Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang
Chào bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang!
Diễn Đàn là nơi giao lưu kết bạn, sưu tầm, lưu trữ, học hỏi và chia sẻ kiến thức.
Để cùng nhau tiến bộ trên con đường hướng thiện.
Chúc bạn sức khỏe và có nhiều thành công mới trong cuộc sống!

Om mani pad me hum
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang

Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho; một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tạo lấy.
 
Trang ChínhTrang Chính    CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Chào mừng các bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang! Chúc các bạn sức khỏe và thành đạt! Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang.

Share | 
 

 Đoán Án Kỳ Quan

Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6  Next
Tác giảThông điệp
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5932
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Tue Mar 18, 2014 1:20 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 15 (B)
Nói xong nước mắt chị đầm đìa. Thi Huệ Khanh nghe xong, mặt tái mét, nói:
- Tôi vốn có ý tốt, sao anh chị lại nghĩ tôi như vậy? Lẽ nào tôi lại chiếm đoạt vợ anh ấy.
Nói xong, xô bàn đứng dậy bỏ đi. Về tới nhà anh nghĩ: "Không có lí gì mà Tăng Tiểu Tam lại bỏ đi như thế". Rồi anh lại nghĩ: "Nếu quả nhiên anh đi mà không về ngay, ta ở sát vách thế này cũng không ổn. Thôi thì ta dọn đi nơi khác". Hôm sau Thi Huệ Khanh tìm được nhà, rồi dọn đi. Những nhà lân cận đểu nói, Thi Huệ Khanh chỉ vờ thế thôi, chuyển xong chỗ ở thế nào cũng trở lại đón Thương thị. Hôm ấy không thấy Thương thị mở cửa đi đâu. Những người hàng xóm sinh nghi, đứng ngoài gọi không thấy trả lời, đẩy cửa vào thấy cửa khép hờ, chân quay cửa bị đào lên. Mọi người ùa vào xem, thấy Thương thị chết nằm co trên giường, vẫn còn vết tay bóp cổ. Tin Thương thị bị chết đồn ầm khắp làng, họ đều cho rằng: "Người đàn bà này chết đúng vào lúc người thợ giày sát vách dọn đi nơi khác. Vậy chỉ có anh ta giết chứ chẳng ai khác". Lập tức đưa việc này lên quan xét xử. Quan huyện là Thẩm Bá Minh đang ngồi làm việc tại công đường, nghe thấy chuyện giết người, bèn cầm tờ trình xem, hỏi lũ những người đi tố cáo, sau đó ra lệnh bắt Thi Huệ Khanh ngay. Lát sau người ta giải Thi Huệ Khanh tới. Tri huyện quát hỏi, sự việc đã xảy ra thế nào, Thi Huệ Khanh đáp:
- Con trả nợ cho Tăng Tiểu Tam, Tăng Tiểu Tam gán vợ là Thương thị cho con. Nhưng con không muốn, nên phải chuyển đi nơi khác để tránh hiểm nghi. Con không biết vì sao Thương thị chết?
- Mày không muốn lấy vợ người ta, - quan huyện thét mắng, - tại sao mày lại trả nợ hộ? Rõ ràng mày giả vờ từ chối, rồi lén lút hành dâm, không được, mày đã giết người ta.
Thi Huệ Khanh gào lên kêu oan. Nhưng quan huyện nào có tin, sai người đánh đập Thi Huệ Khanh bức phải cung khai rồi tống Thi Huệ Khanh vào nhà lao.
 
Đúng là:
Làm ơn lại nên oán,
Giúp người hóa chịu oan.
Trời ơi! Đâu có tội.
Oan này ai thấu cho.
Hôm ấy Tăng Tiểu Tam từ biệt vợ, đi lối cửa sau ra khỏi thành tới Ngũ Đài Sơn. Đi được hơn hai mươi dặm thì trời tối, Tăng Tiểu Tam dừng chân, nghỉ tại một quán trọ bên đường. Không ngờ đến nửa đêm thì lên con sốt, sáng hôm sau không cất mình ngồi dậy được. Tăng Tiểu Tam ốm liệt giường đến hơn nửa tháng trời mới khỏi. Hôm ấy đang lúc sửa soạn lên đường thì thấy có người trong thành ra, họ kể lại chuyện Thi Huệ Khanh. Tăng Tiểu Tam giật mình nghĩ bụng: "Thi Huệ Khanh không phải là kẻ giết người. Hơn nữa khi nhường vợ cho anh, mình cũng đã nói trước với Thương thị. Thương thị cũng đã nghe theo. Không biết vì sao Thương thị lại bị giết. Thật là oan cho anh quá. Ta phải về xem sự thể thế nào, nếu không thì người tốt phải chịu oan". Tăng Tiểu Tam quay trở về không rẽ qua nhà, mà đi thẳng vào thành tìm tới nhà tù, van nài người coi tù dẫn Thi Huệ Khanh ra gặp. Tăng Tiểu Tam thấy Thi Huệ Khanh mặc quần áo tù, mình đầy xiềng xích, nước mắt ứa ra. Thi Huệ Khanh nói:
- Tôi bị oan là do số trời đã định. Anh đừng nói nữa, tôi biết, lần này chị ấy vô cớ bị hại, điều đó càng làm cho anh thêm đau khổ.
- Tôi đã làm cho anh phải liên lụy. - Tiểu Tam nói. - Tôi sẽ lên huyện minh oan cho anh.
- Án đã quyết, - Thi Huệ Khanh nói, - quan huyện đâu chịu nhận sai? Anh đừng tốn công kêu oan nữa.
- Nếu quan huyện không chịu làm ra nhẽ, ta sẽ lên ngài Lai sát Viện mới tới nhậm chức, bẩm lại việc này, nỗi oan sẽ được làm sáng tỏ.
Nói xong Tăng Tiểu Tam từ biệt Thi Huệ Khanh, nhờ người làm đơn, rồi tới ngăn ngựa Lai Ngự sử, kêu khóc dâng đơn.
Lai Ngự sử nhận đơn, sai tuần bổ giải Tăng Tiểu Tam về nha môn. Khi giải quyết xong việc công, ông cho Tăng Tiểu Tam tới hỏi tỉ mỉ sự việc đã xảy ra. Rồi ông sai người tới huyện lấy bản án Thi Huệ Khanh và cho gọi những người hàng xóm trước đây đã trình báo lên huyện. Ngày hôm sau, Lai Ngự sử trực tiếp hỏi cung, nghiên cứu tỉ mỉ lại một lần nữa, rồi ông hỏi những người láng giềng.
- Sau khi chồng Thương thị đi, có người nào đến nhà không?
- Bẩm quan, không thấy ai đến ạ. - Những người láng giềng nói.
- Hàng ngày có người thân thích nào hay đến không? - Lai Ngự sử hỏi Tiểu Tam. - Thưa ngài, con nhà nghèo, có mấy người bạn thân, nhưng họ cũng không hay lui tới. - Tăng Tiểu Tam trả lời.
- Thường ngày anh hay đi lại với ai? - Lai Ngự sử hỏi Thi Huệ Khanh.
- Con sống độc thân, không quan hệ với ai. - Thi Huệ Khanh trả lời.
- Trong mấy ngày, từ khi trả nợ giúp, uống rượu, rồi dọn đi nơi khác, có đi lại với ai không- Lai Ngự sử hỏi.
Thi Huệ Khanh nghĩ một lát rồi nói:
- Hôm trả nợ, con có mời hòa thượng Hóa Duyên đến nhà con ăn bữa cơm chay.
- Người ấy là hòa thượng chùa nào? - Lai Ngự sử hỏi.
- Đó là hòa thượng của chùa Bảo ứng ngoại thành, - Thi Huệ Khanh nói, - tới khuyên giáo xây chùa. Hòa thượng làm chiếc liều nhỏ ở ngay xóm con để đi khuyên giáo. Lúc đầu con định tiến cúng ba mươi lạng đó xây chùa, cho nên con đã mời hòa thượng đến ăn chay. Sau đó vì trả nợ cho Tăng Tiểu Tam, con không tiến cúng vào chùa nữa.
- Hòa thượng hiện còn ở đấy không? - Lai Ngự sử hỏi.
- Thưa ngài, hòa thượng đi rồi. - Những người láng giềng trả lời.
- Đi bao giờ? - Lai Ngự sử hỏi.
- Bẩm ngài, đi đúng vào ngày Thi Huệ Khanh dọn nhà. - Những người láng giềng trả lời.
Lai Ngự sử trầm ngâm hồi lâu, rồi nói với mọi người rằng:
- Vụ án này khó mà sáng tỏ ngay được, hãy chờ đến hôm khác xét xử tiếp
Nói xong cho mọi người trở về, Tăng Tiểu Tam chờ xét sau. Từ đó, Lai Ngự sử không nhắc tới vụ án nữa. Để bẵng đi tới hai tháng trời.
Một hôm Lai Ngự sử bỏ ra một trăm lạng bạc cho chùa Bảo Ứng thết đãi các nhà sư. Hôm sau lại đích thân tới chùa dâng hương. Nhà sư trụ trì nghe tin Ngự sử đích thân tới chùa, bèn tụ tập các sư ra nghênh tiếp. Lai Ngự sử xuống kiệu vào chùa lễ Phật. Đi quanh chùa một lượt, Ngự sử hỏi:
- Xây dựng xong ngôi chùa mất khoảng bao nhiêu?
- Phải mất hai ba ngàn lạng. - Nhà sư trụ trì nói.
- Muốn chùa sửa sang hoàn thành, phải hoàn toàn dựa vào sự quyên góp sao? - Lai Ngự sử nói.
Nhân đó Lai Ngự sử hỏi đã cử bao nhiêu hòa thượng đi quyên góp. Nhà sư trụ trì nói:
- Có mười người, được chia đi các nơi.
- Thế mười hòa thượng ấy hôm nay có ở chùa không - Lai Ngự sử hỏi.
- Hôm nay ngài tới chùa đãi cơm chay, họ đều ở chùa cả. - Hòa thượng trụ trì nói.
Lai Ngự sử bảo những người giúp việc rằng, ngoài cơm chay bình thường ra, dọn thêm mười mâm cỗ chay, khoản đãi mười hòa thượng đi quyên góp. Một mặt bảo sư trụ trì gọi từng người tới trình sổ quyên góp cho ông xem, để sau này bản viện tiện tiến cúng. Sư trụ trì tuân lệnh, lập tức gọi mười hòa thượng lại. Song chỉ gọi được chín người, còn một người tìm mãi vẫn không thấy. Lai Ngự sử nghiêm mặt nói:
- Ta có thiện chí mời tới ăn chay, tại sao lại trốn biệt không chịu ra gặp ta?
Rồi ông quát sai dịch tìm tất cả các phòng, song sao mà tìm thấy được? Thấy Lai Ngự sử quát tháo bắt đi tìm, hòa thượng ấy càng trốn kĩ. Sư trụ trì vội vàng tìm khắp nơi, rồi đi thẳng tới gian bếp cất giữ hương cũ, thấy hòa thượng chui vào chiếc lò hóa vàng hương. Sư trụ trì và các sai dịch lôi ra, giải đến trước Lai Ngự sử. Thấy mặt mũi, chân tay nhem nhuốc như một vị La Hán đúc bằng sắt. Lai Ngự sử gọi người mang nước đến cho hắn rửa mặt. Lại cho gọi Tăng Tiểu Tam và những người hàng xóm của anh đến, hỏi:
- Có phải đây là hòa thượng đã đến xóm các anh dựng lều để đi quyên góp không?
- Đúng là ông ấy. - Mọi người trả lời.
Lai Ngự sử chỉ vào mặt gã hòa thượng ấy quát:
- Ngươi đã hãm hại Thương thị, vợ của Tăng Tiểu Tam, giờ ngươi chạy đâu cho thoát.
Gã hòa thượng vẫn chối quanh. Lai Ngự sử cho giải các phạm nhân và gã hòa thượng về nha môn để thẩm vấn. Về tới nha môn. Lai Ngự sử mở phiên tòa xét xử giải hòa thượng Hóa Duyên tới, cho lính cùm kẹp. Đau quá không chịu nổi, hòa thượng đành phải khai:
- Con là Khứ Phi chùa Bảo Ứng. Vào tháng... con đã dựng lều tại xóm... để đi khuyên giáo. Biết được Thi Huệ Khanh người xóm ấy giúp Tăng Tiểu Tam trả nợ. Tiểu Tam gán Thương thị cho Huệ Khanh rồi bỏ đi. Huệ Khanh không muốn lấy Thương thị. Thương thị ở một mình, phạm tăng nẩy ra ý xấu. Vào tháng... đêm... đã thay quần áo đóng giả Thi Huệ Khanh, lén lút mở cửa vào nhà, lừa dối Thương thị để dâm ô. Bị Thương thị phát hiện kêu lên, phạm tăng sợ người ta biết, đã bóp chết Thương thị. Những điều con khai là đúng sự thực.
Lai Ngự sử ghi những lời cung khai tội lỗi, đánh ba mươi gậy, gông cổ, giam hòa thượng vào nhà lao tử tù. Cho gọi sư trụ trì tới mắng:
- Ngươi cho đồ đệ đi khuyên giáo, chúng lại làm những việc bất lương, phải chịu tội liên đới. Nay ta tha, phạt ngươi ba trăm lạng, đền cho Thi Huệ Khanh.
Sư trụ trì cúi đầu chịu phạt, Lai Ngự sử sai người dẫn Thi Huệ Khanh tới, đồng thời cho gọi tri huyện Thẩm Bá Minh. Viên tri huyện sợ hãi xin nhận tội. Lai Ngự sử quát:
- Ngươi đã xử oan, hãm hại người lương thiện, tội ác như thế làm quan sao được. Ngươi đáng phải chịu tội. Nay ta phạt ngươi năm trăm lạng bạc, đền cho Thi Huệ Khanh.
Sau đó Lai Ngự sử cho gọi Thi Huệ Khanh lại an ủi:
- Anh là một đấng trượng phu đáng được khen thưởng. Ta thưởng cho người tám trăm lạng bạc. Đây là phần thưởng nêu gương điều thiện.
Thi Huệ Khanh thưa:
- Con đã được ngài minh oan, cải tử hoàn sinh. Nay con xin xuất gia, không dám nhận tám trăm lạng tiền thưởng. Xin một nửa để xây dựng chùa, còn một nửa tặng cho Tăng Tiểu Tam, để anh thờ cúng người vợ đã mất, và lấy người vợ khác.
Tăng Tiểu Tam cúi lạy nói:
- Từ lâu con đã phát tâm tới Ngũ Đài Sơn tu hành, không muốn nhận bạc, số bạc này để lại xây dựng chùa.
Lai Ngự sử nghe xong trầm ngâm nới:
- Hai anh không nhận bạc, đều muốn xuất gia. Ta định sẽ giải quyết theo cách khác.
Thế rồi ông cho gọi tất cả hòa thượng tới, nói:
- Các người đều là lũ trọc đầu không có tấm lòng trong sáng lại muốn làm người tu hành. Phần lớn khi còn nhỏ, cha mẹ nghèo đói, không có nghề nghiệp gì truyền lại, bảo rằng mình gặp cơn đen vận túng phải cho con đi tu. Khi lớn lên dục vọng nảy sinh, làm những điều xấu xa. Hoặc có người nửa đường đứt gánh, hoặc do nghèo túng bức bách đi tu, hoặc vì phạm tội, không còn cách nào phải trốn vào cửa thiền. Rồi được khách thập phương cúng đón, ăn no mặc ấm, từ đó nẩy sinh ý xấu. Đó gọi là: "Đói rét sinh trộm cướp, no ấm sinh dâm dục". Nay ta cho các ngươi hoàn tục, nếu ai muốn, ta cho năm lạng bạc trở về quê quán làm dân lương thiện.
Quá nửa tăng lữ xin hoàn tục, những người đó được Lai Ngự sử cho bạc rồi thả ra. Lệnh cho Thi Huệ Khanh, Tăng Tiểu Tam tạm thời trụ trì chùa Bảo ứng, và Lai Ngự sử dặn họ rằng:
- Ta muốn mở đàn tràng cúng cô hồn ba ngày ba đêm tại bản tự, đến ngày đó sẽ cử hành lễ cắt tóc làm hòa thượng cho các ngươi. Việc này cần rất nhiều tăng lữ, song tăng lữ tại địa phương rất ít, có người lại chưa biết hành lễ, bởi thấy cần mời các nhà sư tiếng tăm ở các nơi về, thì mới làm tốt được việc này.
Nói xong Lai Ngự sử cho một số người đem bản yết thị dán khắp nơi, từ các cổng thành, đến các vùng thôn quê và chùa chiền. Bản yết thị như sau:
- Giám Sát Ngự sử Quảng Đông mời các tăng lữ về hành lễ để chấn hưng Phật giáo. Bản viện chọn ngày lập đàn tràng lớn tại chùa Bảo ứng. Song tăng nhân địa phương không đảm đương nổi việc nhà Phật. Vậy kính mời tăng nhân thập phương về bản tự lập đàn tràng ba ngày ba đêm, cúng các tướng sĩ trận vong, và các cô hồn bị hại ở khắp nơi. Nghĩ rằng các nhà sư đang vân du muôn nẻo, nhất định sẽ có những thánh tăng. Bởi thế mời các vị tới để cử hành khóa lễ trọng thể này" .
Khi công bố bản yết thị, các nơi truyền tin nhau. Những tăng lữ đang vân du, nghe tin đều lũ lượt về chùa Bảo ứng. Lai Ngự sử đột nhiên đến chùa tiếp kiến, lần lượt ghi danh sách quê quán, và chia về từng phòng yên nghỉ.
 
Bỗng thấy một hòa thượng:
Hai mắt tráo trừng.
Lông mày dựng ngược.
Hùng hùng hổ hổ học thói La Hán cưỡi rồng.
Hằm hằm độc ác như thể Thiền sư cưỡi hổ.
Chuỗi tràng hạt ở cổ như đốt xương người.
Gậy thiền trượng trên tay, như tắm máu tươi.
 
Đó chẳng phải là ai khác, hán chính là gã hòa thượng cách đây năm năm đã đuổi Lai Ngự sử rơi xuống giếng. Hắn không nhận ra Lai Ngự sử, nhưng Lai Ngự sử lại nhận ra hắn.
Lai Ngự sử vờ nói:
- Đêm hôm qua ta nằm mơ thấy Quan âm Đại Sĩ, nói với ta rằng: "Ngày mai có một vị hòa thượng, tuy dáng vẻ dữ tợn, nhưng lại là một vị cao tăng đức hạnh”. Nay thấy đúng như lời báo mộng, thì đây nhất định là một hòa thượng tốt. Xin mời đến dinh dùng cơm chay.
Nói xong sai người dẫn hòa thượng đến nha môn. Sai dịch nói:
- Ở chốn nha môn không được mang thiền trượng vào.
Họ bảo hòa thượng để thiền trượng ở ngoài, rồi dẫn vào nhà Lai Ngự sử lập tức trở về nha môn. Vừa bước vào cổng, ông thét bọn tay chân trói hòa thượng lại. Hòa thượng vội kêu:
- Bần tăng vô tội.
- Ngươi vẫn còn nói là vô tội ư? - Lai Ngự sử quát.
- Ngươi còn nhớ cách đây năm năm, người đã đuổi một thư sinh rơi xuống giếng không?
Gã hòa thượng nhìn kĩ Lai Ngự sử, bỗng chết lặng đi, cứng họng không nói được. Lai Ngự sử nói:
- Tại sao hôm ấy ngươi giết người đàn bà? Hãy khai cho ra để khỏi phải tra tấn.
- Pháp danh của con là Đạo Hư. - Hòa thượng nói. - Năm ấy cùng với sư huynh là Đạo Vi đi qua ngôi miếu ở ngoài thành thuộc huyện Đồng Hương, ngẫu nhiên thấy một thiếu phụ, rồi nẩy ra ý xấu, bức người ấy vào miếu cưỡng dâm. Không ngờ ngài đi qua gặp được, bởi thế con đã cả gan đuổi ngài rơi xuống giếng. Khi về tới miếu, thấy người đàn bà ấy đã chết, còn sư huynh bỏ đi đâu không biết. Quả thật con đã đuổi ngài, nhưng kẻ giết người không phải là con.
- Hiện nay Đạo Vi ở đâu? - Lai Ngự sử hỏi.
- Con không biết hắn ta ở đâu? - Đạo Hư nói.
Lai Ngự sử trầm ngâm hồi lâu, rồi lấy danh sách những hòa thượng tới chùa Bảo ứng ra xem, thấy cách đó ba hôm Đạo Vi đã tới chùa. Lai Ngự sử lập tức sai người đến chùa bắt Đạo Vi. Quát hỏi:
- Sư đệ khai, cách đây năm năm ngươi đã giết người đàn bà tại ngôi miếu cổ. Ngươi hãy thành thật khai ngay.
- Con không bạn bè gì với Đạo Hư. - Đạo Vi nói. - Con và tiểu tăng hiềm khích, nên Đạo Hư đã hại con. Xin ngài soi xét.
- Rõ ràng ngươi đã giết người đàn bà ấy. - Đạo Hư nghiến răng nói. - Bây giờ người còn chối cãi quanh co.
Lai Ngự sử quát, cho người mang kẹp ra kẹp, hắn vẫn không khai. Lai Ngự sử nhìn kĩ, song không nhận được mặt Đạo Vi. Hôm ấy bị đuổi, quay lại nhìn mấy lần ông chỉ nhớ được mặt Đạo Hư, còn gã hòa thượng trong miếu thì không nhớ được. Lai Ngự sử thấy Đạo Vi không chịu cung khai, bèn kẹp, bắt Đạo Hư phải khai đúng sự thực. Đạo Hư chỉ một mực nói là Đạo Vi chứ không hề thay đổi lời khai. Lai Ngự sử nghĩ một lát rồi cho giam riêng mỗi người một nơi, hôm sau xét xử tiếp.
Đạo Vi bị giam riêng trong ngục, hắn nghĩ bụng: "Ngự sử đã nhận được mặt Đạo Hư, nên hắn không thể chối được. May mà ông ta không nhớ được mình. bây giờ cứ thối phăng, thì vẫn có thể thoát chết. Ngày mai xét xử dù cò kẹp hai ba chiếc kẹp, ta vẫn cố chịu đựng không khai, nhất định sẽ được tha”. Vào lúc canh ba, giữa đêm tối mịt mùng, Đạo Vi nghe thấy tiếng ma khóc văng vẳng từ xa, rồi sau cứ rõ dần. Đạo Vi tỉnh giấc lắng tai nghe, thấy tiếng nói khe khẽ bên tai: "Đạo Vi, mày giết chết tao, tao khổ lắm, lần này mày phải đền mạng". Đạo Vi chột dạ sợ quá, bất giác kêu thất thanh: "Có phải người là oan hồn người đàn bà không? Ta trong giây lát đã giết chết người, ta sai rồi, ngươi đừng tới đòi ta đền mạng nữa, lần này thoát chết, ta sẽ làm nhiều việc tốt để siêu sinh tịnh độ cho ngươi”. Vừa nói xong, thấy đèn đuốc sáng rực, hai người lính mặc áo xanh ập tới, quát lớn:
- Tên trọc đầu! Mày đã tự khai ra rồi. Chúng tao không phải là ma quỷ, mà là người tâm phúc của quan Ngự sử, giả vờ khóc để thử lòng mày. Nay thì chân tướng của mày đã bại lộ. Mày không thể chối cãi được nữa.
Đạo Vi nghe xong sợ xanh mặt. Đúng là:
 
Đêm đen đuối lí,
Sáng quắc mắt thần.
Không một bóng người,
Chân tướng lộ ra.
 
Hai người lính lệ, trói chặt Đạo Vi, chờ tới sáng giải hắn lên bẩm quan. Lai Ngự sử cười nói:
- Hôm qua ta kẹp, ngươi không khai, đêm qua không kẹp thì tự ngươi khai ra. Nay còn nói gì nữa không.
Đạo Vi thấy không thể chối quanh được nữa, đành phải khai rõ sự thật. Ngự sử lấy khẩu cung rồi lại giam vào ngục. Đồng thời lệnh cho chùa Bảo Ứng ngay ngày hôm ấy lập đàn tràng. Sau đó đích thân đến chùa, cắt tóc cho Thi Huệ Khanh, Tăng Tiểu Tam, và đặt pháp danh cho hai người là Chân Thông, Chân Thiết. Sau đó mời hai người làm hòa thượng, chủ trì đại lễ lại lệnh cho sư các chùa đều phải tôn kính hai vị hòa thượng này. Chân Thông, Chân Thiết bẩm rằng:
- Hai chúng tôi chỉ biết niệm Phật, không biết tụng kinh, không chủ trì đại lễ được.
- Hai vị là bậc cao tăng chân chính có đức hạnh, - Lai Ngự sử nói, - chỉ niệm Phật cũng đủ để siêu sinh tịnh độ cho cô hồn.
Thế rồi mời hai vị bước lên đài ngồi, cất cao giọng niệm Phật. Còn các tăng lữ ở dưới tụng kinh, tấu nhạc họa theo, cứ thế ba ngày ba đêm, đại lễ xong. Lai Ngự sử cho làm ba chiếc quan tài lớn, dẫn Khứ Phi, Đạo Hư, Đạo Vi tới trước đàn tràng, đánh mỗi tên một trăm roi, rồi cho vào quan tài, chất củi xung quanh. Cả một biển người từ các ngã ùn ùn đổ về chùa đông nghịt. Đúng vào giờ Ngọ, Lai Ngự sử rút từ trong tay áo ra một tờ giấy, đưa cho Chân Thông, Chân Thiết, bảo họ tuyên đọc. Chân Thông, Chân Thiết cũng biết được ít chữ, mở ra xem thì đó là một bài kệ, bèn đồng thanh tuyên đọc:
“Những việc ba người này gây ra không thể nói hết được. nay ta giải oan cho các ngươi, giải oan cho các ngươi. Đốt hết gốc rễ tham lam xấu xa, thiêu hết mẩm dâm dục độc ác. Từ nay diệt tận gốc, không sinh ra kiếp ác độc nữa".
Đọc xong Lai Ngự sử nổi lửa, ngọn lửa rần rật bốc cháy, phút chốc ba gã hòa thượng cháy thành tro. Đúng là:
Siêu thoát sư ngồi thiền.
Đốt chết hòa thượng sống.
Tất cả nhập niết bàn.
Cõi đời nợ xóa sạch.
Lai Ngự sử đã sai người đặt sẵn hai bài vị trên đàn tràng. Trên đó ghi: "Linh hồn Chu thị bị hại" và "Linh hồn Thương thị bị hại". Trước hai bài vị bày hương nến và lễ vật. Thiêu sống xong ba hòa thượng, Lai Ngự sử mời Chân Thông, Chân Thiết đến trước linh sàng hai người đàn bà, cúng rồi hóa vàng. Lai Ngự sử lại rút trong tay áo ra một trang giấy đưa cho hai người tuyên đọc:
Thương người đã làm thân phụ nữ,
Chớ sao phải chịu chết thảm thương.
Nghiệp trước nghĩ rằng chưa xóa hết,
Cho nên đời này chịu diệt trừ.
Cô hồn mờ mịt nào yên được,
Báo oán nỗi oan bao giờ xong.
Nay ngươi siêu thoát khỏi kiếp sống,
Hãy về nơi cõi Phật Tây Phương.
Đọc xong, hóa vàng hương, bài vị. Đàn tràng kết thúc. Hôm sau Lai Ngự sử tập hợp tăng lữ các nơi lại, rồi cho hoàn tục. Nếu người nào không muốn, phải đến nơi chức trách lĩnh giấy chứng nhận sư. Nếu không có giấy, không được phép ra khỏi châu huyện. Người nào vi phạm coi như đạo tặc. Tuyên bố xong, các nhà sư khất đầu lạy tạ ra đi.
Quan huyện Đồng Hương, trước đây là Hồ Hồn, vì lầm lỗi nên bị giáng chức xuống làm huyện thừa huyện Long Môn. Tham tướng Quảng Đông trước đây là Cao Huân, dựa vào Cao Cầu nên vẫn trở lại nhậm chức như cũ, Lai Ngự sử cho gọi họ tới dinh quan, quát hỏi Hồ Hồn về tội đã xử oan sai vụ án người rơi xuống giếng. Hồ Hồn sợ quá cúi đầu nhận tội. Lai Ngự sử mắng chửi hồi lâu, rồi bắt hắn phải bỏ ra một ngàn lạng bạc trích ra hai trăm lạng cho Ngưỡng A Nhuận, số còn lại dùng để xây dựng chùa. Sau đó lại gọi Cao Huân, nói rằng hắn dung túng cho quân lính làm hại dân, ta phải tâu lên cấp trên. Can Huân hoảng sợ xin tha tội, và xin bỏ ra một ngàn lạng để xây dựng chùa. Lai Ngự sử nói:
- Ngươi vơ vét bóp nặn dân chúng để tiến cúng xây dựng ngọn tháp bảy tầng, thì có khác gì sơn máu mỡ người lên tháp. Nay hãy mang số bạc ấy cứu tế dân nghèo, và phạt ngươi thêm một ngàn lạng bạc nữa mua thóc lúa dự trữ, cứu tế dân khi gặp thiên tai.
Hai người ấy đều phải tuân lệnh. Lai Ngự sử lại lệnh cho tri huyện Thẩm Bá Minh, Hồ Hồn, Cao Huân đến chùa Bảo Ứng bái kiến Chân Thông, Chân Thiết, chọn ngày tốt tiễn họ lên Ngũ Đài Sơn. Lệnh cho sư các chùa đánh trống tấu nhạc đi trước. Tri huyện Thẩm Bá Minh, Huyện thừa Hồ Hồn và Tham tướng Cao Huân đi bộ tiễn chân Chân Thông, Chân Thiết ra khỏi thành, lại sai thư lại mang theo tiền lộ phí, trực tiếp tiễn đưa hai ông về Ngũ Đài Sơn. Đúng là:
Tìm hòa thượng chân chính. Hãy nhìn vào dân lành.
Hai người làm hòa thượng.
Một vị làm quan to.
Thời ấy nhân dân Quảng Đông, ai ai cũng ngợi ca Lai Ngự sử là người sáng suốt. Ở triều đình, Trương Xu Mật nghe thấy tiếng tăm Lai Ngự sử lừng lẫy, dâng sớ đặc biệt tiến cử, được triều đình thăng làm Điện trung Thị Ngự sử. Lai Ngự sử vâng lệnh về triều, dân chúng sĩ phu Quảng Đông đứng chật đường tiễn chân. Lai Ngự sử về huyện Đồng Hương đón vợ và gia đình Thủy Ngoại Sinh tới kinh đô. Triều đình phong thưởng, cha mẹ vợ con cũng được phong tặng. Lai Ngự sử xin cho Thủy viên Ngoại làm quan, suốt đời được vinh thân phì gia. Về sau Lai ngự sử lại dạy dỗ con cái Thủy viên ngoại học hành đổ đạt, báo đền ơn tri kỉ xưa kia. Đúng là:
Trên đời nhất định được minh oan.
Ân đức có ngày sẽ báo đền.
Những người trí dũng và nhân ái.
Suốt đời vẫn giữ trọn hiếu trung.

Lai ngự sử cắt tóc cho hai hòa thượng đi tu là bảo vệ Phật; thiêu chết ba hòa thượng là bảo vệ Phật; cho những hòa thượng hoàn tục cũng là bảo vệ Phật. Thời ấy ai ai cũng nói đến phật, gặp sư là vái chào, như thế mới gọi thực tâm mến mộ đạo Phật. Nay chúng ta đọc truyện này, ai ai cũng vỗ tay khen ngợi!

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5932
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Tue Mar 18, 2014 4:05 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 16
Bố Bất Hiếu, Con Đào Mả Bố Bán Quan Tài
Trâu cày tạo hóa sinh ra nghé.
Ngỗ ngược thì sao có con ngoan.
Giọt giọt mái hiên đều thế cả.
Cha nào cũng con ấy mà thôi.
 
Đây là bài thơ khuyết danh thời Tống. Theo như bài thơ nói thì vì sao Cổ Tẩu ngu muội ác độc lại sinh được Thánh Thuấn? Nghiêu Thuấn thánh minh tại sao lại sinh ra đứa con bất hiếu là Đan Chu và Thương Quân? Bá Cổn hung ác sao lại sinh ra Thuấn Vũ? Tăng Sâm là người tu thân dưỡng chí? Không biết Cổ Tẩu là một người rất cổ lỗ. Ngày nay nhân tình bạc ác, những gia đình có thói hợm của, thấy con cái bỗng chốc giàu sang phú quý thì họ vô cùng vui sướng. Họ hoàn toàn không biết cái phú quý trước mắt, dù cho mình có làm phò mã, làm tể tướng, thậm chí làm hoàng đế, thì sau cũng sẽ bị giết hại, đến khi nghĩ lại thì đã muộn. Đó không phải là người ngày nay không bằng người ngày xưa, vậy thế nào là người cha ngu dốt hung ác cố chấp? Còn bàn về Đan Chu, Thương Quân, đều là người con có hiếu, biết nghe lời cha. Quả thật, bàn về thế thái nhân tình ngày nay, cho dù con do một người cha sinh ra, chia một chút gia sản cho các con, thì chúng vẫn ganh tị nhau, kẻ nhiều người ít. Song cha của hai người này không chịu truyền cơ nghiệp lớn lao cho con mình, mà lại truyền cho người khác, hai người con ấy hoàn toàn không nói gì. Cho nên Thư Kinh nói: "Vui vẻ thấy người ngoài làm vua". Đó chính là ca ngợi Đan Chu nhường nhịn. Trung Dung nói: "Con cháu bảo vệ nó."
Đó chính là ca ngợi Thương Quân là người hiền. Sao lại bảo họ là kẻ bất hiếu? Lại như Bá Cổn cũng là một hiền thần cần mẫn làm việc cho vua. Xưa nay trị thủy là một việc rất khó khăn nhất là thời Nghiêu, nạn hồng thủy càng khủng khiếp, nếu không có phép thần thông khoét núi mở đường trừ tà đuổi quỷ thì làm sao trị được Cho nên Đại Vũ là Thần vũ. Nhưng Bá Cổn trị thủy được chín năm. Thần Vũ trị được tám năm. Bá Cổn chỉ coi trọng kinh sư, cho nên trị thủy từ Thái Nguyên. Nhạc Dương, Thần Vũ coi trọng Hà Nguyên nên trị thủy từ Tích Thạch Long Môn. Rốt cục Thư Kinh Vũ Cống viết: "Đã trị từ Thái Nguyên đến Nhạc Dương", cũng chẳng qua ông dựa vào cơ sở công việc của Bá Cổn để trị thủy; Lễ Ký - Tế Pháp tế tự là nhờ đến công lao người đã chết. Người Hạ xem thường Cổn mà đề cao Vũ. Trong điển lễ lại xếp Bá Cổn vào loại người hung ác ngang với Cộng Công, Hoan Đâu, Hữu Miêu? Còn như Tăng Sâm, đều dựa theo tính cách của cha mẹ mà suy ra. Là người tính tình hào phóng, Tăng Tích rất yêu quý bạn bè, thường cùng họ du xuân trên sông Nghi Thủy. Bữa nào ông cũng bảo còn thừa, cho nên phải xin những thứ còn lại. Tăng Sâm thì luôn luôn tiết kiệm, lúc nào cũng lo sợ, tính hay thu góp, không đòi hỏi con cái nhiều quá lãng phí, không nói có đồ ăn thừa, cho nên Tăng Nguyên không xin. Tại sao lại bảo Tăng Sâm là người dưỡng chí, còn Tăng Nguyên không phải là người dưỡng chí. Người ngày nay không biết suy xét, nói là người tốt lại đẻ ra con độc ác, cha độc ác lại sinh được con ngoan, thế rồi cho rằng làm điều thiện là vô ích, không ngăn chặn làm điều ác. Dưới đây tôi kể chuyện báo ứng về người có hiếu sẽ sinh được con có hiếu, người xấu xa sẽ đẻ ra những đứa con xấu xa để các bạn nghe.
 
 
Thời Chính Đức triều Minh, huyện Vô Tích, phủ Thương Châu, Nam Trực, có một người tên là Yến Ngao, tự Lạc Xuyên. Cha Yến Ngao là Yến Mộ Vân - con rể nhà họ Thạch, mẹ là Thạch thị. Họ chỉ sinh được một mình Yến Ngao. Ông ngoại Yến Ngao là Thạch Giai Trinh, nhà giàu có, nên đã bỏ tiền ra mua một chức nho sĩ mũ cao áo dài, và tự xưng là ông lớn. Không có con nối dõi, Thạch Giai Trinh coi Yến Ngao như con đẻ mời thầy về dạy học, cốt sao thi đậu tú tài. Khi Yến Ngao mười tám tuổi, đúng vào lúc thi thì vợ chồng Yến Mộ Vân lần lượt qua đời. Cha mẹ vừa qua đời thì Yến Ngao phải đi thi. Thạch Giai Trinh muốn anh ta thi đậu tú tài nên đổi tên Yến Ngao thành Thạch Ngao, nhận là con. Thạch Giai Trinh mua chuộc Chúc Lẫm Sinh, làm tờ cam đoan, dùng tiền hối lộ che giấu việc bố mẹ Yến Ngao mất để được vào học. Ngày tiễn chân Thạch Ngao đi học, người, ngựa tấp nập, đua nhau mang quà đến mừng. Bạn bè thân thích cười thầm. Còn Thạch Chính Tông cháu họ của Thạch Giai Trinh thì tức tối. Anh ta trách móc Thạch Giai Trinh đã không nhận cháu làm người thừa kế. Thạch Chính Tông đưa việc này trình lên thầy dạy học rằng, Yến Ngao che giấu việc tang cha mẹ, yêu cầu thầy ra lệnh tra xét. Yến Ngao lo lắng, vội vàng về báo cho ông ngoại, bỏ tiền ra đút lót thầy học, và đút lót Thạch Chính Tông thì chuyện mới yên.
Năm ấy Thạch Giai Trinh lại cưới con gái họ Phương cho Yến Ngao, ngay năm đó đã có con, đặt tên là Kỳ Lang. Yến Ngao đỗ tú tài lấy vợ sinh con đều trong thời kỳ để tang, như thế là vi phạm luân thường đạo lí, dù có văn tài cũng coi như là một văn nhân vô hạnh, thật đánh khinh. Hơn nữa, trình độ của Yến Ngao quá kém, mãi hai năm sau gặp được người thầy trong họ, mới đỗ rốt bảng. Dạo ấy có người hiếu sự đã lấy bốn câu trong Tứ Thư ghép thành một bài thơ yết hậu như sau:
Tiểu nhân bụng đầy đức.
Chẳng sáng dạ chút nào.
Điểm thi được người cho.
Vênh vang đỗ rốt bảng.
 
Yến Ngao đỗ cuối bảng chỉ ở vào địa vị hàng xã. May mà chưa hết hạn sáu năm, nên Thạch Giai Trinh lại bỏ tiền đến thăm hỏi Tông sư (học quan) mới được đỗ vào cuối bảng ba, nhích thêm được một nấc nữa.
Ông ngoại coi Yến Ngao như con. Yến Ngao bỏ rơi cha mẹ, lẽ ra sau này phải thờ phụng Thạch Giai Trinh. Song kẻ bội bạc với cha mẹ thì làm sao biết ơn ông ngoại được.
Ngay người ruột thịt còn tệ bạc
Thì sao tốt được với người xa.
 
Thấy Thạch Giai Trinh già yếu, hắn nghĩ: "Ông ngoại chết, thì những người trong gia tộc họ Thạch nhất định sẽ tranh giành của cải. Nhân lúc ông ngoại còn sống, ta lấy một ít tiền để chi tiêu”. Rồi hắn lại bàn với vợ là Phương thị, lén lút lấy tiền của Thạch Giai Trinh mua ruộng vườn, nhà cửa, và tất cả những vật dụng trong nhà. Một hôm hắn lừa ông ngoại, đưa vợ con tới nơi ở mới. Thạch Giai Trinh vô cùng tức giận, đến ngay trường học trình báo về sự bất hiếu, ngổ ngược của hắn. Học sư(1) sai Học dịch(2) đến gọi Yến Ngao hỏi. Yến Ngao hứa sẽ tạ ơn những người này, và nhờ họ khéo léo dàn xếp với Học sư. Sau đó Yến Ngao đến xin lỗi ông ngoại. Thạch Giai Trinh vốn người hiền lành, thấy hắn xin lỗi cũng cho qua. Khi xong việc, Học dịch đòi tạ ơn, Yến Ngao đã nuốt lời hứa, Học dịch vô cùng căm tức.
 
(1) Học sư quan trông coi việc học. (2) Học dịch: những người thừa hành công vụ trong ngành giáo dục.
 
Hai năm sau trời hạn hán, mất mùa đói kém. Quan huyện và Học sư đều tới đàn cầu mưa thắp nhang khấn vái, phát cháo cứu đói. Lúc ấy Thạch Giai Trinh đã nghèo túng lại mắc bệnh phong, hằng ngày phải lang thang đi xin ăn. Hôm ấy, ông ta ăn mặc rách rưới, đến chỗ phát cháo rẽ đám đông quát to:
- Lui ra cho ông lớn vào ăn cháo.
Không ngờ trên lễ đàn, quan huyện nhìn thấy hỏi Học sư:
- Lạ thật, người này xưng là ông lớn, mà sao lại tới đây ăn cháo.
Học sư chưa kịp trả lời thì Học dịch đã quỳ xuống thưa rằng:
- Người này là Thạch Giai Trinh, từng là nho sĩ đội mũ đi hia, cho nên tự xưng là ông lớn. Ông là cha đẻ của Thạch Ngao học trò của huyện ta.
- Ta thấy điều này rất lạ. - Tri huyện kinh ngạc nói. - Con là tú tài sao lại để cho cha đi xin cháo? Con ông ấy có còn không?
- Bẩm quan, vẫn còn ạ. - Học dịch nói.
- Người tú tài đó hiện giờ sống thế nào? - Quan huyện hỏi.
- Ông ta có nhà cửa, ruộng vườn, sống sung túc. Chỉ vì đã ra ở riêng từ lâu, cho nên không quan tâm đến cha nữa.
Quan huyện nghe xong bỗng giận dữ, nói với Học sư rằng:
- Loại thư sinh như thế sao còn cho hắn học. Hãy tố cáo lên quan Học hiến, đuổi hắn ra.
Học sư vâng dạ làm theo lệnh quan huyện. Yến Ngao biết tin vô cùng lo lắng, vội chờ người đến ngăn lại đơn tố cáo. Mặt khác khẩn thiết nhờ mấy vị tú tài họ Án đến huyện trình rằng: "Thạch Ngao vốn là họ Án. Thạch Giai Trinh là ông ngoại. Tuy lúc nhỏ có lập người thừa tự, nhưng nay đã trở về họ gốc rồi". Đồng thời tìm người lên nói với quan huyện rằng, Thạch Giai Trinh hiện đang bị bệnh phong. Tri huyện mới phê vào đơn, thôi không tố cáo lên quan Học hiến nữa. Đúng là:
Bỏ Yến về Thạch.
Bỏ Thạch về Yến.
Mặc sức tùy tiên.
Khéo léo giả vờ.
Sau vụ này Yến Ngao hứa sẽ trả công, tuy không dây dưa, nhưng hắn lại đưa tiền đồng, lừa là tiền bạc. Tuy nhà Yến Ngao giàu có, nhưng lại có thói thích dùng tiền đồng. Đúng là:
Làm người không có tính người.
Tiền bạc lại không bằng bạc.
Bạc giả khác cho giấy tiền.
Cõi dương chẳng khác cõi âm.
Được nửa năm. Thạch Giai Trinh ốm chết. Yến Ngao không những không lo ma chay, mà còn không chịu tang. Chỉ nhờ Thạch Chính Tông lo liệu. Đến khi phát tang, hắn chỉ mang đến mấy lạng tiền đồng phúng viếng. Vô cùng căm tức, lo ma chay xong, Chính Tông lên huyện tố cáo Yến Ngao là người thừa tự nhưng không để tang. Hơn nữa, trước kia hắn cũng không tang cha mẹ. Xem xong đơn, quan huyện gửi giấy đến trường học kiểm tra lại. Những Học dịch lúc ấy không dám che dấu Yến Ngao, xúi giục thầy học trình ngay lên huyện về những sai trái của Yến Ngao. Trước khi thẩm vấn, quan huyện cho gọi những người họ Yến Ngao tới làm chứng. Trước đây Yến Ngao đã dùng tiền đồng đánh lừa họ, nên ai cũng ghét, họ đều thưa rằng:
- Quả thật trong khi để tang, Yến Ngao đã thi tú tài, trước kia anh ta đã nhận làm người thừa tự họ Thạch, song nay lại trở về với họ Yến.
- Cha mẹ chết thì bảo là làm con thừa tự họ Thạch. - Quan huyện nói. - Cha nuôi họ Thạch chết lại nói là trở về với họ gốc. Nay nếu đúng là về họ gốc, thì rõ ràng trước đây dấu tang để đi thi. Như thế là phạm tội.
Yến Ngao van nài xin tha. Tri huyện không nghe, gởi giấy lên Học viện. Theo luật, Học viện phê: "Phải xóa tên trong danh sách”.
Từ đó yến Ngao đoạn tuyệt quan hệ với nhà họ Thạch, song không ngờ, quan tài vợ chồng Yến Mộ Vân trước đây chôn tạm ở nghĩa địa nhà họ Thạch, nay bị Thạch Chính Tông đào lên mang tới gò hoang. Không còn cách nào khác, Yến Ngao đành chuyển hai chiếc quan tài về chôn tại nghĩa địa nhà họ Yến. Trước đây yến Ngao đã làm con thừa tự nhà họ Thạch, không góp một xu nào để mua khu đất nghĩa địa này. Số tiền ấy điều do Yến Tử Khai, anh con ông bác, bỏ ra. Nay Yến Ngao lại muốn đưa cha mẹ về đó, sợ Yến Tử Khai bắt phải góp tiền, nên chỉ nói là chôn tạm, sau sẽ chuyển đi nơi khác. Yến Tử Khai là một người tốt, không đòi tiền Yến Ngao, mà vẫn cho chôn. Yến Ngao tự chọn ngày, không báo cho người trong họ, cũng không mời thầy địa lý điểm huyệt, chỉ gọi mấy người thợ, bảo họ đào bừa một lỗ ở chỗ đất còn trống. Nào ngờ, đào được hai thước thì thấy một phiến đá lớn. Bọn thợ nói:
- Chỗ này không đào được, phải tìm chỗ khác.
Tiếc tiền công, Yến Ngao không muốn đào chỗ khác, cứ đặt bừa hai chiếc quan tài trên đá. phiến đá ấy gồ ghề cao thấp khác nhau, hai chiếc quan tài, chiếc cao chiếc thấp. Cha ở chỗ thấp, mẹ ở chỗ cao, y như cưỡi ngựa đá. Người ta đã làm mấy câu thơ như sau:
Cha lấy vợ họ Thạch.
Mẹ là con họ Thạch.
Sống dựa nào đá.
Đá cao chôn mẹ.
Đá thấp chôn cha.
Vì sao vợ cao hơn chồng.
Bởi vì là con gửi rể.
 
Yến Tử Khai thấy Yến Ngao chôn cha mẹ như thế lấy làm kinh ngạc, chỉ nghĩ rằng, vì chôn tạm cho nên mới cẩu thả như thế. Nhưng không ngờ, hơn một năm không thấy chuyển đi, vẫn cứ vứt bừa hai chiếc quan tài trên đá.
Yến Ngao đã hủy hoại hài cốt cha mẹ, thì làm sao con trai hắn tốt được. Đương nhiên hắn đã sinh ra một đứa con trai hư hỏng để báo oán. Kỳ Lang sinh vào năm Yến Ngao có tang, nay đã mười ba tuổi. Yến Ngao keo kiệt, không dám mời thầy về dạy, tự mình dạy lấy. Ai ngờ Kỳ Lang chẳng học cha được chữ gì, chỉ học được nghề đánh bạc. Chỉ quen tiêu tiền đồng, lại là người ham đánh bạc, liệu khi thua, Yến Ngao có mang bạc tốt ra trả không? Người ta thường nói: "Thượng bất chính, hạ tắc loạn”. Yến Ngao dạy Kỳ Lang học chữ, chữ thì chả học, mà chỉ học được ở bố trò đánh bạc.
Vợ Yến Ngao là Phương thị, thấy con chẳng chịu học hành, suốt ngày mải mê đánh bạc. Biết rằng cha không bảo được con, nhiều lần Phương thị khuyên Yến Ngao tìm thầy về dạy. Thấy vợ thúc ép quá anh ta tìm một thầy vừa đơn giản vừa đỡ tốn tiền, đó là người anh họ Yến Tử Giám, cùng ở một xóm. Yến Tử Giám là tú tài, chỉ vì tuổi già mà không theo đuổi con đường thi cử. Yến Ngao mời ông về dạy học, không phải trả lương mà chỉ nuôi cơm. Anh ta lại kéo thêm trẻ con hàng xóm tới học, bắt chúng thay nhau mang cơm đến nuôi thầy, còn mình chỉ thu xếp chỗ học và bỏ ra một bữa cháo buổi sáng. Vì nhà gần nên Yến Tử Giám sáng đến tối về, thành thử Yến Ngao không mất bữa cơm tối. Việc quá đơn giản, quá hời như thế, tưởng rằng Yến Ngao đặt lớp học tại phòng học mà con vẫn học, ai ngờ Yến Ngao lại dùng phòng học ấy làm nơi đánh bạc, lớp học lại xếp vào một gian nhà dột nát, cửa thì hoang toàng, nền nhà dế đùn, chuột đũi. Thấy lớp học quá tồi tàn, Tử Giám làm một bài thơ dán lên tường như sau:
Núi biếc nghiêng bên cửa.
Cây xanh gọi trước nhà.
Sáng nhìn sao thưa mọc. Tối thấy ráng chiều sa.
Dạy học, niềm lạc thú.
Say mê suốt cuộc đời.
Mài mục thủng nghiên sắt.
Đừng bỏ dở ai ơi.
 
Yến Ngao xem bài thơ không hiểu, chỉ thấy bài thơ răn dạy học sinh. Nào ngờ Yến Thuật, con Yến Tử Khai, là người học nhờ lại là một học sinh rất thông minh. Vì Tử Khai mới dọn tới xóm này, nên đã gửi con tới đây học. Đứa học trò ấy mười ba tuổi, cũng bằng tuổi Kỳ Lang. Thấy Tử Giám đề thơ, nó nói riêng với Kỳ Lang rằng:
- Tiên sinh chỉ lớp học tồi tàn, ý của bài thơ đều ở chữ cuối câu hợp tất cả các chữ ấy sẽ thành: "Cửa sổ và cửa ra vào gãy nát, nền nhà thì dế đùn chuột đũi".
Kỳ Lang biết được bèn nói với cha là, chính nó phát hiện ra. Yến Ngao rất mừng, thấy con mình thông minh. Hôm sau gọi thợ đến sửa lại cửa và nền nhà, rồi cười nói với Tử Giám rằng:
- Bây giờ cửa sổ và nền nhà đã sửa rồi, hãy lột bài thơ ấy đi!
Tử Giám ngạc nhiên hỏi Yến Ngao, ai bảo mà Yến Ngao lại biết. Yến Ngao nói là con trai. Tử Giám nghĩ bụng, không ngờ thằng bé ấy lại thông minh như thế, đúng là con hơn cha. Cứ như cha hắn thì chẳng kể làm gì, song thằng con như thế thì tạm dạy một thời gian xem sao. Bởi thế Tử Giám yên tâm dạy học. Ai ngờ Yến Ngao vô cùng keo kiệt, chỉ cho được một bữa cháo buổi sáng, mà lại là cháo loãng. Suốt buổi phải chịu đói, Tử Giám lại đùa bỡn làm bài Phú cháo loãng như sau:
Cháo trong leo lẻo, trời nước một mầu.
Thả chiếc máng trôi đi, phút chốc xa xăm mù mịt.
Miệng thổi phù phù, nổi sóng Vũ Môn lay động Nhạc
Dương.
Môi húp soàn soạt, sấm rền trái đất ầm vang Vân Mộng.
Dáng vẻ văn nhân.
Tiên sinh trọng vọng.
Vui vì cháo có nhiều công dụng,
Học trò thiếu trà, dùng cháo làm đồ giải khát,
Lớp học thiếu gương, soi vào thấy rõ mày râu,
Húp được một thìa, bần sĩ rất vui.
Không gạo nấu thành Chủ nhân quá giỏi.
Ngon hơn thái canh(1)
Ngọt hơn huyền tửu(2)
Loại cháo này chỉ hợp với đứa con có hiếu lúc để tang.
Hợp với người vừa ốm dậy.
Nước cháo vào mồm tuy ít,
Nhưng hơi hồ đã sợ quá nhiều.
Cũng chẳng khác nào khi mất mùa đói kém,
Đặt cháo loãng bên đường bố thí kẻ lại người qua.
Hoặc giống chó tù nhân bị cai ngục vơ hết cái.
Thầy có tội gì mà đến nông nỗi này, trời ơi!
Ôi thôi!
Năm tháng cứ qua đi.
Đớn đau thảm thiết.
 
(1) Thái canh: canh không tra ngũ vị.
(2) Huyền tửu: nước lã.
 
Yến Thuật thấy bài phú này, đọc cho cha nghe. Tử Khai vô cùng kinh ngạc nghĩ rằng Yến Ngao không muốn mời thầy, bèn mời Tử Giám về nhà mình. Đang oán trách Tử Giám chế giễu mình, lại thấy Tử Khai mời thầy về, Yến Ngao rất mừng, vì bữa cháo cũng không mất nữa, lại gửi Kỳ Lang sang nhà Tử Khai học. Tử Khai nhận nuôi dưỡng thầy, cũng không chia cho mọi người nuôi, chỉ bảo họ mang thêm chút thức ăn. Đến tiết thanh minh, quả nhiên những người hàng xóm có con học, mang thức ăn đến nhiều hơn, chỉ riêng có Yến Ngao mang sang ba đồng. Tử Giám mở ra xem thì đó là tiền đồng. Nghĩ bụng, từ trước tới nay ta nghe thấy anh có biệt hiệu lạ "Lẫn Đồng". Hắn ta nhờ người trong họ đệ đơn lên huyện, sau đó lại dùng tiền đồng để tạ ơn. Xưa kia ta không lên huyện, chưa từng gặp phải vố tiền đồng, nay anh ta mang tiền đồng sang, quả là biệt hiệu "Lẫn Đồng" thật chẳng ngoa chút nào. Tử Giám đưa tiền cho Kỳ Lang trả lại, rồi lại ra một câu đối bảo Kỳ Lang đối. Câu đối ấy như sau:
Ba tiền: vàng, bạc, đồng, tiền đồng sao lẫn vào tiền bạc.
Kỳ Lang mặt đỏ tía tai, ngắc ngứ mãi không đối được. Tử Giám bước xuống thềm đi dạo một lát, khi quay lại. Kỳ Lang đã đối rằng:
Tứ Thi: Phong, Nhã, Tụng, chính thi sao lẫn biến thi.
Tử Giám xem xong nghi ngờ nói:
- Đối rất chỉnh, nhưng e rằng không phải ngươi đối. Ta thường thấy khi ra đề ngươi không làm ngay. Bao giờ cũng chờ ta đi rồi mới làm. Chắc rằng ai đó đã làm hộ.
Kỳ Lang cứ nói bừa rằng:
- Con tự làm, chứ có ai làm thay đâu.
- Nếu đúng như thế, - Tử Giám nói, - thì ngươi hãy giải thích câu đối của mình cho ta nghe. Phong, Nhã, Tụng là ba loại thơ tại sao gọi là "tứ thi" thì sao lại có "chính" và "biến"?
Kỳ Lang mặt đỏ như gấc chín, không trả lời được. Tử Giám quở trách, Kỳ Lang đành phải khai thật là Yến Thuật làm giúp, và ngay cả bài thơ dán trên tường đều do Yến Thuật đoán ra rồi bảo mình.
Tử Giám nghe xong, gọi Yến Thuật lại nói:
- Nó là đứa ngu đần không đáng trách, song ngươi là người thông minh, sao lại đi làm cho nó, để nó lừa dối thầy.

Yến Thuật vội vàng xin lỗi.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5932
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Tue Mar 18, 2014 4:39 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 16 (B)
Đúng vào dịp Thanh minh, Tử Khai thuê thuyền đi tảo mộ, dọn rượu trong khoang, mời Tử Giám, và hẹn Yến Ngao cùng đi. Ba người tới mộ, thấy hai chiếc quan tài của cha mẹ Yến Ngao đặt trên tảng đá, cỏ dại mọc trùm lên, không chịu đựng được gió mưa, quan tài lộ ra. Tử Giám thấy thế hỏi, biết được ông bỗng rùng mình sợ hãi. Tử Khai không nở nhìn thấy quan tài lộ ra như thế, gọi ngay phu đắp mộ gánh đất lấp đi. Khi đã đắp xong, đến hỏi tiền công, Yến Ngao thoái thác rằng không mang một xu nào đi. Tử Khai đành bỏ ra một quan tiền để trả. Tử Giám cứ giục chuyển quan tài đi chỗ khác, song Yến Ngao cứ ầm ừ cho qua. Đến khi thuyền quay về, thấy bên bờ sông có một cây mai nhỏ, Yến Ngao bảo ép thuyền vào bờ, rút từ tay áo ra năm đồng tiền bạc mua cây, rồi bảo người bán cây mang đến trồng ngay hôm ấy. Tử Khai thấy thế kinh ngạc hỏi:
- Vừa rồi phu đắp mộ đòi tiền công, sao anh bảo không có tiền, bây giờ lại đi mua cây, thế thì chẳng hóa ra anh quý cây hơn cha mẹ anh sao?
Tử Giám cũng rất tức giận, cười nhạy nói:
- Cây mai còn sống thì yêu, còn bố mẹ chết rồi không đáng tiếc.
Yến Ngao nghe thấy vẫn cứ lờ đi.
Từ đó Tử Giám rất ghét thói keo bẩn của Yến Ngao, đoạn tuyệt không quan hệ với hắn, ngay cả Kỳ Lang, ông cũng không bảo nó đến học nữa, chỉ quý trọng Yến Thuật. Tử Khai là người nhân hậu, hiếu đễ, cứ đến những ngày giỗ cha mẹ, Tử Khai thường mặc áo tang suốt ngày buồn bã, và Tử Khai cũng thường hay cứu giúp người nghèo. Mỗi khi thấy có người đến ngõ nhà Yến Ngao đòi đổi tiền đồng lấy tiền bạc, Yến Ngao không chịu nhận đó là tiền của mình nên không trả lại. Những người nghèo túng ấy hết sức oán hận. Tử Khai không nỡ nhìn thấy cảnh ấy, thường đổi cho họ, và cũng không biết đã đổi như thế bao nhiêu lần. Thấy thế Tử Giám nghĩ: "Người làm điều thiện như thế, thì con cháu sau này sẽ phát đạt". Rồi có ý định thông gia với Yến Thuật. Tử Giám với Yến Thuật là quan hệ bác cháu trong cùng một họ, thì sao lại thông gia với nhau được? Vốn là Tử Giám có Kỳ thị là cháu bên ngoại, tên là Thụy Nương. Cha mẹ mất từ lúc Thụy Nương còn nhỏ, được cậu nuôi dưỡng. Vợ Tử Giám qua đời, trong nhà chỉ còn có bà Trịnh là vú nuôi làm bạn với Thụy Nương. Lúc ấy Thụy Nương tuổi xấp xỉ Yến Thuật, người lại xinh đẹp và rất có tài. Từ lâu Tử Giám đã có ý định kén một chàng rẻ tốt. Lần này thấy yến Thuật, ông rất vừa ý. ông thường đưa bài của Yến Thuật về cho Thụy Nương xem. Thụy Nương rất cảm phục tài năng, và thường khen Yến Thuật trước mặt vú nuôi. Tử Giám dò được ý cháu, định nhờ mối đến cầu thân, thì một người mối là Tôn Bà đã quen biết từ lâu tới chơi. Tử Giám định nói chuyện này với bà, song thấy Tôn Bà lấy ra một tờ giấy đỏ, nói:
- Có việc hôn nhân, nhờ ông tới lớp học nhà ông Yến Tử Khai nói giúp.
Tử Giám mở tờ thiếp ra xem, thấy trong đó viết: "Người con gái Vũ Long Môn mười bốn tuổi".
Tử Giám xem xong, hỏi vì sao. Tô Bà nói:
- Con gái nhà họ Vũ tên là Quỳnh Cơ. Về sắc đẹp không cần phải nói, chỉ nói về văn cũng ngang tài với nhà ta đấy. Nay bà già ấy muốn nó kết duyên với con trai Yến Tử Khai. Cô ấy là con nuôi Vũ Long Môn nên vợ Tử Khai không bằng lòng chê cô không có cha mẹ đẻ. Nay nhờ ông tới nói giúp, đừng bỏ lỡ việc hôn nhân tốt đẹp này.
Tử Giám nghe xong, nghĩ bụng: "Nhà họ Vũ nhận cháu gái nội làm con. Vợ Tử Khai còn không muốn thông gia, nhà mình nuôi cháu ngoại thì việc hôn nhân không thể xuôi được". Bởi thế Tử Giám không nhắc tới việc hôn nhân của con mình, mà trả lời Tôn Bà rằng:
- Bà vợ ông ấy đã không bằng lòng thì tôi nói cũng vô ích.
Tôn Bà vẫn ngồi lại chuyện trò với Thụy Nương, hết lời khoe Quỳnh Cơ tài giỏi. Từ đó về sau, hai người tuy không biết nhau, nhưng lại rất kính trọng, yêu mến nhau hơn cả chị em ruột.
Một hôm Tôn Bà nói với Thụy Nương rằng:
- Tiếc cho con gái nhà họ Vũ, bị bà mối xấu bụng làm hại, nên sinh ra đau ốm.
Thụy Nương hết sức kinh ngạc không hiểu, sau được Tôn Bà nói mới biết. Vốn, vợ Vũ Long Môn là họ Phương, em vợ Yến Ngao. Khi Tử Giám không dạy Kỳ Lang, Yến Ngao vẫn dạy nó. Kỳ Lang đã chép những bài của Yến Thuật và nói dối rằng đó là bài mình làm. Yến Ngao vốn là người không biết được tốt xấu cứ lầm tưởng con mình học giỏi, đem bài giả của con đi khoe khắp nơi, và được mọi người khen ngợi. Một vị hòa thượng ở chùa Thanh Liên, pháp danh là Liễu Duyên quen biết Yến Ngao. Yến Ngao thường hay tới chùa tụng kinh niệm Phật. Vũ Long Môn cũng là một người trong hội Phật giáo. Bởi thế Liễu Duyên nói vun vào cho hai người thông gia với nhau. Long Môn bàn với vợ, gả cháu cho Kỳ Lang, nhận sính lễ nhà họ Yến. Họ luôn luôn nói Kỳ Lang là người thông minh, có tài năng văn chương, sau này nhất định sẽ được sung sướng. Không ngờ, sự thật vẫn là sự thật, chân tướng Kỳ Lang ngày càng lộ rõ. Lúc đầu Kỳ Lang còn dùng những bài văn giả để lừa cha, sau lại vứt bỏ cả sách vở, suốt ngày đánh bài ngoài đường phố. Yến Ngao là người ham mê cờ bạc, anh ta thường trải thảm đỏ giữa nhà thắp nến hoa, đánh bạc với những kẻ lắm tiền, rồi cùng bọn vô lại, lê la đánh bạc ở khắp đầu đường xó chợ, Tin này đến tai, Quỳnh Cơ vô cùng tức giận. Vì không phải là người mối, nên Tôn Bà thường tỏ rõ sự bực bội trước mặt Quỳnh Cơ. Cô buồn bã, không thiết gì đến ăn uống, hận rằng cha mẹ đã chết sớm nên bị hai bác nhắm mắt gả bừa, làm hỏng một đời. Tức giận quá rồi sinh ra đau ốm. Thụy Nương thấy thế cũng bực thay, nhiều lần bảo bà Trịnh đến thăm hỏi an ủi Quỳnh Cơ. Song ai ngờ bệnh tư tưởng khó mà chữa trị, gần một năm sau thì cô qua đời. Trước khi chết, cô đốt hết những bài thơ làm hằng ngày, không để sót lại một bài nào. Quả là:
Cha mẹ mất rồi buồn vô hạn.
Đất dài trời rộng hận mênh mông.
 
Nghe tin Quỳnh Cơ mất, Thụy Nương khóc thương thảm thiết. Người ta thường nói: "Cùng bệnh thương nhau”. Cô nghĩ: “Tài năng văn chương của mình cũng ngang với Quỳnh Cơ và những người con gái có tài thường mệnh bạc", và “Mình cũng chỉ là đứa con nuôi, không được cha mẹ đẻ quan tâm, không biết sau này đời mình sẽ khổ đến mức nào”. Cô cứ dằn vặt, suy nghĩ như thế, rồi đổ bệnh. Thụy Nương đã làm một bài phú khóc Quỳnh Cơ. Tử Giám thấy bài phú ấy, tự nhiên nước mắt trào ra. Thụy Nương kể lại chuyện đố nhau làm thơ với Tử Giám. Tử Giám và Tử Khai nói chuyện với nhau về Quỳnh Cơ. Tử Giám nói:
- Nó là đứa con bất hiếu, làm mối sao được, chỉ làm hại con gái người ta thôi.
- Cũng là do Vũ Long Môn không thận trọng. - Tử Khai nói. - Người ta thường nói: "Nhìn con gái mình mà chọn chồng". Vì sao khi dựng vợ gả chồng lại đại khái qua loa, làm thiệt mạng một đời con gái như thế?
Yến Thuật nghe thấy, ân hận rằng trước đây mình không lấy cô ấy. Rồi làm hai bài thơ khóc cô.
Bài một:
Con gái không nên giỏi văn chương.
Cú vọ làm sao sánh phượng hoàng.
Lâm chung đốt sách đành hối hận.
Thà rằng đần độn quách cho xong.
Bài hai:
Cửu trùng tiên nữ vừa bay xuống.
Đã nghe thấy lệnh gọi về trời.
Buồn bã sáo đàn mang về hết.
Chẳng để lại gì chốn nhân gian.
 
Yến Thuật làm xong đặt trên bàn. Yến Tử nhìn thấy, biết con tiếc thương người con gái có tài. Tử Khai định nói với con về chuyện hôn nhân của Thụy Nương, song chưa tiện nói thì Yến Thuật lại biết được Thụy Nương làm thơ, rất ngưỡng mộ tài năng của cô, bèn thưa với mẹ là Trần thị hỏi Thụy Nương làm vợ, Trần thị rất yêu quý Yến Thuật, thấy con nói thế thì bàn với chồng, nhờ Tôn Bà làm mối. Tử Giám cũng sai bà Trịnh đến nhà Tử Khai nói vun vào. Tử Khai mừng rỡ bằng lòng, chọn ngày lành tháng tốt, đưa sính lễ.
Năm ấy y mười lăm tuổi. Mười sáu tuổi Yến Thuật thi tú Tài. Mười bảy tuổi làm lễ thành hôn. Họ sống với nhau rất hạnh phúc. Một hôm Yến Thuật ngồi đọc sách trong thư phòng, thấy bà già Trịnh cầm tới ba tờ giấy, nói rằng:
- Cô nhà bảo cậu giỏi tập hợp những câu trong Tứ Thư thành một bài văn, lại hay ra câu đối cho người khác. Nay có mấy câu trong Tứ Thư xin cậu đoán, và một câu đối xin cậu đối lại.
Yến Thuật đón nhận ba tờ giấy, mở ra xem, thấy tờ thứ nhất viết một vế đối:
Khổng Tử trị quốc cân nhắc bốn đời Ngu, Hạ, Ân, Chu.
Yến Thuật nhìn qua không cần suy nghĩ, cầm bút viết ngay:
Cơ Công làm việc gồm cả ba vương Vũ Thang Văn Vũ.
Đối xong xem đến tờ thứ hai thì lại là sáu câu Tứ Thư ẩn chứa sáu nhân vật cổ xưa.
Yến Thuật đều đoán hết mọi câu, dưới mỗi câu lại ghi chú họ tên từng nhân vật.
Người sai kẻ sĩ trong thiên hạ muốn làm vua trong triều.
(Lai Tuấn Thần)
Vũ vương đánh Trụ.
(Chu Hưng)
Con cháu đời sau, tất có người làm vua.
(Thái Công Vọng)
Thái giáp hất đổ canh.
(Trưởng Tôn Vô Kỵ)
Quan hệ bạn bè.
(Điều thứ năm trong ngũ luân)
 
Yến Thuật đoán xong, nói:
- Sáu câu đố này đều hay, câu cuối cũng rất sát hợp.
Nói xong xem đến tờ thứ ba, thấy trong đó viết:
"Quốc sĩ vô song" tìm một câu trong Tứ Thư.
Yến Thuật đoán không ra, Đang lúc đi đi lại lại ngẫm nghĩ thì bà Trịnh đem hai tờ giấy vào hỏi Thụy Nương. Lát sau trở ra nói rằng:
- Cô nhà nói, hai tờ giấy trước cậu đã đoán đúng, thì câu này khó gì. Chỉ cần nghĩ rằng câu này ai nói, và nói về người nào là hiểu ngay.
Yến Thuật bừng tỉnh, hiểu ra ngay, nói:
- "Quốc sĩ vô song" là câu Tiêu Hà nói về Hàn Tín. Đúng là Tứ Thư có câu Hà nói Tín, ta đã đoán đúng. Yến Thuật cầm bút viết xong, đưa cho bà Trịnh mang vào cho Thụy Nương, rồi theo luôn bà vào phòng. Hai người gặp nhau, Yến Thuật cứ tắm tắc khen ngợi tài trí của nàng. Thụy Nương cũng rất vui vì sự mẫn tiệp của chàng. Đúng là:
Đôi lứa xứng đôi phượng nói hoàng,
Gái này trai ấy quả ngang hàng.
Chồng vợ coi nhau như bè bạn.
Quốc sĩ ngày nay được cả hai.
 
Từ đó bài văn Yến Thuật làm thường đưa cho Thụy Nương bình phẩm. Nàng bình phẩm khá xác đáng. Yến Thuật rất khâm phục, coi nàng như một người thầy và cũng là một người bạn. Năm mười tám tuổi, Yến Thuật thi hương. Khi trở về viết lại ba bài thi đưa cho Tử Giám xem. Tử Giám khen ngợi, cho rằng nhất định sẽ đỗ. Nhưng khi Thụy Nương xem, thì nàng bảo:
- Ba bài đều hay, song phần kết của bài thứ ba có một câu rất nguy hiểm, e rằng không ổn.
Đến khi yết bản, Yến Thuật đỗ thứ một trăm hai mươi bảy. Vốn bài văn của Yến Thuật, quan sơ khảo thấy câu kết trong bài thứ ba rất nghịch mặt, nên xếp vào cuối cùng. Không ngờ quan chủ khảo xem câu ấy gạch đi, không cho đỗ. Bỗng thấy có người giằng lấy bút, rồi nói văng vẳng bên tai: "Nhà người này có truyền thống nhân hậu, hiếu đễ, không thể đánh trượt được!". Quan chủ khảo kinh ngạc, rồi cho đỗ. Hôm ấy Yến Thuật đến tạ ơn quan sơ khảo và quan chủ khảo, mới được nghe kể lại chuyện này. Thấy cha mẹ làm điều thiện mình mới đỗ, Yến Thuật vô cùng cảm động, và càng khâm phục tài thẩm định văn chương của Thụy Nương. Đúng là:
Mắt xanh thẩm văn phục tài vợ.
Từ tâm tích đức quả nhờ cha.
Yến Thuật đỗ, họ hàng thân thích tấp nập đến chúc mừng. Mừng quá, Tử Khai uống nhiều rượu nên phát bệnh hen. Yến Thuật sớm chiều bên cha hầu hạ thuốc thang, song niềm vui khiến bệnh Tử Khai thuyên giảm. Thấy Yến Thuật lo lắng cho bệnh tình của mình, không muốn đi thi. Tử Khai đành phải thúc giục, buộc Yến Thuật phải tới kinh thi. Không ngờ, sau khi đi, bệnh tình Tử Khai ngày một trầm trọng. Thụy Nương vội viết thư cho Yến Thuật rằng: "Công danh là việc nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ mới là việc lớn". Rồi sai người gọi Yến Thuật về gấp. Song không ngờ người nhà đuổi theo gần kịp thì ốm giữa đường, không đi được. Khi khỏi bệnh tới quán trọ tại kinh đô thì đã là mười lăm tháng hai. Yến Thuật thi xong mới nhận được thư vợ. Không chờ yết bảng, Yến Thuật đi suốt ngày đêm, về tới nhà đã thấy dán giấy báo hỉ đỗ tiến sĩ. Tử Khai bỗng nhiên khỏi bệnh. Nếu trời không làm người nhà ốm giữa đường thì Yến Thuật sẽ không đỗ tiến sĩ. Quả là:
Từ tâm phải dốc lòng.
Đạo trời chẳng chút sai.
Khi Yến Ngao hỏi con gái nhà họ Vũ cho con, vợ là Phương thị lấy ra sáu mươi lạng bạc tốt của riêng mình làm lễ vật. Sau khi Quỳnh Cơ chết, Yến Ngao đòi lại, Phương thị muốn giữ lại làm của riêng, Yến Ngao không cho. Thấy Phương thị nằng nặc đòi lại, Yến Ngao bèn đổi bạc đồng đưa cho Phương thị, Phương thị không biết tưởng bạc thật. Sợ Kỳ Lang lấy trộm đánh bạc, Phương thị cất kỹ vào hòm. Kỳ Lang biết số bạc đó là bạc giả, bạc thật thì cha giữ, giấu ở nền nhà phòng học. Kỳ Lang nghĩ ra một kế, nhân lúc mẹ vắng nhà, lấy trộm bạc giả, đánh tráo lấy số bạc thật mà cha giấu, đem đi đánh bạc. Phương thị không thấy tiền, biết ngay là con lấy, nhưng vì quá yêu con không dám nói ra, sợ nói ra sẽ làm cho Yến Ngao tức giận, đành ngậm đắng nuốt cay. Sau một thời gian đánh bạc, Yến Ngao nợ tới năm mươi lạng. Huyện đưa giấy đốc thúc, công sai đưa giấy đòi tiền lệ phí. Yến Ngao không chịu đưa, công sai lại đòi phải trả số tiền nợ ngay lập tức. Không còn cách nào, Yến Ngao đành đem sáu chục lạng bạc ra dùng. Mãi tới gần tối hôm ấy, công sai cứ ngồi lì thúc bách, Yến Ngao đành vào phòng học lấy ra, vội vã trả hết, chỉ còn lại một ít mang bên mình để chi tiêu thêm. Sau đó cùng theo công sai lên huyện nộp. Hắn không biết số tiền ấy đã bị Kỳ Lang đánh tráo. Lúc đầu là để lừa vợ nên số tiền ấy không khác gì tiền thật. Song nay đang lúc vội vàng, không biết đã bị đánh tráo, đem số tiền đó nộp quan. Quan thu tiền phát hiện ra bạc giả, đưa chuyện này bẩm lên tri huyện. Tri huyện xem thì đúng số bạc đó là bạc giả, ông đùng đùng nổi giận, quát thét lính lôi Yến Ngao ra đánh. Thấy gói bạc trong người hắn lôi ra, tri huyện cầm lấy xem thì cũng là bạc giả, càng khiến ông như lửa đổ thêm dầu. Những công sai về thúc nợ đang tức vì Yến Ngao không trả tiền lệ phí, bèn quỳ xuống bẩm rằng:
- Tên Yến Ngao quen dùng tiền đồng, người ta đều gọi là "Yến Lẫn Đồng".
Thấy thế tri huyện chỉ vào mặt Yến Ngao mắng chửi thậm tệ, rồi hạ lệnh đánh Yến Ngao hai mươi gậy, giam vào ngục. Ở nhà biết được tin chồng, Phương thị rất lo sợ, vội sai người đến sòng bạc báo cho Kỳ Lang biết. Kỳ Lang thấy mình đã hại cha, sợ sau này cha hỏi tội, bèn trốn đi không về nhà nữa.
Yến Ngao trong tù không thấy con đến thăm, lại biết quan huyện cho mình coi thường vua, khép vào trọng tội. Hắn cuống lên, viết thư bảo người nhà bán gấp ruộng vườn lấy bạc chi dùng. Gia sản Yến Ngao cũng thuộc loại bình thường, vì cha con đều cờ bạc nên gia đình ngày một sa sút. Lần này phạm tội phải bán hết ruộng vườn. Thạch Chính Tông bắt chẹt, mua với giá rẻ mạt. Thạch Chính Tông nói:
- Ruộng vườn, nhà cửa và tài sản trong nhà đều mua bằng tiền nhà họ Thạch, bây giờ phải trả lại cho họ Thạch.
Khi giao tiền xong, Thạch Chính Tông buộc Phương thị ra khỏi nhà ngay. Phương thị đành xin người chủ mới khi nào chồng về sẽ dọn. Lúc ấy kẻ ăn người ở đã bỏ đi hết. Phương thị đành cầm tiền đến nhà giam, một là để thăm chồng, hai là sợ chồng đòi sáu mươi lạng bạc mình cất giữ, nhân đó nói rõ số bạc ấy đã mất. Thấy vợ đến, Yến Ngao hỏi:
- Kỳ Lang đâu?
- Từ hôm ông bị bắt, - Phương thị nói, - không thấy nó về.
Yến Ngao giậm chân quát thét:
- Thằng súc sinh ấy đi đâu rồi? Ta cần phải hỏi nó số bạc tốt ta đã cất đi sao bây giờ thành bạc giả. Nhất định là thằng súc sinh ấy đã cuỗm đi rồi. Nó đã hại ta.
- Ông giấu tiền ở đâu? - Phương thị nói. - Làm sao mà
Kỳ Lang lấy được?
- Bà không biết. Số bạc ta giấu ở nền nhà lớp học hoàn toàn là bạc tốt. - Yến Ngao nói. - Tại sao bây giờ lại thành tiền đồng? Thằng súc sinh ấy không đổi thì ai đổi.
- Chưa hẳn là nó lấy, - Phương thị nói, - ông đừng đổ oan cho nó. Chỉ có điều sáu mươi lạng bạc tôi giữ bị nó lấy đi rồi. Nếu còn tôi sẽ đưa cho ông chi dùng.
- Sáu mươi lạng bạc của bà nó lấy mất từ bao giờ? - Yến Ngao hỏi.
- Nó cũng chẳng thèm hỏi tôi, - Phương thị nói, - cũng không biết nó lấy từ bao giờ, tôi sợ ông giận dữ nên không dám nói.
Yến Ngao nghe xong dậm chân thét lên:
- Đúng rồi, đúng rồi. Số tiền ấy là tiền giả tôi đã lừa bà, không ngờ bây giờ nó lại lừa tôi.
Thấy vậy Phương thị trách chồng:
- Sao lúc ấy ông lại lừa tôi?
- Đã biết mất sao không bảo tôi lại còn bao che cho nó. - Yến Ngao lại trách vợ. - Nếu nói ngay, tôi điều tra ra thì không đến nỗi phải chịu tai vạ.
Hai vợ chồng cứ trách móc nhau mãi. Đúng là:
Lúc đầu tôi lừa vợ.
Sau đó con lừa tôi.
Họ bảo tôi lừa quan.
Nào ngờ tôi lừa tôi.
Phương thị giao tiền bán gia sản cho Yến Ngao, rồi ra khỏi nhà giam. Trên đường về nhà, trời lấp sấp mưa, đường trơn như đổ mỡ, Phương thị cố qua chiếc cầu đá, đi không quen, cầu trơn, trượt chân lăn tỏm xuống nước. Người qua đường trông thấy vội vã kêu cứu, khi vớt lên được thì đã chết. Đúng là:
Chết vì nước có thể cứu được.
Chết vì tình không sao cứu được.
Người nào mà đắm đuối vì tình.
Không chết vì nước cũng chết vì tình.
Phương thị chết, người làng ấy mua quan tài thiêu xác. Yến Ngao biết vợ chết, nhà cửa tan nát, đau thương quá rồi sinh bệnh. Có bạc Yến Ngao đút lót, được quan huyện tha. Song Yến Ngao đang ốm, lại không có nhà cửa, đành tới chùa Thanh Liên xin ở tạm. Nghĩ tới tình xưa, hòa thượng Liễu Duyên cho Yến Ngao ở tạm trong chùa chữa bệnh. Yến Ngao lúc đó không còn một xu, chỉ còn lại một chuỗi ngọc trắng dùng niệm Phật hằng ngày, chuỗi ngọc trước đây Yến Ngao cũng đã dùng bạc giả để đánh lừa. Hắn rất quý chuỗi ngọc, nên thường mang trong người. Nay bất đắc dĩ phải giao cho Liễu Duyên chi phí ăn uống thuốc thang. Thấy đây là vật Yến Ngao yêu quý, Liễu Duyên từ chối không nhận. Mấy hôm sau, bệnh tình Yến Ngao ngày càng trầm trọng, không sao chữa trị được, đã trút hơi thở cuối cùng.
Vốn là, khi Yến Ngao lâm sự, đúng vào lúc Yến Thuật tới kinh đô dự thi, Tử Khai ốm nặng nên không biết tin. Yến Ngao chết, lúc đó bệnh tình Tử Khai đã thuyên giảm, nghe thấy tin, nghĩ đến tình họ hàng, Tử Khai đã sai người mua quan tài, áo liệm tới chùa khâm liệm. Trước khi liệm, Liễu Duyên bỏ chuỗi bạch ngọc vào quan tài. Liệm xong chôn tạm tại khu đất sau chùa. Chôn Yến Ngao được ba hôm, thấy Kỳ Lang đến chùa, gặp hòa thượng Liễu Duyên, hắn nói là ngẫu nhiên phải đi xa, nay nghe thấy cha chết, linh cữu chôn tạm ở đây, xin hòa thượng dẫn đi lễ. Liễu Duyên dẫn hắn ra sau chùa, Kỳ Lang hướng vào linh cữu cha khóc lóc vái lạy. Liễu Duyên giữ Kỳ Lang ở lại ăn bữa cơm chay, và kể lại chuyện Yến Ngao đã chết như thế nào, nhân đó khuyên Kỳ Lang nghĩ lại, sửa chữa lỗi lầm. Kỳ Lang rơm rớm nước mắt hứa sẽ thực hiện lời khuyên của hòa thượng. Kỳ Lang lại hỏi việc phụ thân đã nhập quan như thế nào. Liễu Duyên kể lại tỉ mỉ cho hắn nghe. Kỳ Lang nhớ như in những lời Liễu Duyên nói. Đến tối hắn chỉ nói là muốn đến chỗ Tử Khai cảm ơn, rồi từ biệt ra đi. Đêm ấy vào canh tư, Liễu Duyên nghe thấy tiếng chó sủa sau chùa. Sáng hôm sau, ra xem thì thấy thi thể Yến Ngao vứt bừa trên đất, quan tài cũng không thấy nữa. Hai con chó vàng đang tranh nhau xé chiếc đùi Liễu Duyên kinh sợ, vội vàng gọi đồ đệ lấy chiếc chiếu đắp lại, rồi sai người tới báo cho Tử Khai. Tử Khai vô cùng kinh hãi, cho ngay người nhà tới thăm, điều tra bằng được kẻ lấy cắp quan tài giải lên quan hành quyết. Song trong lúc vội vã vẫn chưa điều tra ra.
Đến quá trưa, thấy mấy người công sai trói ba tên giải tới sau chùa. Họ kiểm tra lại việc bọn chúng đã bật nắp quan tài, lôi thi thể ra ngoài để lấy quan tài thế nào. Một trong số đó có Kỳ Lang. Vốn là Kỳ Lang có hai gã bạn cờ bạc rất thân thiết là Đảng Oai Đầu biệt hiệu là Đảng Bách Lão và Đẩu Ai Tử, biệt hiệu là Đầu Không Thảng. Ba tên thua bạc, không còn một đồng để trả, không còn cách nào, Kỳ Lang nghĩ tới cha. Tuy đã chết, song có thể còn chút của cải để lại chùa Thanh Liên. Rồi vờ đến đó thăm viếng linh cữu cha để dò la. Khi hỏi kĩ Liễu Duyên, biết cha chẳng còn gì, chỉ còn lại một chuỗi ngọc trắng đã bỏ vào quan tài. Thời ấy, ngọc rất đắt, hắn bèn nẩy ra ý định hết sức vô đạo đức, cùng với Đẩu, Đảng nhân lúc đêm khuya lẻn vào sau chùa đào quan tài lên, lấy trộm chuỗi ngọc. Hai tên Đẩu, Đảng lại còn bất lương hơn, là chúng thấy chiếc quan tài gỗ tốt, nổi máu tham, lôi xác chết ra. Ngay đêm ấy cùng với Kỳ Lang khiêng quan tài đến một trấn gần đó bán. Song bị người địa phương biết đây là quan tài đã chôn người, bị chúng đào trộm, lập tức bắt ngay bọn này giải đến ti tuần tra tại địa phương. Lính tuần tra khảo ba tên, chúng đành phải khai rõ sự thật. Rồi sau đó họ báo lên huyện, áp giải chúng tới hiện trường khám xét. Đây cũng là sự báo ứng đầu tiên việc Yến Ngao đã để lộ quan tài cha mẹ trước đây.
Tuần kiểm giải ba tên lên huyện, tri huyện thẩm tra lại thấy đúng sự thực, theo luật định tội: Kỳ Lang bật nắp quan tài vứt thi thể cha là kẻ đạo nghịch vô đạo, tội nặng gấp ba so với kẻ khác bật nắp quan tài. Hai tên Đẩu, Đảng cũng phải tử hình. Yến Tử Khai sai người mua quan tài khác, thu dọn nắm xương tàn của Yến Ngao khâm liệm lại như cũ. Yến Thuật về tới nhà biết được việc này, anh vô cùng ngán ngẩm. Nỗi oan nghiệt do Kỳ Lang gây nên Yến Thuật cũng không cứu nổi, chỉ đành im lặng. Yến Thuật đem linh cữu vợ chồng Yến Mộ Vân về chôn vào chỗ đất trống của phần mộ họ tộc, để họ khỏi phải vứt dập dụi trên đống đá lổn nhổn.
Nghe thấy cha bị ốm, Yến Thuật vội vã về nhà không kịp thi Đinh. Nào ngờ năm ấy hoàng đế Chính Đức ngự giá tuần du, kỳ thi Đinh được vua hoãn tới tháng chín. Yến Thuật thi Đinh đỗ tam giáp, được bổ nhiệm Tri châu. Sau ba năm lại cất nhắc về nhận chức tại kinh đô. Cha, mẹ, vợ đều được thụ phong, Yến Thuật đón người bác là Tử Giám về kinh cùng hưởng vinh hoa phú quý. Năm ấy Thụy Nương sinh được người con trai, thông minh, xinh đẹp, đó là kiếp sau của Vũ Quỳnh Cơ. Vốn là, vì gả bừa cháu gái của mình, nên đã dẫn đến cái chết của Quỳnh Cơ. Điều đó khiến Phương thị vợ Vũ Long Môn vô cùng hối hận, không đầy một năm thì ngã bệnh chết. Long Môn thấy vợ chết, lại không có con cái bèn cắt tóc tu tại gia. Hằng ngày niệm kinh lễ Phật, cúng bái người vợ và đứa cháu đã qua đời. Vào một đêm, Vũ Long Môn nằm mơ thấy Quỳnh Cơ nói với mình rằng: "Ta vốn là thị nữ ở Dao Trì, ngẫu nhiên bị giáng thế nay đã được về cõi tiên, không phải ở nơi trần thế nữa, song nghĩ tới vợ chồng Yến Thuật thường làm thơ khóc thương ta, ta vẫn còn vương vấn nơi trần thế. Hôm nay ta sẽ thác sinh làm đứa con trai nhà ấy, sau này sẽ được vinh hoa phú quý". Long Môn tỉnh dậy, nhớ lời báo mộng, chú ý thăm dò. Sau đó mấy hôm, quả nhiên nghe thấy tin Yến Thuật đang nhậm chức tại kinh đô đã sinh được đứa con trai. Đúng là:
Con hiếu đương nhiên có cháu ngoan
Người tiên trở lại cõi trần gian.

Yến Ngao chết không có chỗ chôn, chỉ vì hắn đã táng tận lương tâm; Yến Tử Khai con cháu vinh hoa phú quý đều do ông nhân ái, hiếu đễ. Tôi cũng rất mong mọi người chúng ta sống nhân ái, hiếu để, để làm gương cho con cháu, ấy là dạy bảo con cháu vậy.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5932
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Tue Mar 18, 2014 11:41 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 17
Trung Thành Trời Cảm Thông, Đàn Ông Mọc Vú 
Nghĩa Khí Thần Báo Mộng, Thái Giám Sinh Râu
Hoàng Sơn Hoàng Thủy nhớ Xuân Thân.
Sông núi ngàn năm thuộc Sở thần.
Thái tử phải chăng vì thoát nạn.
Cho nên được lưu tiếng ngàn thu.
Đây là bài thơ khuyết danh thời xưa, ca ngợi Xuân Thân Quân. Thời Chiến Quốc có bốn người đều là Quân: nước Ngụy có Ngụy Vô Kỵ là Tín Lang Quân; nước Triệu có Triệu Thắng, là Bình Nguyên Quân; Tề có Điền Văn là Mạnh Thường Quân; Sở có Hoàng Yết là Xuân Thân Quân. Xuân Thân Quân từng theo thái tử của Khoảnh Tương Vương nước Sở sang nước Tần làm con tin. Khoảnh Tương Vương ốm nặng, thái tử muốn về nước, nhưng nước Tần không cho. Xuân Thân Quân bí mật cải trang cho thái tử trốn về, còn mình ở lại chịu xử tội. Biết tin, Tần Vương vô cùng giận dữ, định giết Xuân Thân Quân. Sau đó Tần Vương lại nghĩ: thái tử đã trốn thoát, nay ta giết Xuân Thân Quân cũng vô ích. Thế rồi Tần Vương không giết Xuân Thân Quân nữa. Khoảnh Tương Vương chết, thái tử về nước kịp thời, nên được kế vị, đó là Khảo Liệt Vương. Việc ấy hoàn toàn do Xuân Thân Quân phò tá. Công lao ấy còn hơn cả Lạn Tương Như mang ngọc về nước Triệu. Tới nay nhân dân vùng Giang Nam vẫn thờ phụng Xuân Thân Quân như thần lúa và thổ thần, hương khói ngày đêm. Mộ của ông ở chân núi Quân Sơn thuộc huyện Giang âm, Giang Nam, còn có Hoàng Sơn, Hoàng Thủy, cũng đều do người đời sau đặt tên để ghi nhớ Xuân Thân Quân. Chỉ bàn tới việc ông liều chết cứu thoát thái tử, cũng xứng đáng ngàn năm hương khói. Người ngày nay không chịu làm những việc trung nghĩa, chỉ vì họ tiếc tấm thân, cứu người khác sợ mình thiệt thân. Mưu việc thiên hạ không chu đáo thì không những mình chết vô ích, mà ngay tính mạng người mình cứu cũng khó bảo toàn. Bởi thế họ không chịu làm những việc trung nghĩa.
 
Thời Cao Tông, Nam Tống, huyện Phong Nhuận, Ký Châu do nước Kim, Bắc Triều cai trị, có một thư sinh tên là Lý Chân, tự Đạo Tu. Ông đang độ tuổi tráng niên, là người tài cao học rộng nhưng không bao giờ nghĩ tới danh vọng. Là một ẩn sĩ tại gia, luôn dùng bút mục để bộc lộ tình cảm, gửi gắm niềm tự hào vào thơ phú. Ông thấy trước đây quân miền Bắc ghép thuyền vượt sông, đánh thẳng xuống vùng Tương, Tuấn. Người Tống không ai dám chống cự, bởi thế ông vô cùng đau buồn. Lại nghe tin Tần Cối một gian thần được Nam triều tin dùng, ra sức chủ trương cầu hòa. Thái tử Ngật Thuật của quân Kim bị tướng quân Nhạc Phi đánh bại, định rút về miền Bắc thì có một thư sinh ngăn ngựa lại khuyên rằng:
- Bên trong không có gian thần thì bên ngoài đại tướng mới lập công được. Nhưng nay tính mạng của Tướng quân Nhạc Phi khó bảo toàn thì Tống không thể thành công.
Ngật Thuật tỉnh ngộ, bèn ém quân không rút nữa. Quả nhiên Tướng quân Nhạc Phi bị Tần Cối triệu về xử tử. Từ đó Nam triều không sao chiếm lại Biện Kinh, đón Nhị đế về. Bởi thế Lý Chân hết sức đau buồn, làm hai bài thơ để than vãn.
Bài thứ nhất: Ai Nam nhân
Cây cỏ Bát Công đã lụi tàn.
Tần quân ngày ấy hát khải hoàn.
Gió về chạnh nhớ Đông Sơn cũ.
Thương thay phụ lão chốn Giang Nam.
Bài thứ hai: Điêu Nam sự
Thư sinh ngăn ngựa kéo tướng quân.
Cho rằng Nam Tống chẳng thành công.
Chỉ hận gian thần chưa giết được.
Khiến cho Nhị đế phải khóc ròng.
Lý Chân viết hai bài thơ này ra giấy, ngâm nga mấy lần rồi gấp vào một cuốn sách để ở đầu bàn.
Nào ngờ bạn học cùng trường là Mễ Gia Thạch - một kẻ tiểu nhân gian manh, mặt mũi xấu xa nói năng vô vị. Lý Chân rất ghét. Mễ Gia Thạch thường hay đến nhà, nhưng Lý Chân không hề bắt chuyện. Thấy Lý Chân tỏ ra lãnh đạm, Mễ Gia Thạch rất căm tức. Một hôm Mễ Gia Thạch cũng với Lý Chân ăn cỗ nhà bạn, khi đã ngấm hơi men, họ cùng nhau vui đùa. Lý Chân dùng họ tên Mễ Gia Thạch ra để xướng họa, rồi đọc ngay một bài đùa rằng:
Trời đất sinh ra do một hòn(1)
Tháng năm gió thổi chẳng hao mòn
Gõ đầu mới thấy đá ngu ngốc
Tiếc rằng không được gặp Sinh Công.
(1) Thạch có nghĩa là đá (ND).
Nghe đọc thơ xong, bạn bè cười rộ lên. Mễ Gia Thạch biết Lý Chân cười mình là đứa ngu ngốc, hơn nữa lại chê hắn trước mặt mọi người, nên vô cùng căm giận. Bề ngoài hắn vờ coi như không, cũng cười theo, song lửa giận sục sôi đang tìm cách báo thù cho hả giận.
Một hôm, nhân lúc Lý Chân vắng nhà, Mễ Gia Thạch lẻn vào thư phòng, lật tập sách trên bàn, hắn vớ được hai bài thơ Ai Nam nhân và Điệu Nam sự. Mễ Gia Thạch bỗng nẩy ra một kế ác độc, hắn nghĩ: "Hai bài thơ này là tội trạng của Lý Chân, báo lên quan cũng đủ để rửa hận", rồi giấu hai bài thơ vào tay áo. Về nhà Mễ Gia Thạch viết một tờ trình nói rằng: "Lý Chân lén lút làm thơ chống lại triều đình, lòng dạ hắn thật khôn lường”, rồi mang tờ trình cùng hai bài thơ tới Trấn thủ Đô đốc Y Đại Kiên tố cáo. Mễ Gia Thạch là kẻ luồn lọt nên Y Đại Kiên cũng quen biết. Đại Kiên là người tham lam và độc ác, thấy đơn tố cáo và kèm theo hai bài thơ của Lý Chân, lập tức sai người tới huyện Phong Nhuận bắt Lý Chân về Kỳ Châu giam vào ngục, đòi hối lộ, sẽ miễn truy cứu. Lý Chân là nhà nho nghèo làm gì có tiền bạc để đút lót. Sách nhiễu không được, Y Đại Kiên tâu lên triều đình. Thời ấy thừa tướng Nghiệp Ách Hổ đương triều, thấy bản tấu của Y Đại Kiên đùng đùng nổi giận, nói:
- Tần Cối là quan Nam triều, còn chịu giúp việc cho ta. Thế mà Lý Chân là người nước này, cớ sao lại theo Nam triều, lén lút làm thơ chống lại?! Tên ấy thật là đáng ghét.
Thế rồi Nghiệp Ách Hổ ra lệnh: "Đưa Lý Chân về đó chém đầu tịch thu gia sản, bắt vợ làm nô tì cho nhà quan. Người tố cáo được thưởng hai trăm lạng bạc" . Lệnh ấy về tới Ký Châu, Y Đại Kiên vâng lệnh thi hành. Một mặt cho người tới ngục trói Lý Chân giải đến Thị Tào hành quyết, một mặt gửi giấy tới huyện Phong Nhuận lệnh thưởng cho người tố cáo, và tịch thu tài sản của Lý Chân, bắt vợ con giải lên quan. Vợ Lý Chân là Giang thị, mới hai mươi tuổi, là người hiền thục và có hiểu biết, bà thường khuyên chồng: "Việc bút mực phải hết sức thận trọng, đừng làm văn thơ động chạm đến thời cuộc". Bà lại nói: “Mễ Gia Thạch là một người xấu, cần phải cảnh giác, không nên làm anh ta tức giận”. Song Lý Chân không nghe theo, đến lúc ra pháp trường Lý Chân mới nhớ tới lời khuyên của vợ song đã quá muộn, ông ngửa mặt lên trời khóc. Đúng là:
Vợ thường nói đúng ai ơi
Ta không thương vợ, thương người nơi đâu!
Giang thị mới sinh ra một người con trai, được hai tháng tuổi đặt tên là Sinh Ca. Người giúp việc trong nhà là một bé hầu mười hai tuổi, và một ông già tên là Vương Bảo. Ông là người trung thành, gan dạ. Sau khi chủ bị bắt, bèn tới thành Ký Châu nghe ngóng tin tức. Biết được lệnh truy nã cả vợ con, Bèn đi suốt đêm về nhà, báo ngay cho bà chủ biết, bảo rằng là phải mau mau tính kế, nếu sai nha đến sẽ trở tay không kịp. Giang thị nghe được tin dữ, òa lên khóc, bế Sinh Ca nói Vương Bảo rằng:
- Ông nhà tôi đã chết thê thảm, ta quyết tự vẫn chứ không chịu nhục. Song không thể bỏ mặc đứa con này. Ông chủ của ngươi chỉ còn một giọt máu này, nếu ngươi thương chủ, hãy bảo toàn tính mạng đứa bé, ta chết mới nhắm mắt được.
Vương Bảo giàn giụa nước mắt nhận lời. Đêm hôm ấy, chờ cho kẻ hầu ngủ say, Giang thị cho Sinh Ca bú thật no, rồi giao cho Vương Bảo. Lại đưa một gói bạc và mấy chiếc trâm vàng để Vương Bảo lo liệu. Rồi bà vào nhà trong thắt cổ tự tử. Có thơ rằng:
Thiếp đành liều mạng thôi chàng nhé.
Chàng ơi ngọc nát vẫn trắng trong.
Chết theo tiếng đàn sông Tương gọi.
Chẳng sống theo tiếng sáo rợ Hồ.
Vương Bảo thấy mẹ ông chủ nhỏ đã chết, hướng lên trời cao lạy mấy lạy, định bế Sinh Ca đi, song lại nghĩ: "Nếu ta cứ ăn mặc thế này, e rằng không thoát, phải cải trang, thay hình đổi dạng thì may ra mới thoát khỏi sự lùng sục" Nghĩ một lát, ông nẩy ra một kế, vào phòng mình, lấy mấy bộ quần áo của người vợ đã chết để lại, cải trang thành đàn bà. Vốn sẵn có bộ mặt thái giám, cằm nhẵn thín chẳng một sợi râu, mặc quần áo vào trông Vương Bảo y như một đàn bà. Mọi việc chuẩn bị đã xong, Vương Bảo cầm bạc và trâm bế ông chủ nhỏ mở cửa sau chạy trốn suốt đêm.
Đến ngày hôm sau, quan huyện nhận được giấy của Y Đại Kiên sức về. Khi sai nha đến bắt người nhà, thì chỉ bắt được bé hầu gái giải lên quan. Sai nha bắt người những hàng xóm tra hỏi, họ bẩm rằng, đứa con trai mới được hai tháng tuổi của Lý Chân và người ở là Vương Bảo không biết đi đâu. Quan huyện một mặt sai người đi truy lùng một mặt giải đứa hầu gái lên huyện bán cho quan làm gia nô, rồi đệ đơn báo cho Đốc phủ, cho phép địa phương ấy khâm liệm, chôn cất thi hài Giang thị. Lúc đó ở thành có một vị hiếu liêm(l) tên là Hoa Hắc, không quen biết Lý Chân, song lại thương Lý Chân là người có tài, và kính trọng Giang thị là người kiên trinh, đã mua quan tài, chọn đất chôn cất Giang thị, rồi sai người tới Ký Châu khấm liệm Lý Chân, đưa tới chôn cùng một chỗ với Giang thị. Chính là:
Người không quen biết là nghĩa sĩ.
Kẻ từng nhẵn mặt ấy gian tà. (1) Hiếu liêm: là những người địa phương cử ra, tới thời Minh, Thanh gọi là cử nhân. Đây là một chức hữu danh vô thực.
Đêm ấy Vương Bảo chạy trốn, canh năm thì ra khỏi cổng thành rồi men theo con đường nhỏ vào một vùng hẻo lánh. Đi một mạch tới hai ba mươi dặm, bụng đói, miệng khát. Sinh Ca cũng khát sữa, gào lên khóc. Đành phải ngồi xuống vệ đường, định lấy một ít bạc lẻ vào làng mua chút gì lót dạ. Sờ tay vào bên hông, thì ôi thôi, vì quá vội nên gói tiền và mấy cành trâm vàng đã rơi mất từ lúc nào. Vương Bảo vừa bế Sinh Ca vừa khóc nghĩ: "Đừng nói là không có tiền, ngay có tiền cũng chẳng biết lấy gì mà nuôi đứa bé hai tháng tuổi này. Phải nuôi bằng sữa nhưng sữa lấy ở đâu ra? Nếu không bảo toàn tính mệnh người chủ nhỏ này thì quả là ta đã phụ lòng nhờ cậy của người mẹ ấy!". Nghĩ mãi không có cách gì, ông đứng dậy, ngửa mặt lên trời, quỳ xuống khấn rằng: "Xin trời cao thương cho, nếu chủ ta không đáng tuyệt tự, xin cầu mong gặp được nhiều điều tốt lành cứu được người chủ nhỏ trong hoàn cảnh hiểm nguy". Kỳ lạ thay, vừa khấn xong, tự nhiên ợ lên mấy cái, miệng đầy nước miếng, không thấy đói mà cũng chẳng thấy khát. Lát sau lại thấy trước ngực tê buốt, hai vú to ra. Cởi hai vạt áo ra xem thì Vương Bảo thấy vú mình căng phòng như vú đàn bà, sữa từ núm vú chảy ra. Vương Bảo kinh ngạc, vội nhét đầu vú vào miệng Sinh Ca, chỉ nghe thấy tiếng nuốt ừng ực như tu một bình trà. Quả là:
Miệng mà chưa nuốt kịp,
Thì mũi lại phun ra.
Vú trái bú chưa hết,
Vú phải đã đầy tràn.
Vương Bảo vui mừng, mặt mày hớn hở, chắp tay ngang trán khấn:
- Tạ ơn trời đất, lần này không những chủ nhỏ được sống, mà ta đã có vú thì chẳng ai biết ta là đàn ông.
Thế rồi ông phanh ngực ra cho Sinh Ca bú. Cứ thế ông đi tới những thôn trấn đông người xin ăn. Trời gần tối, xa xa thấy khu rừng tùng, lại có một bức tường màu hồng, trông như một ngôi miếu cổ. Ông rảo bước đi tới, trời đã tối, ông bế đứa trẻ bước vào, cứ để cả quần áo nằm ngủ trên chiếc bục. Suốt ngày mệt mỏi, chân tay rã rời, Vương Bảo thiếp đi cho tới sáng. Khi tỉnh dậy thì thấy bài vị thờ Trình Anh và Công Tôn Chử Cữu, đó là hai vị gia thần họ Triệu nước Tần thời Xuân Thu. Vương Bảo quỳ xuống lấm rầm khấn:
- Hai vị là bậc trung thần, bảo vệ người con cô đơn họ Triệu, còn Vương Bảo ta hiện đang bảo vệ người con cô đơn của Lý Chân. Xin cầu mong hai vị ra sức phù hộ.
Khấn xong bế Sinh Ca ra khỏi miếu, thấy trên tấm bảng trước miếu đề ba chữ "Song Trung miếu”. Từ đó ban ngày Vương Bảo đi ăn xin, tối đến lại về đấy nương thân. Nếu có ai hỏi thì Vương Bảo không những giả vờ là đàn bà, mà ngay cả Sinh Ca cũng bảo là con gái. Nhân việc Trình Anh bảo vệ người con cô đơn nhà họ Triệu, nên Vương Bảo nói với mọi người là:
- Tôi họ Trình, nên cứ gọi tôi là quả phụ Trình, cháu gái tên là Tồn Nô. Khi ông nhà tôi chết, nó vẫn còn trong bụng mẹ. Hiện nay đang nuôi con vất vả, nên tôi không muốn đi bộ nữa, cũng không muốn làm vú nuôi. Mẹ con chỉ quanh quẩn xin ăn trong thôn xóm thôi.
Mọi người thấy thế rất thương, thường hay bố thí, nên họ không phải chịu đói.
Đầu bạc mạo nhận đàn bà.
Con trai giả thành con gái.
Chẳng dám nhờ ai nương tựa.
Chỉ sợ giấu đầu hở đuôi.
Lúc ấy quan phủ sức giấy đi các nơi bắt Vương Bảo và Sinh Ca. May mà đã đóng giả đàn bà, lại có hai bầu vú, nên bình yên vô sự. Vương Bảo đi ăn xin được mấy ngày, thì vào một buổi sáng, thấy có một vị đạo sĩ, mặt áo thâm đi giày cỏ, tay cầm quạt lông, nhẹ nhàng bước tới, nhìn Vương Bảo nói:
- Ngươi khoan hãy đi, ta có điều cần nói.
Vương Bảo thấy người ấy da dẻ hồng hào, râu tóc bạc phơ thanh thoát nhẹ nhàng như tiên ông, bèn đứng lại hỏi:
- Thưa sư phụ, sư phụ muốn nói gì?
- Ta xem ra ngươi không phải là kẻ hành khất. - Đạo sĩ nói. - Ngôi miếu này không phải là ngươi nơi yên thân: Ta muốn truyền cho ngươi một phép mầu nhiệm, để ngươi không phải đi hành khất nữa, ngươi thấy thế nào?
- Thế thì tốt quá. - Vương Bảo nói. - Song không biết sư phụ truyền cho ta phép gì?
Người đạo sĩ ấy thanh thản, ung dung lấy từ trong tay áo ra một chiếc hộp nhỏ, đưa cho Vương Bảo, nói:
- Trong hộp này có một viên đan dược, gọi là ngân mẫu (mẹ tiền). Ngươi phải thường xuyên cất giấu trong người, sáng sáng mở ra sẽ được ba phân bạc, đủ chi dùng trong một ngày.
Vương Bảo nhận chiếc hộp rồi quỳ xuống lạy tạ. Đạo sĩ nói:
- Thôi đừng bái tạ nữa, hãy theo ta.
Vương Bảo bèn bế Sinh Ca, theo đạo sĩ đi khoảng nửa dặm thì thấy một chiếc lều cỏ. Người đạo sĩ lấy chìa khóa mở cửa, dẫn Vương Bảo vào, nói:
- Đây là thôn Lưu Hậu. Gian nhà này do ta làm, ở đây có đầy đủ bếp núc, bát đĩa, giường chiếu, bàn ghế. Bây giờ ta phải đi vân du nơi khác, chiếc am này ta nhượng cho ngươi nghỉ ngơi. Bảy năm sau ta sẽ tới gặp.
Nói xong ông rời khỏi am. Vương Bảo định hỏi thêm thì thấy ông đi như bay, trong nháy mắt đã biến mất.
Vương Bảo thấy bên phải am là khu đất trống, bên trái am có một ngôi nhà. Vào trong am nhìn kỹ thì đây là hai gian nhà cỏ. Gian ngoài là bếp, gian trong có một chiếc giường gỗ, có chăn đệm, trước giường là một chiếc bàn có một chiếc ghế gỗ trên bàn có mấy chiếc liễn, bên trong vẫn còn cơm. Vương Bảo rất đỗi vui mừng. Hôm ấy không ra khỏi nhà xin cơm. Đến tối có mấy người hàng xóm tới thăm, họ hỏi:
- Gian nhà này đạo sĩ mới làm cách đây hai tháng, sao nay lại để cho ngươi ở.
- Đạo sĩ thương tôi không có nơi nương tựa, - Vương Bảo nói, - nên cho tôi mượn chiếc am này. Đạo sĩ đi nơi khác vân du.
Những người hàng xóm thấy thế bèn để cho Vương Bảo ở. Qua một đêm, sáng hôm sau dậy, Vương Bảo mở chiếc hộp nhỏ ra, quả nhiên thấy một thỏi bạc trắng, đem cân thì đúng là ba phân. Từ đó trở đi cuộc sống không thiếu thốn nữa.
Thời gian cứ thế trôi, mới có mấy năm Sinh Ca lớn bổng lên, thôi bú, chuyển sang ăn cháo, rồi ăn cơm. Nhưng cũng rất lạ Sinh Ca lớn lên thì trong chiếc hộp ấy lại có thêm ba phân bạc nữa, tất cả có sáu phân, đủ chi dùng hàng ngày. Vương Bảo vô cùng sung sướng, mỗi ngày dành ra nửa phân, cứ gom dần, tích tiểu thành đại để may quần áo nữ cho Sinh Ca mặc. Chỉ có điều không xâu lỗ tai và bó chân mà thôi. Khi hàng xóm hỏi tại sao Vương Bảo nói dối rằng:
- Trong cung mệnh của cháu có sao Hoa Cái, phải xuất gia, nên không bó chân và xâu lỗ tai.
Mọi người cứ ngỡ là thật, hoàn toàn không biết Sinh Ca là con trai. Hằng năm vào tháng chạp, Vương Bảo cúng cha mẹ người chủ của mình, khóc than thảm thiết. Xóm giềng có ai hỏi thì Vương Bảo nói là cúng chồng và người vợ cả của chồng. Hàng xóm đều cho Vương Bảo sống rất tình nghĩa, và càng kính phục. Họ đâu có biết rằng đó không phải là vợ khóc chồng, mà là đày tớ khóc chủ.
Hàng tháng vào ngày mồng một, rằm, Vương Bảo đều dẫn Sinh Ca đến Song Trung miếu thắp hương. Một hôm thắp hương xong, bước ra khỏi miếu, bỗng gặp người đạo sĩ lần trước. Khi ấy Sinh Ca đã tám tuổi. Đúng là sáu bảy năm. Vương Bảo lại gặp đạo sĩ, vội vàng lạy tạ. Đạo sĩ nói:
- Ngươi đừng lạy tạ nữa, hôm nay ta đến xin ngươi.
- Sư phụ đừng đùa tôi, - Vương Bảo nói, - mẹ con tôi ăn ở đều do sư phụ, tôi có gì đâu mà sư phụ xin?
Đạo sĩ chỉ vào Sinh Ca nói:
- Ta chẳng xin ngươi cái gì khác, ngươi hãy cho ta đứa bé này để ta dạy dỗ.
- Người chồng đã mất của tôi chỉ còn một giọt máu này, sao lại để cho nó đi tu được.
- Ngươi đừng dối ta. - Đạo sĩ nói. - Theo ta, nó cần phải xuất gia. Hôm nay ta muốn nó xuất gia, ngươi không chịu cho ta ư?
Vương Bảo không còn biết nói sao nữa. Đạo sĩ cười nói: - Ta đến để thử lòng ngươi thôi, ngươi không chịu cho ta đứa bé, ta càng thấy lòng trung thành của ngươi. Nay ta cũng không muốn nó xuất gia nữa, chỉ cần nó theo ta học kiếm thuật.
- Tôi e rằng học kiếm thuật không phải là việc của con gái. - Vương Bảo nói.
- Trước mắt ta ngươi vẫn còn dối ư? - Đạo sĩ cười nói. - Nó là con gái không học được kiếm, sao ngươi là đàn ông lại có vú?
Vương Bảo thấy nói trúng tim đen, sợ quá chỉ cúi đầu vái lạy. Đạo sĩ đỡ Vương Bảo dậy nói:
- Ta phải dạy kiếm thuật để sau này nó báo thù cho cha. Trước mắt hãy để nó theo ta vào núi, sau năm năm ta sẽ trả lại.
Nói xong rút từ trong tay áo ra hai viên gì đó màu trắng, tung lên không trung, biến thành hai thanh kiếm dài. Đạo sĩ đón lấy kiếm, múa trước miếu. Tự nhiên thấy quầng ánh sáng lạnh nhiễm vào người, tuyết bay lả tả, hơi lạnh động thành sương tung lên cuồn cuộn. Vương Bảo hoa cả mắt. Khi ánh sáng lạnh tan hết thì đạo sĩ và Sinh Ca đã biến mất. Vương Bảo kinh ngạc đứng ngây người như tượng gỗ. Vương Bảo nghĩ rằng: người đạo sĩ này là một vị tiên sống. Lần gặp đầu tiên ông nói bảy năm sau sẽ trở lại. Quả thật đến bảy năm là đúng bảy năm. Vừa rồi ông nói năm năm sau sẽ mang ông nhỏ lại cho ta, thì nhất định không phải đây là lời giả dối. Ta hãy yên tâm chờ năm năm nữa xem sự thể ra sao!" rồi một mình về am. Những người láng giềng hỏi: “Con gái bà đâu?". Vương Bảo nói:
- Tôi vừa gặp người đạo sĩ trước đây, ông ấy đã dẫn đi dạy kinh, khoảng năm năm sau sẽ dẫn cháu về.
- Những đạo sĩ vân du liệu họ nói có thật không? - Những người láng giềng nói. - Ngươi bị ông ấy lừa rồi!
- Ông ấy cho am để chúng tôi ở, thì nhất định ông không lừa dối, - Vương Bảo nói.
Những người hàng xóm cứ suy đoán lung tung, người thì bảo ông xấu, người thì nói ông tốt. Song Vương Bảo đã hiểu hết, chẳng nghi ngờ gì cả. Đúng là:
Bên cầu đã gặp Xích Tùng Tử
Trên cầu đừng nghi Hoàng Thạch Công(1)

(1) Xích Tùng Tử, Hoàng Thạch Công, đều là người tiên.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5932
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Wed Mar 19, 2014 12:19 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 17 (B)
Từ đó Vương Bảo sống một mình trong lều cỏ. Tính đốt ngón tay, đã được năm năm. Thời ấy đúng là lúc Hải Lăng Vương làm vua tại Bắc Triều. Y Đại Kiên được thăng làm Kinh doanh Thống soái, rất được sủng ái. Mễ Gia Thạch nhờ Y Đại Kiên tiến cử, cũng được giao chức Hoàng thành Đại sứ. Hai người này xu nịnh, khuyên Hải Lăng Vương tuyển chọn con gái dân gian khắp nơi làm cung nữ. Hải Lăng nghe theo, sai hai người là Thái tuyển sứ, tới lộ Ký Châu tuyển chọn. Phàm là con gái từ mười ba đến mười sáu tuổi đều phải dự tuyển. Hai người làm khâm sai, dựa vào việc này sách nhiễu tiền hối lộ. Người nào có tiền thì miễn tuyển, còn người nào không có tiền đều phải tuyển làm cung nữ. Từ thành thị đến thôn quê đều bị lùng sục. Họ lại dán một tờ yết thị lớn như sau: "Thánh chỉ tới, thì việc lấy vợ lấy chồng trong dân gian phải đình chỉ ngay". Những gia đình có con đều sợ hãi khóc lóc, đành bó tay. Vương Bảo thấy vậy nghĩ bụng: "Đứa con giả gái của mình, may mà đạo sĩ đã mang đi, năm nay nó mười ba tuổi, nếu còn ở đây thì cũng phải tuyển làm cung nữ, vậy thì che giấu sao được " Đúng là:
Nam đã giả làm nữ.
Khó nói nữ là nam.
Nếu không trốn tránh được,
Thì nay chạy trốn đâu.
Xóm làng rối loạn đến hai ba tháng trời, bỗng nghe thấy người ta đồn Y, Mễ đều đã bị giết. Vì Mễ Gia Thạch khi tuyển chọn cung nữ, đã tự ý để lại mấy người đẹp nhất hưởng thụ riêng. Y Đại Kiên biết được, sợ sau này Hải Lăng Vương điều tra ra sẽ bị liên lụy, bèn bí mật dâng sớ lên Hải Lăng Vương. Hải Lăng Vương vô cùng giận dữ, lập tức truyền chỉ hoạn Mễ Gia Thạch ngay tại chỗ, đuổi về nguyên quán. Sau đó mấy ngày, đang đêm Y Đại Kiên cũng bị giết tại tư dinh, lấy mất đầu. Người ta thấy trên tường trước giường nằm có dòng chữ viết bằng máu: "Người giết tên này là Mễ Gia Thạch". Sai dịch báo cho quan địa phương, sau đó tâu lên triều đình. Hải Lăng Vương nổi giận ra lệnh chém đầu Mễ Gia Thạch, bắt vợ con vào cung làm nô tì. Đúng là:
Gian đảng lại do gian đảng hại.
Kẻ ác bị kẻ ác diệt trừ.
Vương Bảo nghe thấy tin này thì mừng thầm: “Hai kẻ thù của chủ nhân đều bị giết, quả là trời có mắt". Hơn tháng sau, nghe tin triều đình sai thái giám Nhan Quyền cầm phủ tiết tới đình chỉ việc tuyển chọn cung nữ, và thả những người đã tuyển chọn trở về quê quán. Dạo ấy thôn làng đâu đâu cũng vui mừng hò reo vang trời dậy đất. Vương Bảo nghĩ: "Ông chủ nhỏ của ta lần này đã thoát khỏi tai nạn, nếu có về thì cũng sẽ bình yên vô sự”. Bây giờ đã năm hết tết đến, một năm nữa lại sắp trôi qua, bấm đốt ngón tay Sinh Ca đã mười bốn tuổi rồi, song vẫn chưa thấy người đạo sĩ đưa về. Suốt ngày Vương Bảo mong ngóng, thường đến Song Trung miếu thắp hương, cầu nguyện. Một hôm tới miếu, Vương Bảo thấy người đạo sĩ và Sinh Ca ngồi ngay trước mặt. Vương Bảo rất đỗi vui mừng, thấy Sinh Ca tóc chấm ngang vai, hoàn toàn như một cô gái đã trưởng thành. Vương Bảo cúi lạy đạo sĩ, nói:
- Đa tạ tiên ông đã giữ lời hứa.
- Ta đã dạy kiếm thuật để nó báo thù cho cha. - Đạo sĩ nói. - Song trước mắt vẫn chưa được xuất đầu lộ diện. Ngươi hãy đưa nó về am ở. Mười hôm nữa sẽ có một người họa sĩ họ Tu đến ở bên cạnh chiếc am cỏ của ngươi. Ngươi hãy cho nó sang đó học vẽ, sau này sẽ là duyên kì ngộ. Ngươi hãy làm theo ta, không được trái lời.
Nói xong bước ra khỏi cửa, thét lên một tiếng dài rồi bay lên không trung biến mất. Có bài thơ còn lại làm chứng:
Vân du tiên cảnh chốn nào đây?
Lúc đến khi đi cỡi gió bay.
Bi tấm lòng trung như sắc đá,
Ban ngày đã gặp được tiên ông.
Vương Bảo nhìn theo lạy rối rít. Rồi quay lại ôm Sinh Ca vào lòng hỏi:
- Năm năm trời nay con đi những đâu?
- Ở đó con không nhớ ngày tháng. - Sinh Ca nói. - Con cảm thấy mới có ít hôm thôi, sao đã tới năm sáu năm trời.
- Ta nghĩ rằng, - Vương Bảo nói, - một ngày ở cõi tiên bằng bao nhiêu ngày ở cõi trần. Tiên ông đã đưa con đi những đâu? Tiên ông tên gì? Hãy kể để ta hay.
- Từ lúc thấy tiên ông múa kiếm, - Sinh Ca nói, - con thấy một luồng ánh sáng trắng vây lấy con, tiếp theo thấy tiếng gió mưa gào rú. Khi ánh sáng tan, bình tâm nhìn ra thì thấy mình đang ngồi trong một hang đá. Trong hang có đủ giường ghế đá, sách vở, bút mục. Tiên ông đưa quần áo nam giới cho con mặc, và sai những hài đồng mặc áo xanh hầu hạ con. Hằng ngày dọn cơm cho con ăn, nhưng lại không thấy đun nấu. Bạn bè tiên ông thường lui tới, đều gọi tiên ông là Bích Hà Chân Nhân, động này cũng được gọi là động Bích Hà. Ban đầu tiên ông dạy chữ, sau đó dạy kiếm thuật. Trước khi dạy kiếm thuật, ông bảo con phải chạy nhảy trên vách núi, tập đến khi nào thấy người mình nhẹ bỗng rồi mới truyền kiếm thuật, sau đó dạy niệm thần chú và bắt quyết, những đường kiếm bao bọc lấy người, bay lên, bay xuống. Khi đã thành thạo, tiên ông ghi phù chú vào cánh tay con, bảo tới một nơi xa xôi nào đó lấy đầu một người nào đó. Con bắt quyết, niệm thần chú, đi lại mấy trăm dặm chỉ trong khoảnh khắc. Con nhớ mấy hôm trước đây, tiên ông lệnh cho con tới một nơi nào đó, giết một người rồi mang thủ cấp về. Lại lệnh cho con ghi mấy chữ trên tường: "Người giết tên này là Mễ Gia Thạch". Tiên ông nói: "Người này là kẻ thù giết cha ngươi, giết được kẻ này là ngươi đã báo thù được cho cha. Bây giờ ta đưa ngươi về”. Tiên ông bảo con cải trang thành con gái. Con nói với tiên ông rằng: "Con đã biết mẹ, không biết cha, và cũng không bao giờ nghe mẹ kể chuyện cha. Con không biết cha mình sống chết thế nào? Và vì sao con lại phải cải trang thành con gái?". Tiên ông nói: "Ngươi hãy về hỏi mẹ thì sẽ biết rõ đầu đuôi". Nói xong, bèn đưa con đến đây. Mẹ hãy nói cho con nghe đi!
Thấy thế Vương Bảo nước mắt chảy giàn giụa, khóc tức tưởi, nói:
- Ta không phải là mẹ con. Mẹ con cũng đã chết một cách oan khuất.
Nghe đến đây, Sinh Ca òa lên khóc, kéo tay Vương Bảo hỏi:
- Mẹ hãy nói nhanh lên! Vương Bảo đang định nói, song phải im bặt. Bước ra ngoài nhìn xung quanh không có người nào mới trở vào nói với Sinh Ca rằng:
- Việc này không thể để lộ ra ngoài được, con phải nín ngay để nghe ta nói.
Sinh Ca lau nước mắt, Vương Bảo đứng lên kể hết về cái chết thê thảm của vợ chồng Lý Chân, và mình giả làm đàn bà bảo vệ người chủ nhỏ. Sinh Ca nghe xong nằm lăn ra đất khóc nức nở. Đúng là:
Con côi trốn tránh đã mười năm.
Trứng nước chia li sao nhớ được.
Trước đây cứ ngỡ đó mẹ hiền.
Đâu ngờ cha mẹ chết thảm thương.
Vương Bảo đỡ Sinh Ca dậy nói:
- Nay đã biết hết rồi, ta cũng không cần phải đóng giả là mẹ nữa. Phải phân biệt rõ chủ tớ, nhưng tiên ông vừa dặn, trước mắt vẫn chưa được lộ ra. Ông chủ nhỏ vẫn không được lộ tung tích, vẫn phải đóng giả con gái như cũ, gọi ta là mẹ để che giấu tai mắt mọi người.
- Nếu con không có mẹ che chở thì cũng đã mất mạng từ lâu. Xin đa tạ tấm lòng trung thành của mẹ. Dù cho việc ấy khiến thần tiên cảm động giúp đỡ thì con tôn là mẹ cũng không phải là quá đáng.
Nói xong, Sinh Ca cúi xuống lạy. Vương Bảo vội khấu đầu nói:
- Ông nhỏ làm thế ta không chịu nổi. Từ nay về sau chỉ đóng giả mẹ con trước mặt mọi người thôi.
Hôm ấy hai người về tới am, vẫn xưng hô với nhau như trước. Láng giềng thấy con gái bà quả phụ họ Trình đã về, khôn lớn trưởng thành, ai ai cũng vui mừng.
Mấy hôm sau người láng giềng cũ dọn đi nơi khác, và quả nhiên sau đó có người họ Tu đến ở. Người ấy chính là thái giám Nhan Quyền, trước đây Hải Lăng Vương chưa xuống chiếu đình chỉ tuyển cung nữ, đã ra lệnh Nhan Quyền nhậm chức thay Y Đại Kiên tuyển chọn con gái đưa về kinh đô. Ai ngờ Nhan Quyền lại là một thái giám có lòng từ thiện và nghĩa khí nhân cơ hội này ông đã trái lệnh vua, cho những người con gái trở về quê quán. Nghĩ rằng, lần này về triều, nhất định cũng sẽ bị giết, nên đến giữa đường ông đuổi hết những người đi theo, mặc thường phục trốn chạy. Vừa may tới Song Trung miếu thì trời tối, ông tá túc tại đó. Tới giữa canh năm, thấy trong miếu đèn nến sáng trưng, một hài đồng mặc áo xanh bước tới kéo Nhan Quyền dậy nói:
- Ta vâng lệnh thần, cho ngươi một bộ râu để lánh nạn.
Vừa nói vừa lấy kim chọc chọc vào cằm Nhan Quyền, rồi lấy trong tay áo ra một túm râu cắm vào cằm. Cắm xong, hài đồng cởi chiếc áo xanh và một đôi giày để lại, rồi dặn rằng:
- Ngươi hãy nhận lấy những thứ này, ngày mai đi cứu một người.
Nhan Quyền vội bò dậy kéo hài đồng lại, hỏi:
- Còn muốn ta cứu ai?
Hài đồng không nói gì, đẩy tay ra. Nhan Quyền ngã nhào, sực tỉnh. Thì ra đó là giấc mộng. Sờ lên miệng thấy ba chòm râu dài gần một thước, chân râu vẫn thấy còn ngưa ngứa. Thật là kì lạ. Khi trời sáng rõ, lạ lùng hơn nữa, lại thấy một chiếc áo xanh và một đôi giày. Ông đứng dậy lạy tạ thần, cầm áo và giày ra khỏi miếu. Vì có bộ râu nên chẳng ai biết ông là thái giám. Ông cứ tự nhiên thoải mái ra đi.
Đi được mấy chục bước, Nhan Quyền thấy có tiếng khóc bên đường. Tới nơi thì đấy là một người con gái trạc mười một mười hai tuổi đang ngồi khóc. Tuy ăn mặc rách rưới, đầu tóc rối bù, song dáng vẻ rất khác thường. Nhan Quyền hỏi lai lịch, lúc đầu cô không chịu nói, sau Nhan Quyền an ủi, cô nới rằng:
- Tôi là người huyện Ngọc Điền, Kế Châu. Cha là Liêm Quốc Quang, làm quan Gián nghị Đại phu. Vì thẳng thắn, coi thường lệnh vua, nên ông bị tử hình, tịch thu gia sản. Gần đây có lệnh tuyển chọn con gái vào làm cung nữ. May mà mẹ tôi đã mất từ trước, tôi bị thống chế Y Đại Kiên bắt, nhốt cùng với những người con gái trong dân gian tại dinh quan? Nay theo chiếu chỉ, những người con gái dân gian được trả về quê quán. Mọi người đều được cha mẹ đón, còn tôi, không nơi nương tựa, phải bơ vơ lưu lạc ở đây, nên tôi khóc.
Nhan Quyền nghe xong, nhớ lại giấc mộng đêm qua. Nghĩ tới sự trung thành tiết tháo đáng kính của Liêm Gián Nghị, hơn nữa, mình cũng là đồng hương của cô gái, cần phải tìm cách cứu cô. Nhan Quyền đưa cô gái về Song Trung miếu, cho cô biết lai lịch của mình, rồi nói với cô rằng:
- Ta với cô đều là người có tội, phải chạy trốn. Đêm qua được thần nhân báo mộng, phải cứu một người, ta nghĩ người ấy là cô. Muốn thế thì cô phải nhận ta là cha. Song cô là con gái của một phạm nhân chưa được tha thì không thể xuất đầu lộ diện. Đêm qua, thần nhân có cho ta một chiếc áo và một đôi giày đàn ông, ta muốn ngươi giả trai, lúc đó mới an toàn được. Cô hãy cải trang thành nam giới, cùng đi với ta có được không?
Nghe xong, người con gái vội vàng lạy tạ. Nhan Quyền bảo cô bái lạy thần, đưa áo, giày cho cô thay, rồi hỏi tên tuổi. Cô gái đáp:
- Tôi là Dã Nương, mười ba tuổi.
- Bây giờ ta gọi cô là con, - Nhan Quyền nói, - chữ "Dã" bỏ đi hai chấm, đổi tên thành "Đài".
Dã Nương rất vui mừng, nghe theo ông. Đúng là:
Bên này hai trai giả làm gái.
Bên ấy có người gái giả trai.
Sự việc hai bên tuy có khác,
Nhưng mà ước vọng lại giống nhau.
Nhan Quyền dắt đứa con giả trai, nghĩ: "Mình không thể sống ở nhà trọ được, phải tìm một nhà ở nông thôn để sống". Rất may họ tìm được một ngôi nhà cạnh am. Nhan Quyền tự nhiên có râu nên tự đổi là họ Tu, chỉ nói cho con mình ở Ngọc Điền dắt díu nhau tới đây tìm người thân, không thấy, lại không còn tiền trở về quê, đành phải trú tạm ở đây. Tuy ông mang theo ít tiền, nhưng không dám tiêu hoang phí, phải tìm một nghề gì để sống lâu dài. Dã Nương nói:
- Cha không phải lo nghĩ gì. Lúc nhỏ con được học may vá lại biết vẽ tranh phong cảnh, và truyền thần. Bây giờ con có thể kiếm sống bằng nghề vẽ.
- Như thế thì tốt quá! - Nhan Quyền nói.
Thế là Nhan Quyền vào thành mua giấy bút, mục màu bảo Dã Nương vẽ ít tranh phong cảnh, quả nhiên Dã Nương vẽ rất đẹp. Sau đó Dã Nương lại vẽ ông, thấy bức chân dung đó giống mình như tạc, Nhai Quyền rất vui, bèn treo tấm biển vẽ truyền thần và phong cảnh. Thấy nhà họ Tu có đứa con gái vẽ giỏi người đến thuê vẽ rất đông. Song nếu ai mời đến nhà vẽ thì Dã Nương kiếm cớ không đi, mà chỉ vẽ tại nhà.
Vương Bảo thấy đứa con nhà họ Tu vẽ giỏi, nhớ tới lời tiên ông dặn trước đây, bèn tới thăm Nhan Quyền, ngỏ ý muốn đưa Sinh Ca sang học. Nhan Quyền thấy Sinh Ca là con gái, nghĩ: “Con mình cũng là gái, con gái tiếp xúc với con gái thì cũng chẳng ngại". Từ đó Sinh Ca sáng tới học vẽ, chiều về nhà. Dã Nương và Sinh Ca coi nhau như chị em, sống với nhau rất hòa hợp. Khi biết Nhan Quyền đã cho những người con gái về quê, Hải Lăng Vương đùng đùng nổi giận, cho người vẽ ảnh Nhan Quyền, sai người truy lùng. Đồng thời tiếp tục cử quan lại đi các nơi tuyển chọn con gái vào cung. May mà có người đi sứ Nam Triều trở về khen con gái Nam Triều đẹp hơn con gái Bắc Triều rất nhiều. Bởi thế, Hải Lăng Vương thôi, không tuyển chọn con gái miền Bắc, mà đem quân đánh xuống phía Nam. Một hôm Sinh Ca sang nhà Dã Nương học vẽ, hôm đó Nhan Quyền vắng nhà, Dã Nương nói đùa với Sinh Ca:
- Chị rất thông minh, chỉ cần hướng dẫn qua là chị biết ngay. Bây giờ trình độ của chị cũng gần như em rồi, sau này chị sẽ giỏi hơn em rất nhiều. Chị thông minh như thế, chắc rằng lúc nhỏ chị cũng đi học?
- Chị cũng biết được chút ít. - Sinh Ca nói. - Nhưng chị là con gái, việc học hành không coi trọng lắm. Còn em, ít tuổi mà tài giỏi như thế, chắc rằng thơ phú cũng giỏi, sao em không tiến thân bằng con đường văn chương chữ nghĩa, mà lại theo đuổi nghề vẽ?
- Quân tử giấu tài để chờ thời. - Dã Nương nói. - Ngày nay không phải là thời chúng ta tiến thân. E rằng văn chương chữ nghĩa không phải là con đường công danh, nó dễ mang vạ vào thân.
Sinh Ca nghe xong, nghĩ tới cha mình cũng vì văn chương mà bị kẻ xấu hãm hại, nỗi bi phẫn tự nhiên trào lên, nghẹn ngào nói với Dã Nương:
- Lúc nhỏ ta gặp được một người kì lạ, học được kiếm thuật, lâu nay chưa từng biểu diễn, nay ta diễn thử cho em xem nhé!
Nói xong bèn lấy từ trong tay áo một viên màu trắng, bước ra sân tung lên không trung, biến thành một thanh kiếm dài. Sinh Ca dơ tay đón lấy, rồi múa ngay giữa sân. Lúc đầu còn thấy thấp thoáng bóng người trong quầng ánh sáng, sau đó chỉ thấy quầng ánh sáng trắng mà không thấy bóng người. Khi múa xong, vẫn thấy viền mầu trắng trong tay, mà không thấy kiếm đâu. Dã Nương sững sờ kinh ngạc nói:
- Không ngờ chị lại tài đến thế, quả là đấng trượng phu trong nữ giới.
Kiếm múa hoa sen nở. Ánh sáng lạnh tầng không.
Như sương bay tuyết múa.
Như chớp lóe gió gào.
Bay lên rồi nhào xuống.
Tiến đông lại lùi tây.
Thoắt ẩn rồi thoắt hiện.
Chẳng phải con gái đâu.
Dã Nương đề thơ xong, đưa cho Sinh Ca. Sinh Ca tấm tắc khen, rồi cười nói:
- Ta nghĩ, hiền đệ thông minh, giỏi thơ phú, thật chẳng sai chút nào. Hiền đệ lại coi ta như một trượng phu. Song ta coi nét chữ của hiền đệ lại mềm mại như nét chữ con gái. Ta cũng làm một bài tặng hiền đệ. Rồi Sinh Ca viết ngay vào mặt sau trang giấy đề là "Tây Giang nguyệt". Bài từ như sau:
Thể chữ đẹp như con gái.
Văn chương thơm nức phấn son.
Nét bút mềm như ấn ngọc
Đâu phải là nét bút nam nhi
Tuy là con trai.
Dáng dấp như con gái.
Nếu mặc kiểu con gái.
Chẳng ai bảo là trai.
Dã Nương xem xong, thấy hình như Sinh Ca biết rõ mình là con gái, tự nhiên mặt đỏ bừng, gượng cười nói:
- Sao chị lại coi em như con gái? Em lại thấy chị rất giống con trai, nên gọi chị là anh mới đúng.
Nói rồi, Dã Nương lại đề tiếp một bài thơ để trêu Sinh Ca.
Dáng chị anh hùng đại trượng phu,
Nên cứ bằng anh, em xưng hô.
Bao giờ chị em ta lại gặp,
Như tình cầm sắt, em gọi anh.
Sinh Ca xem xong, cười nói:
- Nếu như em gọi chị là anh, thì chị cũng gọi em là em gái. Rồi nhân đó làm một bài đáp lại:
Yêu em tài trai như gái sắc,
Lại ngờ phòng học hóa khuê phòng.
Bao giờ chi em gặp nhau nhỉ?
Đôi lứa xứng đôi anh bên em.
Hai người chuyện trò vui vẻ với nhau hồi lâu, khi trở về Sinh Ca nghĩ: "Đài Quan có tướng con gái". Dã Nương cũng đinh ninh Tồn Nô có tướng con trai.
Một hôm nhân tiết Thanh minh, Sinh Ca ở nhà cùng với Vương Bảo cúng cha mẹ.
Hôm ấy, Nhan Quyền cũng mua sắm hương hoa lễ vật cho Dã Nương cúng cha mẹ, rồi tới Song Trung miếu thắp hương. Dã Nương đóng cửa ở nhà một mình vừa cúng vừa sụt sùi khóc.
Dã Nương là gái, không dám khóc to, chỉ lặng lẽ cúng. Khi cúng xong, nghe thấy tiếng gào khóc thảm thiết bên kia. Dã Nương kiễng chân, nghển cổ nhìn qua khe hở, thấy nhà bên vẫn còn đang cúng. Tồn Nô quỳ phía trước, mẹ cúi đầu quỳ đằng sau, nước mắt giàn giụa. Tồn Nô nằm lăn ra đất khóc nức nở. Mẹ đỡ dậy, miệng lẩm bẩm khuyên răn. Bà nói gì không rõ, Dã Nương chỉ nghe được mấy tiếng "ông nhỏ". Tồn Nô cúng xong, ngước lên vái lạy. Thấy vậy Dã Nương sinh nghi: "Sao lại kì quặc như thế? Từ trước tới nay ta nghi Tồn Nô là con trai, nhất định cũng là người thay hình đổi dạng như mình. Ngày mai ta phải thử xem sao".
Hôm sau Sinh Ca tới nhà Dã Nương. Chờ cho Nhan Quyền đi khỏi nhà, Dã Nương hỏi Sinh Ca như khơi gợi:
- Chị thông minh như thế chắc chị rất giỏi nữ công gia chánh Sao em chẳng thấy chị thêu thùa gì cả?
- Còn nhỏ chị được mẹ cưng chiều, - Sinh Ca nói, - nên không học thêu thùa may vá.
- Nhưng sao lại học làm thơ múa kiếm? - Dã Nương hỏi. - Em chắc rằng chị phải giỏi nữ công, nếu như gặp con gái thì nhất định chị sẽ trổ tàiBây giờ trước mặt em, chị mới giở cái trò con trai ra để khoe với em.
- Vẽ cũng như thêu thùa thôi. - Sinh Ca nói. - Thế thì em cũng giỏi thêu thùa?
- Em không phải là con gái, Dã Nương nói, - thì làm sao mà biết thêu thùa! Chị là con gái, lại học việc con trai. Mà sao chị lại hỏi em về nữ công?
- Em bảo em không phải là con gái ư? - Sinh Ca cười nói. - Chỉ sợ rằng con gái không ai linh lợi được như em.
- Chị vốn là con gái, - Dã Nương cười nói, - nhưng lại giống con trai. Em cũng chỉ sợ rằng không có người con trai nào hào phóng như chị. Nhân đó đưa cho Sinh Ca bức tranh vẽ Hồng Phất(1) trốn theo trai và nói:
(1) Hồng Phất: một kĩ nữ của Dương Tố thời Tùy, sau theo Lý Tĩnh.
 
- Nếu như chị học Hồng phất cải trang thành con trai, thì chẳng phải ban đêm có người trốn theo chị mà ngay cả ban ngày cũng có người theo chị. Chẳng ai nhận ra chị là con gái!
- Em bảo chị trốn theo ai? - Sinh Ca cười nói, - nếu chị là Hồng Phất, thì em phải là Lý Tĩnh.
Dã Nương thấy Sinh Ca nói trúng ý mình, bèn chỉ đôi chim uyên ương trên bức tranh, nói:
- Chúng mình gọi nhau là chị em, chỉ như nhạn cùng đàn thôi chứ không thân thiết như uyên ương. Tuy chị lớn hơn em một tuổi, nếu không giấu được, chờ em nói với cha em, chúng ta sẽ kết nghĩa vợ chồng liệu có được không?
Nghe xong Sinh Ca cúi đầu im lặng hồi lâu, rồi bỗng nhiên hai hàng nước mắt chảy dòng dòng. Dã Nương ngạc nhiên hỏi:
- Vì sao chị buồn phiền như thế? Chị giận em quá đường đột ư?
Sinh Ca lau nước mắt trả lời:
- Tung tích của ta không ai biết được. Ta đã giấu em, khiến em lầm tưởng là con gái mà yêu ta, nay ta phải nói thực để em nghe.
Rồi Sinh Ca lấy một tờ giấy trên bàn, viết một bài thơ tứ tuyệt:
Thay hình đổi dạng đâu phải thật,
Vì thiếu Đào Nguyên để tránh Tần.
Nếu muốn cùng em nên chồng vợ

Ước gì ta là con gái em ơi.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5932
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Wed Mar 19, 2014 12:50 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 17 (C)
Nghe xong Dã Nương vô cùng ngạc nhiên, hỏi:
- Lẽ nào Tồn Nô không phải là con gái, mà lại là con trai. Tồn Nô, chị hãy kể hết sự thực cho em nghe!
Sinh Ca khe khẽ thuật lại, rồi dặn:
- Em không được tiết lộ với ai!
Dã Nương rất kinh sợ, nhân đó cười nói:
- Em cứ đùa chị là con trai, ai ngờ lại là con trai thật.
- Vì trước đây giả làm con gái, - Sinh Ca nói, - nên không thể sống chan hòa được, nay đã rõ nhau rồi thì anh em mình có thể kề đùi kề vế, cùng ngủ chung giường với nhau.
Nói xong bèn tới ngồi sát vào Dã Nương. Dã Nương mặt đỏ bừng vội đẩy Sinh Ca, đứng dậy tránh sang một bên. Sinh Ca nói:
- Khuôn mặt em giống con gái, chứ có phải em là gái thật đâu mà xấu hổ như thế?
- Anh tưởng em là con trai thật ư? Anh không giấu em thì sao em nỡ giấu anh.
Thế rồi Dã Nương lấy bút viết một bài thơ
Chị chẳng thật còn em thật sao?
Trốn Tần ta cùng khổ như nhau.
Nếu ta kết nghĩa đào viên được,
Em chỉ mong mình hóa con trai.
Sinh Ca đọc thơ, kinh ngạc nói:
- Anh không ngờ em lại là con gái. Em hãy nói rõ sự thật với anh.
Dã Nương kể lại hết, Sinh Ca rất lạ lùng nói:
- Anh với em, một người giả gái, một người giả trai, thật là duyên trời run rủi. Ta nên kết duyên chồng vợ. Em vừa nói, nhạn đàn không như uyên ương. Từ nay chúng ta không phải là anh em mà là vợ chồng.
- Nếu anh muốn thế, - Dã Nương nói, - phải nói với cha mẹ cho danh chính ngôn thuận, chứ không thể vội vàng được.
Hôm ấy Sinh Ca nói cho Vương Bảo biết. Còn bên này Dã Nương cũng kể hết những chuyện của Sinh Ca cho Nhan Quyền nghe. Hôm sau Vương Bảo tới gặp Nhan Quyền, bàn về chuyện kết hôn, Nhan Quyền bằng lòng ngay. Họ chỉ nói với mọi người rằng nhà họ Tu xin Tồn Nô về làm dâu, rồi nhờ một bà hàng xóm làm mối, chọn ngày lành tháng tốt đón Sinh Ca về. Vương Bảo phá thông tường phía sau, hai nhà thành một. Láng giềng có mấy kẻ xấu, nói ra nói vào:
- Con cái mới mười lăm tuổi, xưa nay không nên cho chúng sống chung với nhau. Nay tự nhiên cưới vợ cho nó. Chưa biết chừng sau này họ lấy nhau. Như thế thì tồi quá.
- Lúc đầu, - có người nói, - bà quả phụ họ Trình muốn con gái xuất gia, thế mà bây giờ lại gả cho Đài Quan nhà họ Tu. Chắc trước đây họ đã có tình ý với nhau, nay thì hai người thông gia ấy đẹp đôi rồi.
Vương Bảo chẳng hề để ý tới những lời thị phi ấy, thời gian như thoi đưa, thấm thoắt đã hai năm. Sinh Ca mười bảy tuổi Dã Nương mười sáu tuổi. Nhan Quyền chọn ngày lành tháng tốt tổ chức lễ cưới. Dã Nương vẫn mặc lối con trai. Chàng rể chải tóc con gái, cô dâu lại mặc áo xanh, đội mũ hoa như con trai, trông thật buồn cười. Người mang lễ đến, mời Vương Bảo ra nhận lễ, Vương Bảo không dám nhận, lấy cớ đau bụng đi nằm sớm. Từ ngày kết hôn, Sinh Ca và Dã Nương sống với nhau thật là ân ái. Chỉ ngại có điều âm dương đảo lộn, không thể thay đổi trang phục, trở lại đúng họ tên thật của mình.
Ai ngờ cũng có cái may, vì học vẽ mà có cuộc hôn nhân này, lại vì bán tranh mà lại dẫn đến một cuộc gặp gỡ bất ngờ khác vốn là thời ấy, hiếu liêm Hoa Hắc đậu tiến sĩ được tuyển vào Hàn lâm, song vì bất hòa với thừa tướng Nghiệp Ách Hổ nên từ quan về sống tại quê hương. Phu nhân của ông là Lam thị muốn vẽ một bức tranh trong cảnh vui thú điền viên. Nghe tin vợ chồng Trình Tồn Nô nhà họ Tu ở Hậu Thôn giỏi vẽ truyền thần, bèn sai người mang kiệu tới mời về phủ vẽ trực tiếp. Dã Nương khuyên Sinh Ca không nên đi. Vì nghĩ tới công ơn Hoa Hắc đã chôn cất cha mẹ mình, nay không nỡ trái lệnh. Vị phu nhân chỉ biết Sinh Ca là con gái, mời thẳng vào phòng riêng. Chào hỏi xong, bà mời Sinh Ca dùng trà, rồi đưa cho Sinh Ca một vuông lụa trắng. Sinh Ca nhìn kĩ phu nhân hồi lâu, rồi cầm bút vẽ. Chỉ phút chốc, bức chân dung đã vẽ xong, trông rất đẹp và giống hệt. Phu nhân vô cùng vui sướng, gọi bọn hầu gái vào xem, đều tấm tắc khen. Phu nhân vô cùng thán phục, nói với Sinh Ca rằng:
- Chân dung mẹ tôi bị anh em chúng tôi làm mất, nay muốn vẽ lại một bức, vẽ mô phỏng thì quả là khó thực. Nay ta tả lại hình dáng, nhờ cô giúp đỡ. Nếu vẽ đúng ta sẽ hậu tạ.
Sinh Ca nhận lời. Bà chỉ vào khuôn mặt của mình, chỗ nào giống mẹ, chỗ nào khác mẹ. Theo lời bà, Sinh Ca tưởng tượng vẽ ra một bức chân dung. Song thật lạ lùng, bức họa rất sống động. Phu nhân xem, vỗ tay thán phục, vừa nhìn vừa khen, càng nhìn càng thấy giống. Bà cảm thấy như được gặp lại mẹ mình, rồi bất giác òa lên khóc. Thấy bà khóc, tự nhiên Sinh Ca cũng nước mắt giàn giụa. Phu nhân thấy lạ hỏi:
- Ta khóc vì nhớ mẹ, còn cô thì vì sao lại khóc.
Sinh Ca lau nước mắt nói:
- Tôi còn bé đã mất cha mẹ, nên không biết mặt cha mẹ. Nay phu nhân có được bức ảnh của mẹ mình, tôi nghĩ mình là người vẽ truyền thần, song không sao vẽ được cha mẹ, nên không cầm được nước mắt.
Thấy vậy phu nhân hỏi:
- Ta nghe tin mẹ cô vẫn còn, nhưng sao lại nói cha mẹ đã mất từ khi còn nhỏ.
Sinh Ca vội nói chữa lại rằng:
- Phu nhân nghe lầm rồi, thiếp nói là cha mất từ khi còn nhỏ
- Ta lầm sao được, rõ ràng cô vừa nói cha mẹ mất từ khi còn nhỏ. Vậy bà quả phụ Trình không phải là mẹ đẻ cô ư? Hãy nói thực với ta đi!
Sinh Ca thầm nghĩ: "Ngài Hoa là một người tình nghĩa, nếu ta nói thực với phu nhân, chắc chẳng có gì đáng ngại". Thế rồi Sinh Ca chắp tay lạy bà nói:
- Phu nhân là đấng bề trên, xưa kia cha con nhờ ân đức ngài Hoa, trước mặt phu nhân con đâu dám giấu. Nhưng xin bà hãy tha chết cho con, con mới dám nói.
- Sao lại lạ lùng thế? - Phu nhân nói. - Ta vốn chẳng quen biết gì nhà cô, thì làm gì có ơn với huệ. Hơn nữa bây giờ cô có tội gì đâu!
- Xin phu nhân cho người nhà lui ra, - Sinh Ca nói, - con sẽ thưa lại tường tận.
Phu nhân cho những người hầu ra ngoài. Trước hết Sinh Ca nói là mình giả làm con gái, lẽ ra không được vào nội thất, song không dám trái lệnh phu nhân, đành phải miễn cưỡng vào đó là tội đáng chết. Sau đó kể lại tỉ mỉ vì sao mình phải cải trang lánh nạn, vì sao mình lại lấy Dã Nương làm vợ. Phu nhân nghe xong vô cùng kinh ngạc, mời Hoa Hắc vào để nói lại chuyện này, và cho Sinh Ca vào gặp. Hoa Hắc thấy hết sức lạ lùng.
Đang lúc ấy, gia nhân vào thưa:
- Có người ở trên về báo, ngài lại được phục hồi chức cũ.
Thời ấy, Hải Lăng Vương ngự giá đánh xuống phương Nam, giữa đường bị hại. Thừa tướng Nghiệp Ách Hổ bị loạn quân giết chết. Trong triều lập Thế Tông làm vua. Thế Tông là người sáng suốt, những quan viên xúc phạm Hải Lăng Vương bị Nghiệp Ách Hổ giết, đều được truy tặng, tìm lại con cháu cho tập ấm. Những người bị phế truất, bị đày đều được phục hồi. Bởi thế Hoa Hắc được bổ nhiệm lại chức cũ. Nhận được lệnh gia ân, Hoa Hắc nói với Sinh Ca rằng:
- Vua mới rất sáng suốt, vẫn cho tìm lại con cháu các hiền thần bị hại để giao chức vụ. Liêm Gián Nghị cũng trong số đó. Ngài không có con, nay anh là con rể cũng coi như con ngài. Còn như việc cha mẹ đề thơ mà bị giết, ta sẽ dâng sớ để minh oan. Anh không những thoát tội mà còn được phong quan.
- Xưa kia ngài đã chôn cất cha con, - Sinh Ca nói, - nay lại quan tâm chu đáo tới con như thế, ơn ấy thật như trời biển. Con không thể nào quên được.
Nói xong Sinh Ca quỳ xuống lạy. Đúng là:
Nhờ ơn quân tử rủ lòng thương.
Cứu thoát cùng dân khỏi nỗi oan.
Sinh Ca bái tạ ông bà Hoa ra về, rồi kể lại chuyện đã xảy ra cho Dã Nương, Nhan Quyền và Vương Bảo nghe, họ rất vui mừng. Ngay ngày hôm ấy, Hoa Hắc về kinh, yết kiến vua, dâng sớ minh oan cho Lý Chân, nói:
- Hai bài thơ Lý Chân làm, một bài than vãn Nam triều không có người, một bài than vãn Nam triều chưa từng không có người, chỉ vì gian thần hãm hại, vô cớ bị giết chứ không hề xúc phạm đến triều đình. Thật đáng thương cho cả gia đình ông. Vợ ông là Giang thị đã chết để bảo vệ tiết hạnh, cũng rất đáng thương. Nay Sinh Ca con họ lại lấy con gái Liêm Quốc Quang. Quốc Quang không có con trai, nên tập ấm cho con rể để báo đền lòng trung thành của ông.
Sau đó lại kể chuyện Vương Bảo được trời cảm động mà cho vú, Nhan Quyền mơ thấy thần cho râu. Thế Tông xem tấu, ra lệnh:
- Cho Sinh Ca được tập ấm Liêm Quốc Quang, giao cho chức Hàn lâm chờ chiếu chỉ. Phong Dã Nương làm Nho nhân. Vương Bảo là người trung nghĩa đáng thương, giao chức Thái bộc thừa. Thái giám Nhan Quyền được triệu về kinh sư, giao chức Lục cung Đô đề điểm.
Lệnh vua được ban ra, Sinh Ca và Dã Nương mới được thay đổi trang phục. Một người đàn ông vú to, một người thái giám râu dài đều được khôi phục lại diện mạo thật của mình. Chuyện kì lạ ấy, đâu đâu cũng thấy người ta đồn đại.
Trước đó âm dương đảo lộn
Bây giờ nam nữ đúng rồi.
Mọi người nhận ơn vua, đều trở về kinh. Sinh Ca dâng sớ tâu rằng: "Trước đây thần gặp hoạn nạn, chưa để tang cha mẹ. Nay muốn được để tang cha mẹ, ở lều cỏ bên phần mộ ba năm, sau xin nhậm chức". Thiên tử khen ngợi Sinh Ca là người có hiếu, nên chuẩn y theo nguyện vọng. Sinh Ca cùng với Dã Nương mặc áo xô gai, chống gậy, đến nơi phần mộ cha mẹ bày lễ cúng. Nghĩ lại cha mẹ đã chết oan khuất, lúc còn sống lại không biết mặt, khi chết không được chăm sóc mộ phần, cho mãi tới bây giờ mới đến trước mộ bái lạy. Nỗi đau đớn trong lòng ùa dậy, họ nằm lăn ra đất khóc lóc thảm thiết. Điều đó khiến cho những người xung quanh không ai không thương tâm.
Vương Bảo thấy vợ chồng Sinh Ca tới mộ, nhân lúc chưa tới nhiệm sở, mang lễ vật đến mộ lễ. Lúc ấy Vương Bảo mặc áo triều đình ban cho, đến trước mộ, ông bảo người hầu mang áo xanh và mũ nhỏ để ông thay.
Sinh Ca hỏi:
- Sao lại phải làm thế.
- Xưa kia ta được mẹ ông nhỏ nhờ cậy bảo vệ ông nhỏ. - Vương Bảo nói. - Nay ta đến để thưa lại với bà. Nếu như đội mũ đeo đai, sợ rằng người dưới mộ không nhận được.
Nghe xong bất giác Sinh Ca òa lên khóc. Vương Bảo thay áo mũ, đứng trước mộ bái lạy thưa rằng:
- Thưa bà, con là Vương Bảo, xưa kia ở thành Ký Châu, vì muốn về gấp báo tin cho bà chủ, không kịp khâm liệm thi thể ông chủ. Đến khi bà chủ chết, con vội vàng bảo vệ ông nhỏ, đưa ông đi trốn, không kịp khâm liệm thi thể bà, cũng không kịp đến mộ để cúng. Nay nhờ trời, được ân xá, con mới tới mộ ông bà. Trước đây nhờ trời cho vú, tiên ông che chở nên chủ tớ chúng con mới được sống tới ngày nay. Nay may mà mối thù đã trả ông nhỏ đã thành gia thất, lại được thăng quan. Không biết ông bà chủ có biết cho không? Nếu linh hồn tại đây, cúi lạy xin chứng giám.
Cứ như thế, ông vừa khấn vừa vái lạy, rồi nước mắt ông cứ trào ra. Những người theo hầu nhìn thấy, ai ai cũng khóc.
Vương Bảo lễ xong, thay mũ áo. Lúc ấy Nhan Quyền cùng đến cúng. Chờ lễ xong họ cùng đến từ biệt vợ chồng Sinh Ca, chuẩn bị lễ vật đến Song Trung miếu lễ tạ. Nhan Quyền cho đúc lại tượng thần, trùng tu lại miếu, rồi sau đó cùng với Vương Bảo trở về kinh thành. Sinh Ca cùng với Dã Nương ở lại chịu tang. Sau đó lại nghe thấy chiếu chỉ của triều đình, sắc cho quan huyện Ngọc Điền xây dựng miếu thờ Liêm Quốc Quang, hằng năm thờ cúng. Sinh Ca cùng với Dã Nương tới đó cúng lễ xây dựng lại lăng mộ. Hết hạn chịu tang, họ cùng trở về kinh đô tạ ơn vua rồi nhậm chức.
Ở kinh đô chưa được bao lâu, nghe tin tại huyện Lâm Thành, Triệu Châu có một mụ yêu quái, đó là Ngưu thị. Mụ ta đã liên kết với bọn cướp hung hăng ngang ngược nổi loạn. Ngưu thị là vợ Y Đại Kiên, Đại Kiên là người Lâm Thành. Khi còn sống hắn đã dựa vào sự sủng ái của Hải Lăng Vương, làm nhiều điều ác độc. Sau đó bị cáo giác, Thế Tông đã ra lệnh tịch thu gia sản. Không ngờ Ngưu thị là vợ, biết nhiều yêu thuật, bèn cùng với con là Y Bưu trốn vào núi Thái Hàng, tụ tập bọn cướp nổi loạn, tự xưng là "Thông Thánh Nương Nương". Quan địa phương đem quân truy bắt, song đều bị chúng đánh bại. Sinh Ca biết được tin này, tấm lòng trung thành sôi sục trào dâng, nói:
- Đây là vợ tên kẻ thù, ta phải tự tay giết nó.
Thế rồi Sinh Ca dâng sớ xin tới sào huyệt kẻ thù. Thiên tử chuẩn y, lệnh cho giữ chức Hàn lâm Đãi chiếu kiêm Hành quân Thiên hộ, đem ba ngàn quân đến Lâm Thành dẹp bọn yêu tặc. Sinh Ca vâng lệnh, ngày đêm thúc quân thẳng tiến. Ngưu thị thống lĩnh quân giặc, chiếm cứ núi cao hiểm yếu, xây dựng doanh trại, rồi dùng phép thuật chống lại. Nào ngờ Sinh Ca được Bích Hà Chân Nhân truyền cho kiếm thuật. Sinh Ca không chờ giao phong, một mình bay lên đỉnh núi, vung kiếm chém đầu Ngưu thị và Y Bưu. Sau đó đốc quân phá tan sào huyệt bọn cướp, dẹp tan quân giặc, chiến thắng trở về triều. Thiên tử thấy Sinh Ca lập công lớn, thăng làm Trung thư Tả thừa, kiêm Xu mật Phó sứ, truy tặng cha mẹ là Lý Chân và Giang thị. Sinh Ca cảm động đến rơi nước mắt, tạ ơn vua, trở về tư dinh. Đêm ấy nằm mơ thấy một vị quan mặc áo đi hia, và phu nhân mặc áo gấm đội mũ cánh phượng. Hai người nói với Sinh Ca rằng:
- Ta là cha mẹ của ngươi. Được Thượng đế rủ lòng thương, vì một người là văn nhân bị tai họa, một người vì tiết nghĩa mà quyên sinh, cho ta thoát khỏi kiếp ma quỷ mà được làm thần. Không những được ơn vua, mà còn được Thượng đế yêu mến. Con không phải buồn phiền thương xót cha mẹ nữa.
Sinh Ca tỉnh dậy, nhớ lại hình ảnh cha mẹ, vẽ ra hai bức chân dung, gọi Vương Bảo tới xem. Vương Bảo vô cùng kinh ngạc nói:
- Rất giống ông bà chủ lúc sinh thời.
Sinh Ca vô cùng sung sướng, đưa vào miếu thờ. Đúng là:
Trung, trinh trời đất biết.
Nhân, hiếu quỷ thần hay.
Vương Bảo làm quan được ba năm, rồi xin từ chức, đi tìm Bích Hà Chân Nhân vào núi tu luyện. Đến từ biệt vợ chồng Sinh Ca, mang theo hộp đựng hạt ngân mẫu linh đan, nhẹ nhàng phơi phới ra đi. Sinh Ca luôn luôn nhớ tới lòng trung thành của ông, vẽ một bức chân dung của ông đặt bên cạnh Lý Chân, hằng năm thờ cúng. Lại vẽ bức chân dung Bích Hà Chân Nhân, đặt thờ ông tại am cỏ xưa kia, và cùng thờ Vương Bảo tại đó. Về sau Hoa Hắc đi sứ trên biển, thấy Vương Bảo người hồng hào tóc trắng xóa, nhẹ nhàng bay lướt trên mặt nước. Khi trở về, kể lại với Sinh Ca. Sinh Ca biết ông đã thành tiên. Nhan Quyền ra vào cung, người ta đều gọi ông là thái giám Râu, và ông được vua sủng ái, thọ tới chín mươi bảy tuổi mới qua đời. Dã Nương mặc áo xô tang ông, đặt bức chân dung lên bàn thờ. Đây là việc báo đền hai người trung nghĩa.
 

Các bạn thân mến, nếu người ta có lòng trung thành, có nghĩa khí, thì trời sẽ phù hộ, thần sẽ giúp đỡ. Hãy xem nô bộc, hoạn quan còn như thế, huống hồ những sĩ đại phu. Kinh Dịch viết: "Tận trung với vua, không phải vì bản thân mình".

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5932
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Wed Mar 19, 2014 6:27 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 18
Hai Lần Phán Quyết, Con Giả Thành Con Thật 
Ba Lần Nung Tượng, Vàng Thật Hóa Vàng Hư
Ở trong vô tướng tướng bỗng sinh,
Đúng đúng sai sai vẫn tranh giành.
Cuối cùng hữu tướng về vô tướng,
Trách kẻ tham lam vẫn mải mê.
Trên đây là bốn câu kệ do Tinh Thiền sư làm, ông khuyên người đời không nên bộc lộ mình. Những người bộc lộ mình, phần lớn đều bộc lộ ở ba khía cạnh: tham lam, giận dữ, ngu ngốc (tham, sân, si). Tham của cải của người khác là tham, tham phúc của trời là tham. Tham không được thì sinh giận dữ. Giận người là ngu, giận trời càng ngu. Rốt cục cái đã định thì không thể cưỡng lại, mà cái không định thì lại không giữ được. Biết mọi sự đã được định đoạt thì không nên tham. Biết nó không phải của mình thì lại càng không nên tham.
 
Thời Chu Thế Tông cuối Ngũ Đại, ở Quy Đức, Hà Nam, có một người tên là Kỷ Diễn Tộ. Gia đình vào loại thường thường bậc trung, đã gần bốn mươi tuổi mà chưa có con nối dõi. Vợ là Cường thị, tính lại hay ghen tuông, không cho chồng lấy vợ lẽ. Trong nhà chỉ có một đứa ở tên là Nghi Nam mười sáu tuổi rất xinh đẹp. Sợ chồng gian díu với cô ta, Cường thị không cho cô chải đầu, bó chân và luôn quản chặt Kỷ Diễn Tộ, không lúc nào buông lơi. Kỷ Diễn Tộ có một đứa cháu trai Kỷ Vọng Hồng, là con người anh đã qua đời tên là Kỷ Diễn Tự. Từ nhỏ Kỷ Vọng Hồng đã được cha mẹ cưng chiều, lớn lên chẳng biết làm gì suốt ngày cờ bạc, và đã trở thành một đứa hết sức vô lại. Cha mẹ chết sớm, Kỷ Diễn Tộ không sao dạy bảo được Kỷ Vọng Hồng. Vợ Kỷ Vọng Hồng là Trần thị cũng là đứa thích ăn diện, bị chồng đuổi đi, may được bố chồng Trần Nhận Phủ nhận về nuôi. Kỷ Diễn Tộ thấy cháu hư hỏng, nên không muốn nhận làm con thừa tự. Nào ngờ Vọng Hồng thấy chú không con, nhòm ngó gia tài của chú, cho rằng chú không quan tâm đến mình, cứ nài nĩ xin xỏ. Khi Diễn Tộ giúp cho ít đồ đạc, cầm chưa nóng tay Vọng Hồng đã bán sạch. Vọng Hồng như thế thì làm sao Kỷ Diễn Tộ thỏa mãn được lòng tham vô đáy của hắn. Bởi thế Cường thị nói với chồng:
- Chỉ vì ông không có con nên mới phải chịu nó hành hạ. Trước đây ta muốn tới chùa Đại Tướng Quốc cúng cầu tự, song vẫn không được, nay tôi muốn ông cùng tôi đi cầu tự, ông thấy thế nào?
Kỷ Diễn Tộ nói:
- Đàn bà không nên đi cầu tự, hơn nữa đường xá xa xôi, rất bất tiện. Nếu bà muốn cầu con thừa tự, thì sớm chiều dâng lễ cúng Phật tại nhà là được rồi!
Thấy chồng nói thế, Cường thị bảo chồng làm một pho tượng Phật không phải bằng gỗ mà phải đúc bằng đồng, pha thêm vàng để thờ cúng. Theo lời vợ, Diễn Tộ mời một người thợ giỏi là Dung Tam đến nhà đúc một pho tượng Phật bằng đồng nặng mười cân và hai lạng vàng. Pho tượng đúc xong sáng choé trông như vàng ròng. Cường thị đặt pho tượng trong gian phòng rất thanh tịnh, suốt ngày lễ bái, cầu con thừa tự.
Cầu cúng gần một năm trời mà chẳng thấy Cường thị có mang, Diễn Tộ ngấm ngầm để ý đến Nghi Nam. Tuy cô không chải đầu, không bó chân, anh đâu có cần đến phần đầu, chỉ cần phần đuôi thôi, và chỉ cần cái chân ngồi, chứ không cần cái chân đi của cô. Người ta thường nói: "Mất trộm rồi mới rào giậu”. Dù cho vợ quản chặt, nhưng đến đêm Cường thị ngủ say, Diễn Tộ mới lén lút gian díu với Nghi Nam. Đúng là:
Mặc cho sư tử Hà Đông rống
Nào có ai ngờ mất chim loan.
Gã xưa nay vẫn sợ vợ, đêm đến lén lút vụng trộm với đứa ở. Quá trình lén lút ấy đều có biệt hiệu riêng. Trước hết gối đầu lên gối theo dõi hơi thở của vợ, gọi là "cáo nghe nước đóng băng"; đến khi vợ ngủ say, len lén chui ra khỏi chăn, gọi là "ve sầu lột xác"; trong đêm tối ngồi trên giường dùng chân quơ dép gọi là "rửa chân ở sông Thương Lang"; đi trong đêm sợ chạm vào đồ vật nên hai tay phải đặt trước bụng, gọi là "Bá Nha ôm đàn"; đến chỗ ngủ của con ở, xoa xoa, nắn nắn, cả hai đều không dám nói, gọi là “người câm đánh nhau”; sợ vợ tỉnh dậy biết được, vội vàng làm cho nhanh chóng, gọi là "chuồn chuồn đạp nước"; về tới giường vợ, lại rón rén chui vào chăn như cũ, gọi là "rắn vàng về lỗ".
Kỷ Diễn Tộ vụng trộm với Nghi Nam, nhưng lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, không được tự do thoải mái, đang lúc muốn cùng với cô ta vụng thầm cho thật đã, thì rất may, buồn ngủ lại gặp chiếu manh. Cường thị vốn ăn chay niệm Phật, nên có một ni cô thường hay lui tới. Ni cô người họ Tất, pháp danh là Ngũ Không. Am của ni cô gần chùa Long Hưng, Thành Nam, bởi thế cô thân quen với một vị hòa thượng trong chùa: Chùa Long Hưng có hai sư trụ trì , đó là Tĩnh Tu và Huệ Phổ. Tĩnh Tu hiểu kinh Phật rất sâu sắc, không thích ồn ào, thường đóng cửa ngồi tĩnh tọa. Huệ Phổ thì chỉ nắm được cái tổng quát, giảng kinh thuyết pháp. Việc tiếp đãi thiện nam, tín nữ hoàn toàn dựa vào Ngũ Không. Ngũ Không thường tới các nhà giàu có, giáo hóa nữ giới quy Phật. Bởi thế, Ngũ Không cũng khuyên Cường thị nên đi nghe giảng kinh. Ngày mười chín tháng hai là ngày sinh nhật Quan âm Đại Sĩ, chùa lại càng đông vui. Cường thị muốn đi, Diễn Tộ không muốn vợ đi, song ông ta lúc nào cũng tơ tưởng tới Nghi Nam, nên nghĩ nếu Cường thị đi vắng thì việc dan díu sẽ không bị ngăn trở. Trước hôm Cường thị đi chùa, ông ta bảo Nghi Nam vờ đau bụng nằm rên. Hôm sau, Cường thị thấy Nghi Nam ốm, không thể đi cùng, đành cho hai vợ chồng người giúp việc là Hỷ Tường đi theo, để Hưng Nhi một đứa ở mười hai tuổi và Nghi Nam ở lại trông nhà. Lúc đầu Diễn Tộ cùng đến chùa với vợ, song khi vào chùa thì nam ngồi bên đông, nữ ngồi bên tây, sau khi Huệ Phổ an tọa giảng kinh, thì nhân lúc đông người, Diễn Tộ lẻn về, thả sức ong bướm với Nghi Nam. Chỉ thấy:
Vợ vào chùa xem Phật đường thanh tịnh
Chồng về nhà hưởng cực lạc Niết Bàn
Người thì thành tì kheo cúng Thế Tôn quỳ rạp đất
Kẻ lại hóa thành tiên, khiến gái hầu chổng vó lên trời
Trước đây đêm tối vội vàng hành sự chỉ chớp mắt là mây tạnh trời quang
Nay giữa ban ngày ban mặt ung dung tường tận chẳng khác gì rung cành lá rụng tả tơi
Trước đây thường trách Thủy Mẫu Quy sơn độc ác không chút buông tay.
Nay lại gặp sư tử Hà Đông lễ Phật, mới có dịp may
Dựa vào sức mạnh Quan âm bắt đi La Sát Dạ Xoa
Nhờ vào sức sống của Thiền dựng nên Cao Đường Vu Giáp
Trước đây vợ tại phòng the chiêu chửi, chẳng khác nào đọc kinh cầu nguyện cho chồng
Nay mụ ác vào chùa nghe kinh Phật, chẳng khác gì niệm chú cho đứa hầu hòa hợp
Hoàn toàn nhờ Phật mở đường phương tiện
Quả là Bồ Tát rộng lượng từ bi
Diễn Tộ hành sự xong, gọi thằng nhỏ Hưng Nhi dặn rằng:
- Khi bà về không được nói là tao về nhà nhé.
Nói rồi, Diễn Tộ đến ngay chùa, đúng lúc đón kiệu Cường thị cùng về. Cường thị không biết được trò ma mãnh của chồng, cũng chẳng biết được, lần này Nghi Nam đã mang thai. Hơn một tháng, thấy Nghi Nam lông mày dựng ngược, mắt đờ đẫn mệt mỏi, Cường thị sinh nghi, bèn gọi ra tra khảo, Nghi Nam đành phải nói thực. Cường thị vô cùng tức giận, rầy la chồng. Diễn Tộ vì sợ vợ, nên lúc đầu không nhận, sau bị truy bức đành phải khai ra. Cường thị xô bàn đạp ghế gào khóc, chửi bới, rồi bảo Nghi Nam đi. Đúng là:
Đàn bà thường đánh ghen,
Đánh ghen phản tu hành.
Mình không từ bi được,
Cúng phật cũng bằng không.
Đến hai tháng ròng, ngày nào Cường thị cũng nhiếc móc Nghi Nam. Một hôm Cường thị vào gian thờ Phật, hướng về pho tượng đồng giận dữ nói:
- Phật cũng chẳng thiêng. Ta suốt ngày cầu mong ngươi, nhưng ngươi lại phù hộ cho con đĩ ấy có thai, thật là ta uổng công hương khói bấy lâu nay.
Cường thị cứ vừa lễ vừa oán trách phật.
Mà cũng lạ thật, hôm trước Cường thị nói thế, thì hôm sau pho tượng đồng trên bệ thờ biến mất. Cường thị giật mình, ngờ rằng pho tượng bị đánh cắp. Trong nhà chỉ có bốn người: vợ chồng Hy Tường, Hưng Nhi và Nghi Nam, song Cường thị cứ đổ hết cho Nghi Nam lấy cắp. Nghi Nam không chịu nhận. Cường thị định đánh Nghi Nam tra khảo, thì có người tới báo, pho tượng ấy hiện đang ở đâu. Người báo tin lại là người nhà của phú hộ Tất Viên Ngoại ở trong thành này. Thế thì kẻ nào đã lấy cắp pho tượng? Đó chính là Hỷ Tường, anh ta đã nghe thấy bà chủ oán trách tượng, nhân đêm tối đã lẻn vào lấy cắp pho tượng, sáng sớm hôm sau đem bán cho nhà Tất Viên Ngoại lấy mười lạng bạc. Tất Viên Ngoại là Tất Tư Phục, một người hết sức tham lam, ni cô Ngũ Không là em họ ông ta, và ông ta thường nghe thấy Ngũ Không nói: "Nhà họ Kỷ có một pho tượng đồng đúc lẫn vàng vô cùng tinh xảo". Nay Hỷ Tường ăn trộm mang đến bán, ông ta mua với giá rất hời. Cát Phúc biết Hỷ Tường lấy trộm bán, đòi chia hai lạng. Hỷ Tường không cho. Cát Phúc tức giận đến báo cho nhà họ Kỷ. Nhưng khi Kỷ Diễn Tộ hỏi kẻ nào lấy trộm thì Cát Phúc không chịu nói. Diễn Tộ mười phần thì chín phần ngờ cho Hỷ Tường, song chỉ vì Hỷ Tường là người theo về hầu hạ vợ mình khi cưới, vợ coi là người tâm phúc, nên luôn bao che cho anh ta, Diễn Tộ không dám truy hỏi, chỉ thưởng cho Cát Phúc năm đồng. Sau đó sai Hỷ tường mang mười lạng bạc đến chuộc. Cát Phúc lại bàn kín với Hỷ Tường rằng:
- Tôi không khai rõ người lấy với chủ anh, thì anh cũng đừng lộ việc này với chủ tôi.
Hỷ Tường bằng lòng. Thấy Diễn Tộ thúc dục gấp, Hỷ Tường phải mang bạc tới chuộc. Vì mua được pho tượng đồng quá rẻ, nên Tất Tư Phục không cho chuộc, bèn nghĩ ra một kế, nói rằng bạc kém phẩm chất, phải đưa thêm. Tất Tư Phục lại bàn kín với Cát Phúc, ngay đêm ấy gọi Dung Tam, thợ đúc tượng Phật tới nhà, bảo đúc một pho tượng hoàn toàn bằng đồng, cũng giống như pho tượng có lẫn vàng, rồi sẽ trọng thưởng. Khi nhà họ Kỷ đưa bạc tới chuộc, lại bị thoái thác rằng Viên Ngoại không có nhà. Trì hoãn liền trong mấy ngày, tới khi Dung Tam đúc xong tượng giả rồi mới cho chuộc, còn pho tượng thật để mình thờ phụng. Quả là:
Tham vàng lén lút kế gian manh
Thờ Phật toàn là kẻ bất lương.
Mang tượng về, Diễn Tộ hoàn toàn không biết đó là tượng giả vẫn đặt tại gian thờ Phật như cũ.
Cường thị thấy Phật đã chuộc về không thể đổ cho Nghi Nam lấy cắp tượng được nữa, song không thể tha Nghi Nam, suốt ngày đánh chửi, rầy la. Diễn Tộ thấy Nghi Nam khó mà dung thân, bèn bàn kín với Hỷ Tường, bí mật tìm một người tới xin, rồi mang đi một nơi xa nuôi dưỡng. Nào ngờ thằng hầu Hỷ Tường lại ton hót hết với chủ. Cường thị nổi giận, hỏi Hỷ Tường:
- Lão vô liêm sỉ làm như thế thì ta nên đối phó thế nào?
- Bà chủ cứ bán đứa con hầu này đi, - Hỷ Tường hiến kế nói, - đừng bán cho nhà nghèo, ông sẽ chuộc lại, mà phải bán cho nhà giàu không chuộc được, lúc đó mới chặn đứng ý muốn của ông chủ.
Cường thị nghe theo, bèn bảo bà mối tìm khách bán. Mấy hôm sau, ni cô Ngũ Không biết tin có ý đến dẫn mối, nói là mua về làm thiếp cho cháu mình là Tất Tư Phục. Tất Tư Phục đã luống tuổi mà vẫn chưa có con, vợ là Đan thị rất hiền thục, thấy chồng không có con, muốn cưới thêm cho ông một người vợ lẽ vì thế Ngũ Không đến nói vun vào. Cường thị chỉ mong Nghi Nam đi cho khuất mắt, nên chẳng kể chi đến đắt rẻ, chỉ sợ chồng lén lút chuộc về. Ngũ Không nói:
- Điều đó không lo, cháu tôi là con nuôi của Thái úy Hô Diên Ngưỡng cũng ở thành này, chỉ cần nói với chồng bà là phủ Hô Diên lấy đi là được rồi.
Cường thị còn đang do dự, Ngũ Không biết được Cường thị thường nghe theo Hỷ Tường, bèn ngấm ngầm hứa cho Hỷ Tường hai lạng. Hỷ Tường tìm cách vun vào. Cường thị liền nghe theo. Diễn Tộ về làng thu hoạch lúa mạch, nhân lúc chồng vắng nhà, Cường thị bèn nhận mười sáu lạng bạc nhà họ Tất và ngay hôm ấy Tất Tư Phục cho người mang kiệu đưa Nghi Nam về. Hỷ Tưởng sợ Nghi Nam không chịu đi, lừa cô rằng:
- Ông chủ sợ bà không tha cô, nên đã nhờ sư phụ Ngũ Không đến nói vun vào, xin cho cô đi lấy một người chủ khác.
Nghi Nam tin là thật, để họ dắt lên kiệu đưa tới nhà họ Tất. Về nhà, Diễn Tộ không thấy Nghi Nam, hỏi Hỷ Tường, anh ta chỉ nói là phủ Hô Diên bắt đi rồi. Diễn Tộ rất đỗi đau buồn, song lại sợ vợ không dám nói, đành ngửa mặt lên trời mà than thở. Đúng là:
Của quan hun hút sâu như biển
Từ đó chàng Tiêu khách qua đường.
Nghi Nam đến nhà họ Tất, biết chủ đã bán mình, gào lên khóc lóc thảm thiết, muốn chết đi cho rảnh, song lại thương cái thai trong bụng mình. Đang lúc chưa biết nên thế nào, thì ngờ đâu Cát Phúc biết Nghi Nam đã có thai, nói với chủ rằng:
- Ông chủ bị sư Ngũ Không đánh lừa rồi?
Tư Phục cho gọi ngay Ngũ Không tới hỏi chuyện này.
- Làm gì có chuyện ấy, - Ngũ Không nói, - ai nói thế.
- Cát Phúc nói. - Tư Phục nói.
- Nó không được lót tay, - Ngũ Không nói, - cho nên nó gièm pha, cháu đừng nghe nó.
Tư Phục bán tín bán nghi, nói chuyện này với vợ, bảo vợ truy hỏi Nghi Nam. Lúc ấy Nghi Nam đang thút thít khóc, không muốn ở nhà họ Tất nên đã nói thực với Đan thị:
- Tôi đã có thai từ tháng hai, giữa tháng năm này là tròn ba tháng. Tuy bà chủ mua tôi về, song tấm thân này quyết không chịu nhục, cúi xin bà rộng lòng thương trả tôi về chủ cũ.
Đan thị nói chuyện ấy với chồng, Tư Phục nói:
- Đúng là ta đã bị cô Ngũ Không lừa rồi, nay nếu trả về chủ cũ thì phải đòi trả lại nguyên giá.
- Vợ cả ông ta không dung tha, - Đan thị nói, - nếu nay ta trả về thì tốt nhất là bán cho người khác. Hay là ta làm phúc để cô lại.
- Nếu giữ lại, - Tư Phục nói, - thì phải mua thuốc trụy thai cho cô ấy uống. Có như thế thì mới thụ thai được.
- Không được. Đan thị trầm ngâm nói. - Một là để cô trụy thai thì phải tội, hơn nữa anh lại đang cầu mong con trai, sao lại đi làm trụy thai người khác. Hai là, thuốc trụy thai rất nguy hiểm, tôi nghe người ta nói, thai đã hai tháng rất khó ra, phải dùng thuốc mạnh, nếu chết người không phải chuyện đùa. Ba là dù cho có trụy thai, chẳng may uống phải lãnh dược thì lần sau khó thụ thai, có phải lỡ việc của mình không. Thôi thì cứ chờ cô ấy đẻ, lúc ấy quen dạ, thụ thai càng dễ. Tính đi tính lại mình đang khát con trai, nay cô ta đã về nhà mình, còn sáu bảy tháng nữa thì đẻ. Dù đẻ con trai hay con gái ta cũng cho đi, nhưng mười tháng nữa mới đẻ, thì coi như hạt máu của nhà ta, giữ lại để làm người thừa kế khói hương sao lại không được.
- Bà nói đúng. - Tư Phục nghe xong gật đầu nói.
Thế rồi họ đổi tên cho Nghi Nam thành Tử Thư, bảo cô vào phòng nghỉ ngơi. Đêm đến, Nghi Nam sợ Tư Phục sán lấy cô bèn dùng giải áo buộc chặt lấy chỗ ấy, và để quần áo ngủ. Đến tối Tư Phục ngủ ở giường vợ, bỗng thấy đau bụng, dậy đi ngoài mấy lần. Khi trời sáng, mệt mỏi rã rời không dậy được, bèn mời thầy về khám bệnh. Thầy thuốc nói:
- Không những bụng đau mà còn mắc chứng phong hàn, phải chăm sóc cẩn thận.
Đan thị nghi chồng đêm đã dậy ăn nằm với Nghi Nam, hoặc là mắc chứng phạm phòng. Nào có biết, Tư Phục hoàn toàn không hề động chạm tới cô, chỉ vì đi tả gặp gió lạnh nên đã mắc liền một lúc hai bệnh. Nằm tụy tới hai ba tháng trời mới thấy đỡ, song vẫn chưa khỏi hoàn toàn. Bởi thế Nghi Nam không bị ô nhục, ngày ngày cô tới Phật đường lễ Phật, cầu mong cho đứa con trong bụng, nếu mười ba tháng mới ra đời thì có thể giữ được giọt máu cho người chủ cũ. Đó cũng là tấm lòng không quên chủ cũ của cô. Có một bài thơ làm chứng như sau:
Gái hầu nuốt lệ đến cửa người,
Chỉ nhớ tình xưa chẳng đoái nay.
Đâu phải bèo trôi không có rễ.
Giống xưa giữ lại đó mà thôi.
Đan thị thấy Nghi Nam ngày nào cũng lễ Phật, bèn chỉ tượng Phật nói với cô:
- Pho tượng đồng này vốn là pho tượng nhà chủ cũ của cô.
- Tôi cũng đang nghi, pho tượng Phật giống pho tượng của chủ tôi. - Nghi Nam nói, - thế mà đúng thật. Người ta lấy trộm tới đây bán, chủ tôi đã chuộc về, nhưng sao nay vẫn còn ở đây
Đan thị kể lại hết. Nghi Nam than vãn:
- Tôi cứ tưởng chủ tôi đã chuộc được tượng rồi, nhưng ngờ đâu không chuộc được. Phật và tôi đều giống nhau, chỉ đến mà không về.
Thế rồi cô nói với Đan thị là Cát Phúc đã báo tin đòi tiền thưởng. Lập tức, Đan thị gọi Cát Phúc tới mắng:
- Mày là đồ chó má, nhà mua tượng đồng, sao mày lại đến báo cho nhà họ Kỷ. Không những mày đi báo mà còn lừa nhà họ Kỷ lấy tiền thưởng, xúi bẩy chủ đổi tượng giả lấy tượng thật. Nếu ta nói việc này với ông chủ thì mày nhừ đòn. Hiện ông ấy đang ốm, sợ ông nổi khùng nên ta tạm tha cho mày.
Cát Phúc bị Đan thị mắng chỉ biết cúi đầu, chẳng dám nói năng gì. Hắn nghĩ: "Đã bảo ta làm việc xấu thì dứt khoát ta sẽ có cách khác". Thế rồi hắn đến bàn với Dung Tam thợ đúc đồng, bảo ông ta đúc một pho tượng đồng đúng như thế, sau đó đổi lấy pho tượng có lẫn vàng đem nấu chảy, tách vàng ra dùng. Dung Tam nghe theo, ngay đêm ấy đúc một pho tượng khác. Dung Tam đã đúc pho tượng Phật này hai lần nên rất thành thục, không cần phải xem mẫu, đúc mò một pho tượng mới giống hệt như hai pho trước. Cát Phúc rất khoái, bèn lén lút mang về đổi lấy pho tượng thật, đưa đến nhà Dung Tam, mong nấu chảy tách lấy vàng. Lạ thay, pho tượng cho vào lửa nấu một ngày mà vẫn không sao chảy được. Hai người không biết làm cách nào, bàn nhau hồi lâu, rồi đem pho tượng đến phủ Hô Diên cầm lấy mười lạng bạc chia nhau. Đúng là:
Trộm lại gặp trộm.
Gian lại gặp gian.
Trên làm thế nào,
Dưới làm thế vậy.
 
Đan thị và Nghi Nam hoàn toàn không biết tượng Phật đã bị đánh tráo, chỉ chú tâm vào thắp hương lễ bái. Nghi Nam cầu Phật được mẹ tròn con vuông. Đan thị cầu mong chồng khỏi bệnh.
Ngờ đâu bệnh tình Tư Phục vừa thuyên giảm, thì lại gặp phải hai việc rắc rối, bệnh càng nặng thêm. Vốn là trước đây, Tư Phục là con người cầu lợi. Ông ta có hai bộ quần áo, hai bộ mặt, thấy người thân thích nghèo túng thì mặc áo cũ, mặt mày nhăn nhó kêu nghèo; thấy khách giàu sang, thay áo đẹp, xum xoe nịnh nọt, săn đón bợ đỡ. Ông ta có một người em họ tên là Tất Tư Hằng, là con ông chú Tất Tư Vũ, tính vốn an phận thủ thường, mở cửa hàng thuốc buôn bán kiểu cò con. Tư Phục không hề cho em mượn một xu nào. Ông của Kỷ Vọng Hồng là Trần Nhân Phủ, là cậu của mẹ Tư Phục. Nhà nghèo không có con trai, chỉ có một người con gái chưa chồng, sống ở nhà, Tư Phục cũng không hề quan tâm đến ông, chỉ xu phụ Hô Diên Ngưỡng, một viên quan hiển đạt ở thành này. Hô Diên Ngưỡng làm tới chức Thái úy, được nghỉ tại nhà. Tư Phục đến tận nhà nhận làm con nuôi, biếu quà rất hậu. Trước cửa nhà Tư Phục đều dán thiếp báo hỉ của Hô Diên Phủ. Trước đây ba năm, tú tài Tất Đông Ly từng quen biết Tất Tư Hằng, viết một tờ thiếp nói là em họ, muốn đến nhà Tư Phục thăm viếng. Tư Phục cho là tú tài kiết xác, không muốn anh ta đến quấy rầy, nên đã trả lại thiếp. Tất Đông Ly rất bực. Không ngờ năm ấy Tất Đông Ly thi đỗ tiến sĩ, về nhà chờ bổ nhiệm. Đúng dịp Hô Diên Ngưỡng bị người ta dâng sớ vạch tội, vì đã lén lút đúc tiền đồng. Theo lệnh quan địa phương nơi ấy phải kiểm tra báo lên cấp trên. Tư Phục sợ liên lụy, vội vàng xé những tờ danh thiếp của Hô Diên Phủ dán tại nhà mình. Nhờ Tất Tư Hằng lén lút đến bái kiến Tất Đông Ly, muốn nhận là anh họ, cầu mong ông che chở. Tất Đông Ly nghĩ đến việc trước đây, khăng khăng chối từ. Tư Phục phải bỏ ra hai trăm lạng mới mua được tờ báo hỉ tiến sĩ mới, đem dán tại cửa nhà mình. Không lâu sau, việc Hô Diên Ngưỡng đúc tiền đồng, được bao che nên không việc gì. Song Tất Đông Ly lại bị vạch tội là quan giám khảo vì tình riêng đã cho Tất Đông Ly đỗ. Theo lệnh Bộ ấy phải kiểm tra lại. Đông Ly muốn tới Bộ đút lót, thiếu một trăm lạng, bèn sai người đến Tư Phục mượn. Tư Phục không hề cho mượn một xu, còn mắng rằng:
- Trước đây, ta đã đưa hai trăm lạng, nay ta sẽ trừ cho một trăm lạng, còn lại một trăm lạng trả lại ta.
Đông Ly tức giận tuyệt giao với Tư Phục. Sau kiểm tra, Đông Ly vô sự, vẫn là tiến sĩ. Biện Phương Dận, quan Thiêm phán mới đến nhậm chức tại phủ này lại là bạn học của Đông Ly. Vì Tư Phục sai Cát Phúc đi đòi nợ đã bức tử một bệnh nhân, bị người nhà kiện lên Thiêm phán đài. Bệnh vừa thuyên giảm, sợ người thân của người đã chết đến làm rày rà, Tư Phục phải trốn tạm sang nhà Tất Tư Hằng, và nhờ Tất Tư Hằng nói với Đông Ly, mong ông đến nói với Biện Phương Dận. Đông Ly nhớ tới mối hận trước, đòi phải đưa năm trăm lạng thì mới xong việc.
Tư Phục bị một vố đau, buồn bã ra về. Đang lúc buồn rầu, thì ni cô Ngũ Không đến đòi bạc. Vốn là trước đây Ngũ Không đưa cho Tư Phục một trăm lạng quay vòng kiếm lời, nay thấy Tư Phục bị kiện, sợ Tư Phục tiêu đi không có tiền trả, nên cố ý đến đòi. Tư Phục lo lắng nói:
- Cô thấy tôi không trả được nên mới vội vã đòi có phải không? Đi tu thì cần gì đến tiền, hơn nữa cháu lại không giữ được tiền của cô ư?
Ngũ Không thấy vậy làm ầm lên:

- Sao ngươi lại trở mặt như thế? Tiền của cô ngươi không quịt được, tiền của người tu hành không thể quịt được.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5932
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Thu Mar 20, 2014 12:06 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 18 (B)
Thấy Ngũ Không làm toáng lên, Đan thị phải khuyên can mãi. Ngũ Không thầm nghĩ: "Trước đây sợ mất nên ta đã không cho đứa cháu nghèo là Tư Hằng vay, đem cho cháu giàu là Tư Phục vay, thì ai ngờ bây giờ Tư Phục lại trở mặt, thế chẳng hóa ra Tư Hằng sẽ cười cho ư?", và vô cùng tức giận. Vì hay đi lại Hô Diên phủ nên Ngũ Không nói với vợ lẽ của Thái úy, nhờ người trong Hô Diên phủ tới đòi. Đúng lúc ấy, Tư Phục lại mắc phải một tội khác, rơi vào tay Thái úy Hô Diên. Lúc ấy vào cuối thu đầu đông, Tư Phục tới trang trại dưỡng bệnh thu tô một tá điền bướng bỉnh là Đào Lương còn nợ tô chưa trả. Tư Phục đã cùm anh ta tại trang trại. Ngờ đâu vợ của Đào Lương thông đồng với Cát Phúc, ngấm ngầm mở khóa thả Đào Lương, rồi bảo vợ anh ta tới trang trại tìm chồng, sau đó Cát Phúc lại mách cho chị ta làm đơn tố cáo với Thái úy Hô Diên. Trước đây Hô Diên rất phẫn nộ vì Tư Phục bỏ không nhận cha nuôi, nay nhân việc này Hô Diên đòi phải đưa năm trăm lạng mới ngơ đi cho. Tư Phục bèn bán một số tài sản, gom đủ năm trăm lạng bạc đút lót cho Hô Diên. Song bị Thái úy trừ đi một trăm lạng trả cho Ngũ Không, thành thử số tiền ấy chỉ còn bốn trăm lạng. Không còn cách nào, Tư Phục buộc phải bán nhà cửa nộp thêm cho Thái úy. Uất quá Tư Phục ngất đi, phải dìu ngay về nhà, trượt ngã, trúng phong, bị bại liệt, nằm một chỗ không dậy được. Đáng thương thay một ông chủ giàu có, bỗng chốc bệnh tật nghèo túng. Trước đây khi gặp người thân thích cứ kêu là nghèo túng, thì bây giờ lại nghèo túng thật. Bởi thế có thơ rằng:
Người nghèo kêu nghèo mong được nhờ.
Người giàu kêu nghèo để khước từ.
Một bên là thật một bên giả.
Ai ngờ giả dối lại đúng thay.
Tư Phục đau ốm tới bốn năm tháng, không ngờ mùa xuân năm sau Nghi Nam đẻ con trai. Thụ thai từ tháng hai năm trước đến giữa tháng ba năm nay sinh ra, tính ra là mười hai tháng mới đẻ. Đan thị không biết nội tình thế nào, chỉ biết rằng cô ấy về vào tháng năm năm ngoái, đến nay tròn mười hai tháng mới đẻ, nên rất vui mừng, nói với chồng rằng:
- Không còn nghi ngờ gì nữa, nó đúng là con nhà mình.
Tư Phục vẫn nằm liệt trên giường, lắc đầu nói:
- Nó không phải là con ta. Từ đêm cô ấy về tới nay ta mắc bệnh, chưa từng gần cô ấy lần nào. Đứa con này chẳng có liên can gì đến ta.
- Ông đang ốm rề rề ra đấy, - Đan thị khe khẽ nói, - trước mắt khó mà nuôi được con nuôi. Ông xem hoàng đế nhà Chu ngày nay là người họ Sài, còn nhận cơ nghiệp của họ Quách, huống hồ mình là người thứ dân, đã trót thì cho trét, chẳng ngại gì.
- Hãy bàn lại xem. - Tư Phục trầm ngâm nói.
Hơn một tháng sau trong nhà không còn tiền tiêu, đành phải nấu chảy pho tượng đồng, mong tách vàng ra để chi dùng. Nào ngờ khi nấu lên chỉ có đồng chẳng thấy vàng đâu. Tư Phục kinh ngạc, gọi Nghi Nam tới hỏi. Nghi Nam nói:
- Chính mắt tôi thấy chủ cũ bỏ vào đó mấy lạng vàng, tại sao lại không còn?
Tư Phục chỉ nghĩ rằng dạo ấy đã đổi nhầm, lại gọi Cát Phúc đến truy hỏi. Cát Phúc nói:
- Hoàn toàn không đổi sai.
Đan thị cứ nghĩ lung tung, nói với chồng rằng:
- Đúng là thần Phật linh thiêng, không cho phép chúng ta đổi pho tượng thật nên thần Phật đã về nhà họ Kỷ.
Thấy thế Tư Phục kinh ngạc nghi ngờ, và càng hoang mang. Bỗng nhiên nghe thấy tin Hô Diên Ngưỡng bị người ta cáo giác từng liên hệ với nước Liêu, bị bắt giải về kinh đô, khép vào trọng tội, gia sản bị tịch thu. Vì Tư Phục từng làm con nuôi ông ta, sợ bị vạ lây, nên bệnh ngày càng trầm trọng. Tính mạng như ngàn cân treo sợi tóc, bởi thế Tư Phục cho người mời cậu của mẹ là Trần Nhân Phủ, và em họ Tất Tư Hằng dặn dò việc ma chay. Rồi chỉ vào Nghi Nam nói rằng:
- Cô này về nhà, tôi chưa từng gần cô, nay con cô đẻ ra hoàn toàn không phải là con tôi. Trước đây tôi nhận cha giả, anh giả rốt cục chẳng được lợi lộc gì. Nay giữ lại đứa con giả này làm gì! Sau khi tôi chết có thể gọi nhà họ Kỷ tới đem mẹ con cô ta về. Tôi chỉ còn mấy chục mẫu ruộng bạc màu, nghĩ rằng vợ tôi đàn bà con gái không đảm đương nổi việc thuế má. Tôi chết đi, nhờ cậu đứng dựng cho, rồi tìm một người nào tốt để bà ấy tái giá. Những bạc điền và nhà cửa ở đó đều giao cho chú Tư Hằng quản lí. Trước đây tôi không quan tâm đến chú, xin vì tình anh em, lo thuế mà giúp tôi, có thế tôi chết mới nhắm mắt được.
Nói xong Tư Phục đột nhiên trút hơi thở cuối cùng. Đúng là:
Người sắp lìa đời nói lời thiện.
Chim muông sắp chết ai oán kêu.
Đan thị khóc thương vật vã, chết đi sống lại. Nhân Phủ và Tư Hằng lựa lời khuyên nhủ. Đan thị nuốt nước mắt nói:
- Ông ấy dặn cho mẹ con Nghi Nam về nhà họ Kỷ thì được, còn như bảo tôi tái giá là nói bừa. Tôi thà chết cũng không nghe theo.
- Nếu chị có chí thủ tiết, - Tư Hằng nói, - thì đây là việc rất vinh hạnh. Tất cả những việc trong nhà, em sẽ lo thay chị.
Hôm ấy Đan thị giao hết giấy tờ sổ sách cho Tư Hằng. Lại đem những đồ trang sức của mình cho Tư Hằng bán đi để lo cuộc sống. Tư Hằng trực tiếp xuống làng rà soát lại ruộng đất, những mảnh ruộng trước đây bị Cát Phúc chuyển từ đất thuộc sang đất hoang hóa, để giảm mức tô, nay đều được điều chỉnh lại. Rồi lại dùng số bạc bán trang sức mua thêm một ít ruộng đất. Đan thị được giúp đỡ, an tâm thủ tiết. Chỉ có mẹ con Nghi Nam là chưa được toại nguyện. Đan thị bàn với Tư Hằng, theo lời trăng trối của chồng trả về chủ cũ. Tư Hằng nói:
- Phải tìm người mối cũ nói với người ta.
- Người mối cũ là sư Ngũ Không. Từ khi đòi tiền, cô ấy tức giận không đến nữa, thì nay làm sao mà nhờ cô ấy được. Cậu Trần thân quen với nhà họ Kỷ, thôi thì phiền cậu đi nói giúp.
- Thế thì tốt quá - Tư Hằng nói.
Đan thị mời ngay Trần Nhân Phủ tới nhờ ông đến nhà Kỷ Diễn Tộ nói cho ông ta tới đưa mẹ con Nghi Nam về. Đúng là:
Không cho anh em xa nhờ vả
Ai ngờ lá rụng phủ gốc cây.
Từ khi Nghi Nam đi, Kỷ Diễn Tộ suốt ngày thở ngắn than dài, tình cảm đối với Cường thị ngày càng nhạt nhẽo. Dù cho Cường thị có nổi giận lôi đình, cũng không làm cho băng giá biến thành mây mưa. Cường thị phẫn uất đau buồn, rồi đổ bệnh. Khi mắc bệnh cứ oán hận, cầu cúng Phật chẳng được lợi lộc gì bèn phá giới không ăn chay nữa. Bệnh tình ngày càng trầm trọng, chữa trị, cầu cúng không qua khỏi. Chưa đầy nửa năm đã quy tiên. Khi lâm chung vẫn oán hận Thần Phật không thiêng, dặn Diễn Tộ nấu chảy pho tượng Phật đó, không thờ nữa. Có một khúc Hoàng oanh Nhi, nói về Cường thị hằng ngày thờ Phật, nhưng đến lúc lâm chung lại oán Phật. Thật đáng chê cười:
Thờ Phật đã bao năm,
Đến nay bỗng thay lòng đổi dạ.
Hoàn toàn khác hẳn ngày xưa.
Uổng công thắp hương đốt nến.
Khi hấp hối bản chất hiện nguyên hình
Thi dã nói những lời ai oán Phật.
Thề chẳng về Tinh Thổ Tây Thiên.
Cường thị chết, Diễn Tộ không nghe theo những lời dặn dò xằng bậy. Hằng ngày vẫn thờ Phật, thất thất lai tuần vẫn mời sư về cầu siêu cho âm hồn. Hết tuần cuối cùng, có một bà đến làm quen, cũng có người khuyên Diễn Tộ lấy vợ kế, có người khuyên tìm một người thiếp. Song Diễn Tộ lúc nào cũng nhớ tới Nghi Nam. Ông nghĩ rằng: "Cái thai ba tháng không biết rồi sau sẽ thế nào?" và thường tới phủ Hô Diên nghe ngóng. Vốn là Hô Diên Ngưỡng có một người thiếp là Nghê thị, tên là Loan Di, khi Hô Diên Ngưỡng bị bắt, thừa lúc rối ren cuỗm một ít tài sản trốn về nhà mẹ đẻ. Đúng lúc Tất Đông Ly cần thiếp bèn cưới cô về. Diễn Tộ cứ ngỡ Nghê Loan là Nghi Nam, biết cô đã trở thành vợ bé của Tất Tiến Sĩ nên vô cùng đau buồn. Chợt thấy Trần Nhân Phủ đến nói chuyện về mẹ con Nghi Nam. Diễn Tộ nửa tin nửa ngờ. Trần Nhân Phủ nói:
- Tôi rất cảm động thấy ông lúc nào cũng quan tâm đến cô ấy cho nên tôi có nhã ý đến báo cho ông biết. Nếu ông không tin, ông có thể cùng đi với tôi đến nhà họ Tất thăm mẹ con cô ấy.
Diễn Tộ bèn cùng Nhân Phủ tới nhà họ Tất. Nhân Phủ gọi Nghi Nam ra gặp mặt, thấy chủ cũ, Nghi Nam nước mắt giàn giụa. Nghi Nam bế con ra. Diễn Tộ thấy giờ đây cô chải đầu bó chân, trang điểm gọn gàng, trông đẹp hơn xưa rất nhiều. Diễn Tộ vừa mừng vui vừa buồn rầu, bế đứa bé lên xem, thấy chân trái có ngón liền nhau. Diễn Tộ cả mừng, vì chân trái anh cũng có một ngón liền nhau. Mọi người thấy vậy đều nói:
- Thằng bé này đúng là con ông rồi.
Ngay hôm sau Diễn Tộ mang đi mười sáu lạng bạc theo nguyên giá, và mười lạng để cảm ơn Đan thị đã có công bảo toàn mẹ con Nghi Nam, và đêm ấy đón mẹ con Nghi Nam về. Họ sống bên nhau tràn đầy hạnh phúc. Đúng là:
Đi rồi lại về.
Tan rồi lại hợp.
Chủ sau là chồng trước.
Vợ mới là hầu cũ.
Kế phụ là cha mới.
Con giả hóa con thật.
Chuyện này quá hiếm thay.
Khó ai tưởng tượng được.
Đêm ấy Nghi Nam kể hết mọi chuyện đã xảy ra, lúc ấy Diễn Tộ mới biết Hỷ Tường đã lấy cắp pho tượng và đồng mưu với Cường thị lén lút bán Nghi Nam. Diễn Tộ vô cùng tức giận, ngay ngày hôm sau gọi Hỷ Tường lại mắng chửi thậm tệ, rồi đuổi vợ chồng hắn đi. Diễn Tộ thuê vợ chồng Lai Ninh làm người ở, họ là người rất chịu khó, lại thật thà chất phác. Sau đó lại mượn một vú nuôi về chăm sóc đứa trẻ. Diễn Tộ và Nghi Nam đặt tên con là Hoàn Lang.
Nào ngờ, người cháu Kỷ Vọng Hồng biết được tin này, nghĩ: "Chú không có con tài sản sẽ phải thuộc về mình, vậy mà nay bỗng dưng đưa một đứa bé vềNó rõ ràng là giống nhà họ Tất, chứ đâu phải là con nhà họ Kỷ". Thế là Vọng Hồng đến nói xấu Diễn Tộ, nhưng ông cứ lờ đi. Vọng Hồng vô cùng tức tối, đem chuyện làm rối loạn họ tộc, lại kiện lên quan Thiêm phán phủ ấy. Biết được việc này, Diễn Tộ cũng đưa đơn kiện, và có cậu là Trần Nhân Phủ làm chứng. Biện Công bắt tất cả đương sự đến xét hỏi. Diễn Tộ định lại việc đứa con mà mẹ nó mang thai mười hai tháng mới đẻ. Biện Công hỏi lại Trần Nhân Phủ, thấy Nhân Phủ cũng nói lại như thế. Song Vọng Hồng không chịu, Biện Công lệnh bế Hoàn Lang tới, cùng chích máu ngay trước mặt mọi người, để làm rõ đúng sai. Mà cũng thật lạ. Diễn Tộ trích giọt máu xuống chậu nước, nó ngưng lại đáy chậu, trước đó nhỏ một giọt máu của một đứa trẻ khác xuống chậu, chúng không hòa trộn với nhau. Tới khi nhỏ giọt máu của Hoàn Lang xuống thì thấy giọt máu của Diễn Tộ nổi lên, bao bọc lấy giọt máu của Hoàn Lang thành một khối. Tất cả mọi người có mặt ở đó đều cho họ là bố con, chẳng còn nghi ngờ gì nữa. Đúng là:
Cái giả khó thật, Cái thật khó giả.
Vụ án tồn nghi,
Bỗng nhiên sáng tỏ.
Biện Công giải quyết xong vụ án, biết đích xác Kỷ Vọng Hồng giả dối, ông mắng chửi mấy câu rồi đuổi về. Kỷ Vọng Hồng vô cùng uất ức và xấu hổ, nghĩ rằng phải kiếm cớ khác để trị ông chú này. Hơn một năm sau vì chất lượng tiền xấu, phải tuyển chọn đồng tốt để đúc tiền, lệnh vua ban rằng: "Phàm là trong chùa có tượng Phật bằng đồng đều phải nấu chảy để đúc tiền. Nhà dân nếu có tượng đồng, phủ quan phải định giá thu mua, người nào còn cất giấu sẽ chịu tội". Trong triều thần có những người thờ Phật đã dâng sớ nói rằng không nên nấu chảy tượng đồng. Chu Thái Công đã đích thân phê trát rằng:
"Phật dạy dân làm điều thiện. Nên lập chí làm điều thiện thì đó là thờ Phật. Những tượng đồng đó sao gọi là Phật được? Vả lại trẫm được biết Phật làm lợi cho mọi người, ngay cả tấm thân mình cũng bố thí cho dân. Nếu tấm thân trẫm có thể cứu dân, thì trẫm cũng không tiếc".
Lệnh ấy đã ban ra, ai dám chống lại? Nếu triều đình muốn đúc tiền mới, lẽ ra nên thu đồng trong tiền cũ để dùng, làm gì đến nỗi phải hủy cả tượng Phật. Vốn là chất lượng tiền đồng thời ấy rất xấu, những tiền cũ đúc lậu bằng vụn chì hoàn toàn không có đồng, cho nên không có giá trị.
Phủ quan vâng lệnh vua, công bố với dân chúng rằng tất cả những nhà có tượng đồng phải mang đến phủ quan để hóa giá. Kẻ nào còn lén lút tàng trữ không khai báo thì coi như phạm tội chống lại chiếu chỉ. Kỷ Vọng Hồng thấy tờ cáo thị ấy, nghĩ rằng nhà chú có pho tượng đồng, bèn tới Thiêm phán Biện Công cáo giác Kỷ Diễn Tộ cất giấu tượng đồng. Biện Công lập tức sai người bắt Kỷ Diễn Tộ đến xét hỏi. Diễn Tộ bẩm rằng:
- Đúng là con có tượng đồng, song trong đó có vàng chứ không phải chỉ là đồng, hơn nữa pho tượng rất linh thiêng, e rằng không hủy hoại được, cho nên không dám báo quan.
- Sao ngươi biết pho tượng linh thiêng? - Biện Công hỏi.
Diễn Tộ thuật lại việc mất cắp, đến tay nhà họ Tất rồi lại chuộc tượng trở về. Biện Công cười đáp:
- Ta không tin Phật đúc bằng đồng tự đi tự về. Nếu thiêng như thế thì đã không bị đánh cắp. Hãy mau mang tới nấu chảy lấy đồng, nếu nấu không chảy thì ngươi sẽ mang về.
Nói xong bèn sai người cùng Diễn Tộ đi nấu chảy pho tượng. Diễn Tộ không dám trái lệnh, đành phải cùng công sai nấu chảy pho tượng đồng, song không thấy vàng đâu. Diễn Tộ sợ quá đứng ngay như phỗng đá. Công sai giải Diễn Tộ, mang đồng đã nung chảy về bẩm báo với Biện Công. Biện Công nói:
- Ta biết rằng tượng Phật tự đi tự về là hoàn toàn vô lí. Đó chẳng qua là do ngươi tự bịa đặt ra mà thôi.
- Thưa ngài, quả tình nhà họ Tất đã đánh tráo. - Diễn Tộ khấu đầu thưa. - Bởi thế nấu chảy không thấy vàng. Quả đó là sự thực.
- Như thế thì, - Biện Công trầm ngâm nói, - nhất định nhà họ Tất đổi giả lấy thật, rồi sau đó lại bị người đổi trộm một lần nữa lấy mất pho tượng thật. - Rồi ông hỏi tiếp. - Thợ đúc pho tượng là ai?
- Bẩm quan, người ấy là Dung Tam.
- Phải gọi Dung Tam lại hỏi, - Biện Công nói, - thì mới biết được sự thực về pho tượng.
Ngay đêm ấy, Biện Công sai người gọi Dung Tam. Hôm sau Dung Tam bị giải tới công đường. Biện Công ra sức truy hỏi, Dung Tam không sao thoái thác được, đành phải khai rõ sự thực, hắn nói:
- Việc ấy hoàn toàn là do Cát Phúc xúi bẩy.
- Pho tượng ấy nếu ở Hô Diên phủ, - Biện Công nói, - thì cũng đã bị tịch thu rồi, không thể truy cứu được nữa. Nay phải bắt Cát Phúc tới, khép hắn vào tội lừa đảo, lấy cắp.
Nói xong, đang định sai người đi bắt Cát Phúc, thì lúc ấy nhà họ Tất tới trình báo hắn về tội đầy tớ phản chủ, lấy cắp rồi bỏ trốn. Vốn là, Cát Phúc bị Tất Tư Hằng phát hiện ra rất nhiều điều xấu xa, hắn nghĩ khó có thể an thân, nên trước đó mấy hôm hắn đã lén lút xuống làng, mạo danh lấy một thuyền thóc tô rồi bỏ trốn nay chưa tìm thấy. Bởi thế Tất Tư Hằng đã sai người nhà tới trình đơn tố cáo, khẩn thiết mong quan truy bắt. Biện Công xem cáo trạng, một mặt sai người truy lùng, một mặt giải Dung Tam lên Cục đúc tiền giam giữ, chờ bắt được Cát Phúc để đối chất cho rõ ràng. Diễn Tộ nhận tiền đồng, và được cho về.
Kỷ Vọng Hồng vốn muốn hại chú, nào ngờ Biện Công không buộc tội ông, càng thấy xấu hổ và tức giận. Hắn nghĩ ra một kế rất ác độc, tìm cách bắt trộm Hoàn Lang, nên hằng ngày, cứ sáng sớm là hắn tới cổng nhà Diễn Tộ rình mò. Một hôm, Diễn Tộ cùng Nghi Nam đưa quan tài Cường thị đi chôn cất, chỉ gọi vợ chồng Lai Ninh đi theo, giao Hoàn Lang cho vú nuôi chăm sóc, còn thằng nhỏ Hưng Nhi trông coi nhà. Khi ấy Hoàn Lang mới ba tuổi, vợ chồng Diễn Tộ đi, Hoàn Lang đang ngủ say, tỉnh dậy không thấy mẹ nó òa lên khóc, cứ đòi Hưng Nhi bế đi tìm. Vú nuôi dỗ mãi không được, đành bảo Hưng Nhi bế đi chơi, đi được một lúc thì nghe tiếng vú nuôi gọi:
- Hưng Nhi bế cậu nhỏ về đây cho ta, rồi sang nhà hàng xóm xin lửa.
Hưng Nhi bế Hoàn Lang về, nhưng Hoàn Lang nào có chịu. Hưng Nhi đành để nó ngồi ngoài hiên, một mình vào bếp tìm mồi giấy đi xin lửa. Ngờ đâu Kỷ Vọng Hồng dậy từ sớm, giả vờ đến nhà Diễn Tộ đưa thi hài Cường thị. Thấy Hoàn Lang ngồi một mình ngoài cửa, hắn bèn nẩy ra ý định xấu, lừa Hoàn Lang:
- Cháu tìm ai? Chú sẽ bế đi tìm.
Hoàn Lang chẳng biết gì, bị hắn bế đi, rồi lủi mất.
Chỉ trong nháy mắt Kỷ Vọng Hồng luồn lách qua các ngõ ngách, phút chốc đã bế Hoàn Lang ra khỏi thành. Đang đi thì Vọng Hồng chạm trán Hỷ Tường. Hỷ Tường hỏi:
- Ông anh bế cậu nhỏ đi đâu thế?
Vọng Hồng biết Hỷ Tường bị chủ trách mắng đuổi đi, hắn cũng chẳng thích gì chủ nhà, bèn đứng lại nói rõ ý định. Hỷ Tường nói:
- Anh đến thật là đúng lúc. Từ khi bị đuổi tới nay, ta đã dựa vào ngài Tất Đông Ly. Bà vợ bé của ông là Loan Di ở một mình tại trang trại, cách đây độ một vài chục dặm. Trước đây bà vợ bé ấy mang thai, sắp đẻ thì đúng dịp ngài Tất được điều vào kinh làm quan. Loan Di đẻ được cô con gái, song cứ nói là con trai, sai tôi vào kinh báo tin mừng. Ở kinh đô được hơn hai năm, nay bà cả mất, ngài Tất muốn đưa bà hai về kinh chung sống. Bà hai đang muốn tìm gấp một đứa con trai chừng hai ba tuổi, giả làm công tử để lừa ông chủ, hiện rất lo lắng vì chưa tìm được đứa bé nào thay thế. Nếu anh bán đứa bé này cho bà ấy, thì có thể được mấy chục lạng, nếu được chúng ta sẽ chia nhau. Anh thấy thế nào?
- Thế thì tuyệt quá. - Vọng Hồng vui mừng nói.
Thế rồi cùng với Hỷ Tường đến cửa hàng, ăn uống xong cùng bế Hoàn Lang đến trang trại. Hỷ Tường bế Hoàn Lang cho Loan Di xem. Thấy đứa bé khôi ngô sáng sủa, tuổi cũng xấp xỉ con gái mình, Loan Di rất mãn nguyện, rồi mua với giá mười lạng bạc. Hỷ Tường và Vọng Hồng chia nhau mỗi người năm lạng. Vọng Hồng trở về nhà rất mãn nguyện, hắn đã đạt được mục đích. Loan Di bảo Hỷ Tường mang đứa con gái của mình cho nhà Vương Tiểu Tứ nhà ở sau trang trại làm nghề bán đậu phụ nhự, lại đưa cho ông ta mười lạng bạc, dặn ông nuôi dưỡng chu đáo, chờ ít lâu sẽ về đón đi. Tiểu Tứ nhận bạc, hứa sẽ trông nom cẩn thận. Loan Di cùng vợ chồng Hỷ Tường bế công tử giả vào kinh đô.
Vú nuôi nhà họ Kỷ, thấy Hưng Nhi vào một mình vội chạy ra xem, thì đã không thấy Hoàn Lang ngồi ngoài cửa. Hốt hoảng chạy ra đường gọi ầm ĩ, nhưng chẳng thấy thưa, bà gọi ngay Hưng Nhi chạy sang nhà bên hỏi, lúc ấy trời vẫn còn sớm, nhiều nhà vẫn còn đóng cổng. Có mấy nhà đã mở cổng thì đều bảo không trông thấy Hoàn Lang. Vú nuôi và Hưng Nhi cứ trách oán nhau, và chia nhau tìm khắp chỗ, soát xét hết các giếng nước, bến sông đều không thấy bóng dáng Hoàn Lang đâu. Cuống cuồng trên suốt cả ngày, đến đêm Diễn Tộ và Nghi Nam mới về, nghe nói Hoàn Lang biến mất, cả hai đều giậm chân đấm ngực kêu gào khóc lóc vô cùng thảm thiết. Thật là:
Ngọc bích trở về thật là may,
Ngọc về lại mất đớn đau thay.
Diễn Tộ viết thông báo dán khắp nơi để tìm kiếm, nhưng biệt vô âm tín. Thấy không sao tìm được, mới cho rằng số mình không có con, cưỡng lại số mệnh cũng không được. Vì thương nhớ con nên Nghi Nam thường ốm đau luôn. Đã ba bốn năm rồi mà Nghi Nam vẫn chẳng đẻ thêm được mụn con nào.
Nhớ tới Cường thị, người vợ đã qua đời, trước kia khi còn sống bà từng ước ao đến chùa Đại tướng Quốc phủ Khai Phong dâng hương mà không được, bởi thế mà đường con cái khó khăn. Diễn Tộ nẩy ra ý định muốn đi lễ Phật. Ông chọn ngày tốt, dặn dò vú nuôi, mẹ con Lai Ninh chăm sóc Nghi Nam và trông coi nhà cửa còn mình cùng với Lai Ninh lên đường tới phủ Khai Phong. Đi được mấy ngày đường, bỗng một đêm ngủ tại quán trọ, thấy bên dưới chiếc đệm cỏ trải giường có một vật gì cồm cộm. Trong đêm tối, Diễn Tộ thò tay xuống, thì thấy một gói, sờ sờ thì hình như bên trong có tiền, ông cất đi. Sáng hôm sau mở ra xem, quả nhiên là một túi bạc, trong đó thấy ghi là mười lăm lạng, cả thảy là chín nén rưỡi. Trên túi in một con dấu nhỏ màu đỏ, ghi bốn chữ "Chi thứ hai họ Tất". Thấy thế Diễn Tộ nghĩ: "Không biết người khách này vội vàng thế nào mà lại để quên túi bạc này Rất may mà ta nhặt được, phải tìm cách trả lại". Hôm ấy ông không đi mà ở tại quán trọ chờ, song không thấy người mất bạc tới. Diễn Tộ nghĩ: "Nếu ta cứ ở đây chờ thì lỡ việc đi hành hương, làm thế nào bây giờ” Trầm ngâm hồi lâu, Diễn Tộ nghĩ ra một kế, niêm phong kĩ túi tiền lại, đưa cho chủ quán, nói rằng:
- Gói bạc này là của người bạn họ Tất gửi tạm tôi, hẹn đến đây xin lại. Nay không thấy ông ấy đến, hoặc có thể đến mà không gặp, rồi đi đâu đó chăng. Nhất định ông ấy sẽ quay lại song tôi không thể chờ được, vậy tôi xin gởi gói bạc lại cho quý ông. Nếu ông ấy có đến hỏi, xin phiền ông chuyển giúp. Xin cám ơn ông.
Chủ quán chỉ vào tấm biển của hàng nói:
- Quán họ Trương của tôi có tiếng xưa nay, phàm là những khách vãng lai có gì gửi tạm ở đây, không bao giờ mất mát suy suyễn.
Diễn Tộ rất mừng, lấy ra ba lạng bạc của mình đưa cho chủ quán để trả ơn. Rồi dặn đi dặn lại rằng:
- Ông nhớ kĩ cho, người bạn thân của tôi là chi thứ hai họ Tất, đừng giao nhầm cho người khác nhé.
Chủ quán nhận gói bạc, hứa sẽ trao lại chu đáo cho người họ Tất. Trước khi đi Diễn Tộ dặn lại lần nữa rồi mới từ biệt.
Phủ Khai Phong là nơi đô thành của đế vương, nơi đây rất nhộn nhịp. Diễn Tộ tìm đến quán trọ. Ngày hôm sau đến ngay chùa Đại Tướng Quốc hành hương. Sau đó về quán trọ ăn cơm trưa, dắt theo một ít tiền cùng Lai Ninh đi dạo phố, xem phong cảnh, mua ít đặc sản vùng này. Đang dạo chơi, ngẫu nhiên đi vào một ngõ vắng, thấy có một nhà cửa đóng, ngoài cửa có tấm biển đề: "Nơi ở của Ban kịch nhỏ nhà họ Hầu”. Nghe thấy bên trong có nhiều trẻ con ca hát. Diễn Tộ dừng chân lắng tai nghe, khi ngừng hát, thấy có tiếng trẻ con khóc rất thảm thương, lại nghe có tiếng người lớn quát thét. Rồi thấy cụ già ở nhà đối diện chống gậy đứng đó, lẩm bẩm nói:
- Thương cho thằng bé, là con nhà khá giả, nếu gặp người nào tốt nhận nó thì thật là phúc đức.
Thấy thế Diễn Tộ chắp tay cung kính hỏi cụ già vì sao. Cụ già nói:
- Ngài Tất Đông Ly, quan Hình bộ viên ngoại, là người phủ Quy Đức. Ông có một người vợ bé là Nghê thị, thường gọi là Loan Di, sinh được một công tử. Tất Đông Ly quý như vàng, nhưng không ngờ gần đây ông ốm nặng. Loan Di bị bệnh rồi qua đời. Ông chú nhà ấy nói rằng, công tử là đứa con nuôi, không phải con đẻ. Bởi thế người con cả là Tất Hiến Phu đưa linh cữu hai người về quê hương, bỏ rơi thằng bé tại kinh thành. May mà có Hầu Sư Phụ, người dạy kịch ở nhà đối diện mang về nuôi, bắt nó học kịch, thằng bé không chịu học, nên nó khóc.
Nghe xong Diễn Tộ cám cảnh nói:
- Tôi cũng là người phủ Quý Đức, cùng quê với Tất Đông Ly. Tôi xin đứa trẻ ấy mang về thôi.
- Ông nói thật sao? - Cụ già nói. - Đây quả là một việc phúc đức.
- Cháu nhờ cụ nói giúp cho. - Diễn Tộ nói.
Cụ già chống gậy bước vào, gọi ông họ Hầu ra nói ý định của Diễn Tộ. Người ấy nói:
- Đứa trẻ này không chịu học, tôi giữ lại cũng chẳng ích gì. Song tôi cũng đã nuôi không bốn năm tháng rồi.
- Điều đó không ngại, - Diễn Tộ nói, - tôi sẽ trả tiền công ông đã nuôi nó.
Nói xong, Diễn Tộ lấy ra ba lạng bạc đưa cho người ấy. Người ấy hớn hở dẫn đứa bé ra, giao cho Diễn Tộ dẫn đi. Diễn Tộ lại tạ ơn cụ già mấy đồng bạc, sau đó bảo Lai Ninh dẫn đứa trẻ về nhà trọ tắm giặt chải đầu. Nhìn kĩ khuôn mặt nó thì hao hao giống Hoàn Lang. Hỏi tuổi thì nó bảo lên tám, tính ra đúng bằng tuổi Hoàn Lang. Diễn Tộ rất ngạc nhiên, hỏi kĩ cha mẹ đẻ nó là ai. Đứa trẻ nói:
- Cháu còn nhỏ đã phải xa cha mẹ, không nhớ được. Chỉ nghe người ta nói, lúc ba tuổi bị người ở thành Quy Đức bắt trộm.
Thấy thế Diễn Từ càng kinh ngạc, bèn vạch chân trái đứa bé lên xem, thì thấy có hai ngón chân liền nhau, bất giác vừa kinh ngạc, vừa vui mừng ôm đứa bé vào lòng khóc:
- Con là Hoàn Lang, do chính ta đẻ ra, con có nhận được cha đẻ của con không?
Thế rồi Diễn Tộ kể cho nó nghe tất cả mọi chuyện. Lúc ấy Hoàn Lang mới biết Diễn Tộ là cha mình. Đúng là:
Trải qua thất lạc buồn vô hạn

Nay được đoàn viên sướng bội phần

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5932
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Fri Mar 21, 2014 12:18 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 18 (C)
Diễn Tộ tìm được Hoàn Lang, vui mừng không sao kể xiết, lên đường về ngay nhà. Nghi Nam mừng quýnh, bế bổng Hoàn Lang nước mắt giàn giụa. Trước đây vì thương nhớ con, Nghi Nam đau ốm luôn, nay Hoàn Lang đã trở về Nghi Nam dần khỏe trở lại. Song vì Hoàn Lang ở nhà họ Hầu bị hắt hủi, no đói thất thường, lại phải đi xa nên bị ốm. Diễn Tộ mời thầy thuốc về chữa chạy, Hoàn Lang mới dần dần hồi phục. Thầy thuốc lại kê cho một đơn thuốc, bảo Diễn Tộ hoàn tán thành viên nhỏ cho Hoàn Lang uống dần. Theo lời, Diễn Tộ đến hiệu thuốc của Tất Tư Hằng mua thuốc. Vốn là Diễn Tộ tuy có biết Tất Tư Hằng, nhưng không thân quen, đơn thuốc giá hai lạng bạc, Diễn Tộ giả nhầm thành ba lạng. Tư Hằng thấy thừa trả lại một lạng. Diễn Tộ tạ ơn nói:
- Thật là quý hóa, hiếm có người nào tốt như ông.
- Nay tôi trả lại ông một lạng, - Tư Hằng nói, - có gì lạ lắm đâu! Trước đây tôi mang mười lăm lạng bạc đi mua thuốc, nhưng để quên ở quán trọ. Hai hôm sau mới đi tìm, tưởng là đã mất, ngờ đâu gặp người tốt bắt được, họ gửi lại chủ quán trả tôi. Song rất tiếc không biết họ tên người ấy.
- Có phải ở quán trọ nhà ông họ Trương không? - Diễn Tộ nói. - Số bạc mất là chín nén rưỡi, ngoài gói có in một chiếc dấu nhỏ màu đỏ là "Chi thứ hai họ Tất" phải không?
- Sao ông biết? - Tư Hằng ngạc nhiên hỏi. - Chẳng phải người bắt được chính là ông ư?
- Vâng. - Diễn Tộ cười nói.
Tư Hằng vội bước ra khỏi quầy, cung kính vái lạy Diễn Tộ. Ông bảo người giúp việc coi hàng, sau đó mời Diễn Tộ vào nhà trong dọn rượu khoản đãi. Nhân đó hỏi Diễn Tộ có mấy con trai. Diễn Tộ nói:
- Chỉ có một đứa lên tám tuổi.
Rồi kể lại chuyện được chị dâu Tư Hằng che chở, sau bị thất lạc, mới gặp được nhau.
- Đó là sự báo đền ân đức của ông vậy. - Tư Hằng nói.
Rồi nhân đó Tư Hằng hỏi Diễn Tộ đã tìm người nâng khăn sửa túi cho cậu ấy chưa. Diễn Tộ đáp:
- Chưa.
- Tôi có một cháu gái, - Tư Hằng nói, - cũng vừa tròn tám tuổi, muốn gả cho cháu, ý ông thế nào?
- Ông đã thương thì đâu dám chối từ. - Diễn Tộ nói.
Tư Hằng rất vui. Hai người vô cùng mãn nguyện. Họ chia tay nhau. Diễn Tộ về nhà nói cho Nghi Nam biết. Nghĩ tới ân nghĩa của Đan thị, cũng muốn thông gia với nhà họ Tất. Rồi bảo với chồng, nhờ Trần Nhân Phủ làm mối, chọn ngày lành tháng tốt đưa sính lễ. Hai nhà tổ chức buổi lễ rất trọng thể.
Song ngờ đâu lại động đến lòng tham của Kỷ Vọng Hồng. Hắn đến nói với Trần Nhân Phủ rằng:
- Lẽ ra chú con phải nhận con làm người thừa tự mới phải. Không hiểu vì sao lại đi nhận thằng Hoàn Lang ở đâu đâu về làm con. Cha phải nghĩ kế thế nào để chú nhận con làm người thừa kế.
Nhân Phủ xưa nay vốn ghét con rể là đứa vô lại. Nên thấy Vọng Hồng nói thế cũng mặc, không thèm để ý. Vọng Hồng tức tối, làm đơn kiện lên quan. Vốn là Thiêm phán Biên Phương Dận, trước đây đã rời nhiệm sở, nay lại vừa được thăng lên chức Thái thú ở phủ này. Vọng Hồng đến chỗ ông, đưa đơn kiện. Biện Công nói:
- Việc này trước đây ta đã xử rồi, sao bây giờ còn kiện?
Vọng Hồng tố cáo sự thực như đã nói trên. Biện Công cho bắt ngay Diễn Tộ tới xét hỏi. Diễn Tộ nói, Hoàn Lang ba tuổi bị mất, nay lên tám tuổi đã tìm thấy. Biện Công nói:
- Người căn cư vào đâu mà cho nó là con mình.
- Chân nó có ngón liền nhau. - Diễn Tộ nói.
- Người trong thiên hạ cũng nhiều, - Vọng Hồng nói, - sao thấy đứa con giả của Tất Hình Bộ lại nhận là con đẻ của mình?
- Trước đây người đã chích máu để tìm ra cha đẻ, - Biện Công nói với Diễn Tộ, - bây giờ lại chích một lần nữa để tìm ra có đúng người là cha đẻ không.
Ngay lúc đó, Diễn Tộ cùng Hoàn Lang chích máu, thấy hoàn toàn giống như lần trước. Biện Công nói: - Hai người này là cha con, không nghi ngờ gì nữa. Song không biết vì sao con ngươi lại sống ở nhà ngài Tất Hình Bộ. Phải làm sáng tỏ việc này. Tất Hình Bộ là bạn học của tôi, chờ tôi hỏi công tử của ngài thì mới rõ ngọn ngành.
Sau đó Tất Hình Bộ bảo Diễn Tộ và các phạm nhân ra ngoài, chờ hỏi Hoa Công Tử rồi sẽ xét sau.
Biện Công rời khỏi công đường, lập tức sai người mang danh thiếp đến nhà Tất Công tử, mời Tất Hiến Phu đến nói chuyện. Lúc ấy Tất Công tử vừa đưa linh cữu về hộ tang tại nhà bỗng thấy Biện Công mời không dám nấn ná, đến ngay dinh quan phủ. Biện Công mời vào nhà trong, coi như tình chú cháu, hàn huyên xong, hỏi lại chuyện người em bị anh bỏ, và sao lại biết là đứa em giả, nếu là giả thì có chứng cứ gì không? Tất Công tử kể lại chuyện Loan Di đổi gái lấy trai. Công tử nói:
- Đây là việc thằng hầu tên là Hỷ Tường gây nên. Sau đó lại do chính hắn nói ra, nên cháu mới biết. Chỉ có điều không biết đứa bé ấy là con nhà ai.
- Thế bây giờ Hỷ Tường ở đâu? - Biện Công nói. - Tôi sẽ cho người gọi hắn đến tra hỏi.
- Thằng ấy gần đây vì ăn trộm pho tượng Phật của cha cháu để lại, bị cháu truy ra, hiện đang bị bắt giam tại Bổ Nha chờ xét xử. Bác cần sẽ giải đến ngay cho bác.
Biện Công hỏi đó là pho tượng Phật thế nào? Và Tất Công tử nói rõ nguồn gốc pho tượng ấy.
Thật may thay, pho tượng nhà Công tử vốn là pho tượng đồng đúc lẫn vàng của Kỷ Diễn Tộ. Cát Tường và Dung Tam bán cho Hô Diên phủ, song được Nghê thị Loan Di thờ trong nội thất. Khi lấy Tất Đông Ly, Loan Di lại mang pho tượng ấy đi. Loan Di chết, pho tượng này ở chỗ Tất Công tử. Hỷ Tường lại ăn trộm bán đi chỗ khác kiếm tiền, không ngờ vừa lấy đi đã bị người hầu trong nhà biết được báo cho công tử. Tất Công tử vô cùng giận dữ, truy ra tượng Phật, giải lên quan chờ xét xử. Công tử nói xong, Biện Công cười nói:
- Pho tượng ấy vốn ở chỗ tôi.
Rồi sau đó kể lại chuyện xét xử vụ tượng đồng. Tất Công tử nói:
- Chính cháu định nạp pho tượng ấy đúc tiền. Nay thấy bác nói thế cháu sẽ lập tức mang ngay pho tượng tới.
Nói xong công tử cáo từ ra về. Biện Công cho người đến Bổ Nha giải Hỷ Tường tới, xét hỏi cùng với Diễn Tộ, Vọng Hồng. Thấy Hỷ Tường, Kỷ Vọng Hồng kinh sợ đứng ngây người ra. Biện Công gọi Hỷ Tường lại hỏi:
- Đứa con người chủ cũ của ngươi, cớ sao lại là đứa con giả của chủ mới?
Lúc đầu Hỷ Tường không chịu nói, sau đó ông dùng hình phạt buộc hắn phải khai ra Kỷ Vọng Hồng bắt trộm rồi đem bán.
- Việc đó có không? - Biện Công quát hỏi Kỷ Vọng Hồng.
Không thể chối cãi được, Kỷ Vọng Hồng phải thừa nhận.
- Hai người, một đứa là cháu hại chú, anh bán em, một đứa là đầy tớ phản chủ, bán con chủ. Tình lí khó mà dung tha.
Rồi Biện Công sai người đánh Vọng Hồng ba mươi gậy. Hỷ tường năm mươi gậy. Phạt xong, lại hỏi Hỷ Tường rằng:
- Mày đã được chủ nhờ cậy, lại ngấm ngầm đổi nữ lấy nam, vì sao sau đó lại nói với công tử.
- Lúc đầu bà chủ hứa sẽ trọng thưởng, - Hỷ Tường nói, - nhưng sau lại không thưởng. Bà chủ và ông lớn đã mất, bởi thế con nói ra mong được công tử thưởng.
- Mày là thằng ở lòng tham vô đáy. - Biện Công cười nói, rồi lại hỏi thêm. - Con gái bà chủ gửi ở đâu? Có phải là con ruột của ngài Tất không? Hãy nói để công tử đón về.
- Tiểu thư là chủ sinh ra, nuôi tại cửa hàng đậu phụ nhự của Vương Tiểu Tứ. Công tử đã sai người đến đón, song Vương Tiểu Tứ đã chuyển tới huyện Ninh Lăng. Khi con đến Ninh Lăng tìm tới nhà hỏi thì biết tiểu thư đã mắc bệnh chết cách đó một năm.
- Ta e rằng mày chưa nói thật. - Biện Công nói. - Con trai người chủ cũ mày có thể cướp đi bán, thì e rằng đứa con gái người chủ mới cũng bị mày bán đi. Mày phải khai cho thực, tiểu thư đã chết thật chưa?
- Quả thực tiểu thư đã chết rồi, con không dám bịa đặt.
- Khó mà tin mày được. - Biện Công lắc đầu nói. - Hãy chờ ngày mai ta gọi Vương Tiểu Tứ hỏi trực tiếp.
Nói xong, ông lệnh giam Hỷ Tường và Kỷ Vọng Hồng, chờ ngày định tội.
Diễn Tộ lạy tạ Biện Công rồi trở về. Ra khỏi công đường, Diễn Tộ thấy Tất Tư Hằng và Trần Nhân Phủ đang la cà trước cửa công đường nghe ngóng tin túc. Diễn Tộ thuật lại lời xét hỏi của Biện Công, nói tới việc Vương Tiểu Tứ cho gửi con gái, Tất Tư Hằng kinh sợ, giật thót mình nói:
- Nói thế thì con gái của ta là tiểu thư của nhà quan họ Tất rồi.
Diễn Tộ thấy thế ngạc nhiên hỏi vì sao. Tư Hằng nói:
- Quả thực tôi không giấu ông, đứa con gái nhỏ của tôi là con nuôi. Khi tôi đến huyện Linh Lăng mua thuốc, Vương Tiểu Tứ, người mở cửa hàng đậu phụ nhự cũng nuôi một đứa con gái, bảo là có một người họ Tất dẫn đến, nói rằng nó là người họ Tất. Nay vì mẹ nó chết, nên bố nó muốn bán. Tôi thấy đứa bé gái ấy mặt mũi sáng sủa, đã mua ông ta với giá mười hai lạng.
Diễn Tộ thấy thế nói:
- Đã như thế, thì không cần phải chờ Vương Tiểu Tứ tới xét hỏi, mà ông nên vào bẩm lại việc này với Biện Công.
Lúc ấy Biện Công vẫn còn ở công đường, Diễn Tộ cùng với Tư Hằng vào công đường bẩm báo việc này cho ông. Biện Công lập tức gọi Hỷ Tường quay lại đối chất. Thấy Hỷ Tường, Tư Hằng nói:
- Chính người này dạo ấy bán đứa bé. Theo anh ta nói thì anh ta là người họ Tất, và nó là con của anh. Chứ ai biết đâu anh ta là người hầu nhà họ Tất, đã bán trộm con gái chủ nhà.
Lúc ấy Hỷ Tường không thể chối cãi được nữa. Biện Công nổi giận nói:
- Ngươi là thằng hầu, hai lần bán chủ, tội mày đáng chết.
Sau đó quát lính hầu đánh hắn một trăm gậy, Hỷ Tường chết ngay tại chỗ. Còn Kỷ Vọng Hồng, Biện Công bắt hắn sung vào đội quân vùng biên giới xa xôi. Vụ án đã xử xong. Hôm sau Tất Công tử mang pho tượng đồng tới xin gặp Biện Công. Ông nhận tượng đồng và mời công tử vào nhà trong, nói với công tử rằng:
- Tuy em trai công tử là giả, nhưng trước đây cha công tử rất yêu quý, nên công tử cần đối xử tốt với nó như thời cha công tử còn sống mới phải. Nay bỗng chốc bỏ đi thì quả là không nên. Hiện em gái của công tử chưa chết, lại nhẹ dạ tin theo lời đứa hầu phản nghịch, để nó mang đi bán trộm không chú ý xem xét e rằng sẽ làm tổn hại đến đạo hiếu. Tất Tư Hằng nuôi em công tử làm con, mà cũng khéo thay, lại kết duyên với người em giả của công tử. Em trai tuy giả, mà gái lại là thật. Công tử hãy cho em gái ba trăm lạng làm của hồi môn, để chuộc lại sai lầm trước đây.
Nghe xong Tất Công tử băn khoăn ngượng ngùng, cảm ơn Biện Công và rối rít nhận lời. Biện Công ra về, Tất Công tử viết danh thiếp mời Kỷ Diễn Tộ và Tất Tư Hằng đến nhà, đưa cho Tất Tư Hằng ba trăm lạng bạc làm của hồi môn. Mọi người đều bái phục Biện Công xét xử sáng suốt. Đúng là:
Con trai làm rõ thật hay giả.
Con gái làm rõ sống hay chết.
Biện Công đã phân xử rõ việc con trai và con gái của hai nhà, sau đó lại gọi Dung Tam hỏi rõ pho tượng Phật ấy có phải là pho tượng gốc hay không. Dung Tam nói:
- Đây chính là pho tượng Phật đúc lần đầu.
- Trước đây ngươi nấu pho tượng này không chảy, - Biện Công nói, - nay ngươi hãy nấu chảy pho tượng ấy ngay tại đây để ta xem.
Theo lệnh, Dung Tam đem lò đến trước công đường nhóm lửa nấu. Song kỳ lạ thay, dù đốt thế nào chăng nữa pho tượng vẫn cứ trơ trơ, chẳng mảy may suy suyển. Thấy thế Biện Công kêu lên:
- Lạ, thật là kỳ lạ.
Thế rồi ông bảo dừng lại không đốt nữa, đặt ra một bên, rồi nói với Dung Tam.
- Phật là đây, song vẫn chưa bắt được Cát Phúc. Theo lời khai thì ngươi bị Cát Phúc xúi giục, lại chia cho hắn một nửa số tiền, nay chưa có người đối chứng, khó mà kết luận được.
Dung Tam chưa kịp nói thì nghe thấy ngoài cửa có tiếng kêu oan. Biện Công quát hỏi, "Đó là ai? Hãy giải vào". Trong phút chốc công sai đã áp giải hai người vào quỳ trước công đường. Hai người chưa kịp khai thì Dung Tam chỉ vào một trong hai người ấy kêu lên:
- Đây là Cát Phúc.
Vốn là, Cát Phúc trước đây đã chạy trốn đến huyện Thành Ngu ở với vợ chồng Đào Lương, đổi họ tên, làm sai dịch tại huyện ấy. Sau đó cậy thế thân quen với nha môn, Cát Phúc chiếm đoạt vợ Đào Lương, đuổi Đào Lương đi. Đào Lương uất ức nghĩ rằng không thể kiện được hắn ở huyện Thành Ngu, chờ cho Cát Phúc đi công cán ở huyện ngoài, Đào Lương tóm được lôi ngay vào phủ kêu với quan.
Biện Công truy hỏi việc lấy cắp tượng Phật, Cát Phúc đành phải cung khai. Đào Lương lại tố cáo hắn đã chiếm đoạt vợ, rồi đuổi mình đi, lại xúi bẩy vợ anh dùng nhân mạng giả lừa dối để hại chủ nhân, lấy đi một số thóc tô... Biện Công lệnh đánh năm mươi gậy, tống vào nhà giam. Dung Tam bị phạt sai dịch đã lâu nên chỉ đánh hai mươi gậy rồi tha về. Cát Phúc phải đi lính, vì bị đánh quá đau, vết thương tái phát rồi chết giữa đường. Đó là sự báo ứng việc lừa dối chủ.
Biện Công xử xong vụ án bọn Cát Phúc, lệnh đem pho tượng đồng đúc lẫn vàng đích thân đưa lên kiệu rước tới chùa Long Hưng thờ. Lúc ấy chùa Long Hung chỉ có hòa thượng Tĩnh Tu trụ trì. Hòa thượng Huệ Phổ không ở chùa, vì có người nói đã gian díu với ni cô Ngũ Không, Ngũ Không mắc bệnh chết, Huệ Phổ sợ mắc tội, không biết trốn đi đâu biệt tích.
Biện Công tới chùa, Tĩnh Tu ra tiếp đón. Biện Công chỉ vào pho tượng đồng, nói với Tĩnh Tu:
- Pho tượng đồng này nấu không chảy, nghĩ rằng Phật linh thiêng, mượn cớ đó để cảm hóa triều đình. Nay hãy tạm đặt tại đây thờ phụng, đợi ta dâng sớ tâu lên, chờ lệnh triều đình định đoạt.
Tĩnh Tu chắp tay bẩm rằng:
- Tướng công không cần phải dâng sớ. Đã có lệnh hủy Phật đúc tiền, tượng Phật vốn là hình ảnh ảo, lẽ nào nung không chảy, bần tăng sẽ nung chảy để tướng công xem.
Thấy thế Biện Công nửa tin nửa ngờ, lập tức lệnh cho tay chân đặt hỏa lò, xem Tĩnh Tu nấu chảy tượng Phật: Tĩnh Tu lệnh cho người hầu đặt pho tượng vào lò, vừa nhóm lửa, vừa chắp tay tuyên đọc bài kệ sau:
Phật vốn hư vô,
Không có hình hài,
Vàng giả là hình giả,
Vàng thật há là hình thật được sao?
Quái lạ!
Thật thật giả giả đã bao phen,
Từ nay trừ hết mọi chướng ngại.
Tĩnh Tu tuyên đọc xong bài kệ, bỗng thấy pho tượng đồng tan chảy hết. Biện Công vô cùng kinh ngạc, hỏi:
- Xin hỏi nhà sư, tại sao trước đây nung không chảy, mà bây giờ lại chảy.
- Trước đây thật giả chưa rõ ràng, - Tĩnh Tu nói, - cho nên lưu lại để làm chứng. Nay thật giả đã rõ ràng, không cần phải giữ lại chứng tích nữa.
Biện Công gật đầu khen phải. Rồi lệnh đem đồng nung chảy giao cho Tiền cục đúc tiền, còn số vàng trong đó, trao trả cho Kỷ Diễn Tộ. Giải quyết xong ông lên kiệu về dinh. Diễn Tộ tiến cúng số vàng ấy cho Tĩnh Tu, Tĩnh Tu cảm ơn chối từ:
- Tôi xuất gia dùng vàng làm gì, ông hãy dùng số vàng này làm việc từ thiện, tốt hơn là cho lão tăng này. Phàm là Phật tâm đâu cũng có, nhưng hình hài Phật thì không thể rõ được chỉ vì ông đúc tượng bằng vàng nên mới sinh ra nhiều rắc rối. Từ nay về sau phải nhớ rằng Phật tại tâm thứ không hiện hình.
Diễn Tộ vái lạy theo lời. Về tới nhà, quả nhiên dùng số vàng ấy làm nhiều việc thiện. Sau đó Kỷ Vọng Hồng được tha, ốm chết, Diễn Tộ chôn cất tử tế, rồi lại nuôi vợ cháu là Trần thị. Hoàn Lang sau khi lấy vợ đẻ liền ba người con trai. Diễn Tộ cho một đứa con thừa tự Vọng Hồng, khiến cho việc thờ phụng hương khói người anh là Kỷ Diễn Tự không đến nỗi đoạn tuyệt. Tất Tư Hằng cũng cho một đứa con của mình làm con thừa kế chị dâu là Đan thị để báo đền tấm lòng trinh tiết của bà. Sau đó lại bảo Đan thị đón Trần Nhân Phủ về nhà để hưởng hết tuổi trời cho. Từ đó Kỷ Diễn Tộ và Tất Tư Hằng con cháu đều đông đúc và vinh hiển. Thời ấy có người hiếu sự, đem chuyện phân biệt người, phân biệt Phật viết thành mấy câu sau:
Nước thì thử người,
Lửa thì thử Phật.
Thử Phật, thử vàng,
Thử người thử máu.
Thử máu không tan,
Thử vàng không mất.
Phật có ba ngôi,
Người thì một nghiệp.
Rốt cục vô hình,
Hóa trong chớp mắt.
Tồn, không trường tồn,
Hợp, đâu hợp mãi.
Tướng người tướng ta.
Đều là hư ảo.
Tuổi thọ con người,
Như hoa trên gương,
Như trăng dưới nước.
Sao mà người đời
Mê muội chẳng thông.
 
Các bạn thân mến, người có hình hài nhất định nhưng Phật không có hình tượng cụ thể. Hữu hình lại vô hình, vô tướng lại là hữu tướng. Khi nhận ra cái thật, thì cái giả khó mà lẫn với cái thật; khi nhận ra cái giả, thì cái thật cũng là giả. Hãy xem việc kiện con giả, bắt trộm con giả, bán con giả, mua con giả, vứt bỏ con giả, và việc đúc tượng vàng, oán tượng vàng, trộm tượng vàng, đổi tượng vàng, trả tượng vàng... cũng chỉ vì lòng tham dẫn đến. Rốt cục vợ cả ghen ghét thiếp, thiếp khinh chồng, cháu diệt chú, anh bỏ em, đầy tớ phản chủ. Cho đến cha nuôi, lúc đúng lúc sai, họ xa, lúc thân lúc sơ, quý khách cậy thế chiếm của, phú ông xu nịnh gian dối, tăng ni không giữ phép tắc nhà Phật, kẻ tá điền người làm công ngấm ngầm lấy của. Tất cả lòng tham ấy phỏng có ích gì? Thôi thì đừng tham nữa là tốt nhất. Thơ rằng:
Cuồng phong nổi lên,

Kẻ tham bại hoại.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5932
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Sat Mar 22, 2014 4:49 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 19
Truyện Tạ Tiểu Nga
Tạ Tiểu Nga người ở Dự Chương là con gái một hiệp sĩ người lái buôn. Năm lên tám mẹ mất, sau lấy người ở Lịch Dương tên là Đoàn Cư Trinh. Cư Trinh thẳng thắn, trọng nghĩa, quan hệ với nhiều người hào kiệt. Cha Tiểu Nga có gia sản rất lớn nhưng ẩn danh trong đám thương nhân thường cùng con rể họ Đoàn chung thuyền buôn bán, qua lại trong chốn giang hồ. Năm ấy Tiểu Nga mười bốn tuổi, vừa tới tuổi cập kê. Lấy chồng được ít lâu thì cha và chồng đều bị cướp giết chết, lấy hết cả lụa là vàng bạc. Anh em của họ Đoàn, cháu của họ Tạ cùng gia nhân tôi tớ đến mấy chục người đều chết chìm dưới sông. Tạ Tiểu Nga cũng bị thương ở ngực và gãy chân, trôi theo dòng nước, may được thuyền khác vớt lên, qua đêm tỉnh lại, vì thế phải đi đây đó ăn xin. Cho đến khi tới huyện Thượng Nguyên, nàng xin sư thầy Tịnh Ngọc cho ở nhờ trong chùa Diệu Quả.
Trước đó khi cha mới chết, Tiểu Nga nằm mơ thấy cha báo:
- Kẻ giết cha là "khỉ trong xe, cỏ phía đông cửa".
Mấy ngày sau lại nằm mơ thấy chồng báo:
- Kẻ giết anh "đi trong lúa, chồng một ngày".
Tiểu Nga không sao tự giải ra được bèn viết lại những lời đó nhờ các bậc thông tuệ ở khắp nơi đoán giúp nhưng trải mấy năm cũng không ai đoán được.
Mùa xuân năm thứ tám niên hiệu Nguyên Hòa (914), tôi xin từ chức tòng sự ở Giang Tây, cưỡi một chiếc thuyền con xuôi về Đông, dừng thuyền ở Kiến Nghiệp, lên thăm lầu gác chùa Ngõa Quan. Sư Tề Vật ở chùa này là người trọng tài, hiếu học, chơi thân với tôi. Nhân câu chuyện nhà sư bảo tôi:
- Có một quả phụ tên là Tiểu Nga, một lần thăm chùa này có đưa cho tôi xem câu đố mười hai chữ nhưng tôi không cắt nghĩa được.
Tôi bèn xin sư Tề Vật viết ra giấy, tựa vào lan can viết lên không trung rồi tập trung suy nghĩ. Các khách cùng ngồi với tôi chưa thấy mệt mỏi thì tôi đã đoán ra. Tôi sai chú tiểu đi gấp mời Tiểu Nga đến hỏi kỹ nguyên do. Tiểu Nga nức nở hồi lâu, rồi nói:
- Cha tôi và chồng tôi đều bị cướp giết chết. Sau đó tôi từng nằm mơ thấy cha báo rằng người giết ông là "khỉ trong xe, cỏ phía đông cửa". Lại nằm mơ thấy chồng báo người giết chàng "đi trong lúa, chồng một ngày". Nhưng đã lâu năm không ai giải được.
Tôi bảo:
- Nếu đúng vậy thì tôi đã xét kỹ và tìm ra rồi. Kẻ giết cha chị tên là Thân Lan, giết chồng chị tên là Thân Xuân. Khỉ trong xe (xa trung hầu) nếu bỏ một vạch ngang trên và một vạch ngang dưới ở chữ xa đi thì là chữ thân, thân cầm tinh con khỉ cho nên nói là khỉ trong xe. Cỏ phía đông cửa (môn đông thảo), dưới bộ thảo có chữ môn, trong chữ môn có chữ đông ấy là chữ lan vậy. Còn đi trong lúa là đi qua ruộng (xuyên điền quá) cũng là chữ thân; chồng một ngày (nhất nhật phu) nghĩa là trên chữ phu thêm một vạch ngang, dưới có chữ nhật tức là chữ xuân. Vậy kẻ giết cha chị là Thân Lan, kẻ giết chồng chị là Thân Xuân rõ ràng rồi đấy.
Tiểu Nga khóc nức lên, lạy tạ tôi, viết bốn chữ Thân Lan, Thân Xuân vào vạt trong áo, thề sẽ hỏi thăm, giết cho được hai tên cướp ấy để trả nỗi oan của gia đình. Tiểu Nga hỏi tên họ và chức quan của tôi rồi gạt lệ ra đi.
Sau đó Tiểu Nga mặc quần áo đàn ông, đi làm thuê kiếm mướn trong chốn giang hồ. Hơn một năm sau đến quận Tầm Dương, thấy một nhà cửa tre nọ có yết giấy rằng "Cần mướn người". Tiểu Nga đến cửa xin làm thuê hỏi tên người chủ chính là Thân Lan. Lan dẫn về nhà. Tiểu Nga trong lòng phẫn uất nhưng ngoài mặt vẫn vâng lời, giúp việc bên cạnh Lan, được Lan rất tin cậy. Tiền bạc chi ra thu vào Lan đều giao cả cho Tiểu Nga. Đã hơn hai năm không ai biết Nga là gái.
Trước đó, những đồ vàng, ngọc, quần áo gấm thêu của nhà họ Tạ, Lan cướp hết đem về nhà. Tiểu Nga mỗi lần cầm tới vật cũ đều khóc thầm một lúc lâu. Lan và Xuân là anh em họ. Bấy giờ gia đình Thân Xuân ở bến Độc Thụ phía bắc Đại Giang, thường qua lại thân thiết với Thân Lan. Lan và Xuân thường đi với nhau hàng tháng, lấy được rất nhiều của cải mang về. Mỗi lần như thế, Lan để Tiểu Nga ở cùng vợ Lan là Lan thị trông coi, rượu thịt áo quần cho Nga rất nhiều.
Một hôm, Xuân đem cá chép hoa và rượu đến nhà Lan làm bữa nhắm. Tiểu Nga thầm than thở:
- Ông Lý hiểu sâu biết rộng, lời ông đều khớp với lời mộng báo. Chắc là trời gợi mở cho ông, chí của ta cũng sắp thực hiện được rồi!
Đêm ấy, Lan và Xuân gọi tất cả bọn cướp đến uống rượu. Khi bọn chúng đã về, Xuân say quá nằm ở trong nhà, Lan nằm ngủ ngoài sân. Tiểu Nga lẻn đến khóa trái Xuân ở trong nhà, rút dao giắt lưng chặt đầu Lan, rồi hô hoán cho hàng xóm kéo đến. Xuân bị nhốt trong nhà, Lan chết ở ngoài sân, thu được tang vật của cải tính đến hàng nghìn vạn. Trước đó đảng của xuân và Lan có mấy chục đứa, Tiểu Nga đều ghi nhớ tên chúng, cho nên chúng đều bị bắt và bị giết hết.
Khi ấy quan thái thú Tầm Dương là Trương Công rất ngợi khen đức hạnh và ý chí của Tiểu Nga, đã trình đầy đủ gửi lên trên xin ban khen, vì thế Tiểu Nga được miễn tội chết. Bấy giờ là mùa hè năm thứ mươi hai niên hiệu Nguyên Hòa (918).
Sau khi phục thù cho cha và chồng xong, Tiểu Nga về quê gặp lại họ hàng. Các nhà hào phú trong làng tranh nhau hỏi cô làm vợ nhưng Nga thề với lòng mình không lấy ai nữa. Rồi cô cắt tóc mặt nâu sòng tìm đường đến núi Ngưu Đầu làm đệ tử của sư thầy họ Tương ở chùa Đại Sĩ.
Tiểu Nga bền lòng chịu khổ, giã gạo lúc còn sương, kiếm củi khi mưa gió, không biết mệt mỏi. Sau mươi ba năm bốn tháng, cô được thụ giới ở chùa Khai Nguyên thuộc Tứ Châu, vẫn lấy pháp hiệu là Tiểu Nga để tỏ ra không quên gốc gác.
Mùa hè năm ấy tôi bắt đầu trở lại Trường An. Khi qua Tứ Tân, tôi ghé thăm đại đức ni tên là Lệnh ở chùa Thiện Nghĩa. Mấy chục người mới được trì giới, đầu trọc áo mới ung dung uy nghi xếp hàng hầu ở bên trái và bên phải nhà sư, trong số đó có một sư nữ hỏi vị đại đức:
- Thưa vị quan kia có phải là Nhị thập tam lang họ Lý làm phán quan ở Hồng Châu không ạ?
Sư trưởng đáp:
- Phải.
Sư nữ lại nói:
- Giúp con báo được thù nhà, rửa được nỗi oan, ấy là ơn đức của vị phán quan này cả.
Nói rồi ngoảnh nhìn tôi mà khóc. Tôi không biết là ai bèn hỏi nguyên do. Tiểu Nga thưa:
- Tôi tên là Tiểu Nga, trước đây là kẻ góa chồng ăn xin. Bấy giờ phán quan đã giải giúp tôi tên của hai tên cướp Thân Lan, Thân Xuân, lẽ nào ngài đã quên sao?
Tôi đáp:
- Lúc đầu tôi quên, bây giờ nhớ ra rồi.
Rồi Tiểu Nga vừa khóc vừa kể lại đầu đuôi việc lo toan gian khổ từ lúc viết tên Thân Lan, Thân Xuân, báo thù cho cha, cho chồng cho tới lúc chí nguyện được thực hiện. Tiểu Nga lại nói với tôi:

- Thế nào cũng có ngày xin đền ơn phán quan.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5932
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Sat Mar 22, 2014 5:11 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 20
Yên Chi
Người họ Biện ở Đông Xương(1) làm nghề chữa bệnh cho trâu bò, có một gái tên thuở nhỏ là Yên Chi. Yên Chi xinh đẹp, thông minh, cha yêu quý như của báu, muốn gả cho con nhà dòng dõi nhưng các thế tộc đều khinh là hèn hạ, không thèm đính ước. Vì vậy tuổi đã cập kê mà vẫn chưa hứa gả cho ai.
(1) Đông Xương: thuộc tỉnh Sơn Đông (ND).
 
Nhà đối diện họ Cung, vợ là Vương thị, tính đong đưa, bỡn cợt là bạn chuyện trò chốn phòng khuê với Yên Chi. Một hôm Yên Chi tiễn Vương thị ra đến cửa, thấy một chàng trẻ tuổi đi qua, mặc đồ trắng, vẻ người phong nhã. Yên Chi chừng thấy lòng rung động, ánh mắt vấn vương. Chàng trẻ tuổi cúi đầu đi nhanh, đi đã xa mà Yên Chi vẫn đăm đắm trông theo. Vương thị biết ý, bỡn rằng:
- Tài sắc như cô nếu được sánh đôi với người như thế thì mới không hận.
Yên Chi ửng hồng hai má, ý tình chan chứa, nhưng chỉ lặng thinh. Vương thị hỏi:
- Cô có biết chàng ấy không?
Yên Chi đáp:
- Em không biết.
Vương thị bảo:
- Đó là cậu tú họ Ngạc, tên là Thu Chuẩn ở ngõ Nam, con cụ Cử đã quá cố. Tôi vốn cùng làng với cụ ấy, nên biết cậu ta. Đàn ông trên đời này không có ai ôn hòa nhã nhặn như cậu ấy. Hôm nay cậu ấy mặc đồ trắng là vì chưa mãn tang vợ. Nếu cô có tình tôi sẽ đánh tiếng bảo cậu ấy nhờ người làm mối.
Yên Chi im lặng, Vương thị cười rồi ra về. Đợi mấy hôm không thấy có tin gì, Yên Chi ngờ Vương thị chưa rảnh việc đi ngay được, lại ngờ con cái nhà quan không bằng lòng hạ cố, buồn bã bâng khuâng, nghĩ ngợi khổ sở, dần dần bỏ cả ăn uống rồi đâm ốm nặng. Vương thị vừa lúc ấy sang thăm, gạn hỏi vì sao mà ốm. Yên Chi đáp:
- Em cũng chẳng biết. Chỉ có điều hôm ấy sau lúc chị ra về em thấy người bồn chồn khó chịu, bây giờ chỉ là mượn hơi nấn ná, sống được một sớm một chiều mà thôi.
Vương thị hỏi nhỏ:
- Nhà tôi đi buôn chưa về nên không có ai đánh tiếng với chàng họ Ngạc. Quý thể bất an, chẳng phải vì việc đó chăng?
Yên Chi đỏ mặt hồi lâu. Vương thị đùa rằng:
- Nếu quả vậy, mà bệnh đến thế này thì còn e dè gì nữa? Tôi tính cứ bảo cậu ta đêm nay đến đây họp mặt, chẳng lẽ cậu ta lại không ưng?
Yên Chi thở dài:
- Việc đã đến nước này, cũng không thể thôi được nữa. Nếu cậu ấy chẳng hiềm nghèo hèn, nên nhờ ngay người làm mối đến, bệnh sẽ khỏi liền. Còn như hẹn hò riêng với nhau thì dứt khoát không thể được.
Vương thị gật đầu ra về. Mụ Vương này hồi nhỏ đã tư thông với anh chàng hàng xóm là Túc Giới. Khi đã lấy chồng, Túc vẫn rình lúc người chồng vắng nhà là tìm đến với người tình cũ. Đêm ấy Túc vừa đến, Vương thị thuật lại lời lẽ của Yên Chi để cười với nhau, lại đùa bảo Túc đến nói với Ngạc Sinh. Từ lâu Túc đã biết Yên Chi đẹp, nghe chuyện mừng thầm, lấy làm may có thể thừa cơ kiếm chác. Túc đã toan bàn với Vương thị, lại sợ mụ ghen, bèn giả vờ vô tâm, hỏi han cửa ngõ phòng the nhà Yên Chi thật kỹ. Đêm hôm sau, Túc trèo tường vào đi thẳng đến phòng Yên Chi, lấy ngón tay gõ vào cửa sổ. Trong phòng hỏi vọng ra:
- Ai đấy?
Túc đáp:
- Ngạc sinh đây.
Yên Chi nói:
- Thiếp nghĩ đến chàng là tính việc trăm năm, đâu phải vì một tối. Nếu chàng quả thật thương thiếp, nên mau chóng nhờ người làm mối. Còn như chỉ đến gặp riêng với nhau, thiếp không dám vâng mệnh.
Túc tạm nghe theo nhưng vật nài được nắm cổ tay một cái làm tin. Yên Chi không nỡ cự tuyệt quá căng, gượng dậy mở cửa. Túc ập vào, ôm choàng ngay lấy cầu hoan. Yên Chi không còn sức chống đỡ, ngã lăn ra đất, hơi thở đứt quãng.
Túc sợ bại lộ việc giả mạo, không dám cưỡng ép nữa, chỉ xin hẹn lần gặp mặt sau. Nàng hẹn đến ngày rước dâu, Túc cho là lâu quá, lại nài nỉ. Yên Chi không chịu nổi quấy nhiễu, hẹn đến khi khỏi ốm. Túc xin một vật làm tin, nàng không cho, hắn liền nắm lấy chân tháo chiếc giày thêu rồi mới chịu đi. Nàng gọi lại bảo:
- Thân này đã ước hẹn với chàng, còn tiếc chi nữa. Chỉ sợ vẽ hổ thành chó (1) chuốc lấy chê bai. Nay vật mọn đã vào tay chàng, liệu chừng cũng chẳng đòi lại được. Nếu chàng phụ thiếp, chỉ có một chết mà thôi.
 
(1) Vẽ hổ thành chó: ý nói sợ làm hỏng việc (ND).
 
Túc trở ra, lại đến ngủ ở nhà Vương thị. Khi đã đi nằm vẫn không quên chiếc giày, ngầm nắn tay áo thì không còn ở đấy nữa. Vội vàng châm cái đèn có chụp, rũ áo tìm mò, Vương thị gạn hỏi, Túc không đáp, lại ngờ mụ giấu đi. Vương thị cố ý cười cợt để Túc thêm ngờ. Hắn không giấu nổi, phải nói thật. Nói xong, cầm đèn soi khắp ngoài cửa, vẫn không thấy, đành phiền muộn trở về nằm, lại thầm lấy làm may đêm khuya không có ai, nếu có đánh rơi hẳn còn ở trên đường. Sáng sớm Túc trở dậy đi tìm, vẫn không thấy.
Trước đó, trong ngõ có tên Mao Đại vốn là một kẻ lêu lổng, không có hộ khẩu, có lần đã ghẹo Vương thị mà không được. Biết Túc thân với mụ, hắn nghĩ phải rình chộp lấy để rồi bức bách mụ. Đêm ấy, hắn đi qua cổng nhà mụ, đẩy thử thấy cổng chưa cài bèn lẻn vào. Vừa đến ngoài cửa sổ, giẫm phải một vật mềm như bông vải, nhặt lên xem thì ra chiếc giày phụ nữ bọc trong khăn. Hắn phục xuống núp nghe, thấy Túc kể lại rõ ràng, mừng quá, lẻn ra về. Sau đó mấy đêm Mao Đại trèo tưởng vào nhà Yên Chi. Vì không thông thuộc cửa ngõ, hắn đến lầm phòng ông bố. Ông Biện nhòm qua cửa sổ thấy một gã đàn ông, quan sát tung tích, biết kẻ ấy đến vì con gái mình, bèn nổi giận cầm dao chạy thẳng đến. Mao Đại kinh hãi quay trở ra, đang tính leo tường thì ông Biện đã đuổi đến nơi, kíp quá không chạy lối nào được, Mao quay lại giật lấy dao. Bà Biện tỉnh dậy kêu ầm lên, Mao chạy không thoát nhân thế đâm ông Biện. Bấy giờ Yên Chi đã hơi đỡ, nghe tiếng huyên náo cũng trở dậy, cùng nhau cầm đèn ra soi. Ông Biện không nói được nữa, lát sau tắt thở tìm thấy dưới chân tường chiếc giày thêu, bà Biện cầm lên xem nhận ra giày của Yên Chi. Bà vặn hỏi, Yên Chi khóc thưa thực với mẹ, nhưng không nỡ làm lụy đến Vương thị, chỉ nói là Ngạc sinh tự tìm đến mà thôi.
Sáng ra thưa kiện lên ấp, trưởng ấp cho bắt Ngạc sinh. Chàng Ngạc tính tình cẩn thận, nói năng rụt rè, mười chín tuổi rồi mà thấy khách vẫn xấu hổ như trai chưa vợ. Chàng bị bắt thì hãi quá, lên đến công đường, chẳng biết gửi thưa cứ run cầm cập. Quan càng tin chắc là Ngạc, cho gông cùm lại. Thư sinh không chịu nổi đau đớn, Ngạc đành nhận bừa. Khi giải lên quận, chàng cũng bị đánh đập như ở ấp. Nỗi oan chất chứa trong lòng, chàng chỉ mong gặp được Yên Chi để đối chất. Đến khi hai bên thấy nhau, Yên Chi mắng chửi, thế là chàng líu lưỡi không biện bạch được gì cho mình, vì vậy bị kết án tử hình. Phúc vấn nhiều nơi, trải mấy vị quan cũng không ai có lời bàn khác. Sau giao cho phủ Tế Nam xem lại bản án.
Khi ấy ông Ngô Nam Đại trông coi phủ Tế Nam, thoạt thấy Ngạc đã sinh nghi không phải loại giết người. Ông ngầm cho người đến, thong thả hỏi riêng chàng để chàng có thể nói hết ra, vì vậy ông biết chắc chàng bị oan. Nghĩ ngợi vài ngày rồi ông mới thẩm vấn. Trước hết, ông hỏi Yên Chi:
- Sau khi đính ước, có ai biết không?
Yên Chi đáp:
- Thưa không có ai.
- Khi mới gặp Ngạc sinh, có ai khác nữa không?
Cô gái trả lời:
- Không có ai.
Ông gọi Ngạc sinh lên ôn tồn hỏi han. Chàng thưa:
- Tiểu sinh có lần đi qua cửa nhà ấy, thấy Vương thị là người láng giềng cũ cùng một thiếu nữ đi ra, liền rảo bước để tránh, từ đó không hề trò chuyện gì.
Ông bèn quát Yên Chi:
- Vừa nói bên mình không có ai, sao lại có người láng giềng ở đó?
Nói xong, toan kìm kẹp. Yên Chi sợ hãi khai:
- Tuy có Vương thị, nhưng thực không liên can gì đến việc này.
Ông cho ngừng đối chất, sai đi bắt Vương thị. Vài ngày sau đưa đến, ông cấm không cho gặp Yên Chi, lập tức đem ra thẩm vấn. Ông hỏi mụ Vương:
- Kẻ giết người là ai?
Vương đáp:
- Tôi không biết.
Ông nói gạt:
- Yên Chi cũng khai mụ biết rõ kẻ nào giết ông Biện, sao còn giấu giếm.
Vương kêu lên:
- Oan uổng thay! Con đĩ phải lòng trai là tự nó, tôi tuy có nhận làm mối nhưng chỉ là đùa vui thôi. Tự nó dẫn kẻ gian vào nhà tôi biết đâu được.
Ông hỏi tỉ mỉ. Bấy giờ mụ mới thuật lại đầu đuôi những lời bỡn cợt. Ông lại gọi Yên Chi lên, giận dữ hỏi:
- Ngươi nói mụ không biết chuyện, sao bây giờ mụ lại tự khai việc làm mối?
Yên Chi rơi lệ thưa:
- Tự mình bất hiếu để đến nỗi cha chết thảm, kiện cáo không biết đến năm nào mới xong, lại còn làm lụy đến người khác thực lòng tôi không nỡ. ông hỏi Vương thị:
- Sau khi nói bỡn, có kể cho ai biết không?
Vương khai:
- Không.
Ông nổi giận:
- Vợ chồng chung giường, lẽ ra chẳng chuyện gì không nói sao lại chối rằng không?
Vương thưa:
- Chồng tôi vắng nhà lâu chưa về.
Ông nói:
- Tuy nhiên, phàm những kẻ bỡn cợt người đều cười người là ngu để khoe mình thông tuệ, thế mà mụ lại nói không kể với một ai cả, toàn lừa dối sao?
Bèn sai kẹp mười ngón tay. Bất đắc dĩ Vương phải khai thực:
- Tôi có nói với người họ Túc.
Tức thì ông Ngô tha Ngạc sinh, cho bắt Túc. Túc đến khai:
- Tôi không biết. Ông bảo:
- Đã ngủ đêm ở nhà dâm phụ ắt chẳng phải kẻ sĩ lương thiện.
Sai kìm kẹp nghiêm ngặt. Túc phải khai:
- Quả thật có lường gạt cô gái, nhưng từ khi đánh mất giày thì không dám đến nữa. Thực không biết gì về việc giết người.
Ông nổi giận mắng:
- Những đứa đã leo tường thì có việc gì mà không dám làm.
Lại sai kìm kẹp, Túc Giới không chịu nổi tra tấn, bèn tự nhận cả. Tờ khai trình lên, ai cũng khen Ngô công xét đoán như thần. Bản án đanh thép vững vàng như núi, Túc Giới đành vươn cổ chờ ngày hành quyết vào mùa thu.
Nhưng Túc tuy buông thả vô hạnh, vẫn là danh sĩ xứ Đông. Nghe tiếng quan học sứ Thi Ngu Sơn là người giỏi giang bậc nhất, lại có đức thương xót kẻ sĩ có tài, bèn viết một tờ đơn kêu oan, lời lẽ thảm thiết. Học sứ xem tờ khai, trăn trở suy nghĩ rồi vỗ bàn nói:
- Người này oan thật rồi!
Bèn xin với Viện, với Ty chuyển bản án về xét lại. Ông hỏi Túc:
- Giày đánh rơi chỗ nào?
Túc nói:
- Tôi quên mất, nhưng khi gõ cửa nhà Vương thị thì vẫn còn trong ống tay áo.
Ông chuyển qua vặn hỏi Vương thị:
- Ngoài Túc Giới ra, còn mấy gian phu nữa?
Vương thưa:
- Không có ai khác.
Ông nói:
- Người đã dâm loạn, há chỉ tư thông với một người sao?
Vương khai:
- Tôi và Túc Giới quen thân nhau từ thuở nhỏ cho nên chưa thể dứt tình. Sau đó, không phải không có kẻ trêu ghẹo nhưng quả thật tôi chưa dám theo ai.
Nhân đó ông bảo phải chỉ ra người nào đấy để chứng thực. Vương thị khai:
- Mao Đại là người cùng làng mấy lần chọc ghẹo, tôi đều cự tuyệt cả.
Ông nói:
- Sao bỗng dưng mụ lại trinh bạch đến thế?
Sai đánh đòn. Vương thị rập đầu đến chảy máu, cố sức biện bạch là không có ai. Ông bèn tha cho, lại gạn hỏi:
- Chồng mụ đi xa, chẳng lẽ không có ai mượn cớ mà đến chăng?
Vương thị đáp:
- Có Tên Giáp, tên ất đều lấy cớ vay mượn, biếu xén đến nhà tôi một vài lần.
Thì ra Giáp, Ất đều là loại du đãng trong ngõ, có ý với Vương thị nhưng chưa bộc lộ ra mà thôi. Ông Thi ghi hết tên chúng, rồi cho bắt đến. Khi đã đủ mặt, ông đưa đến miếu Thành Hoàng, cho phủ phục trước án thờ rồi bảo:
- Hôm trước ta mộng thấy thần nhân báo rằng kẻ giết người không ngoài bốn năm người bọn bay. Nay trước đấng thần linh, các người không được nói dối. Chịu thú tội còn được khoan thứ nếu gian dối, khi xét ra quyết không tha.
Bọn chúng đồng thanh nói không biết việc giết người. Ông sai đem ba loại gông cùm chân tay và cổ ra đặt trên đất, chuẩn bị đóng vào người. Khi túm tóc lột áo, bọn chúng đều kêu oan. Ông truyền buông chúng ra, bảo:
- Đã không tự thú thì để cho quỷ thần chỉ ra vậy.
Sai người lấy đệm lông che các cửa sổ trong miếu, không được để một kẽ hở nhỏ nào. Đoạn để bọn chúng lưng trần xua vào trong tối, bấy giờ mới trao cho chậu nước bắt tất cả phải rửa tay. Xong, sắp thành hàng dưới vách, ra lệnh: "Quay mặt vào tường không được động đậy. Kẻ nào giết người thần sẽ viết chữ vào lưng". Lát sau gọi ra nghiệm xét. Ông chỉ vào Mao Đại nói:
- Đây mới thực là kẻ giết người!
Thì ra trước đó ông sai ngươi trát vôi lên vách, lại lấy người bồ hóng cho rửa tay. Kẻ giết người sợ thần đánh dấu bèn áp lưng vào vách nên lưng dính vôi. Khi đi ra lại lấy tay xoa lưng nên lưng có bồ hóng. Ông vốn đã ngờ Mao, đến lúc này càng tin, dọa tra tấn cực hình, Mao phải khai hết sự thực...
 
Bản án kết thúc, xa gần đều truyền tụng.

Sau khi Ngô công xét hỏi, Yên Chi mới biết Ngạc sinh oan. Lúc gặp nhau ngoài công đường, Yên Chi bẽn lẽn, nước mắt rưng rưng như có nỗi đau khổ tiếc nuối mà chẳng thành lời. Ngạc sinh cảm mối tình quyến luyến ấy, đem lòng yêu mến thiết tha, nhưng lại nghĩ nàng con nhà thấp hèn, vả mấy ngày liền ra chốn công đường, ngàn người dòm nom chỉ trỏ, cưới về sợ người cười chê, ngày đêm băn khoăn không quyết định được. Khi tờ phê gửi xuống, chàng mới yên lòng. Quan huyện bèn đứng ra dẫn lễ ăn hỏi cho chàng.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5932
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Wed Mar 26, 2014 6:27 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 21
Bản Di Chúc Đầy Trí Thông Minh
Nghèo khó, hơn thua phận tại trời,
Ranh ma hết cách cũng công toi,
Tham lam, voi nọ rắn đòi nuốt,
Rốt cuộc ve kia bọ ngựa xơi.
Chuyện kể rằng xưa có một ông nhà giàu họ Trương, góa vợ, không có con trai, chỉ có một con gái đã có chồng, chồng ở rể nhà vợ. Ông Trương đã ngoài tuổi cổ lai hy, vì vậy giao hết ruộng vườn của cải cho chàng rể và ăn chung với các con, nhờ chúng phụng dưỡng, coi đó là kế an hưởng đến hết đời. Con gái, con rể ông chỉ giả bộ vâng lời phụng dưỡng khiến ông già không tính đến chuyện sinh con trai nữa. Không ngờ chúng dần dần xao lãng, lười nhác khiến ông chịu không nổi. Rồi một hôm, ông già đang đứng chơi ngoài cửa, thấy thằng cháu ngoại đi ra tìm "ông" vào ăn cơm. Ông già Trương hỏi cháu:
- Cháu tìm ông vào ăn cơm đấy à?
Thằng cháu ngoại đáp:
- Cháu tìm ông của cháu cơ, không phải ông đâu!
Ông già Trương nghe cháu nói thế thì buồn lắm, nghĩ thầm: "Con gái đẻ ra đã là con nhà người ta, câu này thật không sai. Ta tuy đã già song tinh lực chưa suy, sao không kiếm lấy một người vợ kế, may ra sinh được con trai để nhà họ Trương cũng có người hương khói?". Nghĩ thế liền mang số tiền dành riêng nhờ bà mối làm mai cho ông lấy con gái nhà họ Lỗ. Cưới được ít lâu quả nhiên người vợ có thai, gần năm sau thì sinh con trai. Ông già mừng mừng khôn xiết, bạn bè quen thuộc đều đến chúc mừng, chỉ riêng con gái và con rể ông già là ngầm bực bội. Ông Trương đặt tên con trai là Nhất Phi, nên mọi người gọi cậu bé là Trương Nhất Lang. Được vài năm, ông Trương ốm, bệnh ngày một nặng. Biết sắp lâm nguy, ông già bèn viết hai tờ di chúc, một tờ đưa cho vợ là Lỗ thị, dặn rằng:
- Tôi chỉ vì con gái và con rể bất hiếu nên mới lấy thêm cô về may mà trời thương, đẻ được con trai. Tôi vốn định giao hết gia tư điền sản cho thằng bé song nó còn bé quá, vả cô lại là đàn bà, không thể tự gánh vác, trông nom nhà cửa được. Tôi bất đắc dĩ phải giao cho con rể quản lý, song nếu tôi nói rõ nó sau này phải trao trả cho con trai thì lại sợ thằng rể ngầm tính kế hại con mình, vì thế trong di chúc tôi gài một câu đố có hai cách giải. Cô hãy cất giữ thật kỹ, đợi khi nào con lớn lên thành người thì đưa ra nhờ công lý phân xử, may gặp được quan thanh liêm sáng suốt, ắt ông ấy có chủ trương riêng.
Lỗ thị theo lời cất kỹ tờ di chúc. Rồi ông Trương cho gọi con gái, con rể vào dặn dò mấy câu và đưa tờ di chúc thứ hai cho chúng. Người con rể nhận lấy, mở ngay ra đọc:
"Trương Nhất Phi con trai ta, gia tài giao hết con rể, người ngoài không được tranh chiếm".
Con rể xem xong cả mừng, liền trao cho vợ cất giữ. Ông Trương đưa tiền dành riêng của mình cho hai mẹ con Lỗ thị tiêu dùng hàng ngày, lại thuê một căn phòng cho hai mẹ con ở. Mấy ngày sau, bệnh càng nặng, ông cụ qua đời.
Sau khi chôn cất bố vợ xong xuôi, nghĩ đến việc gia tài bây giờ là của mình hết thảy thì cả hai vợ chồng đều dương dương đắc ý, không cần nói nhiều cũng đủ biết. Còn Lỗ thị chỉ chăm nuôi dạy con trai. Dần dần thằng bé cũng đã trưởng thành. Nhân nhớ đến tờ di chúc, Lỗ thị bèn dẫn con trai đến cửa quan trình bày. Quan nghe nói bức di chúc do chính tay ông già viết, và đã viết như thế thì toàn bộ tài sản là của con rể. Hơn nữa anh con rể nhờ có tiền lo lót nên chẳng ai chịu phân xử cho hai mẹ con. Họ hàng và bè bạn đều bất bình thay cho Trương Nhất Phi, đều nói:
- Ông Trương ốm đau lú lẫn mất rồi. Chuyện buồn cười như thế thật không ai hiểu nổi!
Một thời gian sau, có ông huyện mới được chuyển đến. Ông này rất giỏi. Lỗ thị lại dẫn con đến huyện đường trình bày rõ:
- Chồng tôi trước khi mất có dặn rằng trong di chúc có ngầm gài câu đố đấy ạ.
Quan huyện giở di chúc ra coi, coi xong thì vỡ lẽ, bèn sai người cho gọi con gái, con rể cùng họ hàng phụ lão ở địa phương của ông Trương đến huyện. Tri huyện bảo anh con rể:
- Cha vợ anh thật là người thông minh, trí tuệ. Nếu không có tờ di chúc này thì suýt nữa gia tư điền sản bị anh chiếm hết. Hãy nghe ta đọc đây:
Trương Nhất Phi con trai ta, gia tài giao hết. Con rể người ngoài, không được tranh chiếm".

Lập tức quan nâng bút phê vào tờ di chúc, gia tài thuộc cả về Trương Nhất Phi. Mọi người đều chúc mừng người con trai rồi ra về. Đến lúc này mọi người mới hiểu, ngay từ lúc đặt tên cho con trai, ông già Trương đã tính đến nước cờ này rồi.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5932
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Wed Mar 26, 2014 6:28 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 22
Nhờ Vế Đối Tìm Ra Thủ Phạm
Trịnh Bản Kiều (1693-1765) tên chữ Khắc Nhu, ở Giang Tô là người giỏi văn chương và giỏi vẽ, nhưng thi cử lận đận; mãi tới hơn bốn mươi tuổi mới đỗ tiến sĩ, được trao chức quan thất phẩm là một chức quan "nhỏ như hạt vừng". Tuy vậy, lúc nào ông cũng nghĩ đến dân, việc gì cũng cẩn thận, lo lắng làm đến nơi đến chốn. Bài thơ của ông sau đây chính là thể hiện tinh thần đó:
Xào xạc tre đưa nơi nhiệm sở,
Ngờ dân lên tiếng tố oan khiên.
Bọn mình thư lại dù quan nhỏ,
Một lá cành kia chớ bỏ quên.
Truyền rằng sau khi ông được làm quan huyện, ông từng dùng phương thức trưng cầu vế đối mà phá được một vụ án oan, cứu một người học trò thật thà khỏi tội chết.
Năm ấy, Trịnh Bản Kiều tới nhận chức, dân chúng nghe nói ông là một vị quan thanh liêm, xét án công minh nên đều ngóng trông. Trước cửa huyện nha, người đứng đông đặc chờ đón quan huyện mới; có người muốn xem phong thái, mặt mũi quan như thế nào, có người chờ để kêu oan. Thấy cảnh đó, Trịnh Bản Kiều biết ngay trách nhiệm của mình rất nặng nề, sau khi đến nhận chức được một ngày, việc đầu tiên ông làm là xem hồ sơ những vụ trọng án sắp xử trảm vào mùa thu tới. Có một hồ sơ viết: "Thư sinh Vương Sinh Tân sau ngày cưới một hôm đã giết chết vợ, bị khép vào tội tử hình vì giết người. Vương đã nhận tội giết vợ mới cưới". Hồ sơ không nói gì về việc chú rể tại sao giết cô dâu và giết như thế nào, chỉ nói cô dâu bị giết trong phòng, ngoài ra không có chứng cớ gì khác.
Quan huyện Trịnh Bản Kiều càng nghĩ càng thấy vụ này khó hiểu nên quyết định tra lại vụ án. Ông cho gọi Vương Sinh trong nhà ngục tử tù ra tra hỏi. Khi ngục tốt đưa Vương Sinh đến, Trịnh Bản Kiều thấy thư sinh này mặt mũi hiền lành, nho nhã đoan trang, không hề có chút gì giống với bọn giết người, đốt nhà cả. Ông liền hỏi:
- Nhà ngươi làm sao lại giết chết vợ mới cưới? Giết như thế nào?
Chàng kia chỉ cúi đầu sụt sùi mà không trả lời, bởi chàng đã cung khai như trong hồ sơ, nay sợ nói khác đi sẽ bị roi hèo đánh đập chịu không nổi.
Trịnh Bản Kiều hiểu rõ cách thức xét hỏi rồi kết án ở nha môn là nếu ai bị bắt mà không chịu cung khai thì sẽ bị đánh rất dữ, bởi vậy nhiều người đã phải khai bừa. Vương Sinh này hẳn cũng bị đánh đau nên đã khai bừa, cho nên ông ôn tồn bảo:
- Nhà ngươi có oan khuất gì cứ nói ra, kể lại từ đầu cho rõ bản quan sẽ phân xử. Nếu có gì khác với lần khai trước cũng không ngại.
Nghe quan nói thế, Vương Sinh vẫn còn bán tín bán nghi, chưa dám hé răng. Một viên lại già đứng gần đấy bảo chàng:
- Đại quan đã nói sẽ xử công minh cho anh, sao anh còn không nói? Quan lớn mới đến nhận chức, là vị quan liêm chính công minh...
Nghe nói vậy, Vương Sinh nghĩ việc đã đến lúc này, có chết thì cũng sắp bị chết, thôi thì cứ khai thật, biết đâu được giải oan, bèn cung khai:
- Bẩm quan lớn, tiểu sinh lấy vợ họ Lý là một tài nữ dòng dõi thư hương. Vợ con từ nhỏ đã học thi thư, xuất khẩu thành chương. Ngày cưới của chúng con, đêm ấy khi đám khách trêu chọc cô dâu mới cưới đã về hết, con trở lại phòng thì cửa đã đóng, vợ con ra một câu đối, nếu đối được thì nàng mở cửa, nếu không đối được thì ngủ ngoài cửa. Con bảo "Được!", vợ con liền ra vế đối:
Hảo, hảo, hảo, duyệt tận thế văn chương tri điệu
(Hay, hay, hay, đọc hết văn đời mới biết điệu)
Trong vế đối này có ba chữ nhắc lại, con suy nghĩ và hiểu ra ý nàng mong con sau này cưới đừng bịn rịn gia đình mà nên cố gắng học tập để đạt được công danh, nên con đối lại là:
Cần, cần, cần, đãi văn độc thư bất đoạn thanh
(Chăm, chăm, chăm, đợi nghe đọc sách chẳng ngưng tiếng)
Vợ con thấy câu đối thì vừa lòng lắm, nói: "Quan nhân đã hiểu được nỗi dụng tâm của thiếp và hiểu ra mai ngày phải hành động như thế nào là điều thật may mắn cho thiếp. Nhưng xin quan nhân hãy đối thêm câu nữa!". Thế là vợ con ra vế trên:
Kim nhật đồng đăng phượng hoàng đài
(Hôm nay cùng lên đài phượng hoàng)
Con vừa nghe vế đối ấy đã thấy rất hay lại sâu sắc nữa. Người xưa cho phượng hoàng là loài chim mang điềm lành. Con đực là phượng, con cái là hoàng. Vế đối của vợ con vừa có ý mong vợ chồng hài hòa như phượng hoàng lại vừa có ý mong con sau này đạt được nguyện ước vẻ vang. Thế là con bèn đối:
Tha niên độc chiếm kỳ lân các
(Năm sau riêng chiếm gác kỳ lân)
Con muốn tỏ cho nàng biết con cũng có hùng tâm tráng chí là ngày sau đạt được công danh to lớn để tên được ghi trên gác Kỳ Lân như các bề tôi giỏi giang thủa xưa. Không hiểu do vợ con đang đứng ra câu đối hay là còn muốn thử tài chồng thêm nữa, nàng lại ra thêm vế đối thứ ba:
Di ỷ ỷ đồng đồng vọng nguyệt
(Xích ghế tựa ngô đồng cùng trông trăng)
Vợ con nhìn cảnh sinh tình mà ra vế đối này. Hôm ấy là rằm trung thu, sân nhà con có hai cây ngô đồng, lúc ấy trăng sáng giữa trời khiến vợ con dạt dào thi hứng. Vế đối ra chẳng những có tình thơ ý họa mà chữ ra được vận dụng rất thông minh tinh tế. Ỷ là ghế đồng âm với ỷ là tựa, đồng là ngô đồng đồng âm với đồng là cùng. Như vậy vế đối cũng phải có hai cặp chữ đồng âm như thế. Con nghĩ một lúc lâu mà không nghĩ ra, vừa buồn vừa ngượng, con trở ra thư phòng qua đêm mà không được động phòng với vợ con.
Sáng hôm sau, vì hôm qua không đối được câu thứ ba nên con tới gặp vợ mà lòng buồn phiền, luôn miệng lẩm bẩm: "Di ỷ ỷ đồng đồng vọng nguyệt". Vợ con thấy vậy bèn hỏi: "Lang quân, đêm hôm qua chàng chẳng đối được là gì? Còn buồn phiền, lẩm nhẩm gì thế?”. Con đáp: "Tôi ngồi trong nhà học nghĩ suốt đêm mà không nghĩ ra, nên ngượng không dám vào phòng". Vợ con nghe nói thế, thần mặt ra quay luôn vào phòng. Con cũng không chú ý, ăn cơm trưa xong lại ra ngồi ở nhà học. Đến tối, người nhà mới chạy tới báo tin vợ con treo cổ tự tử ở trong buồng. Con tức khắc sai người sang báo cho nhạc phụ nhạc mẫu, bên ấy liền thưa lên quan, bảo con giết vợ con, thế là lính huyện bắt con vào ngục. Quan huyện ra lệnh giải con lên công đường tra hỏi, con nói con không hề hại vợ nhưng quan không tin, thế là nọc luôn con ra đánh. Con không chịu nổi đau đớn phải nhận là giết vợ, quan huyện khép vào tội giết người phải đền mạng. Con quả thực không giết vợ, cúi xin quan lớn minh oan cho con.
Nghe Vương Sinh kể hết đầu đuôi, Trịnh Bản Kiều thấy trong vụ này ắt có điều lắt léo liền sai người hãy giải Vương Sinh về nhà lao và bảo:
- Vương Sinh, ngươi hãy về nhà giam, ta còn phải báo với quan trên xin hoãn thi hành án để tra xét kỹ từ đầu.
Lời khai của Vương Sinh để lại nỗi nghi ngờ lớn trong óc Trịnh Bản Kiều: chàng rể vì sao lại giết cô dâu ngay ngày hôm sau? Chợt ông nhớ tới lời người vợ hỏi Vương Sinh ngày hôm sau: "Lang quân, đêm hôm qua chàng chẳng đối được là gì?". Ông cảm thấy đây là đầu mối của vụ án, quyết định điều tra từ vế đối.
Tuy vậy, vợ Vương Sinh đã chết, không biết cái kẻ thừa dịp chiếm vợ người đã đối vế dưới ra sao mà vào được buồng? Không biết được điều này, làm sao tra ra vụ án?
Tối hôm ấy, sau khi ăn cơm xong
, Trịnh Bản Kiều đi tới đi lui trong sân nhà Vương Sinh, suy nghĩ cách phá án. Đi một lúc mỏi chân, ông dừng lại bên cây ngô đồng, ngẩng đầu nhìn trời. Bỗng thấy trong phòng học phía trên cao có cậu học trò đốt đèn mang lên đó học. Trước cảnh đó, trong óc ông bật ra vế đối hoàn chỉnh:
Đẳng đăng đăng các các công thư
(Đợi đèn lên gác ai nấy đọc sách)
Vế đối này thật là một cặp trời sinh với vế ra của cô dâu: đăng là đèn, đồng âm với đăng là lên; các là gác, đồng âm với các là ai nấy. Thế là ngày hôm sau, Trịnh Bản Kiều sai người ra các phố huyện dán cáo thị, nói nếu ai đối được vế Di ỷ ỷ đồng đồng vọng nguyệt thì ông sẽ nhận làm cháu nuôi, được ông tiến cử với quan chấm thi trong kỳ thi Hương tới... Chỉ sau một loáng, nhiều thư sinh đã kéo nhau tới xem cáo thị, nhưng đều chịu không đối được, buồn thiu kéo nhau ra về. Chợt có một thư sinh trẻ tuổi vỗ tay nói:
- Tôi đối được rồi!
Nha dịch đưa thư sinh kia về gặp quan huyện. Quan hỏi họ tên, học ở đâu, thầy dạy là ai. Thư sinh kia đáp:
- Tiểu sinh họ Đông Quách, tên Lượng, học ở Vương Trang, thầy dạy là Vương Thái Hòa.
Thì ra nơi học và thầy dạy của Đông Quách Lượng cũng chính là nơi học và thầy dạy của Vương Sinh Tân. Trịnh Bản Kiều lại hỏi:
- Trong lớp học của các anh có một người tên Vương Sinh Tân anh có biết không? Nghe nói cưới vợ hôm trước, hôm sau anh ta đã giết vợ, anh có biết không?
Nghe hỏi, đột nhiên Đông Quách Lượng tái mét mặt, người run bần bật, không nói được câu nào. Thấy vậy, Trịnh Bản Kiều biết chắc người này là thủ phạm, bèn đập bàn quát:
- Ngươi đã giết vợ mới cưới của Vương Sinh ra sao, khai mau:
Đông Quách Lượng tham lam nên hớ hênh lộ tẩy, lại sợ bị đánh nên khai ra ngay:
- Đêm hôm cưới, thấy Vương Sinh trở lại nhà học, chúng con hỏi mới biết chuyện anh ấy không đối được vế ra của vợ nên vợ không cho vào động phòng. Con thấy đây là thời cơ bèn chờ đến đêm khuya mới tới cửa buồng đọc vế đối, cô dâu nghe xong mở cửa, con mạo nhận là chú rể và thành thân với nàng...
Thế là đã rõ: sáng hôm sau khi biết đêm qua chồng mình ngủ lại ở nhà học, biết có kẻ thừa dịp thành thân với mình, cô dâu hối hận đã để mất tiết trinh nên đã tự treo cổ tự tử.

Trịnh Bản Kiều làm quan công minh, xét án rõ ràng, bắt đúng người đúng tội, giải được nỗi oan cho Vương Sinh khiến dân chúng xa gần đều phục.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5932
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Wed Mar 26, 2014 6:29 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 23
Ba Lần Hiện Thân, Bao Long Đồ Xử Vụ Án Oan
Giữa năm Nguyên Hựu nhà đại Tống, có quan Thái thường đại khanh họ Trần tên á, vì không đánh trúng được Trương Tư Hậu phải đổi đi làm An phủ sứ coi giữ Giang Đông kiêm Tri phủ phủ Kiến Khang. Một hôm cùng các quan uống rượu trên đình sát mé sông, chợt nghe ngoài đình có người rao to:
- Không dùng ngũ hành tứ trụ, biết được họa phúc hưng suy đây!
Quan đại khanh hỏi:
- Người nào mà dám nói như vậy.
Các quan có người biết đáp:
- Đấy là thầy bói ở Kim Lăng tên gọi Biên Cổ.
Quan đại khanh bảo:
- Gọi vào đây cho ta!
Tức thì các quan gọi vào tới cửa, chỉ thấy:
Mũ nát không vành,
Lam lũ áo quần
Mắt mù tóc bạc,
Gù cả thân hình.
Biên Cổ tay cầm gậy tre bước vào, vái dài một tiếng rồi lần tìm bậc thềm ngồi xuống. Quan lớn giận mắng:
- Ngươi mù lòa, đã không đọc được sách thánh hiền đời xưa thế mà lại dám tự cao khinh cả ngũ hành hay sao?
Lão mù đáp:
- Dạ bẩm tôi có thể nghe tiếng giản hốt mà biết tiến lui, lắng tiếng giày dép mà biết phân biệt sống chết đấy ạ.
Quan lớn hỏi:
- Ngươi bói có nghiệm đúng không. . .
Chưa nói hết câu thì trên sông có một chiếc thuyền hoa, tiếng mái chèo vang lên từ thượng lưu xui xuống. Quan lớn bèn hỏi lão mù xem họa phúc của chủ thuyền như thế nào. Lão mù đáp:
- Tiếng mái chèo có vẻ đau buồn, trong thuyền thế nào cũng chở quan tài của bậc đại quan.
Quan lớn sai người đi hỏi, quả nhiên quan Lang trưng họ Lý thống lĩnh quân Lâm Giang qua đời ở nhiệm sở, thuyền chở linh cữu ông về quê. Quan lớn thất kinh nói:
- Giả sử Đông Phương Sóc đời Hán có sống lại cũng không hơn được nhà ngươi!
Bèn ban cho mười chén rượu, mười lạng bạc rồi cho đi.
Ông già mù ấy nghe tiếng chèo thuyền mà biết họa phúc, nay xin kể chuyện một ông bán thẻ, họ Lý tên Kiệt, người phủ Khai Phong ở Đông Kinh. Trước cửa huyện Phụng Phù phủ Duyên Châu, ông mở một cửa hàng xem bói, ngoài cửa treo thanh bảo kiếm Thái A dán bằng giấy kim tuyến, dưới kiếm là biển chào hàng, viết rằng: "Chém những kẻ cùng nghề vô học trong thiên hạ”. Ông thầy bói này quả là nắm vững việc âm dương.
Hôm ấy treo biển chào hàng xong, thầy bói thấy một người bước ngay vào. Người này ăn mặc thế nào? Lưng sắn xòa khăn đội đầu, người mặc hai lần áo đen, ngang lưng thắt dây đai tơ, chân dận đôi giày và tất sạch sẽ, trong túi áo bỏ một cuộn giấy tờ. Người ấy cùng ông thầy có thanh kiếm vàng vái chào nhau xong thì nói năm sinh tháng đẻ để thầy bày quẻ ra bói. Chỉ thấy ông thầy nói:
- Số này không xem được đâu.
Người đến xem bói là viên áp ty số một của huyện Phụng Phù, họ Tôn tên Văn. Áp ty hỏi:
- Sao lại không chịu bói cho ta ?
Ông thầy đáp:
- Bẩm quan, số này khó bói lắm.
Áp ty hỏi:
- Sao lại khó bói?
Ông thầy đáp:
- Nếu ngài có hơi men thì không nên xem, hoặc nếu ngài còn bệnh lỗi lầm thì cũng không nên bói.
Áp ty nói:
- Ta chưa uống rượu mà cũng không bệnh lỗi đâu.
Ông thầy bói:
- Xin cho biết ngày sinh tháng đẻ lại lần nữa kẻo có lầm lẫn.
Áp ty nói lại ngày sinh tháng đẻ, ông thầy bày quẻ lại lần nữa, nói:
- Bẩm quan, thôi đừng xem nữa.
- Ta không kiêng đâu, cứ nói, không hề gì. - Áp ty nói.
- Tượng quẻ xấu lắm ạ. - Ông thầy nói xong thì viết bốn câu rằng:
Ngày sau Bạch Hổ chiếu
Chiếu tới họa không sai. Sáng mai đúng giờ Sửu,
Cả họ thảy bi ai.
Áp ty đọc xong hỏi:
- Quẻ này nói họa phúc như thế nào?
Ông thầy đáp:
- Thực không dám giấu, quẻ này báo ngài sẽ chết.
- Bao năm nữa sẽ chết?
- Thưa ngài năm nay thì chết.
- Tháng mấy năm nay thì chết?
- Thưa ngài, tháng này năm nay thì chết.
- Thế thì ngày nào tháng này năm nay ta chết?
- Thưa ngài ngày hôm nay ngài sẽ chết ạ.
- Vào giờ nào, sớm hay muộn?
Thưa ngài, giờ Tí canh ba lẻ ba ngày hôm nay ngài sẽ chết.
Áp ty nói:
- Được nếu đêm nay chết thật thì chẳng có chuyện gì hết, nhược bằng không chết thì ngày mai sẽ nói chuyện với lão tri huyện đấy!
Ông thầy nói:
- Nếu đêm nay ngài còn sống thì sáng mai xin quan cứ đến lấy thanh kiếm chém kẻ cùng nghề vô học kia mà chém phăng đầu kẻ hèn này đi.
Áp ty nghe nói bất giác lửa giận bốc lên, lòng căm trỗi dậy, lôi tuột ông thầy bói ra khỏi cửa hàng. Chuyện này biết tính sao đây?
Chợt có mấy người làm việc từ huyện đường bước ra ngăn Tôn áp ty, hỏi có chuyện gì. áp ty đáp:
- Chuyện gì à? Tôi bói chơi một quẻ, thế mà lão bảo tôi ắt chết vào lúc canh ba lẻ ba đêm nay! Tôi chẳng có bệnh tật làm sao mà canh ba lẻ ba đêm nay lại chết được? Phải lôi lão vào huyện để xử cho ra lẽ mới được.
Mấy người kia can:
- Nếu tin bói thì có mà bán cả nhà. Sức mấy mà tranh cãi với mồm mép xem bói kiếm ăn kia chứ!
Mấy người khuyên giải Tôn áp ty đi rồi mới quay lại trách ông thầy bói:
- Này thầy Lý, thầy gây chuyện với vị áp ty nổi tiếng đó, nghe chừng không thể bói ở đây được nữa đâu. Xưa nay, nghèo dễ bói, hèn dễ bói, chỉ có tuổi thọ là khó bói mà thôi. Thầy chẳng phải bố Diêm Vương, cũng chẳng phải anh của Phán quan, sao có thể đoán sống chết đúng phăm phắp từng ngày từng giờ như thế được? Có nói thì cũng phải nói áng chừng thôi chứ!
Ông thầy đáp:
- Nếu muốn lấy lòng người ta thì quẻ đúng sao đượcCòn nếu nói thật thì lại bị trách mắng! Thôi chỗ này đã không chấp nhận thì ắt có chỗ khác chấp nhận?
Nói xong, thở dài rồi dọn dẹp cửa hàng, dọn đi nơi khác.
Lại nói Tôn áp ty tuy được mọi người khuyên giải song trong lòng vẫn thấy khó chịu. Hôm ấy, sau khi ký nhận xong giấy tờ ở huyện về nhà, áp ty thấy lòng buồn bực. Vợ áp ty thấy chồng mặt ủ mày chau thì hỏi:
- Có chuyện gì phiền não thế ông? Hẳn là giấy tờ trong huyện có gì khó xử chăng?
- Không đâu, mình đừng hỏi nữa? - áp ty đáp.
- Hay là hôm nay ông bị quan huyện quở trách? - Vợ lại hỏi.
- Không phải mà!
- Hay là ông cãi nhau với ai đó chăng?
Áp ty đáp:
- Cũng không phải. Hôm nay tôi đến cửa huyện bói một quẻ thầy bói lại bảo đúng canh ba lẻ ba đêm nay là tới số phải chết.
Vợ áp ty nghe nói thế thì mày liễu dựng ngược, mắt phượng xoe tròn, nói:
- Làm sao một người đang yên lành mà đêm nay lại chết được? Sao ông không lôi lão vào huyện mà kiện?
Áp ty đáp:
- Tôi có lôi đi đấy nhưng mọi người đều can.
Người vợ bảo:
- Này mình, mình cứ ở nhà nghỉ ngơi. Thường ngày hễ có việc gì, tôi đều thay mình tự đến kêu với quan huyện, hôm nay tôi sẽ đi tìm lão thầy bói đó cho mình để hỏi xem chồng tôi không nợ nần gì, với công tư hai bề, lại cũng không mắc mớ gì với việc quan, làm sao có thể chết vào lúc canh ba lẻ ba đêm nay được?
Áp ty nói:
- Mình đừng đi vội. Đợi đêm nay nếu tôi không chết thì ngày mai tôi sẽ nói chuyện với lão còn hơn là mình can thiệp vào.
Thấy trời đã tối, áp ty bảo vợ:
- Mình hãy dọn mấy chén rượu ra uống cái đã. Đêm nay tôi không ngủ, uống để cho qua hết đêm nay.
Uống ba chén hai chung thì áp ty đã say mềm, mắt lơ mơ ríu lại, ngủ gật trên ghế bành. Người vợ gọi:
- Mình ơi, sao lại ngủ thế này?
Bèn gọi con hầu Nghênh Nhi, sai:
- Này, đánh thức ông dậy đi!
Nghênh Nhi đến bên đánh thức song không tỉnh, lại gọi một hồi cũng không thưa. Vợ áp ty bèn bảo:
- Nghênh Nhi, tao với mày vực ông vào phòng cho ông ngủ.
Nếu có người cùng tuổi, cùng lớn lên với nhau, ôm chặt lấy lưng, gạt tay trở lại để mà nói chuyện thì Tôn áp ty chỉ uống rượu tiêu khiển qua đêm chứ ngàn lần không nên lên giường mà ngủ. Chính vì ngủ trên giường mà Tôn áp ty chết đúng vào đêm ấy ngày ấy tháng ấy năm ấy, chết không được bằng Lý Tồn Hiếu trong Ngũ đại sử và Bành Việt trong Hán thư.Thật đúng là:
Gió thu thổi lá ve hay trước
Tiễn quỉ Vô Thường chết chẳng hay.
Vợ áp ty thấy chồng ngủ say, bảo Nghênh Nhi xuống bếp tắt hết đèn đóm củi lửa rồi hỏi:
- Mày có nghe ông mày nói hôm qua ông thầy bói bảo ông mày chết vào canh ba đêm nay không?
Nghênh Nhi đáp:
- Thưa bà, Nghênh Nhi cũng có nghe ông nói thế nhưng làm gì có chuyện đó?
Vợ áp ty bảo:
- Nghênh Nhi, tao với mày đem mấy thứ ra khâu, đợi xem ông có chết hay không. Nếu đêm nay không chết, ngày mai sẽ nói chuyện với lão thầy bói đó. Mày đừng có mà ngủ đấy nhé!
- Con đâu dám ngủ? - Nghênh Nhi đáp.
Nói chưa dứt lời, Nghênh Nhi đã ngủ gật. Vợ áp ty gọi:
- Nghênh Nhi, tao dặn mày đừng ngủ, sao mày lại ngủ thế?
- Dạ, con không ngủ đâu ạ!
Nói xong, Nghênh Nhi lại ngủ. Vợ áp ty gọi cho tỉnh rồi hỏi bây giờ là canh mấy. Nghênh Nhi lắng nghe tiếng trống cầm canh ở huyện đường đánh đúng canh ba lẻ ba. Vợ áp ty bảo:
- Nghênh Nhi, đừng có ngủ đấy nhé! Giờ này đúng lúc nghiêm trọng đấy.
Nhưng Nghênh Nhi lại ngủ tiếp, gọi cũng chẳng thưa. Chợt nghe tiếng áp ty từ trên giường nhảy xuống đất rồi ra mở cửa giữa. Vợ áp ty vội vàng gọi Nghênh Nhi dậy châm đèn lên coi thì lại nghe tiếng cổng lớn mở. Nghênh Nhi và vợ áp ty cầm đèn đuổi theo thì thấy một người mặc áo trắng giơ một tay lên che mặt ra khỏi cổng nhảy đánh ùm một cái xuống sông huyện Phụng Phù. Thật là:
Việc đà chẳng thể quay đầu lại,
Hết thảy trôi xuôi mặc gió đông.
Con sông này thông thẳng với sông Hoàng Hà, nước chảy cuồn cuộn, làm sao mà vớt được xác! Vợ áp ty và Nghênh Nhi đứng bên bờ sông gào khóc.
- Áp ty ơi áp ty sao ông lại nhảy xuống sông để hai chúng tôi biết dựa vào ai bây giờ?
Tiếng gào khóc đó lập tức khiến bốn nhà láng giềng chạy tới. Bà Điêu nhà ở phía trên, bà Mao nhà ở phía dưới, bà Bao, bà Bào nhà ở đối diện đều chạy tới. Vợ áp ty kể lại sự việc trên cho họ nghe. Bà Điêu nói:
- Thật có chuyện kỳ lạ đến thế ư?
Bà Mao nói:
- Ban ngày tôi còn thấy áp ty mặc áo đen, giấy tờ bỏ trong tay áo mang về nhà, già này còn chào hỏi áp ty nữa kia.
Bà Cao tiếp lời:
- Đúng thế, tôi cũng chào hỏi áp ty nữa đấy!
Bà Bào nói thêm:
- Ông nhà tôi sáng hôm nay tới huyện làm việc thấy áp ty đang kéo ông thầy bói, lúc về nhà ông ấy kể như vậy. Ai có ngờ đâu bây giờ lại chết thật!
Bà Điêu lại nói:
- Áp ty ơi, sao ông không bảo cho hàng xóm láng giềng chúng tôi biết mà đã vội chết thế!
Nói xong ứa hai hàng nước mắt. Bà Mao cũng khóc theo:
- Cứ nghĩ đến bao nhiêu điều tốt của áp ty, ai mà không đau buồn cho được!
Bà Bào kể lể:
- Áp ty ơi, bao giờ lại được trông thấy ông đây?
Lúc này địa phương đã trình lên quan, vợ áp ty cũng bận lo sắp sửa đồ cúng lên chùa siêu độ cho vong linh.
Thấm thoát bấm đốt ngón tay đã qua ba tháng. Một hôm vợ áp ty và Nghênh Nhi đang ngồi nhàn ở nhà thì thấy hai người đàn bà mặt đỏ bừng hơi men, người đi trước xách một chai rượu, người đi sau cầm hai đóa hoa thông thảo, vén màn cửa bước vào nói:
- Tới nơi rồi đây!
Vợ áp ty nhìn ra thì là hai bà mối, một họ Trương, một họ Lý. Vợ áp ty lên tiếng:
- Đã lâu không gặp hai bà!
Hai bà kia nói:
- Bà áp ty có việc buồn, chúng tôi trước đây không biết nên không đem vàng hương đến viếng, xin miễn thứ cho! Không biết đến nay ông nhà mất đã bao lâu rồi?
Vợ áp ty đáp:
- Hôm trước đã làm lễ cúng trăm ngày rồi.
Hai bà kia nói:
- Nhanh quá nhỉ, đã được trăm ngày rồi. Hồi còn sống, áp ty quả là người tốt. Có lúc già tôi đây gặp ông chào hỏi, ông vội vàng đáp lễ ngay. Bây giờ ông mất đã chừng ấy ngày rồi, trong nhà vắng vẻ, cũng nên nói đến chuyện đi bước nữa rồi đấy.
Vợ áp ty đáp:
- Không biết ngày nào năm nào mới lại sinh ra được một người như Tôn áp ty chồng tôi!
Bà mối nói:
- Như thế thì có gì là khó. Già tôi đây biết có một đám tốt lắm.
- Thôi đừng nói nữa, sao có người được đúng như chồng trước của tôi đây! - Vợ áp ty nói.
Hai bà mối uống trà rồi ra về. Mấy ngày sau lại đến nói chuyện mối mai. Vợ áp ty nói:
- Hai bà thôi đừng một mực nói chuyện mai mối nữa. Nếu các bà thuận theo ba điều kiện của tôi sau đây thì hãy đến, bằng không thì cả đời này đừng bao giờ nhắc đến nữa, tôi thà ở góa sống qua ngày còn hơn.
Ngay sau đó, vợ áp ty mở miệng nói ra ba điều kiện. Hẳn là có duyên đụng phải oan gia năm trăm năm đời trước nên sau này cả đôi mới mắc vòng hình phạt của phép nước đấy thôi. Thật là:
Tần tướng mê hươu khôn biện giải,
Trang Chu mơ bướm hẳn chưa chừng.
Hai bà mối hỏi:
- Ba điều đó là ba điều gì?
Vợ áp ty nói:
- Điều thứ nhất, người chồng đã khuất của tôi họ Tôn, nay cũng phải là người họ Tôn thì tôi mới chịu. Điều thứ hai, chồng trước của tôi là áp ty đệ nhất danh của huyện Phụng Phù, nay người ấy cũng phải có chức vị ngang như thế. Điều thứ ba, tôi không về nhà người ta mà người ta phải đến ở đây.
Hai bà mối nghe xong, nói:
- Hay quá, bà nói muốn đi bước nữa với một người họ Tôn, có chức vị như chồng trước và phải đến ở đây chứ gì! Nếu là những điều khác thì còn phải suy tính chứ chỉ ba điều này thôi thì già đây xin thuận hết. Xin nói để bà áp ty biết, áp ty nhà ta là áp ty đệ nhất danh của huyện Phụng Phù, thường gọi là áp ty Tôn Lớn, nay người chúng tôi đến làm mối vốn là áp ty đệ nhị danh ở huyện Phụng Phù. Áp ty Tôn Lớn đã mất, ông ta có dịp thế chức ấy để thành đệ nhất danh áp ty. Ông này là áp ty Tôn bé, chịu đến ở rể nhà đây. Chúng tôi làm mối ông áp ty Tôn Bé đấy, bà có ưng không.
Vợ áp ty nói:
- Tôi không tin lại vừa khéo đến thế!
Bà mối họ Trương thề:
- Già này năm nay bảy mươi hai tuổi rồi. Nếu già nói sai, xin biến thành bảy mươi hai con chó cái ăn c... cho nhà bà?
Vợ áp ty xuôi lòng:
- Nếu quả như thế, phiền bà làm mối giúp, không biết duyên phận thế nào!
- Hôm nay là ngày tốt, xin cho tờ danh thiếp đoàn viên lấy may, - bà mối họ Trương nói.
- Tôi không mua sẵn để ở nhà. - Vợ áp ty nói.
- Tôi có mang theo đây? - Bà mối họ Lý nói rồi lấy trong áo ngực ra một tờ giấy hoa tiên có hình năm nam hai nữ. Thật là:
Tuyết náu uyên ương, bay mới biết,
Liễu buồn anh vũ, hót thời hay.
Ngay lúc ấy, vợ áp ty sai Nghênh Nhi lấy bút nghiên. Thiếp viết xong, hai bà mối nhận lấy ra về. Sau đó tất nhiên là đưa tiền, nạp lễ, qua lại đưa tin. Chưa đầy hai tháng thì nhận áp ty Tôn Bé vào ở trong nhà.
Đôi vợ chồng này thật là vừa một đôi, quả nhiên rất hợp nhau. Một hôm cả hai uống rượu say, sai Nghênh Nhi nấu một bát canh ăn cho tỉnh luôn. Nghênh Nhi xuống bếp vừa nhóm lửa vừa lẩm bẩm oán trách:
- Áp ty ngày trước khi còn sống, sớm muộn gì mình cũng đã được đi ngủ rồi, nay lại bắt mình nấu canh ăn cho giã rượu!
Thấy cái ống thổi lửa bị tắc, lửa không bén, Nghênh Nhi cúi xuống dộng cái ống thổi vào nền bếp. Dộng chưa được mấy cái thấy lòng bếp từ từ trồi lên, cách mặt đất chừng một thước ta, từ đấy nhô lên một đầu người đội lòng bếp, cổ tròng sợi dây kéo nước giếng, tóc xõa lòa xòa, lưỡi thè lè, mắt ứa máu, gọi thành tiếng: "Nghênh Nhi, con kêu oan giúp ông với?". Nghênh Nhi sợ quá hét lên một tiếng rồi ngã vật xuống đất. Mặt vàng khè, mắt lờ đờ, môi tím tái, móng tay xanh, không biết ngũ tạng Nghênh Nhi như thế nào chứ chân tay thì không động cựa nữa. Thật là:
Mệnh tựa canh năm trăng ló núi,

Thân như giờ Tí bấc khô dầu.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5932
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Wed Mar 26, 2014 6:30 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 23 (B)
Hai vợ chồng vội vàng đến cứu cho Nghênh Nhi tỉnh lại, kiếm ít thuốc an thần định phách cho uống, rồi vợ áp ty hỏi:
- Vừa nãy mày trông thấy gì mà ngất đi thế?
Nghênh Nhi đáp:
- Thưa bà, vừa nãy con nhóm lửa trên bếp, thấy lòng bếp từ từ trồi lên rồi thấy ông nhà ta khi trước, cổ tròng dây kéo nước, mắt ứa máu, tóc xõa ra gọi "Nghênh Nhi" thế là con sợ quá ngã ra.
Vợ áp ty nghe thấy thế thì tát ngay cho Nghênh Nhi mấy cái, mắng:
- Con ranh này, bảo mày nấu ít canh giã rượu, mày cứ nói là ngại nấu đi cũng thôi, sao còn giả vờ làm ra vẻ nửa sống nửa chết thế? Thôi không phải nấu nữa, dập lửa đi rồi mà ngủ!
Nghênh Nhi theo lời đi ngủ.
Lại nói hai vợ chồng về đến phòng thì vợ áp ty khẽ nói:
- Anh Hai này, con bé ấy đã trông thấy rồi, không dùng được nữa đâu, cho nó ra khỏi nhà mình đi.
Tôn Bé hỏi:
- Cho nó đi đâu được?
- Em sẽ có cách! - Vợ áp ty đáp.
Sáng hôm sau, cơm nước xong, áp ty Tôn Bé lên huyện làm việc quan, vợ áp ty gọi Nghênh Nhi đến bảo:
- Nghênh Nhi, con ở nhà ta cũng đã được bảy tám năm, ta cũng không thờ ơ với con, nhưng hồi này con làm việc không được như hồi ông áp ty nhà ta trước kia còn sống, xem ra ý con muốn kiếm tấm chồng có phải không.
Nghênh Nhi đáp:
- Con đâu dám mong như thế, nhưng bà định gả con cho ai đây?
Vợ áp ty chỉ vì muốn Nghênh Nhi lấy phức một người nên mới bị áp ty Tôn Lớn đòi mạng. Thật là:
Gió lặng mới hay ve rộn tiếng,
Đèn tàn thời thấy nguyệt nhòm song.
Lúc ấy không cho Nghênh Nhi quyết định, gả luôn cho một người. Người này họ Vương tên Hưng, biệt hiệu là Vương Tửu Tửu, vừa nát rượu lại mê cờ bạc. Nghênh Nhi lấy chồng chưa được ba tháng, có bao nhiêu tiền mang về đã tiêu hết sạch. Thằng cha nọ uống say thế về nhà chửi bới:
- Đồ hèn mọn đáng đòn kia! Thấy tao khổ như thế này, sao không đến hỏi vay chủ mày cho tao dăm ba trăm tiền làm vốn?
Nghênh Nhi không chịu được chửi mắng, vắt váy lên giắt vào cạp rồi đi thẳng đến nhà áp ty Tôn Bé. Vợ áp ty thấy thế hỏi:
- Nghênh Nhi, con đã lấy chồng rồi còn đến đây làm gì?
Nghênh Nhi nói:
- Thưa bà, thực con không dám giấu. Con lấy người ấy không tốt lành gì, vừa nghiện rượu lại vừa đánh bạc. Nay chưa đầy ba tháng, con có ít tiền thì chồng con đã tiêu hết sạch. Chẳng còn cách nào khác, con nói với bà xin bà cho vay năm ba trăm tiền để làm lộ phí.
Vợ áp ty nói:
- Nghênh Nhi, con lấy chồng không tốt là việc của con. Nay ta cho con vài lạng bạc, về sau đừng có mà đến nữa đấy!
Nghênh Nhi nhận lấy bạc, tạ ơn bà chủ rồi về nhà. Nào ngờ chưa được bốn năm ngày lại tiêu hết sạch. Hôm ấy, trời đã tối Vương Hưng uống rượu say mèm, bước vào thấy Nghênh Nhi liền mắng:
- Đồ hèn mọn đáng đòn kia! Mày thấy tao khổ như thế này, sao không đến nói với chủ mày lần nữa?
Nghênh Nhi đáp:
- Lần trước tôi đi vay được một vài lạng bạc đã phải nghe không biết bao nhiêu câu, lần này làm sao tôi còn đến được nữa?
Vương Hưng chửi:
- Đồ hèn mọn đáng đánh kia, mày mà không đi thì tao bẻ gãy chân mày!
Nghênh Nhi không chịu được chửi mắng đành ngay đêm ấy đến nhà áp ty Tôn Bé. Đến cổng thì cổng đã đóng, toan gọi thì lại sợ bị trách mắng, thật là tiến thoái lưỡng nan, sau đành quay về nhà. Đi qua vài ba nhà, chợt thấy một người gọi:
- Nghênh Nhi, ta cho con cái này!
Chỉ vì có người ấy mà vợ áp ty và áp ty Tôn Bé chịu bao điều phiền não. Thật là:
Rùa bơi mặt nước chia dòng biếc,
Hạc đậu ngọn tùng thấy rõ xanh.
Nghênh Nhi ngoảnh đầu lại nhìn người gọi mình, chỉ thấy dưới hiên nhà kia có một người đội khăn phốc đầu bỏ múi, mặc áo bào đỏ thắt đai, ôm một đống giấy tờ, khẽ nói:
- Nghênh Nhi, ta là áp ty ngày trước của con đây. Bây giờ ta ở nơi khác, chưa nói cho con biết được, con đưa tay đây, ta cho con cái này.
Nghênh Nhi giơ tay ra nhận lấy vật ấy, ngay sau đó không thấy người mặc áo bào đỏ thắt đai đâu nữa. Nhìn lại vật kia, thấy là một gói bạc vụn, Nghênh Nhi liền đi về nhà gọi cửa, thấy trong nhà nói vọng ra:
- Mình ơi, mình đến nhà bà chủ, sao muộn thế mới về?
Nghênh Nhi đáp:
- Nói cho anh biết, tôi đến nhà bà chủ vay gạo nhưng cổng đã đóng, tôi không dám gọi cổng sợ bị trách mắng. Khi đi trở về, thấy ông áp ty chủ cũ đang đứng dưới hiên một nhà kia, đội khăn phốc đầu bỏ múi, mặc áo bào đỏ thắt đai, ông cho tôi một gói bạc đang cầm đây.
Vương Hưng nghe nói thế thì chửi ầm lên:
- Đồ tiện tì đáng đòn kia! Mày dám bịa chuyện ma quỉ với tao à? Gói bạc của mày đáng ngờ lắm. Mày hãy vào nhà đã.
Nghênh Nhi vào nhà. Vương Hưng nói:
- Mình ơi, câu chuyện ngày trước mình kể thấy ông áp ty chủ cũ ở chỗ bếp lò, tôi vẫn còn nhớ đấy. Việc này nhất định có gì lạ đây. Tôi sợ hàng xóm nghe thấy nên cố ý chửi át đi như thế. Mình hãy cất bạc đi, ngày mai tôi vào huyện trình báo.
Thật là:
Dốc ý trồng hoa, hoa chẳng sống.
Nhàn chơi cắm liễu, liễu xanh um.
Sáng hôm sau, Vương Hưng nghĩ bụng: "Hãy khoan, có hai điều tố cáo không xong. Một là, Tôn Bé bây giờ là áp ty số một trong huyện, mình sao dám làm mất lòng ông ấy! Hai là, chẳng có chứng cớ gì, cả số bạc này cũng phải nộp quan, thế là mình đi kiện vô cớ. Chi bằng ta hãy chuộc mấy cái quần áo, mua hai hộp bánh đem biếu nhà áp ty Tôn Bé để ra mắt thử xem sao".
Suy tính xong, mua hai hộp bánh để biếu. Hai vợ chồng ăn mặc sạch sẽ đến nhà áp ty Tôn Bé. Vợ áp ty thấy hai vợ chồng ăn mặc sạch sẽ, lại có hai hộp bánh đem biếu thì hỏi:
- Anh chị lấy tiền đâu mà mua?
Vương Hưng đáp:
- Hôm qua con giúp áp ty việc giấy tờ được ông cho hai lạng bạc nên con mang hai hộp này đến biếu ông bà. Từ nay con không uống rượu, cũng không đánh bạc nữa.
Vợ áp ty nói:
- Vương Hưng, anh về trước đi, để vợ anh ở đây chơi vài ngày. Vương Hưng về rồi, vợ áp ty bảo với Nghênh Nhi:
- Ta có việc phải đi lễ tạ miếu Đại Nhạc trên Đông Phong, ngày mai ta cùng con đi nhé!
Tối hôm ấy không có chuyện gì. Sáng mai trở dậy chải dầu rửa mặt xong, áp ty Tôn Bé lên huyện, vợ áp ty khóa cửa rồi cùng Nghênh Nhi đi lễ. Tới miếu, lên điện thắp hương xong, xuống điện vào hai bên hành lang thắp hương tiếp. Tới trước Ty tốc báo, Nghênh Nhi thắt lưng không được chặt, tuột cả ra, vợ áp ty bèn đi trước. Nghênh Nhi đang ở mé sau thắt lại dây lưng thì thấy trong Ty tốc báo có một phán quan đội khăn phốc đầu bỏ múi, mặc áo bào đỏ thắt đai lên tiếng gọi:
- Nghênh Nhi, ta là áp ty hồi trước của con đây, con hãy trình bày nỗi oan cho ta nhé! Ta đưa cho con cái này đây.
Nghênh Nhi nhận lấy vật ấy trong tay, một pho tượng, coi qua rồi nói:
- Lạ thật đấy, thần nặn bằng đất mà cũng biết nói! Chẳng hiểu sao lại đưa cho mình cái này?
Thật là:
Khai thiên lập địa ít khi nghe,
Từ cổ chí kim hiếm được thấy.
Nghênh Nhi nhận xong vội vàng nhét ngay vào người , cũng không dám nói cho bà chủ biết. Ngày hôm ấy thắp nhang xong, ai về nhà nấy. Nghênh Nhi kể chuyện vừa nãy cho chồng nghe. Vương Hưng đòi xem, khi đưa ra là một tờ giấy, trên viết:
"Con gái lớn, con gái bé, người trước cày người sau được ăn. Muốn biết việc canh ba, gạt lửa mà xuống nước. Tháng hai, ba năm sau, câu dĩ ắt giải được".
Vương Hưng xem mà chẳng hiểu gì cả, dặn Nghênh Nhi không dược nói cho ai biết, chờ xem tháng hai, ba năm sau có chuyện gì xảy ra.
Bấm đốt ngón tay, khoảng tháng hai, ba năm sau thì có tri huyện mới về. Ông này người ở thành Kim Đầu thuộc Lư Châu, họ Bao tên Chủng, tức tướng công Bao Long Đồ nổi tiếng mà người ngày nay truyền tụng. Sau ông làm quan tới Học sĩ các Long Đồ, cho nên gọi là Bao Long Đồ, còn tri huyện lúc này là buổi đầu mới nhận chức. Bao Công từ nhỏ thông minh chính trực, khi làm tri huyện mổ xẻ được những việc ám muội trong dân gian, phanh phui được những điều hồ nghi trong thiên hạ. Ông nhậm chức ba ngày đầu còn chưa làm việc, đêm nằm mơ thấy mình ngồi trên công đường, trên đó có dán đôi câu đối: "Muốn biết việc canh ba, gạt lửa mà xuống nước".
Ngày hôm sau, Bao Công ra công đường, cho gọi hết những người giúp việc giấy tờ rồi đưa hai câu đó ra cho họ giải nghĩa, song không ai hiểu. Bao Công sai lấy cái thẻ bài trắng bảo viết đôi câu đối ấy lên, người viết lại chính là áp ty Tôn Bé. Viết xong, Bao Công cầm bút đỏ ghi ở đằng sau: "Ai giải được câu này, thưởng mười lạng bạc". Thẻ bài được treo ngoài cổng huyện, làm náo động cả đàng trước đàng sau huyện, cả người có chức và dân thường chen vai thích cánh tranh nhau vào xem trước chỉ vì mong được thưởng số bạc đó.
Lại nói Vương Hưng đang đứng trước cổng huyện mua bánh táo ăn, nghe người ta kháo nhau quan huyện treo một thẻ bài trắng, trên có viết hai câu đối nhưng không ai giải nghĩa được. Vương Hưng bước lại xem, thấy đúng là câu viết trên giấy mà phán quan Ty tốc báo đưa cho, bèn thầm giật mình, nghĩ: "Nếu ra khai báo, quan huyện mới đến là người kỳ quặc, chỉ sợ lại trêu ngươi ông ta; nếu không khai báo, thì ngoài mình ra, chẳng có người thứ hai nào hiểu được lai lịch của hai câu đó". Mua bánh táo xong, Vương Hưng về nhà nói cho vợ biết chuyện ấy. Nghênh Nhi bảo chồng:
- Áp ty ngày trước đã ba lần hiện thân bảo tôi trình bày nỗi oan khuất cho ông. Mình lại được ông cho không một gói bạc nữa, nếu không đi khai báo, e rằng quỉ thần đều trách.
Vương Hưng vẫn còn do dự, bèn lại tới huyện, vừa lúc đó gặp ngay người hàng xóm là Khổng Mục họ Bùi. Thường ngày Vương Hưng đã biết Bùi Khổng Mục là người thạo việc, bèn kéo ông ta tới một ngõ vắng, đem việc đó bàn với ông ta, xem có nên khai báo hay không. Bùi Khổng Mục đáp:
- Tờ giấy của phán quan Ty tốc báo hiện giờ ở đâu?
Vương Hưng đáp:
- Tang vật ấy hiện cất trong rương quần áo của vợ tôi.
Bùi Khổng Mục bảo:
- Tôi vào huyện bẩm quan thay anh trước, anh về nhà lấy mảnh giấy ấy đem lên huyện, đợi khi nào quan huyện gọi đến anh thì anh trình lên làm chứng cớ.
Vương Hung bèn đi về nhà. Khổng Mục họ Bùi chờ Bao Công tan buổi làm, áp ty Tôn Bé không có ở bên cạnh, mới quì xuống bẩm rằng:
- Bẩm quan, hai câu ngài cho viết trên thẻ bài chỉ có anh hàng xóm với con là biết được lai lịch. Anh ấy bảo Ty tốc báo miếu Đông Nhạc có cho anh ta một tờ giấy, trên giấy viết nhiều lắm, nhưng trong đó có hai câu này.
Bao Công hỏi:
- Vương Hưng hiện đang ở đâu?
Bùi Khổng Mục đáp:
- Bẩm anh ta đang về nhà lấy tờ giấy ấy.
Bao Công liền sai người đi bắt Vương Hưng đến hỏi.
Lại nói Vương Hưng về đến nhà, mở rương quần áo của vợ lấy tờ giấy đó đem ra coi thì ôi thôi, chỉ còn là tờ giấy trắng, chẳng còn một nét chữ nào. Anh ta không dám lên huyện nữa, nỗi lòng khó ngỏ, tránh mặt ở nhà. Công sai của quan huyện tới nhà, quan mới phủ mới, việc gấp như lửa, làm sao thoái thác được? Vương Hưng đành mang theo tờ giấy trắng theo công sai vào huyện, đến thẳng đằng sau công đường. Bao Công cho tả hữu lui hết ra ngoài, chỉ để lại một mình Khổng mục họ Bùi. Bao Công hỏi Vương Hưng:
- Bùi mục có nói nhà ngươi nhận được một tờ giấy ở miếu Đông Nhạc, hãy trình lên cho xem.
Vương Hưng khấu đầu lia lịa thưa:
- Vợ con năm ngoái có đến miếu Đông Nhạc dâng hương. Khi tới trước Ty cấp báo thì vị thần ở đấy hiện ra đưa cho nhà con một mảnh giấy. Trên giấy có viết một số câu, trong đó có hai câu mà đại nhân đã viết lên thẻ bài. Chúng con cất tờ giấy đó trong rương quần áo nhưng vừa nãy lấy ra xem thì lại là một tờ giấy trắng. Này tờ giấy trắng đó còn đây, con không dám nói dối.
Bao Công lấy tờ giấy lên xem rồi hỏi:
- Những câu viết trên giấy ngươi còn nhớ được không?
Vương Hưng đáp:
- Con còn nhớ rõ ạ.
Tức thì đọc lên cho Bao Công nghe. Bao Công viết ra trên giấy ngẫm nghĩ một lát rồi gọi:
- Vương Hưng, ta hỏi ngươi, vị thần đưa mảnh giấy này cho vợ ngươi rồi có dặn câu gì nữa không?
- Dạ, vị thần đó chỉ dặn trình bày nỗi oan giúp ông ấy thôi ạ. Vương Hưng đáp.
- Nói láo! Đã là thần thì có nỗi oan nào không giãi bày được, sao vợ ngươi lại phải giãi bày giùm? Sao ông ấy lại phải nhờ đến ngươi? Những điều vớ vẩn như thế, ngươi định lừa ai? - Bao Công giận dữ quát lên.
Vương Hưng vội vàng khấu đầu thưa:
- Bẩm đại nhân, có duyên cớ đấy ạ.
- Được, ngươi cứ kể thật kỹ. Kể mà có lý ta sẽ thưởng, nếu kể toàn là điều vô lý thì hôm nay ngươi là người mở hàng cho hèo gậy của ta đó. - Bao Công nói.
Vương Hưng thưa : - Thưa đại nhân, nhà con nguyên là người hầu cho áp ty Tôn Lớn của bản huyện, tên gọi là Nghênh Nhi. Vì ông thầy bói đoán áp ty Tôn Lớn sẽ chết vào lúc canh ba lẻ ba ngày ấy tháng ấy năm ấy, quả nhiên đúng ngày giờ thì chết nên bà chủ con theo về với ông áp ty Tôn Bé hiện nay rồi gả Nghênh Nhi cho con làm vợ. Vợ con khi trước có nhìn thấy ông áp ty chủ cũ hiện thân ở dưới bếp nhà họ, trên cổ tròng dây kéo nước giếng; lưỡi lè ra, mắt ứa máu gọi: "Nghênh Nhi, con hãy giãi bày nỗi oan cho ta!". Lần thứ hai, vợ con đến cổng nhà họ Tôn lúc đã khuya lại gặp ông áp ty chủ cũ đội khăn phốc đầu bỏ múi, mặc áo bào đỏ thắt đai, cho vợ con một gói bạc vụn. Lần thứ ba, phán quan Ty tốc báo ở miếu Đông Nhạc hiện thân đưa cho vợ con tờ giấy này, lại dặn trình bày giùm nỗi oan cho ông. Hình dáng ông phán quan ấy đúng là áp ty Tôn Lớn, ông chủ của vợ con hồi trước.
Bao Công nghe xong cười khà khà:
- Thì ra là như thế!
Tức thì sai tả hữu đi bắt hai vợ chồng áp ty Tôn Bé đến.
Bao Công quát:
- Các ngươi làm chuyện gớm thật!
Áp ty Tôn Bé nói:
- Tiểu nhân có làm chuyện gì đâu ạ?
Bao Công liền giải thích lời lẽ trong mảnh giấy của Ty tốc báo:
- "Con gái lớn, con gái bé." Con của con gái là ngoại tôn, tức cháu ngoại, cũng có nghĩa là ngoại lang họ Tôn, rõ ràng chỉ áp ty Tôn Lớn và áp ty Tôn Bé. "Người trước cày người sau được ăn" là nói nhà ngươi được hưởng không vợ anh ta và sản nghiệp của anh ta. "Muốn biết việc canh ba, gạt lửa mà xuống nước" là áp ty Tôn Lớn chết vào khoảng canh ba, muốn biết nguyên nhân cái chết thì "gạt lửa mà xuống nước". Nghênh Nhi thấy ông chủ hiện thân ở bếp, lưỡi thè lè, mắt ứa máu, ấy là hình trạng bị thắt cổ chết. Trên cổ tròng dây giếng, giếng là nước, bếp là lửa, nước ở dưới lửa, thế thì bếp nhà ngươi ắt xây trên miệng giếng, còn xác người chết ắt ở dưới giếng. "Tháng hai ba năm sao chính là hôm nay, "câu dĩ ắt giải được", thì hai chữ câu và dĩ ghép lại thành chữ Bao, ý nói hôm nay ta đến đây làm quan sẽ giải được lời báo, rửa oan cho áp ty Tôn Lớn.
Phán xong, Bao Công gọi tả hữu:
- Hãy cùng Vương Hưng giải Tôn Bé tới bếp nhà hắn. Bất kể thế nào cũng phải lấy được cái xác bị thắt cổ rồi về đây trình ta.
Mọi người nửa tin nửa ngờ đến nhà họ Tôn dỡ bếp ra. Dưới nền bếp là một phiến đá, lật phiến đá lên là miệng giếng. Người công sai cho gọi thợ đấu đến tát cạn nước giếng. Dòng dây thả sọt cho người xuống vớt, vớt lên được một xác người. Ai nấy xúm vào xem, thấy nét mặt xác chết vẫn không nát, có người nhận được là áp ty Tôn Lớn. Trên cổ quả có dây thắt cổ. Áp ty Tôn Bé sợ quá, mặt như chàm đổ, không dám mở miệng. Ai nấy cũng kinh hãi.
Thì ra áp ty Tôn Bé vốn là người bị chết cóng trong ngày tuyết lớn. Lúc ấy áp ty Tôn Lớn thấy có người ngã vì bị cóng mà lại là một thanh niên điển trai liền cứu cho sống lại, rồi dạy cho học viết công văn giấy tờ. Nào ngờ vợ áp ty có tình ý với anh ta. Hôm áp ty Tôn Lớn xem bói xong về nhà, vừa lúc đó áp ty Tôn Bé cũng đang lén lút ở nhà ông ta. Thấy nói áp ty Tôn Lớn ắt chết vào khoảng canh ba, nhân dịp này chúng chuốc rượu cho say mềm rồi ngay đêm ấy thắt cổ cho áp ty Tôn Lớn chết, xong ném xuống giếng. Áp ty Tôn Bé che mặt chạy ra khỏi nhà, vác một viên đá to ném xuống sông huyện Phụng Phù cho vang lên tiếng ùm. Lúc ấy ai cũng tưởng áp ty Tôn Lớn nhảy xuống sông chết. Sau đó chúng xây bếp đè lên miệng giếng, rồi mối lái thành vợ chồng.
Công sai theo lệnh trở về bẩm với Bao Công. Hai vợ chồng Tôn Bé không khảo mà xưng, cả hai đều bị khép vào tội chết, đền mạng cho áp ty Tôn Lớn. Giữ chữ tín đối với người dân bình thường, Bao Công thưởng mười lạng bạc cho Vương Hưng. Vương Hưng biếu lại Khổng Mục họ Bùi ba lạng, không còn chuyện gì nữa.
Vừa mới đến nhận chức, Bao Công đã tra xét ra vụ án này do đó mà tên lừng thiên hạ. Ngày nay người ta vẫn côn nói Bao Công ban ngày xử việc người, ban đêm xử việc ma. Có thơ làm chứng:
Án đố trong thơ ai giải được.
Bao Công xử án quỉ thần kinh.
Tối tăm làm bậy này bao kẻ,

Đừng ngỡ trời cao xét chẳng tinh...

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5932
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Wed Mar 26, 2014 11:15 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 24
Quan Huyện Địch Ngẫm Lý Xét Tình, 
Thấy Rắn Độc Thả Người Vô Tội
Hôm ấy, trước công đường của quan huyện họ Địch, tiếng khóc như ri, một toán đàn ông đàn bà túm lấy một thanh niên chừng hai lăm, hai sáu tuổi, kêu oan suốt từ ngoài cửa vào tới bên trong, đi theo phía sau là một người đàn bà chừng bốn năm chục tuổi, khóc lóc càng thảm thiết hơn. Trông thấy Địch công đang ngồi trên công đường, cả bọn quì xuống trước án, ai nấy vừa khóc vừa kể làm Địch công không hiểu ra sao. Ông bảo viên lại trực nhật:
- Ngươi hỏi đám người kia xem họ đến đây vì việc gì? Không cho nhiều người cùng nói, chỉ gọi một mình nguyên cáo lên hỏi, còn những người khác tạm thời cho lui để nghe cho được rõ ràng.
Viên lại trực nhật vâng lệnh, đẩy đám người kia ra khỏi công đường rồi nói lại ý Địch công cho họ nghe. Có hai nguyên cáo theo viên lại này lên công đường. Địch công nhìn xuống, thấy một người là phụ nữ đã đứng tuổi, còn người kia là ông già tóc bạc. Hai người bước tới trước án thì quì xuống, người bên phải, người bên trái. Địch công hỏi:
- Hai người tên họ là gì? Có oan ức gì hay chỉ đến thưa xằng?
Người đàn bà đứng tuổi nói trước:
- Tiểu phu nhân họ Lý, cha đẻ họ Vương, chồng là Tại Công, học trò bản huyện. Vì chồng chết sớm nên tiểu phu nhân ở vậy rau cháo nuôi một con gái duy nhất là Lê Cô, năm nay mười chín tuổi. Năm ngoái, ông Sử Thanh Lai người cùng huyện làm mối cho cháu làm vợ cậu Hoa Văn Tuấn, con trai vị cử nhân bản địa Hoa Quốc Tường. Hôm trước nhà trai chọn ngày lành đưa xe hoa đến đón dâu, chưa được ba ngày thì hôm qua cháu đã chết đột ngột. Tiểu phu nhân được tin khác nào được tin trời sập, vội vàng chạy tới xem sao. Nào ngờ thấy con gái cả người sưng mọng bầm tím, mắt mũi miệng tai đều ứa máu.
Mắt thấy con gái chết có điều ám muội, hẳn là nhà trai mưu hại đó thôi. Đáng thương cho Tiểu phu nhân có một con gái, chỉ mong con rể trông nom cho êm ấm. Nay chuyện ra như thế, đành khổ sở kêu van quan trên soi xét, làm sáng tỏ cho.
Nói xong, người đàn bà cất tiếng khóc lóc, lăn lộn trên đất. Địch công vội vàng sai người đàn bà đi theo đỡ dậy.
Địch công quay sang hỏi ông già:
- Ông là Hoa Quốc Tường phải không?
Ông già đáp:
- Thưa vâng.
Địch công nói:
- Chồng đẹp vợ xinh vốn là việc vui của đời người, làm sao con dâu mới cưới được ba ngày mà ông đã mưu hại? Hoặc là bố mẹ chồng ngược đãi nàng dâu, hoặc là gia giáo nhà ông không nghiêm, để cho con trai gây nên chuyện phi pháp đó? Ông cứ thực khai ra, bản huyện sẽ tới hiện trường khám nghiệm.
Địch công chưa nói xong mà Hoa Quốc Tường đã đầm đìa nước mắt, thưa: - Cử nhân là con nhà thi lễ, đâu dám ngược đãi con dâu. Con trai tôi là Văn Tuấn tuy chưa chiếm được công danh nhưng cũng là học trò ứng thí. Hơn nữa cháu đang vui đêm tân hôn, vợ chồng hòa thuận, đâu nỡ hạ độc thủ như vậy? Chỉ có điều nhân ngày vui hôm trước buổi tối sau khi vợ chồng cháu vái chào nhau xong, lúc ấy khách khứa đầy nhà, rất nhiều bạn bè trẻ tuổi của cháu muốn quấy đảo phòng tân hôn. Cử nhân tôi thấy đó là chuyện vui đùa của bọn trẻ nên không tiện ngăn cản. Nào ngờ trong số đó có tên Hồ Tác Tân cũng là học trò bản huyện, vốn là bạn đồng song với con trai tôi, thường ngày hắn là người thích đùa bỡn nhất. Khi ấy hắn thấy con dâu tôi có mấy phần nhan sắc, hẳn là sinh lòng đố kị nên bình phẩm từ đầu tới chân không chịu thôi. Cử nhân tôi thấy đêm khuya sắp sang canh, e lỡ mất giờ tốt của hai cháu bèn mời bọn trẻ lên thư phòng uống rượu. Chẳng ngờ bọn đó đồng thanh đòi vào tân phòng đùa bỡn. Sau đó có người dàn hòa, bắt cô dâu phải uống ba chung rượu để tỏ ý xin tha. Bọn trẻ đều đồng ý, chỉ riêng tên Hồ Tác Tân nhất định không chịu. Sau đó cử nhân tôi nói nặng lời mấy câu, hắn xấu hổ bèn giở mặt, giận dữ nói: "Xưa nay không ai cấm đoạn bạn bè náo loạn tân phòng cho vui, ông già rồi mà sao không hiểu điều đó. Trong ba ngày nữa, tôi sẽ cho ông biết thế nào là lợi hại!”. Bấy giờ cử nhân tôi cũng nghĩ là hắn nói đùa, ngày hôm sau lại mời hắn đến uống rượu. Ai ngờ hắn tâm địa hẹp hòi, để bụng hận thù, không biết làm thế nào bỏ được thuốc độc vào ấm trà trong phòng tân hôn. Tối hôm qua cháu Văn Tuấn may mà chưa uống trà nên mới thoát chết. Con dâu tôi không biết uống trà lúc nào nên đã uống phải thuốc độc. Chưa được ba canh giờ, cháu đau bụng dữ dội, khiến cả nhà lúc ấy đều trở dậy thăm nom rồi vội vàng mời thầy thuốc đến cứu. Vào khoảng canh tư thì tính mệnh cháu đã ôi thôi! Đáng thương cho cháu, một người đẹp như hoa tựa ngọc thế mà bị tên Hồ Tác Tân bỏ thuốc độc cho chết. Cử nhân tôi là người trong hàng thân sĩ mà gặp phải tai họa này, cúi xin quan lớn tra xét giúp cho.
Nói xong, ông già cũng khóc rống lên.
Địch công nghe hai người khai xong, hỏi:
- Cứ theo như lời hai người thì vụ án mạng này rõ ràng do tên Hồ Tác Tân gây ra, nhưng không biết tên này đã bỏ trốn hay chưa?
Hoa Quốc Tường nói:
- Hiện chúng tôi đã túm hắn đến đây, đang chờ ở ngoài cổng.
Địch công lập tức cho điệu Hồ Tác Tân vào xét hỏi. Lệnh vừa truyền ra thì từ ngoài cũng đã có một người đàn bà cũng trạc bốn năm chục tuổi dắt một anh con trai, luôn miệng gào khóc, đi vào tới trước án thì quì xuống. Địch công quát hỏi:
- Người có phải là Hồ Tác Tân không?
Chàng trai trẻ quì bên dưới đáp:
- Học trò chính là Hồ Tác Tân.
Địch công lại quát:
- Khen cho ngươi còn dám tự xưng là học trò! Ngươi đã là học trò sao còn chưa biết lễ của Chu Công? Những việc hiếu hỷ, con gái gả chồng, con trai đến tuổi đội mũ đều có lễ nghi nhất định, ngươi sao dám hành động vượt thân phận mình, vô lễ đến náo loạn tân phòng. Hoa Văn Tuấn lại là bạn đồng song với người, vợ chồng là nhân luân lớn của con người, sao ngươi dám thấy vợ người xinh đẹp thì tức, tức rồi sinh ghen ghét, ngấm ngầm làm hại? Mạng người liên quan đến trời, xem ra việc ngươi làm phụ lòng trời rồi. Hôm nay hai người kia đến đây tố cáo, bản huyện xét việc sáng suốt như thần, ngươi hôm ấy vì sao manh tâm, bỏ thuốc độc như thế nào, hãy mau mau khai ra, may chi bản huyện có thể lượng tình, giảm nhẹ khi luận tội. Nếu ngươi tự cho là tú tài, cậy mình có bùa hộ mệnh, không ai được khảo đả hỏi tra thì ngươi tự chuốc lấy khổ sở đó! Bản huyện cũng xuất thân từ khoa cử, mười năm đèn sách bên song lạnh, làm được tới huyện lệnh nơi này thì dù những đứa bất hiếu, tham lam gặp phải vụ trọng án này, ta tuy có quốc pháp song cũng có tình người, không cho ai có quyền bênh che. Vả chăng bản huyện đã nói là pháp luật làm theo liền.
Chỉ thấy Hồ Tác Tân đầm đìa nước mắt, bò rạp trên đất, thưa:
- Xin quan lớn dẹp bớt lôi đình để nghe học trò thưa kỹ. Việc quấy đảo tân phòng hôm ấy tuy học trò có đùa cợt thật, nhưng chẳng qua cũng chỉ là tuổi trẻ hăng máu, đùa bỡn theo mọi người mà thôi. Lúc ấy, khách khứa bè bạn trong nhà họ Hoa có tới ít nhất cũng ba bốn chục người. Học trò thấy ông Hoa Quốc Tường không xin người khác miễn cho, lại chỉ ngăn cản một mình học trò. Học trò sợ lúc ấy mình nhận lời với ông già ắt làm mọi người mất hứng cho nên không nhận lời ông. Ngờ đâu ông bỗng nhiên giở mặt mắng học trò. Học trò đứng trước mặt ông mà bị ông mắng ngay giữa mặt, không còn nể tình chút nào, vì vậy vô tình nói một câu đùa bỡn như vậy, cho ông cụ phòng bị trong ba ngày, chẳng qua cũng chỉ mượn thế cho qua chuyện mà thôi. Vả chăng hôm sau ông cụ Hoa lại mời học trò tới uống rượu, dù có hiềm khích thì như vậy cũng đã giảng hòa rồi, sao học trò còn dám làm điều phi pháp, bỏ thuốc độc hại mạng người nữa? Học trò đứng trong hàng kẻ sĩ, há lại không biết phép nước rõ ràng, lưới thưa nhưng không bỏ sót? Huống hồ trong nhà học trò còn có mẹ già, vợ trẻ, con thơ, đều nhờ học trò dạy học sống qua ngày, sao nỡ để chuyện phi pháp đó làm lụy đến cả nhà? Nếu bảo học trò có lòng ghen ghét thì ghen ghét can gì đến vợ nhà người? Cho dù ghen ghét thì mưu chiếm vợ người mới phải. Kẻ phi pháp đã có kế gian, nhất định không khi nào lại bỏ thuốc độc cho người ta chết. Còn như quan lớn bảo học trò không được đùa bỡn vượt lễ phạm qui thì học trò xin chịu trách mắng; nếu bảo học trò mưu hại chết người thì học trò thực là oan uổng, cúi xin quan lớn xét cho.
Người trai trẻ nói xong, người đàn bà đứng tuổi quì bên ngẩng đầu kêu oan, khóc mãi không nín.
Địch công hỏi ra mới biết người đó là mẹ của Hồ Tác Tân, góa chồng từ hồi con còn bé, ở vậy nuôi con khôn lớn. Vì con nói đùa mà phải vạ, bà sợ con vào công đường bị khổ nên đi cùng con vào xin Địch công xem xét. Địch công nghe xong lời khai của ba người, trong lòng hồ nghi không quyết định được, thầm nghĩ: "Hai nhà họ Hoa, họ Lý thấy con gái, con dâu đột tử, tất nhiên đều sốt ruột đến tố cáo là điều tất nhiên. Chỉ riêng việc Hồ Tác Tân dính líu vào, kêu rằng anh ta ghen ghét rồi mưu hại thì còn hồ nghi lắm. Chưa nói không có lý nào người quấy đảo tân phòng lại đi giết người, mà xét nhân phẩm của anh chàng này thì cái cách đùa bỡn phong lưu nho nhã ấy không thể của kẻ giết người được. Vả chăng lời anh ta vừa nói thật là chí tình chí lý, bởi vậy việc này ta không thể vội vàng tin ngay lời tố cáo được?".
Nghĩ một lát, Địch công bảo bà lấy chồng họ Lý:
- Con gái bà lấy chồng chưa được ba ngày đã chết đột ngột. Tuy chết không được rõ ràng nhưng theo lời Hoa Quốc Tường cung khai thì không phải do nhà ông ấy giết hại. Còn nếu Hồ Tác Tân náo tân phòng mà đến nỗi bỏ thuốc độc hại người thì việc này lấy ai làm bằng? Bản huyện không thể nghe theo lời một bên nào mà cho là sự thực được. Các người hãy tạm lui về; cần khai thêm thì chuẩn bị sẵn, ngày mai ta sẽ tới nơi khám nghiệm, lúc ấy mới có thể xét đúng sai. Hồ Tác Tân không dưng gây chuyện, bị chỉ là kẻ đầu sỏ, giao về cho nhà học của huyện trông coi, ngày mai nghiệm xác xong sẽ hỏi đến.
Lý thị vốn là con nhà thế gia, hiểu phép tắc nơi cửa công là sau khi khám nghiệm xong mới đối chất, nên cùng lui ra theo Hoa Quốc Tường, lên kiệu về nhà, đợi tin khám nghiệm ngày hôm sau. Chỉ riêng người mẹ của Hồ Tác Tân thấy con bị giao cho nhà học của huyện trông giữ, bất giác trong lòng chua xót, khóc rống lên. Nhưng quan huyện đã ra lệnh như thế còn biết làm sao, bà đành đứng nhìn con đi khuất rồi mới về nhà, chuẩn bị hôm sau trình bày khi quan gọi đến.
Lại nói Hoa Quốc Tường về đến nhà biết rằng khi nào khám nghiệm thì người xem chen vào rất đông, đành bảo người nhà chuyển đồ đạc trên sảnh cùng nhà trước nhà sau cho quang quẻ. Đằng trước đằng sau phòng tân hôn đều dựng mái che, tuy biết đồ đạc trong phòng tất bị làm hư hỏng, song đây là vụ trọng án, ông không thể làm khác được. May mà ông còn là người trong khoa bảng, bọn sai dịch địa phương không dám sách nhiễu lôi thôi. Cả nhà họ Hoa bận rộn suốt đêm, chỉ riêng Hoa Văn Tuấn thấy người vợ xinh đẹp mới ân ái có hai đêm đã đột ngột chết uổng thì khóc thương đến mức chết đi sống lại.
Còn bà Lý thương xót con gái cũng đến nhà họ Hoa khóc ròng. Tai họa này thật khiến cho quỉ thần cũng chẳng được yên.
Ngày hôm sau, chức dịch địa phương cùng viên lại trực nhật đến trước bố trí, kê bàn xét xử trên sảnh rồi cho mở tất cả cửa lớn cửa bé để tiện nghiệm xác ở sân trước, tiện việc đối chất với lời khai. Tất cả những đồ dùng cần đến đều được chuẩn bị đầy đủ. Lúc ấy Hoa Quốc Tường lại nhờ một người bà con tin cậy chuẩn bị sẵn một cỗ quan tài cùng quần áo vải vóc, đồ trang sức để sau khi khám nghiệm thì nhận xác về đem chôn.
Chuẩn bị xong, đã đến gần trưa. Nghe thanh la ngoài cổng gõ vang, biết Địch công tới nơi khám nghiệm, Hoa Quốc Tường vội vàng chỉnh lại mũ áo cùng con trai ra cổng nghênh đón. Bà Lý đang khóc lóc vội lui vào phía sau. Địch công xuống kiệu trước nhà, bước lên trên sảnh. Quốc Tường mời quan huyện ngồi vào bàn, gia nhân dâng trà, Văn Tuấn bước tới lạy chào xong xuôi. Địch công thấy đó là con trai Hoa Quốc Tường thì nhìn ngắm một thôi, thấy chàng trai này cùng là thư sinh học hành nho nhã, trong lòng càng không biết phán quyết ra sao, đành hỏi chàng trai:
- Vợ ngươi về nhà chồng mới được ba ngày, tối hôm kia lúc nào ngươi về phòng tân hôn? Lúc vào phòng ngươi thấy vợ ngươi thế nào? Sau đó làm sao biết trong ấm trà có thuốc độc, vợ ngươi uống lầm mà bỏ mạng?
Văn Tuấn thưa:
- Nhân ngày vui, họ hàng thân thích đến chúc mừng, nên học trò vâng lệnh cha mẹ tới các nhà cảm ơn. Khi trở về người đã mỏi mệt, gặp lúc khách khứa lại tới nhà, học trò đành vâng lệnh đón tiếp chu đáo, lúc khách ra về đã là canh hai. Học trò lập tức tới thăm hỏi mẹ cha rồi mới về phòng. Lúc này vợ học trò đang ngồi bên mép giường, thấy học trò về liền sai cô phù dâu rót hai chén trà đặc để hai vợ chồng cùng uống. Vì học trò sau khi nhìn xong đã uống trà ở thư Phòng và trong buồng cha mẹ rồi nên không uống nữa. Vợ học trò uống chén trà đó rồi vào giường đi ngủ. Tới canh ba, học trò đang ngủ say thì loáng thoáng nghe tiếng vợ kêu đau, học trò tưởng cô ấy bị lạnh mà đau bụng, nào ngờ càng ngày càng đau, kêu la không dứt. Đang tính sai người đi mời thầy thuốc thì đến canh tư, vợ học trò đã qua đời. Sau đó truy hỏi nguyên do mới biết cô ấy đau bụng là vì uống chén trà kia. Học trò tôi xem ấm trà thì nước trà đã thành màu đen thẫm, há lại không do trúng độc hay sao?
Địch công nói:
- Nói như thế thì hôm kia lúc đến phá quấy, Hồ Tác Tân có vào phòng tân hôn hay không?
Văn Tuấn thưa:
- Học trò đi ra khỏi nhà đến tạ ơn khách từ trước trưa nên không được rõ.
Hoa Quốc Tường lập tức nói:
- Trước trưa, anh ta cùng mọi người có vào phòng tân hôn.
Địch công hỏi:
- Trước trưa có vào phòng tân hôn, vậy ấm trà ấy đặt ở chỗ nào? Sau trưa, con dâu ông có uống trà không? Người pha trà là ai?
Hoa Quốc Tường bị Địch công hỏi liền mấy câu, không trả lời được cuống quít giậm chân khóc rằng:
- Nếu cử nhân này sớm biết có tai họa ấy thì khi đó đã chú ý lưu tâm đến mọi việc rồi. Vả chăng con dâu mới cưới, những việc lặt vặt ấy cũng không tiện hỏi đến nên không được biết rõ ràng. Chỉ biết rằng tên Hồ Tác Tân kia vốn hay đùa bỡn, trước hôm cưới đã lúc vào lúc ra. Hắn để bụng hại người bằng thuốc độc thì tất nhiên không để cho ai trông thấy. Huống hồ đến canh hai, hắn mới cùng mọi người ra về, không chừng sau nửa đêm lén bỏ thuốc độc ngay trước đèn cũng nên. Việc này xin nhờ quan lớn khảo tra hắn, tự nhiên hắn phải khai nhận ngay.
Địch công phán:
- Việc này không phải trò trẻ, trọng án liên quan đến mạng ngươi sao có thể chỉ tin chắc ý kiến một bên mà không nghi ngờ gì? Cho dù xưa nay Hồ Tác Tân có hay đùa bỡn, nhưng hai ngày nay các cô phù dâu đều ở trong phòng, hắn dám hạ thủ được sao? Việc này e rằng có cơn cớ khác, nay hãy gọi phù dâu ra cho bản huyện hỏi xem sao.
Hoa Quốc Tường thấy quan huyện biện bác hộ cho Hồ Tác Tân thì ngờ quan có ý bao che cho hắn, bất giác cuống lên nói:
- Quan lớn là cha mẹ dân, làm quan ăn lộc lẽ ra phải minh oan cho dân, lẽ nào cử nhân tội rắp tâm vu hại cho Hồ Tác Tân? Nếu quan lớn nói hắn không chắc đã bỏ thuốc độc hại người rồi cứ thế mà hàm hồ cho xong việc hay sao? Cử nhân tôi đang ở trong hàng thân sĩ, xảy ra án này mà quan lớn còn dềnh dàng như thế, nếu là dân thường há chẳng để cho oan chìm đáy biển hay sao? Nếu đúng như thế thì thường ngày quan cũng chỉ có hư danh mà thôi!
Địch công thấy ông ta nói bừa bãi, song hiện đang là khổ chủ nên không tiện nổi giận, chỉ đành bảo:
- Bản huyện không phải không muốn xử vụ này. Lúc này đang tra hỏi cũng chính là muốn minh oan cho con dâu ông đấy thôi. Nếu chỉ nghe lời ông, đưa Hồ Tác Tân ra khảo đả, thế nếu anh ta cũng oan thì ai là người minh oan cho anh ta? Phàm việc gì cũng phải xét rõ, vả chăng lúc này còn chưa khám nghiệm, cớ sao ông nóng vội như vậy? Bản huyện phải hỏi người đưa dâu mới được .
Địch công liền sai nha dịch vào trong nhà giải lên. Hoa Quốc Tường bị quan nói cho như thế, đành vâng theo lời quan dạy.
Chỉ trong nháy mắt, người đưa dâu đã tới quì dưới đất.
Địch công hỏi:
- Ngươi là người đưa đâu chăng? Hay là người hầu của nhà họ Lý đi theo sang đây? Hay là người hầu của nhà bên này? Mấy ngày nay trong phòng tân hôn, người ra người vào nhiều, sao ngươi không cẩn thận trông nom?
Người này thấy Địch công nói năng dữ dằn thì sợ run lên, cúi đầu thưa rằng:

- Nô tì họ Cao, họ con gái là Trần, từ nhỏ chịu ơn của Lý phu nhân, nuôi dưỡng trong nhà làm người hầu. Sau lại đội ơn bà cho lấy chồng họ Cao tên Khởi, vợ chồng đều cùng làm người hầu của nhà họ Lý. Gần đây vì vợ chồng Lý lão gia nối nhau qua đời, Lý phu nhân gả chồng cho tiểu thư, thấy nô tì là người hầu cũ nên cho đi theo bầu bạn, không ngờ đêm hôm kia xảy ra cái vạ đó. Tiểu thư con chết không rõ ràng, cúi xin quan lớn tra hỏi Hồ Tác Tân cho rõ.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5932
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Wed Mar 26, 2014 11:39 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 24 (B)
Thoạt đầu Địch công ngờ là người đưa dâu gây nên chuyện vì bà này là người hầu ở ngay bên cạnh cô dâu, lại ngờ Hoa Quốc Tường tham giàu ghét nghèo, muốn mưu toan chuyện khác nên sai người hầu này ám hại, vì vậy Địch công cố ý đem người hầu này ra tra hỏi. Lúc này nghe người hầu khai ra, biết là người hầu cũ của nhà họ Lý, cô dâu do bà này bế ẵm từ nhỏ, không lẽ nào đột nhiên nảy ra ý độc hại được. Quan huyện không biết tính sao, đành hỏi thêm:
- Nhà ngươi đã do bên họ Lý cho theo sang, mấy ngày qua lấy nước pha trà đều do một tay ngươi làm, vậy ấm trà buổi tối hôm đó nhà ngươi pha từ lúc nào?
Bà Cao đáp:
- Buổi chiều con pha một lần, sau khi lên đèn lại pha lần nữa. Nước trà cô con uống ban đêm là trà pha lần thứ hai.
Địch công lại hỏi:
- Sau khi pha trà, ngươi có rời phòng không? Lúc ấy trong thư phòng đã bày tiệc rượu hay chưa?
Bà Cao đáp:
- Đến bữa ăn tối, nô tì có ra khỏi phòng một lần, ngoài ra không rời phòng lần nào. Lúc ấy trong thư phòng đang có tiệc rượu thiếu gia nhà cô con cùng Hồ thiếu gia đều uống rượu ở đấy, nhưng Hồ thiếu gia tối ấy quả thực tức giận bỏ về và nói những lời cay độc. Thuốc độc này hẳn là do cậu ấy bỏ vào trà.
Địch công nói:
- Cứ như ngươi nói thì chẳng qua mới chỉ là hiềm nghi. Ta lại hỏi ngươi, ấm trà pha buổi chiều đã có ai uống chưa?
Bà Cao nghĩ hồi lâu cũng không nhớ được có ai đã uống. Địch công nghe lời khai của bà Cao lại càng không biết phán quyết ra sao, đành quay sang bảo Hoa Quốc Tường:
- Lời của ông và mấy người khai vừa rồi đều là tự mình giữ riêng ý mình. Trà buổi chiều mới pha, lúc ấy Hồ Tác Tân đang uống rượu trong thư phòng; ngoài một lần sau bữa ăn tối, người bầu bạn với cô dâu không ra khỏi phòng, cô dâu không thể tự mình lại bỏ thuốc độc vào trà. Ta đã cho hỏi người hầu ấy xem buổi chiều có ai vào phòng cô dâu không nhưng người ấy không nhớ rõ. Vụ án như vậy làm sao có thể ức đoán được? Thôi hãy đợi bản huyện nghiệm xác xong đã rồi sẽ phán xét sau.
Nói rồi Địch công đứng lên bước vào bên trong. Lúc này bà họ Lý cùng già trẻ lớn bé nhà họ Hoa khóc ầm ĩ đến điếc cả tai, kể lể cô dâu xinh đẹp đến thế mà bỗng chết thảm đến thế.
Địch công vào đến sân nhà trên, trước hết cho đàn bà tránh ra hết, rồi ông đi xem xét quanh một lượt, sau đó cùng Hoa Quốc Tường bước vào bên trong. Trong phòng, rương hòm và vật dùng đều đã chuyển đi hết, chỉ riêng để lại ấm trà, chiếc thẻ tre sơn đỏ đặt trên bàn ghép bằng bốn mảnh sơn dầu, khá nhiều người hầu gái đứng cạnh trước giường. Địch công hỏi:
- Ấm trà này vốn đặt trên bàn phải không? Các ngươi đem bát ra đây để bản huyện thử xem sao.
Vừa dứt lời, sai dịch đã đưa chén trà tới, Địch công tự cầm lấy rót một chén nước trà trong ấm ra, quả nhiên thấy màu trà khác lạ với trà thông thường, nước tím đen tựa như nước mật, lại thoang thoảng mùi tanh. Xem xét một lát, bảo người cho gọi chó đến, lại bảo trộn một ít thức ăn với nước trà rồi Địch công cho đổ xuống đất. Con chó đến ngày tận số, cúi đầu hít ngửi vài cái là cắm đầu ăn. Chỉ khoảnh khắc sau, con chó hực cắn loạn lên chừng ăn một bữa cơm rồi lăn cổ ra chết. Địch công lấy làm lạ, vội bảo sai dịch niêm phong ấm trà tránh cho người khác uống lầm phải. Sau đó ông tới bên giường xem quanh một lượt, thấy người chết miệng vẫn còn rỉ máu, cả người xám xanh sưng mọng, biết chắc là uống phải thuốc độc rồi. Ông quay trở ra sân, sai người đưa bà Lý đến rồi nói với Hoa Quốc Tường:
- Cô gái này trúng độc mà chết, không còn nghi ngờ gì nữa, nhưng hai nhà cả bên trai cũng như bên gái đều là dòng dõi thư hương, xảy ra việc này cũng đủ bất hạnh lắm rồi. Nay ông đã có đơn kêu bản huyện cứu xét, lẽ nào ta lại không đến nghiệm xác? Có điều, người chết bỏ mạng vì thuốc độc là điều không ngờ tới, nay nếu lật thây khám nghiệm thì người sống và người chết đều không được yên. Người chết càng thấy oan khuất mà người sống cũng mất thể diện. Bản huyện thấy rằng chi bằng định án là chết vì chất độc, sau này tra ra được thủ phạm, ắt lấy lời khai của nó làm bằng, đỡ phải lật xác khám nghiệm. Đây vốn là ý thương xót của ta, ta cho mời riêng hai nhà đến để nói rõ nguyên do. Nếu hai nhà không nỡ để cho người chết phải khổ thì thôi không phải nghiệm xác nữa, kẻo sau này lại hối là không nghe theo.
Hoa Quốc Tường chưa kịp có lời thì bà Lý đã kêu khóc:
- Bẩm quan lớn, nhà chúng tôi chỉ có một đứa con gái này, vì cháu chết không được rõ ràng nên mới phải cứ sự thực mà kêu lên. Nay quan lớn đã định án như thế để tránh cho cháu chết rồi mà còn chịu khổ thì đàn bà chúng tôi tình nguyện xin miễn khám nghiệm.
Thấy nhạc mẫu nói thế, Hoa Văn Tuấn cũng vì vợ chồng nghĩa nặng, không muốn xác vợ bị người khác đụng chạm đến nên cũng nói với cha:
- Cha hãy cho phép làm như thế đi, con thấy vợ con chết thảm quá, may được quan lớn cho hoàn tất, định án là trúng độc, cha cũng nên nghe theo lời quan để còn nhận về liệm chôn.
Hoa Quốc Tường thấy con trai và mẹ người chết đều nói như thế không thể đòi hỏi gì hơn nên đành im xuống, cùng bà Lý làm cam kết miễn nghiệm xác; sau đó nói với Địch công:
- Quan lớn có bảo cử nhân tôi nên miễn nghiệm xác. Tuy ý ngài là muốn thương xót, giữ thể diện cho, nhưng con dâu tôi bỏ mạng vì trúng độc thì việc này mọi người đã thấy cả rồi. Chỉ xin quan lớn thế nào cũng phải tra hỏi tên Hồ Tác Tân rồi theo lệ mà trừng trị. Nếu để hai nhà cam kết, nhận về khâm liệm rồi đậy nắp áo quan đem chôn không thôi thì lúc đó quan lớn cũng chẳng hay ho gì.
Địch công gật đầu, nhận tờ cam kết, cho sai dịch lui hết ra khỏi nhà sau. Lòng ông thực rất phân vân, cảm thấy không tiện bỏ về ngay liền lên nhà trên ngồi, để ý xem khi mọi người đi ra có động tĩnh gì không.
Tất nhiên lúc ấy nhà trong nhà ngoài náo loạn cả lên. Đám người hầu và bạn bè thân thích của gia chủ đều lo việc ở nhà trong, may mà quan tài và mọi thứ khác cần đến đều lo liệu đầy đủ từ hôm qua. Bà họ Lý và Hoa Văn Tuấn là hai người đau đớn nhất, lệ trào không dứt.
Đợi cho quan tài đặt xong xuôi, chỉ còn thay quần áo cho người chết nữa là khâm liệm, Địch công mới theo mọi người vào nhà trong. Chỉ thấy từng luồng hơi tanh từ phía giường người chết xộc lên tận óc, ông cũng không nhận ra đó là mùi gì thầm nghĩ: "Xưa nay ta từng xét nhiều vụ kỳ án, đã là do trúng độc gây ra thì trong ấm trà chẳng qua cũng mấy thứ phê sương, thạch tín, uống vào bụng thì thất khiếu ứa máu, lập tức mệnh vong, làm sao lại có mùi tanh tưởi đến thế? Xác cô gái tuy tím tái sưng mọng song da không nát, vả ngực lại trương mọng như trái dưa, hiển nhiên là do nguyên nhân khác. Không biết dưới gầm giường có loài vật gì độc hay không? Một mình Địch công cứ thầm suy nghĩ như vậy.
Bỗng nghe một người la lớn:
- Nguy rồi! Làm sao chết đã hai ngày mà bụng còn máy động được? Phải chăng muốn tác quái đây?
La rồi người ấy nhảy ngay khỏi giường, mặt cắt không còn hạt máu, bỏ chạy luôn. Người đứng xem thấy người kia la như thế đều lấy hết can đảm tới chỗ đó xem nhưng lại không thấy động đậy gì nữa, đến nỗi ai cũng bảo người kia trông gà hóa cuốc. Lúc ấy ai nấy vội vàng tay năm tay mười mặc quần áo vào cho người chết. Thầy cúng gọi mang vào nhập quan, mọi người ùa nhau xuống khỏi giường, nâng xác lên đưa đi khâm liệm.
Đợi mọi người đi ra hết, Địch công mới tự tới bên giường cưới, xem kỹ một lượt, lại nhìn kỹ dưới gầm giường thấy có rất nhiều máu nhỏ giọt, trong giọt máu có lẫn chút lông tơ đen dường như đang chuyển động.
Nhìn kỹ xong, Địch công ra khỏi nhà sau, lên sảnh trên ngồi, thầm nghĩ: "Vụ này nhất định không phải Hồ Tác Tân gây ra, trong đó ắt có chuyện quái dị gì đây. Hoa Quốc Tường tuy một mực khai cho cậu ta, không chịu buông tha, nếu ta không làm theo cách này thì ông ta không chịu nghe theo".
Chủ ý định xong, việc khâm liệm cũng hoàn tất, Địch công cho người mời Hoa Quốc Tường đến, bảo:
“Việc này dường như có điều gì đó rất đáng ngờ, bản huyện không thể không tra cho ra. Hồ Tác Tân tuy là bị cáo, bà Cao là người bầu bạn với cô dâu, cả hai đều không thể đứng ngoài. Mong ông giao nộp cả bà ta để cùng tra hỏi cho được công bằng. Nếu chỉ một mực đòi hỏi Hồ Tác Tân cung khai không thôi, há lại chẳng bị người đời dị nghị Bản huyện không khi nào đối xử khắc bạc với bà giúp việc nhà ông đâu!
Nghe quan huyện nói như vậy, Hoa Quốc Tường thấy vụ án này ắt phải do quan phụ mẫu địa phương xét đoán, vì vậy đành gọi bà Cao ra cho quan thẩm vấn tại công đường. Địch công lập tức lên kiệu về huyện nha. Lúc này chỉ có mẹ Hồ Tác Tân là muôn phần cảm kích, biết Địch công có ý tốt, liền ngầm mua chuộc sai dịch đưa tin vào cho con trai được biết.
Lại nói Địch công về tới huyện nha song không thăng đường thẩm vấn, chỉ truyền giao Cao thị cho đàn bà cai quản, ngoài ra không hỏi gì đến những việc khác của vụ án, mấy ngày liền đều như thế. Hoa Quốc Tường sốt ruột quá, oán con trai:
- Thằng súc sinh kia, việc này chỉ do mày làm lỡ. Mẹ vợ mày đồng ý miễn nghiệm xác vì bà ấy là đàn bà, không hiểu mối hại điều lợi của việc công. Xưa nay người làm quan chỉ muốn càng ít việc càng tốt, chỉ cốt sao bản thân đứng vững, còn oan khuất của người khác chẳng cần hỏi đến. Hôm kia hắn nhất định xin ta cho miễn nghiệm xác. Mày đã thấy viên quan chó chết ấy chưa? Đến hôm nay cũng chưa hỏi tra. Hắn cậy vào tờ cam kết của hai nhà chúng ta đó mà! Tuy trúng độc là sự thực còn tên Hồ Tác Tân bỏ thuốc độc thì chưa có chứng cớ hắn vin vào đó mà trì hoãn, có ý bênh che cho tên chó họ Hồ, há tất cả chẳng phải do mày làm lỡ hay sao? Hôm nay ta phải đến giục giã xem hắn đối xử với ta ra sao? Nếu không thì tờ đơn gửi lên cấp trên là điều không tránh khỏi.
Dứt lời, Hoa Quốc Tường sai người mang mũ áo tới, đội mặc vào rồi đi thẳng đến huyện Xương Bình.
Địch công vì sao không thẩm vấn vụ án này cho xong đi? Bởi ông là vị quan tốt, không bao giờ chịu vu cáo cho người dân. Ông thấy vụ án này quyết không phải do Hồ Tác Tân gây ra, cũng không phải do bà Cao mưu hại. Tuy biết rõ như thế song lại nghĩ chưa ra nguyên do, thuốc độc từ lúc nào được bỏ vào vì thế chưa tiện xử. Chiều hôm ấy, đang trao đổi với Mã Vinh rằng:
- Vụ án ở Lục Lý Đôn ngay từ đầu bản huyện đã biết là dễ. Chỉ cần bắt được tên họ Thiều là có thể kết thúc được rồi. Có điều khám nghiệm không ra thương tích của tên Tất Thuận, ta đã tự kiểm điểm rồi. Nào ngờ sóng này chưa lặng, sóng kia đã nổi, con dâu Hoa Quốc Tường lại mắc vào vụ nghi án. Nếu chỉ đổ dồn cho Hồ Tác Tân, ta không khỏi cảm thấy không nỡ.Hôm trước, người ở nhà ấy đã từng thấy các tình tiết vụ án đều không thể đoán định được. Ta đòi Cao thị về đây cũng chẳng qua để ngăn Hoa Quốc Tường giục giã mà thôi. Các vụ án qua tay ngươi cũng không ít, vậy hãy khá nghĩ giùm cho bản huyện, hỏi thăm xem xung quanh đây có người nghiệm xác nào giỏi thì tìm đến hỏi han, may chi có thêm manh mối.
Hai người đang trò chuyện như vậy thì có sai dịch vào báo:
- Hoa cử nhân hiện đang ở trên công đường, ông ta muốn gặp quan lớn để hỏi xem vụ án kia tiến hành đến đâu rồi.
Địch công nói:
- Bản huyện biết thế nào ông ta cũng đến giục mà! Ngươi hãy ra mời ông ta vào. Gọi người đón tiếp chu đáo nhé!
Người ấy vâng lời đi ra. Lát sau, Hoa Quốc Tường đội mũ mặc áo chỉnh tề bước vào, Địch công đành mời vào thư phòng, chia ngôi chủ khách cùng ngồi. Hoa Quốc Tường cất lời nói trước:
- Hôm kia tôi có được quan lớn cho gọi người hầu tới hỏi tra, trong mấy ngày vừa qua, vụ án hẳn đã tra xét xong. Rốt cuộc ai là kẻ bỏ thuốc độc, xin quan lớn cho biết, tôi cảm kích vô cùng.
Địch công đáp:
- Bản huyện suy nghĩ về vụ này đã lâu nhưng tạm thời vẫn chưa tìm ra nguyên do, cho nên chưa đưa người ra thẩm vấn. Nay tôn ông đến vừa đúng lúc. Xin hãy ngồi chơi để ban huyện thẩm vấn xem ra thế nào.
Dứt lời, ngoài công đường đã chuẩn bị xong, Địch công lập tức thay áo lên công đường thẩm vấn. Trước hết ông sai đưa Hồ Tác Tân lên hỏi. Công sai vâng dạ ra khỏi công đường điệu Hồ Tác Tân tới.
Hồ Tác Tân quì trước án, Địch công nói:
- Bản huyện đã tới hiện trường nghiệm xác vợ Hoa Văn Tuấn, rõ ràng là trúng độc mà thiệt mạng. Mọi người đều khai cho một mình ngươi mưu hại. Ngươi hãy thành thực khai ra, khi nào ngươi bỏ thuốc độc cho người ta?
Hồ Tác Tân thưa:
- Hôm kia học trò đã khai rõ, rằng đùa bỡn là chuyện thực mưu hại là việc oan uổng. Học trò còn biết khai thế nào nữa?
Địch công nói:
- Ngươi đừng hòng chối quanh, hiện có người hầu bầu bạn với cô dâu làm chứng. Lúc mời rượu hôm đó, Hoa Văn Tuấn đi tạ ơn khách khứa, ngươi cùng mọi người thỉnh thoảng ra vào phòng cô dâu rồi thừa lúc không ai để ý bỏ thuốc độc vào trà. Ngươi còn gian ngoan chối bỏ hay sao?
Hồ Tác Tân nghe xong vội kêu:
- Quan lớn soi xét, nếu người ta bảo con cùng mọi người thỉnh thoảng lại vào phòng cô dâu, đủ thấy không phải chỉ một mình học trò vào phòng. Đã không phải một mình vào phòng thì mắt ai cũng thấy, học trò làm thế nào thừa cơ được? Dù cho học trò có bỏ thuốc độc thì một ngày hôm ấy, thời gian rất dài há lại không có ai tới rót nước ở ấm? Làm sao người khác uống thì không chết, chỉ riêng cô dâu uống thì lại có thuốc độc?
Trà ấy do ai rót, ai pha, pha lúc nào? Xin quan lớn tra xét ngọn ngành. Học trò không dám chỉ đầu danh ai song người bầu bạn với cô dâu hẳn biết. Trừ bạn hữu thân quen vào phòng ra, đàn bà hầu hạ trong nhà há lại không có một ai vào phòng? Quan lớn không truy hỏi những điều nói trên mà chỉ hỏi một mình học trò, thì dù có khảo đả bằng cực hình, học trò cũng không thể có khẩu cung khai nhận được. Cúi mong quan lớn xét rõ.
Địch công nghe Hồ Tác Tân trình bày như thế, cố ý nổi giận mắng:
- Tên học trò vô sỉ kia, tự mình có tâm địa bất lương gây nên tai họa, thật là tình, lý khó dung tha. Đến nơi công đường oai nghiêm này thì phải thực thà khai nhận, cớ sao lại lôi kéo người khác vào để mong thoát thân? Ngươi phải biết rằng bản huyện là bậc quan soi sáng vạn dặm, há cho phép người bẽo mép tranh cãi? Nếu còn dám loanh quanh chối cãi thì quốc pháp ở đây sẽ ra oai khảo đả đấy!
Hồ Tác Tân nghe nói vậy, bất giác gục đầu kêu xin:
- Học trò thực là oan uổng, quan lớn nếu không tra hỏi nữ tì nhà họ Hoa thì dù có đánh chết học trò, vụ án này vẫn không sáng tỏ được. Vả xưa nay xét án không có lẽ nào chỉ nghe riêng một phía. Nếu Hoa Quốc Tường không cho giải người hầu đến đây, ắt bên trong có duyên do gì khác, kính mong quan lớn nghĩ lại.
Địch công nghe nói, quát to:
- Hồ Tác Tân, bản huyện thấy ngươi là học trò hàng huyện, không nỡ đánh đập khổ sở. Nay ngươi cãi hăng như thế, nếu ta không thẩm vấn nữ tì nhà họ Hoa, hẳn ngươi cũng không cam tâm?
Lập tức Địch công cho đưa bà Cao lên, hai bên hô lấy oai, Cao thị bị đưa vào, quì trước án. Địch công nói:
- Theo lời khiếu kiện của gia chủ ngươi, án mạng thực do Hồ Tác Tân mưu hại, song hắn dứt khoát không nhận. Ngươi hãy khai ngày hôm trước, hắn vào quấy phá trong phòng cô dâu ra sao, khi nào thì thừa cơ bỏ thuốc độc để cùng đối chất với hắn.
Cao thị khai:
- Việc Hồ Tác Tân quấy đảo hôm cưới vào ngày lành, gia chủ nô tì đã nói rõ rồi. Chỉ vì gia chủ nặng lời với hắn khiến cho hắn nuôi ý xấu trong lòng, trước khi ra về còn bảo chúng tôi hãy cẩn thận phòng bị trong ba ngày tới. Lúc bây giờ ai cũng cho là nói đùa, nào ngờ ngày hôm sau trở lại, thừa cơ bỏ thuốc độc. Tính ra chỉ vào khoảng trước sau lúc lên đèn, lúc ấy nhà trong nhà ngoài đều bày tiệc rượu. Nô tì tuy ở trong phòng nhưng trong khoảng hoàng hôn đó cũng không nhận thấy, vả chăng người vào ra rất nhiều. Chỉ riêng một mình hắn thì từ sáng tới chiều đã vào ra mấy bận, có phần chắc lúc đó mượn tiếng là rót trà mà bỏ thuốc độc vào. Chỉ mong quan lớn hãy tước bỏ danh hiệu học trò của hắn, dùng hình phạt tra hỏi, thì chẳng còn sợ hắn không chịu nhận nữa.
Địch công chưa cất lời thì Hồ Tác Tân đã vội nói:

- Đồ chó nô tài kia, ngươi đừng có bẻo mép làm hại tính mệnh người khác. Hôm trước quấy phá phòng cô dâu cũng đâu có một mình ta? Chỉ vì lão gia nhà ngươi mắng một mình ta, ta mới nói bừa một câu để giữ thể diện ra về, sao lại dẫn câu đó ra làm bằng chứng? Nếu bảo ta rót nước trước sau khi lên đèn rồi bỏ thuốc độc thì điều này là vu khống. Từ buổi sáng khi cùng với các bạn cười đùa một hồi trong phòng cô dâu, sau đó ta không còn vào lần nào nữa, mà người khác cũng không vào. Trước sau lúc lên đèn đúng là lúc công tử nhà ngươi đang đi cảm ơn khách, ngay cả công tử cũng không tới phòng mới cưới mà cùng uống rượu ở thư phòng với bạn bè. Nói như ngươi thì há chẳng phải nói không thành có, cố ý hại người hay sao? Huống hồ lúc ấy cách lúc đi ngủ còn lâu, há không có ai vào rót trà hay sao? Làm sao người khác không chết mà chỉ mình tiểu thư nhà ngươi chết. Hẳn là bọn các ngươi ngày thường oán phu nhân tiểu thư cay nghiệt, hoặc trong lòng bất mãn nên mới hạ thủ độc địa như vậy. Nếu không thì cha con họ Hoa thông đồng mưu hại để tiện lấy vợ nhà cao sang. Những việc đó bất luận thế nào cũng không liên can gì tới ta. Ngươi cứ nghĩ mà xem, ta cùng với mọi người vào phòng cô dâu buổi sáng rồi ra về, ngươi là người bầu bạn theo từ nhà gái sang, tất nhiên là lúc nào cũng ở cạnh cô dâu, ngươi có thấy ta một mình vào phòng lúc nào hay chưa?

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5932
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Thu Mar 27, 2014 11:41 am

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 24 (C)
Cao thị bị hỏi liền một chặp như thế, mới nghĩ lại hôm ấy thực là chẳng hề lưu tâm, không biết thuốc độc được bỏ vào khi nào. Huống hồ ấm trà đó do chính tay mình pha, nghĩ đến đây thì đâm hoảng sợ, khó mà lấy lời nào biện bạch cho được. Cao thị định một lần nữa đổ riệt cho Hồ Tác Tân nhưng Hồ Tác Tân đã bác đi rồi. Địch công lại oai nghiêm như thế khiến mụ sợ hãi nói không nên lời.
Thấy thế, Địch công bèn nói:
- Ngươi nói Hồ Tác Tân buổi chiều có vào phòng nhưng hắn không vào. Vả lại vừa nãy ngươi khai khi ngươi ra ngoài ăn cơm tối thì Tác Tân đang cùng với cậu chủ nhà ngươi uống rượu trong thư phòng. Lão gia nhà ngươi cũng nói Tác Tân vào phòng cô dâu lúc ban sáng, theo như thế, rõ ràng việc bỏ thuốc độc không do hắn làm. Ngươi là người hầu lâu năm, lẽ ra phải hết sức để ý, hơn nữa ấm trà là do người pha, sao lại có thể vu vạ cho Tác Tân? Bản huyện suy xét tình lý thì vụ án này do ngươi gây ra. Nếu ngươi không chịu khai, thì ta sẽ đãi ngươi bằng cực hình đó.
Nghe quan nói vậy, Cao thị sợ hãi run rẩy cả người, lạy như tế sao, miệng kêu:
- Xin quan lớn đèn trời bớt giận, nô tì đâu dám sinh lòng độc ác phụ ơn lớn của lão phu nhân họ Lý? Hơn nữa tiểu thư là do nô tì bế ẵm cho tới khi lớn, nỡ nào một sớm một chiều hạ độc thủ như vậy? Việc này cúi mong quan lớn truy tìm đến cùng mới được.
Địch công nghe nói, thầm nghĩ: "Vụ án này kỳ quái thật. Cả hai khai như thế thì đến ta cũng chẳng biết làm sáng tỏ ra sao. Một bên là thư sinh nho nhã, một bên là bà vú lâu năm, không lý nào họ lại mưu sát? Vụ này mà không phán quyết được thì sao xứng là quan phụ mẫu của dân? Xem ra phải truy cứu từ chiếc ấm trà mới được".
Địch công một mình ngồi trên công đường vắng lặng, nghĩ mãi không ra manh mối, chợt gia nhân trực nhật đưa lên một chén trà vì ông ngồi xét án đã lâu, e rằng ông cần đến nước uống. Địch công thấy gia nhân đưa nước đến, bèn mở nắp chén lên, thấy trong chén có bụi đen nổi trên mặt trà. Ông hỏi người kia:
- Ngươi vô ý vô tứ từ lúc nào vậy? Phòng trà dâng trà cũng không chọn nước trong mà nấu, trên mặt chén trà có nhiều bụi đen ở đâu ra vậy ?
Gia nhân vội vàng thưa:
- Việc này không liên can gì đến con. Con đứng bên cạnh nhìn thấy đúng lúc pha trà thì trên mái hiên bỗng rơi xuống một túm bụi vì thế mà nước trà không được trong.
Nghe gia nhân nói, Địch công đột nhiên bừng tỉnh, ngoảnh sang bảo Cao thị:
- Ngươi nói ấm trà do ngươi pha, thế nước pha trà do phòng trà mua về hay là nước trong nhà tự nấu?
Cao thị thưa :
- Vì việc hỉ kéo liền mấy hôm, khách khứa đến đông, Hoa lão gia sợ mua nước bên ngoài không tiện có ngay nên từ hôm có việc vui đều là nước do trong nhà tự nấu.
Địch công nói:
- Nước do người nhà nấu, vậy có do ngươi nấu không?
Cao thị đáp:
- Nô tì chỉ dùng nước sôi có sẵn, có riêng một người cai quản việc đun nước.
Địch công lại hỏi:
- Ngươi không nấu nước, vậy chỗ nấu nước ở đâu?
Cao thị đáp:
- Dạ ở một gian bỏ không đằng sau nhà bếp.
Địch công nghe khai xong, phán bảo:
- Bản huyện đã biết phải tra vụ án này từ đâu rồi. Hai ngươi hãy tạm lui ra, giam vào hai nơi, chờ bản huyện ngày mai phá án xong sẽ thả các ngươi.
Nói xong, ông đứng lên bước vào nhà trong.
Lúc này Hoa Quốc Tường đứng ở phía sau nghe thẩm vấn, thấy quan huyện chuyên nói thay cho Hồ Tác Tân, tức giận không được vào công đường, đánh cho quan huyện một trận. Chỉ vì đây là công đường xử kiện của quốc gia, không được sơ suất, sau lại thấy quan trầm ngâm, không phán quyết được bề nào rồi bỗng nhiên lại cho hai người lui xuống thì trong lòng càng bực bội. Thấy Địch công bước ra, Hoa Quốc Tường sầm mặt hỏi:
- Xưa nay quan lớn xét án cả như vậy hay sao? Không dùng cực hình tra hỏi đã đành, cả đến bác bỏ cũng không dám mở miệng hay sao? Cứ theo thế mà suy thì ngày này năm sau cũng chưa thể xử cho rõ ràng được. Ngài không biết nha môn châu phủ ở đây chưa từng đóng cửa bao giờ. Ngoài trời còn có trời khác, đến lúc ấy xin đừng trách cử nhân này vượt cấp!
Nói xong, hầm hầm đứng dậy đi ra. Địch công thấy thế cười mà bảo rằng:
- Vụ việc của nhà ông, bản huyện đã rõ rồi. Xin cứ yên tâm đừng nóng vội. Chiều mai, bản huyện nhất định sẽ làm sáng tỏ. Đây là việc thuộc bổn phận bản huyện, không cần mệt nhọc kiện lên cấp trên. Nếu ngày mai bản huyện không làm sáng tỏ được, khi ấy không cần ông phải mất công đưa lên trên mà bản huyện cũng không còn mặt mũi nào làm quan huyện ở đây nữa. Xin ông hãy trở về nhà.
Hoa Quốc Tường nghe nói như thế cũng bán tín bán nghi, đành nói:
- Chẳng phải cử nhân tôi nóng lòng sốt ruột mà chỉ vì vụ án để đã lâu ngày, không nỡ để người chết phải ngậm oan mà thôi. Quan lớn đã nhìn ra manh mối, vậy ngày mai xin chờ đón quan lớn tại nhà.
Nói xong, cáo từ về nhà.
Địch công vào thư phòng, Mã Vinh tới trước mặt hỏi:
- Quan lớn hôm nay thăng đường quả quyết nói ngày mai sẽ kết thúc vụ án là do đâu?
Địch công đáp:
- Phàm vụ việc gì cũng phải xét tới chữ lý. Ngươi xem Hồ Tác Tân là người như thế có lý nào là kẻ hại người? Chẳng qua chỉ là tuổi trẻ đang hăng, thích đùa bỡn rồi lỡ miệng nói mấy câu có ý đe dọa, nào ngờ vừa đúng ngày hôm sau xảy ra tai họa như thế nên người ta mới đổ riệt cho hắn. Nếu bản huyện cũng hùa theo họ khảo đả anh ta mà anh ta là con nhà thế tộc bây giờ mắc phải vụ này, mẹ và con đã khổ sở lắm rồi, bản huyện lại tin chắc một phía, bắt phải khai nhận thì chẳng đợi bản huyện tra xét thêm, mẹ con họ đã có thể liều mình. Thế thì vụ án này chưa kết thúc, vụ án oan uổng khác đã lại nảy ra. Về Cao thị, nghe lời bà ta khai, nhà họ Lý vốn là ân nhân, càng không có lý nào mưu hại chủ. Bởi vậy mấy ngày nay, bản huyện nghĩ tới nghĩ lui mà vẫn tìm không ra nguyên do vụ án, vì thế mà không thăng đường. Hôm nay Hoa Quốc Tường tới giục giã bản huyện đành thăng đường hỏi cho xong chuyện. Bản huyện vẫn biết có chuyện ở cái ấm trà, không ngờ khi phòng trà dâng trà cho bản huyện, trên mặt nước có nhiều bụi nổi do rơi từ mái hiên xuống. Nơi nấu nước của nhà họ Hoa ở một căn phòng bỏ không đằng sau bếp, suy ra chẳng thấy rõ manh mối của vụ án này rồi hay sao?
Mã Vinh nghe xong nói:
- Trí xét đoán của quan lớn thật là tinh tế, nhưng nếu tìm theo hướng đó mà vẫn không kết thúc nổi vụ án thì vụ này xem ra càng khó hơn vụ Tất Thuận ở trấn Hoàng Hoa rồi. Sáng ngày hôm sau, Địch công đội mũ nhỏ, mặc áo xanh, đem theo hai viên chức dịch trực nhật cùng trợ thủ Mã Vinh, Kiều Thái đi bộ tới nhà Hoa Quốc Tường. Cả đoàn lên trên sảnh, gặp lúc Hoa Quốc Tường đang sai người quét dọn trước sảnh, thấy quan huyện đã vào tới bên trong, Quốc tường đành đón vào cùng ngồi rồi sai người đi lấy mũ áo. Địch công cười bảo:
- Bản huyện đã không câu nệ hình thức, tôn ông hà tất vất vả. Chỉ vì vụ việc của con dâu ông hôm ấy có thể xét rõ, vậy xin cho gọi người nấu nước đến đây cho bản huyện xét hỏi.
Hoa Quốc Tường không hiểu quan huyện có ý gì, thấy ông sáng sớm đã đến, không tiện ngăn trở đành cho gọi người kia. Địch công thấy đó là cô hầu chừng mười tám, mười chín tuổi, tới trước mặt Địch công thì cúi chào, quì xuống. Địch công bảo:
- Đây không phải là công đường, không cần phải giữ lễ như vậy. Ngươi tên gì? Lâu nay vẫn chuyên một việc nấu nước hay sao?
Cô hầu thưa: - Tiểu nữ tên Thái Cô, lâu nay hầu hạ phu nhân, chỉ vì mấy ngày gần đây nghênh đón mợ chủ nên được giao việc nấu nước.
Địch công hỏi:
- Buổi chiều hôm ấy Cao thị đến lấy nước, ngươi ở tại bếp có phải không?
Thái Cô đáp:
- Tiểu nữ đang ở trong bếp nấu nước sôi. Sau đó lúc lên đèn, phòng trên có việc gọi con, bà Cao đến lấy nước pha trà không thấy con. Việc xong, con trở lại bếp, thấy nước đổ lênh láng trên lò. Hỏi ra mới biết lúc bà Cao đến lấy nước pha trà, trên lò nước chưa sôi, bà ấy mang lò xuống đặt dưới mái hiên, rồi bỏ thêm than, quạt lửa đun được một ấm nước sôi. Bà ấy chỉ dùng hết một nửa ấm, bèn xách nửa ấm nước ấy ra sân đổ thêm nước lạnh, không ngờ chân trái vấp một cái, nước trong ấm đổ cả xuống đất. Lúc con trở về bếp múc ấm nước mới, bà ấy mới đi về phòng. Đó là đầu đuôi việc pha trà sau lúc lên đèn hôm ấy, còn những việc khác thì con không được biết.
Địch công nghe xong, sai Mã Vinh trở về huyện nha đưa Cao thị về đây. Mã Vinh vâng lệnh ra đi, lát sau đưa Cao thị về Địch công quát:
- Đồ chó nhà ngươi xảo quyệt lắm thay. Hôm trước ngươi khai xẩm tối hôm ấy pha trà là dùng nước đun sôi sẵn có. Hôm nay Thái Cô khai hôm đó ngươi chuyển lò ra dưới mái hiên đun cho nước sôi, lấy một nửa pha trà, một nửa còn lại đổ cả xuống thềm. Rõ ràng ngươi cung khai không thật, ngươi còn dám chối không?
Cao thị bị quan quát mắng sợ quá, lạy như tế sao, nói:
- Xin quan lớn ra ơn, nô tì do phải ra công đường nên quá sợ hãi, trong lúc lòng dạ rối bời nên khai sai đi để đỡ phải trả lời quan lớn chứ thục ra nô tì không hề có ý gì khác.
Địch công nổi giận: - Người chỉ biết bẻo mép nhất thời, còn nỗi oan uổng của tiểu thư bị nhà ngươi làm chậm trễ đến bao nhiêu ngày. Nếu bản huyện không sáng suốt, há lại chẳng làm oan thêm Hồ Tác Tân nữa hay sao? Nếu ngươi sớm khai thật như vậy thì làm sao bản huyện phải lao tâm khổ tứ, nghĩ không ra manh mối? Đợi vụ án này làm sáng tỏ xong, ta sẽ trách phạt ngươi.
Nói xong, Địch công đứng dậy bảo với Hoa Quốc Tường:
- Bản huyện cùng ông xuống bếp để tiện sai người tra xét.
Lúc này Hoa Quốc Tường đành theo Địch công xuống bếp. Tới nơi, Địch công thấy bếp là ba gian nhà trên quay mặt về hướng đông, hai bên nam bắc là bốn phòng xép. Địch công hỏi Thái Cô:
- Ngươi nấu nước hôm ấy phải chăng ở gian phòng xép hướng bắc kia.
Thái Cô đáp:
- Chính là gian ấy, bây giờ bên trong hãy còn đặt cái lò bằng đất.
Địch công bước vào gian ấy, thấy đúng như vậy. Mái hiên gian này quá cũ kỹ, ngói, cột hủy hoại đến quá nửa. Địch công lại hỏi Cao thị:
- Tối hôm ấy người chuyển lò đun nước tới thềm gian nào?
Cao thị chỉ về phía trước:
- Dạ con để lò trên hòn đá xanh kia.
Địch công theo hướng Cao thị chỉ nhìn kỹ mái hiên phía đó thấy mái đã sa xuống nửa gang, ngói mái đã vỡ nát. Ông quay qua bảo Cao thị:
- Hôm trước ngươi khai không đúng, lẽ ra phải cho ngươi ăn tát, song nghĩ lại thấy ngươi tuổi cao lú lẫn, ta phạt ngươi đặt lò ra chỗ cũ nấu nước sôi để ta ngồi đây uống trà.
Hoa Quốc Tường thấy Địch công xem xét một chập, không phán rõ được lời nào, bây giờ bỗng nhiên lại bắt Cao thị nấu nước sôi. Nấu nước sôi không phải là tra xét án, bất giác ông ta thầm nổi giận, bảo với Địch công:
- Quan lớn đến nhà xét án, lẽ ra chúng tôi phải chuẩn bị sẵn nước trà. Nếu đợi đồ chó ấy đun sôi nước, e rằng lâu la không kịp tra xét. Mụ đó cung khai không thật, lẽ ra ngài nên đưa về công đường trừng trị để hai năm rõ mười . Nếu ngày bày trò này ra, há chẳng trở thành đùa bỡn hay sao?
Địch công mỉm cười, nói:
- Tôn ông thấy chẳng khác gì trò đùa, song ông nên biết rằng bản huyện truy tìm duyên do chính ở việc này. Xin để bản huyện làm chủ, tôn ông không phải nhiều lời.
Nói xong, Địch công sai người mang hai bộ bàn ghế đặt trong bếp, rồi ngồi xuống đó nói chuyện gẫu với đám kẻ ăn người làm tại bếp. Một lúc sau, Địch công lúc thì giục Cao thị cho to lửa, lúc thì quạt lò, lúc thì bỏ trà, luôn tay luôn chân. Tới lúc nước đun đã sôi, trà đã pha xong thì Địch công lại chẳng uống, cứ như thế đến cả chục lần.
Cao thị đang ở đằng ấy đẩy củi cho lửa cháy to, bỗng trên mái hiên có mấy vụn đất rơi xuống đấu bà ta. Cao thị lấy tay phủi đất trên dầu. Địch công đã trông thấy ngay từ đầu, vội gọi:
- Ngươi mau lại đây!
Thấy quan gọi, Cao thị đành đi tới trước mặt quan. Địch công bảo:
- Người đứng dậy đợi lát nữa, con vật độc địa hại chết tiểu thư nhà ngươi sắp xuất hiện ngay thôi.
Cao thị không dám nói gì, Hoa Quốc Tường không tin lời quan huyện, đứng dậy bỏ đi lên nhà trên. Địch công không ngăn ông ta, vẫn ngồi trên ghế, hai mắt nhìn chằm chằm vào mái hiên. Quả nhiên ở chỗ mái hiên, có đất bụi rơi ló ra một màu hồng nhấp nháy, lúc thò ra, lúc thụt vào, song không biết là con vật gì. Địch công mừng khấp khởi trong lòng, bảo Mã Vinh:
- Các ngươi đã nhìn thấy chưa?
Mã Vinh đáp:
- Nhìn thấy rồi ạ, quan cho lấy vật đó ra chăng?
Địch công vội nói:
- Chớ có động thủ! Đã có vật này thì ta nên mời gia chủ cùng quan sát đã. Để ông ta thấy con vật này bỏ chất độc như thế nào thì mới khiến ông ta tin phục được. Xưa nay bản huyện xét án không khi nào xử oan cho người khác. Nếu chưa tra cứu được đến cùng thì sao gọi được là cha mẹ dân?
Lúc ấy Thái Cô cũng đã thấy rõ, bèn chạy lên nhà trên báo cho Hoa Quốc Tường biết. Mọi người trong nhà được tin đều lấy làm bất ngờ, ai cũng thầm phục Địch công xét án như thần. Hoa Quốc Tường cũng tới xem. Địch công bảo:
- Vụ án này hầu như đã rõ. Xin ông ngồi một lát đợi xem con vật đó ra sao.
Lúc ấy Hoa Quốc Tường ngẩng đầu lên nhìn kỹ, thấy một luồng khói trên lò bốc lên mái hiên, cái ánh màu đỏ bị khói xông lên ngọ nguậy chuyển động rồi đột nhiên thò ra một cái đầu con rắn. Rắn thò cổ nhìn xung quanh, mồm nhểu dãi rỏ xuống bếp lò. Rắn thấy đông người lại thụt ngay vào bên trong. Mọi người đứng xem đều im lặng nín hơi, sợ đến nỗi không dám lên tiếng. Địch công bảo Hoa Quốc Tường:
- Thì ra con dâu ông bị con vật này giết hại. Đây là điều tôn ông chính mắt nhìn thấy, không phải tôi bênh che cho Hồ Tác Tân nhà này của ông hư nát đã lâu, lâu ngày không sửa sang nên làm chỗ ẩn cho rắn độc. Chi bằng bây giờ dỡ bỏ ngay đi.
Dứt lời, bảo mọi người không có việc gì thì lui ra, sai Mã vinh, chức dịch trực nhật và mấy người làm việc vặt của nhà họ Hoa cầm gậy gộc, trước hết dỡ bỏ mái hiên. Trên mái có tiếng động rồi một con rắn mình đỏ như lửa dài hơn một sải lao mình xuống sân toan chạy trốn. Mã Vinh nhìn thấy đang tính đến bắt thì Kiều Thái vớ được thanh sắt chọc lò nhằm đầu rắn quật một nhát. Con rắn không bò được nữa, Kiều Thái cho một nhát nữa, đánh chết luôn. Mọi người sợ trên mái vẫn còn rắn nhỏ, thế là ùa cả vào, dỡ tan dẫy phòng xép.
Địch công sai người đem con rắn tới trước sảnh. Lúc này cả nhà đều biết tin, sang mời bà Lý đến. Địch công ngồi xuống, bảo Hoa Quốc Tường:
- Trong vụ án này, khi bản huyện lần đầu tới khám nghiệm đã biết con dâu ông không phải do người giết hại. Hồ Tác Tân là thư sinh nho nhã, không khi nào dám làm càn trái lễ. Khi vào phòng cô dâu lại ngửi thấy mùi tanh, lúc bấy giờ bản huyện đã rất nghi hoặc. Tới lúc khám nghiệm xác, có người nói bụng xác chết động đậy, bản huyện nghĩ thuốc độc hại người chẳng qua mấy thứ phê sương, thạch tín, uống phải thì tai, mắt, mũi, mồm ứa máu mà thôi, làm sao lại có mùi tanh xộc lên? Vì vậy không dám xử vội, mấy ngày qua nghĩ tới nghĩ lui. Khi lấy khẩu cung của Cao thị, bà ta khai trà do chính tay bà pha. Sau khi pha trà, Hồ Tác Tân không hề vào phòng; ngoài lúc đi ăn cơm tối ra, Cao thị không hề rời, cũng không có ai khác vào phòng, vậy lẽ nào cô dâu tự đánh thuốc độc hại mình? Hôm nay nghe lời khai của Thái Cô mới rõ khi đi lấy nước hôm ấy, Cao thị đưa lò ra thềm đun, khói xông lên mái hiên, nhớt dãi rắn rỏ xuống ấm đun nước. Lúc ấy Cao thị không nhìn thấy nên dùng nước sôi ấy pha trà. Còn lại nửa ấm, may mà do vấp chân đánh đổ xuống thềm cho nên không hại tới ai khác. Nguyên nhân tai họa vẫn là do Cao thị bất cẩn, khiến cho con dâu ông uống nhầm thiệt mạng. Lẽ ra phải trị tội Cao thị nhưng xảy ra việc là do vô tâm, già cả đáng thương nên chỉ đáng phạt nhẹ. Con dâu ông vô cớ bị chết cũng là mệnh trời xui khiến, vậy ông nên mời mấy vị cao tăng tụng kinh sám hối, siêu độ vong hồn. Hồ Tác Tân không gây án mà bị dính líu khổ sở, lẽ ra nên tha về, song tính hay đùa bỡn, không phải phẩm hạnh của kẻ sĩ, phải được răn đe nơi nhà học, cảnh cáo cho lần sau.
Nói xong, Địch công quay qua bảo bà Lý: - Nguyên do cái chết của con gái bà nay đã được làm sáng tỏ. Bản huyện xét xử như thế, bà có chịu phục không?
Lý thị khóc, thưa rằng:
- Thì ra do ngộ độc mà chết. Chỉ thương cho con gái tôi số khổ mà thôi. Quan lớn xử như thế là công bằng rồi, tôi còn biết nói gì nữa.

Địch công thấy bà Lý đã bằng lòng liền lập tức cho kết thúc vụ án.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5932
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Thu Mar 27, 2014 1:38 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 25
Mười Lăm Quan Nói Đùa Khéo Thành Vạ
Thông minh lanh lợi tự trời sanh,
Mông muội ngu si vị tất chân.
Ghen ghét bởi chung con mắt cạn,
Gươm đao nổi lúc nói cười thâm.
Hoàng Hà chín khúc lòng dư hiểm,
Thiết giáp mười tầng mặt ghét căm.
Tửu sắc thường gây tan nhà, nước,
Thi thư hồ dễ hại người nhân.
Bài thơ này để nói về những cái khó trong đạo làm người . chỉ vì đường đời chật hẹp, lòng người khôn lường, đạo lớn đã xa, tình người vạn mối. Qua lại đến đi chỉ vì mối lợi, ngu si xuẩn ngốc, tất mang họa thôi. Giữ mình giữ nhà, ngàn lần cân nhắc, vì thế người xưa mới có câu: "Nhăn mày có cớ nhăn mày, cười có cớ mỉm cười, song giữa nhăn mày và cười thì rất cần cẩn thận". Truyện này riêng kể một vị quan nhân chỉ nhân câu nói đùa sau lúc uống rượu mà gây nên nỗi thân mình bị chết, nhà cửa nát tan, làm lụy đến tính mệnh mấy người nữa. Xin tạm dẫn một câu chuyện để làm lời răn mà ngẫm nghĩ.
 
Lại nói triều vua đời Tống có một chàng trẻ tuổi chuẩn bị đi thi, họ Ngụy, tên Bằng Cử, tên chữ Trọng Tiêu, tuổi vừa mười tám, lấy được cô vợ như hoa tựa ngọc. Chưa được một tháng, chỉ vì bảng xuân sắp yết, trường thi sắp mở, Ngụy sinh từ biệt vợ, thu thập hành lý lên Kinh ứng thí. Khi Ngụy sinh sắp đi người vợ dặn:
- Được làm quan hay không thì mình cũng nên sớm trở về, đừng có bỏ mặc tình vợ chồng ân ái.
Ngụy sinh đáp:
- Hai chữ công danh là tiền trình bản lĩnh của tôi, không cần hiền thê phải lo lắng.
Rồi từ biệt vợ lên đường tới kinh, quả nhiên vừa thi là thành danh, đỗ đệ nhất giáp đệ nhị danh Bảng nhãn, thật là chuyện đẹp vang lừng kinh đô. Tất nhiên không thiếu việc viết một lá thư gửi về nhà, sai người đón gia quyến lên kinh. Trong thư trước hết thăm hỏi cùng kể việc mình được bổ làm quan, cuối thư lại ghi thêm một vài dòng, rằng: "Tôi ở trong kinh sớm hôm không người chăm sóc, đã lấy một cô vợ bé, chuyên đợi phu nhân tới kinh để cùng hưởng vinh hoa".
Gia nhân thu xếp thư từ đi thẳng về nhà, gặp phu nhân liền chúc mừng và lấy bức thư nhà đưa trình. Phu nhân mở thư ra xem, thấy nói là như thế, như thế bèn bảo người giúp việc:
- Quan nhân thật là kẻ phụ ơn, mới được làm quan đã lấy bà bé rồi!
Gia nhân bèn thưa:
- Tiểu nhân ở kinh không thấy có chuyện đó. Hẳn chỉ là lời nói đùa của quan nhân thôi. Phu nhân tới kinh sẽ biết đầu đuôi, xin đừng lo nghĩ.
Phu nhân nói:
- Người nói như thế, ta cũng khỏi lo.
Vì việc mượn người, thuê đò chưa thuận tiện nên phu nhân một mặt thu xếp hành lý, một mặt tìm người nhờ chuyển trước phong thư báo tin nhà bình an lên kinh. Người mang thư đến kinh, hỏi thăm tới nơi ở của tân khoa là Bảng nhãn họ Ngụy. Đưa thư xong, người ấy uống rượu ăn cơm rồi về, không nói nữa.
 
Lại nói Ngụy sinh nhận được thư mở ra xem, trong thư không có một câu thăm hỏi nào, chỉ nói: "Chàng ở kinh đã lấy vợ bé thì tôi ở nhà cũng tự gả cho chồng nhỏ, sớm tối sẽ đến kinh sư đấy!"
Ngụy sinh xem thư cũng chỉ nghĩ là câu nói đùa của phu nhân, không hề để ý. Chưa kịp cất thư đi thì bên ngoài có người báo:
- Có bạn cùng khoa đến thăm ạ!
Nơi ở trong kinh không được rộng rãi như ở nhà, người kia lại là bạn đồng khoa thân thiết. Người ấy biết Ngụy sinh không có gia quyến ở phòng trong bèn đi thẳng vào bên trong ngồi. Chuyện trò được vài câu, Ngụy sinh đứng dậy đi tiểu. Bạn đồng khoa kia tình cờ lật xem sách giấy trên bàn, thấy bút thư nhà viết rất buồn cười bèn cố ý đọc to lên. Ngụy sinh trở tay không kịp, đỏ nhừ mặt nói:
- Đấy là chuyện vô lý. Chỉ vì tiểu sinh nói đùa nàng nên nàng cũng viết đùa lại mà thôi.
Bạn đồng khoa cười ha hả:
- Chuyện này đem đùa là không xong rồi.
Rồi từ biệt ra về. Người ấy cũng còn trẻ tuổi, thích cười thích nói, bèn đem câu chuyện thư nhà kia ra kể khắp với người kinh đô trong chốc lát. Cũng có một bọn ghen ghét Ngụy sinh trẻ tuổi mà đỗ cao, bèn đem chuyện này coi như một tin nhỏ mà họ nghe được làm thành một bản tấu, nói rằng Ngụy sinh tuổi trẻ không biết giữ mình, không nên trao chức quan trọng yếu nên giáng chức cho làm quan tỉnh ngoài. Ngụy sinh hối không kịp, sau đó rốt cuộc làm quan không nhoi lên nổi, buông trôi cả một đoạn tiền trình đẹp như gấm như hoa. Thế là chỉ một câu đùa mà đánh mất cả một chức quan thơm.
 
 
Bây giờ lại nói chuyện một quan nhân khác, cũng chỉ vì một câu nói đùa sau lúc rượu vào mà khiến tấm thân đường đường bảy thước ra ma, lại liên lụy đến vài ba người, oan ức hại tính mệnh họ. Vì sao lại như thế? Có thơ làm chứng:
Đường đời khấp khểnh đáng buồn thay,
Đùa bỡn mà chơi, người chẳng hay.
Mây trắng vốn vô tâm bay nhởn,
Cuồng phong ập đến cuốn xô ngay.
Lại nói triều Nam Tống dựng kinh đô ở Lâm An, phồn hoa phú quí không kém gì nước cũ ở Biện Kinh. Tới bên trái Tiên Kiều ở trong thành thì sẽ thấy nhà một quan nhân họ Lưu, tên Quí, tên chữ Quân Tiến, cụ tổ vốn là nhà có căn cơ. Truyền đến tay Quân Tiến thì thời vận xui xẻo, trước còn học hành, sau thấy xem chừng không nên việc gì bèn đổi sang nghề buôn bán, thật chẳng khác gì nửa đường đi tu vậy. Trong nghề bán buôn, bởi không phải là người có mánh lới nên lại làm tiêu tan vốn liếng, dần dần nhà lớn đổi sang nhà bé, rồi thuê một căn nhà ba gian cùng là Vương thị, trẻ tuổi mà khéo thờ chồng. Sau vì không có con, lại lấy thêm người vợ bé họ Trần, là con gái ông Trần bán bánh, người trong nhà gọi là Nhị ThưĐấy là việc làm hồi trước, lúc là người ngoài ở cùng. Lưu Quân Tiến là người cực hòa nhã, dân làng đều mến gọi là Lưu quan nhân.
- Quan nhân gặp lúc thời vận xui xẻo nên mới hiu quạnh như thế này. Qua ít lâu nữa hẳn là được hưởng cuộc sống tốt hơn.
Nói thì người ta nói như thế đấy nhưng phỏng có ích lợi gì? Vì thế Quân Tiến chỉ ở nhà buồn bã, không biết làm sao.
Một hôm ngồi nhàn ở nhà chợt thấy ông lão Vương bên nhà ông bố vợ, tuổi đã gần bảy chục, đến nói với Lưu quan nhân:
- Hôm nay là sinh nhật cụ viên ngoại bên nhà, cụ cho lão đây sang đón quan nhân và nương tử tới nhà một chuyến.
Lưu quan nhân đáp:
- Chỉ vì tôi hàng ngày sống trong nỗi buồn nên cả đến tiệc thọ của nhạc phụ cũng quên khuấy đi mất!
Bèn gọi vợ là Vương thị thu xếp áo quần mang theo buộc thành một khăn gói giao cho ông lão Vương đeo trên lưng, rồi dặn dò Nhị Thư:
- Ở nhà coi giữ nhà cửa, hôm nay muộn rồi, không thể về ngay được, tối mai sẽ về nhà.
Nói xong liền đi. Đi cách thành hơn hai chục dặm thì đến nhà nhạc phụ là Vương viên ngoại, thăm hỏi chuyện trò. Ngày hôm ấy khách khứa ngồi đầy, con rể bố vợ không tiện nói hết nông nỗi nghèo khó. Đợi khi khách về hết, bố vợ giữ con rể trong phòng khách nghỉ ngơi. Sáng hôm sau, bố vợ mới tới nói chuyện cùng con rể:
- Anh Lưu này, anh không thể cứ tính toán như thế. Ngồi ăn núi lở, đứng ăn đất sụt mà! Cổ họng sâu như biển, ngày tháng nhanh tựa thoi, anh cũng phải tính ra một kế gì chứ? Con gái tôi gả tho anh, cả đời chỉ mong cơm no áo ấm, không thể cứ chờ đợi mãi như thế được.
Lưu quan nhân thở dài:
- Vâng ạ. Nhạc phụ ở trên, con đâu dám nói lên núi bắt hổ dễ, mở miệng cùng người khó. Thời thế ngày nay không có ai thương con được như nhạc phụ. Song con đành sống nghèo, bởi đi cầu xin người khác thì chỉ tổ mệt nhọc mà chẳng nên công lệnh gì.
Cụ bố vợ nói:
- Anh nói thế ta cũng không trách, chỉ vì già này không thể ngồi nhìn các con như vậy nên hôm nay có ít tiền giúp đỡ các con làm vốn tạm mở một cửa hàng bán gạo củi, kiếm lấy chút lời mà sống qua ngày, lại chẳng hay sao?
Lưu quan nhân thưa:
- Cảm tạ nhạc phụ có lòng nghĩ tới, đủ biết thế là tốt rồi!
Sau đó ăn cơm trưa rồi ông bố vợ lấy ra mười lăm quan tiền trao cho Lưu quan nhân:
- Con ơi, hãy cầm số tiền này về thu dọn lấy cửa hàng, già này đích thân đưa con gái về nhà con rồi chúc mừng con luôn, ý con thế nào?
Lưu quan nhân lạy tạ rồi lại lạy tạ, vác tiền đi thẳng ra cửa. Về đến trong thành thì trời đã muộn, sực nhớ có một người quen, bèn thuận đường đi qua cửa nhà người ấy, nghĩ bụng: "Người này cũng đang tính đi buôn, ta hãy bàn bạc với bác ta một lúc ắt hẳn cũng hay". Nghĩ rồi liền gõ cửa nhà kia, bên trong có người lên tiếng rồi ra cửa vái chào:
- Bác hạ cố đến nhà, có gì dạy bảo chăng?
Lưu quan nhân nói cho người đó biết, người bạn liền nói:
- Đệ đang ngồi nhàn ở nhà, khi nào bác dùng tới ắt xin đến giúp đỡ.
Lưu quan nhân nói:
- Được như thế thì tốt quá!
Hai người chuyện trò về một vài công việc buôn bán. Người kia bèn giữ Lưu quan nhân ở lại, sẵn có mâm chén bèn uống vài ba chén rượu. Lưu quan nhân tửu lượng không cao, cảm thấy hơi hoa mắt đứng dậy từ biệt, dặn:
- Hôm nay quấy quả bác, sáng mai phiền bác sang tệ xá bàn chuyện làm ăn.
Người bạn lại tiễn Lưu quan nhân ra tới đầu đường, rồi chào mà về, không nói đến nữa.
Nếu người nói chuyện là người cùng tuổi, cùng lớn lên với nhau, ôm chặt lấy lưng, gạt tay trở lại thì Lưu quan nhân không đến nỗi gặp tai họa như thế. Thành thử Lưu quan nhân chết mà không được bằng Lý Tồn Hiếu trong Ngũ đại sử và Bành Việt trong Hán thư!
 
Lại nói Lưu quan nhân vác tiền từng bước từng bước lần về nhà, gõ cửa đã là lúc lên đèn. Dì bé Nhị Thư một mình ở nhà, không có chuyện gì xảy ra, giữ nhà đến lúc tối thì đóng cửa ngồi ngủ gật dưới đèn. Lưu quan nhân gõ cửa, cô nàng chẳng hề nghe tiếng, gõ một lúc lâu mới biết, tỉnh dậy, thưa một tiếng:
- Ra đây!
Rồi đứng dậy ra mở cửa. Lưu quan nhân vào nhà, Nhị Thư đỡ tiền giúp chồng đặt trên bàn, hỏi:
- Quan nhân mang số tiền này ở đâu về, dùng vào việc gì?
Lưu quan nhân một phần sẵn có hơi men, một phần bực mình vì vợ chậm mở cửa, tính nói đùa dọa Nhị Thư bèn đáp:
- Nói ra chỉ e cô sợ, không nói ra thì lại phải thông báo cho cô biết. Chỉ vì tôi trong một lúc vô kế khả thi, chẳng biết làm thế nào, đành gán cô cho một người khách, song lại không nỡ xa cô, chỉ cầm cô lấy mười lăm quan tiền. Nếu khấm khá lên, tới sẽ trả lãi chuộc cô về, còn nếu cứ quẫn bách như hiện nay thì thời cũng đành vậy.
Cô vợ bé nghe thấy thế toan không tin, song mười lăm quan tiền chất đống sờ sờ trước mắt; toan tin, thì thường ngày quan nhân không chê trách mình câu nào, chị Cả cũng sống hòa thuận, làm sao lại nhẫn tâm độc ác làm vậy? Hồ nghi chưa quyết, nên lại hỏi:
- Nếu đã như vậy thì cũng phải báo cho cha mẹ tôi một tiếng chứ?
- Nếu báo cho cha mẹ cô biết thì hẳn việc không thành rồi! Ngày mai cô đến nhà người ta đã rồi từ từ tôi sẽ nhờ người đến nói cho ông bà bên ấy thông cảm, ông bà hẳn không trách tôi được
Cô vợ bé lại hỏi:
- Quan nhân hôm nay ở đâu uống rượu về đấy? - Vì đem cầm cô cho người ta rồi viết giấy tờ, uống rượu của người ta xong mới về đấy!
Cô vợ bé lại hỏi:
- Tại sao chị Cả không về?
- Cô ấy không nỡ chia tay với cô, đợi mai cô đi khỏi rồi mới về. Việc này cũng do tôi không còn cách nào khác, chỉ một lời là xong.
Quan nhân nói xong, nhịn không nổi cười thầm, rồi chẳng cởi áo lên giường nằm, bất giác ngủ đi mất.
Cô vợ bé còn thắc mắc mãi, nghĩ: "Không biết quan nhân bán mình cho người như thế nào nhỉ? Mình trước hết hãy về nhà cha mẹ báo tin, dù ngày mai người ta đến đòi mình rồi tìm đến nhà mình thì cũng phải cho ra lẽ" .
Trầm ngâm một lát rồi Nhị Thư chồng cả mười lăm quan tiền đó thành một đống dưới chân chồng. Nhân lúc chồng đang say, Nhị Thư khe khẽ thu nhặt ít quần áo tùy thân, rón rén mở cửa đi ra rồi khép cửa lại. Trước hết tới nhà hàng xóm thân thiết phía tay trái là nhà ông già Chu Tam, ngủ lại qua đêm với bà lão bên ấy.
- Nhà cháu hôm nay không can cớ gì bán cháu đi, cháu phải trước hết về nói cho cha mẹ cháu biết. Phiền bà ngày mai bảo giùm nhà cháu một tiếng. Nếu khách mua tới thì cùng nhà cháu đến nhà cha mẹ cháu nói cho rõ ràng, gì cũng phải cho ra lẽ mới được. - Nhị Thư nói.
Bà hàng xóm bảo:
- Tiểu nương tử nói phải lắm, cháu cứ việc đi, già báo cho Lưu quan nhân biết là được rồi.Qua một đêm, Nhị Thư từ biệt ra đi, không nói đến nữa. Thật là:
Cá ngao đã thoát câu vàng,
Vẫy đuôi đi thẳng chẳng màng ngó sau.
Lại nói Lưu quan nhân đánh thẳng một giấc đến canh ba mới tỉnh, thấy trên bàn đèn còn chưa tắt, cô vợ bé thì không thấy nằm bên, chỉ nghe cô nàng còn thu dọn gì đó dưới bếp, bèn gọi Nhị Thư lấy nước trà cho uống. Gọi một hồi chẳng có ai thưa, đành lồm cồm bò dậy, song vì vẫn chưa tỉnh hẳn rượu nên bất giác lại ngủ tiếp.
Nào ngờ có một tên làm chuyện bậy, ban ngày đánh bạc thua nhẵn túi, không biết kiếm đâu ra, ban đêm mò ra kiếm chác, vừa hay tới cửa nhà Lưu quan nhân. Vì Nhị Thư bỏ đi, cửa chỉ khép hờ chứ không cài, tên trộm đẩy thử thấy cửa mở toang ra liền nhón chân nhón tay đi thẳng vào phòng, không một ai hay biết. Đến trước giường, đèn còn sáng, nhìn xung quanh tịnh không có vật gì đáng khoắng; mò tới giường, thấy một người ngủ quay mặt vào phía trong, dưới chân lại có một chồng tiền xanh bèn định trộm lấy mấy quan. Không ngờ hắn làm Lưu quan nhân sực tỉnh, liền trở dậy quát to:
- Mày thật không còn đạo lý gì nữa. Tao từ nhà ông nhạc vay được mấy quan tiền để làm vốn nuôi thân. Làm sao mày lại ăn trộm của tao thì tao biết tính sao đây?
Tên ăn trộm không nói gì, cho luôn một đấm vào giữa mặt, Lưu quan nhân né mình tránh được bèn sấn tới giằng co với hắn. Tên trộm thấy Lưu quan nhân hoạt động chân tay liền co giò chạy ra khỏi phòng. Lưu quan nhân không tha, đuổi tới tận nhà bếp. Vừa đúng lúc định lên tiếng kêu hàng xóm tới bắt trộm thì tên trộm cuống lên. Hắn đang không biết chạy đâu thì thấy có chiếc rìu bổ củi sáng loáng ở ngay tầm tay. Cũng là chó cùng rứt giậu, hắn vớ luôn lấy cái rìu bổ trúng giữa mặt, Lưu quan nhân ngã vật xuống đất, rồi lại bồi thêm nhát nữa, ngã lăn qua một bên, thế là Lưu quan nhân bỏ mạng. Ô hô, ai tai! Phục duy thượng hưởng!
Tên trộm nói:
- Đã trót thì trót cho trét, chính là mày ngăn cản tao chứ tao đâu có tìm hại mày!
Nói rồi quay luôn về phòng lấy cả mười lăm quan tiền, giựt lấy tấm chăn đơn, gói kỹ, buộc chặt, ra cửa, khép lại cửa rồi bỏ đi.
Sáng hôm sau hàng xóm trở dậy thấy cửa nhà Lưu quan nhân vẫn đóng im ỉm, tịnh không tiếng người liền gọi:
- Lưu quan nhân, sáng bảnh mắt rồi đấy!
Bên trong không có ai thưa, họ liền đi vào. Thấy cửa cũng không cài bèn đi thẳng vào trong thì thấy Lưu quan nhân bị chém chết nằm trên đất, tự hỏi:
- Vợ cả quan nhân hai hôm trước về nhà mẹ đẻ, còn cô vợ bé đi đâu không thấy nhỉ?
Họ bèn lên tiếng gọi, ông già Chu Tam bên hàng xóm mà đêm qua Nhị Thư ngủ nhờ liền nói:
- Tiểu nương tử tối qua có sang ngủ nhờ nhà tôi, nói là Lưu quan nhân vô cớ bán cô ấy đi, cô ấy phải về nhà cha mẹ đẻ để hỏi, nhờ thưa lại với Lưu quan nhân giùm. Nếu khách mua có đến thì cùng đến nhà cha mẹ cô để nói cho rõ ràng. Nay một mặt nên cho người đến gọi cô ta về, một mặt cho người đi báo cho người vợ cả rồi sẽ xử trí.
Mọi người đều nói.
- Cụ nói phải lắm!
Thế là trước hết cho người đến nhà Vương viên ngoại báo tin dữ. Viên ngoại cùng con gái khóc ầm lên, hỏi người đưa tin:
- Hôm qua còn yên lành tới đây, già này tặng chàng rể mười lăm quan tiền bảo để làm vốn sau này, làm sao đến nỗi bị người ta giết chết vậy?
Người đưa tin đáp:
- Xin nói để lão viên ngoại cùng đại nương tử biết, hôm qua lúc Lưu quan nhân về đã nhập nhoạng tối, rượu đã ngà say. Chúng tôi đều không biết ông ấy có tiền hay không, về sớm hay về muộn, chỉ thấy hôm nay cửa nhà quan nhân khép hờ, mọi người đẩy cửa bước vào, chỉ thấy ông ấy bị giết chết nằm trên đất, còn mười lăm quan tiền thì chẳng thấy đồng nào, tiểu nương tử cũng không rõ tung tích. Chúng tôi gọi ầm lên thì ông già Chu Tam bên hàng xóm bước ra, bảo tiểu nương tử nhà ấy hôm qua lúc chập choạng tối có sang xin ngủ nhờ nhà ông cụ. Tiểu nương tử có nói Lưu quan nhân vô cớ bán cô ấy cho người khác, cô phải về nói cho cha mẹ biết. Qua đêm xong, sáng nay cô ấy đi rồi. Nay bọn chúng tôi tính rằng một mặt đi báo cho đại nương tử và lão viên ngoại, một mặt cho người đi gọi tiểu nương tử về. Nếu nửa đường mà đuổi theo không kịp thì đến thẳng nhà cha mẹ cô ấy, xấu tốt gì cũng gọi bằng được cô ấy về hỏi cho rành mạch. Lão viên ngoại và đại nương tử phải đi một chuyến để đòi mạng cho Lưu quan nhân.
Lão viên ngoại cùng người vợ cả vội vàng thu xếp để lên đường, cho mang cơm rượu khoản đãi người đưa tin, rồi ba chân bốn cẳng đi vào trong thành.
 
Lại nói tiểu nương tử sáng sớm ra khỏi nhà hàng xóm rồi lên đường. Đi mới được vài dặm chân đã đau đi không nỗi, ngồi ở vệ đường. Chợt thấy một người trai trẻ đầu đội khăn chữ vạn, mình mặc áo rộng khâu thẳng, lưng vác một tay nải, bên trong toàn tiền bằng đồng. Chân dận giày tơ bít tất trắng, người ấy đi thẳng tới trước mặt. Tới nơi, người ấy nhìn Nhị Thư tuy thiếu phụ không có mười hai phần nhan sắc song mắt sáng răng trắng, mặt như bông sen tỏa sức xuân, ánh mắt như sóng thu đưa tình tứ làm rung động cả lòng người. Thật là:
Hoa nội càng bắt mắt

Rượu quê lắm kẻ say.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5932
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Thu Mar 27, 2014 6:20 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 25 (B)
Người trẻ tuổi đặt tay nải xuống, tới trước mặt cúi chào thật thấp:
- Tiểu nương tử đi một mình không có ai bầu bạn, xin hỏi là nàng đi đâu?
Nhị Thư đáp lễ xong, nói:
- Tôi về nhà cha mẹ đẻ, vì đi không nổi nên tạm nghỉ ở đây. Vậy ca ca ở đâu tới và định đi đâu.
Người trẻ tuổi khoanh tay, nghiêm trang nói:
- Tiểu nhân là người thôn này, nay vào thành bán ít tơ, kiếm được ít tiền, định đi sang bên Chữ Gia Đường.
Nhị Thư nói:
- Xin nói để ca ca biết, nhà cha mẹ tôi cũng ở mé trái Chữ Gia Đường. Nếu được ca ca đi cùng thì thật may quá.
Người trẻ tuổi đáp:
- Sao lại không được? Nếu đã như vậy tiểu nhân xin tình nguyện hầu hạ tiểu nương tử đi cùng.
Hai người liền đi. Đang đi trên đường chưa được hai ba dặm đường đất, chỉ thấy từ đằng sau có hai người đi nhanh như gió đuổi theo. Hai người đuổi đến mức thở hổn hển toát mồ hôi, vạt áo phanh ra, gọi to:
- Tiểu nương tử đằng trước kia đi chậm lại. Chúng tôi có chuyện muốn báo!
Nhị Thư cùng người trẻ tuổi thấy bọn kia đuổi theo rất lấy làm lạ, bèn dừng chân lại. Hai người đằng sau đuổi tới nơi, thấy tiểu nương tử đi cùng một người trẻ tuổi thì không đợi phân bua, mỗi người túm lấy một người, mắng: - Các người làm chuyện đẹp mặt nhỉ? Định chạy đi đâu đấy?
Nhị Thư giật mình, ngước mắt lên coi, hóa ra là hai người hàng xóm, một người chính là chủ nhà mà Nhị Thư ngủ nhờ đêm qua. Nhị Thư bèn nói:
- Tối hôm qua cháu chẳng nói cho ông rõ là gì? Nhà cháu vô cớ bán cháu, cháu phải về báo cho cha mẹ biết. Hôm nay ông đuổi theo đến đây là có điều gì muốn bảo?
Chu Tam nói:
- Ta không biết đâu những chuyện đó, chỉ biết nhà cô có án mạng liên quan đến cửa công, cô phải về nhà đối chất.
Nhị Thư nói:
- Nhà cháu bán cháu, tối hôm qua tiền đã vác về để trong nhà, có chuyện giết người liên can đến cửa công gì đâu? Cháu không về!
Chu Tam nói:
- Cô bướng bỉnh ghê nhỉ! Nếu cô không chịu về, tôi hô địa phương có kẻ sát nhân đang ở đây, phiền các ông bắt giúp; nếu không thế ắt liên lụy cả đến chúng tôi, mà địa phương của cô đây cũng không được yên đâu.
Người trẻ tuổi thấy không phải chuyện chơi liền bảo thiếu phụ:
- Nếu đã như thế thì tiểu nương tử về đi, tiểu nhân cũng đi đây.
Hai người hàng xóm đuổi theo cùng kêu to:
- Nếu không có mặt anh ở đây thì thôi, nhưng anh cùng đi cùng đứng với tiểu nương tử thì anh cũng phải cùng về.
Người trẻ tuổi cãi:
- Lạ thật, tôi gặp tiểu nương tử ở giữa đường, ngẫu nhiên đi cùng cô ấy một đoạn đường, thế thì có giây mơ rễ má gì? Chẳng lẽ bắt tôi lôi về?
Chu Tam nói:
- Nhà người ta có chuyện người bị giết, thả nhà anh đi thì còn nhân chứng đâu mà kiện?
Rồi họ không để cho Nhị Thư và người trai kia làm theo ý mình. Người xem mỗi lúc một đông, đều bảo:
- Cậu kia không đi ư? Ban ngày cậu không làm chuyện xấu hổ, nửa đêm gõ cửa chẳng giật mình. Cậu cứ đi, có ngại gì?
Người hàng xóm đuổi tới cũng nói:
- Anh không đi là có tật giật mình. Chúng tôi không buông tha anh được.
Thế là bốn người đành dắt díu nhau quay về.
Tới cửa nhà Lưu quan nhân thì thật là náo nhiệt. Nhị Thư vào trong nhà thì thấy Lưu quan nhân đã bị bổ chết nằm trên đất mười lăm quan tiền để trên giường đã mất tăm, há miệng mắc quai, không nói sao được. Người trẻ tuổi kia cũng hoảng, ca cẩm:
- Đúng là xúi quẩy! Tự dưng đi cùng cô ta một đoạn đường, hóa ra thành kẻ liên can!
Mọi người còn đang ồn ào không biết phân xử ra sao thì Vương viên ngoại cùng con gái thất thểu về đến nơi. Thấy xác con rể, viên ngoại khóc ầm lên rồi bảo Nhị Thư:
- Mày làm thế nào mà giết cả chồng? Mày cướp mười lăm quan tiền rồi định trốn đi ư? Hôm nay lẽ trời soi tỏ, mày còn lý nào nói nữa?
Nhị Thư nói:
- Mười lăm quan tiền quả có thật, chỉ vì nhà cháu tối qua về nhà nói là không còn cách gì khác phải đem cháu gán cho người ta, với giá là mười lăm quan để ở đây. Nhà cháu nói hôm nay cháu phải đến nhà người mua. Vì cháu không biết nhà cháu bán cho người như thế nào nên trước hết muốn nói cho cha mẹ cháu biết, vì thế mà nhân lúc nhà cháu ngủ, đem mười lăm quan tiền xếp đống ở bên chân nhà cháu rồi khép cửa, sang nhà ông Chu Tam ngủ nhờ một đêm. Sáng sớm hôm nay mới về nhà cha mẹ báo tin. Trước lúc đi, cháu có nhờ ông Chu Tam nói lại với nhà cháu giùm là nếu người mua đến thì cùng nhà cháu đến nhà cha mẹ cháu nói chuyện bàn giao. Cháu đâu biết làm sao nhà cháu bị giết chết nằm đây?
Người vợ cả nói:
- Lại còn thế nữa? Hôm qua cha tôi rõ ràng cho quan nhân mười lăm quan tiền vác về làm vốn để nuôi vợ con, có lẽ nào quan nhân lại nói với cô là tiền đem cầm cô? Ấy là vì hai ngày cô ở nhà một mình, bắt nhân tình với người ta, lại thấy trong nhà không được dư dả, không lòng nào ở mãi, thấy mười lăm quan tiền mới sinh lòng tham lam, giết chồng, cướp tiền. Cô còn muốn cho người ta biết, sang hàng xóm ngủ nhờ một đêm, rồi cùng với trai thông đồng tính toán rủ nhau đi trốn. Bây giờ cô đi với một người đàn ông thì còn lý nào mà cãi nữa? Có chối cũng không được đâu!
Mọi người đồng thanh nói:
- Lời của đại nương tử thật là có lý.
Người vợ cả lại bảo chàng trai trẻ:
- Này anh kia, sao anh lại cùng dì bé mưu sát chồng tôi, lại ngầm dặn nhau chờ chỗ vắng vẻ để cùng trốn đi nơi khác?
Anh định tính thế nào đây?
Người trẻ tuổi đáp:
- Tiểu nhân họ Thôi, tên Ninh, không hề quen biết tí gì với tiểu nương tử. Tiểu nhân tối qua vào thành, bán được mấy quan tiền tơ ở đây, nhân trên đường về gặp tiểu nương tử, tiểu nhân chỉ ngẫu nhiên hỏi cô ấy đi đâu mà đi có một mình. Cô ấy nói đi cùng đường với tiểu nhân, vì thế mà làm bạn đồng hành, chứ tuyệt không biết gì đoạn trước với đoạn sau cả.
Mọi người đâu có chịu nghe lời phân bua của chàng ta liền lôi tay nải ra thì khéo thay vừa đúng mười lăm quan tiền, không kém một đồng nào cả. Thế là ai nấy hò reo ầm lên:
- Thật là lưới trời lồng lộng, thưa mà không để lọt. Người cùng với tiểu nương tử giết người, cướp tiền, rủ rê đàn bà con gái rồi trốn đi nơi khác, khiến suýt nữa liên lụy hàng xóm láng giềng địa phương đây dính vào vụ án không đầu mối!
Lúc ấy đại nương tử túm lấy Nhị Thư, Vương viên ngoại túm lấy Thôi Ninh, hàng xóm bốn xung quanh đều là người chứng kiến, kéo ùa cả vào phủ Lâm An. Quan phủ nghe nói có vụ án giết người tức khắc thăng đường, gọi những người có liên can nói lại từ đầu từng việc một. Trước hết Vương viên ngoại đứng lên thưa:
- Trên có tướng công, tiểu nhân là người trong thôn trang của bản phủ, tuổi gần sáu chục, chỉ sinh một gái, năm trước gả cho Lưu Quí là người trong thành của bản phủ, làm vợ. Sau vì không có con, lấy thêm Trần thị làm thiếp, gọi là Nhị Thư. Xưa nay ba người sống cùng nhà không có điều tiếng gì. Chỉ nhân hôm kia là ngày sinh của lão đây, lão có sai người sang đón con gái, con rể về nhà, ở lại một đêm. Ngày hôm sau, nhân thấy con rể không biết tính kế gì nuôi sống cả nhà bèn đưa mười lăm quan tiền cho con rể làm vốn, mở cửa hàng mà nuôi thân. Ở nhà có Nhị Thư trông nom, tới nửa đêm khi con rể về tới nhà, không biết vì nguyên cớ gì mà dùng rìu bổ chết con rể lão Nhị Thư cùng với một người trẻ tuổi tên gọi Thôi Ninh rủ nhau đi trốn, bị người đuổi bắt được về đây. Kính mong tướng công thương xót cho con rể của lão chết không rõ ràng; gian phu dâm phụ cùng tang chứng còn đủ cả đây, cúi mong tướng công minh xét.
Phủ quan nghe kêu như thế như thế liền gọi Trần thị ra, hỏi:
- Ngươi làm sao lại thông đồng với gian phu, giết chết chồng mình, cướp tiền rồi lại rủ nhau đi trốn, là cớ làm sao?
Nhị Thư thưa:
- Tiểu phu nhân được gả cho Lưu Quí, tuy là làm lẽ nhưng được nhà con đối xử tốt, chị cả lại hiền đức, con đâu dám nảy sinh lòng dạ ác độc đó? Chỉ vì tối hôm qua nhà con về nhà thì đã có hơi men, vác mười lăm quan tiền vào nhà. Con có hỏi lai lịch số tiền đó, nhà con nói vì túng bấn không đủ sống nên gán con cho người ta, được giá là mười lăm quan, lại không cho cha mẹ con được biết, ngày hôm nay là con phải về nhà người ta. Con hoảng quá, ngay đêm ấy ra khỏi nhà, sang nhà hàng xóm xin ngủ nhờ một đêm, sáng sớm hôm nay trước hết con về thẳng nhà cha mẹ, nhờ cha mẹ bảo với chồng con, nếu đã bán con cho người mua thì cũng phải đến nhà cha mẹ con để bàn giao. Con mới đi được nửa đường thì thấy ông hàng xóm cho con ngủ nhờ đêm qua đuổi theo, bắt con quay về. Con thực không biết nguyên do làm sao chồng con lại bị giết.
Quan phủ quát lên:
- Nói láo! Mười lăm quan tiền đó rõ ràng là của ông nhạc cho chàng rể, sao ngươi dám nói là tiền gán ngươi, việc thấy trước mắt như thế, còn nói gì nữa? Huống hồ đàn bà con gái, làm sao trời còn tối đã ra đi? Nhất định là tìm kế thoát thân. Việc này hẳn không thể do ngươi là phụ nữ làm được, nhất định phải có gian phu giúp ngươi lấy của hại người. Ngươi phải khai thực ra.
Nhị Thư đang định phân bua thì mấy nhà hàng xóm đều quì xuống thưa rằng:
- Lời phán bảo của tướng công đúng là lời bậc thanh thiên.
Người vợ bé nhà ấy tối qua quả có sang ngủ nhờ nhà hàng xóm thứ hai bên trái, sớm nay thì ra đi. Bọn chúng con thấy chồng cô ta bị giết chết, một mặt cho người đuổi theo, đuổi đến nửa đường thì thấy chị ta đi cùng một người trẻ tuổi, bảo mấy cũng không chịu trở về, chúng con phải bắt mới về. Mặt khác cho người đi đón người vợ cả và ông bố vợ tới nơi, nghe ông cụ nói hôm qua có cho con rể mười lăm quan tiền để buôn bán. Hôm nay người con rể bị chết, số tiền đó không biết mất đi đâu? Hỏi người vợ bé đến mấy lượt, chị ta nói lúc ra khỏi nhà có chồng số tiền đó ở trên giường. Nay khám đẫy của anh chàng kia thì đúng mười lăm quan không thiếu một đồng, thế chẳng phải nhà chị ta với anh chàng kia thông đồng làm chuyện bậy bạ hay sao? Tang chứng rõ ràng, sao chúng có thể chối được?
Quan phủ nghe họ nói có lý bèn gọi chàng trai trẻ kia ra:
- Trên có ơn đức nhà vua, sao cho phép ngươi làm chuyện bậy bạ đó? Làm sao ngươi lại dụ dỗ vợ bé nhà người, cướp mười lăm quan tiền rồi lại giết chết chồng chị ta? Hôm nay các ngươi toan đi đâu? Phải thành thật khai ra.
Người trẻ tuổi thưa:
- Tiểu nhân họ Thôi tên Ninh là người thôn nọ. Hôm qua vào thành bán tơ được mười lăm quan tiền, sáng nay ngẫu nhiên gặp tiểu nương tử này trên đường. Tiểu nhân còn chưa biết họ tên cô ấy, thì làm sao biết nhà cô ấy có án mạng liên can đến cửa công?
Quan phủ giận dữ quát:
- Nói láo! Ta không tin thế gian lại có chuyện vừa khéo đến thế. Nhà họ mất mười lăm quan tiền, nhà ngươi bán tơ cũng được vừa đúng mười lăm quan, rõ ràng là người chống chế mà thôi. Huống hồ nếu ngươi không ưng vợ người, không cưỡi ngựa người, ngươi lại không có dây mơ rễ má gì với người đàn bà ấy, làm sao lại cùng đi cùng ngủ với nó? Ngươi ngoan cố chối cãi như vậy không đánh sao chịu khai?
Thế là lính nhà quan đè Thôi Ninh và Nhị Thư xuống đánh cho chết đi sống lại. Vương viên ngoại, con gái cùng đám hàng xóm xưng xưng đổ riệt cho hai người, quan phủ cũng chỉ muốn kết thúc cho nhanh vụ án. Tra khảo một hồi, đáng thương cho Thôi Ninh và Nhị Thư chịu không nổi hình phạt đành phải liều nhận tội, tội danh là nhất thời trông thấy tiền nổi lòng tham, giết chết chồng mình, cướp mười lăm quan tiền rồi cùng gian phu bỏ trốn. Hàng xóm láng giềng cùng dùng ngón tay ký nhận bằng vẽ một chữ thập. Hai người bị cùm, đưa vào nhà lao tử tù. Mười lăm quan tiền trả cho nguyên chủ, song Vương viên ngoại đành đem biếu khắp người trong nha môn mà còn chưa đủ. Quan phủ xếp thành hồ sơ vụ án, tâu lên triều đình. Trên bộ phúc tra rồi gửi thánh chỉ xuống: "Thôi Ninh không được gian dâm vợ người, nay tham của giết người, y luật xử trảm. Trần thị không được thông đồng với gian phu, nay giết chết chồng mình, là kẻ đại nghịch không có đạo, lăng trì thị chúng". Ngay lúc đó đọc lời khai của phạm nhân, đưa hai người trong nhà đại lao ra, trên công đường phán một chữ "chém" và một chữ "xẻo" rồi đưa ra chợ hành hình cho dân chúng xem. Dù hai người có miệng đầy mình cũng không làm sao phân bua được Thật là:
Người câm trót nếm bồ hòn,
Đắng mồm vị ấy ai còn có hay?
Ai nghe chuyện vụ án này ắt phải hỏi, nếu quả Nhị Thư và Thôi Ninh tham của hại người thì họ phải bỏ trốn ngay đêm hôm ấy, làm sao lại sang nhà hàng xóm ngủ nhờ một đêm? Rồi tận sáng hôm sau mới về nhà cha mẹ để bị người ta bắt được? Nỗi oan uổng đó, nghĩ kỹ là có thể suy ra. Nào ngờ quan phủ hồ đồ, chỉ muốn chóng xong việc, không muốn suy nghĩ kỹ thì sao có thể xét ra? Trong chốn âm u, tích dồn âm đức, xa tới con cháu, gần ở ngay mình. Hai oan hồn kia hẳn cũng không thể cho qua. Cho nên người làm quan nhất thiết không được sơ ý trong khi xét án, tùy theo cảm tính mà dùng hình phạt, thế nào cũng phải tìm tới sự công bằng sáng suốt, không thể chỉ nói người chết đâu thể tái sinh, đầu đứt đâu thể nối lại được! Thật đáng than thở lắm thay!
Lại nói người vợ cả Lưu Quí về đến nhà liền lập bàn thờ, giữ niềm hiếu thuận cho qua ngày. Người cha là Vương viên ngoại khuyên nên đi bước nữa, liền đáp:
- Không nói lâu đến ba năm thì cũng phải sau ngày để trở đầy năm đã!
Người cha bằng lòng ra về. Ngày tháng thoi đưa, người vợ cả ngồi nhà mong ngóng. Được gần một năm, người cha thấy con gái không ở góa được bèn cho người nhà là ông già Vương đi đón về. Ông già Vương đến nói:
- Cụ bảo mợ thu xếp về nhà làm giỗ cho Lưu quan nhân thì đi bước nữa.
Người vợ cả không biết tính sao, nghĩ bụng:
- Cha bảo cũng có lý.
Rồi thu nhặt khăn gói, đưa cho lão Vương vác, chào từ biệt hàng xóm, tạm về rồi trở lại sau.
Ra khỏi thành đúng lúc sang thu, gió thổi mưa bay, đành phải bỏ đường cái vào một khu rừng tránh mưa, không ngờ đi lạc lối. Thực là:
Lợn dê mò đến nhà đồ tể,
Mỗi bước đưa chân nẻo chết người.
Vào đến trong rừng, bỗng phía sau rừng có tiếng quát to:
- Ta đây là Tĩnh Sơn đại vương. Ai đó dừng chân, nạp tiền mãi lộ cho ta!
Người vợ cả cùng lão Vương sợ hết hồn, chỉ thấy một người nhảy ra. Người này mình mặc áo chiến bào cũ, ngang lưng dây lụa đỏ buộc chặt, dưới chân đi đôi giầy ống da đen, tay cầm một thanh phác đao. Hắn múa đao xông tới. Ông già Vương muốn chết mới nói:
- Đồ trộm cướp chặn đường kia! Tao không biết mày là ai, thôi thì đành liều mạng già này với mày đây!
Nói rồi húc đầu tới, bị hắn tránh được. Ông già dùng sức quá mạnh, ngã lăn ra đất. Tên cướp nổi giận quát:
- Đồ trâu bò dám vô lễ?
Xỉa cho hai đao, máu loang đầy đất, xem chừng không sống được nữa. Người vợ cả thấy tên cướp hung dữ đến thế, liệu chừng không thoát nổi thân, bèn nảy ra một kế gọi là kế thoát khống, vỗ tay reo:
- Giết đúng lúc quá!
Tên cướp dừng tay, trợn tròn hai mắt dễ sợ, quát:
- Hắn là thế nào với nhà chị?
Người vợ cả giả vờ đáp:
- Tôi chẳng may góa chồng, bị bà mối dỗ dành lấy phải lão già này, lão chỉ biết ăn bám. Hôm nay may được đại vương giết cho, thật là trừ được mối hại cho tôi.
Tên cướp thấy người đàn bà để tâm như thế, lại có vài phần nhan sắc, bèn hỏi:
- Nàng có bằng lòng theo ta làm áp trại phu nhân không?
Người vợ cả suy nghĩ, thấy vô kế khả thi bèn đáp:
- Xin tình nguyện hầu hạ đại vương.
Tên cướp đổi giận làm vui, thu nhặt dao gậy, vứt xác ông lão Vương xuống suối, dẫn đường đưa tới một trang viện, người vợ cả đành miễn cưỡng đi theo. Tới nơi, đại vương nọ cúi nhặt vài hòn đất ném lên mái nhà, bên trong liền có người ra mở cổng. Vào đến thảo đường, sai mổ dê lấy rượu rồi thành thân với người vợ cả, hai bên cũng hợp được với nhau. thật là:
Biết rành chẳng phải lứa đôi,
Gặp khi nguy cấp tạm thời gá duyên. Không ngờ từ ngày lấy được vợ cả của Lưu Quí, chưa đầy nửa năm, đại vương kia vớ liền được mấy món béo bở, nhà giàu hẳn lên. Người vợ kia cũng có kiến thức, sớm tối ngon ngọt khuyên răn:
- Xưa có câu: "Nồi đất có ngày tan cạnh giếng, Tướng quân khó tránh chết trong quân." Hai vợ chồng ta đủ ăn đủ tiêu nửa đời còn lại. Nếu cứ làm mãi những việc không hợp lẽ trời này thì chưa chắc đã có kết quả tốt, chẳng nghe nói "Vườn Lương tuy đẹp đấy đâu phải chốn ở đời" đó sao? Chi bằng đại vương nên đổi nghề, làm người lương thiện, buôn bán nho nhỏ thôi cũng đủ nuôi thân lại được sống!
Đại vương kia sớm tối bị vợ khuyên mãi cũng chuyển, quả nhiên hồi tâm đổi ý, bỏ con đường đi cướp, vào trong thành thuê một căn nhà, mở một hiệu tạp hóa, nhàn nhã sống qua ngày. Thỉnh thoảng vợ chồng lại lên chùa niệm Phật ăn chay.
Bỗng một hôm ngồi nhàn ở nhà, đại vương bảo với vợ:
- Tôi tuy xuất thân là tên cướp chặn đường cướp bóc song cũng hiểu được oan phải có đầu, nợ tất có chủ. Ngày thường thì dọa nạt lừa lấy của người để mà sinh sống. Sau đó mới gặp được nàng, từ đấy làm ăn xuôi thuận. Nay tôi đã đổi nghề làm người lương thiện, lúc rồi nghĩ lại việc trước. Chỉ có hai việc vướng bận trong lòng, một là giết uổng hai người, hai là làm hai người khác oan uổng. Tôi muốn làm việc công đức để siêu độ cho họ. Điều này tôi chưa từng kể với nàng bao giờ.
Người vợ hỏi:
- Như thế nào là giết uổng mất hai người?
Đại vương đáp:
- Một người là chồng nàng. Hồi trước ở trong rừng, ông ta húc tôi, tôi liền giết chết. Người già như ông ấy chẳng có thù oán gì với tôi, nay tôi lại cướp vợ của ông ta, ông già chết đi hẳn không chịu cam tâm đâu.
Người vợ nói:
- Nếu không nhờ thế, tôi sao được chung sống với mìnhThôi, chuyện đã qua rồi, đừng nhắc đến nữa. Còn giết người thứ hai, là ai vậy?
Đại vương đáp:
- Nói đến người này thì càng không đúng với lẽ trời, lại còn làm liên lụy đến hai người khiến họ vô tội mà phải đền mạng. Ấy là chuyện một năm trước đây, tôi đánh bạc thua sạch, không còn một đồng, ban đêm bèn đi kiếm chác chút ít. Mò đến cửa nhà ấy, thấy một người say rượu nằm quay trên giường, dưới chân có một đống tiền đồng, tôi tính cuỗm lấy vài quan. Đang tính đi thì người kia giật mình tỉnh giấc. Người ấy trở dậy nói: "Đây là số tiền ông nhạc ta cho ta làm vốn, để ngươi lấy đi thì cả nhà ta chết đói à?" Rồi người ấy chạy sấn ra ngoài cửa buồng, đang định kêu ầm lên. Khi ấy tôi liệu không nói chuyện được với anh ta, lại sẵn bên chân có cái rìu bổ củi, thế gọi là kế nảy sinh khi nguy cấp. Tôi giơ rìu lên, quát: "Không phải tao mà tại mày!", bổ cho hai nhát rồi vào trong buồng vơ hết cả mười lăm quan tiền. Sau này hỏi thăm, được biết tôi làm liên lụy đến vợ bé của anh ta cùng một người trai trẻ tên là Thôi Ninh. Ai cũng bảo hai người tham của giết người, cả hai đều chịu hình phạt theo phép nước. Tôi tuy làm cướp một thời song hai vụ chết người này thì cả lẽ trời và lòng người đều không thể cho qua được. Sớm muộn gì cũng phải siêu độ cho họ, đó là điều rất nên làm.
Người vợ nghe nói vậy thầm kêu khổ: "Thì ra chồng mình bị tên này giết, lại làm liên lụy đến Nhị Thư nhà ta cùng người trẻ tuổi, cả hai đều vô tội mà bị tội chết. Nghĩ lại, ta lúc đầu không nên nhất quyết đòi họ đền mạng mới phải. Hai người ấy ở dưới âm ty hẳn sẽ không tha cho ta đâu!"
Nghĩ rồi tạm vẫn vui vẻ như thường, không nói gì nữa.
Ngày hôm sau chớp được dịp, người vợ bèn đi thẳng tới trước cổng phủ Lâm An, kêu oan khuất ầm lên. Lúc này quan phủ mới đã nhận chức được nửa tháng. Quan vừa thăng đường thì tả hữu kéo người đàn bà kêu oan vào. Vợ cả Lưu Quí đến dưới thềm thì khóc rống, khóc xong mới thuật hết những việc làm trước sau của đại vương tướng cướp như đã giết Lưu Quí, chồng chị ta như thế nào; quan phủ trước không chịu suy đoán cho kỹ, chỉ hàm hồ cho qua chuyện khiến Nhị Thư và Thôi Ninh phải đền mạng mù mờ, sau lại giết ông lão Vương, lừa dối chị ta như thế nào.
- Bẩm quan, hôm nay lẽ trời sáng tỏ, tất cả là tự miệng hắn thừa nhặn. Cúi mong tướng công giơ cao gương sáng, chiêu tuyết nỗi oan thủa trước! - Vợ cả Lưu Quí nói xong lại khóc.
Quan phủ thấy tình cảnh và lời kêu đáng thương, tức khắc cho người đi bắt Tĩnh Sơn đại vương lôi đến, đánh đập hỏi tra thì lời hắn khai khớp với lời kêu của người đàn bà, không sai chút nào. Tức thì quan ghép vào tội chết, tấu gửi lên trên. Hết kỳ hạn sáu mươi ngày, thánh chỉ đưa xuống:
"Xét tên Tĩnh Sơn đại vương tham của giết người, làm liên lụy đến người vô tội. Chuẩn theo luật giết ba người không phải tội chết trong một nhà thì mức chém tăng nặng hơn không còn trì hoãn. Quan phủ trước đây xét án không đúng sự thực, truất chức cho về làm dân thường. Thôi Ninh và Trần thị chết uổng đáng thương, quan phủ mới cho người đến thăm nhà, tùy theo tình hình mà chu cấp. Vương thị đã do tên cướp bức bách phải thành thân, nay lại biết rửa oan cho chồng thì số gia sản của tên cướp sung công một nửa, một nửa cho Vương thị đủ sống suốt đời"
Ngay hôm ấy người vợ cả Lưu Quí ra pháp trường xem Tĩnh Sơn đại vương bị hành quyết, xong nhặt đầu hắn mang về tế chồng, Nhị Thư và Thôi Ninh, rồi khóc rống hồi lâu. Sau đó đem một nửa gia sản được chia cúng hết cho am ni cô, tự mình sáng chiều xem kinh niệm Phật, truy tiến vong hồn, già đến trăm tuổi mới mất.
Có thơ làm chứng:
Không phân thiện ác mới toi đời,
Tai họa gây nên bởi bỡn cười.
Nhắn nhủ nói năng cần xác tín,
Lưỡi môi mầm vạ chẳng hề sai.

Hết Tập 1

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5932
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Fri Mar 28, 2014 4:48 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Tập 2 - Chương 1
Giữ Phép Nước, Trung Thần Trừ Kẻ Ác 
Gây Án Oan, Gian Đảng Hại Người Trung
Người ta thường nói: "Trừ cỏ tận gốc", có nghĩa là, trừ ác cũng phải trừ tận gốc. Song thánh nhân lại nói rằng: "Ghét kẻ bất nhân quá đáng sẽ sinh loạn". Quá khích thì sinh biến loạn, bởi thế không thể không đề phòng. Chẳng hạn như thời Gia Tĩnh triều Minh, có một vụ án oan mà khiến cho ai ai cũng phải nghiến răng căm giận. Chỉ vì trị bọn tiểu nhân mà liên quan đến đại thần quốc thích. Vì triều đình bảo vệ quốc thích mà tha cho bọn tiểu nhân, khiến bọn gian manh lọt lưới còn viên quan thẳng thắn thi hành pháp luật thì lại bị cho là hãm hại người vô tội, rồi bị bắt giam vào ngục đền tội. Các quan trong Đài gián, có người đứng ra tranh luận đều bị giết một cách nhục nhã, và trở thành thảm họa trong giới quan lại. Há đây chẳng phải là sự thưởng phạt hết sức vô cớ sao! Song quân tử cũng có chỗ không đúng. Cổ nhân xưa từng nói: "Đánh chuột phải loại trừ đồ vật". Thiết nghĩ, các bậc quân tử phải biết tính toán từ trước, sao lại để đến nỗi phải đắm chìm vào án oan, đến khi quan mới lên thay, công luận mới đề cập tới. Thế mới thấy, ghét kẻ ác đừng ghét quá đáng, và không thể không theo lời dạy của thánh nhân.
 
Thời Gia Tĩnh triều Minh, huyện Quách Đại Châu, Sơn Tây, có một kẻ gian ác tên là Vương Lương, hắn đã xướng lập ra tà đạo Bạch Liên, phù phép lừa dối những người ngu muội. Những người theo đạo Bạch Liên, dù nam hay nữ đều gọi là "Phật tử", kết bè kết đảng, sống chung chạ với nhau. Vương Lương có ảo thuật mê hoặc người, tất cả những con gái xinh đẹp trong vùng và các ni cô trẻ đều bị hắn làm ô nhục. Ngay đến cả những nhà giàu có cũng đều bị tà đạo lừa dối. Tay chân của hắn có tới hàng vạn tên, đều luyện phép thuật yêu ma quỷ quái chúng ra ngoài mặc sức gian dâm với đàn bà con gái, cướp bóc tài sản, không từ một việc gì.
 
Có một vị tú tài, vợ anh ta không đẹp lắm. Một hôm vào buổi tối, một cô gái tới nhà xin ngủ trọ, thấy cô đẹp, tú tài muốn dụ cô gian dâm, bèn giữ cô ngủ lại tại buồng của vợ, rồi bàn với vợ rằng, khi cô ta vào phòng thì tắt đèn đi ra, sau đó anh ta vào phòng ngủ với cô. Vào lúc canh hai, chờ cho vợ ra, vị tú tài bèn rón rén tới bên giường, chưa dám hành sự ngay. Nào ngờ người trên giường chờ đợi từ lâu, nghe thấy tiếng bước chân bèn nhổm dậy ôm chầm lấy. Thấy thuận lợi, tú tài nhảy tót lên giường để thỏa dục mây mưa. Nào ngờ, cái của người ấy cất lên, to cứng hơn cả của mình. Tú tài nhảy vọt ra, kêu rầm lên bảo mọi người bắt người ấy trói lại. Hỏi ra thì đó là đồng bọn của Vương Lương. Hắn thường giả làm đàn bà để lừa vợ con người khác. Bất chợt tú tài giận dữ, cắt phăng dương vật của hắn, sợ hắn chết trong nhà bất ổn, bèn đắp thuốc vào vết thương, rồi thả ra. Đó chẳng phải là một chuyện lạ ư?
 
Lại có một làng, đêm đêm ma quỷ cứ tác oai, tác quái. Vừa chập tối đã thấy có bóng đen đột nhập vào nhà, có khi thì giống lừa ngựa, có khi hình người mặt xanh răng chìa ra như quả chuối mắn, trẻ con sợ khóc thét lên, suốt đêm không lúc nào yên giấc. Biết được bọn tà giáo của Vương Lương có thể trừ tà đuổi quỷ, họ thu gom tiền bạc, xin Vương Lương dùng phép bắt maVương Lương bảo họ, nếu thôn ấy theo đạo của hắn thì quỷ quái không tới quấy nhiễu nữa. Quả nhiên đúng như thế. Từ đó những người xa kẻ gần không ai không sùng bái. Việc tác oai tác quái như thế không phải chỉ một lần mà thôi, ngờ đâu bọn yêu tặc lại còn nhiều lần dùng phù phép trêu người.
Tên cấp phó của chúng là Lý Phúc Đạt, dũng mãnh có thừa và cũng vô cùng giảo hoạt, hắn đã dùng thủ đoạn mê hoặc ngu dân như Vương Lương. Về sau, quan phủ biết được, bắt mấy kẻ đồng đảng của chúng trị tới cùng. Lý Phúc Đạt bèn liên kết với Vương Lương ngang nhiên chống lại. Hắn tụ tập hàng ngàn người giết hại dân thường, đốt nhà cướp của rất hung hãn. Phủ quan đem quân đánh vào sào huyệt, song bị chúng giết không còn đường thoát.
Vương Lương lại có thuật cấm binh khí, đao gậy, cung tên đều không chạm vào người được. Do đó thế giặc ngày càng mạnh, quan quân triều đình không sao chống nổi. Phủ quan hỏi mọi người về cách chống giặc. Có một tướng quân nói:
- Phép thuật vặt ấy phá chẳng khó khăn gì. Hãy bảo quân lính mỗi người cầm một chiếc gậy tùy thân, gặp giặc dùng gậy đánh, không dùng dao chém, thì bọn chúng không sao chống cự nổi.
Phủ quan làm theo kế ấy. Bọn giặc cứ dựa thế binh khí sẽ không chạm vào người được, bởi thế mà chúng cứ ung dung không hề phòng bị. Nào ngờ quan quân bất thần ập tới, dùng gậy đánh. Một người thắng, tất cả ồ ạt xông lên. Trận ấy bọn yêu đảng chết không sao kể xiết. Thấy yếu thế, đội quân ô hợp hè nhau chạy tán loạn. Tên đầu sỏ Vương Lương bị bắt, cùng với hơn hai mươi tên đồng đảng, tất cả bọn chúng đều bị trảm thủ bêu đầu. Chỉ còn Lý Phúc Đạt là một tên giảo hoạt, thấy Vương Lương thất thế bèn hoảng hốt cải trang chạy trốn.
 
Quân tướng nhà Minh rất chủ quan, tìm không thấy hắn, cho thế là xong việc. Nào ngờ Lý Phúc Đạt trốn tới huyện Từ Câu phủ Thái Nguyên, đổi tên là Trương Dần. Khi hắn chạy trốn, mang theo nhiều vàng bạc châu báu. Huyện ấy có một người họ Trương, là người vừa giàu lại vừa có thế lực. Trương Dần lân la kết giao, nhận là người trong nhà, ghi vào gia phả để che mắt mọi người. Con mắt người đời rất thiển cận, thấy hắn có tiền của, có thế lực, cũng chẳng để ý gì đến, chỉ biết hắn là Trương Dần, chứ hoàn toàn không hiểu được trước đây hắn là Lý Phúc Đạt. Sau này thấy việc truy bắt đã buông lơi, hắn bèn đem tiền của đến kinh đô kết giao với những người quyền quý để làm bùa hộ mệnh. Thời ấy quốc thích Vũ Định hầu - Quách Huân - ngang nhiên nhận hối lộ, hắn là kẻ tiểu nhân tham lam vô liêm sỉ, ai có tiền cũng có thể mua chuộc được. Trương Dần dùng lễ vật hậu đút lót, chui vào làm thợ. Những ngày lễ tiết quanh năm đều mang lễ hậu đến dâng tặng. Thăm dò, biết được Vũ Định hầu là người mê gái, Trương Dần bỏ ra một ngàn lạng vàng mua một mỹ nữ, vờ làm con đẻ của mình dâng hiến, khiến Vũ Định hầu vô cùng sung sướng, ngay cả tính mệnh của mình cũng muốn hi sinh cho Trương Dần.
 
Trương Dần giả, dựa vào thanh thế của Quách Huân, kết giao với các quan trong triều thân thiết như anh em ruột thịt. Vừa lúc triều đình mở ra một lệ mới, Lý Phúc Đạt theo lệ ấy, bỏ ra một ngàn thạch thóc, được bổ nhiệm làm Chỉ huy vệ Thái Nguyên Sơn Tây. Một tên hung đồ trốn chạy, lại làm quan theo lệnh của triều đình, thật đáng nực cười!
Phúc Đạt có hai con trai, con trưởng là Đại Nhân, con thứ là Đại Nghĩa, đều làm thợ cho Quách Huân, sống tại kinh đô. Đây là nơi đầu mối giao thông quan trọng, đúng là con thỏ giảo quyệt đã tìm được ba cái hang để lánh mình? Có được chỗ dựa vững chắc như Thái Sơn, quả là hắn đã phủ nhung lụa, gấm vóc lên tội ác của hắn, có tài thánh cũng không nhận ra được hắn là ai.
 
Đại Châu có một người tên là Tiết Lương, chơi thân với Phúc Đạt từ khi còn bé. Nghe nói Phúc Đạt phạm tội chạy trốn, quân triều đình không truy lùng ra, lại nghĩ hắn ẩn nấp ở nơi xa, nhất định sẽ phải bỏ xương nơi đất khách quê người. Ngẫu nhiên đến Thái Nguyên thăm người thân, đang đi lang thang trên đường, thì thấy một quan võ cưỡi ngựa, quát thét dạt đường, đằng sau là bốn năm người lính hầu áo mũ oai vệ, khí thế ngang tàng, trông rất hách dịch. Tiết Lương đứng dẹp vào vệ đường để cho họ đi qua. Khi ngựa Trương Dần tới nơi, Tiết Lương chợt nhận ra người ấy là Lý Phúc Đạt. Tiết Lương giật thót mình, nghĩ rằng: "Sao người ấy lại được thế này?". Rồi lại thấy một người tới nói chuyện với ông ta, Tiết Lương lắng nghe tiếng nói, thì quả không sai. Song cũng không dám tin: "Có thể là người giống nhau, chứ chưa chắc đã đúng". Trong lòng Tiết Lương thắc thỏm không yên, nửa tin nửa ngờ. Chờ cho đoàn người đi qua, Tiết Lương đến một nhà trước mặt phố lễ phép hỏi:
- Thưa ông, người cưỡi ngựa đi trước là quan gì vậy?
- Đấy là ngài Trương, Chỉ huy vệ Thái Nguyên, tên là Dần. - Người hàng phố nói.
Tiết Lương vẫn không sao cả quyết được, nghĩ: "Nếu là ông ta thì sao lại vinh hiển đến thế? Nếu không phải là ông ta thì sao nụ cười, tiếng nói, nét mặt lại đúng là ông ta?". Nghĩ đi nghĩ lại mãi, rồi Tiết Lương tự nói thầm với mình: "Đúng rồi, ông ta sợ nên đổi tên là Trương Dần, rồi tìm cách làm quan ở đây. Thôi thì cứ mặc ông ta, ngày mai mình tới thăm ông ta xem sao, chưa biết chừng mình không những được dối xử tốt, mà lại còn mua chuộc, mình đừng lộ ra, và biết đâu lại được một món tiền to!”.
Nghĩ thế, Tiết Lương yên tâm ngủ. Sáng sớm hôm sau, cơm nước xong Tiết Lương tìm đến dinh quan Phúc Đạt. Tới cửa ông ta chắp tay nói với người gác cổng:
- Ông lớn các ông có nhà không?
- Đang ở nhà. - Người ấy đáp.
- Xin phiền ông nói với ngài rằng có người bạn cũ đến thăm. - Tiết Lương nói.
Người gác cổng hỏi họ tên, Tiết Lương nói:
- Ông không cần phải hỏi, lát nữa gặp ông chủ khắc biết.
Người gác cửa vào bẩm. Phúc Đạt thấy nói là người bạn cũ không đoán được là ai, nói:
- Hãy mời ông ấy vào?
Người ấy vừa vào, Trương Dần biết ngay là Tiết Lương, mặt bỗng tái đi, nhưng vẫn tỏ vẻ tươi cười bước xuống thềm chắp tay nói:
- Từ ngày xa nhau đến giờ bạn vẫn bình an chứ?
Tiết Lương chắp tay nói:
- Nghe thấy cố nhân ở đây, tôi nhã ý tới thăm.
Thế rồi Phúc Đạt mời Tiết Lương vào thư phòng.
Tiết Lương thấy xung quanh không có ai mới hỏi:
- Trước đây ông lâm sự, sao đến được đây làm quan, vinh hiển tới mức này?
Phúc Đạt xua tay nói:
- Việc trước ông đừng nhắc tới nữa. Sao ông lại biết tôi ở đây?
- Hôm qua thấy ông trên đường, vì tùy tùng đông tôi không tiện hỏi, nay nhã ý đến thăm ông. Chỉ mình tôi lưu lạc tới đây, vốn liếng hết sạch, nhờ ông giúp cho chút ít, không biết ý ông thế nào.
- Điều này không cần phải nói. - Phúc Đạt nói. - Nhưng ông đã đến đây cũng phải lưu lại chơi mấy ngày, chờ tôi thu xếp lúc đó tôi sẽ tiễn chân ông về phủ, ông thấy thế nào?
Tiết Lương thấy ông ta có lòng tốt, hết lời cảm tạ. Rồi Phúc Đạt cho dọn cơm rượu ra, hai người cùng ăn uống rất vui vẻ. Cơm nước xong, Phúc Đạt dặn dò bọn tay chân rằng:
- Hãy sắp xếp giường chiếu cho ông nghỉ tại thư phòng.
Chuyện trò hồi lâu, cuối cùng Phúc Đạt nói:
- Ông cứ yên tâm nghỉ tại đây.
Rồi Phúc Đạt vào nhà trong, nghĩ thầm: "Chẳng ai biết được tông tích của ta, nay hắn biết được, nếu hắn ra ngoài nói cho người khác biết thì nguy to! Thôi thì ta ra tay giết hắn trước để trừ hậu họa". Ngấm ngầm tính toán xong, hắn gọi hai tên tâm phúc đến thì thào dặn rằng:
- Lão đến hôm nay là kẻ thù truyền kiếp của ta, ta đã giữ hắn ở lại thư phòng. Ta nhờ vào lưỡi dao sắc của ngươi để giết hắn. Vào canh ba đêm nay hãy kết liễu đời hắn, rồi vứt xác hắn ra ngoài đồng hoang. Phải làm cho thật mau lẹ gọn gàng, xong việc ta sẽ thưởng cho các ngươi hai mươi lạng bạc, và sau này ta sẽ cất nhắc các ngươi. Các ngươi có muốn làm việc này không?
Hai tên đầy tớ vui vẻ đáp:
- Xin ngài cứ ngủ ngon. Việc khác chúng con không làm được chứ việc này là việc vặt, có đáng gì. Xin hứa với ngài sẽ làm êm ru.
Phúc Đạt rất mừng. Hai người cũng hớn hở bước ra, định nửa đêm hành sự.
Tiết Lương ăn cơm tối xong, ngồi một lúc lâu mới đóng cửa thư phòng, lên giường nằm nghỉ. Tự nhiên Tiết Lương thấy đau bụng, định tìm chỗ vắng đại tiện, bèn ra khỏi thư phòng. Đêm ấy ánh trăng lờ mờ, thấy mé nhà có một lối đi nhỏ, Tiết Lương lẻn ra xem chuồng ngựa chỗ nào, nhưng đây là một khu đất trống. Định ra đó thì bỗng nghe thấy bên kia tường có tiếng thì thào. Một người nói:
- Vì sao ông lớn lại định giết người ở thư phòng?
- Anh không nghe ông lớn nói, - người kia nói, - người ấy là kẻ thù của ông lớn ư?
Tiết Lương nghe thấy rụng rời chân tay, ngay đi đồng cũng không kịp, nghĩ: “Không ngờ tên giặc ấy lại lòng lang dạ sói như thế! Nếu chậm chút nữa thì tính mạng mình sẽ đi đời, phải chạy trốn ngay mới là thượng sách". Tiết Lương rón rén bước qua chuồng ngựa, thấy có bức tường đất, tìm chỗ thấp leo qua. Rất may bên ngoài lại là đường cái thông đi các ngã. Tiết Lương chạy thục mạng, không biết đã bao xa.
Đúng lúc ấy Tri phủ Thái Nguyên đi dự tiệc trở về, Tiết Lương nhìn thấy, cắm cổ chạy thẳng vào đường ông lớn đang đi bị quân lính tóm được, hỏi anh là ai. Tiết Lương nghĩ rằng, phải tố cáo Lý Phúc Đạt, nhưng chưa nghĩ ra cách nào, nay lại thấy Tri phủ Thái Nguyên, Tiết Lương xông vào, ra sức kêu oan. Ông lớn quát hỏi:
- Ngươi có việc gì oan khuất mà đêm hôm kêu gào?
- Con gặp nạn phải chạy trốn, có sự việc tày trời muốn cáo giác nhưng người đông không dám nói, xin ngài cho về tư dinh con sẽ mật báo.
Tri phủ cho dẫn anh ta về dinh. Vừa vào cửa, đã cho gọi Tiết Lương vào nhà riêng hỏi tố cáo việc gì. Tiết Lương bẩm rằng:
- Con là người Đại Châu, tên giặc Lý Phúc Đạt là người đồng hương quen biết. Trước đây con nghe hắn trốn đi biệt xứ, hôm qua con gặp Trương Dần, Chỉ huy vệ Thái Nguyên, nhìn kĩ mới nhận ra hắn chính là Lý Phúc Đạt. Vì con đến thăm, Phúc Đạt dặn con không được nói ra, giữ con lại qua đêm. Con tưởng hắn tốt, nào ngờ hắn định giết con để bịt đầu mối. Con bỗng nhiên đau bụng ra ngoài tìm chỗ đại tiện, song nghe thấy bên kia đường hai người mưu giết con nói chuyện với nhau. Con đã vượt tường chạy trốn và đến cáo giác với ngài.
Quan Tri phủ nói.
- Tên quan chỉ huy Trương Dần có đúng là Phúc Đạt đổi tên không? Ngươi không được cáo giác bừa.
- Nếu con nhận không đúng thì làm sao con dám tố cáo. - Tiết Lương trả lời.

Quan phủ nghĩ: "Lý Phúc Đạt là tên tội phạm nguy hiểm, hiện các nơi đang truy nã nghiêm ngặt mà vẫn chưa bắt được. Nay hắn thay tên đổi họ, chạy đến đây làm quan. Đã có người tố giác thì nhất định đúng hắn rồi!”. Ngay đêm ấy dẫn người đi báo với Đô viện. Đô viện được tin bèn truyền lệnh cho trung quân đem tiêu binh hiệp đồng với Tri phủ, Tri huyện bắt gian đảng.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5932
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Fri Mar 28, 2014 5:13 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 1 (B)
Hai tên tay chân của Lý Phúc Đạt, vào khoảng canh ba tới thư phòng, không thấy Tiết Lương, vội vàng báo với chủ. Biết được Tiết Lương đã bỏ đi, Phúc Đạt sợ xanh mặt. Thấy nguy cấp, suốt đêm không sao ngủ được, lại nghe thấy bên ngoài có tiếng người ngựa, rồi sau đó thấy tiếng đập cửa thình thình. Mở cửa ra, thấy đèn đuốc sáng rực ập vào, đi sau là hai vị phủ quan, quan thấy Phúc Đạt liền quát thét:
- Bắt ngay!
Phúc Đạt phân trần mình vô tội.
- Ngươi là Lý Phúc Đạt, - quan lớn quát, - hiện có Tiết Lương đang tố cáo, còn biện bạch gì nữa!
Thấy sự việc bại lộ, Phúc Đạt bèn cúi đầu chịu trói. Quan phủ khóa tất cả bọn người nhà giải đi. Kiểm tra toàn bộ tài sản, niêm phong cửa, một mặt báo cho địa phương trông coi, mặt khác giải phạm nhân về dinh quan tra hỏi. Tiết Lương được gọi ra cùng đối chất với Phúc Đạt. Tiết Lương nói rất rạch ròi, Phúc Đạt tuy giảo hoạt, nhưng sự thực rành rành, không thể che giấu nổi, đành phải thừa nhận.
Quan phủ thấy hắn cung khai, cũng không tra tấn, giam hắn vào ngục, rồi bẩm lên cấp trên xin chiếu chỉ định đoạt. Rồi lập tức gửi văn bản về kinh đô bắt hai đứa con. Thời ấy phủ Thái Nguyên đều có báo tin tức, người ta túm năm tụm ba truyền tin đi khắp mọi nơi rằng: "Đời nay có tiền thì kẻ cướp cũng được làm quan". Tuy Phúc Đạt bị giam, song vẫn liên hệ thông suốt với kinh đô. Ngay đêm ấy đã báo tin cho hai đứa con, bảo chúng trốn chạy đến phủ Vũ Định hầu, nhờ ông ta cứu giúp, nhất định sẽ hậu tạ. Quách Huân biết tin gửi thư cho Tất Chiêu là quan Tuần phủ Sơn Tây, nhờ ông ta phóng thích. Là một kẻ muốn đề cao quyền lục, thấy Quách Huân có thư nhờ cậy, Tất Chiêu ghép luôn Tiết Lương vào tội vu cáo. Các quan thẩm phán ra sức tranh cãi, song vẫn không thể bác bỏ, cuối cùng vụ trọng án thật lại dần dần trở thành mơ hồ.
Đúng lúc ấy quan Ngự sử tiếng tăm lừng lẫy tên là Mã Lục được lệnh tuần du Sơn Tây. Vốn là người thanh liêm, chính trực chưa tới nhiệm sở, Mã Lục đã nghe thấy vụ án này tuần phủ không chịu chấp hành pháp luật, lại trì hoãn lâu ngày không giải quyết, lập tức ông đưa vụ án Lý Phúc Đạt ra phúc thẩm. Ông cho người tới huyện Quách Đại Châu bắt những người hàng xóm Lý Phúc Đạt đến nhận mặt, lại đưa giấy đến huyện Từ Câu kiểm tra nơi ở của hắn. Kết quả phúc thẩm: "Phúc Đạt không phải là người ở đây, hắn đã tới đây từ năm bị truy lùng, hắn đã mạo nhận là họ Trương, đổi tên là Trương Dần". Đâu đâu cũng thấy chứng cứ, sau đó Mã Lục lại bắt Phúc Đạt lấy khẩu cung, thì quả nhiên hắn cung khai đúng như thế.
Vụ án đã kết luận, đang định tấu lên Chính pháp, bỗng một hôm quan Tuần bổ bẩm rằng:
- Vũ Định hầu sai người đưa thư tới.
Theo quy định của nha môn, tất cả những thư đã dán kín không được bỏ vào hòm thư. Thư của Vũ Định hầu gửi tới tất có sự nhờ vả về vụ án, phải đệ trình ngay lên quan. Sai nhân bước tới trước bàn dâng thư, quan Ngự sử họ Mã bóc ra xem, cười ha hả nói:
- Thật là một đại thần quốc thích! Đã nói giúp cho một tên đại tặc, lẽ nào ông không hiểu được phép vua!
Sai nhân cậy mình là người của phủ Hầu, nói:
- Thưa ông lớn, phép vua vốn cần thiết, song e rằng tình riêng cũng rất cần.
Tuần án quát:
- Đánh đánh rồi hãy nói sau!
Tay chân đồng thanh quát, lôi tuột ra đánh. Bị đánh hai mươi gậy, sai nhân đau quá không chịu nổi, van xin tha tội:
- Con tự biết đã xúc phạm, xin ngài nể mặt ông lớn nhà con.
- Nể mặt chủ mày, đánh thêm hai mươi gậy nữa! - Tuần án đáp.
Mã Lục trừng phạt hắn bốn mươi gậy, rồi bảo hắn chống nạng mà về. Sai nhân ôm đầu lủi ra.
Tuần án lập văn bản, gửi kèm theo cả bức thư của Quách Huân. Gia Tĩnh đế xem văn bản chuẩn y ngay, lại giáng chỉ, quở trách Quách Huân. Đúng là án đã quyết thì phép trời cũng không thể lập được.
Nếu như gián quan không tham gia hạch tội, thì việc ấy đã kết thúc. Tiếc rằng phong khí thời Minh, gián quan rất thích tranh luận để tỏ rõ năng lực của mình. Bản thứ nhất không phê lại đệ lên bản thứ hai, bản thứ hai cũng không phê chuẩn, thế là cứ tiếp tục dâng bản tấu lên, triều đình cứ rối như canh hẹ. Bởi thế vương thân quốc thích có đôi chút sai sót cũng đều sợ ông. Lúc đầu họ bàn luận về đúng sai, tiếp đó họ lại đề cao chí khí, cốt yếu là thể hiện tài hùng biện của họ. Triều đình chán ngán để lại, không nhắc đến nữa. Nay thấy Mã Tuần án tấu trình lên, Vũ Định hầu che chở cho kẻ phản nghịch, viết thư riêng nhờ vả, các quan đều đùng đùng nổi giận. Có người nói:
- Phúc Đạt giết hàng vạn người, trốn biệt tăm tích, nay tội đã rõ ràng, khép hắn vào tội cực hình vẫn còn chưa xứng. Vũ Định hầu lại quanh co xin cho hắn cũng đáng phải trị tội.
- Liên hệ với kẻ giặc phản nghịch, - có người nói, - rõ ràng là kẻ nhận hối lộ của Phúc Đạt, phải chu diệt. Quách Huân cũng khó mà tha được .
Những bản vạch tội hắn càng về sau càng ghê gớm. Họ nói về kẻ che chở cho bọn phản nghịch, bụng dạ khó lường, phải ghép vào tội mưu phản, phải diệt cả họ mới đáng. Quách Huân sao có thể chống cự nổi, bèn đi van xin Trương Thông, Quế Ngạc, những sủng thần tâm phúc của triều đình, cầu mong họ che chở.
Vì sao Trương Thông, Quế Ngạc lại được triều đình sủng ái? Thời ấy hoàng đế Chính Đức băng hà, không có con nối dõi, di chiếu để lại là lập Hậu Thông - con cả Hưng Hiếu vương, thuộc cháu ruột Hiếu Tông - lên thừa kế. Quần thần bèn tôn ông lên làm hoàng đế, đó là Gia Tĩnh đế. Gia Tĩnh tức vị, tôn cha đẻ của mình làm Hưng Hiếu hoàng đế, gọi Hiếu Tông hoàng đế là Bá. Đó là tình riêng, chứ thực ra không thuận lẽ trời, lòng người. Chẳng hạn như dân thường không có con lập người thừa tự, giao hết tài sản cho người thừa kế, tự tiếp nhận việc thờ cúng, thì cha mẹ sinh ra mình phải kém một vai. Nếu chỉ coi trọng người sinh ra mình, coi cha mẹ mà mình thừa kế như chú bác, thì việc thừa tự có ích gì? Thiên tử và thứ dân cũng thế thôi. Bởi thế mà quần thần làm căn cứ vào kinh điển, đều nói không nên xưng Hưng Hiếu là Khảo. Gia Tĩnh bị công luận ngăn trở, đành phải nín nhịn.
Thời ấy Trương Thông vừa đỗ tiến sĩ, những việc lớn trong triều chẳng thấy ông mở miệng bao giờ. Một hôm Trương Thông gặp một người thầy tướng, người ấy nói:
- Xem tướng thì thấy trong hai năm nữa ngài sẽ làm tới chức tể tướng.
- Ta mới đỗ tiến sĩ, - Trương Thông nói, - làm sao hai năm nữa, bỗng chốc leo lên hàng tể tướng được?
- Tướng ngài sinh ra như thế, - thầy tướng nói, - ngay đến tôi cũng không sao biết được.
Đúng lúc cuộc bàn luận về đại lễ xảy ra, Thông thấy triều đình muốn tôn sùng người đẻ, song bởi hội nghị triều đình ngăn trở, nên không toại nguyện. Ông ta bèn nghĩ rằng: "Nếu ta sáng lập ra một cuộc bàn luận khác, bác bỏ những lời bàn của quần thần, thì hoàng đế nhất định vui lòng, và phú quý sẽ đến tay". Thế là ông ta dâng sớ tâu rằng:
- Hoàng thượng được thừa trị đại tông, tôn Hiếu Tông là Hoàng Khảo, tôn Hưng Hiếu vương là Hoàng Thúc Phụ, các triều thần trong triều đình quá câu nệ vào chuyện cũ, Hán Ai đế Tống Anh được lập làm thái tử dự bị, nuôi trong cung. Rõ ràng từ sớm đã coi như con, còn như hoàng thượng kế vị là vì sau khi vua băng hà, quần thần theo di chiếu tôn làm vua, khác hẳn với thái tử dự bị được nuôi dưỡng trong cung. Về lý thì nên tôn Hưng Hiếu làm Hoàng Khảo để làm trọn đạo con. Nếu theo thiên hạ mà làm con thừa kế của người thì e rằng đã làm mất điều nghĩa đối với cha mẹ.
Ông ta nói rất khẩn thiết, hoàn toàn trái hẳn với những lời bàn của triều thần.
Thấy vậy Gia Tĩnh rất vui mừng, truyền dụ cho triều thần rằng:
"Lời bàn ấy tuân theo di huấn của tổ tiên, hợp với lễ xưa, các người sao lại hiểu sai trẫm là bất hiếu”.
Tiếp đó Quế Ngạc lại dâng sớ tán đồng với ý kiến của Trương Thông. Vua thấy thế hả dạ. Lúc ấy quần thần thấy hai người này dâng sớ, đều cho đó là tà thuyết, ghét họ như kẻ thù, những người gác cửa hoàng cung đều muốn cho hắn một trận, tống hắn ra khỏi cửa. Thấy mọi người phẫn nộ, không làm gì được họ, hai người này đến nhà Vũ Định hầu cầu viện. Vũ Định hầu nói với Gia Tĩnh, rồi sau đó có ngay chiếu chỉ, lệnh cho hai người làm Hàn lâm học sĩ, đại lễ bắt đầu từ lời đề nghị ấy. Tất cả những điều không hợp đều bãi bỏ hết.
Chưa đầy hai năm, quả nhiên Trương Thông trở thành tướng, kết bè kết đảng với Quách Huân. Nay Quách Huân đến cầu cứu sao Trương Thông không ra sức giúp đỡ. Hơn nữa hai người này đều là tay chân của triều đình, lời nói của họ dễ lọt tai hoàng đế, bởi thế họ thừa cơ dâng sớ tâu rằng:
"Vì Quách Huân bàn đến lễ khiến cho quần thần tức giận, cả triều đình đều coi là kẻ thù, nên đã nhao nhao hạch tội. Chúng thần xét thấy chỉ huy Trương Dần không phải là do Phúc Đạt đổi tên. Vì chư thần muốn hại Quách Huân, nên vu cho Trương Dần là phản nghịch. Xin hoàng thượng đừng nghe lời quần thần mà gây ra oan ức".
Phải hiểu rằng Gia Tĩnh đế không phải là ông vua ngu tối song khi bàn về đại lễ đã bị các đại thần làm cho khó chịu. Nay thấy hai người này nói, đã động chạm đến nỗi oán hận của ông, ông tin là thật, bèn ban một chỉ dụ chuyển vụ án của Phúc Đạt về kinh, đồng thời bắt Tuần án Mã Lục về xét hỏi. Quần thần vẫn như mê ngủ, không hiểu triều đình đã nghe theo bọn Trương Thông. Khi đưa xét hỏi Mã Lục, Tam pháp ty vẫn lấy khẩu cung dâng tấu sớ như cũ. Gia Tĩnh nổi giận trách mắng việc quan xét hỏi không đúng sự thực, lệnh cho Trương Thông kiêm Đô sát viện, Quế Ngạc kiêm Hình bố cùng xem xét vụ án này. Tới lúc ấy, quần thần mới biết triều đình đã nghe lời xiểm nịnh, tình thế thay đổi hẳn.
Hai người tuân theo chiếu chỉ, chỉ làm vừa lòng vua, chẳng kể gì đến chân lí, lương tâm. Khi xét hỏi tuyệt nhiên không xét hỏi Phúc Đạt, chỉ trách Tuần án Mã Lục không tôn trọng pháp luật mà xét xử theo tình riêng, hãm hại người vô tội. Tuần án Mã ra sức tranh biện, song hai người này không nghe, ra lệnh dùng cực hình tra tấn Mã Tuần án hết sức dã man. Thương thay, một viên quan Ngự sử chính trực bị tra tấn đến chết đi sống lại? Mã Lục thấy rằng nếu không nhận bừa, thì sẽ chịu khổ mãi, nên đành nhận tội, vì riêng tư mà ghép tội cho người. Tiết Lương cũng bị khép vào tội vu cáo. Hai người này lấy xong khẩu cung, cho rằng đã tìm ra sự thực, không bị quần thần lừa dối, nào có biết đâu kỉ cương triều đình trắng đen đã bị quyền thần làm đảo lộn! Tuyên bố chỉ dụ rằng: "Tha Phúc Đạt, Tiết Lương phải tử hình, Tuần án Mã Lục và các quan trong Đài gián đều do Cẩm y vệ đánh một trăm trượng tại triều đình, trị tội theo từng loại".
Loại pháp luật đánh chết tại triều đình xưa nay không có, chỉ triều Minh mới có lệ này. Từ khi đặt ra phép này không biết đã giết chết bao nhiêu trung thần? Thế mới biết chế độ đình trượng ghê gớm biết chừng nào? Phàm là quan phủ phạm tội, chỉ lệnh cho Cẩm y vệ tra hỏi, theo lệ, phạm quan phải dùng kẹp kẹp năm mươi cái, dùng cặp cặp năm mươi chiếc, đánh ba mươi gậy gọi là "một bộ". Đây là phép tra khảo của Cẩm y vệ. Người nào đã chịu cực hình thì chỉ có chết mà thôi. Nếu theo chiếu chỉ đánh tại triều đình thì sai nội thần giám sát các quan lớn nhỏ đều mặc áo đỏ đứng xếp hàng dưới thềm phía ngoài Ngọ môn. Trung sứ ngồi bên trái, Cẩm y vệ ngồi bên phải, mỗi bộ phận đều có ba mươi người, bên dưới có một trăm người. Kỳ hiệu đều mặc quần áo có nếp gấp, tay cầm gậy gỗ xếp hàng ngay ngắn. Tuyên đọc chiếu chỉ xong, một người mang bao gai trùm từ vai xuống lưng phạm nhân, bó chặt lấy hai tay, không được chuyển động sang phải, sang trái. Một người trói hai chân, quấn chặt xung quanh chỉ để lộ hai đùi cho gậy đập vào. Đầu mặt tiếp giáp xuống mặt đất, đất cát thộc vào đầy mồm, đến kêu la cũng không được. Cứ đánh một gậy thì bên trên lại hô “Đánh mạnh vào!”. Đánh hết một trăm cái gậy phải gẫy đến mấy chiếc. Quần thần lấm lét nhìn nín thở, cảnh tượng hết sức nghiêm ngặt như thiên la địa võng, những viên kỳ hiệu đã luyện thành một nghệ thuật đánh, đánh cho hai đùi sưng lên như hai cái vò, bên trong máu thịt nát như tương nhưng da không hề rách. Phép chữa trị là dùng dao cắt da ra, vét hết thịt nát bên trong, lấy một con cừu sống cắt thịt đùi nhét đầy chỗ trống, làm cho máu thịt gắn liền với nhau thành một khối, sau đó có thể hoạt động được. Cho nên thời Minh có những "tiên sinh mông cừu” mà mọi người rất kính nể. Có một vị tri huyện đi ra khỏi huyện đường, bắt một người xông qua đường thét bảo lính hầu phải phạt nặng. Lột quần người ấy ra thì thấy mông đít là thịt cừu, biết người ấy đã từng chịu đánh tại triều đình, tri huyện vội vàng xuống kiệu xin nhận tội và luôn mồm xin lỗi. Người ấy cười ha hả rồi bỏ đi, khiến cho quan huyện sợ toát mồ hôi. Vì những người đã từng bị đánh tại triều đình, nếu vua nghĩ lại thì lập tức được trọng dụng. Bởi thế nếu người bị đánh may mà không chết thì sẽ trở thành tiên sinh mông cừu, chẳng may mất mạng thì cũng được tiếng là người trung trực! Thương thay những vị quan vì căm giận bọn gian tặc, đến nay phải chịu cực hình!
Mã Tuần án bị đánh tại triều đình, rồi bị đày ra biên ải, bổ sung vào quân lính. Bốn mươi người còn lại bị tù tội, hoặc bị chết. Vì thế mà Đài gián chẳng còn ai. Kẻ phản nghịch Lý Phúc Đạt vẫn là chỉ huy, hai đứa con vẫn là tượng dịch, nghiễm nhiên giữ chức quan võ. Há đây chẳng phải là trời nghiêng đất ngả sao!
 
Vì sợ lòng người không phục, sau này sẽ sinh sự biến, Trương Thông, Quế Ngạc bèn biên soạn Khâm mệnh đại ngục lục, xin vua ban chiếu chỉ khắp thiên hạ, khiến cho những quan lại bị oan đời đời không ngóc đầu lên được. Nào ngờ kẻ xảo trá muốn như thế, song lòng trời lại không thế.
 
Tứ Xuyên có một tên gian ác, trước đây là đồng bọn của Phúc Đạt tên là Thái Bá Quý. Vì việc Sơn Tây bại lộ, hắn chạy trốn đến Tứ Xuyên, tụ tập bọn vô lại, đặt ra tên riêng, vẫn theo bọn tà đạo Bạch Liên mưu phản, bị quan quân bắt được, lục soát thấy thư từ qua lại của Phúc Đạt. Trong đó có bức thư viết rằng: "Đổi tên là Trương Dần, hiện làm chỉ huy, cứ yên tâm không lo sợ gì". Tuần án Tứ Xuyên theo sự thực dâng sớ lên.
Thời ấy Gia Tĩnh băng hà, Long Khánh lên ngôi, thấy bản tấu dâng lên, ông đùng đùng nổi giận, lập tức bắt cả nhà Lý Phúc Đạt chém đầu, bọn dư đảng đều khép vào tội phản nghịch. Vụ án ấy mới sáng tỏ. Đô Ngự sử Bàng Thượng Bằng dâng sớ tâu rằng:
"Vũ Định hầu cùng với đại thần Trương Thông, Quế Ngạc bao che cho Phúc Đạt, vụ án đã giết hại hơn bốn mươi viên quan, nỗi hiểm họa ấy của quan lại không vụ nào lớn hơn vụ này. Nay ba vị quan tuy đã chết, cần phải khôi phục lại chức tước để làm gương cho đời sau. Những vị quan đã bị giết oan, nên đặc cách khen thưởng để biểu dương chí khí các bậc trung thần".

Triều đình hoàn toàn nghe theo lời tấu trình trên đây, cho triệu hồi Mã Lục về kinh, khôi phục lại chức Ngự sử, số còn lại thăng quan, ban tặng tước vị. Tới nay trên sử sách nhà Minh vẫn còn ghi lại tiếng thơm, còn bọn gian thần để lại tiếng xấu cho muôn đời. Đây chẳng phải là do trời báo ứng sao! Mọi người đều sung sướng hả hê. Người đời sau bàn về việc này, đểu cho rằng lúc đầu Quách Huân quan hệ với Phúc Đạt, chỉ vì tham của hối lộ, vốn chỉ biết là Trương Dần chứ không biết hắn là Phúc Đạt. Đến khi sự việc đã bại lộ mà còn đi nói cho hắn thì Quách Huân đáng phải chịu tội. Chỉ nói về thư riêng của Quách Huân xin cho hắn cũng đủ để khép tội rồi. Song mọi người muốn ghép hắn vào tội phản nghịch, đã xử phạt nặng dẫn đến gây ra đại họa, trên thì làm tổn hại đến nguyên khí quốc gia, dưới thì làm nhục thân thế của cha mẹ để lại, các bậc quân tử cũng không thể không nhận thấy sai sót của mình. Kẻ bàn luận này cũng không phải cho rằng người đời a dua, bợ đỡ người khác, không theo con đường ngay thẳng. Tóm lại, hỏi tội kẻ sai phạm cũng phải có lòng khoan thứ, không hẳn cứ khăng khăng theo ý mình mà đây người ta vào chỗ chết, đó là đạo lí minh triết bảo thân, các bậc sĩ đại phu không thể không xem xét tới.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5932
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Sat Mar 29, 2014 6:04 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 2
Gã Ngu Muội Tìm Con Rể Giả 
Quan Hiền Tài Xe Mối Lương Duyên
Trăng sáng dong buồm tới nơi xa,
Trời đẹp xanh rờn rộn tiếng ca.
Của rơi không nhặt đời hạnh phúc,
Đồng lúa trĩu bông biết được mùa
Trời chia thu, hạ tràn thi hứng
Vạn dặm núi rừng say ngâm nga
Hãy với trăng cao làm nghiên mực
Bút hoa ghi hết thú giang hồ.
Đây là bài thơ do Mễ Nguyên Chương đời Tống làm ra để ca ngợi quan châu, huyện tài giỏi sáng suốt. Phàm là những quan châu, huyện phải biết thương dân, và phải là người có tài, mới thể tất nhân tình, mới thông cảm với dân, coi việc của dân cũng như việc của mình, lúc đó mọi việc mới giải quyết ổn thỏa được. Tuy có những vụ kiện hết sức nan giải, nếu ra sức làm ơn, ngoài pháp luật ra phải có tình, không những phải hao tâm tổn trí, mà còn phải bỏ tiền túi ra giúp đỡ, biến việc xấu thành việc tốt, kẻ gian ác xảo trá phải trừng phạt, người lương thiện được đáp đền. Đó mới là đạo lí làm cha mẹ dân. Nếu làm quan mà tham lam bất chấp pháp luật, chỉ biết bợ đỡ quan trên, bóc lột nhân dân, việc dân để đó chẳng màng tới, việc nghi vấn khó xử, khi xử án không xem xét tỉ mỉ, chỉ nghe theo bọn tay chân, hồ đồ cho xong chuyện, thì sao mà dân tin yêu kính phục? Và nơi ấy cũng chẳng có ích lợi gì.
Sở dĩ có mấy lời bàn như thế, chỉ vì gần đây đã xảy ra việc tranh chấp về một người con gái, hai bên vu cáo nhau, khiến việc đó xảy ra hàng năm mà quan huyện không sao giải quyết được. May mà có vị quan sáng suốt tới nhậm chức, vụ án lúc đó mới được giải quyết, chấm dứt tranh chấp. Vị quan huyện ấy đã hoàn thành một việc tốt, khiến ai ai cũng vui mừng khâm phục, trở thành một câu chuyện lí thú được mọi người truyền tụng.
Huyện Thượng Hải, phủ Tùng Giang, tỉnh Giang Tô, có một người tên là Vương Mộ Quách, bốn mươi tuổi, bố mẹ đã mất, vợ con chưa có, sống một mình bằng nghề tướng số. Ông rất an phận, không rượu chè, cờ bạc, vui vẻ hòa nhã với mọi người, ai cũng gọi ông là "Lão Vương". Vương Mộ Quách mở cửa hàng xem bói, hằng ngày kiếm được một vài trăm bạc, tiêu pha có phần dư dật. Chỉ vì không lấy vợ, nên ông muốn nhận một đứa con nuôi để làm chỗ nương tựa lúc tuổi già. Người vùng ấy quen biết ông, ai cũng muốn con mình đến làm con nuôi ông.
Một hôm, bà mối họ Triệu, người láng giềng, đến chuyện gẫu với ông. Bà hỏi ông rằng:
- Vương tiên sinh, ông làm nghề xem bói, xem ra sống cũng tạm đủ, nhưng không có con cái thì sau này tuổi cao sức yếu ai là người thuốc thang cơm cháo cho ông.
- Tôi cũng đang định nuôi một đứa, - lão Vương nói, - để nương tựa sau này, nhưng chưa tìm được.
Bà mối Triệu nghĩ một lát rồi nói:
- Nếu ông muốn thì nhà Vưu Đại ngoài cửa Bắc, vợ mới chết, để lại một đứa con gái sáu bảy tuổi, không người chăm sóc. Vưu Đại đang muốn cho làm con nuôi. Con bé rất ngoan, ông có thể cùng tôi tới xem sao. Nếu ưng thuận, ông cứ nói thẳng với ông ấy.
Thấy thế lão Vương hớn hở, khóa cửa, cùng bà mối tới nhà họ Vưu.
Vưu Đại là người lười biếng, suốt ngày rượu chè cờ bạc, nên trong nhà trống rỗng chẳng còn gì bán được. Khi vợ còn sống, khâu vá thuê, hai mẹ con rau cháo nuôi nhau. Vợ chết, chẳng còn chỗ nào bấu víu, đến nay lão phải bán con để lấy tiền cờ bạc. Thấy lão Vương đến nhà nói rõ ý định, gã bằng lòng ngay, rồi gọi con gái ra gặp lão Vương.
Nhìn đứa bé ăn mặc rách rưới, nhưng mặt mày tươi tỉnh, nói năng rành mạch trong trẻo, xem ra sau này cũng nên người, lão Vương nói với Vưu Đại rằng:
- Nếu ông cho tôi nuôi đứa con gái này thì nó hoàn toàn là con tôi, ông không còn liên can gì tới nó nữa. Sau này nuôi nấng, dạy bảo, gả chồng là quyền của tôi, ông không được tham dự vào. Tôi cứ nói trước như thế, nếu ông bằng lòng thì mai là ngày tốt tôi tới đón cháu về.
Vưu Đại hoàn toàn ưng thuận, nói:
- Tôi không nuôi nổi nó, nên cho ông nuôi. Tất cả mọi việc đều là quyền của ông, thế là tốt lắm rồi, tội gì tôi còn đến nhận.
Thấy ông ta thật lòng, lão Vương xem kĩ đứa bé gái một lần nữa, rồi hẹn đến ngày mai tới đón về.
Trong túi có ít tiền lẻ, lão Vương không đi thẳng về nhà, mà vội vã ra cửa hàng mua áng chừng cho nó bộ quần áo và một chiếc mũ, ngày mai nhờ bà Triệu đến nhà Vưu Đại mặc cho nó rồi mới dẫn về lạy Thọ Tinh, lạy cha nuôi. Lão Vương đặt tên đứa bé là "Thọ Cô”.
Mà kể cũng lạ, Thọ Cô vừa đến còn lạ lẫm thế, mà nó chẳng kêu khóc gì, bảo lạy là lạy, bảo nói là nói, nghe theo răm rắp như nuôi từ tấm bé. Lão Vương vui mừng khôn xiết, bà mối Triệu cũng cười khanh khách. Được mấy tháng, Thọ Cô biết pha trà, quét dọn, trông coi nhà cửa. Lão Vương và Thọ Cô thân thiết nhau như cha con đẻ. Thấy đứa con gái nhanh nhẹn hoạt bát, lão Vương nhờ bà hàng xóm đến chải đầu, bó chân, và dạy may vá thêu thùa. Khi rảnh rỗi, ông dạy nó học. Lão Vương rất vui vì Thọ Cô khá thông minh, học đâu biết đấy. Đến năm mười hai, mười ba tuổi, Thọ Cô đã biết lo toan việc nhà. Lão Vương quý nó như vàng, không muốn rời nó nửa bước. Khi nó xấp xỉ mười sáu tuổi, thân hình thon thả, nhan sắc kiều diễm, hơn hẳn những đứa cùng trang lứa. Lão Vương nghĩ rằng, mấy năm nữa sẽ tìm một chàng trai đến ở rể, để cha con nương tựa nhau. Ngay cả Thọ Cô trong thâm tâm cũng muốn sống bên cha. Nó tuy là đứa con nuôi, nhưng đó là tấm lòng chân thực.
Bỗng một hôm, lão Vương đang ngồi trong cửa hàng, thấy một người ăn mặc rất sang trọng, nhưng cử chỉ bỗ bã, cùng với một thằng nhỏ bước vào, chắp tay nói:
- Phiền ông xem cho một quẻ.
Nghe tiếng nói, lão Vương biết là người vùng này. Ông cũng chẳng hỏi họ tên, chắp tay nói:
- Xin mời ông ngồi.
Người này họ Tiền, biệt danh là Tiền Lột Da, người Sùng Minh, đã dùng tiền mua chức Giám sinh. Nhà Tiền Lột Da mở hiệu cầm đồ, lại mở cửa hàng bán vải tại Thượng Hải. Hắn ta là người bủn xỉn, cay nghiệt. Thấy đàn bà như mèo thấy mỡ, dám tung tiền để trăng hoa. Mỗi năm hắn tới Thượng Hải một lần để thanh toán tiền vải và đặt hàng. Hắn có ý định đến cửa hàng lão Vương hỏi xem có được lời lãi gì không. Lão Vương lắc ống thẻ nói cho hắn biết rõ tốt xấu.
Đang lúc nói chuyện thì Thọ Cô bưng trà đến cho cha. Thấy Thọ Cô, Tiền Giám sinh phút chốc hồn vía lên mây, nghĩ rằng: “Ta tới Thượng Hải gặp biết bao đàn bà con gái, song thấy rất bình thường, sao ở đây lại có người đẹp đến thế!”. Thấy người khách sang trọng, lão Vương quay lại nói với Thọ Cô:
- Con mang ra chén nữa mời ông.
Lão Vương vội vàng hai tay nâng chén nước mời khách. Tiền Giám sinh từ chối không cầm. Khi Thọ Cô mang trà ra, anh ta nói:
- Không cần, không cần.
Tiền Giám sinh vội vàng định đứng dậy đỡ lấy chén trà, nhưng Thọ Cô đã đặt xuống bàn, rồi quay gót đi vào.
Tiền Giám sinh còn đang sững sờ, đã thấy có người vào xem bói. Anh ta trả tiền rồi nói:
- Phiền ông quá.
Giám sinh trở về, tới cửa hàng hắn nghĩ: "Cô gái này khoảng mười sáu mười bảy tuổi, đang độ dậy thì, dáng người thon thả, tầm thước, đẹp tuyệt vời, vừa phong nhã lại vừa hào hoa, thật là đáng yêu. Không biết nhà đó đã nhận sính lễ chưa, nếu chưa, sẵn tiền, ta cưới cô về làm vợ bé thì tuyệt biết bao". Hắn cứ ngồi thừ ra nghĩ ngợi. Bỗng có hai người bước vào, Tiền Giám sinh mừng quá, nói:
- Đang định đến mời, tôi có chuyện muốn bàn với hai anh, rất may hai anh lại đến. Thật đúng là duyên trời run rủi.
Hai người ấy, một người là họ Lý, biệt danh là Bách Hiểu; một người họ Trương, biệt danh là Trại Cát, chuyên làm tay sai tô vẽ cho những nhà giàu có. Trương Trại Cát có chút ranh mãnh vặt, lại thông thuộc cửa quan, giỏi chạy chọt cho các vụ kiện cáo, thấy hắn có tài nên người ta gọi hắn là Trại Cát. Biết Tiền Giám sinh là loại người hiếu sắc, nên hắn thường tới dụ dỗ các mụ góa chồng làm khách làng chơi để được ăn no uống say, bởi thế chúng rất tâm đầu ý hợp. Nay Tiền Giám sinh hồ hởi đón tiếp, lại nói có chuyện muốn bàn, món béo bở tự dưng đến, hắn bèn cười, hỏi:
- Ông Tiền có việc gì muốn bàn với chúng tôi thì nói ngay đi chỉ sợ rằng chậm một chút sẽ khó thêm.
- Không phải chuyện đùa đâu. - Tiền Giám sinh nói. - Tôi hởi anh, gần đây anh có tới nhà lão Vương xem bói không? Hai anh có quen ông ta không?
- Trước đây chúng tôi vốn đã quen biết ông ta. - Bách Hiểu nói. - Vì sao ông lại hỏi tới ông ấy?
- Ta ở Thượng Hải, - Tiền Giám sinh nói, - vốn muốn cưới một cô vợ bé, vừa rồi đến xem bói thấy nhà ông ta có cô con gái, tôi rất ưng ý, muốn phiền hai anh làm mối. Lễ vật, tiền của không cần phải tính đến, chỉ cốt là xong việc.
- Thế thì dễ thôi, - Bách Hiểu nói, - nói đến tên ông tôi đảm bảo chắc chắn là được.
- Anh đừng khoác lác, - Trại Cát nói, - tính lão Vương rất kì quặc, chưa chắc đã dễ đâu.
- Xưa nay tiền của làm người ta phải động lòng tham. - Bách Hiểu nói. - Ông Tiền chịu bỏ ra một khoản lớn, hai chúng tôi lại nói vào ngọt như mía lùi thì chẳng sợ gì lão Vương không ưng.
- Đã như thế, - Trại Cát nói, - thì ngày mai anh ra quân trước đi, nếu không được thì tôi tăng quân giúp anh. Anh thấy thế nào?
Họ cười nói với nhau râm ran cả nhà, tối đến, lại cùng nhau ăn uống. Khi từ biệt, Tiền Giám sinh đưa ra hai lạng bạc, rồi ân cần dặn dò:
- Nếu việc thành, ngày kia tôi sẽ hậu tạ.
Hai người từ biệt ra về.
Bách Hiểu ngủ dậy thì trời đã sáng, sợ lão Vương bận xem bói, ăn sáng xong, hắn tới ngay nhà lão Vương. Hắn chắp tay nói:
- Anh Vương lâu nay có phát tài không?
- Nhờ trời cũng được. - Lão Vương nói.
Hai người ngồi, nói qua loa mấy câu xã giao, Bách Hiểu hỏi ngay:
- Cô gái nuôi nhà anh năm nay bao nhiêu tuổi rồi?
- Mười sáu tuổi.
- Đã có ai dạm ngõ chưa?
- Chưa nhận lời ai cả.
- Ngần ấy tuổi rồi, không thể trì hoãn được nữa đâu. Đứa em này hôm nay đến đây chỉ vì việc hôn nhân của cô gái nuôi bác thôi. Nhìn về tài sắc thì con gái bác phải gả cho nhà giàu có, được ăn trắng mặc trơn, có quyền sai bảo đầy tớ con sen, mới không phí một đời. Nếu gả cho nhà nghèo thì làm sao mà sống được? Như thế chẳng hóa ra vì cuộc sống của cha mẹ mà hại nó ư? Đứa em này tốt với ông anh nên làm mối cho con gái anh một nhà đại phú.
- Nhà đại phú sao họ chịu thông gia với nhà nghèo?
- Bác nói tuy phải, song nếu không màng tới hư danh, mà chỉ cần đến sự hưởng thụ thực tế, thì nghèo cũng có thể thông gia với giàu. Không giấu gì bác, hiện có một người giàu ở Sùng Minh, họ Tiền. Bản thân là cống sinh, của cải nhà anh ta có tới tiền vạn, tuổi lại chưa đầy ba mươi. Vì chưa có vợ lẽ, nên muốn lấy ở đây một cô làm vợ lẽ, tiền cheo, lễ cưới bao nhiêu cũng được. Từ lâu anh ta đã mến mộ cô gái nuôi của bác, nên có ý nhờ đàn em đến làm mối. Đây là phúc lớn cho con gái bác, xin bác đừng bỏ lỡ.
Từ xưa tới nay lão Vương chưa làm mếch lòng ai, nay vừa nghe thấy nói có người muốn cưới con gái về làm vợ lẽ, đột nhiên giận tái mặt nói:
- Lão Vương này tuy nghèo, song quyết không thể bán đứng đứa con gái của mình, thôi anh đừng nói nữa. Rồi đứng dậy, nói tiếp. - Tôi đang có chút việc, xin lỗi anh.
Lão Vương bỏ đi, Bách Hiểu cụt hứng, ấm ức ra về. Trên đường đi hắn nghĩ: "Trại Cát nói đúng, làm thế nào bây giờ?".
Hôm ấy, Trại Cát đợi ở nhà họ Tiền. Đang cười hơ hớ, bỗng thấy Bách Hiểu tiu nghỉu cúi đầu bước tới, biết ngay là không ổn, bèn nói:
- Anh Bách Hiểu, việc nhà họ Vương xuôi rồi chứ?
Bách Hiểu chỉ lắc đầu. Tiền Giám sinh nói.
- Hay là không xong rồi?
Bách Hiểu kể lại đầu đuôi việc mình đến nhà lão Vương nói thế nào, và bị lão Vương từ chối ra sao cho họ nghe. Tiền Giám sinh bỗng buồn rầu nói với Trại Cát:
- Anh là người cao kiến, nếu anh lo xong việc này, nhất định tôi không phụ lòng anh.
- Có lối thoát đấy - Trại Cát nói, - nhưng chỉ bằng nước bọt không làm nổi đâu. Nếu không sợ tốn kém xin ông anh đừng sốt ruột, tôi sẽ đi tìm một người chắc chắn người con gái ấy sẽ về tay anh.
Tiền Giám sinh mừng rỡ xin chỉ bảo, Trại Cát gập hai ngón tay khe khẽ nói. Đúng là:
Nghĩ kế trăng sao tìm Ngọc thỏ
Mưu thành trời rộng bắt Kim ô.
Trại Cát nói:
- Người con gái này là con nuôi chứ không phải là con ruột lão Vương. Nó là con của Vưu Đại ở Cửa Bắc, nếu bây giờ ta làm cho Vưu Đại nhận đứa con ấy, thì chắc chắn nó sẽ về tay mình. Song hiện nay Vưu Đại không ở Thượng Hải, mà đã dọn đến Thanh Phố rồi, phải đi tìm ông ta về đây, cho nên tôi nói phải tốn kém là vì thế.
Tiền Giám sinh thấy Trại Cát nói thế mừng quýnh lên, lấy ngay mười lạng bạc đưa cho Trại Cát nói:
- Tiền đây, anh liệu mà chi, phiền anh ngày mai đi ngay cho.
- Tôi với anh cùng đi. - Trại Cát nói với Bách Hiểu. - Anh thấy thế nào?
- Đúng, tôi nên đi cùng anh mới phải. - Bách Hiểu nói.
Ăn cơm tối xong, họ từ biệt ra về.
Sau khi cho đứa con gái đi làm con nuôi, Vưu Đại bán sạch cả nhà cửa, sống lang thang chẳng biết nương tựa vào đâu rồi lưu lạc đến Thanh Phố. Một hôm đang đứng trước cửa, thấy hai người đi tới, nhận ra Vưu Đại, một người hỏi:
- Có phải ông là Vưu Đại không?
Vưu Đại nghe thấy giọng nói quê mình, bèn trả lời:
- Vâng, đúng ạ.
Hai người bước vào, chắp tay nói:
- Đã lâu lắm không gặp anh.
Vưu Đại nghĩ một lát, nói:
- À đúng là anh Trương và anh Lý rồi! Các anh tới đây làm gì thế?
- Biết ông anh đang túng quẫn, - Trại Cát nói, - chúng tôi nhã ý tới đây biếu ông một món lộc lớn, chẳng biết ông anh có cần không?
- Tài lộc ở đâu vậy? - Vưu Đại vội hỏi. - Ai bảo tôi không cần, lẽ nào tôi chê tiền của mà sống được ư?
- Trước đây ông anh cho lão Vương nuôi đứa con gái của mình, - Trại Cát nói, - nay nó đã lớn khôn, tỏ ra là một người tài sắc. Một ông chủ giàu có chịu bỏ ra nhiều tiền của và lễ vật cưới về làm vợ bé. Hai anh em tôi biết là con ruột ông anh, nên xin ông anh về đứng ra gả bán. Nếu ông anh không đi thì số tiền ấy về hết tay lão Vương, chẳng đáng tiếc lắm sao?
- Thế thì tốt quá, - Vưu Đại nói, - nhưng chỉ có hai bàn tay không thì đi sao nổi?
- Nếu ông anh muốn thì xuống thuyền cùng đi với chúng tôi. Ý ông anh thế nào?
Vưu Đại mừng quýnh, cũng chẳng có hành lí gì, vội vã gài luôn cửa rồi đi ngay với họ. Thuyền xuôi gió, chưa đầy hai ngày đã tới Thượng Hải, lên bờ họ cùng nhau đến ngay nhà Tiền Giám sinh. Hai người vào trước nói:
- Vưu Đại đã tới rồi trước hết phải ngọt ngào phỉnh nịnh hắn.
Tiền Giám sinh gật đầu, rồi bảo mời ông ta vào, lại đúng lúc giữa trưa, mời ngay Vưu Đại ăn cơm. Vưu Đại từ lâu ăn uống kham khổ, thấy mâm cơm đầy ắp rượu thịt, ăn lấy ăn để cho đến khi no kềnh bụng. Tiền Giám sinh lững thững bước ra. Trại Cát nói với Vưu Đại rằng: "Đây là ngài họ Tiền ở Sùng Minh, là người rất tốt, nhà giàu có. Vì ngưỡng mộ tài sắc con gái ông anh, muốn lấy làm vợ bé, cho nên tìm ông anh tới đây. Sính lễ là ba trăm lạng, nếu ông anh chê ít, thì thêm chút nữa cũng chẳng ngại. Tối nay làm tờ cam kết, trước hết giao thẳng cho ông anh ba mươi lạng, số còn lại chờ khi nào con gái ông anh về đây sẽ giao đủ”.
Nghe thấy nói ba trăm lạng bạc sẽ vào tay mình, lại được giao trước ba mươi lạng. Vưu Đại như mở cờ trong bụng. Đúng là tự dưng được một món lớn làm vốn để đánh bạc. Bị đánh trúng tim đen, Vưu Đại nghe theo ngay, nói:
- Ngày mai tôi sẽ tới nói với lão Vương, con gái là do tôi đẻ ra, nhất định lão ta phải chịu.
Đêm ấy họ viết giá thú, rồi giao trước ba mươi lạng bạc.
Sáng sớm hôm sau Vưu Đại đến nhà lão Vương. Vừa thấy Vưu Đại vào cửa lão Vương đứng dậy hỏi:
- Anh Vưu, lâu nay không gặp anh, hôm nay ngọn gió nào đã đưa anh tới đây sớm thế?
- Một là đến hầu chuyện anh, - Vưu Đại nói, - hai là đến thăm đứa con gái.
Lão Vương gọi ngay Thọ Cô ra gặp. Vì là cha đẻ của mình, lại xa nhau đã mười năm, Thọ Cô nói: "Thật là may mắn", rồi ngồi bên cạnh tiếp cha. Thọ Cô hỏi cha:
- Cha đến từ bao giờ?
- Hôm qua.
- Thế cha nghỉ ở đâu?
- Ở cửa hàng vải nhà họ Tiền. - Vưu Đại nói tới đây thấy lỡ mồm, bèn lái sang chỗ khác. - Nghỉ đêm tại nhà một người bạn.
Là một người thông minh, nghe lời nói, lại nhìn nét mặt cha, Thọ Cô thấy lạ, bèn đứng dậy nói:
- Con đi pha trà.
Rồi quay sang nói với lão Vương rằng:
- Bình pha trà ở chỗ nào ạ?
Lão Vương biết ý bèn nói:
- Để cha lấy cho.
Rồi đứng dậy đi vào.
Thọ Cô vào bếp nói khẽ với lão Vương rằng:
- Cha con đến đây hình như có ý không tốt, vừa nói đến chữ "Tiền" rồi im bặt, nhất định là lão họ Tiền đang mưu đồ mua con làm vợ bé, bảo cha con tới đây chăng? Cha phải lưu tâm đề phòng.
Lão Vương gật đầu rồi đi ra. Thọ Cô cũng mang trà ra đưa cho mỗi người một chén. Lão Vương nói trước với Vưu Đại rằng:
- Vì đứa con gái mà gần đây tôi bị nhục.
Vưu Đại hỏi vì sao. Lão Vương nói:
- Mấy hôm trước Lý Bách Hiểu tới nói, có một người giàu có muốn lấy con gái tôi làm vợ bé. Ông nghĩ, đứa con gái nhà tử tế cho dù không phải là con đẻ, ai nỡ lòng nào lại bán nó đi. Bị tôi nói cho một trận, hắn mới câm họng. Ông bảo có tức không.
Nghe thấy nói thế, Vưu Đại không sao mở mồm được. Xem ra ngồi lại cũng vô ích, đành đứng dậy cáo từ ra về. Đi thẳng tới nhà họ Tiền, Trại Cát nhìn thấy hỏi ngay:
- Ông anh tới nói thế nào?
- Vẫn chưa nói được. - Vưu Đại nói.
- Sao lại không nói? - Tiền Giám sinh sốt ruột hỏi.
Vưu Đại kể lại cho họ nghe, lão Vương đã nói với mình thế nào, rồi lại nói:
- Lão Vương như một nhà tiên tri. Các anh ạ, ông ta đã nói trước như thế thì mình còn mở miệng làm sao được nữa. Cho nên tôi vội về đây bàn bạc với các anh.
Tiền Giám sinh nhảy bổ lên nói:
- Con gái là ông sinh ra, ông nói thế nào ông ta chả phải nghe theo, sao lúc ấy ông không nói tào lao đi.
- Ông lớn không nên nôn nóng, lão Trại còn có diệu kế. Để xem hắn có nhảy khỏi cái vòng kim cô của ta không?
- Diệu kế gì? Hãy nói mau, nói mau lên. - Tiền Giám sinh nói.
- Anh Vưu bán con gái làm vợ bé, - Trại Cát nói, - lão Vương có thể tranh chấp, nhưng gả cho người ta làm vợ, thì lẽ nào cha đẻ không có quyền. Theo tôi, không gì bằng ta thuê một người tuổi tương đương giả làm con rể, mà đã đính hôn rồi thì phải cưới. Nay tôi đón về để gả chồng, danh chính ngôn thuận, cho dù có kiện lên quan ta cũng có thể gỡ được. Song con rể giả phải là người tâm phúc, phải mặc cả trước. Xong việc người con gái vẫn về nguyên chủ. Tướng mạo cũng phải kha khá một chút. ông anh Tiền liệu có tìm ra được người đó không?
Tiền Giám sinh nghĩ một lát rồi nói:
- Người thì dễ thôi. Nhà tôi hiện có một thằng ở tên là Chu Nhị, tuổi chừng mười bảy mười tám, người rất trắng trẻo, có thể làm được. Chỉ cần bảo nó là xong.
- Đã thế thì, - Trại Cát nói, - cứ gọi nó ra đây mới xong việc được.

Tiền Giám sinh vội vã sai người về Sùng Minh gọi Chu Nhị tới.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5932
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Sat Mar 29, 2014 6:38 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 2 (B)
Chu Nhị người Thượng Hải, vốn là con nhà tử tế, còn nhỏ đã đi học. Chỉ vì cha mẹ qua đời, nhà nghèo túng, mà phải đến cửa hàng Tiền Giám sinh để học buôn bán. Chu Nhị là một người học trò thật thà, thấy chủ sai người về gọi, anh xuống thuyền tới gặp chủ ngay. Tiền Giám sinh thấy Chu Nhị đến, nói ngay:
- Có một việc nhờ anh, xong việc ta sẽ hậu tạ, không để anh chịu thiệt đâu.
Chu Nhị hỏi chủ có việc gì. Tiền Giám sinh nói:
- Vì ta muốn cưới vợ bé, nhà gái không chịu, muốn anh làm con rể giả để lừa họ cắn câu. Nhất thiết anh không được chối từ.
Thấy vậy Chu Nhị im lặng không nói. Tiền Giám sinh nói:
- Anh có bằng lòng không, cứ nói, đừng ngại.
- Ông chủ lấy người ta làm thiếp, tôi lại nhận làm vợ, chẳng hóa ra tôi lừa ông chủ sao? Tôi đã nhận là vợ, thì làm sao lại là thiếp của ông chủ? Việc này quan hệ đến danh dự, sợ rằng không làm thế được.
Thấy Chu Nhị trả lời dứt khoát, Tiền Giám sinh giận dữ nói:
- Mày ăn cơm, mặc áo của tao, tao chỉ nhờ một việc nhỏ, vậy mà mà cứ chối đây đẩy. Thế ra ta đã tốn cơm nuôi mày à! Rồi Tiền Giám sinh hậm hực bỏ đi.
Trương, Lý hết lời khuyên nhủ Chu Nhị.
- Tôi khuyên anh nên nghe theo lời ông chủ. Nếu không nghe, ông ấy tức giận thì làm sao anh thành thân được, hoặc có thể anh làm thất thoát tiền, thâm vào vốn, người ta sẽ khoác cho anh, thì anh lấy gì mà đền. Hơn nữa, nếu nghe theo ông ấy, sau này anh sẽ được lợi nhiều.
Cứ thế mỗi người một câu, hai người ấy đã dồn Chu Nhị vào thế bí, buộc phải nghe theo. Họ gọi Tiền Giám sinh về nói:
- Chúng tôi đã khuyên được Chu Nhị, anh ta đã nghe theo. Ngày mai bảo lão Vưu mang hoa quả, trà thuốc đến nhà họ Vương, không nên chậm trễ nữa.
Tiền Giám sinh rất đỗi vui mừng, mua ngay trà và hoa quả bảo Vưu Đại đích thân mang tới nhà lão Vương. Thấy hắn ta đến một cách kì quặc, lão Vương bèn chỉ vào trà và hoa quả nói:
- Ông mang những thứ này đến làm gì?
- Tôi gả đứa con gái cho nhà họ Chu, hôm qua đã nhận trà. Người ta muốn xin cưới, cho nên tôi đến nói với ông một tiếng.
- Ông đừng lừa dối tôi! - Lão Vương đùng đùng nổi giận nói. - Khi nhận làm con nuôi ông đã hoàn toàn giao quyền cho tôi có bà Triệu làm chứng. Tôi nuôi nó mười năm, bây giờ thấy nó khôn lớn ông lại đứng ra gả chồng. Tôi e rằng về tình cũng như lí ông nói thế không lọt tai.
- Con gái tôi đẻ ra, - Vưu Đại nói, - đương nhiên tôi có quyền, ông cấm sao được tôi gả bán cho người ta.
Hai người cứ giở lí ra với nhau, rồi dẫn tới cãi nhau. Ở nhà trong Thọ Cô nghe thấy hết, cô trở ra trách cha rằng:
- Trước đây ông đã nhẫn tâm ruồng rẫy tôi, nay lại tham lam lễ vật. Nếu không có cha nuôi thì tôi đã chết từ lâu rồi!
Vừa nói cô vừa gào lên khóc. Xóm giềng nghe thấy đều chạy đến. Lão Vương kể hết đầu đuôi, mọi người đều bảo Vưu Đại như thế là sai. Thấy thế, Vưu Đại chỉ vào mặt lão Vương nói:
- Nói riêng với nhau không xong, thì tôi phải kiện cho ra nhẽ.
Nói xong Vưu Đại bỏ đi.
Lão Vương uất quá ngất đi, sau đó ông đến nhà bà mối Triệu kể lại chuyện Vưu Đại đã đến nhà ông. Nghe xong, bà Triệu dậm chân nói:
- Chính mồm Vưu Đại đã nói ra, giờ còn muối mặt đến tranh! Song lần này hắn nói đi kiện là hắn kiện thật đấy. Nếu hắn đi kiện, ép nó phải lấy chồng thì phải làm thế nào, ông không thể không phòng bị.
- Lẽ nào lại để cho hắn cướp con gái của ta đi! - Lão Vương nói.
Thọ Cô khóc nức nở nói:
- Bà Triệu, đây là cha đẻ tôi đánh lừa để bán tôi đi làm vợ bé, tôi sẽ dứt khoát không đi.
- Chuyện này, - lão Vương nói, - Lý Bách Hiểu đã nói rồi. Đến cửa quan tôi chỉ nói hắn giả dối để lừa Thọ Cô làm thiếp, Bách Hiểu không thể chối cãi được.
- Bách Hiểu là một đứa ranh ma, - bà Triệu nói, - làm sao mà nó giúp ông được, hơn nữa lời nói gió bay, quan phủ cũng không tin lời ông. Theo tôi, nhất định phải tìm một người nào đó nhận sính lễ, gả trước đi thì mới được.
- Kế đó là đúng rồi, - lão Vương nói, - nhưng bảo ngay lập tức thì tôi tìm đâu ra con rể.
- Chỉ tạm thời lừa họ thôi, - bà mối nói, - tìm trước người con rể giả là được rồi. Nếu ông chưa tìm được thì tôi có một đứa cháu ngoại, nó họ Phương, mười tám tuổi, nhà đối diện nhà tôi, thường thì nó biết nghe lời tôi. Chỉ cần cho nó mấy lạng bạc để nó làm con rể giả, tôi sẽ làm người mối, gặp quan cứ nói dứt khoát như thế, nhất định con gái ông cũng phải nghe theo. Xong việc thì tìm một người con rể khác. Ông xem có được không?
Lúc ấy lão Vương đang sợ họ cướp mất con, chưa nghĩ hết, nghe theo bà mối, cho đó là diệu kế, rồi làm ngay.
Khi Vưu Đại tới nhà lão Vương, việc không thành, lại xảy ra tranh cãi, bực tức hắn trở về bàn với bọn Trại Cát, rồi tới huyện kiện. Quan phủ hỏi xong, bắt Vưu Đại làm đơn đưa lên. Trại Cát viết cho hắn một lá đơn, nói: "Vì lão Vương đòi tiền cưới và lễ vật không được, nên ngăn trở con gái nuôi không cho lấy chồng". Và ghi rõ ngày cưới, họ tên con rể và người làm mối là Bách Hiểu, rồi trình ngay lên phủ quan. Sau ba ngày, quan phê: "Chờ xét hỏi". Lão Vương nghe thấy thế cũng tố cáo rằng: "Tôi nuôi nó từ nhỏ, việc dựng vợ gả chồng là quyền tôi, tôi đã gả chồng cho nó", cũng viết rõ họ tên con rể và người làm mối, cũng được phủ quan phê: "Chờ xét hỏi".
Xưa nay thường nói: "Việc quan nóng nước lã". Lại gặp phải viên quan lơ ma lơ mơ không hiểu lí sự, tuy phê chuẩn, nhưng cứ treo chuông để đấy, không xét hỏi. Vưu Đại lên thúc giục nhiều lần nhưng việc vẫn không giải quyết, từ mùa đông năm trước, mãi sang trung tuần tháng sáu năm sau mới xét hỏi đến. Hôm ấy quan huyện mở cửa huyện đường, đầu tiên gọi Vưu Đại lên hỏi, rồi sau đó hỏi đến lão Vương, rồi ông nói:
- Theo ta, thì trừ phi chia người con gái này làm hai, hoặc hai người con trai này nhập một thì mới hết tranh nhau. Con gái không thể chia đôi, con trai không thể nhập làm một thì ta cũng chịu thôi. Đây đều là do lắm thầy nhiều ma, lắm cha con khó lấy chồng.
Thấy thế bà mối Triệu với quỳ xuống nói:
- Từ xưa tới nay con làm mối chẳng có điều tiếng gì, việc này là do người làm mối bên kia gây ra mà thôi.
Bách Hiểu cũng quỳ xuống thưa rằng:
- Con gái người họ Vưu, con làm mối cho nhà họ Vưu, thì con có gì là sai.
Quan huyện nổi giận đập bàn quát:
- Người này bảo mình không sai, người kia cũng bảo mình không sai, vậy thì quan huyện ta sai à! Ta không hơi đâu mà xét hỏi nữa, các người về tự dàn xếp với nhau.
Nói xong quan đuổi hết ra ngoài. Nghe tiếng quát, cả hai đều phải lui ra. Quan huyện rời công đường, rồi dẫn bà trẻ đi.
Khi trở về, bên nguyên cáo đến khuyên lão Vương rằng:
- Anh Vương, anh nên hiểu rằng, Vưu Đại kiện anh, là có người ngấm ngầm bỏ tiền ra cho anh ta. Còn anh thì lại bỏ số tiền mồ hôi nước mắt của mình ra đút lót quan, thôi thì anh nhường quách đứa con ấy cho anh ta.
Lão Vương vẫn không nghe. Tiền Giám sinh thèm muốn Thọ Cô, tưởng là cô sẽ lọt vào tay mình tức khắc, song không ngờ mới có ít hôm ở Thượng Hải, việc không thành mà số tiền bọn nha môn, Trương Trại Cát và Lý Bách Hiểu ngốn đi cũng không ít. Hắn rất lo buồn. Bởi thế Trại Cát nói:
- Bây giờ quan chỉ giải quyết những việc có tiền, trừ phi đưa tiền hối lộ thì họ mới phê cho cha đẻ gả chồng, người nuôi không được tranh chấp, án đã giải quyết xong, thì nhất định lão Vương buộc phải cho con nuôi đi. Song khoản chính và những phí tổn lặt vặt, nhất định phải tới hàng ngàn lạng mới trúng mục tiêu.
Không còn cách nào khác, Tiền Giám sinh theo hắn đi móc nối, đưa hối lộ cho quan huyện. Quả nhiên "tiền có sức mạnh như thần thánh", chưa đầy hai ngày, quan huyện đã gửi một tờ trát đỏ như sau:
"Súc cho Vương Mộ Quách phải trả ngay con gái cho Vưu Đại để gả chồng. Hạn trong ba ngày. Trái lệnh sẽ mắc tội".
Tiền Giám sinh dương dương đắc ý, cho rằng việc đã trót lọt chẳng còn vướng mắc gì. Lão Vương khi nghe thấy tin ấy thì chân tay rụng rời, cha con nhìn nhau khóc rống lên.
Vưu Đại cùng với nha lệ tới nhà lão Vương. Vì đã nhận được một món tiền hối lộ lớn, nên vừa vào tới nhà chúng lấy ngày tờ trát ra, rồi nói với lão Vương rằng:
- Bây giờ thì còn nói sao được nữa! Xem đây, tờ trát đỏ ứa máu, hạn trong ba ngày phải giao đứa con nuôi cho người cha đẻ.
Lão Vương chưa kịp trả lời, đã thấy Thọ Cô đầu tóc rũ rượi khóc rống lên, bước ra chỉ vào mặt Vưu Đại nói:
- Ông làm chuyện ám muội, tôi không muốn làm người phụ bạc! Nếu bây giờ bức tôi đi, thì tôi sẽ chết ngay trước mặt ông cho mà xem!
Thọ Cô vừa nức nở khóc vừa tiện tay vớ lấy con dao rọc giấy trên bàn, định tự vẫn. Vưu Đại vội vàng giật lấy. Lão Vương cũng khuyên nhủ cô. Lính lệ sợ chuyện sẽ xảy ra rắc rối, bèn lắc đầu nói:
- Đúng là một đứa con gái bướng bỉnh, chúng ta đi thôi, hãy nhẹ nhàng khuyên cô ta bình tâm lại, rồi sẽ trở lại gọi sau.
Thừa cơ, Vưu Đại cũng lủi mất tăm.
Thấy con gái như thế, lão Vương càng không đang tâm, cứ thở dài thườn thượt. Sau đó một hôm, lão Vương đang lo Vưu Đại và lính lệ về bắt con gái, thì thấy một người bạn đến nói rằng:
- Anh Vương, anh đã có vị cứu tinh rồi. Hiện nay quan cũ đã rời nhiệm sở, quan mới vừa đến hôm nay. Có người nói vị quan mới này là người thanh liêm chính trực, chưa từng để cho người dân nào chịu oan khuất. Anh hãy đi thưa quan ngay, còn có thể cứu vãn được.
Thấy vậy, lão Vương rất mừng, nói ngay cho Thọ Cô biết. Thọ Cô mới yên tâm đôi chút.
Quan huyện mới là người Kỳ Hạ, đậu cử nhân, tính ông thanh liêm nhân từ, coi dân như con. Đầu tiên ông để cho mọi người tự do kiện cáo, người đi kiện ùn ùn kéo đến. Thấy lão Vương nộp đơn kiện, tình tiết li kì, ông phê vào đơn xét xử ngay. Quả nhiên không còn đọng lại vụ nào, chỉ có mấy ngày, treo biểu xét hỏi, sai lính lệ bắt đủ phạm nhân tới, không cho phép lọt lại một người nào. Lúc đó, cả hai chàng rể giả đều bị bắt về. Thọ Cô cũng phải tới cửa quan, trước lúc xét xử, tất cả mọi người đều có mặt đầy đủ trước cửa huyện đường. Người xem đông nghịt, một là để xem nhan sắc Thọ Cô, hai là xem quan huyện mới xử kiện.
Một lát sau, quan huyện lên công đường, lính lệ dẫn tất cả phạm nhân vào, rồi điểm danh hết lượt, sau đó bảo mọi người quỳ sang hai bên. Trước tiên quan gọi bà mối Triệu, hỏi tỉ mỉ về việc Thọ Cô làm con nuôi, và ngày kết hôn, rồi quát:
- Quỳ xuống!
Sau đó gọi lão Vương hỏi:
- Người nuôi Thọ Cô đã lâu, nhưng gả chồng có nói cho Vưu Đại biết không?
- Vưu Đại phiêu dạt tới nơi xa, - lão Vưu nói, - mười năm nay không về, thì bảo con biết đâu mà nói?
Quan huyện gật đầu, gọi Vưu Đại hỏi:
- Người không nuôi  con, Vương Mộ Quách nuôi nó thành người, nếu gả chồng cho nó thì cũng phải cho người ta biết chứ, cớ sao lại tự mình quyết định. Ta thấy ngươi đã bỏ con hơn mười năm nay, vì sao ngươi lại đột nhiên chọn rể ở đây hẳn phải có duyên cớ gì khác.
Bị quan phủ nói đúng tim đen, Vưu Đại đành cúi đầu, song lại nói:
- Đã được vị tiền nhiệm giải quyết sáng suốt rồi, nhưng vì Vương Mộ Quách kháng án không theo, cho nên làm nhọc lòng ông lớn.
Quan huyện đập bàn quát:
- Nói láo, tiền nhiệm xử theo cách của ông, còn ta xử theo cách của ta, ngươi nói tới tiền nhiệm tiền nhiếc cái gì!
Người xem đứng hai bên đều nghi rằng vụ kiện này Vưu Đại sẽ bị thua.
Quan huyện gọi Thọ Cô tới, ngước mắt nhìn thấy cô dáng vẻ đoan trang, không giống con gái nhà nghèo, khi hỏi, cô trả lời rành mạch y như lời khai của lão Vương. Sau đó lại gọi đến hai chàng rể giả, thấy Chu Nhị tướng mạo thanh tú, xứng đôi với Thọ Cô, Phương Đại người thô kệch, kém xa Chu Nhị. Quan huyện nẩy ra ý định ghép cô với Chu Nhị, bèn nói với hai bên rằng:
- Việc hôn nhân này, vốn hai bên đều phải làm chủ. Hai bên không làm chủ được, mà đến cầu bản huyện làm chủ, thì bây giờ quan huyện có quyền làm chủ.
Thế rồi ông bảo Thọ Cô vào nhà trong thay quần áo, rồi lại lệnh cho chuẩn bị hương án, bảo những người chơi nhạc vào hầu. Lúc ấy sân huyện người đông nghịt, không hiểu quan huyện sẽ làm gì. Có người nói:
- Khéo mà quan cho cô cưới ngay tại đây.
- Chưa xử xong, - người khác nói, - thì bảo cô lấy ai?
Họ bàn luận, tranh cãi xôn xao mãi.
Vào nhà trong, Thọ Cô thấy bà huyện, vội cúi đầu lạy. Bà huyện cũng là một người tài năng, đức hạnh, thường khuyên chồng phải trở thành một viên quan tốt, làm được nhiều việc tốt. Thấy Thọ Cô xinh đẹp, bà càng thương cô, thưởng cho cô mấy bộ quần áo đẹp, và ít đồ trang sức, trang điểm cho cô đẹp như hoa như ngọc. Vừa ra công đường, tất cả mọi người đổ dồn mắt vào cô, càng thấy cô dung nhan tuyệt mỹ. Lúc ấy, Tiền Giám sinh trong đám đông, lén lút nhìn, tiếc nhỏ rãi. Nghe thấy quan huyện nói rằng:
- Con gái lấy chồng là một việc lớn của đời người, huống hồ duyên chồng vợ là do trời định. Ta đã ghi họ tên hai chàng rể vào hai chiếc thăm để ở đây, cô hãy quỳ trước hương án cầu khấn rồi tự tay bốc thăm, bốc được người nào thì người đó là chồng cô, bản huyện sẽ làm lễ cưới ngay.
Lúc ấy Thọ Cô chỉ mặc cho số trời run rủi, đến trước hương án phủ phục xuống đất khấn thầm, rồi nhặt lấy một chiếc thăm trình lên quan. Quan huyện mở ra xem, thấy thăm ghi người họ Chu. Ông mừng rỡ nói:
- Hay! Hay lắm?
Thế rồi ông làm lễ hợp cẩn ngay.
Lúc ấy lão Vương đứng bên chỉ biết khóc, không dám nói năng gì. Trại Cát vội xúi giục Vưu Đại quỳ xuống nói:
- Con rể không có nhà ở, con xin dẫn về gả chồng.
Quan huyện nổi giận, quát:
- Người còn dám giở trò ma mãnh trước mắt ta ư?
Thế rồi đuổi hết các phạm nhân ra ngoài, chỉ để Chu Nhị, Thọ Cô ở lại làm lễ cưới. Rồi ông hỏi Chu Nhị:
- Ngươi có nhà ở không?
- Thưa ngài, không có. - Chu Nhị nói.
Quan huyện bèn phát cho hai mươi lạng bạc, bảo thư lại mượn ngay ba gian nhà cạnh nha môn, chuẩn bị đầy đủ giường chiếu, chăn màn và tất cả mọi vật dụng cần thiết, lại thưởng cho hai tấm lụa đỏ, và chuẩn bị một chiếc kiệu để đưa dâu về.
Lúc ấy người xem ào lên như sóng biển, đông nghịt huyện đường. Chỉ thấy quan huyện nghiêm trang ngồi ở trên, những người giúp việc xếp hàng hai bên, nhạc cưới tấu lên vang lừng, người chủ hôn đọc văn tế. Cô dâu chú rể lễ trời đất, rồi quay lên lạy tạ quan huyện. Sau đó Thọ Cô ngồi lên kiệu, Chu Nhị choàng lụa hồng, đi trước kiệu, rước ra khỏi cửa huyện. Quan huyện rời khỏi công đường. Ồn ào náo nhiệt suốt dọc đường đi, ai ai cũng bảo:
- Nem công chả phượng, tự nhiên dâng đến mồm cho Chu Nhị.
Tiền Giám sinh về tới cửa hàng oán trách hai gã Trương, Lý: - Các anh bày sẵn cỗ cho người khác ăn.
- Nước trà đầu không được uống, - hai người nói, - thì còn được uống nước thứ hai. Ngày mai phải đến thúc Chu Nhị đưa vợ về Sùng Minh, để anh dùng cho tiện.
Nếu Tiền Giám sinh từ bỏ ý nghĩ đó, thì Trương, Lý cũng thôi không giở trò gì nữa, mà đương nhiên cũng vô sự. Chỉ vì mưu gian vẫn chưa hết, để đến nỗi phải giơ đầu chịu báng.
Hai vợ chồng Chu Nhị về tới chỗ ở, người phù dâu mời họ uống rượu hợp cẩn, nói:
- Quan huyện dặn, hai người không được làm rầy ở đây, chúng ta đi rồi, mời cô dâu chú rể dùng cơm tối.
Nói xong mọi người ra về. Suốt ngày hầu tại công đường, hai người đói mềm, thấy sẵn có cơm, họ ngồi đối diện ăn cơm. Được quan huyện nâng đỡ, lại lấy được người chồng tốt, Thọ Cô rất vui mừng. Chu Nhị còn vướng víu với Tiền Giám sinh nên cứ ngồi ngây như tượng. Thọ Cô lên tiếng nói trước:
- Việc của anh em đã biết rồi. Bây giờ chúng ta đã là vợ chồng, thì anh cứ nói thẳng với em, đừng ngại.
Thấy vợ hỏi mình, Chu Nhị nói:
- Tiền Giám sinh muốn lấy cô làm vợ bé, thuê tôi làm chồng giả, nay giả đã thành thật, sợ rằng sau này ông ta lại gây sự.
- Em cũng chẳng giấu gì anh, - Thọ Cô nói, - chàng rể họ Phương cũng là giả. Nay quan lớn đã đứng ra làm chủ hôn thì anh còn sợ gì nữa? Sau này em với anh về ở với cha nuôi. Cha nuôi rất thương em, nhất định cha sẽ nhận chúng mình. Thôi anh đừng về Sùng Minh nữa.
Hai người chuyện trò rất tâm đầu ý hợp, rồi cởi áo đi ngủ, đêm chăn gối, họ vô cùng biết ơn quan lớn.
Tuy chưa biết hết việc họ Tiền mua thiếp, song khi tại công đường, quan huyện rất khả nghi. Sáng hôm sau quan huyện bảo với sai nha rằng:
- Các ngươi phải đến theo dõi chỗ ở của Chu Nhị, nếu có người đến gây sự, bắt về cho ta.Các bạn thân mến, vụ kiện đã giải quyết, nhưng tại sao còn phải theo dõi điều tra? Vì rằng hôm qua khi xét xử, thấy lão Vương cứ lăn ra kêu khóc, còn Vưu Đại thì lại không vui, quan mới biết là trong đó còn có uẩn khúc gì đây, chàng rể thì đúng là giả rồi. Bởi thế nhìn con gái mà chọn chồng, cho nên tương kế tựu kế, muốn làm một việc tốt, dựa vào ý trời, cho Chu Nhị lấy cô, thực ra trong hai chiếc thăm quan đều viết tên Chu Nhị. Sợ rằng sau khi thành hôn, còn có rắc rối khác, nên sai người theo dõi. Đây là sự quan tâm chu đáo của quan huyện.
Sai nha ngồi uống trà tại quán hàng đối diện nhà Chu Nhị, đến giữa trưa, thấy Trương, Lý cùng với Vưu Đại tới, giục hai vợ chồng họ về Sùng Minh. Đêm qua, đã nghe Thọ Cô nói, Chu Nhị mạnh dạn đứng dậy cự tuyệt. Họ chửi Chu Nhị là đồ lừa dối, Chu Nhị cũng chửi lại hai người là bọn lừa dối mình. Thọ Cô cũng đứng dậy oán trách cha đẻ. Hai bên đang đôi co, thì sai nha nghe thấy tiếng chửi nhau ầm ĩ, bèn ập vào nói:
- Ông lớn sai chúng tôi mời ba vị tới công đường, có chuyện gì thì nói với ông lớn.
Rồi lôi họ đi. Ba người kinh sợ đứng như trời trồng, rồi xin sai nha tha cho. Sai nha nói:
- Tôi muốn tha các ông, nhưng ông lớn không chịu tha! Đi, đi mau lên!
Sau đó bảo Chu Nhị rằng:
- Anh cũng tới đó để nói với ông lớn.
Tới huyện đường, sai nha vào bẩm với quan, quan huyện bèn gọi Chu Nhị hỏi. Chu Nhị quỳ xuống, kể lại việc trước đây ông chủ họ Tiền bảo anh làm rể giả, mặc dù anh không nhận nhưng họ vẫn buộc anh phải làm, hôm qua ông lớn đã cho phép được lấy nhau, và bây giờ những người này lại đến bắt Thọ Cô đi làm thiếp cho Tiền Giám sinh. Quan huyện nghe xong đùng đùng nổi giận, rồi gọi Bách Hiểu và Trại Cát hỏi:
- Vì sao các người lại móc nối, toan tính cho họ Tiền mua con gái nhà lành về làm thiếp?
Hai tên vẫn cứ quanh co chối cãi. Quan huyện quát phải kẹp chúng lại. Sai nha như hùm sói mang kẹp xông đến kẹp. Hai tên rống lên như bò đâm tiết, nói:
- Con xin cung khai.
Quan huyện quát:
- Đã khai phải khai cho thực, nếu nói sai ta sẽ cho người đánh chết tươi.
Hai tên như chui từ hang quỷ sứ Diêm vương lên, đâu còn dám che giấu nữa, chúng đã khai hết sự thực. Quan huyện rút ngay chiếc trát, sai người đi bắt Tiền Giám sinh.
Không ngờ Tiền Giám sinh nghe thấy hai tên Trương, Lý và Vưu Đại bị bắt, đang đứng thập thò ngoài cửa nha môn, sai dịch trông thấy, bắt ngay Tiền Giám sinh như diều hâu quắp gà con. Thấy Tiền Giám sinh bị lôi tới, quan huyện quát:
- Ngươi là người Sùng Minh, dám làm loạn phép nước ở vùng này!
Lúc ấy Tiền Giám sinh sợ đến nỗi hồn xiêu phách lạc, chỉ còn biết cúi đầu thưa:
- Giám sinh biết có tội rồi.
Quan huyện quát phải khai hết sự thục. Tiền Giám sinh khai rõ tất cả. Quan huyện quyết:
"Trương Trại Cát, Lý Bách Hiểu, bàn mưu gây ác, mỗi đứa phạt bốn mươi gậy, cùm ba tháng để mọi người cùng biết. Vưu Đại thông đồng bán con gái phạt bốn mươi gậy, không được phép quấy nhiễu nữa. Tiền Giám sinh âm mưu mua người lương thiện làm thiếp, gây ra oán thù, phạt bốn mươi gậy, sẽ định tội sau”.
Bọn chúng phủ phục dưới đất chịu đòn, đánh đến mức rách da nát thịt. Tới lượt Tiền Giám sinh bị lính lệ lôi ra đánh, Tiền Giám sinh ra sức kêu oan:
- Giám sinh nguyện chịu phạt, song xin quan bảo toàn danh dự.
Quan huyện cất cao giọng quát:
- Bản huyện chỉ trị tội bọn lưu manh ở nơi khác tới, bất kể là ai. Thấy quan huyện nổi giận, sai nha kẻ kéo chân người lôi tay dúi bừa hắn xuống đất. Đáng thương thay, Tiền Giám sinh là con nhà giàu,- chưa chịu khổ nhục bao giờ, đương làm sao nổi, vừa mới đánh, hắn quằn người giãy giụa như giun đất, đánh một phát nữa, thì "Trời đất ơi!" hắn khóc rống lên, đánh phát thứ ba, thì hắn kêu cũng không được nữa, chỉ muốn tìm lỗ mà chui xuống đất. Tất cả mọi người ở đó đều che mặt cười.
Quan huyện cũng buồn cười, bèn bảo ngừng đánh, rồi hỏi:
- Ngươi muốn đánh hay muốn phạt?
- Thưa quan lớn, - Tiền Giám sinh trả lời, - muốn phạt ạ. - Người muốn phạt, - quan huyện nói, - thì đáng phạt bao nhiêu?
- Xin tùy quan lớn. - Tiền Giám sinh vừa khóc vừa nói.
- Trời sinh ra mày là đồ chó! - Quan huyện nói. - Mày còn phải chịu ba mươi bảy gậy nữa, mỗi gậy phạt mày mười lạng, hãy mau mau về mang tới ba trăm bảy mươi lạng bạc, cho Chu Nhị làm vốn ta mới tha cho.
Tiền Giám sinh còn đang ấp a ấp úng, quan huyện nói:
- Nếu ngươi không muốn nộp phạt thì đánh lại từ đầu. Lính hầu thét vang, Tiền Giám sinh sợ hết vía, lạy như tế sao nói:
- Con xin theo quyết đoán của quan lớn.
- Đã tuân theo quyết đoán của ta, - quan huyện nói, - thì phải về lấy bạc giao ngay cho Chu Nhị.
Tiền Giám sinh nước mắt như mưa, tập tà tập tễnh theo sai nha về cửa hàng, mang đủ ba trăm bảy mươi lạng bạc, giao ngay tại công đường. Quan huyện gọi lão Vương tới, nói rằng:
- Hôm kia ông mất con gái, hôm nay tôi lại giao thêm cho ông chàng rể. Hơn nữa con rể ông lại có vốn liếng đủ để buôn bán, hãy đón chúng về chung sống, tuổi già ông sẽ phải sống dựa vào chúng.
Lão Vương mừng quá cúi đầu bái tạ. Rồi nhận đón vợ chồng đứa con gái nuôi về. Tiền Lột Da không dám quấy rầy mà phải “tuân lệnh". Xét xử xong, ai ai cũng hả lòng hả dạ.
Lão Vương đưa con gái, con rể về nhà, nỗi buồn biến thành niềm vui. Cả nhà đều mừng rỡ, họ đặt bài vị quan huyện, sáng chiều thắp hương cầu mong cho quan huyện phúc thọ dài lâu, tới nay người Thượng Hải vẫn còn ca ngợi ông. Có người hỏi:
- Một vị quan tốt như thế, sao các nhà viết sách không ghi rõ tên ông, để mọi người cùng biết.
Những việc ấy đã xảy ra gần đây, người trong chuyện đều còn sống. Nếu nói bên này tốt, thì bên kia là xấu, khiến cho người đời oán hận, thôi thì ta cứ dấu tên ông đi là hay hơn cả. Ta cũng biết rằng, những vị quan tốt như thế trên đời này có được mấy người? Cho dù không ghi rõ họ tên, song ai thực sự muốn biết, thì cũng tìm được tên ông. Đọc câu chuyện này, ta thấy lão Vương là người nhân hậu, rốt cục cũng có được người con gái và chàng rể để nhờ vả lúc tuổi già. Còn bọn vô lại như Trương Lý và Tiền Giám sinh gian manh quỷ quyệt, gặp phải ông quan huyện nhân từ sáng suốt, thì không những mất hết cả thanh danh mà còn chịu nhục hình. Vậy xin người đời phải ăn hiền ở lành, ngay thẳng thật thà, đừng làm điều xằng bậy. Người xưa nói rất đúng: Ở hiền gặp lành, gieo gió gặp bão. Chỉ có điều là sớm muộn mà thôi.
Làm người phải sống cho ngay thẳng
Tham sắc tham tài, mắc tai ương
Nhãn tiền trông thấy đều sự thực

Khiến cho gỗ đá cũng rùng mình.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5932
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Tue Apr 01, 2014 4:43 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 3
Vì Nghĩa Làm Ơn Không Mong Trả 
Lâm Nguy Được Cứu Đáng Đền Ơn
Đấng mày râu, nhân vật anh hùng xưa nay hiếm có. Gặp nguy nan, lòng những thương gái nhỏ. Không hổ thẹn thanh danh hào hiệp nơi gác tía lầu son. Nổi giận mắt trừng gian tà khiếp vía, quỷ quái yêu ma tức thời bị diệt. Hả hê cười nói ra về, lòng can đảm sáng trong như tuyết.
Thư hẹn tòng quân, gươm sắc đeo lưng diệt trừ ác nghiệp. Mật kế không thành, nhà ngục che mờ nhật nguyệt. Cứu vớt gái quê lầu son môi tỏ, đấng mày râu, son phấn. Công lao ghi sử sách, đến nay thiên hạ vẫn lưu truyền. Hữu Điệu ký "Niệm nô kiều”
Người xưa nói: "Làm ơn không mong đền đáp". Có lẽ người mong báo đền thì lúc nào cũng tính toán, người ấy đền đáp ta cái gì, rồi sau mới làm ơn. Người chịu ơn cũng sẽ tính ngược lại, người ấy đã làm ơn mình cái gì để mà báo đền. Bởi thế mà tình cảm không sâu sắc. Cái đó gọi là quan huyện buôn bán, sau này tất dẫn đến hiềm khích. Muốn được ơn trước rồi sẽ lo trả ơn sau, thì làm sao mà có được? Chỉ có vợ chồng mới khẳng khái cứu vớt nhau lúc khó khăn hoạn nạn, coi đó là bổn phận của mình, không khoe khoang kể lể công lao, tuy không mong báo đền, song người ta lúc nào cũng canh cánh bên lòng, tìm cách báo đền. Cứu người thì người khác cứu mình. Vậy cứu người cũng chính là tự cứu mình.
 
Thời Vạn Lịch, có một vị công tử hào kiệt, tên là Tăng Anh, tự Chí Viễn, quê Tứ Xuyên. Cha làm phó sứ Hà Nam, sau khi nghỉ việc, thấy Lạc Dương là nơi trung tâm trong thiên hạ, bèn chuyển gia đình tới sống ở đấy. Mới mười ba tuổi, cha mẹ qua đời, ba năm mãn tang, năm mười bảy tuổi thì đỗ tú tài. Tuy công tử theo nho học, song không bị sách vở ràng buộc, nhà giàu có lại có tấm lòng khẳng khái, ai có việc cần cứu giúp anh đều sẵn lòng. Anh lại có sức khỏe kì lạ, hai tay có thể nâng bổng được ngàn cân, thích sống tại một trang trại ở ngoài thành. Vào mùa xuân, mùa hạ thì anh đọc sách; mùa thu, mùa đông thì săn bắn. Là người sống phóng khoáng, nhưng lại thường nức nở khóc than rằng trên đời này không có ai tri kỉ. Đã hai mươi tuổi, anh vẫn chưa có người nâng khăn sửa túi. Tuy cha đã qua đời, song những học trò tiếng tăm của cha vẫn còn, những vị quan to thời ấy, nếu không là bạn đồng khoa, thì cũng là bạn cũ của ông. Là người còn trẻ lại có tài, những nhà giàu có quyền quý đều muốn anh làm con rể. Công tử rất khác người, ai nói tới việc hôn nhân, anh đều cảm ơn, rồi chối từ. Có người hỏi vì sao, công tử cười trả lời rằng:
- Trượng phu phải có chí lớn bốn phương, việc lớn đang bề bộn, sao lại tham lam cuộc sống yên lành. Vả lại người xưa thường nói, ba mươi mới thành lập gia đình, năm nay mới hai mươi, vẫn còn sớm chán.
Bởi thế những người mối lái cũng không đến quấy rầy anh nữa.
Một đêm, công tử chong đèn đọc sách, vào lúc trước canh hai, đang định lên giường ngủ, nghe thấy đằng sau có tiếng hò hét. Tưởng nhà cháy, công tử vội mở cửa phòng chạy ra xem. Người nhà nói rằng:
- Bắt được một tên trộm tại kho phía sau.
- Bắt tới đây cho ta. - Công tử nói.
Thế rồi công tử ra nhà khách, thấy mọi người túa đến như ong vỡ tổ, giải tên trộm đến, quỳ trước mặt công tử. Công tử hỏi:
- Ngươi ở đâu mà dám đến nhà ta ăn trộm?
- Con là người Quý Châu, - người ấy đáp, - tới đây tìm người nhà nhưng không gặp, không còn tiền để về. Đêm qua thấy cửa trang trại bỏ ngỏ, cho nên con đã lẻn vào định ăn trộm ít đồ đạc bán đi để lấy tiền về, nhưng chưa lấy được gì thì bị bắt. Mong ông thương tình tha cho.
- Ngươi đã lấy trộm mấy lần rồi? - Công tử hỏi.
- Đây là lần đầu, - người ấy vừa khóc vừa nói, - thì bị bắt.
- Nếu ta giải lên quan trị tội, - công tử nói, - thì hại cả đời ngươi, ngươi mãi mãi mang tiếng là tên ăn trộm, nên ta tha cho.
- Xin cám ơn ông, - người ấy nói, - sau này dù tôi có chết đói cũng không ăn trộm nữa.
- Chỉ sợ đói không chịu nổi, - công tử nói, - lại đi vào con đường ấy
- Bây giờ thì con phải vừa đi vừa xin ăn để về quê, xin cảm ơn tấm lòng cao thượng của ngài.
Công tử bảo người nhà cởi trói, rồi lấy ra mười lạng bạc, nói:
- Ta nghĩ, ngươi là người nơi khác, ta cho ngươi mười lạng bạc để lấy tiền ăn đường. Từ nay về sau hãy học làm người tốt nhất định không đi theo con đường này nữa.
Người ấy phủ phục xuống đất lạy tạ công tử. Công tử nói:
- Đừng làm thế, ta chỉ mong ngươi trở thành người tốt, thôi hãy đi đi.
Rồi sau đó bảo người nhà dẫn anh ta ra lối cửa sau. Người ấy lại định cúi đầu tạ ơn, thì công tử đã đi vào nhà trong.
Mọi người hỏi công tử rằng:
- Bắt được trộm, sao công tử không giải lên quan trừng trị mà lại tha cho họ, rồi còn cho tiền họ nữa?
- Ta thấy anh ta rách rưới, xanh xao gầy gò, - công tử nói, - đúng là anh ta cùng túng quá phải làm liều, chứ không phải chuyên trộm cắp, cho anh ta một ít lộ phí để anh ta về quê hương, trở lại làm người lương thiện, sao lại bảo là không lợi? Người xưa nói: "Cứu người phải cứu đến cùng". Chính là như thế đó. Cần phải biết rằng người ấy lần đầu tiên ăn trộm bị các người bắt được. Nếu gặp kẻ trộm nhà nghề, nó cuỗm đi một mẻ to, thì cũng đến báo quan truy nã mà thôi. Còn người này lần đầu phạm pháp, nếu giải lên quan, thì sẽ lộ rõ tung tích, dù anh ta có hối cải thì hằng ngày cũng bị họ truy lùng theo dõi, nhất định sẽ dồn anh ta đến đường cùng. Anh ta suốt đời làm trộm cướp, chẳng hóa ra ta bảo anh ta cứ đi ăn trộm ư? Thôi thì đáng tha thì tha, để cho anh ta trở thành người tốt chẳng hóa hơn sao. Nói một hồi lâu, mọi người mới gật đầu cho như thế là phải rồi đi ra.
Tới hôm sau, nhân ngày sinh nhật của Thái thú Quy Đức, công tử muốn đi mừng thọ, dặn lại người nhà rằng:
- Lần này ta phải đi quanh quẩn tới mấy ngày, các người ở nhà cần hết sức chú ý, đừng để xảy ra việc gì.
Dặn dò người nhà xong, công tử cùng mấy gia nhân đi theo gánh lễ vật lên đường.
Ở thôn Tích Thiên, huyện Linh Lăng, phủ Quy Đức, có một người dân thường tên là Lục Tất Đại, vợ là Trương thị. Hai vợ chồng chỉ sinh được một người con gái. Nhà có mấy chục mẫu ruộng, đều tự trồng cấy lấy, lúc nông nhàn thì buôn bán chêm pha, cuộc sống cũng tạm gọi là khá giả. Con gái họ là Kim Thư, tuy là dân thường, nhưng tính nết dịu dàng, giỏi may vá thêu thùa. Trương thị thấy con xinh xắn, bèn bó chân cho con. Đến năm mười bảy tuổi, cô xinh đẹp hẳn lên. Hằng ngày cô chăm chỉ đỡ đần cha mẹ, chưa từng bao giờ xa nhà.
Một hôm, có cô gái láng giềng đi dâng hương về, tới nhà họ Lục hớn hở nói:
- Cách đây chừng một dặm, có một am ni cô là nơi rất vắng vẻ tĩnh mịch, ni cô khá đông, họ đều hòa nhã. Trong am có nhiều cảnh đẹp, như động tiên. Đấy là nơi du ngoạn tuyệt vời, bà và cô sao không tới mà xem.
Nói xong cô ra về. Kim Thư còn tính trẻ con, nói với mẹ rằng:
- Con nghĩ, nơi ấy người ta đi được thì mẹ con mình cũng đi được. Mẹ nói với cha nhà mình đi một chuyến cũng hay.
- Mẹ cũng đã nghe quanh đây có một vài am ni cô, Phật Bồ Tát rất thiêng. Hôm nào tốt ngày ta mua hương nến tới đó lễ. Xưa nay con chưa đi đâu bao giờ, lần này cũng nên đi vãng cảnh.
Một lát sau, Lục Tất Đại trở về, người vợ bèn xin chồng đến am lễ Phật. Tất Đại nói:
- Dâng hương là việc bình thường, hai mẹ con bà đi thì đi.
Tất Đại không muốn trái ý vợ, lại thấy con gái rất thích thú, nên không nỡ ngăn cản họ. Ai ngờ lần đi này lại gây ra tai vạ.
Am có bốn ni cô, họ đều không giữ phép tu hành, chuyên tới các nhà giàu có kết thân với những thí chủ là quan to, suốt ngày họ quần là áo lượt, bài trí phòng ở cực kì sang trọng. Trong am thường có một lớp đồ đệ du đãng trẻ tuổi, biến nơi tu hành thành nơi trêu hoa ghẹo nguyệt, cho nên không cầu xin bố thí mà người ta vẫn mang đến, tuyệt nhiên không phải đi đâu khuyên giáo. Sư nữ trụ trì am, pháp danh là Tĩnh Tu, trạc dưới ba mươi tuổi, nói năng hoạt bát, thái độ nhã nhặn, đối nhân xử thế, tiếp đãi khách khứa tới thăm hết sức lịch thiệp và tỏ ra hiểu biết. Tĩnh Tu sống thân thiết với Cố Khắc Xương, một gã nhà giàu có trong thành. Cố Khắc Xương là tên dâm đãng và hiếu sắc, trong nhà có cả thê lẫn thiếp mà hắn vẫn chưa thỏa mãn. Hắn thường ra ngoài hái hoa bẻ liễu. Thấy Tĩnh Tu lẳng lơ phóng đãng, hắn kết bạn chơi bời. Một tháng có tới mười lăm ngày hắn ngủ qua đêm tại đây. Khắc Xương lại cậy có của, kết giao với bọn hào bá, ra vào cửa quan, khinh rẻ, áp bức người lương thiện. Bởi thế hắn đi lại trong am rất tự do, không hề một ai dám làm phiền. Tĩnh Tu cũng biết mình là người không đoan chính, nên dùng quà cáp kết thân với những người láng giềng quanh am. Những người nhà quê thường tham chút lợi nhỏ, cho nên ai cũng khen, không dám chê Tĩnh Tu.
Lục Tất Đại, tuy cách đó không xa, nhưng sống yên phận, không quan tâm đến những việc đâu đâu, nên không biết họ xấu xa thế nào.
Hôm ấy, hai mẹ con dậy sớm trang điểm rồi đi dâng hương. Vừa tới cửa am, ni cô ân cần tiếp đón. Sau khi lễ Bồ Tát xong, hai mẹ con được các sư cô mời dùng trà, và dẫn đi thưởng ngoạn cảnh trí trong am. Quả nhiên thấy hành lang thăm thẳm, phòng ốc quanh co, trong sạch thanh nhã, đồ vật trong phòng sang trọng bày biện ngăn nắp chỉnh tề, khác hẳn với nhà mình. Mẹ con hết lời thán phục.
Ai ngờ, đêm qua Khắc Xương cũng ngủ tại đây, hoa nguyệt suốt đêm, vừa mới dậy, nghe thấy có khách đến hành hương, bèn ra nhìn trộm. Hắn thấy một người phụ nữ trung tuổi, dáng vẻ nông thôn, theo sau là một cô gái mười sáu, mười bảy tuổi, dung nhan xinh đẹp, dáng người thùy mị, phút chốc hồn vía chơi vơi, hắn rạo rực khát khao thèm muốn. Sợ rằng cô gặp phải đàn ông, nên hắn lén lút nấp vào một phòng kín nhìn trộm qua khe hở. Ni cô biết ý, dẫn cô ngồi vào ghế giữa, rồi bày đồ điểm tâm. Mẹ con nhà họ Lục thích nơi đây vắng vẻ tĩnh mịch, còn những ni cô thì cứ một điều bà, hai điều cô, luôn mồm tâng bốc, khiến hai mẹ con càng thích thú, cười nói vui vẻ thân mật. Kim Thư vui mừng hớn hở, khiến cô càng trở nên xinh đẹp. Trong phòng nhòm ra, Khắc Xương thèm khát, người hắn bừng bừng rậm rật. Người xưa nói: "Tình nhân trước mắt giống Tây Thi". Hơn nữa Kim Thư là người nhan sắc tuyệt vời thì sao mà Khắc Xương không chết mê chết mệt. Hai mẹ con ngồi một lúc lâu, biếu lễ vật rồi xin phép ra về. Tĩnh Tu giữ lại dùng cơm chay. Trương thị nói:
- Ở nhà không có người trông nom, xin để hôm khác lại tới vãn cảnh. Những ni cô tiễn chân ra khỏi am rồi từ biệt.
Khắc Xương gặp Tĩnh Tu, oán trách rằng:
- Sao không giữ họ lại chơi, mà để họ về!
- Nhìn trộm mãi, - Tĩnh Tu nói, - vẫn chưa chán hay sao? Cô ta chẳng qua cũng là người chứ có phải báu vật Tây Dương đâu mà nhìn không chán!
- Đúng là báu vật, - Khắc Xương cười nói, - chỉ nhìn suông mà người cứ rạo rực cả lên. Tôi phải lấy cô ta làm thiếp, cô bảo nhà nó có chịu gả không?
Tĩnh Tu vỗ vai Khắc Xương nói:
- Cô ta là con gái Lục Tất Đại ở Tiền Thôn, nhà cũng khá giả đầy đủ, họ chẳng chịu bán con gái đi làm vợ bé đâu. Còn chúng em đây tha hồ mà chơi bời.
- Cô không ghen đấy chứ, - Khắc Xương nói, - thư thả rồi tôi sẽ bàn với cô. Nếu như cô ta không chịu làm thiếp, thì lấy về làm vợ và mỗi người ở một nơi, như thế có được không?
- Đúng là "mèo thấy mỡ", không biết anh có may mắn được hưởng thụ không!
Rồi họ nhìn nhau cười.
Khắc Xương cơm trưa xong, nói là có việc rồi về thành. Dọc đường hắn nghĩ miên man: “Vớ được con ấy cũng không uổng phí một đời". Dò được Lục Tất Đại có một người bạn trong thành, hắn bèn nhờ anh ta làm mối, tình nguyện làm người ở rể, sẽ phụng dưỡng bố mẹ vợ suốt đời. Người ấy đi rồi quay về nói:
- Tôi đã thăm dò, ông ta cần một người con rể tương xứng về tuổi tác và có tài năng, nếu chỉ là nhà giàu thôi thì ông cũng không muốn gả. Xem ra có nói cũng bằng thừa.
Khắc Xương nghĩ rằng: "Hắn cậy có cơm ăn cho nên không gả con gái cho ta, trừ phi phải làm hắn nghèo khổ, thì buộc hắn phải bán con gái làm thiếp. Nhưng làm thế nào để hắn nghèo khổ”. Khắc Xương chau mày, trong óc hắn chợt lóe ra một ý nghĩ: "Quan phủ đang thu tiền thuế, nhất định phải chọn những nhà giàu có làm thủ quỹ, nếu thiếu hụt bắt thủ quỹ bồi thường. Những người làm việc này thường là cửa mất nhà tan. Nay đang lúc thu thuế, phải làm thế nào khoác cho hắn việc này, thì nhất định hắn phải mắc câu”.
Tính toán xong, hắn bèn giắt đi mười lạng bạc, tới nhà người bạn quen biết là Lý Thư Biện. Chào hỏi xong, nói mấy câu thăm sức khỏe, Khắc Xương hỏi:
- Anh Lý, năm nay đã chọn ai làm thủ quỹ chưa?
- Vẫn chưa định ai. - Lý Thư Biện nói.
- Việc này cần những người giàu có làm. - Khắc Xương nói. - Tôi đến đây tiến cử cho anh một người, anh thấy thế nào?
- Chỉ cần có máu mặt, - Lý Thư Biện nói, - là tốt lắm rồi.
- Lục Tất Đại làng Tích Thiện, - Khắc Xương nói, - người này giàu có, tôi và hắn có mối hiềm khích. Tôi muốn hắn làm việc này để buộc hắn phải tốn phí một ít tiền cho hả dạ. Ông có thể đứng giữa kiếm lời. Nếu ông anh hết sức vì em, thì em xin đưa trước cho ông anh mười lạng bạc.
Thế rồi Khắc Xương lấy bạc ra đặt trên bàn. Thấy bạc, Lý Thư Biện như mèo thấy mỡ, mặt tươi hớn hở, vội chắp tay nói:
- Việc đó có gì đâu chỉ cần chú em dẻo mồm một chút nói với quan là xong, cần gì phải phiền đến anh cho nhọc lòng?
- Nếu anh không nhận, - Khắc Xương nói, - thì chẳng hóa ra anh coi em như người ngoài à.
- Đã nói như thế thì anh đành phải nhận thôi. - Thư Biện nói. - Nội trong ba ngày tôi sẽ báo lại.
Thế rồi hai bên chắp tay từ biệt nhau.
Một hôm, Lục Tất Đại đang ở nhà, bỗng thấy hai lính lệ vào nhà, hỏi:
- Thưa ông, ông có phải là Lục Tất Đại không?
- Đúng ạ? - Lục Tất Đại trả lời.
Lính lệ lập tức lấy ra một tờ trát giấy đỏ, đưa cho ông
xem. Thấy tờ trát chọn ông làm thủ quỹ, bèn kinh ngạc nói:
- Tôi nhà nghèo, làm việc này sao được!
- Chúng tôi chỉ là người thừa lệnh quan. - Lính lệ nói. - Xưa nay từng nói: "Thiên lôi chỉ đâu đánh đấy". Nếu ông muốn nói thì mời ông lên quan mà nói.
Tất Đại vội giữ họ lại ăn cơm, trước khi đi còn biếu ít quà, hẹn ngày mai gặp nhau ở huyện. Lính lệ đi rồi, Tất Đại vào nói với vợ:
- Họ chọn tôi làm thủ quỹ. Nếu thiếu hụt thì lấy tiền đâu mà đền. Bây giờ làm thế nào?
Vợ Tất Đại nghe được tin ấy vô cùng lo lắng, suốt đêm khóc lóc không sao chợp mắt được.
Sáng hôm sau Tất Đại đành liều lên huyện. Đúng lúc tri huyện đang làm việc tại công đường, lính hầu vào bẩm rồi dẫn Tất Đại vào gặp quan. Tri huyện nói:
- Quan huyện chọn ngươi làm thủ quỹ, việc đó cũng chẳng có gì khó lắm đâu, chỉ cần làm việc cẩn thận là được.
- Con là người quê mùa ngu đần, chẳng biết tính toán ghi chép, - Tất Đại nói, - sợ rằng làm hỏng việc công. Mong ngài chọn người khác.
Tri huyện đập bàn quát:
- Người nào cũng thoái thác như ngươi thì lấy ai làm thủ quỹ! Những việc trong huyện đều nhờ Lý Thư Biện lo liệu, người mà anh ta đã cử chắc không sai.
Thế rồi quan nói với người giúp việc rằng: - Phải ép anh ta viết ngay đơn xin nhận việc. Nếu trái lệnh sẽ phạt nặng.
Tất Đại sợ xanh mắt không nói sao được nữa, để khỏi bị phạt Tất Đại đành phải viết đơn xin nhận việc. Người giúp việc trình đơn lên quan, rồi sau đó nói với Tất Đại rằng:
- Anh phải chuẩn bị tinh thần, ba hôm nữa bắt đầu thu.
Phải ở ngay tại thành mới làm việc được.
- Vâng ạ! - Tất Đại nhận lời.
Tất Đại trở về nhà, lấy chăn chiếu và mang theo ít tiền, trọ tại hàng cơm trước cửa huyện.

Phải biết rằng, thủ quỹ là việc rất khó, ngay người biết việc còn bị người ta lừa, huống hồ Tất Đại, một người nhà quê thật thà chẳng biết gì về chất lượng bạc và cân tiểu li, tiền bạc thu vào xuất ra cứ bị họ đánh lừa, đến lúc kết toán, hút mất hơn tám trăm lạng, quan bắt anh phải đền. Tất cả vốn liếng, ruộng đất, nhà cửa của Tất Đại chưa đầy ngàn lạng, vậy lấy bạc đâu mà bù vào. Tất Đại đành phải bán ruộng vườn và tất cả đồ đạc trong nhà, vắt kiệt sức mà vẫn còn thiếu một trăm lạng. Quan hẹn đúng kì phải giao nộp đủ, nhưng đã quá hạn mấy lần Tất Đại vẫn chưa giao đủ số bạc thiếu hụt, quan huyện buộc phải bắt giam để truy hoàn. Tất Đại đành gửi thư về cho vợ bảo phải bán nhà. Vì bán đột xuất nên không ai mua. Mẹ con ở nhà ôm nhau khóc lóc. Đáng thương thay, một nhà đang no ấm, bị kẻ gian ngấm ngầm mưu hại, làm cho tan cửa nát nhà.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   

Về Đầu Trang Go down
 
Đoán Án Kỳ Quan
Về Đầu Trang 
Trang 2 trong tổng số 6 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang :: Các Đạo Khác :: Gương Xưa Tích Cũ-
Chuyển đến