. May mà vợ chồng hòa hợp, con đã lên bảy tuổi. Không ngờ vợ con điên cuồng, mê loạn kiện lên quan. Điều con nói đó là sự thực. Con tha thiết cầu mong ngài tha cho vợ con. Con rất cảm ơn ngài.
Anh ta khấu đầu lia lịa. Thi Công cười nhạt nói:
- Đổng Lục, nghĩ đến tình bạn bè, lại lấy vợ có mối mang đàng hoàng, thì vì sao phải hối hận. Việc này trên đời thường thấy. Ta hỏi ngươi, Hách Ngô Bằng mắc bệnh gì mà chết?
Thấy quan hỏi thế, Đổng Lục hồn xiêu phách lạc, bất giác trả lời:
- Thưa ngài, anh ấy có bệnh gì đâu, chỉ uống rượu mà chết thôi.
Thi Công cố ý cười ha hả, nói:
- Sao? Uống rượu mà chết được ư? - Thi Công hỏi tiếp. - Ngươi có uống rượu không?
Tên ác nhân thấy thế tưởng là quan lớn khen, bèn đáp:
- Con cũng biết uống rượu.
- Không biết tửu lượng của ngươi thế nào, uống được bao nhiêu? Uống nhiều có hại không?
- Con không giấu gì ngài, con cũng uống được tới mấy cân. - Tên ác nhân nói.
- Thế thì uống còn thua ta. - Thi Công nói. - Ngoài giờ làm việc, về phòng ta chỉ uống rượu làm vui. Ta có một thói xấu, thích nhất là dựa vào uống rượu để nhắm thức ăn, mà thích nhất là nhắm với gừng, nghĩ rằng nó có tính nóng vì có chất lửa.
Thấy thế tên ác nhân kêu lên:
- Bẩm quan lớn! Đừng có nhắm với gừng, rất độc.
Đó chính là oan hồn quả báo, oan hồn đã làm cho hắn rối loạn. Thi Công nghe hắn đã nói hé thấy mấy nguyên nhân, bèn nẩy ra ý nghĩ, cố ý hỏi:
- Ta không hiểu vì sao không thể ăn gừng và uống rượu cùng một lúc được? Nếu ngươi giải thích rõ ràng, biết được cái hại của nó thì ta sẽ không dùng nữa.
Thấy hỏi thế, tên ác nhân sợ run như cầy sấy, cứng họng không dám nói. Thi Công thấy vậy cười lạnh lùng mắng:
- Mày không khai, buộc ta phải tra tấn truy hỏi.
Rồi ông cho gọi Phùng thị tới đối chất. Lính hầu dạ ran. Thi Công lại hỏi tại sao gừng và rượu không được ăn uống cùng một lúc. Tên ác nhân không dám khai, cứ đứng ngây người ra, mặt tái nhợt. Thi Công đã biết rõ, cười ha hả. Thấy lính hầu đã dẫn Phùng thị quay ra, quỳ trước mặt. Thi Công nói:
- Phùng thị, ngươi hãy nói lại thật tỉ mỉ về cái chết của chồng mình. - Thi Công hỏi.
Phùng thị lại kể tỉ mỉ về cái chết của chồng mình. Thi Công hỏi:
- Đổng Lục, ngươi đã nghe rõ chưa? Chẳng trách nào vừa nói không được nhắm rượu với gừng, ngươi đã chột dạ. Ngươi phải khai ra việc ngươi làm người ta nát phổi, ngươi là thằng đáng chết, hãy khai ngay thì khỏi tra tấn.
Thấy hỏi như thế, tên ác nhân cứ cúi đầu vái lia lịa, nước mắt chảy ròng ròng, không biết làm thế nào khác được. Hắn nói:
- Con làm nghề, con không dám làm liều. Con lấy Phùng thị, có cưới xin tử tế, và cô ta cũng bằng lòng theo con. Nay cô ta kiện con là vô căn cứ. Nếu như dùng rượu và gừng làm nát phổi, để giết chết chồng cô thì tại sao trước đây cô không kiện. Ngậm miệng mấy chục năm trời, nay bỗng dưng kêu oan, nhưng chẳng có chứng cớ gì. Cô ta mắc bệnh điên nên cô đi kiện.
Thi Công thét lên, cho đến lúc này mà vẫn còn lấp liếm, chính mày đã nói nhắm rượu với gừng chết người. Trước đây khi Hách Ngộ Bằng còn sống, sáng sáng khi còn lòng không mày cũng cùng với Hách Ngộ Bằng uống rượu với gừng. Trong Bàn thảo còn ghi "phương thuốc dùng lục trầm bát để chống lại chất độc làm nát phổi khi uống rượu với gừng". Chắc rằng mày không hiểu được dược tính. Theo ta nghĩ, tất phải có kẻ chủ mưu, ta phải hỏi rõ sự thật rồi mới luận tội.
Sau đó ông gọi lính hầu mang dụng cụ tra tấn tới. Tất cả vâng lệnh, lôi Đổng Lục ngã sấp ngã dụi rồi kẹp vào hai chân. Tên ác nhân kêu cha kêu mẹ, hồn xiêu phách lạc. Lính hầu dội nước lạnh vào mặt, hắn mới tỉnh lại, kêu van thảm thiết. Thi Công hỏi:
- Nó có khai không?
- Nó không khai. - Lính hầu trả lời.
- Phùng thị, chồng ngươi không khai. - Thi Công hỏi. - Nếu như ngươi không khai thực thì ta tử hình ngươi.
- Con không kiện bừa. - Phùng thị nói. - Nếu con sai con xin chịu chết.
Thấy vậy Thi Công quát:
- Hãy tiếp tục kẹp hắn cho ta.
Tên ác nhân nghe thấy sợ hết vía, vội kêu lên:
- Con xin khai, con xin khai ạ.
Thi Công nói;
- Tưởng mày gan sắt, không sợ phép quan.
Thi Công bảo tháo kẹp ra, lôi Đổng Lục vào. Hắn quỳ xuống, khai rõ từ đầu chí cuối. Hắn đã kết bạn với Hách Ngộ Bằng, rồi thấy vợ Hách đẹp, hắn rắp tâm chiếm đoạt. Hắn dùng rượu với gừng giết chết Hách Ngộ Bằng để lấy Phùng thị... Thi Công nghe xong hỏi:
- Phương thuốc độc ngươi dùng lấy ở đâu? Kẻ nào chủ mưu, hãy khai ngay thì khỏi phải tra tấn.
Bọn lính hầu quát:
- Khai mau, nếu chậm, các ông sẽ dùng cực hình.
Tên ác nhân khiếp sợ kêu lên:
- Thưa ngài, con xin khai người truyền phương thuốc ấy. Vì con thấy gái đẹp mà mê muội, suốt ngày cứ như kẻ mất hồn, mẹ nuôi con thấy thế hỏi tại sao buồn rầu như thế? Con đã nói thực với mẹ con, bởi thế bà đã mách thang thuốc này cho con. Không ngờ, lúc con say đã lỡ lời nói với vợ Hách Ngộ Bằng. Con đáng chết, xin cầu mong ngài tha cho con.
Tên ác nhân đã khai ra sự thật, rồi hắn cúi xuống nhìn Phùng thị nói:
- Ngươi đã kiện ta, ngươi thử nghĩ xem. Ta với ngươi đã sinh con đẻ cái, sống với nhau bao nhiêu năm rồi. Ván đã đóng thuyền, chuyện đã xong. Ta dù có chết cũng không dứt ra được!
Phùng thị nghe xong tức run lên, chỉ vào mặt Đổng Lục mắng:
- Đồ lang sói mất hết tính người. Trước mặt ông lớn mày còn dám nói càn. Trước đây chồng tao bị mày lôi kéo, nếu không thì làm gì xảy ra chuyện này. Nay nhờ quan lớn sáng suốt phán xét như thần thánh. Đó chính là trời báo oán. Ngươi say rượu lỡ mồm tiết lộ cơ mưu, còn nói gì đến tình nghĩa vợ chồng nữa. Chúng ta đã đến lúc tận số rồi. - Phùng thị uất ức nói. - Ngươi đáng chết!
Nói xong Phùng thị xông vào cắn, đánh túi bụi vào người Đổng Lục, rồi chạy ra đập đầu vào cột hiên chết. Thi Công khen:
- Quả là một người đàn bà trinh tiết, đức hạnh.
Ông đùng đùng nổi giận quát mắng:
- Đổng Lục, ngươi đáng tội chết. Ngươi cùng với Vương Bà mưu giết người. Ta hỏi ngươi. Mẹ nuôi mày ở đâu, nói mau!
Tên ác nhân nghĩ, nếu không nói thì sẽ bị tra tấn, rồi hắn khai:
- Thưa ngài, Vương Bà ở phía nam miếu Quan Đế, Đông Nhai. Trước cửa có treo tấm biển "Đỡ đẻ".
Thi Công lập tức sai người bắt Vương Bà. Vương Bà tới quỳ trước công đường. Thấy Phùng thị đã tắt thở, lại thấy Đổng Lục bị tra tấn, bà vô cùng sợ hãi. Tên ác nhân vừa thấy Vương Bà, hắn reo lên:
- Cám ơn mẹ, phương thuốc mẹ bảo rất hiệu nghiệm!
Thi Công nghe thấy, quát:
- Nếu còn lắm lời ta sẽ vả vào mồm ngươi.
- Vương Bà! - ông quát tiếp. - Con nuôi ngươi đã khai ngươi đã truyền cho nó phương thuốc giết Hách Ngộ Bằng để chiếm Phùng thị. Có đúng thế không? Khai ra ngay thì khỏi phải chịu hình phạt.
- Con không làm việc ấy. - Vương Bà nói.
- Con mẹ này không kẹp thì nó không khai. - Thi Công nói.
Bọn lính hầu vâng lệnh, kẹp Vương bà. Vương Bà đau đớn không chịu nổi, kêu lên:
- Thưa quan lớn, đừng kẹp nữa, con xin khai.
- Hãy tháo kẹp ra! Nói mau!
- Bẩm quan lớn, - Vương Bà nói. - Khi chồng con còn sống, làm nghề thuốc nên con biết được phương thuốc này. Song con không dám nói với ai, xin quan lớn thương tình.
Nghe xong Thi Công bảo không tra khảo nữa. Lính hầu vâng lệnh tháo kẹp ra. Thi Công lấy bút ghi vào bản án: "Vương Bà trước đây thông dâm với Đổng Lục. Sau đó lại truyền phương thuốc độc cho Đổng Lục đầu độc Hách Ngộ Bằng để chiếm Phùng thị. Cháy nhà ra mặt chuột. Phùng thị tự tử. Theo luật, Vương Bà phải treo cổ, đến mùa thu sẽ hành quyết. Đổng Lục mưu gian, đầu độc Hách Ngộ Bằng để lấy Phùng thị, theo luật phải thẳng tay trừng trị". Phán quyết xong, bảo mang đóng dấu. Đổng Lục, Vương Bà bị tống vào nhà giam. Sau đó Thi Công cho gọi người nhà mẹ đẻ của Phùng thị mang thi thể về. Đúng lúc ấy có năm lạng bạc phạt của Lưu Vĩnh, Thi Công cho để mua quan tài chôn cất Phùng thị. Cho phép người nhà bán gia sản của Đổng Lục để nuôi dưỡng con hắn. Tất cả lạy tạ Thi Công rồi ra khỏi công đường. Ai ai cũng khen Thi Công là người tài giỏi. Thi Công bảo thư lại lập biên bản trình lên cấp trên.
Vừa xử xong, lại thấy Vương Nhân và Từ Mậu bước vào, quỳ trước công đường thưa rằng:
- Thưa ngài, hai chúng con đã mời Cửu Hoàng và Thất Chư tới, đang chờ ngoài cửa.
Thi Công nói:

- Hãy cho họ vào!

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Thu Apr 03, 2014 6:29 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 6 (D)
Hai người vâng lệnh đi ra, dẫn Cửu Hoàng và Thất Chư Vào. Thi Công thấy Cửu Hoàng đầu hổ, mắt thao láo, mặt đen như cột nhà cháy, râu dài khoảng bảy tấc, tuổi trạc tứ tuần; Thất Chư da trắng nõn nà, môi đỏ, răng trắng, dáng dẻ tha thướt, tuổi trạc ngoài hai mươi. Họ đứng trước công đường nhưng không quỳ. Vái chào, cười nói:
- Thưa ngài, ngài gọi chúng tôi có việc gì?
Thi Công thấy chúng, máu sôi lên song đã kịp thời kìm nén lại, mỉm cười nói:
- Kính mời hai vị, ta thành kính muốn hai vị cùng mười ba vị tăng ni đọc kinh sám hối. Rước đèn, phá ngục, lấy nước, rải cầu, đốt pháo hoa, bố thí... các thứ như cờ, quạt, tàn lọng, dựng rạp ta sẽ cho sắm sửa và chuẩn bị. Mũ áo của tăng ni... tất cả đều phải mới tinh. Hương nến và đồ ăn chay xin phiền hai vị lo giúp. Sáng sớm mai thiết đàn trong ba ngày. Cần phải chi dùng bao nhiêu bạc?
Nghe Thi Công nói xong, Cửu Hoàng nói:
- Thưa quan lớn, được quan lớn sai bảo tiểu tăng không dám từ nan.
Dâm ni tươi cười nói:
- Cũng như ngài Cửu Hoàng nói, tiểu ni sẽ hết lòng.
- Thưa ngài, - Cửu Hoàng nói, - sáng mai đã lập đàn, chúng con cần một ít tiền mời khách, xong việc sẽ thanh toán.
Thi Công gọi Thi An lấy bạc giao cho họ, tăng ni rời khỏi nha môn. Mỗi người mời thêm mười ba người, chuẩn bị hành lễ tất cả các thứ phải chuẩn bị đầy đủ.
Khi tăng ni nhận tiền đi ra, Thi Công sai người gửi giấy ngay cho Thủ phủ, bí mật sai quân lính bắt tên sư hung ác và tên ni cô dâm đãng. Trước nha môn dựng lễ đài và bắt rạp. Sau đó ngầm dặn các ban trong nha môn phải thực hiện thế nào. Dặn dò xong, Thi Công lại thấy Hồ Đăng Cử vào huyện đường, tay cầm tờ trình cúi chào. Thi Công nhận đơn, nói:
- Xin ông cứ yên tâm, bản huyện tuy chưa bắt được, song hiện đã điều tra ra tung tích. Chỉ một sớm một chiều là kết thúc vụ án.
Hồ Đăng Cử cúi chào Thi Công, rồi rời khỏi nha môn. Sau đó đã thấy hai người quỳ hai bên dâng đơn kêu oan. Thi Công hỏi:
- Các ngươi có việc gì, không cần phải như thế, hãy nói ta nghe.
Một người nói:
- Con tên Hải Triều, sống ở đây từ lâu: Đêm qua ngẫu nhiên gặp chuyện chẳng lành, bọn cướp vào lấy hết đồ đạc, lại cướp mất cả con gái con. Cháu sắp cưới, con không biết làm thế nào bây giờ. Mong ông lớn gia ân, cử người bắt bọn cướp để giải nỗi hận cho con.
Nghe xong Thi Công vô cùng kinh ngạc. Ông lại hỏi:
- Anh này có việc gì?
- Con là Lý Thiên Thành. - Người ấy đáp. - Buôn bán theo đường Nam-bắc. Đêm qua nơi giáp giới, bị bọn cướp chặn đường, cướp hàng hóa. Xin mong ngài cho người bắt ngay bọn cướp.
Nghe nói thế Thi Công biết ngay là do hòa thượng Cửu Hoàng và mười hai tên cướp gây ra. Thi Công nói:
- Các ngươi hãy để đơn lại đây, ta sẽ giải quyết.
Hai người vâng theo rồi ra khỏi công đường. Thi Công rời khỏi công đường, mọi người xôn xao bàn tán.
Tên hòa thượng độc ác và ni cô dâm đãng nhận bạc trở về chùa, Cửu Hoàng nói với mười hai tên đàn em:
- Ngày mai lập đàn tại huyện đường, ta đã nhận lời. Còn việc lành dữ thế nào các em phải bàn bạc đối phó.
Thi Công rời khỏi công đường. Ngồi trong thư phòng buồn rầu nghĩ ngợi: "Bọn hào bá ở Giang Đô phải bắt cho bằng hết. Những vụ án giết người thường xuyên xảy ra, có những vụ không có đầu mối. Ngoài bọn ni cô ở am Quan âm và bọn ác tăng tại chùa Liên Hoa còn có mười hai tên cướp đường. Muốn bắt bọn hung đồ, trước hết phải nghĩ kế bắt bọn cướp đầu sỏ, sau đó mới bắt bọn tay chân".
Thi Công suy nghĩ rất lung, chợt thấy trống đã điểm canh ba, lúc đó ông mới cởi áo đi ngủ. Sáng hôm sau ông dậy sớm, rửa mặt, mặc áo, rồi bảo Thi An ra ngoài chuẩn bị chu đáo chờ tăng ni lập đàn. Thi Công phải đi lễ Phật.
Hòa thượng Cửu Hoàng chuẩn bị sẵn tượng Phật đưa tới huyện đường bày trong rạp. Theo sau tên ác tăng có mười hai sư cùng lên huyện hành lễ. Thất Chư cũng mang theo các đồ tế khí tới huyện. Bày biện xong xuôi, giăng đèn kết hoa. Bên cạnh lầu trống, dựng một lầu cao. Một lát sau các tăng ni lục đục kéo đến. Tất cả vào phòng khách uống nước. Tiếp đó Thủ phủ Trấn Công tới cổng huyện đường, xuống ngựa. Lính hầu vào báo, Thi Công ra tận cổng nghinh tiếp. Hai ông đều mặc lễ phục, đội mũ, đi hia. Thi Công tới rạp dành riêng cho sư nam, chào hỏi chủ đàn; Thủ phủ tới tận rạp dành riêng cho ni cô chào hỏi chủ đàn. Cửu Hoàng và Thất Chư giấu binh khí trong người để đề phòng bất trắc. Hai ông vào rạp lễ Phật, Cửu Hoàng chú ý lén nhìn, không thấy có nhiều người đi theo. Hai tên gian ác thấy thế đều cho rằng các ông thành tâm, chúng đứng dậy cả. Thi Công mỉm cười nhìn Cửu Hoàng nói:
- Xin mời hòa thượng ngồi, tất cả mọi người không cần phải đáp lễ.
Các tăng ni đều nói:
- Đâu dám thế.
Rồi đứng cả dậy chắp tay trước ngực. Thi Công đáp lễ xong, quay ra mỉm cười nói:
- Xin phép các vị.
Hai ông trở về sảnh đường ngồi nói chuyện phiếm. Các sư và ni cô gõ ba hồi chuông trống, thắp nhang, niệm Phật, sau đó chuẩn bị tế khí, rồi gọi mang trà tới. Dâng trà xong, cầm cành phan, chấp sự, rước ra khỏi nha môn, diễu qua bốn phố, tất cả thiện nam tín nữ lần lượt theo sau, đám rước đông nghịt, chiên trống vang trời dậy đất. Đám tăng ni về tới nha môn, xếp gọn tế khí một chỗ tới trai phòng dùng cơm chay. Hai ông mời họ vào rạp, rồi dặn dò những người hầu bê thức ăn ra, và liên tục thay đổi món ăn. Mọi người bưng bê tất bật. Bọn tăng ni chú ý theo dõi hai ông, không thấy có ý gì khác, thế rồi họ rất yên tâm ăn uống. ăn uống xong họ tới rạp cúng Phật dùng trà.
Dùng trà xong, rước nước cúng thần, đến tối mới lập đàn cúng chúng sinh, bố thí đồ cùng, mãi tới canh ba mới tan. Tăng ni trở về chùa, sáng hôm sau lại tới huyện. Bọn ác tăng không thấy động tĩnh gì, hoàn toàn yên tâm. Bố thí đồ cúng xong, chúng lại trở về chùa.
Thi Công bảo Thi An:
- Hãy tới chùa Liên Hoa ở Cửa Bắc, bí mật gọi Anh Công Nhiên và Trương Tử Nhân về huyện. Có việc mật cần đến họ.
Thi An vâng lệnh ra khỏi nha môn, chẳng mấy chốc hai người đã về tới huyện. Thi An vào thư phòng thưa với Thi Công. Hai sai nha vào quỳ lạy. Thi Công mỉm cười nói:
- Hãy đứng dậy, nghe ta dặn.
Hai người đứng dậy, Thi Công nói:
- Các người ở trong chùa thấy thế nào?
Hai người thưa:
- Bẩm quan mười hai tên cướp và sư sãi trong chùa theo chúng con thì chúng có nhiều mánh lới và thủ đoạn. Tất cả bọn chúng đều võ nghệ cao cường.
Thi Công thấy thế nói:
- Không cần các ngươi phải khuếch khoác. Ta đã biết rõ võ nghệ của các người cũng không xoàng. Bây giờ có một việc cần các ngươi làm, nếu người khác làm sẽ hỏng việcMười hai tên cướp ở chùa Liên Hoa, nhờ hai ngươi nghĩ cách bắt chúng. Nếu để chạy thoát đứa nào thì người nhà các ngươi phải vào Tù. Hẹn trong đêm nay các anh phải bắt chúng về đây.
Hai người nghe xong run bắn, họ quỳ xuống lạy, nói:
- Bọn cướp quả thực rất ghê, chúng cưỡi ngựa và sử dụng đao kiếm rất lão luyện. Xin quan lớn cử nhiều người tới.
Nghe xong Thi Công đùng đùng nổi giận, nói:
- Tài năng của các anh ta đã biết rõ. Yêu cầu vào canh ba đêm nay các anh đến chùa bắt mười hai tên cướp và hai chú tiểu về đây. Nếu sai hẹn ta sẽ trị tội.
Hai người không dám nói thêm gì nữa, vâng dạ ra khỏi phòng.
Vừa sáng dậy, những hòa thượng đã tới nha môn tụng kinh niệm Phật. Không thấy có động tĩnh gì, và cũng không đề phòng gì cả. Tên ác tăng và con ni cô dâm đãng không mang binh khí phòng thân. Niệm kinh xong, chúng vào phòng ăn chay. Ăn chay xong chúng trở lại rạp, chuẩn bị bố thí đồ cúng.
Thủ phủ, Huyện Công nói tiếng Mãn Châu vạch định kế hoạch, tối nay sẽ bắt bọn tăng ni. Tối đến, vào lúc lên đèn, tăng ni đều tới địa điểm hành lễ. Trên chính giữa lễ đài là Cửu Hoàng, xung quanh là các tăng ni đọc kinh họa theo. Thi Công ngồi sau Cửu Hoàng, hai người ngồi hầu ông hai ba ngày nay, lễ bố thí chúng sinh cũng thế, cho nên bọn tăng ni không hề để ý tới.
Hôm ấy Trấn Công ngầm chọn những tay hảo hán, bên ngoài mặc áo dài, bên trong mặc áo chèn, giấu binh khí trong người, ngồi quanh Thi Công, chuẩn bị bắt tên ác tăng. Bên dưới là hai hàng hòa thượng và ni cô. Tiếp đó là các đồ tế khí. Trấn Công cũng làm đúng như Thi Công, chuyên ngồi sau Thất Chư, trên lễ đài cũng có hai người hầu. Chỉ chờ bên Thi Công hành động, thì bên này cũng ra tay. Trong ngoài đã phục sẵn, chờ hiệu lệnh là xông vào tóm gọn.
Hai sai nha vừa tới chùa, hai chú tiểu trông thấy cười nói:
- Hai ông anh nghèo, các anh không quét điện thờ Phật, mà lại đi đâu về thế?
- Chú không biết à! - Công Nhiên nói. - Hôm qua nghe thấy ngài họ Ngô ở trong thành về nhà mới, định đi kiếm bữa, ngờ đâu chỉ được bát cháo loãng.
Chú tiểu cười hả hê, nói:
- Các anh không may, chúng tôi đem thức ăn cho các anh mà không thấy, thôi đến tối hãy ăn, bây giờ nhờ các anh lên quét trên lầu.
Hai người sai dịch nghe theo, rất may đang cần thăm dò tình hình bọn cướp. Nên cầm ngay chổi và chiếc hốt rác lên quét lầu. Trời tối dần, đèn nến đã thắp. Mười hai tên cướp đang tụ tập trên lầu uống rượu với nhau.
Chúng chơi trò phạt rượu, tới canh ba tất cả bọn chúng, đứa nào nào cũng uống vài ba chén. Vì chúng chờ Cửu Hoàng về rồi uống tiếp, để bàn nhau đi cướp. Hai sai nha thừa cơ hội bỏ thuốc mê vào chén. Sau đó lừa hai chú tiểu đi lấy rượu và thức nhắm, dùng ảo thuật trói chặt hai chú tiểu rồi nhét bông vào mồm.
Hai sai nha gõ cửa, rồi tới nhà bếp. Bọn sư đều ham rượu, thấy hai người nói:
- Hai anh nghèo, các anh hãy lấy luôn cho chúng ta, xin cám ơn.
Anh Công Nhiên và Trương Tử Nhân, nói:
- Vâng ạ.
Họ ra khỏi bếp rồi đi xuống, vẫn nghe thấy bên trên còn tiếng cười, biết là thuốc mê chưa ngấm. Hai người cảm thấy lo lắng: "Đến giờ mà người của huyện vẫn chưa tới ứng cứu, làm thế nào đây?”.
Tại lễ cúng chúng sinh, Cửu Hoàng kéo dài giọng đọc, ê a đọc tùng chữ rất to. Dưới lễ đài, các hòa thượng đánh trống gõ mõ họa theo. Tay hắn gõ, nhưng mắt cứ liếc nhìn ni cô. Vào canh ba, Thi Công thấy phục binh rất đông, tất cả đã sẵn sàng chờ lệnh là hành động. Thi Công thấy thế rất đắc ý, ngầm đưa mắt ra hiệu. Những võ sĩ hiểu ý, chờ thời cơ là ra tay. Sau đó ông liếc mắt đưa hiệu cho những trai tráng, binh lính, sai dịch. Các võ sĩ không dám chần chừ, đều bước tới sau lưng tên ác tăng, ôm chặt lấy Cửu Hoàng, vật hắn xuống. Tất cả dùng gậy gộc, tay thước đập túi bụi vào người Cửu Hoàng. Bị trói chặt, hắn không sao cử động được. Bên kia, Trấn Công thấy mọi người hành động, cũng ra tay. Thất Chư vừa bố thí lễ vật, đang lúc ồn ào, bỗng nghe thấy tiếng cười. Ni cô chột dạ, thì Thủ phủ đã đứng lên như một con hổ đói, ôm chặt lấy Thất Chư. Thất Chư ra sức giãy giụa, làm ông ngã lăn xuống đất. Hai võ sĩ chồm tới, dùng gậy sắc đánh vào vai. Thất Chư tay không, bị đánh tối tăm mặt mũi, ngả soài xuống đất. Trấn Công bò dậy nói:
- Ghê thật, con ni cô dâm đãng này rất khỏe.
Thế rồi ông gọi lính lại. Lúc ấy Thủ phủ mới an tâm. Dâm ni cô ra sức gào thét, Thủ phủ sai lính vả vào mồm, ni cô không dám kêu gào nữa. Những tăng ni khác không dám ho he.
Hai ông dẫn lính, mở cửa Bắc thành, đốt đuốc sáng rực như ban ngày, đến thẳng chùa Liên Hoa. Hai người sai nha ở chùa Liên Hoa chờ sốt ruột, thấy đàng xa đèn đuốc sáng rục, biết rằng quân lính trong thành đã tới, họ nói:
- Ta phải ra đón ngay!
Hai người chạy vội ra, quỳ trước mặt Thi Công. Thi Công  nói:
- Các anh làm thế nào rồi?
Hai người kể lại những việc đã làm. Thi Công rất hài lòng, nói:
- Anh Trấn, tôi và anh giữ chặt ngoài cửa chùa, để hai người dẫn quân vào bắt bọn cướp và trói tất cả sư còn lại giải lên huyện.
Thủ phủ nghe theo, sau đó bảo Công Nhiên và Tử Nhân:
- Các ngươi hãy dẫn năm mươi người lính vào chùa, trói toàn bộ bọn cướp và sư lại giải về thành, ta sẽ trọng thưởng các ngươi.
Hai người dẫn quân ập vào, tới thẳng lầu Ngọc Hoàng. Mười hai tên cướp uống phải thuốc mê đều bị bắt. Họ lại dẫn mọi người tới bếp, thấy sư say rượu đang nằm nghiêng ngả, họ trói cả lại. Hai người ra báo lại với Thi Công và Thủ phủ mọi việc giao cho đã xong. Hai ông xuống ngựa vào chùa ngồi trước hiên. Đèn đuốc sáng rực như ban ngày. Thi Công nói:
- Hãy dẫn bọn cướp và hòa thượng tới đây ta hỏi.
- Bọn chúng còn mê chưa tỉnh. - Công Nhiên nói. - Chỉ có hai chú tiểu là còn tỉnh.
- Hãy đưa chúng tới đây. - Thi Công nói.
Hai người vào phòng, lấy giẻ trong miệng hai chú tiểu ra, cởi thừng trói chân, dẫn tới trước mặt Thi Công. Thi Công chỉ vào mặt họ quát:
- Các ngươi không được nói bừa! Cửu Hoàng đã bị bắt, nếu không khai thực ta sẽ giết chết.
Thấy Cửu Hoàng và Thất Chư bị bắt, biết đã nguy, chúng nói:
- Thưa ngài, ngài đừng tra tấn, chúng con xin khai thực.
Thế rồi chúng khai vì sao trước đây phải đi tu, đi làm điều độc ác và gian dâm như thế nào. Và chúng kể lại chuyện, có hai vợ chồng vào tránh mưa ở hiên chùa, họ dụ vào chùa, dùng gậy đánh chết chồng, rồi nuôi người vợ để hành dâm. Hiện nay thi thể người chồng vẫn còn chôn trong chùa...
Thi Công nghe xong, nói:
- Người đàn bà ấy vẫn còn, sai dịch hãy đi gọi tới đây.
Chẳng mấy chốc người đàn bà đến. Thấy thân hình tiều tụy, Thi Công hỏi:
- Ngươi ở đâu, vợ chồng đi đâu mà qua đây?
Người đàn bà kêu:
- Thưa quan lớn, chồng con là Dương Tiễn Bảo, bị hòa thượng giết, con thì bị bắt ở lại chùa.
- Tại sao không đi kiện cho chồng ngươi? - Thi Công hỏi.
- Vì sao chồng chết lại theo sư?
- Họ khóa con trong phòng. - Người đàn bà nói. - Con không sao trốn được.
- Cũng phải bảo toàn khí tiết. - Thi Công nói. - Sao lại chịu sống như thế mà không chú ý đến đại nghĩa? Ta không tiện hỏi tỉ mỉ về duyên cớ.
- Con sống tại đường La Văn. - Người đàn bà nói. - Tên là La Phượng Anh. Chồng con buôn bán bị thua lỗ, không biết dựa vào ai. Nhân có ông bác cả sống ở đường Chữ Thập tại Giang Đô, con và chồng con tới đó nhờ vả qua ngày. Không ngờ tới đây thì trời đổ mưa. Gặp ngay bọn ác tăng vô cớ dùng gậy đánh chết, rồi bắt con ở đây để chúng hành dâm. Con không còn cách nào khác, mong sao mây đen tan đi, con được thấy mặt trời, con sẽ minh oan cho chồng con. Đem xác chồng con về chôn cất, thì con có về nơi chín suối mới nhắm mắt được.
Nghe xong Thi Công vô cùng thương xót. Trời lúc ấy cũng đã sáng, Thi Công bảo:
- Ngươi hãy đứng dậy theo ta vào thành, sẽ được xét xử công minh.
Thi Công cho giải mười hai tên cướp này đi, rồi để một số lính lại coi chùa. Nói xong, hai ông rời chùa, lên ngựa vào thành. Người hai bên đường đông nghịt, xôn xao bàn tán.
Lại có hai người đàn ông và một người đàn bà, ngăn ngựa quỳ xuống thưa:
- Chúng con vô cùng oan uổng!
Hai ông dừng ngựa, thấy người đàn bà trạc ba mươi tuổi. Tóc vấn như nàng tiên, mặt trái xoan, da dẻ hồng hào. Thắt đáy lưng ong, mềm mại như liễu rũ, mặc áo xanh quần màu lam, tay đeo ba chiếc xuyến vàng, mắt bồ câu mơ màng. Hai người đàn ông, một người tướng mạo hung ác, áo mũ chỉnh tề; một người mắt lác, mặc áo vải thô, tất trắng, giày mũi nhọn, mồm há, mắt mở trừng trừng, mặt tái mét. Thi Công nhìn khắp lượt nói:
- Các người đều là người đi kiện à?
Tên hung ác nói trước:
- Vâng... ạ.
Bỗng nhiên lại có một người kêu oan, kiện Thổ thần. Người này ăn mặc bình thường. Thi Công bảo:
- Hãy dẫn tất cả về huyện phán xét.
Lính hầu tuân lệnh, khóa tất cả lại. Hai ông lên ngựa về nha môn, tới hiên họ xuống ngựa, lập tức vào công đường. Trấn Công ngồi bên cạnh Thi Công, quân lính xếp hàng bên dưới.
Thấy có hai người vào lối cửa ngách kêu van:
- Thưa ngài con tới kêu oan.
Thi Công thấy người vào kiện vận toàn quần áo lụa là. Người thanh tú, tuổi trạc ngoài bốn mươi, dáng người hiền lành. Xem xong Thi Công nói:
- Có việc gì lạ? Hãy khai rõ họ tên.
- Con là Vương Tự Thần. - Người ấy nói. - Ở tại Đông Quan. Cha mẹ đều đã mất, chỉ có vợ. Con làm nghề cầm đồ, nhà đối diện nhà con là am ni cô Đại Tạng, nữ ni cô tu tại đó. Tối qua con về nhà hơi muộn, lúc ấy khoảng canh ba, trăng vẫn còn sáng. Khi về nhà gõ cửa, bỗng con thấy trên cổng am, treo hai đầu người, một nam, một nữ. Con sợ chẳng còn hồn vía gì cả, vội vào ngay nhà khóa cổng lại. Đến khi trời sáng con không dám giấu. Sáng nay nữ tăng trong am là Lão Ni lại đến dọa con, không được báo quan.
Thi Công thấy thế nghĩ thầm, tại sao những chuyện quái lạ đều xảy ra ở nơi đây. Chỉ có làm như thế... mới được. Thế rồi ông bảo sai nha cùng với Vương Tự Thần đi gọi ni cô trụ trì tới.
Thi Công lại bảo sai nha tới, gọi ngay người cáo giác là Hải Triều tới nghe phán xử, và báo cho Lý Liên Thành và Hồ Đăng Cử - người đã báo về vụ giết người tới nghe phán xét. Sau đó Thi Công cho gọi tên ác tăng tới xét hỏi. Tới công đường, tên ác tăng này không quỳ. Thi Công nổi giận quát:
- Tên ác tăng kia, hãy khai mau.
Cửu Hoàng quát to:
- Bần tăng là đệ tử của Đức Phật Như Lai, cẩn thận giữ gìn phép tu hành. Ngài mời ta đến mở hội cầu phúc, tại sao lại bắt ta. Pháp luật của Đại Thanh rất nghiêm minh, ngài căn cứ vào đâu mà bắt?
Thấy hắn tỏ ra bất bình, ông đập bàn quát:
- Ta sẽ cho người đối chất.
Thế rồi ông gọi hai chú tiểu quỳ trước công đường, Cửu Hoàng trông thấy chửi:
- Con lừa trọc đầu tới đây làm gì?
Chú tiểu nói:
- Ngươi phạm tội rồi, ngươi hãy mau khai ra thì khỏi phải tra tấn.
- Ngươi là tên hung ác, bản quan đã biết hết cả rồi.
Thi Công bảo đưa tên ác tăng xuống dưới và giải những hòa thượng chùa Liên Hoa tới. Lính hầu dạ ran, đưa bọn này tới quỳ trước công đường. Thi Công cười nói:
- Các ngươi hãy khai thực, ta sẽ tha thứ.
Bọn hòa thượng cúi đầu nói:
- Xin ngài cứ hỏi Cửu Hoàng thì sẽ rõ những vụ án giết người.
Thi Công cho người đưa họ xuống dưới và giải mười hai tên cướp lên. Chúng quỳ trước công đường, mặt mũi đứa nào trông cũng hung ác dữ tợn. Lúc ấy chúng đã tỉnh và biết mình đã bị bắt.
Thi Công nói:
- Ta có lời cần bàn với các ngươi. Hiện nay Cửu Hoàng và Thất Chư đã bị bắt. Ta rất thương người, các ngươi hãy khai thực, nếu che giấu cho Cửu Hoàng và Thất Chư, tức là hại mình. Không những người nhà mình chịu tội mà tính mạng của mình rồi sẽ ra sao. Các ngươi hãy nghĩ cho kĩ.
Nghe thấy Thi Công nói thế, bọn cướp rất cảm động. Chúng đều nói:
- Thưa quan lớn, chúng con không dám không khai, quan lớn dạy rất đúng. Xin quan lớn cho gọi Cửu Hoàng tới cùng chúng con đối chất để thấy rõ trắng đen. Cúi xin quan lớn tha chết.
Thi Công nghe xong, nói:

- Lát nữa sẽ gọi tên ác tăng tới, các ngươi hãy khai rõ họ tên, rồi sẽ cho gọi Cửu Hoàng.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Thu Apr 03, 2014 6:58 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 6 (E)
Nghe xong bọn cướp đều khai rõ họ tên: Quách Nghĩa, Triệu Lục, Ngô Lão Tử, Trương Bát, Chu Cửu, Lưu Ngũ, Vương Kiều Bát, Vương Tam Hoán, Đỗ Lão Thúc, Triệu Nhân, Hồ Thất.
Thi Công bảo thư lại ghi rõ họ tên, rồi sai người dẫn chúng đi nơi khác, không cho Cửu Hoàng gặp mặt. Sau đó lại cho gọi người kiện Thổ thần. Anh ta lập tức quỳ trước công đường. Thi Công hỏi:
- Có phải người kiện Thổ thần không?
- Vâng, chính con ạ! - Người ấy đáp.
- Hãy khai rõ sự thực. - Thi Công nói.
- Bẩm quan lớn. - Người ấy thưa. - Con không biết làm thế đành liều mạng kiện Thổ thần. Con sống tại thôn Đào Hoa, ngoài huyện thành. Tên là Lý Chí Thuận, vợ là Vương thị người cùng thôn. Vợ chồng lấy nhau từ thời còn trẻ. Cha mẹ đều đã qua đời, lại không có anh em con cái. Vì nhà nghèo, không còn cách nào đành phải ra ngoài làm ăn. Con tay trắng tới nhà một người thân, người này có cửa hàng bán thuốc, con học buôn bán. Ba năm vất vả, góp được năm sáu chục lạng bạc. Thương người vợ không nơi nương tựa, con đành xin về, đóng giả người ăn mày. Hôm ấy về nhà muốn thử lòng vợ, con vào miếu Thổ thần, thấy quanh mình không có ai, con giấu bạc trong lư hương, giao cho miếu Thổ thần của làng con giữ hộ. Thấy vợ con vẫn chịu khó chịu khổ, giữ tròn trinh tiết, con vô cùng kính trọng. Hôm sau con tới miếu lấy bạc, thì ôi thôi, bạc đã không cánh mà bay. Con không còn cách nào khác, tới đây kiện Thổ thần. Cúi mong ngài phán xử.
Thấy thế Thi Công mỉm cười, tất cả mọi người cũng cười theo. Thi Công hỏi:
- Lý Chí Thuận! Ngươi giao bạc cho Thổ thần, tuy không ai nhìn thấy, song thần là tượng đất, sao tới đây kiện liều, đáng đánh đòn. Bây giờ ta cho phép người về, ngày mai tới hầu tại miếu. Ta sẽ đến hỏi Thổ thần.
Lý Chí Thuận cúi lạy rồi bước ra.
Thi Công gọi hai người đàn ông và một người đàn bà đưa đơn kiện tới xét hỏi. Họ quỳ trước công đường. Thi Công hỏi:
- Các người kiện về việc gì? Hãy nói mau, không được bịa đặt. Các người phải biết rằng, phép quan như sấm sét.
Một người cao to nói:
- Thưa quan lớn, con là Chu Thuận ngụ tại gần cầu, cách thành năm dặm. Cha mẹ vẫn còn sống, con không có anh em. Người đàn bà này là vợ con. Thị là người hiền lành, nghèo nhưng rất trong sạch. Nhà con xưa nay vẫn luôn luôn làm ăn lương thiện, song tai họa bỗng dưng ập đến. Đó là tên câm họ Võ, không có quê quán, vì thương hắn nghèo khổ nên giữ lại để làm người sai bảo trong nhà. Ai ngờ cho hắn ăn no mặc lành hắn lại thay lòng đổi dạ. Hắn quả là tên lang sói, nhận bừa vợ con là vợ hắn, rồi hắn cầm gậy cầm dao liều mạng với con. Con chẳng biết làm sao đành cùng với vợ con lên huyện dâng đơn kiện. Cúi xin quan lớn phân xử để con được minh oan.
Anh câm đứng bên cạnh cứ gào lên, hai mắt mở trừng trừng, nước mắt trút xuống như mưa. Nói không được, anh câm cuống lên, đấm ngực, vò đầu bứt tai, chẳng kể gì đến phép tắc, cứ kêu á á rầm lên như một người điên. Cả công đường đều không nhịn được cười.
Thi Công nhìn xuống nói:
- Ngươi không cần phải lo lắng. Ngươi và Chu Thuận hãy ra ngoài, chút nữa sẽ kết án.
Thi Công nghĩ cách hỏi người đàn bà rằng:
- Ta hỏi ngươi, ta nghĩ rằng vợ chồng ngươi có lòng thương người. Anh câm vốn là người thật thà, ngươi và Chu Thuận thương anh ta nghèo khổ, giữ lại nhà để sai bảo, điều ấy có thật. Song đáng tức là nó không sợ pháp luật, sinh lòng gian dối, nhận ngươi là vợ hắn. Ta cũng căm phẫn hắn lòng lang dạ sói, phải đánh cho hắn một trận, rồi đuổi hắn ra ngoài biên cảnh để vợ chồng ngươi khỏi phải khổ vì hắn, đó là lý. Song ta cũng hỏi thật ngươi, rốt cuộc ngươi là vợ anh câm hay là vợ của Chu Thuận? Hãy khai ra mau!
Người đàn bà đáp:
- Con là vợ Chu Thuận.
- Ta nghĩ rằng, - Thi Công nói, - ngươi vốn không có quan hệ thân thích với anh câm này, thì tại sao lại gọi vào nhà cho ở mà không từ chối lẫn tránh. Chỉ cần ngươi nói thực là ta lập tức đánh tên câm ấy chết đi, chứ quyết không để cho hắn làm loạn Giang Đô. Ngươi hãy nói mau!
Thi Công vờ nói thế, người đàn bà tưởng thật, nói ngay:
- Con không dám nói dối. Người câm ấy là anh con, con là em gái của anh ấy. Vì chồng con cho anh ấy sống trong nhà, ai ngờ anh ấy thay lòng đổi dạ, mặt người nhưng dạ thú. Bởi thế không cách nào khác hơn mới đi kiện.
Thi Công dụ dỗ, thấy nói thực tình, ông không hề nổi giận, cho người đưa thị ra ngoài, rồi gọi Chu Thuận vào quỳ trước công đường. Thi Công mỉm cười nói:
- Chu Thuận! Ta mới tới Giang Đô nhậm chức. Ta rất ghét bọn côn đồ. Ngươi đối xử tốt với người ta, lại trở thành thù oán. Tên câm là một kẻ côn đồ bất lương, ta phải đánh đập cùm kẹp tên này trước mọi người. Ta hỏi ngươi, tên câm này không phải là người thân thích, thì tại sao lại giữ lại nuôi? Người lạ mặt sao lại cho ở nhà mình? Nhất định là tên câm vô lý, đã mắc tội với ngươi, chẳng còn tình nghĩa gì nữa. Hãy nói thực với ta.
Thấy Thi Công hỏi thế, Chu Thuận rất bối rối, cuống lên, cứ ớ người ra không nói được. Thấy thế, Thi Công nói:
- Chu Thuận, ngươi đừng lo lắng, hãy nói mau!
Lính hầu bèn bày dụng cụ tra tấn, Chu Thuận thấy truy hỏi căng thẳng. Hắn vô tình nói:
- Con và tên câm cũng có chút thân tình. - Rồi hắn lại nói tiếp. - Là con cô con cậu.
Thi Công cười ha hả, nói:
- Rút cục các ngươi là con cô con cậu.
Rồi sau đó ông bảo đưa Chu Thuận ra ngoài. Gọi anh câm tới hỏi.
Bỗng thấy hai người tới, đó là ni cô ở am Địa Tạng và Vương Tự Thần, họ quỳ trước công đường. Vương Tự Thần nói:
- Lão sư phụ, lâu nay tôi là láng giềng của ni cô, ngươi hãy nói hai chiếc đầu treo trước cửa chùa tối qua, nay đâu rồi, ngươi cứ nói thực đi.
Thi Công nghe nói, quát lớn:
- Tên kia! Trước công đường không được nói bừa, việc ấy đã có ta xét hỏi, ngươi hãy ra ngoài.
Vương Tự Thần được người đưa xuống dưới. Thi Công lại hỏi ni cô:
- Ni cô, ngươi đừng sợ, theo ta nghĩ, nếu như ngươi giết người trong am, thì sao lại treo đầu trước cửa chùa? Hẳn là sáng sớm khi ra cửa, nhìn thấy sợ quá nên giấu đi thôi.
Nghe thấy thế, ni cô sợ run lên.
Thấy vậy Thi Công nói:
- Ni cô không phải lo lắng gì cả, chỉ cần ngươi nói thẳng, ta sẽ có cách giải quyết.
- Thưa quan lớn, - ni cô nói. - Cha con vốn ở huyện này. Cha mẹ đều chết hết, con phải đi tu từ nhỏ, luôn luôn giữ gìn phép tắc nhà Phật. Nay tự nhiên đại họa giáng xuống, con không biết có đầu người, xin quan lớn thương cho.
Nghe ni cô nói, Thi Công cố ý mỉm cười nói:
- Ni cô, đúng là Vương Tự Thần vu cáo.
- Vương Tự Thần, - Thi Công quay sang hỏi Vương Tự Thần - Ngươi thấy đầu người treo trước cửa am, ngươi có báo cho ni cô trụ trì không? Tại sao ni cô lại nói không có.
- Thưa quan lớn, - Vương Tự Thần nói. - Con và ni cô xưa nay không thù không oán gì nhau, sao dám bốc lửa bỏ tay không. Xin mong ngài dùng hình phạt để tra hỏi. Nếu không có việc ấy con hoàn toàn chịu tội.
Nói xong, Vương Tự Thần cúi đầu vái lạy. Thi Công bảo kẹp ni cô lại. Lính hầu xông tới kẹp ni cô. Ni cô đau quá kêu cha kêu mẹ, sợ run cầm cập, nói:
- Bẩm quan lớn, con xin khai. Con mở cửa am, thấy hai cái đầu treo trước cửa, bỗng chốc sợ quá, con gọi Lão Đạo cho lão ta năm lạng bạc bảo lão vứt ra ngoài đồng. Đó là sự thực.
Thi Công thấy thế nói:
- Tên ni cô ác độc này to gan thật. Thấy đầu người thì phải khai báo chứ. Hãy tạm đưa nó xuống dưới kia.
Lính hầu vâng lệnh, đưa ni cô xuống, gọi Lão Đạo, người trong am đến đối chất. Lão Đạo tới, quỳ xuống run cầm cập. Thi Công hỏi:
- Lão Đạo, ngươi vất đầu chỗ nào? Hãy khai thực!
- Con năm nay bảy mươi nhăm tuổi, - Lão Đạo khai, - sống cô đơn, nương tựa nơi cửa am. Hôm ấy được ni cô đưa cho mấy lạng bạc, con đã gói đầu người đem đi. Sợ người ta trông thấy, con ném sang nhà bên, rồi quay về am. Đó là sự thực.
Thi Công nghe xong nói:
- Đồ ngu!
Sau đó, Thi Công bảo sai nha cùng Lão Đại đến nhà ấy đem đầu về. Nếu không thấy đầu thì bắt chủ nhà về đây. Chẳng mấy chốc, sai nha dẫn một người vào quỳ trước công đường, thưa:
- Chúng con cùng Lão Đại tới nhà ấy, đó là sân sau của cửa hàng bán hàng Quảng Đông. Chúng con hỏi họ về việc này, thì chủ cửa hàng bảo "không thấy đầu người", chúng con đã bắt chủ hiệu giải về đây. Xin ngài định đoạt.
Thi Công nghe xong hỏi Lão Đạo:
- Có đúng ngươi vứt đầu người sang nhà người ta không?
- Bẩm quan lớn, đúng ạ! - Lão Đạo đáp.
Thi Công hỏi người chủ hiệu:
- Lão Đạo vứt đầu sang sân nhà ngươi, ngươi có thấy không? Hãy nói thẳng, việc này ngươi vô can.
- Xin quan lớn cho con nói. - Người ấy cúi đầu thưa. - Cha con sống ở Sơn Tây, nay đến Giang Đô buôn bán, ba gian mặt tiền bán hàng Quảng Đông, nhà sau có năm tầng, con đã buôn bán ở đây hơn mười năm nay. Con tên là Lưu Quân Phối, năm mươi tuổi. Cửa hàng của con có hơn mười người làm công. Đâu dám vô cớ lừa dối ngài. Hơn nữa nhà con đông người, ai mà không biết, xin ngài soi xét.
Thi Công nghe xong, cho gọi một người làm công tới. Chẳng mấy chốc sai nha dẫn một người tới quỳ trước công đường. Thi Công thấy người này áo mũ hợp thời, tuổi trạc tứ tuần, ông hỏi:
- Ngươi là người làm thuê cho Lưu Quân Phối phải không?
- Thưa vâng ạ! - Người ấy đáp.
- Lão Đạo trong am Địa Tạng nói đã vứt hai chiếc đầu vào sân sau nhà Lưu Quân Phối, có đúng không, hãy khai mau!
- Bẩm quan lớn, cho phép con khai tỉ mỉ. Cha con người Sơn Tây, cùng quê với ông chủ con. Con tên là Vương Công Bật, bốn mươi nhăm tuổi, có người em họ cũng làm ở đây. Sáng hôm sau ra sân sau không thấy về, không biết là đi đâu mất tích. Đang lúc con buồn phiền, thì ngài sai người đến tìm đầu người. Con hoàn toàn không biết, xin cầu mong ngài gia ân, tìm người em họ con.
Nói xong người ấy khóc lóc thảm thiết. Thi Công nói:
- Kỳ lạ thật! Đang truy tìm đầu người, lại thấy chuyện quái lạ này.
Ông suy nghĩ hồi lâu, rồi nảy ra một kế, sao không làm... như thế, đối chiếu sự việc. Nghĩ xong, ông hỏi:
- Vương Công Bật, em họ anh ra sân sau, rồi không thấy nữa phải không?
- Thưa ngài, - Vương Công Bật nói. - Đúng thế ạ! Hôm ấy con nghe ông chủ nói: "Anh họ ra sân sau, nhảy qua tường rồi mất tích".
Thi Công nghe xong, hiểu ra, rồi bảo với Vương Công Bật rằng:
- Ngươi hãy lui xuống dưới kia. - Rồi nói tiếp. - Hãy kẹp Lão Đạo cho ta.
Lính hầu khiêng gông lớn đến đặt trước công đường, Lão Đạo thấy thế sợ quá. Chưa kịp hoàn hồn thì lính hầu đã đẩy ông ta ngã sấp, lôi tuột giày tất ra rồi kẹp.
Thi Công quát:
- Hãy kẹp thật đau.
Lão Đạo ngất lịm, họ hắt nước vào mặt, ông ta tỉnh lại, thưa:
- Thưa ngài, đúng là con vất vào sân sau.
- Tháo kẹp ra, - Thi Công nói. - Khiêng lão ra một bên.
Rồi lại cho gọi Lưu Quân Phối, nói:
- Ngươi nghe rõ chưa? Nếu ngươi không khai, ta sẽ kẹp ngươi.
- Quả thật con không thấy. - Lưu Quân Phối nói.
Thi Công đùng đùng nổi giận, bảo lính hầu kẹp rồi sẽ hỏi. Họ kẹp Lưu Quân Phối, gã ngất đi, hắt nước vào mặt, gã tỉnh lại song vẫn không khai. Thi Công sai mang đến mấy chiếc cùm. Lưu Quân Phối không chịu nổi tra tấn phải nói:
- Con xin khai.
- Phép quan như sấm sét. - Thi Công nói. - Không sợ ngươi không khai. Hãy mau nói ra!
- Hôm ấy trời vừa tảng sáng, - Quân Phối khai, - con đau bụng đi ngoài, tới sân sau bỗng nghe tiếng động, nhìn ra thì đó là hai cái đầu đàn ông và đàn bà. Con ra ngoài sân xem, không thấy bóng người. Lúc ấy em họ của Vương Bật cũng mở cổng sân sau. Hắn cũng nhìn thấy đầu người, nhất định hắn sẽ vòi tiền. Nếu không cho thì hắn sẽ đi kiện. Bởi thế con nảy ra ý định giết hắn, rồi lừa hắn tới cạnh hố. Đang lúc không phòng bị, con dùng gậy đập vào đầu hắn chết. Con đã hất hắn xuống hố, chôn cùng với hai cái đầu. Trong cửa hàng chẳng ai biết cả. Đó là sự thực.
Thi Công nghe xong, bảo người ghi khẩu cung, lập tức sai người đi khám nghiệm đầu người, đối chứng kết án. Một lát sau, sai nha trở về công đường. Thi Công thấy hai chiếc đầu người đặt trước công đường. Ông sai người gọi Đăng Cử tới. Đăng Cử vào, vừa cúi chào, thấy đầu người, nhìn kỹ thì đó là đầu cha mẹ mình. Đăng Cử ôm lấy khóc rống lên. Thi Công nói:
- Ông Hồ! Đây là đầu của cha mẹ ông ư?
- Thưa ngài, vâng ạ! - Hồ Đăng Cử đau đớn nói. - Ngài hãy bắt ngay hung thủ để minh oan cho cha mẹ tôi, tôi vô cùng cảm ơn ngài.
- Ông hãy chờ một chút. - Thi Công nói. - Ta sẽ kết án ngay.
Thi Công cho gọi hòa thượng Cửu Hoàng vào xét hỏi. Một lát sau, sai nha giải Cửu Hoàng vào, hắn ngang nhiên đứng trước công đường. Thi Công nổi giận quát:
- Tên côn đồ kia, sự việc đã bại lộ, ngươi vẫn còn ngang ngạnh. Hãy kẹp hắn cho ta!
Sai nha dạ ran, đẩy hắn ngã sấp, mang kẹp tới kẹp. Hắn kêu lên một tiếng rồi ngất lịm. Họ hắt nước vào mặt. Hắn tỉnh dậy:
- Thưa quan lớn, con xin khai hết sự thể.
Thi Công cho gọi các chú tiểu lại đối chất. Sai nha giải hai chú tiểu tới quỳ trước công đường. Thi Công hỏi:
- Ta hỏi các ngươi, tại sao giết vợ chồng ngài Hồ Hàn lâm lại treo đầu trước cửa am ni cô? Hãy nói mau, ta tha chết.
- Thưa ngài. - Chú tiểu nói. - Con biết rất rõ. Cửu Hoàng thường uống rượu trong chùa, chúng con thường phải đứng hầu. Hắn thường thông dâm với Thất Chư. Ông Hồ Hàn Lâm vốn là thí chủ của chùa. Hôm ấy ông cùng phu nhân và tiểu thư tới chùa thắp nhang, thấy họ dâm loạn ông rất khó chịu, bèn giục phu nhân và tiểu thư về. Thất Chư vô cùng xấu hổ. Cửu Hoàng đi trả thù cho Thất Chư. Hôm ấy uống rượu xong hắn nhảy qua tường ra khỏi chùa. Một lát sau xách về hai chiếc đầu lâu Thất Chư rất mừng.
- Sao Cửu Hoàng lại treo đầu trước cửa am ni cô? - Thi Công hỏi. - Hãy khai mau.
- Thưa ngài. - Chú tiểu nói. - Cửu Hoàng là con quỷ dâm dục. Hôm ấy, khi đi qua am Địa Tạng, Cửu Hoàng thấy ni cô xinh đẹp hắn mê tít, nhưng không hành dâm được. Trở về chùa hắn buồn bã vì đã không chiếm được ni cô, hắn nghĩ nếu treo đầu người trước cửa am, thì ni cô này sẽ bị kháo tay giải lên huyện. Nhân lúc đêm khua, hắn dùng phép bay lên hiên nhảy qua tường, đánh lừa hành dâm. Nếu không nghe theo sẽ đâm chết.
Nghe xong, Thi Công bảo dẫn chú tiểu xuống dưới. Rồi ông hỏi tên ác tăng Cửu Hoàng:
- Ngươi đã nghe rõ chú tiểu nói chưa?
- Nghe rõ rồi. - Tên ác tăng nói. - Ta đã đến ngày tận số, ngài không phải hỏi nữa, ta sẽ khai.
Thi Công cho mời Hồ tướng công tới. Hồ Đăng Cử tới, đứng sang một bên. Thi Công cười nói:
- Vừa rồi đối chất với Cửu Hoàng, Thất Chư, ngài đã nghe rõ chưa?
- Tôi đã nghe thấy hết tất cả rồi. - Hồ Đăng Cử đau đớn nói. - Cúi xin ngài nghiên cứu kết án.
Thi Công nói:
- Tai họa do mình dẫn đến, nên sự việc mới xảy ra. Cha ngài nửa đời trong triều, làm quan tới chức hàn lâm. Ngài cũng từng đọc sách thánh hiền. Từ nay về sau đừng gần bọn sư sãi ni cô. Nếu cha ngài không tới am ni cô, thì làm sao xảy ra tai họa? Đúng là làm ơn nên oán, cho nên Cửu Hoàng, Thất Chư mới lòng lang dạ sói như thế. Ngài hãy mang đầu ông bà về an táng. Xin ngài hãy nén đau thương, chờ giấy báo chém đầu bọn côn đồ.
Hồ Đăng Cử nghe xong quỳ xuống lạy, nói:
- Xin đa tạ ngài đã dạy bảo, ngài đã báo thù cho kẻ học trò này, tôi xin suốt đời kết cỏ ngậm vành.
Nói xong Đăng Cử khấu đầu đứng dậy, lùi sang một bên, cởi bọc lấy đầu cha mẹ, rồi ôm vào lòng, ra khỏi nha môn.
Thi Công bất giác thở dài, rồi ông cho gọi Lưu Quân Phối đối chất với Vương Công Bật và ni cô am Địa Tạng để kết án. Trước hết ông hỏi ni cô :
- Tai họa do ngươi gây ra, hãy nghe ta phán quyết. Thấy đầu nếu khai báo thì sao đến nỗi gây ra tai vạ để liên lụy đến nhiều người. Dùng tiền thuê Lão Đạo vứt đầu, tên ngu muội hám tiền, quên hết kiếp sống cuối đời. Vứt đầu người sang sân nhà người khác để gieo tai họa. Quân Phối đáng lẽ phải báo quan, song không báo. Việc ấy lại sinh ra mầm tai họa khác. Khi anh em họ Công Bật trông thấy, nảy sinh ra ý bất lương, đòi năm trăm lạng bạc. Lưu Quân Phối tiếc tiền, quẫn chí dùng gậy đánh chết, chôn cùng một chỗ. Lưới trời lồng lộng, thưa mà không sao lọt được.
Ông lại hỏi tiếp:
- Lão Đạo, quê ngươi ở đâu?
- Con, người Hà Nam. - Lão Đạo nói. - Tên là Ngô Lâm. Vì nhà nghèo lưu lạc tới Giang Đô.
- Ni cô cho ngươi năm lạng bạc có đúng không?- Thi Công hỏi.
Ngô Lâm rút bạc từ trong thắt lưng ra, đưa cho sai nha đặt lên bàn. Thi Công hỏi ni cô:
- Ngươi dấu đầu người, làm hại người khác, phạt ngươi mười lăm gậy.
Sau đó Thi Công gọi Vương Tự Thần nói:
- Về việc này người có công. Thưởng ngươi năm lạng bạc của Lão Đạo.
Sau đó ông bảo giam Lão Đạo vào ngục chờ xét xử. Ông nhìn xuống dưới nói:
- Vương Công Bật, Lưu Quân Phối, các ngươi hãy nghe ta nói đây.
- Cúi lạy ngài, - Công Bật nói. - Ngài đã báo thù cho em con.
- Ta sẽ trình hồ sơ lên cấp trên, chờ kết án. Ngươi hãy mau chóng về mai táng em khi nào quyết án báo thù minh oan ta sẽ báo.
Nghe xong Vương Công Bật cúi đầu tạ ơn. Thi Công gọi Quân Phối nói:
- Quân Phối, nếu hôm ấy thấy đầu người, ngươi báo ngay thì sao đến nông nỗi này! Vì ngươi nảy ra ý định hại người, thì phải đền mạng. Ta chờ trên báo về sẽ phán quyết.

Thi Công cho sai nhân dẫn Quân Phối về cửa hàng thanh toán sổ sách, giao cho Vương Công Bật rồi giải về giam vào ngục.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Fri Apr 04, 2014 3:37 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 7
Hồng Nhạn Chợt Kêu Nỗi Oan 
Rửa Sạch Mộ Mới Vừa Lễ Hận Cũ Tiêu Tan
Thi Công, Hạ Thiên Bảo, Hoàng Thiên Bá, Vương Đông cưỡi ngựa theo đường cái quan phi thẳng tới Tế Nam. Tới phủ Tế Nam rẽ vào thành, đến quán Kim Đình tất cả đều xuống ngựa theo Thi Công đi vào. Trong quán Kim Đình đã thấy Quan Tiểu Tây, Vương Điện Thần, Thi An đứng đó nghênh tiếp. Chào hỏi xong, Thi Công cho người bày yến tiệc khoản đãi. Thi Công ngồi ở hàng đầu, mọi người theo thứ tự cũng ngồi vào, yến tiệc xong đêm đã khuya, tất cả đều về các phòng nghỉ ngơi.
Sáng hôm sau, Thi Công dậy rửa mặt chải đầu, rồi vội vã lên công đường. Các quan văn võ đã tới đông đủ, họ đứng xếp hàng hai bên, cúi chào Thi Công. Thi Công nhìn Tri phủ nói:
- Quý phủ có biết thuyền lương bao giờ tới Tế Nam không?
- Chỉ độ bốn năm hôm nữa sẽ tới. - Tri phủ vái lạy nói.
- Tri phủ hãy đem các vụ án đã xử và chưa xử ra đây để bản Bộ xem. - Thi Công gật đầu nói.
Tri phủ tuân lệnh, rồi bảo thư lại trình lên. Thi Công lướt nhìn, trong đó có vụ án Kim Hữu Nghĩa vô cớ giết Triệu Tam, song người chết và hung thủ chưa hề quen biết nhau, và cũng chẳng có hận thù gì nhau, hung khí cũng không tìm thấy. Kết án phải đền mạng. Xem xong, Thi Công thấy khả thi. Đang lúc trầm ngâm, bỗng thấy một con nhạn đậu dưới mái hiên kêu nháo nhác, khiến mọi người kinh ngạc.
Thi Công nghĩ: "Việc này nhất định có oan ức chi đây". Thi Công bèn rút lệnh ra, thấy tên Diêu Năng, bèn gọi:
- Diêu Năng hãy nghe ta sai bảo.
Thấy bên dưới có một người quỳ, Thi Công nói:
- Ngươi hãy cầm lệnh đi theo con nhạn. Ngươi phải để ý, nhạn đỗ xuống đâu, ở đó có người thì về báo, nếu còn nấn ná thì ta sẽ trị tội.
Diêu Năng kinh sợ, quỳ xuống rồi bò lên nửa bước, cúi đầu thưa rằng:
- Thưa ông lớn, con đi bằng hai chân, làm sao mà theo kịp chim bay? Chúng bay trên không xuyên qua các đường phố ra khỏi thành, thì con lần mò sao được. Xin ông lớn rộng lòng thương, nếu như nó bay vụt đi mất, thì con biết đâu mà tìm.
Thi Công đập bàn, chỉ vào mặt quát:
- Tên này to gan thật, dám từ nan việc ta giao. Từ ngày ta nhậm chức tới nay, ta đã tìm ra các vụ án không có đầu mối tra hỏi cả Thổ thần, Thổ thần cũng phải khai, kiện ma quỷ cũng tìm ra; đá, rái cá, khỉ cũng biết đi kiện, cóc nhái và chó cũng biết kêu oan, làm Tri phủ đấu trí bắt gió lốc; tại phủ Thuận Thiên đã tìm ra vụ án nhân sâm; ở xóm La Cổ ta đã xử án Táo quân. Nay ta thấy vụ án Kim Hữu Nghĩa, tất có oan tình. Thấy nhạn kêu quái lạ, đây là loài chim tín nghĩa, trời sai chúng tới kêu oan. Ta bảo ngươi đi theo nó, ngươi phải theo ngay. Sao ngươi dám chống lại. Hãy lôi hắn xuống, đánh ba mươi gậy!
Diêu Năng thấy tình thế bất lợi, vội vàng cúi đầu nói:
- Con xin đi.
Thế rồi Thi Công thôi không phạt nữa. Diêu Năng đứng dậy nhận lệnh, tới hiên, chỗ chim nhạn đậu, nói:
- Nhạn ơi! Chỗ nào có oan thì hãy dẫn ta đi tìm. Nhạn phải bay chậm ta mới theo kịp. Ngươi bay qua phố xá, bãi sậy, trăng sáng ta biết đâu mà tìm. Nhạn ơi! Chúng ta đi thôi.
Lúc ấy nhạn gật đầu, bay lên nhìn Diêu Năng. Thấy thế, ai ai cũng kinh ngạc nói:
- Thật là kỳ lạ, chẳng trách người ta gọi là Trại Bao Công!
Tất cả đổ dồn mắt nhìn chim nhạn, nó bay chầm chậm như là chờ sai nha. Con nhạn ấy bay ra khỏi thành, tới đậu trên một cây cổ thụ, sai nha ngước trông, thấy nó nhìn mình kêu nháo nhác. Diêu Năng cười nói:
- Nhạn ơi, ở công đường mày không nghe thấy ông lớn nói phải tìm cho ra sự thực ư?
Chỉ thấy nhạn đứng im gật gật đầu. Diêu Năng không hiểu sao, rất lo lắng. Đang suy nghĩ miên man, bỗng thấy có người đi tới sai nha vội nấp vào thân cây theo dõi, thấy một người đàn bà trạc trên năm mươi tuổi, xanh xao hốc hác, buồn rũ rượi, nước mắt lưng tròng. Bà mặc chiếc áo vải màu lam, quần xanh, chân nhỏ, đi giày nhọn, tay cầm vàng hương. Tới trước một ngôi mộ, bà quỳ xuống rót rượu, thắp hương, vừa khóc vừa khấn: "Anh Tam, anh chết chưa lâu, nếu anh sống khôn thác thiêng, thì hãy nghe tôi nói. Chồng tôi là Kim Thủ Tín. Tôi họ Nhậm. Hàng chục năm nay, chồng tôi bỏ lại hai mẹ con côi cút. Tên con là Kim Hữu Nghĩa, hai mươi tuổi, buôn bán nhì nhằng kiếm sống. Hiếu thảo nuôi dưỡng mẹ già, nó hoàn toàn không giết người: Anh Tam, anh bị ai giết, vong hồn anh phải biết. Nếu anh linh thiêng thì anh sẽ bắt kẻ sát nhân phải đền mạng, tại sao để người tốt chịu oan?!".
Sau đó bà kể lại con bà bị tống giam thế nào, bị khép tội xử trảm ra sao. Sai nha nghe hết, và cảm thấy rất lạ, sao nhạn lại biết minh oan? Anh ngẩng đầu lên, thì nhạn đã bay đi từ lúc nào rồi. Anh nghĩ: "Không hiểu vì sao Thi Công biết Kim Hữu Nghĩa oan khuất Người đàn bà này khóc thật đáng thương, ta phải đến an ủi bà ấy". Chợt thấy từ xa lại có một người đàn bà đi tới. Người ấy trạc ba mươi tuổi, mặc tang phục, đi giày vải trắng, hằm hằm tức giận bước thẳng tới người đàn bà. Chẳng nói chẳng rằng, lôi bà lão ngã sấp gào lên chửi:
- Thằng chó đểu Kim Hữu Nghĩa vô cớ giết chồng ta, con đĩ già vẫn chưa thỏa hận, lại còn tìm đến mộ, yểm đảo.
Vừa chửi, chị ta vung tay đấm túi bụi lên người bà lão. Bà lão quằn quại kêu rên:
- Tôi không thân thiết, không bạn bè, không thù hận, tôi đến kêu van linh hồn anh, cầu xin anh bắt kẻ sát nhân, để người tốt khỏi chịu oan, chứ hoàn toàn không có ý gì khác.
Ngươi thiếu phụ kia vẫn không nghe, cứ đánh bà thùm thụp
Diêu Năng bước tới nói:
- Xin chị đừng giận dữ. Tôi đến đây từ sớm, thấy bà này không có ý gì khác.
Thiếu phụ dừng tay nói:
- Anh là ai, làm gì ở đây?
- Tôi là Diêu Năng, - sai nha nói, - là sai nha của Tế Nam. Tôi vừa theo nhạn tới đây, tìm sự thực về nỗi oan khuất. Tôi nghĩ rằng, chồng chị không phải do Kim Hữu Nghĩa giết. Thi Tổng đốc vừa tới Tế Nam phát chẩn, ngài đã xem qua tờ trình, thấy vụ án Kim Hữu Nghĩa hẳn có oan khuất. Ngài thấy một con chim nhạn lớn đến kêu oan, đã sai ta theo nhạn tới đây. Hai người đừng cãi nhau nữa, hãy theo ta tới gặp ông lớn.
Họ theo anh về thành, tới công đường. Sai nha nói:
- Hai người cứ chờ ở đây, ta vào bẩm với ông lớn.
Tới trước Thi Công, Diêu Năng quỳ xuống bẩm:
- Thưa ngài Khâm sai, con vâng lệnh ngài theo nhạn ra khỏi thành, gặp hai người đàn bà một già một trẻ. Đúng là những người có liên quan tới vụ án Kim Hữu Nghĩa. Hiện con đã đưa họ tới đây, chờ ngài xét hỏi.
Thi Công rất vui, ông hỏi Diêu Năng tỉ mỉ những gì đã xảy ra, rồi cho họ gọi hai người đàn bà vào. Sai nha vâng lệnh, ra ngoài nói với họ rằng:
- Hai người hãy vào đi, và hãy kể lại thật tỉ mỉ cho ông lớn nghe.
Hai người vào lối cửa ngách, quỳ trước án thư.
Thi Công nói:
- Các người hãy khai rõ họ tên.
- Thưa quan lớn. - Bà già nói. - Chồng con là Kim Thủ Tín; mất cách đây mười năm. Con họ Nhậm, sinh được một con trai tên là Kim Hữu Nghĩa, hai mươi tuổi. Vì nhà nghèo nên chưa có vợ, hai mẹ con sống nương tựa vào nhau. Con con rất hiếu thuận, mẹ con con sống nghèo khổ thanh bạch. Có ba gian nhà, một gian nhà ngoài hai gian buồng. Con ở buồng phía đông, con con ở buồng phía tây. Tối hôm ấy hai mẹ con con đang ngồi trù chuyện tại buồng phía tây. Bỗng con nghe thấy đầu phía tây có tiếng con gái. Con sinh nghi, có lẽ Kim Hữu Nghĩa đã dụ dỗ những đứa con gái giấu trong nhà. Kim Hữu Nghĩa thấy thế cuống lên, dậm chân đấm ngực thề: "Nếu con làm việc ấy, thì thiên lôi sẽ đánh chết con!". Không còn cách nào khác, hai mẹ con mang đèn tới buồng phía tây xem sao. Lạ thay! Thấy một chiếc tráp gỗ, khóa đồng, trên khóa lại treo một chiếc chìa. Thấy lạ, con mở ra xem, trong đó có năm thoi vàng(l), tất cả đều buộc chỉ đỏ. Con tôi mừng quýnh lên, cứ luôn mồm niệm Phật. Song con thì vô cùng sợ hãi, nghĩ rằng tiền của không dưng đem tới, sẽ vì tiền mà mang họa.
 
(1) Thoi: bằng năm mươi lượng (ND).
 
Thi Công nói:
- Số bạc ấy trời cho, vì sao mà nàng sợ?
- Một là sợ con con giấu con. - Người mẹ nói. - Hơn nữa tục ngữ có câu: Của phù vân nó vần xuống biển. Mẹ con tôi có khổ cũng do số kiếp đã định trước rồi, làm sao có thể thay đổi được? Thưa ngài, xin ngài hãy nghĩ cho: con là người quả phụ không nghề nghiệp, mẹ con sống rất cực khổ. Tuy là chồng chết phải theo con, song sao có thể nghe theo một đứa con ít tuổi? Thấy việc ấy, ai mà không truy hỏi? Nếu như nó lấy cắp về mà cứ lờ đi, theo nó ăn uống, lâu sau rồi cũng sẽ sinh sự, lúc ấy con lại mắc phải tội không nghiêm khắc dạy con. Đó chính là không hiểu được phép vua, khi chết đi gặp chồng con sẽ vô cùng hổ thẹn. Vì con nhiều lần truy hỏi, nó vẫn không nói rõ. Sợ sinh ra việc chẳng lành, con bảo nó vứt đi, nhưng nó cứ tiếc. Con bảo: "Nếu con không nói rõ lai lịch số bạc này, thì ta sẽ đưa con cùng số bạc ấy tới cửa quan?". Khi đó Kim Hữu Nghĩa mới nghe theo lời con, không cần số bạc này nữa. Nó nói: "Đương nhiên là nó có lai lịch". Đêm ấy con đang ngủ, thấy văng vẳng bên tai có tiếng người thì thà thì thào, nghe không rõ. Con nghĩ rằng số bạc này là của người nói chuyện mang tới. Nó gối đầu lên tráp ngửi thử thì lạ thay đó là bạc thật. Con đành nghe theo nó ôm tráp đến buồng phía đông. Nó gối đầu lên tráp ngủ. Con cũng tắt đèn đi nằm, nhưng không sao ngủ được. Đêm ấy chưa đến canh ba, bỗng thấy Kim Hữu Nghĩa gọi: "Hỏng rồi, mẹ ơi đến mau”. Con vội dậy, thắp đèn, đến buồng phía tây xem: thấy Kim Hữu Nghĩa sợ hãi, mặt tái nhợt, kêu là có ma. Nó nói: "Con gối đầu trên chiếc tráp khảm vàng, nhắm mắt, cứ mơ mơ màng màng không sao ngủ được. Thấy năm đứa bé, đeo yếm băng vải đoạn màu đỏ, tay dắt tay, cười khúc khích nói: “Kim Hữu Nghĩa, tiếc thay ngươi không gặp vận may, chiếc tráp không còn chỗ chúng ta nữa. Bây giờ xin báo cho người một tin, ngươi phải nhớ rõ nơi đến: chỗ ấy cách đây ba dặm, đó là nhà Phú Gia - chúng ta đều ở đấy. Người muốn tìm ta thì tới đó. Nói xong chúng dắt tay nhau đi ra. Con giật mình tỉnh dậy, ngươi đầm đìa mồ hôi, sờ lại chiếc tráp thấy đã biến mất".
Các quan võ và sai dịch thấy thế, ai cũng sững sờ, và thấy rất kỳ lạ. Thi Công nói:
- Về sau thế nào?
- Thưa ngài. - Nhậm thị nói. - Về sau con con tham của, không nghe lời con. Đêm ấy vào khoảng canh năm, một mình nó ra khỏi nhà đi tìm bạc. Con ở nhà chờ đợi, đến khi trời sáng, nó vẫn chưa về. Sợ rằng đã xảy ra tai họa, con tựa cửa trông ngóng. Thấy một người láng giềng báo tin, khiến con không còn hồn vía.
Nói tới đây bà kêu thảm thiết, khóc như mưa như gió. Thi Công trầm ngâm nói:
- Ngươi hãy nói ta nghe, ngươi láng giềng nói gì.
- Thưa ngài, - Nhậm thị nói. - Lúc ấy có người nói là: "Bà Kim ơi, nguy rồi! Con bà đã giết người ở nhà Phú Gia, bỏ đầu người vào tráp mang đi! Gặp ngay ngài quan phủ, khóa tay giải về thành tống ngục, chờ tới mùa thu xử trảm". Con không còn cách nào, về nhà, đưa cơm đến nhà tù cho con: Thấy con mình oan uổng, hôm nay con mua vàng hương đến mộ Triệu Tam cúng, cầu mong linh hồn anh khôn thiêng, phù hộ con bắt được hung thủ, để Kim Hữu Nghĩa khỏi chết oan. Khấn khứa chưa xong thì vợ anh ấy tới. Chị ấy đổ cho con đến yểm đảo, rồi đánh con, không cho con phân trần. May mà được sai nha của ngài khuyên can. ông ấy bảo là có con hồng nhạn đến kêu oan, rồi đưa con đến đây. Đó là chuyện đã xảy ra, con không dám nói sai.
Thi Công trầm ngâm suy nghĩ, nói:
- Quan phủ hãy sai người giải Kim Hữu Nghĩa tới đây, để ta xét hỏi.
Tri phủ tuân lệnh, sai người đi gọi. Một lát sau, sai nhà giải Kim Hữu Nghĩa tới. Thi Công nói:
- Kim Hữu Nghĩa!
Thấy mẹ quỳ trước công đường, Hữu Nghĩa quỳ xuống bò lên nửa bước, nói:
- Xin quan lớn cho phép con được nói.
Thế rồi anh kể lại từ đầu, sự việc đã xảy ra. Thi Công thấy hai mẹ con anh nói giống hệt nhau, không sai một chữ, cho đó là sự thực. Thi Công lại nói:
- Kim Hữu Nghĩa! Nếu ngươi không tham lam, thì đâu đến nỗi tự dưng gây tai họa. Ngươi gối đầu lên chiếc tráp thiếp vàng, mơ thấy năm đứa bé, chúng đã nói không ở nhà ngươi nữa, lẽ ra cứ mặc chúng, song ngươi lại không nghe lời mẹ, tham của đi tìm. Vậy ngươi nhặt được chiếc tráp ấy ở đâu/ Ngươi hãy khai thực.
- Con không nghe lời mẹ. - Kim Hữu Nghĩa nói. - Ra khỏi nhà, tới nhà Phú Gia. Cách nhà con ba dặm. Đến đó trăng sao vẫn còn sáng, con nhìn thấy chiếc tráp. Sợ có người biết, con ôm tráp vào lòng, quay ngay trở về. Vừa đi được mấy bước, ngẩng đầu lên, thấy đèn đuốc sáng rực, thì đó là quan Tri phủ. Sợ quá con chạy trốn, không ngờ quan Tri phủ nhìn thấy, bảo sai nha gọi con đến trước kiệu. Ngài hỏi con trong tráp có gì? Đêm khuya khoắt đi đâu? Con cuống lên, sợ quá không nói được. Nếu nói là bạc thì sợ quan lớn nhập kho. Con cứ ngần ngừ. Quan lớn bảo sai nha mở tráp ra xem, song không phải là bạc mà lại một chiếc đầu lâu đẫm máu. Quan Tri phủ lập tức sai người khóa tay con rồi giải về nha môn. Hỏi con vì sao giết người? Tử thi hiện ở đâu, hung khí để đâu? Vì sao lại bỏ đầu vào tráp? Thấy bị truy hỏi, con nát ruột nát gan. Con không giết người, thì sao mà trả lời được? Con nói khan nói vã, song quan Tri phủ vẫn không nghe. Chịu mọi tra tấn, quẫn bách không còn cách nào khác, con đành phải nhận. Quan Tri phủ ghép con vào tội tử hình, rồi giam con vào ngục.
Thi Công nhìn quan Tri phủ nói:
- Vụ án Kim Hữu Nghĩa giết người còn có những uẩn khúc, ông thấy thế nào? Ta phải tìm cho ra lẽ trong đó có chỗ nào chưa rõ, xin ngài hãy đề xuất.
Tri phủ chắp tay nói:
- Đại nhân, sức học rộng như biển, quả thì tôi không sánh kịp. Tôi bất tài, học thức nông cạn, nhiều chỗ không nhìn thấy xin ngài chỉ bảo.
Thi Công lạnh nhạt mỉm cười nói:
- Ngài Tri phủ sai rồi! Nếu quan châu phủ ai ai cũng nói: “Tôi bất tài, học thức nông cạn, không đảm đương được tính mạng dân", thì ngài không nghĩ rằng, tính mạng của dân đều trong tay quan phủ, châu, huyện, dân bị oan khuất trời sẽ không tha.
Thi Công lại hỏi Kim Hữu Nghĩa:
- Ngươi trông thấy tráp lúc nào?
- Thưa ngài lúc canh hai.
- Ngủ đến mấy giờ - Thi Công hỏi.
- Thưa ngài, - Hữu Nghĩa trả lời, - vào lúc canh tư.
- Ngươi ra khỏi nhà, - Thi Công hỏi, - có mang vật gì không?
- Con đi tay không. - Hữu Nghĩa nói.
- Quý Tri phủ gặp Hữu Nghĩa chỗ nào? - Thi Công hỏi. - Lúc ấy là canh mấy?
- Tôi gặp lúc canh tư. - Trần Tri phủ nói.
- Ngài nói không đúng. - Thi Công nói. - Canh tư Kim Hữu Nghĩa ra khỏi nhà, quý Tri phủ lại nói canh tư bắt được phạm nhân, thời gian không khớp. Hơn nữa canh tư thì đêm đã khuya lắm rồi, trong tay lại không có hung khí thì giết người sao được? Hơn nữa Kim Hữu Nghĩa nếu có thù mà giết Triệu Tam, thì không có lí gì lại bỏ đầu vào tráp mang về. Ta quả không sao hiểu nổi. Xin hỏi quý Tri phủ giết người bằng hung khí gì?
Tri phủ vái lạy nói:
- Tôi giải Kim Hữu Nghĩa về nha môn truy hỏi, Kim Hữu Nghĩa đã cung khai: bỗng nhiên vì thù oán xưa, mà đâm chết Triệu Tam, hung khí vút xuống sông, mò không thấy, hắn đã khai thế nên tôi mới kết tội.
Thi Công lạnh lùng mỉm cười, nói:
- Ngài Tri phủ, ta nói mấy câu, xin ngài hãy nghe cho rõ. Tôi và ngài ăn lộc của vua, phải báo đền ơn vua. Xét hỏi dân tình cần phải thận trọng. Những vụ án liên quan đến tính mạng con người, càng phải đặc biệt lưu tâm. Đợi ta tìm ra vụ án này thì ngài sẽ hiểu.
Thi Công hỏi vợ Triệu Tam:
- Chồng ngươi bị giết, trong đó có những tình tiết, chắc ngươi cũng phải biết chút ít. Kim Hữu Nghĩa không thân thiết không bạn bè gì với chồng ngươi, thì vì sao lại thù hận? Người ta ai cũng có lương tâm, không cho phép điêu oa. Nơi dương thế có phép vua, nơi âm ti còn có quỷ thần. Nếu ngươi nói sai một chữ, ta điều tra ra, thì ta quyết không tha.
- Bẩm quan lớn. - Mai thị cúi đầu trả lời. - Con ba mươi tuổi cha mẹ đều mất. Mười tám tuổi lấy Triệu Tam, tính ra đã hơn mười năm. Con không có con, mẹ chồng cũng đã qua đời. Chồng con rượu chè, trai gái, chơi bời với bọn xấu xa con cũng mặc. Song dù có xấu đến thế nào chăng nữa, khi đã kết tóc xe tơ nên duyên chồng vợ, thì tình nghĩa như biển cả. Nay bị giết chết, con không đau đớn sao được? Anh ấy không thân thiết, không bạn bè, không thù oán gì Kim Hữu Nghĩa, song anh ấy có một người bạn rất thân thiết.
Thi Công hỏi:
- Người bạn ấy là ai?
- Khi còn sống, - Mai thị nói, - vì nhà nghèo, chồng con kết bạn đi săn kiếm sống, chứ có vàng bạc gì đâu! Kim Hữu Nghĩa vì thù mà giết chứ không phải vì tiền của. Hơn nữa khi chết, chồng con không ở ngoài.
Thi Công vội hỏi:
- Chồng người không ở ngoài, hẳn là phải chết ở nhà.
- Vì thường đi săn, - Mai thị nói, - nên đã kết bạn với một người ở thôn Tiền, tên là Phùng Đại Sinh. Anh ấy hơn chồng con hai tuổi, thường đi lại thân thiết như anh em ruột thịt. Trước đây hai người thường hay đi với nhau. Hôm ấy chồng con uống rượu ngủ ở nhà. Anh ấy dậy sớm bảo là đi săn, mang theo một chiếc gậy phòng thân, nói là đi tìm Phùng Đại Sinh, khi đi còn bảo con đóng cửa. Sáng dậy có người nói với con là chồng con đã bị giết chết không thấy đầu. Con cùng với Hương Bảo vào thành bẩm báo. Nào ngờ đâu lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt. Hung thủ Kim Hữu Nghĩa đã bị ngài Tri phủ bắt được. Không chịu nổi tra tấn đã phải khai hết. Con thấy có người phải đền mạng là được rồi, chứ hoàn toàn không muốn gì thêm.
Nói xong chị vái lạy. Thi Công gật đầu nói:
- Mai thị nghe ta hỏi đây, phải nói thực. Phùng Đại Sinh ở đâu? Nhà ngươi ở đâu?
- Con ở Hậu Trại, - Mai thị nói, - hai thôn cách nhau một dặm.
Thi Công gật đầu nói:
- Chồng ngươi bị hại chỗ nào?
- Tại nhà Phú Gia, phía đông thôn Hậu Trại. - Mai thị nói. - Ngoài trại có một bãi sậy. Chồng con bị hại tại đó.
- Chồng ngươi đi khỏi nhà lúc nào. - Thi Công hỏi.
- Lúc canh ba.
Thi Công hỏi Kim Hữu Nghĩa, Kim Hữu Nghĩa nói:

- Con ra khỏi nhà, đến ngay nhà Phú Gia. Thấy chiếc tráp ấy ở cửa sau nhà Phú Gia, con ôm tráp theo hướng bắc về nhà, thì gặp ngài Tri phủ.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Fri Apr 04, 2014 4:08 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 7 (B)
Nói xong anh cúi lạy. Thi Công nhìn Tri phủ, nói:
- Tri phủ nghe rõ không? Canh tư ngài bắt người. Nhưng canh tư Kim Hữu Nghĩa mới rời khỏi nhà. Còn Triệu Tam canh ba ra khỏi cửa. Như vậy người bị chết ra khỏi nhà trước, hung thủ rời khỏi nhà sau. Kim Hữu Nghĩa canh tư mới rời khỏi nhà nhặt được tráp thì bị ngài bắt được. Về thời gian không khớp nhau. Vả lại không có hung khí. Ngài khép Kim Hữu Nghĩa vào tội tử hình, quả là chưa thỏa đáng.
Tri phủ cúi đầu nói:
- Quả là ngài Khâm sai đã phán đoán tài giỏi như thần thánh. Tôi thực không sao sánh kịp. Xin hết sức mong ngài tha thứ.
Thi Công lạnh nhạt mỉm cười, nói:
- Triệu Mai thị, ngươi nói Triệu Tam nghèo khổ, đói rét, đi săn để kiếm ăn, và có một người bạn là Phùng Đại Sinh có phải không?
- Chỉ có anh ấy thôi, - Mai thị nói, - ngoài ra không còn ai khác.
- Thế thì khi đi họ đều hẹn nhau cùng đi, - Thi Công nói, - hay là chồng chị đi trước tìm Phùng Đại Sinh.
- Ai dậy trước thì người ấy đi gọi, - Mai thị nói, - chứ không phân biệt rạch ròi, họ đi với nhau vào lúc mấy giờ.
- Ngươi nói hôm ấy vào canh ba, - Thi Công nói, - mang theo gậy phòng thân, đi tìm Phùng Đại Sinh. Song không biết có tìm thấy Phùng Đại Sinh không?
- Khi anh ấy đi rồi, - Mai thị nói, - con đóng cửa nằm ngủ. Một lát sau bỗng nghe thấy gọi liền mấy tiếng: "Thím Tam! Thím Tam!". Đúng là tiếng Phùng Đại Sinh. Con bảo: "Anh ấy đi từ sớm rồi!". Phùng Đại Sinh nói: "Không tìm thấy anh ấy đâu?”. Thế rồi anh ấy lẩm bẩm bỏ đi.
Nghe xong Thi Công nói:
- Mai thị! Thường ngày Phùng Đại Sinh đến gọi chồng chị, thì gọi thế nào?
- Thường ngày khi tới cổng, - Mai thị nói, - Phùng Đại Sinh thường gọi rất to: "Lão Tam, dậy đi! Muộn rồi".
- Thế là được rồi, - Thi Công vừa nói vừa rút lệnh, nói tiếp - Hãy đến bắt ngay Phùng Đại Sinh tới xét hỏi.
Sai nha nhận lệnh, đến thẳng thôn Tiền, thấy mấy người dân, trong đó có một người biết Trịnh Hồng. Trịnh Hồng cười nói:
- Tôi có một chút việc công, mời đến quý thôn, xin phép hỏi thôn Tiền có vị nào là Phùng Đại Sinh đi săn không?
- Ngài hỏi Phùng Đại Sinh ư? - Người ấy nói. - Trước đây anh ấy thường kết bạn với Triệu Tam. Từ khi Triệu Tam chết, Phùng Đại Sinh không đi săn nữa, bây giờ thì anh không ra khỏi cửa, suốt ngày ru rú ở nhà, chỉ đóng cửa ngồi lặng lẽ một mình. Ông Trịnh, ông cứ đi theo hướng bắc, cái cửa đen thứ sáu là nhà anh ấy đấy.
- Xin cám ơn ông. - Trịnh Hồng cười nói.
Anh tới cửa nhà Phùng Đại Sinh, gõ cửa.
Phùng Đại Sinh đang ngồi trong nhà. Vợ anh ta là Chu thị đang nghĩ về món tiền lớn trời cho. Bỗng nghe thấy có tiếng gõ cửa, Phùng Đại Sinh giật mình đánh thót, nói:
- Mình hãy ra ngoài xem ai? Nếu là người lạ thì hỏi họ tên gì! Nếu họ hỏi tìm ta, thì bảo mấy hôm nay ta không về.
- Không cần phải dặn, - Chu thị nói, - tôi khắc biết nói, anh cứ yên tâm.
Vừa nói Chu thị vừa ra mở cửa, thấy một người đội mũ tua đỏ, mặc áo dài màu lam, đứng trước cửa, dáng oai vệ. Chị ta khép cửa lại. Trịnh Hồng nhìn người đàn bà, bất giác cười thầm, anh nói:
- Tôi là bạn thân của Phùng Đại Sinh, hôm nay có một việc cần nhờ anh, xin chị mời anh ấy ra đây, anh em chúng tôi gặp nhau nói cho tiện.
Chu thị vốn là người ngu đần, nghe thấy thế không biết thực hư, cười nói:
- Đã là người thân thiết, thì xin mời anh vào trong nhà uống nước, chuyện trò. Phùng Đại Sinh là chồng em, suốt ngày ngồi ở nhà buồn bã, mong có bạn bè tới chơi.
Trịnh Hồng là sai nha nhiều năm, rất quen việc, thấy vợ Đại Sinh nói thế, anh nói:
- Cám ơn chị, chị đi trước dẫn đường.
Phùng Đại Sinh lắng tai nghe vợ nói, nhưng không rõ. Lại nghe thấy gọi nhau anh anh chị chị mời chào như người quen. Cứ nghĩ rằng bạn bè thân thiết đến. Chợt ngẩng lên nhìn thì lại là sai nha, anh ta cuống lên. Chu thị nói:
- Chủ nhà đâu, mau ra tiếp khách đi. Tôi đã dẫn anh anh vào đừng buồn rầu nữa.
Đại Sinh đành phải ra tiếp. Trịnh Hồng chắp tay cười nói:
- Ông anh nhàn nhã quá, cứ ở nhà lâu nay không gặp.
Phùng Đại Sinh không còn cách nào, bèn nói.
- Không dám, tôi dạo này cứ hay buồn ngủ, tự nhiên thấy người mệt mỏi uể oải, mong ông anh tha thứ cho. Xin phép được hỏi tên quý anh là gì, hiện ở đâu?
- Chúng ta mới xa nhau mà anh đã quên rồi. Nghĩ rằng anh phát tài, nên không nhận ra đứa em này. Có anh em ở nha môn mời anh, nhắc anh là có việc cần ra ngay. Tôi là Trịnh Hồng.
- Anh vốn là em Trịnh Đại, - Phùng Đại Sinh nói, - quả là có mắt như mù, tôi thật là vô lễ. Xin anh đừng giận, tôi quên thật. Người trong nha môn mà anh nói tên gì mà tôi không nhớ ra?
- Tôi cũng không biết tường tận. - Trịnh Hồng nói. - Tôi nghĩ rằng đã mời anh, anh đến là biết ngay thời.
Nói xong Trịnh Hồng nghiêm nét mặt, nhìn quanh nhà một lượt, rồi rút chiếc còng trong người ra, nói:
- Cho tay vào thì tốt hơn, tôi sợ ông lớn trốn bữa tiệc.
Anh còng vào tay, Đại Sinh mặt tái nhợt cắt không ra máu. Chu thị cuống lên. Trịnh Hồng nói:
- Anh ấy làm gì, chắc rằng chị cũng rõ.
- Đã còng tôi, - Đại Sinh nói, - chắc là tôi bị kiện lên quan rồi.
- Anh đừng nói nữa, tôi đã còng thì mở ra làm sao được. Trịnh Hồng nói.
- Xin ông rộng lòng thương. - Đại Sinh nói.
- Được! Trịnh Hồng nói. - Theo lời ông anh thì ngại gì mà không kết bạn bè, hơn nữa việc của anh cũng chẳng quan trọng gì. Tôi thấy anh có một số người bạn nói ra khiến người trong làng xóm cũng thấy khó coi.
Hai người tới thành, vào công đường.
Thi Công dùng cơm xong đang uống trà. Sai nha tới báo.
- Đã giải Phùng Đại Sinh tới.
Thi Công lên công đường. Lập tức truyền lệnh dẫn Nhâm thị, Phùng Đại Sinh, Mai thị và những người láng giềng tới, mới có thể kết án được.
Thi Công hỏi:
- Ngươi là Phùng Đại Sinh phải không?
- Con là Phùng Đại Sinh, - Phùng Đại Sinh trả lời, - con xin cúi đầu lạy ngài.
- Ngươi làm nghề gì? - Thi Công hỏi. - Có mấy người bạn?
- Con là người thôn Tiền, - Đại Sinh nói, - cha mẹ đều mất, vợ con là Chu thị. Con sống bằng nghề đi săn. Con có một người bạn tên là Triệu Tam. Hằng ngày vẫn đi săn với nhau, không ngờ anh ấy bị Kim Hữu Nghĩa giết chết. Chỉ còn lại mình con, khó mà đi săn được, chỉ ở nhà một mình. Con luôn luôn tôn trọng luật pháp, không làm điều gì sai trái. Hôm nay sai nha của ngài tới bắt con, không biết vì duyên cớ gì.
Thi Công lạnh lùng cười, nói:
- Quý Tri phủ chú ý nghe đây. Ngươi là người khoa bảng, không như những người thường, xét hỏi ngươi không thể qua loa, Triệu Mai thị nói là Kim Hữu Nghĩa không phải là bạn bè thân thiết, không có thù oán gì. Triệu Tam lại là người nghèo khổ vì sao Kim Hữu Nghĩa lại giết người? Vì sao anh ta giết người vô cớ, rồi bỏ đầu vào tráp mang về nhà? Hơn nữa giờ giấc cũng không khớp, vậy thì Triệu Tam chết bởi một lí do nào khác. Từ nhà Phú Gia, thôn Tiền và Hậu Trại, ba nơi ấy cách sông bao xa?
Trần Tri phủ cúi người thưa rằng:
- Cách sông hai dặm.
Thi Công cười phá lên nói:
- Ngài Tri phủ nói thế, về tình và lí càng không thể xuôi được.
Thi Công xét xử bằng tấm lòng thương dân, biết rõ oan khuất, nhưng vẫn sợ còn có chỗ giấu giếm, nên ông cố ý quát hỏi Kim Hữu Nghĩa. Kim Hữu Nghĩa cúi đầu nói:
- Đúng là con tìm đến chỗ để bạc, chứ hoàn toàn không giết người, con đâu có biết Triệu Tam đến nhà Phú Gia, mà tới đó chờ để giết anh ấy? Lát nữa ngài gọi hàng xóm của con tới hỏi thì biết.
- Những lời ngươi khai ở đây sao không giống lời khai với quan Tri phủ?
- Bẩm quan lớn. - Kim Hữu Nghĩa cúi đầu nói. - Trước đây con cũng khai với quan phủ như thế. Không biết vì sao quan phủ không nghe, dùng mọi hình thức tra khảo con. Quả thực con không chịu nổi hình phạt, nên mới nhận.
Một lát sau sai nha vào quỳ, nói:
- Bẩm ngài, láng giềng nhà Triệu Tam đã tới.
Thi Công ngẩng đầu lên, thấy một ông già quỳ trước công đường. Ông nói:
- Gọi các ông đến chẳng có việc gì khác, chỉ yêu cầu các ông phải khai thực về Kim Hữu Nghĩa, không có chút ảnh hưởng gì đến các ông. Nếu nói sai thì các ông sẽ bị liên lụy.
- Phùng Đại Sinh, - quan khâm sai nói, - bạn ngươi đã bị giết, ngươi tất phải biết sự thực. Sự việc đã xẩy ra thế nào, ngươi phải khai mau.
- Con tuy là bạn Triệu Tam, - Phùng Đại Sinh nói, - anh ấy bị người ta sát hại, quả thực con không biết. Xin quan lớn cứ điều tra cho rõ.
- Các ngươi hãy nói, - Thi Công nói với những người láng giềng, - ai là hàng xóm của ai?
- Chúng con là Triệu Đại và Vương Nhị, là hàng xóm của Trương Hữu Nghĩa. - Người bên dưới nói.
- Mẹ con Kim Hữu Nghĩa từ trước tới nay tốt xấu thế nào, - Thi Công nói, - các ngươi phải nói thực.
- Mẹ con anh ấy là người sống yên phận, - hai người nói, - mẹ hiền lành, con hiếu thảo.
- Đúng! - Thi Công nói.
Lại có hai người:
- Chúng con là Lý Vĩnh và Tôn Xương, là hàng xóm của Triệu Tam.
- Khi còn sống, - Thi Công nói, - hành vi của Triệu Tam thế nào?
- Khi còn sống, - hai người nói, - Triệu Tam rượu chè, quan hệ lăng nhăng, chẳng có gì là anh ta không làm. Mai thị vợ anh ta là một người hiền lành.
- Đúng rồi! Đúng rồi! - Thi Công nói.
Lại có hai người nói:
- Chúng con là Vương Tứ, Trương Lục là láng giềng của Phùng Đại Sinh.
- Tính cách Phùng Đại Sinh thế nào? - Thi Công hỏi.
- Phùng Đại Sinh, - hai người nói, - cũng có cái tốt, cái không tốt. Ra ngoài thường hay gây gổ, trong nhà thì vẫn yên lành.
Thi Công cho hai người xuống dưới.
- Triệu Tam là bạn đi săn của ngươi, - Thi Công hỏi Phùng Đại Sinh anh ta bị giết chết ngươi có biết không?
- Bẩm ngài, - Phùng Đại Sinh nói, - Triệu Tam cùng đi săn với con. Anh ấy bị người ta giết chết con không biết.
- Đã là bạn với nhau, - Thi Công gật đầu nói, - nếu đi săn anh có gọi anh ấy đi không?
- Khi đi săn, có ngày anh ấy gọi con, có ngày con gọi anh ấy - Đại Sinh trả lời.
- Còn ngày hôm ấy thì sao? - Thi Công hỏi.
- Con dậy sớm, - Đại Sinh nói, - khoảng canh tư con ra khỏi nhà. Đến cửa nhà Triệu Tam gọi: "Thím Tam, Thím Tam".
- Mai thị, - Thi Công hỏi Mai thị - chồng chị đi khỏi nhà lúc mấy giờ, chị có nhớ không?
- Chồng con ra khỏi nhà lúc canh ba. - Mai thị đáp.
- Phùng Đại Sinh, - Thi Công hỏi Đại Sinh, - canh ba Triệu Tam ra khỏi nhà, ngươi đến tìm anh ấy vào lúc canh tư, đến cửa nhà Triệu Tam ngươi gọi như thế nào, ngươi phải nói ngay. Sai một chữ ta sẽ không tha.
- Thường ngày con vẫn gọi là: - Đại Sinh nói: "Lão Tam, dậy rỗi! Muộn rồi!".
- Triệu Mai thị, - Thi Công nói, - Phùng Đại Sinh nói đúng hay sai?
- Anh ấy nói đúng. - Mai thị nói. - Hôm ấy đã muộn, anh ấy đến gọi, đang lúc mơ mơ màng màng con bỗng nghe thấy tiếng gọi: "Thím Tam! Thím Tam! Thím gọi Triệu Tam dậy đi”. Con nói: "Anh ấy đi từ lâu rồi?". Anh ấy đứng ngoài nói: "Sao tôi không gặp, nếu gặp thì càng tốt, không gặp thì tôi đợi ở nhà". Nói xong anh bỏ đi.
- Phùng Đại Sinh, - Thi Công nói, - ngươi đi săn với Triệu Tam, mang gì đi?
- Chúng con săn cả thú lẫn chim. - Đại Sinh nói. - Săn chim thì dùng lưới, săn thú thì Triệu Tam mang chiếc gậy cao gần đầu người, con mang một con dao.
- Hôm ấy ngươi đợi ở nhà, - Thi Công nói, - anh ấy có tới không?
- Con đợi ở nhà đến sáng mà vẫn không thấy tới. Về sau nghe thấy người ta nói anh ấy bị Kim Hữu Nghĩa giết chết.
Thi Công nhếch mép cười, nhìn các quan và sai nha nói: - Các người nghe kĩ thì thấy hung thủ không phải là Kim Hữu Nghĩa, mà là Phùng Đại Sinh. Không biết vì sao hắn lại giết Triệu Tam, rồi lại đến cửa nhà anh gọi để che mắt mọi ngươi. Hằng ngày tới tìm, gọi "Triệu Tam", hôm ấy tới tìm lại gọi "Thím Tam". Rõ ràng hắn biết Triệu Tam không ở nhà giả vờ tới tìm, chính là để đánh lừa mọi người. Hơn nữa nếu Triệu Tam gặp tai họa thì phải đi tìm Phùng Đại Sinh. Bỏ đầu vào tráp, vứt bên ngoài, ai nhặt được chiếc tráp ấy, thì coi như đã sa vào bẫy của hắn. Các người suy nghĩ kĩ xem có đúng không?
Các quan khom người nói.
- Ngài thật là cao kiến. Chúng tôi không sao sánh nổi.
- Vẫn chưa có đối chất, - Thi Công nói, - lát nữa chúng ta sẽ rõ Nói xong ông viết một tờ thiếp bằng giấy đỏ, gói vào tờ giấy. Rồi nói:
- Trịnh Hồng.
- Dạ, - Trịnh Hồng quỳ xuống thưa.
- Người có biết chữ không? - Thi Công hỏi.
- Con cũng biết đôi ba chữ, - Trịnh Hồng nói.
- Ngươi hãy mang tờ thiếp này đi. - Thi Công cười nói. - Cứ theo đó mà làm. Không được cho ai biết. Nếu lộ ra, ngươi sẽ bị trọng tội.
- Vâng ạ? - Trịnh Hồng đáp.
Trịnh Hồng nhận tờ thiếp đi ra. Năm bảy sai nha theo sau cứ đòi xem tờ thiếp ấy thế nào. Trịnh Hồng lè lưỡi nói:
- Đến bố tôi sống lại cũng không được nhìn nữa là. Chờ tôi về sẽ biết.
Nói xong anh tới chỗ vắng, mở xem. Ra ngay khỏi thành tới nhà Phùng Đại Sinh gõ cửa, gọi:
- Bà chị ơi! Hãy ra mở cửa mau!
Chu thị vội ra xem, thấy sai nha. Trịnh Hồng theo chân vào ngay, nói:
- Chị thật nguy rồi, việc anh ấy giết Triệu Tam đã bị bại lộ, anh ấy đã khai trước công đường, quan đã lấy khẩu cung, song rất may không khai ra chị, mà chỉ có mình anh ấy thôi. Anh ấy bí mật nhờ tôi nói với chị, hiện có ít vốn liếng, hãy mau mau đi đút lót. Nếu tra tấn đau quá không chịu nổi mà lôi cả chị ra thì khốn.
Chu thị thấy thế tưởng thật, nói:
- Nếu không quen biết anh, thì anh ấy cũng chẳng dám nhờ. Tôi nói thực với anh, số vốn ấy có thật, tôi cũng nhìn thấy rồi. Anh với anh ấy thân thiết như anh em ruột, nên tôi mới cho anh biết. Anh hãy lại đây!
Vừa nói, chị ta vừa mở chiếc ang lấy dao cạy, lôi ra một gói vải, để lên giường, mở ra thì đó là năm thoi bạc. Chu thị vừa nói tới việc chia bạc, Trịnh Hồng nghiêm sắc mặt, lôi chiếc còng ra nói:
- Đi mau lên, tới công đường hãy nói.
Chu thị sợ hết hồn, nói:
- Đưa cho anh ấy ba thoi cũng không dùng hết, mà để lại cho tôi ba thoi cũng không dùng hết. Thôi thì anh lấy hai, tôi hai, còn phần chú một. Cho anh ấy hai thoi để lo kiện, còn hai thoi tôi mua ít đồ trang sức để đi lấy chồng.
Trịnh Hồng thấy Chu thị tính toán như thế nói:
- Chị chia như thế không được, chị hãy đi theo tôi về thành, đến chỗ Khâm sai đại nhân mà chia.
Nói xong Trịnh Hồng nghiêm sắc mặt, mở còng ra tra vào tay Chu thị, bấm còng đến tách một cái, nói:
- Chị đi cho, công đường đang chờ lấy khẩu cung.
Chu thị biết rằng khó mà thoát được, bèn gói bạc lại vác lên vai, khóa cửa. Hai người tới thẳng công đường, quỳ trước án thư.
Vừa thấy Chu thị, Đại Sinh đã hoang mang lo sợ. Thi Công thấy đấy không phải là người đàn bà lương thiện. Ông hỏi:
- Mụ kia hãy khai thực, số bạc này ở đâu ra? Nếu khai không đúng với chồng ngươi đã khai thì ngươi sẽ phải phạt rất nặng. Hãy khai từ đầu.
Thấy thế Chu thị quỳ xuống rồi bò lên nửa bước nói:
- Con không dám nói sai: chồng con là Phùng Đại Sinh, chơi thân với Triệu Tam. Hôm đó anh ấy đến gọi chồng con đi săn. Chồng con dậy, giắt dao vào hông rồi ra khỏi cửa, khoảng hai canh sau, trời vẫn chưa sáng, thì anh ấy về gọi cửa. Con mở cửa ra, anh ấy bước vào nhà, vội đánh diêm đốt đèn, rồi lấy từ trong người ra năm thoi bạc, buộc bằng chỉ đỏ.
Người đàn bà khai xong, cúi lạy.
Phùng Đại Sinh nghe thấy thế, sợ quá. Thi Công nói:
- Phùng Đại Sinh, ngươi còn quanh co nữa hay thôi? Ngươi hãy khai thật tỉ mỉ.
- Bẩm ông lớn, - Phùng Đại Sinh nói, - hôm ấy Triệu Tam tới gọi con trước, lúc ấy trời còn đêm, chưa quá canh ba. Trước đây cũng thường dậy sớm như thế bỗng nhiên nghĩ tới một việc, muốn về nhà, đi qua nhà Phú Gia, nghe thấy có tiếng trẻ con cãi nhau. Con vào xem thì thấy trong vườn Phú Gia có năm đứa bé trắng trẻo khôi ngô, đeo yếm đỏ. Nhiều lần tới gần thì chúng biến mất. Tới bên bãi sậy, Triệu Tam đá phải một chiếc tráp. Cầm lên xem, thấy sẵn cả chìa khóa, mở ra thì bên trong là năm thoi bạc. Thấy đó là bạc Nguyên Bảo. Ai cũng đòi được nhiều. Ai ngờ rằng tiền của nhiều là tai họa. Hai chúng con cãi nhau. Con đã chém chết anh ấy, giắt bạc vào người rồi cắt đầu anh ta bỏ vào tráp. Con nghĩ rằng vụ này nhà họ Phú sẽ chịu kiện thay. Để chiếc tráp ấy trước cổng nhà Phú Gia. Sau đó con lại tới gọi cửa nhà Triệu Tam, để mọi người khỏi nghi ngờ. Con đã giết người, ai ngờ ngài tới, đúng lúc hồng nhạn kêu oan. Thế mới biết thiện ác đều có báo ứng. Con nhạn ấy đã minh oan cho Kim Hữu Nghĩa, bởi vì: một hôm con và Triệu Tam đánh lưới được một con nhạn, lúc ấy Kim Hữu Nghĩa đi tới mua con nhạn ấy ba trăm đồng, rồi thả ra! Nào ngờ biết anh oan khuất con nhạn đã tới kêu oan để cứu anh. Đúng là ăn hiền gặp lành, ác giả ác báo. Xin ngài cũng không cần phải truy hỏi nữa. Con hoàn toàn khai hết sự thực và tình nguyện chết.
Thi Công nghe Phùng Đại Sinh cung khai, nghĩ rằng đó hoàn toàn là sự thực, ông nổi giận quát:
- Kim Hữu Nghĩa, mẹ con ngươi có nghe thấy không?
- Con đã nghe rõ rồi ạ. - Mẹ Hữu Nghĩa cúi đầu nói.
- Kim Hữu Nghĩa tham của không nghe lời mẹ, - Thi Công nói, - để đến nỗi mang họa, suýt nữa thì mất đầu.
- Đa tạ ông lớn đã phán xử rõ vụ án này. - Mẹ Kim Hữu Nghĩa nhìn lên, cúi lạy nói. - Quả là con con đã được cải tử hoàn sinh. Không những con vô cùng biết ơn ngài, mà ngay chồng con ở dưới suối vàng cũng vô cùng cảm ơn đức độ của ngài.
- Mai thị, - Thi Công nói, - Triệu Tam chồng ngươi bị Phùng Đại Sinh giết chết. Ngươi không biết lại đổ oan cho người tốt.
- Thưa ngài, - Mai thị vội nói, - hung thủ do ngài Tri phủ bắt, xét hỏi tại công đường và Kim Hữu Nghĩa cũng nhận tội tại công đường, không liên quan gì tới con.
Nói xong cúi đầu lạy. Thi Công nói:
- Quý tri phủ đã nghe rõ chưa? Xin hỏi ngài, Kim Hữu Nghĩa có phải là người giết Triệu Tam không? Ta phán xét như thế có đúng không? Còn có chỗ nào chưa phải, xin Tri phủ cứ nói rõ. Tri phủ tuyệt nhiên không biện hộ cho những yếu kém của mình.
Trần Tri phủ cúi lạy nói:
- Tôi quả là bất tài, xin ngài tha thứ.
Thi Công cầm bút phán quyết:
"Phùng Đại Sinh giết Triệu Tam, tạm giam vào ngục, chờ giao thuế xong sẽ trảm đầu trước mọi người. Kim Hữu Nghĩa tham tài, không nghe lời mẹ cũng có tội. Nghĩ rằng Hữu Nghĩa gặp oan khuất, nay ta tha cho. Mấy thoi bạc tuy trời cho, là vật của Phú Gia, cũng có phần của họ Kim, ta thưởng cho Nhâm thị hai thoi, vì nhà nghèo, lo lắng cho con, tới cúng Triệu Tam mà bị Mai thị đánh đau”.
Nhâm thị khấu đầu lia lịa nói:
- Kim Hữu Nghĩa gặp nạn, được ngài cứu mạng, ơn ấy không gì sánh nổi, nay được ngài thưởng cho hai thoi bạc khiến con khắc cốt ghi xương, không bao giờ quên được. Con chỉ biết thắp hương cầu trời khấn Phật phù hộ cho ngài đời đời quan cao chức trọng, phò tá triều đình.
Nói xong lại cúi đầu vái lạy.
Thi Công nói:
- Mai thị nhà mẹ đẻ ngươi còn ai thân thuộc không?
- Chồng con khi còn sống, - Mai thị nói, - toàn chơi bời với bọn xấu xa, và cũng không còn ai thân thích. Con lên bảy thì cha chết, khi đi lấy chồng thì mẹ cũng qua đời. Cô cậu và các dì cũng không còn nữa, chỉ còn một thân một mình chẳng biết nương tựa vào đâu.
Nói xong Mai thị khóc như mưa.
- Mai thị không nên thương cảm nữa. - Thi Công nói. - Ta thấy việc này nhất cử lưỡng tiện: Kim Hữu Nghĩa thông minh ngay thẳng, mẹ anh cũng là người hiền lành đạo đức, ngươi cũng vốn là người ngay thẳng. Có thể cùng với Hữu Nghĩa nên vợ nên chồng, cả nhà hiền lành hiếu thuận cũng rất tương xứng. Ta thưởng cho ngươi ba thoi bạc để nuôi thân khi chồng chết, vợ chồng mới nuôi nhau. Ngươi có bằng lòng không cứ nói thẳng ta không trách cứ.
- Bẩm ngài, - Mai thị vừa khóc vừa nói. - Ngài đã minh oan cho chồng con, bắt hung thủ phải đền mạng, con phải hết lòng trinh tiết với chồng mới đúng. Nhưng vì tính cách của Triệu Tam con không thể là một người hết lòng trinh tiết được. Bây giờ con chỉ còn biết vâng theo ngài. Công ơn của ngài như biển cả con nguyện theo lệnh ngài không dám trái lời.
Nghe xong Thi Công rất vui, nói:
- Kim Nhậm thị, con ngươi gặp oan, đấy cũng là kết quả của kiếp trước. Bạc là người mối, làm chứng cho Mai thị làm dâu nhà bà.
- Xin đa tạ công ơn trời biển của ngài. Con hoàn toàn nghe theo lời chỉ bảo của ngài.
Thi Công quay lại nhìn Tri phủ nói:
- Quý Tri phủ, ngài xử vụ này chính là vu cáo cho người lương thiện, lẽ ra ta phải xử tội ngài, nhưng ta nghĩ đây là lỗi ngài sơ tâm chứ không phải là tham ô. Việc này có thể tha thứ được. Ta nghĩ rằng, ngài được đỗ đạt không phải là chuyện dễ, nên ta gia ân tha cho. Sau này mọi việc ngài phải giải quyết hết sức thận trọng.
Tri phủ vâng vâng dạ dạ nghe lời. Thi Công nói:
- Phạt ngài một khoản tiền: Mai thị lấy Kim Hữu Nghĩa, phí tổn cưới xin bao nhiêu ngài phải lo.
- Tôi xin vâng lệnh. - Tri phủ nói.

Thi Công lệnh giam Phùng Đại Sinh vào ngục, còn cho tất cả mọi người về. Ai ai cũng rất đỗi vui mừng, khen Thi Công là một vị quan thiên tài.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Fri Apr 04, 2014 4:47 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 8
Tầu Mực Chứng Minh Bì Hùng Án 
Chậu Đen Tố Cáo Nỗi Oan Khiên
Một hôm Bao Công cùng với Bao Hưng bí mật tới huyện Định Viễn. Họ tới một hàng cơm nghỉ chân ăn lót dạ. Đang ăn, họ thấy có một người vào, người bán hàng mang ra hai bình rượu, hai chiếc chén. Người ấy hỏi:
- Có mình tôi, sao ông lại mang ra hai bình rượu, hai chiếc chén?
- Vừa thấy đi sau ông là một người đầu tóc bù xù, áo quần loang lổ máu. Tôi nghĩ rằng ông là người khuyên ông ấy hòa giải, không biết sao bây giờ đã biến mất. Chưa biết chừng hay là tôi hoa mắt.
Thấy vậy, người ấy hoảng sợ mặt tái nhợt, cử chỉ gượng gạo luống cuống, khác hẳn với dáng vẻ nghênh ngang khi mới bước vào. Bỗng chốc anh ta ngơ ngơ ngác ngác, đến rượu cũng không uống, vội vàng trả tiền bỏ đi. Bao Công thấy thế hỏi chủ quán:
- Người ấy là ai?
- Anh ấy là Bì Hùng, - chủ quán nói, - là chủ cửa hàng buôn ngựa. Anh ấy có tới bốn con ngựa quý.
Bao Công ghi lại họ tên người ấy. Ăn cơm xong, Bao Công lệnh ngay Bao Hưng tới huyện truyền dự, nói rằng ông lớn sắp tới nhiệm sở. Sau đó Bao Công bước ra khỏi hàng ăn. Chưa tới huyện đã thấy các quan và nha lại ra nghênh tiếp. Tới huyện quan giữ văn thư giao ấn tín cho ông, và bàn giao tất cả mọi việc.
Bao Công xem hết cuốn hồ sơ xét xử, thấy trong đó có vụ án Thẩm Thanh giết sư, tại điện Già Lam, tình tiết hết sức tỉ mỉông bèn lệnh mở cửa công đường xét hỏi vụ án Thẩm Thanh. Tất cả nha lại đã biết rằng, trên đường tới huyện, ngài đã bí mật điều tra, thế mới biết ngài là người rất ghê. Bởi thế ai ai cũng phải hết sức cẩn thận, chuẩn bị chu đáo. Vừa nghe thấy truyền lệnh, lập tức những người liên quan đến xét xử vụ án đã đứng xếp hàng tề tựu hai bên. Bao Công tới công đường, rút lệnh sai gọi Thẩm Thanh. Lát sau, nha lệ đã dẫn Thẩm Thanh từ nhà giam tới, quỳ trước công đường. Bao Công chăm chú nhìn, thấy người này chưa đầy ba mươi tuổi, run lẩy bẩy, nằm bò trên đất, không giống một tên hung thủ. Bao Công nhìn xong nói:
- Thẩm Thanh, vì sao ngươi giết người? Hãy khai thực.
- Con đi thăm người nhà trở về, - Thẩm Thanh vừa khóc vừa nói, - lúc ấy đã muộn, trời lại mưa mù mịt, đường lầy lội rất khó đi. Con vốn nhát gan, không dám đi đêm, ở phía nam huyện cách đấy ba dặm có một ngôi miếu cổ, con vào đó tránh mưa. Ai ngờ hôm sau trời chưa sáng, đang trên đường về, công sai thấy người con có vết máu, mới hỏi con từ đâu tới. Con nói rằng hôm qua con đi thăm người thân về, trời đã muộn, con vào điện Già Lam trong chùa nghỉ tạm. Không ngờ công sai ngăn con lại không cho đi, bắt con tới chùa xem sao. Trời ơi! Khi con cùng công sai tới chùa, thì thấy một vị sư bị giết bên cạnh tượng Phật. Quả thực con không biết kẻ nào đã giết vị sư ấy. Bởi thế hai vị công sai giải con tới huyện rồi bảo con giết sư. Con, thật là oan uổng, xin ngài đèn trời soi xét.
Thấy thế Bao Công hỏi:
- Ngươi ra khỏi chùa lúc nào?
Lúc trời chưa sáng. - Thẩm Thanh đáp.
- Vì sao áo ngươi có vết máu? - Bao Công hỏi.
- Con ở Thần Trù, - Thẩm Thanh nói, - máu chảy qua, thấm vào áo con.
Bao Công nghe xong gật đầu, cho người dẫn Thẩm Thanh giam vào ngục. Rồi ông lập tức gọi kiệu, đến ngay điện Già Lam. Bao Hưng đỡ ông lên kiệu, gài thật tay vịn rồi cưỡi ngựa theo sau.
Ngồi trên kiệu Bao Công nghĩ: "Hắn ta đã giết sư, tại sao áo quần không có vết máu, mà chỉ có vệt máu sau lưng? Hơn nữa tuy là giết bằng dao, sao lại không có hung khí?". Ông cứ ngẫm nghĩ mãi cho tới khi đến điện thờ. Ông xuống kiệu, chỉ mình ông vào chùa không cho ai theo. Tới trước điện, thấy tượng Phật bằng gỗ đã mục nát, đổ sập, ông đi vòng ra sau lưng tượng, nhìn kĩ trên dưới, bất giác lặng lẽ gật đầu. Quay lại nhìn kĩ dưới Thần Trù, thấy dưới đất có vết máu lờ mờ nhoe nhoét, bên cạnh đó có một vật, ông lặng lẽ nhặt lên xem, rồi nhét ngay vào tay áo. Sau đó ông lập tức lên kiệu về ngay nha môn. Tới thư phòng, Bao Hưng dâng trà, nói rằng:
- Lý Bảo đã mang hành lý tới.
Bao Công thấy thế, bảo ông ta vào. Lý Bảo vội vàng vào cúi đầu vái lạy Bao Công bèn bảo Bao Hưng gọi người đầu mục trực phiên tới. Bao Hưng tuân lệnh, lát sau dẫn đầu mục vào quỳ trước mặt Bao Công. Anh ta nói:
- Con là Hồ Thành xin cúi đầu lại ngài.
Bao Công hỏi:
- Trong huyện các anh có thợ mộc không?
- Có ạ Hồ Thành đáp.
- Anh hãy gọi tới đây mấy người. - Bao Công nói. - Ta có một việc quan trọng phải làm ngay, sáng sớm mai hãy gọi họ đến đông đủ.
Hồ Thành vội vàng tuân lệnh, rồi ra khỏi phòng.
Sáng hôm sau Hồ Thành vào bẩm:
- Con đã gọi thợ mộc đến đây cả rồi, họ đang đứng ngoài chờ lệnh ngài.
- Hãy chuẩn bị cho ta một số bàn thấp, một ít nghiên bút tới phòng khách phía sau, không được làm lỡ việc, đi thôi.
Hồ Thành vâng lệnh vội vàng đi chuẩn bị. Bao Công chải đầu xong, cùng Bao Hưng tới phòng khách, bảo dẫn những người thợ mộc vào. Tất cả có chín người, đều quỳ xuống nói:
- Chúng con xin cúi đầu chào ông lớn.
Bao Công nói:
- Ta muốn làm các kiểu đôn để chậu hoa, kiểu cách phải mới lạ. Các anh mỗi người vẽ một cái, ta chọn cái nào đẹp sẽ trọng thưởng.
Nói xong ông sai người đặt nghiên bút giấy mực lên bàn. Thấy chín người thợ mộc ngồi thành hai hàng, ai ai cũng vắt óc suy nghĩ, muốn vẽ một kiểu thật đẹp để được lòng Bao Công. Trong số đó có người quen dùng bút tre không cầm được bút lông; cũng có người sợ quan run cầm cập vẽ chẳng ra gì, cũng có người tự nhiên không sợ hãi, chỉ loáng một cái đã vẽ xong. Bao Công ngồi trên chăm chú nhìn. Một lát sau họ vẽ xong, lần lượt trình lên. Ông lớn nhận xem từng tờ một, rồi hỏi:
- Anh tên gì?
- Con là Ngô Lương. - Người ấy đáp.
Bao Công nói với những người thợ mộc rằng:
- Cho các ngươi về, giải Ngô Lương lên công đường.
Mọi người dạ ran, lập tức đánh trống mở công đường.
Bao Công đập bàn quát:
- Ngô Lương, vì sao ngươi lại giết sư? Hãy khai thực, khỏi phải tra tấn đau đớn.
Thấy thế Ngô Lương vô cùng hoảng sợ nói: - Con sống bằng nghề thợ mộc, là người rất yên phận, đâu dám giết người. Xin ông lớn đèn trời soi xét.
Bao Công nói:
- Xem ra thằng này không chịu khai. Các ngươi đến ngay điện thờ Phật, khiêng tượng phật tới đây.
Cấp dưới vâng lệnh đi ngay. Một lát sau họ chuyển tượng Phật tới công đường. Mọi người thấy khiêng tượng tới công đường xét hỏi, ai ai cũng muốn đến xem chuyện kì lạ này. Thấy Bao Công rời khỏi bàn, đón tượng để xuống, rồi với dáng vẻ như hỏi tượng. Mọi người thấy thế tự nhiên bật cười. Ngay cả Bao Hưng cũng nghĩ thầm: "Không biết ông lớn nhà mình cố làm ra vẻ như thế để làm gì?". Rồi thấy Bao Công trở về chỗ ngồi, nói:
- Ngô Lương! Vừa rồi Phật nói rằng, hôm ấy khi ngươi hành hung, còn để lại sau lưng Phật một dấu vết riêng. Hãy đưa Ngô Lương xuống đọ.
Cấp dưới vâng lệnh dẫn Ngô Lương xuống, thấy chỗ bả vai sau lưng Phật quả nhiên có vết bàn tay trái sáu ngón. Ai ngờ tay trái của Ngô Lương cũng có sáu ngón, khi đọ thấy không sai một li. Ngô Lương sợ quá hồn xiêu phách lạc, ai ai cũng phải lè lưỡi kính phục: "Ngài thật là thần thánh, làm thế nào mà ngài biết được gã thợ mộc Ngô Lương". Họ hoàn toàn không biết hôm ấy Bao Công khi tới miếu khám nghiệm, ông nhặt được một vật dưới nền đất, đó là chiếc tầu mực của thợ mộc.
Và ông lại thấy sau lưng tượng Phật có vết bàn tay sáu ngón, bởi thế ông nghĩ tới thợ mộc.
Sai nha dẫn Ngô Lương vào quỳ trước công đường. Bao Công đập bàn quát:
- Ngô Lương, chứng cớ đã rành rành, mà ngươi vẫn không chịu khai thực.
Nha lại quát thét:
- Khai mau, khai mau!
Ngô Lương vội khai:
- Bẩm quan lớn, xin quan bớt giận, con sẽ khai hết sự thực.
Thư lại bên cạnh ghi lời khai. Ngô Lương nói:
- Con chơi thân với hòa thượng trong chùa, hòa thượng rất thích rượu, con cũng là một tên bợm rượu. Vì hôm ấy hòa thượng mời con uống rượu, ai ngờ ông say. Con khuyên ông nên nhận một đồ đệ, để sau này lỡ ra viên tịch. Ông nói: "Bây giờ đồ đệ rất khó tìm. Dù sau này có viên tịch ta cũng chẳng sợ. Mấy năm nay ta kiếm được hơn hai chục lạng bạc". Nhân lúc đang say, con mới hỏi rằng: “Số bạc ấy ông giấu chỗ nào, nếu mất thì thật là uổng công mấy năm trời". ông ấy nói: "Mất làm sao được chỗ ta giấu chẳng ai ngờ tới". Con bèn hỏi: "Thế ông giấu ở chỗ nào?" Ông ấy nói: "Chúng ta thân thiết nhau, tôi mới nói cho anh biết, anh chớ nói với người khác nhé!". Thế rồi ông bảo rằng, ông giấu vào đầu tượng Phật. Lúc ấy con mới nổi máu tham, lại thấy ông ấy say, đã lấy rìu giết chết ông. Thưa ngài, xưa nay con dùng rìu phạt gỗ đã quen rồi nhưng chưa từng phạt người bao giờ. Bỗng nhiên phạt người con bủn rủn cả chân tay. Nhát rìu đầu phạt sẩy, ngờ đâu con gặp phải loại sư hổ mang định cướp rìu của con, con không chịu buông tha, đè ông ta xuống, chém liền mấy nhát, ông ta chết. Hai tay con đẫm máu, cứ thế lên bệ tay trái đỡ lấy lưng tượng, tay phải moi bạc trong đầu tượng ra, không chút để ý, để lại dấu tay. Nay bị ngài sáng suốt tìm ra, con quả thực đáng chết.
Thấy đã khai thực, Bao Công lấy chiếc tàu mực đưa cho Ngô Lương xem. Ngô Lương nhận ra đó là chiếc tàu mực của mình, vì rút rìu ra, chiếc tàu mực ấy đã rơi xuống. Bao Công bảo hắn kí vào bản lời khai, rồi cùm tay, tống hắn vào nhà giam. Thẩm Thanh vô cớ chịu oan, Bao Công thưởng mười lạng bạc, rồi cho về.
Vừa định kết thúc phiên xét xử, bỗng nghe thấy tiếng trống kêu oan. Bao Công lập tức cho phép vào. Thấy hai người từ cửa ngách bước tới. Một người trạc hai mươi tuổi, một người khoảng trên dưới bốn mươi, cả hai đều quỳ trước công đường. Người trẻ tuổi nói:
- Con tên là Khuông Tất Chính, có người chú mở cửa hàng bán vải đoạn, tên là Khuông Tất Hưu. Vì chú con có một tua quạt bằng san hô nặng một lạng tám, mất ba năm nay chưa tìm thấy. Không ngờ hôm nay lại thấy người này đeo vật ấy bên hông. Sợ rằng mình nhận lầm, con định mượn để xem xem. Ai ngờ người ấy không cho xem, mà còn chửi là con vu cho ông ấy, rồi ông ấy giữ chặt con lại. Xin ngài phán xét.
Người ấy nói:
- Con là người Giang Tô, tên là Lã Bội. Hôm nay tại chỗ đường hẹp con gặp anh này, anh ta ngăn con lại, cứ khăng khăng nói rằng chiếc tua san hô con đeo bên hông là của anh ấy. Giữa thanh thiên bạch nhật mà dám đón đường ăn cướp, anh này quả thực là một kẻ xấu. Cầu mong ngài phán xét.
Nghe xong, Bao Công cầm lấy chiếc tua san hô xem, thấy quả đúng như thế, nó mầu hồng nhạt bóng loáng, đẹp tuyệt vời. Bao Công hỏi Khuông Tất Chính:
- Ngươi vừa nói chiếc tua này nặng bao nhiêu?
- Thưa ngài, nặng hai lạng tám. - Khuông Tất Chính nói. - Nếu không đúng, và không giống hệt nhau, thì con không dám đổ cho ông ấy.
- Ngươi có biết chiếc tua này nặng bao nhiêu không? - Bao Công hỏi Lã Bội.
- Chiếc tua này là bạn con cho. - Lã Bội trả lời. - Con không biết nó nặng bao nhiêu lạng.
Bao Công quay lại gọi Bao Hưng lấy cân tiểu li cân. Quả nhiên nặng đúng một lạng tám.
Bao Công nói với Lã Bội:
- Nếu theo trọng lượng, thì anh ta nói không sai, theo lí mà nói, chiếc tua này là của anh ấy.
- Trời ơi! Bẩm ngài, chiếc tua này vốn là của bạn con cho con. - Lã Bội lo lắng nói, con cân làm gì cơ chứ? Người Giang Tô chúng con không dám nói dối.
- Nếu là của bạn cho, thì bạn tên là gì? - Bao Công nói.
- Hãy khai thực.
- Bạn con là Bì Hùng, - Lã Bội nói, - anh ấy là lái buôn ngựa ai cũng biết.
Bao Công bỗng nhiên nghe thấy hai tiếng Bì Hùng, bèn bảo dẫn hai người này xuống dưới, rồi lập tức truyền lệnh bắt Bì Hùng tới xét hỏi. Bao Công tạm rời khỏi công đường dùng cơm.
Một lát sau, có người đến báo, Bì Hùng đã tới. Bao Công trở lại công đường, nói:
- Giải Bì Hùng vào.
Bì Hùng quỳ trước công đường, nói:
- Thưa ngài, ngài gọi con tới có việc gì?
- Nghe nói ngươi có chiếc tua quạt san hô, có đúng không?
Bao Công hỏi.
- Có ạ! Bì Hùng nói. - Ba năm trước, con nhặt được.
- Chiếc tua ngươi có đưa cho ai không? - Bao Công hỏi.
- Con không biết ai đánh mất, - Bì Hùng nói, - thì con dám đưa cho ai.
- Chiếc tua ấy hiện ở đâu? - Bao Công hỏi.
- Hiện đang ở nhà con. - Bì Hùng nói.
Bao Công bảo cho Bì Hùng đứng sang một bên, rồi gọi Lã Bội tới.
Bao Công hỏi:
- Vừa rồi hỏi Bì Hùng, thì anh ta bảo, chưa bao giờ tặng anh chiếc tua này, vậy thì chiếc tua này tại sao đến tay anh? Hãy nói mau!
Tự nhiên Lã Bội cuống lên, mới nói rằng Liễu thị vợ Bì Hùng cho. Bao Công thấy trong đó có manh mối, hỏi ngay:
- Tại sao Liễu thị lại cho ngươi chiếc tua này? Hãy nói thực ra.
Lã Bội không nói. Bao Công lệnh vả vào mồm hắn, sai nha vội bước lên, thì Lã Bội đã xua tay nói:
- Thôi thôi, xin ngài bớt giận, con xin nói.
Thế rồi hắn thuật lại, hắn đã thông dâm với Liễu thị và Liễu thị tặng hắn như thế nào. Bì Hùng thật không ngờ vợ mình lại thông dâm với Lã Bội. Bao Công lập tức cho gọi Liễu thị tới. Ngờ đâu Liễu thị rất căm giận chồng, vì hắn không chung thủy với mình, hằng đêm đã thông dâm với gái. Bởi thế tới công đường, không cần tra hỏi, Liễu thị đã tố cáo Bì Hùng thông dâm với Tất thị, vợ Dương Đại Thành, rằng:
- Vật này Bì Hùng lấy của Tất thị về giao cho con hai ba năm nay. Con thân thiết với Lã Bội rồi ngấm ngầm tặng anh ấy.
Bao Công lập tức lệnh bắt Tất thị đến xét hỏi.
Đang lúc xét xử, thì bỗng nghe thấy tiếng trống kêu oan, Bao Công tạm thời cho những người này đứng sang một bên, và cho gọi người đánh trống kêu oan vào. Người vừa vào trạc năm mươi tuổi, tên là Khuông Tất Hưu, chú Khuông Tất Chính. Vì nghe thấy người ta lôi cháu mình tới cửa quan nên vội vàng tới thưa:
- Cách đây ba năm, con không nhớ ngày, con tới cửa hàng bán vải đoạn của Dương Đại Thành mua đoạn, và dùng chiếc tua này làm vật thế chấp. Mấy hôm sau, con đến cửa hàng hỏi, thì không thấy Dương Đại Thành tới cửa hàng, và cũng không thấy chiếc tua này. Bởi thế con đến nhà Dương Đại Thành, ai ngờ Dương Đại Thành đã chết đúng vào tối hôm ấy, và cũng không biết tăm tích chiếc tua ấy, đành ngậm đắng nuốt cay. Không ngờ hôm nay đứa cháu của con nhìn thấy, rồi bị người ta đưa lên quan. Xin quan lớn đèn trời soi xét, để con được minh oan.
Nói xong ông vái đầu cúi lạy.
Bao Công nghe xong hiểu ngay, cho Tất Hưu xuống, rồi lập tức giải Bì Hùng, Tất thị lên xét hỏi. Bao Công hỏi Tất thị:
- Chồng ngươi chết vì bệnh gì?
Tất thị chưa trả lời, Bì Hùng đứng lên đáp:
- Chết vì đau tim.
Bao Công đập bàn quát:
- Đồ chó chết! Tại sao ngươi biết chồng chị ta chết vì đau tim? Đúng là vì gian dâm mà âm mưu giết đi. Hãy khai rõ sự thực ngươi đã mưu hại Dương Đại Thành thế nào.
Lính hầu hai bên cũng quát thét để uy hiếp:
- Khai mau, khai mau!
Bì Hùng hoảng sợ nói: - Quả thực con đã thông dâm với Tất thị, song con không mưu hại Dương Đại Thành.
- Thằng này vẫn còn che giấu. - Bao Công nói. - Ngươi còn nhớ khi ngươi ở hàng ăn không? Ngươi vào hàng, thì có một người đầy máu me theo vào, chủ hàng nói, ngươi sợ hãi không dám uống rượu, trả luôn tiền rồi bỏ đi. Nay trước công đường ngươi còn dám chối quanh. Các người đâu mang dụng cụ tra tấn ra đây.
Bì Hùng sợ quá, cứng họng, thầm nghĩ: "Ngay cả việc uống rượu này ngài cũng biết rồi, thì việc khác giấu sao được. Nếu không khai thực thì sao tránh khỏi tra tấn đau đớn". Nghĩ xong, hắn gật đầu nói:
- Xin ngài đừng giận dữ, con xin khai.
- Khai mau. - Bao Công nói.
- Chỉ vì tâm đầu ý hợp, con gian dâm với Tất thị. - Bì Hùng nói. - Sợ rằng Dương Đại Thành biết được sẽ ngăn chặn, bởi thế chúng con âm mưu, chuốc anh ấy uống rượu say, rồi giết đi lén lút bỏ vào quan tài, rồi nói là anh ấy chết đột ngột về bệnh tim. Lúc ấy thấy tua san hô, con cầm lấy mang về nhà, đưa cho vợ con cất đi. Thưa ngài, con đã khai hết sự thực.

Nghe xong, Bao Công bắt ký vào tờ khai. Rồi lập tức định tội: Tất thị bị lăng trì; Bì Hùng bị chém đầu; đánh Lã Bội bốn mươi gậy rồi tha về. Liễu thị bán cho nhà quan; chú cháu nhà họ Khuông được mang tua san hô về. Bởi thế ai ai cũng khen Bao Công tài giỏi như thần thánh. Khắp nơi đều ca ngợi truyền tụng.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Fri Apr 04, 2014 11:09 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 8 (B)
Ở Tiểu Sa Sào, có một cụ già tên là Trương Hành Tam, ông là người cương trực, nghĩa hiệp. Bởi thế người ta gọi ông là Biệt Cổ, ông vốn kiếm sống bằng nghề kiếm củi. Nay tuổi đã cao, không gánh được củi, người ta giao cho ông xem mặt cân, tiền lãi họ chia đều. Được thế cũng vì xưa nay ông là người tốt. Một hôm, đang thảnh thơi rỗi rãi, chẳng có việc gì làm, tự nhiên ông nghĩ: "Cách đây ba năm Triệu Đại người Đông Tháp Oa còn nợ mình một gánh củi bốn trăm đồng. Nếu mình không đòi thì có lỗi với bạn bè. Tuy họ không nghi cho mình tiêu đi, song mình vẫn cứ áy náy. Hôm nay rỗi rãi sao ta không đi đòi". Thế rồi ông đóng cửa chống gậy, tới Đông Tháp Oa.
Tới cửa nhà Triệu Đại, thấy nhà cửa mới làm sáng choang, ông không dám gõ cửa. Hỏi một người hàng xóm mới biết Triệu Đại phát tài, bây giờ người ta gọi là ngài Triệu Đại. Thấy thế ông già chợt không vui, nghĩ bụng: "Thằng Triệu Đại cứ hở ra là đánh xoáy ngay cả tiền củi cũng không muốn trả, làm sao mà nó phát tài nhanh thế". Tới nhà, ông lấy gậy gõ cửa, gọi:
- Triệu Đại! Triệu Đại!
Trong nhà có tiếng thưa:
- Ai gọi Triệu Đại đấy?
Nói xong, cửa mở. Trương Tam thấy Triệu Đại quần áo mới tinh, hoàn toàn khác trước. Gặp Trương Tam, Triệu Đại nói ngay.
- Tôi tưởng ai, hóa ra là anh Trương Tam.
- Thôi, không anh anh em em gì cả. - Trương Tam nói. - Anh còn nợ tiền củi của tôi thì trả tôi.
- Sao mà vội thế, em mời ông anh vào nhà chơi đã.
- Tôi không mang tiền, - Trương Tam nói, - tôi không vào.
- Anh nói gì thế. - Triệu Đại nói.
- Tôi nói thật đấy. - Trương Tam nói. - Nếu tôi có tiền, thì tôi chẳng tới nhà anh đòi nợ.
Đang nói thì thấy một người đàn bà từ trong ra, ăn mặc quái gở, hỏi:
- Anh nói chuyện với ai thế?
Trương Tam vừa trông thấy nói:
- Triệu Đại, giỏi thật, anh làm cái nghề này, trách nào mà chẳng phát tài.
- Đừng có nói bậy. - Triệu Đại nói. - Đây là vợ bé của em đấy.
Rồi Triệu Đại lại nói với người đàn bà:
- Đây không phải là người ngoài, mà là anh Trương Tam tới chơi
Người đàn bà ra chào hỏi Trương Tam nói: - Xin thứ lỗi, tôi đau lòng không cúi chào lại được.
- Anh vẫn cứ khách khí, - Triệu Đại nói, - xin mời anh vào trong nhà chơi.
Trương Tam đành theo vào. Trong nhà thấy chậu xếp hết hàng này đến hàng khác, nhiều vô kể, hai người mời nhau ngồi. Triệu Đại gọi vợ pha trà. Trương Tam nói:
- Tôi không khát, hãy trả tôi bốn trăm đồng, đừng cù cưa nữa.
- Xin anh Tam cứ yên tâm. - Triệu Đại nới. - Tôi đời nào lại quịt anh.
Nói xong, Triệu Đại lấy bốn trăm đồng đưa cho Trương Tam. Trương Tam cầm tiền bỏ vào túi, đứng dậy nói:
- Không phải là tôi tham rẻ đâu, tôi tuổi đã cao, đêm thường hay dậy, anh hãy để cho tôi một chiếc chậu nhỏ, anh trừ đi số tiền lẻ anh còn nợ ấy. Hai bên thanh toán cho dứt đi.
- Tội gì mà anh cứ ăn nước giếng. - Triệu Đại nói. - Những chậu này đều lựa kĩ rồi, không rò rỉ, anh cứ lấy một chiếc về mà dùng.
Trương Tam chọn một chiếc chậu màu đen ôm vào lòng cũng chẳng chào hỏi gì, ra khỏi cửa.
Đông Tháp Oa, cách Tiểu Sao Sào ba dặm, Trương Tam rất bất bình, đang lúc cuối thu, mặt trời còn trên đỉnh núi, ông đi tới giữa rừng, những trận gió thu ào ào thổi, lá vàng rơi lả tả. Bỗng nhiên thấy một cơn lốc xoáy tít, lạnh đến gai người. Ông già rụt cổ lại, khom người xuống, vừa kêu lên "Lạnh quá!" thì bất ngờ chiếc chậu ôm trong lòng rơi xuống đất, lăn lộc cà lộc cộc rồi văng vẳng thấy tiếng kêu bi ai:
- Lưng tôi đau quá!
Trương Tam nghe thấy, nhổ liền mấy bãi nước bọt, ôm lấy chậu đi tiếp. Người đã có tuổi chạy làm sao được. Nhưng đằng sau có tiếng người nói:
- Bác Trương! Chờ cháu với!
Quay lại nhìn, không thấy ai, bụng bảo dạ: "Đúng là thời thế suy vi quỷ nhát người. Đời ta không làm việc gì hổ thẹn lương tâm, sao mà ban ngày ban mặt lại gặp ma. Có lẽ ta chẳng còn sống được bao lâu nữa". Vừa đi vừa nghĩ, chật vật lắm mới về tới nhà ông vội vàng đặt chậu xuống, để chiếc gậy tre sang một bên, rồi mở khóa, chống gậy mang chậu vào nhà, chống cửa lên. Cảm thấy người mệt mỏi, bải hoải, nói một mình: "Mặc ma với quỷ, đánh một giấc cho khỏe người". Vừa nói xong, thì nghe thấy tiếng kêu ai oán:
- Bác ơi bác, cháu chết thê thảm lắm!
Thấy thế Trương Tam nghĩ: "Sao thế nhỉ! Ta lại đem nhốt ma trong nhà". Biệt Cổ vốn trung trực ngay thẳng, không sợ ma quỷ, nói:
- Ngươi cứ nói đi ta nghe đây.
Ông nghe thấy tiếng nói thầm thì:
- Cháu là Lưu Thế Xương, sống tại làng Bát Bảo, ngoài thành Tô Châu. Mẹ là Chu thị, vợ là Vương thị, có đứa con ba tuổi tên là Bách Tuế. Con sinh sống bằng nghề buôn vải đoạn. Vì cưỡi lừa về nhà, hành lí rất nặng, tối hôm ấy nghỉ qua đêm nhà Triệu Đại. Không ngờ vợ chồng hắn độc ác, giết con, chiếm đoạt của cải, máu thịt con hắn trộn với đất thiêu cháy. Đến nay con chết đi để lại mẹ già, vợ con, không bao giờ được gặp mặt nữa. Hồn con nơi chín suối không lúc nào yên. Xin bác tới Bao Công minh oan cho con, để rửa mối thù này. Oan hồn con ở nơi chín suối vô cùng biết ơn bác.
Nói xong gào lên khóc nức nở. Trương Tam nghe anh ta khóc thật đáng thương, bất giác động chạm tới lòng hào hiệp, ông chẳng biết sợ là gì, gọi:
- Chậu Đen!
Rồi nghe thấy:
- Dạ, bác ơi cháu đây.
- Ta sẽ minh oan cho cháu. -Trương Tam nói. - Nhưng chỉ sợ Bao Công không nhận đơn, cháu phải đi với ta.
Chậu Đen vâng lời ngay, nói:
- Cháu sẽ đi với bác.
Thấy nó bằng lòng, Trương Tam rất vui mừng, nghĩ: "Lần đi tố cáo này, không sợ Bao Công không tin. Tuy nói thế, song ta tuổi đã cao trí nhớ kém, nên ta phải học thuộc họ tên và nơi ở". Thế rồi ông đọc đi đọc lại cho thật thuộc.
Ông già rất nhiệt tình, suốt đêm không sao chợp mắt được, trời chưa sáng ông đã dậy, cắp chậu, khóa cửa chống gậy, tới huyện Định Viễn. Khi ra khỏi cửa, gió rét thấu xương, khí lạnh ảm vào người, trời lại tối đen như mực, nếu không tốt bụng như Trương Tam, thì rét cắt da cắt thịt như thế ai mà chịu đi kêu oan cho. Tới huyện Định Viễn, trời còn quá sớm, công đường chưa mở cửa. Ông rét run cầm cập, tìm chỗ tránh gió, ngồi bệt xuống đất, thở một lát thấy người dễ chịu, ông già hứng chí lên úp chậu xuống đất, lấy gậy tre gõ vào đáy, hát bài "Mười việc không nhàn". Vừa hát tới câu "Rằm tháng tám trăng vằng vặc sáng", thì nghe thấy tiếng cửa mở. Bao Công lên công đường.
Trương Tam vội ôm chậu, quỳ xuống kêu oan. Người trực vào bẩm, rồi dẫn ông vào. Bao Công hỏi:
- Ngươi có oan gì hãy nói ngay.
Trương Tam kể lại chuyện đi đòi nợ Triệu Đại ở Đông Tháp Oa, được một chiếc chậu đen, gặp oan hồn thuật lại nỗi oan ức của mình, "hiện có chiếc chậu đen làm chứng".
Nghe xong, Bao Công không cho việc ấy là nói bừa, bèn gọi:
- Chậu Đen! Chậu Đen!
Không thấy trả lời. Lại gọi liền mấy tiếng nữa, cũng cứ lặng im. Thấy Biệt Cổ già cả lẩm cẩm, Bao Công cũng không nổi giận, bảo lính hầu đuổi ông ra ngoài.
Ra khỏi nha môn, lão Trương gọi:
- Chậu Đen!
Ông nghe thấy tiếng đáp lại:
- Bác ơi, cháu đây.
- Ngươi theo ta kêu oan, - lão Trương nói, - sao ngươi không vào?
- Vì thần coi cửa không cho vào, - Chậu Đen nói, - oan hồn không dám vào. Xin bác nói giúp cho cháu.
Nghe xong, lão Trương kêu oan. Người gác cổng ra quát:
- Ông già này vẫn chưa đi, còn đứng đấy mà kêu à?
- Xin ông nói cho tôi một tiếng, - lão Trương nói, - Chậu Đen bị thần coi cửa không cho vào, nên không dám vào.
Người gác cổng không còn cách nào, đành phải vào thưa giúp ông. Bao Công thấy thế viết một tờ giấy, bảo người gác cổng ra cửa đốt đi, rồi cho ông già vào, xét hỏi lần nữa. Lão Trương ôm chậu vào công đường, đặt chậu xuống đất, quỳ sang một bên. Bao Công hỏi:
- Lần này có bảo nó trả lời không?
Lão Trương nói có ạ. Bao Công bảo mọi người:
- Các người chú ý nghe nhé!
Những người xung quanh lắng tai nghe Bao Công gọi:
- Châu Đen!
Vẫn không thấy trả lời. Bao Công bỗng nổi giận, đập bàn quát:
- Lão già này! Ta nghĩ ngươi già cả mới không phạt ngươi. Bây giờ mà như thế, chẳng hóa ra ngươi coi ta là kẻ ngu đần ư!
Thế rồi ông lệnh đánh lão Trương mười gậy để răn đe sau này. Lính hầu chẳng cho ông phân trần, đánh lão Trương mười gậy. Lão Trương nghiến răng chịu đựng, tập tễnh ôm chậu cầm gậy ra khỏi công đường.
Ra tới bức bình phong, ông già lẳng chiếc chậu xuống. Bỗng nghe thấy tiếng kêu:
- Ối! ối! Chẹo chân cháu rồi.
- Kì lạ thật lão Trương nói, - Sao cháu không vào?
- Vì cháu trần truồng, không dám gặp ngài. Không còn cách nào khác, xin bác hãy nói rõ cho cháu.
- Ta vì cháu mà đã bị đánh mười gậy rồi, - lão Trương nói, - nếu bây giờ lại vào thì ta sẽ bị đánh nhừ đòn.
Chậu Đen cứ khẩn thiết van nài. Lão Trương mủi lòng, đành mang chậu vào. Ông không dám kêu oan, đành lẻn vào qua cửa ngách. Thấy một người đầu bếp bước ra, chợt nhìn thấy ông kêu lên:
- Hồ Đầu Nhi! Hồ Đầu Nhi! Lão già này lại vào.
Hồ Đầu Nhi đang bàn tán cười nói về chuyện này, bỗng nghe thấy ông già lại tới, vội chạy ra lôi ông lại. Lão Trương đã định sẵn, bèn ngồi lì xuống đất kêu oan. Bao Công nghe thấy, bảo giải ông vào, hỏi:
- Vì sao ông còn vào đây? Ông không sợ đánh ư?
- Vừa rồi trở ra, con lại hỏi Chậu Đen, - lão Trương cúi đầu nói, - nó nói rằng người nó trần truồng, không dám gặp ngài. Xin ngài cho nó một bộ quần áo che thân, nó mới dám vào.
Thấy thế Bao Công bảo Bao Hưng lấy cho nó bộ quần áo. Bao Hưng lấy một chiếc áo dài, đưa cho lão Trương. Lão Trương cầm áo đi ra. Người gác cổng nói:
- Hãy dìu ông ấy, thấy ông ấy đi tập tễnh.
Lão Trương bọc lấy chiếc chậu, ôm lên lo lắng bảo:
- Chậu Đen, theo ta.
Nghe thấy tiếng đáp lại:
- Vâng, bác đi, cháu ở đây.
Lão Trương nghe thấy tiếng trả lời, lúc ấy mới yên tâm, luôn miệng bảo nó vào.
Tới công đường, lão Trương để chiếc chậu ở giữa còn mình quỳ sang một bên. Bao Công lại bảo mọi người lắng tai nghe. Mọi người đáp: - Vâng ạ?
Đó là do lệnh trên sai khiến, chứ không phải do mình. Có người cho rằng ông già mắc bệnh điên; có người cho rằng Bao Công dễ tính, cũng có người cười thầm. Ngay cả Bao Hưng cũng bất giác cười thầm cho là: "Hôm nay Bao Công bị gã điên làm phiền". Bao Công ngồi bên trên quát:
- Chậu Đen!
Không ngờ chiếc chậu bọc trong áo thưa:
- Dạ, thưa ngài!
Mọi người thấy rất lạ. Thấy Chậu Đen thưa, lão Trương bỗng nhảy lên suýt nữa đâm sầm vào bàn Bao Công. Mọi người quát lên, ông mới quỳ xuống. Bao Công hỏi kĩ lão Trương. Hình như lão Trương đã thuộc, nói thao thao bất tuyệt rất rõ ràng: họ tên là gì, nhà ở đâu, có những ai, làm gì, vì sao bị giết, kẻ nào giết... Những người xung quanh, ai ai cũng thương xót. Nghe xong, Bao Công bảo Bao Hưng lấy mười lạng bạc thưởng cho lão Trương, rồi cho ông về. Biệt Cổ vô cùng cám ơn rồi ra về.
Bao Công lập tức bảo thư lại lập văn bản gửi tới Tô Châu, báo cho người thân tới nghe kết án. Sau đó lệnh bắt vợ chồng Triệu Đại xét hỏi và lấy khẩu cung. Bao Công trầm ngâm hồi lâu, rồi bảo:
- Cho Triệu Đại ra ngoài, không cho hắn gặp Điêu thị. Thế rồi họ giải Điêu thị tới công đường, Bao Công nói:
- Chồng ngươi đã khai: việc hãm hại Lưu Thế Xương hoàn toàn là do ngươi. Nghe thấy thế Điêu thị nổi giận, bèn bảo là Triệu Đại thắt cổ Lưu Thế Xương. Hiện nay bạc lấy được vẫn chưa dùng hết. Bao Công lập tức ghi lời khai và bắt Điêu thị điểm chỉ vào. Sau đó ông sai người thu tang vật. Gọi Triệu Đại vào đối chất với vợ hắn. Ai ngờ hắn rất ngoan cố, khăng khăng không nhận. Hắn nói rằng số bạc ấy là do hắn tích góp trước. Bao Công phút chốc nổi giận, gọi mang dụng cụ tra tấn ra, dùng kẹp lớn kẹp vào hai đùi hắn, hắn vẫn không khai. Bao Công hô lên một tiếng dứt khoát:
- Kẹp!
Triệu Đại không chịu được. Ôi thôi! Hắn đã về chầu trời. Thấy Triệu Đại chết, Bao Công đành bảo mọi người khiêng hắn ra ngoài. Rồi lập tức viết tờ trình gửi lên phủ, chuyển tờ trình ấy về kinh đô.

Lúc ấy thân nhân của Lưu Thế Xương tới. Bao Công giao hết số bạc còn lại cho mẹ vợ và vợ Lưu Thế Xương, đồng thời hóa giá toàn bộ tài sản của Triệu Đại giao cho mẹ và vợ Thế Xương nuôi nhau. Mẹ con nghĩ tới công ơn lão Trương đã minh oan cho con mình, muốn mời ông tới Tô Châu chăm sóc ông đến trọn đời. Được oan hồn nhờ cậy và cũng muốn chiếu cố đến mẹ con góa bụa cô quả, lão Trương đã vui lòng cùng họ tới Tô Châu.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Sat Apr 05, 2014 12:15 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 9
Mua Thủ Lợn, Thư Sinh Gặp Tai Ương 
Hỏi Thiên Nhi, Bao Công Tài Kết Án
Hôm ấy, tới trấn Tam Tinh, thấy nơi đây yên tĩnh, Bao công thầm nghĩ: "Quan vùng này biết cách cai trị dân", bỗng thấy có tiếng kêu oan. Bao Hưng lập tức xuống ngựa, thấy có người từ cây liễu rỗng bên đường chui ra, quỳ xuống đội đơn. Bao Hưng vội cầm lấy đơn. Lúc ấy kiệu dừng, Bao Hưng dâng tờ đơn cho Bao Công. Xem xong Bao Công nói với người đàn bà:
- Trong lá đơn ngươi nói là không có ai, vậy ai viết lá đơn này?
- Từ nhỏ con đã thuộc lòng thi thư, - người đàn bà đáp, - Anh em đều là cử nhân, chồng con cũng là tú tài, không lúc nào rời nghiên bút.
Sẵn có nghiên bút trên kiệu, Bao Công bảo Bao Hưng đưa cho người đàn bà viết một bản khác. Bà ta không đắn đo gì, cầm lấy bút viết ngay. Bao Công nhận đơn, xem qua rồi gật gật đầu nói:
- Bà kia cứ về đi. Ta tới nha môn sẽ xét xử vụ này.
Người đàn bà ấy cúi lạy nói:
- Đa tạ ngài.
Bao Công lên ngựa, đi thẳng tới nha môn.
Người đàn bà này họ Văn, làm dâu nhà họ Hàn. Khi chồng chết, bà có một đứa con tên là Thụy Long, mười sáu tuổi. Sống ở ba gian nhà thuê tại Bạch Gia Bảo. Hàn Văn thị làm nghề khâu vá thêu thùa, dạy con học hành. Con học ở gian phía đông, mẹ làm việc ở gian phía tây. Hai mẹ con sống dựa vào nhau, không có người ăn kẻ ở.
Vào một tối, Hàn Thụy Long chong đèn đọc sách, bỗng thấy gian phía tây động rèm, rồi thấy một người mặc áo màu lá hẹ, đi giày đỏ lẻn vào phòng. Anh vội đứng dậy sang phòng phía tây. Mẹ anh đang thắp đèn làm việc. Thấy Thụy Long vào, mẹ anh hỏi:
- Bài vở tối nay con học xong chưa?
- Con tự nhiên quên mất một điển cố, con đến tìm sách tra xem nó thế nào!
Vừa nói anh vừa tới giá sách. Tuy tìm sách, song anh lẳng lặng để ý dò tìm nhưng chẳng thấy gì. Anh buồn rầu cầm một cuốn sách bước ra. Cứ sợ trộm nấp trong bóng tối, lại không dám nói, e rằng mẹ sợ. Đêm ấy anh không sao chợp mắt được. Tối hôm sau, đọc sách đến canh một, anh hoảng hốt thấy rèm buồng phía tây lại động, và vẫn thấy người mặc áo xanh đi giày đỏ y như hôm trước vào phòng. Hàn Sinh vội vã chạy sang, gọi:
- Mẹ ơi!
Tiếng gọi làm Hàm Văn thị giật mình, nói:
- Con không học à? Vì sao mà hoảng hốt đến thế?
Thấy mẹ hỏi, Hàn Sinh không còn cách nào khác, đành nói thực:
- Vừa thấy có người vào đây, con vội chạy sang thì không thấy đâu cả. Tối qua cũng như thế.
Hàn Văn thị nghe xong thấy lạ, nói:
- Nếu có kẻ xấu ẩn nấp ở đây, thì sợ thật. Con hãy soi đèn xem sao.
Hàn Sinh soi đèn xuống gầm giường, nói:
- Mẹ ơi! Vì sao đất dưới gầm giường lại cao gồ lên như thế?
Hàn Văn thị vội nhìn xuống; quả là đất gồ lên thật, bà nói với con:
- Ta hãy khiêng giường ra và nhìn kĩ xem sao.
Hai mẹ con hì hục khiêng giường ra bới chỗ đất gồ lên, thấy một chiếc hòm, bất giác trống ngực đánh hơn trống làng, Hàn Văn thị vội tìm một đoạn sắt cạy hòm ra. Bà bủn rủn cả chân tay.
Thấy hòm đựng đầy vàng bạc, Hàn Sinh vô cùng sung sướng, nói:
- Mẹ ơi! Quả là của đến tìm người!
Văn thị thấy thế, quát:
- Nói bậy, làm gì có chuyện đó! Đúng là tiền của nhưng là tiền của bất nghĩa, đừng có động vào.
Hàn Sinh còn bụng non dạ trẻ, thấy nhiều vàng bạc, bỏ đi sao được. Hơn nữa mẹ con rất nghèo túng, anh nói với mẹ:
- Mẹ ơi! Xưa nay người đào được vàng không phải ít. Hơn nữa đây không phải mình trộm cướp, cũng không phải người khác đánh rơi, mình nhặt được thì sao gọi là phi nghĩa? Đây quả là trời thương mẹ con mình, nên mới ban cho số của cải này. Xin mẹ xét kĩ cho.
Thấy con nói có lí, Văn thị nói:
- Đã thế thì sáng mai mua ít lễ vật về tạ ơn thần, như thế mới phải đạo.
Thấy mẹ nói thế, Hàn Sinh rất đỗi vui sướng, nghe theo lời mẹ. Thế rồi họ lấp hòm đi, khiêng giường đặt vào như cũ.
Hai mẹ con tắt đèn đi ngủ.
Hàn Sinh trằn trọc suốt đêm, nghĩ ngợi lung tung, cứ nhắm mắt lại thì ánh vàng ánh bạc lại rực sáng, chẳng còn lòng dạ nào mà ngủ được. Bỗng nhiên anh choàng tỉnh dậy, thấy trời sáng, vội vàng thưa với mẹ đi mua lễ vật. Ai ngờ ra khỏi cửa, trời vẫn còn sớm, anh đành lững thững đi. Tới cửa hàng thịt nhà họ Trịnh, thấy bên trong có ánh đèn, anh vội vàng gõ cửa mua thủ lợn, đèn bỗng phụt tắt. Một lúc lâu, không thấy ai lên tiếng, anh đành quay về. Vừa đi được mấy bước nghe thấy nhà họ Trịnh mở cửa. Quay lại nhìn thấy đèn đã bật sáng. Rồi nghe thấy người hàng thịt họ Trịnh gọi:
- Ai mua thủ lợn thế? Lại đây!
- Bán cho tôi chiếc thủ lợn. - Hàn Sinh nói.
- Tưởng ai, hóa ra là ông Hàn, - lão Trịnh nói, sao mua thủ lợn mà không mang cái đựng?
- Vội quá, tôi quên mất, làm thế nào đây. - Hàn Sinh nói.
- Không lo, - lão Trịnh nói, - lấy mảnh vải lót của tôi mà gói, ngày mai mang tới trả cũng được.
Thế rồi lão Trịnh dùng mảnh vải lót gói lại, đưa cho Hàn Sinh. Hàn Sinh cầm lấy mang về. Đi một lát, thấy mỏi rã cả tay, Hàn Sinh đặt xuống nghỉ một chút, rồi lại đi tiếp. Vừa lúc ấy lính tuần tra tới, thấy Hàn Sinh mệt nhoài thở hổn hển, hai tay bê gói vải dính máu, họ nghi ngờ, hỏi đó là vật gì. Một người cúi xuống mở gói khám xét. Dưới ánh trăng vằng vặc và ánh đèn sáng rực, một chiếc đầu lâu đàn bà, tóc rối bù đẫm máu. Hàn Sinh sợ hết hồn, lính tuần canh đêm không nghe những lời phân trần, lập tức giải Hàn Sinh về huyện Nghiệp, chờ trời sáng bẩm quan.
Quan huyện thấy án mạng, lập tức ra công đường. Thấy Hàn Sinh là một thư sinh yếu đuối, bèn hỏi:
- Ngươi tên gì? Vì sao lại giết người?
- Thưa ngài, con là Hàn Thụy Long, - Hàn Sinh khóc lóc nói, - đến cửa hàng thịt nhà họ Trịnh mua thủ lợn, quên không mang cái đựng, ông Trịnh đã dùng vải lót gói lại rồi đưa cho con. Không ngờ đó là chiếc đầu lâu.
Nói xong Hàn Sinh khóc như mưa như gió. Quan huyện nghe thấy, lập tức ra lệnh bắt anh hàng thịt họ Trịnh. Ai ngờ gã họ Trịnh đã chối phắt rằng, hắn không bán thủ lợn cho Hàn Sinh. Quan huyện lại hỏi:
Thế thì miếng vải lót không phải là của ngươi ư?
- Cách đây ba hôm Hàn Sinh đã đến mượn tấm vải ấy, - gã họ Trịnh nói, - không ngờ hắn đã dùng mảnh vải ấy gói đầu lâu rồi đổ vạ cho con.
Thương thay anh học trò non nớt, làm sao địch nổi gã đồ tể lòng lang dạ sói. May mà quan huyện hiểu cho, thấy Hàn Sinh không giống loại người hung ác, không dám tra tấn. Ông lệnh giam Hàn Sinh và gã đồ tể vào ngục, nghĩ cách xét xử sau.
Không ngờ, Hàn Văn thị tại trấn Tam Tịch đã trình đơn cho Bao Công. Tới nha môn, Bao Công nghỉ một lát uống trà, sau đó làm việc với quan huyện về vụ án Hàn Thụy Long. Quan huyện nói:
- Vụ án này còn đang nghiên cứu, chưa thể kết án được.
Bao Công bảo đưa các nhân chứng, vật chứng tới công đường xét hỏi.
Một lát sau. Bao Công tới công đường, thấy Hàn Thụy Long khóc đẫm nước mắt, run lẩy bẩy, quỳ trước công đường Bao Công hỏi:
- Hàn Thụy Long! Vì sao giết người? Hãy khai mau.
Hàn Sinh giọt ngắn giọt dài nói:
- Chỉ vì con mua thủ lợn tại cửa hàng họ Trịnh, quên mang cái đựng. Ông ta dùng vải lót gói cẩn thận rồi đưa cho con. Không ngờ lại xảy ra nông nỗi này.
Bao Công nói:
- Được rồi! Ngươi mua thủ lợn rồi gặp tuần tra vào lúc nào?
- Khi trời còn chưa sáng - Hàn Sinh nói.
- Trời chưa sáng ngươi đi mua thủ lợn làm gì, nói mau. - Bao Công hỏi.
Đến lúc này Hàn Sinh không thể giấu được nữa. Anh kể lại ngọn ngành từ đầu tới cuối sự việc đã xẩy ra, rồi khóc rống lên:
- Xin ngài tha cho tấm thân hèn mọn này.
Bao Công lặng lẽ gật đầu, nghĩ: "Thằng nhỏ nhà nghèo, thấy của sinh lòng tham, nó như thế chắc rằng không phải là kẻ giết người". Thế rồi ông lệnh cho nó xuống công đường, rồi ông nói với quan huyện:
- Ngài hãy dẫn sai nha đến nhà Hàn Thụy Long khám nghiệm chiếc hòm ấy, phải khám xét thật tỉ mỉ.
Quan huyện vâng lệnh, ra khỏi nha môn, cưỡi ngựa dẫn sai nha đi.
Bao Công lại bảo dẫn lão đồ tể họ Trịnh tới. Thấy bộ mặt hung ác, Bao Công biết đây là loại bất lương. Khi hỏi, hắn vẫn nói như trước. Bao Công nổi giận tát cho hắn hai mươi cái, rồi lại đánh thêm ba mươi gậy. Tên gian ác quả là một thằng chịu đòn, hắn không hề hé răng khai nửa lời. Ông bảo cho hắn xuống. Quan huyện trở về bẩm báo: - Tôi vâng lệnh ngài, đến nhà Hàn Thụy Long khám nghiệm chiếc hòm, thấy trong hòm đầy vàng bạc, song đều là vàng bạc làm bằng giấy cúng người chết. Moi xuống dưới tìm thì ngờ đâu, đó lại là một xác chết không đầu, mà lại là xác đàn ông.
- Có kiểm tra xem người ấy bị giết bằng gì không? - Bao Công hỏi.
Quan huyện ngớ người ra, thưa:
- Tôi chỉ thấy đó là chiếc xác không đầu, chứ không khám nghiệm người ấy bị giết bằng gì.
- Đã đi khám nghiệm, tại sao không xem xét rõ ràng!? - Bao Công quát.
- Tôi quả là sơ ý. - Quan huyện vội nói.
- Hãy xuống dưới kia. - Bao Công nói.
Quan huyện sợ toát mồ hôi, vội lui ra, nghĩ thầm: "Quả là ngài Khâm sai đại thần ghê thật, lần sau phải cẩn thận mới được”.
Bao Công lại gọi Hàn Thụy Long vào, hỏi:
- Hàn Thụy Long, ngôi nhà ngươi ở là do cha ngươi để lại, hay là ngươi làm ra?
- Đây là ngôi nhà con mới thuê. - Hàn Thụy Long nói.
- Trước đây ai ở? - Bao Công hỏi.
- Con cũng không biết. - Hàn Sinh nói.
Nghe xong Bao Công lệnh giam Hàn Sinh và gã đồ tể họ Trình vào ngục. Bao Công buồn rầu rời khỏi công đường. Cho người gọi Công Tôn tiên sinh tới, trao đổi kĩ việc này. Cái đầu là đàn bà, mà thân xác lại là đàn ông, thì sẽ xử lí thế nào đây. Công Tôn tiên sinh đòi phải bí mật thăm dò. Bao Công lắc đầu nói:
- Đã biết rồi không nên đi nữa, để tôi nghĩ kĩ xem sao.
Công Tôn Sách lui ra, bàn với các ông Vương, Mã, Trương, Triệu, song họ đều bó tay. Công Tôn tiên sinh ra về.
Triệu Hổ nói với ba ông anh rằng:
- Chúng ta tới phủ Khai Phong, quả là vô tích sự. Nay Bao Công đang gặp khó khăn, lẽ ra phải chia sẻ nỗi lo với ông, em thử bí mật đi điều tra xem sao. Ba người nghe thấy thế cười phá lên, nói:
- Đây là việc bí mật, tế nhị, chứ là người thô lỗ không làm được đâu nếu chẳng may xảy ra điều gì sai sót thì sao?
Nói xong họ lại cười phá lên, Triệu Hổ cụt hứng. Ngượng ngùng trở về, song cũng không trách móc họ. Thế rồi đứa hầu lại rất khôn khéo, nó nói thầm với Triệu Hổ rằng:
- Con nghĩ ra rồi.
- Mày định thế nào? - Triệu Hổ nói.
- Vừa rồi chẳng phải ba ông đã chê cười ông sao? - Thằng nhỏ nói. - Cũng cần phải biết tự trọng một chút chứ, ông thử bí mật đi dò xét xem sao. Nhưng phải hóa trang cho thật khéo, khiến người ta không nhận ra được. Nếu dò la ra, thì đó là công lao của ông. Nếu không tìm ra, thì cứ lặng lẽ về không ai biết được cũng chẳng đến nỗi phải hổ thẹn. Ông thử nghĩ xem có được không?
Nghe xong Triệu Hổ rất vui, nói:
- Thằng nhỏ giỏi quá, ý mày rất hay, mày hãy lo giúp ta đi.
Thằng nhỏ vội đi ngay, một lúc lâu nó trở về nói:
- Thưa ông, làm việc này rất tốn kém, khó khăn lắm con mới tìm ra. Tốn hết mười sáu lạng bạc.
- Chẳng kể nhiều hay ít, - Triệu Hổ nói, - chỉ cốt được việc thôi.
- Chắc chắn là tốt rồi. Ta đi tìm một chỗ vắng, để con hóa trang cho.
Triệu Hổ nghe xong, rất mừng, đi theo thằng nhỏ ra khỏi công đường, tìm một chỗ vắng vẻ nhất. Nó bảo Triệu Hổ cởi áo, rồi nó mở gói đồ ra. Trong gói có một ít nhọ nồi, nó xoa nhọ nhem lên mặt và khắp người Triệu Hổ. Sau đó nó đội cho Triệu Hổ một chiếc mũ rách nát, lại mặc cho Triệu Hổ một chiếc áo rách như tổ đỉa, xỏ cho đôi tất rách bươm, rồi mặc cho Triệu Hổ một chiếc quần cụt ống rách tướp như xơ mướp, dán hai lá cao lên đùi, nhổ vào đó mấy bãi nước bọt, xoa cho nhem nhuốc, trông như máu mủ rỉ ra. Sau đó xỏ cho Triệu Hổ một đôi giầy há mõm vẹt đế, đưa cho một chiếc bát mẻ và một chiếc bị, một chiếc gậy đánh chó. Triệu Hổ bỗng chốc giống như một người ăn mày. Bộ trang phục này đến ba mươi đồng cũng chẳng ai thèm mua, chứ nói gì đến mười sáu lạng rưỡi bạc? Chỉ vì Triệu Hổ giàu có, tiêu tiền như rác thì sá gì nhiều hay ít, hơn nữa đây là việc công nên chẳng cần phải tính toán. Trước lúc lên đường, thằng nhỏ nói:
- Vào lúc canh một, con sẽ đợi ông ở đây.
Thế rồi Triệu Hổ tay trái đeo bị, tay phải cầm gậy, đi tới thôn trước mặt.
Cứ đi mãi đi mãi, bỗng thấy đau nhói dưới gan bàn chân. Triệu Hổ tới ngồi trên một hòn đá trước cửa một ngôi chùa nhỏ lấy giày ra xem, thì thấy một chiếc đinh xuyên qua đế giày Triệu Hổ cầm giày đập phành phạch vào hòn đá, mãi chiếc đinh mới bật ra. Thấy động, tưởng có người gõ cửa, hòa thượng chạy ra xem, thì hóa ra là một người ăn mày đang đập giày. Triệu Hổ ngẩng đầu nhìn, vội hỏi:
- Hòa thượng có thấy mình người con gái, đầu người con trai ở đâu không?
Hòa thượng thấy vậy cho rằng: "Đó là một thằng điên". Chẳng nói chẳng rằng, đóng cửa chùa đi vào. Triệu Hổ bỗng nhiên tỉnh ngộ, tự chế giễu mình: "Ta đóng vai đi dò la bí mật, sao lại tùy tiện nói năng được, thật là đồ bỏ đi. Thôi mau lên!". Rồi lại nghĩ tiếp: "Đã đóng giả ăn mày thì phải biết kêu xin chứ. Điều này đúng là ta chưa học bao giờ, thôi thì đến đâu ta nói đấy cứ kêu bừa đi mấy câu”. Rồi ông kêu:
- Lạy ông đi qua, bà đi lại, hãy thương tôi cho tôi một bát, hay nửa bát, dù cơm cháy cơm khê cũng được.

Lúc đầu còn hứng thú, vì là đi do thám. Sau đó chẳng ai để ý tới ông thầm nghĩ: "Như thế này thì dò la làm sao được". Tự nhiên thấy lo lắng, sốt ruột. Mặt trời đã lặn về tây, trời sắp tối may mà sau ngày rằm, trời tuy tối, song ở phương đông đã thấy một vầng trăng nhô lên.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Sat Apr 05, 2014 12:36 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 9 (B)
Đi tới đầu thôn, chợt thấy phía sau nhà có một bóng người trèo tường, nhảy vào bên trong. Triệu Hổ nghĩ: "Vừa mới tối sao đã có trộm? Kệ nó, ta cứ theo vào xem sao. Kẻ kiếm ăn. đâu có kể gì đến lương tâm! Nếu không ăn trộm thì mò vào đó làm gì nếu có lương tâm thì đã chẳng đi ăn trộm. Nghĩ thế, Triệu Hổ bỏ bị gậy xuống, lẳng đôi giày rách, đi chân đất, nhún người nhảy phốc lên mặt tường. Thấy bên trong tường có một đống củi, Triệu Hổ tụt người xuống. Chú ý nhìn, thì thấy một người đang bò lổm ngổm. Triệu Hổ nhoài người tóm chặt lấy. Người ấy kêu "Ối!" lên một tiếng. Triệu Hổ nói:
- Mày mà kêu ta bóp chết.
- Tôi không kêu! Tôi không kêu! - Người ấy nói. - Xin ông tha cho.
- Mày tên gì? - Triệu Hổ hỏi. - Lấy trộm cái gì? Để ở đâu? Nói mau!
- Tôi là Diệp Thiên Nhi, có một người mẹ già đã tám mươi tuổi - Người ấy nói. - Vì không có gì nuôi dưỡng, nên lần đầu tiên tôi đi ăn trộm. Xin ông tha cho.
- Có đúng mày chưa lấy được gì không? - Triệu Hổ hỏi.
Triệu Hổ vừa tra hỏi vừa xét kĩ, thấy dưới đất có một dải lụa trắng. Triệu Hổ vừa lôi thì dưới đất tung ra, càng lôi càng dài, giũ mạnh, thấy hai chiếc chân nhỏ lòi ra, bèn nắm chặt lấy chân lôi thật mạnh, thì đó là chiếc xác đàn bà không đầu.
Thấy thế Triệu Hổ nói:
- Ngươi giỏi thật! Đã giết người lại còn lừa dối ta. Ta nói thực với ngươi, ta không phải ai khác mà là Triệu Hổ dưới trướng Bao đại nhân ở phủ Khai Phong. Vì việc này mà ta phải bí mật tới đây điều tra.
Diệp Thiên Nhi nghe thấy thế sợ hết hồn, van nài:
- Ông Triệu! Thưa ông con quả thực là đi ăn trộm, chứ hoàn toàn không giết người.
- Ai nghe mày, cứ trói lại đã rồi hãy hay.
Thế rồi Triệu Hổ lấy dải lụa trắng trói lại. Sợ hắn kêu lại xé lụa nhét chặt vào mồm, rồi nói:
- Mày hãy ở đây, ta đi một lát sẽ tới.
Triệu Hổ theo đống củi nhảy ra ngoài, chẳng để ý gì đến bị gậy và đôi giày rách, cứ chân đất, chạy như bay về thẳng công đường.
Lúc ấy trời vừa canh một, thằng nhỏ đang đứng đó chờ. Hình như ngài Triệu Hổ, song lại nghe thấy tiếng bước chân chạy uỳnh uỵch, bèn vội ra đón, nói:
- Việc ấy ngài làm thế nào rồi?
- Chú nhỏ, ta rất thú vị. - Triệu Hổ nói.
Vừa nói, vừa chạy như bay vào công đường. Thằng nhỏ thấy thế rối rít chạy theo. Ai ngờ, vì có quan Khâm sai, nên các cửa công đường đều đóng, canh gác rất nghiêm ngặt. Bỗng thấy có một người ăn mày xồng xộc chạy vào, họ vội ngăn lại, nói:
- Ngươi có biết đây là đâu không, mà dám liều lĩnh như thế.
Chưa nói hết thì đã thấy Triệu Hổ dùng tay gạt họ ngã bổ chửng xuống đất. Triệu Hổ vào rồi. Mọi người mới gào ầm lên, thấy thằng nhỏ của Triệu Hổ chạy vào nói:
- Đừng kêu nữa, ngài Triệu Hổ đấy!
Mọi người nghe thấy sũng sờ không biết vì sao.
Triệu Hổ chạy vào, gặp ngay Bao Hưng liền kéo tay nói:
- Đến đúng lúc quá.
Bao Hưng giật mình vội hỏi:
- Ngươi là ai?
Thằng nhỏ chạy tới nói:
- Triệu Hổ đấy.
Trong đêm tối, Bao Hưng nhìn không rõ, chỉ nghe thấy Triệu Hổ nói:
- Ngươi hãy vào bẩm... Bao đại nhân... nói là Triệu Hổ xin gặp.
Nghe thấy tiếng Triệu Hổ, Bao Hưng nói:
- Chà, chà! Ngài Triệu Hổ, ngài làm tôi hết cả hồn vía.
Tới chỗ ánh đèn, thấy dáng vẻ Triệu Hổ không sao tưởng tượng nổi, tự nhiên cười phá lên. Triệu Hổ nói:
- Thôi đừng cười nữa, vào nói ngay với Bao đại nhân, ta có việc rất quan trọng xin gặp. Mau lên, mau lên.
Thấy thế Bao Hưng cho rằng chắc là có việc gì, bèn đưa ngài Triệu vào thư phòng Bao Công. Bao Hưng vào bẩm. Bao Công lập tức gọi vào. Thấy dáng vẻ Triệu Hổ như thế, cũng bật cười, hỏi:
- Có việc gì thế?
Triệu Hổ kể lại việc mình bí mật đi điều tra, gặp Diệp thiên Nhi, thấy xác một người đàn bà không đầu như thế nào. Đang lúc chưa tìm ra đầu mối, thấy thế Bao Công vô cùng mừng rỡ, lập tức sai hai người coi giữ thi thể và hai người giải ngay Diệp Thiên Nhi tới. Dặn dò xong, mới bảo Triệu Hổ ra phía sau thay quần áo, rồi hết lời khen ngợi Triệu Hổ. Triệu Hổ dương dương tự đắc đi raThằng nhỏ đã chuẩn bị sẵn quần áo và nước sạch. Triệu Hổ thưởng cho thằng nhỏ mười lạng bạc, nói:
- Thằng nhỏ giỏi thật, không có mày thì ta làm sao lập được công.
Triệu Hổ rất vui sướng, ông thảnh thơi chải đầu nghỉ ngơi.
Một lát sau, sai nhân đã giải Diệp Thiên Nhi về, hắn vẫn còn bị trói. Bao Công lập tức lên công đường, lệnh đưa Thiên Nhi đến trước mặt, rồi cởi trói. Ông hỏi:
- Ngươi tên gì? Vì sao lại giết người? Hãy nói mau!
- Con tên là Diệp Thiên Nhi, - Diệp Thiên Nhi nói, - nhà có mẹ già. Chỉ vì khổ quá không sống được mới đi ăn trộm.
Không ngờ lần đầu đã bị bắt. Xin ngài tha tội.
- Ngươi đi ăn trộm là phi pháp, vì sao lại còn giết người?
Bao Công hỏi.
- Đúng là con đã đi ăn trộm. - Diệp Thiên Nhi nói, - song con không giết người.
- Mày là một tên gian manh độc ác! - Bao Công đập bàn quát. Ta hỏi mày không chịu khai, các người hãy lôi nó ra, đánh cho nó hai mươi gậy.
Chỉ đánh hai mươi gậy mà Diệp Thiên Nhi đau quằn quại, vội khai ngay:
- Con thật không may, lần trước như thế, mà lần này cũng vậy. Thật oan con quá!
Thấy có uẩn khúc, Bao Công hỏi:
- Lần trước thế nào, nói mau?!
Biết rằng đã lỡ lời, Diệp Thiên Nhi im lặng. Bao Công quát:
- Vả vào mồm nó cho ta, vả thật đau vào.
Diệp Thiên Nhi vội nói:
- Mong ngài bớt giận, con xin khai. Vì thôn Bách Gia có Bách Viên Ngoại, gọi là Bách Hùng. Ngày sinh nhật ông ta, con tới giúp để kiếm cơm. Xong việc, con tưởng rằng sẽ được thưởng tiền hoặc được ăn. Ai ngờ Bạch An là quản gia nhà ông ta còn cay nghiệt hơn ông. Xong việc, không những không thưởng tiền, mà ngay cả những thúc ăn thừa cũng không cho. Bởi thế con rất tức, đến tối con tới nhà ông ăn trộm.
Bao Công nói:
- Người vừa nói đó là lần đầu, còn hôm nay là lần thứ hai ư?
- Lấy trộm nhà Viên Ngoại là lần đầu. - Diệp Thiên Nhi nói.
- Ăn trộm thế nào nói mau! - Bao Công hỏi.
- Đường ngang lối tắt nhà ông ấy con thuộc hết. - Diệp Thiên Nhi nói. - Con lẻn vào lối cổng chính, rồi nấp vào nhà phía đông. Đây là phòng của vợ ông ta tên là Ngọc Nhụy. Con biết là hòm tủ của bà ta rất nhiều của cải. Đang nấp, con nghe thấy tiếng gõ cửa. Ngọc Nhụy ra mở, một người bước vào, rồi đóng cửa lại. Trong chỗ tối con nhìn thấy người ấy chính là quản gia Bạch An. Hai người hú hí cười đùa với nhau, rồi họ vào trong màn. Một lát sau, hai người ngủ say, con rón rén mở tủ rờ được một chiếc tráp gỗ rất nặng, bèn lấy ngay, vượt qua tường về nhà. Thấy ở tráp có chìa khóa, con mừng quá, mở ra xem, thì ôi thôi, đó là một chiếc đầu người. Lần này lại gặp một xác chết, cho nên con nói: "Lần trước như thế, lần này lại cũng như thế". Đó chẳng phải là con gặp vận đen ư!
- Đầu người trong tráp, - Bao Công hỏi, - là nam hay nữ? Nói mau!
- Là đầu đàn ông. - Diệp Thiên Nhi nói.
- Ngươi đã mang đi chôn hay báo quan. - Bao Công hỏi.
- Con không chôn, - Diệp Thiên Nhi nói, - cũng không báo quan.
- Không chôn, cũng không báo quan, - Bao Công nói, - vậy ngươi vứt ở đâu? Nói mau.
- Trong thôn con có một người tên là Khâu Phượng. Vì con lấy trộm bí ngô bị ông bắt được...
- Ăn trộm bí ngô là lần thứ ba. - Bao Công nói.
- Ăn trộm bí ngô là lần đầu. - Diệp Thiên Nhi nói. - Lão Phượng tức giận, dùng giây múc nước giếng đánh con một trận nhừ tử, rồi mới tha. Bởi thế con thù, vứt chiếc đầu lâu ấy vào nhà ông ta.
Bao Công lập tức lệnh cho hai người đi bắt Bạch An, và hai người đi bắt Khâu Phượng, ngày mai tới xét hỏi. Giam Diệp Thiên Nhi vào nhà giam.
Hôm sau, Bao Công đang chải đầu, vẫn chưa ra công đường, thấy một sai nha đi coi xác người đàn bà về báo:
- Tối qua con vâng lệnh đi coi chiếc xác, sáng nay kiểm tra lại, thì nơi ấy là sân sau nhà gã đồ tể họ Trịnh, cửa trước vẫn còn khóa, cho nên con trở về báo với ngài.
Nghe xong Bao Công hiểu ra ngay, nói:
- Ta hiểu ra rồi. Ngươi hãy tới đó ngay.
Bao Công lập tức lên công đường. Ông lệnh cho sai nha dẫn ngay gã đồ tể họ Trịnh tới hỏi:
- Mày là thằng đáng chết, mày đã giết người còn đổ tội cho người khác. Mày không biết đầu người đàn bà, nhưng tại sao sân sau nhà mày lại có xác chết đàn bà. Hãy khai thực đi!
Sai nha hai bèn quát để uy hiếp:
- Nói mau! Nói mau!
Gã đồ tể họ Trịnh cho rằng quan đã cho người lục soát tìm thấy chiếc xác đàn bà ấy. Hắn khiếp sợ đứng ngây người như tượng gỗ, một lúc lâu hắn mới nói:
- Con xin khai. Hôm ấy khoảng canh năm con dậy giết lợn thấy có người gõ cửa kêu cứu. Con vội mở cửa ra cho người ấy vào. Con nghe thấy bên ngoài có tiếng người truy đuổi, nói: “Không thấy thì ngày mai ta hãy lục soát kĩ, có lẽ nó chỉ ẩn nấp quanh quẩn đây thôi”. Nói xong họ bỏ đi. Con chờ đến lúc yên tĩnh mới thắp đèn lên, thì đó là một cô gái trẻ. Con hỏi vì sao đêm hôm khuya khoắt lại chạy trốn. Cô ta nói: "Tôi là Cẩm Nương. Chỉ vì mắc lừa nên bán mình cho nhà chứa. Tôi là con gái nhà lành, không chịu nghe theo. Sau đó con của Thái thú Tưởng cậy quyền cậy thế, đưa nhiều vàng bạc đòi mua tôi làm thiếp. Tôi bèn giả vờ niềm nở, ân cần, liếc mắt đưa tình dâng rượu, chuốc cho con của Thái thú Tưởng say mềm, rồi chạy trốn". Con thấy cô ta đẹp, đầu cài đầy trang sức, bất giác nổi máu tham. Ai ngờ cô ta kêu la chống cự, con cầm dao dọa cô. Không ngờ vừa kề dao vào cổ, đầu cô đã rơi ra. Thấy cô chết, con lột hết áo quần, chôn cô ở sân sau. Trở lại con rút hết đồ trang sức gài trên đầu. Bỗng nghe thấy có người mua thủ lợn, con vội tắt đèn. Sau đó con nghĩ, sao không gói chiếc đầu này lại đưa cho nó mang đi vứt. Đúng là con ngu đần hoảng sợ, và cũng là oan hồn đeo bám nên tự nhiên con gói chiếc đầu ấy vào tấm vải lót, rồi lại thắp đèn mở cửa, gọi người mua thủ lợn quay lại, thì đó lại là ông Hàn. Rất may ông không mang cái đựng, bởi thế con đã đưa cho ông gói đầu lâu ấy, thế là ông mang đi. Ông đi rồi con mới hối hận. Việc này làm sao mà ông ta có thể bỏ qua được? Nhất định sẽ rắc rối to. Rồi sau đó lại nghĩ, nếu như ông ấy vứt đi cho mình thì may, nếu ông ấy làm ra chuyện, thì cứ chối phắt đi là xong. Không ngờ ngài sáng suốt phán xét, đã tìm ra chiếc xác ấy. Thật đáng thương, con đã giết người. Tất cả quần áo và đồ trang sức vẫn còn nguyên vẹn. Con đã phạm tội. Con oan uổng!
Thấy hắn đã khai đúng sự thực, Bao Công bèn bắt hắn kí vào tờ khai.
Vừa đưa hắn xuống, thì thấy một sai nha vào bẩm:
- Thưa ngài đã bắt Khâu Phượng tới.
- Giải nó vào đây. - Bao Công nói.
Hỏi lão vì sao lại chôn đầu người. Lão Khâu không dám che giấu, đành khai thực.
- Hôm ấy nghe bên ngoài đến “uỵch" một cái, tưởng kẻ xấu vào lấy trộm, con vội chạy ra xem, thì thấy một chiếc đầu lâu, sợ quá con bảo người làm công là Lưu Tam mang đi chôn. Ai ngờ Lưu Tam không nghe, đòi con phải đưa một trăm lạng bạc. Không còn cách nào khác, con trả năm mươi lạng, anh ta mới chịu chôn.
- Chôn ở đâu? - Bao Công hỏi.
- Ngài hỏi Lưu Tam thì biết rõ. - Lão Khâu trả lời.
- Hiện Lưu Tam ở đâu? - Bao Công hỏi.
- Hiện đang ở nhà con. - Lão Khâu nói.
Bao Công lập tức lệnh cho quan huyện dẫn sai nha giải lão Khâu về tìm Lưu Tam, và đào ngay đầu người đưa về.
Vừa đi xong, lại có sai nha về bẩm báo:
- Đã bắt được Bình An.
Rồi lập tức giải vào công đường. Hắn còn rất trẻ, đẹp trai, rất ăn diện. Bao Công hỏi:
- Ngươi có phải là Bạch An, quản gia của Bạch Hùng không?
- Thưa ngài, con đúng là Bạch An ạ.
- Chủ ngươi đối đãi với ngươi như thế nào?
Chủ con coi con như ruột thịt, quả thực đó là công ơn tái tạo.
- Mày là đồ loạn luân! - Bao Công đập bàn quát. - Đã như thế sao mày còn thông dâm với vợ chủ nhà? Hãy khai mau.
Bạch An thấy thế bỗng sợ hãi, nói:
- Hằng ngày con vốn hết lòng hầu hạ ông chủ, không có gì phải sợ.
Bao Công bảo dẫn Diệp Thiên Nhi vào. Thấy Bạch An, Thiên Nhi nói:
- Ông không nên biện bạch nữa. Khai đi . Ta đã khai hết ông thế nào rồi. Tối ấy, ông gõ cửa, sau đó cùng với Ngọc Nhụy vào màn, ta cũng ở đó. Khi hai người ngủ say, ta mở tủ lấy tráp gỗ, tưởng rằng phát tài to, ai ngờ trong đó là một chiếc đầu lâu. Không cần phải nói việc giữa chủ và đầy tớ, ngươi hãy khai thực đi. Ngươi không khai cũng chẳng được đâu.
Nghe thấy thế Bạch An cứng họng, mặt tái mét. Bao Công giục:
- Đó là đầu ai? Hãy khai thực.
Bạch An không còn cách nào khác, bò lên nửa bước nói:
- Con xin khai. Đó là chiếc đầu em họ nhà chủ con. Tên là Lý Khắc Minh. Vì khi chủ con còn nghèo, có mượn của anh ấy năm trăm lạng bạc ròng, vẫn chưa trả. Hôm ấy Lý Khắc Minh đến nhà Viên ngoại con, một là thăm hỏi, hai là đòi số bạc ấy. Chủ nhà con đãi rượu. Ai ngờ khi say rượu, Lý Khắc Minh lỡ lời, nói rằng trên đường gặp một hòa thượng điên tên là Đào Nhiên Công, nói rằng trên mặt anh có ám khí, rồi cho anh một chiếc gối Du Tiên, và bảo đưa cho Tinh Chủ. Anh ta cũng không biết Tinh Chủ là ai. Bởi thế đòi mượn gối Du Tiên xem. Chủ con nói, trong đó có vườn Lãng lầu Quỳnh(1) hoa thơm cỏ lạ, vô cùng huyền diệu. Một là chủ con tham lam chiếc gối Du Tiên, hai là để khỏi phải trả năm trăm lạng bạc, nên đã giết anh, rồi bảo con đem chôn xác tại nhà chứa hàng. Con nghĩ, con và Ngọc Nhụy yêu nhau, nếu bị chủ nhà phát hiện thì làm thế nào đây? Thôi thì ta đem chiếc đầu ấy ngâm vào thủy ngân, rồi giấu vào tủ của Ngọc Nhụy, để nắm đằng chuôi, nếu sau này chủ nhà phát hiện ra. Ai ngờ bị Diệp Thiên Nhi lấy cắp chiếc đầu ấy, và đến nay xảy ra nông nỗi này.
(1) Vườn Lãng lầu Quỳnh: chỉ nơi tiên ở.
Nói xong Bạch An cúi lạy. Bao Công hỏi:
- Nhà ngươi chôn xác ở đâu?
- Sau khi chôn, - Bạch An nói, - thì thấy ma hiện hình. Bởi thế đã dọn nhà đi nơi khác, mở cửa cho Hàn Thụy Long thuê.
Nghe xong Bao Công hiểu ra ngay, bảo Bạch An kí vào bản lời khai, lập tức ra lệnh bắt Bạch Hùng.
Lúc ấy quan huyện đã về, vào công đường bẩm rằng:
- Tôi áp giải Khâu Phượng, trước hết tới nhà Lưu Tam đào đầu Lưu Tam dẫn tới cạnh giếng, đào lên thì lại là xác đàn ông. Xét nghiệm thấy ở thái dương có dấu vết hung khí bằng sắt. Hỏi Lưu Tam thì Lưu Tam nói rằng "đào nhầm", bên này mới là nơi chôn đầu người thật, đó là chiếc đầu đàn ông được ngâm bằng thủy ngân. Tôi không dám chuyên quyền, giải can phạm Lưu Tam về để ngài xét hỏi.
Nghe quan huyện nói, Bao Công thấy lần này ông rất cẩn thận, không hoang đường như lần trước, nên rất vui, bèn nói:
Quý huyện vất vả quá, hãy đi nghỉ ngơi đi.
Sau đó ông gọi Lưu Tam tới hỏi:
- Chiếc xác đàn ông bên giếng, từ đâu tới? Nói mau!
Lưu Tam vội cúi đầu, nói:
- Mong ngài đừng nổi giận, con xin khai. Thưa ngài, chiếc xác đàn ông ấy không phải ai khác, đó là Lưu Tú anh em thúc bá của con. Chỉ vì con được chủ thuê năm mươi lạng bạc mang đầu đi chôn, ai ngờ Lưu Tú theo sau, nói:
- Chôn trộm đầu người, đáng khép vào tội gì.
Con hứa cho nó mười lạng, nhưng nó không nghe. Hứa chia cho nó một nửa nó cũng không chịu. Con hỏi nó đòi bao nhiêu? Nó nói: "Bốn mươi lăm lạng”. Con nghĩ, tất cả có năm mươi lạng, thế thì con chỉ còn lại có năm lạng. Tức quá, con giả vờ bằng lòng gọi nó đến đào hố giúp. Khi đào đã sâu, thấy nó cúi xuống bốc đất, con dùng xẻng đâm thẳng vào thái dương, và cứ thế chôn luôn. Sau đó đào hố khác chôn đầu. Không ngờ hôm nay thần xui quỷ khiến nên đã đào nhầm.
Nói xong gã khấu đầu lạy. Bao Công bắt hắn kí vào lời khai, rồi cho hắn xuống dưới.

Lúc ấy, Bạch Hùng cũng bị giải tới, hắn đã khai đúng như Bạch An, đồng thời đã trình chiếc gối Du Tiên lên Bao Công. Bao Công xem xong giao cho Bao Hưng, rồi tuyên án. Đồ tể họ Trịnh phải đền mạng cho cô gái; Bạch Hùng phải đền mạng cho Lý Khắc Minh; Lưu Tam phải đền mạng cho Lưu Tú. Tất cả đều bị chém đầu; Bạch An bị tống giam chờ treo cổ, Diệp Thiên Nhi bắt phải sung vào quân đội. Lão Khâu chôn đầu người sợ tội đưa hối lộ chịu tội đồ. Ngọc Nhụy bị bán cho nhà quan làm nô tì; Hàn Thụy Long không nghe lời mẹ, tham tiền, lẽ ra cũng phải trị tội, song vì còn trẻ người non dạ nên được về phụng dưỡng mẹ già và tiếp tục học tập. Hàn Văn thị biết nuôi dưỡng dạy bảo con thấy của nghĩ đến nghĩa, biết cách dạy con, được quan huyện thưởng hai mươi lạng bạc để nêu gương. Quan huyện lẽ ra phải tấu trình lên cấp trên, nhưng nghĩ rằng ông vất vả làm việc chuyên cần, nên vẫn giữ chức cũ. Bao Công xử xong vụ án này tiếng tăm lừng lẫy.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Sat Apr 05, 2014 2:47 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 10
Chiếc Đầu Gà Mười Năm
Bối Hữu Tài ngươi huyện Vạn, nhà nghèo phải đi làm thuê cuốc mướn, tuy ngay thẳng nhưng số phận rủi ro, tích góp được một số tiền, rồi ốm đau bệnh tật. Làm thuê cho nhà giàu hơn mười năm, bốn mươi tuổi mà vẫn chưa thành gia thất. Chủ nhà thương anh nghèo khổ, cho anh ít ruộng trồng cấy coi nương rẫy, không lấy tô. Ông lấy Âm thị, sinh được một con trai đặt tên là Thành Kim. Khi Thành Kim lên năm tuổi thì ông chết, Âm thị ở vậy thờ chồng nuôi con. Cuộc sống vô cùng khổ sở, vì làm quá sức, ốm liệt giường, không tiền chạy chữa thuốc thang, nửa năm sau vợ ông cũng qua đời. Thành Kim mới mười bốn tuổi, xin chủ chiếc quan tài và nơi chôn cất, lại nhờ người quyên góp tiền gạo, lo ma chay cho mẹ xong thì đi ở chăn trâu.
Thành Kim là người gian giảo, xảo quyệt, ngành ngạnh, phải đổi chủ tới hai ba lần. Hơn hai mươi tuổi mới dành dụm được hơn mười quan tiền, rồi thuê được hai gian nhà tranh, nhờ người mối lái lấy được người vợ. Lúc đó Trác Đại có một người con gái, tên là Vũ Hoa, vì quá kén chồng, nên mười sáu mươi bảy tuổi vẫn chưa có một người nào nhòm ngó. Nay thấy Thành Kim ngỏ ý, cô bằng lòng ngay. Vũ Hoa là người hiền thục, về nhà chồng chịu thương chịu khó, thấy nhà chồng nghèo, gắng công nuôi lợn, dệt vải, may vá lo kiếm thêm tiền giúp đỡ chồng. Từ khi lấy vợ, chi tiêu trong gia đình càng tốn kém, buôn bán lời lãi hằng năm, rau cháo không đủ nuôi nhau.
Một hôm Thành Kim than thở với vợ
- Nghĩ rằng kiếp ta sinh ra phải chịu khổ sở không biết đến bao giờ mới được mở mày mở mặt!
- Người ta thường nói: "Cự phú là do mệnh", - Vũ Hoa nói, - người khá giả là do cần cù. Chỉ cần vợ chồng ta cùng chịu khó chịu khổ kiếm tiền, tuy không dám nói là mua vườn tậu ruộng, nhưng cũng đủ ăn đủ mặc.
- Tôi nghĩ rằng, - Thành Kim nói, - người ta sống trên đời phải làm nên cơ nghiệp, tuy không dám mong lầu son gác tía, kẻ hầu ngươi hạ, nhưng cũng phải có ruộng vườn, có nhà cao cửa rộng, thì mới gọi là đáng mặt trên cõi đời này.
- Không sợ nghèo, - Vũ Hoa nói, - mà chỉ sợ không có chí, nếu anh có chí thì trời cũng có mắt, khổ tận ắt phải cam lại.
- Xem ra việc buôn bán ở đây, - Thành Kim nói, - chẳng ăn thua gì, phải đi buôn xa, may ra mới phất lên được.
- Buôn bán là việc lớn, - Vũ Hoa nói, - bởi thế thiếp không dám gàn. Song bỏ mặc vợ ở nhà một mình sao được.
- Ta biết nàng vốn cần kiệm, hiền thục, có thể tự xoay xở đi kiếm sống. Nay phải chịu khó chịu khổ, thì sau này mới nhàn nhã được.
Một hôm, Thành Kim nghe thấy vùng Hồ Quảng bị hạn hán, thóc đắt vải rẻ, Giang Nam được mùa, gạo rẻ vải đắt. Anh rất mừng, muốn tới Hồ Quảng buôn gạo, vải. Bèn mua rượu thịt mang về, bảo vợ làm bữa, vừa ăn uống vừa chuyện trò:
- Nàng hãy ngồi xuống đây tôi bàn chút việc. Chỉ vì tôi vận rủi, sinh ra đã chịu biết bao khổ sở. Cha mẹ qua đời không có cái chôn, phải vay mượn xin xỏ khắp nơi để có tiền lo ma chay cho cha mẹ. Vất vả lắm mới kiếm đủ tiền trả nợ, còn dư đôi chút buôn vải. Buôn bán cò con mười năm trời mới tích góp được sáu mươi ba đồng. Từ ngày cưới nàng về, lo ăn lo mặc cũng thật gian truân. Bữa bữa cũng chỉ được lưng vực bát, rau cháo mà thôi. Quanh năm quần áo cũng chỉ nhất mảnh, vá chằng vá đụp. Ta nghĩ rằng, nghèo phải vươn lên, rồi sẽ có ngày sung sướng. Hơn nữa xem ra buôn chuyến với buôn ngồi hoàn toàn khác nhau, chỉ có đi xa mới có thể kiếm tiền nhanh chóng được.
- Anh ạ! - Vũ thị nói. - Việc buôn bán thì nơi gần cũng có thể kiếm được tiền, tội gì phải trèo đèo vượt suối đi xa.
- Buôn gần lãi chả được là bao, - Thành Kim nói, - vặt mũi đủ đút miệng. Tôi mua thuốc tới Hồ Quảng bán, rồi mua vải tới Giang Nam. Thuyền về chở gạo rất thuận tiện, xem ra lãi gấp hai, ba lần. Ngày về khó mà định trước được. Nàng ở nhà cứ yên tâm đừng lo nghĩ gì.
- Anh đi cũng phải liệu về cho sớm. - Vũ thị nói.
- Nàng ở nhà chịu thương chịu khó, tự lo lấy cuộc sống cho riêng mình, - Thành Kim nói, - sớm tối phải chú ý đến cửa nẻo. Nhất thiết phải giữ mình đừng ra ngoài. Phải cẩn thận đề phòng bọn du đãng làm ô nhục thanh danh, xấu chàng hổ ai. Lần này ta đi có thần tài phù hộ, nhất định lưng vốn có bạc vạn mới trở về. Ăn uống xong họ đi ngủ. Hôm sau họ chuẩn bị tiền nong mua dược liệu địa phương, lo sẵn cho vợ hai tháng lương thực, chọn ngày tốt lên đường.
Vũ Hoa nuôi được đời gà, một trống, một mái. Thấy chồng đi xa, nàng giết con mái làm cơm tiễn chổng. Thành Kim thấy thế nói:
- Nàng giết con gà mái, còn con gà trống hãy cố mà nuôi, chờ khi nào tôi về giết cúng thần tài.
Vũ Hoa mời chồng ngồi vào mâm, tay rót rượu, mà nước mắt cứ ứa ra:
- Thấy chàng đi xa, em không sao cầm nổi nước mắt. Vợ chồng sống với nhau đã tròn ba năm, ân ái như biển cả. Đi buôn là việc trọng, em là vợ không dám can ngăn. Hôm nay trước lúc lên đường, em giết gà làm cơm tiễn chân anh. Chén rượu lễ thứ nhất em chúc anh vui vẻ, ra ngoài đừng tham sắc, phải hết sức kiềm chế mình, đừng la cà nơi đường hoa ngõ liễu rất hại tinh thần và sức khỏe. Chén thứ hai em chúc anh trên đường gặp nhiều bạn tốt, đi sông nước phải hết sức cẩn thận, luôn để ý đến bọn chân sào có ý đồ xấu. Chén thứ ba chúc anh toại nguyện, mang bạc vạn trở về, tiền của như núi, lãi dồn về như nước chảy. Phải luôn luôn nhớ tới người vợ hèn mọn này, liệu mà về cho sớm, đừng la cà nơi đất khách quê người. Em sẽ cố nuôi con gà trống chờ anh về, vợ chồng vui vầy xum họp.
Ăn xong, nàng tiễn chân chồng một đoạn đường, chia tay nước mắt như mưa.
Thành Kim chuyển hàng xuống thuyền tới Hán Khẩu. Bán thuốc, mua vải, xuôi dòng tới Tô Châu bán, quả nhiên có lãi, lập tức mua gạo về Hồ Quảng. Tới Bãi Thanh bỗng có một hòn đá ngầm đâm thủng thuyền, thóc gạo chìm nghỉm. Thành Kim nhanh tay bám lấy ván thuyền, gọi thuyền đến cứu, may mà thoát chết. Thương thay, hàng hóa, tiền bạc phút chốc đổ xuống sông xuống biển. Thành trắng tay, muốn về nhưng không có tiền ăn đường, đành phải bán sức nuôi miệng. Mấy năm phiêu dạt đến Trường Sa, gặp một người bán tạp hóa, nhờ anh gánh hàng, Thành Kim theo anh về nhà.
Người bán tạp hóa này tên là Mễ Vinh Hưng, sống tại vùng nông thôn Quế Dương. Cha là Như Châu, lúc còn nhỏ bán quả trám dầm đường, về sau mở cửa hàng tạp hóa, vất vả gian nan xây dựng gia đình, lấy vợ là Dương thị, sinh ra Vinh Hưng. Tích góp được hơn hai ngàn lạng bạc. ông ta nghĩ:
Buôn bán tiền tài tựa phù vân
Vận tụng cơn đen hết chẳng còn
Muốn cho con cháu đời đời hưởng
Cần tậu vườn mua ruộng cấy cày.
Thế rồi ông mua ba mươi mẫu ruộng, bỏ nghề buôn, về làng cày cấy. Sau đó lại sinh thêm một đứa con tên là Nhị Oa. Khi Nhị Oa lên tám tuổi thì đột nhiên Như Châu ốm nặng, thuốc thang không khỏi, cầu cúng cũng chẳng thiêng. Biết mình bệnh tật không qua được, ông gọi Vinh Hưng lại dặn dò:
- Cha đầu váng mắt hoa, bệnh ngày càng nặng, không thể sống được nữa. Gia tài này là do cha vất vả nhọc nhằn mới có được cha phải phân chia rành mạch cho hai anh em, ghi vào khế ước chờ Nhị Oa trưởng thành sẽ bắt thăm. Cha chết rồi, các con phải lập chí cố gắng xây dựng gia đình, đừng để cho tài sản mà cha đã giành được bằng máu và nước mắt mất đi, khiến cho cha ôm hận nơi chín suối. Em con còn nhỏ, con phải hết lòng quan tâm đến nó, đừng hắt hủi nó, khiến cha phải đau lòng.
Nói xong ông trút hơi thở cuối cùng. Vinh Hưng chôn cất cha chu đáo. Dương thị vì quá thương chồng, không lâu sau cũng qua đời.
Theo lời cha dặn, Vinh Hưng cho em đi học. Ba năm xong tang, Vinh Hưng lấy Khố thị. Cô ta là con gái nhà khá giả, xinh đẹp nhưng hay đố kị, lười nhác chẳng chịu làm gì, suốt ngày chỉ phấn với son. Ăn thì của ngon vật lạ, mặc thì quần là áo lượt. Vinh Hưng mê mệt vì thị, hoàn toàn nghe theo cô ta sai bảo. Khố thị thấy Nhị Oa như chiếc gai trong mắt, luôn luôn xui bẩy chồng.
- Nhà mình vốn chẳng giàu có gì, mà Nhị Oa cứ ngồi không ăn sẵn, học hành lại phải tốn kém, thôi thì gọi nó về chăn trâu cắt cỏ không phải thuê người, lại đỡ tốn tiền.
Vinh Hưng cho rằng vợ biết bàn hơn tính thiệt bèn gọi em về chăn trâu. Khố thị lại bảo nó lười nhác lấc láo, hay ăn trộm, khiến Vinh Hưng cũng phải bực tức. Đêm đêm Khố thị lại thủ thỉ với chồng:
- Ruộng nương nhà ta không nhiều, mà chia cho Nhị Oa một nửa thì vợ chồng mình lấy gì để chi dùng. Em rất thương chàng ngày đêm vất vả lo toan. Nhị Oa cứ ngồi đó ăn không, vừa lười nhác, vừa ăn trộm như ranh. Loại chẳng ra hồn người như thế mà chia ruộng cho nó, thì chẳng khác nào bán ruộng đi. Thôi thì hành hạ cho nó chết đi, khỏi phải chia ruộng.
- Đúng thì đúng thôi, - Vinh Hưng nói, - nhưng lúc lâm chung cha anh đã dặn anh rằng, phải yêu thương nó, bây giờ ta cho nó chết đi, thì có lỗi với cha, đã chiếm đoạt tài sản của nó, thì đừng hại nó.
- Anh không nói em cũng khắc biết sắp xếp việc này. - Khố thị nói.
Thế rồi suốt ngày thị bắt Nhị Oa làm quần quật, việc không làm được cũng bắt làm, không gánh nổi cũng bắt phải gánh. Hằng ngày Nhị Oa phải kiếm củi, vớt bèo cho lợn, cắt cỏ cho trâu, làm không đủ mức giao thì chị dâu đánh đập tàn nhẫn, không cho ăn. Mùa đông thì cướp hết chăn đệm, mùa hạ thì giấu cả màn chiếu, đầy đọa đến nỗi Nhị Oa xanh xao gầy guộc, cứ ngồi khóc thầm một mình. Biết rõ anh chị đày đọa mình chết để chiếm hết cơ nghiệp. Năm ấy Nhị Oa mới mười ba tuổi, muốn trốn đi nhưng chẳng có xu nào, chỉ biết ngồi chờ chết.
Một hôm củi chưa lấy đủ, Khố thị chửi bới, dùng gậy đánh rồi đuổi đi.
- Mày đi đâu thì đi, chết đường chết chợ cũng mặc xác mày, mày mà về thì tao băm vằm mày ra.
Rồi thị đóng sập cửa lại. Nhị Oa kêu khóc thảm thiết. Trời đã chạng vạng mà chẳng biết đi đâu về đâu. Nó lần mò đến mộ cha mẹ, nghĩ tới tình cảnh thê thảm, òa lên khóc nức nở:
- Cha mẹ ơi! Lòng con đau như dao cắt. Anh chị ghét bỏ, định giết con để chiếm ruộng vườn. Bắt con làm quần quật suốt ngày con cũng chẳng quản gì, không biết vì sao lại đuổi con đi. Những ngày qua con đã chịu biết bao đau khổ nhọc nhằn, ngay cả gỗ đá cũng phải thương tâm. Hằng ngày chỉ cho con vài bát cháo loãng, trời rét căm căm chỉ phong phanh một manh áo mỏng. Sáng phải dậy sớm nấu cơm, gọi họ dậy ăn, miếng ngon họ giấu biệt con chẳng được ăn, trưa về phải đủ ba gánh củi khô, chiều về phải vớt bèo cho lợn. Củi không đủ họ giằng lấy bát không cho ăn, củi đủ rồi thì bắt gánh nước cuốc vườn. Trời nóng nực không màn, muỗi đốt sưng húp mặt, cắn nát thịt máu chảy rồi thành ung nhọt. Đến mùa đông cướp hết chăn đệm, chui bừa vào đống rơm rạ ngủ, rét thấu xương. Lại còn chửi con là làm nát cả rơm rạ, là thằng phá gia chi tử rồi đuổi con đi. Thật đáng thương cho con, chân tê cóng không nhấc nổi, chửi con là giả đò giả đận không chịu làm. Ngay như hôm nay, sai con giặt giũ, lên núi muộn, lấy được ít củi, chị đã đánh con tóe máu, vạt áo ướt đầm. Không biết rằng con còn nhỏ, chưa đầy mười bốn tuổi đầu mà đã đuổi con khỏi nhà rồi đóng sầm cửa lại ôi anh ơi! Sao anh không nể mặt cha. Nếu anh đòi đất thì cứ nói thẳng với em. Vì sao lại hại em tàn nhẫn như vậy, anh bảo em đi đâu bây giờ. Ôi! Cha mẹ ơi! Cha mẹ có khôn thiêng thì thương lấy con, phù hộ cho con không ốm đau bệnh tật. Con lớn lên sẽ làm đổi thay cơ nghiệp, lúc ấy con sẽ xây phần mộ cho cha mẹ thật đàng hoàng.
Khóc đến khi trời sáng, muốn đi song chẳng biết đi đâu, mà không đi thì lấy gì mà ăn, hai mắt đỏ hoe sung húp, không biết làm sao. Làng xóm cũng có người tốt bụng cho cơm. Ba hôm sau thấy nó vẫn quanh quẩn ở đó chưa đi, Khố thị mang gậy ra đuổi rồi chửi:
- Mày là đồ chết dẫm, mày phải đi khỏi nơi này, mày đi đâu mà chết, đừng quanh quẩn ở đây làm xấu mặt tao.
Thế rồi thị cầm gậy vụt xuống như mưa, Nhị Oa vừa khóc vừa đi mà chẳng biết đi đâu. Ban ngày vào làng xin ăn, ban đêm chui vào hang ngủ. Đi được ba ngày, mình mẩy đau nhừ, chân sưng húp, bụng đói cồn cào, không sao nhấc nổi chân. Nghĩ rằng anh chị tàn ác, làm ta lên trời cũng không được, chui xuống đất cũng không xong, muốn chết không chết được, muốn sống cũng không sao sống nổi. Đến nước này thì đi cũng dở mà ở cũng không xong. Biết làm sao để thoát khỏi cảnh này. Nghĩ mà thương cho số kiếp của mình. Nhị Oa lạy tạ công ơn cha mẹ, rồi tới một cây to bên đường cởi giây lưng ra treo cổ.
Lúc ấy một vị cứu tinh đi qua, người ấy là Thường Thanh, nhà giàu lại có lòng từ thiện. ông đi thu nợ về, thấy có người treo cổ, sờ vào người, thấy vẫn còn nóng, vội vàng bảo người cởi giây, chạy tới nhà gần đó xin một ít trà nóng đổ vào miệng, phút chốc Nhị Oa hồi tỉnh lại. Ông Thường hỏi:
- Anh nhỏ, vì sao lại quẫn chí như thế?
Thấy ông lão cứu mình, Nhị Oa cúi lạy rồi nghẹn ngào nói:
- Bẩm ông, con là Mễ Nhị Oa, cha mẹ chết sớm, đời con chịu nhiều đau khổ. Chị dâu con người họ Khố, anh con là Vinh Hưng. Anh con đối với con còn có chút tình, chỉ hận một nỗi, chị dâu con lòng lang dạ sói, xúi giục anh con làm hại đời con, để nuốt không cơ nghiệp. Họ vô cùng tàn nhẫn, đày đọa con thập tử nhất sinh. Mỗi bữa chỉ được vài bát cháo loãng, mà làm việc thì luôn chân luôn tay. Hằng ngày phải lấy ba gánh củi khô, phải vớt hai gánh bèo cho lợn. Nếu ít đi một chút là phải đánh đòn, bưng bát cơm lên không sao nuốt nổi. Mùa hè ngủ không màn, mùa đông không chăn chiếu, khổ lắm ông ơi. Trời rét buốt chân tay con tê cóng, chỉ kiếm được ít củi, nên đã bị chị dâu đuổi khỏi nhà. Thật đáng thương, con không biết đi đâu về đâu. Hai ba hôm nay con không có hột cơm nào vào bụng. Đói khổ quá con không chịu nổi, lòng con như dao cắt. Chẳng còn cách nào, con đành phải treo cổ để chết đi cho xong. May gặp được ông cứu, lại được ông ân cần hỏi han. Con vô cùng cảm động.
Ông Thường thấy nó nói thương tâm quá. Tuy nó gầy yếu, nhưng mặt mũi khôi ngô sáng sủa, không giống kẻ hèn mọn, mới nói rằng:
- Cháu không nơi nương tựa, thôi thì hãy về chăn trâu cắt cỏ giúp ta, khi nào trưởng thành sẽ tìm nghề nghiệp.
Nhị Oa bằng lòng. Ông Thường đưa Nhị Oa về nhà, cho quần áo giày dép. Nhị Oa vô cùng cảm động, hết lòng làm việc giúp ông.
Từ khi đuổi Nhị Oa đi, Vinh Hưng hoàn toàn nghe Khố thị. Họ sống hết sức xa hoa. Sáng chiều lúc nào cũng xào xào nấu nấu. Hằng ngày mặc sức ăn chơi, thả cửa dâm dục, việc gì cũng thuê mướn. Chưa đầy hai năm, vốn liếng cạn kiệt, mang công mắc nợ, buộc phải bán ruộng vườn để trả, chỉ còn lại mấy trăm quan tiền, mua một gánh hàng tạp hóa đi bán, rồi lại làm giả ngọc lưu li, tới các vùng hẻo lánh đánh lừa đàn bà. Nhân khi tới Trường Sa bán hàng, gặp Bối Thành Kim, và thuê anh ta gánh hàng về nhà. Thấy anh khiêm tốn, hòa nhã, nên giữ lại sai gánh hàng, đỡ đần việc buôn bán. Thành Kim ở đó, suốt ngày vâng vâng dạ dạ, cần cù chịu khó, tận tâm tận lực, nên Khố thị rất mừng. Vì Vinh Hưng dâm dục quá độ nên mắc bệnh lao, Khố thị không được thỏa mãn bèn tư thông với Thành Kim. Họ gắn với nhau như nhựa, muốn sống như vợ chồng, định trốn đi nhưng lại tiếc gia tài, muốn mưu hại nhưng lo sợ sau này bại lộ. Suy đi tính lại, thị tìm ra một kế, rồi bảo Vinh Hưng rằng:
- Em nghĩ rằng ruộng vườn nhà ta không nhiều. Hằng năm thu hoạch không đủ trả công cày cấy, việc buôn bán của chàng lãi lời quá ít, thôi thì đem bán đất đi, dọn đến thành Quế Dương buôn bán to hơn một chút. Vả lại Thành Kim cũng biết buôn bán, giúp anh trông coi lo liệu, chắc rằng sẽ giàu to.
Vinh Hưng lúc nào cũng khư khư ôm lấy thị, cái gì cũng nghe theo. Bán hết cả ruộng vườn nhà cửa, được tất cả bốn trăm lạng bạc, chờ tháng giêng năm sau dọn đến Quế Dương mở hàng. Lúc ấy đang là mùa đông, Vinh Hưng bị cảm lạnh, Khố thị cứ bảo là khí hư, cố ý giết gà sống cho chồng ăn, ai ngờ ăn vào bệnh ngày càng nặng. Mời thầy xem mạch bốc thuốc, Khố thị ngấm ngầm bỏ vị bổ vào, uống vào Vinh Hưng chết ngay lập tức. Vinh Hưng không có anh em họ hàng, Khố thị chỉ chôn cất chồng qua quít.
Khố thị và Thành Kim bán hết gia tài thu lai nhập đẫy được tất cả bốn trăm ba mươi lạng bạc, vờ nói là vào thành, cuỗm tất cả vàng bạc quần áo chuồn thẳng, định về huyện Vạn. Đi được hai ngày, Khố thị thấy đằng sau có người theo, quay lại nhìn thì thấy Mễ Vinh Hưng chồng mình, hoảng sợ, hồn bay phách lạc, chạy nhảy điên loạn. Thành Kim vừa giữ vừa đi, đến vách núi cao Khố thị nói: "Chồng tôi đến bắt tôi!', rồi nhảy xuống vực, đầu vỡ toác, chết ngay lập tức. Thành Kim sợ quá, cứ thế chạy tới hai mươi dặm mới dừng chân, rồi trở về huyện Vạn.
Từ khi chồng đi, Vũ Hoa tự làm lụng nuôi thân, sớm chiều dệt vải nuôi lợn, tối đến lại may vá thuê, cần kiệm siêng năng, không những thừa ăn mặc, bảy tám năm trời còn dành dụm được tám chục quan tiền. Chú là Bối Hữu Năng thấy cô có tiền, lại không nghe theo mình, mới bảo rằng, cháu đã chết, rồi khuyên cô đi lấy người khác. Vũ Hoa không nghe, Hữu Năng chửi bới, Vũ Hoa không chịu nhún nhường, hai bên đánh chửi nhau. Hữu Năng ôm hận muốn hại cô để lấy tiền. Vũ Hoa sợ Hữu Năng ám hại, tìm một bà già về làm bạn, cùng cô dệt vải, trông coi nhà cửa.
Một hôm, bà lão về nhà, mặt trời đã lặn, Vũ Hoa bỗng thấy một người tới nhà, nhìn kĩ thì đó là chồng, vội chạy ra đón. Mời chồng uống nước xong, họ kể cho nhau nghe những nỗi khổ của mình. Thành Kim dấu biệt chuyện Khố thị, chỉ nói là thuyền bị đắm mất hết sạch, ..sau đó ra sức buôn bán lại gom được ít vốn liếng tới Quế Dương làm ăn, kiếm được hơn bốn trăm lạng, rồi về quê. Nói xong giao bạc cho vợ. Vũ Hoa vui mừng khôn xiết, vội giết còn gà trống nuôi từ dạo Thành Kim đi để cúng thần tài. Thành Kim nói:
- Em thật là chu đáo, tính ra đã tới mười năm trời mà con gà trống ấy vẫn còn, chờ chồng về để cúng thần, quả là anh rất mừng.
Vũ Hoa giết gà cúng thần xong, vợ chồng mừng vui ăn uống, mãi đến tận khuya mới đi ngủ.
Sáng sớm hôm sau, Vũ Hoa gọi chồng dậy ăn cơm, gọi mãi mà không thưa, mở màn ra xem thì chồng đã chết. Vũ Hoa sợ quá chết ngất đi, lâu sau mới tỉnh dậy. Nghĩ rằng chồng mới về tối qua, hôm nay đã chết, không biết đã mắc chứng gì, mà cũng không biết chết lúc nào. Càng nghĩ càng thương tâm, ôm lấy chồng khóc nức nở.
- Anh ơi đau đớn quá! Nước mắt em rơi lã chã ướt đầm vạt áo. Nói là vợ chồng sống với nhau trọn đời trọn kiếp, ai ngờ uyên ương đã chia lìa đôi ngả. Nghĩ tới xưa kia em bước chân về, ân ái như núi cao, tình nghĩa tựa sông dài. Sớm tối gắn bó keo sơn, chẳng hề điều tiếng gì Vì nhà nghèo, vợ chồng mới bàn nhau, anh tới Hồ Quảng buôn bán, quyết kiếm tiền về mua vườn tậu ruộng. Anh đi biền biệt như nước thao thiết chảy về đông không trở lại. Chú anh lòng lang dạ sói, bức em phải lấy chồng khác. Anh ơi! Em quả là người chung thủy, không dám bôi nhọ thanh danh. Mặc dù chú anh ép buộc, nhưng em vẫn lòng son dạ sắt. Suốt ngày tựa cửa ngóng trông, song chẳng thấy anh về. Chẳng biết chuyện trò bàn bạc cùng ai. Chịu biết bao nhiêu gian truân vất vả khổ đau. Thấy anh về mừng vui khôn xiết, vội giết gà trống mừng anh, rót rượu mời anh, thủ thỉ kể lại chuyện nhà chuyện cửa. Kể sao cho hết tình cảnh biệt li, đường xa dặm thẳng. Từ nay về sau Lương Hồng, Mạnh Quang vĩnh viễn không rời bỏ quê hương, vợ chồng vui vầy đầm ấm tới già. Ngờ đâu tối qua đi ngủ, thì sáng nay đã về nơi chín suối. Lay gọi anh cũng chẳng thua, sao anh nỡ bỏ em mà đi đâu vội mấy, thầy thuốc chưa kịp gọi, thuốc thang chưa kịp uống. Khiến em không sao hiểu nổi, làm sao mà em yên lòng. Người biết, bảo là anh chết do số mệnh, người không biết bảo là em hại anh. Sợ nhất là nỗi oan này không sao giãi bày được. Anh ơi! Chắc rằng kiếp trước anh chưa hái sen tịnh đế(1). Vì sao anh không nghĩ tới em, bỏ mặc em sống thê thảm một mình? Biết bao đau khổ, trông chờ mong đợi anh về, ai ngờ mới một đêm đã phải chia li. Anh ơi! Anh hãy chầm chậm chờ em đi theo anh, cùng nhau làm bạn dưới suối vàng. Anh ơi! Việc này chưa thỏa đáng, em muốn chết đi để giữ tròn trinh tiết, nắm xương em ai người chôn cất? Em tạm sống nơi trần thế cầu mong gia tộc giúp đỡ, mời cao tăng về lập đàn tràng tiễn đưa anh.

(1) Sen tịnh đế: loại sen có hai bông hoa nở trên cùng một gốc. Người ta thường ví với tình ân ái vợ chồng (ND).

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Sat Apr 05, 2014 3:11 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 10 (B)
Vũ Hoa khóc hồi lâu, rồi đi gọi chú Hai. Vừa ra tới cửa, chị nghĩ: "Chồng mình đã đưa về một số bạc, nếu chú Hai biết được nhất định sẽ sinh lòng tham, bắt mình phải tái giá”, nên đã quay lại giấu vào góc nhà.
Hữu Năng tới, thấy mồm, mũi, mắt, tai của cháu mình đều chảy máu, bèn nổi giận quát ầm lên:
- Mày là đứa đê tiện. Tại sao mày lại đầu độc cháu tao?
- Cháu chú về tối qua, - Vũ Hoa nói, - không biết mắc chứng bệnh gì mà mất, sáng nay gọi mới biết, chú đừng có đổ tội cho cháu.
- Đúng là mày đã dẫn trai về nhà rồi đầu độc nó, - Hữu Năng nói, - để lấy nhau. Tao không thể nghe theo mày được.
- Chú đừng. đổ oan cho cháu. - Vũ Hoa nói. - Nếu cháu dẫn trai về nhà, thì tại sao trước đây cháu không tái giá?
- Trước đây vừa có tiền, - Hữu Năng nói, - vừa có gian phu, nên mày không tái giá.
Nói xong Hữu Năng tức tốc đệ đơn lên huyện kêu oan, nói rằng vì gian dâm nên cháu dâu đã đầu độc chồng.
Quan huyện Vạn thời ấy là người họ Hồ, lập được chiến công ngoài chiến trường và được cất nhắc lại làm quan huyện. Không am hiểu dân tình, đã lập tức lệnh cho khám nghiệm tử thi, quả là đã chết vì đầu độc; cho mua ngay quan tài an táng. Sau đó bắt ngay Vũ Hoa về huyện xét hỏi:
- Chú ngươi đã tố cáo ngươi vì gian dâm nên đầu độc chồng, ngươi vẫn không khai thực ư?
Vũ Hoa vô cùng oan ức, khóc lóc thảm thiết, nói:
- Xin quan lớn hãy lắng tai nghe cho rõ. - Vũ Hoa quỳ trước pháp đường, nước mắt như mưa.
- Hãy khai rõ từ đầu. - Quan huyện nói.
- Từ khi ra đời, con luôn giữ gìn phẩm hạnh ngay thẳng, và cũng biết được liêm sỉ, tiết liệt kiên trinh. Về nhà chồng chúng con sống rất hòa thuận, vì nhà nghèo, chồng con phải đi buôn bán xa. Trước lúc ra đi, chồng con dặn phải hết sức giữ gìn cẩn thận, phải cố nuôi lấy con gà trống mã mật ấy.
- Vì sao chồng ngươi dặn nuôi con gà trống mã mật ấy. - Quan huyện hỏi.
- Chồng con thích ăn đầu gà mềm, anh ấy đinh ninh rằng khi nào kiếm được tiền trở về sẽ giết gà cúng thần tài.
- Chồng ngươi đi buôn, - quan hỏi, - vậy hằng năm, tết nhất có về không?
- Chồng con đi buôn bảy tám năm nay chưa từng về, chú Hai cứ bắt cháu đi lấy con nhà giàu. Con thề giữ trọn tình vợ chồng không tái giá, vì không được tiền nên chú tức giận.
- Thế thì chồng ngươi về lúc mấy giờ? - Quan hỏi.
- Mười năm nay chồng con mới về, - Vũ Hoa nói, - con mừng quá, giết gà trống, mua rượu ngon, làm bữa cơm tẩy trần. Hai vợ chồng hàn huyên đến canh ba mới ngủ, đến khi trời sáng con gọi, thì chồng con đã mất rồi. Gọi chú con đến, thì chú con viết đơn đi kiện, vu cho con là gian dâm rồi đầu độc chồng.
- Chồng ngươi về có ai tới thăm không - Quan hỏi. - Có đưa bạn hay người gánh hàng thuê về không?
- Lúc chồng con về chẳng có ai. - Vũ Hoa nói. - Chỉ có mình chồng con thôi.
- Bên ngoài không ai đến thăm, không có bạn, không có người gánh thuê. Như vậy thì không phải người khác hãm hại. - Quan nói.
- Không biết sáng ấy anh mắc chứng bệnh gì nguy kịch mà bỗng chốc uyên ương chia lìa đôi ngả. - Vũ Hoa nói.
- Hừ! Con dâm phụ này to gan thật. - Quan nói. - Rõ ràng là mày đã dẫn trai về, rồi đầu độc chồng, mà vẫn còn cãi bướng, hãy mau mau khai ra!
- Con là con nhà nề nếp, há rằng lại hủy hoại danh tiết, làm nhục tổ tiên. - Vũ Hoa nói. - Nếu có gian tình thì vì sao khi chồng chưa về không chịu đi tái giá, mà bây giờ chồng về lại giết chồng.
- Trước kia không tái giá, - quan nói, - chỉ vì chồng chưa về cùng với gian phu sống với nhau. Nay chồng về, thấy được mới giết chồng đi. Vì sao ngươi vẫn chối quanh?
- Nếu không có ai biết sao không giấu xác chồng đi, mà lại đi báo cho họ tộc biết? Thưa quan lớn, vì sao quan lớn cứ suy đoán, rồi đổ riệt cho con những điều xấu xa độc ác.
- Con dâm phụ này to gan thật, dám nói ta vu tội cho ngươi. Các ngươi đâu vả vào miệng nó bốn mươi cái cho ta!
Họ đánh Vũ Hoa rách da tóe máu, hai má rát bỏng như lửa đốt răng đau nhức.
- Cuối cùng người có khai không? - Quan hỏi.
- Con là người trinh tiết, - Vũ Hoa nói, - dù chết con cũng không ân hận. Bẩm quan lớn! Con không giết chồng thì quan bảo khai làm sao được.
- Hừ! Con dâm phụ này to gan thật, mày còn già mồm à, chúng bay đâu, hãy đóng đinh vào mười đầu ngón tay nó cho ta.
- Trời đất ơi! Thưa quan lớn, đúng là quan lớn truy bức con đến chết, con sẵn sàng chịu thịt nát xương tan. Vì sao vô cớ ghép con vào tội chết. Chứng cứ đâu mà bảo con gian dâm, mưu giết chồng.
- Con dâm phụ này còn già mồm cãi, chúng bay đâu hãy mau mau tra khảo nó cho ta.
Đinh tre đóng vào người Vũ Hoa ứa máu, chẳng khác nào nơi địa ngục Diêm Vương, đang lúc muốn gặp Diêm Vương về nài cầu khẩn, thì ai ngờ phút chốc nàng tỉnh lại. Nàng nghĩ: "Không khai thì không thể chịu nổi khổ hình, mà khai thì đem tiếng xấu suốt đời".
- Bội Trác thị! - Quan nói. - Ta khuyên ngươi khai đi là tốt ta sẽ tha cho.
- Thôi thôi, con xin khai. - Vũ Hoa nói. - Thưa ngài con đã giết chồng.
- Tên gian phu đó là đứa nào? - Quan hỏi.
- Ngài ghép con vào tội chết con không oán hận, nhưng bảo con gian dâm thì chết con không nhắm mắt. - Nó vẫn còn bướng, hãy tra khảo mau. - Quan quát. - Trời ơi! Quả là có quan dã man chứ không bao giờ có dân dã man, lẽ nào ở pháp trường lại không có quỷ thần!
- Rốt cục kẻ gian phu đó là đứa nào? - Quan hỏi. - Nói mau!
- Kẻ gian phu ấy con quên mất họ tên rồi. Con tình nguyện chịu chém chứ không hại người tốt.
- Con dâm phụ này vẫn còn che giấu, các người đâu, hãy mau mau tra khảo cho ta!
- Trời ơi! Thưa ngài, gian phu tên là Mạc Tu Hữu(1), người ấy đã trốn mất rồi. Xin ngài ra lệnh đi bắt.
 
(l) Mạc Tu Hữu: có thể có. Triều Tống chống Kim, danh tướng Nhạc Phi bị hạ ngục vì Tần Cối vu cáo. Hàn Thế Trung bất bình hỏi Tần Cối. Tần Cối nói: "Việc Nhạc Phi làm loạn có thể có: (Mạc tu hữu); về sau dùng "mạc tu hữu” để chỉ án oan. Xem Từ điển điển cố Trung Hoa, NXB Văn hóa - Thông tin, H, 2002.
 
Khai xong, quan lệnh giam vào ngục, viết tờ trình đệ lên tỉnh, ra lệnh truy bắt gian phu. Đi tìm khắp mọi nơi không thấy người ấy, quan sợ Vũ Hoa bịa ra họ tên, đưa ra tra hỏi lại. Vũ Hoa cứ một mực kêu oan, và nói là không khai bịa. Không còn cách nào khác quan vẫn cứ giam vào ngục.
Vị quan này làm việc gì cũng tùy tiện, biết bao người đã bị oan khuất, người kháng cáo lên cấp trên cũng rất đông. Vì vụ án này để giằng dai mãi không quyết án được, nên đã phải cho Vũ Hoa về.
 
Viên quan đến thay thế là người họ Vương, xuất thân từ cử nhân, thanh liêm và yêu thương dân chúng. Ông xem kĩ lời cung khai về vụ án này, biết là oan uổng, ông cho gọi Vũ Hoa đến xét hỏi. Vũ Hoa cứ kêu oan. Quan hỏi:
- Chồng ngươi chết như thế nào?
- Con không biết chết vì chứng bệnh gì, sáng dậy con gọi mới biết.
Quan thét:
- Đánh!
- Vũ Hoa vẫn khai như cũ.
Quan biết Vũ Hoa sợ hình phạt mà khai, nên muốn cứu cô, nhưng căn cứ vào đâu để tha? Nếu nói là bị bệnh thì tại sao máu lại chảy ra đằng mồm, mắt, mũi. Nếu ăn phải của độc thì cả hai vợ chồng đều ăn, nhưng tại sao vợ không chết. Ông cứ suy nghĩ mãi mà không quyết được, cuối cùng vẫn giam Vũ Hoa vào ngục, rồi tiếp tục suy nghĩ.
Lúc ấy có quan Khâm sai họ Lưu, xuất thân từ Hàn lâm, làm viên ngoại bộ Hình tại kinh đô, tới Trùng Khánh khám xét đi theo đường thủy về kinh đô, tiện đường tới huyện Vạn thăm người thân. Quan họ Vương tiếp ông tại công đường. Nhân nhàn rỗi, hai ông chơi cờ. Nào ngờ quan họ Vương chơi cờ rất cao, nhượng một xe một mã, song Lưu Khâm sai cũng chỉ là người chơi cờ bình thường. Bỗng nhiên trong ván cờ chỉ đi một nước nữa là quan họ Vương sẽ thua. Quan Khâm sai mừng thầm, bỗng quan họ Vương đi thêm một nước tiếp thì chuyển bại thành thắng. Lưu Khâm sai vỗ đùi đánh đét một cái xuýt xoa nói:
- Nước cờ này hiểm độc như đầu gà mười năm!
Quan họ Vương thấy thế bỗng nghĩ tới vụ án Vũ Hoa, rồi hỏi:
- Tại sao nước cờ của tôi, đại nhân lại ví với đầu gà mười năm?
- Lẽ nào ngài lại không biết được điển tích ấy? - Lưu Khâm sai nói.
- Tôi không biết, xin đại nhân chỉ bảo. - Quan huyện nói.
- Tôi nhắc đến đầu gà là có lí do của nó, - Lưu Khâm sai nói, - tôi sẽ nói để ngài rõ. Ngài làm quan vốn xuất thân từ cử nhân, lẽ nào lại chưa đọc cuốn sách ấy.
- Tôi vốn kém cỏi, quả thật chưa đọc đến, xin ngài chỉ bảo. - Quan họ Vương nói.
- Theo sách ấy viết thì đầu con gà đã nuôi mười năm, không thể ăn được.
- Vì sao lại như thế?
- Gà ăn kiến vốn có chất độc, chất độc ấy tích tụ trong não gà, cứ thế, tích tụ trong mười năm thì rất độc, càng lâu hơn nữa thì lại càng độc. Nếu người ăn phải loại đầu gà ấy thì chỉ có chết thôi.
- Đúng rồi! Đúng rồi! - Quan họ Vương kêu lên.
- Nước cờ của ngài rất cao siêu, ác hiểm, có khác gì loại đầu gà mười năm ấy. Tôi nói thế là ca ngợi ngài, xem ra ngài cũng cần phải đọc sách.
Quan họ Vương nghe xong mới hiểu được sự thực về vụ án Vũ Hoa. Ông nói:
- Lời nói của đại nhân quả đã cứu được một tù nhân, có thể giải được oan khuất cho họ. Điều ấy rất ích lợi.
Quan Khâm sai hỏi vì sao, quan họ Vương kể lại tỉ mỉ vụ án Vũ Hoa, rồi đưa hồ sơ vụ án cho quan Khâm sai xem, ngài nói:
- Vụ án này, người chết hoàn toàn là do ăn đầu gà, chứ sao lại nghi là mưu gian? Thật oan thay! Trác thị nói không sai, suýt nữa thì chết oan một mạng người. - Quan Khâm sai hỏi tiếp. - Trông hình dáng Vũ Hoa có phải là loại người gian dâm, ác độc không?
Quan họ Vương cho gọi Vũ Hoa tới, Lưu Khâm sai nói:
- Trông người con gái này đoan trang, xinh đẹp, nhã nhặn, không phải là loại người dâm đãng ác độc. Các ông lầm lỡ quá.
- Người tiền nhiệm bị bãi chức về vụ án này, - quan họ Vương nói, - tôi biết thị oan nhưng không có đường cứu, cho nên đã lâu rồi mà chưa phán quyết được.
Thế rồi ông kết thúc vụ án, tâu trình lên trên rằng chồng Vũ Hoa do ăn phải chất độc của đầu gà mười năm mà chết. Đồng thời thả Vũ Hoa trước mặt quan Khâm sai.
Vũ Hoa cúi đầu lạy tạ quan họ Vương và quan Khâm sai. Khi ra khỏi công đường, Vũ Hoa nghĩ, vì vụ án này mà ta chịu vô vàn đau khổ, nhưng ta không chết vì nỗi oan chưa được sáng tỏ. Nay nỗi oan ấy đã sáng tỏ rồi, ta không con không cháu, về nhà biết dựa vào ai đây? Thôi thì ta chết đi để bảo toàn tiết hạnh, theo chồng về nơi chín suối. Thế rồi nàng nhảy xuống con suối ở phía nam thành. May thay gặp được sai nha đi truy bắt phạm nhân trở về trông thấy vớt lên. Một lúc sau thì tỉnh lại. Sai nha bẩm quan. Quan đang tại công đường, lập tức gọi Vũ Hoa hỏi:
- Ta đã minh oan cho ngươi, sao ngươi không về nhà mà còn nhảy xuống suối tự vẫn?
- Từ lâu con đã muốn tuẫn tiết, song con còn mắc oan cho nên con phải sống. Nay con được minh oan, nỗi hận đã được giải tỏa, con không con cái, bơ vơ không nơi nương tựa, thôi thì con chết theo chồng.
- Nuôi con nuôi thủ tiết cũng được. - Quan nói.
- Con chỉ còn một người chú, không có người nối dõi, biết nuôi ai?
- Nếu không có con nuôi, thì nên đi bước nữa. - Quan huyện nói.
- Người đàn bà phải trọn đời chung thủy với chồng. - Vũ Hoa nói. - Lẽ nào lại đi tái giá!
- Trên đời này có người ở vậy để giữ trinh tiết, cũng có người tái giá để giữ trọn trinh tiết, cốt là phải xem cảnh ngộ cụ thể thế nào mà thôi. Nếu đạo tam tòng không có chỗ dựa thì tái giá cũng không ngại gì. - Quan huyện nói.
- Quan phụ mẫu của người khuyên tái giá, - quan Khâm sai nói, - thì ngươi nên theo sự phán bảo ấy, đừng phụ lòng tốt của ngài. Nếu biết lập chí làm người, thì sau này sẽ gặp may.
Vũ Hoa im lặng. Quan lệnh thông báo cho một cửa hàng ăn gần đấy. Nếu ai muốn lấy nàng thì vào công đường đệ đơn. Lúc ấy có một người có vẻ muốn lấy, quan huyện lập tức gọi vào. Thấy người này trẻ, khôi ngô tuấn tú, vẻ mặt hồng hào, không phải là hạng người đê tiện. Quan lệnh cho kết hôn. Người ấy sắm nến hoa, hai người lấy nhau kết nghĩa vợ chồng, rồi lại lên công đường bái tạ quan. Quan nói: - Vợ chồng phải cố gắng trở thành người tốt, sau này nhất định sẽ làm ăn phát đạt.
Các bạn thân mến, các bạn có biết người ấy là ai không? Người ấy là Nhị Oa. Vì anh ở nhà họ Thường, chịu thương chịu khó, lại thật thà ngay thẳng, ông Thường rất vui mừng nhận làm con kết nghĩa. Ông Thường giao cho anh đi thu nợ, lúc rảnh rỗi đọc sách. Nhị Oa hết lòng hiếu thuận, ông Thường có ý giao cho anh làm người thừa tự, cho anh một ngàn lạng bạc để buôn bán, lãi kiếm được chia đôi. Vì thế đổi tên là Tái Hưng. Chỉ trong mấy năm trời, số vốn anh kiếm được tới năm sáu trăm lạng. Nhân dịp về thăm nhà, ai ngờ đất vẫn còn đó, mà người đổi khác, hỏi kĩ ra mới biết gia đình tan nát, hết sức thảm thê. Thế rồi anh lại trở về nhà họ Thường buôn bán, thường lui tới Vinh Dương và huyện Vạn. Một hôm anh tới huyện Vạn cất hàng, ăn tại cửa hàng quan huyện đã cho thông báo. Ai ai cũng khen Vũ Hoa là người tiết hạnh, hiền thục. Hỏi kĩ sự tình, người ta nói:
- Đây là một cô gái có tài, lấy một người chồng bạc tình, bỏ vợ ở nhà đi biền biệt tới mười năm mới về, rồi lại làm cho cô chịu biết bao đau khổ, thế mà cô vẫn tuẫn tiết, trên đời thật hiếm có người như thế.
Mọi người khuyên anh lấy cô, Tái Hưng nói:
- Tốt thì tốt rồi, nhưng là cưới lần thứ hai, tuổi lại nhiều.
- Lấy vợ cốt người hiền thục, - mọi người nói, - kể chi đến tuổi tác, hay tái giá. Nếu lấy người trẻ mà hư, không chịu làm gì e rằng chỉ mang vạ vào thân, làm gì bằng một người đàn bà giỏi giang, lại có chí như thế. Hơn nữa lấy nhau trước mặt quan, thì còn quý hơn là lấy vợ trẻ rất nhiều. Tái Hưng thấy có lí bèn đệ đơn xin cưới làm vợ.
Sau khi lạy tạ quan, Vũ Hoa bảo chồng về nhà cúng chồng cũ. Thiết lập đàn tràng ba ngày, cùng với chồng mới cúng xong, Vũ Hoa nói:
- Chồng trước mang về hơn bốn trăm lạng bạc, em sợ chú hãm hại, nên giấu ở góc nhà. Họ đào lên, Tái Hưng thấy tám gói, lẻ hai nén, trong đó còn có bản khế ước, có ghi tên Mễ Như Châu, là cha anh, và người được giữ khế ước là Mễ Vinh Hưng anh anh. Tái Hưng thấy rất kì lạ nói:
- Phải chăng người gian dâm với chị dâu rồi hãm hại anh tôi lại là chồng trước của nàng sao? Nếu không thì tại sao bản khế ước này lại rơi vào tay chồng trước của nàng?
Vũ Hoa nói:
- Anh ấy buôn ở Hồ Quảng, đắm thuyền mất hết cả vốn liếng, lưu lạc tới Trường Sa, bán sức rồi đến Quế Dương buôn bán. Xem ra không phải anh ta thì còn ai nữa? Vì anh ấy gây ra việc như thế, nên mới bị quả báo, bị hại đến nỗi vợ mình phải đi lấy người khác. Đúng là "hại vợ người, thì vợ mình phải trả nợ đời".
- Em nói rất đúng. - Tái Hưng nói.
Quả là trời có mắt, thế rồi họ thu xếp chuyển về nhà họ Thường. Bái lạy ông Thường, rồi thanh toán với ông hết các khoản.
Lúc ấy Tái Hưng đã có hơn một ngàn lạng bạc, lập tức tới Quế Dương mua một cửa hàng. Vợ chồng sống với nhau rất hòa thuận, cố gắng xây dựng nghiệp nhà, chuộc lại hết sản nghiệp của cha và anh xưa kia. Buôn bán phát đạt, về sau giàu có nhất vùng. Vũ Hoa sinh được ba con, một người đi theo con đường văn chương, một người học võ nghiệp, con cả đỗ tiến sĩ.
 

Các bạn thân mến, người ta sống trên đời, không được dâm loạn, anh em ruột không được tàn hại nhau. Người xưa nói: “Anh em như chân với tay, vợ như quần áo. Quần áo rách có thể vá được Chân tay gãy không thể nối lại được". Mễ Vinh Hưng yêu vợ, quên người ruột thịt, mưu hại em, cuối cùng bị dâm phụ đầu độc chết, khuynh gia bại sản, tính mạng không giữ nổi. Khố thị hại em giết chồng, dâm dục, bại hoại thanh danh, cuối cùng bị ác báo, chết nơi vực sâu. Bối Thành Kim bỏ vợ đi xa, đắm thuyền mất của, không biết sửa chữa lỗi lầm, được người dìu dắt, không biết đền ơn, ngược lại còn cướp vợ người lấy của cải, rồi ăn phải của độc mà chết. Bối Trác thị đoan chính, hiền thục, cần kiệm, kính yêu chồng, không mắc oan uổng, ai ai cũng khen ngợi là người hiền thục. Mễ Nhị Oa bị anh làm hại, bị chị đọa đày. Nếu không bỏ đi, thì sao gặp được ông Thường, rồi thành cự phú. Qua vụ án này ta thấy, ở hiền gặp lành, ác giả ác báo, người giỏi ở chỗ khôn ngoan. Trời giỏi ở chỗ báo ứng, quả thật điều ấy chẳng sai.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Sat Apr 05, 2014 7:02 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 11
Bắt Gió Nam
Phụ nữ hãy nêu cao danh tiết
Cần chi tô lục với chuốt hồng.
Những người dâm đãng thường diêm dúa
Lụy đến chồng con, họa đến thân.
Thôn Lạc Gia, huyện Cao Bình, có một người tên là Lạc Niên Phong, vợ là Kim thị, sinh được một người con gái tên là Diễm Cô, dung mạo xinh đẹp. Vợ chồng quý như vàng. Lúc nhỏ cứ để mặc nó ăn diện, lớn lên lại cứ mặc nó chơi bời, chẳng cho tập tành nữ công gia chánh, nhưng mồm mép thì chua ngoa đanh đá. Khi còn nhỏ, Lạc Niên Phong đã hứa gả cho Quách Ngạn Trân. Nhà Quách nghèo, cha thường đi buôn bán xa, Ngạn Trân theo cha nên cũng biết buôn bán. Cha già yếu, giao việc buôn bán cho Ngạn Trân, còn ông thì về mua ruộng cày cấy. Lúc nhỏ, Ngạn Trân ít học hành, chỉ thích ngắm đàn bà con gái, thích chuyện phòng the. Trong làng xảy ra việc gì hay khiêu khích, đâm bị thóc, chọc bị gạo, để họ thù hằn, kiện cáo nhau. Hắn thường lui tới ngõ liễu đường hoa, không tin vào nhân quả báo ứng. May mà buôn bán kiếm được nhiều lời chưa từng lỗ vốn bao giờ. Cha anh ta biết được, khuyên rằng:
- Người ta sống trên đời, thì hiếu thảo là cái thiện hàng đầu dâm đãng là cái xấu nhất trong các thói xấu. Cái nợ về dâm đãng nhất định phải trả, gần thì vợ phải trả, xa thì con cháu phải trả, đến nỗi bại hoại cả thanh danh, hết của, mất người. Xưa nay, việc báo oán về gian dâm là ghê gớm hơn cả. Con phải giữ mình hết sức thận trọng.
- Lão già thật lắm mồm, - Ngạn Trân nói, - việc buôn bán cứ một vốn một lãi tôi giao đầy đủ, cớ sao ông cứ đặt điều. Xin hỏi ông rằng, việc gì mà chẳng cần tiền?
- Không mắc thì tốt, - người cha nói, - mà đã mắc rồi thì đừng tái phạm.
- Nếu tôi có sai phạm thì trời báo ứng, mất đầu là cùng chứ gì. - Ngạn Trân thuận miệng nói.
Cha chửi ầm lên:
- Chẳng qua là tao khuyên mày, chứ ai thách đố với mày!
Năm ấy, người cha cưới vợ cho hắn. Diễm Cô về nhà chồng, suốt ngày ngắm vuốt, chẳng chịu làm gì. Mẹ chồng khuyên nhủ bảo ban, chờ mãi không được phải tự làm thay. Mọi việc đều phải chỉ bảo từng li từng tí. Diễm Cô rất ghét, đêm đêm thủ thỉ với chồng, rằng mẹ đày đọa mình. Ngạn Trân quá mê đắm, cũng chẳng dạy bảo vợ. Thấy mẹ sai vợ làm việc này việc nọ, bèn nói:
- Bà già lắm mồm, đứa con dâu còn non xương non da, sao bà cứ sai làm suốt ngày, việc trong nhà làm cả ngày cũng không hết được!
- Thì chẳng qua tao yêu quý nó, mới dạy nó làm cho quen đi, - mẹ nói, - để sau này khỏi phải tan cửa nát nhà. Đã như thế thì từ nay tao cũng chẳng thèm nói nữa, xem ai sẽ hại ai!
Về sau phàm có việc gì Ngạn Trân đều làm thay và cũng không làm việc đồng áng nữa. Diễm Cô biết được tính chồng, càng lười nhác, ngay chiếc chổi đổ cũng không dựng lên. Mẹ thấy con bênh vợ chằm chằm, cũng chẳng nói nhiều. Cha thấy như thế không được, bèn giục con đi buôn, nói mãi tới nửa năm nó mới chịu đi. Diễm Cô về nhà mẹ đẻ. Khi nào chồng về mới về. Qua hai năm, mẹ thúc giục quá, mới cãi nhau với chồng, không cho chồng đi. Ngạn Trân thấy nhiều lãi, đi thêm mấy chuyến nữa. Diễm Cô thấy chồng ở ngoài chơi gái, chửi vỗ vào mặt chồng:
- Ngươi là đàn ông mà bạc tình bạc nghĩa, chỉ cốt đi xa để ăn nằm với hết đứa này đến đứa khác, mặc ta ở nhà vò võ một mình, suốt ngày cứ như đứa câm, ban ngày làm việc tối mắt tối mũi, đêm đến bên đông bên tây người ta hú hí với nhau, ta một thân một mình trùm chăn ngủ, mắt cứ chong chong cho đến sáng, sao mà không đau lòng. Nếu lại đi, thì ta liều chết với ngươi.
- Con ơi, - người cha nói, - người ta ở trên đời, sĩ nông công thương, mỗi người một nghề. Chồng con mỏng lực, không buôn bán thì ở nhà ôm nhau mà chết à.
- Tôi hiểu rồi, - Diễm Cô nói, - cha con ông vào hùa nhau để giết chết tôi!
Bố chồng nói mấy câu, thế là Diễm Cô gào lên, vừa khóc vừa chửi bới. Bố chồng uất quá hộc máu mồm, thế rồi ông bàn với con, buôn bán ngay tại quê. Ngạn Trân mua một quầy hàng ở dốc Đại Thụ, cách nhà hai mươi dặm, sáng đi tối về, buôn được mấy năm, kiếm được hơn trăm quan tiền.
Một hôm, trời đã tối mà Ngạn Trân vẫn chưa về. Cha bảo người làm công cùng với đứa con ở đi đón. Đi được sáu bảy dặm, bỗng thấy một người cầm chiếc cán cuốc đi tới, người làm công vội hỏi: "Ai đấy?". Người ấy nói rằng:
- Mày... mày không biết tao là ông Lã ư?
Người làm công soi đèn, thì đó là Lã Quang Minh người cùng làng, khắp người đầy máu, tay cầm chiếc cán cuốc. Người làm công nói:
- Vì sao người ông lắm máu thế?
- Mày hỏi tao mía lắm nước ư? Tao không trồng mía sao có nước!?
Người làm công thấy gã say mèm, ngỡ là hắn ngã, bèn nói:
- Ông vấp ngã à?
- Tao... Tao chưa mua được dao. - Gã nói.
- Thôi, ông cút đi!. - Người làm công nói.
- Tao... Tao hôm nay mới uống có tám lạng, làm gì được một cân. - Lã Quang Minh nói.
Thấy lão ta say khướt, người làm công cũng không thèm hỏi hắn nữa, bỏ đi. Tới cầu Bình An cũng không thấy. Hút liền mấy điếu thuốc, rồi gọi mấy tiếng. Đứa ở nói:
- Bây giờ đã quá canh hai, nhất định anh ấy không về rồi. Chắc là đã uống rượu ở đâu chăng!
Họ rủ nhau về .
Bên cầu bình An có một người làm đậu phụ, họ Ngô. Ông vốn là một người lao động, trước đây đi làm thuê, nhưng vì lười nhác, tính khí lại ngang ngạnh, hay nói điêu, một năm mà phải đổi chủ tới ba lần. Hơn bốn mươi tuổi mới góp nhặt được bốn năm chục quan tiền, lấy một người vợ trạc hơn ba mươi tuổi, vì sĩ diện, gã thuê ít ruộng trồng cấy. Ai ngờ gặp cơn đen vận túng, chỉ có hai năm mà lỗ đến quá nửa, còn lại hai mươi quan tiền, ông ta thuê một ít ruộng cao ở gần cầu An Bình trồng đậu làm đậu phụ. Hôm ấy, vào canh hai, bỗng nghe đến "uỵch" một tiếng, gã giật mình tỉnh dậy, vội thắp đèn lên xem, thì thấy chiếc nồi thủng một lỗ to, trong bếp đen sì sì, không biết là vật gì, khều ra không được. Gã bê nồi ra xem, nói:
- Ôi chao! Nguy rồi!
Chiếc đèn cầm trên tay phụt tắt. Vợ hỏi, chuyện gì thế. Ngô Đậu Phụ nói:
- Không biết đứa nào bất lương ném cái đầu người vào bếp nhà mình, vỡ cả nồi!
- Đừng có la ầm lên, lẳng lặng mang đi mà chôn, kẻo người ngoài biết được. - Vợ nói.
Ngô Đậu Phụ mang cuốc ra dốc núi phía sau chôn. Đang đào hố, bỗng có người tới hỏi.
- Ông chôn gì thế?
Lão Ngô kinh hoàng nghe thấy tiếng gã đồ tể họ Yến. Gã đồ tể họ Yến xuống làng mua lợn, thấy đã khuya, muốn đi lối tắt nên rẽ qua đây. Nghe thấy tiếng cuốc, đến xin lửa hút thuốc, trông thấy đầu người bèn hỏi:
- Ông giết người ở đâu, rồi lại mang ra đây chôn?
Lão Ngô bảo rằng mình thấy nó ở bếp. Gã đồ tể Yến không tin dọa sẽ nói với mọi người. Không còn cách nào, lão Ngô hứa cho hai quan tiền. Gã đồ tể họ Yến bằng lòng. Lão Ngô đào hố xong gọi lão Yến đến chôn. Lão Ngô bổ một nhát cuốc, lão Yến rơi xuống hố, rồi bổ thêm một nhát nữa, thế là lão Yến đi đời. Rồi chôn chiếc đầu ấy cùng với xác lão Yến.
Sáng hôm sau, nghe người ta nói, trước miếu thổ thần bên cầu Bình An có một người bị giết, nhưng không thấy đầu. Ngô Đậu Phụ biết, nhưng không dám hé răng.
Chuyện ấy đến tai bố mẹ Quách Ngạn Trân, vì chưa thấy con về nên rất hốt hoảng, họ tức tốc tới xem. Thấy quần áo, giày tất giống con mình, lão Quách nói:
- Cánh tay con tôi có ba chiếc nốt ruồi.
Vén tay áo lên xem, có ba nốt ruồi thật.
- Chiếc quần trắng con tôi mặc, - bà Quách nói, - hôm trước tôi vá cho nó mụn vải xanh.
Kéo áo lên xem quả nhiên đúng như thế.
Cả hai ông bà già đều nói:
- Đúng là con tôi rồi, không biết kẻ nào giết nó, ngay cả đầu cũng bị chúng cắt đi. Thật là đau đớn thay!
Thế rồi họ ôm lấy thi thể con mà khóc rằng:
Cha: - Thấy con, ta như đứt từng khúc ruột.
Mẹ: - Tay sờ vào thi thể con gào lên thảm thiết.
Cha: - Con tôi không còn đầu, thật là thê thảm.
Mẹ: - Thương thay máu chảy ướt đầm cả áo.
Cha: - Không biết vì sao mà nó giết con tôi.
Mẹ: - Hằng ngày tôi chẳng tiếc công tiếc sức vì nó.
Cha: - Cha nuôi con khổ lắm con ơi.
Mẹ: - Tôi vất vả gian truân nuôi nó từ tấm bé.
Cha: - Nó buôn bán có tài và ngay thẳng công bằng.
Mẹ: - Sáng nó đi, tối nó về mà chẳng hề kêu ca phàn nàn gì.
Cha: - Tối hôm kia nó còn mua về một cân rưỡi thịt.
Mẹ: - Và còn mua thuốc cho mẹ hút.
Cha: - Tôi chỉ nói với nó là phải giữ tròn đạo hiếu.
Mẹ: - Tôi về già ai chôn cất.
Cha: - Hôm qua nó đi chợ.
Mẹ: - Trời tối mịt mà không thấy về.
Cha: - Sáng nay nghe thấy người ta nói.
Mẹ: - Bên cầu Bình An xảy ra tai họa.
Cha: - Cả nhà hốt hoảng tới xem.
Mẹ: - Mới biết con mình đã chết rồi.
Cha: - Thương thay! Tôi đã sáu mươi tuổi rồi.
Mẹ: - Đầu đã bạc trắng phải chôn con tóc còn xanh.
Cha: - Vợ nó còn trẻ và xinh đẹp.
Mẹ: - Lười nhác, chỉ thích mặc đẹp ăn ngon.
Cha: - Gối lạnh chăn đơn chẳng người làm bạn.
Mẹ: - Sợ rằng nó ôm đàn sang thuyền khác.
Cha: - Nhìn con, chẳng muốn rời xa nó.
Mẹ: - Gọi con chẳng thấy thưa, nước mắt lưng tròng.
Cha: - Con có linh thiêng đừng đi vội.
Mẹ: - Hãy mau mau đến cửa quan, giải nỗi oan này.
Hai người khóc lóc, rồi đến báo cho lí trưởng. Lí trưởng nói: - Đúng là con ông bà, thì phải bàn bạc xem kiện thế nào?
Người làm công nói:
- Đêm qua Lã Quang Minh người đầy máu me, chúng tôi hỏi thì hắn nói hàm hồ, hơn nữa hắn lại mang chiếc cán cuốc còn dính máu, hắn không giết thì còn ai nữa!? - Lý trưởng một mặt sai người lên báo quan, một mặt cử người đi bắt Lã Quang Minh.
Lã Quang Minh sống độc thân, nhà nghèo, chuyên đi cày thuê cuốc mướn, đến bốn mươi tuổi cũng kiếm được mấy chục quan tiền cho vay. Mỗi quan tiền mỗi phiên chợ cũng kiếm được năm sáu mươi đồng. Tới nay được hơn một trăm quan, cho người ở dốc Đại Thụ vay. Lão nghiện rượu, nên phiên chợ nào cũng thế, chưa say bí tỉ thì hắn chưa thỏa mãn. Khi uống say là hắn đánh chửi người khác. Ai bán rượu cũng phải hỏi tới ba bốn lần hắn mới trả. Lãi của hắn tháng nào đòi tháng ấy. Sổ nợ lão ghi rõ ràng làm hai bản.
Hôm ấy đi chợ, hắn uống say bét nhè, thấy cán cuốc rẻ, hắn mua một chiếc. Trời tối mịt mới về. Đi qua cầu Bình An hắn vấp phải một vật, ngã bổ chửng xuống đất, rồi lổm ngổm bò dậy. Đi được một quãng, gặp người làm công của Quách Ngạn Trân. Về nhà đèn cũng chẳng buồn thắp, hắn mò vào giường ngủ ngay, mãi tới lúc mặt trời lên tới ba quân sào hắn vẫn chưa dậy. Lý trưởng dẫn người vào tận phòng, lấy khóa, khóa tay hắn lại. Lã Quang Minh nói:
- Đồ con lợn, sao vô cớ đến đây xích tay, bắt ta đi!
Mọi người nói:
- Mày là thằng ác độc, giết người còn giả vờ giả vịt.
- Tôi giết người ở đâu? - Lã Quang Minh nói. - Ai nhìn thấy?
- Mày không giết người à! Mày hãy mở mắt mà nhìn mày xem! - Mọi người nói.
Quang Minh nhìn thấy người mình đầy máu, vô cùng hoảng sợ. Lúc này gã đã tỉnh rượu, mới nhớ lại sự việc đêm qua. Người ta lôi gã tới cầu Bình An.
Vùng này cách thành hơn ba mươi dặm. Quan thấy vụ án mất đầu, lập tức xuống hiện trường khám nghiệm, đến chiều thì tới nơi. Người khám nghiệm báo rằng trên người có sáu nhát dao, bị một nhát đâm vào ngực, sau khi chết mới cắt đầu. Quan hỏi thân nhân người bị giết:
- Có đúng là con người không?
- Đúng là con con, - lão Quách nói, - dấu vết vẫn còn nguyên.
Quan lệnh cho thân nhân, lý trưởng, hàng xóm và hung thủ tới huyện để xét hỏi. Cho phép khâm liệm xác chết, chôn cạnh miếu Thổ thần.
Trở về huyện, ngay đêm ấy quan lên công đường xét hỏi Lã Quang Minh:
- Vì sao ngươi giết Quách Ngạn Trân mà ngươi vẫn không khai thực?
- Thưa ngài! - Lã Quang Minh quỳ xuống, nước mắt như mưa nói. - Con tuy là nông dân ngu muội, song con cũng biết thế nào là công lý, không hề làm điều ác. Hôm qua con đi chợ mua cán cuốc, rất tiếc rằng con đã uống thêm vài chén với bạn bè. Ra khỏi chợ thì trời tối đen như mục, con đi không vững. Về tới cầu Bình An, con vấp phải một vật, ngã dụi xuống đất. Song con thấy trơn nhẫy, vừa to vừa cứng, say xỉn không biết đó là người chết. Đi được một đoạn thì thấy người nhà của Ngạn Trân tới hỏi, vì sao trên người ông dính đầy máu. Lúc ấy con không nghe rõ, về nhà đi ngủ ngay, tới khi mặt trời lên tới ba quân sào mới dậy. Bỗng thấy có người đến trói con, bảo rằng con giết Ngạn Trân ở cầu Bình An. Họ khóa tay con lôi tới đây và đổ riệt cho con. Bẩm ngài đó là sự thực, xin ngài gia ân thả con về.
- Thằng này liều lĩnh thật, làm sao mà chối cãi được. Đúng là lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt! Ngươi hãy khai mau, để khỏi phải tra tấn.
- Bẩm ngài. Người ta thường nói, người làm quan như gương sáng, làm sao mà ngài không xét thực tình. Đã giết người thì phải cao chạy xa bay, chứ sao lại ngủ trên giường chờ người đến bắt.
- Đồ chó má, giết người không chạy là vì oan hồn không cho chạy. Ta đã gặng hỏi ngươi, ngươi không khai, quân bay đâu hãy đánh nó tám mươi gậy cho ta.
- Trời ơi! Đánh hai chân tôi tóe máu muốn lên trời cũng không được, chui xuống đất cũng không xong. Họ căn cứ vào đâu mà bảo tôi giết người? Không thể nghe lời nói vu vơ mà hãm hại người tốt.
- Vết máu trên người mày không phải chứng cứ thì là gì? - Quan huyện hỏi.
- Trời ơi? Bẩm quan lớn. Đấy là con vấp phải xác chết nên máu dính vào. Tại sao ngài đẩy người vào chỗ chết!
- Thằng chó má vẫn còn già mồm cãi. Bay đâu, hãy kẹp nó cho ta.
- Trời ơi! Kẹp tôi đến vãi cứt vãi đái, chết ngất đi, sợ khai bừa ra thì toi mạng, mà không khai thì phải chịu tra tấn thê thảm thế này.
- Để xem mày có phải khai không!
- Đấy là do tôi uống rượu mà bị báo ứng, bị đánh đập, bị cùm kẹp, mình còn trách ai. Xin ngài tháo kẹp ra để con khai, Quách Ngạn Trân là do con giết.
- Đầu người vứt ở đâu?
- Thưa ngài! Tối qua con mang đầu chạy, tâm thần hoảng loạn, không biết rơi chỗ nào, cứ tìm kỹ sẽ thấy.
Quang Minh khai xong, bị giam vào nhà tù, rồi bị bọn tù đánh hôi.
Hôm sau, quan lại lệnh cho sai nha giải Lã Quang Minh đi tìm đầu. Hai chân Quang Minh nát bét, không đi được, xin ngồi kiệu. Tới cầu Bình An tìm, nhưng chẳng thấy đầu đâu, khóc lóc trở về nhà tù. Bọn phạm nhân thấy Quang Minh cho vay nặng lãi, là người có tiền, nên suốt đêm chúng đánh cho Quang Minh sống dở chết dở. Quang Minh không chịu nổi đành phải bỏ ra một trăm quan tiền, lại không có người thân nên viết giấy bảo người vay đưa cho chúng, mới được tha chết. Ngày hôm sau, quan hỏi không thấy đầu, lại đánh một ngàn roi, rồi lại khiêng vào nhà giam. Phải năm sáu hôm sau, vừa gượng dậy, quan đã đợi đi tìm đầu, trở về huyện lại bị đánh năm trăm roi. Thế rồi cứ dăm ba ngày lại lôi ra đánh, đến nỗi hai chân Quang Minh lòi cả xương, người gầy như que củi, rất uất hận. Quang Minh khóc suốt ngày. Một hôm tới cầu Bình An tìm đầu, tưởng tượng lại những ngày qua, ông vừa đi vừa khóc:
- Tìm đầu người, kêu trời không thấy, nghẹn ngào ấm ức không sao nói nên lời. Xưa nay Lã Quang Minh không có tội tình gì chẳng bao giờ đốt nhà, giết người cướp của, dối trời lừa người, chỉ luôn luôn muốn sống yên lành, trong sạch, tai qua nạn khỏi, quanh năm lãi mẹ đẻ lãi con. Trời ơi! Ai xui khiến tôi gặp vụ án mạng, chịu liên lụy; tiền của mất hết, bỏ bê việc nhà. Quan đòi phải tìm ra đầu người mới kết án, đánh tôi đến nỗi nát da máu ứa, đau thấu ruột gan. Trời ơi! Đến nay, kẻ giết người không biết ở đâu, chiếc đầu người không biết ở đâu. Ban ngày giải tôi đi tìm, tiền thuê kiệu đã mất hai quan ba. Đêm về giam trong sân nhà ngục, suốt đêm sương gió không sao ngủ được. Chấy rận, rệp bâu kín đặc, cắn nát thịt da thành ung nhọt, máu tứa ra. Trời ơi, quan thật là dã man, cứ năm ba ngày lại tra khảo một lần. Hai chân rách tướp, mà vẫn còn đánh hàng ngàn roi. Đau đến đứt ruột nát gan, chết đi sống lại. Đây quả thật là tai bay vạ gió, bỗng dưng trời giáng họa. Trời ơi! Có lẽ hằng ngày ta uống quá nhiều rượu, uống đến điên cuồng. Khi say rượu ta cứ ngất nga ngất ngưỡng gây gổ với mọi người. Ta cho vay nặng lãi hết tháng không giao tiền, lôi cả ông bà tổ tiên người ta ra chửi. Trời ơi! Ta thề từ nay không đi uống rượu. Không có việc gì không đi chợ, ta không cho vay nặng lãi nữa. Nếu còn sai phạm, thì ta chết đi làm con chó. Ta khuyên người đời đừng ai nát rượu, đừng ai điên khùng, hãy trông gương ta, đừng nghiện ngập, thì mới sống bình yên, tai qua nạn khỏi.
Sai nha thấy Quang Minh khóc lóc, chửi:
- Về vụ án của ngươi mà chúng tao phải đi rách nát những hai đôi giầy, còn khóc gì nữa. Hôm nay mà không tìm thấy đầu thì chúng tao giao mày cho quan lớn đánh chết tươi.
Lúc ấy Ngô Đậu Phụ đang đứng trước cửa nhà, thấy sai nha chửi, hắn tức cười bèn nói:
- Vô duyên vô cớ thì tìm đâu cho thấy. Chiếc đầu người ấy đến Thánh cũng không tìm được.
Sai nha nói:
- Thế thì nhất định người biết rồi.
Ngô Đậu Phụ lập tức im bặt, thấy mình lỡ lời, bèn nói:
- Chẳng qua ta cũng chỉ nói thế thôi, chứ ta có biết gì đâu!
Sai nha lập tức khóa tay Ngô Đậu Phụ lôi đến dốc Đại Thụ. Vốn là sai nha định vòi tiền, sai người nói với Ngô Đậu Phụ đưa cho bốn quan tiền họ sẽ tha. Ai ngờ một xu gã cũng không đưa, gã nói:
- Họ vô cớ xích bừa, đưa ta lên quan huyện, đánh ta một phát đứt làm đôi ta mới chịu nghe.
Sai nha bèn lôi gã đi, giao cho quan. Quan hỏi:
- Người biết đầu người ở đâu không?
- Sai nha muốn vòi tiền, nên đã vô cớ xích tay con, con không đưa tiền, họ bèn bảo con biết đầu người.
- Hắn nói là chiếc đầu người ấy thánh cũng chẳng tìm ra. - Sai nha nói. - Chúng con hỏi, hắn chỉ cười mà không nói. Xin ngài xét cho, nếu hắn không biết, thì sao hắn lại cười!
- Đúng rồi! - Quan nói. - Không tra tấn thì làm sao mà hắn chịu nhận.
Thế rồi ông lệnh mang kẹp tới kẹp. Ngô Đậu Phụ lưng đầm đìa mồ hôi nói:
- Thưa ngài, ngài hãy tháo kẹp ra, con xin khai.
Ngô Đậu Phụ khai hết chuyện việc nhặt được chiếc đầu người tối hôm ấy. Quan lệnh cho người đi đào đầu người. Bới đất ra thì thấy bên dưới chiếc đầu người có một xác chết. Họ quay về bẩm quan. Quan lập tức cho khám nghiệm, thấy người ấy chết là do cuốc bổ vào người. Quan hỏi Ngô Đậu Phụ, hắn bảo không biết. Quan lại lệnh tiếp tục tra khảo. Hắn mới khai rằng, gã đồ tể Yến thấy hắn chôn đầu người, đòi tiền rồi bị hắn đánh chết. Quan nói:
- Đồ chó má! Sao mày độc ác thế! Thấy có người biết sao không làm đơn báo quan, cớ sao lại giết người như thế. Vậy thì Quách Ngạn Trân là do thằng chó đểu này giết chết rồi.
- Thưa ngài, thật oan cho con quá. - Ngô Đậu Phụ nói. - Quả thực chiếc đầu người này con thấy ở trong bếp, ngài không tin, xin ngài hãy tới nhà con sẽ rõ.
Quan lập tức tới nhà, thấy trên nóc nhà quả thật có một lỗ thúng, nồi cũng thấy thủng một lỗ to, lại thấy đầu người bị mảnh nồi vỡ cào rách toạc.
Quan nói:
- Căn cứ vào hiện trường thì đúng là Lã Quang Minh vứt, vì tâm thần hoảng loạn, quên mất chỗ, bị người đem chôn, nên tìm không thấy. Thằng chó chết này đã giết đổ tể Yến, cũng phải đền mạng.
Thế rồi ông lệnh cho bố mẹ Quách Ngạn Trân đưa đầu về chôn cùng một chỗ với bạn mình. Lại lệnh cho nhà họ Yến mang xác về thôn. Lý trưởng nói:
- Yến sống độc thân, không có người thân thích.

Quan bảo, làng ấy phải chôn, đưa Ngô Đậu Phụ về huyện giam, rồi giải lên cấp trên xét hỏi. Tới cấp trên Ngô Đậu Phụ cũng cứ khai như thế, còn Lã Quang Minh cứ một mực kêu oan, thế rồi quan trên lại cho giải về huyện.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Sat Apr 05, 2014 7:24 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 11 (B)
Lúc ấy quan huyện cũ mất chức, quan mới tới nhiệm sở là Bạch Lương Ngọc, người huyện Tử Đồng, Tứ Xuyên, xuất thân từ tiến sĩ, nổi tiếng thanh liêm. Lã Quang Minh đệ đơn kêu oan. Bạch Công lấy bản án ra xem, lại xem vết máu trên áo, thấy máu dính đầy, lật xem bên trong, nhiều chỗ ngấm vào trong, còn một số chỗ lại không thấy ngấm vào, tự nhiên ông đập tay xuống bàn nói: "Oan rồi! Nếu người này giết, thì máu phải ngấm vào trong, nhưng tại sao máu lại động lại thành vảy không thấm vào? Đúng là vấp vào xác chết rồi ngã, máu dây vào áo. Vậy thì kẻ nào giết người. Ta phải nghĩ cách thế nào đây?". Nghĩ ngợi mãi, ông mới lệnh cho các bộ phận giúp việc tới cầu Bình An dựng rạp.
Hôm sau, tới cầu Bình An, đã thấy lý trưởng chuẩn bị sẵn cuốc xẻng đứng chờ. Quan nói:
- Không cần phải mở quan tài, chỉ cần chiếc đầu thôi, còn khám nghiệm gì nữa. - Rồi ông hỏi. - Người bị giết chỗ nào?
- Thưa ngài bị giết ở trước miếu Thổ thần, tại đầu cầu. - Lý trưởng nói.
Quan xem xét lại một lần nữa, rồi trở về rạp ngồi, bảo sai nha:
- Đưa Thổ thần lại đây ta xét hỏi.
Mọi người cười rộ lên, nói:
- Thổ thần làm bằng đất, thì tra hỏi làm sao được?
Họ túm đông túm đỏ, xem quan tra hỏi Thổ thần.
Sai nha đành phải mở cửa miếu, khiêng Thổ thần tới đặt trước bàn. Quan hỏi:
- Thổ thần, ngươi to gan thật, ngươi là tai mắt của Thượng đế được nhân dân thờ cúng, khuyến thiện trùng ác, ban phúc giáng họa, cai quản một vùng, bảo vệ nhân dân, tại sao nó giết người, cắt đầu người trước mặt ngươi, mà ngươi không biết. Kẻ nào giết người, hiện nó trốn ở đâu, phải khai thực cho quan huyện biết.
- Thưa ngài, Thổ địa không trả lời. - Sai nha bẩm.
- Ngươi cậy giữ chức quan to, ngạo mạn đối với quan huyện ư? - Quan huyện đùng đùng quát thét. - Quân bây đâu, vả vào mồm Thổ thần bốn mươi cái cho ta.
Thấy thế sai nhân khúc khích cười, quan giận dữ quát:
- Ngươi là đồ chó, cười ta bất tài ư? Hãy quất hắn tám chục roi.
Bọn tay chân quất viên sai nha ấy tám chục roi, rồi đặt ngửa Thổ thần xuống đất, lấy bàn vả bằng da vả bôm bốp vào mặt bốn chục chiếc. Quan nói:
- Ta làm quan ở đây, phải quản dưới sâu ba thước đất, ngươi to gan thật, dám ngạo mạn với ta, hãy khai ra ngay hung thủ, nếu không ta sẽ đánh ngươi tan xác.
Sai nha nói:
- Thần không mở miệng.
Quan liền đập bàn để uy hiếp, rồi hầm hầm đứng dậy nói:
- Gã Thổ thần này quả thực vẫn còn ngoan cố, đánh tiếp tám chục cái nữa!
Sai nha lấy bàn vả giơ thẳng cánh vả thật mạnh, mới đánh được mười chiếc, bỗng nhiên thấy một luồng gió quạt thốc vào trong rạp, xoáy mấy vòng, rồi thổi tạt theo hướng bắc. Quan hỏi:
- Đây là gió gì?
Có người thưa rằng:
- Bây giờ đúng giờ Ngọ, gió nam nổi lên, đó là chính gió nam (chính nam phong, chữ "chính" đồng âm với chữ "trịnh").
Quan lệnh đưa Thổ thần về miếu, sau đó ra lệnh cho sai nha đi bắt Trịnh Nam Phong. Sai nha nói:
- Thưa ngài, gió vô hình vô ảnh, văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình, thì bắt làm sao được?
- Các ngươi ngu như lợn, - quan nói, - Ăn bổng lộc của vua, phải báo đền ơn vua. Các ngươi đã làm sai nha cho ta, thì phải nghe ta sai bảo, các người không đi ư? Hạn cho các ngươi nửa tháng phải về bẩm với ta. Rồi ông vứt lệnh xuống đất lên kiệu về nha môn. Mọi người đều nói:
- Quan quả là người hồ đồ, gió thì bắt làm sao được. Nếu bắt được, thì chúng ta đều phải đi bắt gió.
Sai nha cầm lệnh, rất uất hận, rồi nghĩ: "Đây là quan thấy Thổ thần không nói, cho nên làm ra vẻ như thế để che mắt mọi người, thoát thân cho dễ", và cũng chẳng thèm để ý tới nửa.
Nửa tháng sau quan hỏi sai nha:
- Hôm trước ta lệnh cho các người đi bắt Trịnh Nam Phong, các ngươi đã đi bắt chưa?
- Quả thực chúng con chưa đi. - Sai nha nói.
Quan đùng đùng nổi giận, quát:
- Đồ chó má, tại sao các ngươi lại bê trễ việc công.
Quan lập tức đánh cho mỗi người một ngàn roi, hạn cho nửa tháng nữa, nếu không bắt được sẽ bỏ tù.
Hai người sai nha vô cùng kinh hãi, bàn với nhau rằng:
- Đất này ta không sống nổi, ngài hà khắc như thế thì ta phải chạy trốn thật xa, may ra mới thoát chết. Rồi họ làm một bài theo điệu Liên hoa náo, cầm hai tờ lệnh, đi khắp mọi nơi đóng vai người hát rong để khuyên người đời. Một hôm, họ tới bãi Ngũ Lý, hát rong trên đường để khuyên người ta đừng dâm đãng:
"Trên đời bể khổ rộng mênh mông. Những kẻ dâm đãng bao giờ cũng phải đền tội. Có kẻ phải chết sớm, có kẻ vì thế mà đói rét. Có kẻ bán hết ruộng vườn nhà cửa, cũng có kẻ ngồi tù. Kẻ giàu có mất hết nhà cao cửa rộng, kẻ đỗ đạt bảng vàng bia đá thì mất hết cả thanh danh. Cũng có kẻ vì thế chết tuyệt tự không người thờ cúng, kỹ nữ bôi nhọ thanh danh của tổ tông. Lộc Cứ đang là quan hiển đạt bị mất chức, Lý Đăng vì dâm mà mất chức trạng nguyên. Tịch Giai xem tướng phải đói rét. Đừng bàn tới chuyển phòng the sẽ tăng tuổi thọ. Đường Khanh ra làm quan phạm tội dâm đãng. Cha mơ thấy di họa đến cháu con. Xem ra món nợ ấy, nhất định phải trả. Xa thì con cháu phải vào nhà chứa, gần thì vợ ngủ với trai. Người ta bảo cái tội chơi gái là tội tày đình. Một là làm bại hoại cả thanh danh, hai là bệnh quái ác sẽ nhiễm ngay vào bản thân mình, ba là con cháu sẽ bắt chước mình, bốn là mất tiền bạc. Khi chết đi phải xuống điện Diêm Vương, ôm cột đồng nung đỏ, thịt xương cháy thành than. Đàn ông thì biến thành lợn dẽo, đàn bà thì biến thành lợn sề để đền tội. Tại sao người ta sống trên đời không tính toán, chỉ tặc lưỡi vui sướng chốc lát. Đời trước tu nhân tích đức, mà phút chốc đổ xuống sông xuống biển, ân đức của tổ tiên để lại nay mất sạch sành sanh. Đã mắc phải thì đừng tái phạm, chưa mắc phải thì phải giữ mình. Nay ta khuyên mọi người hãy quay đầu lại. Đánh mất mình thì muôn đời muôn kiếp gặp tai nạn. Hỡi các bậc chính nhân quân tử, hãy nhìn xa trông rộng, hãy bố thí cho vài đồng. Được tiền lộ phí đi điều tra vụ án. Kính chúc các chủ hiệu buôn, tiền vào như nước chảy".
Đang hát thì thấy một người ở cửa hàng đối diện nói:
- Các ngươi đi ăn xin thì cứ đi mà xin, việc gì phải nói lung tung như thế. Nếu gian dâm mà có tội, thì trên đời ai dám gian dâm!
- Tại sao ngươi bảo không phải tội? - Hai sai nha nói. - Ngươi xem từ xưa tới nay, những kẻ dâm đãng đều bị báo ứng.
- Các ngươi nói thối lắm! - Người ấy nói. - Từ ngày cha sinh mẹ đẻ đến nay, ta hoành hành khắp thiên hạ, thấy sắc là thèm, thấy gái là chơi, ta vẫn cứ sống trên cõi đời này mà chẳng thấy báo với bổ gì hết. Các ngươi chỉ là đồ bố láo, đừng nói bậy với ta.
- Đây là chúng tôi tự khuyên mình, - hai sai nha nói, - có liên quan gì đến ông, nếu không lọt tai thì ông đừng nghe nữa.
Rồi người ấy nổi khùng, bước ra khỏi quầy hàng, tống luôn. Một người ở cửa hàng bên vội kéo ra, nói:
- Anh Nam Phong, họ là ăn mày, cần gì anh phải bắt họ nhận lỗi.
Thế rồi anh ta quay vào lấy trong tủ ra cho mấy đồng đưa cho người ăn mày rồi đuổi đi. Người hàng xóm kéo anh ta vào nhà. Sai nha rất phẫn uất, hỏi những người xung quanh:
- Người ấy họ gì? Sao lại tàn ác như thế!
- Anh ta họ Trịnh, - người bên cạnh nói. - Tên là Nam Phong, mới dọn về đây bán thuốc hồi đầu năm. Đó là một tên anh chị nức tiếng một thời.
Hai sai nha bàn nhau rằng: "Ông lớn lệnh cho ta đi bắt Trịnh Nam Phong, nhất định là hắn rồi. Sao chúng ta không bắt hắn giao cho quan lớn".
Quá trưa, hai sai nha thấy Nam Phong đang nói chuyện trong cửa hàng, liền bức vào lấy xích khóa tay. Nam Phong định bỏ đi, một người rút dao ra đánh cho hắn mấy cái sống dao. Nam Phong kêu lên:
- Cướp cướp, đánh cướp làng nước ơi!
Năm sáu người gào thét, xông tới định đánh. Sai nha nói rõ nguyên do, khách hàng cũng đến xem giấy, thấy đúng, mới bảo mọi người dừng tay, để cho sai nha bắt đi. Hai sai nha về huyện bẩm với quan.
Quan lập tức tới công đường hỏi:
- Trịnh Nam Phong, tại sao ngươi giết Quách Ngạn Trân tại cầu Bình An, tới giờ ngươi vẫn không khai thực?
- Thưa ngài - Trịnh Nam Phong nói. - Con sống ở bãi Ngũ Lý, chẳng biết cầu Bình An, và cũng chẳng biết Quách Ngạn Trân là ai thì làm sao con biết chuyện giết người được?
- Ngươi giết Quách Ngạn Trân, - quan nói, - tại cầu Bình An, rồi cắt đầu vứt vào nhà Ngô Đậu Phụ, sao lại bảo là không biết?
- Thưa ngài thật oan cho con quá. - Nam Phong nói. - Con cách đó rất xa, ngay cả việc ấy con cũng chẳng nghe tin, thì làm sao mà biết được.
Trong số sai nhân cũng có người biết hắn, bẩm rằng:
- Chỗ hắn ở trước đây rất gần Quách Ngạn Trân, tới dốc Đại thụ cũng phải qua cầu Bình An.
- Thế thì đúng rồi! - Quan nói. - Rõ ràng là mày, thế mà vẫn còn chối cãi. Các người đâu đánh cho nó tám mươi gậy.
Nam Phong cứ kêu oan, quan lệnh cho sai nha kẹp hắn lại Nam Phong cứng họng, song vẫn không khai, quan lập tức rời khỏi công đường.
Hôm sau đang còn đêm, quan gọi xét hỏi:
- Trịnh Nam Phong, Quách Ngạn Trân đích thực là ngươi giết. Ngươi còn chối quanh làm gì? Ta khuyên ngươi hãy khai ra mau, ta sẽ tha tội.
- Bẩm quan lớn, - Nam Phong nói, - quan lớn cứ một mực bảo con giết, vậy thì ai đã nhìn thấy? Ai là người cáo giác? Nếu cứ hỏi như thế, thì con cũng có thể nói, chính quan lớn là người giết. Nếu quan lớn chịu nhận thì con mới khai.
Quan đùng đùng nổi giận, nói:
- Ta hỏi ngươi tử tế, mà ngươi lại nói bậy, quân bay đâu, đánh cho nó bốn trăm gậy.
Vừa đánh xong, bỗng thấy một luồng gió ào ào thổi tới, đèn phụt tắt, bên ngoài có tiếng cười sằng sặc. Người trong công đường chạy tán loạn. Quan hỏi có việc gì, chỉ thấy một người xách chiếc đầu, tóm chặt lấy Trịnh Nam Phong, vừa kêu vừa khóc, quan sợ hãi, cuống cuồng chui xuống gầm bàn. Lúc ấy Trịnh Nam Phong sợ run như cầy sấy, lại thấy trong công trường không một bóng người, khẽ nói:
- Ngươi đừng bắt ta, đợi vụ án này kết thúc, ta sẽ mở đàn tràng bốn mươi chín ngày, siêu sinh tịnh độ cho oan hồn ngươi.
Quan đứng phắt dậy nói:
- Ngươi nói gì, thằng chó má này to gan thật, thế mà mày còn già mồm, oan hồn đòi mạng mày, mà mày vẫn không khai ư?
Nam Phong thấy không thể thoát được, hắn run như cái giẽ, bèn khai thực từ đầu:
- Bẩm quan lớn, con xin khai đầy đủ. Thưa ngài, đời con là một thằng khốn nạn, chuyên cưỡi ngựa sử dụng đại đao. Kết bè đảng với những tên tàn ác như chó sói, hằng ngày thường lui tới nhà chứa, lừa dối gây tai họa khắp mọi nơi. Thấy đàn bà bèn nghĩ cách chiếm đoạt, tung tiền ra để mua chuộc, không được thì tìm cách đánh lừa. Hôm ấy, con đứng ở dốc núi, thấy một người đàn bà rất đẹp, tuổi trạc hai nhăm hai sáu, tuy áo vải nhưng rất duyên dáng. Con vội đuổi theo, thì đó là con dâu họ Quách. Con hỏi cô đi đâu, cô nói rằng cô đi lấy chồng, mời cô đến tiếp khách. Con cho cô mượn chiếc trâm cài đầu, cô im lặng không nói, rồi cầm lấy cài lên đầu, trông cô rạng rỡ hẳn lên. Thế rồi cô bỏ đi, bỗng thấy cô đánh rơi một chiếc túi, mà không thấy cô quay lại. Con lặng lẽ nhặt lấy giắt vào người. Người đàn bà về nhà thấy mất túi, nước mắt lưng tròng, xin lại thì sợ lỗ vốn, và sẽ bị chồng đánh. Thế rồi cô ấy quay lại tìm nhưng không thấy, sẽ phải treo cổ mà chết. Lúc ấy con mới đến nói thực với cô, đòi cô lấy con thì con mới trả. Hẹn gặp cô lần thứ hai, cô nói rằng chồng cô rất ngang ngược, nếu chồng biết được sẽ đánh cô chết. Nghe thấy cô ấy nói thế con đùng đùng nổi giận, trâm cài đầu giá hơn mười lạng bạc, nếu vào nhà chứa thì sẽ được ngủ nhiều đêm liền tới sáng, hãy tới dốc túi trả nợ cho ta. Trên thế gian này làm gì có thuận lợi như thế. Cô ta nói rằng chồng cô đang ốm, thôi thì hãy chờ chồng cô chết đã. Khi ấy con và cô ấy thường đi lại với nhau và cũng chẳng biết sợ hãi gì. Con nghe thấy cô nói bèn nghĩ bừa rằng, nếu anh ta không chết thì sẽ lỡ mất cơ hội tốt. Quách Ngạn Trân đi buôn, hằng ngày tối mịt mới về. Con cầm dao chờ ở cầu Bình An, tối ấy con đã kết liễu đời anh ta. Cắt đầu thì sẽ không biết người chết là ai. Xác chết ấy không có người thân thì khó kết án. Trước đây con đã ghẹo vợ Ngô Đậu Phụ, bị anh ta dùng dây trói và đánh cho một trận nên thân. Nay nhân cơ hội, bèn vứt đầu vào nhà anh ta, rồi lẻn về nhà trốn. Sau đó nghe thấy Lã Quang Minh mắc tội oan, con rất mừng. Nào có ngờ đâu quan lớn biết được, lệnh cho sai nha đến bắt con. Bị tra khảo, con vô cùng đau đớn, khiến con chết đi sống lại. Đêm ấy, oan hồn đã hiện hình, và nghĩ rằng sẽ không sao thoát được lưới trời, không cách nào khác con đành khai ra thực. Mong ngài tha cho con.
Cung khai xong, quan hạ lệnh giam vào ngục.
Từ khi Trịnh Nam Phong giết Quách Ngạn Trân, đêm nào hắn cũng mơ thấy Quách Ngạn Trân xách đầu đòi đền mạng. Không còn cách nào hắn bèn dọn nhà đến bãi Ngũ Lý. Tên này đã quen thói hung ác, oan hồn không chịu buông tha, cho nên buộc hắn phải lộ họ tên, rồi bị xích tay giải lên huyện. Đến khi oan hồn hiện hình hắn mới chịu khai.
 
Các bạn thân mến, làm gì có ma hiện hình, mà dù có đi chăng nữa thì cũng là do sợ hãi hoảng hốt mà thôi. Con ma oan nghiệt này là do quan lớn thấy Nam Phong không chịu khai, nên ông đã vờ làm ra thế để dọa hắn. Nào ngờ Nam Phong giết người nên bụng lát dạ, thấy oan hồn nên hắn hoảng sợ đã khai ra sự thực. Lập tức quan cho giam Nam Phong vào nhà giam, lại cho người bắt Diễm Cô tới. Lúc đầu thị không nhận, sau quan quát mắng, lại dùng hình phạt, Diễm Cô sợ quá phải khai thực từ đầu. Quan phán:
- Con này không giữ phép nhà, bỏ nhà đi lung tung, chỉ thích trang điểm, tỏ ra ta đẹp hơn người. Hoàn toàn không biết rằng làm dáng như thế là khiêu dâm, đến nỗi hủy hoại cả danh tiết. Nói một câu mà khiến cho chồng chết. Tội ngươi không thể chối cãi được. Thế rồi quan cho giam ngay Diễm Cô vào ngục, tâu trình vụ án lên cấp trên.
Cấp trên sức giấy về huyện, tha cho Lã Quang Minh, sau đó đao phủ tới, đưa Ngô Đậu Phụ, Trịnh Nam Phong, Diễm Cô tới pháp trường. Ngô Đậu Phụ bị treo cổ; Trịnh Nam Phong bị chém đầu, xác vứt ngoài đồng hoang, đầu bị treo trước cổng thành cho mọi người biết; Diễm Cô bị treo cổ. Trước khi chết, cha mẹ thị là Lạc Niên Phong và Kim thị trông thấy đã hối hận vì trước đây quá nuông chiều, không khuyên răn, dạy bảo con để đến nỗi con phải chết thê thảm. Họ vô cùng đau đớn, mang xác con về an táng. Vợ chồng Niên Phong đau thương quá rồi chết. Sau khi Trịnh Nam Phong chết, vợ hắn bỏ tiền ra mua dâm rồi theo trai chạy trốn. Tên này được tiền rồi bỏ mặc giữa đường, thị đói rét quá rồi chết. Con thị bị người ta nhặt được bán cho nhà chứa nuôi lớn để sau này tiếp khách làng chơi, và rất thạo nghề! Vợ Ngô Đậu Phụ tái giá. Lã Quang Minh trở về, bán hết nhà cửa trả nợ, trở thành kẻ nghèo rớt mồng tơi, phải đi ăn mày. Lão Quách đưa con về quê chôn, nuôi đứa con nhỏ thành người, sau này cuộc sống cũng dư dật.

Xem ra thì, trong thế gian này rượu chè, sắc dục, tiền của, và sự tức giận làm hại người ta không ít. Song thiếu nó cũng không được. Bởi thế Thánh nhân dạy người ta không ngoài chữ "Trung", "Trung" có nghĩa là không thiên lệch. Rượu, sắc đẹp, tiền tài và sự tức giận, phải đạt tới chữ "trung" thì con người sẽ có lợi, quá chữ "trung" thì sẽ có hại. Chúng ta thấy Lã Quang Minh nếu không ham rượu, thì sao mắc oan được; Quách Ngạn Trân trái lời cha, dâm dục, thách đố cha, mặc cho vợ ăn diện, bảo mẹ là lắm mồm để đến nỗi đầu lìa khỏi cổ, đầu một nơi người một nẻo. Trịnh Nam Phong tham sắc, kết cục vợ chạy trốn, con vào nhà chứa, phải phơi thây nơi đồng hoang; gã đồ tể Yến thấy việc vòi tiền, lại vì tiền mà chết; Ngô Đậu Phụ nổi giận giết người, phải chết vì treo cổ, Diễm Cô lười nhác thích ăn diện, bỏ đi lăng nhăng để đến nỗi thất tiết, mất chồng, phải treo cổ nơi pháp trường. Cha mẹ không thấy được lỗi lầm vì mình không dạy con, ngược lại vì con chết, uất ức mà chết. Các bạn hãy trông gương những người ấy mà răn mình, hãy nhìn nhận thật thấu đáo về rượu chè, dâm dục, tiền của và sự tức giận, đừng để nó làm lụy đến thân.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Sun Apr 06, 2014 1:36 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 12
Sáu Ngón Tay
Làm người phải luyện thành ngọc trắng,
Dối lừa thành cầm thú mà thôi.
Gây oan nhất định trời trừng phạt,
Gia tài khánh kiệt, chẳng cháu con.
Lẫm sinh(1) Đới Bình Hồ, người Lô Châu, là người vô cùng tàn ác, không ngay thẳng. Tuy học vấn uyên thâm, văn chương sắc sảo, song quen thói võ đoán, xúi bẩy người khác kiện tụng. Hơn nữa ông ta lại thích mùi vị đàn ông, làm nghề dạy học để kiếm ăn. Nếu nhà nào có con xinh đẹp là ông ta ỷ thế lừa dối để gian dâm. Người xưa thường nói rằng: "Thầy bất chính, thì học trò làm loạn". Bởi thế học trò bắt chước ông. Hằng ngày tại thư phòng, đứa lớn cưỡng dâm đứa bé, ông ta cũng mặc, ngay biết rõ mười mươi, ông ta cũng chẳng đánh mắng. Thế là trường Khổng Mạnh biến thành chuồng lợn. Hằng ngày ông ta nốc rượu say bét nhè như điên dại.
(1) Lẫm sinh: tên gọi sinh đồ thời Minh, Thanh ở Trung Quốc, được hưởng học bổng của châu, huyện hoặc phủ (ND).
 
Vợ ông ta là Lã thị, nhà nghèo, xấu xí lại nỏ mồm. Lúc ấy vào tháng Tư, nhà hết sạch, vợ gửi thư bảo chồng đưa tiền về đong gạo. Bình Hồ góp được hai quan tiền mang về nhà, nhận được tiền, Lã thị mừng ra mặt, nói:
- Mấy lần xin tiền, ông đều kêu không có, hôm nay sao lại có hai quan, ông lấy đâu ra thế?
Bình Hồ có tiền bèn lên mặt, nói:
- Bà không biết à? Số tiền này là từ "Thầy Khổng Tử nói: "Học thì phải luôn luôn luyện tập, thế chẳng vui sao"(l) mà ra đấy”. Đêm ấy Lã thị bèn đi dọn rượu cho chồng uống để tiêu khiển. Bình Hổ uống rượu say xỉn, Lã thị phải dìu vào phòng ngủ. Nằm trên giường lão thấy cồm cộm, lấy tay sờ, thì đó là hai quan tiền. Đang chếnh choáng say, gã bèn hỏi vợ:
- Bà bảo rằng, bà ở nhà không có tiền mua gạo, thế thì hai quan tiền này ở đâu ra?
Thấy chồng nói chữ, Là thị cũng bắt chước dùng câu bên dưới đó để trả lời:
- Ông biết à, số tiền ấy là "Có bạn từ phương xa tới, chẳng sướng lắm sao"(2) mà ra đấy.
(1) Nguyên văn là: "Tử viết: học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ". Đây là câu trích cuốn Luận ngữ của Khổng Tử. Ý của Bình Hồ là, tiền do dạy học mà có.
(2) Đây là câu "Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ" trích trong cuốn Luận ngữ của Khổng Tử (ND).
 
Bình Hồ phát khùng nói:
- Mày sướng, nhưng tao đau lòng?
- Có tiền mà ông không vui, thì đói cơm ông mới vui sao?
- Dù tao có chết cũng không chịu nổi cái loại ấy.
- Loại gì? - Vợ đáp. - Loại lợn hay loại chó!
- Mẹ mày chứ, - Bình Hồ nói, - mày là đồ lang chạ. Ông sẽ bỏ mày.
Hai người tiếng bấc tiếng chì, rồi đến cãi nhau. Bố chồng nghe thấy bèn hỏi:
- Nửa đêm canh ba rồi, mà hai đứa vẫn còn cãi cọ nhau?
- Cha không biết à, con đang uất lên đây, - Bình Hồ nói. - Thưa cha, hãy nghe con nói, vì sao con nổi khùng ư, con dâu cha không còn là người nữa, cô ta đã phản bội chồng đi ngoại tình làm những việc xấu xa, mất cả thể diện. Cô ta nói rằng có bạn từ phương xa tới, rồi còn bảo là rất sướng, có tiền tiêu càng thích. Cô ta còn chiêu con hãy chết đói đi, có tiền không biết tiêu. Con là loại người nào ư? Còn nhỏ đã đi học. Vào trường được cử là lẫm sinh. Ra khỏi nhà ai ai cũng kính trọng gọi là ông. Thế mà lấy một con vợ xấu xa như thế. Ở nhà mà còn đi gian dâm làm xấu danh tiên tổ. Con mang tiếng là kẻ bị cắm sừng, thế thì còn dạy học làm sao được, thôi thì bỏ quách nó đi cho xong. Chỉ hận một nỗi là không giết nó được, khỏi phải tức đến lộn ruột.
Lã thị nghe thấy thế, dở khóc dở cười, nói với bố chồng:
- Thưa cha, xưa nay chưa có chuyện ấy bao giờ. Anh ấy ham rượu chè, cứ say là nói lung tung. Anh ấy mang về hai quan tiền, con hỏi tiền ở đâu ra, thế là anh ấy tuôn ra những câu hủ lậu. Nói là "học thì phải luôn luyện tập". Làm gì có tiền mà biết với không biết. Con nhận tiền, gối xuống đầu giường, đêm về anh ấy vào phòng rồi ngồi lên. Anh ấy quên đi, thấy lạ, lại hỏi con tiền ở đâu. Con thấy anh ấy thích nói chữ, con mới dùng câu văn dưới đùa cho vui. Ai ngờ, nghe xong anh ấy đùng đùng nổi giận. Nhân lúc đang say rồi quay ra mắng chửi, làm con giận điên người. Anh ấy còn bốc lửa bỏ tay không, bảo con đi ngoại tình, nói là sẽ bỏ con. Rõ là đồ không biết xấu. Nếu không nghĩ tới tình vợ chồng, thì con đã vả cho rụng răng. Con khuyên anh ấy hãy bỏ rượu đi, để khỏi phải xấu lần nữa. Chừa rượu thì sẽ không điên loạn, người ta sẽ không còn gào bố mình lên mà chửi, sẽ không tổn hại đến thanh danh, lẫm sinh còn làm như thế thì người ta sẽ coi thường và khinh bỉ. Thôi hãy ngủ đi kẻo hàng xóm biết được thì chẳng ra gì cả.
Hằng ngày bố chồng cũng hay nói đùa, thấy con dâu nói thế ông chửi:
- Con nhóc này chẳng hiểu gì cả. "Người ta không biết tới mình, mà mình không giận, thì chẳng phải là quân tử sao?"(1) Nếu không có ai biết thì hai đứa chửi nhau mà làm gì?
 
(1) Đây cũng là câu trích trong cuốn Luận ngữ của Khổng Tử, nguyên văn như sau: "Nhân bất tri nhi bất uấn bất diệc quân tử hồ".
 
Bình Hồ thấy vợ nói thế, càng tức đẫy. Ngủ mãi tới sáng hôm sau, tỉnh rượu, vừa xấu hổ vừa tức giận, nghĩ rằng: ”Người đàn bà này chẳng tốt đẹp gì, nói cứ hay cãi bướng, từ nay trở đi ta đến trường chẳng thèm về nữa cho mày ở một mình, đêm đêm nằm không". Rồi gã mang đứa con bảy tuổi tên là Hà Sinh tới lớp học. Hà Sinh là đứa trẻ rất thông minh đĩnh ngộ, đọc sách làu làu, nhiều lần đi thi nhưng không đỗ.
Lã thị ở nhà, mấy năm liền không thấy chồng về, biết rằng chồng mình thích mùi vị đàn ông, tiền chơi chịu quá nhiều. Ở nhà không có tiền tiêu, bèn ngấm ngầm "trả miếng" chồng lấy tiền tiêu dùng.
Năm ấy Hà Sinh mười tám tuổi, Bình Hồ muốn cưới vợ cho con, bèn về nhà bàn với vợ, nhờ mối lái tới xin cưới. Người thông gia tên là Thiệu Quang Phục, cũng là một tú tài, gia đình lại khá giả ông là một người đức độ, và là một thầy đồ giỏi, hằng ngày Thiệu Quang Phục dạy dỗ và giảng cho học trò nghe về sự quả báo. Ông sinh được một người con gái xinh đẹp và đoan trang, tên là Tố Mai. Từ nhỏ Tố Mai đã đi học và được cha dạy dỗ, nên cô sống rất hiếu thuận. Quang Phục nhận được lễ xin cưới của nhà họ Đới, cũng chuẩn bị trang sức cho con đi lấy chồng.
Phong tục vùng này thường làm cỗ đưa dâu, trước khi về nhà chồng, đều mời họ hàng tới ăn cỗ. Hôm ấy Tố Mai đến mời bác, giữa đường gặp một người, anh ta cứ nhìn mình chằm chằm. Cô tức giận vội bỏ đi. Tới đêm hôm về nhà chồng, bạn bè thân thích dẫn chàng rể vào động phòng, rồi uống rượu vui chơi ngay tại phòng ấy. Cô dâu rót rượu mời mọi người rồi mới ra khỏi phòng. Hà Sinh đóng cửa đi ngủ, cô cũng định đi ngủ, thì thấy chồng đứng dậy mở cửa ra ngoài khá lâu, sau đó thấy có người vào đến ngay chỗ ngăn kéo tắt đèn, rút trâm cài đầu, cởi áo quần cho cô, rồi hai người dắt nhau đi ngủ. Gà gáy sáng thì chồng dậy ra ngoài.
Trời sáng, Tố Mai dậy không thấy đồ trang sức, vội tới hòm lấy chiếc khác, cô giật mình sinh nghi: "Hay là trộm? Nhưng mình có ngờ đâu?". Định hỏi chồng, nhưng không thấy chồng vào. Bỗng nghe thấy người bên ngoài nói:
- Ông Đới ơi! Không biết vì sao chú rể bị giết sau chuồng xí.
Vợ chồng Bình Hồ chạy ra xem, đúng là con mình thật, óc phọt ra, cổ bị cắt đứt, chỉ mặc chiếc áo lót, người đã lạnh cứng. Rồi gọi người khiêng vào nhà, nghĩ rằng: "Đời ta chỉ có một đứa con, nay đã chết, thì sau này ai hương khói. Vợ chồng ta biết dựa vào ai?". Bất giác lòng đau như cắt, khóc than thảm thiết:
Cha: - Con ơi! Con chết, cha đứt từng khúc ruột.
Mẹ: - Lòng mẹ đau như dao cắt.
Cha: - Con ta là đứa thông minh linh lợi.
Mẹ: - Ta chăm chút nuôi dưỡng con biết bao vất vả nhọc nhằn.
Cha: - Nó học thông minh, thơ văn đều giỏi.
Mẹ: - Khi thi bao giờ nó cũng xếp thứ mười trở lên.
Cha: - Năm nay nó sắp vào trường học.
Mẹ: - Ta đã cưới cho nó một người vợ đẹp. cha: - Cưới dâu về thì nó gặp tai nạn.
Mẹ: - Hai vợ chồng mới sống với nhau một đêm, thì nó đã thác rồi. 
Cha: - Song không biết kẻ lòng lang dạ sói.
Mẹ: - Có thù hận gì mà nó giết con ta.
Cha: - Nó chết cứng đằng sau nhà xí, óc tóe ra ngoài.
Mẹ: - Đáng thương thay, nó bị cắt đứt cổ.
Cha: - Quần áo đẹp nó mặc vì sao không thấy.
Mẹ: - Nó đánh chết rồi mới cắt đầu, sao nó tàn ác thế.
Cha: - Đáng thương thay, cha năm mươi tuổi, đầu đã bạc.
Mẹ: - Thương thay, mẹ tuổi trời sắp hết.
Cha: - Thương thay nhà họ Đới không có người hương khói.
Mẹ: - Lúc hai năm mươi ai là người chôn cất?
Cha: - Thảm thương thay, kẻ đầu bạc chôn đứa con tóc còn xanh.
Mẹ: - Lúc tuổi già, con chết có ba điều bất hạnh.
Cha: - Ta nhìn con mà chẳng muốn rời.
Mẹ: - Ta gọi con mà chẳng thấy con thưa.
Cha: - Ta chỉ là chiếc cột mục ở Lô Châu.
Mẹ: - Ai là người che chở cho con.
Cha: - Con hãy trả thù kẻ hung bạo đã giết con.
Mẹ: - Con phải nghĩ cách để rửa hận cho con.
Cha: - Linh hồn con dưới âm ti đừng tán loạn.
Mẹ: - Phải bắt kẻ giết người đền mạng.
 
Thấy chồng chết, Tố Mai vội chạy ra. Cô gào lên khóc, nghĩ tới sự việc xảy ra đêm qua, đúng là chồng ra ngoài, bị trộm giết chết. Tên trộm đã đội lốt chồng hủy hoại danh tiết mình. Nếu không thì tại sao nó lấy quần áo và đồ trang sức!? Bây giờ chồng chết rồi, danh tiết cũng đã mất, ta còn mặt mũi nào mà sống trên cõi đời này nữa, thôi thì ta chết quách đi, xuống âm ti địa ngục tìm kẻ thù. Thế rồi cô cởi xà cạp bó chân ra treo cổ. Bỗng nhiên khách vào phòng nhìn thấy, vội vàng cởi ngay dây, đổ nước gừng. Vợ chồng Bình Hồ đang khóc con, lại nghe thấy con dâu thắt cổ, bủn rủn cả chân tay, cuống cuồng chạy tới Tố Mai dần dần tỉnh lại. Ông bà già khuyên rằng:
- Con trai ta đã chết, không thể sống lại được, tại sao con lại vội vã chết đi như thế, con phải bình tâm lại.
Nhân đó mới bảo rằng, đêm qua mất cả đồ trang sức. Vợ chồng Bình Hồ cứ gặng hỏi. Tố Mai khóc lóc nói rằng đêm qua, lúc chồng ra ngoài, tên trộm mạo danh chồng vào phòng ngủ với cô. Bình Hồ nói:
- Chẳng trách nào con dâu không muốn sống, làm cho ta càng uất ức.
Thế rồi ông lại hỏi:
- Tên trộm ấy như thế nào?
- Khi vào phòng thì nó tắt đèn ngay, - Tố Mai nói, - nên nhìn không rõ, chỉ sờ thấy nó có sáu ngón tay.
Bình Hồ nghĩ: "Chỉ có đứa học trò tên là Đinh Triệu Lân có sáu ngón tay, vậy là đúng nó rồi. Nó là một đứa học trò tốt, ai ngờ nó lại làm một việc không có luân thường đạo lý như thế". Rồi tức tốc đi hỏi nó ngay.
Đinh Triệu Lân, mất cha từ lúc còn nhỏ, được mẹ là Tào thị nuôi dưỡng thành người. Bà dạy bảo con rất nghiêm khắc. Bởi thế Đinh Triệu Lân là người cung kính khiêm nhường, nói năng lễ phép. Hơn nữa siêng năng học tập, thông minh đĩnh ngộ. Vì nhà giàu, mẹ kén chọn con dâu, nên mười tám tuổi vẫn chưa vợ con gì. Năm ấy tới học thầy Bình Hồ. Hôm cưới cũng ăn cỗ tại đây, bạn bè cũng rủ anh tới vui nhộn tại phòng cưới. Hà Sinh thân thiết với anh, dành cho anh một chiếc đùi gà. Thấy mọi người nói năng lỗ mãng, Đinh Triệu Lân không thích, im lặng chẳng nói chẳng rằng, chán ngán uống vài chén rượu, tự nhiên thấy buồn ngủ, rồi cáo từ lên giường trước. Tỉnh dậy thấy đau bụng, muốn đi đồng, lúc dậy lại không thấy đèn, trời tối đen như mực, mò tới nhà xí, trượt chân ngã, sờ thấy ướt, ngỡ là phân, ngửi không thấy thối, rồi lấy tay lau, không thấy mùi thối nữa, thế rồi anh mò về phòng, cứ để nguyên quần áo đi ngủ. Bỗng anh nghe thấy thầy gọi mới tỉnh giấc. Ngồi nhanh dậy, Bình Hồ thấy Đinh Triệu Lân, tay chân, quần áo dính đầy máu, tát luôn mấy cái, nói:
- Vì sao mày giết con tao, gian dâm với con dâu tao, tao bây giờ không có người nối dõi. Tao với mày chẳng còn tình nghĩa gì nữa.
Triệu Lân hỏi:
- Sao thầy lại nói thế, con không giết người, thầy đừng đổ bừa cho con.
- Mày không giết người à! - Bình Hồ nói. - Tại sao người mày dính đầy máu?
Triệu Lân nhìn xuống, hãi quá, trợn tròn mắt, ngớ người ra không sao nói được. Bình Hồ bảo mọi người trói Triệu Lân lại rồi giải lên châu, kêu oan.
Quan lập tức gọi Triệu Lân tới hỏi. Triệu Lân đã nói rõ việc đêm qua anh tới nhà xí, bị ngã, máu dính vào quần áo. Quan thấy người có vết máu, lại có sáu ngón tay, nghi cho Triệu Lân giết người, lệnh sai nha khóa tay, tống giam. Ngày hôm sau khám nghiệm, thấy nạn nhân chết là do đánh bằng gậy, đầu có ba vết thương, cổ bị cắt bằng dao con. Quan xem xét kỹ, thì thấy xung quanh tường không thấy đào ngạch, lập tức gọi cô dâu hỏi, sau đó trở về nha môn hỏi Đinh Triệu Lân rằng:
- Ngươi là đồ chó má, đã đi học sao không biết pháp luật, dám cả gan giết Hà Sinh, đội lốt chàng rể để gian dâm. Ngươi không biết tội của ngươi sao!?
- Thưa ngài, đèn trời soi xét. - Triệu Lân khai. - Thật là oan con quá, mong ngài thương tình. Từ tấm bé con luôn theo lời dạy bảo của mẹ con, sống ngay thẳng để vun trồng gốc rễ. Con cũng biết mắc phải điều tà dâm sẽ bị báo ứng nên vùi đầu vào việc học hành, không sống bừa bãi. Nhân thầy cưới vợ cho con, con đến chúc mừng nhân ngày cưới, bạn bè đều rủ con đến vui chơi. Thấy họ chơi trò đố rượu trong phòng, nói năng thô lỗ, con không quen sống như thế nên đi ngủ sớm. Khi tỉnh dậy thấy đau bụng, con vội tới nhà vệ sinh. Trời tối đen như mực, trượt ngã, khắp người bị lấm, con vội lấy tay lau, ai ngờ đó là vết máu, khiến con mắc tai họa.
- Đồ bố láo! - Quan nói. - Mày không giết người thì sao dưới đất có máu?
- Vì kẻ trộm giết người máu chảy ra đường, - Triệu Lân nói, - con không biết nên đã bị máu dây vào. Đó là sự thực.
- Rõ ràng là mày giết người, - quan nói, - đừng quanh co nữa, hãy khai mau, khỏi phải tra khảo.
- Trời ơi! - Triệu Lân nói. - Thưa ngài, nếu con giết người thì con phải chạy trốn chứ sao lại ngủ ở nhà cho người ta bắt? Hơn nữa đồ trang sức của cô dâu đã bị lấy sạch, thì rõ ràng là trộm chứ không phải là con.
- Ta cho rằng, - quan nói, - tất phải có kẻ tòng phạm, mang đồ trang sức đi, ngươi chối làm sao được.
- Nếu có kẻ tòng phạm thì cũng phải cùng nó chạy trốn chứ. - Triệu Lân nói. - Dại gì quay trở lại tiếp?
- Quay trở lại tiếp là vì mày định lập lờ đánh lận con đen, - quan nói, - hơn nữa cô dâu sờ thấy kẻ trộm có sáu ngón tay, điều này thì mày còn cãi sao được nữa.
- Trời ơi! - Triệu Lân nói. - Thưa ngài, trên đời này thiếu gì người có sáu ngón tay. Tại sao, vì ngẫu nhiên giống nhau lại vu cho con.
- Sáu ngón coi là ngẫu nhiên, vậy vết máu trên người mày cũng ngẫu nhiên à. - Quan nói.
- Con xúi quẩy, gặp vận đen, - Triệu Lân nói, - cũng như đất dây vào đủng quần thì làm sao mà biện bạch được.
- Đồ chó má, mày chỉ già mồm. - Quan nói. - Quân bay đâu hãy mau mau kẹp nó cho ta.
Triệu Lân nghĩ: "Kẹp ta đến nỗi hồn xiêu phách lạc, như lọt vào địa ngục Diêm vương. Nếu không khai thì quan lớn cứ tra khảo, mà khai thì sợ đầu lìa khỏi cổ. Đáng thương thay mẹ ta đã năm mươi tuổi rồi, người già, khí huyết suy kiệt, biết dựa vào ai đây. Chắc rằng từ nay trở đi ta không được về gặp mẹ nữa. Ta là đứa con bất hiếu, tội cao như núi". Không chịu nổi tra tấn, cực hình, Triệu Lân đành miễn cưỡng nhận tội đã giết Đới Hà Sinh.
- Vậy thì hung khí mày vứt đâu? - Quan huyện hỏi. - Hãy mau mau khai ra.
- Hung khí là chiếc gậy nhà anh ấy, - Triệu Lân nói, - còn chiếc dao rọc giấy cắt cổ, con vứt xuống sông.
- Kẻ tòng phạm, - quan hỏi, - tên là gì?
- Tên anh ta là Hồ Hữu Nhân, - Triệu Lân nói, - đã trốn rồi, xin ngài cho người đi bắt.
Khai xong, quan giam Triệu Lân vào ngục. Bọn phạm nhân biết nhà Lân giàu có, chúng lệnh cho bọn đàn em đánh đập. Triệu Lân nói:
- Các ông muốn đánh hay muốn tiền?
- Sao lại không cần tiền, - bọn chúng nói, - lễ vào ngục là không thể thiếu được.
- Đã bị đánh thì không đưa tiền. - Triệu Lân nói. - Người ta thường nói: kim không nhọn hai đầu. Đã chịu khổ mà lại đòi tiền, thì ai đưa.
- Có tiền thì mang tới. - Bọn tù nhân nói.
- Vài hôm nữa mẹ tôi tới, - Triệu Lân nói, - dù nhiều hay ít cũng sẽ đưa cho.

Bọn phạm nhân thôi không đánh đập nữa, cho người nói với mẹ Triệu Lân.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Sun Apr 06, 2014 1:57 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 12 (B)
Tào Thị thấy con đi ăn cưới đã mấy ngày mà không thấy con về, rất sốt ruột, cho người đi hỏi mới biết con mắc tội oan, bà gào lên khóc lóc thảm thiết. Nghĩ mình vất vả ở vậy nuôi con, chả ai mong muốn việc này, nếu không may xảy ra chuyện chẳng lành thì biết dựa vào ai! Đang định tới châu xem sao, thì bỗng có người tới bảo mang bạc tới để đút lót cho phạm nhân. Bà biết con đã cung khai, khóc sướt mướt, mang hai nén bạc lên châu. Tới nhà giam, hai mẹ con ôm nhau khóc, biết được con bị khổ hình, buộc phải khai bừa, lòng đau như dao cắt lập tức đem hai nén bạc ra nộp cho bọn tội phạm. Bọn chúng đùng đùng nổi giận, nói:
- Chỉ có một chút xíu này, mang đến làm gì, không đủ cho chúng ông súc miệng.
- Cần bao nhiêu? - Tào thị nói.
- Một ngàn cũng không nhiều, - bọn chúng nói, - tám trăm cũng không ít, nói thực nhá, các ông cần bốn trăm quan.
- Cái gì! Sao nhiều thế. - Tào thị kinh ngạc nói. - Rốt cục mất tiền mà cũng không đền nổi mạng ư!?
- Đây là lễ vào nhà ngục, còn tội trạng của con bà ai mà can thiệp được.
Tào thị không sao được, đành phải van nài chúng. Bọn chúng đùng đùng nổi giận vứt bạc xuống đất, lệnh cho bọn đàn em treo Triệu Lân lên như một con lợn, bắt rận bỏ vào đầu, nhổ nước bọt vào mặt, rồi đổ nước cống rãnh vào mồm. Tào thị uất ức đến bầm gan tím ruột, nhặt bạc lên vừa đi vừa chửi; tới công đường gào thét kêu oan.
Viên quan xét xử vụ án họ Lê, tuy xuất thân từ khoa bảng, nhưng mới ra làm quan, việc xử án chưa thông thạo, lại không biết được những tệ nạn trong nha môn. Ông rất căm giận người kêu oan. Nghe thấy, ông cho sai nha ra bảo bà ta có việc gì thì cứ đệ đơn. Tào thị nói:
- Con đến trừ hại cho cả châu, đó cũng là việc công, gặp ngài tự nhiên con muốn đệ đơn kiện.
Quan tức giận gọi vào hỏi:
- Con mẹ này chua ngoa thật, có việc gì ghê gớm mà kêu gào ở ngoài ấy!
Tào thị kể lại việc phạm nhân trong nhà giam dùng hình phạt thi pháp treo người lên đánh để tống tiền. Quan nói:
- Lần đầu nó vào ngục, phạm nhân đòi ít tiền, đưa chúng một ít thì yên ngay. Việc gì phải kêu oan.
- Ngay dù tiền mừng cũng không được đòi nhiều, - Tào thị nói, - huống hồ đã phạm pháp thì vui cái gì mà mừng? Hay mừng nó giết người ư?
Quan không sao trả lời được nữa, một lúc lâu sau mới nói:
- Nó không đòi tiền thì lấy gì mà chi dùng.
- Tù nhân đã có hoàng thượng cho ăn, sao lại lấy tiền của tù nhân mới. Đây rõ ràng là phạm nhân tống tiền chia cho quan lớn, bởi thế quan mới không truy cứu. Như thế là đòi đền mạng, lại đòi tiền, con sẽ vượt quyền ngài, lên tận kinh đô kêu với nhà vua, để minh oan, trừ hại cho cả châu.
Thấy vậy quan đùng đùng nổi giận, trực tiếp đến nhà tù tra hỏi phạm nhân. Lúc ấy phạm nhân đã cởi trói cho Triệu Lân. Quan gọi Triệu Lân lại hỏi. Triệu Lân nói:
- Phạm nhân đòi bốn trăm quan tiền đút lót, mẹ con đã đưa cho họ một nén, xin họ lấy ít thôi, nhưng họ không nghe, đã treo con lên, bỏ rận và nhổ nước bọt vào mặt, đáng căm giận nhất là họ đổ nước cống rãnh vào mồm con, khiến con phải sống dở chết dở. Ngay như quan lớn cũng không bao giờ dùng hình phạt tàn khốc đến như thế. Quả là con không thế chịu nổi. Con mong quan lớn thương cho kẻ học trò này.
Bọn coi ngục và phạm nhân khăng khăng không nhận, Tào thị chỉ cho quan xem vết trói ở tay và vết nước cống rãnh đổ xuống ngực Triệu Lân. Quan lập tức đánh cho bọn coi ngục và tù nhân mỗi đứa một ngàn roi, rồi cách chức ngay tại chỗ. Bọn phạm nhân tuy căm tức, song cũng chừa, không dám bắt nạt Triệu Lân nữa.
Tào thị tới chỗ phủ đạo đưa đơn kêu oan, và lập tức tới Thành Đô kháng cáo. Lúc ấy trên cũng nhận được tờ trình ở dưới gửi lên. Án sát Ty xem xong nghĩ: "Đã là thầy trò, thì tại sao cạn tàu ráo máng, giết người như thế". Lại nhận được đơn cáo trạng của Tào thị, lập tức phê vào đơn phải xem xét kỹ, gửi giấy xuống đạo, lệnh cho đạo cùng với châu phải trực tiếp tra hỏi. Cuối công văn gửi xuống còn dặn dò rằng: "Có thể vì quên hết tình nghĩa thầy trò, thấy người đẹp mà cưỡng dâm cướp của, phải tìm cho ra bằng được tang chứng, phải thận trọng suy xét, đừng làm cho kẻ ác thoát tội, không được suy diễn vô căn cứ, làm người vô tội mắc oan".
Công văn đến Hợp Châu, ngay ngày hôm ấy quan đến Lô Châu. Ngài Lê tiếp tại công đường, lệnh đưa hồ sơ ra xem. Xem xong quan Hợp Châu đưa Đinh Triệu Lân ra xét hỏi:
- Ngươi đã nhận tội, vậy tại sao lại còn bảo mẹ người đi kháng cáo? Có oan ức gì cứ nói thật.
Triệu Lân khai lại từ đầu việc mình uống rượu, ra nhà vệ sinh, trượt ngã, quần áo bị dính máu. Quan Hợp Châu xem kỹ bản án, biết là bị oan, cố ý hỏi:
- Ngươi không giết người, tại sao áo lại có máu, và bàn tay đúng là có sáu ngón? Ngươi đã khai, tại sao bây giờ lại phản cung?
- Thưa ngài, - Triệu Lân nói, - con bị đánh đau quá, không chịu nổi nên con phải khai, bởi thế con phải kêu lại, mong ngài minh oan cho.
- Rõ ràng là ngươi giết người, - quan Hợp Châu giận dữ quát - bây giờ còn phản cung cãi bướng.
Thế rồi ông lệnh cho bọn tay chân tra tấn.
- Thưa ngài, hãy bớt giận, - Triệu Lân nói, - nếu ngài không minh oan cho con thì con không nói nữa là xong, việc gì ngài phải tra tấn. Những lời con khai trước đây là đúng sự thực cầu mong ngài gia ân miễn tra tấn cho con.
- Xem bản án của ngươi, - quan Hợp Châu nói, - hình như có oan khuất, song hung thủ vô danh không thể lần mò ra được. Hung thủ không tìm ra thì ngươi thoát tội làm sao được.
- Ngài thấy con vô tội, - Triệu Lân nói, - mà minh oan cho con, con vô cùng cảm động. Nếu không thì con chết oan uổng, cũng chẳng oán hận gì.
Quan Hợp Châu trầm ngâm hồi lâu, vẫn giam Triệu Lân vào nhà giam. Rồi bàn với quan họ Lê gia hạn thêm, và hai người cùng giải quyết. Sau đó lệnh cho sai nha đi khắp các ngả tìm người có sáu ngón tay, điều tra hành vi của chúng.
Quan Hợp Châu trở về châu, ba tháng sau vẫn không động chạm tới vụ án này, Tào thị lại đệ đơn lên Thượng Tư thúc giục. Thượng Tư nổi giận quát:
- Vụ án kéo dài mãi không thể giải quyết được, ngu tối như thế thì trị dân làm sao được!?
Rồi lập tức gửi giấy xuống, lệnh cho hai ông phải giải quyết gấp hai tháng nữa mà không bắt được thủ phạm thì phải lên cấp trên xét hỏi. Quan Hợp Châu lại đến Lô Châu thúc giục giải quyết gấp. Hai tháng đã trôi qua mà vẫn chưa tìm thấy, hai quan rất lo lắng, bàn nhau làm tờ sớ, kêu cầu Thành Hoàng chỉ bảo. Nhân ngày mồng một tới miếu thắp nhang, hai quan cùng ngủ tại miếu, nằm mơ thấy hai con gà trống nhỏ đùa với nhau, con lớn nhẩy lên lưng con nhỏ. Bỗng thấy một người tay cầm cành liễu, vạch một vòng to, rồi đánh liên hồi vào con gà nhỏ, cạnh đó treo một chiếc thòng lọng, rồi con gà nhỏ chui đầu vào chiếc thòng lọng treo cổ. Người ấy cởi con gà xuống, ôm vào lòng, khóc nức nở, thế rồi cầm gậy đi đuổi con gà to. Dưới đất bỗng xuất hiện một chiếc lá sen, người ấy đánh vào chiếc lá sen ba gậy, rồi lấy dao cắt nát cọng sen. Đang xem, chợt có tiếng thanh la báo sang canh làm họ tỉnh giấc. Thế rồi ông gọi quan Hợp Châu kể lại giấc mộng ấy. Quan Hợp Châu nói:
- Tôi cũng mơ thấy như thế.
Thế rồi họ mời thầy đoán mộngThầy nghĩ một lát rồi nói:
- Vụ án này từ con gà gian dâm mà ra. Việc người ấy đánh con gà nhỏ, người ấy xấu hổ vì bị ô nhục. Ôm con gà thắt cổ khóc ấy là ôm con ông ta vậy. Dùng gậy đánh vào lá sen (Hà diệp), rồi dùng dao cắt nát cọng sen. Vụ án này kẻ bị giết là Hà Sinh. Người cầm cành liễu khoanh một vòng to, chẳng phải là Liễu Đại Xuyên ư.
Hai quan gật đầu cho là đúng, bèn lệnh cho sai nha đi bắt Liễu Đại Xuyên. Sai nha nói:
- Liễu Đại Xuyên hiện ngụ tại Đông Sơn, cách nhà Đới Bình Hồ hơn mười dặm.
Thế rồi hai ông cho sai nha đi bắt Liễu Đại Xuyên giải về châu.
Hai quan ngồi giữa công đường hỏi:
- Liễu Đại Xuyên, tại sao ngươi giết con Đới Bình Hồ, mạo danh hành dâm, trước mặt ta ngươi phải khai thực!
Đại Xuyên nói:
- Quả là oan con quá. Mong ngài xét kỹ, cho phép con khai rõ nỗi oan tình. Vụ án này con không giết người, xin ngài trị tội thật phân minh. Nhà con vốn nghèo khổ, đẻ được một đứa con gọi là Trường Thanh. Mười bốn tuổi văn chương lưu loát chỉ mong nó đỗ đạt để rạng rỡ mặt cha. Đới Bình Hồ là thầy giỏi con đưa nó tới học. Ai ngờ Bình Hồ lòng lang dạ sói, lén lút làm ô nhục con con.
- Đã là thầy làm gì có chuyện gian dâm. Ta không tin. - Quan nói.
- Trời ơi! Bẩm quan, - Đại Xuyên nói, - trên gian dâm dưới, xưa nay có rất nhiều. Di Tử Hà chia đào nuôi Vệ Quân. Huống hồ là Bình Hồ, một tên lưu manh, hắn chẳng khác gì cầm thú còn nói gì đến tình thầy trò nữa.
- Nó đã bị gian dâm, thế thì nó theo học ông ta nữa không? - Quan hỏi.
- Nó theo học hai năm, hắn đã làm hại nó, hằng đêm hắn đưa nó ra ngoài hành dâm. - Đại Xuyên nói.
- Gian dâm là việc ám muội, sao ngươi biết được!? - Quan hỏi.
- Con đánh con để tra hỏi, mới biết nó đã thất thân. - Đại Xuyên nói. - Con uất quá xích nó lại để khỏi ra ngoài làm nhục tổ tiên. Con con không còn cách nào khác treo cổ tự tử. Con phải báo thù, Bình Hồ đâu còn là thân sĩ nữa.
- Con ngươi đã tự tìm đến cái chết, ngươi còn trách người ta làm gì nữa? - Quan nói.
- Trời ơi! Bẩm quan lớn! - Đại Xuyên nói. - Nhất định con trai nó phải chết, con dâu nó phải thành góa bụa. Nó gian dâm con con quá đáng, thì con gian dâm với con dâu nó là hợp tình. Nó làm con tuyệt tự, con cũng làm cho nó tuyệt tự. Điều ấy là trời báo ứng, chứ không phải là con làm bừa.
- Người đã giết con gã bằng cách nào? - Quan hỏi.
- Thấy Bình Hồ cưới vợ cho con, con dâu hắn đẹp nghiêng nước nghiêng thành. Con theo đầu bếp gánh hàng vào, sau đó bỏ ba đậu(l) vào nồi hầm gà. Rồi xin phép về, nấp bên nhà vệ sinh chờ. Thế rồi chỉ một nhát búa là hắn về chầu trời. Con lột quần áo, mặc vào để đội lốt nó. Sợ rằng lâu sau nó tỉnh dậy, con dùng dao con cắt cổ, rồi ung dung dắt cô dâu lên giường ngủ. Nghe thấy gà gáy sáng, con lấy trang sức rồi bỏ trốn. Ai ngờ lại làm cho Đinh Triệu Lân bị mắc oan. Hôm nay tại phiên tòa con xin khai thật. Nghĩ đến đứa con đã chết mà đau lòng. Xin mong ngài hỏi tội Bình Hồ. So sánh tội của con và hắn, đúng là con đáng chém đầu, song con chết thì hắn cũng không thể tồn tại được.
(1) Ba đậu: một loại hạt ăn vào sẽ đi tả.
- Quần áo và đồ trang sức hiện ở đâu? - Quan hỏi.
- Quần áo và đồ trang sức hiện con đang giấu ở nhà, - Đại Xuyên nói, - hoàn toàn vẫn còn nguyên vẹn. Xin ngài bắt hắn đến đối chất, thì nơi chín suối con mới nhắm mắt được.
Thấy Liễu Đại Xuyên khai rất phù hợp với giấc mộng, quan cho là thực, bèn nói với quan Hợp Châu rằng:
- Đới Bình Hồ cuồng loạn, gian dâm với học trò, đắc tội với Thánh hiền. Nếu không trị đến cùng, sẽ làm bại hoại phong tục.
- Đây là nhân vật xuất sắc, là kẻ sĩ có tiếng của quý ngài, - quan Hợp Châu nói, - quyền ngài xử lý.
Thế rồi ông về châu. Chỉ để lại cuốn luật pháp, rồi cùng làm văn bản tâu trình lên trên. Giam Đại Xuyên vào ngục. Sau đó lệnh cho sai nha đến nhà họ Liễu lấy quần áo và trang sức. Đồng thời gọi Đới Bình Hồ tới xét hỏi: Ngươi được nhận cân đai của triều đình, lẽ ra phải bồi dưỡng nhân tài. Cớ sao ngươi lại táng tận lương tâm, gian dâm với học trò, nay gặp ta mà ngươi vẫn không chịu khai ư?
- Con là lẫm sinh, dạy học, nội quy trong trường học rất nghiêm ngặt. Hơn nữa con là người ngay thẳng, sao ngài lại bỗng dưng vu tội cho con, làm bại hoại phong tục.
- Ngươi đã gian dâm với Liễu Trường Thanh con Liễu Đại Xuyên, làm hại đời nó. Cha nó trách mắng nên nó thắt cổ chết. Nay trước tòa ngươi không khai thực còn biện bạch gì nữa.
- Liễu Đại Xuyên nói năng bừa bãi, bôi nhọ đạo Thánh hiền, - Bình Hồ nói, - đáng ra phải đánh chết hắn để hắn khỏi làm hại người đời. Tại sao ngài nghe theo những lời lừa dối, vu tội cho kẻ sĩ công danh?
- Hành vi của ngươi ta biết cả rồi, - quan nói, - nếu không khai thì pháp luật sẽ không tha.
- Hình pháp của ngài chỉ thi hành đối với bọn trộm cướp, - Bình Hồ nói, - làm sao có thể trị được thân sĩ. Nếu xét xử như vậy thì cũng có thể nói là ngài gian dâm với con, giết hại nó. Nếu ngài nhận, thì lẫm sinh này cũng nhận.
Quan đùng đùng nổi giận, nói:
- Tên lẫm sinh ngông cuồng to gan kia, sao ngươi dám nói láo coi thường quan trường, quân bay đâu cho nó bài học!
Bình Hồ đang biện bạch, mắt bỗng nẩy đom đóm, thấy Liễu Trường Thanh đang đứng gục mặt, nhìn mình cười. Bất giác mê loạn, nói:
- Học trò của ta ơi, ngươi không nỡ rời bỏ thầy, ngươi tới thăm thầy ư?
- Ngươi nói gì thế, - quan quát, - vẫn không chịu nhận, còn chờ đến bao giờ?
Trường Thanh quát vào tai Bình Hồ:
- Bình Hồ! Hãy khai mau.
Tự nhiên Bình Hồ khai hết việc hằng ngày đã cưỡng dâm trẻ con và dụ dỗ làm ô nhục Trường Thanh. Quan lệnh giam Bình Hồ vào ngục, và tha cho Đinh Triệu Lân. Hai quan cùng làm bản tường trình lên cấp trên. Cấp trên xem xong đùng đùng nổi giận phê rằng:
“Đới Bình Hồ thích mùi vị đàn ông, quả là loài cầm thú. Trong đám văn nhân, gian dâm học trò, quả là tên tội phạm của đạo Thánh hiền, vạn lần chết cũng không đền hết tội. Hắn tuyệt tự cũng chưa xứng đáng. Phải hoạn nó ngay tại chỗ để nó sống vẫn mang tội, và làm bài học cho mọi người sau này. Liễu Đại Xuyên báo thù cho con. Bất đắc dĩ phải giết Hà Sinh, tội có thể tha thứ. Song đã gian dâm với cô dâu, làm hại danh tiết người con gái. Nghĩ rằng hắn ta tuyệt tự, cho nên giảm nhẹ tội, đánh hắn một ngàn roi, cùm ba tháng. Thiệu Tố Mai sờ thấy người sáu ngón tay tưởng là chồng, việc ấy hoàn toàn là ngẫu nhiên. Đinh Triệu Lân vì có sáu ngón tay mà chịu oan, quả là duyên trời se. Nên lấy Thiệu thị là hợp lý".
Công văn chuyển tới châu. Quan cho giải Bình Hồ tới, lệnh cho thợ hoạn hoạn hắn ngay tại chỗ, lấy quả thận ra ngoài cho mọi người xem. Mọi người nhìn thấy đều hả lòng hả dạ, gào thét chửi bới Bình Hồ. Gọi Đinh Triệu Lân tới công đường đọc cho anh nghe chỉ dụ của quan trên, cho anh lấy Thiệu thị. Triệu Lân vui vẻ vâng lệnh. Quan lệnh cho bà mối tới nói với Thiệu thị, và được cô bằng lòng lấy Đinh Triệu Lân.
Nghe thấy Liễu Đại Xuyên đã cung khai. Tố Mai mới thấy Đinh Triệu Lân bị oan, cô vô cùng thương xót, nghĩ: "Vì ta mà anh ấy bị giam cầm, chịu đựng biết bao đau khổ, đời nay ta không đền đáp được thì kiếp sau ta phải đền ơn". Rồi cô lại nghĩ: "Bước chân vào cái nhà cầm thú này, tội giáng xuống đầu mình, không biết đời mình rồi sẽ ra sao?".
Khi nghe bà mối nói cô rất mừng. Đinh Triệu Lân chọn ngày tốt đón dâu. Vợ chồng sống hòa thuận. Về sau sinh được hai người con, một người trúng kỳ thi Hương. Liễu Đại Xuyên trở về vì không có người nối dõi, cắt tóc đi tu. Đới Bình Hồ sau khi bị hoạn, ai ai cũng khinh bỉ, nhà bị cháy nhiều lần, gia tài khánh kiệt, phải đi ăn mày, rồi chết đường chết chợ. Lã thị trốn theo người khác, về sau cũng chết đói.
 

Từ vụ án này ta thấy, người ta sống trên đời, gian dâm với đàn ông sẽ bị sát tới ba đời. Người nào một đời lầm lỡ, cho dù bị cắt đầu, tuyệt tự, vẫn chưa đền hết tội. Quan trên ghép vào tội phải hoạn. Cũng bởi vì nghĩ đến đạo Thánh hiền, nên mới giảm nhẹ tội. Những kẻ thích mùi vị đàn ông, sao chẳng lấy Bình Hồ để răn mình?

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Mon Apr 07, 2014 1:22 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 13
Thẩm Vấn Chó Sói
Đời lắm kẻ mặt người dạ thú
Cũng có khi mặt thú dạ người
Có đức được đền, oán phải trả
Tự đến pháp đình nghe xét hỏi chẳng sai.
Sử Chính Cương người Mậu Châu, xuất thân từ thợ bạc, nhà nghèo. Vì trộn đồng làm bạc giả bán mà trở nên giàu có. Hắn kiếm được bốn trăm quan tiền, mở cửa hàng ở thị trấn, gọi là Minh Nguyệt Lâu. Vì tay nghề giỏi cho nên cửa hàng của Chính Cương rất đông khách. Chính Cương là kẻ gian dối xảo trá, bất hiếu với cha mẹ. Cha nghiện rượu, mỗi ngày uống hai bữa. Có một hôm nhà hết rượu, cha định mang tiền đi mua. Chính Cương chửi:
- Ông chỉ là một gã kiết xác, chẳng có tài cán ý chí gì, chẳng mua cho con cháu được mảnh ruộng nào, nếu ta không kiếm được tiền, thì có mà đi ăn mày. Đã có miếng ăn lại còn đòi rượu .Nếu từ nay trở đi còn như thế thì ngay cơm ta cũng không cho, xem ông làm gì ta.
Thấy cha mẹ già, nước mắt nước mũi lúc nào cũng chảy ròng ròng, hắn không cho cha mẹ ăn cùng. Hằng ngày hắn uống rượu ăn thịt một mình, cha mẹ đi qua đi lại hắn không thèm gọi lấy nửa lời. Vợ hắn là Hồ thị, trước đây do cha mẹ hỏi cho. Người tuy xấu nhưng lại rất hiếu thuận. Hằng ngày chị vẫn lét lút đưa rượu thịt, nên bố mẹ chồng không đến nỗi phải đói rét. Sử Chính Cương không vừa ý, đánh mắng chị suốt ngày, sai khiến như trâu ngựa. Còn hắn thường xuyên đi chơi gái.
Một hôm, hắn đang uống rượu tại nhà chứa. Ô Thất Ma Tử là người hay đâm bị thóc, chọc bị gạo, thấy Sử Chính Cương đang uống rượu ở đó, hắn dùng sống dao đánh và bảo sẽ đi kiện. Sử Chính Cương không còn cách nào đưa cho hắn bốn quan tiền. Về nhà Sử Chính Cương cứ ấm ức mãi. Hắn có một người anh họ tên là Hà Nhị Oa, nghe thấy hắn bị đánh, đến thăm, nói rằng:
- Trên đời này, người nào có tiền của là có thế lực, mềm nắn rắn buông. Có tiền mà không có thế thì lúc nào cũng bị khinh bỉ, ở đâu cũng bị bắt ức. Dù anh có tiền vạn, cũng không bằng người kết nghĩa của chúng tôi.
- Như thế nào mới có thế lực. - Sử Cương nói.
- Anh không thấy anh em giang hồ chúng tôi ư? - Hà Nhị Oa nói. - Lúc thì chơi gái, lúc thì giả làm quan, đêm nay nghỉ nhà này, ngày mai ngủ nhà khác. Không những không chịu nhục, mà không phải tiêu tiền. Há lại như các anh chỉ quanh quẩn ở xó nhà, không đáng mặt chơi. Ra ngoài sống tự do, tiêu tiền không cần tính đếm, lại được đánh chén no say. Hôm nào anh Trịnh sẽ làm việc này, chỉ cần mấy quan tiền, tôi đảm bảo anh sẽ thành bậc anh chị. Chẳng có đứa nào dám động đến mình. Ra khỏi cửa là tha hồ nói năng hoa chân múa tay, đứng trên ghế xưng ông, chửi người. Nếu có việc gì xảy ra, anh em xúm lại nâng đỡ chúc mừng, đông hàng trăm hàng ngàn, muốn đánh thì đánh, muốn giết thì giết. Cái gì mà chẳng làm được!
Sử Chính Cương nghe bùi tai, bỏ ra sáu quan tiền nhập bọn. Thế rồi hắn vênh vang đắc ý, đêm đêm không về nhà.
Một hôm, thấy phố sau có một cô gái rất xinh đẹp, hỏi ra mới biết đó là vợ của Vương Gánh Nước, tên là Trần Thúy Thúy, mới về nhà chồng năm ngoái. Cô là người đẹp nhất thành. Chính Cương muốn ngủ với cô, nên bàn với Hà Nhị Oa. Nhị Oa nói:
- Cô này quen biết Chu Ngũ ở phố Nam, sợ rằng anh không thể động đến cô ta được, tôi khuyên anh hãy thư thư một chút. Anh Chu Ngũ là một tay anh chị nổi tiếng trong thành, ai ai cũng đều ngán. Anh ta là người thét ra lửa, lừa dối trộm cướp giết chóc chẳng từ một việc gì, thẳng ai dám động đến lông chân anh ta.
Sử Chính Cương cũng biết anh ta là tay ghê gớm, khó mà động tới được. Song lúc nào cũng thèm khát Thúy Thúy, cứ đòi Hà Nhị Oa tìm cách. Nhị Oa nói:
- Luật lệ của cánh giang hồ chúng tôi là người dưới phải nghe theo người trên, chỉ cần anh tung tiền ra hối lộ cho ông anh cả. Nếu anh ta đến với anh, thì anh dùng phương pháp cho ăn thả cửa, phải dùng thật nhiều tiền để mua kỹ nữ, thì sợ gì Chu Hổ.
Sử Chính Cương mừng rơn, lệnh cho Nhị Oa mang bốn mươi quan tiền đi các bến tàu tìm kiếm. Nhị Oa nuốt không mười quan. Thế là tìm cho Sử Chính Cương một đại ca mới. Chính Cương khoe khoang khắp thành, làm cỗ mời mọi người. Lập tức bảo Nhị Oa nói rõ với vợ chồng Vương Gánh Nước, mỗi tháng trả hai thùng gạo hai quan tiền. Quần áo, đồ trang sức thì tùy theo sở thích. Từ nay trở đi không cho quan hệ với người ngoài, Thúy Thúy cũng nghe theo. Sử Chính Cương dọn giường chiếu tới, đêm ngày thả sức đi về. Người ta thường nói: "Tiền bạc như quốc bảo, có thể biến xấu thành tốt, nếu không được tiền thì ái ân thành phiền não". Bởi thế Chu Lão Ngũ đi qua nhà, Vương chửi ngay. Chu Lão Ngũ thấy Sử Chính Cương chiếm đoạt kỹ nữ của mình rất phẫn uất, tìm cách gây sự với Chính Cương, song lại sợ không địch nổi, thế là gã mới nảy ra một kếThấy Chính Cương uống trà thì trả tiền trà, uống rượu thì trả tiền rượu, nhiều lần như thế Sử Chính Cương cũng không hề nghi hoặc gì.
Cách thành hai mươi dặm, có một cái chợ ở rìa núi, vào ngày mồng ba tháng Ba, mở hội bách hóa, rất đông vui. Sử Chính Cương mang đồ trang sức đi bán, hàng vặt đã bán hết, chỉ còn chín chiếc to chưa bán xong. Bỗng thấy Chu Lão Ngũ đến mời cơm trưa. Sử Chính Cương thối từ. Chu Lão Ngũ cứ năn nỉ mời mọc nói rằng cửa hàng cô Dương đã sắp sẵn rồi. Chính Cương dọn hàng vào bao, tới cửa hàng, thấy thức ăn đã bày sẵn. Chu Lão Ngũ lại gọi ba cô gái họ Dương rót rượu tiếp khách, ân cần mời mọc, lần lượt mang ra tám chín món ăn. Chính Cương nói:
- Tôi làm phiền anh nhiều quá, mà chưa báo đáp được, sao anh lại dở de thịnh soạn thế này.
- Ông anh ơi có gì đâu. - Chu Lão Ngũ nói. - Anh cứ cho em là người tốt là em cảm ơn lắm lắm. Đây chỉ là chuyện vặt chứ có phiền nhiễu gì đâu.
Họ uống với nhau mãi tới tận tối mới chia tay.
Cách thành mười dặm có một người là Kiều Cảnh Tinh, là thầy thuốc nội ngoại khoa rất giỏi, phong hàn, cảm sốt, nhiễm độc sưng tấy, cứ thuốc vào là khỏi ngay. Hơn nữa ông lại có lòng từ thiện, thương người yêu vật. Khi bào chế thuốc không dùng sinh vật. Trị bệnh không mặc cả tiền nong, tính tình ngay thẳng, không kiêu ngạo. Vì chưa gặp vận, nên chỉ đủ ăn mà không tích góp được của cải. Một hôm đi chữa bệnh, trên đường trở về, trời gần tối, đang vượt qua một ngọn núi cao, ông thấy trước mặt, sau lưng có hai con sói cản đường. Cảnh Tinh vô cùng sợ hãi, ngồi tựa vào vách núi. Thấy hai con sói lắc đầu vẫy đuôi mồm ngậm một chiếc túi nhỏ, rồi nhả xuống trước mặt, Kiều Cảnh Tinh đi lên phía trước, quay đầu lại rồi đi tiếp, cứ thế ba bốn lần, Kiều Cảnh Tinh không hiểu được. Thấy dáng vẻ chó sói hiền lành, ông nhặt túi xem, thì bên trong có ba bốn chiếc trâm cài đầu, khoảng hơn một lạng. Ông nghĩ: "Chắc rằng sói mời ta chữa bệnh , đem những thứ này biếu ta đây" Rồi ông nói:
- Nếu quả là mày mời ta chữa bệnh thì hãy gật đầu ba cái.
Quả nhiên sói gật đầu. Ông Kiều thấy tiến thoái lưỡng nan. Trời lại sắp tối, đành liều mạng phó mặc số phận cho trời, đi theo chó sói. Đi sâu vào núi hai ba dặm, thấy trong hang có một con sói lớn, đầu mọc một chiếc mụn to bằng cái bát, thối khắm, nhung nhúc giòi bọ. Kiều khoét hết chỗ thịt thối rữa, rồi ngậm nước suối phun, rửa sạch mủ, sau đó đắp thuốc. Xong xuôi hai con sói tiễn Kiều về. Chưa được nửa đường, thấy mười mấy con sói vây lấy ông, định cắn. Con sói đi trước bước tới, như nói với chúng. Đàn sói bỏ đi hết. Sói dẫn ông tới dốc núi. Kiều Cảnh Tinh vừa đi vừa nghĩ, rồi luôn miệng nói, "Lạ thật, kỳ lạ thật".
Được gần nửa tháng, nhà hết gạo, mấy hôm ấy lại chẳng có ai mời. Kiều Cảnh Tinh đem đồ trang sức lên thành bán. Đi mấy chỗ mà chẳng có ai mua. ông vào hàng uống trà, đặt đồ trang sức và chiếc túi lên bàn. Bỗng thấy một ông già, quần áo rách rưới, cầm đồ trang sức và chiếc túi lên xem, hỏi:
- Chiếc túi này ông lấy ở đâu? - Đây là của vợ tôi, - Kiều Cảnh Tinh nói, - nhà hết tiền mang đi bán.
- Ông đánh ở đâu? - ông già hỏi.
- Đây là của hồi môn vợ tôi đem về, tôi không biết vợ tôi đánh ở đâu Kiều Cảnh Tinh nói.
- Thế ông đòi bao nhiêu? - ông già hỏi.
- Một lạng tám, - Cảnh Tinh nói, - lấy ông hai quan bảy là phải rồi.
Ông già cầm lấy đồ trang sức, bảo Kiều Cảnh Tinh đi theo lấy tiền. Đến nha môn, Kiều Cảnh Tinh hỏi:
- Lấy tiền ở đâu?
- Trong nha môn. - ông già nói.
Vừa tới sảnh đường, ông già gào lên kêu oan. Kiều sợ hãi định bỏ đi, ông già giữ chặt lấy. Quan hỏi:
- Việc gì thế?
- Con tôi đi bán hàng một tháng nay mà chưa về. - ông già nói. - tìm mãi vẫn biệt vô âm tín. Nay thấy người này mang hàng của con tôi đi bán. Nhất định là nó đã cướp của giết người rồi. Xin quan lớn soi xét.
Quan bảo sai nha tạm giam, rồi đệ trình đơn. Ông già này là cha Sử Chính Cương. Hôm ấy Sử Chính Cương đi chợ ở chân núi chưa về, ông tới hỏi Vương Gánh Nước, Vương nói rằng đêm qua anh ấy không tới đây. Tới chợ ven núi hỏi, thì người ta bảo đã về lúc chạng vạng tối. Tìm khắp mọi nơi vẫn chẳng thấy tông tích đâu. Cả nhà cuống lên, đi rút thẻ, xem bói đều nói là dữ nhiều lành ít. Chính Cương lại chưa có con cái, nên ông bà già suốt ngày khóc lóc. Hôm ấy lại thấy đồ trang sức của Kiều Cảnh Tinh. Ông nhận được đó là của con mình, cho nên lừa Cảnh Tinh tới nha môn kêu oan. Sai nha giải vào nhà giam, trình đơn lên quan. Kiều Cảnh Tinh như sét đánh ngang tai, sợ run như cầy sấy.
Quan ngồi trên công đường hỏi lão Sử:
- Con ông đi bán hàng chưa về, trâm cài đầu của Kiều Cảnh Tinh, có thể con ông bán mà ông không biết, tại sao lại tố cáo anh ta giết người cướp của?
- Nếu như con con bán, - lão Sử nói, - thì tại sao bán tới một tháng nay chưa về? Hơn nữa, chiếc túi ấy cũng là của con con. Con hỏi rằng nó từ đâu ra, thì anh ta bảo, đây là của hồi môn của vợ anh. Điều ấy thật đáng nghi. Anh ta không giết người cướp của thì ai vào đây nữa.
- Trâm cài đầu của ngươi ở đâu ra? - Quan hỏi Kiều Cảnh Tinh. - Hãy khai thực đi.
Kiều Cảnh Tinh run cầm cập, cúi đầu nói:
- Thưa ngài, đèn trời soi xét, con xin khai rõ từ đầu chí cuối. Từ nhỏ con đã học nội ngoại khoa, đi chữa bệnh cho mọi người. Con chữa bệnh nơi gần cho chí nơi xa. Hôm ấy khám bệnh trở về, đi qua Nam Lĩnh, thấy hai con sói chặn đường phía trước và phía sau, đúng là con tiến thoái lưỡng nan. Sói ngậm một chiếc túi, nhả xuống trước mặt con, rồi lắc đầu vẫy đuôi như mời con.
- Sói là loài thú ăn thịt người, - quan nói, - làm sao mà nó biết mời anh? Lúc ấy anh có đi không?
- Con theo nó vào hang núi, - Cảnh Tinh nói, - thấy một con sói mắc bệnh, đầu nó mọc một chiếc mụn thối khắm. Con cắt hết chỗ thịt thối ứa, rồi rửa sạch, rắc thuốc bột, đắp cao rồi về. Sói tiễn chân con, đi trước dẫn đường, bỗng thấy mười mấy con sói định xông ra ăn thịt con. Hai con sói ấy vào giữa bầy sói, như nói với chúng. Thế rồi bọn sói bỏ đi, con mới về nhà. Mấy hôm sau hết tiền tiêu, lại không có người mời chữa bệnh, con mới đem trâm vào thành bán thì gặp hạn. Lão Sử thấy đồ trang sức sinh lòng tham, vu cho con giết người cướp của. Mong ngài tìm hiểu kỹ, minh oan cho con.
- Thằng chó má này cả gan nói láo. - Quan nói. - Ngươi bảo những chiếc trâm này là do sói tặng, chó sói là dã thú, nói thế là không có chứng cứ, ngươi không lừa dối được ai đâu. Rõ ràng là ngươi thấy của sinh lòng tham, cướp của giết người, sao ngươi không khai thực. Quân bay đâu đánh nó bốn mươi gậy cho ta!
- Trời ơi, bẩm quan lớn. - Cảnh Tinh nói. - Con suốt đời sống yên phận, thật thà ngay thẳng, chữa bệnh cứu sống nhiều người, chưa từng cướp của giết người, cớ sao lại vu vạ cho con. Đúng là ngài dồn người sống vào chỗ chết.
- Mày không cướp của giết người thì mày lấy đâu ra chiếc túi này? - Quan hỏi.
- Xin ngài đừng lo, - Cảnh Tinh nói, - nó đã biết mời thầy chữa bệnh, dùng bạc để tạ ơn, biết đền ơn, cho nên không thể coi nó như loại sói tầm thường được. Nếu nó thấy con bị oan nhất định nó sẽ tới công đường đối chất, thì lập tức sẽ sáng tỏ, mong ngài tha thứ.
Quan lập tức chuẩn y, lệnh sai nha áp giải Cảnh Tinh tới Nam Lĩnh. Vào hang sói xem, thì chẳng thấy con sói nào, chỉ thấy đống xương khô ngổn ngang trên đống cỏ. Sai nha giận dữ quát:
- Kiều Cảnh Tinh, mày là đồ chó, lừa dối quan, làm chúng ta mất công trèo đèo lội suối, tìm sói của mày. Thế bây giờ sói đâu? Hãy mau gọi nó ra đây. Nếu nó ra thì thôi, nó mà không ra thì mày sẽ no đòn.
Kiều Cảnh Tinh trèo lên núi hướng ra bốn phía gọi, song không thấy đáp lại. Xem ra trời sắp tối rồi, sai nha vừa đi vừa chửi, giơ tay định tống, Kiều Cảnh Tinh cuống lên, nước mắt giàn giụa, khóc kêu trời kêu đất.
“Tìm chó sói, gọi trời xanh, nước mắt như mưa không sao nói được. Nghĩ lại xưa kia ta học nghề y, kỹ thuật không tồi, nửa để tích đức, nửa để kiếm tiền. Trời ơi! Đáng ra phải được quanh năm yên ổn, bốn mùa vô sự, có nhiều khách hàng, mua vườn tậu ruộng. Thế mà tại sao lại làm tôi khốn khổ thế này. Bỗng dưng bị kiện, khiến tôi phải chịu oan khuất. Vì sói mời tôi chữa bệnh, biếu tôi một vài lạng bạc. Về nhà bán bạc chi dùng lại gặp số phận long đong thế này. Lão Sử bảo ta giết con cướp của, kiện lên quan. Ta không nhận, quan rút roi, tay thước cùm kẹp tra khảo ta đủ điều. Ta van nài ngài nhón tay làm phúc, ngài mới bằng lòng cho giải đến đây. Trời đất ơi! Vào hang không thấy sói, tìm khắp mọi nơi, gọi khô cả cổ, từ sáng sớm tới giờ đã gần tối rồi, mà chẳng thấy đâu. Sai nha hằm hằm tức giận, miệng chửi, tay đánh. Đúng là ta chẳng khác nào người trồng hoa mà bị chết oan. Đã gặp khó khăn nay càng khó khăn thêm. Trời ơi! Hay là trước đây ta mắc nhiều tội lỗi, mất hết lương tâm. Suy xét kỹ, bấm đốt ngón tay tính toán, thì chẳng thấy chỗ nào ta làm nên tội. Hay là vì ham làm giàu, coi mạng người như trò đùa, mặc cả trước, thấy nhiều tiền thì bán thuốc tốt, ít tiền thì làm cho bệnh hoạn triền miên kéo dài, bởi thế nên trời giận dữ mà trừng phạt, khiến ta ngã quỵ không sao gượng dậy nổi. Trời ơi, từ nay ta nguyện sẽ phải sửa mình, phải chuyên tâm chữa bệnh cho mọi người, cho dù người ấy có tiền hay không. Trời ơi, trời vòi vọi cao xanh, hãy mở con mắt thần, sai khiến cho sói ra ngay. Lại đi lên phía trước nhìn, hoàn toàn không thấy một con sói nào ở đó. Trời ơi! Sao trời không hiển linh, bắt sói đáp lại nguyện vọng chính đáng của con. Con sẽ giết dê mổ lợn hát xướng cúng thần. Đi vòng vèo thất tha thất thểu tới một hõm núi. Bỗng nhiên gặp vị cứu tinh, nhìn kỹ, thấy con sói vết sẹo chưa lành hẳn. Trời ơi! Sói ơi! Người làm ta thê thảm đến thế này. Ngươi làm ta phải chịu biết bao nỗi giày vò. Ta đã tìm ngươi toát cả mồ hôi, ta đã mỏi mắt trông chờ ngươi. Nếu không tìm thấy ngươi, thì ta phải treo cổ. Mong ngươi đừng nấn ná nữa. Hãy cùng ta đến cửa quan minh oan. Xin ngươi đừng biến ân thành oán. Chỉ một lời nói của ngươi ta được sống. Con người ai cũng giàu lòng nhân ái, loài vật cũng biết kết cỏ(1) ngậm vành(2). Ta đã khóc đứt hơi, khan tiếng, rát cổ miệng khô. Sói ơi, ta thật đáng thương biết bao.”
(1) Kết cỏ (kết thảo): Ngụy Vũ Tử thời Xuân Thu, có một người thiếp Yêu. Khi ốm Ngụy Vũ Tử dặn con trai là Ngụy Khỏa rằng: "Hãy chôn bà theo ta". Ngụy Khỏa cho rằng trước khi chết tâm trí rối loạn, nên không theo lời cha dặn, vẫn để bà tái giá. Sau này khi Ngụy Khỏa giao chiến với quân Tần, đột nhiên có một ông già dùng cỏ tết thành những sợi dây dài, khiến cho tướng Tần là Đỗ Hồi vấp ngã. Ngụy Khỏa thừa cơ bắt sống Đỗ Hồi. Ngay đêm ấy, Ngụy Khỏa nằm mơ thấy một ông già nói với mình: "Ta là cha người đàn bà ngươi đã gả chồng, cứu con gái ta, ta vô cùng biết ơn. Hôm nay trên chiến trường ta đã kết cỏ làm cho Đỗ Hồi vấp ngã, để đền ơn ngươi".
(2) Ngậm vành (hàm hoàn): Tương truyền, lúc lên chín tuổi Dương Bảo thời Hán thấy một con sẻ vàng bị chim ưng mổ, rơi xuống gốc cây. Dương Bảo đem về nuôi, chuyên cho nó ăn hoa cúc. Được hơn một trăm ngày lông sẻ vàng dài ra, rồi bay đi. Đêm hôm ấy có một bé trai mở áo vàng nói với Dương Bảo rằng:"Ta là sứ giả của Tây Vương Mẫu, tỏ lòng biết ơn ngươi đã cứu ta, xin biếu ngươi bốn chiếc vòng bạch ngọc (Xem Từ điển điển cố Trung Hoa, NXB' Văn hóa - Thông Tin, H, 2002)
 
Khóc xong, sói nhảy đến trước mặt Kiều, dùng vuốt quặp chiếc khóa, lôi ra mà không được. Nó quay lại cắn sai nha. Sai nha rút dao định chém, sói tung mình lên mô đất cao, nhìn vào trong núi, tru lên mấy tiếng, sói trên khắp núi lao tới, không sợ dao gậy, xông vào cắn sai nha, quần áo họ rách bươm. Không sao được, sai nha đành van nài Kiều Cảnh Tinh xin sói tha chết cho họLập tức Kiều Cảnh Tinh nói với con sói có vết sẹo rằng:
- Ngươi hãy bảo các con sói kia vào núi đi, đừng cắn người nữa. Nếu cắn chết sai nha thì ta sẽ mắc tội thêm, và ta chỉ có chết mà tôi. Rất mong ngươi nể mặt ta, tha chết cho họ.
Sói gườm gườm nhìn rất lâu, rồi lắc đầu vẫy đuôi với lũ sói kia. Lũ sói lập tức trở về hang. Kiều Cảnh Tinh nói với sói rằng:

- Lần trước ngươi lên mụt nhọt, ta không sợ chết lần vào hang của ngươi, nặn hết mủ lấy hết chất độc và thịt thối rữa cho thịt mới sinh ra. Ta không tiếc thuốc để chữa trị cho ngươi. Số bạc ngươi tạ ơn ta, chẳng biết ngươi lấy ở đâu, khiến ta phải chịu cảnh đánh đập, oán ghét. Đó chỉ là việc nhỏ. Song quan lớn còn bắt ta đền mạngTa không giết hại Sử Chính Cương, cũng không biết anh ta sống chết thế nào. Ngươi xem ta phải làm thế nào bây giờ? Thôi thì ngươi hãy đi cùng ta đến gặp quan, nói rõ ta bị oan uổng. Nếu không thì ngươi hãy ăn thịt ta ngay tại đây, để ta khỏi phải chết trong ngục, làm ma quỷ không được sạch sẽ gì. Nghe xong sói hiểu ra, thấy Kiều Cảnh Tinh đi, nó cũng cất bước theo sau.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Mon Apr 07, 2014 1:41 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 13 (B)
Đi tới giữa đường, thấy một quán cơm bên sườn núi, trời sắp tối, sai nha bụng đói, lên cơn nghiện, bèn vào hiệu ngả bàn đèn hút thuốc phiện mua rượu thịt, rồi hỏi Kiều Cảnh Tinh lấy tiền, Kiều nói:
- Tiền đã tiêu hết rồi, thôi thì hãy vào thành, đêm nay hút thuốc giải khuây cũng được.
Sai nha không nghe, chỉ muốn đổ tội cho Kiều Cảnh Tinh, ngang ngược đòi tiền. Kiều Cảnh Tinh rất uất ức, song chỉ biết van nài sai nha:
- Còn cách thành chỉ sáu bảy dặm nữa, bây giờ đi vẫn còn kịp. Nếu như ăn cơm hút thuốc thì đêm tối đường khó đi, chúng ta chịu khó một chút nữa thôi.
- Ông Kiều! - sai nha nói. - Vì vụ án của ông mà chúng tôi phải đi suốt ngày hôm nay. Ngay cả cơm sáng và thuốc sáng nay cũng không được ăn. Chỉ có mấy người đi đường mà ngươi cũng tiếc tiền, vào thành còn phải thêm người nữa, lúc ấy họ bê thức ăn ra kìn kìn, ngươi càng sốt ruột. Ta thấy ngươi là một tên nhà quê hay lợi dụng, không hiểu được phép tắc, trả tiền mà vẫn còn chịu nhục.
- Người trong nha môn rất độc ác, làm việc không có lương tâm. - Kiều Cảnh Tinh nói. - Xuống làng gọi người, luôn đòi tiền bạc. Nếu bắt người thì không những bắt người ta đãi cơm mà còn đãi cả thuốc. Người nhà quê luôn giữ bổn phận, không vì tình riêng mà làm điều sai trái. Hôm nay ta không cứu, thì sói đã ăn thịt các ngươi rồi.
Kiều Cảnh Tinh nói xong, thấy sói phẫn nộ nhảy bừa lên giường cầm bàn đèn đập nát, rồi xông vào sai nhai. Sai nha nấp sau lưng Cảnh Tinh xin tha tội:
- Kiều tiên sinh, hãy mau mau cứu chúng tôi, chúng tôi không đòi ăn cơm, hút thuốc nữa. Xin tiên sinh nói với sói, chúng tôi đi ngay đây.
Kiều Cảnh Tinh nói với sói:
- Họ không bắt ức ta nữa, ngươi hãy tha tội cho họ.
Sói vẫn chưa nguôi giận, quay vào bếp vơ lấy thịt ăn. Sai nha nói:
- Ông Kiều! Con sói này rất hung ác, anh hãy xích nó lại, nếu không trên đường nó sẽ hại người.
- Ngươi đến minh oan cho ta, đó là điều tốt. - Kiều Cảnh Tinh. - Ta nghĩ rằng nếu không xích ngươi lại, e rằng người đi đường sẽ sợ hãi, người sai nha này cũng không dám đi cùng, và lại làm ta thêm lo lắng. Ta thiết tha mong sói đừng giận, hãy để ta tạm xích ngươi, khi minh oan xong, ta sẽ giết lợn mổ dê để tạ ơn ngươi.
Nói xong, Kiều cầm xích bước tới xích sói. Sói giương vuốt, mắt long sòng sọc trông rất hung ác. Tất cả những người trong hàng ăn hô ầm lên định giết sói. Sai nha nói:
- Các người chỉ biết nói cho sướng miệng thôi chứ chẳng nghĩ gì, nếu đánh chết sói thì vụ án sáng tỏ sao được.
Kiều Cảnh Tinh van lạy mãi, sói mới cho xích, rồi họ dắt sói về thành. Sai nha vào bẩm quan, nói lại việc tìm sói, xích sói cho quan nghe, quan không ngớt lời kêu lạ. Thế rồi cho sói và Kiều vào miếu Tiêu Tào khóa lại chờ xét xử.
Ngày hôm sau, quan ra công đường xét hỏi sói. Cả thành nghe tin, hàng ngàn hàng vạn người đổ về xem xét xử. Quan ngồi giữa công đường sai người giải lão Sử, Kiều Cảnh Tinh và sói tới. Quan hỏi sói:
- Có phải trước đây ngươi mời Kiều Cảnh Tinh chữa bệnh, rồi biếu trâm bạc không?
Sói không nói, Kiều chỉ vào vết thương trên đầu sói. Quan nhìn thì quả nhiên đầu sói có chiếc sẹo to bằng miệng bát, lại hỏi tiếp:
- Những chiếc trâm ấy có phải của Sử Chính Cương không?
Sử Chính Cương đi đâu? Còn sống hay đã chết? Ngươi có biết không? Sói vẫn im lặng chẳng nói năng gì. Quan lại hỏi:
- Nhất định ngươi đã ăn thịt Sử Chính Cương, rồi lấy trâm tạ ơn thầy thuốc. Có đúng không?
Sói vẫn im lặng như trước. Quan hỏi:
- Thế thì đó là trâm của ngươi đã mua của Sử Chính Cương. Ngươi đã ăn thịt người ấy rồi lấy trâm biếu Kiều Cảnh Tinh có phải không? Lão Sử thấy bạc tối mắt lại, dấu cất đi, rồi lên báo quan, định cướp không số bạc ấy. Nếu quả như thế ngươi hãy gật đầu ba cái. Ta sẽ ghép lão Sử vào tội vu cáo.
Sói vẫn không nhúc nhích. Quan nói:
- Vậy thì do một lý do gì khác mà Sử Chính Cương đã bỏ đi, đánh rơi đồ trang sức, ngươi đã nhặt được, rồi đem tạ ơn thầy thuốc, có đúng không?
Sói càng im lặng không nhúc nhích. Quan trầm ngâm hồi lâu hỏi:
- Ta thấy ngươi biết mời thầy chữa bệnh, lại dùng bạc để tạ ơn lại đích thân tới công đường nghe xét xử. Ngươi tuy là dã thú song có lương tâm, nhất định ngươi biết được Sử Chính Cương còn hay mất. Ngươi đi tìm về đây để Kiều Cảnh Tinh khỏi bị liên lụy, ngươi có đi không?
Sói vẫn đứng im. Quan buồn rầu lo lắng, nghĩ một lát, chẳng còn cách nào khác, bỗng nhiên ông đập bàn nói:
- Đúng, thế thì đúng rồi! Nhất định Sử Chính Cương bị kẻ thù giết chết, vứt xác lên núi, bị sói ăn thịt, nhặt được đồ trang sức. Nếu như thế thì ngươi sẽ biết hung thủ là đứa nào rồi. Ta sẽ cho ngươi cùng sai nha đi bắt nó về. Ngươi có bằng lòng không?
Sói lập tức đứng ngay dậy, rồi chạy vụt đi.
Những người xem xét xử thấy sói hung ác lùi lại trốn không kịp, chạy giạt ra, kêu gào như vỡ chợ. Sói xông vào đám đông len lỏi chạy lung tung, đám đông xô giạt như núi lở, sóng xô, người thì rơi mũ, kẻ tụt giày, người thì què chân, kẻ thì giập mặt, quần áo rách tả tơi. Quan cũng kinh hoàng, bảo mọi người:
- Tất cả hãy đứng lại, con sói này không ăn thịt người.
Song không sao ngăn cản được họ. Bỗng nhiên thấy sói tha một chiếc giày gấm bước vào sảnh đường, nhả xuống bên bàn rồi vẫn đứng im y như ban nãy. Quan hiểu ra, vội mở ngay cửa, lệnh cho những người xem chỉnh đốn lại quần áo, giày dép, nếu ai mất giày thì tới công đường mà lĩnh. Một lúc lâu chẳng thấy ai tới nhận.
Quan lệnh cho sai nha hỏi ai mất giày, lúc ấy mọi người hỏi nhau xin lại rồi xỏ vào. Chỉ có một người bị giẫm què chân trái, đứng ở đó, mất một chiếc giày. Sai nha lôi người ấy vào công đường. Quan nhìn thấy chiếc giày người ấy đang đi, giống với chiếc giày chó sói ngoạm tới, bèn hỏi ngay họ tên. Người ấy nói:
- Con là Chu Vũ, sống ở phố Nam thành này. Hôm nay nghe thấy thẩm vấn sói, ai ngờ bị mọi người chen lấn, giẫm phải chân rơi mất một chiếc giày.
- Ngươi giết Sử Chính Cương, vứt xác ở đâu? - Quan hỏi. - Hãy khai mau!
- Con an phận thủ thường, - Chu Vũ nói. - Chưa từng làm điều gì sai trái. Cũng chẳng biết Chính Cương là người thế nào. Con không giết người, thì đâu dám khai bừa.
- Thằng chó má này, to gan thật. - Quan nói. - Rõ ràng là mày giết người mà vẫn không nhận ư?
- Con không quen biết Sử Chính Cương thì sao con biết được xác người ấy. Quan dựa vào đâu mà bảo con giết người.
- Chiếc giày của ngươi là chứng cứ. - Quan nói.
- Chiếc giày ấy bị người ta chen lấn làm rơi, sói ngoạm về, sao có thể là chứng cứ được!
- Giày của bao nhiêu người nó không ngoạm, mà nó chỉ ngoạm lấy giày của ngươi. Vậy không phải ngươi thì ai?
- Sói là loài vật ngu xuẩn, - Chu Vũ nói, - vì nó ngoạm giầy mà bảo là con giết người, thì quả là oan con quá.
- Con sói này biết mời thầy thuốc, biết tạ ơn, - quan nói, thấy oan biết minh oan. Nó có lương tâm hơn người, há rằng nó lại vô cớ ngoạm giày của ngươi?
- Quả là con không giết người. - Chu Vũ nói. – Cớ sao ngài bỗng dưng đổ oan cho người tốt?
Quan nổi giận quát:
- Thằng chó má này to gan thật, ta hỏi ngươi mà ngươi cứ cãi bướng, quân bay đâu, hãy trói giật cánh khuỷu nó lại, đánh cho nó tám mươi gậy.
Đánh xong quan hỏi:
- Ngươi có khai không?
Chu Vũ vẫn không khai. Quan gọi:
- Đem kẹp ra đây, kẹp nó cho ta!
Chu Vũ sợ tra tấn, biết rằng không thể che giấu được nữa, bèn cúi đầu nhận tội:
- Thưa ngài đừng tra tấn nữa, con xin khai rõ từ đầu. Con từ nhỏ chơi bời phóng đãng, chuyên dùng ngựa và đường thương. Nhập bọn giang hồ ngông nghênh khét tiếng, chuyên áp bức kẻ hèn yếu. Làm vương làm tướng lui tới sòng bạc. Giả danh anh chị, tối đến vào lầu xanh chơi gái. Trần Thúy Thúy và con đã tình sâu nghĩa nặng. Hẹn với cô ta một ngày nào đó sẽ nên vợ nên chồng. Sử Chính Cương làm điều không thỏa đáng, tìm người che chở cướp người tình của con, dùng tiền bạc làm cho người tình của con thay lòng đổi dạ. Một mình hắn chiếm kẻ chăn gối của con, không cho phép người ngoài đụng đến. Không chịu được, con bèn xông tới. Trần Thúy Thúy ra mặt chửi con. Khiến lửa ghen bùng cháy. Chỉ tức một nỗi không giết được Sử Chính Cương, sợ rằng sẽ phạm pháp. Từ ngày con không được ngủ với cô, ngày đêm con suy nghĩ. Rồi giả vờ làm thân, chịu lép một bề. Chợ sườn núi mở hội bán hàng bách hóa. Con và Sử Chính Cương cùng đi chợ. Con đã đặt sẵn cỗ tại cửa hàng ba cô gái, mời Sử Chính Cương. Chuốc anh ta uống say lúy túy. Đến tối hai người cùng về nhà. Hắn đi trước, con giấu đao theo sau. Sử Chính Cương ngấm rượu, đi chưa đầy ba dặm, lảo đảo ngã lăn xuống vệ đường. Con giả vờ cõng anh ta về, rồi rẽ ngoặt sang đường khác, tới Nam Cương. Nơi đây rất vắng người qua lại, núi cao rừng rậm, con cho hắn đi chầu trời. Vứt xác hắn vào bụi rậm. Chắc rằng chẳng quỷ thần nào mà biết được. Con không biết trong người hắn có bạc. Để đến nỗi mấy chiếc trâm rơi vào chó sói, ông lang Kiều bán bạc mà gặp họa. Lúc ấy con vui sướng. Chỉ biết là người khác chịu oan, còn mình thì không phải đền mạng. Ai ngờ sự báo ứng chẳng sai chút nào. Hôm nay tới công đường, nghe xem sói nói thế nào. Ai ngờ chính mình lại gặp tai ương. Sói ngoạm chiếc giày gấm đặt trước công đường. Quan nhìn thấy biết ngay con là mầm tai họa, đánh con tám mươi gậy, con vô cùng đau đớn. Người ta thường nói rằng, giết người thì phải đền mạng. Âm hồn sớm tối luôn luôn đeo bám mình. Dù người có tài biện bạch đến mấy, lấp liếm đến mấy, không khai cũng khó tránh khỏi đánh đập. Kẻ gây ra tội ác làm sao có thể trốn thoát. Đó là lời khai đúng sự thực, xin ngài rộng lòng thương.
Khai xong, quan lệnh áp giải ngay Chu Vũ tới chỗ hắn giết Sử Chính Cương, khám nghiệm thi thể, xác đã bị chó sói ăn chỉ còn lại những mảnh xương đầu và chân tay mà thôi. Lệnh cho lão Sử nhận lấy xương, cho người chôn ngay tại chỗ. Sói lắc đầu vẫy đuôi rồi bỏ đi. Trở về nha môn, quan giam Chu Vũ vào ngục. Rồi gọi vợ chồng Vương Gánh Nước tới, quan mắng:
- Vương Gánh Nước không giữ được đạo làm chồng, Trần Thúy Thúy dâm đãng làm bại hoại danh tiết. Vụ chết người này là do ngươi gây ra. Mỗi đứa đánh một trăm gậy, đuổi ra khỏi thành.
Tha Kiều Cảnh Tinh, tâu trình cụ thể lên cấp trên, trảm thủ Chu Vũ.
Lão Sử về nhà, bảo con dâu nuôi con nuôi để hương khói sau này. Con dâu lại là người rất hiếu thảo. Từ đó ông bà già đủ ăn đủ mặc. Sống tới ngoài bảy mươi tuổi mới qua đời. Con dâu của ông bà cũng là người có tuổi thọ cao. Kiều Cảnh Tinh từ đó hết lòng làm việc thiện, cứu nhân độ thế, ăn nên làm ra. Chỉ trong mười năm trở thành giàu có, con đỗ tiến sĩ. Vương Gánh Nước bị đuổi ra khỏi thành. Vợ anh ta vẫn tiếp khách làng chơi như cũ. Hà Nhị Oa làm tay sai cho Sử Chính Cương, thời ấy đã thông dâm với Trần Thúy Thúy. Nay thấy Sử Chính Cương và Chu Vũ chết, muốn độc chiếm Thúy Thúy. Về sau, tranh nhau với khách làng chơi, bị chúng giết chết, rồi tẩu thoát. Vợ chồng Vương Gánh Nước sau cũng bị chết trong ngục.
 

Các bạn thân mến, Sử Chính Cương hà khắc, bất hiếu với cha mẹ, sống dâm đãng, chỉ muốn bắt nạt người. Ai ngờ hắn bị chết, xác làm mồi cho chó sói. Vợ hắn là người hiền thục, nuôi con nuôi xây dựng gia đình, cuối cùng được hưởng tuổi thọ cao. Chu Lão Ngũ không làm ăn ngay thẳng, hung ác dâm đãng dù có giữ kín đến đâu, cuối cùng vẫn bại lộ, bị chém đầu giữa pháp trường. Vương Gánh Nước buông thả vợ dâm loạn, vợ chồng chết trong ngục. Hà Nhị Oa chỉ đường cho người làm việc ác cuối cùng chết bởi lưỡi dao kẻ khác. Kiều Cảnh Tinh hết lòng làm việc thiện, được sói minh oan, cuối cùng hưởng phú quý. Từ đó ta thấy kẻ nào làm điều ác, dù cho có khôn khéo đến đâu, cũng bị trời trừng phạt. Nếu không thì vì sao sói là loài dã thú cũng biết minh oan. Ta mong mọi người nên gột rửa lòng mình, đừng để cho ý nghĩ gian tà làm lụy đến thân.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   

Về Đầu Trang Go down
 
Đoán Án Kỳ Quan
Về Đầu Trang 
Trang 3 trong tổng số 6 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang :: Các Đạo Khác :: Gương Xưa Tích Cũ-
Chuyển đến