Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang
Chào bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang!
Diễn Đàn là nơi giao lưu kết bạn, sưu tầm, lưu trữ, học hỏi và chia sẻ kiến thức.
Để cùng nhau tiến bộ trên con đường hướng thiện.
Chúc bạn sức khỏe và có nhiều thành công mới trong cuộc sống!

Om mani pad me hum
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang

Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho; một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tạo lấy.
 
Trang ChínhTrang Chính    CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Chào mừng các bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang! Chúc các bạn sức khỏe và thành đạt! Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang.

Share | 
 

 Đoán Án Kỳ Quan

Go down 
Chuyển đến trang : 1, 2, 3, 4, 5, 6  Next
Tác giảThông điệp
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5938
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Đoán Án Kỳ Quan   Fri Mar 14, 2014 11:13 am

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)


Lời Giới Thiệu
Dựa trên nhiều tài liệu xuất bản tại Trung Quốc, có tham khảo các trước tác của những tác giả văn học nổi tiếng dưới thời Minh, Thanh (Trung Quốc).
Đoán án kỳ quan là tên gọi chung một tập hợp những truyện phá án và xử án nổi tiếng nằm rải rác trong các sách cổ của Trung Quốc. nhất là ở hai triều đại Minh và Thanh. Về thể loại văn học, những truyện này được gọi là "tiểu thuyết công án".
Tiểu thuyết công án ở Trung Quốc có nguồn gốc rất xa xưa, bắt đầu từ những ghi chép ngắn trong sử, truyện về sử có từ thời Tiên Tần, Lưỡng Hán (206 - 220). Tới tiểu thuyết bút ký trước đời Đường và đời Đường (618 - 907), tác phẩm về đề tài công án đã chiếm một tỉ lệ khả quan, để rồi chín muồi hơn ở truyền kỳ đời Đường.
Sang đến đời Minh và đời Thanh. tiểu thuyết công án tăng trưởng rất mạnh về mặt số lượng. về chất lượng cũng được nâng cao rõ rệt. Tiểu thuyết công án không chỉ có trong các tập truyện ngắn nổi tiếng xưa nay như các tập Du thế minh ngôn, Cảnh thế thông ngôn, Tỉnh thế hằng ngôn (được gọi tắt là Tam ngôn), Phách án kinh kỳ, Nhị khắc phách án kinh kỳ (gọi tắt là Nhị phách). Tham hoán báo, Thập nhị lâu. v.v... mà còn có hẳn những tập truyện chuyên viết về đề tài công án như Bao Công án, Địch Công án. Long Đồ công án, v.v... Cho đến giữa đời Thanh, tiểu thuyết công án có thêm sắc thái mới, đó là hợp dòng với tiểu thuyết võ hiệp như các truyện dài ở Bành Công án, Tam hiệp ngũ nghĩa. v.v...
Sự phát triển của tiểu thuyết công án cho thấy thể loại này ngày một có địa vị đáng kể trong văn học Trung Quốc. Từ nhiều mặt của cuộc sống, tiểu thuyết công án đã phản ánh cuộc đấu tranh giằng co quyết liệt giữa cái ác và cái thiện, giữa tội ác và pháp luật, cho thấy tội ác dù tinh vi, xảo trá đến mức nào thì cuối cùng bị pháp luật trừng trị. Ở đó, đạo đức truyền thống của phương Đông như chính nghĩa, công bằng, nhân hậu, thật thà... luôn được đề cao, song vì là truyện cổ nên không tránh khỏi ảnh hưởng của tư tưởng nhân quả báo ứng, một tư tưởng mà trong thời kỳ chính quyền bất lực trước tội ác, thường được người dân bị cái ác ức hiếp lấy làm chỗ bám víu, an ủi.
Khi đứng chung trong các tập truyện ngắn, tiểu thuyết công án thường bị chìm trong đề tài có tính chất bao trùm là phản ánh nhân tình thế thái, chỉ đến khi tách riêng chúng ra và tập hợp lại thành một bộ sách khác thì mới thấy loại truyện này viết ngày một lên tay, có cấu trúc hoàn chỉnh, nhiều tình tiết hấp dẫn được đan xen để dẫn tới nhiều khám phá bất ngờ thú vị. Trong truyện, trí xét đoán của con người dần dần được khẳng định và đề cao, dần dần đã thoát ra khỏi yếu tố nhờ quỷ thần, sức mạnh siêu nhiên giúp đỡ.
Tiểu thuyết công án Trung Quốc từ lâu đã được bạn đọc nước ta đón nhận. Ngay từ đầu thế kỷ XX, mười bộ truyện với tên gọi khác nhau về đề tài xử án của Bao Công đã được dịch sang tiếng Việt; đến nay, nếu còn những truyện khác về Bao Công chưa dịch mà được dịch tiếp thì có thể nói chắc vẫn được bạn đọc nhiều lứa tuổi ở nước ta hoan nghênh.
Dịch những truyện công án trong bộ sách này, chúng tôi muốn bạn đọc nước ta được thấy ngoài Bao Công án ra, tiểu thuyết công án Trung Quốc còn có nhiều truyện khác (chưa phải đã bao gồm hết) cũng ưu tú và hấp dẫn không kém. Chúng tôi bám sát lối văn tự sự của tác giả đương thời để bạn đọc nước ta còn có thể thấy lối miêu tả tỉ mỉ từng chi tiết và sự kiện trong truyện cũng từ lâu đã ảnh hưởng đến lối viết của một số nhà văn đầu thế kỷ XX ở nước ta.
Tập truyện do hai người dịch nên văn phong, chữ dùng khác nhau là điều khó tránh, song chúng tôi không định thống nhất vì mỗi truyện là một câu chuyện riêng rẽ, bạn đọc có thể tùy ý thưởng thức. Tuy đã cố gắng hết mức, nhưng nếu còn sai sót, xin bạn đọc chỉ giáo.

Các tác giả. 


http://vnthuquan.net/

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5938
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Fri Mar 14, 2014 12:11 pm

Tập 1 - Chương 1 (A)
Kẻ Buôn Vải Minh Oan Cho Bạn
Tên Giết Người Vợ Khó Bao Che
Chỉ bởi hoa cười miệng mới cười.
Hoàng oanh thánh thót hót đôi hồi
Trên quầy sẵn rượu say vài chén
Thiên hạ núi sông thay dạo chơi.
Hãy mắt ra nhìn thế cuộc.
Giãi tấm lòng ta đón sự đời.
Lắng nghe câu chuyên còn tươi rói.
Khuây khoa lòng buồn cũng phải nguôi.
 
Tôi làm bừa mấy câu thơ, không phải khuyên người ta sống phóng đãng, nghe chuyện cười để sống qua ngày, mà khuyên người ta mở rộng tấm lòng, đừng gian ác, xảo trá. Không nên lúc nào cũng tất bật, vội vã, ngay bữa ăn cũng nhấp nha nhấp nhổm, đêm nằm nghĩ ngợi không yên giấc. Sao lại căng thẳng đến như thế? Vì họ không tin "tất cả là do mệnh, chỉ một chút do người”. Cho nên, cả đời lầm lỡ, đến khi sắp từ giã cõi đời mới biết là sai. Tôi với bạn đều là những người mắt sáng tai lành, ấy cũng là do đời trước tu nhân tích đức. Nếu biết sống yên phận, giữ mình nghe theo lời người tốt, thì nhất định không đến nỗi đói rét. Còn một số người mù lòa tàn tật, đáng thương, phần lớn là do may rủi.
Chuyện kể rằng, thời Gia Tĩnh, thành Nam Kinh, có một người mù, ban ngày xem bói, ban đêm lại đi đánh bạc. Đã ở tuổi trung niên nhưng Dương Liễu Tiên vẫn là người chưa vợ. Anh ta thường ân hận rằng, kiếp trước do mình không tu nhân tích đức nên kiếp này phải chịu nỗi mù lòa. Anh không dám mơ tưởng tới cuộc sống giàu có, mà chỉ cam lòng sống dựa vào người cậu. Một hôm vào buổi tối, mấy người bạn kéo anh đến nhà đãi rượu, chơi tới mãi tận nửa đêm mới về. Đi được nửa chừng, ba người bạn rẽ sang lối khác, còn Liễu Tiên lọc cọc chống gậy lần đường về nhà. Anh nghĩ, hôm nay ăn quá no, đêm mình phải đánh một giấc cho đã mắt. Đang men theo đường về nhà bỗng nhiên vấp phải vật gì làm anh suýt ngã. Liễu Tiên cúi xuống sờ, thì đó là một chiếc bao. Anh ngồi lên bao đợi một lúc lâu, song vẫn không thấy tiếng người đi tới. Liễu Tiên mang chiếc bao ấy về nhà. Thằng nhỏ ra mở cửa, trời tối quáng mắt, nó chẳng nhìn thấy Liễu Tiên cầm gì. Đặt chiếc bao lên giường, Liễu Tiên cũng cởi áo đi ngủ luôn. Đến canh năm Liễu Tiên trở dậy lấy chiếc áo xanh bọc lấy bao, dùng dây buộc lại, rồi vội vàng mang ra khỏi nhà. Liễu Tiên rờ rẫm đi đến chỗ cũ, đặt bao xuống. Lúc ấy trời vẫn chưa sáng. Liễu Tiên ngồi lên chiếc bao không rời nửa bước.
Lát sau trời sáng dần, người qua lại mỗi lúc một đông. Liễu Tiên nghe thấy có tiếng kêu than: "Hôm qua, lúc chập choạng tối, tôi cùng đứa con trai mười tuổi tới đây thì trời tối mịt tôi muốn đi tiểu tiện nên bảo nó ngồi lên bao, khi nào cha đi xong thì mang bao cho cha. Ai ngờ khi đi xong tôi bảo nó: 'Bụng đói rồi, hãy mau mau tới cửa hàng ăn cơm'. Tôi đi trước, nó đứng lên theo sau. Trời tối mịt, vì sợ lạc, nên nó vội bám theo tôi. Thấy nói đến cơm, bụng lại đói nên nó quên khuấy mất bao. Tôi cũng lú lẫn chẳng nhắc nó một câu. Mãi đến khi tới cửa hàng ăn, mới biết nó để quên, thế là mất. Tôi đánh nó. Chủ nhà khuyên tôi: ‘Đường sá Nam Kinh người đi kẻ lại nườm nượp suốt ngày đêm, chẳng may mất rồi, đánh nó cũng chẳng tìm lại được. Hãy đợi đến sáng mai ra đường kêu, may ra có người nào nhặt được thì chia cho họ một nửa, hoặc nhờ trời gặp được người tốt thì chưa biết chừng họ sẽ trả lại hết cũng nên'. Trong bao của tôi có mười bảy lạng bạc, ba tấm vừa lụa vừa vải và một gói đồ trang sức. Vì con gái sắp đi lấy chồng, tôi phải vào thành mua sắm cho nó. Đây là số tiền mới bán ruộng, nay mất sạch, lại cận ngày cưới, tôi biết làm sao bây giờ”. Rồi ông kêu khóc thảm thiết. Người đi đường, kẻ nói thế này, người nói thế khác cứ ầm ĩ cả lên. Dương Liễu Tiên ngồi trên chiếc bao nghe thấy hết, rồi khẽ nói với một người bên cạnh rằng: - Anh bảo ông ta, hãy đến đây tôi đoán giúp. Tôi không lấy tiền đâu.
Người ấy vội chạy tới nói với Liễu Tiên rằng mình gặp nạn. Dương Liễu Tiên bảo mọi người lui ra, ghé vào tai người ấy nói mấy câu, rồi cầm chiếc bao đứng dậy. Người nhà quê kia theo ông về nhà. Liễu Tiên nói:
- Ông ạ, bao của ông ở trong này, vừa rồi tôi không tiện trả ông, sợ người ở đây nhìn thấy, nếu kẻ xấu hiếu sự, mở ra xem tất sẽ lấy cắp. Tuy tôi không cần trả ơn, nhưng những người ấy sẽ hạch sách, đòi trả công, rất phiền toái. Tôi có nhã ý bảo ông đến nhà trả lại, ông hãy để chiếc áo xanh lại cho tôi rồi mang bao về.
Người nhà quê ấy vội giở chiếc bao ra, thấy tất cả vẫn còn nguyên vẹn, cầm bao cười hể hả, nói:
- Quả là trời có mắt, nên tôi gặp được người tốt bụng, sau này biết lấy gì đền đáp.
Ông rối rít cảm ơn, rồi ra về.
Vẫn như mọi ngày, Liễu Tiên rửa mặt, khăn áo chỉnh tề, ra cửa hàng, ngồi trang nghiêm chờ khách tới xem bói. Liễu Tiên cần mẫn hành nghề, cuộc sống cũng tạm đủ. Một hôm có người ăn mày đến cửa hàng kêu với ông rằng:
- Ông ơi! Hãy nhón tay làm phúc, cho tôi đồng tiền bát gạo.
Liễu Tiên đưa cho người ăn mày ba đồng.
- Ông ơi! - Người ăn mày nói. - ông có biết, nếu thiên hạ có không thanh(1) thì chẳng còn ai mù nữa không?
- Làm gì mà có nhiều không thanh đến thế. - Liễu Tiên nói.
(1) Không thanh: tên khoáng vật, sản xuất tại hang núi ích Châu, nơi có mỏ đồng, giống quả dương mai mầu xanh, bên trong rỗng, chứa một loại dung dịch chữa mắt rất hiệu nghiệm.
- Đúng, đúng lắm! - Người ăn mày cười ha hả nói. - Ta nghe nói ông là người đức hạnh, hôm nay ta có ý định đến cứu ông hãy lại đây ta bảo.
Người ăn mày ghé sát vào tai Liễu Tiên nói mấy câu, rồi đưa cho ông một hạt không thanh và một bộ sách thuốc, nói:
- Tôi là Y Đầu Xù.
Rồi nhẹ nhàng cất bước ra đi.
Ngày hôm sau Liễu Tiên khăn áo chỉnh tề, hướng lên trời cao cầu khẩn, tra nước không thanh vào mắt. Như lột một lớp da, mắt tự nhiên bừng sáng. Liễu Tiên mù từ lúc lên ba, nay lại nhìn thấy, nói sao xiết, như một vị tiên, mang cuốn sách thuốc đi cứu giúp người đời...
 
Các bạn thân mến, trong thiên hạ, dù là người sáng hay mù, nếu làm ăn lương thiện thì pháp luật không bao giờ động đến. Song, có một tiên sinh mù thông minh, linh hoạt, có chí khí lại để tiếng xấu muôn đời, làm bia miệng thế gian, ai nghe thấy cũng phải rùng mình run sợ. Hắn ta người huyện Hải Ninh, phủ Hằng Châu, năm lên sáu tuổi bị đậu mùa, hai mắt mọc hai chiếc mụn, khi mụn khỏi thì hai mắt không còn nhìn thấy. Lúc nhỏ thường gọi là A Mỗ, sau học được nghề xem bói, rồi dọn đến thành Gia Hưng mở cửa hàng, đặt tên hiệu là Lý Tâm Sở. Tuy mù nhưng Lý Tâm Sở lại biết đánh bài mạt chược, cờ tướng. Khi chơi cờ, thường thì ai cũng phải chịu thua, nếu ai dám coi thường hắn, thì người đó quả là liều lĩnh. Lý Tâm Sở không những bắt người đó phải xin lỗi và bồi thường danh dự, mà còn đến tận nhà xé rách quần áo, cắn nát ngón tay. Về sau không ai dám chơi với hắn. Đến năm ba mươi tuổi, Lý Tâm Sở tích góp được hai ba chục lạng bạc, lấy một người góa chồng và nuôi thằng ở tên là A Long. Lý Tâm Sở là người xảo trá bạc ác, có vợ hắn như hổ mọc thêm cánh. Những người láng giềng qua lại, hắn không cho phép bất cứ ai nói tới chữ "mù”, nếu ai đó lỡ mồm thì hắn chửi cho tàn tệ, đến những kẻ hàng tôm, cá cũng đành chịu thua. Vô phúc có ai cất gánh lên còn làu bàu chửi "lão mù độc ác" thì hắn đuổi theo đánh không tiếc tay. Những người qua đường thấy thế xúm lại khuyên can, nhưng khi thấy hắn xử sự như thế thì họ đều khinh bỉ bỏ đi. Cứ thế trong nhiều năm, sự độc ác của hắn không sao kể xiết. Đúng là, người không mù mà độc ác cũng có, song chưa thấy người nào mù mà độc ác như hắn.
Gã mù này đã gây ra cái chết oan khuất cho một người ở huyện Bình Hồ, tên là Ngụy Ngọc Phủ. Anh ta có vợ luôn ốm đau là Giang Thị và một đứa con trai lên bốn tuổi tên là Quan Thọ. Tuy là người buôn vải, song Ngọc Phủ cũng là kẻ chẳng ra gì. Một hôm mới canh năm anh ta đã trở dậy, đến phủ Gia Hưng kiện một người họ Trương là chủ hàng của anh ta để kiếm một món tiền. Hôm ấy cơm nước xong, trời vẫn còn tối, vừa bước ra cửa đã vấp ngã, nhưng anh ta không thấy đau, lồm cồm ngồi dậy, ra bến thuê thuyền đến huyện lị, trong lòng thắc thỏm lo sợ, không biết có lừa được người chủ này không. Tới huyện lị, anh ta mải miết đi. Từ xa có một tấm biển: "Lý Tâm Sở xem bói, biết được tiền vận, hậu vận", bên cạnh có đề hai dòng chữ nhỏ: "Lòng thành xem họa phúc, phải thực sự báo đền". Vừa tới cửa, anh ta sửa lại quần áo nhìn vào thấy:
Khói hương nghi ngút, nước thải tàn nhang.
Thần tượng oai nghiêm, dát vàng rục rỡ.
Mấy chiếc chõng tre, bút nghiên bày sẵn.
Giấy thơ mấy bút, đoán thật đúng thay.
Trên bài vị thờ Chu Văn, Khổng Tử.
Dưới bàn nước, ghi năm tháng ngày giờ.
Tiên sinh mù, ngồi trang nghiêm cung kính.
Tiếp đãi khách hàng, dáng bệ vệ oai nghiêm.
Cửa hàng Lý Tâm Sở, từ sáng sớm đã được quét dọn lau chùi sạch sẽ, chậu rửa tay đầy ắp nước trong. Trời thu mát mẻ, Tâm Sở mặc áo dài thâm mới cứng, đầu đội khăn vấn hình mỏ quạ. Hai mắt như hai con ốc nhồi lộn lên đảo xuống, vểnh tai nghe ngóng. Khách vào, hắn nịnh nọt một hồi, rồi mời khách xem bói. Nếu có người hỏi về bệnh tật, thì hắn bảo cúng bái các vì sao, lễ thổ thần, chiêng trống chập cheng, dặn dò thí chủ ầm ĩ một hồi. Ngẫm nghĩ trên trời dưới đất, tránh sao khỏi việc chẳng lành. Cổ nhân từng nói:
Dục vọng ở đời,
Khiến lòng rối loạn.
Người không có mắt,
Sáng sáng chiều chiều,
Tối đen như mực. Mắt chẳng thấy gì.
Lòng nghĩ lung tung.
Ta chẳng lạ lùng.
Chỉ cần nghĩ một chút, ta thấy ngay Lý Tâm Sở là người không ngay thẳng, hắn nghĩ sao được điều đúng đắn. Xem bói xong lại đánh bạc, thì chẳng vị thần nào dám vào cửa nhà hắn.
Ngụy Ngọc Phủ bước vào, đứng như chôn chân trước cửa, đã vào thì không ra được, hắn nghĩ: "Nếu xem bói thì nên hỏi việc gì cho đúng với ý định của mình". Rồi anh ta mạnh dạn bước vào nói:
- Xin nhờ tiên sinh xem cho một quẻ.
Ngọc Phủ rút ra một lá sớ, rì rầm khấn: "Họ Ngụy lòng thành dâng nhang đăng, kêu cầu một việc đó là: Vốn ta rất căm tức gã chủ họ X. nên hôm nay lên huyện kiện lão. Lão là người trung hậu nhưng vô dụng. Sau này, quan đòi gã tới xử, ta sẽ được rất nhiều tiền của. Xin thần cho một quẻ". Ngụy Ngọc Phủ khấn xong rồi vái lạy, chuyển lá sớ cho Tâm Sở. Tâm Sở cầm lấy hỏi họ tên, khấn một hồi, lắc lắc ống thẻ rồi gieo quẻ ba lần, được quẻ Nội. Sau đó lại lắc, gieo một lần nữa mới xong đó chính là quẻ Trạch thủy khốn, rồi nói:
- Xin ông anh ngồi xuống để nghe tôi nói. Đây là quẻ Trạch thủy khốn. Có làm việc gì tốt không?
- Đòi chủ được nhiều tiền của, - Ngọc Phủ nói, - không biết có được không? Tiên sinh cứ nói thẳng.
- Quẻ này rất tốt. - Lý Tâm Sở nói. - Tên là quẻ Khốn, ngươi cầu tài không phải vất vả, ở nhà cũng có người đưa của đến. Vả lại hào thứ sáu động lung tung, ấy là điềm báo tiền của chảy vào nhà như nước. Hôm nay là ngày Trấn Huyền Vũ trông coi, giờ Thất Sát, Hoàng Phan canh giữ, lại có báo đuôi kéo thương, có rắn biết bay bày binh bố trận. Những loài đó sẽ đuổi hết tiền tài đến với ngài. Nhìn kĩ lại thấy sao Bắc Đẩu lấp đường, ngũ quỷ phá cầu, cóc nhái bò đầy đường. Những vị thần hung tợn nhỏ máu xin chúc mừng ngài tiền của đến như nước chảy.
Ngụy Ngọc Phủ là một kẻ tham tài lại ngu muội, sao biết được nghĩa lí trong Kinh Dịch. Nghe Lý Tâm Sở nói, Ngụy Ngọc Phủ cười tít mắt, tưởng mình đang ngồi trên đống của. Ngụy Ngọc Phủ rút ra một gói bạc, nhón lấy bảy tám đồng gói vào giấy đưa cho tiên sinh, gọi là chút thù lao, rồi cúi đầu đi ngay. Hắn ta nghĩ: "Nếu lần này thắng kiện, được bạc, ta sẽ tậu ruộng vườn, lợn, cừu và ba cô gái đẹp để nâng khăn sửa túi".
Nhận được gói bạc của Ngụy Ngọc Phủ, Lý Tâm Sở sờ sờ nắn nắn, hắn sung sướng vứt ngay giấy cho tiền vào mồm nếm, biết là bạc tốt, hắn gọi ngay A Long tới bảo:
- A Long, mày hãy đuổi theo người vừa xem bói, bảo hắn quay lại ngay, tiên sinh còn có điều muốn nói thêm.
A Long, người tai mắt của Tâm Sở, kẻ ra người vào nó đều để ý. Thường là khi gặp phải bạc xấu hoặc giả cần phải đổi, nó đều đuổi theo như thế. Ngụy Ngọc Phủ vừa đi khỏi quán được mấy bước thì A Long túm áo, nói:
- Xin ngài quay lại, tiên sinh còn điều gì quan trọng muốn nói với ngài.
Thấy thế Ngọc Phủ vui mừng quay lại ngay. Lý Tâm Sở đã bàn trước với vợ. Quả là:
Không thực thi kế sâu vạn trượng
Sao bắt được rồng ngậm ngọc châu.
Ngụy Ngọc Phủ theo A Long quay lại, vừa tới cửa, Tâm Sở bước ra nói:
- Ngài Ngụy quay lại rồi đấy ư? Quẻ của ngài có mười hai phần tài lộc, tiểu đệ xin chúc mừng. Lần này gia đình ngài giàu có phát tài gấp bội. Đây là cuộc đổi đời, chẳng khác nào thay đổi xương cốt, thịt da. Tiểu đệ học được cách xem tướng, vì khách đông nên không dám xem, chỉ xem bói mà thôi. Nay gặp ngài, thuộc tướng giàu có nên tôi quyết định xem cho ngài thật kĩ. Ngài yên tâm, tôi không lấy tiền đâu, sau này giàu có, lúc đó ngài đến tạ ơn tôi là được.
Ngụy Ngọc Phủ đầu óc ngu tối, mê muội, tưởng mình sẽ thành ông chủ giàu có thật, đưa tay cho Tâm Sở xem. Tâm Sở nói:
- Nơi này người xem bói thường lui tới đông. Tôi sẽ tiếp ngài tại phòng nhỏ phía sau, ở đó tôi sẽ xem cho ông tỉ mỉ kĩ càng hơn.
A Long đã mở sẵn cửa ngách. Tâm Sở mời Ngọc Phủ đi trước rồi thong thả bước theo sau. Cũng lúc đó vợ hắn bảo A Long đóng cổng, hạ biển, chỉ để Ngụy Ngọc Phủ và Lý Tâm Sở ở phòng trong. Lão mù đứng, Ngọc Phủ ngồi, hai người quay mặt vào nhau. Tâm Sở nói:
- Phải sờ thì mới biết được.
Lý Tâm Sở vòng ra sau, sờ vào sống lưng, bên hông, thấy chiếc túi cồm cộm bên trong. Lý Tâm Sở lại sờ lên đầu và mặt, vừa sờ vừa nói, tốt, tốt lắm, rồi lại bảo Ngọc Phủ ngẩng đầu lên. Ngọc Phủ ngẩng đầu. Lý Tâm Sở sờ vào yết hầu, ngủi ngửi. Mùi hôi từ người Ngọc Phủ thộc vào mũi gã. Gã mù đột ngột cúi đầu ngoạm chặt lấy yết hầu Ngọc Phủ. Lão Ngụy đau quá không sao chịu nổi, giằng ra, vợ gã mù lẻn vào trói tay Ngụy Ngọc Phủ. Gã mù cắn vào yết hầu quá mạnh, ngập cả hàm răng như cắn vào đu đủ, đứt một miếng to bằng quả đào, nhổ toẹt xuống đất như một chiếc tổ ong đẫm máu. Ngọc Phủ ngất xỉu ngã vật xuống, cổ hầu máu tuôn ra như suối. Chân tay run lẩy bẩy không kêu lên được nữa. Chưa đầy nửa giờ, Ngọc Phủ không giãy giụa được nữa rồi chết hẳn. Đúng là:
Kiếp trước từng gây nên oan nghiệp.
Kiếp này lại gặp kẻ gian manh.
Ngụy Ngọc Phủ chết, hai vợ chồng gã mù vội vã bảo A Long đóng cổng thật chặt, lột quần áo, lấy hết của cải. Tâm Sở loạng quạng cầm cuốc, đào vội chiếc hố, chỗ đất trống sau nhà. A Long và Trâu Thị cũng cùng hắn ra sức đào, được hơn hai giờ thì hố sâu khoảng ba thước, chúng hất Ngọc Phủ xuống hố rồi lấp đất. Ba đứa vẫn cười nói như thường, không chút sợ hãi, hình như từ lâu chúng đã quen với ngón nghề này. Gã mù sờ vào gói bạc, mỉm cười, còn vợ hắn dọn sạch những vết máu trên đất. Suốt ngày hôm đó chúng không mở cửa hàng, đến tối ba đứa ăn uống phè phỡn, rồi cười ha hả với nhau. Hôm sau Lý Tâm Sở lại mở cửa hàng như thường lệ. Ngày thứ ba chúng không mở cửa hàng, lại mua thịt cá về ăn uống. Cứ như thế đến nửa tháng, không ai hay biết.
Thương thay, vợ Ngọc Phủ, là sản phụ, lại mắc bệnh bại liệt chỉ ăn mà không làm được việc gì. Con trai mới lên bốn tuổi, còn thơ dại. Mẹ con ở nhà mong ngóng, nghĩ: "Đã bỏ đi đâu lâu ngày như thế, không thiết đến nhà cửa, chắc rằng không về nữa". Chỉ có một người gọi là Lão Tô, đã hơn bảy mươi tuổi, hằng ngày đến bế đứa trẻ đi lang thang khắp nơi, hỏi han tin tức Nhà vốn thu mua vải vụn, ngày ngày có người mang đến bán, song những người đó đều không hay biết gì về Ngọc Phủ. Vợ Ngọc Phủ mòn mỏi ngóng đợi tin chồng, cảnh ngộ thật là thê lương.
Ai ngờ đâu đống xương Vô Định,
Vẫn còn trong mộng gái phòng khuê.
Các bạn thử nghĩ xem, sự việc độc ác ấy bao giờ mới đưa ra ánh sáng, nỗi oan ấy bao giờ mới được báo thù. Cổ nhân có câu:
Chủ định trồng hoa, hoa không mọc
Chẳng màng cắm liễu, liễu xanh tươi.
May mà trước đây Ngụy Ngọc Phủ kết nghĩa anh em với Phó Tứ Quan, anh cũng là người thu mua vải vụn, vì tuổi ít hơn nên làm em. Một hôm anh mang bốn năm mươi tấm vải đến thành Gia Hưng bán. Đi khắp thành mà chỉ bán được sáu bảy tấm. Vừa tất tả đi qua cửa hàng Lý Tâm Sở thì thấy một người đàn bà xinh đẹp, đậm đà, ăn mặc gọn gàng, gọi mua vải. Phó Tứ Quan đưa vải tới, người đàn bà xem xong mua năm tấm. Phó Tứ Quan đòi lạng rưỡi bạc. Người ấy trả một lạng hai nhăm. Phó Tứ Quan nói:
- Cứ cân bạc xem đã, nếu là bạc hoa thì thiếu chút ít cũng được.
Người đàn bà quay vào cân bạc, rồi đưa ra, nói:
- Đây toàn là bạc hoa.
Phó Tứ Quan vốn là người thông minh, xem bạc xong, anh ta chột dạ: “Kỳ lạ thật, tại sao số bạc này lại ở đây?", rồi đòi trả thêm mới bán. Khi ra khỏi cửa, anh nhìn đi nhìn lại tấm biển, suốt dọc đường cứ nghĩ miên man: "Số bạc hoa này là tiền vải của lão Ngảnh họ Chu trả cho Ngụy Ngọc Phủ. Nửa tháng trước đây chính tay anh cân, nặng chín hoa bảy li rưỡi. Xem đi xem lại, rồi cân thử, thì thấy không sai một li. Sao số bạc ấy lại ở cửa hàng gã xem bói này?". Câu hỏi ấy cứ bám riết lấy anh: "Nếu như không chi dùng ở đây, thì vì sao người đàn bà này lại có số bạc đó". Mấy người này Ngọc Phủ cũng không hề quen biết, đi đã hơn nửa tháng nay vẫn chưa về, mọi người đều mong mỏi. Hôm kia ta đến nhà trọ hỏi, Ngọc Phủ không hề tới đây. Thăm dò trong dinh quan huyện cũng không thấy ngọc Phủ đệ đơn kiện. Quả là trong đó có duyên cớ gì đây! Anh đặt bao vải xuống, lấy bạc ra xem đi xem lại, rồi cân thử một lần nữa, đưa quả cân tới chỗ chín hoa bảy li rưỡi, cán cân ngang bằng như mặt nước. Điều ấy khiến Phó Từ Quan càng thêm nghi ngờ.
Mấy hôm sau bán hết vải, trở về Bình Hồ, Phó Tứ Quan tới ngay nhà Ngụy Ngọc Phủ. Thấy vợ Ngụy Ngọc Phủ khóc than thảm thiết, còn đứa con trai cũng rầu rĩ. Anh nói:
- Đã lâu rồi mà anh Ngụy Ngọc Phủ vẫn chưa về. Tôi đã đến huyện hỏi dò, không thấy anh đưa đơn kiện, lại đến nhà trọ người ta bảo anh ấy không tới đây. Anh cũng không nói là đi đâu xa, chắc là anh đã mang số bạc mua vải của lão Ngảnh họ Chu đến xem bói ở phủ lị. Tôi đã bán vải cho nhà ấy, chính tay tôi cân bạc. Số bạc đó y như bạc lão Ngảnh trả, không sai một li. Tôi thấy rất đáng nghi, nên không dùng số bạc đó mua hàng. Nếu không dò hỏi được tung tích của anh, tôi sẽ đem số bạc này đến huyện cáo giác. Quan huyện sẽ phải hỏi lão thầy bói, thì chắc chắn sẽ biết được. Chừng nào anh ấy chưa về thì vẫn phải tiếp tục điều tra, nhất định sẽ tìm thấy!
Vợ Ngọc Phủ đau đớn, nghẹn ngào nói:
- Chú nói có lí. Tôi ngày đêm lo lắng, nhưng cũng chẳng biết làm gì, con thì còn nhỏ, tôi lại đau ốm, không ai lên huyện lo việc, tôi biết làm thế nào đây?
Phó Tứ Quan nói:
- Tôi đi làm chứng, còn chị hãy bảo lão Tô bế cháu Thọ đem số bạc đệ lên huyện cáo giác, việc này phải làm cho ra nhẽ.
- Không có người làm đơn kiện thì làm sao đây? - Vợ Ngụy Ngọc Phủ nói.
- Tôi sẽ đi mua giấy, - Phó Tứ Quan nói. - Cứ viết thẳng ra là được. Phó Tứ Quan vội vàng đi mua giấy về, viết:
"Người làm đơn này là Ngụy Quan Thọ. Thưa về việc tìm cha. Cha tôi vào thành buôn bán đã hai mươi ngày rồi mà không thấy về. Tôi biết cha tôi đã mang bạc tới xem bói nhà Lý Tâm Sở. Vì cha tôi có người chú kết nghĩa anh em tên là Phó Tứ Quan đã bán vải cho nhà ông ta, và phát hiện ra số bạc người ta mua vải là của cha tôi. Nay đem số bạc trình lên ngài, khẩn thiết xin ngài điều tra tận gốc số bạc ấy từ đâu ra, lúc đó sẽ biết được cha tôi ở đâu. Mẹ con tôi vô cùng cực khổ. Xin dâng đơn lên ngài".
Phó Tứ Quan đưa lá đơn không hợp quy cách, chỗ thì viết chân phương, chỗ thì viết ngoáy, cho vợ Ngụy Ngọc Phủ, rồi nói:
- Sáng sớm mai, chị bảo lão Tô bế Quan Thọ, cùng đi cáo giác, còn số bạc này hãy để ở nhà chị.
Sáng sớm hôm sau, Phó Tứ Quan đến, cùng lão Tô cõng Quan Thọ, mang số bạc tới huyện Bình Hồ. Quan huyện Thẩm Dao Chương là quan thanh liêm chính trực. Ông khoảng ba mươi tuổi, người phủ Quỳnh Châu, Quảng Đông. Cha ông là một ông đồ, tuổi cao mới sinh được mình ông. Ngay từ khi còn nhỏ, Thẩm Dao Chương sống trong cảnh khổ cực, nghèo túng, nếm đủ mùi cay đắng, nên khi được làm quan ông luôn theo lời răn dạy của cha, làm tốt mọi công việc, xét xử công bằng, thưởng phạt nghiêm minh. Chính vì thế mà bọn nha lại rất sợ, không dám làm bậy, còn nhân dân coi ông như một vị Thành Hoàng. Hôm ấy, công đường vừa mở, Phó Tứ Quan, lão Tô bế Quan Thọ theo đám đông vào cáo giác. Vị Thành Hoàng nhận tất cả đơn từ xem xét tỉ mỉ từng lá một, và phê những ý kiến vào đó. Xem đến lá đơn của Ngụy Quan Thọ, ông gật gật đầu cười rồi phê vào hai chữ "truy nã". Đến trưa thì ông xem xong tám mươi lá đơn, trong đó có đơn của Ngụy Quan Thọ. Hôm ấy chỉ có ba lá đơn tố giác, ông lần lượt gọi vào xét hỏi. Đến Ngụy Quan Thọ, thấy lão Tô bế Quan Thọ vào, miệng chỉ nói "bác bác", dáng vẻ sợ hãi đáng thương. Sau đó ông gọi Phó Tứ Quan lại hỏi:
- Số bạc này ngươi lấy ở đâu ra?
Phó Tứ Quan khai rõ ràng, từ đầu tới cuối. Hỏi xong lần sơ thẩm về ba vụ án, ông kết thúc phiên tòa.
Thẩm Công trở về tư dinh hỏi người hầu rằng:
- Ta cần sai một người giáp thủ(1) thật thà chất phác, làm tốt công việc này, ngươi có thể cử giúp ta được không?
(l) Giáp thủ: người đứng đầu năm binh sĩ.
Người hầu không dám làm bậy, nghĩ ngay tới Tào Thăng, là người thật thà chất phác, không bao giờ dám nhận tiền đút lót để ăn uống rượu chè, rồi nói với Thẩm Công:
- Chỉ Tào Thăng mới làm được việc này.
Thẩm Công viết một tờ trát, sai Tào Thăng mang đi và dặn rằng:
- Ngươi hãy đi, nói với Lý Tâm Sở, người hành nghề thầy bói trong huyện, rằng chiều mai ta có việc phải hỏi ông ta, không được nói một câu nào khác, không được đòi ăn uống, nếu hắn tới ta sẽ thưởng cho bữa rượu.
Tào Thăng lĩnh trát, cúi chào rồi đi ngay.
Vào khoảng canh năm, Tào Thăng tới phủ lị, hỏi đến nhà Lý Tâm Sở, ôn tồn lễ phép đưa trát cho ông ta. Lý Tâm Sở rờ rờ tờ trát, chẳng chút kinh sợ, nói:
- Gọi ta về việc gì thế?
- Tôi không biết, - Tào Thăng nói. - Chưa biết chừng muốn nhờ ông tới xem bói cũng nên. Phải lập tức đi ngay, tiên sinh không nên chần chừ.
- Thưa ông, - Tâm Sở nói, - ông có biết trong huyện đường của ngài có ai sao không? - Tôi cũng không biết nữa, - Tào Thăng nói. - Tiên sinh cứ đi hỏi ngài sẽ biết.
- Ông hãy ngồi nán lại, - Lý Tâm Sở nói. - Uống một chén rượu đã.
- Tôi không dám uống rượu, lấy tiền của ông. - Tào Thăng nói. - Không còn thời gian nữa, xin ông lên đường ngay.
Tâm Sở đành vào nhà trong, ăn vội bát cơm, giắt theo mấy lạng bạc. Sợ lên huyện Bình Hồ phải xem bói, nên ông ta mang theo cả ống thẻ. Ra tới cửa ông ta còn quay lại nói với vợ:
- Tôi đi rồi sẽ về ngay thôi.
Hai người ra khỏi cửa, ra bến sông gọi thuyền tới huyện Bình Hồ.
Tào Thăng dẫn Tâm Sở đến tư dinh hầu quan. Trời sắp tối thấy trong tư dinh đèn nến sáng choang. Thẩm Công đang ngồi trên ghế công đường, hỏi:
- Tào Thăng, hãy dẫn hắn vào.
Tào Thăng dẫn lão mù vào. Thẩm Công lấy từ trong tay áo ra một gói giấy, rồi nói:
- Tào Thăng, ngươi làm việc công thận trọng, ta thưởng cho năm đồng mua rượu.
Tào Thăng cúi đầu cảm ơn, rồi ra ngoài đứng đợi. Lão mù quỳ trước bàn. Thẩm Công hỏi:
- Lý Tâm Sở, ngươi là một tên mù, làm được việc tốt! Chỉ thương thằng bé nhỏ dại ấy.
Nói xong ông giận dữ đập bàn. Gã mù kinh sợ nói:
- Thưa ngài, không liên can gì đến con, thằng nhỏ ấy vốn là một thằng trộm cắp, việc đã xảy ra lâu rồi, ngài hỏi con làm gì?
- Hãy khai lại từ đầu, một thằng bé khờ dại như thế thì trộm cắp sao được?
- Thưa ngài, - lão mù nói, - nó lấy trộm đồ trang sức bằng bạc, quần áo và các đồ đồng của nhà chủ, nó vốn không phải là người tốt, nên lần này con phải đuổi nó đi.
- Ngươi đuổi nó đi từ bao giờ?
Tháng tư năm ngoái, - lão mù nói, - thằng nhỏ ấy lấy trộm rất nhiều đồ vật gửi ở nhà con, rồi sau đó đến lấy đi. Vợ con trách mắng nó, lừa nó vào cửa, đánh nó một trận ngã dụi xuống, rồi dùng dây thắt cổ cho đến chết. Quả thực mắt con mù, việc làm ấy đều do vợ con gây ra.
- Thế là mất một mạng người, - Thẩm Công nói. - Thằng nhỏ ấy là con ai? Tên gì?
- Thằng nhỏ ấy tên là Ô Tam, - gã mù nói. - Con ông gù Từ Lang Trung.
- Xác chết hiện ở đâu? - Thẩm Công hỏi.
- Ở sân sau, - gã mù nói.
- Hãy kẹp nó cho ta, - Thẩm Công nói.
Những người xung quanh lập tức kẹp ngay cái ấy của tên vô lại rồi hỏi tỉ mỉ. Gã tù nhân mù độc ác như hổ, chuyên hãm hại người tại nhà, đâu có biết phép vua như lò lửa, và sự ghê gớm của cửa quan, nên đến nay mới ra nông nỗi này, quả đúng là:
Phạm pháp mất hết quyền
Vận đen thi nhau đến.
Tên mù Lý Tâm Sở bị kẹp, hồn bay phách lạc, trời đất tối sầm lại. Từ thuở cha sinh mẹ đẻ chưa từng nếm mùi vị này, ngất đi lại tỉnh. Thẩm Công không giận dữ, không nóng vội, ông thong thả hỏi:
- Số bạc của người khách họ Ngụy, người dùng cũng khá đấy, đến nay thì nó đang ở chỗ ta, hãy trả lại người ấy cho ta!
- Thưa ngài, thưa ngài! - Gã tù nhân mù nói,-xác của người khách họ Ngụy cũng chôn tại chỗ Ô Tam.
- Người tham của giết người, - Thẩm Công lại hỏi, - phải khai rõ từ đầu đến cuối, ta sẽ tha chết cho người.
- Ngày mười chín tháng tám, - tên mù nói, - ông ấy đến xem bói, và trả công rất hậu. Con bèn bàn với vợ, vợ con nói: "Không thể buông tha được, vì ông ấy là người buôn bán giàu có. Phải gọi ông ấy lại giết đi, lấy bạc". Con quả thực đáng tội chết. Con không biết giết người. Vợ con không biết dùng dao, giả vờ xem tướng, rồi nhè chỗ yết hầu cắn, làm ông ấy không kêu được. Con nói với vợ con, nếu làm không được con sẽ đến giúp và còn nói, nếu cổ cắn không chặt, tôi sẽ đánh nhừ đòn. Người xưa nói "mèo mù vồ gà, chết cũng không buông", con dặn đi dặn lại vợ con mới dám ra tay. Chỉ lấy được tám chín lạng bạc, một bộ quần áo. Cầu mong ngài ra ân trời bể, tha cho chiếc thân tàn tật này, chỉ bắt vợ con và thằng A Long đền mạng.
- Ngươi là một tên độc ác, mất hết tính người. - Thẩm Công nói.
Sau đó ông gọi tay chân đánh cho bốn mươi tay thước. Gã mù quằn quại đau đớn, khóc không thành tiếng. Thẩm Công gọi người tống hắn vào ngục, rồi ông viết trát, sai Tào Thăng ngày mai tới bắt Trâu Thị và A Long về xét xử, định tội. Tào Thăng nhận lệnh, Thẩm Công rời khỏi công đường.
Ngày hôm sau, Tào Thăng dậy từ canh năm tới nhà lão mù, hỏi:
- Có người trong nhà không?
- Ông Tào đấy à, - người đàn bà cười hi hí nói, - ông nhà tôi bao giờ về?
- Chưa được về! - Tào Thăng nói. - Ngài quan huyện cho gọi ngươi và A Long tới huyện.
- Tiên sinh biết xem bói thì quan mới gọi. Còn chúng tôi biết gì đâu mà quan gọi. - Người đàn bà nói.
- Hãy chuẩn bị lên huyện ngay.
- Thật sao? - Người đàn bà nói.
- Không thật thì đùa à? - Tào Thăng nói. - A Long đâu, phải đi cả hai người.
Người đàn bà vẫn cứ đứng đó. Tào Thăng lại nói:
- Ngài quan huyện gọi cả hai người. Chồng ngươi có việc cần bàn, không có thời gian về, đang mong mỏi các ngươi. Không được trì hoãn, nếu chậm sẽ liên lụy đến ta.
Người đàn bà nghe thấy nói có việc cần kíp, lúc ấy mới sắp cơm cho Tào Thăng ăn. Còn mình và A Long cũng ăn vội mấy bát, rồi chải đầu rửa mặt, mặc áo, mang theo bạc và tiền đồng. Nói khó với hai nhà bên:
- Nhờ ông bà trông nhà giúp, nếu ông ngoại tôi có đến thì nói giúp rằng, chúng tôi lên huyện Bình Hồ.
Sau đó khóa cửa, mặc chiếc áo xanh lên đường. Một người đàn ông lớn tuổi thốt lên:
Khuôn mặt xinh tươi
Mắt sáng long lanh
Tai to mũi nhọn
Lưỡng quyền nhô cao
Mi mắt cũng cao.
Người đàn bà này nói năng hoạt bát, vừa đi vừa nói luôn mồm. Tào Thăng chẳng nói chẳng rằng, đi một mạch đến Bình Hồ. Tới huyện đường, Tào Thăng vào thưa với Thẩm Công rằng:
- Vợ Lý Tâm Sở và A Long đã tới.
Thẩm Công ra lệnh tống giam, ngày mai xét hỏi.
Gã mù giam tại phòng giam nam, còn vợ giam tại phòng giam nữ, chúng không hề biết gì về nhau. Trong ngục, người đàn bà nghĩ, không biết đã xảy ra chuyện gì. Không có kẻ thù, lại chẳng thấy ai nói gì cả. Chưa biết chừng do bói sai mà nên cơ sự này. Hay là chồng mình bị liên lụy, hoặc do cậu mình mà xảy ra việc này. Trong nhà có hai việc, song chẳng ai nói ra. Suốt đêm lo lắng, trằn trọc, nước mắt rơi lã chã. Đó chẳng phải là:
Nhà tù lạnh lẽo, ma quỷ hiện,

Mơ thấy đường về thăm thẳm xa. 

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5938
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Fri Mar 14, 2014 12:26 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 1 (B)
Kẻ Buôn Vải Minh Oan Cho Bạn 
Tên Giết Người Vợ Khó Bao Che
Giữa lúc người đàn bà đang lo lắng, bỗng thấy có người điệu lên xét hỏi. Mấy hôm trong tù, lão mù như một con chó, mặt tái nhợt cắt không còn giọt máu. Người đàn bà thấy dữ nhiều lành ít không dám nói thẳng với chồng, nước mắt lưng tròng. Liếc nhìn người quỳ cạnh mình, nhận ra Phó Tứ Quan, người bán vải dạo nọ, thị giật mình, nhưng vẫn không biết duyên cớ gì. Chẳng lẽ số vải ấy là do hắn ăn cắp bán cho mình, bây giờ lại kiện vì bán rẻ chăng? Thịn ghĩ bụng: "Thôi cứ để nhìn thấy vải hãy hay”.
Thẩm Công nói:
- Mụ kia, hãy khai rõ từ khi lớn lên và đi lấy chồng tới nay.
- Con là Trâu Thị, - người đàn bà nói, - chồng trước chết, sau đó về làm dâu nhà họ Lý.
- Ngươi chủ mưu giết người, - Thẩm Công nói, - hãy khai ngay, bạc mua vải hãy còn đây.
Người đàn bà ấp úng, nói quanh co. Thẩm Công gọi người giúp việc kẹp mụ lại. Người đàn bà bị kẹp, vừa khóc vừa nói:
- Không phải con chủ mưu, từ nhỏ con được cha dạy bảo.
- Nói bậy. - Thẩm Công nói.
Thế rồi ông lệnh kẹp chặt hơn, người đàn bà đau đớn, nói:
- Không phải do con, mà là cậu con dạy con.
- Mày tham của, giết người chôn tại nhà, - Thẩm Công giận dữ nói. - Còn đổ tội bừa cho người thân thích, còn gì hãy nói mau.
- Bẩm quan, - mụ đàn bà nói, - cậu con và cha con không biết lấy bao nhiêu của, giết bao nhiêu nhân mạng. Xin quan hãy truy nã họ. Con chỉ là đàn bà, vì yêu quý người thân con mới làm như thế, xin ngài tha cho.
- Cha ngươi là ai, - Thẩm Công hỏi.
- Cha con là Trâu Đoản Hồ, - người đàn bà nói, - là tướng cướp nổi tiếng. Cậu con là Vưu Bảo Quan cũng là kẻ cầm đầu một bọn cướp khác. Hai toán cướp này đêm đêm thường tụ tập thành một toán để đi cướp, trong đó còn có một số tên trộm vặt không biết cướp của giết người. Xin ngài hãy tháo kẹp ra con xin khai rõ ràng, tỉ mỉ.
Gã tù nhân mù, thấy vợ nói thế rất mừng, không kìm nổi, chỉ chửi thầm:
- Đồ lừa dối xấu xa, nói in ít chứ, không khéo mà tuôn ra hết!
Thẩm Công nói:
- Hãy nới kẹp ra.
Rồi ông quát lớn :
- Chỉ còn thiếu một người, ngươi còn giấu ta, hãy đánh chết nó đi !
Nói xong ông cầm bút viết. Người đàn bà nói:
- Con xin khai hết sự thật, chỉ mong ngài tha đánh. Thưa ngài, cha con tên là Trâu Đoàn Hồ, chuyên giết người. Năm nay cuộc sống khó khăn, giết được mười sáu người. Ngươi giết trước đó thì không sao tính xuể. Nay đã năm mươi tám tuổi, trú tại chiếc lều phía bắc làng Hương Bích. Bọn tay chân gồm có: Dương Lạp Lê, Hồ Hỏa chuyên cầm gậy đi đầu, vào nhà cướp bóc, được bao nhiêu họ chia đôi; Bì Họa Mi, giỏi đào tường khoét ngạch, trước tiên bắt trộm chó, rồi sau mới ra tay trộm của cải. Hắn luôn giả chết để đánh lừa người. Lục Cửu Bá, có sức khỏe nâng ngàn cân, chuyên đốt nhà, buôn bán phụ nữ. Đào Tiểu Ngữ biết bay lên hiên, vọt qua tường, ngày đêm chỉ uống rượu; Cường Tao Ôn chuyên tụ tập cướp bóc; Man Đầu Lục đánh người không để lại dấu vết; Lạn Thoái Đinh chuyên đi cướp vàng bạc, không để sống sót một người nào; Võng Câu Quỷ, chuyên thiêu người, đánh đai sắt vào đầu; Quang Đả Quang, vốn là một hòa thượng, giỏi leo thang dây; Miết Kỳ Tôn, chột mắt, giỏi khoét gạch; Du Ngũ, người đen xạm, giả vờ đi bán dầu, chuyên dò la tin tức, cũng cần phải bắt. Ngoài ra còn có một số tên trộm vặt như Thố Toán, Vương Tam chuyên cắt túi người đi đường. Chương Hà Quải chuyên bắt trộm gà. Lại còn có Chu Thư Phu, Lý Thân Gia, Hồ Lục Quan, Giả Biểu Thúc phần lớn là anh em với cậu con. Cậu còn có bốn năm người hầu lúc nào cũng bên cạnh như Tào Giả Ty, Kê Nhi Hoàng, Nồng Bão, A Dậu, Thúc Hỏa Đồng. Những người này rất giỏi, đêm đêm lần mò giết người cướp của, không biết bao nhiêu mà kể.
Thẩm Công ghi xong, đọc đi đọc lại, đối chiếu từng dòng, lấy bút đánh dấu từng tên một. Quả nhiên không sai một chữ. Rồi hỏi:
- Ngươi làm sao mà nhớ được những tên này?
- Từ hồi nhỏ, - mụ đàn bà nói, - con ở nhà. Những lúc rỗi rãi, thường cùng mẹ đếm chơi, không thể nào quên được.
Sau đó gọi A Long tới hỏi:
- Người khách họ Ngụy bị giết như thế nào?
- Con ở ngoài canh cửa, - A Long khai, - không biết họ giết chết thế nào, con có giúp họ đào hố chôn người.
Thế rồi Thẩm Công cho tay chân lột hết quần áo đánh mỗi đứa bốn mươi gậy, giam vào ngục. Kiểm kê toàn bộ gia sản của tên mù, giao toàn bộ cho Ngụy Quan Thọ.
Thẩm Công rút ra một tờ trát, đưa cho Tào Thăng. Ngày hôm sau dẫn khổ chủ Ngụy Quan Thọ đến nhà Lý Tâm Sở đào xác. Xác Ngụy Ngọc Phủ vẫn còn nhận được mặt. Phó Tứ Quan khóc rống lên, rồi mua quan tài khâm liệm, chôn cất cúng bái.
Thẩm Công thương Quan Thọ còn bé, không thể xa mẹ, nên không cưỡng ép nó. Phó Tứ Quan rửa nỗi oan ức cho bạn, được quan trên ban thưởng. Gã mù họ Lý, Trâu Thị bị kết tội. A Long còn ít tuổi, nghe theo lệnh chủ, nên được Thẩm Công tha tội. Mặt khác lại cho người báo cho Từ Lang Trung đến nhận thi thể Ô Tam. Những tên cướp mà Trâu Thị khai ra, Thẩm Công sai tay chân chiếu theo danh sách bắt cho bằng hết, tra hỏi từng tên, rồi giải lên cấp trên. Thời ấy nạn trộm cắp bị quét sạch, dân chúng vô cùng cảm động. Có thơ rằng:
Nước an, lòng trời thuận.
Quan tốt, dân không oan.
Xin chớ làm điều ác.

Hãy ngẩng nhìn trời xanh.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5938
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Fri Mar 14, 2014 5:34 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 2 (A)
Sa Nhĩ Trừng Vô Cớ Giết Người 
Sương Tam Bát Quên Mình Vì Nghĩa
Mười năm mài lưỡi kiếm,
Kiếm sắc chưa dám thử.
Hôm nay hiến dâng ngài,
Diệt trừ bọn hung dữ.
Thật nực cười, con người ngày nay, cứ động một tí là nổi ùng lên như gió cuốn. Mượn tiếng công phẫn để gây ra biết bao tai họa. Lớn thì làm lung lay triều đình, bé thì làm nghiêng ngả xóm thôn. Sự công phẫn sao có thể đùa giỡn được. Ta cho rằng phẫn nộ mà không công bằng chỉ là dựa vào sức mạnh; công bằng mà không phẫn nộ thì có khác gì lũ đàn bà son phấn. Nếu như công phẫn chân chính, thì sẽ được nêu tên trong sử sách, đời đời ghi nhớ.
Khi biết người đời kiêu căng rởm,
Một khi gặp sự, gió nổi lên.
Hãy nhớ cho rằng, thân đáng quý,
Dạ sắt gan vàng tiếng ngàn thu.
Điều mà thiên hạ xưa nay vô cùng căm giận là bọn tiểu nhân thi hành công vụ, cậy quyền thế, tác oai tác quái, cho ai sống được sống, bắt ai chết phải chết. Quả là gần lửa rát mặt. Luôn luôn có một bọn nịnh hót, bợ đỡ, đó chính là cáo mượn oai hùm. Bọn tiểu nhân này sát khí đằng đằng, không sao ngăn nổi, nếu là người chân chính thì phải thận trọng, giữ mình trong sạch, làm theo đạo lí. Tôi cũng không hùa theo thói đời, cũng không bới lông tìm vết. Chẳng hạn việc Dương Hóa muốn gặp Khổng Tử. Ngài Chu Văn đã chú thích rất hay: quân tử đối với tiểu nhân không ghét mà nghiêm khắc, e rằng ghét người quá đáng thì sẽ xảy ra việc bất ngờ. Nói thế có nghĩa là, ai muốn hài hòa thì đi theo cái hài hòa, ai muốn thanh cao thì tu dưỡng cái thanh cao. Rốt cục không thể nghe theo bọn tiểu nhân làm loạn thiên hạ. Khi lâm sự, thành đấng trượng phu oanh liệt, tỏ rõ chí khí nam nhi. Tuy nhiên, đây là việc vô cùng khó phụng sự cương thường, thực thi khí tiết, sao mà thực hiện rộng khắp thiên hạ được. Lợi hại không thể chuyển dời, sinh tử không làm lay động, coi thường cái chết, đem hết sức lực sống mái một phen. Huống hồ là bọn tiểu nhân bách tính không ra gì, cương thường khí tiết rất xa lạ với họ. Đúng là:
Chiến trường hết thảy đấng nam nhi,
Phút chốc trở thành người thiếu phụ.
Nói thì như thế, nhưng rốt cục ai mà chẳng có tính khí.
Vào năm Thiên Khải, Ngụy Yêm nổi loạn. Thế lực lớn mạnh khó mà chống lại. Những bậc quan lại, không những không ra sức cứu chính trừ tà, mà ngược lại còn làm tay sai cho chúng, bị người đời mai mỉa. Sau đó bị vạch tội, hạ bệ. Sáng oai nghiêm, vênh vang áo mão, chiều thì sĩ khí văn chương, tất cả đều biến mất. Văn võ, quan lại chủ chốt trong triều, phần đông đều vứt bỏ nhân cách, cúi đầu xin thương xót. Lúc ấy họ tạo ra chiếu chỉ giả, bọn hiệu úy(1) hoành hành ngang ngược. Kể cả quan phủ đương chức cũng bị chúng sát hại. Bọn mang danh sĩ phu bên dưới, lập tức gây sự khắp nơi, bôi nhọ thanh danh, khiến cho mọi người không lúc nào yên giấc.
(l) Hiệu úy: chức quan võ.
Một hôm mấy viên hiệu úy tới Tô Châu bắt người. Khi đọc chiếu chỉ của vua, quan chức ở đạo phủ, huyện nghiến răng căm giận, còn người xem đông nghịt. Quả thật:
Ban ngày chẳng làm việc gì xấu
Nửa đêm gõ cửa cũng kinh hoàng.
Không ngờ đọc chiếu chỉ xong, gào thét truyền lệnh bắt người, thì lập tức có hai ba người đứng ra kêu oan cho người ấy. Quả thật đạo lí vẫn còn. Nghe tiếng kêu, những người hào kiệt xông ra. Lúc ấy trời đổ mưa, người thì cầm gạch, cầm guốc gỗ; kẻ thì dùng giày đinh đấm đá loạn xạ. Có người còn cầm cán ô, gậy gộc đánh túi bụi vào tên hiệu úy. Các quan chức phủ huyện thấy dân nổi loạn, kêu gào cốt để cứu sống bản quan, nên không dám ngăn cản. Chỉ thấy những người ấy:
Lông mày dựng ngược, người người liều mạng xông lên
Mắt mở trừng trừng, lớp lớp bỏ mình vì nghĩa.
Khác nào công chiến
Để trả thù riêng
Đấm rồi lại đấm, nhiều lúc đứt hơi không nghỉ
Đá rồi lại đá, tưởng đã chết rồi vẫn đá thêm.
Thương thay mấy tên hiệu úy, chưa đầy nửa giờ, xác nát như tương. Phủ quan hoảng sợ, lập tức vỗ yên trăm họ, chỉ bảo điều tra người cầm đầu, xử lí hậu quả, không được bắt bừa. Trong phủ quan có bao nhiêu kẻ chỉ vì thanh thế của Ngụy Yêm mà phút chốc đã biến thành chó săn cho hắn. Thấy dân nổi loạn, sợ rằng sấm chớp gió bão nổi lên, phút chốc xảy ra điều bất trắc. Thế mà những kẻ có "bầu máu nóng” ấy cũng không dám nói nửa lời. Huống hồ ngay cả mệnh lệnh của nhà vua, các quan cũng chỉ im lặng nhìn nhau, chẳng dám làm gì. Chỉ thấy trong đám hỗn loạn, có tiếng gào thét: "Tôi đánh chết đấy! Tôi đánh chết đấy". Sau đó có năm người rẽ đám đông bước vào, quỳ trước mặt phủ quan. Trong đó có một đứa con ở đầu tóc lở loét khoảng mười bốn mười lăm tuổi. Phủ quan nói rằng chỉ cần một người. Cả năm người đều phẫn nộ tranh nhau xin nhận cầm đầu. Tất cả đều trình hung khí và khẩu cung. Bọn Nhan Bội Vĩ lập tức khóa tay họ tống vào nhà tù. Viên hiệu úy mang chiếu chỉ, giữ chức trưởng quan một đạo, là bạn đồng khoa, thấy Chu Thuận Xương bị bắt giải về kinh cũng không dám ra mặt thương xót. Nhưng những người dân bình thường, chẳng có quan hệ gì với ông lại tỏ ra oai phong lẫm liệt. Ngay cả khi bị xử tội, họ vẫn cười nói tự nhiên. Sự việc ấy làm chấn động cả thiên hạ, làm cho biết bao đấng trượng phu mũ cao áo dài phải toát mồ hôi. Hành động cao cả như thế, vậy mà không ai dám cầm bút viết nửa chữ, để giành lại vinh quang cho họ. Quả thật là:
Quan cao không gánh việc cương thường
Phó mặc Tề dân một gánh mang.
Thời ấy Ngụy Yêm reo rắc tội ác, ai ai cũng ngấm ngầm nghiến răng căm giận. Sao họ không dám dũng cảm làm như thế. Vậy mà họ vẫn nói: "Nhìn thấy trái phải đảo điên, trắng đen lẫn lộn, một khi sôi máu, mắt nhìn bốc lửa, liều thân chẳng tiếc, làm nên kì tích lưu danh thiên cổ". Tới nay vẫn còn những chuyện mới lạ hiếm thấy. Đó là sau khi Ngụy Yêm chết được ba bốn năm. Từ trong cuộc chơi đùa bình thường, trong đống tro tàn lại cháy bùng lên một hòn than. Ai ngờ rằng trong đó còn có rất nhiều thay đổi âm thầm, nhiều nguyên nhân ngoắt ngoéo. Chẳng khác nào:
Gương cũ còn bám bụi, Nhân tài chưa hiện ra Ông già lau mòn kính,
Viết truyền ghi sử xanh.
Vua băng hà, Sùng Trinh lên ngôi hoàng đế. Lấp bằng chiếc hố chôn người đen ngòm vô duyên cớ trước đây. Trong triều ngoài nội cũng phải đội ơn Sùng Trinh. Một thời dân chúng sống yên lành, no đủ. Song chẳng biết vì sao, lụt lội hạn hán xảy ra liên tiếp, khiến dân chúng phải tha hương cầu thực, mười người chết chín. Một số người nhờ nghề mọn tài hèn, lang thang khắp nơi, mới kiếm được miếng ăn. Đúng là:
Không trải đời cay đắng
Sao kiếm được miếng ăn.
Chuyện kể rằng trong thành Nam Kinh có một vị Thái học, tên là Tưởng Hữu Quân, hiệu là Kỳ Tu. Hơn ba mươi tuổi, có đứa con trai lên mười. Ông nội Kỳ Tu đỗ giáp khoa. Anh em trong họ cũng nhiều người đỗ đạt. Theo lệ cũ, anh em muốn ông phải tiến lên theo con đường ngắn nhất, để giảm được những kì thi lặt vặt. Hơn nữa ông vốn thông minh đĩnh ngộ, lại chịu khó học tập, hai chữ khoa bảng luôn luôn khắc sâu trong trái tim ông. Song chỉ vì việc nhà bề bộn, lại giữ chức lí trưởng, giao tiếp nhiều, nhất là hằng năm vào dịp thuế khóa và sai dịch, buộc ông phải làm tròn trách nhiệm. Việc học hành tất phải thiệt thòi. Bởi thế công không thành, danh không toại, ông thường ngao du khắp đó đây, kết thân với những người có chí khí khác thường. Thuở còn để chỏm đi học, ông kết nghĩa anh em với Sa Nguyên, tự là Nhĩ Trừng. Ông tổ của Nhĩ Trừng là người Hồi Giáo. Cha là Sa Tượng Khôn, một tấm gương mẫu mực trong làng, làm trọn bổn phận, hết lòng theo đạo. Lúc nhỏ, Nhĩ Trừng học với Kỳ Tu, hai người cùng chí hướng, chung đèn sách. Thế là:
Vùi đầu kinh sử ba năm chẵn, Chẳng thấy ai cầm gậy thanh lê(1)
(1) Thanh lê: gậy làm bằng cây thanh lê. Tương truyền Lưu Hướng đời Hán một hôm đang đêm thấy một cụ già mặc áo vàng, chống gậy thanh lê bước vào. Cụ thổi cho chiếc gậy bùng cháy, rồi truyền cho Lưu Hướng một học thuyết sâu sắc. Xem Từ điển điển cố, NXB Văn hóa - Thông tin, H, 2002.
Kỳ Tu vì duyên nợ ràng buộc, không được tận hưởng thú giao du. Nhĩ Trừng không đạt được sự nghiệp văn chương, một thân một mình lưu lạc bôn ba khắp nơi, được Tu Kỳ đón về nhà. Đã ba mươi tuổi, không được vào trường Thái học, cảnh nhà khó khăn, Nhĩ trừng cảm thấy xấu hổ, muốn bỏ đi, nhưng Kỳ Tu cứ giữ lại, dứt ra không được. Nhĩ Trừng mắc chứng bệnh bẩm sinh là tính hiệp sĩ, chẳng chú ý đến ăn mặc. Mỗi khi gặp kẻ cậy thế coi thường, đè nén người lương thiện, không tiếc thân mình, bất bình nổi giận. Ngay cả khi đọc những chuyện oan ức trong sử sách, bèn đập bàn đứng dậy. Oán hận đến mức bán hết ruộng vườn, ngửa mặt cả cười, uống rượu giải sầu thoải mái hát ca. Thằng nhỏ hầu hạ bảo anh là con mọt sách mất trí, khó mà thay đổi được tính tình. Gia chủ lại đối đãi rất chu đáo. Bởi thế Nhĩ Trừng hạch sách đủ điều, chẳng khác gì hô gió gọi mây, không dám mảy may sai trái.
Đúng là:
Trong nhà luôn chìu chuộng
Ngoài hiên vẫn ân cần.
Năm gian lầu chứa sách tại vườn sau nhà họ Tưởng, tầng trên tầng dưới có hàng vạn ống tăm ngà, hàng ngàn hộp đựng sách bằng gấm, màu đã ngả vàng. Ngoài việc đọc sách, họ còn đọc báo nói về thời sự hàng ngày trong triều. Chiều chiều, Kỳ Tu thân thiết uống chút rượu với Nhĩ Trừng, nghe anh nói về thời cuộc.
Thời ấy đang là thời của Ngụy Yêm. Trong ngoài triều đình, Ngụy Yêm đã gây ra biết bao tội ác. Mười tờ báo thì có chín tờ đăng tin xử tội quan thanh liêm, tra khảo các danh sĩ. Khi nói chuyện với Kỳ Tu, không phải chỉ một lần Nhĩ Trừng nghiến răng căm giận, uất ức trào lên tận cổ. Song thời ấy, thói đời xu nịnh, nói năng phải giữ mồm giữ miệng, nếu không dễ bị tai bay vạ gió. Huống hồ nhà họ Tưởng có mấy mạng người làm sao mà không sợ. Hơn nữa thành Nam Kinh, lính của phủ quan tuần tra giăng lưới bắt người dày đặc. Kỳ Tu là một chàng trai có chí khí nên chuyện trò rất hợp nhau. Sợ rằng Nhĩ Trừng không chịu nổi sẽ gây chuyện rắc rối, nên người nhà bảo Kỳ Tu đuổi Nhĩ Trừng ra khỏi nhà để tránh tai họa, song Kỳ Tu không nghe. Ngày tháng thoi đưa như bóng câu qua cửa. Hy Miếu băng hà, Nghị Tông lên ngôi. Bọn Ngụy Yêm ác độc sụp đổ. Khi ấy, Nhĩ Trừng như người nối dõi đứng ra báo thù nhà, nhảy lên gào thét điên cuồng, mừng vui khôn tả. Bỗng một hôm, Nhĩ Trừng nói với Kỳ Tu:
- Trước đây chông gai khắp bốn phương bậc chí sĩ đóng cửa ở nhà. Nay đã tạm yên, tôi muốn thả sức rong chơi, giải tỏa nỗi u uất trong lòng. - Được đấy, được đấy! - Kỳ Tu nói.
Trước đây, nhà họ Tưởng muốn đuổi anh đi, chỉ riêng có Kỳ Tu không muốn. Bởi Nhĩ Trừng là người nóng tính, hay nổi giận, không kìm được uất ức. Sợ anh ra đi không đúng lúc tính mạng khó bảo toàn. Nay đã khác trước, bởi thế nghe Nhĩ Trừng nói, Kỳ Tu bằng lòng ngay.
Kỳ Tu nói:
- Tôi có một người bác họ, tên là Trương Tuyết Nga, tên húy là Hằng Giả. Hiện đang giữ chức Binh bộ Phương ty. Năm nay tôi phải đến huyện Thượng Nguyên nộp thuế. Tiện đường sẽ ghé vào thăm ông, nhờ ông giúp đỡ. Nếu anh muốn đi với tôi thì càng tốt. Song đi lần này phải có lễ vật quý hiếm. Ở Đông Tây kinh người ta rất ưa thích những vật phẩm sản xuất tại Bình Hồ. Vậy phiền anh tới đó mua giúp tôi ít quà tặng. Mọi việc đã có người làm thay, anh hoàn toàn không phải vất vả gì.
Nhĩ Trừng bằng lòng ngay. Kỳ Tu bèn giao cho nhĩ Trừng bản ghi những thứ cần mua sắm, đó là vải, bút Hồ và một trăm tám mươi lạng bạc. Ngoài ra còn đưa cho anh hai mươi lạng làm tiền lộ phí, và một số giày làm quà tặng. Rồi Kỳ Tu nói:
- Anh hãy tới thôn Trung Minh, huyện Đức Thanh, phủ Hồ Nam, hỏi thăm tới nhà Thái Bình Tuyền. Thái Bình Tuyền là người thường xuyên trông coi lương thực của nhà tôi, hãy nhờ ông ấy lo liệu, xong việc rồi cùng về một thể. Tôi muốn nhờ ông ấy áp tải hàng hóa. Mùa đông năm ngoái, tôi đã gửi thư hẹn ông ấy rồi.
Dặn dò xong, hai người uống mấy chén rượu chia tay. Tưởng Kỳ Tu bảo Nhĩ Trừng:
- Tính anh ngang tàng, lại không chú ý ăn mặc. Chất lượng bạc không biết phân biệt rõ ràng, sợ gặp kẻ xấu anh không kìm nổi, nên tôi khuyên anh nên cố gắng kìm nén. Tôi chờ anh về, rồi cùng đi. Tháng giêng năm thứ hai đã sắp hết rồi.
Nhĩ Trừng vâng dạ, tỏ ra là người chín chắn, đến thẳng Thủy Tây Môn, xuống thuyền đi Hồ Châu. Phong cảnh trên đường thật là:
Gió xuân lành lạnh cỏ mướt xanh,
Tiếng trống tàn đêm đã điểm canh
Chân trời du khách tràn thi hứng,
Cầu uốn qua sông núi chập chùng
Thôn Bách Ma gần huyện Thượng Ngu, phủ Thiệu Hưng Triết Giang, có người tên thường gọi là Sương Tam Bát, tên thật là Cát Kiệm. Trước đây làm Vệ quân Kim Sơn. Cha là thầy giáo trường tư thục, do đó Tam Bát cũng biết chữ. Năm hai mươi tuổi học được nghề khâu giày. Thấy việc gì bất bình, anh không tiếc thân mình ra tay cứu giúp. Vào năm Sùng Trinh thứ nhất, Thượng Ngu đại hạn, mùa màng mất trắng, cháo cũng không có mà ăn. Tam Bát một thân một mình, may nhờ vào nghề này cũng kiếm được bữa no bữa đói. Anh tính rằng: "Ôm lấy mảnh đất này, quả thực cũng chẳng hay ho gì. Nay cả vùng mất mùa, mọi người cháo cũng không có ăn, mà đã đói thì đầu gối phải bò". Thế rồi Tam Bát vội vàng thu xếp hành lí, phần lớn là đồ nghề dùng để kiếm cơm. Anh nghĩ, bến cảng thành Hàng Châu rất cần người, ta hãy đến đó. Rồi anh quẩy hành lí đáp thuyền đến Tiêu Sơn.
Bến Tây Hưng thuyền ta lướt sóng,
Theo dòng sông chở đến tỉnh thành,
Mất mùa đói kém đi quẩn quanh.
Gia tài một quẩy thật đáng thương.
Ai ơi chớ hỏi nhà đâu tá,
Nghề mọn một thân khó đổi dời.
Góp được mấy đồng, Tam Bát lên thuyền, khi đó đã là cuối đông. Ngày mồng hai thuyền tới Hàng Châu. Đây là nơi đô hội, hiệu giày nhiều vô kể, mà Tam Bát lại chỉ có ít mảnh da vụn. Len lỏi qua nhiều phố xá, nhà nào cũng thấy người lớn trẻ con, kẻ giày vải, người giày lụa, đều còn rất mới. Tam Bát bực mình vì nghề vá giày của anh đã lỗi thời và chính mình cũng không biết thời thế, chân rát bỏng vội vã rảo bước. Ngày mồng năm tháng giêng, Tam Bát tới thành Hàng Châu. Chỉ mong ai cũng đi chân đất đứng chờ anh thợ da tới. Anh gánh hành lí tới nhà Phùng Tước Khê phố Kim Chất, bên cạnh cầu Thuần Hựu. Lão Phùng là đồng hương, lại là người thân quen. Anh đặt gánh xuống tán gẫu mấy câu, rồi sắp xếp lại mấy thứ đồ nghề, chuẩn bị đi tiếp.
Phố Tân Chính không có một anh thợ da nào, Tam Bát mừng thầm, kẽo kẹt gánh hàng rảo bước, và cuối cùng cũng có hai người thuê anh vá giày. Tam Bát kiếm được mười hai đồng, bụng nghĩ thầm: "Có lẽ mình chưa cúng". Chẳng nghĩ ngợi gì, anh bước thấp bước cao, ngẩng đầu lên đã thấy một ngôi miếu thờ Ngũ Thánh, mọi người đang lũ lượt tới dâng hương. Tam Bát đặt gánh hàng xuống bày lễ thắp hương, hỏi xem việc làm ăn trước mắt thế nào. Anh lắc ống thẻ tới ba lần, vẫn là quẻ âm; thơ trong quẻ như sau:
Giang hồ, nghe tiếng chuông,
Vất vả vẫn hoàn không.
Gặp nhau ngoài ý muốn,
Có cuối chẳng có đầu.
Anh ra về, cứ ngẫm nghĩ về quẻ thẻ ấy, đại khái là cũng có chút hi vọng. Trời tối, anh quẩy hàng về, những người hàng thịt bên cầu Thuần Hựu giày rách nát nhờ anh khâu. Đặt gánh xuống, thấy họ là những người nhà quê, vùng Hạ Chung Minh, huyện Đức Thanh, Hồ Châu, Tam Bát thân mật hỏi:
- Nhà bác có đông người không? Bác làm nghề này có đủ ăn không?
Thấy Tam Bát ăn nói dễ nghe, người khách đáp:
- Cũng chẳng ăn thua gì. Mùa xuân năm ngoái mưa nhiều, mùa màng thất bát. Nhà nào cũng túng thiếu, ai có nghề phụ đều bỏ nhà đi làm ăn xa. Vụ đông năm ngoái lúa mùa bội thu, bước sang tháng giêng vẫn còn nhàn hạ, nhà nào cũng muốn khâu giày. Ngày ngày bận rộn việc làm ăn, khi nào đóng cửa buồng tằm mới được nghỉ ngơi.
Tam Bát đọc lại bốn câu thơ trong quẻ thẻ, lại thấy trong đó có hai chữ "chung minh”. Rồi anh quyết định đến Chung Minh làm ăn. Tam Bát hỏi thăm đường đi, rồi hỏi họ tên, địa chỉ người khách hàng, mong anh giúp đỡ. Người khách ấy vui vẻ nhận lời. Khâu xong giày, Tam Bát không lấy tiền công.
Đúng là:
Long đong chân trời khách,
Thương nhau kiếp bọt bèo.
Người hàng thịt họ Mục tên là Kính Huyên. Vì thương Tam Bát, nên anh vui vẻ rủ Tam Bát cùng về. Anh nói:
- Đi thuyền rất tiện, ngày mồng tám ta cùng về nhé!
Hai người đi thuyền về tới Chung Minh, Tam Bát tạm ở nhờ nhà Kính Huyên. Sáng sớm đi làm, tối mịt mới về. Công việc bề bộn, đến cơm trưa cũng chẳng kịp ăn.
Lại nói tới Sa Nhĩ Trừng, khởi hành từ Nam Kinh, đi mất chín ngày mới tới Chung Minh. Làng này không lớn lắm, nhân dân đều trồng dâu, gai. Chỉ thấy:
Bờ ruộng quanh co,
Sông ngòi lượn khúc,
Tre trúc uốn cong, mái tranh thấp thoáng,
Đậu mạch trổ hoa, trắng xóa cánh cò,
Lão ông phưỡn bụng, miệng lẩm nhẩm, lượng mưa tính nắng.
Lão bà tóc rối, tay bận rộn kéo kén chăn tằm.
Giống như canh Võng Xuyên, dâu đồng rợp bóng,
Chẳng khác suối Đào Hoa, tùng bách chen nhau.
Mây gió nơi đây, khiến Tiêu Lý cũng phải ngẩn ngơ Ánh chiều bến cũ, đến Đại Si thôi đành gác bút.
Nhĩ Trừng tay xách hành lí, đưa mắt nhìn phong cảnh làng quê mang dáng dấp cổ xưa. Anh chợt thấy một ngôi chùa nhỏ, trên đề bốn chữ “Bạn nhược thượng nhân!", xung quanh thanh u tĩnh mịch. Nhĩ Trừng đừng lại nghỉ chân, một vị sư gầy đét xanh xao bước ra. Nhĩ Trừng hỏi:
- Thưa thầy, thầy có biết đường về nhà ngài Thái Bình Tuyền không?
- Biết, - sư cụ nói, - thí chủ của bản tự hằng năm thường tới Nam Kinh, trú tại Cảng Tây, bảo rằng sau khi lễ Phật xong cũng tới đó.
Nghe thấy vậy, Nhĩ Trừng bèn gửi tạm hành lí tại chùa, chỉ lấy ra một phong thư và hai đôi giày, đi tìm lão Thái.
Sa Nhĩ trừng quả là một gã hồ đồ. Anh ta để hết hành lí và tiền bạc tại chùa, rồi một mình ra đi. Cũng may anh ăn mặc xuề xoà nên chẳng ai để ý. Chỉ thấy anh:
Khăn thì đen nhẻm, áo nát như dua,
Tất xỏ tả tơi
Giày đi há mõm,
Râu vểnh vàng khè, tâm sự trong lòng chất chứa
Giương đôi mắt trắng, cô đơn cất bước mặc ai.
Thấy anh lấy ra hai đôi giày sản vật địa phương đến tặng chủ nhà, vị sư già đoán rằng đây là một thầy đồ. Sa Nhĩ Trừng hỏi thăm đến nhà họ Thái, mang thư và giày đến. Một lúc lâu thấy một bà già đi ra nói:
- Ông là người từ chỗ Tưởng tướng công đến, xin mời ông ở lại xơi bữa cơm thường, ông hãy đưa hành lí vào đây.
- Ngài Bình Tuyền có nhà không?
- Mùa đông năm ngoái, - bà lão nói, - Tưởng tướng công gửi thư mời, đến mười tám tháng giêng này sẽ đi, hôm nay, ngài đến dinh quan huyện họ Lí thúc thuế, ngày mai mới về.
- Nếu thế thì ngày mai tôi sẽ lại. - Nhĩ Trừng nói.
- Anh trở lại chùa, thấy vị sư già ra chào, anh nói rõ họ tên. Nhĩ Trừng nghĩ: “Mình lạ lẫm, không quen đường, trời lại sắp tối đành phải nghỉ tạm ở đây". Rồi anh nói với vị sư già xin ở nhờ. Vị sư già tuy sống ở thôn quê, song vẫn có thói khinh người. Thấy Sa Nhĩ Trừng sống có vẻ bừa bãi, không muốn cho ở, bèn đọc cho anh nghe tờ trát của quan trên ra lệnh không cho phép chùa chiền chứa chấp người lạ mặt khả nghi. Song lại ngại Thái Bình Tuyền là thí chủ của bản tự, hơn nữa anh lại nói rằng anh không ở lâu, nên đành miễn cưỡng nhận lời.
Hằng năm vào ngày mười bốn tháng hai là ngày sinh nhật Thành Hoàng huyện Đức Thanh. Các làng thu tiền gạo, hoặc để cúng Phật hoặc diễn kịch góp vui. Vùng Hạ Chung Minh có mười hai đội kịch, đều diễn tại sân khấu trước miếu thổ thần, cao không đầy bốn thước. Khu đất trống xung quanh miếu đều dựng lều quán, hoặc đặt ghế, trải chiếu cho khách tới xem, thưởng trà uống rượu. Nhĩ Trừng nghỉ trong chùa, sáng dậy vội vàng đến nhà họ Thái xin thư, thấy mọi người đang dọn dẹp, biết đây là tục lệ làng quê.
Tới nhà họ Thái, vẫn thấy bà lão hôm qua bước ra chào, nói:
- Đêm qua quan lớn về, đã đọc thư. Song thóc lúa trong huyện hẹn đến ngày mười lăm mới chuyển xuống thuyền. Việc nói trong thư của tướng công đến ngày hai mươi ngài mới làm được. Xin tướng công hãy lưu lại đây. Còn đây là lá thư của ngài Thái Bình Tuyền gửi cho ông.
Trong thư viết:
Kính gửi ông Nhĩ Trừng,
Hai đôi giày tôi đã nhận đủ, nếu có loại to mua thêm một đôi, tôi sẽ gửi tiền trả ông chu tất, xin báo để ông biết. Cảm ơn ông.
(Không đề tên)
Xem xong thư, Nhĩ Trừng rất buồn cười. Việc chính không thấy ông ta nhắc tới, chỉ viết mua thêm một đôi giày. Các bạn ạ, ở nông thôn thật hiếm có người tài. Người đọc thông viết thạo như ông Thái có là bao. Trong thư Kỳ Tu gửi cho ông, nói Sa Nhĩ Trừng tới Hồ mua sắm hàng, không biết vì cớ gì ông không nhắc tới chuyện ấy, chỉ viết lèo tèo có mấy chữ, ngay cả tên mình cũng quên không ghi. Hơn nữa người nhà thấy thế cũng không hỏi, ngay cả bà già cũng chỉ nhìn thấy chiếc khăn bẹp của Nhĩ Trừng, rồi gọi là tướng công. Nhĩ Trừng nói:
- Quan đang bận việc, thì ngày hai mươi tôi sẽ đến.
Bà già cố nài anh ở lại ăn cơm, nhưng Nhĩ Trừng cầm thư đi ngay. Anh nghĩ "Không có việc gì, chi bằng đến chen lấn vào đám đông xem diễn kịch". Tới nơi, thấy già trẻ, gái trai, nam thanh nữ tú đông nghịt, cảnh tượng chẳng khác nào:
Lũ kiến tha xương cá, ruồi xanh bâu bọc mủ
Bọn thần chết xuất đầu lộ diện
Quỷ đen đầu múa mép khua môi
Mặt hoa da phấn, lướt thuyền hái hoa sen
Hàm râu tua tủa, trùm vai che lá cọ
Lung gù, như vượn cõng con
Bụng ôm, như Bà La bế cháu.
Thấy vẫn còn sớm, Nhĩ Trừng trở về chùa, lấy ra năm đồng và một ít tiền lẻ gói lại đưa cho vị sư già nói:
- Tôi còn ở đây, phiền nhà chùa ba bốn hôm nữa, xin giao trước cho nhà chùa chút tiền ăn, mong cụ nhận cho, xin cảm ơn cụ.
- Xin ông đừng bận tâm. - Nhà sư cười nói.
Vị sư già cầm tiền, đếm cẩn thận rồi xuống bếp lo cơm nước. Một lúc sau bưng lên sáu bát thức ăn chay ngon lành. Nhĩ Trừng cảm thấy hơi sốt ruột, muốn ăn sớm để đi chơi. Hòa Thượng quá nhiệt tình, cứ mời Nhĩ Trừng ăn thêm, cơm nước xong thì mặt trời đã ngả chiều. Nhĩ Trừng từ biệt vị sư già ra khỏi chùa. Chưa tới miếu thổ thần, đã nghe thấy tiếng trống, tiếng thanh la inh ỏi. Đêm diễn đã được ba màn kịch nói về Ngụy Thái Giám, đây là vở Phi long kí. Người đóng vai Ngụy Giám là một nghệ nhân xuất sắc, tên là Thu Tam. Sa Nhĩ Trừng tới nơi thì người xem đông nghịt. Lượn quanh một vòng, chỗ nào người ngồi cũng chật ních, chỉ thấy bên cạnh anh khâu giày có một chỗ trống, bởi anh dọn hàng khâu giày ở đó nên người ta đã chừa ra cho anh một ít. Sa Nhĩ Trừng thấy đang diễn tới chỗ Dương Liên, Ngụy Yêm, Khách Thị lần lượt chuẩn bị xử án. Tam Bát cũng chẳng ngó ngàng tới, vừa khâu giày, anh vừa làu bàu chửi. Nghe thấy Ngụy Giám ra sân khấu, nói the thé tiếng đàn bà, anh bèn buột miệng chửi: "Giết mẹ nó đi loại ấy chẳng tốt đâu!". Sa Nhĩ Trừng vẫn tiếp tục xem, vốn đã tức sẵn, anh tự nhiên nổi giận. Đang lúc uất ức, lại thấy anh thợ khâu giày phẫn nộ, Nhĩ Trừng cảm phục anh là người can trường. Không ngờ thấy sân khấu, Ngụy Giám sợ rằng các quan Dương, Tả, Chu, Ngụy không cung khai nhận tội, hắn bảo bọn tay chân dùng kiểu đánh đập tàn khốc mà chúng gọi là "Năm bông hoa lớn". Đó là:
Rồng vàng uốn khúc, là con rắn đồng cuốn vào người tưới dầu sôi đốt.
Thiện Tài cúng Quan âm, là trói chặt hai tay rồi dội hắc ín sôi vào hai bàn tay.
Đánh gẫy trâm ngọc, là dùng chùy sắt đập gẫy răng, làm cho phạm nhân nói phều phào.
Dây tương tư, là dùng thép nhọn xuyên qua xương bả vai.
Cùng một lưỡi dao, là dùng chiếc chàng sắt rộng bản và sắc, cùng một lúc chặt đứt năm ngón chân.
Trên sân khấu chỉ thấy người đóng vai Ngụy Giám, vạch trời chỉ đất, dáng vẻ tàn ác. Sa Nhĩ Trừng nhìn thấy cảnh ấy, máu sôi lên, nghiến răng nghiến lợi, quát tháo: "Không thể chịu được!" Rồi anh lấy con dao của anh thợ khâu giày xông lên sân khấu, đè Ngụy Giám xuống cắt đầu, máu phọt ra, đầu lìa khỏi cổ. Những người diễn kịch thấy tên hung thủ nhảy lên giết người, chạy ùa vào buồng hóa trang ẩn nấp, còn người xem không biết cơ sự gì đã xảy ra. Tất cả đều dẫm đạp lên nhau, kêu khóc bỏ chạy. Sợ mất dao, Tam Bát vội vã nhảy lên sân khấu tìm, tay cầm dao mà vẫn không nhìn thấy xác chết. Sa Nhĩ Trừng lẳng lặng vứt dao, nhảy khỏi sân khấu, trà trộn vào đám đông, gào thét rồi chạy thục mạng. Chỉ còn mấy ông già không sợ xúm lại, quát to: "Không được chạy lung tung, hãy tìm bắt ngay tên hung thủ”. Tức khắc bảy tám người xông lên, thấy Sương Tam Bát đang cầm dao, đứng trơ lại đó than vãn: "Anh ấy giết người nhanh như chớp”. Mọi người vây lấy anh nói:
- Không phải tìm nữa, hung thủ đây rồi?
Chính lúc mọi người sợ anh hành hung, nên những người đứng sau anh dùng thừng trói chặt lại. Tam Bát vẫn cứ bình thảng như thường, đến khi mọi người túm vào đấm đá hỏi: ”Vì sao lại giết người?", thì lúc ấy Tam Bát mới ngớ người ra.
Mọi người quây lấy hỏi:
- Anh ấy với mày có oán thù gì, mà mày lại giết anh ấy?
Rồi đội kịch lôi Tam Bát đến chỗ xác chết, vừa đánh chửi, vừa hỏi tên. Anh không nói. Người ta chỉ nhặt được mẩu giấy trong đó viết:
Kính gửi ông Nhĩ Trừng,
Hai đôi giày tôi đã nhận đủ, nếu có loại to mua thêm một đôi, tôi sẽ gửi tiền trả ông chu tất, xin báo để ông biết. Cảm ơn ông. (Không đề tên)
Mọi người thấy thế nói:

- Đây là tang vật của kẻ sát nhân! Trong đó nói tới giày, chẳng phải liên quan đến nghề của nó ư? Thế ra tên nó là Sa Nhĩ Trừng.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5938
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Fri Mar 14, 2014 6:20 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 2 (B)
Tam Bát thấy mọi người hỏi họ tên, khăng khăng không nói. Đến khi thấy họ ghép cho mình là Sa Nhĩ Trừng, anh mới khai là Sương Tam Bát. Mọi người cũng không biết phân giải thế nào, đành giải lên quan. Khi bỏ con dao đẫm máu vào gánh đồ nghề, người ta thấy một gói lá sen, mở ra thì trong đó là thịt trâu. Mọi người kêu ầm lên, không cần phải hỏi nữa, đúng là nó giết người rồi. Lá thư bên cạnh xác chết nói tới việc mua giày thì chưa chắc là của người khâu giày. Nhưng Sa là họ người Hồi, trong gánh lại có thịt trâu mà người Hồi thường ăn. Con dao cắt da còn đẫm máu trên tay. Thế thì đây đích thị là hung thủ, không còn nghi ngờ gì nữa.
Ngay đêm ấy, người ta giải Tam Bát và gánh đồ nghề lên huyện. Trình lên quan rằng đã bắt được tên Sa Nhĩ Trừng (Sương Tam Bát) giết người. Còn hai nhà Thái Bình Tuyền và Mục Kính Huyên thì trốn biệt tăm. Sa Nhĩ Trừng chạy như bay về chùa mới hoàn hồn. Anh thấy việc kì lạ ấy như một giấc mộng. Anh nhớ rõ hình ảnh người thợ giày cầm dao, nhưng mình thì chạy thoát. Không biết sau đó người ta nhặt được bức thư, tìm thấy thịt trâu, và khai tên là Sương Tam Bát, không chịu nhận là Sa Nhĩ trừng. Anh tự nghĩ rằng: "Giết người là trọng tội. Mình lại là người giết người. Hơn nữa nhà họ Thái lại biết mình họ Sa, nhân lúc mọi người đang hỗn loạn, thì chạy trốn là tốt nhất". Rồi anh nói với nhà chùa rằng:
- Tôi đã gặp nhà họ Thái rồi, xin cảm ơn nhà chùa, tôi về.
Nhà chùa rất buồn. Sa Nhĩ Trừng lủi ra bến đò, lên thuyền. Sợ liên lụy đến Tưởng Kỳ Tu, nên không về Nam Kinh. Anh lo lắng, cuối cùng đổi thành họ Hải, tự là X.X. trốn tới Trường An. Thật là:
Cá thoát khỏi lưỡi câu
Vẫy đuôi không trở lại
Lại nói về đoàn người Hạ Chung Minh, tới huyện thì trời đã tối nhưng vẫn đánh trống bẩm quan. Quan huyện nghe thấy, không hỏi han gì, tống giam tất cả, chờ xét xử sau. Ngay đêm ấy ra lệnh cho làng chôn cất thi thể. Hôm sau cho Sương Tam Bát và những người địa phương lên công đường hầu tòa. Mọi người khai rõ đầu đuôi.
Quan tòa là Sầm Đài, tên khắc trên dấu là Đức Thanh. Xuất thân tư cống sinh, người huyện Tự Phố, phủ Thần Châu, Hồ Quảng. Vì yêu mến sông núi Tây Hồ, nên đã dốc tiền của học hành. Ông gần bốn mươi tuổi, thông thạo việc quan. Ông là người xét xử vụ án. Nghe người cung khai sự việc xảy ra, ông lạnh lùng nhìn Sương Tam Bát. Thấy Sương Tam Bát khi thì mỉm cười đắc ý, khi thì phẫn nộ bất bình. Tri huyện Sầm nghĩ rằng đây là một người thế tội cho hiệp khách. Nhưng vì sao lại giết một diễn viên, thật là khó hiểu. Lại càng không hiểu được vì thù hận Ngụy Giám mà đi giết người đóng giả Ngụy Giám. Đến khi gọi tên Sa Nhĩ Trừng thì Tam Bát lại chẳng nói chẳng rằng. Quan huyện hỏi mọi người:
- Có phải hung thủ này câm không?
Chỉ thấy mọi người nhao nhao nói, huyện đường ồn ào như vỡ chợ, không nghe rõ họ nói gì. Tri huyện Sầm thét lên:
- Án giết người phải tôn trọng sự thật, lấy cung xong sẽ xử theo luật pháp, không thể thiếu đối phương, chỉ cần một người địa phương có hiểu biết lên khai.
Mọi người thấy vậy co vòi lại, phủ đường phút chốc im phăng phắc. Sau đó Sương Tam Bát bình thản đáp:
- Tên con là Sương Tam Bát.
Quan huyện giật mình. Trước tiên Sương Tam Bát nói quê quán lai lịch, sau đó bẩm:
- Quê con mất mùa, đến Hàng Châu, rồi lại tới Hồ Châu kiếm sống. Hôm ấy con ngồi khâu giày bên sân khấu, người khác giết, con đi lấy lại dao. Nếu như đổ cho con giết người, thì con cũng là người căm ghét Ngụy Giám, anh ta giết cũng như con giết. Nếu đổ cho con là người Hồi Sa Nhĩ Trừng thì con có chết cũng không nhận. Con sao có thể xứng đáng chịu tội và con cũng không thể mang danh một người để nhận lấy một việc làm tốt đẹp, chỉ vì bất bình mà giết gian tặc. Tri huyện nghe xong trợn mắt nhìn Tam Bát, ông nghĩ: "Thiên hạ xưa nay chưa có người nào thật thà, rành mạch như thế". Rồi ông gọi người đứng đầu đội kịch lên khai báo. Tỉ Luật Lũng khai:
- Xét thấy Sa Nhĩ Trừng tức là Sương Tam Bát đã có mối thù với diễn viên Thu Tam từ trước. Đúng lúc Thu Tam biểu diễn, hắn đã giả làm người khâu giày, rồi dùng dao giết Thu Tam. Thật đau đớn thay! Bị bất ngờ Thu Tam không chống cự nổi nên chỉ phân trần, đến nỗi những người xung quanh không cứu được Còn vì sao hai bên thù nhau thì không ai biết được. Trước huyện đường thẩm vấn, thì Sa Bát nói rằng, đã có mối thù từ lâu với Ngụy Yêm, do phẫn nộ mà giết thì quả là vụ án có thể có(1). Hắn khai quanh co, lẩn trốn đến cùng, đúng là đùa giỡn với mạng người. Bản huyện nên căn cứ vào năm chứng cứ mà địa phương nhìn thấy sau đây: hung khí giết người là con dao đóng giày; tờ giấy rơi bên cạnh thi thể là kích thước giày; tên người nhận thư là Sa Nhĩ Trừng, họ Sa không phải là họ của người Hoa mà là họ của người Hồi. Hơn nữa lúc ấy hắn đang cầm con dao còn dính máu! Cho nên Sương Tam Bát đích xác là tên lúc nhỏ của Sa Nhĩ Trừng, là điều không còn nghi ngờ gì nữa.
(1) Triều Tống chống Kim, danh tướng Nhạc Phi bị hạ ngục do Tần Cối vu cáo. Hàn Thế Trung phẫn uất vặn hỏi, Tần Cối nói: việc Nhạc Phi làm phản e rằng có thể có. Xem Từ điển điển cố Trung Hoa, NXB Văn hóa - Thông tin, H, 2002.
Tam Bát cung khai từng ở trong quân ngũ, theo luật Vệ quân phải tử hình, theo lệ của quân lính hãy tống giam chờ quyết định sau.
Ngay tại công đường, quan huyện xem xét lại hồ sơ thẩm vấn. Sau đó gọi các làng lại dặn dò, cấm từ nay về sau không được diễn kịch, làm phiền nhiễu dân chúng. Mọi người ra về.
Lại nói Thái Bình Tuyền đến nhà họ Tưởng, Kỳ Tu mới biết Nhĩ Trừng không gặp Thái Bình Tuyền: Kỳ Tu bực tức tới huyện Thượng Nguyên xin được chuyển đổi lương thực thành bạc và chỉ cần một người giúp việc áp tải bao bạc đến Thiên Tân giao nộp. Kỳ Tu đuổi Bình Tuyền đi, ở nhà chờ Nhĩ Trừng. Ai ngờ qua tết Đoan Ngọ mà vẫn không nhận được thư. Không thể kiên nhẫn chờ đợi được nữa, Kỳ Tu thấy cô đơn buồn tẻ, nên đã cùng bạn bè mang hơn năm trăm tấm lụa tới kinh đô bán, lại mang thêm hai ngàn lạng bạc, vàng và hạt châu khâu vào chiếc mũ da cũ đựng trong chiếc hộp để đi lại thuận tiện. Kỳ Tu ăn mặc theo kiểu một viên quan thông phán rời khỏi kinh đô. Suốt dọc đường bình yên vô sự, nhưng đến vùng Túc Thiên, đột nhiên gặp người của Đại Vương cướp hết của cải. Cộng tất cả số tiền của người cùng đi lên tới hàng vạn đồng. Chán nản và buồn bã nên mỗi người bỏ đi một ngả. Song chỉ có Kỳ Tu liều lĩnh đòi gặp kẻ cầm đầu xin lại chiếc hộp mũ cũ. Bọn cướp thấy Kỳ Tu cứ nằng nặc bám theo, nói rằng thằng ngốc này muốn nộp mạng đây. Trên đường đi Kỳ Tu chẳng thấy một bóng người, chỉ thấy núi cao chập chùng, cây cối ngút ngàn, âm u. Đi được ba bốn dặm thì chúng dừng lại, nhìn về phía Tây thấy một chiếc đầm lớn, đó là sào huyệt của chúng. Đinh Dực là tên cầm đầu toán cướp, người Tứ Châu, hiệu là Đinh Trương phi. Hắn là một tên liều lĩnh, chỉ vì đói quá mà trở thành cướp:
Lông mày dựng ngược, khắp mình bắp thịt nổi cục như nắm tay.
Mắt cú râu tôm, gân nổi cuồn cuộn Không phải La Sát(1) ba đầu mà quỷ nhìn mất vía
Chẳng là Na Tra(2) tám tay, mà thần cũng kinh hồn.
(1) La Sát (tiếng Phạn): La Sát Bà, tên một loại quỷ.
(2) Na Tra: tên một nhân vật trong thần thoại.
Gã Đại Vương ngồi chễm chệ, của cải chúng mới cướp được bày ra la liệt trên mặt đất. Chiếc hộp da còn khóa, vẫn nằm đó. Mồm hắn quát tháo, nhưng tay hắn lại thu dọn tất cả những thứ vừa bày ra. Hắn thấy Tưởng Kỳ Tu là người lạ; khăn áo lại chỉnh tề, liền hỏi bọn tay chân:
- Anh này cần gì?
- Tôi vốn là học trò, - Kỳ Tu nói, - không ham của cải danh lợi. Vì có người thân tại kinh thành, nên đáp thuyền đi thăm. Tất cả gấm đoạn đều xin hiến dâng hết cho các ông. Song cái hộp da đựng khăn, trong đó có thư từ, khẩn thiết xin ông hoàn lại.
- Chúng tôi đều có gia đình. - Tên tướng cướp nói. - Vùng Sơn Đông bị Bạch Liên giáo quấy nhiễu, bọn tham quan ô lại vơ vét của cải, khiến cho người dân no đủ bị vạ lây. Vả lại mất mùa đói kém, cha con li tán mỗi người một ngả, buộc chúng tôi phải đi vào con đường này. Tôi thấy anh dáng vẻ yếu đuối, nhút nhát, hẳn là đến kinh thành mưu tính việc làm quan. Song làm quan thì phải ác độc, không có âm đức phù trợ. Tôi khuyên anh đừng đi nữa, ở đây ta có lương thực mà không quân, có quân lại không có tướng. Muốn làm những việc ra trò mà không được. Chúng tôi cung kính mời đấng hiền giả ở lại đây làm chủ hội.
Nói xong gã tướng cướp cúi đầu vái lạy, Tưởng Kỳ Tu cuống lên, rối rít đáp lễ. Kỳ Tu nghĩ: "Tuy là kẻ lục lâm, song ăn nói nhã nhặn, đứng đắn. Nếu ta bỏ đi thì chiếc hộp da sẽ mất, chi bằng cứ ở lại tìm cơ hội khác". Thế rồi anh khai rõ họ tên. Kỳ Tu nói:
- Đã nhận nhau, thì phải làm lễ ăn thề.
Sau đó họ thắp hương nến, bẻ tên bái lạy, thề trước mọi người rằng:
“Đàn bà không được lên núi, trẻ mồ côi phải thả, thuế thương nghiệp tăng ba lần. Khi chiêu hàng thì giải tán". - Tuyệt, tuyệt lắm, - Đinh Dực cười nói, - câu cuối cùng rất hợp ý ta. Những tang vật trước đây đều phải ghi chép lại hết.
Mọi người cười rộ lên. Chỉ có Kỳ Tu ngồi im một chỗ, bởi anh không thể quên được người thân.
 
Sa Nhĩ Trừng tới Bắc Kinh, tìm chỗ ở. Vừa đặt hành lí xuống, anh lập tức đi khắc một chiếc bài vị thờ, trên đó ghi:
"Người thợ giày nghĩa sĩ", đặt lên bàn thờ, rót rượu thắp hương thề rằng, suốt đời không quên ơn người đã chết thay mình. Sau khi làm việc động trời ấy, trên đường bỏ chạy Nhĩ Trừng kết thân với một số người, tới Bắc Kinh nghe thấy Trương Công . giữ chức Phượng tư Bộ Binh đang tuyển người, Nhĩ Trừng mua sắm lễ vật nhờ Vãn Sinh đưa danh thiếp, được Trương Công gọi vào gặp. Trương Công nói:
- Ông hạ cố tới đây, tôi cũng quên mất quan huyện thân thiết thế nào, ông từ xa tới chắc có điều gì chỉ bảo?
Thấy Trương Công bao dung, Sa Như Trừng mới nhẹ nhàng thưa:
- Tôi là bạn học của Tưởng Kỳ Tu, là anh em đằng cô của Vãn Sinh. Nghe thấy đại nhân nạp nhân tài, ngay cả những người tài hèn đức mọn cũng không bỏ sót. Tôi rất may mắn được anh họ là Vãn Sinh dẫn tới gặp ngài, thành thực hiến dâng chút tài nhỏ mọn, xin ngài rộng lượng.
Trương Công thấy anh nói năng nhã nhặn, mặt mũi sáng sủa tươi tỉnh, bèn nói:
- Ông tài cao lại còn trẻ khỏe, nếu muốn làm quan, tôi xin sẵn sàng tiếp nhận.
Rồi Trương Công vui vẻ mời Nhĩ Trừng dùng trà. Sau đó lại tiễn chân ra tận cửa. Nhĩ Trừng vội vàng biếu ông túi lễ vật, gồm hai đôi giày thêu, hai tấm the Hồ.
Đến ngày mồng một tháng chín, Trương Công tuyển Sa Nhĩ Trừng (lúc này đổi họ tên thành Hải Nguyên) làm Đồn bô tổng ti trấn Kế Châu, trị sở tại Kế Môn. Đây là vùng có quân lính tinh nhuệ, lương thực đầy đủ, bảo vệ cho kinh sư, tương đương với chức Tư đạo. Chuyên xét xử những đơn từ của dân chúng, có súng và cờ, trông rất oai vệ. Vì cách kinh thành không xa, nên ngay hôm ấy Nhĩ trùng trở về kinh thành lĩnh giấy tờ đích thân tạ ơn. Trương Công nói:
- Nếu có cơ hội, sẽ thăng chức.
Nhĩ Trừng vô cùng biết ơn Trương Công, trở về nhiệm sở. Thật là:
Trượng phu, thời vận nay đã gặp
Thương người khổ sở chốn Tần Quan.
Lại nói về vụ án Sương Tam Bát. Sau khi đã định tội xong, anh không hề bị đánh đập, mà lại được khâu giày trong nhà tù. Trong tù mọi người gọi anh là nghĩa sĩ oan khuất, và lại còn được mọi nơi mời cơm rượu, được ăn uống thỏa thích. Sầm Công định tội xong tường trình lên cấp trên, được trên phê y án. Song ông lại đề phòng một quan huyện khác đến thay sẽ bác bỏ quyết án này. Bởi thế ông điều tới đồn quân ở trấn Bảo Định. Do tai bay vạ gió, lại khảng khái nhận tội, nên Sa Bát được Sầm Công cảm mến. Ông dặn dò hai người lính áp giải cẩn thận, và thưởng cho mỗi người mười lạng bạc lộ phí, ngay cả Sương Tam Bát cũng được thưởng năm lạng. Sương Tam Bát tới huyện đường khóc lóc thảm thiết, thề rằng nhất định anh sẽ đền đáp công ơn trời biển của Sầm Công. Do quen biết nhau nên hai người áp giải đã tháo cùm chân tay cho Sương Tam Bát, cất văn thư sai anh đi làm lính vào túi. Rồi mỗi người mang một túi hành lí, đáp thuyền tới Tô Châu. Thuyền chở khách buôn về Bắc Kinh đầy ắp, ba người thương lượng với chủ thuyền, cuối cùng họ phải ngồi vào khoang bếp. Đi mất nhiều ngày, thuyền vừa tới vùng Túc Thiên, thì từ xa thấy có người giơ tay ra hiệu. Khách hàng hiểu ngay, nói là hàng miền Nam . về Bắc Kinh, theo lệ chỉ nộp một đồng. Thuyền áp sát, một bọn người, mặt mũi hung ác dữ tợn, đội mũ nhọn đi ủng nhảy lên thuyền, xét nét lục soát từng khoang. Sau đó đến khoang lái, thấy ba người nói tiếng miền Nam, chúng hỏi đây là hàng gì. Chủ thuyền không rõ, nên chỉ nói lơ mơ rằng: "Tôi tưởng là không có hàng". Cho rằng đây là hàng lậu đưa về Bắc Kinh, nên chúng nhắc thử những bao hành lý. Thấy có một bao rất nặng. Họ đâu biết rằng, trong đó là đồ nghề và chiếc cùm của anh thợ giày Tam Bát, rồi kêu toáng lên: "Bọn này lậu thuế”. Mặc cho ba người phân trần, họ cứ lôi xềnh xệch lên bờ.
Ba người bị bắt đưa tới trại. Đinh Dực và Tưởng Kỳ Tu quát thét đưa ra xét xử. Tám tên đàn em mở hành lí ra xem, thấy một phong thư, đệ lên Tưởng Kỳ Tu. Tưởng Kỳ Tu bóc ra xem, vô cùng kinh ngạc nói:
- Sa Nhĩ Trừng đâu, xin mời lên gặp ngay!
Sương Tam Bát nghe thấy thế, phủi quần áo đứng dậy nói:
- Thưa ngài, phạm nhân đây ạ.
- Nói láo. - Tưởng Kỳ Tu nói. - Sa Nhĩ Trừng là bạn học của ta, anh ấy mang tiền đến Hồ, nay không thấy tin tức gì, hóa ra là tên này giết người rồi mạo danh.
Hai người áp giải cuống lên, song Sương Tam Bát bỗng vỡ lẽ, lần lượt thưa lại tỉ mỉ sự việc xảy ra. Sương Tam Bát nói:
- Chỉ vì thế mà con bị khép tội, bắt sung vào lính. Giấy tờ phán xét có thể xác minh những điều con nói là sự thật.
Tưởng Kỳ Tu xem đi xem lại, nói:
- Người ấy rõ ràng bị Sa Nhĩ Trừng giết, nhưng lại giết người đóng giả Ngụy Giám.
Đinh Dực thấy thế rất thương Sương Tam Bát, bèn khuyên Tưởng Kỳ Tu giết hai người áp giải, rồi thả Sương Tam Bát. Tam Bát nghe xong khấu đầu xin tha chết cho hai người này. Tưởng Kỳ Tu nói:
- Lẽ nào lại làm như thế?
Sau đó gọi Tam Bát ra sau nhà dặn rằng:
- Ta hiểu ra rồi, nếu ta tha anh, thì cũng thật là khó xử, thấy anh là người nghĩa khí, không muốn hại người áp giải. Thôi thì anh hãy tới đó, tìm cơ hội khác. Tên tôi là Tưởng Kỳ Tu, giám sinh Nam Kinh, quê ở Thượng Nguyên.
Kỳ Tu nói lại nhiều lần, Tam Bát nhớ như in. Rồi sai người dọn cơm rượu cho ba người ăn, thu xếp hành lý, cử người đi theo hộ tống một đoạn đường.
Ba người được tha, đi suốt đêm tới Bảo Định. Vệ quan ở Bảo Định tiếp nhận văn thư, thấy văn thư đã bóc, sợ rằng bị đánh tráo, kiên quyết không nhận. Ba người thưa rằng:
- Giữa đường gặp bọn cướp, chúng đã bóc ra kiểm tra.
Vệ quan biết đây là bọn Đinh Trương Phi, thế rồi họ mới nhận.
Ở quân doanh, Tam Bát chịu khó làm tròn phận sự. Khi rỗi rãi lại khâu giày, nên cũng có miếng ăn. Một hôm, Cục ti đồn Bảo Định gửi văn thư xuống đồn ti Ký Châu về việc khai khẩn đất để đảm bảo lương thực cho quân lính. Tam Bát lĩnh văn thư ra đi, ba ngày ba đêm tới Ký Môn, đó là dinh thự của Sa Nhĩ Trừng. Trước hết anh báo tên, sau đó chờ dinh thự bắn ba phát súng thị uy, rồi quát tay chân mở cửa mới vào. Lúc sắp kết thúc, Sa Nhĩ Trừng mới gọi đến Tam Bát. Sa Nhĩ Trừng bảo anh quỳ xuống, chờ lĩnh văn thư mang về. Sa Nhĩ Trừng đăm đăm nhìn anh một lúc lâu, nghĩ bụng: "Làm sao mà anh ta lại đến đây?”. Rồi hỏi rằng:
- Anh tên gì?
- Sa Nhĩ Trừng. - Tam Bát trả lời.
Thấy lạ, Sa Nhĩ Trừng toát hết mồ hôi, gật đầu lia lịa, rồi lập tức sai đóng cửa.
Hai người ra nhà sau, Nhĩ Trừng hỏi:
- Anh không phải là Sa Nhĩ Trừng, làm sao anh lại đến đây?
Tam Bát thuật lại tỉ mỉ việc người khác giết người, song anh lại phải chịu tội cho Sa Nhĩ Trừng nghe, rồi lấy từ trong túi ra một tờ giấy quan huyện luận tội đã nhầu nát. Sa Nhĩ Trừng xem xong, bước tới quỳ xuống lạy rồi thốt lên:
- Nghĩa sĩ! Nghĩa sĩ!
Tam Bát hết sức kinh ngạc, không hiểu vì sao. Nhĩ Trừng lệnh tay chân dọn rượu cho hai người ngồi uống. Tam Bát không dám ngồi. Nhĩ Trừng nói:
- Nghĩa sĩ cứ ngồi xuống, tôi sẽ kể rõ cho nghĩa sĩ nghe.
Thế rồi anh kể lại chuyện Tưởng Kỳ Tu ở Nam Kinh nhờ tới Hạ Chung Minh, Thanh Đức, Hồ Châu mua sắm lễ vật. Hôm ấy khi xem kịch, tôi bỗng nổi giận giết Ngụy Yêm, rồi chạy trốn về Bắc Kinh, đổi họ là Hải. Ngài là người nghĩa sĩ, lúc nào tôi cũng nghĩ tới việc đền ơn. Trong nhà vẫn đặt bài vị cúng ngài, đề Nghĩa sĩ thợ giày, để ghi nhớ ơn ngài.
Tam Bát bỗng nhiên nghe nói tới Tưởng Kỳ Tu, rất lấy làm lạ hỏi:
- Có phải Tưởng công là giám sinh ở Thượng Nguyên không?
- Đúng đấy, - Nhĩ Trừng đáp, - sao ngài biết?
Tam Bát thuật lại tỉ mỉ chuyện ở Túc Thiên cho Nhĩ Trừng nghe, và bảo rằng trước khi ra đi, Tưởng Kỳ Tu nói rằng: "Tôi là Tưởng Kỳ Tu, giám sinh Nam Kinh, người Thượng Nguyên" và nói đi nói lại rằng: “Hình như ông ngẫu nhiên vào rừng làm cướp”. Nhĩ Trừng thở dài nói:
- Phải lập tức đi cứu ngay.
Sau đó Nhĩ Trừng giao văn thư cho Tam Bát mang về, anh còn viết một bức thư riêng cho Vệ quan. Trong đó gói mười hai lạng bạc, cho Vệ quan thuê quân canh giữ thay cho Tam Bát để trở về Ký Môn. Vệ quan xem thư, lập tức mang bạc đi thuê người trực thay, để Tam Bát lên đường đến trị sở Ký Môn. Nhĩ Trừng lại viết một bức thư, sai người đến Trương Công. Trong thư có ghi: Tưởng Kỳ Tu mang tiền tới kinh đô, bị bức làm cướp, hơn nữa Túc Thiên là bến đò hiểm yếu, phải lập tức gọi bọn cướp ra đầu hàng, để tránh tai họa, chấm dứt việc ách tắc giao thông Nam - Bắc. Trương Công biết được, lập tức cấp giấy cất nhắc Nhĩ Trừng làm Thao Bổ ti Dương Châu, lại viết thư riêng cho Nhĩ Trừng, tiện đường về nhiệm sở cứu Kỳ Tu khỏi tay bọn cướp. Nếu gọi họ ra hàng, không nên viết Kỳ Tu là tướng cướp vào tờ chiêu dụ, vì rằng như thế sẽ làm cho ông và con cháu chịu nhục suốt đời. Nhận được thư, Nhĩ Trừng than rằng:
- Quân Tử thương người, tấm lòng của văn nhân sao mà chu đáo đến như thế.
Thế rồi ông vội vã thu xếp lên đường. Gần tới địa phận Túc Thiên, thấy những tên cướp đứng đợi. Đinh Trương Phi dặn dò tay chân rằng, nếu có thuyền quan qua lại, không theo lệ cũ, mà hô là "Xin thuyền quan ép vào bờ để thưa chuyện". Tam Bát cuống lên, vội vàng nói:
- Đúng, chúng tôi đang muốn gặp ngài Đinh Dực, các ông không cần phải vất vả.
Sa Nhĩ Trừng thấy thế, mặc thường phục ra khỏi khoang thuyền nói:
- Thủy thủ hãy ép thuyền vào bờ, tôi đi thăm một người rồi sẽ trở lại.
Những tên cướp thấy trong lời nói của ông đã hé mở ra một điều gì đó, chúng không dương oai giễu võ nữa. Vào tới sơn trại, Kỳ Tu và Đinh Dực bước ra. Thấy Kỳ Tu, Nhĩ Trừng ôm đầu khóc rống lên. Trước đây hai người đã được Tam Bát kể lại, nên ít nhiều biết được chuyện của nhau. Thế rồi, lúc đó Tưởng Kỳ Tu mới kể lại tỉ mỉ chuyện mình vì sao phải sa vào sơn trại cho Nhĩ Trường nghe.
Đinh Dực biết, hiện nay Sa Nhĩ Trừng đang nhậm chức ở phủ quan, lại đối xử chu đáo với mình, tự nhiên nước mắt trào ra, rồi nói:
- Tuy núi non cách trở, nhưng hai ông đã được gặp lại nhau, còn tôi thì không có một người thân đến.
Mọi người an ủi Đinh Dực, rồi mở tiệc ăn mừng. Nhĩ Trừng còn khuyên Đinh Dực tốt hơn hết nên nghe theo lời dụ hàng của triều đình. Thấy ý của Nhĩ Trừng như thế, Đinh Dực nói:
- Tôi xin nghe theo triều đình, và nguyện sẽ đi nấu cơm cho các quan. Vả lại, ra trình diện tuy nói là tự sửa đổi mình, song đã mang tiếng là một tướng cướp, thì cuối cùng vẫn bị khinh thường.
- Trương Công cũng có ý cho sai quan đến chiêu hàng. - Sa Nhĩ Trừng nói. - Tôi cũng thấy được nguyện vọng của ông rất hợp với ý kiến của Trương Công. Hiện nay Bộ Binh đang cần sai quan, nếu ông đảm nhận được việc này thì tôi sẽ giúp.
Đinh Dực rất mừng, nói với Tưởng Kỳ Tu:
- Được rồi, ta nghe theo sự sắp đặt của ngài Sa Nhĩ Trừng, thật khó có được một người tri kỉ đến thế. Cuối cùng nhất định chúng ta sẽ được dùng.
Nhĩ Trừng lại nói ngay:
- Hiện nay chỗ ông có bao nhiêu người ngựa và của cải phải khai thật rõ.
Ngày hôm sau, Nhĩ Trừng cùng với Đinh Dực và Tưởng Kỳ Tu thương lượng. Tưởng Kỳ Tu nói:
- Hiện có hai ngàn người, của cải còn rất nhiều. Có thể phân phát cho các hào kiệt.
Rồi lập tức cho gọi mọi người đến nghe mệnh lệnh:
“Chúng ta là anh em kết nghĩa. Tuy khác họ, nhưng còn thân thiết hơn tình ruột thịt. Lúc đầu vì Bạch Liên giáo ác độc, phủ quan tham ô, đã bức bách chúng ta phải đến đây. Nay được phủ quan thương xót, song không thể nào khác được, triều đình cho phép chúng ta tự sửa mình, chúng ta không nên theo con đường này nữa, tất cả hãy trở về quê làm ăn lương thiện. Của cải mà bấy lâu nay tích lũy được, ta chia hết cho mọi người. Ai bảo ta là một tướng cướp tham lam, vô liêm sỉ, tất phải chết trước gươm giáo".
Tất cả đều rơi nước mắt, nguyện sẽ theo đúng lời thề ước. Rồi giết trâu mổ lợn, cùng nhau ăn uống. Hôm sau mọi người gói hành lí hợp nhau thành từng tốp, đi về các ngả tìm đường sống.
Mấy người thân thiết của Đinh Dực thu dọn của riêng, thiêu hủy đồn trại, rồi lên thuyền cùng Sa Nhĩ Trừng trở về nhiệm sở. Về tới Dương Châu thì chưa đầy một ngày, đã thấy thuộc quan ra đón tiếp. Tam Bát, tên chính là Cát Kiệm được bổ làm Trung quân. Đinh Dực đổi tên thành Can Dực làm Bả Tổng. Còn Kỳ Tu từ biệt Sa Nhĩ Trừng và mọi người lên thuyền trở về gia đình. Cả nhà thấy Kỳ Tu trở về vô cùng mừng rỡ, rồi anh kể cho mọi người nghe chuyện đã xảy ra như thế nào. Nghĩ Nhĩ Trừng và Tam Bát là ân nhân cứu mạng mình, không quên được ơn này, Kỳ Tu đã viết ngày sinh của Sa Nhĩ Trừng, Tam Bát đặt ở một nơi trang trọng và cứ những ngày đó cả nhà thắp nến hương bái tạ.
Các bạn thân mến, Cát Kiệm là một người thợ giày, chỉ vì coi trọng nghĩa khí mà phải vất vả gian truân, để rồi mang vạ vào thân. Dám chết thay cho Sa Nhĩ Trừng, bảo toàn tính mạng cho Tưởng Kỳ Tu, lại cứu Đinh Dực ra khỏi cuộc đời tướng cướp, khai thông con đường giao thông huyết mạch. Đó là một con người kì lạ xưa nay, làm nên những chuyện kì lạ mà cổ kim hiếm thấy. Tôi chỉ xấu hổ, ngòi bút của mình vụng về không ghi hết được sự kì lạ trong cuộc đời của ông. Thơ rằng:
Khí phách sáng rục tựa cầu vồng,

Kì tích lẫy lừng lưu vạn cổ.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5938
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Sat Mar 15, 2014 12:18 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 3 (A)
Thanh Liêm, Dân Chúng Không Kiện Tụng 
Trung Dũng, Quản Chi Đóng Vai Hầu
Tiên quan triều Hán bao giờ lại,
Hiểm nguy đường Thục vén khói mây.
Ngàn dặm tiếng đàn bay mất hạc,
Trời xanh guốc gỗ ngóng chim bay.
Mây giăng đường đá nghiêng nghiêng gác,
Rừng cây sông chảy nước quanh co.
Giấu dao mới biết anh hùng chí,
Thông minh mới biết cổ nhân tài.
Bài thơ do Lô Luân đời Đường sáng tác, khi ông tiễn bạn tới làm quan ở Tân Đô. Lô Luân đã ca ngợi bạn mình là quan thanh liêm, giỏi giải quyết công việc, đáng được người đời tin cậy. Nhân đó ông nghĩ tới cuộc sống xưa nay không lúc nào yên ổn. Vì sao thế? Vì quan cai trị không thanh liêm và không có tài trị dân, khiến cho dân không yên tâm làm ăn, mà cứ phải kiện cáo nhau. Các bạn thân mến, mọi việc trên đời này đều dựa vào những bậc trưởng giả đội mũ the đen. Trong đó lại có nhiều người không đủ tiêu chuẩn: người có đức lại không có tài; người có tài lại không có đức. Bởi thế xã hội ngày càng rối bời như canh hẹ. Những viên quan này, trừ bọn tham lam, tàn ác, ngu xuẩn, bất lương ra, vẫn còn một số người thông minh học vấn uyên thâm. Song đến khi xử án thì chẳng ích lợi gì. Chỉ có người biết lặng lẽ suy tư, chân thành, đối xử công bằng không thiên vị, không dựa vào học vấn, sự thông. minh, mới có được những quyết đoán thông minh và thỏa đáng. Nếu như đầu óc không thông minh, quyết đoán chỉ dựa vào sự vô tư, thì dễ nổi nóng, cuối cùng dẫn đến nhiều điều oan khuất. Người dân gặp phải tính khí ấy của họ, sẽ chịu không ít rủi ro. Thật là:
Quan nổi lôi đình khi xử kiện,
Dân đen oan ức biết kêu ai.
Quan lớn khoe rằng tiền chẳng lấy, Hình phạt răn đe tội kiếp người.
Xem ra, làm quan quả thực là rất khó. Xưa nay bậc đế vương trị thiên hạ chỉ thích nói câu “quan là cha mẹ dân". Song thực ra phủ quan ngày nay ai chịu coi dân là con cái.
Tôi xin kể một câu chuyện nhỏ dưới đây để các bạn nghe.
Vào thời Thành Hóa(1) trong phủ Kiến Ninh, Phúc Kiến, có một nhà giàu chuyên tích trữ hổ phách, tê giác, trầm hương, và coi trọng của cải. Ông ta là Bình Tất Dụng, thông gia với một cử nhân tên Tất Vinh. Tất Vinh lại là người tham lam, thấy đồ vật của người, bất kể là tốt hay xấu, bằng giá nào cũng phải xem cho bằng được. Một hôm tuyết rơi rất dày, Bình Tất Dụng đội một chiếc khăn nhung. Vì là một thứ trang phục quý, nên bên trên ông ta lại đội thêm một chiếc mũ lông chồn trắng như tuyết, lông dài khoảng hai tấc. Không ngờ Tất Vinh nhìn thấy hỏi:
- Ông Bình! Cái mũ này rất quý, không biết ông mua bao nhiêu, tôi cũng muốn mua một chiếc.
(1) Thành Hóa: niên hiệu Hiếu Tông thời Minh.
- Đây là mũ của người khách bán nhân sâm Liêu Đông mang tới. - Lão Bình nói. - Tôi phải mua mất bốn trăm lạng.
- Loại mũ này là của những vương hầu phò mã đội, - Tất Vinh nói, - khó mà mua được. Quả thực tôi rất quý.
Ngày hôm sau, Tất Vinh gói tám mươi lạng bạc, số bạc này một nửa lẫn đồng và sắt, sai người mang đến cho lão Bình, đòi mua lại chiếc mũ, nếu không đủ sẽ đưa thêm. Lão Bình xem xong cười nhạt nói:
- Đây là một chiếc mũ đặc biệt, tôi rất quý. Đội nó gió thu không thể lọt qua, tôi sẽ dùng nó suốt đời. Nếu như bán cho Tất Vinh thì sao tôi lại phải chịu lỗ ba trăm hai mươi lạng bạc. Thôi thì, anh hãy mang bạc về.
Người nhà trở về nói lại với Tất Vinh, Tất Vinh lại đưa thêm mươi hai lạng nữa. Cứ thế đi lại rất nhiều lần, cho tới khi tăng tới một trăm mười bảy lạng ba, thậm chí phải bỏ hết cả trâm, đinh hương, ngà voi, vòng nhẫn, lão Bình vẫn khăng khăng đòi đúng bốn trăm lạng, không thiếu một li.
Tham lam nhưng không được, Tất Vinh rất buồn. Tất Vinh có một người cháu ngoại, tên là Tuyên Anh được cử trông coi việc lễ. Thấy lão Bình cứ một mục khăng khăng như thế, Tuyên Anh chẳng nghĩ gì đến tình thân, bàn với Tất Vinh chờ sang năm.
Tới mùa đông năm sau, trời rét buốt, lão Tất nói với Tuyên Anh:
- Ngày mai ta đến nhà thông gia cúng, cháu hãy mượn giúp ta chiếc mũ ấy.
Lão Bình đành phải cho mượn. Quả nhiên chiều hôm sau lại mang tới trả. Ai ngờ, Tuyên Anh là một tên xỏ lá. Cách đó nửa năm hắn đã đệ đơn lên huyện, khai mất chiếc mũ. Sử Bi là quan xử kiện, người Quảng Tây, xuất thân từ tiến sĩ. Sử Bi cũng là một tên tham của. Trước tiên ông ta cho phép Tuyên Anh đi tìm. Một hôm lão Bình đội chiếc mũ đi nghênh ngang ngoài phố, Tuyên Anh nhìn thấy túm lấy áo, kêu toáng lên:
- Cướp cướp làng nước ơi, cướp, cướp!
Hai người cãi nhau, giằng co mãi, rồi đưa nhau lên huyện. Lão Bình cứ kêu oan. Quan huyện thét.
- Bắt lấy, đưa vào đây!
Hai người quỳ trước huyện đường. Tuyên Anh bẩm rằng:
- Năm ngoái tôi bị mất mũ, đã từng đệ đơn kêu lên huyện. Chiếc mũ ấy làm bằng da lông chồn trắng. Song vẫn chưa tìm thấy. Nay, lưới trời lồng lộng, lại thấy tên trộm này đội.
- Con là Bình Tất Dụng, - lão Bình thưa, - là người dân lương thiện, trong sạch. Chiếc mũ này do chính con mua.
Quan huyện hỏi, hiện chiếc mũ ấy đâu. Lão Bình lấy trong tay áo ra đệ lên quan. Quan huyện xem xong kinh ngạc nói:
- Từ khi tôi làm quan đến giờ, chưa từng thấy chiếc mũ nào như thế. Đây là một thứ cực kì xa xỉ.
Quan huyện cũng thèm muốn chiếc mũ ấy, bèn nói:
- Ăn cắp là trọng tội, đơn kêu mất cắp không phải chỉ một thứ. Nếu vụ này điều tra ra sự thực, thì các vụ khác cũng đúng là ngươi lấy. Anh có nhớ chiếc mũ này có đặc điểm gì không?
- Toàn là màu trắng. - Lão Bình nói. - Không lẫn một loại lông nào. Bên trong có lần vải lĩnh hoa trắng, chỗ che-tai bên trái có dính một vết máu, đó là do tai con bị xước gây ra.
- Dấu vết ấy ai cũng nhìn thấy, - Tuyên Anh nói, - ai chả nói được! Mũ của con đánh dấu vào một chỗ kín, đó là một dấu hình vuông, nét chữ mầu đỏ, ghi là "Tuyên Anh chi ấn" ở phía trong vải lĩnh, chỗ giáp lai, xé đường chỉ ra thì sẽ thấy.
Quan huyện sai người xé đường chỉ ra, quả đúng như thế. Quan huyện kêu to:
- Đúng rồi! Đúng rồi! Đúng là có một dấu tên hình vuông, ghi là "Tuyên Anh chi ấn".
Lão Bình cứng họng, không sao nói được, đành chờ phúc thẩm. Đúng là:
Dân chúng đáng phải khổ
Có quan chẳng có ngày.
Quan Kính là quan sát viện, người Triết Giang, hiệu là Thiết Sơn. Ông là người nghiêm minh chính trực và tài giỏi. Đúng vào hôm xét xử vụ kiện Bình Tất Dụng, thì hôm đó Quan Kính tới theo dõi. Khi xét hỏi việc này, ông nhìn kĩ thần thái của hai người. Thấy lời lẽ của lão Bình không giống giọng nói của trộm cướp, lẽ nào chính hắn đi ăn trộm, lại công khai đội chiếc mũ mình đã ăn trộm!
Trở về nha môn, ông suy nghĩ rất kỹ, rồi lẩm bẩm một mình: "Có manh mối rồi! Tìm ra manh mối rồi!". Ngày hôm sau, cửa công đường mở từ rất sớm. Ông viết giấy gọi phạm nhân Bình Tất Dụng, quan huyện Kiến Ninh, đồng thời bắt nguyên cáo Tuyên Anh, lập tức tới tòa xét hỏi. Tri huyện cuống lên, hồn bay phách lạc, mang chiếc mũ lên Sát viện để điều tra.
Quan Kính sai người mang chiếc mũ đặt lên bàn, gang tay đo thấy dài chín tấc. Sau đó nhìn kỹ đầu hai người, xem to nhỏ thế nào. Rồi lại xem dấu tên ở mặt trong, đúng là có đóng dấu kiềm thật. Sau đó hỏi Tuyên Anh:
- Chiếc mũ này ở đâu ra?
- Do bố vợ con làm quân môn tại Thẩm Dương mang về cho. - Tuyên Anh trả lời.
- Anh đã đội chiếc mũ này chưa?
- Khi còn đi học con thường đội, nên đã đóng dấu vào đó để ghi nhớ.
Quan Sát viện lại hỏi Tất Dụng:
- Chiếc mũ này ở đâu ra?
- Con mua của người khách bán nhân sâm, - Tất Dụng trả lời - mất bốn trăm lạng bạc.
- Các anh hãy mang mũ áo mặc hàng ngày vào đây. - Quan Sát viện nói. - Bất kể là vuông hay tròn hoặc màu sắc nào cũng được.
Hai người ra ngoài, bảo người nhà lấy mũ áo. Quan Sát viên gọi hai người vào rồi lệnh cho họ mặc áo đội mũ trước mặt ông. Lão Bình mặc áo nhung, đội mũ nhung. Còn Tuyên Anh đội mũ the, mặc áo the màu xanh da trời. Quan Kiểm sát viện nghĩ: "Mặc áo đơn, chít khăn thì không phải là loại hàng cùng bộ". Sau đó ông gọi Bình Tất Dụng, đưa mũ cho lão Bình đội, thấy ông đội rất vừa. Tiếp đó ông lại đưa mũ cho Tuyên Anh đội. Thật đáng thương, đầu Tuyên Anh nhỏ khăn thấp, mũ quá rộng, trùm xuống tận mắt. Quan Sát viện cười rộ lên nói:
- Chiếc mũ này không phải của anh.
- Hiện còn dấu vết bên trong. - Tuyên Anh nói. - Quả là Bình Tất Dụng lấy cắp rồi về nới rộng ra.
Quan Sát viện cầm mũ xem đi xem lại, thấy đường may vẫn còn nguyên vẹn, con dấu thì đóng trùm lên trên đường may. Ông đùng đùng nổi giận quát:
- Hãy mang kẹp ra đây ngay!
Tuyên Anh bị kẹp, không chịu nổi kêu lên:
- Ngài tha tội! Con xin khai thật, không phải con can phạm. Vốn là cậu con muốn mua chiếc mũ ấy, song Tất Dụng không bán, cậu con đành phải giả vờ mượn mũ đi phúng viếng đám ma, con đã xé bên trong, đóng dấu tên con vào đó, rồi viết đơn thưa lên quan, vu tội cho ông ấy.
Quan Sát viện gọi người đánh cho năm mươi roi, giải lên phủ Thụ giám định tội. Sau đó hỏi cậu hắn ta là ai. Tuyên Anh nói:
- Đó là cử nhân Tất Vinh.
Rồi ông trả lại mũ, thả Tất Dụng về. Quan Sát viện lập tức sai người gọi cử nhân tri huyện vào mắng: "Ngươi là đồ ngu dốt vô liêm sỉ". Chửi cho hả giận, rồi ông viết tờ hạch tội tri huyện Sử Bi, là người tính tình nóng vội bộp chộp; cử nhân Tất Vinh là kẻ tham lam. Tuyên Anh bị tống giam, rồi chết trong nhà tù.
Kìa xem những kẻ thường gian dối
Quan vốn thanh liêm trị thẳng tay.
Các bạn thân mến, làm quan quả là chẳng dễ chút nào! Tri huyện Sử Bi thấy có đóng dấu, đã cho ngay là sự thực. Còn quan Sát viện là một vị cứu tinh, đã gỡ cho lão Bình khỏi mang tiếng oan là một tên trộm cướp. Thiết Kính là một vị quan thanh liêm chính trực, ông đã làm sáng tỏ nhiều vụ án, mà những chứng cứ giả dối như một sự thực khó bác bỏ.
 
Tới đây, lại nói thêm về một ông quan thanh liêm khác. Cát Ngu một tiến sĩ tài giỏi ở Giang Tây, hiệu là Thủy Nguyên, đỗ tiến sĩ năm Tiến Đức. Mẹ chết sớm, cha là tú tài nghèo, tên là Cát Thánh Tường, hiệu là Đạo Phù, suốt đời thật thà ngay thẳng, gìn giữ nếp xưa. Khi dạy dỗ con cái ông thường khuyên con đừng bôi nhọ lương tâm, sang hèn đều do số mệnh. Nếu gặp vận may, được trị dân, thì không những phải trong sạch, có tiết tháo nghiêm khắc nhưng lại phải ôn hòa thận trọng, vừa nhã nhặn phải vừa thật thà chất phác. Thủy Nguyên luôn luôn ghi nhớ lời cha dạy. Năm ông hơn ba mươi tuổi thì cha qua đời, rồi sau đó vợ chết. Hoàn cảnh ông rất khó khăn, nhưng rất may ông được nhập học. Ông cố gắng học hành chẳng quản nắng mưa, rét mướt. Trên tường ông đã dán bốn điều để răn mình đó là:
Không dạy học, không uống rượu
Không gặp quan, không kết bạn.
Cát Thủy Nguyên, một thân một mình đóng cửa tuyệt giao, ăn đói mặc rét, đọc sách suốt ngày. Thời gian trôi đi rất nhanh, mới thoáng qua mà ông đã hơn bốn mươi, cuộc sống vẫn nghèo túng. Người ta khuyên ông hãy xé bốn điều răn mình, thích ứng với cuộc đời thì sẽ không bị thiệt thòi. Song ông vẫn không thay đổi, và nói rằng giữ mình như thế mới thực là có ích. Người ta lại hỏi ông có ích ở chỗ nào? Thuỷ Nguyên nói:
- Thầy nghiêm, đạo được tôn trọng, thì mình mới giữ được thể diện. Tôi thấy những tiên sinh ngày nay theo đòi đèn sách đều vị kỉ. Kẻ chơi bời dâm đãng, lại tự cho mình là người thầy hướng dẫn người. Họ đều là những người lòng dạ xấu xa, đạo đức hư hỏng. Tôi một đời nghiêm túc chăm chỉ học hành, sao lại kết bè kết đảng với họ được! Còn như ăn uống tiệc tùng, mới nghe thấy tôi đã chán ngán. Trên đời, việc này ai ai cũng mong muốn, song đối với tôi, nó chẳng có chút hứng thú nào, bởi vì những người không hiểu biết rất đông, đến đó có ích lợi gì đâu! Những người đang làm việc ở phủ quan, đều xuất thân từ tú tài. Đến khi được làm quan thì ăn uống bê tha, họ thấy tú tài như chiếc gai trước mắt. Tôi vô cùng khinh bỉ loại quan như thế, hạng người như thế có đáng gặp hay không? Nếu nói, nay kết bè mai kết bạn, thì đây là một việc hết sức vô bổ. Người xưa nói: "Tú tài như cô gái trinh tiết". Gái trinh không thể thân quen với người này, người khác. Kết thân bạn bè có phải trên đầu lưỡi thôi đâu. Bởi thế cho dù tôi nghèo túng thế nào chăng nữa, tôi cũng không thể vứt bỏ nhũng điều tôi gìn giữ, để dấn thân vào thói xấu của tú tài.
Mọi người thấy Thủy Nguyên nói thế, than rằng: "Quả thực đây là một người vô cùng trong sạch và đạo đức". Đúng là:
Chẳng thể luyện được vàng,
Kẻ sĩ thường nghèo túng.
Sách vở chất đầy nhà,
Ra ngoài không có bạn.
Cát Thủy Nguyên nghèo đến mức khó mà sống nổi, người ta khuyên anh nên làm một việc gì đấy. Anh nói:
- Là nho sinh mà thay đổi nghề nghiệp, quả thực tôi rất lo sợ. Giảng giải kinh dịch, bàn luận về số mệnh, ấy là duy trì đạo giữa trời và người của bậc Thánh nhân. Số phận của ta là trong sạch. May mà sang năm ta được thi, nhưng sang năm cũng cần ăn cần mặc, cần phải có tiền đến trường thi, nhưng kiếm đâu ra tiền, thôi thì ta thử làm xem sao?
Thế rồi anh tìm một tờ giấy dán vào tấm gỗ viết: "Gia cư sĩ đoán số mệnh".
Dựa tấm biển vào trước cửa nhà, Thủy Nguyên ngồi chờ người đến xem. Mọi người lần lượt đến nhờ ông đoán số mệnh. Thủy Nguyên cứ theo lí nói thẳng, chẳng khác nào như đuổi khách đi. Thấm thoát thế mà anh đã đoán số mệnh được bốn năm tháng.
Một hôm bỗng có một người dáng vẻ tu hành đắc đạo, tên là Mễ Niên, đầu đội mũ kiểu thời Đường, mặc áo thụng, lắc được quẻ Cấn. Thủy Nguyên hỏi:
- Ông cần gì?
- Tôi cần lấy vợ. - Mễ Niên trả lời. - ông xem người ấy có phúc, có duyên, có thuận hòa với kẻ trên người dưới không?
- Nếu không phải là vợ cả thì đều tốt. - Thủy Nguyên nói: - Cấu có nghĩa là gặp, năm dương mà gặp một âm, chứng tỏ âm vượng, dương chầu. Vả lại hôm nay là Thanh long dẹp đường, chim chu tước im tiếng hót, chim loan đỏ trông coi việc, sao khiên ngưu ngủ gật, hẳn là người vợ cả phẩm hạnh kém, mà lại có biểu hiện vô cùng tốt, chỉ có điều về mặt trinh tiết kém một chút.
Cát Thủy Nguyên nói thế, Mễ Niên vô cùng sung sướng, nghĩ bụng: "Quẻ này nói rất đúng" rồi lại nói ngày sinh tháng đẻ của mình để xem số phận của cả đời. Mệnh thuộc long, sinh vào giờ Giáp Tí, ngày Kỉ Mão, tháng Bính Dần, năm Giáp Thìn.
Thủy Nguyên viết tám chữ ấy theo hàng, xem xong rồi nhìn Mễ Niên nói:
- Tám chữ tạo nên sự kì lạ khó mà nói hết, tám chữ bổ sung cho nhau, sánh bên nhau, sự thịnh vượng cứ như ùa cả đến. Hiêu thần, Niết thần ra sức giúp đỡ việc ăn uống, Tử Vi không mời mà tự đến. Mệnh thuộc loại hèn kém không thể tính hết được. Nhưng vận phú quý chẳng gì cao hơn thế. Ông là người quê ở đâu thế?
- Xin cảm ơn ngài đã có con mắt tinh tường. - Mễ Niên nói. - Nhất định sẽ có ngày đền đáp công ơn.
Mễ Niên nhét quẻ thẻ vào tay áo, cảm ơn Thủy Nguyên, rồi ra đi. Đúng là:
Bế tắc, thông suốt đều do mệnh
Suy đoán sau này sẽ biết thôi.
Hôm sau Thủy Nguyên cất biển đi. Nghĩ rằng: "Mệnh đoán hôm qua là mệnh hết sức thấp hèn, mà cái vận thì vô cùng kì lạ quả thực đoán không ra, khiến người ta chê cười. Chi bằng hãy gắng công học tập, chuẩn bị kì thi cho tốt”.
Thi hương xong, yết bảng đề danh, anh xếp thứ hai trong số bảy người. Người trong làng ai cũng kinh ngạc nói: "Cát Tiên sinh đã đỗ rồi!': Họ đến chúc mừng, song ông vẫn tiếp đãi lạnh nhạt như cũ. Mấy ngày sau, những người tôn ông làm thầy, cũng chưa đưa chút lễ vật nào, bạn đồng khoa cũng không ai muốn gặp. Ông khăn gói lên đường tới kinh đô. Đúng là:
Đô thành mưa tạnh buồn vô hạn,
Quán trọ đèn tàn khách mộng mơ.
Không ngờ thi Hội xong, Thủy Nguyên lại đỗ tiến sĩ. Mặc dù là người đỗ cao trong kì thi Hội, song ông vẫn lo âu buồn bã. Ông thấy triều đình rối ren, quan lại ở địa vị cao đều hùa theo thế tục, coi việc nước như trò đùa. Họ bày cỗ linh đình, cúng tế trời đất tổ tông, viết hai câu thề nguyền, nhưng lại không hề thực hiện. Họ làm thế, là muốn tô vẽ thêm cho mình. Hai câu ấy như sau:
Nguyện dốc sức mình cho đất nước,
Tuân theo phép tắc phục vụ dân.

Thủy Nguyên ở lại kinh đô, lấy người vợ kế là Thị Cầm, và được bổ làm Tri huyện Tức Mặc, Sơn Đông. Khi tới nhậm chức, ông mở mang trường lớp, nâng đỡ việc học tập, trừ phi thừa hành lệnh cấp trên ra, ông thường không dùng hình phạt nặng. Khi thừa hành chức trách, không bao giờ ông nhận lễ vật. Đúng là quan thanh liêm chỉ uống nước lã. Ông là người ôn hòa, tài năng mẫn tiệp. Bằng tài năng ấy, ông đã tìm ra nhiều sự việc rắc rối liên quan đến trộm cướp, và số phận con người. Tôi sẽ kể lại một vài câu chuyện đã lưu truyền trong dân gian mà chính sử không ghi chép, để chúng ta thấy được sự tinh vi thận trọng trong cuộc đời làm quan của ông.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5938
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Sat Mar 15, 2014 12:48 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 3 (B)
Một người nhà quê mang một con ngỗng còn sống đi thăm người thân. Anh ta để ngỗng xuống vệ đường đi tiểu tiện. Tên trộm đi tới xách lấy con ngỗng, rồi đem cân. Khi người nhà quê đuổi kịp, hai bên giằng co đánh chửi nhau. Vừa lúc ấy quan Bổ sảnh Hồ Bá Liên đi tới. Mọi người đều thưa lên quan, quan Tổng bổ Hồ nói:
- Ngỗng không nói được, các anh hãy khai xem nó nặng bao nhiêu?
- Bẩm quan, - anh nhà quê nói, - cách đây nửa tháng con cân được bốn cân bảy lạng.
- Bẩm quan, - tên trộm nói, - con ngỗng của con là năm cân ba lạng.
Hồ Bá Liên lấy cân cân thử. Đầu tiên ông đặt quả cân vào chỗ bốn cân bảy lạng, cán cân vọt lên. Ông nhích quả cân đến chỗ năm cân ba lạng, cán cân ngang bằng như mặt nước. Thế là ông ta quở trách người nhà quê nọ, trả ngỗng cho tên trộm. Xử xong ông bỏ đi. Nhưng anh nhà quê quyết không chịu mất ngỗng. Hai bên vẫn giằng co. Đúng lúc đó Cát Công đi tới, hai người ngăn ông lại, quỳ xuống bẩm. Tên trộm bẩm lại quyết án của quan Bổ sảnh, còn người nhà quê chỉ biết khóc lóc kêu xin thảm thiết. Cát Công nghĩ rằng: "Một người thì vô cùng giảo hoạt, một người thì chất phác thật thà. Nếu không phải ngỗng của mình thì tại sao anh ta lại cố công giành lại bằng được như thế?”. Cát Công nói với tên trộm rằng:
- Anh nói đúng trọng lượng con ngỗng thì đương nhiên con ngỗng ấy là của anh rồi. Con ngỗng của anh ăn gì mà béo thế?
- Nó ăn cám. - Tên trộm nói.
- Ngỗng của anh ta rồi. - Cát Công bảo với anh nhà quê. - Nhưng anh thử đoán xem con ngỗng ăn gì.
- Nó ăn thóc. - Anh nhà quê nói.
Cát Công sai người lấy dao mổ diều ngỗng, chỉ thấy diều toàn thóc lép. Cát Công hỏi tên trộm:
- Vì sao trong diều ngỗng chẳng thấy chút cám nào?
Tên trộm khấu đầu nhận tội. Ông sai người đánh cho hắn ba mươi tay thước, cùm một tháng. Hóa ra hắn là Mao Giáp Thủ, một tên trộm nổi tiếng, song không che được mắt Cát Công.
 
Lại có một lần, tên trộm lọc lõi Hàn Lâm Quỷ, dò la biết được một nhà giàu cưới vợ. Nhân lúc đông người hắn lẻn vào buồng cô dâu, nấp dưới gầm giường. Tối đến, đôi vợ chồng mới cưới đóng cửa đi ngủ. Ở dưới gầm giường, hắn nghe hết cả những chuyện riêng tư thầm kín của đôi vợ chồng. Một lát sau, anh chồng ngủ, ngáy gỗ vang nhà. Tên trộm thấy yên ắng, bèn khẽ sột soạt đánh động thăm dò. Cô dâu mới vẫn còn tỉnh, thấy lạ lại sợ xấu hổ không dám gọi chồng. Tiếng động mỗi lúc một rõ hơn, cô mới lay người chồng dậy, nói:
- Dưới gầm giường có tiếng động.
Tên trộm im thin thít không dám cựa quậy. Anh chồng nói:
- Có thấy gì đâu?
- Hay là đốt đèn soi xem. - Cô vợ nói.
Thế rồi họ gọi người ở đốt đèn. Quả nhiên thấy có người nấp dưới gầm giường, họ gọi người nhà lôi ra, lấy thừng trói lại. Bị đánh túi bụi, tên trộm nghĩ ra một kế, nói:
- Các vị đừng đánh nữa, không phải tôi vô cớ mà đến đây. Chính người vợ mới cưới của anh ấy bảo tôi đến. Cô này ở nhà đã từng ăn nằm với tôi, hẹn tôi đúng vào ngày cưới đến phòng để tiếp tục thú vui xưa và hứa tặng đồ nữ trang cho tôi.
Mọi người nghe xong, toát mồ hôi, hết sức kinh ngạc, bán tín bán nghi, muốn bịt mồm hắn lại, nhưng không được. Trong buồng, cô dâu nghe thấy mặt đỏ bừng, không sao thanh minh được, phải treo cổ tự tử. May mà người chồng cứu được, rồi anh an ủi rằng:
- Em không phải là loại người như thế, nếu chết đi sẽ không rõ trắng đen, em tự vẫn khiến người ta nghĩ, do xấu hổ mà làm thế. Nếu quả là tên trộm ngậm máu phun người, thì nhất định em sẽ được minh oan, qua sự việc vừa rồi anh biết, em là người vô tội.
Cô dâu nghe thấy chồng nói thế, đành nhẫn nhục không tự vẫn nữa. Tuy cả nhà đều cho là tên trộm vu tội, nhưng ngay người ngu đần nhất cũng không thể không ngờ vục: "Không có lửa thì sao có khói. Nếu không chuyện, thì hắn chỉ nhận là ăn cắp. Còn đặt điều cho cô dâu, thì tội càng nặng, gỡ sao nổi". Mọi người thấy thế càng nghi hoặc. Đúng là:
Mẹ Tăng nghe thấy ba lần nói,
Lầm tưởng Tăng Sâm giết chết người.
Hôm sau người ta giải tên trộm lên quan xét xử. Cát Công chưa hỏi, tên trộm đã khai như hắn nói tối qua. Cát Công quát:
- Đêm tối vào nhà người ta không gian dâm thì là đạo tặc, đó là luật pháp đã định. Ngươi đã nhận là gian dâm, thì không phải là tội nặng. Chờ bắt người đàn bà kia tới, sẽ định tội.
Rồi ông cho hắn vào nhà giam. Cát Công rời khỏi công đường. Đến canh hai, ông bí mật gọi một người lính lệ thì thầm với anh ta một hồi... rồi ông lập tức ra sau nhà gọi một cô gái ăn mặc thật đẹp, giao cho viên lính lệ. Thế rồi ông lên công đường bắt tên phạm nhân quỳ trước mặt, và cho gọi cô gái vào, cũng bắt quỳ xuống. Cát Công nói:
- Việc gian dâm chưa có chứng cớ, nay đã bắt người đàn bà này tới, hai người phải nói thẳng ra với nhau, thì sẽ miễn tội.
Người đàn bà tỏ vẻ xấu hổ, ấp a ấp úng, hồi lâu mới nói:
- Con là phận gái luôn giữ mình, làm gì có việc đó, song chỉ thương cho con oan khuất mà không sao minh oan được!
Tên trộm len lén nhìn qua ánh đèn, thấy một người con gái dáng vẻ lả lướt, bèn dùng những câu thô bỉ nói xấu cô:
- Tôi đã ăn nằm với cô mấy lần, chính mồm cô bảo tôi rằng, đến hôm cưới, thừa lúc đông người, trốn vào gầm giường trong buồng, rồi cô sẽ tặng cho những đồ trang sức bằng vàng, sao bây giờ cô lại chối phắt đi như thế?
- Tội gian dâm đã quá rõ ràng. - Cát Công nói.
Ông bảo tên trộm quỳ xuống bên cạnh cô gái, để trực tiếp đối chất Tên trộm quỳ sát vào cô gái nói:
Cô với tôi gắn bó khăng khít, đã thông dâm với nhau nhiều lần. Cô đã bảo tôi như thế, vậy mà bây giờ cô lại không chịu nhận, cô đã hại tôi, bắt tôi phải nhận là tên ăn trộm, tôi dù có chết cũng không tha cô.
Người con gái một mực kêu oan. Cát Công bảo tên trộm rằng:
- Nhất định anh đã thông dâm với người khác rồi, còn cô gái này chắc là vô can.
- Bẩm quan, - tên trộm nói, - quả là cô ta thông dâm với con từ lâu rồi. Con thông thuộc tiếng nói và nét mặt của cô ta, đúng là cô ta chứ không phải ai.
- Có thật đúng như thế không? - Cát Công hỏi.
- Đúng, đúng, đúng ạ, bẩm quan đèn trời soi xét. - Tên trộm nói.
Cát Công sai người kẹp tên trộm lại, tên trộm vẫn không chịu nhận. Cát Công cười ha hả nói:
- Ngươi có còn nói ngươi đã thông dâm với người ấy nữa không? Đây chính là người gái hầu trong nha môn của ta.
Ông bảo cô gái hầu đứng dậy, cô gái khúc khích cười rồi đi vào nhà trong. Cát Công nói:
- Ta đã biết ngay mày là tên trộm.
Lúc đó ông lại gọi năm người đầy tớ, dùng gậy đánh chết. Chưa đầy một giờ đồng hồ, tên trộm tắt thở. Đúng là:
Phép quan ba tấc kiếm, Biển oan rửa sạch làu.
Cha mẹ cô dâu thấy mối nhân duyên lỡ dở, ngay hôm sau đến huyện đường nghe ngóng. Thấy việc chưa giải quyết xong, họ vô cùng buồn bã. Họ không ngờ Cát Công đã vạch trần sự gian dối và xử tử tên trộm. Hai nhà mừng rỡ, chờ khi Cát Công mở cửa công đường, họ đội lễ, thắp hương vào bái tạ.
Các bạn thân mến, tên trộm ấy quả là ghê gớm. Hắn tức giận vì cô dâu ấy đã gọi chồng dậy, nên nảy ra kế hiểm, hại cô. Hắn tưởng rằng sẽ không mang tiếng là đứa ăn trộm, mà lại trả thù được cô dâu. Làm cho hai nhà lâm vào vụ án lớn, khiến cô dâu phải quyên sinh. Song không ngờ, hắn gặp phải Cát Công, mưu trí tài giỏi. Ông không phí đến một tờ giấy, không cần gọi người của hai nhà, mà cô dâu được giải oan. Nếu như gặp một viên quan huyện ngu tối, gọi cô dâu tới công đường thì không biết sự thể sẽ ra sao. Thấy ông trí tuệ khôn lường, chỉ trong phút chốc sự việc được giải quyết, nhân dân cả huyện đều khâm phục sự thông minh sáng suốt của ông. Quả là:
Đục ngầu ta ngỡ mè là chép.
Trong veo, thấy chúng khác hẳn nhau.
Thời gian trôi đi rất nhanh, mới thoáng cái mà đã năm năm. Cát Công nhận được giấy gọi về kinh đô. Đúng hẹn, ông cùng vợ con lên đường. Khi kiệu tới bến đò, thấy một tốp thư sinh nhảy bừa lên thuyền, người chủ thuyền ra sức kêu oan. Vừa lúc đó Cát Công đi tới, ngồi trong kiệu hỏi:
- Có việc gì thế?
- Chúng tôi đi thi, - bọn tú tài nhao nhao nói, - bị chủ thuyền lấy cắp, không liên can gì đến thân hào.
- Ta là Cát Thủy Nguyên, các anh có nhận ra người thân hào này không?
Mọi người thấy đó là Cát Công, cảm thấy nhờn nhợn, mặt nhăn nhó như khỉ ăn gừng. Cát Công gọi chủ thuyền và bọn tú tài tới ngay dịch trạm xét hỏi. Cát Công vừa ngồi xuống, năm anh tú tài thưa:
- Chúng con là khóa sinh đến phủ dự thi, đã thuê chiếc thuyền này để ăn nghỉ. Thừa lúc chúng con đi thi, chủ thuyền lấy trộm hết quần áo tư trang.
- Năm ông này thuê thuyền của con, - chủ thuyền nói. - Họ nói thuê trong một tháng, trả mười lạng bạc. Tính đến nay đã được hai mươi bảy ngày, thế mà các ông ấy bớt của con mất ba lạng.
- Các anh này ở thuyền của anh, - Cát Công nói, - thì anh phải có trách nhiệm coi giữ, nếu để mất thì anh thoái thác sao được. Anh phải hiểu rằng ở thuyền thì một chiếc kim cũng chẳng thể nào lọt được.
- Các ông ấy còn cử hai người ở lại trông coi. - Chủ thuyền nói.
Cát Công không nghe, gọi tay chân cùm chủ thuyền lại. Cát Công lại hỏi những tú tài:
- Các anh có làm đơn kiện không?
- Có. - Bọn tú tài đồng thanh trả lời.
Cát Công bảo họ mang đơn tới, thấy trong đơn liệt kê tất cả quần áo, lò hương, và một chiếc nghiên mực. Cát Công gật gật đầu nói:
- Đã là tú tài thì ta sẽ dạy các anh một bài học.
Lập tức ông gọi dịch phu mang năm chiếc ghế đặt cách xa nhau, và mang nghiên, bút giấy phát cho cả năm người. Ông đuổi hết mọi người ra, rồi ngồi vào giữa. Những tú tài cứ tưởng là làm văn thật, rất muốn trổ tài, lặng lẽ chờ ông ra đề. Cát Công lấy một tờ giấy viết: "Các anh hãy vẽ chiếc nghiên đã mất, không cần phải viết văn cho mệt nhọc". Năm anh tú tài ngồi cách nhau quá xa, không biết vẽ thế nào. Ngồi một lúc lâu, đành phải tự vẽ. Thấy mỗi người vẽ một khác, Cát Công cười phá lên, nói:
- Làm tú tài trước hết phải rèn luyện bản thân, đừng làm trò vô liêm sỉ, táng tận lương tâm. Nếu để bọn các anh chăn dân, thì các anh là lũ tham quan ô lại, bòn rút của dân. Để các anh chấp chính thì sẽ trở thành kẻ phản nghịch lật đổ triều đình. Cớ sao một chiếc nghiên mực mất mà mỗi người vẽ một khác? Ba lạng bạc tiền thuê thuyền chẳng đáng là bao, song thật đáng tiếc, các anh đã làm băng hoại đạo đức.
Năm gã tú tài cứng họng, đưa mắt nhìn nhau, đứa nào mặt cũng vàng như nghệ, không dám ho he. Cát Công bèn cho gọi hai tên gia nhân của bọn tú tài tới bảo:
- Chủ các anh mỗi người đáng chịu mười cái tát, còn các anh, tôi mượn cái mông đít.
Hai người kia ra sức kêu gào xin tha tội, song chẳng ai thương. Họ vẫn phải nhận đủ hai mươi lăm gậy. Năm gã tú tài kia phải khai rõ họ tên, báo lên quan Đề học(1) xử lí. Từ đó tiếng tăm Thủy Nguyên lại càng lan truyền khắp trong triều ngoài nội. Sau vụ xử đó ông lại tiếp tục lên đường về kinh, vừa đúng hạn. Thật là:
Xe loan dừng tại đô đình,
Mà ông vẫn kịp về kinh đúng ngày.
(1) Đề học: quan trông coi việc học hành tại phủ huyện.
Tri huyện Cát trở về kinh đô được thăng lên Lại khoa Cấp sự. Thời ấy hoàng đế Chính Đức rất ngu ngốc. Ông ta làm đủ điều hoang dâm thất đức. Cát Thủy Nguyên dâng sớ thẳng thắn can gián, song vẫn như đá ném ao bèo. Ông nghĩ: "Làm sao gặp được hoàng đế, để nói hết những sai lầm của ông cho hả dạ, xử tử hết những kẻ xu nịnh hoàng thượng, thì dù cho mình thịt nát xương tan cũng cam lòng!".
Một hôm người ta thấy Cát Thủy Nguyên mặc thường phục, đi lang thang trên đường phố. Đang đi ông nhìn thấy một người đội mũ vuông, mặc áo hoa đi ô cầm một tấm thảm, ông lững thững theo sau, thì thấy đó là Mễ Niên người đã từng được ông xem tướng trước đây. Dáng vẻ sang trọng, giống như một người rất đắc ý. Cát Nguyên cứ theo, cho đến khi ông ta vào một kĩ viện. Đây là kĩ viện nổi tiếng nhất thời bấy giờ, gọi là Tiêu Lang viện. Đường vào kĩ viện rất vắng vẻ và ngoắt ngoéo, bên trong thoáng đãng và cực kì tráng lệ. Cát Thủy hỏi thăm rất tỉ mỉ. Thấy người chủ kĩ viện là một cô gái phấn son, tên là Tiết Phượng Nhi. Hoàng đế Chính Đức thường lui tới đây ân ái với nàng và lại biết Mễ Niên là một Giáo phường ti, quyền uy lẫy lừng, miệng thét ra lửa. Trở về nhà, Cát Thủy Nguyên nói với vợ là Thị Cầm rằng:
- Tôi phải đi thăm một người bạn cũ, mấy ngày mới về. Phủ quan có tới, thì bảo là tôi ốm chưa khỏi, không thể tiếp kiến được.
Hôm sau ông sai cấp dưới đến cáo bệnh xin nghỉ. Tối đến ông đội mũ, mặc áo xanh tới Tiêu Lang viện. Tới nơi, ông hỏi:
- Ngài Mễ Niên có ở đây không, nói với ông là có người bạn cũ tới thăm.
Người đó trở vào, lúc sau thấy Mễ Niên cầm hai cây nến đỏ bước ra, vái chào Cát Công rồi hỏi:
- Ngài ở đâu tới, xin ngài cho biết tính danh.
- Trước đây sáu năm, - Thủy Nguyên trả lời, - tôi từng xem tướng cho ngài. Nay ngài vô cùng giàu sang, đã quên tôi rồi ư?
Mễ Niên dơ ngọn nến nhìn kĩ, nói:
- Đúng rồi! Ngài là Cát Tiên sinh ở Giang Tây phải không? Đúng là tôi tốt số. Chẳng giấu gì tiên sinh, từ khi lấy người đàn bà ấy, quả là tôi đã gặp được vận may hiếm có.
Rồi Mễ Niên lại ghé vào tai Cát Công nói:
- Đúng là tôi phải đền đáp lại công ơn của ông, ông đến thật là đúng lúc, thật tuyệt diệu. Tại sao tiên sinh không ở đây hành đạo?
- Chẳng giấu gì ngài, - Cát Công nói, - tôi đang bị người ta kiện, nên trốn tới đây, không tiện xuất đầu lộ diện, muốn giấu mình tại quý viện để lánh nạn. Được nghe hoàng thượng thường tới nhà ông, sao không để tôi nhìn một chút xem ngài như thế nào, đó chính là niềm may mắn của đời người.
- Điều đó có khó gì, - Mễ Niên nói. - Hoàng đế thường cùng với chúng tôi chơi trò phạt rượu(1). Hôm nay là ngày mười ba tháng chín, ngày rằm nếu như có trăng, thế nào hoàng thượng cũng đến. Muốn tới gần, chỉ cần ngài chịu nhận làm người hầu chải đầu sửa móng chân là được.
- Chỉ cốt được gần hoàng đế, thì bất kể làm gì cũng được. - Cát Công nói.
(1) Phạt rượu: một loại trò chơi mua vui khi uống rượu.
Bàn bạc xong, bèn lưu Cát Công ở lại, tạm thời gọi Cát Công là Phúc Man.
Quả nhiên, ngày mười rằm trăng rất sáng, trong kĩ viện nơi nào cũng treo đèn, các loại hương liệu quý hiếm đốt lên thơm lừng. Đêm càng trở nên tĩnh mịch, một đoàn người trong hoàng cung, tiền hô hậu ủng quanh một chiếc xe có rèm, mui xe làm bằng the màu tía đi thẳng vào sảnh đường. Thiên tử từ trong xe bước ra, dáng vẻ oai nghiêm như rồng, như hổ. Hai đứa hầu cầm đèn soi, còn thiên tử một mình đi sau. Mễ Niên quỳ dưới đất, đón vào. Cát Công đứng đằng sau khe cửa nhìn thấy hết, ông nghĩ: "Hoàng đế thật chẳng đúng đắn chút nào, tại sao lại đến mức như thế?". Một lát sau, Mễ Niên tới bảo Cát Công rằng:
- Ngài có thấy hoàng đế không?
- Nhìn rất rõ. - Cát Công nói.
- Ngài có thể tới đứng bên cạnh Lộ đài, phía vườn sau, - Mễ Niên nói, - có cơ hội tôi sẽ gọi vào.
Theo lời Mễ Niên, Cát Công tới Lộ đài, ở đó chỉ có một đôi đèn lồng. Đang chờ ở đó, chợt Cát Công thấy hoàng đế Chính Đức dặn kĩ nữ Tiết Phương Nhi đến. Nàng đi uyển chuyển, nhẹ nhàng như tiên nữ, tới Lộ đài ngắm trăng.
Nhẹ tựa mây vờn lồng bóng nguyệt,
Thường Nga dáng vẻ luống mơ màng.
Trên Lộ đài bày chiếc ghế khảm trai rất rộng, một chiếc bàn bằng gỗ tử đàn, một chiếc đôn sứ. Trên bàn bày lư hương, hộp hương liệu, ấm trà và khay chén. Mễ Niên theo sau, quỳ xuống nói:
- Giáo phường ti Mễ Niên có việc bẩm với hoàng thượng. Thần mới thu nhận được một thằng hầu chải tóc, sửa móng chân, tên là Phúc Man, xin được cho vào hầu hạ.
Phúc Man bước tới cúi đầu, rồi đứng sang một bên. Ngài Chính Đức dặn dò Mễ Niên rằng:
- Sau này phải dặn những người trong viện không được tiết lộ những chuyện hoàng đế đã đến đây chơi, bọn quan lại lắm mồm lại can gián trẫm. Hôm trước có một viên Lại khoa cấp sự tên là Cát Ngu, dâng lên một bản tấu sớ cứ làu bà làu bàu nói trẫm như Kiệt Trụ, can hệ đến xã tắc. Nói về việc trẫm đến hạnh viện, ngay cả Kiệt Trụ cũng không đến mức như thế! Quả là hắn to gan lớn mật, khiến ta vô cùng tức giận. Trẫm phải xử tội hắn. Song các quan trong triều nói rằng hắn là một viên quan thanh liêm bậc nhất, gọi hắn là Cát Chiếu Đản, mọi người ai cũng sợ hắn. Trẫm đành phải tha tội chết cho hắn. Ngày mai trẫm phải đích thân hỏi hắn, rằng hắn thấy trẫm đã hạnh viện ở đâu, để bịt mồm hắn lại.
Cát Thủy Nguyên nghe thấy kinh sợ, lạnh toát mồ hôi. Ông nghĩ: "Ai ngờ rằng hôm nay Cát Nguyên được may mắn, đều do ân đức cao dày của hoàng thượng!”. Ông vô cùng cảm kích, muốn làm việc gì đó, đưa thiên tử khỏi chốn chơi bời, để báo đền công ơn. Đúng là:
Thánh thượng khoan dung người cương trực, Sao ta dám tiếc vạn ngôn thư.
Một lát sau, đêm khuya, trăng lạnh, ông cầm đèn đưa hoàng thượng về lầu sưởi ấm. Tấm lòng trung nghĩa của Cát Thủy Nguyên bỗng chốc trổi dậy, rồi nhanh chóng nghĩ ra mưu kế. Chờ đêm yên ắng tĩnh mịch, ông tới nhà bếp phóng hỏa. Hôm ấy gió thu đang thổi mạnh, ngọn lửa ngùn ngụt bốc cháy. Cát Thủy Nguyên xông vào phòng sưởi ấm, kêu thất thanh: - Cháy nhà! Cháy nhà! Nguy cấp! Nguy cấp! Hoàng thượng ngự tại đâu?
Chỉ thấy a hoàn chạy ra khỏi cửa nói:
- Đây! Ở đây!
Cát Thủy Nguyên nhận ra, vội vã cõng vua vượt qua ngọn lửa chạy vọt ra ngoài. Mễ Niên thấy ông cõng hoàng thượng nói:
- Ngài hãy hầu hạ hoàng thượng chu đáo.
Cát Thủy Nguyên vâng dạ. Mọi người vội vàng dập tắt ngọn lửa.
Dặm xa đường thẳm hay ngựa quý,
Năm tháng dài lâu biết lòng người.
Các bạn thân mến, tấm lòng trung nghĩa của Thủy Nguyên, phải nhờ vào tình thế khẩn cấp. Ông cõng hoàng đế Chính Đức về nhà, gọi người mở cửa, mời hoàng đế ngồi vào ghế chính giữa. Một mặt đuổi những người chạy theo về Tiêu Lang viện, báo cho người đến đón hoàng thượng. Chính Đức nói:
- Ngươi là Phúc Man của nhà Mễ Niên ư?
- Thần đội ơn thánh thượng. - Cát Thủy Nguyên cúi đầu nói. - Thần đỗ hoàng giáp tiến sĩ, rồi được bổ làm Lại khoa Cấp sự Thần là Cát Ngu, đội ơn hoàng thượng, đã có tấm lòng nhân từ tha tội chết.
Chính Đức kinh sợ nói:
- Trẫm hỏi ngươi, làm sao mà ngươi lại ở nhà Mễ Niên? Thần từng nghe, - Cát Nguyên đáp, - hổ không thể xa rời núi, rồng không thể xa rời biển. Thánh thượng là đấng chí tôn, lại hạ mình chơi bời, lửa cháy còn là việc nhỏ, nếu chẳng may xảy ra điều bất trắc, thì ai là người dám chết để bảo vệ bệ hạ? Quả thực thần lo thay cho bệ hạ, nên không sợ mình chịu nhục, vào giáo phòng, thay đổi họ tên để bảo vệ hoàng thượng. Việc xảy ra hôm nay quả thật là một bài học lớn.
Cát Ngu quỳ dưới đất, ra sức can gián, rồi khóc nức nởChính Đức bỗng thấy được lòng trung thành của ông, nói:
- Trẫm đã biết được nỗi khổ tâm của ngươi, từ nay về sau trẫm sẽ sửa chữa.
Nói xong, người trong hoàng cung đã tới đón. Hoàng thượng lên chiếc xe rèm tía về cung thì lúc đó đã vào canh năm.
Ngày hôm sau, Chính Đức cất nhắc Cát Ngu lên nhậm chức Đô sát viện. Từ đó về sau, những người có việc làm sai trái, nghe nói đến ông đều phải sợ hãi. Họ nói với người xung quanh rằng: "Nhất thiết đừng để cho Cát Chiếu Đản biết”.
 
Các bạn thân mến, khi Cát Thủy Nguyên còn làm tú tài, ông luôn giữ tiết tháo thanh cao, khi thi đỗ ông thề rằng: "Nguyện dốc lòng với triều đình, không thể bẻ cong luật pháp". Thờ vua trị dân, rốt cục vẫn không xa rời hai câu ấy. Đó là kẻ sĩ không đánh mất lương tâm. Vợ ông là Thị Cầm sinh được một người con trai, thời trẻ đỗ đầu khoa, làm quan tới chức thượng thư, trở thành một gia đình quan lại thanh liêm ở Dự Chương. Chuyện được ghi lai trong cuốn Cô song thanh dạ lục của Trương Lăng Nhai. Thơ rằng:
Xưa nay vốn vô sự, Suy Vưu(1) chế ra cung. Làm quan cần nhân ái.
Phò vua phải hết lòng.
Trời rét hay tùng bách.
Thanh cao biết gỗ đồng.
Tú tài trong thiên hạ. Chẳng kể cùng hay thông.

(1) Suy Vưu: nhân vật trong truyền thuyết Trung Quốc.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5938
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Sat Mar 15, 2014 4:07 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 4 (A)
Kết Nghĩa Thật, Triệu Tương Gửi Mẹ Và Gửi Vợ 
Giả Can Trường, Tưởng Vân Cửa Phật Trộm Phấn Son
Thơ rằng:
Ai bảo kết giao dễ,
Kết giao thật khó thay.
Kết vàng hơn kết ngãi,
Kết mặt khó kết lòng.
Dương Tá không xuất hiện,
Phạm Trương chẳng thấy đâu.
Thường thì rượu thịt, tối mắt lại,
Hễ thấy tiền bạc lòng nhuốc nhơ.
Luôn luôn lật lọng như sóng vỗ,
Biết bao bè bạn thành kẻ thù.
Xin anh hãy rót cho tràn chén,
Lắng nghe tôi kể chuyện đời nay.
Bài thơ này nói về lòng dạ người đời thật khó lường. Việc kết giao bè bạn khó vô cùng. Tình bằng hữu là một trong năm mối quan hệ của con người. Sĩ, nông, công, thương là căn cứ vào sự giống nhau mà xếp ra từng loại. Song bản thân những người cùng loại ấy rất hiếm khi trở thành bạn bè thân thiết. Chỉ thấy đạo của người xưa ngày càng suy vi, nhân tình ngày càng kiêu bạc. Những người trọng nghĩa khinh tài, hào hiệp cứu giúp người hoạn nạn quá ít. Những người dựa vào tiền của nhiều hay ít mà thân thiết hay lạnh nhạt lại nhiều. Bởi thế, mối giao lưu giữa những người giàu sang với nhau thì lâu bền, còn mối tình giữa những người giàu sang với người nghèo thì đứt đoạn. Trước cao sang, sau nghèo hèn cũng đứt đoạn. Khi họ thành đạt và giàu có ngang nhau thì họ thân thiết hòa hợp, nhận nhau như ruột thịt. Lúc đầu còn hơn cả Quản, Bão(1). Đến khi gặp nạn, đột nhiên khốn khó, mong được bạn bè giúp đỡ thì họ trở mặt, coi như người xa lạ. Thậm chí sợ tai họa liên lụy tới mình, gặp bạn lại nói xưa nay không hề quen biết, đó lại là loại người vô đạo đúc. Song trên đời này, những bọn hiểm độc luôn luôn thừa lúc bạn bè hoạn nạn, bề ngoài thì tỏ ra hào hiệp, nhưng ngấm ngầm dựa vào đó để kiếm lợi. Họ vờ vịt thề bồi, nhưng chỉ chờ bạn lâm nạn, rồi ra tay vơ vét. Có ruộng vườn của cải thì họ bòn rút, có vợ đẹp thì họ chiếm đoạt. Tình nghĩa bạn bè như thế há chẳng đau lòng sao. Bởi thế, xưa kia Chu Mục đã viết bài luận bàn về sự tuyệt giao tại cửa dinh thự Địch Công. Đỗ Công Bộ(2), khi còn ở Trường An, mỗi khi bị bạn bè cũ bạc tình, ông làm một bài cổ thi, trong đó có đoạn:
Tay ngửa thành mây úp thành mưa
Cuộc đời giở mặt đến thế ư?
Quản, Bão thân nhau dù nghèo xác
Tình nghĩa ngày nay vứt bỏ rồi.
 
(1) Quản, Bão: Quản Trọng, Bão Thúc Nha thời Xuân Thu. Hai người rất thân thiết với nhau.
(2) Đỗ Công Bộ: Đỗ Phủ thời Đường.
 
Theo bài thơ ta thấy thói đời bạc ác, tình bạn đâu còn thủy chung. Từ xưa tới nay phần lớn đều như vậy. Tuy nói thế, song lẽ nào trên thế gian không còn đấng trượng phu nào, biết giữ lời hứa, quả cảm, trọng nghĩa khinh tài? Trong quan hệ bạn bè kẻ hại bạn thì nhiều, làm lợi cho bạn thì ít, nên khi kết bạn cũng phải tìm hiểu người ấy có tốt không, sau đó mới kết nghĩa bạn bè. Đừng nhẹ dạ cả tin mà bị người lừa dối, trước mặn mà, sau thì hiềm khích, đến lúc hối hận cũng không kịp.
 
Gần đây có một chàng trai, cũng vì cả tin mà chơi thân với bọn trộm cướp, về sau vợ chồng lìa bỏ nhau, bản thân bị tù tội, tánh mạng khó bảo toàn.
Chuyện này xảy ra tại huyện Hoa Đình phủ Tùng Giang. Người ấy là Triệu Tương, hiệu Quân Phủ. Cha mất từ lúc mười hai tuổi. Mẹ là Vương thị lúc đó mới hai mươi bảy tuổi, phải vất vả, lo toan nuôi nấng con nên người. Đến tuổi trưởng thành, anh lấy Phùng thị, một người vợ có nhan sắc. Ba người đều sống dựa vào gia tài của ông cha để lại. Một người láng giềng tên là Đổng Cận Tuyền làm nghề thợ may, hễ trong làng có việc ma chay hoặc cưới xin... đều thấy có mặt ông ta. Dựa vào tuổi cao, Đổng Cận Tuyền thường đứng ra thu tiền mua sắm lễ vật. Đây là việc chung của mọi người, nhưng vì sao Đổng Cận Tuyền lại một mình chịu vất vả như thế? Số tiền mừng hay phúng viếng, có khi chỉ thu một đồng, nếu lễ hậu thì thu hai đồng. Làm người đứng đầu, không những mình không phải nộp, mà số người đóng góp đông lên thì có thể bớt xới được chút ít cho riêng mình. Khi chủ nhà chuẩn bị cỗ bàn, ngoài việc được ăn cỗ ra, hôm sau dọn dẹp nhà cửa cũng phải mời ông ta tới ăn. Vì béo bở như thế, nên Đổng Cận Tuyền thường dò hỏi xem nhà nào mừng thọ, nhà nào sinh con... thế rồi ông bỏ việc nhà, lui tới nhà đó bắt thân.
Một lần ông ta tất tả đến nhà Triệu Tương nói:
- Nhà họ Lí bán rượu phía đông làng, đêm qua đã dọn đi rồi. Tối nay sẽ có một người họ Tưởng từ Nam Môn dọn nhà tới đó. Nghe nói anh Tưởng tuy tuổi không cao, nhưng rất hiểu đời. Mấy nhà chúng ta góp mỗi người một ít tiền để mừng anh ấy, xin anh góp một phần.
- Việc này ta nên làm. - Triệu Tương nói. - Nhưng mỗi người phải bỏ ra bao nhiêu mới đáng.
- Theo mọi người thì ta nên bỏ ra trước mỗi người một đồng rưỡi. - Đổng Cận Tuyền nói. - Đến khi xong xuôi hãy tính toán.
Thế rồi Cận Tuyền thu tiền ngay, tự đi mua sắm lễ vật, không cần tính toán chi li.
Người họ Tưởng, tên húy là Vân, thuộc hàng thứ ba, tên thường gọi là Phật Ca, tên chữ là Công Độ. Ông, cha ba đời đều làm viên lại ở phủ này. Tài sản để lại đáng giá ngàn vàng. Chỉ vì Tưởng Vân còn trẻ đã mồ côi cha nên không được dạy bảo, chơi bời cờ bạc. Chưa đến đời thứ ba thì tài sản ông cha để lại đã khánh kiệt. Từ đó sinh ra buồn chán, chỉ sống dựa vào đơn từ kiện cáo của người khác. Hôm ấy anh ta dọn nhà, Đổng Cận Tuyền đưa lễ tới mừng. Tưởng Vân vui vẻ nhận lễ, chọn ngày mang danh thiếp tới mời, bày biện cỗ bàn thịnh soạn. Đêm ấy, khách ăn uống đều là những người láng giềng. Những người này đều làm nghề thủ công, vốn thô lỗ và thật thà, họ ham thích rượu thịt, ăn uống thả sức, song đấy tri huyện không phải là thói xấu. Còn Tưởng Vân thì tỏ ra là người có học, am hiểu thời thế, nói năng ngọt ngào, khiến mọi người ngồi im thin thít, chẳng ai chen vào được câu nào. Chỉ có Triệu Tương am hiểu đôi chút, dịu dàng nhã nhặn, tuổi lại còn ít, ngồi ở cuối chiếu đúng vào mâm của gia chủ, bởi thế hai người chuyện trò rất tâm đắc.
Đêm ấy tan cuộc, Triệu Tương về nhà khoe với Vương thị rằng Tưởng Vân thường lui tới cửa quan là một người tài giỏi hòa nhã, đối đãi với mọi người rất chu đáo lịch thiệp.
Vương thị nói:
- Con không có anh em, có được người láng giềng như thế, con nên kết nghĩa.
Sáng hôm sau, Triệu Tương sang tạ ơn. Tưởng Vân cười nói:
- Tôi rất xấu hổ, cỗ bàn quá đơn sơ, thật là có lỗi. May được anh quan tâm, hiện vẫn còn rượu ngon, anh ngồi lại đây uống với tôi chén rượu, rồi chúng ta cùng nói chuyện.
Triệu Tương vội vã đứng dậy từ chối. Tưởng Vân cứ nài, không cho về. Thế là Triệu Tương ngồi lại uống rượu, cho mãi tận trưa. Từ đó về sau họ thường qua lại uống rượu, chẳng giữ kẽ gì nữa. Một hôm, huyện đường có việc kiện tụng, Tưởng Vân dậy từ rất sớm, rửa mặt, chải đầu rồi ra đi. Vừa bước ra khỏi cửa, anh ta thấy bên thành giếng có một người con gái xinh đẹp đang múc nước, lại gần, nhìn kĩ thì quả là người đàn bà ấy đẹp tuyệt vời. Chỉ thấy:
Dáng vẻ dịu dàng
Tấm thân uyển chuyển,
Nét mặt phớt hồng, đẹp tựa đào hoa,
Khêu gợi hồn Tống Ngọc.
Ôi, nét mày xanh tươi xinh đẹp,
Hà tất mượn bút vẽ chàng Trương.
Tóc mai buông rối lòa xòa,
Đẹp tựa cảnh thiên nhiên mỹ lệ.
Tưởng Vân dừng chân, đứng chờ người ấy múc nước bước vào cửa. Bấm đốt ngón tay nhẩm tính những nhà hàng xóm, mới biết đây là vợ của Triệu Tương. Anh ta vừa đi vừa nghĩ thầm: "Sao vợ Triệu Tương lại đẹp đến mê hồn như thế, phải tìm cách chiếm đoạt mới thỏa nguyện”.
Từ đó về sau anh ta thường mua hoa quả tươi ngon biếu Vương thị. Việc gì cũng tỏ vẻ ân cần, đối với Triệu Tương thì hắn ngày càng thân mật.
Khi cha mất, Triệu Tương phải mượn một món tiền để lo ma chay. Mấy năm qua tiền gốc chưa trả, lãi mẹ đẻ lãi con, vượt cả tiền gốc. Anh muốn xin chủ nhân nhượng xóa nợ cho mình. Song nào có biết, sổ nợ của nhà quan chẳng bao giờ chịu để thiếu một xu. Chủ nợ không chịu, còn sai quản gia gọi Cố Kính dẫn bọn người hầu đến nhà Triệu Tương làm ầm ĩ. Vì còn trẻ người non dạ, Triệu Tương cố tình không trả. Chúng bèn dùng thừng đay tròng vào cổ Triệu Tương, rồi lôi đi bẩm quan, một mình Triệu Tương không sao chống lại được bọn đầy tớ ác độc. Trước đây Đổng Cận Tuyền, người sát vách, cùng mấy nhà hàng xóm đã khuyên giải Triệu Tương. Song lần này họ biết thế lục của bọn quan lại trong làng, không ai dám ngăn cản. Vương thị cuống lên, chẳng giữ gìn gì nữa, chạy ra đường kêu khóc. Đúng lúc chưa phân giải, Tưởng Vân cùng với mấy người bạn về nhà, chen vào đám đông xem sự thể ra sao. Thấy Triệu Tương, anh ta kinh ngạc kêu lên:
- Hóa ra là Triệu Tương, vì sao anh lại bị đánh đập nhục nhã như thế?
Rồi anh ta xông vào, đánh túi bụi những người lôi Triệu Tương. Cố Kính nói:
- Anh Tưởng, anh đừng có nhúng vào chuyện này, bọn chúng tôi không phải là người dễ chơi đâu.
Tưởng Vân quay lại thấy Cố Kính, nói ngay:
- Anh Cố, chúng ta đều là người quen biết nhau, chú Triệu là em họ tôi, cũng là một người có tư cách. Nếu như nợ cũ chưa trả xong, thì việc gì đòi nợ lại như bắt cướp vậy. Anh đừng có dựa vào thế quan, còn tôi đây là người có hung thần phù trợ, chẳng thể đè bẹp được tôi. May mà tôi với anh đã quen biết nhau, nếu mang tới cửa quan tôi sẽ đứng lên làm đơn kiện, lúc đó trắng đen rõ ràng, các anh thoát sao được.
Bọn người hầu thấy thế nói: "Có lý, có lý”. Rồi họ vào chùa Phổ Chiếu, tìm một quán yên tĩnh ngồi uống rượu. Rượu đã ngà ngà, Cố Kính nói:
- Món nợ này mượn đã lâu, lãi mẹ đẻ lãi con, tiền lãi nhiều hơn tiền gốc, muốn xin xóa thì cũng được thôi. Chỉ có điều Triệu Tương phải nói với Nguyên Trung hoặc tìm người thân thích trực tiếp nói với ông ấy để lấy khế ước vay nợ về thì sẽ xong. Nếu chỉ đóng cửa trở mặt, mà không nói cho rõ ràng, cứ khăng khăng không trả thì không thể được. Sổ nợ chưa thanh toán xong, thì nhất định ông ấy sẽ sai anh em chúng tôi đi đòi. Tới lúc ấy đừng bảo chúng tôi là không có tình nghĩa. Chẳng nhẽ anh em chúng tôi phải bỏ của nhà ra mà đền thay cho anh à? May gặp được anh Tưởng đây là người hiểu đời. Việc thế thái nhân tình trong thiên hạ đều nhờ đến tay anh. Người xưa nói rất đúng "trả nợ phải trả hết gốc". Nếu như không cắt đứt đuôi nòng nọc, ông chủ lại sai bọn chúng tôi tới đòi, rồi lại động chạm đến anh, thì đừng có trách là chúng tôi không nói.
- Xin nghe theo lời dạy bảo của anh. - Tưởng Vân nói. - Tôi đã thấy được lòng tốt của các anh. Hôm nay đã khuya rồi, xin mời các anh hãy về đi. Ngày mai ăn cơm xong, tôi sẽ tới gặp ông chủ các anh. Nhưng cũng cần các anh nói thêm vào, thằng em tôi nhất định sẽ hậu tạ.
Tưởng Vân là người chuyên để ý đến những việc rắc rối, viết đơn kiện cáo mà nổi tiếng. Những thân hào trong vùng, phàm có việc kiện tụng đều đến nhờ anh ta giúp đỡ. Bởi thế Cố Kính không dám trái ý, chỉ vâng dạ rồi ra về.
Sáng hôm sau, Vương thị gọi Triệu Tương dậy sớm, đến nhà Tưởng Vân cảm ơn, mong anh ta lo công việc chu toàn. Sắp bước ra cổng thì Tưởng Vân tới, Triệu Tương vội vàng mời vào nhà. Vương thị đích thân ra cảm ơn. Tưởng Vân nói:
- Tối qua, tôi đã xem sổ nợ của Cố Kính, thấy còn thiếu tất cả là mười một lạng bảy, làm sao người ta chịu xóa nợ nhiều như thế. Ít ra cũng phải trả người ta một nửa thì mới xong. Còn Cố Kính và bọn đầy tớ kia cũng phải lót tay một lạng. Chỉ sợ Triệu Tương một lúc lo ngay thì không kịp, phải cố gắng mượn bạn bè được năm lạng. Chờ lát nữa tôi sẽ trực tiếp đến xin, nếu ổn thỏa tôi sẽ về báo lại.
Nói xong định đứng dậy đi, Triệu Tương giữ lại nói:
- Cơm nước tôi đã chuẩn bị xong. Tuy không phải là mời anh, nhưng đây là chút lòng thành thực của tôi, xin anh đừng từ chối.
- Quả đây là tấm lòng tốt của anh, tôi không dám chối từ. - Tưởng Vân nói. - Nhưng thực tình, sáng nay tôi có hẹn, gặp người bạn thân. Hãy chờ tôi giải quyết ổn thỏa mọi công việc, khi ấy chúng ta ăn uống cũng không muộn.
Rồi Tưởng Vân vội vàng vào thành. Vương thị nói với con:
- Tưởng Vân tốt như thế, ngay cả anh em ruột cũng chẳng bằng. Anh ấy đã không chịu ăn, thì phải mua ít hoa quả tối nay mời anh ấy đến làm lễ kết nghĩa anh em, đi lại với nhau, nhờ anh ấy giúp đỡ.
- Mẹ không nói con cũng đã nghĩ rồi. - Triệu Tương gật đầu nói.
Thế rồi anh mang tiền đi mua gà, cá tôm và một ít hoa quả tươi. Phùng thị xuống bếp chuẩn bị cơm nước, Vương thị hâm rượu.
Đang lúc bận rộn chuẩn bị, bỗng thấy tiếng kẹt cửa. Triệu Tương vén rèm nhìn ra, thấy Tưởng Vân mặt mày hớn hở bước vào nhà khách. Triệu Tương hỏi ngay:
- Việc tôi nhờ anh đã giải quyết ổn thỏa chưa?
- Tôi đến nhà, - Tưởng Vân nói, - đã thấy bạn tôi chờ ở Đó. Chúng tôi vào gặp ông ấy ngay. Lúc đầu ông ta khăng khăng nhất định không nghe, nhưng tôi cố van nài mong ông ấy xóa hết. Cố Kính đứng bên cũng nói thêm rằng, quả thực anh ấy nghèo túng quá không thể xoay xở được. Anh ấy xin được trả một nửa, số còn lại xin ông xóa cho. Tôi lại phải năm lần bảy lượt van xin, cuối cùng ông ta giảm cho sáu phần mười. Cộng với tiền tạ ơn Cố Kính hết cả thảy là năm lạng sáu. Tờ khế ước vay nợ tôi đã mang về, anh hãy xem cho kĩ rồi nhận lấy.
Triệu Tương đón lấy tờ khế ước, xem qua một lượt, rồi xé đi. Triệu Tương quay ra vui vẻ nói chuyện với Tưởng Vân. Người mẹ đứng sau rèm nghe thấy hết. Vương thị vô cùng mừng rỡ, sửa sang khăn áo bước ra, cảm ơn Tưởng Vân.
- Mẹ con tôi đơn côi, không ai nương tựa, luôn bị người ta khinh bỉ. Nếu không được anh giúp đỡ chu toàn, thì lúc nào chúng tôi cũng như cá nằm trên thớt. Số tiền lãi ấy vừa phải trả đúng hạn, lại còn phải mang ơn. Tôi muốn nói một chuyện, không biết có được không?
Tưởng Vân vội đứng dậy, hớn hở tươi cười cúi lạy rất lễ phép, rồi nói:
- Bà dạy gì xin cứ nói, đừng ngại.
- Tôi đã chuẩn bị trầu, rượu, hoa quả. - Vương thị nói. - Nếu anh không chê nghèo hèn thì xin cho Triệu Tương được kết nghĩa anh em, mong anh đừng từ chối.
Tưởng Vân đang lo chưa có đường len vào nhà này, thấy nói kết nghĩa anh em, hắn rất đỗi vui mừng, bèn cúi xuống lạy liền mấy lạy, nói:
- Ý tôi cũng muốn thế, nhưng chỉ lo tôi nhà bần hàn, khó mà kết nghĩa được với anh ấy. Nay nhờ bà thương yêu đến, thật là may cho tôi quá. Triệu Tương bèn bưng lễ ra bày lên bàn, thắp hương nến, rồi hai người cùng hướng lên bàn thờ thề kết nghĩa anh em.
Tưởng Vân hơn năm tuổi là anh, Triệu Tương là em. Hai người lễ xong, rồi lập tức mời Vương thị ra nhận mặt. Vương thị nói:
- Chỉ cần các anh lễ là được rồi, không nên bắt bà già lễ nữa.
Tưởng Vân vội vàng quỳ xuống lạy bốn lạy. Sau đó mời Phùng thị ra, cùng gặp mặt. Cỗ được bày ra, mọi người vui vẻ ăn uống cho mãi tới tận khuya mới tàn. Chỉ vì lần kết nghĩa này mà số phận của Triệu Tương, mẹ và vợ anh ta thật là bi đát, cửa nhà tan nát, tính mạng hiểm nguy, hầu như chết một cách oan uổng. Từng có thơ rằng:
Cốt nhục tình nhà còn rất khó,
Huống hồ đem nó gửi người dưng.
Thiên cổ anh hùng xưa vẫn hiếm,
Sao nay nhẹ dạ kết đào viên.
Sau khi kết nghĩa, hai người ngày càng thân thiết. Đúng vào năm ấy hạn hán lụt lội, giá thóc tăng vọt, tới bốn lạng bạc một thạch. Triệu Tương ra chốn đô thành, trở về buồn rười rượi. Vương thị cứ gặng hỏi vì sao, Triệu Tương đáp:
- Chẳng có việc gì khác, chỉ vì trời hạn hán mất mùa, gạo thâu củi quế. Con nghĩ, miệng ăn núi lở, cứ ở nhà, mai ngày lấy gì độ thân. Con định đi buôn, nhưng lo rằng việc nhà không ai trông cậy. Bởi thế đi cũng dở, ở không xong, cứ chần chừ không định được. - Mẹ cũng đã tính cho con từ trước. - Vương thị nói. - Chỉ sợ con từ nhỏ đến giờ chưa từng xa nhà, vả lại hàng có nhiều loại, không biết buôn bán loại nào cho có lãi. Nay con muốn đi xa, mà làm trai phải có chí bốn phương, mẹ đâu dám ngăn cản con. Còn người trông coi việc nhà, con cũng không cần phải nghĩ ngợi, đã có anh Tưởng quan tâm. Song không biết con tới đâu mua loại hàng gì cho có lãi.
- Con được biết Hồ Quảng thóc gạo rẻ. - Triệu Tương nói. - Con có một người bạn là Triệu Vân Sơn ở Lục Trần Hàng, nhà giàu có, khuyên con đi buôn. Con đã bàn kĩ với anh ấy rồi, nếu đến đó mua gạo về, tính ra lãi tới quá nửa.
- Nếu được bạn tốt dìu dắt, - Vương thị mừng rỡ nói, - thì mẹ chẳng cần phải lo lắng, con hãy định ngày lên đường. Mẹ cũng thu xếp bán ít đồ trang sức để lo chút vốn cho con, mua thêm được tí nào hay tí ấy.
Đêm ấy hai mẹ con bàn soạn xong xuôi. Sáng sớm hôm sau Triệu Tương đến nhà Triệu Vân Sơn, hẹn ngày lên đường. Sau đó lại rẽ vào nhà Tưởng Vân, mời anh chiều nay đến nhà uống rượu, rồi đi mua thịt, cá và một hũ rượu ngon. Chiều đến, thức nhắm đã chuẩn bị xong, Triệu Tương lại mời Tưởng Vân tới dọn bàn, bưng ra một mâm cơm thịnh soạn. Tưởng Vân nói:
- Không biết hôm nay chú mời khách nào đến mà làm cơm thịnh soạn thế.
- Em bất tài, hoàn toàn dựa vào anh che chở. - Triệu Tương nói. - Làm bữa rượu nhạt, nhân tiện có việc nhỏ cần nói với anh.
- Là anh em một nhà thì cơm nước bình thường thôi. - Tưởng Vân nói. - Chú cứ bày vẽ như thế này thì lần sau ai còn dám đến nữa.
Rồi họ cùng ngồi vào mâm. Lúc đầu họ còn nói chuyện ở chốn nha môn, sau vài tuần rượu, Triệu Tương rót rượu tràn chén, hai tay nâng lên mời Tưởng Vân, nói:
- Xin mời anh uống chén đầy này.
- Em đã biết tửu lượng của anh rồi đấy. - Tưởng Vân ra sức chối từ, nói. - Vì sao hôm nay chú cứ ép anh, có phải anh khách sáo gì đâu?
- Em không biết tửu lượng của anh thế nào? - Triệu Tương nói. - Nhưng đây là chén rượu Lỗ, mà cũng chẳng phải bỗng dưng mời anh chén rượu này. Nếu anh uống thì em mới dám nhờ anh, còn như anh cố từ chối, thì tất nhiên em sẽ trách anh, và cũng chẳng dám hé răng.
Tưởng Vân đành miễn cưỡng uống cạn, rồi nói:
- Rượu là mệnh lệnh, xin sẵn sàng nghe em nói.
- Cha em mất sớm, - Triệu Tương nói, - phải nương tựa vào mẹ già. Đã hai mươi tuổi, em vẫn chưa từng ra khỏi làng, người ta nói, làm trai phải có chí bốn phương. Nghiệp nhà sa sút nếu cứ ngồi há miệng chờ sung, thì đâu phải là kế lâu dài. Đang lúc trời làm hạn hán, giá thóc gạo tăng vọt, có người bạn cũ rủ em đến Sở Trung buôn bán. Lúc đi xa, ai chẳng nhớ quê hương, bạn bè, song điều khiến em chưa dám dứt áo ra đi, đó là mẹ già không ai chăm sóc. Nay có anh; thân thiết như ruột thịt, xin nhờ anh giúp đỡ. Em sợ, khi em đi rồi tình cảm trước đây nhạt dần. Bởi thế, em có ý làm mâm cơm, trước để nói lời tạm biệt, sau việc nhà xin nhờ cậy anh. Sau khi em đi, có việc gì xảy ra, thì nước xa không cứu được lửa gần, điều ấy hoàn toàn nhờ vào anh. Nếu mẹ già của em được cậy nhờ, thì em chẳng phải lo lắng gì nữa. Song điều này đều tùy thuộc vào sự bao dung của anh. Nếu anh bằng lòng, thì em vô cùng biết ơn.
Nghe xong Tưởng Vân vui vẻ nói:
- Anh tuy kém cỏi, nhưng vốn sẵn lòng hào hiệp, anh hứa với em sẽ hết lòng giúp đỡ. Hơn nữa lời thề kết nghĩa anh em vẫn còn đó. Mẹ em cũng như mẹ anh, vợ em là em dâu của anh. Em cứ yên tâm ra đi, không phải vấn vương gì đến việc nhà nữa.
- Anh đã hứa như thế, - Triệu Tương nói, - thì xin anh ngồi lên trên, và nhận của đứa em này một lạy.
Tưởng Vân vội vàng gạt tay, nhưng Triệu Tương đã quỳ xuống lạy, rồi tiếp đó lạy thêm hai lạy nữa. Nước mắt Triệu Tương tự nhiên giàn giụa, chảy tràn xuống má. Tưởng Vân an ủi:
- Em đã tính toán như thế, thì lần này ra đi tất sẽ toại nguyện. Cớ sao lại nước mắt lưng tròng như đàn bà con gái vậy?
Vương thị cứ dặn đi dặn lại con rằng:
- Con đi đường phải cẩn thận, giữ gìn sức khỏe, rồi liệu mà về cho sớm, việc nhà đã có anh con lo liệu. Gạo nước, củi đuốc trong nhà mẹ sẽ tự lo. Chỉ mong con chuyến đi này kiếm được ít lãi thì mẹ cũng chẳng uổng công vất vả.
- Ý em đã quyết, - Tưởng Vân nói, - không biết rằng em định bao giờ thì nhổ neo, để anh còn chuẩn bị chén rượu nhạt tiễn chân.
- Sáng sớm mai em lên đường. - Triệu Tương nói.
- Đã đi ngay ư? - Tưởng Vân nói. - Vậy anh phải thuê thuyền tiễn chân em.
Lúc ấy trời đã gần tối, Tưởng Vân cáo từ ra về.
Ngay đêm ấy Triệu Tương dặn Phùng thị rằng:
- Cửa nhà sớm tối phải cẩn thận, có con trai đến nhà nhất thiết đừng ra mặt.
- Em thấy, đây là việc nhỏ có thể thực lòng nhờ cậy Tưởng Vân, - Phùng thị nói, - nhưng xét kĩ lời nói, sắc mặt và việc làm, e rằng anh ta không phải là người quân tử. Em chỉ lo rằng sau này chẳng có lợi gì cho nhà ta.
- Tưởng Vân là đấng trượng phu nghĩa hiệp. - Triệu Tương nói. - Anh đã thử từ lâu rồi, sao em lại đa nghi như thế.

Đêm ấy vợ chồng trò chuyện, dặn dò nhau đủ mọi điều. Sáng hôm sau, Triệu Vân Sơn, Triệu Tương lên thuyền đi thẳng tới Tô Châu.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5938
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Sat Mar 15, 2014 5:11 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 4 (B)
Từ khi Tưởng Vân gặp Phùng thị múc nước bên giếng. Lúc nào anh ta cũng tơ tưởng đến nàng. Tuy hàng ngày trông thấy nhau, song Phùng thị lại là một người rất trinh tiết. Dù anh cố ý ân cần, hay xa xôi bỡn cợt, nàng cũng không bao giờ mỉm cười. Bởi thế chỉ được nhìn thỏa thích, chứ không dám động đến nàng. Hôm ấy Tưởng Vân tiễn chân Triệu Tương đến Tú Châu rồi chia tay. Trên đường về Tưởng Vân mừng thầm, anh ta nghĩ: "Cho dù Phùng thị không bằng lòng, Vương thị làm trở ngại, cũng không thay đổi được dịp may hiếm có này. Chi bằng trước hết phải đánh đổ được Vương thị, nhất định con ấy phải trong tay mình". Tính toán xong, thuyền cập bến, trước tiên anh ta vào chào Vương thị, sau mới về nhà dọn dẹp khay chén, tiễn chân chủ thuyền. Ngay hôm ấy, Tưởng Vân mua một con cá tươi, một con gà béo, một ít bánh kẹo, sai vợ là Dương Xảo Cô đi lối cửa sau đến nhà Vương thị. Vương thị thấy thế rối rít cảm ơn, nhận gà, cá và giữ Xảo Cô lại ăn cơm tối, lại đưa Xảo Cô về tận nhà. Về đến nhà Xảo Cô giữ Vương thị ở lại ăn kẹo, nấn ná mãi đến tận khuya mới về. Tưởng Vân lại soi đèn đưa chân Vương thị về, rồi khẽ dặn:
- Nhà không có đàn ông, phải chú ý đề phòng bọn trộm. Nếu có động tĩnh nên lắng tai nghe kĩ, chứ đừng coi đó là mèo hay chuột.
- Rất cám ơn anh. - Vương thị nói. - Khuya rồi anh về đi.
Tưởng Vân đi được bốn năm bước lại quay lại nói:
- Dầu tuy đắt nhưng cũng phải đốt một ngọn đèn nhỏ cho vững dạ.
- Hiểu rồi. - Vương thị trên gác nói vọng xuống.
Từ đó Tưởng Vân năng lui tới nhà họ Triệu. Buổi sáng hết củi thì anh ta đi mua, buổi chiều sang có rượu thì uống. Vương thị rất vui, và còn khâu cho anh ta một đôi giày. Tưởng Vân mang giày về, hai hôm sau Vương thị hỏi:
- Giày tôi khâu cho, sao không thấy anh đi, hay là tôi khâu xấu, anh không vừa ý?
- Rất cảm ơn mẹ đã tặng con đôi giày ấy. - Tưởng Vân nói. - Tiếc nó còn mới, con không dám xỏ chân, nên đã cất vào trong tủ.
Một hôm, Tưởng Vân mang đến một tấm lụa hoa, đòi Vương thị cắt quần áo. Hắn ta cố ý để rơi chiếc thước xuống đất, vờ tìm thước, nhưng tay lại cầm lấy chân Vương thị. Vương thị cười nói:
- Anh nhầm rồi, đấy có phải là thước đâu, sao lại cầm chân tôi?
Nếu Vương thị là người trinh tiết, thì lúc ấy phải nói cho anh ta biết, để lần sau anh ta bỏ ý nghĩ xấu xa ấy đi. Song Vương thị lại nói, cầm nhầm, há chẳng phải là có tình ý gì ư. Vương thị tuy tuổi đã ba nhăm, nhưng vẫn đẹp nõn nà, trông chỉ khoảng dưới ba mươi. Từ ngày chồng mất đến nay, đã ở vậy được tám năm. Do cô quạnh, trống trải lâu ngày, nay lại có người đàn ông suốt ngày ở nhà mình, mẹ mẹ con con thân thiết như ruột thịt, đừng nói gì đến Vương thị, mà ngay một người đàn bà trinh tiết e rằng cũng nẩy ra ý nghĩ tà dâm. May có Phùng thị là người đứng đắn, luôn bên cạnh. Vương thị còn e ngại, không dám bờm xơm.
Vì sắp đến ngày sinh nhật, Vương thị muốn mời ni cô ở chùa Quan âm tên là Tĩnh Chiếu tới nhà đọc kinh. Vương thị nhờ Tưởng Vân mua sắm hoa quả, hương nến. Tưởng Vân mừng thầm, nghĩ bụng: "Chỉ cần ta nói với ni cô, thì việc ấy sẽ xong".
Thế rồi ngay hôm ấy hắn mang hai lạng bạc đến chùa đưa cho Tĩnh Chiếu, bàn kín với ni cô sắp đặt mọi chuyện. Tuy chốn cửa Thiền, song Tĩnh Chiếu vẫn quen thói trăng hoa. Thấy bạc, Tĩnh Chiếu tối mắt lại, hứa ngay với Tưởng Vân rằng:
- Cư sĩ chẳng cần phải lo, nhờ vào ba tấc lưỡi của tôi thì chắc chắn việc sẽ xong. Nhưng khi xong việc thì phải hậu tạ.
Tưởng Vân cười khanh khách, gật đầu ra về.
Ngay chiều hôm ấy, Tĩnh Chiếu đến nhà họ Triệu, thấy Vương thị, Tĩnh Chiếu nói:
- Mới ít lâu không gặp chị, nay gặp lại, thấy chị đẹp hẳn ra, ngày càng nõn nà. Chắc chị rất vui.
- Cuộc sống nghèo túng, góa bụa có gì mà vui. - Vương thị đáp.
- Tôi nghe thấy, anh cư sĩ Tưởng là người kết nghĩa anh em, có người giúp đỡ, đấy là cái vui thứ nhất. Lại được tin anh Triệu Tương đi buôn bán xa, kiếm được nhiều tiền, đấy là niềm vui thứ hai. Ngày mừng sinh nhật sắp tới, ấy là niềm vui thứ ba. Lại còn một niềm vui ngoài ý muốn khó mà nói ra được.
- Đa tạ. - Vương thị cười nói. - Sư phụ chỉ biết cái vui của tôi, chứ đâu có biết tôi lo gạo nước, củi đuốc, trông nom cửa nhà đúng là khổ hết chỗ nói. Sắp tới là ngày sinh nhật, tôi đã mua hương nến, muốn mời thầy trò sư phụ tới nhà tụng kinh niệm Phật một ngày, chưa kịp sai người đến mời, ai ngờ cơn gió lành đã đưa sư phụ tới đây.
- Cũng chính vì thế mà tôi đến đây. - Tĩnh Chiếu nói. - ở nhà ồn ào không tiện, chi bằng chị mang hương nến đến chùa, núi rừng vắng vẻ, cùng với nhà chùa tụng kinh niệm Phật, tiện biết mấy. Không biết ý chị thế nào?
- Được thế thì tốt quá Vương thị nói. - Tới hôm ấy tôi sẽ đến sớm lễ chùa.
Vương thị định làm cỗ chay khoản đãi, nhưng Tĩnh Chiếu từ chối ra về. Bởi thế có thơ rằng:
Mừng thọ trở thành hội uyên ương,
Nhà sư đã chỉ đất đưa đường.
Hôm ấy, Vương thị dậy sớm trang điểm, để Phùng thị ở nhà, cùng Tưởng Vân và một thằng nhỏ mang hương nến, hoa quả tới chùa. Nhìn quanh thì ở đây quả là chốn thiền môn thanh u tịch mịch. Chỉ thấy:
Cửa ngoài rêu biếc một màu xanh,
Bên dậu thùy dương khói tỏa cành.
Chỉ thấy một làn mây bạc mỏng,
Lượn lờ cánh hạc nhẹ nhàng bay.
Tĩnh chiếu mời vào chùa, tòa sen đèn nến sáng trưng, khói hương nghi ngút. Thầy trò Tĩnh chiếu đã niệm hết một quyển kinh Dược sư. Vương thị quỳ xuống lễ Phật, rồi được nhà chùa mời tới phòng uống nước. Tĩnh Chiếu nói:
- Tưởng cư sĩ cũng tới đây cùng uống trà.
- Đa tạ sư phụ, - Vương thị nói, - không có người ngoài, chúng tôi ngồi ăn chung cũng được.
Vì đã ăn sáng nên thầy trò Tĩnh chiếu vẫn ngồi tụng kinh trước Phật đường. Tưởng Vân dẫn Vương thị ngắm nhìn phong cảnh xung quanh, luôn nói những lời gợi tình để dụ dỗ. Vương thị chỉ mỉm cười chẳng nói gì. Lát sau Tĩnh Chiếu giục họ tới ăn chay. Chờ cho Vương thị và Tưởng Vân vào phòng. Tĩnh Chiếu nói:
- Hai vị cứ ngồi ăn uống tự nhiên, tôi lên thắp một tuần nhang nữa rồi sẽ trở lại tiếp hai vị.
Nói xong Tĩnh Chiếu nháy mắt ra hiệu cho Tưởng Vân, rồi khép cửa phòng lại. Tưởng Vân tươi cười đến bên Vương thị, quỳ xuống nói:
- Nỗi đau khổ của tôi nàng có biết không?
Vương thị đập nhẹ vào vai Tưởng Vân mỉm cười chửi:
- Đồ con khỉ, ý xấu của anh tôi đã biết từ lâu rồi, có điều ở đây không thể làm thế được đâu? Nhỡ ra Tĩnh Chiếu đột ngột vào thì ê mặt.
Lúc ấy ngọn lửa tình dục của Vương thị đã bùng lên không sao dập được, để mặc Tưởng Vân bế lên giường, cởi quần áo, rồi phút chốc mây mưa. Một chàng trai khinh bạc, một người đàn bà từ lâu góa chồng, chẳng khác nào củi khô bén lửa. Họ tận hưởng khoái lạc đến tột độ, bỗng chốc mồ hôi đẫm áo, hồn vía mê man. Từng có bài thơ chửi Tưởng Vân phụ nghĩa bạc tình như sau:
Anh em kết nghĩa đã thề bồi, Ai hay dạ thú lại mặt người. Chi tiếc Phật đường nơi thanh tịnh, Mà sao giường chõng sặc tà dâm.
Tưởng Vân thỏa mãn dâm đãng tại chùa, tràn trề sung sướng. Từ đó về sau, cứ cách một đêm lại lẻn tới buồng Vương thị mây mưa khoái lạc. Có điều mẹ chồng nàng dâu ở hai phòng liền nhau, chỉ cách một vách gỗ mỏng, không thể che giấu được những tiếng sột soát. Phùng thị nằm sát vách, nghe rõ mồn một. Thực ra, Tưởng Vân muốn "mượn đường đánh Hoắc", khi đã thông dâm với Vương thị, gã càng táo tợn. Mỗi khi gặp Phùng thị gã sờ tay nắn chân, đùa cợt khêu gợi, Phùng thị không dám lên tiếng, chỉ ngấm ngầm tức giận. Một đêm, sau khi mây mưa, Vương thị bế Tưởng Vân nói:
- Tuy được chàng gian díu mấy đêm, chỉ sợ người bên kia vách nên chưa từng có hôm nào là thỏa thích, ngay nói cũng không được, thế thì sao gọi là sướng.
- Làm như thế, - Tưởng Vân nói, - anh cũng cảm thấy buồn chán. Từ nay về sau cứ làm bừa đi, chẳng việc gì mà ngại.
- Thế sao được. - Vương thị lắc đầu nói. - Nếu nó nghe thấy chẳng hóa ra mặt mo à.
- Nếu muốn nó không biết, - Tưởng Vân nói, - thì thôi không làm nữa. Mà giấu thì có giấu được mãi không. Thôi cứ lôi nó cùng xuống vũng bùn để bịt mồm nó lại. Sau này chồng nó về, anh còn dịp đi lại, chứ không đến nỗi đoạn tuyệt với em.
- Anh nói đúng. - Vương thị trầm ngâm hồi lâu nói. - Chỉ có điều như thế thì rẻ rúng anh quá.
Hai người nói với nhau như thế, càng thấy hứng tình, họ lại tiếp tục mây mưa một lần nữa. Về sau, mỗi khi Tưởng Vân bắt chuyện với Phùng thị, Vương thị cố ý lánh đi chỗ khác.
Người xưa thường nói: "Thượng bất chính, hạ tắc loạn". Phùng thị là người rất đoan chính, thì Tưởng Vân làm sao lôi kéo được. Song đến khi ngủ, lại nghe thấy những lời dâm đãng, tình dục lâu ngày không được đáp ứng, Phùng thị chịu đựng sao được, chỉ vì sợ mà Phùng thị không dám bước vào con đường tà dâm. Tưởng Vân lại bịa chuyện để đánh lừa:
- Hôm qua có một người từ Vũ Xương trở về, nói rằng có một người bạn họ Triệu cùng ở chung đã đi lại với một kỹ nữ, vốn liếng mất hết không về được nhà. Tôi nghĩ rằng, từ đây đến Hồ Quảng không xa, thóc gạo rất dễ mua, sao lại mắc kẹt ở đấy lâu như thế, chẳng thấy tin tức gì? Hay là có việc đó thật, mà ta chưa biết được.
Phùng thị nghe xong chẳng biết thực hư thế nào, nổi máu ghen, lòng dạ bỗng nhiên thay đổi, nói:
- Anh ấy ở ngoài vui thú, chẳng nhòm ngó gì đến ta, ta hà tất phải giữ mình làm gì cho khổ.
Đàn bà vốn là người đoan chính trinh tiết, song sự ghen tuông đố kỵ cũng thật là ghê gớm. Khi ý nghĩ Phùng thị đổi thay, lại có Vương thị bên cạnh luôn luôn khen Tưởng Vân, điều đó khiến Phùng thị càng có cảm tình với Tưởng Vân. Một hôm ba người ngẫu nhiên nói tới chuyện Tây Sương Ký, Phùng thị nói:
- Thôi Oanh Oanh là một người con gái thất tiết, nói mà làm gì.
Vương thị nghe thấy tái mặt nói:
- Dục vọng giữa đàn ông và đàn bà ai ai cũng có. Con hãy xem những người đàn bà trên đời này, giữ được trinh tiết có mấy người. Chỉ cần chọn người mà chơi, không đến nỗi dâm đãng là được. Ngựa nào mà chẳng ăn cỏ. Nhũng chuyện như thế đầy dẫy nói sao hết được.
Phùng thị cúi đầu chẳng nói gì.
Chạng vạng tối hôm ấy, Tưởng Vân mua một con cá trắm còn tươi rói, mang xuống bếp. Đúng lúc Phùng thị đang đứng một mình. Tưởng Vân nói:
- Nghe thấy thím thích ăn cá tươi, anh nhã ý mua con cá này cho thím làm bữa tối.
- Tôi chẳng có gì ngon đưa đến biếu anh, sao anh cứ vẽ vời thế.
Phùng thị vừa nói vừa giơ tay cầm lấy cá. Tiện tay, Tưởng Vân nắm chặt lấy cổ tay trắng như ngó cần. Phùng thị mỉm cười vờ như không biết, Tưởng Vân mừng thầm thấy cá đã cắn câu, rồi đem lời chòng ghẹo. Thấy Phùng thị cúi đầu, hai tay đỡ lấy ngang hông, vội vàng bước lên lầu, Tưởng Vân rón rén bước theo. Thò đầu nhìn vào, thấy Phùng thị đang mở nắp thùng đi tiểu. Khi đi xong, vén mông đít trắng phôm phốp, lấy giấy lau. Không ngờ Tưởng Vân đứng đằng sau nhìn thấy, lửa tình ngùn ngụt bốc cháy, xông tới ôm chầm lấy ngang lưng. Cuống lên, hai má Phùng thị đỏ nhừ, khẽ kêu lên:
- Trời ơi! Giữa ban ngày anh làm trò gì thế, tôi kêu lên thì anh mất mặt.
- Anh yêu em vô cùng. - Tưởng Vân nói. - Nếu ôm được tấm thân ngọc ngà của em, anh chết cũng cam, cần gì đến thể diện.
Phùng thị van nài mãi, nói:
- Nếu thế thì hãy buông tay ra, chờ đến đêm tôi sẽ ngủ với anh.
- Chỉ sợ em lừa để thoát thân, rồi giở quẻ. - Phùng thị nói.
- Nếu tôi giở quẻ thì tôi sẽ chết. - Phùng thị nói.
Lúc ấy Tưởng Vân mới tin, lập tức buông tay. Váy áo Phùng thị chưa kéo xuống, vẫn lộ ra bộ mông nõn nà phốp pháp, Tưởng Vân cứ thế xoa vuốt ở đó rất lâu. Đường lên Vu Sơn(1) đã mở, quả nhiên đêm ấy trở thành giấc mộng mây mưa. Đúng là:
Đàn ông dâm đãng hay lừa dối,
Đàn bà như nước khó giữ mình.
(1) Vu Sơn: núi tiên ở (ND).
Tưởng Vân lôi kéo được Vương thị, thế rồi hằng đêm hai mẹ con thay nhau dâm đãng. Từ ngày đó Tưởng Vân hằng ngày ra vào nhà Vương thị chẳng hề sợ sệt. Song cái kim bọc giẻ lâu ngày cũng ra, làm sao mà giấu được tai mắt mấy nhà hàng xóm. Anh thợ may Đổng Cận Tuyền, thường đem chuyện kín ra mua vui, hòng gạ gẫm Tưởng Vân. Anh ta nghĩ, mình là người biết chuyện kín của họ, nếu muốn bớt đi những điều thị phi sau này, thế nào Tưởng Vân cũng mời uống rượu. Song Tưởng Vân cậy mình đi lại chốn quan trường, kết thân với những người chức sắc, không coi Đổng Cận Tuyền ra gì, nên không muốn hoài của mời anh ta. Thấy không được mời chào, Cận Tuyền bực bõ không vui. Chỉ chờ Triệu Tương về là anh ta mách Triệu Tương bắt bọn gian dâm.
Triệu Vân Sơn cùng Triệu Tương rời khỏi nhà, suốt dọc đường không có chuyện gì xảy ra. Đến thành Hồ Nam, vào trạm giao dịch buôn bán. Giữa lúc đang định mua hàng, vì một tranh chấp nhỏ mà xảy ra đánh nhau. Hai người bị bắt, song Triệu Tương may mắn được tha, còn Triệu Vân Sơn phải ngồi tù.
Hằng ngày Triệu Tương đưa cơm và lo lót nha môn cho Triệu Vân Sơn, từ đầu tháng sáu đến cuối tháng chín, lưng vốn cạn kiệt, lúc đó Vân Sơn mới được tha. Hai người ấm ức thất vọng, đành thu xếp hành lý trở về, lúc đó đã vào giữa tháng mười.
Hai người về nhà Triệu Vân Sơn, đặt hành lý xuống, Vân Sơn lấy ra một ít bạc lẻ, đưa cho Triệu Tương, nói:
- Tôi với anh vận rủi, mắc phải kiện cáo. Mặc dù tôi đã mất hết vốn, nhưng sao tôi lại để anh tay không trở về. Hãy mang mấy lạng bạc lẻ này về chi dùng. Chờ tôi đòi nợ, sẽ cho anh mượn thêm làm vốn.
Triệu Tương xa nhà lâu ngày, thương mẹ, nhớ vợ, chỉ mong nhanh chóng về nhà, vội vàng cầm tiền bỏ vào tay áo, rồi từ biệt Vân Sơn trở về.
Tới nhà, mặt trời đã đứng bóng, cổng vẫn chưa mở, gõ cửa liên hồi mấy lần, không thấy mẹ và vợ ra. Vì cùng Tưởng Vân giở trò ma mãnh suốt đêm, nên hai mẹ con gần trưa mới ngủ dậy, đang chải đầu rửa mặt, thì thấy tiếng gõ cửa, lắng nghe, biết là Triệu Tương đã về. Bỗng chốc họ run lên sợ hãi. Phàm là những người đi xa trở về, gặp nhau đáng lý ra phải vui mừng khôn xiết, nhưng vì sao họ lại giật mình sợ hãi, gượng gạo nói cười, nhưng nỗi xấu hổ làm sao che giấu được. Còn người trở về buồn ủ rủ, mặt mày phờ phạc, cúi đầu thở dài, lại không thấy người vận chuyển hàng hóa, lúc đó Vương thị mới hỏi:
- Vì sao con nấn ná mãi ở Hà Quảng đến nay mới về? Mua được những hàng gì? Sao không bảo người ta chuyển về?
Triệu Tương bèn kể lại tỉ mỉ chuyện xảy ra từ đầu đến cuối.
- Em không tin anh lại gặp tai họa ngang trái như thế. - Phùng thị nói. - Nhất định là do anh say mê bọn kỹ nữ ở đường hoa ngõ liễu, nên mới mất hết cả vốn liếng. Nay mới bịa ra những chuyện không đâu như thế.
Triệu Tương đang định phân trần, thì nghe thấy tiếng gõ cửa. Hóa ra Tưởng Vân đến thăm, Triệu Tương vội vã mời vào, rồi cảm ơn rối rít. Tưởng Vân nói:
- Tình cờ tôi gặp Triệu Vân Sơn, biết em đã về. Lại nghe em gặp phải chuyện không may. Thật là đáng tiếc. Thua keo này ta bày keo khác, cũng chẳng muộn gì. Đường còn dài, hà tất em phải bận tâm.
- Em là người lỡ thời, thất thế. - Triệu Tương thở ngắn than dài nói. - Em chẳng còn có ngày cất đầu lên được.
Triệu Tương lại kể những chuyện đã xảy ra một lần nữa, rồi mới vội vàng chuẩn bị rượu thịt, hoa quả đãi Tưởng Vân.
Tối ấy khi đang uống rượu thì mẹ và vợ bước ra tươi cười, liên tục rót rượu mời. Triệu Tương thấy hơi nghi ngờ, tới khi ngủ, lúc vợ chồng ân ái thì Phùng thị tỏ ra miễn cưỡng, không thấy vồ vập thích thú như trước. Khi chuyện ấy xong, Phùng thị cứ khen Tưởng Vân, làm Triệu Tương rất buồn. Sáng hôm sau, Triệu Tương dậy sớm, rửa mặt, chải đầu, sau đó anh sang các nhà hàng xóm thăm dò, cuối cùng tới nhà người thợ may họ Đổng. Đổng Cận Tuyền kéo anh ra sau nhà, bảo anh ngồi xuống, hỏi qua về tình hình làm ăn. Đổng Cận Tuyển nói:
- Từ khi anh đi tới nay thấm thoát đã nửa năm, khiến hai chúng tôi luôn luôn mong nhớ anh. Không ngờ anh đi gặp điều chẳng lành, mất hết vốn, nhà lại không người trông nom. Lão già cổ hủ, tuy ở sát nhà, nhưng nhà nào có cổng nhà ấy, sao mà quản được. Từ nay nhất thiết anh đừng đi đâu xa, sớm tối nên có người, với lại cũng phải đề phòng. Thể diện của người đàn ông là rất quan trọng, lão già cổ hủ này cũng nói thế thôi, xin anh đừng giận.
Triệu Tương nghe thấy thế ấm ức không vui, đứng dậy ra về. Lúc ấy Triệu Vân sơn và một số bạn bè thân thiết dọn rượu trên thuyền, ở hồ Bạch Long. Người đến mời đang chờ ở nhà, Triệu Tương không thể từ chối, bèn cùng họ kéo nhau ra thành phố. Tới nơi, cơm sáng nhà thuyền đã chuẩn bị sẵn. Ăn xong, đánh mấy ván cờ tiêu khiển, gần trưa lại dọn rượu ra uống, cho mãi tới vàng vàng mặt trời mới về. Triệu Tương say khướt, bước đi loạng choạng. Sắp tới nhà, anh nhớ lại như in những điều Đổng Cận Tuyền nói. Triệu Tương không đi lối cửa trước, mà vòng ra cửa sau, ghé sát tai vào cửa nghe, quả nhiên thấy Tưởng Vân đang nói bên trong. Lúc đầu họ nói thì thào Triệu Tương không nghe rõ, sau lại chỉ nghe thấy hai câu: "Đụng đầu nhau thì ngượng mặt, anh phải đi lối cửa sau thôi".
Triệu Tương lúc ấy đã tỉnh rượu, đột nhiên đùng đùng nổi giận. đang định gõ cửa vào, bỗng nghe thấy tiếng động. Tưởng Vân mở cửa bước ra. Hai người chạm trán nhau, Triệu Tương không kìm nổi, tung người lao tới. Tưởng Vân cho rằng đó là người hàng xóm đến dò la, đột nhiên máu sôi lên. Đè Triệu Tương xuống tống liền mấy quả. Đúng lúc ấy mẹ và vợ mang đèn chạy ra, thấy có người nằm soài dưới đất, vội vàng soi đèn thì thấy đó là Triệu Tương. Sợ quá, Tưởng Vân buông tay chạy vụt đi.
Vương thị, Phùng thị hốt hoảng tới, đỡ Triệu Tương dậy, dìu lên gác. Triệu Tương để nguyên cả quần áo rồi ngủ thiếp đi. Mẹ chồng và nàng dâu cùng đi xuống dọn dẹp bát dĩa. Một lát sau, nghe thấy tiếng gọi mang trà, Phùng thị vội vàng pha trà, hai tay bưng lên cho chồng. Triệu Tương mắt trừng trừng cầm lấy, ném vào mặt Phùng thị. May mà Phùng thị kịp thời tránh được, chiếc chén rơi xuống sàn gỗ vỡ tan tành. Phùng thị nói:
- Anh đi hàng nửa năm trời, vốn liếng hết sạch, nay về lại sinh ra cái thói rượu chè.
- Đồ đĩ, chứa trai trong nhà lại còn già mồm. - Triệu Tương nổi giận lôi đình thét lên. - Tao hỏi mày, thằng vừa đi ra cửa sau là thằng nào?
- Anh đừng có nói càn, anh uống rượu say bét nhè rồi ngã, em và mẹ đã dìu anh lên đây, chứ có người nào ra đâu. Anh hoa mắt rồi.
- Đồ đĩ! - Triệu Tương gào lên chửi. - Mày chứa trai trong nhà, tao đã biết hết rồi, con dâm phụ kia, sớm muộn tao cũng giết chết mày.
Vừa nói Triệu Tương vừa giơ tay túm tóc tống túi bụi vào người Phùng thị. Vương thị đang dọn dẹp bên dưới, nghe thấy tiếng Phùng thị kêu la, bèn hoảng hốt chạy lên giằng tay Triệu Tương, ra sức khuyên can. Nhưng Triệu Tương cứ túm chặt lấy tóc Phùng thị không buông tha. Vương thị cuống lên cắn vào cổ tay, lúc đó Triệu Tương mới buông. Phùng thị thoát thân bỏ chạy.
Triệu Tương càng phẫn nộ, định chạy xuống đuổi theo. Vương thị cản lại. Triệu Tương nói:
- Tôi phải xé xác con dâm phụ chứa trai ấy, ai khiến bà khuyên can. Bà và nó cũng cùng một giuộc.
Câu nói ấy đã động đến gan ruột Vương thị. Bà ta bèn đấm ngực, dậm chân gào khóc, chửi bới:
- Mày là đứa súc sinh vô liêm sỉ, bị vợ cắm sừng. Tao là mẹ mày, ở nhà vất vả khổ sở, mong kiếm được bữa rau bữa cháo. Mày mang đi hai trăm lạng không biết vì sao tiêu hết, chỉ còn lại cái túi rỗng mang về. Tao không trách móc mày nửa câu, thế mà mày lại còn đơm đặt ra những điều vô căn cứ để hãm hại người. Thôi thì mày đánh vợ mày cũng được, sao mày lại lôi cả tao xuống vũng bùn. Tao ở vậy từ ngày mày mới mười hai tuổi, đến nay, mày xem, con mẹ mày ăn nằm với đứa nào? Mày đã tận mắt bắt được mấy lần, mà mày lại nói những lời như thế, thằng súc sinh ngỗ ngược kia, tao thà chết quách đi cho xong.
Bà ta cứ gào thằng súc sinh chửi mãi cho tới sáng. Triệu Tương ngủ trên giường vừa đau buồn, vừa giận dữ. Đợi khi tiếng chuông báo tàn canh, Triệu Tương dậy tới ngay nhà TriệuVân Sơn bàn bạc.
Trời dần dần sáng, Vương thị dậy xuống nhà dưới. Tìm Phùng thị khắp nơi nhưng không thấy. Đi tới cửa sau thấy cánh cửa khép hờ, sợ Phùng thị đột nhiên phẫn chí nhảy xuống giếng, bà ta bèn lấy chiếc sào phơi quần áo, thọc xuống giếng khua, nhưng vẫn không thấy tăm hơi. Vương thị cuống lên, vội vã chạy tới nhà Tưởng Vân bàn bạc:
- Thằng súc sinh chết giẫm, trời chưa sáng đã bỏ đi, không biết nó đi đâu, cả vợ nó, tìm khắp nơi không thấy. Làm thế nào bây giờ?
- Tôi đã có cách, - Tưởng Vân nói, - không cần bà lo nghĩ. Việc này nhất định là do Triệu Vân Sơn, hắn biết nhà bà có nhiều tiền bạc, nên đã tìm cách lấy đi hai trăm lạng rồi. Hôm qua nó lại tới gọi đi ăn uống, chắc là hắn lại giở trò gì nữa đây. Chỉ sợ bà không nghe tôi, lại xảy ra xô xát, cãi nhau, khiến bà không mở mồm được. Ngay cả việc ấy nữa, cho dù có kẻ đâm bị thóc, chọc bị gạo, thì người xưa đã nói: phải bắt được trai trên gái dưới, đằng này có ai biết đâu. Theo tôi, phải lên huyện kiện nó về tội ngỗ ngược bất hiếu, để quan trị nó một trận, lần sau sẽ không dám chống đối lại. Nếu không sẽ nuôi nết nó, sau này muốn gì được nấy, sẽ chẳng coi bà ra gì. Nó bị thằng Triệu Vân Sơn bày mưu lừa gạt, thì tôi với bà cũng đoạn tuyệt từ đây.
- Anh nghĩ rất đúng. - Vương thị gật đầu nói. - Vậy anh hãy viết cho tôi lá đơn, tôi sẽ lên huyện ngay.
- Tôi viết đơn thì không được, - Tưởng Vân nói. - Tôi có một người bạn ở ngay trước huyện đường gọi là Đường Sơn Tử. Chỉ cần bà đến nhà, nhờ anh ấy viết đơn, sau bảo anh ấy dẫn vàoHiện quan đang ngồi tại huyện đường, việc này không nên chậm trễ, phải nhanh chóng vào thành mới là diệu kế.
Vương thị vội vàng ra về, lấy chiếc khăn cũ chít đầu. Khóa cửa, kéo theo Tôn Ẩu, một người hàng xóm bán hoa làm bạn lên huyện đưa đơn kiện.
Tưởng Vân biết bố vợ của Triệu Tương là Phùng Bá Nguyên, ngụ tại đầu cầu phía nam, trước Đông Sát Viện. Đi một mạch lên nhà họ Phùng, Tưởng Vân nói với Phùng Bá Nguyên rằng:
- Cháu không dám bịa đặt điều gì, song có một việc lạ lùng oan khuất cần nói cho bác biết. Từ khi con rể quý của bác là Triệu Tương đến đất Sở xa xôi buôn bán, người con gái yêu quý của bác ở nhà không ra khỏi cửa, làng xóm ít khi gặp mặt. Ai ngờ Triệu Tương, con rể bác, tối hôm kia trở về. Khi đi anh ấy mang hơn hai trăm lạng bạc, hẳn là do chơi bời tại lầu xanh, nên đã tiêu hết nhẵn số bạc đó. Điều ấy không thể không làm cho con gái bác bực bội. Con rể bác vì thế mà đâm ra thù hận. Đêm qua đã uống rượu say khướt ở hồ Bạch Long, khi về nhà một mực đổ oan cho con gái bác gian dâm, rồi cứ thế đánh từ lúc còn mặt trời cho mãi tới tận canh hai. Đến nỗi uất ức không chịu được, cô ấy đã bỏ nhà đi từ lúc nửa đêm. Sáng nay tìm khắp mọi nơi vẫn không thấy. Theo bà mẹ nói, thì mình mẩy thâm tím, tóc bị đứt mất quá nửa, thật là thê thảm, ai nghe thấy cũng phải đau lòng. Vợ chồng hục hặc với nhau, chẳng liên quan gì đến cháu, song nghĩ, lòng dạ con người thật khó lường, nhất định sẽ bị liên lụy đến láng giềng. Nên cháu đến đây báo cho bác biết.
Phùng Bá Nguyên nghe xong, không kìm nổi, nước mắt rơi lã chả, nói:
- Già này gần sáu mươi tuổi, chỉ còn mỗi giọt máu này nhưng lại bị thằng súc sinh lăng nhục, nửa đêm đã bỏ nhà ra đi, không biết sống chết thế nào. Già này phải lên huyện cáo quan bắt nó phải đền mạng. May nhờ anh là người trọng nghĩa báo cho biết, tôi vô cùng đội ơn anh. Lát nữa lên huyện tố cáo, tôi muốn nhờ anh làm chứng, liệu có được không?
- Cháu là người hàng xóm, - Tưởng Vân nói, - bất đắc dĩ phải đến báo cho bác, còn như đưa đơn kiện, xin bác suy nghĩ kỹ. Việc này can hệ tới tình bố con, không thể vì giận dữ nhất thời mà làm thương tổn đến tình cảm sau này.
Nói xong, Tưởng Vân định đứng dậy ra về, bỗng thấy một. người mồ hôi nhuễ nhại chạy đến. Người ấy nói đúng như Tưởng Vân, không sai một câu. Hắn là người được Tưởng Vân nhờ, mạo nhận là láng giềng đến báo tin. Phùng Bá Nguyên lập tức viết đơn tới ngay huyện Hoa Đình.
 
Tri huyện đang làm việc tại công đường, thì Vương thị xin được vào. Nghe Vương thị tố cáo, lập tức tri huyện sai người bắt Triệu Tương thẩm vấn. Vì sao quan huyện lại dễ dàng bắt Triệu tương tới xét hỏi như vậy? Vốn, việc cáo giác con ngỗ ngược, bất hiếu, khác với việc cáo giác khác. Muốn bắt người tra xét, trước tiên phải viết trát đòi lên xét xử, việc đó kéo dài thời gian. Nếu như sai nhân nhận hối lộ còn có thể phải gác lại. Chỉ có kẻ ngỗ ngược bất hiếu là lập tức sai bắt để xét xử ngay. Tri huyện cho gọi Vương thị vào hỏi tỉ mỉ, rồi gọi Triệu Tương hỏi:
- Mày mang hai trăm lạng bạc, ra ngoài nửa năm trời, không những không sinh lợi, mà bỏ về tay không. Rõ ràng là đứa con bất hiếu. Hơn nữa, về nhà được hai ngày, uống rượu say, lăng nhục vợ. Mẹ đẻ dùng lời hơn lẽ thiệt khuyên can, mày lại nói những lời vô căn cứ, ngược đãi phản bội lại cha mẹ. Điều ấy có khác gì loài cầm thú.
Triệu Tương vừa định thanh minh, thì quan huyện đã rút ra bốn chiếc roi vút xuống. Lính hầu hai bên đồng thanh quát thét lôi Triệu Tương ngã sấp xuống đất. Đáng thương thay, da thịt non nớt chưa từng chịu đòn roi, bỗng chốc bị đánh rách da toạc thịt máu tươi lênh láng. Tri huyện lại gọi Vương thị dặn rằng: - Tội bất hiếu ngỗ ngược xưa nay bản huyện rất căm ghét, đáng lẽ phải đánh chết. Song nghĩ rằng chồng bà chết sớm, chỉ còn một đứa con, ta chỉ đánh trừng phạt để răn dạy sau này. Bà cũng phải hết lòng dạy dỗ, đừng làm tổn thương đến tình mẹ con.
Nói xong bảo người đuổi ra. Lúc ấy Phùng Bá Nguyên đã đứng ngoài hiên, chờ xét xử xong mở rèm bước vào, luôn mồm kêu oan khuất. Lính canh vội ngăn lại, nhưng ông ta quỳ ngay xuống trước bàn. Tri huyện cầm lấy đơn xem, đó là lá đơn Phùng Bá Nguyên kiện Triệu Tương. Tri huyện bèn bảo lính hầu gọi Vương thị và Triệu Tương quay lại. Quát hỏi:
- Mày đã đánh đập vợ, hiện giờ nó ở đâu? Phùng Bá Nguyên đã đưa đơn kiện mày về nhân mạng, mày hãy trả lời đi.
- Con có đánh vợ thật. - Triệu Tương nói. - Nhưng sau đó vợ con chạy xuống dưới lầu. Con bị mẹ con ngăn lại ở trên gác. Đến canh năm con đi khỏi nhà. Hiện vợ con ở đâu con không biết.
Quan huyện lúc ấy chưa biết giải quyết thế nào, bèn giam Triệu Tương vào ngục. Chờ bắt được Phùng thị mới xét xử tiếp. Cho tất cả mọi người về.
Chỉ có Triệu Tương hai chân đẫm máu, phải giam vào ngục tối. Tới nhà ngục, nước mắt giàn giụa không sao cầm nổi, rồi như một đống thịt đổ xuống nền nhà ngục. Những người coi ngục xúm đến hỏi, thấy vậy ai cũng thương anh. Ngoài cửa bỗng có tiếng gọi. Triệu Tương quay ra, thì đó là Triệu Vân Sơn và thằng nhỏ mang rượu, thịt cá tới thăm. Triệu Tương gặp Triệu Vân Sơn sự uất ức lại nghẹn lên, hai hàng nước mắt trào ra, vừa nhắc đũa gắp một miếng thịt, bỗng nhiên ngất lịm đi ngã lăn ra đất. Triệu Vân Sơn an ủi:
- Em ơi, em đã phải chịu hình phạt ở công đường, chắc mẹ em cũng không còn giận nữa. Vợ em rồi sẽ về, em bị giam cũng chỉ mấy hôm là được tha. Em không phải nghĩ ngợi, đau khổ.
Rồi Triệu Vân Sơn lại nói với người coi ngục là Lý Kính rằng:
- Thưa bác, đây là tai họa không đâu, chỉ tạm giam, khác hẳn tội phạm khác, tôi có lạng bạc, xin bác cầm mua giúp tôi ít thức nhắm, chúng ta cùng uống chút rượu cho khuây khỏa. Còn hai lạng này xin biếu bác, nhờ bác hằng ngày tận tình giúp đỡ Triệu Tương. Nếu có người nào đến xúi bác hại em thì bác đừng làm. Sau này có chuyện gì xảy ra, cháu sẽ bàn với bác.
Lý Kính rất vui vẻ, hứa sẽ giúp đỡ. Bởi thế, bị giam cầm, nhưng Triệu Tương không đến nỗi phải chịu khổ.
Lúc đầu Vương thị lên huyện tố cáo con, chẳng qua là muốn răn dạy con. Ai ngờ biến giả thành thật, khiến con phải giam vào ngục. Còn vợ Triệu Tương, đã cho người đi tìm khắp nơi mà chẳng thấy. Đêm đêm, Vương thị cứ trằn trọc không sao ngủ được, thấy hối hận về việc đã làm. Rồi một hôm Vương thị dậy sớm, đến bàn với Tưởng Vân. Tưởng Vân nói:
- Nếu như đưa biếu quan một ít bạc, thì có thể đảm bảo Triệu Tương được tha.
Vương thị phải bán hết đồ trang sức, quần áo được khoảng hơn bốn mươi lạng bạc, rồi giao hết cho Tưởng Vân. Tưởng Vân giao cho Xảo Cô đi thu xếp công việc. Xảo Cô tìm gặp Ly Kính, nói:
- Nếu ông thu xếp xử tử được Triệu Tương ngay thì sẽ biếu mười lạng bạc, quyết không sai lời hứa.
Rồi Tưởng Vân tìm gặp Phùng Bá Nguyên, nói:
- Con gái bác nửa tháng nay vẫn biệt vô âm tín, hẳn là đã chết chẳng còn nghi ngờ gì nữa. Nếu không bẩm lên quan, điều tra ngay để kết tội, thì con bác phải ngậm oan nơi chín suối.
- Lão cũng phải tìm cho ra nhẽ. - Phùng Bá Nguyên nói. Bởi thế còn nấn ná chưa tố cáo. Nay được ông chỉ bảo, tôi vô cùng biết ơn. Sau này xử án, còn mong ông giúp đỡ.
Tưởng Vân vâng dạ ra về. Ngay hôm ấy Phùng Bá Nguyên đưa đơn kiện. Đúng lúc quan huyện đang thẩm vấn lại một phạm nhân. Tri huyện lại cho gọi Triệu Tương tới, đánh cho hai mươi roi, rồi cho người cùm kẹp. Triệu Tương chết đi sống lại đau đớn khóc lóc thưa rằng:
- Ngài có cùm kẹp chết, con cũng cam chịu. Nếu như tra hỏi vợ ở đâu, thì quả thực con không biết, thế thì con khai sao được.
Tri huyện cũng thấy thương tâm, không cùm kẹp đánh đập Triệu Tương nữa, nhưng vẫn phải giam chờ xét sau.
Vương thị tận mắt thấy con chịu hình phạt, vô cùng đau đớn. Về nhà oán trách Tưởng Vân:
- Tôi phải bán quần áo, đồ trang sức đi, lấy tiền đút lót cho quan, anh bảo đưa rồi quan đã nhận hối lộ sao vẫn còn hành hạ nó như thế?
- Nếu quan không nhận được lễ vật của bà, - Tưởng Vân nói, - thì hôm nay đã tra khảo kết tội rồi, chứ đâu được tha thứ. Có điều dù quan có thương tình thì cũng phải trừ tận gốc, bây giờ ta phải nói thẳng với Phùng Bá Nguyên mới được.
Rồi Vương thị lại lấy từ trong tráp ra tờ văn khế mười mấy mẫu ruộng giao cho Tưởng Vân định giá, đưa cho Phùng Bá Nguyên để Bá Nguyên im đi. Tưởng Vân vớ được tờ văn khế, lập tức xuống làng gặp chủ thuê ruộng, viết lại tờ văn khế nhận ruộng khác. Xong việc tưởng Vân tới gặp Cố Kính, nói:
- Tờ khế ước vay nợ của Triệu Tương lần trước tôi đã sao ra một bản, rồi trả lại. Như vậy bản gốc còn ở chỗ anh. Nay Triệu Tương phạm tội phải tù, mẹ nó còn có nhiều của cải. Nếu anh cùng với mấy người anh em nữa, đến nhà nó làm rùm beng lên, mụ quả phụ ấy sẽ phải đến tìm tôi, thì từ đó, chúng ta có thể gỡ gạc được. Tôi hứa sẽ chia đều cho các anh.
Cố Kính thấy thế mừng rỡ nói:
- Tôi đâu dám không nghe lời dạy bảo của anh.
Ngay lập tức hắn dẫn một số người đến nhà Vương thị gây gổ. Vương thị cuống lên, tìm đến Tưởng Vân nhờ phân xử. Sau đó Vương thị đành phải bán hết bàn ghế, đồ đạc để hoàn trả. Chỉ có lần ấy mà cũng tốn hơn mười lạng bạc. Vương thị ngày càng uất ức, không ăn uống được, chưa đầy một tháng thì đổ bệnh. Đêm lâm chung, bà ta nghiến răng oán hận Tưởng Vân, bà nói:
- Nếu không có thằng khốn nạn ấy thì nhà ta sao đến nỗi này.
Bà kêu lên một tiếng, máu ộc ra hàng chậu, rồi tắt thở.
Từng có bài thơ than tiếc Vương thị:
Con vào ngục tối, dâu mất tích,
Ân ái đâu ngờ thành nghiệp oan. Nếu như khóa kín phòng xuân lại,

Thì sao ngậm tủi dưới suối vàng.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5938
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Sat Mar 15, 2014 5:28 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 4 (C)
Từ khi Triệu Tương mắc oan, thấm thoát đã nửa năm. Tuy mấy lần thẩm vấn, song Phùng thị vẫn biệt vô âm tín, trở thành nghi án. Một hôm từ huyện đường về phòng giam Triệu Tương gặp Chu Thanh Hà. Chu Thanh Hà là người từng phụ trách kho lương thực của huyện, chỉ do một sơ xuất nhỏ đã phải vào ngục. Là người nghĩa hiệp, vốn coi khinh tiền bạc, quý mến bạn bè, ở nhà ngục mấy ngày Chu Thanh Hà chuyện trò với Triệu Tương rất tâm đầu ý hợp. Một hôm Triệu Tương mời Chu Thanh Hà uống rượu, Thanh Hà hỏi cặn kẽ vì sao anh phải chịu tội. Triệu Tương kể hết mọi chuyện, Thanh Hà ngậm ngùi nói:
- Anh bị oan mà không sao tự gỡ tội cho mình, khiến tôi nghe mà nát ruột nát gan.
Nói xong Thanh Hà cúi đầu trầm ngâm hồi lâu, rồi lại hỏi:
- Có phải vợ anh họ Phùng, tên thường gọi là cô Bảy, cổ tay trái có một nốt ruồi không?
Triệu Tương nước mắt rơi lã chã nói:
- Vợ tôi đúng là con thứ bảy, tay trái có nốt ruồi, sao anh lại biết?
Chu Thanh Hà vội cầm lấy chai rượu, rót một chén đầy đưa cho Triệu Tương, rồi nói:
- Thế thì đúng rồi. Vợ anh còn sống, anh nhất định sẽ được tha. Tôi mừng cho anh.
Triệu Tương mừng vui khôn xiết, nói:
- Anh biết vợ tôi còn sống, xin anh chỉ giúp, đến chết tôi cũng không dám quên ơn.
- Tôi có người bạn thân, tên là Thẩm Cầu Trọng, - Chu Thanh Hà nói, - sống ở huyện Thượng Hải, cách thành mười dặm, nơi ấy gọi là Trang Viên nhà họ Lý. Nửa tháng trước tôi tới đó được bạn khoản đãi, ở mãi tới khuya. Bạn tôi bảo: "Ở đây có một mỹ nhân, anh có muốn gặp không?”. Tôi hỏi người ấy đẹp thế nào. Bạn tôi bảo: "Người này không phải là hạng gái lầu xanh, mà là gái nhà lành. Họ Phùng, tên Nhị Nương. Chồng bị tạm giam, nay gửi thân ở trang viên Lý Tịnh Ngô. Nàng đang độ thanh xuân, sắc đẹp khuynh thành, cô ta đòi giá rất cao, nếu không phải là bạn tương tri thì khó mà gặp được". Mới nghe nói thế, tôi đã thấy xiêu lòng. Tối ấy chúng tôi tới đó thế rồi bạn tôi về, chỉ mình tôi ngủ lại. Đêm đến tôi thấy cô ấy khóc rồi nói rằng: "Thiếp họ Phùng, tên thường gọi là cô Bảy. Chồng là Triệu Tương. Lấy nhau vừa được một năm thì gặp tai họa, bị Tưởng Vân lừa đến đây, bức thiếp đi vào con đường này. Nếu chàng có thể báo tin được cho gia đình, thiếp không bao giờ dám quên ơn". Tôi thương cô gặp chuyện không hay, phải dấn thân vào vũng bùn. Tôi đã hứa là sẽ giúp cô. Không ngờ, sau khi về nhà, việc vận chuyển lương thực bận rộn, chưa dò hỏi ra, nay gặp anh trò chuyện, thấy sự việc khớp nhau. Quả thực cô ấy đúng là vợ anh, không còn nghi ngờ gì nữa.
- Vợ tôi ở đấy, thì ta tính kế sao đây. - Triệu Tương hỏi.
- Tôi sẽ viết đơn bẩm lên huyện cho anh. - Chu Thanh Hà nói. Sau nhờ thằng nhỏ Chu Hiếu làm chứng dẫn bắt, chỉ thiếu người đưa lá đơn này trình lên quan huyện thôi.
Đang bàn soạn, thì Triệu Vân Sơn đến thăm. Triệu Tương nói hết chuyện cho bạn nghe. Triệu Vân Sơn vui mừng nói:
- Người đệ trình đơn không khó, có thể giao cho Triệu Nguyên cháu tôi.
Chu Thanh Hà lập tức viết đơn đưa cho Vân Sơn. Lại viết một bức thư dặn Kính Thừa ngay ngày hôm đó đem lệnh tới Thượng Hải.
Lính hầu đi hai ngày, chỉ dẫn người quản trang viên Lý Thái trở về Tri huyện vặn hỏi tỉ mỉ. Lý Thái nói:
- Ở trang viên của con không có Phùng thị, mấy tháng trước, gia chủ Lý Xuân Nguyên chỉ có một kỹ nữ Tô Châu tên là Mã Nhị Nương, cô ta ở được nửa tháng, rồi đi. Con cũng không biết cô ta hiện ở đâu, thì có lệnh của ngài gọi. Gia chủ con có gửi một bức thư dâng lên ngài, mời ngày tới chơi. Tri huyện tha Lý Thái về. Triệu Tương bị đánh hai mươi gậy, người làm Chu Hiếu cũng bị đánh mười gậy. Trở về nhà giam, Triệu Tương vô cùng đau khổ, khóc rống lên. Chu Thanh Hà cũng cảm thấy buồn, chẳng nói năng gì.
Hơn một tháng sau, Chu Thanh Hà được tha. Khi từ biệt Triệu Tương, Thanh Hà nói:
- Chỉ trong vòng năm ngày tôi quyết tìm ra sự thực, sẽ báo cho anh. Đúng như đã nói, tối ngày thứ sáu Thanh Hà tới nhà ngục, mặt mày rạng rỡ, nói với Triệu Tương rằng:
- Vừa ra tù, tôi đến đó ngay, dò hỏi biết cô ấy đã thay chỗ ở, và cũng đã tìm thấy. Tôi vừa gặp Triệu Vân Sơn, hẹn anh ấy sáng mai cùng đi tố cáo. Tôi đến báo tin cho anh biết. Nay chỉ chờ vợ anh tới, sẽ đối chất minh oan.
Triệu Tương nghe xong, hai hàng nước mắt chảy ướt đẫm gò má, nói:
- Rất cám ơn anh đã nhiệt tình cứu giúp, tôi đâu dám quên ơn. Chỉ có điều kiếp tôi là kiếp chó, phải dấn thân nơi tù tội chẳng may vẫn không tìm đưa được vợ tôi tới đây, tôi không bao giờ dám phụ lòng tốt của anh. Nhưng tôi sẽ bị đánh đến xương tan thịt nát.
Chu Thanh Hà mặt tái đi nói:
- Lần này tôi sẽ tự làm chứng dẫn đi bắt, nhất quyết không sai. Hơn nữa, tôi rất ái ngại cho vợ chồng anh, một người bị giam cầm, còn một người phải làm gái lầu xanh. Tôi đã không ngần ngại, bỏ cả công việc đi khắp nơi tìm ra sự thực, mà anh lại không tin tưởng ư?
Triệu Tương vội quỳ xuống nói:
- Được anh nhiệt tình giúp đỡ như thế, tôi thề sẽ làm chó ngựa để báo đền anh.
Chu Thanh Hà ra khỏi nhà giam thì gặp Triệu Vân Sơn. Họ cùng mời Đổng Cận Tuyền tới chùa Phổ Chiếu bàn bạc, viết đơn cáo trạng. Các bị cáo gồm có ba người chủ mưu là Tưởng Vân, Lý Thái, Chu Thuận chủ nhà chứa chấp Phùng thị và ba người liên đới là Phùng Bá Nguyên, Phùng thị, Đổng Cận Tuyền là người láng giềng làm chứng. Triệu Nguyên vẫn là người đệ đơn như cũ; Chu Thanh Hà là người làm chứng dẫn đi bắt. Tất cả đã chuẩn bị xong, chỉ chờ bắt được Phùng thị, sau đó sẽ xét xử các phạm nhân.
Chưa tới mười ngày đã bắt được Phùng thị. Ngay chiều hôm ấy tri huyện mở cửa công đường, giải tất cả phạm nhân tới. Trước hết quan huyện gọi Phùng thị đập bàn giận dữ quát:
- Mày là kẻ dâm phụ, bỏ chồng trốn đi, cam lòng làm kỹ nữ, làm Triệu Tương phải vào tù. Khai ra sự thực, sẽ tránh được hình phạt.
- Bẩm quan lớn! - Phùng thị nói. - Quả thực oan cho con. Đêm ấy con bị chồng đánh đập tàn nhẫn, cùng quẫn, muốn nhảy xuống giếng cho chết đi. Nào ngờ, vừa mở cửa sau đã thấy Tưởng Vân đứng bên tường nghe trộm. Thấy con ra, hắn bèn lôi con về nhà, nói rằng: "Có việc gì ghê gớm thế, đừng có nghĩ quẩn. Hãy theo tôi, tôi sẽ đưa đến một nhà người thân thích, ở tạm mấy hôm, chờ tôi khuyên can chồng cô nguôi giận rồi hãy về". Đang lúc cùng đường, con buộc phải nghe theo. Ngay đêm ấy, hắn gọi chủ thuyền là Phương Minh cùng vợ là Dương thị đưa con đến huyện Thượng Hải, sau rời khỏi thành xuống nông thôn, tới tá túc tại trang viên nhà họ Lý. Hôm sau Tưởng Vân đến trang viên, con muốn về nhưng hắn nói: "Chồng cô bị tố cáo vì tội ngỗ ngược bất hiếu đang bị giam trong nhà tù chờ ổn thỏa mới về được”. Sau đó gần nửa tháng, hắn cùng một người tên Tiền Tuyển tới, nói với con rằng: "Chồng cô bị trọng tội giam trong ngục, không có tiền đút lót, nếu được năm mươi lạng biếu quan thì có thể được tha. Tú tài họ Tiền là nhà giàu có nếu chịu nghe lời tôi mà kết giao thì chồng cô sẽ được tha, và cô cũng có thể được về". Lúc ấy con biết hắn lòng dạ xấu xa, kêu khóc van xin nhưng hắn không nghe. hắn lại mưu mô với Lý Thái, dùng gậy đánh con hết sức tàn nhẫn, bức con phải chịu ô nhục. Đến nay đã mấy tháng, chúng thực hiện mưu kế độc ác mà không cho con đồng nào. Quả đúng như thế, cúi xin quan lớn đèn trời soi xét.
- Vợ chồng lục đục là việc thường của con người. - Quan huyện hỏi. - Vì sao phải tìm đến cái chết? Hơn nữa Tưởng Vân không liên quan gì, sao lại đứng sát tường nghe trộm. Mày hãy khai thực ra.
Phùng thị lại khai rằng, từ khi Triệu Tương đi buôn xa. Tưởng Vân đã gian dâm với Vương thị, rồi lại bức mình hành dâm. Phùng thị khai rõ từ đầu tới cuối. Tri huyện bèn gọi Tưởng Vân, cười khẩy nói:
- Mày là thằng xỏ lá. Đã gian dâm với mẹ con họ, lại thừa cơ dụ dỗ họ đi trốn, bức bách Phùng thị làm gái điếm. Mày là kẻ vô cùng độc ác, mày đáng tội chết.
Nói xong tri huyện lại cho gọi Phùng Bá Nguyên hỏi:
- Ngươi chưa rõ thật giả, sao lại tố cáo bừa về tính mạng con người. Ngươi có biết, vu cáo là tội nặng không? Theo luật đáng phải ngồi tù.
- Xin quan đèn trời soi xét. - Phùng Bá Nguyên cúi lạy nói. - Cha con con không có điều tiếng gì. Tất cả đều do Tưởng Vân báo tin, xúi giục con đi kiện.
Quan huyện gọi Triệu Tương lại nói:
- Từ trước đến nay người đã bị đánh bao nhiêu gậy?
- Con bị ông lớn ra ơn trừng phạt, bị đánh tất cả là một trăm linh năm gậy.
Đã thế thì ta cũng không đánh thằng xỏ lá độc ác này nhiều hơn. Chỉ đánh một trăm linh năm gậy, bằng Triệu Tương. Lúc ấy Tưởng Vân tự biết mình mắc trọng tội, chẳng còn lời nào để tự thanh minh cho mình. Tuy là dũng mãnh hơn người, nhưng vừa đánh được bảy mươi gậy đã lăn ra chết. Tri huyện lại gọi Triệu Tương hỏi: - Vợ ngươi vốn thân đã ô nhục, danh đã nhuốc nhơ, anh muốn đoạn tuyệt hay đoàn tụ?
- Nhà con đã khánh kiệt, mẹ con đã qua đời. - Triệu Tương nói. - Trước mắt không ai thân thích, xin quan cho được đoàn tụ.
Tri huyện sai đánh Lý Thái, Chu Thuận, Phùng Bá Nguyên mỗi người mười gậy, định tội từng người. Rồi gọi Phùng thị nói:
- Ngươi là đồ dâm phụ, lẽ ra phải đánh hai mươi gậy, nhưng nể tình chồng ngươi mà ta tha cho. Triệu Tương dẫn Phùng thị về, hàng xóm ai cũng tới an ủi. Khi nhắc tới Tưởng Vân, ai ai cũng nghiến răng nguyền rủa. Về sau Triệu Vân Sơn cho Triệu Tương vay hai mươi lạng bạc, mở cửa hàng bán bánh mì. Phùng thị hối hận lầm lỗi trước đây, chịu thương chịu khó giúp chồng buôn bán. Chưa đầy ba năm đã gom góp được mấy trăm lạng bạc làm vốn. Từng có thơ rằng:
Kết nghĩa ai ngờ thành nghiệp chướng,
Phòng the lã chã lệ tuôn rơi.
Nếu trời không diệt phường gian ác,
Ngọc châu sao mất lại trở về.
Vào một ngày mùa xuân, Triệu Tương đến Tô Châu mua hàng. Triệu Tương mời Chu Thanh Hà tới Hổ Khâu du ngoạn. Chu Thanh Hà tuổi đã gần bốn mươi, song vẫn quen đi lại nơi ngõ liễu đường hoa, tiêu tiền như rác, ngao du khắp nơi. Lần này đến Hổ Khâu, Thanh Hà mời Triệu Tương đến một nhà chứa. Chủ lầu xanh tên là Chư Tú, trong tay mụ chỉ có hai chị em: một người gọi là Lai Hương, một người gọi là Vân Sảnh. Tối ấy hai người đã bỏ ra một lạng bạc để làm chủ. Bốn người cùng ngồi, uống rượu tới gần sáng mới tan. Chu Thanh Hà đòi Vân Sảnh, Triệu Tương dắt Lai Hương về phòng riêng mây mưa, thỏa nỗi hận lâu nay.
Triệu Tương và Lai Hương ở với nhau trong ba ngày. Triệu Tương mua hàng, chuẩn bị xong, nghĩ sáng hôm sau sẽ thoát khỏi cảnh này. Đêm ấy càng về khuya, sau khi mây mưa, Lai Hương khóc lóc nói với Triệu Tương rằng:
- Chàng quê ở Tùng Giang, thiếp cũng là con gái nhà lành vùng đó. Thiếp rơi vào vũng bùn này đã hai năm, lúc nào cũng muốn hoàn lương, nhưng khổ một nỗi, không ai nương tựa. Nay, may được chăn gối với chàng, được chàng ân ái, nếu như chàng cứu ra khỏi vũng bùn nhơ này, thiếp xin nguyện suốt đời nâng khăn sửa túi cho chàng.
- Nàng thuộc con gái nhà lành, song vì sao lại đến nông nỗi này? - Triệu Tương hỏi. - Nếu như muốn chuộc nàng thì phải mất bao nhiêu?
- Thiếp họ Dương, tên là Xảo Cô. - Lai Hương đáp. - Chồng thiếp là Tưởng Vân, phạm trọng tội, bị quan huyện đánh chết ngay tại huyện đường. Cha mẹ thiếp đều đã qua đời, tai họa ập đến, tên độc ác ấy tham lợi đã bán thiếp cho Chư Tú. Một thương nhân ở An Huy muốn chuộc thiếp, nhưng Chư Tú đòi một trăm lạng, bởi thế mà không ra được. Nay thiếp đã góp được một nửa, nếu chàng có năm mươi lạng thì có thể đưa thiếp đi cùng.
- Lần này tuy tôi có một trăm lạng thật, - Triệu Tương nói, - nhưng đã mua hàng hết rồi. Nàng hãy đợi chừng hơn tháng nữa, tôi sẽ tới bàn với nàng.
Lúc chia tay, Lai Hương dặn đi dặn lại Triệu Tương, mong rằng chàng tới cứu nàng, rồi nước mắt giàn giụa, khóc nức nở, thật đáng thương tâm. Triệu Tương nghĩ thầm, quả là trời báo ứng, quyết không sai hẹn. Về tới nhà, anh nói ngay chuyện ấy với Phùng thị. Phùng thị cứ năn nỉ khuyên Triệu Tương chuộc nàng về làm thiếp. Sau đó Triệu Tương bàn với Chu Thanh Hà, Triệu Vân Sơn, họ vui mừng khuyên Triệu Tương nên chuộc nàng về. Hơn một tháng sau, Triệu Tương tới Tô Châu, bỏ ra hơn sáu mươi lạng bạc chuộc lại Xảo Cô.

Từ đó Triệu Tương cùng Phùng thị và Xảo Cô sống với nhau rất hòa thuận. Mỗi khi nhắc đến Tưởng Vân, Xảo Cô vẫn còn oán hận. Về sau Phùng thị sinh được hai con trai, Xảo Cô sinh được một con gái. Tới nay vợ chồng họ sống vẫn bình yên.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5938
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Sat Mar 15, 2014 11:22 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 5 (A)
Trương Xương Bá Thương Người Nên Thoát Nạn
Thơ rằng:
Tài mệnh gắn liền nhau,
Người xưa thường dạy thế.
Tử sinh, biết bao người liên lụy,
Mới tin rằng tiền tài như phân, đất mà thôi.
Nước uống cơm ăn tùy phận,
Nhà ở ba gian, giường tre một chiếc.
Việc chi phải lụy đến ngàn vàng.
Đáng buông tay, xin hãy buông tay,
Đừng cố bám mà thành oan nghiệt.
Bốn chữ tiền, tài, phân, đất trong bài từ thật là có ý nghĩa. Vì sao ngày nay người ta cứ chê câu nói ấy mà chỉ nói tới những hành vi của bọn phá gia chi tử? Hoàn toàn không biết câu nói này có thể làm người ta nên người. Vì sao vậy? Phải biết rằng cái nuôi người thứ nhất trong thiên hạ, chẳng gì bằng đất; cái nuôi vật thứ nhất trong thiên hạ chẳng gì bằng phân. Vậy thì phân và đất là gốc rễ của sinh sôi nẩy nở, là nguồn gốc của mạng sống, nó quả là cái đáng quý trong trời đất. Nó được giải thích, cũng giống như cách giải thích của chữ tài là "nguồn gốc của sự nuôi dưỡng sinh mệnh". Song một đằng là, công năng của nó cực lớn, dùng nó phải thật phù hợp. Chẳng hạn, thời tiết trồng mạch thì không trồng được lúa, nếu trồng lúa, không những không có lợi cho lúa mà lại còn có hại cho lúa mạch. Thời tiết trồng lúa thì không được trồng đậu, nếu trồng đậu, không những không có ích cho đậu, mà lại còn có hại cho lúa. Bởi vậy phải theo thời tiết mà cày cấy, thì tự nhiên thu lợi cả đôi đàng. Phân là cái rất có ích, nhưng có cái phù hợp với nước mà không phù hợp với phân, phù hợp với phân mà lại không phù hợp với nước. Nên ta phải xem thời tiết mà định liệu, không thể cứ khăng khăng theo ý riêng mình. Bởi thế cũng là dùng tiền tài, nhưng dùng nó để đánh bạc chơi gái phè phỡn, dùng tiền của không đúng chỗ thì nhất định sẽ dẫn đến du đãng, hư hỏng, làm nhục tổ tông. Còn dùng tiền tài để cứu người, làm lợi cho vật thì đó là cái đáng dùng, như thế không những sẽ được tiếng là đạo đức, mà còn đem lại nhiều lợi ích khác, vừa được hưởng cuộc sống an nhàn, của cải lại sinh sôi nẩy nở. Những kẻ không biết cày cấy, mà dốc hết tiền của phung phí vào việc chơi bời, ta chẳng nói đến làm gì, song ngay cả nhũng kẻ keo kiệt không dám nhổ một chiếc lông chân để cứu người, thì cuối cùng cũng chẳng nên người. Vì sao vậy? Phàm là tiền của phải lưu thông trên đời, một người không thể vơ vét hết được. Nếu như nghĩ ra trăm phương ngàn kế, được một lại muốn mười, được mười lại muốn trăm, nhất định sẽ bị người đời oán hận, và sẽ có ngày thân bại danh liệt, tan cửa nát nhà. Thế mới biết câu tiền tài như phân đất nhằm dạy người ta phải biết chi tiêu, chẳng khác nào như phân đất sinh sôi phát triển vô cùng tận, đó chính là bí quyết xây dựng gia đình. Bởi thế không nói tiền tài như gạch đá, mà chỉ so sánh nó với phân đất. Người ngày nay không hiểu được ý nghĩa ấy, mà lại coi mấy chữ phá gia chi tử để chỉ kẻ hoang phí tài sản, đồng thời lại dùng ẩn ngữ ôm nỗi oan thiên cổ mà không sao rửa được để đả kích, thì quả thật đó là điều đáng tiếc. Câu chuyện dưới đây rất sát với câu châm ngôn, qua đây chúng ta phần nào chặn đứng được những việc xấu xa, tiêu diệt căn bệnh keo kiệt đến mức không muốn mất một chiếc lông chân để làm lợi cho thiên hạ. Câu chuyện rất có ích cho mỗi chúng ta.
 
Thời Vạn Lịch triều Minh, ở huyện Trường Châu, phủ Tô Châu, có một vị quan tên là Trương Quốc Thụy, tự là Xương Bá, vợ là Dư thị. Vốn là một gia đình Nho gia, song từ khi bỏ việc học hành, mở cửa hàng vải, cha Xương Bá trở thành phú ông, nổi tiếng giàu có. Đến đời Xương Bá, nối chí cha, Xương Bá còn giàu có gấp mấy cha, và vẫn giữ được danh hiệu phú ông.
Một hôm đang ngồi trong cửa hàng, Xương Bá thấy một người đi qua, rồi lại quay lại đứng trước cửa nhìn vơ vấn. Xương Bá đang định hỏi anh ta, thì thấy có người tới mua vải. Vì bận việc, nên ông không để ý tới nữa. Tối đến ông đóng cửa hàng, nghỉ ăn cơm, sau đó lại tính toán sổ sách, xong việc thì đã tới canh hai. Vừa cởi áo lên giường, còn đang nằm chưa ngủ, thì thấy ngoài cửa có tiếng động. Xương Bá định dậy xem sao, song nghĩ, người nhà đã ngủ, nếu dậy sẽ làm mọi người thức giấc, thật bất tiện. Hơn nữa cửa đã đóng cẩn thận, chắc chẳng việc gì, bởi thế ông cũng không để ý tới nữa. Song, tiếng động ngoài cửa vẫn cứ vọng vào. Xương Bá đành phải lặng lẽ ngồi dậy, rón rén nấp sau cánh cửa. Thấy trong bóng đêm, một người đi tới Xương Bá nhanh tay lôi lại, gọi người nhà dậy, châm đèn soi. Rất mừng thấy không mất gì, bên ngoài cũng không có ai. Người này đúng là người sáng nay đứng vơ vẩn trước cửa hàng. Lúc ấy người nhà định đánh song Xương Bá quát, ngăn lại nói:
- Đừng đánh, anh ta có lấy gì đâu!
Thấy thế, người ấy cho rằng ông chủ này là một người rất dễ dãi, bèn vội quỳ xuống nói:
- Con không còn gì để nuôi mẹ già, nên bất đắc dĩ phải làm việc này. Hơn nữa, đây là lần đầu, mong ông tha cho, lần sau con không dám đến quấy rầy ông nữa.
- Anh ạ, tôi cũng không muốn vất vả, - Xương Bá cười nói, - anh đã đến nhà tôi, sao lại về không. Không lấy được gì, thì tôi đãi anh một chén rượu cho ấm bụng.
Rồi ông gọi người nhà hâm một bình luôn mang ra, bày thêm hai đĩa thức nhắm, bảo anh ngồi xuống. Thấy chủ nhà đối xử như thế, anh không những xấu hổ, mà còn cuống lên nghĩ: "Thế này là thế nào? Nếu như thả mình ra thì ông quả là người rất tốt. Tại sao ông ấy lại cho mình uống rượu? Hay thấy mình không chịu được đòn, cho mình ăn rồi mới đánh". Anh cứ lưỡng lự mãi mà không dám ăn. Xương Bá biết được anh nghĩ gì, bèn nói:
- Anh cứ yên tâm ăn thoải mái, tôi không phải là người ngấm ngầm thanh toán anh đâu. Nếu định làm như thế thì tại sao tôi không gây khó dễ cho anh, lại còn tốn rượu mời anh?
Người ấy thấy ông là người tốt thực nên không dám phụ lòng, tự rót rượu uống.
Thấy anh ta ăn uống thoải mái, Xương Bá vui vẻ hỏi:
- Anh tên gì? Ở đâu? Trông anh không phải là người xấu, sao không kiếm việc gì làm, mà lại đi làm cái trò phạm pháp này.
- Con tên là Chu Ân. - Anh ta vừa ăn vừa đáp. - Nhà nghèo túng, mẹ lại ốm đau không có tiền chạy chữa thuốc thang, nên con phải làm liều. Mong ông tha tội.
Thấy hoàn cảnh anh ta nghèo khó, Xương Bá rất thương, cho anh ba lạng bạc về làm vốn buôn bán kiếm lời nuôi mẹ.
Chu Ân chần chừ không dám nhận, nhưng Xương Bá cứ nhét tiền vào tay. Chu Ân không dám phụ lòng tốt của ông, cầm lấy tiền rồi cảm ơn rối rít. Về tới nhà anh ghé sát vào tai mẹ kể hết mọi chuyện, anh định lấy trộm rồi được Xương Bá cho uống rượu và cho tiền như thế nào. Bà mẹ nói:
- Rất may, anh đã gặp được người tốt, nên không bị giải lên quan. Ở công đường sẽ bị đánh đập, chửi mắng, và người ta lại còn đòi hỏi cái này cái khác thì anh biết dựa vào ai. Chẳng may xảy ra việc gì thì tôi cũng chết chứ chẳng phải anh. Lần sau đừng làm liều như thế.
Chu Ân nói:
- Đúng là con không còn cách nào khác nên mới làm thế, chứ đâu phải con thích làm loại người lưu manh. Từ nay về sau con nghe lời mẹ.
Được Xương Bá giúp đỡ, hai mẹ con đều rất vui. Họ chờ đến sáng, sắp xếp quang gánh, sắm lễ vật cúng thần tài. Khi cơm nước xong, không còn việc gì phải bận tâm, Chu Ân ra cửa đứng nhìn vơ vẩn. Bỗng trời tối sầm lại, rồi đổ mưa. Đúng lúc định đóng cửa vào thì thấy có người đến trước cửa nhà anh trú mưa. Thấy người ấy quần áo ướt đẫm, Chu Ân động lòng thương, trong tay đang sẵn có ít tiền vốn, anh nảy ra ý định cứu giúp người. Thế là anh mời người ấy vào nhà, nhóm lửa cho người ấy hong quần áo, rồi hỏi:
- Ông người ở đâu? Định đi đâu mà lại gặp mưa thế này?
- Tôi là học sinh, họ Lạc tên là Công Tế, ở phố Tư Môn. Sáng nay đang trên đường về thăm nhà, không ngờ lại gặp mưa, làm phiền ông quá.
Sau đó anh hỏi tên Chu Ân. Chu Ân nói họ tên mình và kể lại chuyện trước đây anh mở cửa hàng, vì bị kiện tụng mà trở thành nghèo túng. Rồi lại nói:
- Tôi đến Tư Môn xem bói, chọn ngày làm ăn. Thế thì ông ở đấy có biết xem bói không?
- Tôi là học trò, - Công Tế nói. - Chẳng giấu gì anh, trước đây tôi là người thường viết đơn kiện cho người ta. Những người trong nha môn đều quen biết. Nay tuổi đã cao, thấy rằng một tờ giấy mà đã làm cho nhiều người tan cửa nát nhà, hại biết bao nhân mạng, đó không phải là trò tích đức. Đơn từ tôi viết khác hẳn với người khác, dựa vào việc của họ, tôi chỉ cần viết ba bốn dòng là đảm bảo thắng kiện. Nay mặc dù tôi đã đổi nghề, song vẫn nhiều người tìm đến. Tôi không thể từ chối, đành phải viết cho họ. Nửa năm sau tôi chọn được nghề xem ngày để sinh sống, rồi thề sẽ không làm nghề viết đơn kiện nữa.
Chu Ân nghe xong, thấy đây là một người hào kiệt trong làng bút mực, không dám coi thường. Dần dần thấy quý mến ông, muốn kết bạn với ông, để có chỗ dựa vững chắc sau này.
Lúc ấy trời vẫn còn mưa, Chu Ân nghĩ: "Đã định làm bạn với nhau, sẵn lộc cúng thần, sao không mời ông ta một chén cho ấm dạ, thế mới là tình người". Rồi gọi Phù thị dọn rượu mời Công Tế. Thấy Chu Ân đối đãi với mình như tế, Công Tế hơi ngượng, nhưng vì đang đói, nên không từ chối. Hai người, một chủ một khách ngồi ăn, trời đã muộn, mưa đã ngớt, Công Tế đứng dậy xin cáo từ, nhưng lại nghĩ, trời vừa mưa, đường trơn rất khó đi, nên vẫn còn nấn ná. Chu Ân biết ý, nói:
- Đường trơn thế này đi sao được. Tôi cho ông mượn đôi guốc gỗ đi cho đỡ trơn.
- Cám ơn lòng tốt của anh, - Công Tế nói, - song đâu dám phiền anh đến thế.
- Sao lại nói thế. - Chu Ân nói. - Sau này chúng ta còn đi lại với nhau nhiều, chỉ mong ông đừng chê tôi nghèo là được rồi.
Công Tế nói nhún nhường mấy câu, rồi bảo Chu Ân rằng:
- Thôi thì phiền ông vậy.
Nhà không có guốc, Chu Ân sang hàng xóm mượn, rồi đưa cho Công Tế. Còn Chu Ân tìm một đôi đã hỏng để đi. Chu Ân vào nói với mẹ một câu, quay ra dặn dò Phù thị dọn dẹp bát đĩa, rồi ra tiễn chân Công Tế. Công Tế nói:
- Trời sắp tối rồi, anh không phải tiễn chân tôi.
- Nhân thể tôi đến chỗ anh để biết nhà, - Chu Ân nói, - đợi đến mai lại phải nói thêm nhũng lời khách sáo; hai là đôi guốc ấy tôi đi mượn, sợ rằng người ta cũng dùng, nên đến mang về trả họ.
- Thế thì phiền ông quá, - Công Tế nói, - biết lấy gì để tạ ơn ông đây?
- Thôi thì tùy ông, - Chu Ân nói, - tôi có "kiện" đâu.
Cả hai cùng cười, suốt dọc đường họ vừa đi vừa chuyện trò vui vẻ. Chẳng mấy chốc đã tới nhà. Hai người đều lễ phép mời nhau ngồi. Lúc ấy trời vẫn còn sáng, Chu Ân thấy trong nhà bày biện rất sang trọng. Chỉ thấy:
Cửa sổ sơn son,
Tường vôi trắng xóa.
Trên tường,
treo bức tranh danh tiếng, chẳng mới chẳng cũ,
dán mấy bài thơ danh sĩ, nửa thực nửa hư.
Trên bàn,
mấy thiên rách nát, xem hết luật lệ triều Minh.
Vài cuốn sổ tàng, sao cả thông thư thất chính,
Bút lông thỏ nhọn, sắc bén tựa dao,
Màu mực mới nguyên, như sơn đặc sánh.
Chu Ân ngồi một lúc, uống xong chén trà, cầm guốc đứng dậy cáo từ. Vừa bước ra khỏi cửa, thấy tấm biển, bèn dừng lại nói:
- Tôi quên khuấy đi mất, không nhờ ông một việc.
- Quên việc gì, - Công Tế nói, - bây giờ nói cũng không muộn.
- Không giấu gì ông, - Chu Ân nói, - cuộc sống của tôi hiện nay thật khó khăn. Tôi định ngày mai đi buôn chút hàng lặt vặt không biết có tốt không, bởi thế muốn phiền ông xem giúp.
- Thế thì mời ông nán lại đây, - Công Tế nói, - tôi dở cuốn Thông thư ra xem là biết ngay.
Công Tế lấy cuốn lịch ra xem, rồi nói:
- Ngày mai không phải là ngày thượng cát, chờ hai, ba hôm nữa hãy đi. Ngày mười bảy là ngày rất tốt, đi đâu cũng có lợi.
Chu Ân được chỉ bảo, cảm ơn ra về.
Hai ngày trôi qua, chẳng có gì đáng nói. Ngày tốt đã đến, hôm đó, Chu Ân dậy sớm đun nước uống, sửa soạn quang gánh đi mua hàng. Khi đi, Chu Ân không quên dặn Phù thị đóng cửa. Lúc Chu Ân tất tưởi bước ra khỏi nhà thì trên trời trăng vẫn sáng. Vừa đi tới cửa nhà Xương Bá, ngẩng lên chợt nhìn thấy một người đang đứng dựa sát vào cửa nhà ông, Chu Ân chợt nghĩ: "Chắc đây là tên ăn trộm, trời vẫn chưa sáng, nên hắn vẫn còn lởn vởn ở đây". Chu Ân lên tiếng quát hỏi, vẫn không thấy động tĩnh gì, anh đánh liều chạy tới tóm lấy người ấy bỗng người anh run lên, mồm cứng ra không nói được. Nguyên là:
Đầu lâu chạm sao, sờ vào như kéo ngói,
Gót chân, trên đống gạch duỗi ra vẫn chửa tới bùn.
Kinh hãi như bay khỏi đất bằng,
Chẳng khác nào đang đi tới mây xanh.
Vốn không là đạo sĩ sao biết vén mây cưỡi gió,
Chẳng phải là giai nhân sao biết chơi đu.
Đáng kinh, đáng sợ, muốn biết việc này sao lại thế?
Là quỷ, là người, sẽ rõ tại đoạn sau.
Khi Chu Ân lôi thì thấy người ấy xoay tròn, nhìn kỹ thì ra một người thắt cổ tự tử. Chu Ân sờ vào thấy người lạnh toát không biết chết từ bao giờ. Anh vô cùng kinh sợ, nghĩ: "Xương Bá là người tốt như thế, không biết có nỗi oan ức gì mà người ta lại đến tận nhà để hại ông". Định báo cho Xương Bá biết, nhưng sợ gõ cửa làm kinh động xóm làng, muốn bỏ đi để tránh chuyện liên quan, song lại không nỡ. Chu Ân nghĩ: "Ông ấy đã cứu giúp mình, sao mình lại không cứu giúp ông ấy" Rồi lại nghĩ: "Chỉ có kéo xác chết này đi chỗ khác, thì ông mới tránh khỏi điều tiếng". Nghĩ xong anh bèn đứng lên đống gạch, cởi xác chết ra, cũng chẳng cần biết anh ta thế nào, rồi cõng xác chết đi. Đi chừng nửa dặm tới một chiếc cầu, anh đặt chiếc xác xuống, cởi chiếc thừng trên cổ ra, buộc hòn đá vào xác chết, rồi nhẹ nhàng thả xuống nước. Sau đó quay trở lại bỏ gạch đá vào quang gánh đi. Có bài thơ làm chứng:
Mang nặng công ơn cứu đói nghèo,
Trộm tuy bắt được vẫn cho thêm.
Cứu người chẳng khác mình tự cứu,

Việc thiện trên đời thật khó thay.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5938
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Sat Mar 15, 2014 11:49 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 5 (B)
Vốn là đối diện với nhà Xương Bá có một gã tên là Điêu Tinh, tự là Đức Phủ, chuyên thói bốc lửa bỏ tay không, lừa người lấy tiền của. Từ lâu thấy Xương Bá giàu có. Điêu Tinh muốn kiếm chác nhưng chưa tìm ra mưu kế. Đúng hôm Chu Ân tới nhà, Xương Bá cho gọi mọi người dậy. Bà lão giúp việc năm nay đã hơn bảy mươi tuổi cũng chạy ra. Không ngờ tuổi cao, vừa kinh sợ, lại gặp gió độc bị cảm lạnh, đầu đau, sốt cao, chỉ trong vài hôm đã qua đời. Vì không có người thân thích, Xương Bá đã mua quan tài nhập liệm. Nghĩ bà ở nhà ông đã lâu, lại là người hiền lành, chịu khó, không nỡ hỏa táng bà, ông đã đưa bà tới chỗ đất trống tại nghĩa địa tổ tiên, an táng bà tại đó. Ông mua sắm vàng hương cúng, báo đền công lao của bà. Biết được điều ấy, Điêu Tinh mừng thầm, ngấm ngầm tính kế kiếm tiền. Chỉ chờ có người đến tìm bà, thì mới đặt ra mưu kế kiếm lợi. Song nếu không có người tiên phong làm quân sư mà mình tự xông vào sẽ không thành. Đắn đo mãi mà chưa tìm được người đảm đương việc nặng nề này. Phải tìm một người bạn thân thiết để bàn bạc.
Vừa ra khỏi cửa, thấy anh hàng gà người nhà quê đi qua. Hắn gọi lại mua, mặc cả xong, hắn mang luôn gà vào trong Nhà. Nào ngờ, gà đã mang đi, mà tiền thì không trả. Chờ mãi không thấy tăm hơi người mua gà đâu, anh ta sốt ruột, đành vào đòi tiền. Gọi hai ba tiếng mới thấy người ra tiếp. Song tiền vẫn không trả, mà người mua cũng không ra. Cứ thoái thác rằng bận việc, bảo anh nán lại chờ một chút. Mãi tới lúc lên đèn, Điêu Tinh mới ra, luôn mồm xin lỗi. Hắn ta ân cần mời anh hàng gà ở lại, nói:
- Tôi chắc anh không phải là người trong thành. Anh quê ở đâu?
- Ở ngoài Lâu Môn. - Người ấy nói.
- Thế thì về nhà không kịp, - Điêu Tinh nói, - anh hãy ở đây sáng sớm mai về có được không?
- Sao lại thế? - Điêu Tinh nói. - Tôi đã làm lỡ anh, nếu như không giữ anh lại thì không đành lòng. Mà về không kịp, có phải thiệt cả đôi đằng không. Thế thì ở đây là tốt nhất.
Người ấy thấy hắn tha thiết, không dám phụ lòng, mà bây giờ về thì cũng đã muộn, bèn cảm ơn anh ta, yên tâm ở lại. Thấy anh ta chịu ở lại, Điêu Tinh mời vào phòng xép ngồi, gọi đứa ở thắp đèn, lấy tiền ra trả, nói:
- Tiền gà của anh đây, không thiếu một xu.
Người ấy dở ra xem, thấy đủ, bèn cất vào túi. Đang định hỏi mình ngủ chỗ nào thì thấy người nhà bưng cơm rượu ra, mâm cơm lại rất thịnh soạn. Điêu Tinh vừa tiếp rượu cho người ấy vừa nói chuyện dông dài:
- Anh tên gì nhỉ?
- Tôi là Ngu Tín Chi. - Người ấy đáp.
- Anh làm gì? - Điêu Tinh hỏi.
- Chỉ cấy năm sáu mẫu ruộng, - Tín Chi đáp, - ngoài ra chẳng làm gì khác. Nay tiền thuế gấp quá phải mang gà đi bán để nộp.
- Năm sáu mẫu ruộng cũng chẳng phải kho bạc cây tiền, sao chẳng đói khát! - Điêu Tinh nói. - Hôm nay có gà bán còn khá, ngày mai không có gà thì anh bán gì. Cuối cùng thấy nhà anh không có gà, thì quan lấy thóc chứ lấy gì nữa.
Tín Chi thấy anh ta nói thế rất buồn, im lặng không trả lời. Điêu Tinh nghĩ, bây giờ có thể dùng lợi để lay động anh ta, bèn nói:
- Anh không cần phải lo, hiện tôi có một món tiền cho anh. Anh có cần không?
Tín Chi cho rằng anh ta nói đùa, vừa cười vừa hỏi:
- Xin đa tạ tấm lòng tốt của tướng công, song cho tôi bao nhiêu?
- Tôi nói thực đấy, - Điêu Tinh nói, - chứ không phải đùa anh đâu. Đây là cái lộc mà chẳng tốn công phí sức, không phải anh lấy nó ở chỗ tôi, mà cũng phải xem anh có cơ duyên nhiều hay ít.
- Vô cùng cảm ơn tướng công đã hết lòng nâng đỡ. - Tín Chi nói. - Chỉ có điều tôi là người quê mùa cục mịch, chẳng làm được trò trống gì.
- Chẳng cần anh phải làm gì nặng nhọc, chỉ cần anh nói mấy câu là tiền sẽ đến tay. - Điêu Tinh nói.
Rồi Điêu Tinh thuật lại tỉ mỉ về cái chết của già Trương và vạch ra cho anh ta một số câu đối đáp. Điêu Tinh nói:
- Anh đến nhà họ Trương nhận là người thân thích của bà cụ, sau đó làm rùm beng lên, tôi sẽ nói thêm vào, nhất định sẽ kiếm được món hời, đấy chẳng phải là một món tiền kếch xù mà anh tha hồ tiêu ư?
Tín Chi nghe anh ta bàn dày bàn mỏng một hồi, lòng tham tự nhiên bùng lên, chẳng kịp tính toán chi li, anh ta mừng rỡ nghe theo.
Sáng hôm sau, theo Điêu Tinh chỉ bảo, Tín Chi sang nhà Xương Bá. Thấy anh tới, Xương Bá hỏi anh đến có việc gì. Tín Chi nói:
- Tôi có bà cô làm thuê ở đây, phải đi làm ăn xa, không đến thăm được. Hôm nay tôi đến thăm cô tôi.
Xương Bá thấy khả nghi, ông nghĩ: "Bà ấy ở nhà mình đã hơn hai mươi năm, chẳng hề thấy một người thân nào lai vãng tới. Nhưng sao vừa mới chết, đột nhiên lại có người tới nhận là thân thích, chẳng biết thật giả thế nào?". Xương Bá nảy ra một kế, truy hỏi tỉ mỉ người ấy về tuổi tác bà cụ. Tín Chi ấp úng không nói được, và cảm thấy sượng sùng. Xương Bá thấy vậy đoán rằng đây là cách nói giở giọng, nên cũng chẳng chấp làm gì. Những người trong nhà, kẻ hỏi câu này, người hỏi câu khác làm Tín Chi không sao trả lời được. Tín Chi thấy đây là người không dễ gì lừa dối, liền bỏ đi. Anh ta nghĩ: "Mình không nghĩ kỹ, sao mình lại đi nghe những lời nói vu vơ, đến nỗi ê cả mặt. Tiền của bất nghĩa, vốn không phải là thứ mình dễ dàng chiếm đoạt được". Anh cũng không quay lại nhà Điêu Tinh nữa, mà vội vã ra về. Ai ngờ Điêu Tinh đứng sẵn trước cửa nhà Xương Bá nghe ngóng tình hình, thấy Tín Chi đi qua bèn gọi lại, hỏi duyên do. Tín Chi đáp:
- Món bạc ấy không dễ gì lấy được. Chỉ vì việc ấy người ta đã té tát vào mặt, từ nay tôi cũng không dám đi lại phố này nữa.
- Họ nói gì mà ghê gớm vậy? - Điêu Tinh nói. - Anh hãy kể tỉ mỉ cho tôi nghe, tôi sẽ nghĩ cách cho anh.
Tín Chi cũng chẳng giấu giếm, kể lại tỉ mỉ nhũng lời họ truy hỏi. Điêu Tinh nói:
- Anh đần thật, người ta chỉ hỏi có mấy câu mà cũng sợ. thôi thì cũng không cần vội vàng gì, tôi còn có chuyện muốn bàn với anh.
Điêu Tinh kéo Tín Chi về nhà, không cho anh về. Tối đến vẫn mang rượu thịt ra, nhưng còn thịnh soạn hơn cả tối hôm trước. Tín Chi rất áy náy, cảm ơn Điêu Tinh mãi. Điêu Tinh nói:
- Có đáng gì đâu, lần này tôi quyết giúp anh để khỏi uổng công người bạn tương tri.
Hai người ăn uống hồi lâu, Điêu Tinh nói:
- Nhà Trương mắng anh một trận, hôm nay anh có nghĩ ra kế gì không?
- Đây là chuyện gây rối vô lý, sao có thể làm được, chỉ có đòi bừa thôi. - Tín Chi nói.
- Anh là loại người được nâng đít mà không trèo được cây. - Điêu Tinh cười nói. - Hiện ta có một kế rất hay, cứ làm theo chắc chắn sẽ được, song phải thận trọng.
- Việc ấy khó đến nỗi tướng công phải hao tâm tổn trí, - Tín Chi nói, - mà vẫn chưa tìm ra cách gì?
- Không còn cách nào khác, - Điêu Tinh nói, - đêm nay anh phải chết trước cửa nhà lão ta mới có thể được.
- Tướng công đừng đùa tôi! - Tín Chi kinh ngạc nói. - Tôi làm thế nào được?
- Không phải tôi đùa đâu. - Điêu Tinh nói. - Tôi nói thực đấy. Ấy là tôi bảo anh chết giả thôi, chứ không phải chết thật. Chết giả như thế nào? Hôm nay anh sẽ đến cửa nhà lão ta, làm ra vẻ mình treo cổ, ta sẽ chạy ra ngay, một mặt cởi cứu anh, một mặt gọi mọi người, thì nhất định lão ta phải thòi tiền ra cho anh. Chỉ cách ấy mới có thể được.
Đang lúc bốc hơi men, Tín Chi thấy thế nghĩ rằng Điêu Tinh nhất định sẽ là người đứng ra cứu anh, nên cũng chẳng đắn đo, xin Điêu Tinh một sợi thừng, đi một mạch tới nhà họ Trương.
Lúc ấy đã là canh ba, trăng vẫn còn sáng. Tín Chi tìm được một chỗ buộc thừng, thắt thòng lọng, trèo lên. Chỉ khoảng mươi mười lăm phút, đã đi chầu Diêm vương.
Thương thay, vợ con không từ biệt,
Hóa thành gió than khóc suốt đêm.
Tuyền đài, từ nay thêm nỗi hận,
Bao giờ sống lại kiếp bán gà.
Lừa được Tín Chi, Điêu Tinh đứng thật xa theo dõi, sau đó đóng cửa đi vào, nói cho vợ là Thủy thị biết, việc đã xong, Thủy thị nói:
- Tốt thì tốt rồi, nhưng chỉ nghĩ ngợi về người bán gà.
- Đời nay, - Điêu Tinh nói, - nếu như thương người khác thì mình chẳng được lợi lộc gì. Lúc nào ta cũng nghĩ phải khoắng của nhà Xương Bá, không ngờ đến nay lại mượn tính mạng của gã bán gà mới được toại nguyện. Nếu không có trời dung rủi, sao ta nghĩ ra diệu kế này. Ngay lúc ấy gã lại tính toán đến việc dọa nạt lừa dối, xếp đặt sẵn những lời nói để ngày mai thực thi kế moi tiền. Mọi việc sắp đặt xong, hắn mới cởi áo lên giường ngủ lấy sức ngày mai đối chọi với nhà họ Trương. Ai ngờ do quá mệt mỏi vì phải tính kế, hắn ngủ thiếp đi, trời sáng bảnh mắt mà hắn vẫn chưa dậy.
Thủy thị gọi, hắn choàng tỉnh lao ra cửa. Hắn tưởng rằng có người tiên phong, thì quân sư có thể ngồi chễm chệ nơi màn trướng. Ai ngờ ra thăm dò thấy vẫn im ắng, chẳng có động tĩnh gì. Cửa hàng nhà Xương Bá vẫn cứ đông đúc ồn ào. Ngay những nhà bên cạnh cũng chẳng thấy ai nói đến. Hắn thấy rất lạ lùng: "Tại sao lại không thấy tin tức gì? Thật là kỳ quái, hay nhà họ Trương phát hiện ra mà giấu đi. Chỉ có mình biết chuyện ấy nhưng khó mà hỏi người khác được". Hắn hối tiếc và uất ức mà không dám lên tiếng, đến nỗi để tuột khỏi tay một món tiền kếch xù, mà lại còn lỗ mất hai bữa rượu. Từ đó lòng dạ Điêu Tinh không yên, tìm mọi cách thăm dò cho ra sự thực, lúc đó sẽ khoác thêm cho Xương Bá tội mang xác chết đi chôn. Mấy hôm sau vẫn không thấy động tĩnh, Điêu Tinh tuy nôn nóng, nhưng chẳng biết làm thế nào, chỉ một mình bồn chồn lo lắng mà thôi.
Từ ngày được Xương Bá tha và cho tiền, Chu Ân buôn bán lặt vặt cũng đủ chi dùng hàng ngày, không lúc nào anh quên ơn Xương Bá. Một hôm làm xong việc, trời vẫn còn sớm, Chu Ân muốn đến thăm Xương Bá. Một là, anh áy náy về việc xác chết, không biết sau khi thả xuống sông sẽ ra sao, và cũng muốn báo cho Xương Bá biết tin này. Đương nhiên không phải Chu Ân muốn kể công với Xương Bá, và cũng không đòi ông ấy phải đền ơn.
Vừa mới đi tới đầu cầu, thấy người ta đứng vòng trong vòng ngoài bàn tán. Chu Ân bước tới thấy một xác chết đầu oặt ra. Đúng là xác chết anh dìm xuống đêm trước, đã được vớt lên bờ. Lúc ấy bụng Chu Ân hơi run, chỉ sợ liên lụy đến mình, nhỡ ra bất chợt họ ghép mình vào tội tự ý di dời xác chết, kết hợp với tội ăn trộm thì chống sao nổi. Chu Ân tới nơi xem, càng kinh hãi. Chẳng phải ai khác mà đó chính là Ngu Tín Chi, người anh con bà cô. Cha Tín Chi là Ngu Bá Cần. Xưa kia ông tổ họ Ngu là một người giàu có trong làng. Đời Bá Cần do không biết kinh doanh, rồi lại phải đóng thuế má sai dịch, cửa nhà sa sút dần. Đến đời Tín Chi thì cửa nhà đã khốn đốn sa sút. Chu Ân thường hay đi lại với anh, từ khi hai nhà lâm vào cảnh túng quẫn hiu hắt, nên ít qua lại. Chu Ân thấy thế không sao cầm nổi nỗi thương tâm, tự nhiên gào lên khóc. Những người xem quanh đấy thấy anh là thân nhân của người chết, không thể không hỏi, người ấy tên gì, ở đâu.
Chu Ân chưa trả lời xong, thì thấy một người trong đám đông vội kéo tay anh, nói:
- Hãy đến nhà tôi, tôi sẽ bàn với anh.
Chu Ân quay đầu lại chỉ thấy:
Trán ngang ba ngấn, chau lại thành tên độc ác
Thao láo mắt tròn, nhắm nghiền thấy được mưu gian
Sợ mình nghèo, sinh lòng oán hận.
Lo người giàu, đòi phải chia đều.
Đất bằng gió mưa,
Trời xanh sấm sét.
Kế độc đã thành, chẳng kể làng xóm gần xa,
Đơn từ bịa đặt, đâu biết phủ quan liêm chính.
Thị phi điên đảo,
Thay trắng đổi đen.
Quả là miệng cười, giấu dao, nói năng ráo hoảnh,
Đúng là trong bụng có kiếm, óc tim toàn nghĩ giết người.
Chu Ân theo người ấy đến nhà, người ấy nói: "Tôi họ Điêu, tự là Đức Phủ. Năm nay, tới phiên tôi cai quản vùng này. Xác chết vừa vớt được, chưa tìm được người thân tới nhận, anh đến rất kịp thời, ta cần phải làm đơn trình báo phủ quan. Anh đã biết vì sao anh anh chết, nay anh nghĩ thế nào cứ nói, tôi sẽ thay anh làm việc này".
- Hôm trước, người nhà anh ấy đến hỏi, - Chu Ân nói, - anh ấy đã đi năm sáu hôm mà không thấy về. Tôi cũng không để ý tới, song nào có ngờ đâu anh ấy chết ở đây.
- Anh anh bị người ta giết chết. - Điêu Tinh giả vờ kinh ngạc nói. - Tôi biết anh không hay biết chuyện này, song hung thủ chính là Trương Bá, người mở cửa hàng vải ngay đối diện nhà tôi. Lão ta cậy thế giàu có, không biết họ cãi nhau về chuyện gì mà chửi anh anh vô cùng tàn tệ. Nay bỗng nhiên anh anh chết, dù không phải bị chết do đánh, nhưng tôi vẫn nghĩ rằng lão ta không thể trốn tránh được trách nhiệm.
- Xem ra không phải là chết đuối, - Điêu Tinh nói tiếp, - mà chết do thắt cổ. Theo tôi, anh phải đi cáo giác, nhất định lão ta phải lo chôn cất. Đây là tấm lòng của tôi khi gặp nỗi bất bình, nhưng việc đó cũng phải do anh định đoạt.
Nghĩ lại việc xảy ra hôm trước, Chu Ân thấy anh ta nói đúng. Song đã chịu ơn Xương Bá, Chu Ân không thể vong ơn bội nghĩa ngay được. Hơn nữa, về việc này, nhà họ Ngô không còn ai, thì anh phải đứng ra. Nếu chẳng may gặp Xương Bá, ông sẽ nói ra chuyện xấu xa của mình thì việc sẽ rắc rối to. Chu Ân do dự không quyết, đành trả lời lấp lửng rằng:
- Tôi không đứng tên được, phải tìm chị tôi để chị ấy đứng tên, thế mới thỏa đáng. Bây giờ đã muộn, ngày mai chúng ta bàn tiếp.
Điêu Tinh nghĩ: “Nếu được đàn bà đứng tên thì càng dễ bưng bít". Rồi hắn nói với Chu Ân rằng:
- Anh nói có lí, sáng mai anh chị đến cả đây, ta sẽ nghĩ kế, ra tay trị lão ta trước. Nếu đến muộn thì lão Trương giở trò khó mà lật lại được. Chẳng may phủ quan biết, hỏi vì sao không khai báo, thì lúc ấy càng tốn công, lại khó xoay xở.
Trở về, Chu Ân nói hết mọi chuyện với mẹ là Khâu thị, rồi hỏi:
- Sự việc xảy ra như thế, mẹ nghĩ nên làm thế nào cho phải?
Nghe xong chuyện, Khâu thị khóc nói:
- Không ngờ anh Ngu lại chết khổ như thế? Nhưng con cũng không nên vội vàng, phải tìm ra sự thực. Tính mạng nhà mình là nhờ vào họ Trương tha thứ. Nếu như đêm hôm ấy ông giải con lên quan trị tội, thì không phải một mình con, mà cả nhà đều chết đói. Hôm đó không những ông chỉ tha con, mà còn cho thêm vốn liếng làm ăn. Hiện nay mình sống được là nhờ ơn ông sao con không lo đền ơn đáp nghĩa, mà lại đứng ra kiện cáo. Làm thế lương tâm chúng ta không cho phép. Theo mẹ, một người tốt như thế thì không thể là kẻ giết người. Anh Ngu xưa nay cũng là một người yên phận, song lại tự nhiên liều lĩnh lừa dối người, chắc rằng có duyên cớ gì đây.
Nghe xong, Chu Ân mới hiểu ra. Anh vội tìm gặp Xương Bá. Anh cám ơn Xương Bá đã giúp đỡ mình, sau lại hỏi cặn kẽ về việc Tín Chi, Xương Bá không hề hay biết. Ông cho biết, có người đến nhà mình, nhưng không nói rõ họ tên, nên đã không cho anh ta một xu. Nghĩ một lát, chợt nhớ ra, ông nói:
- Đúng rồi, nhất định là người ấy.
Xương Bá thuật lại tỉ mỉ cho anh nghe chuyện Tín Chi đến nhà, nhận bà già là người thân, bị truy hỏi, anh ta ê mặt bỏ đi. Xương Bá nói:
- Thực ra hôm anh tới nhà tôi, bà già rất sợ, lại gặp gió, cảm lạnh bị chết. Bà ấy ở nhà tôi đã hơn hai mươi năm nay, không thấy một người thân thích nào đến thăm. Chẳng hiểu sao nay lại thấy có người đột ngột đến?
- Không biết anh tôi bị người nào xúi bẩy, - Chu Ân nói, mà lại liều lĩnh chết một cách vô ích như thế.
- Anh nói sao? - Xương Bá kinh ngạc nói.
Chu Ân kể lại việc mình thấy Tín Chi thắt cổ ở cửa nhà ông rồi mang chiếc xác ấy đi, nay Điêu Tinh lại xúi anh tố cáo ông giết người, anh không nghe. Xương Bá nghe xong, dựng tóc gáy không nói lên được, mãi sau ông nói:
- Một người xưa nay những hề quen biết, sao lại lừa dối để hại ông, cứ hư hư thực thực không sao hiểu nổi.
- Đời nay thật giả lẫn lộn, - Chu Ân nói, - đến khi tìm ra thật giả thì gia tài khánh kiệt. Tướng công đã giúp đỡ tôi thì đương nhiên tôi phải lo chu tất, việc này ông không phải bận tâm.

Xương Bá cảm ơn Chu Ân. Trên đường trở về, vừa đi Chu Ân vừa nghĩ: "Tín Chi có người thân thích nào làm công cho Xương Bá đâu. Vậy việc này chẳng liên quan gì đến nhà họ Trương. Tại sao Tín Chi không phân biệt thật giả, lại bị hắn lừa gạt, coi rẻ cả tính mạng mình?”. Anh lại nghĩ tiếp: “Sự việc có thể là giả, nhưng cãi nhau, cuối cùng dẫn đến cái chết lại là thực. Thế thì chết tại cửa nhà Xương Bá cũng là giả ư? Tín Chi đã chết, Xương Bá chẳng qua hết lòng báo ơn mình, vậy thì việc lo ma chay cho anh ấy biết trông cậy vào đâu?". Càng nghĩ, Chu Ân càng thấy thương tâm. Đi được nửa đường, anh nẩy ra ý định: "Mình không nghĩ ra cách gì, Lạc Công Tế là người hiểu biết, sao ta không đến bàn với ông ấy xem sao?". Thế rồi anh đến nhà Công Tế.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5938
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Sun Mar 16, 2014 4:38 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 5 (C)
Chu Ân tới nhà Công Tế thì nhà đã lên đèn. Chẳng cần khách sáo, Chu Ân kể lại tỉ mỉ cho Lạc Công Tế nghe về cái chết của Tín Chi, và những lời nói của Điêu Tinh, mong ông tìm ra cách giải quyết. Công Tế nói:
- Việc này đúng là do Điêu Tinh gây nên. Ngày mai phải cáo giác Điêu Tinh, thì lúc đó sẽ biết rõ mọi chuyện.
- Sao ông lại biết chắc chắn là do Điêu Tinh? - Chu Ân nói.
- Vớt thi thể từ dưới nước lên, - Lạc Công Tế nói, - trong lúc vội vã như thế, vì sao anh ta lại biết được chết là do thắt cổ, mà trong khi đó mọi người đều không biết. Căn cứ vào chi tiết ấy biết ngay đó là do Điêu Tinh lừa đảo.
Lúc đó Chu Ân mới hiểu ra, nói:
- Ông nói có lí, thế mà tôi không nghĩ ra. Nhưng ta phải tố cáo hắn thế nào?
- Tôi đã biết Điêu Tinh xưa nay là một thằng vô lại. - Lạc Tế Công nói. - Hắn chuyên lừa dối để hãm hại người lương thiện. Nay ta phải tố cáo hắn về tội xúi bẩy người khác giết người, hãm hại dân thường. Nếu đưa đơn kiện, nhất định hắn phải đền mạng. Hãy nói cho tôi biết anh anh có con trai không, và vợ anh ấy họ gì?
- Anh ấy không có con, - Chu Ân nói, - vợ anh ấy họ Ngải.
- Ngày mai anh đưa chị ấy đến đây, - Công Tế nói, - tôi sẽ chỉ cho cách gặp quan. Tôi sẽ đi trước đưa đơn kiện, để hắn không kịp đề phòng, ấy mới là thượng sách.
Chu Ân nghe theo, rồi cáo từ ra về.
Hôm sau, Điêu Tinh chờ Chu Ân đến bàn việc hệ trọng, nhưng chờ mãi hắn không thấy Chu Ân đâu cả, hắn nghĩ: "Bọn này thật là ngu xuẩn, chúng không đến thì mình là người địa phương phải báo quan, xem Xương Bá có phải nhận tội không?”. Đang định viết đơn thì hắn thấy công sai(1) đến đòi. Điêu Tinh giật mình, không biết là chuyện gì, đến khi xem trát, thì lại chính là việc Tín Chi. Nguyên cáo là Ngải thị, người báo là Chu Ân. Điêu Tinh nhìn qua, tức giận nói với công sai rằng:
- Tôi không phải là hung thủ, không phải là phạm nhân, sao phủ quan lại cho đòi tới xét hỏi. Hắn cáo giác ta không biết có chủ ý gì đây.
(1) Công sai: người đưa giấy tờ ngày xưa.
- Chúng tôi chỉ là người theo lệnh quan đến tìm anh. - Công sai nói. - Anh là hung thủ hay không, chúng tôi không biết, anh đến quan mà biện bạch rõ trắng đen. Chúng tôi chỉ là người thừa hành công vụ. Hãy trả công chúng tôi mang giấy tới để chúng tôi uống rượu, sau này anh còn phải nhờ vả chúng tôi nhiều đấy.
- Khoản tiền này sẽ có người đưa, - Điêu Tinh nói, - tôi không thể trả thay được. Ngày mai tôi tố cáo ra hung thủ, hắn là phú ông, lúc đó sẽ đưa cho các ông, thế có được không?
- Anh nói mới hay chứ, - công sai nói, - tên trong giấy là tên anh. Chúng tôi chẳng biết phú ông là ai. Nhận được lệnh là chúng tôi hộc tốc đi ngay không dám trái lệnh.
- Các ông đến đây là theo lệnh bắt người, - Điêu Tinh nói, - chứ không phải đến đòi tiền.
Công sai đùng đùng nổi giận, nói:
- Chúng tôi đã sai, anh đừng trách móc chúng tôi nữa. Thôi mời anh đi cho. Nếu đến quan xét xử, anh tố cáo ra hung thủ thì chúng tôi không dám đến cửa nhà anh nữa.
Công sai bắt hắn giải đi. Điêu Tinh cười nói:
- Nỗi oan đều có đầu mối, nợ phải có người trả. Đã biết kẻ nào phải đền mạng đâu, đi thì đi sợ gì!
Điêu Tinh theo công sai lên huyện. Hắn xem giấy, biết ngày mai mới xét xử, định xin quay về viết đơn trình báo, nhưng công sai thấy anh ta không chịu đưa tiền, nên không cho hắn về bắt giam vào phòng ở của một người sai dịch: Vì sao mọi người lại ra sức giúp Chu Ân như thế? Điều ấy là do Công Tế căn cứ vào những biểu hiện bên ngoài mà suy ra, lại là người quen biết hầu hết những người trong nha môn. Phàm là việc gì ông cũng hết sức chu đáo, chỗ nào cần tiền đút lót thì ông đưa, nên nói gì họ cũng nghe theo.
Đồng Vân Tiêu lúc đó là tri huyện Trường Châu, xuất thân từ khoa bảng. Là người thanh liêm chính trực, Đồng Vân Tiêu được người đời kính trọng. Các vụ kiện tụng ông xét xử đều rất công bằng, hợp tình hợp lí. Ngày hôm sau Đồng Vân Tiêu đưa vụ án ra xét xử. Ông cho gọi tất cả các phạm nhân có liên quan, đầu tiên là Ngải thị, ông hỏi:
- Sao ngươi biết chồng mình bị Điêu Tinh mưu hại? Thường ngày có thù oán gì nhau không?
- Chồng con là Ngu Tín Chi, - Ngải thị nói, - vì thiếu tiền thuế nên đã phải đi bán gà lấy tiền nộp thuế. Đến nay đã hơn hai mươi ngày mà không thấy về. Hôm kia Chu Ân báo rằng Điêu Tinh mưu hại. Con là đàn bà gặp phải tai họa, nên đã làm đơn trình lên quan xét xử. Quả thực thường ngày chúng con không thù hận gì nhau.
Quan huyện bảo chị quỳ xuống một bên, rồi gọi Chu Ân ra, quát hỏi:
- Ngươi căn cứ vào đâu để biết người ta mưu hại? Đã biết mưu hại sao khi ấy không lập tức báo quan, mãi cho đến hôm nay mới đưa đơn kiện? Ngươi đã lừa dối quan, vu tội cho người khác.
- Con và Điêu Tinh không hề quen biết nhau, - Chu Ân nói, - cớ gì con lại vu cho anh ta. Hôm kia, ngẫu nhiên đi qua cầu con thấy một xác chết ngật đầu, vớt từ dưới nước lên. Nhìn kĩ thì đó lại là anh con. Lúc ấy ở đó rất đông người, không ai biết anh ấy chết là do treo cổ, thế mà chỉ có mình Điêu Tinh biết, và nói là người chết do treo cổ rồi bị vứt xuống sông. Vì thế mà con nghi cho anh ta.
Quan huyện lại bảo anh quỳ xuống một bên, rồi gọi Điêu Tinh hỏi:
- Vì sao lại mưu hại Ngu Tín Chi? Ngươi phải khai rõ sự thực.
- Bẩm quan lớn, - Điêu Tinh nói, - thật là oan cho con quá. Nếu con mưu giết anh ta để lấy của thì anh ta là người nghèo. Bảo giết anh ta để báo thù thì con và anh ta chẳng có hiềm khích gì nhau. Vậy thì vì sao tự dưng con lại giết người? Chỉ có một nguyên nhân, đó là, mấy hôm trước con thấy anh ta cãi nhau với Trương xương Bá, bị Xương Bá đánh đau. Con đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh ta không nghe. Bởi thế Tín Chi phẫn uất mà chết. Họ trách con là người cai quản địa phương, không cứu anh ta, nên đã vu cáo cho con.
- Sẩy chân mà chết đuối là việc thường tình. - Quan huyện nói. - Sao ngươi biết là anh ta thắt cổ?
- Con thấy có ngấn ở cổ anh ta. - Điêu Tinh nói. - Con biết đó là dấu vết thắt cổ.
Quan huyện lại viết lệnh bắt Xương Bá tới xét hỏi, đồng thời sai người nhà phạm nhân kiểm tra lại thi thể, gọi ngay vụ tác nhân(1) tới ngay cầu xem xác chết có thương tích gì không. Khám nghiệm tử thi xong, người ấy về báo rằng:
(l) Vụ tác nhân: người khám nghiệm tử thi.
- Không thấy có thương tích gì, chỉ có một vết ngấn ở cổ.
Lúc ấy quan huyện đã có phần nghi Điêu Tinh xúi bẩy, song cũng có phần nghi cho Xương Bá gây ra thù oán, vậy phải cho gọi Xương Bá đến thì mới có thể kết luận được. Đúng lúc ấy Xương Bá đến quỳ trước công đường. Quan huyện hỏi:
- Người là Xương Bá có phải không?
- Thưa ngài, con đúng là Xương Bá. - Xương Bá nói.
- Ngu Tín Chi cãi nhau với ngươi, - quan huyện hỏi, - bức hắn chết lúc nào? Hãy khai ngay.
- Con buôn bán làm ăn, cũng có chút ít của cải, - Xương Bá nói, - con cũng là người biết luật pháp, sao con lại bức hại người ta chết vô cớ?
- Hôm kia anh cãi nhau với anh ấy, - Điêu Tinh nói chen vào, thấy anh có tiền của, có thế lực, không thể địch nổi nên phẫn uất quá mà anh ấy thắt cổ chết. Con thực tình không dám lừa dối quan lớn.
Quan huyện quát Điêu Tinh không được lắm lời. Rồi hỏi Xương Bá:
- Vì sao mà anh ta lại cãi nhau với người ấy?
Xương Bá thuật lại việc sau khi bà giúp việc chết, nói rằng Tín Chi có đến nhà ông nhận là người thân của bà cụ nhưng khi hỏi quan hệ của anh ấy thế nào với bà cụ, thì anh ấy không trả lời được. Sau thấy ngượng quá Tín Chi bỏ đi. Nghe xong quan huyện lại hỏi Điêu Tinh:
- Khi họ cãi nhau, ngươi không ở đấy, sao lại nói là trông thấy?
- Dù không thấy, - Điêu Tinh nói, - song sự thực đúng là như thế.
- Ngươi là người địa phương, - quan huyện hỏi, - thấy anh ta chết phải báo quan ngay, tại sao ngươi lại chờ đến hôm nay có người kiện, anh mới cáo giác.
- Lẽ ra con phải báo ngay với quan, - Điêu Tinh nói, - nhưng Xương Bá đã giấu thi thể, con không biết tìm đâu. Không có chứng cứ thực, thì con không dám báo liều. Chỉ khi tự dời xác chết đi mới có tội danh.
- Nói bậy. - Quan huyện quát. - Ngươi nói người ta mang xác chết giấu đi, ngươi biết thì phải giữ lại, không cho phép mang đi chứ.
- Nó mang đi giấu, - Điêu Tinh nói, - thì con biết sao được.
- Mày là thằng gian manh, - quan huyện quát, - trước mặt quan huyện mày còn dám nói những lời xảo trá. Đã không biết sao lại đi vu cáo cho người?
Điêu Tinh ấp úng, không dám mở miệng. Quan huyện biết hắn gian dối, gọi lính hầu kẹp hắn lại. Hai lính hầu đang căm tức hắn không chịu đưa tiền, bèn kẹp hắn thật đau. Điêu Tinh tuy là một tên liều lĩnh, song chưa từng bị hình phạt bao giờ, không chịu được buộc phải khai hết sự thực từ khi gặp anh hàng gà. Lúc ấy quan huyện mới cho tháo kẹp, ghi hết lại lời khai của hắn. Quan huyện hỏi tiếp:
- Đúng thì đúng rồi, nhưng vì sao lại di dời thi thể ấy đi, có phải làm thế để ghép thêm tội di dời thi thể nữa không?
- Con làm thế, lúc đầu chẳng qua chỉ dựa vào đó để được mấy lạng bạc, chứ chẳng có thù hận gì mà đòi ông ấy phải đền mạng. Đã làm người ta chết rồi thì sao lại chịu di dời đi, xin ngài xoi xét cho.
Quan huyện bèn gọi Xương Bá, hỏi:
- Đây là kế ngươi tránh tội, nếu không dùng hình phạt thì sao ngươi chịu khai ra.
Nói xong quan huyện sai lính hầu kẹp Xương Bá. Chu Ân thấy thế vội bẩm rằng:
- Đấy là do con không muốn làm hại người dân lương thiện.
- Vì sao lại do ngươi? - Quan huyện hỏi.
Chu Ân không dám giấu, nói hết việc xấu xa của mình cho quan huyện nghe, rồi anh lại kể việc Xương Bá cho tiền, và từ đó đã hối cải làm ăn. Anh làm thế để báo đền ân đức của ông. Lúc đầu vì không biết là anh mình, nên đã mang xác chết đi. Quan huyện thấy anh thật thà, khẳng khái nhận tội, nên không truy cứu chỉ trách anh qua loa để kết thúc vụ án. Trương Xương Bá tuy không truy bức đến nỗi làm cho Tín Chi phải chết, song vì ông là đầu mối gây họa, phải đền hai mươi lạng bạc cho Ngải thị mai táng và nuôi thân. Điêu Tinh lòng dạ xấu xa, lừa dối người vào chỗ chết phải tử hình chờ xử trảm. Quan huyện cho Ngải thị và Chu Ân trở về.
Lạc Công Tế đã đón họ ngoài cửa, gặp cả Xương Bá. Chu Ân nói:
- Đây là Lạc Tướng công, hiệu là Công Tế. Việc hôm nay nhờ ông chỉ bảo mới giải quyết được rõ ràng.
Ngải thị, Xương Bá vô cùng biết ơn. Mọi người ra về.
Còn Điêu Tinh bị giam, sau chết trong ngục. Vợ là Thủy thị đi lấy chồng. Thế mới biết lẽ trời sáng tỏ, không dung tha kẻ xấu xa. Có thơ rằng:
Vốn chỉ tham tài mà gian dối,
Ai ngờ thật giả lại đảo điên.
Mưu mô quỷ quyệt thành vô dụng,
Vợ sống cô đơn, tự giết mình.
Vụ kiện này khiến Chu Ân chịu thiệt. Xương Bá tuy mất hai ba chục lạng bạc, song không đến nỗi khổ sở vì nhà tan cửa nát. Ông vô cùng cảm động, chuẩn bị hai mâm rượu, mời Chu Ân và Lạc Công Tế đến khoản đãi, dốc hết bầu tâm sự. Rượu ngà ngà say, Xương Bá vội lấy từ trong tay áo ra ba mươi lạng bạc biếu Chu Ân. Ông nói:
- Anh cầm số bạc này về làm vốn, mở một cửa hàng nhỏ cũng có thể sống được, không cần phải gánh hàng rong suốt ngày trên đường cho khổ. Sau đó ông lại rút ra hai mươi lạng biếu Công Tế. Công Tế từ chối, nhưng cuối cùng cũng phải nhận. Chu Ân ra sức từ chối, nói:
- Vụ kiện này ông được minh oan, vì ông là người phúc đức nên trời phù hộ; hai là, quan phủ thanh liêm, lại được Lạc tướng công chỉ bảo, chứ tôi có công lao gì mà nhận thưởng!
- Cung kính không gì bằng theo lệnh. - Công Tế nói. - Các ông quen biết nhau từ lâu rồi, đây không phải báo đức hay là nhận, mà là hai người giúp nhau sống yên vui.
Thấy thế Chu Ân không dám chối từ, bèn thay áo ngồi vào ăn uống hết sức vui vẻ cởi mở.
Từ đó Chu Ân vẫn theo nghề buôn bán, và trở nên giàu có Công Tế vì đã giúp đỡ hai người, sau lại thông gia với Xương Bá, đời này đến đời khác vẫn quan hệ thân thiết. Cho tới nay tình thân ái càng thêm khăng khít mặn nồng.

Câu chuyện này luôn luôn khuyên người ta làm việc thiện. Nó giáo dục con người không nên tham lam tiền của. Ngay như Tín Chi, vừa mới nẩy lòng tham đã bị chết; Điêu Tinh vì sẵn có lòng tham, đến nỗi cửa nhà tan nát. Không những không lấy được của người khác, mà ngay của nhà mình cũng phải đội nón ra đi. Tiền bạc là cái tác oai tác quái, nếu các bạn khao khát nó thì các bạn hãy dập tắt ngay những ý nghĩ ấy đi, đừng quá coi trọng. Song không thể quá tham lam tiền tài, cũng không thể không yêu quý nó. Vì sao vậy? Nếu như khinh tiền của mà tiêu hoang phí, đến nỗi áo không đủ mặc, cơm không đủ ăn, cũng không phải là mĩ đức. Nếu một đồng cũng không tiêu, hai đồng cũng không hoang phí, tuy không gây nên họa làm nên tội song cuối cùng có tụ phải có tán, thì tội gì phải giữ tiền của mà không dám ăn. Loại người này gọi là loại người kiết xỉ chứ không phải là người quý tiền của. Được mười thì phải tiêu một, được trăm phải tiêu mười, ai ai cũng cảm kích và biết ơn. Mình không phí nhiều, mà người chịu ơn cũng không ít. Thế chẳng phải người ta thì lãng phí đến cùng cực, mà mình thì không phải là lãng phí. Như vậy mới gọi là biết yêu quý của cải. Giả thử lúc ấy Xương Bá tiếc ba lạng bạc, thì Chu Ân làm sao lại chịu bảo vệ ông. Chu Ân nếu không có ba lạng bạc làm sao khôi phục lại được nghề nghiệp. Tiền bạc quả là một thứ ma mãnh. Các bạn thân mến, nếu bạn tiêu tiền không đúng chỗ thì xin bạn hãy dừng lại, dùng cho đúng chỗ, đừng quá coi thường nó. Mấy lời tôi nói không những khuyên cho đời tốt, mà còn là một cuốn sách khiến người ta trở nên giàu có.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5938
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Mon Mar 17, 2014 1:06 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 6 (A)
Ôn Hòa Cảm Hóa Hung Tàn Độc Ác, 
Khinh Thường Nhu Nhược
Đọc trong sách xưa, thấy anh em gắn bó khắng khít như chân với tay. Cái quý nhất trên đời là tình đồng bào, song không thể so sánh với tình anh em ruột thịt. Đừng có cướp đoạt của cải ruộng vườn của người khác. Tất cả những cái đó đều là của phi nghĩa. Hiểu được điều đó thì thật là có ích.
 
Đáng cười thay, thế thái nhân tình điên đảo. Tình vợ chồng thì hòa hợp, nhưng tình anh em thì ngày càng mai một. Họ không nghĩ đến tình anh em, mà lại nghe những lời nói bên chăn gối. Thiên tính ngày càng mất đi, lửa tham ngày càng bùng cháy, luôn xảy ra tranh chấp. Đâu được ngưu hoàng(1) mà giết bừa trâu ăn thịt. "
(1) Ngưu hoàng: một chất trong trâu ốm tiết ra, ngưng kết thành hạt, hoặc thành từng miếng. Đây là một vị thuốc Đông y rất quý.
 
 
Đây là bài từ theo điệu "Niệm nô kiều”. Nó khuyên anh em nên sống hòa thuận với nhau. Anh em ruột thịt, lúc hợp lúc tan. Anh em ruột thịt, như chân với tay. Cùng một cơ thể sinh ra, nếu như mất một cánh tay thì chân đi tập tễnh.
 
Các bạn thân mến, không nên cho rằng đây là những điều tôi bịa ra cho có vẻ li kì. Rằng, thiên hạ làm gì có người ngu si, chặt tay mình cho người khác xem, rằng, điều ấy không có đối chứng. Song, lời tôi nói tuy có hơi kì lạ, nhưng cũng không hẳn là sai. Nếu không tin các bạn thử bắt chéo tay lại, chạy thật nhanh khoảng một trăm bước, liệu có được không? Bạn sẽ thấy lời tôi nói là đúng sự thực. Những người bại liệt không có chân, phải dùng hai tay bò, mà cũng không bò được xa. Bởi thế anh em phải hòa thuận. Không phải chỉ anh em cùng cha mẹ sinh ra mới hòa thuận, mà ngay cả anh em cùng cha khác mẹ cũng không vì thế sinh ra hiềm khích.
 
Tôi xin kể cho các bạn nghe một câu chuyện, anh em cùng cha khác mẹ luôn gây gổ hiềm khích nhau, nhưng may lại có một người như Mẫn Tử Khiên, đã dẹp được những mối hiềm khích.
 
Thời Chính Đức triều Minh, tại huyện Lô Lăng, phủ Cát An, Giang Tây, có một người họ Bình tên là Bình Trường Phát, gia sản của ông ta tới hàng trăm vạn. Viễn thị vợ Bình Trường Phát sinh được một con trai, tên là Bình Thành. Một hôm vì công việc. Bình Trường Phát phải đi xa. Biết được đây là nhà giàu có, chủ nhà lại đi vắng, đêm ấy, hàng trăm tên cướp đã xông thẳng vào nhà cướp bóc. Nhà họ Bình chỉ có mấy chục người, không sao chống đỡ nổi, bị chúng đuổi bắt, rồi vơ vét hết của cải. Viễn thị là người có nhan sắc cũng bị chúng bắt đi. Bình Thành thấy mẹ bị mấy tên cướp lôi ra khỏi cửa, chạy tới níu áo mẹ khóc thảm thiết. Một tên rút dao định chém Bình Thành. Viễn thị vội quỳ xuống cầu xin:
- Tôi chỉ có một đứa con này, xin các ông tha cho nó, tôi nguyện sẽ đi theo các ông!
Tên cướp buông tay. Thấy Bình Thành cứ nức nở khóc, Vưu thị thương con không muốn xa, đành bế nó đi theo.
Hôm sau Bình Trường Phát cùng mấy người trở về, biết được tất cả mọi chuyện xảy ra đều do bọn cướp trên núi, báo quan cũng chẳng làm gì được chúng. Gia tư nhà họ Bình có tới hàng trăm vạn, một nửa là ruộng, vườn, ao hồ; bốn phần nữa là cửa hàng buôn bán rải rác ở một số nơi. Bọn cướp chỉ lấy đi một phần mười gia tài, nên Bình Trường Phát vẫn còn giàu có.
 
Người vợ trước bị cướp mất, Bình Trường Phát lấy vợ khác là Cam thị. Sống với nhau đã được bốn năm năm mà Cam thị không có con, Bình Trường Phát rất buồn và muốn có đứa con trai để nối dõi. Thấy nhà họ Trương có người con gái xinh đẹp, Bình Trường Phát bỏ tiền cưới cô về làm thiếp. Song đúng vào lúc lấy vợ lẽ thì Cam thị lại có mang, sinh được đứa con trai. Người ta nói đùa với bà rằng, bà lo lắng quá mới đẻ được con.
 
Bình Trường Phát đặt tên con là Bình Y. Năm sau Trương thị sinh con trai, đặt tên là Bình Bạch. Sau, Cam thị lại sinh được hai con trai, đặt tên là Bình Thân và Bình Phẫu. Trương thị cũng sinh thêm được hai người, nhưng đều ít tuổi hơn Bình Phẫu, đó là Bình Duật, và Bình Lâu.
 
Lúc nhỏ, sáu đứa con vẫn chơi với nhau bình thường, đến khi lớn lên, Bình Y trở thành kẻ vô lễ. Y oán hận cha vì đã lấy vợ lẽ, không bằng lòng chia gia tài làm ba. Bình Y cho Bình Bạch, Bình Duật, Bình Lâu là loại hèn hạ, không nhận là anh em, hắn lại còn liên kết với Bình Thân và Bình Phẫu thành một phe, ra mặt coi khinh ba người kia.
 
Bình Bạch con của Trương thị là người hiếu thuận, không suy bì tính toán thiệt hơn. Bình Duật và Bình Lâu thấy bị coi khinh rất bất bình, đã mấy lần bàn với Bình Bạch báo thù, song Bình Bạch ngăn trở.
 
Thấy các con bất hòa, nhân lúc còn sống Bình Trường Phát chia gia tài, mấy năm sau Bình Trường Phát chết.
 
Khi cha chết, Bình Y càng ra mặt coi khinh ba người em do mẹ kế sinh ra. Bình Bạch biết hai em mình rất căm tức Bình Y, nên nhiều lần đã dùng lời hơn lẽ thiệt khuyên nhủ, can ngăn Bình Duật, Bình Lâu không được gây ra tai họa. Hai người em thấy anh hết lòng dạy bảo đành nén giận, không dám trái lời. Bọn Bình Y thì vẫn khinh ghét họ như trước.
 
 
Bình Y có một người con gái, gả cho con trai Chu Hiếu Tư, người cùng huyện. Do mắc bệnh hiểm nghèo con gái Bình Y chết. Gia đình Chu Hiếu Tư cho người đến nhà họ Bình báo, được tin Bình Y vô cùng oán hận, cho rằng gia đình thông gia họ Chu không thương yêu con gái mình, để đến nỗi mắc bệnh chết. Bình Y hằm hằm tức giận bảo Bình Bạch cùng với anh em họ đến gây gổ. Bình Bạch ngăn lại nói:
- Anh ạ, chúng ta không nên làm thế, người xưa thường nói "chết có số", số cháu năm nay chết, nếu còn ở nhà, chưa đi lấy chồng thì nó cũng chết. Hơn nữa, quan hệ mẹ chồng nàng dâu xưa nay chẳng có điều tiếng gì. Nay cháu chết, bên ấy họ cũng đau xót chứ, sao anh lại đến đó gây sự, làm như thế là không nên. Anh đừng đến đó nữa.
Bình Y thấy Bình Bạch không nghe theo, bực tức nói:
- Con gái anh, nó còn trẻ khỏe như thế, lẽ nào vừa mắc bệnh đã chết. Con gái chú, năm ngoái ốm, năm nay cũng ốm, sao không chết? Chú không muốn đi với chúng tôi thì thôi, chú đừng tin vào số mệnh nữa. Tôi thật không sao hiểu được.
- Anh đừng nghĩ, do anh em xích mích nên tôi không đi.
- Bình Bạch nói. - Quả thực việc này không thể làm được, anh hãy suy nghĩ kĩ những lời em nói. Không đi mới thục sự là tình cảm anh em.
Bình Y không thèm trả lời, giận dữ bỏ đi. Bình Bạch khuyên nhủ nhiều lần, nhưng Bình Y vẫn không từ bỏ ý định. Bình Bạch biết dù có khuyên can nữa thì cũng vô ích, nên chỉ buồn rầu than thở.
 
Bình Y hẹn với Bình Thân, Bình Phẫu tập hợp một số tên vô lại trong họ, cùng một số trai tráng khác, tất cả hơn mười người, sồng sộc kéo nhau đến nhà họ Chu. Chu Hiếu Tư đang tiễn khách ngoài cửa, nhìn thấy bọn họ định ra tiếp đón, song lại thấy người đến rất đông, người nào người nấy mặt cứ hằm hằm. Chu Hiếu Tư bèn chạy vào trong nhà theo dõi, vào tới cửa bọn Bình Y đã quát thét chửi bới. Mấy người thân thấy ầm ĩ chạy vào khuyên can, song bọn người này bất chấp, tất cả xông thẳng vào nhà tìm bà thông gia. Thấy họ xông vào, bà thông gia chạy xuống bếp ẩn nấp, rồi bà nghe thấy tiếng quát: "Nó không ở đây, Phải ra đằng sau tìm ngay!". Bà thông gia vội chui vào bếp, song chỉ chui được nửa người, may mà có bó rạ che đi. Trong lúc vội vàng chúng không nhìn thấy, chúng bèn bắt đứa ở ra tra khảo, đứa ở không chịu nói, Bình Thân vớ ngay chiếc búa bổ củi dựa ở chân cột định giết. Sợ quá đứa ở buộc phải nói:
- Vừa thấy bà chủ xuống bếp, chắc rằng ở đằng sau.
Chúng chạy ùa cả xuống bếp lục soát, thấy hai chân bà thòi ra ngoài cửa bếp, bèn lôi ra, lột hết quần áo. Trên gác bếp sẵn có củi cành, mỗi đứa rút một thanh đánh bà túi bụi. Khi thấy khắp người bà sưng húp, thâm tím chúng mới dừng tay. Bình Y lấy một chiếc khóa dây tròng vào cổ, lôi đến khóa vào chân người chết. Bọn chúng lại xúm vào chửi bới hết sức độc địa, sau lại ra hố xí lấy cứt nhét vào mồm bắt bà ăn. Mấy tên vô lại đang hành hung bà thông gia thì thấy có tiếng quát bên ngoài, một số người ập vào. Bọn chúng tưởng đó là tốp người nhà họ Chu tới đánh, định chống lại, nhung đấy lại là người của quan trên cử đến, do Chu Hiếu Tư dẫn về. Người dẫn đầu tay cầm lệnh bắt, nói:
- Quan trên có lệnh bắt các người.
Bọn người ấy sững ra đứng im để những người thi hành công vụ lấy khóa, khóa tất cả lại, rồi cởi chiếc khóa ở cổ bà thông gia khóa Bình Y, giải đi.
Hùng hổ ra oai đánh đập người
Cùm chân tất cả thật đáng đời.
 
Vốn là, Chu Hiếu Tư đứng sau cửa, nhìn thấy bọn người ấy hùng hổ ập vào nhà, ba người con trai lại chưa về, một mình địch sao nổi chúng, bèn vội vã thoát ra ngoài, hộc tốc tới huyện báo quan. Đúng lúc quan huyện đang ở công đường, tức khắc ra lệnh bắt, bởi thế mới nhanh như vậy. Ngay lúc ấy, công sai giải bọn Bình Y tới, Chu Hiếu Tư quỳ trước công đường vừa khóc vừa tố cáo việc hành hung của bọn người vô lại.
Quan huyện nghe thấy vô cùng tức giận, cho lính hầu đánh mỗi tên bốn mươi gậy, sau đó hỏi tội. Bọn lính lệ kéo Bình Y ngã sấp, đánh túi bụi. Quan huyện lúc ấy đang xử bọn Bình Y thì có hai viên thừa sai của quan phủ vào, nói có việc khẩn cấp mời quan huyện đi ngay, thật là may cho bọn Bình Y. Biết quan phủ có việc khẩn cấp, nên quan huyện không dám coi thường, dặn mọi người giam bọn Bình Y lại, lập tức lên kiệu tới phủ đường. Chu Hiếu Tư cùng mọi người ra về.
 
Thấy anh không nghe lời, Bình Bạch rất lo lắng, ông sai người tới nhà họ Chu nghe ngóng. Lát sau trở về nói với Bình Bạch rằng, họ đã đến nhà họ Chu hành hung, bị công sai bắt giải lên huyện rồi. Bình Bạch nghĩ: "Nguy rồi, ta biết quan huyện là người rất cứng rắn và quyết đoán. Chuyện này làm sao mà ông ấy xử lí nhẹ được". Rồi Bình Bạch bảo: "Lấy ra đây cho ta bộ quần áo!" Vốn là, trong sáu anh em, thì Bình Bạch là người có học hành, có danh vọng, đã đỗ tú tài. Người dân trong vùng có việc gì khó khăn ở huyện đường đến nhờ, anh đều giúp đỡ. Bình Bạch mặc áo mầu lam, gọi người cùng lên huyện, song quan huyện lên phủ chưa về. Bình Bạch bèn bỏ một tờ giấy vào chiếc hòm đựng đơn từ tại cửa huyện đường, rồi ra chờ ở phòng tiếp khách. Lát sau thì quan huyện về, nhận được giấy của Bình Bạch, ông cho gọi ngay Bình Bạch. Bình Bạch là người đức độ và ngay thẳng, quan huyện rất nể phục. Gặp nhau họ chào mấy câu xã giao, hỏi han chuyện trò, tới khi trời gần tối, quan huyện mời Bình Bạch ở lại dùng cơm. Vì có việc muốn nói, nên Bình Bạch không từ chối, nhân lúc uống rượu. Bình Bạch nói tới chuyện vừa xảy ra, xin ông cho qua việc này. Quan huyện nói:
- Vì việc ấy mà anh đã đến đây, lẽ ra tôi phải giúp anh, nhưng đây là hành động phi pháp, giải quyết vụ này rất khó. Anh bảo tôi nên xử thế nào?
Bình Bạch chau mày nói:
- Phép công là thế, là cha mẹ của dân, mà xử phạt theo tình riêng làm trái pháp luật quả là khó. Số tôi thật long đong vất vả!
Rồi ông kể hết cho quan huyện nghe nỗi khổ của mình, đã khuyên giải các anh nhưng họ không nghe, ông nói:
- Nay thấy họ chịu tội, lòng tôi đau như cắt.
Nói xong, nước mắt ông ứa ra, nhỏ xuống chén rượu. Quan huyện thấy thế thương tình nói:
- Tình yêu thương của anh như thế, lẽ nào tôi lại không thương. Anh đừng đau buồn nữa. Song phải làm thế nào khuyên nhà họ Chu nguôi giận, thì việc này mới giải quyết được.
Bình Bạch vội cảm ơn, nói:
- Tôi vô cùng biết ơn lòng tốt của quan, tôi sẽ sang bên ấy nhận tội.
Từ biệt quan huyện ra về, canh hai Bình Bạch tới nhà họ Chu gõ cửa. Chu Hiếu Tư vẫn còn thức, ba đứa con cũng đã về biết chuyện xảy ra, họ nghiến răng căm giận. Thấy tiếng Bình Bạch bên ngoài, họ chạy ùa ra định trút cơn thịnh nộ, song . Chu Hiếu Tư ngăn lại, nói:
- Các con không được lỗ mãng, anh em nhà ấy chỉ có ông là người đạo đức. Việc xảy ra hôm nay nhất định ông ấy không liên quan. Các con hãy ở lại, để mình ta ra gặp là được rồi.
Chu Hiếu Tư trở ra, Bình Bạch vội quỳ xuống nói:
- Tội em đáng chết.
Chu Hiếu Tư vội quỳ xuống đỡ ông dậy, nói:
- Anh có gì cần dạy bảo, xin mời anh vào nhà, ta nói chuyện. Nếu anh thế này, em cũng phải quỳ, như thế sao tiện.
Lúc ấy Bình Bạch mới đứng dậy. Chu Hiếu Tư mời vào trong nhà. Bình Bạch nghẹn ngào không nói thành lời, nước mắt rơi lã chã, lúc lâu mới nói:
- Số em thật không may, gặp phải những người anh ngỗ ngược. Hôm nay họ đã xúc phạm đến gia đình anh, thấy thế em như ngồi trên đống lửa. Nay đã bị bắt, đúng là gieo gió gặt bão, song em là anh em của họ, sao có thể đang tâm thấy họ bị tra khảo đánh đập? Bởi thế đêm nay em đến đây, cầu mong anh ra ơn cho đứa em này.
Chu Hiếu Tư thấy Bình Bạch xin tha cho Bình Y, ông rất không muốn, nhưng vì Bình Bạch là người quân tử, trung hậu, không thể xem thường, chỉ nói :
- Việc ấy đã đưa lên cửa quan, bàn với em cũng vô ích thôi. Em nghĩ rằng, quan huyện quyết không che chở cho riêng em, xin anh cứ yên tâm.
Bình Bạch thấy ông ta vẫn chưa nguôi giận, chỉ biết kêu thương, van nài. Song Chu Hiếu Tư chỉ nói:
- Thôi thì cứ theo phủ quan phân xử, còn nếu bảo em rút đơn thì em thấy không được.
Bình Bạch thấy Chu Hiếu Tư vẫn không tha thứ, lại khóc lóc van xin.
- Không giấu gì anh, quả thực, vừa rồi em đã lên huyện xin, quan cũng chịu xử lí nhẹ, nhưng còn chờ anh mở rộng đường sống, thì việc này mới xong. Chu Hiếu Tư nghe thấy quan huyện định tha, song lại nghĩ:
"Quan đã hứa với người ta, thì ngày mai phải đánh cho bọn độc ác ấy mấy gậy, cũng coi là xử lí công tâm, thì tội gì mà mình không thể tất nhân tình với anh ta". Thế rồi Chu Hiếu Tư nói:
- Em chỉ sợ quan huyện nói là hôm nay kiện, ngày mai lại thôi, quở trách em là đồ phản phúc, bởi thế em do dự. Quan huyện đã bằng lòng tha, hơn nữa anh đêm hôm cất công tới đây thì sao em lại tiếc một tờ giấy xin thôi kiện, ngày mai em sẽ cùng anh đi đệ đơn.
Bình Bạch nghe xong rất mừng, quỳ xuống tạ ơn. Chu Hiếu Tư đỡ dậy, rồi tiễn Bình Bạch ra khỏi cửa. Về tới nhà đã là canh tư.
Hôm sau Bình Bạch cùng Chu Hiếu Tư lên huyện đệ đơn xin thôi kiện. Quan huyện gọi bọn Bình Y ra, quát:
- Bọn ngươi mặc sức làm càn, không kiêng nể ai. Bản huyện định xử tử các ngươi, nhưng vì anh các ngươi đến cầu xin, nên đã nguôi giận đôi chút, bởi thế ta tha cho các ngươi. Lần sau còn hành hung như thế, ta quyết không tha thứ.
Bọn người ấy cúi đầu cảm tạ, quan huyện lại bảo phải cúi đầu nhận tội trước mặt Chu Hiếu Tư ngay tại công đường, chúng không dám trái lời. Thật là:
Cá mắc lưỡi câu may thoát chết
Vẫy đuôi cút thẳng chẳng ngoái đầu.
Bình Y về nhà không những không cảm ơn người em đã can mình, ngược lại vẫn hận thù Bình Bạch đã không cùng mình đi gây sự. Bình Bạch cũng chẳng thèm để ý đến.
Mấy hôm sau, mẹ Bình Bạch mắc bệnh chết. Lẽ ra bọn Bình Y phải để tang một năm, song bọn họ không tuân theo luật lệ. Trong ngày tang lễ đầu tiên, người chết chưa nhập quan. Bình Y và hai đứa em cùng mẹ đã ngồi ở hiên nhà bên chơi trò đố rượu, hò reo cho tới sáng, bọn chúng không hề bén mảng tới trước linh sàng. Bình Duật, Bình Lâu uất ức không chịu nổi, đòi cùng với Bình Bạch kéo nhau đến mắng chửi. Bình Bạch nói:
- Đây là bản thân chúng vô đạo đức, chẳng hại gì đến chúng ta, dù có đến tìm chúng thì chúng cũng chẳng thèm để ý mà ngược lại còn bị chúng đánh chửi.
Hai người em đành thôi. Mấy hôm sau, anh em Bình Bạch đưa quan tài Trương phu nhân đi chôn cất. Khi ấy, Cam phu nhân đã mất từ lâu, an táng cùng với Bình Trường Phát. Bình Bạch muốn an táng mẹ bên cạnh cha, nhưng Bình Y, Bình Thân và Bình Phẫu ngăn lại không cho chôn, chúng nói:
- Mảnh đất này của con gái nhà họ Điền, cách đây hai năm chúng tôi mua về để đó, sao người chết lại đưa đến đấy chôn.
Bình Duật, Bình Lâu thấy vô lí, muốn xông tới đánh. Bình Bạch ngăn lại, rồi tìm một mảnh đất khác chôn mẹ.
Hai tháng sau, vợ Bình Y mắc bệnh chết, Bình Bạch gọi hai em cùng đến cúng lễ. Bình Duật nói:
- Họ chẳng coi mẹ mình ra gì, thì chúng ta cũng chẳng chị em gì nữa! Lần này chúng ta cũng không đi.
Bình Bạch khuyên nhủ mãi, nhưng hai người chỉ cười khẩy bỏ đi. Bình Bạch đành phải đi một mình tới lễ bái, khóc lóc. Song anh thấy Bình Duật và Bình Lâu, người thì thổi sáo, người thì hát hò vui đùa ở gian nhà bên cạnh.
Bình Y thấy thế giận dữ nói:
- Ở bên này có tang, thế mà hai đứa ở gian bên kia vẫn hát xướng, thật là vô đạo đức!
Thế rồi Bình Y sai Bình Thân và Bình Phẫu tới đánh. Bình Bạch cũng mang gậy chạy tới. Vừa đi vừa quát mắng ầm ĩ, chỉ sợ hai người em bị đánh đập, nên cố ý đánh động cho hai người kia chạy trốn. Bình Duật nghe thấy tiếng quát thét bỏ chạy, còn Bình Lâu, vì mấy hôm trước đi ủng, chân bị toạc da nên chạy chậm. Bình Bạch tới nơi, dùng gậy quật vào người nói:
- Sao mày không tới linh sàng cúng, mà còn ở đây hát xướng?
Bình Lâu chưa kịp trả lời thì bọn Bình Y tới, đứa cầm then cửa, đứa cầm gậy đánh túi bụi, bất kể vào đâu. Thấy bọn chúng đánh Bình Lâu quằn quại, không đứng dậy được, Bình Bạch bèn ngáng người ngăn chúng lại. Thấy thế Bình Y quát:
- Sao không để chúng tao đánh cho thằng súc sinh này một trận?
- Nó tuy không tốt, - Bình Bạch nói, - song đánh như thế đủ rồi, xin các anh tha cho nó! Nếu như các anh còn muốn đánh nó, thì em xin chịu thay, chứ không nỡ thấy nó bị đánh.
Thấy vậy bọn Bình Y quay lại đánh túi bụi vào người Bình Bạch, đến nỗi mình mẩy thâm tím, sưng húp, đầu vỡ toác, máu túa ra đầm đìa, lúc ấy chúng mới chịu dừng tay.
Bình Duật trở về thấy hai người bị đánh. Bình Lâu trọng thương, không ăn uống được, Bình Bạch tuy đau đớn nhưng vẫn chống gậy đến Bình Y xin nhận tội. Không chịu nổi, Bình Duật giấu Bình Bạch tự viết đơn trình lên huyện, tố cáo Bình Y không tang mẹ kế. Quan huyện cho công sai về bắt, thấy đó là bọn người đến gây gổ ở nhà họ Chu trước đây, quan huyện rất căm giận, định xử trọng tội. Nhưng vì kính nể Bình Bạch, lại không biết ý ông, nên quan huyện cho mời Bình Bạch tới.
Bình Bạch muốn đi, nhưng khắp người đau đớn, mặt mũi thâm tím, không muốn gặp, chỉ viết một lá đơn bẩm lên, xin quan không xử phạt, rồi nhờ công sai trình giúp lên quan. Công sai hỏi vì sao Bình Bạch lại muốn như thế, Bình Bạch không chịu nói. Bình Duật đứng bên cạnh kể hết đầu đuôi, công sai nghe xong rất bất bình. Trở về, công sai dâng tờ trình lên quan. Quan huyện xem, gật đầu nói:
- Ta ngờ anh ấy không muốn xử tội, nên mới sai các người về hỏi Bình Bạch, quả nhiên đúng như thế!
- Sao anh ấy không đến, mà chỉ giao tờ trình cho các anh mang về. - Quan huyện hỏi công sai.
Công sai bèn thưa lại hết những lời Bình Duật nói. Nghe xong quan huyện đùng đùng nổi giận, lập tức sai người bắt bọn Bình Y ra công đường, quát hỏi:
- Bọn ngươi còn táng tận lương tâm hơn cả cầm thú. Ta chưa hỏi các ngươi về tội không để tang mẹ kế. Bình Bạch là người đã cứu sống các ngươi, vậy mà các ngươi lại đánh anh tàn nhẫn như thế. Hãy đánh chết nó đi.
Nói xong ông rút hết cả ống roi vất xuống đất. Sai nha cũng thấy rất bất bình, chỉ mong sao kết liễu đời chúng cho hả giận, rồi họ hùng hổ, lăn xả lôi bọn chúng ngã sấp ngã dụi. Nhưng quan huyện lại nghĩ: "Xử tử chúng sẽ làm cho người đời vui lòng, song lại làm cho Bình Bạch đau lòng. Đó chẳng phải là lẽ kính trọng người hiền", rồi cho dừng lại không đánh nữa. Quan huyện hỏi Bình Y:
- Các ngươi trở về có còn dám coi thường anh ấy nữa không?
- Bẩm quan không dám ạ. - Bình Y nói.
Quan huyện lấy trong tay áo ra tờ giấy bẩm trình của Bình Bạch cho chúng xem, nói:
- Có người kiện các người không tang mẹ kế, lẽ ra bản huyện xử tử các ngươi. Bình Bạch không hận thù các ngươi về chuyện ấy, mà lại còn xin bản huyện tha cho các ngươi. Đã hai lần ta tha chết cho các ngươi, đều là do nể Bình Bạch, các ngươi phải hiểu thế mới được.

Ba tên cúi đầu cám ơn quan huyện. Quan huyện lại mắng chửi chúng hết sức thậm tệ, rồi mới tha về.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5938
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Mon Mar 17, 2014 1:38 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 6 (B)
Tới nhà chúng vẫn cho Bình Bạch là người xấu, oán Bình Bạch không ngăn ngừa, để Bình Duật đi kiện. Đúng là "Bến mê, chúng sinh sao dễ vượt qua, người ta muốn vượt quả là rất khó". Thấy bọn chúng lên huyện mà không bị đánh một roi nào, Bình Duật rất tức, song cũng không làm gì được. Bình Lâu cũng dần dần bình phục. Hai người vẫn cứ trách Bình Bạch, lẽ ra anh không nên viết tờ trình bẩm lên quan. Bình Bạch đã nhiều lần khuyên giải, song hai người đang tuổi tráng niên, tính khí mạnh mẽ, vẫn không chịu nghe theo anh, mà ngược lại họ ngày càng hận thù Bình Y. Ngày nào họ cũng chửi bới, Bình Bạch nghe thấy chán ngán. Trước kia Bình Bạch chỉ nhẫn nhục chịu đựng đám Bình Y, nhưng nay hai em cùng mẹ lại ương bướng, Bình Bạch vô cùng buồn rầu, nghĩ: "Ta khó mà sống được ở đây, chi bằng chuyển đi nơi khác". Anh bèn mua một ngôi nhà ở thị trấn Bình Đồng cách nhà cũ hai mươi dặm, chẳng nói với ai, chọn ngày tốt dẫn vợ con đến sống ở đó.
Trước đây, khi Bình Bạch còn ở nhà, tuy không thiên vị bênh vực hai em, song Bình Y vẫn thấy ngại. Nay Bình Bạch đã đi hắn ngày càng lấn tới. Hai đứa em Bình Y cũng giống anh, chúng trèo qua cửa gào lên, lôi từ chân tơ kẽ tóc về Trương phu nhân ra nhiếc móc. Bình Duật, Bình Lâu muốn chống trả lại nhưng yếu thế không dám ra tay. Họ vô cùng uất hận, mỗi người sắm một con dao thật sắc luôn giắt bên người, định đâm chết chúng, ý định đó không thực hiện được, họ suốt ngày tức tối, buồn phiền.
Một hôm, Bình Thành, người đã bị bọn cướp bắt đi, nay mang vợ con trở về. Họ nói Vưu thị đã chết, vì nhớ quê hương nên đã trốn về đây. Lúc ấy cả nhà họp lại bàn cách để Bình Thành ổn định gia đình. Ba anh em Bình Y thoái thác, rằng khi cha còn sống đã chia gia tài, nay là của chúng. thì nhất định chúng không chịu bỏ ra chia cho Bình Thành. Ròng rã ba ngày liền việc ấy vẫn không giải quyết, vợ chồng con cái Bình Thành không biết bám bíu vào đâu. Bình Duật, Bình Lâu thấy thế mừng thầm, làm cơm mời họ tới khoản đãi, lại sai người đến Bình Đồng báo cho Bình Bạch. Biết được tin Bình Thành trở về, Bình Bạch rất mừng, dẫn vợ con về gặp mặt, nhường lại gian nhà của mình cho Bình Thành, rồi lại trích một phần tài sản của mình và Bình Duật, Bình Lâu cho anh. Thấy ba người này cư xử tốt như thế Bình Thành rất vui. Bỗng họ nghe thấy tiếng ba anh em Bình Y chửi bới ầm ĩ:
- Nó về thì nó phải tự tìm cách để sống chứ, chúng mày muốn làm người tốt, chia tài sản cho nó cũng phải nói với chúng tao.
Bình Thành là người từng sống với bọn cướp trên núi, tính khí ngỗ ngược, sức khỏe hơn người, nghe thấy thế đùng đùng nổi giận, nói:
- Tao về, không có cơm ăn, may được ba anh em nghĩ đến tình ruột thịt sẻ cửa sẻ nhà cho, ta mới sống được. Các ngươi lại đến tuôn ra những lời thối tha.
Thế rồi, như một con hổ, anh xông tới tống cho Bình Y một quả, làm hắn ngã dụi xuống đất cách đó tới ba trượng. Bình Thân và Bình Phẫu cùng con cháu họ xô đến, tưởng nuốt sống Bình Thành, song không ngờ anh khỏe như trâu móng, lấy tay gạt một cái tất cả đều ngã dúi dụi. Dựa vào thế Bình Thành, Bình Lâu cũng vác gậy xông tới, đánh cho bọn Bình Y một trận nên thân. Bình Bạch xông vào can, nhưng sao mà can nổi. Thấy bọn này bị đánh sứt đầu mẻ trán, máu chảy đầm đìa, họ mới ngừng tay. Bình Thành không chờ họ cáo quan, tự viết tờ nhận tội, rồi trình lên quan, nói rằng bọn Bình Y vô lễ. Quan huyện sai người mời Bình Bạch lên thương lượng. Bất đắc dĩ Bình Bạch phải lên huyện, gặp quan, anh cúi đầu khóc, không nói nên lời. Quan huyện gặng hỏi, anh chỉ đáp:
- Tôi hoàn toàn nghe theo lời quan xét xử.
Quan huyện quyết: anh em Bình Y phải giao lại điền sản cho Bình Thành; anh em Bình Bạch trước đây đã giao nhiều, nay trích ra một ít trả lại. Tất cả tài sản phải chia đều thành bảy phần. Bình Bạch nhiều lần từ chối không nhận lại, và xin quan huyện để lại số tài sản cho Bình Y nhiều hơn, quan huyện không nghe.
Từ đó Bình Bạch vẫn sống ở trấn Bình Đồng, Bình Thành sống chung với Bình Duật, Bình Lâu. Họ kể hết cho Bình Thành nghe mọi chuyện. Một hôm nói về chuyện chôn cất Trương phu nhân, hai anh em sụt sùi khóc. Bình Thành nói:
- Bọn chúng làm như thế là đồ cầm thú!
Họ bàn nhau, chọn ngày đưa hài cốt Trương phu nhân về cạnh phần mộ cha hợp táng. Bình Duật, Bình Lâu rất vui sướng, sai người báo cho Bình Bạch biết. Ngay đêm ấy Bình Bạch về, can ngăn họ, nói:
- Mẹ đã nằm yên ở đó rồi, ta không nên động tới nữa, linh hồn người chết dưới suối vàng sẽ không yên.
Bình Thành sao chịu nghe theo. Hôm đưa hài cốt về hợp táng, anh báo cho mọi người, kể cả bọn Bình Y đến. Bình Thành rút con dao sáng loáng phạt vào cây tùng trồng trước mộ, làm toác ra một miếng vỏ dầy tới hai tấc, chỉ vào mọi người nói:
- Đứa nào không để tang mẹ kế, hãy nhìn vào đây.
Bọn Bình Y vội vàng đáp:
- Vâng ạ, vâng ạ.
An táng mẹ xong, anh em dần dần yên ổn.
Bình Thành là người có cá tính mạnh mẽ, hung bạo. Các em, người nào không nghe theo, nhẹ thì chửi, nặng thì đánh. Bọn Bình Y không biết đã bị đánh mắng bao nhiêu lần. Ngay cả Bình Duật, Bình Lâu cũng bị đánh chửi vài lần. Song hai người thấy anh đã vì mình mà trút nỗi căm giận lên đầu bọn Bình Y, nên không dám oán hận. Trong số anh em, Bình Thành chỉ kính trọng có Bình Bạch. Bởi thế, khi Bình Thành giận dữ đến đâu, chỉ cần Bình Bạch đến nói một vài câu là Bình Thành thôi ngay. Bình Y bị Bình Thành đánh chửi, không chịu nổi, thường đến trấn Bình Đồng mời Bình Bạch về dẹp. Bình Bạch khuyên Bình Y rằng: "Hãy làm trọn đạo làm em, thì tự nhiên anh ấy sẽ đối xử khác". Song Bình Y không nghe, suốt ngày đeo bám Bình Bạch. Thấy sống ở Bình Đồng cũng không yên, Bình Bạch lại chuyển nhà đến Tam Ba Loan. Nơi đây vắng vẻ, u tịch. Tuy thuộc huyện Lô Lăng, song cách thành khoảng một trăm ba mươi dặm, đường sá xa xôi nên anh em ít đi lại với nhau. Bình Thành từ đó lại bắt đầu sợ anh em họ, không hay chửi mắng như trước nữa. Cuộc sống gia đình yên ổn được một thời gian.
Bình Y có bốn người con. Con cả là Lập Đức, con thứ ba là Lập Ngôn, đều là con của vợ cả Vương thị. Con thứ hai là Lập Công, con thứ tư là Lập Hạnh, là con của vợ lẽ Trắc thị và Toàn thị. Bốn người con này cũng học theo tính cha. Lập Đức, Lập Ngôn vào một phe; Lập Công, Lập Hạnh một phe, suốt ngày cãi vã nhau. Bình Y nhiều lần khuyên chúng phải sống hòa thuận, y nói rằng:
- Các con tuy không phải do một mẹ sinh ra, nhưng đều là con ta, đừng đánh chửi nhau nữa.
Song họ không vâng lời. Một hôm Lập Đức uống rượu say trên đường về gặp Lập Công, hắn cố ý đi sát, rồi dùng vai hích Lập Công, định làm Lập Công ngã. Không ngờ Lập Công phòng bị trước, hích lại. Người tỉnh thì chân vững, người say thì chân tay quờ quạng, bởi thế Lập Đức ngã sấp xuống ngòi, những người quanh đó nhìn thấy cười ồ lên. Lập Đức bị ngã, tỉnh rượu thấy mọi người cười, vừa xấu hổ, vừa bực tức bèn lấy đá ném Lập Công. Lập Công đứng bên gốc cây, né người tránh. Chiếc mũ của Lập Công vướng vào cành cây rơi xuống chỗ Lập Đức. Lập Công vội chạy tới giật lấy, nhưng Lập Đức đã vứt xuống hố phân. Lập Công nổi giận đánh Lập Đức, Lập Đức tống vào mắt Lập Công, máu chảy ròng ròng. Lập Công hung lên, bay người đá vào đúng hạ bộ, Lập Đức không đứng dậy được. Thấy Lập Đức như thế, Lập Công lo sợ bỏ chạy. Mọi người vội dìu Lập Đức về nhà, mặt hắn tái mét không còn hột máu, tới nơi thì tắt thở.
Lúc ấy vợ Lập Đức là Mã thị gào lên khóc, đòi giải Lập Công lên quan xử tội. Bình Y thấy con chết, mà hung thủ cũng là con mình, muốn khuyên Mã thị thôi đi. Song Mã thị nào có chịu nghe. Lập Ngôn đứng bên cũng khích vào:
- Giết người thì phải đền mạng, đây là phép nước, làm gì có chuyện mình tự giải quyết được?
Bình Y không muốn đưa con lên quan chịu tội. Lập Ngôn thấy cha không nghe, bèn lén lút đi một mạch lên thẳng huyện bẩm quan Huyện bèn cử công sai cùng Lập Ngôn về bắt. Bình Y thấy sự việc không thể giữ nổi, chỉ biết nuốt nước mắt nhìn người ta lôi Lập Công đi. Song vì quá thương con, một mặt ông ta nhờ Bình Thân và Bình Phẫu mang tiền đút lót cửa quan, một mặt ngay đêm ấy tới Tam Bạc Loan, nhờ Bình Bạch đến nói với quan huyện.
Đến nơi, Bình Y gặp Lập Thiện, con Bình Bạch. Biết Bình Bạch đến nhà bạn ăn cỗ cưới, nhưng Bình Y vẫn kéo Lập Thiện cùng đến nhà bạn tìm Bình Bạch. Lập Thiện không hiểu vì sao bác lại hoang mang, lo lắng thế, bèn hỏi:
- Bác ơi, có việc gì mà cháu thấy bác lo lắng thế?
Bình Y nước mắt lưng tròng kể lại mọi chuyện cho Lập Thiện nghe. Lập Thiện là người trung hậu như cha, anh không nghĩ gì đến những chuyện bác đối xử với cha mình trước đây, nghe xong anh lo lắng, muốn đưa bác đi ngay. Song Lập Thiện nghĩ, bên ấy đang có việc vui mừng, nếu gặp cha, bác ấy khóc, mà ngay cả cha mình thấy thế cũng đau khổ, thì sẽ bị người ta oán trách, nên chần chừ không đi. Lập Thiện nói:
- Bác ạ, đêm tối rồi, đi lại vất vả, bác hãy nghỉ tạm ở đây một lát, bố cháu ăn xong sẽ về ngay thôi.
- Cháu ơi, - Bình Y nói, - bây giờ bác như kiến bò trong chảo nóng, không thể kiên tâm chờ bố cháu về! Cháu hãy cùng bác đến đó ngay!
- Nếu cần kíp như thế thì cháu bảo người đi gọi, - Lập Thiện nói, - bảo với cha cháu là bác có việc rất cần đang chờ ở nhà, phải về gấp.
Nói xong quay vào trong gọi người nhà.
Bình Y thấy Lập Thiện không chịu đi, quay vào nhà trong, cho là vì thù oán xưa nên Lập Thiện lảng tránh. Bình Y cuống lên, kéo áo lại, quỳ xuống nói:
- Cháu ơi! Đúng là cháu không muốn đi!
Lập Thiện vội quỳ xuống đỡ Bình Y dậy, nói:
- Bác ơi, sao bác lại nói thế.
- Cháu ơi, - Bình Y nói, - đúng là trước đây bác nghĩ nông cạn, ngu dốt, khinh thường cha cháu và hai chú. Bác đáng tội chết. Nhưng bây giờ các cháu phải nghĩ đến ông bà tổ tông. Bác và cha con tuy không cùng mẹ đẻ ra, song đều là con của ông cháu. Cháu và Lập Công đều là cháu của ông. Cháu đừng nghĩ tới mối thù xưa nữa, cháu hãy đi ngay với bác.
Thấy bác như thế. Lập Thiện nói:
- Không phải cháu không muốn đi, song thú thực với bác, đằng ấy họ đang có việc vui, đến đó bác gặp bố cháu nói tới chuyện thương tâm, cả hai người không kìm nổi đều khóc thì gia đình họ oán. - Bác đến đấy sẽ không nói, - Bình Y nói, - chỉ đến gọi bố cháu về thôi.
Nói xong Bình Y lôi Lập Thiện đi. Lập Thiện đành cùng Bình Y ra khỏi nhà.
- Nhà bạn cha cháu ở đâu? - Bình Y hỏi.
- Cách đây ba dặm đường. - Lập Thiện nói. - Nơi ấy là Tiểu Thôn Phường. Hai người vừa đi vừa nói chuyện. Hôm ấy, bữa cỗ kết thúc sớm, Bình Bạch ăn xong về ngay, giữa đường gặp hai người. Bình Y kéo ngay ông lại, khóc lóc kể lể chuyện đã xảy ra. Bình Bạch nghe xong, chau mày nói:
- Anh ạ, đây không phải là chỗ ta nói chuyện, hãy về nhà em đã.
Ba người về tới nhà, Bình Bạch não nuột thở dài nói:
- Mấy anh em nhà mình, năm nào cũng xô xát nhau. Em biết, mỗi người một tính một nết không hợp nhau, điều đó chẳng hay ho gì, nhưng không ngờ lại xảy ra việc này.
- Chú ạ, chú không phải nói nữa, đó là do tôi không đáng đạo làm anh, không có gia giáo. Ngày nay, mấy anh em nó cũng học theo cái thói của tôi, gây ra tai họa, điều ấy khiến tôi vô cùng đau đớn. Tôi chịu báo ứng như thế đã đủ rồi, chú đừng oán trách tôi nữa, hãy cùng tôi lên huyện giải quyết việc cấp bách này!
- Anh không biết, - Bình Bạch do dự nói, - trước đây anh em bất bình nhau về những chuyện nhỏ nhặt, em có thể lên huyện xin được. Nay là tội lớn, em giết anh thì em đi nói làm sao, dù có nói thì quan huyện cũng sẽ không nghe.
Bình Y thấy Bình Bạch tỏ thái độ như thế, tự nhiên òa lên khóc, nói:
- Tôi vốn biết, nếu chú có đi xin cũng không thể an toàn vô sự song chỉ muốn cháu thoát tội chết, còn mắc tội gì cũng được. Chú hãy thương lấy tôi, đã lần đêm mò hôm tới đây, muốn chú đi với tôi, chỉ một lần nữa thôi.
Nói xong Bình Y quỳ xuống, Bình Bạch cuống lên vội cúi xuống đỡ dậy nói:
- Anh đừng làm em khó nghĩ, em sẽ đi xin cho anh.
Lúc ấy Bình Bạch bất đắc dĩ phải cùng Bình Y xuống thuyền đi thẳng lên huyện.
Công sai đã bắt Lập Công tới. Quan huyện thấy đây là việc của nhà họ Bình, lại là trọng tội giết anh, ông rất phẫn nộ. Lập tức mở công đường, hỏi được mấy câu đã rút ra tám chiếc gậy, hô đánh. Đánh xong bốn mươi gậy, thịt da rách nát, máu chảy đầm đìa. Quan huyện vẫn chưa nguôi giận, lại rút ra tám chiếc gậy hô đánh tiếp. Người thi hành án bẩm:
- Xem ra phạm nhân không thể chịu được nữa, hãy cho giam hắn vào nhà giam.
- Tên này giết anh, ngươi còn muốn bảo vệ cho hắn ư? - Quan huyện trợn mắt quát. - Hãy đánh tiếp.
Bọn lính hầu không muốn đánh chết, chỉ vì mấy quan tiền đút lót song thấy quan huyện giận dữ, không dám có ý trì hoãn, lại tiếp tục đánh thêm bốn mươi gậy nữa. Đánh đến nỗi hai chân tướp hết thịt da, thoi thóp thở. Tới lúc ấy quan huyện mới cho giam vào ngục. Bình Thân và Bình Phẫu tới huyện, thấy thế rất lo lắng, đem tiền đút lót cho bọn coi ngục để được vào thăm, thì thấy Lập Công đã tắt thở. Người coi tù báo với quan, cho nhà họ Bình mang xác về chôn. Bình Thân và Bình Phẫu cùng Lập Hạnh, vừa khóc lóc vừa mang xác Lập Ngôn về.
Sáng hôm sau, Bình Y, Bình Bạch về tới nhà, biết Lập Công bị quan huyện đánh chết, gào lên khóc. Bình Bạch khuyên nhủ mãi, rồi ở đó thêm mấy ngày mới trở về Tam Bạc Loan.
Vợ của Lập Đức là Mã thị và vợ của Lập Công là Kim thị, thấy chồng chết như thế, họ chửi nhau suốt ngày. Bình Y thương tiếc hai con, quá đau khổ rồi sinh bệnh. Nằm trên giường bệnh, lại thấy hai người con dâu cãi nhau, Bình Y càng chán nản buồn rầu. Biết không thể ở nhà được, bèn tới nhà người em họ là Cam Lệnh Nhân, cách đó một trăm năm mươi dặm để chữa bệnh.
Bình Y đi rồi. Một hôm, Mã thị chửi Lập Công, Kim thị ở nhà bên, than thân trách phận, nghe thấy Mã thị chửi, giận dữ nói:
- Chồng chị chết, còn chồng tôi có sống được đâu? Rồi cầm cỏn dao bầu nhọn hoắt, chạy vụt sang, đâm phập vào ngực Mã thị. Lưỡi dao thấu tới lưng, chết ngay tại chỗ. Kim thị rút dao ra, tự cứa vào cổ mình đến xoẹt một cái, đầu lìa khỏi cổ, rơi bịch xuống đất. Cả nhà cuống lên, vội đi báo cho mẹ đẻ của họ.
Cha Kim thị chết từ lâu, anh em không có, chỉ còn một mình mẹ đẻ, lại ốm liệt giường, thấy vậy chỉ biết khóc mà thôi. Cha Mã thị là Mã Đại Lập, lại là kẻ bất lương, nghe thấy tin ấy vô cùng oán hận, nói:
- Đây hoàn toàn do lão Bình Y khốn kiếp, không biết dạy bảo con cái, khiến con gái ta phải chịu cái chết thảm thương!
Thế rồi Mã Đại Lập dẫn bốn đứa con, cùng với một số người thân trong họ tộc, đông tới sáu bảy chục người, đến nhà họ Bình tìm Bình Y. Lúc ấy, những người đàn ông nhà họ Bình không ai có nhà. Bình Y vẫn còn ở nhà Cam Lệnh Nhân, ngay hay người con dâu chết cũng không ai báo tin cho ông, họ sợ rằng ông đang ốm, lại lo nghĩ mà ốm thêm. Mã Đại Lập phá tan hoang cửa nhà, không tìm thấy Bình Y đâu, hắn bắt bọn người ở tra hỏi, biết Bình Y ở nhà Cam Lệnh Nhân, rồi nghĩ: "Thật may cho hắn". Mã Đại Lập chợt nghĩ tới trước đây con gái chết, Bình Y đã kéo đến đánh bà thông gia họ Chu, sao bây giờ không báo thù cho nhà họ Chu. Rồi bọn họ lôi người vợ kế của Bình Y là Toàn thị ra đánh. Toàn thị trốn trong bếp, bọn chúng túm được lôi ra, lột trần truồng, đánh thâm tím mình mẩy, cuối cùng chúng trói Toàn thị vào một chiếc ghế dài, lấy một quả mướp nhét vào chỗ ấy, rồi chúng mới hò nhau kéo về. Không lâu sau, bọn đàn ông nhà họ Bình trở về, biết được, Bình Thành nổi giận nói:
- Nhà ta người chết đang rối bòng bong, bọn chúng lại đến làm nhục thế này, thật là quá đáng.
Thế rồi Bình Thành thét lên một tiếng, xách gậy chạy đi. Bình Thân và Bình Phẫu, Bình Duật, Bình Lâu và một lũ con cháu đều vác dao, gậy chạy theo.
Nhà họ Mã cách đó ba mươi dặm. Lúc ấy đã vào hạ tuần tháng tám, nhưng trời vẫn nắng chang chang, vừa đi họ vừa nghỉ. Bỗng thấy đằng sau có tiếng người hò hét chạy tới. Quay đầu nhìn lại, chỉ thấy độ mười người, bọn Bình Thành không coi ra gì. Tất cả phe Mã Đại Lập dừng lại, nghĩ rằng sẽ đánh mấy tên này cho sướng tay. Không ngờ Bình Thành xông tới, như một con hổ dữ, chiếc gậy trong tay Bình Thành vung lên, khua tít, khiến năm sáu người ngã gục. Bọn người họ Mã thấy thế lực họ Bình mạnh như vũ bão bỏ chạy tán loạn. Người nhà họ Bình xông lên truy đuổi. Bình Thành tóm được Mã Đại Lập, rút dao cắt đứt hai tai, thả cho về. Con Mã Đại Lập là Phụng Ngôn đến cứu, bị Lập Hạnh lia cho một gậy gẫy hai chân, ngã vật ra. Bình Thành thấy đã thỏa mãn gọi nhau về.
Người nhà họ Mã thấy họ Bình đã đi xa mới dám quay lại khiêng người gẫy chân về. Ngay đêm ấy họ lên huyện tố cáo. Quan huyện thấy đây lại là việc nhà họ Bình, rất tức giận, lập tức sai người đi bắt. Hôm ấy, chỉ có Bình Thân, thấy công sai đến, chui qua lỗ chó rúc thoát thân, ngay đêm ấy tới Tam Bạc Loan. Bình Bạch và con vừa đi thi hương về, thấy Bình Thân đến, liền hỏi:
- Anh có việc gì mà đến đây?
Bình Thân thuật lại mọi việc xảy ra cho Bình Bạch nghe, rồi nói:
- Chú hãy lên huyện lần nữa để xin quan.
Bình Bạch buồn rầu nói:
- Làm sao mà cứ gây hết tai họa này đến tai họa khác? Tôi ở đây đã lâu, không đi lại với quan phủ, e rằng nói cũng vô ích. Tôi chỉ mong sao cho con nhà họ Mã không chết, cha con tôi lại thi đỗ, thì việc đó có thể lo liệu được, anh hãy ở lại đây mấy hôm xem sao.
Bình Thân nghe theo, ở lại Tam Bạc Loan. Hằng ngày ngồi ăn cùng mâm, đêm đến lại ngủ cùng giường. Anh em vô cùng thân thiết. Lại thấy anh em Lập Thiện, tuy cùng cha khác mẹ mà sống với nhau rất hòa thuận, khác hẳn với anh em mình, tự nhiên thấy cảm động rót nước mắt nói:
- Bây giờ em mới hiểu, trước đây mình không phải là người.
Thấy Bình Thân hối hận, Bình Bạch rất mừng, cũng khóc theo.

Sau mấy hôm, thấy trống phách vang lừng, có người tới báo cha con Bình Bạch thi đỗ. Bình Bạch vô cùng sung sướng bảo Lập Thiện ở nhà lo liệu, còn mình và Bình Thân lên gặp tri huyện. Cử nhân thời Minh rất danh giá, các quan châu, huyện đều phải kính nể. Rất may, cháu Mã Phụng Ngôn được một danh y chữa khỏi, quan huyện khuyên họ Mã không kiện nữa, nên tha cho bọn Bình Thành. Bình Thành cùng với Bình Bạch trở về. Bình Y lúc ấy dưỡng bệnh cũng đã về. Mọi người đều yêu quý kính nể Bình Bạch, khuyên Bình Bạch trở lại quê, anh em sống quây quần bên nhau. Bình Bạch cùng anh em thắp hương thề, hứa từ nay về sau, mọi người phải sửa chữa lỗi lầm, tự làm lại cuộc đời. Bình Bạch dọn nhà, trở về chung sống với anh em. Từ đó, có việc gì họ đều hỏi Bình Bạch. Bình Thành ngày một già, tính khí cũng dần dần trở nên ôn hòa, gia đình họ đều vô sự. Anh em, con cháu mấy đời sau sống chan hòa, yêu thương đùm bọc lẫn nhau như cùng cha mẹ sinh ra. Về sau Bình Bạch thi Hội đỗ tiến sĩ, thi Đình lại được cất nhắc làm tri huyện, song ông biết tài làm quan của mình chỉ bình thường, nên xin chuyển làm giáo thụ. Hai khoa sau, Lập Thiện đỗ tiến sĩ, được vào Hàn lâm viện. Con cháu đời đời khoa bảng, song chỉ phát ở chi Bình Bạch. Đây chính là sự đền đáp cho những người sống hiếu thuận.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5938
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Mon Mar 17, 2014 4:14 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 7 (A)
Giả Dối Kết Nghĩa Đào Viên
Bè bạn xưa nay đạo luân thường, Chỉ vì thời thế nát như tương.
Lòng dạ người đời nay đã khác,
Tiền tài lợi lộc lắm kẻ thân.
Hôm trước miễn quan sàn vắng bóng,
Hôm sau làm tướng khách chật nhà.
Sóng xô lớp lớp ôi kinh sợ,
Tình bạn kết giao mạnh tựa gươm.
 
Xưa nay thường nói: "Bạn bè tâm đầu ý hợp sẽ tạo nên sức mạnh", bởi thế, khi kết bạn phải thật hiểu nhau. Ngày nay nhân tình thế thái đổi thay, những người có quyền thế địa vị, thì bạn bè đông đúc, khách khứa đầy nhà. Song đáng thương, những kẻ sĩ cương trực, lại chẳng có bạn bè. Phần lớn người đời quan hệ với nhau chỉ vì tiền của lợi lộc, hết lợi thì bỏ nhau. Bởi thế Lưu Hiếu Tiêu đã bàn đến sự tuyệt giao phổ biến ấy trong thiên hạ. Xem ra, những người hoàn toàn trung nghĩa mới là bạn bè. Thế thì những kẻ thấy lợi quên nghĩa, thấy mặt phụ lòng, thì trên thế gian này có đáng gọi là bạn bè không?
 
Ở huyện Đông Lưu, phủ Trì Châu, Giang Bắc, có ba kẻ tiểu nhân, mũ cao áo dài, đó là Trương Bá Nghĩa, Ngữ Kỳ Lương, và Tiền Tố Lợi. Họ là những người xuất thân trong gia đình có tiếng xưa nay. Từ nhỏ cùng học một trường, họ coi nhau như một, không phân biệt anh tôi, cao thấp. Trong bảy tám năm qua, những điều họ học được không phải là đạo đức nhân nghĩa Khổng Mạnh, mà cũng không phải là mưu mẹo kế sách của Thân, Hàn. Cái họ học là kế khoét gạch, trèo tường, và đức hạnh bội bạc, táng tận lương tâm. Một hôm ngẫu nhiên ba người này cùng đi qua ngã tư, thấy một đám người đông nghịt đứng vòng trong vòng ngoài. Họ vào xem thì thấy một người giơ tay gõ mạnh quân cờ, cười ha hả, kể chuyện về ba người kết nghĩa đào viên cuối thời Hán. Người ấy kể rất say sưa, nào là ngựa trắng tế trời, trâu đen tế đất, không thề cùng sống, mà thề cùng chết. Về sau họ lại cùng nhau tranh giành thiên hạ, giết Tào Tháo, diệt Đông Ngô, người nghe rất hào hứng. Nghe xong, ba người vô cùng thán phục, vỗ tay khen, rồi rút ra mỗi người một đồng thưởng cho người kể chuyện. Khi đứng dậy thấy bụng đói, họ đến cửa hàng chén chú chén anh, lấy ra hơn hai lạng bạc để trả, rồi cùng về nhà Trương Bá Nghĩa. Trương Bá Nghĩa nói:
- Câu chuyện ông lão vừa kể rất hay!
- Hay thì hay đấy, nhưng ta có kết nghĩa đào viên được không? - Tiền Tri Lợi nói.
- Ba chúng ta học với nhau từ bé, - Ngữ Kỳ Lương cười nói, - bây giờ lại cùng chung sự nghiệp. Nếu nói về nghĩa khí thì cũng coi là đào viên kết nghĩa!
- Song người đời nay, - Trương Bá Nghĩa nói, - phần lớn chỉ vì vợ, mà bỏ cả anh em thân thích ruột thịt đi kết nghĩa anh em với người ngoài. Suốt ngày chỉ ăn uống chơi bời, không đúng với ý nghĩa, suốt đời gắn bó khăng khít với nhau, sống chết có nhau. Nếu chúng ta kết nghĩa, thì không những phải gắn bó với nhau như anh em ruột thịt, mà còn hơn hẳn thói kết nghĩa thời nay mới được.
- Anh nói rất có lí. - Tiền Tri Lợi nói. - Người xưa từng nói: "Kẻ trượng phu, tiền bạc phải phân minh". Chúng ta kết nghĩa đào viên, có thể cùng nhau sống chết, tiền tài chỉ là chuyện vặt, kể tới làm gì! Tiền của anh là tiền của tôi, tiền của tôi là tiền của chúng ta. Rồi lại nói một hồi, nghe rất hay:
Nếu anh có tiền,
Anh hãy cho tôi.
Nếu tôi không tiền, Thì lấy tiền anh.
Nếu được như lời nói ấy, thì quả là tình bạn chung thủy.
Hai người nghe xong vỗ tay cười ha hả nói:
- Anh Tiền này, theo anh nói, thì anh là một người không cầu lợi.
- Em nói thật đấy chứ không phải nói đùa đâu. - Ngữ Kỳ Lương nói. - Ngày mười lăm tháng ba là ngày tốt, đúng dịp hoa đào đang nở rộ, mỗi người sẽ bỏ ra ba đồng ba hào, ba xu, ba xèng, tất cả là một lạng, không ai nhiều hơn cũng không ai ít hơn để làm lễ kết nghĩa đào viên!
- Được - Ba người cùng nói.
Đến ngày mười lăm tháng ba, họ sắm sửa lễ vật, bày dưới một gốc đào, cùng nhau đốt vàng hương đứng thề. Ba người hớn hở vui mừng, viết ngày sinh tháng đẻ vào tờ văn khấn tế thần. Trương Bá Nghĩa lớn tuổi làm anh cả, Ngũ Kỳ Lương anh hai, Tiền Tri Lợi là em út. Thề với nhau rằng, anh em làm việc gì cũng phải đồng tâm nhất trí, giúp nhau khi hoạn nạn, nếu có lòng riêng tư thì trời chu đất diệt. Cúng xong, ba người ngồi ngay tại đó ăn uống no say, rồi ai về nhà nấy. Đúng là:
Kết nghĩa anh em tình ruột thịt,
Chẳng bao giờ gây chuyện bất lương.
Mấy hôm sau, họ lại bàn nhau rằng: "Chúng ta đương nhiên đã đồng tâm nhất trí rồi, có điều nay phải tìm một việc gì cùng làm mới được, chứ ngày nào cũng chơi bời thế này thì sẽ không khấm khá lên được".
- Các anh bảo tôi phải làm gì? - Ngữ Kỳ Lương nói.
- Tôi chỉ có chơi gái, đánh bạc, ngoài ra không biết gì khác.- Tiền Tri Lợi nói.
- Chơi gái, đánh bạc cũng phải cần tiền. Tôi cho rằng đi đâu đó lừa người kiếm một món tiền lớn, rồi ba đứa chia đều nhau. Đấy há không phải là tiền vốn của chúng ta ư?
- Muốn kiếm được một món tiền lớn, chỉ có đi ăn trộm mới có được - Ngữ Kỳ Lương nói. - Nếu thế sẽ bị quan bắt, cùm kẹp đau đớn không chịu nổi, mất hết danh dự, còn mặt mũi đâu mà sống.
- Chú hai, đừng nói thế. - Trương Bá Nghĩa cười nói. - Nói thế sao gọi là có chí khí. Ngay đến việc ăn trộm, tôi vẫn đàng hoàng giữ được thể diện. Lấy của người ta ngàn vàng, mà người ta vẫn vui, đấy mới gọi là kế chứ? Hai chú thấy thế nào?
- Anh thật là cao kiến. - Tiền Tri Lợi nói. - Chỉ có điều, việc ấy làm thế nào?
- Phía nam thành có một nhà giàu, - Trương Bá Nghĩa nói, - biệt hiệu của anh ta là Tượng Kỳ Lân. Các chú có biết vì sao người ta gọi là Tượng Kỳ Lân không? Theo người ta kể, trước đây bố anh ta dắt một con trâu qua phố, trên mình trâu thồ rất nhiều tiền đồng, còn sừng trâu đeo một chiếc sừng kì lân bằng giấy. Rất nhiều trẻ con trông thấy tiền đồng, không biết đó là trâu, mà nói với nhau là "rất giống kì lân". Bởi thế chúng reo lên nói: "Chúng mày ơi! Đây có phải là kỳ lân không?”
Một ông già mắt đã đục lờ, chạy ra xem, nói với bọn trẻ rằng:
"Đây là trâu có tiền, sao lại giống kỳ lân được".
Khi gã nhà giàu ở phía nam thành chết, đứa con gã, tuy đã hai mươi tuổi vẫn không biết chữ, chỉ biết ăn thịt. Nên người ở phía nam thành gọi hắn là Tượng Kỳ Lân. Ngay con gã cũng không biết được nguồn gốc ba chữ ấy, chỉ biết Kỳ Lân là vật tượng trưng cho điều lành, và nói, những người ấy nịnh bố mình nên đặt cho ông một cái tên hay như thế, và anh ta rất thích thú khi thấy có người gọi mình là Tượng Kỳ Lân.
- Anh ta họ gì? - Ngũ Kỳ Lương nói.
- Anh ta họ Lương, tên là Đắc Quý. - Trương Bá Nghĩa nói.
- Nhà anh ta có dãy tường cao, - Tiền Tri Lợi nói, - bên ngoài trồng dương liễu, hai bên có dòng nước, giữa có chiếc cầu phải không? Em biết, phải nghĩ cách liên hệ với anh ta trước chứ. Hay anh cứ dỗ anh ta đi chơi gái, tôi dụ anh ta đi đánh bạc, dần dà chúng ta lại dụ anh ta cứ xem kịch, mua quan tước làm nhà, mua sắm tài sản... Đấy là những việc làm mà vẫn giữ được thể diện. Ba người chúng ta, kẻ té người cất, hỗ trợ nhau hành động từ bên trong, chỉ cần chúng ta toại nguyện, cửa nhà tan nát mặc xác nó. Tôi nói thế có được không?
Hai người kia cười ha hả nói:
- Hay, hay lắm.
- Chú em út, hãy làm thử xem sao? - Trương Bá Nghĩa nói.
- Được em sẽ đi ngay. - Tiền Tri Lợi nói.
Tiền Tri Lợi từ biệt hai người anh kết nghĩa, đi thẳng tới phía nam thành. Vừa đi vừa nghĩ: "Người này đúng là mình quen biết thật, nhưng ta không thể đi một mình, phải dẫn họ cùng đi moi tiền của anh ta chứ.". Bỗng chốc anh ta đã thay lòng đổi dạ.
Đúng là thấy lợi quên tình nghĩa,
Biết đâu Quản, Bão chịu chia vàng?
Tiền Tri Lợi qua cầu, thấy Tiểu Nhàn đang vẩn vơ ở đó.
Tiến Tri Lợi bước tới hỏi:
- Anh Tiểu Nhàn, Tượng Kỳ Lân có nhà không?
- Có! - Tiểu Nhàn nói, - Có chuyện gì thế?
- Có chuyện vui, - Tiền Tri Lợi nói, - cũng cần anh nói thêm vào một câu, nếu xong việc, tôi với anh sẽ chia nhau.
- Việc vui gì thế? Tôi lại được chia với anh ư?
- Tây Môn mới có một kĩ nữ đẹp tuyệt trần, - Tiền Tri Lợi nói, - lại giỏi đàn hát, tôi đã gặp cô ta. Bây giờ ta gạ ông ấy hái hoa, nếu có lộc thì anh em mình sẽ say sưa với nhau một bữa, được không?
- Cái đó dễ thôi. - Tiểu Nhàn nói. - Số sách tôi quản, chuyện ấy khó gì!
Tiền Tri Lợi được Tiểu Nhàn dẫn vào nhà gặp Đinh Đắc Quý. Tiểu Nhàn nói:
- Tiền Tri Lợi là anh họ tôi, anh ấy cho biết có một cô gái đẹp tuyệt vời ở Ngô Hạ mới đến, tên là Tiểu Ngọc Nương, muốn dẫn ông đến để thử mùi đời một chút xem sao.
Đinh Đắc Quý tuổi còn trẻ, lại sẵn tiền. Thấy gái đẹp mừng rơn, lấy ngay mười lạng bạc, đưa cho Tiền Tri Lợi, nói:
- Anh hãy cầm đi lo liệu trước, tôi thay quần áo, rồi lên ngựa tới ngay.
Tiền Tri Lợi được cầm mười lạng bạc trong tay, hắn vô cùng sung sướng, đến nhà kĩ nữ Lý Tiểu Ngọc, nói:
- Ông ta là một người giàu có bậc nhất ở phía nam thành, là viên ngoại Tượng Kỳ Lân nổi tiếng. Cô không nên đòi tiền ông ta, cô cố chiều chuộng để ông ta vui lòng, nếu cô muốn theo ông ta, tôi sẽ khuyên ông ta cưới cô làm vợ, còn cô không muốn thì cô vào cửa trước kiếm ba trăm lạng, sau đó thu xếp theo cửa sau ra đi. Như thế sẽ tốt biết bao! Chỉ cần xong việc tôi sẽ sòng phẳng chia cho cô một nửa. Đừng có ngúng nguẩy với ông ta mà thiệt. Ngay bây giờ, cô hãy chuẩn bị chu đáo đón tiếp ông ta.
Nói xong, mười lạng bạc cũng chẳng đưa cho cô ta lấy một hào. Thấy Tiền Tri Lợi nói rất có lí, Tiểu Ngọc tin ngay, nói:
- Việc ấy nhờ anh xếp đặt, nếu thành, tôi sẽ chịu cho anh bốn phần còn tôi sáu phần.
Rồi cô ta lấy ra ba lạng bạc đưa cho Tiền Tri Lợi. Tiền Tri Lợi tỏ vẻ từ chối, song lại chìa tay ra cầm lấy tiền bỏ vào túi. Lát sau quả nhiên Tượng Kỳ Lân cưỡi ngựa tới. Tiểu Nhàn theo sau. Tiểu Ngọc từ trong bước ra vồn vã. Chỉ thấy:
Không vợ, không con, chữ chẳng biết,
Cỏ lấp đường đi, phưỡn bụng chơi.
Trời đâu có biết Kỳ Lân tá.

Thế gian lại thấy đó trâu tiền.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5938
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Mon Mar 17, 2014 4:41 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 7 (B)
Đinh Đắc Quý là người đầu tiên biết gái làng chơi, chẳng kể gì đến nhan sắc. Thấy dáng vẻ phong tình đã chết mê chết mệt, hồ hởi cùng cô uống rượu. Được một lát, Tiểu Ngọc giở đủ ngón trăng hoa, khiến anh ta mê mẩn, Tiền Tri Lợi bên cạnh đưa đẩy thêm:
- Ngọc Nương, hãy làm vui lòng Viên Ngoại thì ngày mai Viên Ngoại sẽ cưới cô về làm vợ.
Đương lúc đê mê, Đinh Đắc Quý nói:
- Ngày mai ta sẽ mang tới một trăm lạng bạc để cưới nàng.
- Cổ nhân nói: "Trăm quan mua lấy miệng cười". - Tiền Tri Lợi cố ý nói chen vào. - Huống hồ Viên Ngoại lại là Tượng Kỳ Lân, tiếng tăm lừng lẫy chứ đâu có nói bừa như bọn tú tài nghèo xác.
- Ngay một ngàn quan cũng đáng. - Đinh Đắc Quý cười tít mắt nói.
Đêm ấy, Đinh Đắc Quý ngủ tại nhà Tiểu Ngọc, trưa hôm sau vẫn chưa muốn dậy. Khi dậy, lại thấy thức nhắm đã bày sẵn, họ lại tiếp tục uống đến tận đêm khuya. Ba đêm liền thưởng nguyệt hái hoa, Đinh Đắc Quý vô cùng sung sướng, không sao dứt ra được. Anh ta nói với Tiểu Nhàn rằng:
- Hãy về lấy sang đây ba trăm lạng để dẫn cô về.
Tiểu Nhàn đâu dám trái lời. Anh ta về mang bạc tới. Tiền Tri Lợi vội cầm lấy, len lén đi ra phía sau gọi Tiểu Ngọc, nói:
- Cô theo anh ta thật à?
- Tùy anh xếp đặt. - Tiểu Ngọc lắc đầu nói.
- Ba trăm lạng đã trong tay, cô hãy lừa cho hắn ta về, chuẩn bị thoát thân!
Tiểu Ngọc gật gật đầu, vào trong nói với Đinh Đắc Quý:
- Anh Viên Ngoại ơi! Thế là em đã thuộc về anh rồi. Anh hãy để tiền lại đây rồi về trước, bảo người mang kiệu tới đón. Em nán lại thu xếp quần áo.
Đinh Đắc Quý sợ Tiểu Ngọc đòi thêm bạc lòng dạ không yên, giờ thấy Tiểu Ngọc nói thế cười khanh khách, nói:
- Anh về trước chờ em nhé!
- Nếu không tin, em tặng chiếc khăn này để anh yên lòng. - Tiểu Ngọc nói.
Đinh Đắc Quý cười hi hí nhận lấy khăn rồi lên ngựa ra về.
Tiểu Ngọc quay vào nhà trong chia bạc với Tiền Tri Lợi. Được chia hơn một trăm lạng, Tiền Tri Lợi ung dung cầm số bạc trở về gặp bọn Trương Bá Nghĩa. Hắn ranh mãnh nói:
- Em đi thăm dò Tượng Kỳ Lân, đúng vào ngày xấu. Chẳng biết kẻ nào đã lừa anh ta đi chơi gái, trăng hoa với Lý Tiểu Ngọc, bị Tiểu Ngọc đánh lừa lấy bạc chuồn mất. Hắn tức giận,sai người tìm khắp nơi nhưng không thấy. Hai anh phải nghĩ ra kế gì khác moi tiền của hắn được không?
- Hay, hay quá, có khó gì đâu. - Ngũ Kỳ Lương vỗ tay reo lên nói. - Anh ta muốn tìm Lý Tiểu Ngọc, thì nhất định phải dán giấy để hỏi tin. Ta phải lột lấy một tờ để báo tin. Bất kể Tiểu Ngọc trốn ở đâu, ta cũng nói bừa một nơi nào đó, bảo anh ta mang một ít tiền đi để đãi khách, vừa đi vừa tìm, nhất định cũng sẽ moi được tiền của anh ta.
- Hay! Hay lắm! Nhưng được thì đừng giấu tôi đấy. - Tiền Tri Lợi nói, song thực ra anh ta vừa lừa được một món tiền nhưng đã giấu họ.
 
Đinh Đắc Quý về, sai người mang kiệu tới đón Tiểu Ngọc. Đợi từ sáng tới chiều vẫn không thấy, lại sai liền hai đứa hầu tới song vẫn chẳng thấy tăm hơi. Cô ta đã cuỗm bạc trốn đi rồi. Tượng Kỳ Lân tức giận hỏi Tiểu Nhàn:
- Sao anh họ mày lại làm việc ấy, ta không thể trông chờ mày được nữa, phải trình quan, tố cáo bọn này.
- Ta hãy dán giấy khắp nơi để hỏi tin. - Tiểu Nhàn nói. - Lý Tiểu Ngọc là một kĩ nữ danh tiếng, tất nhiên có nhiều người biết, nếu không ai đến báo tin thì sẽ trình lên quan cũng chưa muộn, hãy chờ thêm một ngày nữa xem sao.
Quả nhiên, Đinh Đắc Quý không báo quan. Được ngủ ba đêm, mất ba trăm lạng, coi như bị chê cười một lần thôi.
Tờ hỏi tin tức dán khắp nơi, nhưng chỉ thấy Ngũ Kỳ Lương bóc một tờ, mang đến nói rằng:
- Tôi họ Ngũ, tên Kỳ Lương, thường đi lại với Lý Tiểu Ngọc. Hôm kia tôi đến thăm người bạn, ngẫu nhiên thấy cô ta ở Sở Trung. Nếu ông muốn tìm cô ta thì phải thuê chiếc thuyền từ Tây Môn đi theo dòng sông tới vùng Hồ Quảng. Ở Sở Trung tôi thấy vải lụa rất đắt, ông vừa đi tìm cô ấy, vừa nhân thể mua một ít lụa đến đó bán kiếm lời, đó chẳng phải nhất cử lưỡng tiện sao. Hàng hóa đem tới đó, tôi chỉ bán vèo một lúc là hết. Chiếc thuyền mà Tiểu Ngọc đi tôi biết rồi, trên đường đi tôi sẽ để ý dõi tìm, ý ông thế nào?
Đinh Đắc Quý tuy là người ngu xuẩn, nhưng khi nghe Kỳ Lương nói thế, hắn đã có ý nghi ngờ: "Người này ta không quen biết, đi tìm Tiểu Ngọc nhưng sao lại bảo ta mang hàng đi bán? Chưa biết chừng đây cũng là loại lừa đảo Tiền Tri Lợi". Anh ta đứng dậy nói:
- Mời anh ngồi, tôi có việc muốn nhờ anh giúp đỡ.
Đinh Đắc Quý trở vào nhà trong bàn với Tiểu Nhàn:
- Có một người vừa tới, bảo ta buôn một ít lụa đến Hồ Quảng bán, liệu có được không?
- Không được đâu. - Tiểu Nhàn nói. - Hiện nay bọn lừa đảo rất đông, không thể mang hàng đi xa được.
Vì không bỏ được Tiểu Ngọc, lại nghe thấy Tiểu Nhàn nói thế, Đinh Đắc Quý cuống lên, nói:
- Hàng hóa ở ngay bên mình, không rời mình nửa bước, cứ có tiền ta mới bán hàng, thì dù có ba đầu sáu tay cũng chẳng sợ. Ta cứ mang hàng đi ngại gì.
Bàn xong, Đinh Đắc Quý lững thững đi ra, ngồi xuống nói:
- Anh dạy chí phải.
Rồi Đinh Đắc Quý thu xếp tiền, mua ngay năm trăm lạng bạc tiền lụa, bảo Ngũ Kỳ Lương đi thuê thuyền. Ngũ Kỳ Lương đã ngấm ngầm tính sẵn, nói với chủ thuyền rằng:
- Đây là thuyền tôi thuê, suốt dọc đường phải nghe theo lời tôi, tôi bảo đi thì đi, bảo dừng thì dừng, không thể làm lỡ việc của tôi. Chủ thuyền dặn các chân sào, rồi nói:
- Tất nhiên là như thế, cứ theo khách thôi.
Đinh Đắc Quý xếp hàng xuống thuyền, mang theo hai người, dặn Tiểu Nhàn ở lại trông nhà, sau đó cùng Ngũ Kỳ Lương xuống thuyền, xuôi dòng đi Hồ Quảng.
Họ đi được hai ba hôm, nếu không gặp may thì lại không thành chuyện. Ngũ Kỳ Lương làm như thật, dẫn Đinh Đắc Quý đi, không ngờ hôm ấy Lý Tiểu Ngọc cũng xuất phát từ Tây Môn. Cô ta không đi Giang Nam, không đi Giang Bắc, mà trốn đến Tương Dương, Hồ Quảng. Lúc ấy thuyền Tiểu Ngọc đang ép mạn vào bờ hóng gió, thì thuyền của Đinh Đắc Quý cũng ép mạn vào bờ. Đức Quý bước ra mũi thuyền hóng mát, thì nghe thấy thuyền bên cạnh có tiếng đàn bà nói:
- Xin mời cô Tiểu Ngọc dùng trà.
Đinh Đắc Quý vốn chẳng quan tâm gì đến việc hàng hóa, trong đầu anh ta lúc nào cũng chỉ nghĩ tới Tiểu Ngọc. Đúng lúc nghe thấy tiếng gọi, anh ta quên hết mọi sự, bước ngay sang thuyền bên. Vừa mở cửa thuyền thì thấy Tiểu Ngọc. Tiểu Ngọc đã quen thói lừa gạt, thấy Đinh Đắc Quý nhẩy sang thuyền, cô ta không chút bối rối, mà còn tươi cười nói:
- Anh đã đến đấy ư? Tôi với anh đã bị tên Tiền Tri Lợi độc ác lừa dối.
Nghe Tiểu Ngọc nói thế. Đinh Đắc Quý chẳng còn tức giận nữa, hỏi rằng:
- Em bị nó lừa thế nào.
- Hôm trước, khi anh trở về, - Tiểu Ngọc nói, - thì ngay sau đó Tiền Tri Lợi dẫn em đi, bảo là đến nhà anh. Nào ngờ nó lấy hết bạc, rồi lừa em đến đây, bỏ đi mất. Nay anh đã đến, thì hãy cứu em về.
Nói xong gục đầu vào lòng Đinh Đắc Quý. Mừng quá, Đinh Đắc Quý quên hết cả lo lắng buồn phiền, quên cả năm trăm lạng bạc tiền lụa ở thuyền bên, chúi đầu vào ăn uống với Lý Tiểu Ngọc.
Ngũ Kỳ Lương không biết Đinh Đắc Quý tìm được Tiểu Ngọc. Chờ mãi không thấy chủ về, hai đứa ở hỏi Ngũ Kỳ Lương. Thuận miệng Ngũ Kỳ Lương đáp:
- Ông ấy lên bờ mua thuốc, dặn lại rằng: "Nếu chờ không thấy thì cứ xuôi thuyền về Bạch Long, sau đó ta sẽ tới", rồi bảo một trong hai người ấy đi gọi.
Bọn ngu ngốc này bị Ngũ Kỳ Lương lừa. Một người lên bờ tìm. Ngũ Kỳ Lương bèn nói với các chân sào cho thuyền tới cửa vụng Bạch Long. Thuận buồm, xuôi gió, chẳng mấy chốc đã đi được hơn một trăm dặm đường. Đến cửa vụng Bạch Long, làm gì có Đinh Đắc Quý và người nhà kia chứ! Ngũ Kỳ Lương lại cố ý đợi một lúc lâu, sau đó thấy anh người nhà nói:
- Tôi thử lên tìm xem sao.
Anh người nhà ấy lại lên bờ. Ngũ Kỳ Lương vờ nói theo.
- Đi tìm không được thì đừng có về đấy nhé.
Người ấy vừa nhảy lên bờ, Ngũ Kỳ Lương giả vờ giận dữ nói:
- Các ngươi cứ mải chơi bời, làm lỡ cả việc buôn bán của ta. Làm sao cứ cắm thuyền mãi ở đây mà chờ các ngươi được.
Rồi hắn quát đám chân sào:
- Khi đi tôi đã hẹn trước với các anh rồi, bảo đi là đi, bảo dừng là dừng, nay thì không thể kiên nhẫn chờ họ được, gió đang to, hãy giương buồm cho thuyền chạy, mặc xác họ đuổi theo. Những người chân sào đành phải cho thuyền chạy. Vậy là Ngũ Kỳ Lương đã cuỗm cả thuyền hàng. Thuyền chưa tới Hồ Quảng, hắn cho ép vào một thị trấn gần đó, bán đổ, bán tháo cả một thuyền hàng, rồi mua sáu trăm lạng bạc bỏ túi. Hai người nhà tìm mãi không thấy Đinh Đắc Quý, bèn trở lại chỗ thuyền đỗ, thì chẳng thấy thuyền đâu. Lúc ấy họ mới biết Ngũ Kỳ Lương đánh lừa, trong mình không có tiền, họ đành đi bộ về nhà.
Đinh Đắc Quý uống rượu với Tiểu Ngọc được một lát, nhớ tới Kỳ Lương, anh ta nói:
- Thật thiệt thòi cho Ngũ Kỳ Lương. Lẽ ra phải mời anh ấy lại cùng uống rượu.
Đinh Đắc Quý kể hết chuyện Ngũ Kỳ Lương đã dẫn mình đi tìm Tiểu Ngọc thế nào. Rồi lập tức bảo chân sào sang thuyền bên gọi ông khách họ Ngũ sang. Bước ra khỏi khoang thuyền, thì chẳng thấy chiếc thuyền nào. Đinh Đắc Quý lúc ấy nói:
- Sao ông ấy không chờ ta! Hàng hóa trên thuyền có tới năm trăm lạng bạc, hai đứa ở cũng đi theo Ngũ Kỳ Lương!
- Anh lại gặp một Tiền Tri Lợi nữa rồi. - Tiểu Ngọc nói. - Bây giờ chắc anh mới hiểu không phải tôi lừa anh.
- Mất một ngàn vàng mà lại được người đẹp, cũng coi là lợi rồi. - Đinh Đắc Quý cười nói. - Ruộng đất, gia sản của anh còn tới mấy trăm lạng vàng. Với số của ấy chúng ta còn sống sung sướng chán. Thôi hãy về với anh.
Tiểu Ngọc không thể thoát thân, đành cùng Đinh Đắc Quý quay thuyền trở lại. Đinh Đắc Quý đưa Tiểu Ngọc vào nhà, bỗng cười phá lên nói:
- Bây giờ thì nàng đã là người của ta rồi.
Đinh Đắc Quý mất bốn năm trăm lạng bạc mà chỉ dẫn về một cô gái làng chơi. Đây cũng là một chuyện nực cười phải không các bạn.
 
Khoảng trên dưới mười ngày, Đinh Đắc Quý về đến nhà, Tiểu Nhàn vội hỏi:
- Sao nhanh thế, làm sao mà lại tìm được Tiểu Ngọc? Ngũ Kỳ Lương và hai người nhà sao lại không về cùng? Số hàng ấy bán được bao nhiêu lạng, có lãi không? Mua được hàng gì, phải đi tìm người bán chứ!
- Chẳng có hàng gì hết. - Đinh Đắc Quý xua tay nói.
Rồi Đinh Đắc Quý kể lại cho Tiểu Nhàn nghe. Tiểu Nhàn tức tối nói:
- Lần trước bị lừa bạc, lần này bị lừa hàng, đều là vì con này. Nó có đáng gì đâu.
Tiểu Ngọc về nhà họ Đinh, liền ra oai phủ đầu, chửi toáng lên:
- Là đứa ở, sao dám gọi ta là con. Bây giờ ta đã là bà chủ của ngươi, ngươi không được phép gọi ta như thế.
Tiểu Ngọc cứ luôn mồm chửi, Tiểu Nhàn nghĩ: "Vừa mới bước vào cửa đã thế, thì sau này chịu sao được", rồi vội vã đi tìm Tiền Tri Lợi. Gặp Tiền Tri Lợi, Tiểu Nhàn nói:
- Làm sao mà anh lừa được bạc, vứt kĩ nữ vào đống lửa, lại bảo Ngũ Kỳ Lương cuỗm đi số lụa trị giá tới năm trăm lạng bạc. Dù tôi có chết cũng phải trình quan.
Nói xong Tiểu Nhàn cứ giữ chặt lấy Tiền Tri Lợi không chịu buông ra. Đúng lúc ấy Trương Bá Nghĩa đi tới. Thấy Tiền Tri Lợi đang bị Tiểu Nhàn giữ lại, song không biết Tiểu Nhàn là ai, bèn giằng Tiểu Nhàn ra, nói:
- Đây là em tôi, có gì hãy nói với tôi.
Tiền Tri Lợi đang bị giữ chặt, được giải thoát hắn ù té chạy. Thấy Tiền Tri Lợi bỏ chạy, Tiểu Nhàn bèn nắm chặt lấy Trương Bá Nghĩa, nói:
- Chính hắn đã lấy của ông chủ tôi bảy tám trăm lạng bạc. Anh lại thả nó ra, anh phải đền tội.
Trương Bá Nghĩa không biết Tiền Tri Lợi và Ngũ Kỳ Lương lừa được bạc, giấu không cho anh ta biết. Dù không cãi được câu nào, song Trương Bá Nghĩa cũng không sao thoát được, bị Tiểu Nhàn lôi đến cửa quan. Trương Bá Nghĩa gào lên kêu oan khuất. Phủ quan mở công đường, hỏi tỉ mỉ, Tiểu Nhàn kể lại sự việc hai tên kia đã lừa gạt Đinh Đắc Quý thế nào. Trương Bá Nghĩa lúc ấy mới hiểu hết duyên do, bèn thưa với phủ quan rằng:
- Theo như Tiểu Nhàn nói, vẫn chưa có chứng cứ. Mà nếu có thế thì đó là chuyện của Tiền Tri Lợi và Ngũ Kỳ Lương. Tôi không phải là người làm chứng, sao lại bị lôi đến gặp ngài. Đây chẳng phải là căn cứ vu vơ để hại người ư. Việc hai người ấy có can hệ gì đến tôi.
Tri phủ tức giận, nói:
- Nó nói có lý, thôi đuổi ra.
Cho rằng Tiểu Nhàn đã gây sự, tri phủ sai người đánh cho năm tay thước. Tiểu Nhàn được tha, không dám gây sự với Trương Bá Nghĩa nữa, ngược lại càng tỏ ra thân thiết, nói:
- Tôi cũng chẳng muốn làm thế, song anh có biết tông tích hai người ấy không?
Trương Bá Nghĩa cũng đang tức vì hai người kia đã giấu mình, bèn nói:
- Sao không biết? Họ đã kết nghĩa anh em với tôi. Tôi đã hết lòng vì họ, vậy mà họ lại giấu tôi đi lừa chủ anh. Rất may, hai người ấy vẫn chưa biết tôi biết chuyện này, nhất định tôi sẽ tìm chúng cho anh.
Thế rồi Tiểu Nhàn bỏ đi.
Về nhà họ Đinh chưa được bao lâu, vốn quen thói đưa người cửa trước rước người cửa sau, Tiểu Ngọc không chịu được cuộc sống gò bó, cô ta lén lút lần tới nơi ở cũ, tìm người bạn cố tri dẫn về lấy trộm đồ trang sức, vàng bạc, quần áo. Tất cả trị giá tới một, hai trăm lạng bạc, rồi bỏ trốn. Đinh Đắc Quý lại mất cả chì lẫn chài, bèn gọi Tiểu Nhàn nói:
- Bây giờ thì dứt khoát phải báo quan.
- Tôi cũng đã dò được tông tích của chúng. - Tiểu Nhàn nói. - Phải cáo giác cả Trương Bá Nghĩa, chắc chắn chỉ trong vòng mười ngày là có kết quả.
Đinh Đắc Quý viết tới mười lá đơn nộp ở nhiều nơi, và trong vụ kiện này lại dùng rất nhiều tiền bạc đút lót.
 
Ngũ Kỳ Lương đã bán hết hàng, giấu bạc một chỗ, trở về gặp Trương Bá Nghĩa, Tiền Tri Lợi. Hắn không dám về lúc ban ngày, mà đợi đêm tối một mình lần mò về nhà. Hắn định lấy vợ, rồi trốn đi nơi khác. Song Trương Bá Nghĩa đã ngấm ngầm theo dõi. Đúng ngay đêm hắn về thì chạm trán Trương Bá Nghĩa. Trương Bá Nghĩa gọi hắn lại, nói:
- Chú em kết nghĩa đào viên ơi, tôi đến tìm chú để nói chuyện này.
Ngũ Kỳ Lương giật mình, song cũng đành phải gặp. Trương Bá Nghĩa lại nói:
- Sao chẳng nói với tôi những chuyện xẩy ra gần đây. Tôi với chú đi tìm Tiền Tri Lợi đi.
Từ ngày Tiền Tri Lợi tẩu thoát, không dám đi đâu. Ngay đêm ấy Trương Bá Nghĩa và Ngũ Kỳ Lương đến gõ cửa, sợ quá Tiền Tri Lợi không dám ra mở. Chờ lâu quá, Ngũ Kỳ Lương đành phải gọi:
- Em ơi, anh đây.
Tiền Tri Lợi đành phải ra. Trương Bá Nghĩa hai tay nắm chặt lấy hai người, kêu ầm lên:
- Có kẻ trộm làng nước ơi!
Hai người không thể bịt được mồm Trương Bá Nghĩa. Xóm làng nghe thấy đèn đuốc đổ đến, kẻ cầm gậy, người cầm dao xông vào. Trương Bá Nghĩa mỗi tay túm chặt một người, nói với những người xung quanh rằng:
- Bây giờ Đinh Đắc Quý cũng đổ cho tôi là kẻ lừa đảo, thì sao tôi lại tha cho chúng.
Mọi người túm vào, trói chặt hai người, khám Ngũ Kỳ Lương thấy một số bạc. Trương Bá Nghĩa vội nói, xin mọi người đừng động tới số bạc ấy. Nhưng mọi người cho đấy là của ăn cắp rồi lấy hết sạch, không nghe theo Trương Bá Nghĩa.
Hôm sau Tiểu Nhàn đến nhà Trương Bá Nghĩa dò la tình hình, thấy hai người đang bị trói ở đó, vội vàng về báo cho Đinh Đắc Quý tới. Ngũ Kỳ Lương và Tiền Tri Lợi bị bắt giải lên quan. Ở công đường, quan huyện chưa ra lệnh đánh, chúng đã khai. Tức giận quan huyện nói:
- Bọn trộm cướp này lừa dối người, sao gọi là kết nghĩa được, hãy đánh chết chúng đi.
Trương Bá Nghĩa lúc đầu bầy mưu, tuy chưa lấy được bạc, song vì không được lợi nên đã không che chở cho bạn bè. Điều ấy có khác gì bán rẻ bạn bè. Quan huyện cũng hô đánh cho Trương Bá Nghĩa bốn mươi gậy.
Đinh Đắc Quý ra khỏi công đường, cười ha hả nói:
- Hai đứa ấy tuy đã cuỗm mất số bạc của ta, nhưng chúng đã bị đánh chết.
Đinh Đắc Quý bị Tiểu Ngọc lấy mất cả trăm lạng. Cả trước lẫn sau hắn mất hàng ngàn lạng, lại bán nhà cửa đi để đút lót tốn kém thêm một số tiền. Rốt cục người cũng mất, mà tiền của cũng đội nón ra đi.
Tới nay, cái gọi là anh em kết nghĩa đào viên ấy đã làm hại người, hại cả mình. Đáng cười thay cho anh chàng Tượng Kỳ Lân, chỉ vì Tiểu Ngọc mà mất tới hàng ngàn lạng bạc, song vẫn không chiếm được cô ta. Đáng cười nữa là, kẻ kết nghĩa đào viên giả, khi có tiền thì sự giả dối mới lộ ra. Đến nay người đề xướng kết nghĩa chỉ còn hai bàn tay trắng. Nên có thơ rằng:
Tiền tài chưa có chưa giở mặt,
Nếu của có rồi mới rõ nhau.
Vong ân bội nghĩa, đời lắm kẻ,
Chỉ vì tiền bạc có gì đâu!
Lại có thơ rằng:
Ngàn vàng mua lấy tiếng cười!
Bạn bè giở mặt, người đời trách chê!
Hãy ghi lời dạy người xưa,

Tiền tài như đất đến giờ đúng thay.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5938
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Mon Mar 17, 2014 5:13 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 8
Giết Oan Bốn Mạng Người
Phàm đã làm quan, thì khi gặp kiện tụng cần phải nghi ngờ, nghi ngờ ngay cả những chỗ không đáng nghi. Tuy đã kết án, nhưng cũng phải từ bản án dò tìm ra đường sống để cứu người. Chỗ nào còn nghi ngờ thì không nên bỏ qua. Nếu sự việc không có đối chứng, tình và lý chưa khớp nhau thì nhất thiết không thể thêm bớt bừa để hãm người vào chỗ chết. Phạm nhân với ta vốn chẳng có hiềm khích, thì cớ gì ta lại đưa họ vào chỗ chết. Tóm lại, con người là da thịt do cha mẹ sinh ra, chứ không phải đúc bằng đồng bằng sắt. Ngay trong hành động và lời nói của họ có chỗ sơ hở, nếu cứ cố chấp, hoặc bất chợt nổi giận mà cùm kẹp đánh đập, hòng tìm ra thủ phạm, thì e rằng, giả sẽ thành thật, không sẽ thành có. Thế mới biết, làm quan thông minh, cố chấp, thật là tai hại. Song trong những ông quan ấy, người ngu có ít, người thông minh lại có nhiều; quan tham lam ít, quan thanh liêm thì nhiều. Cũng chính vì tự cho mình là thanh liêm, nên khi làm việc, quan không thanh liêm không thấy hổ thẹn, xử phạt không khoan dung, sai lầm không chịu nhận, bởi thế họ coi tính mệnh như trò đùa. Ta cho rằng, tính mạng con người liên quan đến trời, nên nhất định sẽ bị trời trừng phạt. Chuyện quan huyện Khổng là một bài học cho chúng ta.
 
Đạo làm thầy rất cao cả, nhưng thầy phải có học vấn thực sự, phải cần mẫn nghiêm khắc dạy dỗ học trò, không để học trò mắc sai lầm. Ngày nay ta thường thấy có người Tứ thư cũng chưa hiểu hết, thế mà lại làm thầy. Hơn nữa, họ còn bị cuốn hút vào cờ bạc, rượu chè, kiện tụng, làm hại cả đời người học trò. Bởi thế con cháu thầy không những không phát đạt, thậm chí tuyệt tự thật đáng sợ thay!
 
Giết người bằng bút chính là tự giết mình. Ngô Dưỡng Thuần thường hay viết đơn kiện cho người, không biết ngòi bút của ông ta đã giết biết bao sinh mạng. Hai người con ông ta vì thế mà chết, còn lại người con gái. Song sự oan khuất lại chuyển sang hại cả chồng cô gái, về sau cả cháu nội của cô ấy cũng chết. Đạo trời vẫn còn, nghĩ đến mà run sợ.
 
Người ta đẻ con, vô luận là nhiều hay ít đều phải chú ý giáo dục. Nhất thiết không được quá yêu mà nhân nhượng vô nguyên tắc, phải biết con mình có tài năng hay không, dựa vào đó mà hướng dẫn con. Ví như nó thông minh thì phải làm cho nó chăm chỉ học hành; nếu không thì chuyển học chữ sang học nghề, không nên để nó chơi bời lêu lổng. Phải biết tính tình của tuổi trẻ, nếu không quản lý chúng thì tất cả những việc xấu đều bắt đầu từ đó. Nên ta không thể không răn dạy con cái.
 
Ta từng viết cuốn Thiên phúc thiên, trong đó có câu: "Muốn trở thành người tốt, phải chơi với bạn tốt, ủ rượu chua thì làm sao có được rượu ngon". Tóm lại con cháu ai, nếu cứ chơi bời với kẻ xấu, thì tự nhiên sẽ xấu theo. Khi đã quen thói, dù có ra sức cứu vớt, mong trở thành người cũng không được nữa.
 
 
Cuối thời Minh, ở Dương Châu có một người tên là Trương Lão Nhi. Nhà giàu có, nhưng chỉ sinh được một người con trai, tên là Tuyển Sinh: Tuyển Sinh là đứa trẻ rất ngoan, nên vợ chồng Trương Lão Nhi quý như vàng. Lên bảy, Tuyển Sinh được cho đi học, thầy Dự Đồng nói: "Đừng dồn ép, cứ mặc nó vui chơi". Mười hai tuổi Tuyển Sinh đẹp như một viên ngọc. Thường thì, trẻ con chăm học thì ít, lười nhác thì nhiều, nên cha mẹ cần phải thường xuyên đôn đốc việc học hành. Nếu cha mẹ lười nhác con cái sẽ xao nhãng việc học hành. Và tới khi mười bốn, mười lăm tuổi, thậm chí mười tám, mười chín tuổi, tuy biết không học được, thì cũng phải dựa vào việc học để quản lý. Chúng không làm gì sẽ lêu lổng chơi bời, dần dà sẽ bị kẻ xấu lôi kéo, kết bè kết đảng, lén lút yêu đương, rượu chè cờ bạc, rồi không biết chúng sẽ gây ra chuyện gì.
 
Mười sáu tuổi, Trương Tuyển Sinh bỏ học, chẳng ai quản lý quả nhiên bị mấy đứa xấu lôi kéo. Lúc đầu mình hầu hạ người, sau lại tìm người khác hầu mình; suốt đêm nằm cầu ngủ quán. Vì mẹ che giấu, cha không biết, đến khi biết thì con đã hư hỏng, không dạy được nữa. Bố mẹ nghĩ rằng lấy vợ cho con để nó hồi tâm lại. Họ nghĩ: "Ngày nay người lớn thích ăn diện, thích sang trọng, càng làm cho trẻ con hư hỏng. Hơn nữa, nhà càng sang trọng, người lui tới càng đông. Nhà nghèo hèn thì lại không có chí khí. Song, nó chơi bời với bọn thanh niên, quen thói trăng hoa, chỉ thích gái đẹp. Nay nếu lấy vợ đẹp, lại đanh đá một chút thì nó sẽ sợ, không dám đi nữa, điều đó chẳng hay sao?". Hai người bàn soạn xong, nhờ bà mối đi tìm người. Song những nhà khá giả thì không có con gái đẹp, nhà có con gái đẹp mà họ Trương ưng ý, thì thấy đứa con trai chơi bời lêu lổng không ai muốn gả.
Hơn một năm sau, nghe nói thầy giáo Ngô Dưỡng Thuần, cách đó ba dặm có một người con gái. Thầy Ngô, kiến thức nông cạn, ngay Tứ thư cũng không hiểu hết, toàn dựa vào việc bày mưu tính kế, lừa dối mấy đứa học trò để kiếm ăn. Tính ông ta hay cờ bạc, rượu chè, thấy thế học sinh cũng lười nhác, không chịu nghe lời thầy. Thầy thì không dạy học trò, suốt ngày viết đơn từ kiện cáo cho người. Trong làng xảy ra việc gì đều tìm đến ông. Được tiền, việc bé xé ra to, nói không thành có, không biết đã giết hại bao nhiêu mạng người. Trong làng ai cũng sợ ông ta. Ngô Dưỡng Thuần sinh được hai đứa con trai rất kháu khỉnh. Chưa đầy ba tuổi đã lăn ra chết, còn lại một người con gái, tên là Tam Thư. Đứa con gái vừa xinh đẹp lại nết na, vợ chồng ông ta rất yêu quý. Người mối đến hỏi cho con trai nhà họ Trương, lão Ngô đích thân đến thành dò hỏi. Thấy đứa con trai xinh đẹp, gia đình lại khá giả, bèn đồng ý ngay, rồi sau đó chọn ngày lành tháng tốt làm lễ cưới. Khi cho con gái đi lấy chồng, nhà họ Ngô sắm sửa tư trang cho con gái rất đơn sơ.
Vợ chồng lão Trương thấy Ngô Dưỡng Thuần không có con trai, hơn nữa con gái nông thôn lấy người thành thị nghĩ rằng sẽ lắm của hồi môn, nhưng khi biết đồ trang sức của cô dâu đơn sơ thì họ vô cùng thất vọng. Đến khi động phòng hoa chúc, thấy cô dâu xinh đẹp, vợ chồng nhà họ Trương rất vui mừng, mà ngay cả Trương Tuyển Sinh trước đây không ưng thì nay cũng thích. Không ngờ cô gái tuyệt thế giai nhân này không biết nũng nịu, ỏng ẹo làm tình như bọn kỹ nữ, Trương Tuyển Sinh nói những lời trăng hoa cô xấu hổ không dám bắt chuyện, khi Trương Tuyển Sinh đùa cợt, nhớt nhả, cô thấy khó chịu. Trương Tuyển Sinh nghĩ bụng: "Rốt cục cô vẫn chỉ là bọn gái quê". Chỉ có hai vợ chồng lão Trương thấy cô nết na, dịu dàng, đoan trang nên rất ân cần quý mến cô. Trong nhà vui vẻ thuận hòa.
Được nửa tháng, thấy lúc nào cô cũng buồn rầu nhớ nhung cha mẹ, Tuyển Sinh nói:
- Em cứ thương nhớ mẹ cha như thế, thì anh sẽ đi thăm cha mẹ thay em.
Sáng hôm sau, Tuyển Sinh trang điểm cẩn thận, thắng bộ quần áo mới. Thường ngày anh ta đi về chẳng nói gì với cha mẹ, đi đâu thì nửa chừng là rủ bạn bè cùng đi, dọc đường chơi đùa vui vẻ, nên dù đường có xa đến mấy anh ta cũng đi. Lần này đi một mình, anh ta cảm thấy đường quá xa. Bên đường có một ngôi miếu thờ thổ thần, bèn rẽ vào đó chơi. Anh ta thấy một thằng nhỏ khoảng mười sáu, mười bảy tuổi, rất xinh đẹp.
Tuyển Sinh vốn là một gã đa tình, lại rất thích mùi vị đàn ông. Nay thấy thằng nhỏ, anh ta sán lại bắt chuyện. Thấy thằng nhỏ đeo túi hành lý rất nặng, Tuyển Sinh hỏi ra, biết thằng nhỏ tới Quảng Đông thăm Thân Mậu Dịch. Tuyển Sinh chết mê chết mệt, quyến luyến không muốn rời thằng nhỏ, bèn nói dối rằng:
- Ở Quảng Đông tôi cũng có một người rất thân làm quan.
Thế là họ bám rịt lấy nhau, cùng tới Quảng Đông. Đã ba ngày, không thấy chồng về, Tam Thư nghĩ: "Nếu cha mẹ giữ lại đãi cơm thì cũng chẳng ở lâu đến thế, không biết vì sao?". Hai hôm sau, mẹ chồng không thấy con trai, mới bảo Tam Thư:
- Tuyển Sinh thường hay chơi bời lêu lổng, tụ tập bạn bè không chịu ở nhà. Mẹ hy vọng cưới con về thì nó sẽ nghĩ lại. Từ nay về sau con phải giữ rịt nó ở nhà, không cho đi đâu. Ba bốn hôm nay nó đi đâu mà không thấy.
- Cách đây bốn hôm, - Tam Thư nói, - anh ấy nói là đến thăm bố mẹ con, không biết vì sao không về. Mẹ hãy cho người đi hỏi xem sao!
Mẹ chồng sai người đến nhà thông gia hỏi. Ngô Dưỡng Thuần nói:
- Không thấy Tuyển Sinh đến đây.
Vợ chồng nhà họ Trương nói với nhau rằng: "Không biết nó ở nhà con kỹ nữ nào, hay ở nhà thằng bạn nào đấy? Sau này phải quản nó cho thật chặt".
Hai hôm sau thấy sốt ruột, Tam Thư bảo mẹ chồng rằng:
- Hôm đi anh ấy cài trâm vàng, mặc áo the mới. Hay là anh ấy ở nhà người bạn nào chăng?
Lão Trương tìm khắp nơi, rất nhiều ngày rồi mà vẫn không thấy Tuyển Sinh đâu. Ông lại đến nhà họ Cao hỏi, người ấy nói:
- Cách đây tám hôm, tôi gặp anh ấy ở gần cửa thành, anh ấy bảo "đến nhà bố vợ", từ đó về sau không gặp nữa.
Vợ chồng lão Trương rất lo lắng, nghĩ ngợi lung tung, thì Ngô Dưỡng Thuần sai cháu nội là Ngô chu đến hỏi thăm tin tức và nhân thể thăm Tam Thư. Ngô Chu là cháu vợ Ngô Dưỡng Thuần, cha mẹ mất sớm, phải sống một mình. Nhà họ Ngô, con gái đi lấy chồng, tuổi già hiu quạnh không ai đỡ đần, bèn đưa cháu về nuôi, đổi thành họ Ngô, làm con thừa tự. Ngô Chu tới, lão Trương ra tiếp, thấy Ngô Chu chừng hai mươi tuổi, mặt mũi khôi ngô, bèn túm chặt lấy nói:
- Ngươi hãy trả con ta đây! Ngô Chu trợn tròn mắt, ngớ người ra không nói được câu nào. Thấy vậy Tam Thư nói:
- Thưa cha, anh ấy có lòng tốt đến thăm, chứ anh ấy có can hệ gì đâu.
- Mày cũng không chạy thoát được đâu. - Lão Trương nổi giận nói. - Các người âm mưu giết con ta để lấy nhau, trời không dung tha các người.
Thấy ông ta nói thế, Tam Thư uất nghẹn đến tận cổ, không sao nói được. Lão Trương giải Ngô Chu lên huyện. Quan huyện họ Khổng, là người thanh liêm chính trực, ông chỉ có một đam mê đó là xử kiện. Ông thường nói: "Nếu không oan ức thì sao người ta phải đi kiện?". Bởi thế người đi kiện ngày một nhiều. Hôm ấy lão Trương lôi Ngô Chu lên huyện kêu khóc. Quan huyện gọi vào xét hỏi, lão Trương nói:
- Con con là Trương Tuyển Sinh, lấy vợ mới được nửa tháng, nói là đến nhà bố vợ, nhưng tới nay vẫn chưa thấy về. Hỏi thì Ngô Chu nói là không thấy con tới. Ngô Chu là anh em con cô con cậu với con dâu con, nhất định chúng đã thông dâm với nhau nên chúng đã âm mưu giết hại con con để lấy nhau. Con xin ngài ra tay trừng trị.
- Tại sao mày lại âm mưu giết hại con người ta? - Quan huyện hỏi Ngô Chu.
- Thưa ngài, - Ngô Chu nói, - em con mới đi lấy chồng được nửa tháng. Con chưa thấy chồng nó tới nhà con, con cũng chưa gặp bao giờ, vậy sao lại đổ cho con giết hại?
- Con ngươi có người nào oán không? - Quan huyện hỏi lão Trương.
- Con con mới mười chín tuổi, - lão Trương nói, - hằng ngày đóng cửa đọc sách, chẳng ai thù oán!
- Trên đường đi có hổ báo gì không, - quan huyện hỏi tiếp.
Vùng này rất yên lành, - lão Trương đáp, - không có kẻ xấu và ác thú.
Quan huyện nghĩ một lát rồi hỏi Ngô Chu.
- Mày có vợ chưa?
- Chưa ạ. - Ngô Chu đáp.
- Nhà có những ai? - Quan huyện gật gật đầu hỏi.
- Còn cha mẹ già. - Ngô Chu đáp.
Quan huyện nói:
- Hãy giam Ngô Chu lại, còn lão Trương cho về, chờ vợ chồng họ Ngô và con dâu tới sẽ xét hỏi tiếp.
Chỉ trong mấy ngày các phạm nhân đã đến đủ. Quan huyện thấy Ngô thi xinh đẹp đã nghi ngay cho cô, ông nghĩ: "Cô ta đẹp như thế, sao chồng lại chịu bỏ đi, trai chưa vợ nhìn thấy ai mà chả thích. Gian dâm là chắc, còn mưu hại có thể tới tám chín phần mười". Thế rồi ông quắc mắt hỏi Tam Thư:
- Chồng ngươi hiện ở đâu?
- Trước khi đi nhà con có nói là đến thăm bố mẹ con. - Tam Thư trả lời. - Song chẳng hiểu sao không thấy về.
- Ngươi nói thế thì chỉ được tha không lăng trì vì không đồng mưu. - Quan huyện nói.
- Sao các người lại để con gái thông dâm với Ngô Chu? - Quan huyện hỏi vợ chồng họ Ngô.
- Bẩm quan lớn, - Ngô Dương Thuần nói, - quan lớn đèn trời soi xét, con gái con ở nhà học hành, biết được phép tắc, lễ nghi. Anh em nó ở xa nhau, mỗi năm chỉ gặp một hai lần. Sau khi con con đi lấy chồng nó mới về ở với chúng con. Mà con rể con có đến nhà con đâu, sao lại vu oan cho nó như thế?
- Tại sao ngươi gian dâm với vợ người khác, - quan huyện lại hỏi Ngô Chu, - rồi âm mưu giết hại người, ngươi đã giấu xác chết ở đâu?
- Bẩm quan lớn, - Ngô Chu nói, - quả thực là oan cho con. Thực tình chồng em con không đến nhà con. Xin quan lớn đèn trời soi xét.
- Nó mới cưới, vợ lại đẹp như một bông hoa, nếu nó đến nhà chứa hay đi xa thì nó phải về chứ? Đích thị mày đã giết nó rồi. Hãy mau cùm kẹp hai đứa này, bắt phải khai ra sự thật chúng đã giết người và giấu xác chết ở đâu.
Song thương thay, vị nha môn chưa từng nhận tiền đút lót bao giờ, dù có kẹp ba người đến chết họ cũng không khai. Quan huyện lại thét đánh, song đánh thế nào chăng nữa họ cũng không khai. Rồi lại tiếp tục đánh. Quan huyện nói:
- Mấy đứa này cứng đầu cứng cổ, cùng một giuộc, tội đáng chết. - ông lại nói tiếp. - Hãy dừng lại, giam đứa con dâu vào nhà giam nữ, lão Ngô, Ngô Chu tống vào nhà giam mỗi đứa một nơi, còn vợ lão Ngô cho về, hôm sau tiếp tục xét hỏi.
Vợ lão Ngô thấy bị oan khuất, uất ức quá không chịu nổi. Đêm ấy về nhà nhảy xuống giếng tự tử. Ngày hôm sau thẩm vấn quan lại tiếp tục kìm kẹp đánh đập lão Ngô và Ngô Chu, truy hỏi bắt khai ra tử thi đã giấu ở đâu, nhưng họ vẫn im lặng. Lão Ngô vì già yếu, lại chịu tra tấn cục hình đã chết trong ngục. Quan huyện vẫn không buông tha, tiếp tục đánh đập Ngô Chu cho đến khi chết mới thôi, chỉ còn lại Tam Thư. Cô biết cha mẹ và Ngô Chu đã chết, cứ gào khóc kêu oan khuất, chết đi sống lại. Cô nói:
- Cha mẹ chết hết cả rồi, ta biết dựa vào ai bây giờ?
 
- Đúng như vậy đấy. - Mọi người nói. - Nhà chồng là kẻ thù, nhà mẹ đẻ không còn ai, sống trong ngục mãi sao được, chỉ còn có đường chết mà thôi.
- Chết tôi cũng không sợ. - Tam Thư nói. - Cha và anh tôi không giết chồng tôi, lâu ngày sự việc cũng sẽ rõ ràng. Tôi chờ đến ngày ấy mới chết.
 
Quan huyện cho giam Tam Thư vào ngục.
Không lâu sau, viên quan họ Khổng mắc tội, bị đuổi về quê Thiểm Tây. Quan mới đến nhậm chức, sự việc mới dịu di.
 
Còn Trương Tuyển Sinh, chỉ vì nỗi say mê nhất thời đã cùng với thằng nhỏ đến Quảng Đông. Biết Tuyển Sinh chẳng có người nào thân thích ở đây, nó bèn chuốc rượu cho anh ta uống say khướt, rồi lấy hết vàng bạc, quần áo tẩu thoát. Khi tỉnh dậy mới biết mình đã lâm vào cảnh đường cùng, về sau lại gặp bọn người quen thói trăng hoa với con trai, thấy Tuyển Sinh còn trẻ lại xinh đẹp bèn giữ lại hành dâm. Sống như thế được hơn một năm, thì Tuyển Sinh mình mẩy ghẻ lở, chán ghét chúng đuổi anh ta đi Tuyển Sinh nghĩ: "Nhà mình giàu có, lại mới cưới vợ được nửa tháng, chẳng vạ gì phải đi xa, chịu khổ thế này". Thế là anh ta xin ăn, lần đường về quê. Làng xóm thấy anh ta trở về rất bất bình, liền điệu anh ta lên quan huyện mới. Quan huyện hỏi rõ sự tình, đánh cho bốn mươi gậy, sau đó tha Tam ThưTam Thư được tha không muốn trở về nhà chồng. Mọi người đều khuyên rằng:
- Cô nên về sống ở nhà họ Trương.
- Trước đây tôi đã nói, - Tam Thư nói, - khi nào sự việc rõ ràng tôi sẽ chết. Khi tôi chết, nếu mọi người thương tôi hãy chôn tôi bên cạnh bố mẹ và anh của tôi, chứ tôi không thể nằm chung một huyệt với kẻ thù.
- Sau này chúng tôi sẽ chôn cất theo lời trăng trối của cô. - Những người làng nói. - Song bây giờ cô nên về nhà họ Trương mới phải.
Tam Thư nghe theo, về nhà họ Trương. Vợ chồng lão Trương vô cùng hổ thẹn, khóc lóc nói:
- Bố mẹ quả là đồ súc sinh, đã hại con đến nỗi này. Chúng ta mong con hãy tha thứ.
Tam Thư về phòng riêng của mình. Trương Tuyển Sinh chịu hình phạt đau đớn, nằm riêng một chỗ kêu rên. Thấy Tam Thư vào phòng, hắn gắng gượng ngồi dậy, quỳ trước mặt Tam Thư van xin tha thứ. Tam Thư lạnh lùng nói:
- Tôi với anh không còn tình nghĩa gì nữa, cha và anh tôi đã phải chết vì bị cùm kẹp. Mẹ tôi phải nhảy xuống giếng tự tử. Hai năm nay cha mẹ anh đã ra vào cửa quan kiện tụng, trong và ngoài thành ai ai cũng cho tôi là kẻ gian dâm, điều ấy đã làm tổn hại tới thanh danh của tôi. Hai năm trong tù tôi bị đánh đập, cùm kẹp, đau khổ vạn phần. Anh đã hại tôi đưa tôi đến nông nỗi này. Anh là kẻ nhẫn tâm, bỏ đi không gửi một chữ nào về, ngay bạn bè cũng không đến nỗi hại người như thế, huống hồ lại là vợ chồng. Anh là kẻ lòng lang dạ sói, không nghĩ đến vợ con, quên hết cả cha mẹ, anh là loại súc sinh bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa, là cầm thú đội lốt người.
Trương Tuyển Sinh chỉ cúi đầu, nói:
- Tôi thấy sai rồi.
Anh ta bò dậy, nắm lấy tay Tam Thư, Tam Thư giằng tay ra nói:
- Thôi hôm nay ta vĩnh biệt nhau.
Đêm ấy cô nằm riêng một chỗ, khi mọi người đã ngủ say, cô tự thắt cổ chết.
 
Lúc ấy các bậc thân sĩ trong làng mới biết cô không phải là người tham sống sợ chết, cô đã chết để bảo toàn danh tiết. Ai ai cũng kính phục thương xót cho số phận của cô, họ đều đến cầu nguyện cho linh hồn của cô. Theo lời trăng trối, người ta đã chôn cô cạnh ngôi mộ người cha già. Gia tộc họ Ngô và xóm làng vô cùng phẫn uất, đổ đi các ngả tìm bắt Tuyển Sinh đền mạng.
 
Biết được tin ấy, dù khắp mình lở loét, anh ta đành phải trốn đến Thiểm Tây, rồi sung vào đội quân của một viên tướng nào đó. Theo lệnh ông, anh ta đến mai phục tại một sườn núi. Đột nhiên thấy một người đầu tóc bù xù, mặt mũi nhem nhuốc, áo vắt vai, đi chân đất như một người điên dại, chạy tới như bay, gào lên:
- Ta là người họ Khổng, từng nhậm chức tri huyện. Vì cứ khăng khăng theo ý mình, đã làm chết oan bốn mạng người. Nay thấy một con ma đàn ông đã già, què chân vì bị cực hình, dẫn theo ba con ma: một con ma đàn bà mặt mày bê bết bùn đất do chết đuối, mình con ma đàn bà vẫn còn buộc một sợi thừng thắt cổ, và một con ma đàn ông còn ít tuổi chân què. Họ đang đuổi ta đòi mạng, xin cho tôi được tạm thời ẩn nấp ở đây. Tuyển Sinh thấy ông ta đúng vào lúc trận đánh diễn ra ác liệt. Quân của Đại Thanh đã tới chân núi, một khẩu đại pháo mặc áo đỏ chĩa nòng vào chỗ chúng phục kích trên sườn núi, nổ vang trời dậy đất, chết một lúc mấy trăm tên. Viên quan họ Khổng, Tuyển Sinh nát như tương, thi thể thành bùn đất.
 

Thế mới biết, cha có con mà không dạy, thầy làm học trò lầm lỡ, bọn dùng giấy bút để hại người, quan lại vì cố chấp mà xử oan, cho đến con cái, cháu chắt cũng học thói lưu manh, tà dâm lang chạ, quên cả cha mẹ vợ con, cuối cùng đều phải chịu kết cục thê thảm. Thật đáng sợ thay.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5938
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Mon Mar 17, 2014 6:49 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 9
Hổ Bãi Bồi
Những việc không giúp ích cho người khác, thì những người có lương tâm không bao giờ dám làm, thế thì kẻ nào dám cả gan giết chết người để chiếm đoạt ruộng đất? Kẻ nào nhẫn tâm làm điều ác sẽ khiến trời nổi giận, và Chu Hổ, kẻ gây ra điều ác, đã phải chuốc lấy tai họa.
 
Có người hỏi, con giải đã nuốt con trai Chu Hổ, sao nó không nuốt luôn Chu Hổ, thế có phải sướng không. Chu Hổ kẻ độc ác đã giết người để chiếm đoạt bãi sông, khiến trời tức giận. Nếu như con giải nuốt hắn, thì con hắn vẫn còn, tài sản của hắn vẫn chưa bại hoại. Nay con giải nuốt con hắn, cái đầu của hắn bị chặt, bêu giữa chợ, hắn bị tuyệt tự, vợ thì dâm loạn, gia tài khánh kiệt. Người ta cho rằng kế của Chu Hổ đã tàn ác, ai ngờ kế của trời còn ghê gớm hơn hắn nhiều.
 
Bất hiếu là tội ác nhất trong các tội ác. Gã ăn mày họ Tào mưu đồ tiến thân, tuy còn một người mẹ mù, nhưng hắn nói dối chỉ có một mình. Khi đã được tiến thân, được ăn no mặc đẹp hắn bỏ mặc người mẹ mù lòa đói rách khổ sở, không cho mẹ lấy một miếng cơm, manh áo, ấy là cái xấu xa nhất của Tào. Nếu gã không bị Chu Hổ dùng gậy đập vỡ sọ, thì nhất định cũng bị Thiên Lôi đánh dập đầu, cái xác to béo của hắn cũng không mang nổi đầu hắn.
 
Thời Thuận Trị, vùng bãi Tam Giang, làng Đông, huyện Giang Đô, cách sông khoảng bốn năm dặm, có một bãi đất mới bồi khoảng hơn một ngàn mẫu, người dân Giang Đô đã nộp đơn xin bãi đất này để cày cấy. Một người huyện Đan Đồ là Chu Chính Dần nhà rất giàu có, đã năm mươi tuổi, có hai người vợ nhưng lại chỉ có một người con trai. Mượn cớ là người trông coi việc thuế má, Chu Chính Dần quen thói chiếm đoạt ruộng đất của người, gian dâm với vợ người khác. Trong nhà hắn nuôi một lũ côn đồ, trái ý là hắn cho người bắt tới đánh đập, nên người ta sợ hắn như sợ cọp. Tên là Chính Dần, dần cầm tinh con hổ, nên người trong làng đặt cho hắn biệt hiệu là Hổ Bãi Bồi, rồi gọi hắn là Chu Hổ, nghe thấy mọi người gọi thế hắn rất khoái.
 
Một người nữa ở huyện Đan Đồ, họ Triệu, gia tài anh ta tuy không bằng Chu Hổ, nhưng lại quen thuộc quan lại, cũng muốn chiếm đoạt bãi bồi, bởi thế mà trở thành địch thủ của Chu Hổ.
Thấy giữa sông có một bãi bồi, Chu Hổ và người họ Triệu, ai cũng muốn là của riêng mình. Chu Hổ nói:
- Đây là bãi mới bồi, bao nhiêu năm nay tôi đã nộp thuế khống, nên nó phải là của tôi.
- Bãi mới bồi này, - người họ Triệu nói, - nằm sát bãi bồi cũ của tôi, nó phải là của tôi.
Người huyện Giang Đô lại nói:
- Bãi mới bồi này địa giới Giang Đô rất gần, mà cách địa giới huyện Đan Đồ rất xa, nên bãi bồi này là của chúng tôi.
Họ cứ kiện cáo nhau. Phụng Viện ty ủy quyền cho hai phủ Trấn, Dương dẫn hai huyện cùng nhau hoạch định, hơn ba năm vẫn không giải quyết được.
Bên cạnh nhà họ Chu có một vị họ Trương, đã soạn ra hai bài từ ngắn, sai người dán lên tường. Chu Hổ mở ra xem, trên đó viết như sau:
"Đừng tranh nhau, đừng tranh nhau nữa. Tranh nhau sẽ gây oán chuốc thù. Bãi bể nương dâu nào ai biết được, mà trước mắt kiện nhau vẫn chưa dừng. Đừng tranh nhau nữa, tất cả hãy quay về nhìn lại đời sau.
Hãy tranh nhau, hãy tranh nhau nữa. Tranh nhau đâu sá kể chuốc oán mua thù. Chỉ mong cháu con giàu có. Một thời liều mạng dấn thân. Hãy tranh nhau, chẳng quản ngày nay, quản đời sau”.
 
Chu Hổ xem xong, cho rằng bài từ không hợp ý mình, hắn bỏ đi và vẫn không hề thay đổi. Ngày nào hắn cũng nghĩ, nhưng chưa tìm ra kế sách. Một hôm đi thăm bạn về, hắn gặp một người ăn mày béo tốt, khỏe mạnh, trạc ba mươi tuổi. Chu Hổ gọi đến chỗ vắng, tươi cười nói:
- Anh tuy là ăn mày nhưng dáng vẻ đôn hậu, hẳn sau này sẽ rất phú quý. Nhưng vì sao lại nghèo khổ đến nỗi phải đi ăn mày?
- Con là người họ Tào, vốn là con cháu nhà quan, sa cơ lỡ vận, không việc làm, đành phải đi ăn mày.
- Nhà anh còn ai không? - Chu Hổ hỏi.
- Ông hỏi tới người nhà tôi làm gì? - Tên ăn mày trả lời.
- Nếu như ngươi chỉ có một mình thì ta dễ quản. - Chu Hổ nói.
Tên ăn mày họ Tào vẫn còn người mẹ già mù lòa, song hắn nói dối rằng:
- Con chỉ một thân một mình, nếu được nương nhờ nơi ông thì ơn ấy chẳng khác gì ơn sinh thành.
- Thế này nhé, dễ lắm. - Chu Hổ cười nói. - Ta có một người con cả, chết ở nơi xa không ai biết. Anh đến nhà, nhận ta là cha đẻ, làm con cả của ta, ta giả vờ giận dữ chửi, rồi sau đó mới nhận.
Tên ăn mày bằng lòng theo về nhà. Chu Hổ giận dữ hỏi:
- Mày là đồ súc sinh, mày lang thang phiêu dạt ở nơi nào, mày là đứa đê tiện, làm xấu mặt nhà tao.
Sau đó Chu Hổ định đánh và đuổi đi, tên ăn mày van nài cầu xin, tự sửa chữa lỗi lầm. Lúc đó Chu Hổ mới bằng lòng, cho người tắm rửa, mặc quần áo mới, dặn dò người nhà phải gọi bằng ông. Tên ăn mày rất đỗi vui mừng, một phút lên tiên, được ăn ngon mặc đẹp. Chu Hổ ra ruộng bãi thu tô, cắt lau đều cho tên ăn mày đi theo.
Hơn ba tháng sau Chu Hổ dẫn người nhà và những tên côn đồ cùng với tên ăn mày đến bãi mới bồi trồng lau sậy. Hắn biết, trồng lau ở bãi mới bồi nhất định sẽ đánh nhau. Triệu X. biết tin, cùng với năm tên đồng đảng và hơn trăm người nữa gậy gộc gươm đao ào ào xông tới bãi mới bồi, chặn lại đánh. Chu Hổ chỉ có hơn ba mươi người, lực lượng ít không thể chống lại được.
Hôm ấy, hai bên giao chiến, gậy gộc giáo mác vung lên quay tít, quật bừa vào nhau, tiếng thét vang trời dậy đất. Phe Chu Hổ rất nhiều người bị thương. Nhân lúc ẩu đả, Chu Hổ dùng gậy quật mạnh vào đầu tên ăn mày, óc phọt ra, chết ngay tại chỗ. Xong việc hắn gào lên khóc lóc:
- Bọn chúng bay đã đánh chết con tao giữ ban ngày ban mặt, chúng bay coi trời bằng vung, coi thường pháp luật.
Bọn Triệu X. thấy người chết nằm vật dưới đất, sợ quá bỏ chạy.
Chu Hổ lập tức gào thét báo quan. Vì quan hệ đến tính mạng con người, ngay ngày hôm sau quan huyện đích thân đến khám nghiệm tử thi. Quả nhiên thấy con Chu Hổ bị đánh vỡ đầu, phọt óc. Một mặt ông cho mua quan tài chôn cất, một mặt sai người lùng sục các nơi truy tìm hung thủ. Khóa tay sáu người thuộc phe cánh Triệu X. cho vào ngục. Qua nhiều lần xét hỏi, cùm kẹp tra khảo, Triệu X. buộc phải cung khai. Quan huyện bắt Triệu X. phải đền mạng. Triệu X. thấy mình đã thất bại, bèn nhờ mấy viên chức trách trong làng đến nói với Chu Hổ, xin hiến toàn bộ bãi bồi mới cho hắn, và xin hắn rộng lòng tha thứ. Chu Hổ cứ khăng khăng từ chối. Cuối cùng hắn chỉ chịu nhận bãi bồi mới, còn việc lo lót quan lại từ trên xuống dưới Triệu X. phải hoàn toàn lo liệu. Từ đó vụ án mới kết thúc. Triệu X. phải bán hết gia sản chạy khắp nơi xin cứu giúp. Chu Hổ đã thực hiện mưu kế ác độc, chiếm không toàn bộ bãi đất mới bồi, hắn hả hê sung sướng. Thế rồi hắn cùng với đứa con thật dẫn mấy người ở đi khắp bãi nhận mốc giới.
Lúc ấy trời nóng nực oi ả, nhà coi ruộng trên bãi lại thấp lè tè, giữa đêm nóng quá, hai cha con kê phản ngủ ngoài trời cho mát. Đến nửa đêm, nghe thấy tiếng kêu thất thanh, Chu Hổ bật dậy, thấy một con giải to như cái nhà, mồm như một chậu máu đang nhai đứa con trai của mình. Chu Hổ sợ mất vía, kêu toáng lên, rồi lấy gậy quật thục mạng vào đầu con giải, nhưng nó đã nuốt con hắn mất quá nửa người, chỉ còn lại hai chiếc cẳng chân. Chu Hổ khóc rống lên, rồi ngất lịm, mãi sau mới tỉnh lại. Người ta vội vàng mua quan tài, thu nhặt những mẩu thịt còn thừa bỏ vào đó, rồi đem chôn. Ngay sau đấy thấy ba người lính của huyện mang trát có đóng dấu đỏ của quan về bắt Chu Hổ. Chu Hổ xem thì trong trát có viết: "Lệnh bắt Chu Chính Dần tại bãi mới, chờ quan huyện ngày mai đích thân về xét nghiệm". Chu Hổ xem xong kinh hoàng nói:
- Con tôi bị giải nuốt chết, chứ việc gì mà phải khám nghiệm?
Những người lính đều trả lời không biết. Các chức trách địa phương dựng rạp chuẩn bị lập phiên tòa xét xử. Hôm sau, quan huyện cùng một vị học quan về làng, áp giải sáu phạm nhân thuộc phe họ Triệu, một bà già mù. Cùng đi với quan là những người khám nghiệm tử thi, có mang theo đầy đủ dụng cụ xét nghiệm. Khi các vị quan ngồi oai nghiêm trước phiên tòa, quan huyện quát dẫn các phạm nhân vào. Chu Hổ quỳ xuống lẩm bẩm rằng:
- Con của giám sinh, quả thực đêm qua bị con giải dưới sông bò lên nuốt chết, chứ không phải do người làm chết, hiện đã thu nhặt xác bỏ vào quan tài đóng đinh rồi, xin quan lớn cho phép miễn mở quan tài khám nghiệm.
- Ngươi hãy quỳ sang một bên. - Quan huyện cười nói.
Sau đó quan huyện cho những người khám nghiệm tử thi và những người sai dịch khiêng tới chiếc quan tài của người bị đánh vỡ đầu trước đó ba tháng. Quan huyện bảo mở nắp quan tài ra, đích thân rời khỏi bàn đến xem, bảo người đàn bà mù chích máu ở ngón tay nhỏ vào xương tử thi, quả nhiên máu thấm vào trong. Sau đó lại bảo Chu Hổ chích máu ngón tay nhỏ vào tử thi, thì máu cứ nổi lên không thấm. Quan huyện lệnh cho đậy nắp quan tài lại, cho người khiêng về chỗ cũ. Lập tức gọi Chu Hổ quát:
- Ngươi đã làm gì, hãy khai hết sự thực.
Chu Hổ thấy việc bại lộ, buộc phải khai hết những việc hắn đã lừa dối người ăn mày, và đánh chết người ấy thế nào. Quan huyện nói:
- Mày là kẻ thương luân bại lý, coi tính mạng như trò đùa. Hôm nay có vị học quan ở đây, chứng kiến ta xử tội một tên đại gian, đại ác chứ không phải xử tội một giám sinh. Tuy ngươi đã khai thực, nhưng việc làm của ngươi vẫn phải chịu cùm kẹp và đánh bốn mươi gậy.
Chu Hổ bị đánh xây xẩm mình mẩy, sau đó xích tay tống vào nhà giam tử tù. Còn sáu người trong phe Triệu X. được tha về, chờ xét xử sau. Những người dân vùng bãi đều hả lòng hả dạ.
Có người tò mò hỏi kỹ những người tùy tùng của quan, thì biết rằng, khi quan làm việc tại Xuyên Đường, trong lúc mệt mỏi gục xuống bàn, tự nhiên thấy một người mình mẩy đầy máu me, đau đớn van xin rằng:
- Bẩm quan lớn, con là người họ Tào, đi ăn mày để sống qua ngày, bị Chu Hổ lừa dối nhận làm con. Trong lúc mọi người đánh nhau hỗn loạn, hắn đã dùng gậy đập vỡ toác đầu con, âm mưu dùng cái chết của con để chiếm bãi sông. Oan hồn con vẫn u uất chưa tan. Hiện con còn người mẹ đang nằm cầu ngủ quán, vất vưởng ăn xin ngoài Tây Môn. Cầu mong quan giải oan cho con.
Tỉnh dậy, quan huyện bí mật sai người tìm hỏi cặn kẻ bà lão ăn mày mù, biết bà có người con trai thật. Sợ giấc mộng không đúng sự thực, quan huyện cho người mở quan tài, nhỏ máu bà cụ vào tử thi, thì thấy đúng như thế. Nghe xong, mọi người mới hiểu hết ngọn ngành.
Xét xử xong, quan huyện cùng với học quan tới ngay nhà họ Chu, tịch biên tài sản. Một đứa ở nhà họ Chu bẩm với quan huyện rằng:
- Mẹ Chu Hổ cùng với vợ của hắn, thấy việc bại lộ, đã gom hết vàng bạc châu báu theo bọn côn đồ chạy trốn.
Nghe xong quan huyện nói:
- Đây là quả báo đối với vợ con của bọn gian dâm.
Sau đó, ông cho ghi toàn bộ tài sản, nhà cửa vào sổ sách định giá bán hết. Giao cho bà lão mù năm mươi lạng để chi dùng vào việc chôn cất con và dưỡng già. Số bạc còn lại nhập kho để cứu tế người nghèo. Còn hơn ba ngàn mẫu ruộng của Chu Hổ chia cho những người mù lòa, tàn tật, cô quả tại các làng, và đem số tiền đã nhập kho cứu tế những người nghèo.
Không lâu sau cả kinh thành biết được tội ác của Chu Hổ rất nghiêm trọng, yêu cầu quan xử Chu Hổ, đưa Chu Hổ tới bãi mới chém cổ, bêu đầu cho mọi người biết. Người nào cũng vui mừng và phỉ nhổ tên giết người tàn ác ấy. Từ đó sáu người trong phe họ Triệu và những người ở huyện Giang Đô không ai dám xâm phạm bãi bồi. Những người trong làng làm một bài vè lời lẽ quê mùa mộc mạc như sau:
Hai chiếc quan tài
Một thật, một giả
Con giả khóc giả
Con thật lòng đau
Cướp của giết người
Cháu con tuyệt tự Vợ con dâm đãng
Nhà nát cửa tan
Tấm gương tày liếp
Báo ứng rõ ràng
Nhắn nhủ mọi người
Trông đó làm gương
Đừng theo điều ác

Làm điều tốt lành.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5938
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Mon Mar 17, 2014 7:11 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 10
Người Đẹp Nhất Làng
Đàn bà gian dâm, một dạ đôi lòng, chê người này yêu người khác, dần dần rồi sẽ gây ra họa giết người, đó chẳng đáng sợ sao.
Không chịu nghe người già khuyên bảo điều hay lẽ phải, nhanh chóng đi vào chỗ chết. Trước đây, dựa vào việc đi bán chỉ thêu, để ngắm nhìn đàn bà, trêu ghẹo phụ nữ. Tất cả mọi chuyện đều do đó mà ra. Thật đáng sợ thay.
 
Đàn ông thật thà chất phác, nhất thiết đừng lấy những người đàn bà phóng đãng. Việc của Vượng Nguyên là một bài học cho người đời.
 
Ở Nam Môn, Dương Châu có một người tên là Vượng Nguyên, chuyên bán chỉ thêu để sinh sống. Anh ta đang độ tuổi tráng niên, chưa vợ, thường mượn cớ đi bán chỉ để ngắm nhìn phụ nữ, và buông ra những lời chòng ghẹo. Hàng ế, một người bảo anh ta đến làng Tây mà bán, ở đó hàng bán rất chạy.
Một hôm anh ta đến trang trại nhà họ Trần, một người đàn bà gọi vào mua. Người đàn bà xinh đẹp mặc áo tang, trạc hai bốn hai nhăm tuổi. Vượng Nguyên vừa bán hàng vừa cùng cô ta đầu mày cuối mắt. Thích quá, anh ta hỏi dò một cụ già láng giềng, cụ nói:
- Người ấy tên là Quách thị, thường gọi là "Người đẹp nhất làng". Tuy đẹp nhưng năm ngoái lấy chồng chưa đầy nửa năm thì chồng ốm chết. Chẳng hỏi cũng biết cô ta là người đàn bà dâm đãng. Tôi thấy anh là người thật thà chất phác, lại khỏe mạnh, e rằng không phải là địch thủ của cô ta.
- Nhà cháu không có người trông nom, - Vượng Nguyên nói, - có lẽ cháu sẽ lấy cô ấy.
Anh ta nhờ người mối đến hỏi, cô ưng ngay. Cưới cô về, vợ chồng sống với nhau rất hòa thuận.
Được hơn một tháng Vượng Nguyên xanh xao, dần dần chuyển sang thở dốc. Lưu Bội Ngô là bạn bán chỉ, thường hay lui tới nhà Vượng Nguyên đùa cợt với vợ anh ta, sau đó hai người yêu vụng nhớ thầm. Bội Ngô hiểu rằng, ôn tồn giúp đỡ cô ta thì sẽ có ngày cùng cô chăn gối. Người đàn bà thấy mùi vị ngọt ngào, ngày càng tỏ ra thân thiết. Hơn nữa chồng lại ốm, cứ nằm kêu rên, phải hầu hạ thuốc thang, khiến cô ta càng tức tối khó chịu. Hàng xóm láng giềng cũng nghe phong thanh thấy việc này. Vượng Nguyên đau yếu nằm liệt giường, Bội Ngô vờ đến thăm hỏi, nhưng lại hôn trộm vợ anh ta. Vượng Nguyên nhìn thấy, song vì đau quá không nói được. Hôm sau thấy người dễ chịu, Vượng Nguyên mới nói với vợ:
- Ta sống ở đây lâu rồi, tuy nhà nghèo nhưng thanh bạc. Cô phải giữ thể diện cho gia đình, ta không muốn mang tiếng là kẻ bị cắm sừng, nếu việc ấy lộ ra ta sẽ giết, chứ không tha đâu.
Người vợ miễn cưỡng nói mấy câu lấp liếm, rồi nói cho Bội Ngô biết. Bội Ngô nói:
- Chồng em đã biết, lần sau anh cẩn thận hơn là được chứ gì!
- Mối tình giữa em và anh không thể nào dứt được, nhân lúc anh ta đang ốm liệt giường, em sẽ có cách.
Bội Ngô ra về.
Người đàn bà dâm đãng ấy đã mê đắm Bội Ngô, sợ chồng khỏi bệnh sẽ trói buộc chân tay, không tự do hành lạc. Đêm đến, chờ lúc chồng ngủ say, cô ta lấy chăn trùm kín đầu, rồi lại lấy bao gạo đè lên cho ngạt thở, Vượng Nguyên đã bị cô ta giết chết như thế. Đến sáng, biết là Vượng Nguyên đã tắt thở, cô ta vờ khóc toáng lên.
Bội Ngô nghe thấy tiếng khóc, lại thấy xóm giềng nói: "Người ấy chết bất minh, ta phải đi báo quan ngay". Bội Ngô trống ngực đánh hơn trống làng nghĩ chỉ còn có cách trốn tới nhà người thân ở Hoài An vài ba tháng, khi nào yên ắng sẽ quay về. Rồi anh ta đi một mạch từ Cao Miếu ở Loan Đầu tới trấn Thiệu Bá, cách nhà tới hơn bốn mươi dặm mới tạm yên tâm. Thấy đói bụng, anh ta vào hàng ăn, tìm một chỗ ngồi, rồi gọi chủ hàng:
- Hãy lấy cho tôi suất cơm, tôi ăn còn đi ngay, có rượu nóng cho tôi một bình. Người chủ dạ ran. Lát sau thằng nhỏ mang cơm và thức ăn đặt lên bàn, thấy hai đôi đũa, hai chiếc chén. Bội Ngô nói:
- Chỉ có mình tôi, sao lại mang ra hai đôi đũa, hai chiếc chén.
Thằng nhỏ chỉ vào chỗ đối diện nói:
- Vị khách này sao lại không uống rượu?
- Có khách nào đâu? - Bội Ngô nói.
- Đây chẳng phải là người cùng vào với ông ư? - Thằng nhỏ lại chỉ vào chỗ đối diện nói.
- Quả thật là anh hoa mắt rồi. - Bội Ngô nói.
Thằng nhỏ dụi dụi mắt nói:
- Quái thật! Vừa có một người đàn ông gầy gò, da vàng bủng theo ông vào đây, cùng ngồi với ông, sao bây giờ lại biến mất? Nhớ tới dáng vẻ của Vượng Nguyên lúc còn sống, ngờ rằng oan hồn anh ta theo mình, vô cùng khiếp sợ, không kịp ăn. Bội Ngô bèn đứng dậy định bỏ đi.
Khách hàng biết được thằng nhỏ gặp ma, bèn xúm đến vây chặt lấy Bội Ngô hỏi vì sao. Bội Ngô càng hoảng sợ, rồi đột nhiên phát điên, gào lên:
- Tôi chết khổ lắm.
- Người này ma nhập rồi. Nhất định có điều oan uổng chi đây.
Quân lính tuần tra gần đó biết được, báo cho trạm tuần tra Thiệu Bá. Trạm tuần tra là một nha môn rất lạnh lùng, coi công việc là một vinh dự, cử ngay lính tuần bắt về thẩm vấn.
Ngay lúc ấy, khách hàng và thằng nhỏ bồi bàn dìu Bội Ngô đến trạm tuần tra. Bội Ngô mắt trợn ngược, nói với trạm tuần tra rằng:
- Các ngươi là quan nhỏ, không giải quyết nổi việc của ta.
Tuần Ty hết sức kinh sợ, ngay lập tức bảo thư ký làm đơn, giải lên huyện Giang Đô. Quan huyện lập tức đưa vào thẩm vấn. Ma nhập vào Bội Ngô buộc Bội Ngô thông thốc nói hết việc mình đã thông dâm và Quách thị đè chết chồng. Quan huyện lấy xong khẩu cung, sai lính đi bắt Quách thị tới đối chứng.
Quách thị giết chồng, định chờ tới sáng sẽ bàn với Bội Ngô, nhưng không ngờ Bội Ngô đã chạy trốn, lúc ấy cô ta mới bật lên khóc thật sự, định thu xếp quần áo, tiền của bỏ trốn. Mọi người thấy Vượng Nguyên đột tử, sinh nghi, lại thấy lính đến bắt Quách thị. Tới cửa quan Quách thị vẫn chối quanh, song bị Bội Ngô cắn cho nên đành phải cung khai. Tri huyện Phùng ghép Quách thị vào tội giết chồng, bị lăng trì.

Nếu Bội Ngô không thông dâm thì Quách thị sẽ không nẩy ra ý định giết chồng, phải khép hắn vào tội chém đầu. Không lâu sau Bội Ngô và Quách thị cùng bị giải tới pháp trường. Một kẻ bị chém đầu, một kẻ bị lăng trì. Người xem đông tới mấy ngàn người, ai ai cũng run sợ, biết rằng đây là quả báo.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5938
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Mon Mar 17, 2014 7:28 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 11
Thiên Đô Giả
Người đời phần đông là ngu muội, dễ bị những lời nhảm nhí mê hoặc. Chẳng hạn, đạo Phật thì có phép ma quỷ, đạo Lão thì có thuật luyện đan. Ngoài ra còn có "Vô vi giáo” "Bạch Liên giáo", tên tuy khác nhau, song đều lừa gạt người. Vì bị mê hoặc, nên mất hết tài sản, sinh ra trộm cắp, gian ác, thậm chí lập bè kết đảng để nổi loạn, nên về sau không có kẻ nào là không bại hoại.
 
Hai tên họ Lục, lợi dụng thần thánh đã giết người cướp đoạt tài sản, tiền của chưa kịp hưởng đã vào tù. Tất cả đều bắt đầu từ việc làm "Thiên Đô sống", những kẻ thôn quê ngu muội đã tin theo lời gạt, thật đáng thương thay.
 
Các vị thánh Tam giáo đã có công khai sáng và làm lợi cho người đời, họ đáng được tôn kính, vậy thì tại sao tú tài họ Tống, quen thói phỉ báng, mà lại chết một cách thê thảm. Đó cũng là do xưa nay anh ta xem thường Thần Phật, nên đã tự chuốc lấy mà thôi.
 
 
Vào thời Khang Hy thứ mười bốn, ở vùng Hoàng Kim Bối, Ích Môn, Dương Châu, có một người chuyên đi gánh phân bón ruộng. Một hôm đang gánh phân, anh ta gặp Lục Đại và Lục Nhị, họ nói với anh ta rằng:
- Quanh năm anh phải gánh phân, thật là vất vả khổ cực. Tôi có một cách khiến anh trở thành ông chủ có tiền vạn. Anh có muốn không?
Gã ngu ngốc quê mùa nghe thấy mừng vui khôn xiết. Chúng dẫn anh ta đến chỗ vắng, nói hết mánh khóe và bảo cứ làm như thế. Gã Ngu nghe xong gật đầu lia lịa.
Hôm sau, gã Ngu đang gánh phân bón ruộng, bỗng nhiên vứt quang gánh quay ra nhẩy nhót, quát thét như điên dại, tự xưng là thần Thiên Đô giáng thế, gào lên:
- Nếu không lập đền thờ ta, thì dân chúng vùng này, cả nam lẫn nữ đều mắc phải ôn dịch mà chết hết.
Lúc ấy bệnh dịch đang hoành hành, nhà nào cũng có người mắc bệnh, người chết rất nhiều. Mọi người tin là thật. Lục Đại, Lục Nhị đứng ngoài tán tụng ủng hộ. Chúng nói, trước hết hãy tạm thời dựng một đền thờ bằng tre, lớp cỏ để thờ phụng, gã Ngu ngồi trên bệ chính giữa, gọi là "Thiên Đô sống". Người xa gần đến cúng lễ, rượu thịt nườm nượp không sao kể xiết. Hương nến lễ vật, rượu thịt ùn ùn mang đến hiến dâng. "Thiên Đô sống" suốt ngày ngồi nghiêm trang trên bệ thờ, chẳng hề ăn uống. Người dân quê đến cầu nguyện thoát khỏi ôn dịch, đua nhau tiến cúng, người thì bạc thỏi, người bạc cây, người thì bỏ tiền mua gỗ, gạch ngói... Tất cả đều giao cho Lục Đại, Lục Nhị ghi danh sách nhập kho.
Đang lúc mọi người chen lấn nhau, bỗng thấy Tống tú tài từng nhiều năm nhạo Thần Phật xông vào đền thờ, chỉ thẳng vào mặt "Thiên Đô sống" chửi toáng lên:
- Mày là thằng ôn dịch chết dẫm, mày tự dưng xưng là "Thiên Đô sống" để lừa dối những người làng xóm, nhưng không thể lừa được ông họ Tống này. Tao phải đánh chết mày, xem mày có hành nổi tao không.
Vừa chửi tú tài họ Tống vừa bước tới bệ thần tống cho "Thiên Đô sống" hai ba quả. Lục Đại, Lục Nhị ngăn lại. Tú tài họ Tống lại gào lên:
- Xưa nay tao không tin tà đạo, tao sẽ chén lễ vật của các người cúng, xem nó có vật chết được tao không?
Thế rồi tú tài họ Tống lấy bừa rượu, thịt lễ "Thiên Đô sống" sấn ngồm ngoạm đầy mồm, vừa ăn vừa chửi. Hôm ấy người đi cúng lễ đông tới hàng ngàn, xô vào xem chật ních. Chỉ thấy tú tài họ Tống ăn xong giãy đành đạch, ngã lăn ra đất, hai tay quặt lại phía sau như bị trói, rồi gào lên:
- Ngài "Thiên Đô sống", con ngu muội, trót xúc phạm đến ngài, con đáng tội chết, con mong ngài tha cho.
Tú tài họ Tống lại tiếp tục gào lên:
- Chết đến nơi rồi! Chết đến nơi rồi! Ngài "Thiên Đô sống" vẫn không tha, đã giết chết ta rồi.
Kêu gào một lúc, máu tươi hộc ra đằng mồm đỏ lòm, mặt mũi dần tím tái lại, lát sau thì tắt thở, nằm cứng đờ dưới đất. Lục Đại, Lục Nhị kêu lên:
- Tú tài họ Tống đã chết, ông ta mắc tội báng nhạo ngài Thiên Đô, nên ngài quyết không tha, đã vật chết. Các ông, bà ai biết nhà ông ta, hãy đến báo tin để họ mang xác về. Qua một ngày một đêm, hôm sau gia đình nhà họ Tống đến rất đông, khóc than thảm thiết rồi mua quan tài chôn cất. Mọi người nhìn thấy tận mắt, ai ai cũng vô cùng kinh sợ, người tôn sùng "Thiên Đô sống" đến cúng lễ ngày càng đông.
 
Mới chỉ gần một tháng mà tiền bạc, thóc gạo, gỗ, gạch, ngói chất đầy mấy dãy nhà. Bỗng một hôm quan Thái thú của phủ là Kim Công, đích thân tới dâng hương, kéo theo rất nhiều cờ quạt, nghi trượng và lính lệ, rầm rộ đến. Người xa kẻ gần lũ lượt mỗi lúc một đông. Lục Đại, Lục Nhị mừng vui khôn xiết. Kim Công đến chỗ "Thiên Đô sống", xuống kiệu, không dâng hương cũng không lễ, hỏi:
- Ngoài “Thiên Đô sống" ra, ai là những chủ sự của miếu này? Quan huyện biết rõ rồi sẽ cúng.
Lục Đại, Lục Nhị đứng bên cạnh vội nói:
- Chính hai chúng con là chủ sự.
Hai người trả lời rất tỉ mỉ. Kim công ngồi ngay giữa chiếu lập tức ra lệnh cho lính trói ngay "Thiên Đô sống" và Lục Đại, Lục Nhị lại. Chẳng cần phải nói vì sao, ông hạ lệnh đánh ngay tại đền thờ mỗi người hai mươi gậy. Sau đó quát hỏi:
- Việc các ngươi làm, quan đã biết hết, hãy khai rõ sự thực. Các ngươi đã âm mưu đóng giả Thiên Đô thế nào? Làm thế nào để giết hại tú tài họ Tống? Hãy khai thật cụ thể, nếu không ta sẽ đánh chết.
Thiên Đô khóc lóc khai rằng:
- Con thằng Ngu, chuyên nghề gánh phân, con chẳng biết gì hết. Tất cả là do hai tên này chủ mưu xúi con. Xin ngài cứ hỏi hai tên này sẽ rõ.
Kim Công lập tức xét hỏi Lục Đại và Lục Nhị, song chúng chối quanh không chịu khai. Kim Công bảo mang ngay cùm kẹp ra kẹp. Không chịu nổi cực hình, Lục Đại phải khai thật:
- Chúng con đã lừa thằng Ngu làm Thiên Đô. Chúng con đã cam kết trước với nhau là tiền thu được sẽ chia ba. Tú tài họ Tống quen thói báng Thích báng Đạo, vào một đêm chúng con đến nhà ông ta bày mưu tính kế, xin ông ấy giả vờ đến đánh chửi "Thiên Đô sống", sau đó giả vờ ngã lăn ra kêu trói kêu đánh, làm cho mọi người kinh hãi, càng sùng kính Thiên Đô và lúc đó sẽ càng nhiều người tới tiến cúng. Chúng con đã nói rõ với anh ta rằng, tất cả tiền của thu được sẽ chia bốn, tú tài Tống mới chịu nhận.
- Vì sao tú tài Tống lại hộc ra máu? - Kim Công hỏi.
Lục Đại không chịu cung khai. Kim Công nổi giận quát:
- Hãy đánh chết nó đi. Lúc đó Lục Đại mới chịu khai rõ sự thật.
- Đó là do chúng con bỏ thuốc độc vào rượu, lừa cho ông ta uống nên mới hộc máu ra đằng mồm.
- Tú tài họ Tống đã nhập bọn với các ngươi, sao các ngươi còn giết chết anh ta?
- Chúng con sợ rằng thêm một người thì phải chia cho ông ấy một phần, nên đã hại ông ấy. - Lục Đại khai.
- Các ngươi đã dùng cách gì mà "Thiên Đô sống” không ăn uống? - Kim Công hỏi tiếp.
- Hằng đêm, cứ vào canh ba, - Lục Đại khai, - khi không còn một người nào, chúng con cho "Thiên Đô sống" ăn một bữa thật no, cho nên suốt ngày không phải ăn.
Kim Công nghe xong nổi giận lôi đình, bảo tháo kẹp ra, quát:
- Hãy đánh cho mỗi đứa hai mươi gậy, tống chúng vào ngục. Sau đó Kim Công cho tịch biên tất cả tiền của, nguyên vật liệu, hóa giá nhập kho, mua thóc gạo để cứu tế dân nghèo. Mọi người đều ngợi ca quan huyện là người sáng suốt.

Khi về huyện được ba hôm, Kim Công lại cho người đánh ba tên này, mỗi đứa mươi hai gậy. Sau đó chúng đều lần lượt chết trong tù. Cho đến nay việc ấy tuy đã qua từ lâu, song mỗi khi gặp việc gì giả dối, người ta lại nói: "Thiên Đô giả, Hoàng Kim Bối nhất định sẽ cho ngồi tù."

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5938
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Mon Mar 17, 2014 11:23 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 12
Quan Hình Sảnh Bị Chém Đầu(1)
(1) Hình sảnh: quan trông coi luật pháp.
Người đời đừng gieo mầm ác, nếu gieo mầm ác thì nhất định sẽ chuốc lấy báo oán. Đức Tông đã tu đắc đạo, song mầm ác đời trước chưa trả, bởi thế tuy pháp luật không đụng đến mà vẫn phải chịu báo oán. Trước đây, ngay Đức Sư cũng khó mà trốn thoát, huống hồ là Đức Tông. Thật đáng sợ thay. Hãy thận trọng đừng nghĩ đến điều ác mà gây mầm ác.
Anh em ruột hại nhau để chiếm đoạt tài sản, việc mà ngay đến kẻ ngu đần nhất cũng không bao giờ làm. Nay họ phải chết trong ngục là do chính họ gây ra. Điều đáng mừng là hai đứa trẻ đã có chí báo thù. Đời nay hiếm có ai như thế, nên không thể không lưu truyền, chỉ dáng tiếc là ta đã quên mất họ tên.
 
Thời Thuận Trị, Dương Châu, có một viên quan trông coi pháp luật. Hắn là người tham lam và tàn khốc, đã làm nhiều việc bạc ác. Ta chỉ kể lại dưới đây hai việc, để mọi người cùng biết.
 
Viên quan này vừa đến nhiệm sở, theo lệ cũ thì phải gặp quan Tào phủ. Quan Tào phủ thời ấy họ Ngô, rất tôn sùng đạo Phật. Nhân có đại hòa thượng Đức Tông, là vị cao tăng đắc đạo ở chùa Phúc Duyên, Dương Châu, tới thăm, Tào phủ Ngô mời viên quan này tới bàn về đạo Phật. Lúc ấy có người vào bẩm báo Thôi quan(1) họ Vũ mới nhậm chức tới yết kiến. Tào phủ truyền lệnh mời vào. Quan Hình sảnh họ Vũ vào đưa cuốn sổ, cúi đầu lạy ba lạy rồi xin cáo lui. Khi ấy, thấy một vị cao tăng cùng ngồi với quan Tào phủ, hỏi ra mới biết đây là hòa thượng "chùa Phúc Duyên".
 
(1) Thôi quan: tương đương với án sát sứ.
 
Đức Tông về chùa, được mấy hôm thấy người mang danh thiếp của quan Hình sảnh họ Vũ tới chùa, mời sư tới đàm đạo về Phật pháp. Nhận được thiếp mời, Đức Tông dặn những người hầu rằng:
- Đời trước ta đã hại đến tính mạng người này, nay gặp lại thật khó mà trốn thoát. Lần này ta đi sẽ không về, hãy chuẩn bị cho ta chiếc quan tài.
Nói xong, ngươi hầu theo nhà sư đến cửa phủ, cũng đúng lúc quan Hình sảnh họ Vũ đang ngồi tại công đường. Viên lại thưa rằng:
- Đức Tông đã tới.
Quan Hình sảnh tức khắc gọi vào. Đức Tông từ dưới thềm bước lên, đứng chờ quan hỏi. Quan Hình sảnh nổi giận quát:
- Ngươi tuy có chút ít kiến thức về thiền học, song ta là quan phụ mẫu, sao lại kiêu ngạo vô lễ, gặp ta mà không quỳ?
Hòa thượng chưa trả lời, quan Hình sảnh họ Vũ đã lệnh cho lính lệ đánh cho bốn mươi gậy rồi đuổi ra. Vừa ra khỏi cửa đã tắt thở. Những người hầu rất thán phục ông là người sáng suốt. Vội vàng khâm liệm xác hòa thượng, nhân dân trong vùng đều nói:
- Quan Hình sảnh vô cùng độc ác.
Vào tháng tư năm ấy, ở Sao Quan Môn có một người buôn muối, vốn liếng tới hơn hai vạn đồng. Ông có hai người con và hai người cháu. Nhà giàu có, nên khi ông chết, hai anh em tranh giành nhau của cải. Anh bảo em riêng tư, em lại cho anh ngấm ngầm cất giấu tiền bạc, do bất hòa nên suốt ngày họ mắng chửi lẫn nhau, họ hàng thân thích khuyên giải, nhưng họ vẫn bỏ ngoài tai. Không ai chịu ai, cuối cùng hai anh em đều làm đơn đệ lên quan Hình sảnh họ Vũ tố cáo. Quan xử kiện thấy gia tài của hai anh em họ có tới mấy vạn, lập tức sai người bắt giam. Giam tới hai tháng, họ vẫn không thấy đưa ra xét hỏi. Gặp nhau hai anh em vô cùng hối hận, họ bàn với nhau bỏ ra năm ngàn lạng nhờ người nộp cho quan. Quan Hình sảnh nói:
- Nhà nó giàu tới mấy vạn, sao bỏ ra ít thế.
Sau đó, người trong họ đã bẩm lên mấy lần song vẫn bị giam. Hai anh em chẳng còn cách nào, đành yên phận ngồi tù chờ xét xử.
Họ bị giam từ tháng tư cho tới tháng mười hai mà vẫn không được đưa ra xét hỏi. Nhân dịp cuối năm có quan Thanh quân sảnh đích thân xuống tận nhà giam thanh tra. Anh em họ khóc lóc, quỳ xuống van xin:
- Chỉ vì chúng con bỗng chốc ngu tối, kiện nhau về chuyện gia tài, ngài Vũ đã giam chúng con tám chín tháng mà không xét hỏi. Năm hết tết đến, chúng con vẫn không được về thăm mẹ già.
Kêu xong, hai người lại khóc lóc, quan Thanh quân nói với họ rằng: - Anh em ngươi đã hòa thuận với nhau, chờ ta đi gặp ngài Vũ, các ngươi rồi sẽ được tha.
Hai anh em họ cảm ơn, chờ tin tức. Quả nhiên quan không về dinh thự, tới ngay chỗ quan Hình sảnh bàn việc xin tha cho anh em họ. Được quan Hình sảnh bằng lòng, quan Thanh quân lại cho người báo để anh em họ biết tin.
Đã hai mươi chín tháng chạp họ vẫn không thấy được tha. Nào ngờ, ngay đêm ấy quan Hình sảnh sai lính coi tù viết đơn trình lên nha môn nói hai người này ốmNgười nhà vẫn không hiểu tại sao họ vẫn không được tha, lại mang rất nhiều lễ vật biếu những người coi tù. Lúc ấy họ lại được tin hai người đột ngột mắc bệnh chết. Thế là hai người vợ cùng hai đứa con và tất cả hơn trăm người trong gia đình mua hai chiếc quan tài đặt trước cửa ngục khóc than vang trời dậy đất, người xa kẻ gần đến xem đông nghịt, tắc nghẽn cả đường phố. Ai nhìn thấy cũng phải thương xót.
Hai đứa con trai trạc mười bốn, mười lăm tuổi, mặc áo xô, chít khăn xô khóc lóc thảm thiết, ngất đi sống lại. Chúng cứ gào lên:
- Bà con ơi! Đau đớn khóc lóc cũng chẳng ích gì. Chúng con phải liều mạng, ngay đêm nay tới Bắc Kinh đưa đơn tố cáo may ra mới giải được nỗi oan khuất này.
Ở đó cũng có bốn người từng bị hại nói:
- Các cháu còn bé quá, nếu có chí, chúng tôi cũng tình nguyện đi theo giúp đỡ.
Khâm liệm cha xong, không lo đến việc đưa đám, họ viết ngay bản cáo trạng kể mười hai tội của quan Hình sảnh họ Vũ đi thẳng tới kinh thành đánh trống đăng văn, dâng tấu, mong triều đình cử người Bộ Hình về xét hỏi rồi phúc đáp lên trên. Vâng theo chiếu chỉ, triều đình cách chức Vũ Toàn Tự, lệnh cho Đốc phủ giang Nam xét hỏi, rồi viết tờ tấu, trình bày cụ thể. Đốc phủ hội thẩm thấy hoàn toàn đúng sự thực, bẩm lên hoàng thượng. Theo lệnh vua, trói Hình sảnh họ Vũ điệu ra cửa bắc chém đầu, lệnh cho Hình sảnh họ Vương về nhậm chức.
Hôm ấy, nhân dân Diêm Thành đi xem tới mấy vạn người. Đường sá tắc nghẽn. Đầu tên Hình sảnh họ Vũ bị nhân dân dùng gạch, đá, búa, gậy băm vằm nát như tương.
 
Thời ấy Dự tiên có một người thợ mộc làm cùm, về sau người thợ mộc phạm pháp, người ta đã dùng chính chiếc cùm anh ta làm, cùm anh ta dong ngoài đường cho mọi người xem. Có một thư sinh làm một vế đối như sau:
Thợ mộc làm cùm cùm thợ mộc.
Một năm rồi vẫn không ai đối được, cho mãi tới hôm ấy mới tìm được vế đối sau:
Hình sảnh coi chém chém Hình sảnh.

Thật là kỳ lạ! Thế mới thấy kẻ gây tội ác thì không thể nào sống được. Anh em ruột thịt không thể hại nhau. Quan lại tham lam, tàn khốc nhất định sẽ phải nhận tội chết. Quả báo như thế, thật đáng sợ thay.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5938
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Mon Mar 17, 2014 11:38 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 13
Ngọc Lại Trở Về
Xưa nay tình dục vốn rất nguy hại, nó làm băng hoại danh dự, trí khôn và tính mạng con người. Ta hãy thử xem "Trại Tây Thi", sắc đẹp của nàng khiến cho trăng lu hoa thẹn, nếu giữ mình trong sạch, thì há chẳng được thiên hạ xa gần kính phục sao! Cô ta thấy ai trẻ đẹp là đem lòng yêu mến, giả vờ thân thiết nghĩ đến tình cá nước, hoàn toàn không nghĩ tới Viên Công. Vì sao "Trại Tây Thi" đối đãi trọng hậu đến thế? Khi đã tung tiền ra như vỏ hến, thì ai mà biết được người tình sau này sẽ bội ước. Chết vì hình phạt thảm khốc, há chẳng phải cái hại của tình dục sao? Viên Công đường đường là một vị thứ sử không chịu tu thân tề gia, chỉ quen thói bóp nặn dân để cung phụng gái đẹp, cuối cùng người ngọc đi đâu về đâu? Thanh danh nhơ nhuốc, há chẳng phải là cái hại của tình dục sao? Tức giận hơn nữa là Phủ Thần không biết tự trọng, táng tận lương tâm, đến nỗi chết một cách thê thảm. Ta cho rằng, hắn ta quá thừa tội chết, chứ chẳng phải nói đến tình dục làm hại. Thế mà đời nay người ta vẫn tiếp tục lao vào con đường tình dục mà không hề tỉnh ngộ. Thật đáng buồn thay.
 
Phủ Thần là người biết suy nghĩ và có kiến thức, song ta tức giận vì hắn đã đánh mất tiết tháo, về sau lại bội ước. Tức giận hơn nữa là làm cho "Trại Tây Thi" phải chết một cách thảm hại. Đọc tới đó mà rơi nước mắt, quả thật ngay cả chó lợn cũng không làm thế. Sự bạc tình phụ nghĩa độc ác ấy còn hơn cả Vương Khôi, không hẳn bị báo oán mà về sau còn bị đánh chết bằng gậy. Há chẳng khoái sao?
 
Trong số những người lục lâm luôn có những người trọng nghĩa khinh tài. Phủ Thần táng tận lương tâm, nếu không có sự báo oán liên quan này, thì "Trại Tây Thi" chết một cách oan uổng, chứ sao được minh oan? Đọc tới đây ta cảm thấy vô cùng khoái chí. Viên Công dùng vàng cứu tên cướp thoát chết, ấy cũng là lấy nghĩa báo nghĩa.
Những người nghèo không dám làm điều ô uế, sợ người xung quanh biết được. Song những nhà giàu có, mặc sức hoang dâm, không hề kiêng kỵ, người xưa cho rằng, những nhà giàu có thường đa dâm, quả là rất đúng thay. Nhưng nhiều người cũng bị quả báo vì dâm đãng.
Những nhà giàu có cần hiểu rằng, vợ bao giờ cũng ghen tuông, đừng miễn cưỡng cưới thiếp để làm hại vợ con mình, hủy hoại đạo đức, tự chuốc lấy ô nhục. Hãy xem gương Viên Công để tự răn mình.
 
Bên cầu Thái Bình, Phủ Đông, có một chàng trai tên là Đường Phủ Thần. Anh ta hai mươi tuổi, đẹp như một viên ngọc, môi đỏ hơn cả mỹ nữ. Nhân dịp năm mới anh ta đến phủ Hoài mừng tuổi người thân. Đúng dịp ấy phủ Hoài đón xuân, anh ta dừng lại đứng ở đường phố Đông Môn xem mọi người đánh trống múa sư tử lũ lượt đi qua.
Đang xem, bỗng thấy một đứa đầy tớ gái còn ít tuổi, đứng sát vào anh ta ghé tai nói nhỏ:
- Bà chủ nhà tôi rất ngưỡng mộ ông, tối nay đến đợi ở đây tôi có câu chuyện muốn nói với ông. Rồi đưa cho anh ta một tặng vật, gói trong chiếc khăn tay. Phủ thần mở ra xem, thì đó là chiếc quạt và chiếc như ý đều bằng vàng. Phủ Thần vừa kinh ngạc vừa vui mừng, rối rít nhận lời.
Đến tối, anh ta tới chỗ hẹn, đã thấy đứa hầu gái chờ ở đó. Đứa hầu gái dẫn Phủ thần đi ngoắt ngoéo một lúc thì tới một ngôi nhà rất sang trọng. Một người đàn bà đẹp, ăn mặc lộng lẫy tươi cười bước ra đón anh ta.
Người đàn bà ấy không phải ai xa lạ, đó chính là "Trại Tây Thi". Nàng là người cực kỳ diễm lệ, chỉ hiềm một nỗi, khi còn nhỏ, do được cưng chiều, không bó chân, nên đôi chân rất to, nàng là thiếp của Viên Công. Viên Công người tham lam, khi được nhậm chức ông ta đã bỏ ra rất nhiều vàng bạc cưới người đàn bà này, cốt mua được tiếng cười của cô, ông ta đã dùng quá nửa số tài sản chiếm đoạt được để cung phụng "Trại Tây Thi". Biết chuyện, người vợ cả ghen tuông ầm ĩ, khiến Viên Công không lúc nào yên, bèn xin chuyển đến Dương Châu, cách phủ Hoài một ngàn dặm. Khi đến nhậm chức ở Dương Châu, người vợ cả không cho Viên Công mang thiếp theo. Ông ta nói với "Trại Tây Thi", khi nào đến nhiệm sở sẽ cử người về đón, chỉ để lại người hầu già và ông chú già ở lại thôi.
Hôm đón xuân "Trại Tây Thi" nhìn thấy Phủ Thần, như cá gặp nước, như rồng gặp mây, bởi thế sai người hẹn đến gặp nhau. Sau đó họ giả vờ là chị em, lén lút đi lại, không sao dứt ra được.
Khoảng hơn hai tháng, người đàn bà ấy bàn với Phủ Thần rằng:
- Thiếp có nhiều tiền của, nếu một lòng một dạ cùng thiếp thì thiếp sẽ dốc hết tài sản để dâng hiến cho chàng, chàng phải ở đây lập nghiệp. Có thể mua ruộng vườn, nhà cửa kiếm lời, hoặc cứ thế mà sống, để mãi mãi bên thiếp.
Phủ Thần nghe ngay, song lại nghĩ: "Người đàn bà này tuy đẹp thật nhưng rất đa dâm, nếu có người khác hơn mình thì lời hẹn ước sẽ nhạt phai, ấy là điều lo thứ nhất; người đàn bà này chân quá to, đã hơn ba mươi tuổi, ta không xứng đôi vừa lứa, đó là nỗi lo thứ hai; chồng người đàn bà này đang làm quan, nếu trở về, biết được chuyện vụng thầm thì tính mạng khó mà giữ nổi, đó là nỗi lo thứ ba. Thôi thì ta dùng những lời đường mật lừa người ấy thật nhiều vàng bạc, rồi tìm cách tới Dương Châu lập nghiệp, cưới cô gái trẻ khác, há chẳng tốt lắm sao?". Ý đã định, bề ngoài anh ta nói là về Dương Châu lo liệu việc gia đình, trong vòng non tháng sẽ trở lại phủ Hoài lập nghiệp. Người đàn bà rất vui mừng, dốc hết túi đưa cho Phủ thần khoảng hơn bốn trăm lạng vàng. Rồi lại giao cho Phủ Thần đôi rồng bằng bạch ngọc, vật hiếm có trên đời, do tổ tiên để lại làm vật tin gắn bó họ với nhau. Rồi khóc sướt mướt dặn rằng:
- Nhìn viên ngọc này, như được nhìn thấy nhau. Chúng ta mãi mãi không bao giờ quên nhau.
Hai người lau nước mắt chia tay. Phủ Thần lừa được nhiều vàng, ngay đêm đó trở về Dương Châu. Thời ấy, chức thư lại ở Vũ Hình sảnh sao có thể kiếm được rất nhiều tiền của. Phủ Thần dùng một trăm lạng vàng xin vào làm chức thư lại, rồi lại dùng một trăm lạng vàng cưới người con gái xinh đẹp, mới mười bảy tuổi làm vợ. Họ sống với nhau rất hòa hợp. Phủ Thần hoàn toàn không nghĩ tới những chuyện ân ái với "Trại Tây Thi" nữa. Ngày ngày phục dịch tại sảnh đường, Phủ Thần rất đắc ý. Thấy Phủ Thần trẻ đẹp, quan Vũ Hình sảnh rất mê, và nghiễm nhiên Phủ Thần trở thành người tình cùng giới với ông ta.
 
"Trại Tây Thi" trông chờ tới nửa năm, Phủ Thần vẫn bặt vô âm tín, bèn gửi thư tới Dương Châu. Người đưa thư tới nhà Phủ thần, nhưng Phủ thần chối đây đẩy không quen biết, gửi thư trả lại. "Trại Tây Thi" đau buồn rồi sinh bệnh.
Hai tháng sau, không còn cách nào, "Trại Tây Thi" vốn có đôi chân to nên đi giày rất hợp, lại dùng mũ áo của Viên Công giả làm đàn ông. "Trại Tây Thi” dẫn theo một thằng nhỏ, lên thuyền tới nhà Phủ thần ở Nhai Đường, Thái Bình, Dương Châu. Phủ Thần thấy người đàn bà ốm đau, mặt bằng da vàng, không còn đẹp như xưa càng chán ngán, lắc đầu từ chối không quen biết. Người đàn bà làm ầm ĩ, song Phủ Thần nói với mọi người rằng:
- Người đàn bà này là một gái làng chơi có tiếng, quen thói vu vạ cho người. Từ phủ Hoài tới đây, thấy ta là người thành thực bèn đặt điều vu cáo. Về tình và lý thì khó mà chấp nhận được!
Người đàn bà ấy chỉ vào mặt Phủ Thần chửi bới thậm tệ:
- Đồ vong ân bội nghĩa, quỷ thần sẽ không tha. Rồi "Trại Tây Thi" vẫn mặc trang phục nam giới đến dinh quan Hình sảnh, định tố cáo nỗi khổ bị phụ tình bạc nghĩa. Phủ Thần biết được, vu cho người đàn bà này vô cớ vu cáo bừa cho mình, rồi bẩm lên quan Hình sảnh. Lúc ấy quan Hình sảnh đang làm việc tại công đường, cho Phủ Thần nói thế là đúng sự thực, rồi bắt ngay người đàn bà cải trang thành nam giới ấy. Chẳng cần hỏi han, lệnh đánh ba mươi gậy. Vừa khỏi bệnh, vừa uất ức chẹn ngang cổ, lại bị hình phạt nặng, vừa khiêng ra khỏi cửa thì "Trại Tây Thi" tắt thở. Hôm ấy có tới mấy trăm người đến xem xét xử. Quan Hình sảnh lệnh cho lính lệ mua ngay chiếu, bó lại đem chôn ở ngoại thành. Phủ Thần thấy người đàn bà ấy chết rất mừng.
 
Nửa năm sau, ở đạo Hoài Dương gửi một bản án về bọn cướp của giết người. Trong đó có một đồng đảng là Đường Phủ Thần, hiện đang làm thư lại tại Hình sảnh, phải lập tức bắt giải lên đạo để xét hỏi. Vốn là có một tên cướp ở phủ Hoài, trong lúc qua phủ Dương đã tới xem xử án tại Hình sảnh. Thấy "Trại Tây Thi" bị đánh chết, biết "Trại Tây Thi" hoàn toàn chết oan, hắn nghiến răng căm giận. Về sau vì phạm tội, hắn bị sử tại đạo Hoài. Hắn khai Phủ Thần đã oa trữ viên ngọc, tang vật hắn đã lấy cắp. Vì thế Phủ Thần bị bắt.
Quan Vũ Hình sảnh không thể vì tình riêng mà che chở, ngay hôm ấy đành giải Phủ Thần lên đạo. Đồng thời viết tờ trình bẩm với quan, kêu oan cho Phủ ThầnHai hôm sau, quan đạo hỏi Phủ Thần rằng:
- Có thể bọn trộm đã vu hại, nhưng nội trong ba ngày phải dâng viên ngọc chạm rồng đó lên quan đạo khám nghiệm, nếu không đúng sẽ tha.
Phủ Thần buộc phải cung khai. Sau đó tạm tha, chờ lấy ngọc về xử tiếp.
Ngay đêm ấy, Phủ Thần về Dương Châu, đưa viên ngọc trình lên quan đạo. Thấy viên ngọc quan đạo đùng đùng nổi giận quát:
- Đây đúng là tang vật thế mà ngươi còn dám chối quanh!
Quan quát lính đánh ba mươi gậy, giam vào ngục định tội sau. Vừa khiêng ra khỏi cửa quan, Phủ Thần tắt thở. Quan đạo bảo tay chân bó chiếu, chôn ở ngoại thành theo đúng như cái chết của "Trại Tây Thi". Quan đạo lại ra lệnh cho huyện Giang Đô tịch thu toàn bộ gia sản, cộng tất cả là bốn trăm lạng vàng dùng số vàng đó cứu tế người nghèo.

Lúc ấy Viên Công vì tham ô cũng bị cách chức. Về quê, Viên Công mới biết người thiếp của mình giả nam giới, rồi bị đánh chết, tên kẻ trộm đã khai ra sự thực. Viên Công vô cùng xấu hổ, đã dùng lễ hậu nói với quan đạo, chuyển tội chết của tên trộm sang tội lưu đày để đền ơn. Quan đạo biết rất rõ Viên Công nhận luôn tiền đút lót, và trả lại viên ngọc, một kỷ vật của người thiếp ông ta. Thương thay Phủ Thần xinh đẹp nhưng lòng dạ xấu xa, đã chết một cách thê thảm, gia tài khánh kiệt, vợ đi lấy người khác. Sự báo ứng đáng sợ thay.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5938
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Tue Mar 18, 2014 12:16 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 14
Tham Ô Bất Chấp Pháp Luật
Nếu quan tham ô, tất sẽ phá hoại luật pháp, theo tình riêng mà dung túng kẻ ác, giết người lương thiện, dùng tiền của dân tiêu xài, để lại cho con cháu. Ta cho rằng trời sẽ chẳng dung tha, cuối cùng, lợi chưa được hưởng mà hại đã theo sau. Hãy coi việc mình bóp nặn dân chúng là vết xe đổ đang ở ngay trước mắt.
Cấp trên nhận quà tặng của cấp dưới, cho rằng mình chẳng có gì đáng ngại. Họ hoàn toàn biết rằng, quan cấp dưới ai dám dốc tiền túi cho mình, chẳng qua họ bóp nặn dân mà dâng hiến. Chính việc đó, họ ngầm bảo cấp dưới tham ô, làm hại dân. Vậy thì họ làm sao hy vọng cấp dưới liêm khiết? Hãy trông gương Viện X. lấy quỹ của huyện, đấy chính là vết xe đổ ngay trước mắt.
Quan tham ô chưa kịp hưởng đã bị tai họa. Bọn cướp của chưa kịp hưởng đã bị chém đầu. Tầng tầng lớp lớp chịu quả báo, nhìn thấy mà kinh sợ.
Việc này không nói đến tên tuổi của viên quan tham ô, vì ông ta là người thân trong họ, ta cũng không muốn đem sự xấu xa của ông ta ra. Xin các bạn đừng nghi ngờ đây là câu chuyện bịa đặt.
Vào thời Thuận Trị, ở Giang Đô có một vị quan huyện, sáu mươi tuổi, song ông ta chỉ khai mới năm mươi mốt tuổi. Râu đã bạc trắng nhưng ông ta dùng thuốc nhuộm cho đen lại. Viên quan huyện này không cần danh vọng, cũng chẳng muốn thăng quan, ông ta làm quan là chỉ mong sao kiếm được nhiều tiền của, sau này dưỡng già và để lại cho con cháu. Bởi thế mọi việc, dù lớn hay nhỏ, không cần xét đến đúng sai, nếu tiền đến tay thì sai cũng thành đúng, không đút tiền thì đúng cũng thành sai. Tay thước và cùm kẹp là dụng cụ kiếm tiền, thượng vàng, hạ cám ông ta đều vơ vét sạch. Nhân dân cả huyện ai nấy đều căm giận viên quan tham lam, tàn ác, chỉ có điều không lột được da ông ta mà thôi. Người trong huyện gọi ông ta là 'Lão Lột Da". Gặp nhau họ hỏi: "Lão Lột Da có đánh không?”. "Lão Lột Da đã về huyện đường chưa?" Chưa đầy nửa năm, số bạc phi pháp mà hắn tích cóp được lên tới bảy tám ngàn lạng, và cũng không biết bao nhiêu người đã bị xử oan, tiếng kêu ai oán vang trời dậy đất.
Một hôm cấp trên gửi về một bức công văn, đó là một tờ trát mật của Phủ Viện gửi cho quan huyện. Ông ta vội mở ra xem, trong đó có viết:
"Bản viện thấy ông, vì nhậm chức quan huyện mới được nửa năm, khắp nơi ta thán, dân chúng oán hận. Lại nghe nói bọn tay chân bắt người vô tội, quyền hành rơi vào tay sai nha, nên nhiều việc bê trễ, công khai đòi hối lộ, phép quan bại hoại. Độc ác như thế khiến dân sống trong tình cảnh dầu sôi lửa bỏng: Lẽ ra phải bắt tức thời, song ta khoan thứ, từ nay phải làm lại từ đầu, nhanh chóng gột rửa tội lỗi. Nếu vẫn còn u mê như cũ, tuổi già muốn trở về quê liệu có được không? Đừng bảo bản viện không nói trước? Hãy thận trọng đừng xem thường".
Xem xong quan huyện vô cùng kinh sợ, không còn cách nào bèn gọi đứa con cả lên bàn:
- Quan trên nghiêm khắc, ta phải thu gom tiền bạc, nhân tháng tư này là dịp tấu trình, ta sẽ đích thân tới Tô Châu đút lót cho Viện đài, xin ông ta che chở. Nếu ông nhận lễ vật thì yên tâm, còn không, e rằng chức quan huyện khó mà giữ được.
Ý đã quyết ông ta thu xếp mang đi hơn hai ngàn lạng bạc. Tới phủ ông ta nộp giấy xin được gặp Phủ Viện. Song đợi đến ba ngày vẫn không được lệnh cho vào. Lão Lột Da rất lo sợ lại chuẩn bị thêm lễ vật. Nhờ người chức trách ở làng nọ thuộc huyện Ngô dâng lên Phủ Viện một ngàn lạng bạc, sau lại tăng lên tới ba ngàn lạng. Bạc mang theo không đủ, ông ta lại vay thêm ở Tô Châu với lãi suất cao, đủ số tiền dâng lên. Phủ Viện mới chịu nhận, sau đó mới lệnh cho vào gặp. Phủ Viện dặn:
- Về huyện, phải cố gắng sửa chửa lỗi lầm. Ngươi phải biết ơn, con mắt ta rất sáng suốt.
Lão Lột Da vô cùng sung sướng, vâng dạ rồi xin cáo từ, yên tâm trở về nhà trọ. Đang lúc tới nhà một người chức trách ở làng nọ tạ ơn, bỗng thấy hai người nhà từ Dương Châu đi suốt đêm tới báo tin khẩn cấp.
- Nguy to, nguy to rồi! Sau khi ngài tới Tô Châu, thì vào nửa đêm hôm sau, bỗng thấy người ta khiêng tới một cỗ kiệu lớn theo sau là sáu người đàn ông lục lưỡng, mặc áo the Quảng, đai mũ chỉnh tề, tự xưng là ngài X ở Bộ X từ Bắc Kinh về hội kiến. Lúc đó người nhà bảo: "Ngài đi Tô Châu công cán". Họ vội vàng nói: "Đây là việc khẩn. Tri huyện đi công cán thì xin mời công tử ra hội kiến”. Nghe thấy thế, công tử ra đón tiếp tại sảnh đường. Một người từ trong kiệu bước ra, giữ chặt lấy công tử. Sáu người đàn ông lực lượng kia, cùng với phu khiêng kiệu tất cả là mười người, rút dao sáng loáng kề vào cổ công tử nói: "Chúng tao là hảo hán, từ lâu biết cha ngươi đã tham ô rất nhiều tiền bạc, hãy mau đem tiền bạc ra đây, chúng tao sẽ tha chết, chậm một phút sẽ toi mạng". Công tử sợ quá, hồn xiêu phách lạc, run cầm cập nói: "Chỉ có hơn sáu ngàn lạng bạc chính hạng, hiện đang để tại chỗ X, trong dinh thự". Bọn đàn ông lực lượng kia cứ giữ chặt công tử nói: "Dù bạc nhà nước hay bạc tư nhân cũng phải mang ra ngay". Công tử muốn sống, đành phải sai người nhà mang ra. Tất cả số bạc đều bỏ lên kiệu, bốn người vẫn khiêng như cũ. Sáu người lực lưỡng theo sau, cùng với người ngồi trên kiệu lôi công tử tới huyện đường, lấy một tờ lệnh nói là có việc khẩn cấp phải mở cửa thành, ép công tử lên thuyền, được hai dặm mới thả ra. Bây giờ chỉ mong ngài về gấp bàn cách đi bắt.
Lão Lột Da nghe xong giãy đành đạch, máu tươi ộc ta đằng mồm, nằm ngất xỉu. Người nhà vội đi mời thầy thuốc cứu chữa, song vẫn bất tỉnh nhân sự. Thuốc thang không uống được, chưa đầy nửa tháng thì chết tại quán trọ. Người nhà trình báo lên huyện Ngô, xin Phủ Viện cho chôn. Người nhà không mang nhiều tiền, trời lại nóng nực, vội vàng mua chiếc quan tài mỏng, khâm liệm ngay tại quán trọ. Bọn sai dịch nghe thấy quan chết, đang đêm chúng tản mát bỏ về huyện.
Quan phủ thấy vậy, ngay đêm ấy truyền lệnh cho sai dịch, lính lệ, nhanh chóng tới huyện đường. Trước hết bắt công tử tống ngục, rồi sai người đến lục soát, kiểm kê đồ vật, ghi hết vào sổ rồi lại cho người kiểm tra kho tàng thì thấy hơn tám ngàn lạng bạc và hơn hai ngàn thạch thóc đã hết nhẵn. Quan phủ hoảng hốt, báo cáo tỉ mỉ lên cấp trên để xem xét truy cứu. Cấp trên sức giấy xuống, bắt công tử và gia thuộc phải bồi thường đầy đủ. Song đã mất hết chẳng còn gì để nộp. Người oán hận rất đông, bẩm lên quan huyện mới. Quan lập tức ra lệnh đánh rất đau, rồi lại giam vào ngục nửa năm trời. Công tử không sao gỡ nổi, nghĩ rằng Phủ Viện từng lấy không mấy ngàn lạng, rồi bảo người tới Tô Châu cầu cứu. Người nhà trở về báo: "Phủ Viện mắc tội tham ô, quan đạo đã bắt giải về Bắc Kinh trị tội". Công tử lo sợ khóc lóc thảm thương.
Quan huyện truy hoàn không được, vì là người Thiệu Hưng nên đã giải công tử về quê quán, để quan huyện Thiệu Hưng tiếp tục truy hoàn.

Trên đường qua huyện Đan Đồ, đúng vào lúc mùa đông hành quyết tử tù, công tử chen vào xem, kẻ bị chém đầu đều là những tên đã vào huyện cướp trước đây. Vốn là bọn cướp này bị Bổ dịch bắt được, xét hỏi thấy đúng sự thực, khép vào tội chém đầu, giam vào ngục chờ xử trảm. Số bạc đã sung vào kho lương. Sợ liên lụy, công tử không dám nhận, về tới quê lại bị tống ngục truy cứu. Gặp những cụ già ở Giang Đông, công tử vô cùng xấu hổ, lo lắng quá rồi chết trong ngục. Nhìn thấy bọn tham quan và con cái họ chết thê thảm như vậy, quả là một bài học cho mỗi chúng ta.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5938
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   Tue Mar 18, 2014 12:46 pm

nhiều tác giả
Đoán Án Kỳ Quan
Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn)
Chương 15
Khứ Hòa Thượng Ban Đêm Lẻn Qua Cửa Giết Vợ Người 

Lai Ngự Sử Phán Xét Kẻ Đuổi Mình Rơi Xuống Giếng
Huyết lệ cạn khô.
Bỗng dung thỏ làm chim trĩ sa vào lưới.
Lòng Phật tính sao đây.
Nhân quả rõ ràng.
Có Di Đà chứng giám.
Biến thành Đức Như Lai về Đông Thổ.
Khiến cho bể khổ trở lại trong xanh.
 
Từ xưa tới nay, đi tu cũng như đi học, nếu đi tu mà phạm phải những điều: giận dữ, ngu muội, tham lam, dâm dục, giết người, cướp của... đều không xứng đáng là đệ tử của đấng Như Lai. Còn như kẻ đọc sách mà quên mất hiếu đễ, trung tín, lễ nghĩa, liêm sỉ cũng không thể coi là đệ tử cửa Khổng sân Trình. Chỉ trách những kẻ quá yêu quý sư, dù sư tốt hay xấu, cứ gặp là vái lạy. Nếu có ai đó nói, sư không tốt thì họ chẳng bao giờ tin cả. Họ hoàn toàn không biết rằng chửi sư là chửi họ không biết theo lời răn dạy của Đức Phật. Chửi sư không phải là nhạo báng Tăng, Phật, Pháp, mà chính là yêu tăng phụng sự Pháp. Dưới đây ta sẽ kể về mấy hòa thượng mang danh xuất gia, song chính họ là đạo tặc, hai người thường dân phát tâm quy Phật, lại là hòa thượng chân chính và hai người không cắt tóc, không mặc áo cà sa mà có tấm lòng ngay thẳng, trừ hung diệt bạo. Họ là viên quan hiểu được lời răn dạy của Khổng Tử, là vị Bồ Tát theo lời răn dạy của Đức Phật. Xin các bạn hãy lắng nghe câu chuyện nhân quả sau đây.
 
Năm Chính Hòa thời Tống Huy Tông, ở huyện Đồng Hương, Chiết Giang, có một thư sinh tên là Lai Pháp, tự là Bản Như. Lai Pháp trạc hai mươi tuổi, chưa vợ, cha mẹ đều qua đời. Thời trẻ Lai Pháp là người rất ham học, nhà tuy nghèo nhưng đầy nhiệt huyết. Quả là người làu thông kinh sử, lược thao, phong thái lịch thiệp, tính tình ngay thẳng khoáng đạt. Lai Pháp tài năng nhưng lại không gặp may, hơn hai mươi tuổi, Lai Pháp vẫn chưa đỗ tú tài, ở nhà nhận dạy học cho một nhà giàu ở ngoại thành. Người chủ tên là Thủy Giám, có người con gái, con vợ cả tên là Quan Cô mười bốn tuổi. Vợ cả chết, ông lấy người thiếp là Phong Nguyệt Di, được đứa con trai lên sáu tuổi. Lai Sinh dạy học cho đứa bé này. Từ ngày Lai Sinh tới, Nguyệt Di thấy Lai Sinh là một thanh niên đẹp trai, đem lòng yêu mến, thường đến bên cửa sổ nhìn vào nhà học. Lai Sinh nhìn thấy nhưng vẫn ngồi nghiêm trang đọc sách, không hề nhìn ngang liếc dọc. Nguyệt Di đến bên cửa sổ hái hoa, Lai Sinh lại vội đứng dậy ngồi quay vào. Thấy Lai Sinh tỏ thái độ như thế, Nguyệt Di cố ý sai đứa ở, hoặc vú em vào dâng trà mời nước, bắt chuyện, làm cho Lai Sinh thẹn đỏ mặt không dám nói chuyện.
Có thơ rằng:
Nhà vắng một mình ngồi ngâm ngơi.
Song cửa nhòm qua thiếu nữ cười.
Muốn gửi tình riêng vào tiếng nói.
Mười năm chàng vẫn giữ trắng trong.
 
Từ đó người nhà họ Thủy thường nói với nhau rằng, đã mời được người thầy chẳng khác gì trinh nữ. Thủy Viên Ngoại rất quý mến Lai Sinh, vì anh là người có trí mà thành thực, định gã con gái cho anh. Lai Sinh từ chối: - Tôi đi học nhưng vẫn chưa tiến được là bao. Đợi khi nào . công thành danh toại, lúc đó nói đến việc xây dựng gia đình cũng chưa muộn.
Từ đó việc hôn nhân đành gác lại. Một hôm Lai Sinh cho học trò nghỉ, vào thành thăm bạn bè. Khi trở về thì trời đã muộn, anh đi theo đường tắt cho gần. Đi được hai ba dặm, qua một ngôi miếu cổ, bỗng nghe thấy bên trong có tiếng đàn bà khóc. Lai Sinh nghi ngờ có sự chẳng lành liền đẩy cửa bước vào. Thấy hai hòa thượng to béo bắt một thiếu nữ lột trần truồng đè xuống đất. Lai Sinh giật mình hoảng sợ, chưa kịp nói gì thì một gã hòa thượng xông tới, cầm thiền trượng quát:
- Tự dưng dẫn xác tới đây, ta sẽ cho ngươi ăn đòn. Lai Sinh thấy tình thế không địch nổi, vội vã quay ngoắt ra, song vướng bậu cửa suýt ngã, tụt mất chiếc giày đỏ ngay trước miếu. Ngoái lại, thấy lão hòa thượng đang đuổi sát nút, Lai Sinh chạy bán sống bán chết, ai ngờ đằng trước có một chiếc giếng cạn không có bờ bao, Lai Sinh hụt chân, lao người xuống. Hòa thượng đuổi tới, nhìn xuống thấy tối om, thọc thiền trượng khua, giếng sâu hun hút không thấy đáy. Hòa thượng nghĩ, chắc người ấy không thể nào lên được, quanh quẩn một lúc rồi lững thững kéo lê thiền trượng về miếu. Tới nơi, hắn thấy người đàn bà đã bị giết, nằm vật trong miếu, còn gã hòa thượng đồng bọn không biết đã bỏ chạy đi đâu. Đứng lặng giây lát, gã hòa thượng cũng trốn luôn.
Đúng là:
Hành dâm, giết người cùng một lúc.
Hỡi ôi! Đầu trọc ác độc thay.
Bồ Tát thấy rồi lim dim mắt.
Kim Cương giận dữ mắt trợn trừng.
Người đàn bà ấy là Chu thị, vợ Ngưỡng A Nhuận bán rượu trong thành. Vợ chồng lục đục xô xát, chị tức giận bỏ về nhà mẹ đẻ. Nhà mẹ ở dưới quê, nên khi chạy qua ngôi miếu cổ, gặp hai tên hòa thượng. Thấy đi một mình, chúng tóm cổ lôi vào trong miếu cưỡng dâm. Lai Sinh bắt gặp, một gã truy đuổi Lai Sinh, còn tên kia ở lại miếu. Vì người đàn bà ấy kêu gào, sợ lại có người phát hiện, tên này dùng dao tùy thân đâm chết. Hắn không chờ đồng bọn, bỏ chạy thoát thân.
Thấy Chu thị bỏ đi, mấy người hàng xóm đến khuyên Ngưỡng A Nhuận rằng:
- Gần tối rồi, chị ấy còn ra khỏi thành, sợ rằng không đến kịp nhà mẹ đẻ, hơn nữa là đàn bà con gái, sao lại để chị ấy đi một mình. Anh hãy cùng chúng tôi đuổi theo khuyên chị ấy quay về.
Ngưỡng A Nhuận chưa nguôi giận, không chịu đi, song họ cứ lôi anh đuổi theo. Đi vòng qua ngôi miếu cổ, bỗng thấy một chiếc giày đỏ, mọi người nhặt lên xem, nói:
- Tại sao giày lại rơi ở đây nhỉ? Nhất định trong miếu có người.
Vào miếu, mọi người sợ dựng tóc gáy. Một người đàn bà trần truồng, mình đầy máu chết vật ở đó. Nhìn kĩ, hóa ra Chu thị vợ Ngưỡng A Nhuận. Trên cổ cô có vết dao đâm. Mọi người vô cùng kinh sợ. Ngưỡng A Nhuận chết lặng. Họ đoán rằng: “Đích thị kẻ giết người đã đánh rơi chiếc giày, chắc hắn chưa đi xa được, phải chia nhau đi các ngã đuổi gấp. Nếu thấy kẻ nào chỉ có một chiếc giày. Họ hò nhau chạy túa đi mọi ngả. Chưa đầy nửa dặm, bỗng láng máng tiếng rên rỉ kêu cứu quanh quẩn đâu đây. Mọi người dò theo thì thấy tiếng kêu vọng ra từ một chiếc giếng cạn trên bãi cỏ. Thấy lạ, họ bèn tháo dây lưng, xà cạp cuốn chân nối vào, giòng xuống giếng. Thấy người đến cứu, Lai Sinh vội bám chặt lấy đầu dây. Họ hò nhau kéo lên, quả nhiên thấy người ấy chỉ đi một chiếc giày đỏ. Mọi người lấy chiếc giày ra đối chiếu thì đúng là cùng một đôi. Tất cả đều nói:
- Lưới trời lồng lộng, thưa mà không thoát được, trời đã bắt mày phải rơi xuống giếng này.
- Tôi có giết ai đâu? - Lai Sinh kinh sợ nói.
- Mày còn chối quanh ư? - Mọi người đều nói.
Họ lôi Lai Sinh đến miếu, chỉ vào người đàn bà chết, nói:
- Đây không phải là người mày giết ư?
Lai Sinh kêu oan, nói lại việc anh đã gặp hòa thượng, rồi bị đuổi rơi xuống giếng thế nào, nhưng họ nào có tin anh.
Đúng là:
Dưới giếng lôi lên.
Chứng cớ rành rành.
Dù có thanh minh,
Chẳng ai tin được.
 
Một mặt họ cho người gọi lý trưởng tới, giao trông coi thi thể mặt khác họ giải Lai Sinh lên huyện. Quan huyện thấy đây là trọng án, bèn sai Tuần bổ tới khám nghiệm tử thi. Ngày hôm sau quan huyện mở phiên tòa, cho dẫn phạm nhân vào xét hỏi. Quan huyện là Hồ Hồn, vốn là học trò của Thái Kính, rất tôn sùng Phật, thích ăn chay và bố thí. Trước tiên ông ta hỏi Ngưỡng A Nhuận và những người hàng xóm, rồi quát thét mắng Lai Sinh:
- Sao ngươi lại làm việc độc ác và xấu xa như thế?
Lai Sinh trình bày lại những điều mà chính anh đã nhìn thấy. Tri huyện nói:
- Ngươi đã nhìn thấy hòa thượng thì phải biết hòa thượng là người ở chùa nào chứ?
- Họ ở xa đến thì sao tôi biết được? - Lai Sinh nói.
- Các người đuổi theo, trên đường có gặp hai hòa thượng nào không? - Quan huyện hỏi mọi người.
Họ đều nói không gặp. Quan huyện lại chỉ vào mặt Lai Sinh mắng:
- Ta biết mày là loại người xấu xa, giữa đồng không mông quạnh gặp đàn bà nẩy sinh ý nghĩ bất lương, lôi vào miếu hành dâm. Vì người ấy chống cự nên mày đã giết đi. Lại sợ người khác biết nên hốt hoảng bỏ chạy, bởi thế mất giày, người thì rơi xuống giếng. Bây giờ lại còn xảo trá quanh co đổ tội cho người khác.
Lai Sinh gào lên kêu oan. Tri huyện nói:
- Thằng này cứng đầu cứng cổ, không đánh thì sao nó chịu cung khai.
Sau đó ông ta cho gọi tay chân đưa Lai Sinh tra tấn. Không chịu nổi Lai Sinh phải khai theo lời quan huyện. Quan huyện lập bản án, khép Lai Sinh vào tội chết, rồi tống giam. Một mặt ông cho khâm liệm, chôn cất thi thể người phụ nữ, cho Ngưỡng A Nhuận và những người láng giềng về.
Tin ấy đồn khắp nơi, Thủy Viên Ngoại nghe tin, nghĩ rằng: "Thầy Lai là người có chí mà thành thực, lẽ nào đi làm chuyện xấu xa ấy? Thật là oan cho thầy". Rồi Thủy Viên Ngoại đích thân đến trại giam thăm hỏi. Lai Sinh khóc lóc kêu oan, Thủy Viên Ngoại phải an ủi mãi. Là người nghèo khó, nên Lai Sinh coi lớp học là nhà, tuy cũng có mấy người họ hàng, xong họ đối xử rất lạnh nhạt. Lai Sinh mắc tội, họ đều cho là tự mình làm mình chịu, chẳng người nào đến thăm. Chỉ có Thủy Viên Ngoại tin Lai Sinh là người tốt, luôn sai người mang cơm và bỏ tiền ra đút lót kêu oan cho anh. Bởi thế, ở trong ngục Lai Sinh cũng không đến nỗi quá khổ.
Đúng là:
Trọng Ni biết người,
Hiểu được Công Dã.
Tuy đang bị trói,
Chẳng phải phạm nhân.
 
Thời gian thấm thoát thoi đưa, chỉ thoáng một cái Lai Sinh ngồi tù đã ba năm. Quan tri huyện họ Hồ mãn hạn chuyển đi nơi khác, quan tri huyện mới chưa tới nhận chức. Khi ấy Phương Lạp đang nổi loạn ở Giang Nam, triều đình lệnh cho Trương Thúc Dạ làm Đại chiêu thảo, dẫn quân của Lương Sơn Bạc vừa đầu hàng, tiến đánh Phương Lạp. Phương Lạp bỏ Giang Nam, mang tàn quân chạy đến Triết Giang, đi qua huyện Đồng Hương. Vì tri huyện chưa có, lợi dụng lúc thiếu người cai trị, quan lại và những người coi tù đều bỏ chạy, cửa nhà tù mở toang. Những tội phạm lợi dụng sự hỗn loạn, thừa cơ chạy trốn, nhà tù trống rỗng. Mọi người bỏ trốn, nhưng Lai Sinh vẫn ngồi lì trong ngục không chạy. Sợ quan quân truy kích, binh mã của Phương Lạp không dám dừng, ngay đêm ấy chạy tới Hàng Châu. Trương Thúc Dạ dẫn quân đuổi theo, tới huyện Đồng Hương thì tạm dùng, vỗ về nhân dân, kiểm tra kho tàng, nhà ngục. Thấy phạm nhân trong ngục đều chạy trốn, chỉ còn duy nhất một người không chạy. Thấy lạ, Trương Thúc Dạ gọi đến trung quân hỏi:
- Bọn tù, nhân lúc loạn lạc bỏ trốn, tại sao chỉ còn mình ngươi không chạy?
- Tôi vốn là thư sinh, - Lai Sinh nói, - mắc tội oan. Quan trên sáng suốt liêm khiết thì sẽ có ngày được minh oan. Nếu nay nhân lúc loạn lạc mà bỏ chạy thì đó là kẻ nổi loạn, loại người ấy có khác gì giặc đâu. Cho nên dù chết tôi cũng không chạy.
Trương Chiêu Thảo nghe xong gật đầu nói:
- Nếu quan lại và dân chúng đều phụng sự việc công, giữ gìn luật pháp, lâm nạn không sống bừa bãi thì thiên hạ loạn sao được.
Sau đó ông hỏi rõ vì sao Lai Sinh phạm tội. Lai Sinh kể tỉ mỉ sự việc đã xẩy ra và mình bị đánh đập bức khai thế nào. Trương Chiêu Thảo lấy hồ sơ của Lai Sinh xem, nghĩ: "Quan xử kiện dạo ấy thật chẳng hiểu gì, nếu anh ta giết người, thì cớ gì để lại chiếc giày đỏ làm chứng. Nếu không có người đuổi thì sao anh ta lại không nhặt lấy giày rồi mới bỏ đi? Nếu không hốt hoảng, thì cớ gì lại rơi xuống giếng? Hơn nữa người đàn bà bị đâm, song vì sao lại không có hung khí? Việc này quả là oan uổng. Chỉ tiếc, chưa bắt được hai tên hòa thượng kia để xử tội. Song, nếu căn cứ vào hiện tại, loạn lạc nhưng anh ta không vì thế mà bỏ trốn, nhất định người ấy trước đây không phải là người xấu”. Rồi ông lấy bút xóa ngay bản án, tha cho Lai Sinh. Lai Sinh tạ ơn, nói: - Tôi được pháp luật xử như thế mới dám ra khỏi nhà tù.
- Anh hãy thư thả một chút đã. - Trương Chiêu Thảo nói. - Tôi nghĩ anh là một nghĩa sĩ trung thần, không dám phản bội triều đình, hơn nữa anh là một thư sinh nhất định sẽ có chút hiểu biết. Ta vẫn muốn hỏi kĩ anh.
Trương Chiêu Thảo hỏi Lai Sinh những điều về quân cơ, chiến lược. Hỏi một Lai Sinh đáp mười, ứng đối trôi chảy. Trương Chiêu Thảo rất mừng, nói:
- Trong quân đang thiếu một người tham mưu, anh có thể đóng góp công sức cho đội quân của ta.
Nói xong, Trương Chiêu Thảo lệnh cho Lai Sinh cởi bỏ áo tù thay áo mũ triều đình, cùng anh bàn việc quân sự.
Đang lúc bàn luận, thì có người vào bẩm, đã bắt được mấy trăm phụ nữ mà bọn giặc bỏ lại, xin chờ xử lý. Thấy thế Lai Sinh bèn thưa:
- Những người đàn bà này đều là người dân quê, bị giặc bắt. Nay nên xếp họ vào những gian nhà còn bỏ trống, chờ gia thuộc họ đến đón về.
Trương Chiêu Thảo nghe theo, lệnh cho Lai Sinh tới điểm danh, ghi tên vào sổ sách, sắp xếp cho họ nghỉ ngơi, chờ gia đình đến đón. Lai Sinh vâng lệnh, đến lập danh sách những phụ nữ bị bắt. Ghi tên được hơn nửa số người thì thấy một người đúng sững nhìn Lai Sinh, hỏi:
- Có phải ông là thầy Lai không?
Lai Sinh ngạc nhiên hỏi:
- Chị là ai? Sao chị biết tôi?
- Tôi là Phong Nguyệt Di, - người ấy nói, - thiếp của Thủy Viên Ngoại.
Viên Ngoại và những người trong gia quyến hiện ở đâu? - Lai Sinh hỏi. - Sao chị gặp phải nông nỗi này?
- Viên Ngoại nghe thấy quân giặc tới gần, - Nguyệt Di nói, - dẫn thiếp và con cái tới lánh nạn tại am ni cô Lạc Hương, không ngờ giữa đường lạc nhau. Tôi không may bị giặc bắt, hiện Viên Ngoại và con cái sống ra sao thì tôi không biết. Lai Tiên sinh gặp rắc rối, giam cầm trong ngục, được làm quan từ bao giờ thế.
Lai Sinh kể cho Nguyệt Di nghe chuyện Trương Chiêu Thảo phóng thích và cho làm tham mưu. Rồi hỏi Thủy Viên Ngoại trốn ở am ni cô nào. Nguyệt Di nói:
- Ở am Thủy Nguyệt, cách nhà khoảng năm mươi dặm.
Lai Sinh sai quân mang danh thiếp của mình đến Thủy Nguyệt, mời Thủy Viên Ngoại tới gặp, đồng thời báo cho ông biết tin Nguyệt Di. Sau đó tìm phòng mời Nguyệt Di đến ở, chờ Thủy Viên Ngoại. Những người đàn bà còn lại đều sắp xếp nơi ăn chốn nghỉ chu đáo, đợi người nhà đến đón về.
Thủy Viên Ngoại đang rất lo buồn, không biết tin tức Nguyệt Di, bỗng thấy Lai Sinh sai người tới mời, lại biết Nguyệt Di vẫn bình yên, ông xiết đỗi vui mừng, bèn tới ngay quân doanh bái kiến. Lai Sinh cảm ơn ông đã quan tâm tới mình trong lúc ngồi tù, và kể lại việc mình được Trương Chiêu Thảo rộng lòng tha tội, nhận làm tham mưu, cho ghi tên những phụ nữ bị giặc bắt và gặp được Nguyệt Di. Thủy Viên Ngoại vô cùng biết ơn Lai Sinh, sau đó nhắc lại chuyện hôn nhân. Lai Sinh nói:
- Tôi đã chịu ơn ông nhiều, song chưa được đền đáp. Nay vẫn được ông thương yêu, tôi sẽ nguyện làm con rể ông. Hiện nay việc quân bận rộn, e rằng chưa được nghỉ ngơi để nghĩ đến việc xây dựng gia đình. Chờ tôi bẩm với chủ soái rồi sẽ thưa chuyện lại.
Thủy Viên Ngoại dẫn Nguyệt Di về. Ngày hôm sau Lai Sinh vào gặp Trương Chiêu Thảo, thưa lại với ông về tình thân thiết với Thủy Viên Ngoại trước đây và việc hôn nhân sắp tới. Trương Chiêu Thảo nói:
- Đây là việc vui mừng, ta sẽ hết sức giúp đỡ.
Trương Chiêu Thảo chọn ngày lành tháng tốt, đưa hai trăm lạng bạc, hai mươi tám lụa màu cho Lai Sinh làm sính lễ, hẹn ngày chiến thắng trở về, làm lễ thành hôn. Thủy Viên Ngoại rất đỗi vui mừng. Đúng là:
Lúc ấy đua nhau khen chàng rể,
Tù nhân chịu nhục chính là anh.
Nếu chẳng thân tình sao gặp được.
Duyên lành loan phương thật xứng đôi.
 
Sau khi đưa sính lễ, Lai Sinh lập tức theo Trương Chiêu Thảo dẫn quân ra trận. Lai Sinh khuyên Trương Chiêu Thảo soạn ra những điều cấm, không cho quân lính quấy nhiễu dân chúng. Từ đó những nơi đại binh đi qua, không xảy ra việc xâm phạm tài sản của dân, tới đâu, dân chúng cũng vui mừng chào đón. Ngay cả những hảo hán ở Lương Sơn Bạc đầu hàng, thấy kỷ luật nghiêm minh như thế càng kính phục. Lai Sinh lại hiến mật kế, khuyên Trương Chiêu Thảo chia quân mai phục, bắt sống được tên giặc đầu sỏ Phương Lạp. Phút chốc dẹp tan quân giặc chiến thắng về triều. Trương Chiêu Thảo tâu lên triều đình những công tích của Lai Sinh. Triều đình hạ lệnh thăng Trương Chiêu Thảo làm Xu mật viện Chánh sứ, tham mưu Lai Pháp được ban tiến sĩ, cất nhắc làm Giám sát Ngự sử Quảng Đông. Lai Ngự sử dâng biểu tạ ơn, xin về làm lễ cưới. Được triều đình cho phép, Lai Ngự sử cáo từ trường xu Mật lên ngựa về quê làm lễ thành hôn với Quan Cô, con gái Thủy Viên Ngoại. Khi ấy Lai Ngự sử đã hai mươi bốn tuổi. Quan Cô mười bảy tuổi.
Đúng là:
Trước là thầy học, nay là rể yêu.
Ba năm ngồi tù, gặp bọn diều hâu cú vọ.
Một năm chinh chiến, trở thành rồng hổ oai hùng.
Trùng Nhĩ lấy Bá Cơ, vốn là Bồ Thành tội phạm,
Vân Vương cầu thục nữ, từng tại Dìu Lý ngồi tù.
Vinh nhục thăng trầm đắp đổi.
Cuộc đời sẽ lại bình yên.
 
Cưới nhau được tròn một tháng, Lai Ngự sử lên ngựa tới Quảng Đông nhậm chức. Thời ấy, ở huyện Long Môn, Quảng Đông xảy ra một vụ án oan, được Lai Sinh xét xử và được giải oan. Đây là một câu chuyện li kì, thú vị. Ngay cả nỗi oan uổng trước đây của Lai Sinh cũng được sáng tỏ.
 
Huyện Long Môn có một viên Tham tướng coi giữ địa phương tên là Cao Huân, nhận làm cháu họ của quan Thái úy Cao Cầu Thông Phổ. Cậy thế Cao Thái úy, Cao Huân cho dân vay với lãi suất cắt cổNếu ai không biết vay vế, thì ông ta sẽ làm cho người ấy khuynh gia bại sản. Tăng Tiểu Tam, người huyện Long Môn, anh có một cửa hàng điểm tâm. Vì mẹ mắc bệnh chết đột ngột, không tiền chôn cất, không còn cách nào, Tăng Tiểu Tam đành tới Cao Tham tướng mượn mười lạng bạc lo ma chay cho mẹ. Qua một năm, lãi mẹ đẻ lãi con, cả vốn lẫn lãi tới ba mươi lạng. Nhiệm kì làm Tham tướng của Cao Huân đã hết, hắn cho người tới đòi Tăng Tiểu Tam phải trả cả vốn lẫn lãi ngay lập tức. Binh lính đến đòi nợ, anh cuống lên, không biết làm cách nào trả được. Anh nghĩ: "Ta vì mẹ đẻ mà vay nợ, nếu nay bán con cái đi trả cũng đáng, song chỉ tiếc mình không con". Suy đi tính lại, an nghĩ ra một kế quả là vạn bất đắc dĩ, anh kéo những người lính tới nói nhỏ:
- Tôi nghèo lắm, ngay một lúc không trả hết được nợ, trong nhà chẳng có gì đang giá để gán nợ, chỉ có một người vợ là Thương thị xin để cho các ông dẫn đi.
- Chúng tôi chỉ cần tiền chứ không cần người. - Binh lính nói. - Mà một người đàn bà- làm gì mà bán tới ba mươi lạng bạc. Ta hoãn cho anh thêm hai ngày nữa, anh bán vợ đi rồi trả tiền ta.
Dứt lời họ bỏ đi. Tăng Tiểu Tam nghĩ: "Vợ mình sắc đẹp cũng bình thường, bán sẽ không nỗi ba mươi lạng. Trừ phi bán cho nhà chứa thì mới được, nhưng ta nỡ lòng nào làm như thế". Chẳng còn cách nào, Tăng Tiểu Tam đành gạt nước mắt nói thực với vợ. Thương thị nghe xong chết lặng người, lát sau òa lên khóc nức nở. Tăng Tiểu Tam lòng đau như cắt, cũng gào lên khóc.
Tiếng khóc đã làm cho Thi Huệ Khanh, người hàng xóm động lòng. Thi Huệ Khanh làm nghề đóng giày, sống độc thân, không có vợ con. Nhờ chăm chỉ làm việc anh tích cóp được hai, ba mươi lạng bạc. Lúc ấy chùa Báo ứng ở ngoại thành đang quyên góp xây dựng chùa, một hòa thượng đã làm ngôi lều cỏ ở ngay xóm để khuyên giáo. Thi Huệ Khanh định đem số bạc tích góp lâu nay tiến cúng xây dựng chùa. Hôm ấy Thi Huệ Khanh mời hòa thượng Hóa Duyên đến nhà ăn chay, thì nghe thấy vợ chồng Tăng Tiểu Tam khóc lóc thảm thiết, bèn sang hỏi nguyên do. Biết được tình cảnh ấy, Thi Huệ Khanh hết sức thương tâm. Về nhà, khi hòa thượng đi khỏi, đóng cửa lại Thi Huệ Khanh nghĩ: "Nếu ta tiến cúng số tiền ấy cho chùa, thì chi bằng ta đưa cho Tăng Tiểu Tam trả nợ, để bảo toàn tính mạng của họ, làm thế sẽ tốt hơn là ta tiến cúng số tiền ấy cho chùa". Ý đã quyết, anh liền sang nhà Tăng Tiểu Tam nói:
- Anh chị đừng khóc nữa. Tôi đã góp được ba mươi lạng, nay không nỡ thấy anh chị lìa bỏ nhau. Anh chị hãy lấy số tiền của tôi mà trả nợ.
Thấy Huệ Khanh nói thế, Tăng Tiểu Tam lau nước mắt nói:
- Rất cảm ơn lòng tốt của anh, song đâu phải anh giàu có gì. Đây là số tiền lâu nay anh tốn bao công sức mới tích góp được tôi nỡ lòng nào một lúc tiêu hết của anh.
- Lòng thương người ai ai cũng có. - Thi Huệ Khanh nói. - Tôi với anh là hàng xóm với nhau, nhìn thấy thảm cảnh này, ai mà không thương xót. Tôi đã có lòng như thế, xin anh đừng từ chối nữa!
Tăng Tiểu Tam còn đang ngần ngại thì bọn lính đã xồng xộc đến hỏi nợ. Chúng quát thét ầm ĩ.
- Ông lớn không gia hạn nữa, hôm nay mày phải trả bằng hết. Nếu không thì bắt ngay tới cửa quan treo cổ.
Huệ Khanh chạy ra ngăn lại nói:
- Các ông đừng la hét nữa. Tôi sẽ cho anh ấy mượn để trả cho các ông là được chứ gì!
Nói xong, anh chạy ngay về nhà, mang đủ ba mươi lạng bạc giao cho bọn lính. Thấy bạc, chẳng kể đến tiền ấy ở đâu, nhận đủ là chúng kéo nhau đi thẳng. Tăng Tiểu Tam vô cùng cảm động, cúi xuống lạy, Thi Huệ Khanh vội vàng đỡ dậy.
Mấy hôm sau, Tăng Tiểu Tam với vợ, làm một mâm rượu mời Thi Huệ Khanh. Đúng hẹn Thi Huệ Khanh đến. Thấy trên bàn có ba chiếc chén, ba đôi đũa, Thi Huệ Khanh ngỡ là Tiểu Tam còn mời thêm ai. Lát sau, thấy Tăng Tiểu Tam dẫn vợ là Thương thị ra gặp Thi Huệ Khanh, cùng ngồi tiếp rượu. Thi Huệ Khanh nghi ngại, uống hai ba chén định đứng dậy, Tăng Tiểu Tam ngăn lại, rồi đứng lên đi vào trong. Rất lâu Huệ Khanh không thấy Tiểu Tam ra, còn Thương thị cứ ngồi nhìn Thi Huệ Khanh. Thấy lạ, Thi Huệ Khanh hỏi:
- Sao không thấy anh ấy ra uống rượu?
Thương thị cúi đầu không nói. Thi Huệ Khanh quay vào trong gọi:
- Anh Tiểu Tam, mau ra uống rượu. Tôi về đây.
Thương thị nước mắt giàn giụa nói với Thi Huệ Khanh:
- Anh ấy đã trốn ra lối cửa sau, không về nữa.
- Vì sao thế? - Thi Huệ Khanh kinh ngạc nói.

- Anh ấy bảo, anh rất nghèo, - Thương thị nói, - mà tự nhiên bỏ ra ngần ấy tiền. Chúng ta được anh cứu vớt, nay anh vẫn chưa có vợ, nên bảo tôi lấy anh. Anh ấy đã viết giấy để lại. Hôm nay mời anh sang uống rượu cốt giao tôi cho anh. Anh ấy đã cắt tóc, khoác áo lên Ngũ Đài Sơn tu hành rồi.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Đoán Án Kỳ Quan   

Về Đầu Trang Go down
 
Đoán Án Kỳ Quan
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 6 trangChuyển đến trang : 1, 2, 3, 4, 5, 6  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang :: Các Đạo Khác :: Gương Xưa Tích Cũ-
Chuyển đến