Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang
Chào bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang!
Diễn Đàn là nơi giao lưu kết bạn, sưu tầm, lưu trữ, học hỏi và chia sẻ kiến thức.
Để cùng nhau tiến bộ trên con đường hướng thiện.
Chúc bạn sức khỏe và có nhiều thành công mới trong cuộc sống!

Om mani pad me hum
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang

Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho; một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tạo lấy.
 
Trang ChínhTrang Chính    CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Chào mừng các bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang! Chúc các bạn sức khỏe và thành đạt! Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang.

Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này
Share | 
 

 Nhặt Lá Bồ Ðề

Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6  Next
Tác giảThông điệp
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhặt Lá Bồ Ðề   Mon Dec 09, 2013 6:30 pm

2. Then Chốt Của Luân Hồi Giải Thoát


Mục đích của người tu hành là ra khỏi vòng luân hồi sanh tử, được giác ngộ và giải thoát. Người tu thì nhiều mà người giải thoát thì không được bao nhiêu. Vì sao? Vì pháp của Phật không đúng chăng? Vì chướng ngại quá cao chăng? Không, pháp của Phật là chân lý muôn đời, còn chướng ngại thì không cao không nặng, chỉ vì người tu hành không thực hành đúng lời Phật dạy, hoặc không biết rõ then chốt của luân hồi và giải thoát để nắm vững và hạ thủ công phu. 
Phật dạy: Chúng sanh luân hồi trong ba cõi sáu đường là do vô minh tác động gây nghiệp, rồi chịu quả báo. Muốn cho người tu hành hiểu rõ sự việc từ đầu đến cuối, Phật dạy lý mười hai nhân duyên: 
Vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử. Nếu vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt... sanh diệt thì lão tử diệt. 
Như vậy, muốn hết luân hồi sanh tử thì phải diệt vô minh. Chúng ta hãy tìm hiểu vô minh là gì? Theo Kinh A Hàm thì nếu không biết Tứ Ðế như thật là vô minh. Theo Kinh Viên Giác nếu thấy thân ngũ uẩn và lục trần có thật là vô minh. Theo Tổ Hoàng Bá, nếu thấy chín mươi chín phần là giả, chỉ còn thấy một phần nhỏ nhất là thật có thì vẫn còn vô minh. 
Làm sao diệt được vô minh? Rất khó, vì nó thuộc thuộc về nhân quá khứ làm sao diệt được? Như vậy chúng ta không thể chặt đứt vòng luân hồi ở chỗ vô minh được, mà phải tìm chỗ khác. Hành, thức, danh sắc, lục nhập, cũng không thể được, vì làm sao diệt được hành là nghiệp quá khứ. Thức, danh sắc, lục nhập là bộ phận của thân thể con người, chẳng lẽ mang ra hủy hoại? Xúc, thọ là những cảm giác ảnh hưởng đến chúng ta cũng không tu được. Chỉ còn Ái là bộ phận cái khoen mềm yếu nhất trong cái vòng gồm mười hai cái khoen của sự luân hồi, chính nơi đây người tu hành nhắm vào để chặt. 
Ái là thương yêu. Vì thương yêu nên muốn nắm giữ (thủ), nắm giữ cho ta (ngã), vật đó của ta (ngã sở). Diệt ái tức là phá trừ chấp ngã và ngã sở vậy. 
Người đời được khen thì vui, đó là thọ lạc. Bị mất thì buồn, đó là thọ khổ. Nếu có tiếng nói không khen không chê thì mình không vui, không buồn, đó là vô ký. Trên đây là nói về tiếng. Nếu nói về sắc thì cũng vậy. Ðẹp thì thích, xấu thì chán ghét. Người tu phải làm sao không còn cái tâm ưa thích, chán ghét, giận dữ, nghĩa là giữ tâm an tịnh chứ không phải gỗ đá. 
Có ái là thương yêu, thích thú, là có lòng tham (thọ lạc). Nếu điều gì có lòng ghét thì khởi lòng sân (thọ khổ). Làm sao đừng tham, đừng sân. Ái tương ưng với tham, trái lại ghét tương ưng với sân. Còn vô minh chính là tương ưng với si. Tham sân si là gốc của tam độc. 
Si, là thủ phạm gây ra tội lỗi, là tên khác của vô minh. Vì si mê lầm lạc mà chúng ta không phân biệt được điều hay lẽ dở. Không biết đâu là thật, đâu là giả, đường thẳng không đi, lại đâm quàng vào bụi rậm. Phải diệt si thì tham sân sẽ hết. Nếu không tìm ra si để diệt thì không bao giờ diệt được tham sân. 
Như đã nói ở trên, người đời được khen thì vui thích, bị chê mắng thì chán ghét. Vậy nếu không thấy thì làm sao dứt được? Ðó là then chốt của sự tu hành. Ðừng thấy khen chê là thật, thì sẽ dứt được vô minh. Các Tổ dạy phải "quán thọ thị khổ", thọ lạc cũng không thích, thọ khổ cũng không giận, thọ không lạc không khổ cũng không ưa. Phải bình đẳng đối với tam thọ mới được. 
Những cái gì lãnh thọ, nhận chịu đều là khổ. Những cảnh khổ đau, những lời chê bai, những vị cay đắng ở đời là khổ đã đành, nhưng còn cảnh sung sướng, những lời khen ngợi, những vị ngon ngọt thì có phải là khổ không? Theo giáo lý nhà Phật thì vui, buồn, khen, chê, ngọt, đắng... đều là khổ, là giả, là vô thường. Muốn giải thoát người tu hành phải giữ tâm bình thản, không còn thương ghét, như người gỗ ngắm chim vẻ, được vậy thì ở đâu cũng tu được, chẳng cần phải lên núi, vào cốc nhập thất làm chi. Nhưng phải biết việc đó rất khó. 
Theo Kinh A Hàm thì tiếng khen là vô thường hoại diệt vậy là khổ, tiếng chê cũng là vô thường hoại diệt cũng là khổ. Biết là khổ thì còn dại gì sinh lòng yêu ghét. Nếu không sinh lòng yêu ghét thì đã diệt được tham và sân rồi. Chúng ta bị khổ vì chấp tiếng khen cho là thật có, chấp lời chê cho là thật có, chấp hình ảnh đẹp cho là thật có rồi yêu thích, chấp hình ảnh xấu cho là thật có rồi sinh lòng chán ghét. Nếu biết tất cả là vô thường, là khổ, thì đừng ghét, đừng yêu. Tham sân hết, thì si cũng không còn, biết là vô thường thì không ham, vậy dứt được ái. Dứt si, dứt ái là phá được vòng luân hồi, được giải thoát. 
Bây giờ chúng ta thử căn cứ vào kinh Bát Nhã xem sao? Quí vị tụng bất cứ kinh gì, cũng kết thúc bằng Bát Nhã Tâm Kinh. Bát Nhã là trí tuệ. Phương pháp tu nào cũng phải nhờ Bát Nhã. Ngưòi nào có trí tuệ sáng suốt thì phá trừ được vô minh. Ví như thắp đèn sáng lên thì bóng tối tự tiêu tan. Bát Nhã chủ trương ngũ uẩn giai không, biết tất cả là không, thì thoát tất cả mọi khổ ách. Mọi vật đều tự thể là không, do nhân duyên hòa hợp mà thành, đó chỉ là huyễn có, là giả hợp. Nếu biết tất cả là giả, thì còn tham đắm, say mê, thương ghét, giận hờn làm gì? Tất cả đã là không, thì không có người, không có ta, không có vô minh, tội chướng, mà cũng không có nghiệp quả khổ đau. Nhưng tâm trạng này chỉ đến với những người đã chứng đến pháp "nhất thiết không", trí người đó đã sáng, tâm người đó đã bình, chứ còn chúng sinh thì vẫn thấy có luân hồi, có giải thoát, có sinh tử, có niết bàn, có tội, có báo, có nhân, có quả. 
Người có trí tuệ thì hiểu tiếng khen, lời chê, sắc đẹp, dáng xấu, miếng ngọt, vị cay... đều là nhân duyên hợp lại mà thành, là huyễn hóa, là giả, thì không còn ưa ghét, nhờ vậy mà dứt được ái, hết tham và sân. Giác ngộ thân, tâm, cảnh là giả, dùng trí tuệ chiếu soi tất cả thì mới là giải thoát, dứt được vô minh, trừ được si. 
Chúng ta sống ở đời quen coi ta, người và cảnh đều có thật. Nay nhờ trí Bát Nhã chiếu soi, chúng ta hiểu tất cả là giả có, in tuồng là có mà thôi. Ngay trong lúc thấy có, phải biết nó là không, tất cả các pháp tự tánh là không, đương thể tức không. Cái bàn trước mắt ta đây, bây giờ thấy có, nhưng nó hoại lần lần, rồi sẽ biến dịch thành không. Chỗ này rất dễ hiểu trước có sau không, theo luật vô thường. Ðó là theo Kinh A Hàm. Nhưng nói theo Kinh Bát Nhã thì cái bàn tự tánh là không, do nhân duyên hòa hợp, đương thể tức không. Cái bàn còn y nguyên chưa hoại mà đã biết nó là không, đó mới thật là chân không. Mà cũng chính cái không này lại phát sinh ra cái có, đó là "Sắc tức thị không, không tức thị sắc". 
Ðừng thấy tất cả là giả, là không rồi chẳng chịu làm gì, ngồi im một chỗ, hoặc lên núi, lên non ẩn mình. Thật ra, thấy ngũ uẩn giai không rồi, là đã tỉnh giác, nhưng chỉ giác được một chút rồi lại mê. Phải làm sao cái giác thật lâu, mãi mãi tự giác rồi còn giác tha. Các vị Bồ Tát sau khi chứng được chữ Không đều phát lòng đại bi, lăn vào trong đời ác ô trược để cứu chúng sinh. Ðứng về thể tánh thì không chấp một pháp nào, nhưng đứng về mặt thực hành thì không bỏ một việc thiện nào mà không làm. 
Chúng ta đã học hiểu rồi phải thực hành, tự thắp đuốc lên mà đi, ngọn đuốc tâm ta sáng thì được giác ngộ và giải thoát. 
Tóm lại, then chốt của luân hồi và giải thoát, theo Kinh A Hàm thì phải hiểu rõ Tứ Ðế như thật, mọi vật là vô thường, là hoại diệt, vậy là không. Còn theo Kinh Bát Nhã thì phải phát huy trí tuệ, phải giác ngộ biết vạn vật do nhân duyên hòa hợp, nguyên thể là không. Việc tu hành không có gì lạ, điểm trọng yếu làm sao có trí tuệ sáng suốt để được giác ngộ, mà hễ được giác ngộ là được giải thoát.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhặt Lá Bồ Ðề   Tue Dec 10, 2013 5:17 pm

Phần 4 
Vấn Ðáp 


 
1. Vọng Không Thật Có
"Biết vọng không thật liền hết vọng" 


Kinh Kim Cang, Phật dạy: "Tam tâm bất khả đắc" (quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc). Ba thời tìm tâm không thể được. 
Sơ Tổ dạy Ngài Huệ Khả: "Ðem tâm ra đây ta an cho..." Huệ Khả tìm tâm chẳng được. Liền đó Tổ nói: "Ta đã an tâm cho ngươi rồi đó". 
Mỗi lời dạy của Phật, Tổ tuy khác nhau, nhưng đều có ý bảo là "vọng tâm" không thật có. Nếu hành giả khi tu thiền khởi tu "Biết vọng không thật" tức liền hết vọng. Vọng tưởng do bóng dáng sáu trần, ngoài sáu trần tức tâm (vọng) không thật có. 
Gốc mê lầm bởi nhận lầm vọng tưởng cho là tâm mình mà thôi.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhặt Lá Bồ Ðề   Tue Dec 10, 2013 5:21 pm

2. Nghiệp Nào Nặng? 

Người hỏi: Nghiệp thân và nghiệp ý, nghiệp nào nặng hơn? 
-- Nếu căn cứ vào nghiệp nhân thì ý nặng, căn cứ vào nghiệp quả thì thân nặng. Bởi ý là động cơ phát nhân tạo nghiệp. Tuy nhiên nếu có ý nghĩ mà thân chưa hành động, chưa thành tội. 
-- Nếu nói ý nghiệp nặng, khi ý chưa khởi hành động đâu thể thành tội. Thành tội khi nào phải có hành động của thân. 
-- Căn cứ giới Tỳ Kheo (giới tướng) khi nào có hành động mới thành tội. Nếu căn cứ giới Bồ Tát, ý vừa nghĩ ác đã thành tội.

3. Tâm Bình Thường 
Thế nào là "Bình thường tâm thị đạo"? 
-- Bình thường tâm nghĩa là không thấy phải, không thấy quấy, thấy thật thấy giả, thấy đây kia, phàm thánh v.v... Tóm lại không thấy hai thì tâm an nhiên lặng lẽ. Thấy như vậy tức có cái thấy bình thường. Cái thấy bình thường như vậy, ấy là đạo. Khi có cái thấy như vậy, không phải dụng công tìm cầu. Muốn được tâm này chỉ đừng khởi vọng. Vì vọng là gốc của luân hồi trong ba cõi, không khởi vọng tức diệt gốc luân hồi.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhặt Lá Bồ Ðề   Wed Dec 11, 2013 11:03 am

4. Duy Tâm Và Duy Thức 

"Tam giới duy tâm vạn pháp duy thức" 
Tâm lành hiện cảnh giới lành. Ví như khi ta làm cho người vui, người đối xử với ta tốt. 
Vạn pháp duy thức. Các pháp giữa này có ra, đều do thức phân biệt. 
Ngài Ðộng Sơn hỏi Ngài Ma Cốc: Gió khắp mười phương. Khi không gió tại sao không thấy? 
Ngài Ma Cốc cầm quạt quạt. Gió giáp khắp nhưng phải tùy duyên, có duyên gió mới hiện. Có phân biệt mới thành pháp.

5. Chăn Trâu 
Ngồi tu thế nào? 
-- Có để tâm không chăng? 
-- Chăn Trâu kia mà! 
-- Chăn thế nào? 
Tổ Qui Sơn dạy: Khi trâu liếc ngó hai bên muốn ăn lúa mạ người phải kéo nó lại... 
Như thế lúc nào người chăn cũng nhìn chừng, đâu có rảnh rỗi mà gọi là "vô ký" hay "hôn trầm". Ðâu để rơi vào không. 
Căn cứ vào Thập mục ngưu đồ (mười bức tranh chăn trâu), người chăn đến khi nào không còn thấy trâu và người nữa (dứt cả năng tri và sở tri) mà chỉ còn một vầng trăng tròn sáng rỡ giữa không trung. 
Tóm lại, trong khi ngồi tu phải dùng trí huệ Bát Nhã thấy rõ vọng tâm sanh diệt làm đối tượng. Khi có vọng luôn biết có vọng. Khi không vọng vẫn biết không. Tâm luôn lặng lẽ và chiếu soi. 
Theo pháp tu này, ban đầu có đối tượng, nhưng không có đề mục như Tiểu Thừa. Vì có sự chiếu soi lặng lẽ, nên cũng coi như là lối tu Mặc chiếu. Thiền Mặc chiếu.

6. Có Ðọa Ðịa Ngục Không?
Hỏi: Ông Ðề Bà Ðạt Ða phá Phật nhiều đời, phạm tội ngũ nghịch. Nếu đọa tại sao mỗi đời đều còn theo phá Phật? 
-- Người tu đắc đạo có hai trường hợp: Nếu còn yếu phải nhờ hoàn cảnh thuận lợi để tiến lên. Trái lại khi đã mạnh rồi phải dùng nghịch cảnh để tiến. 
Ông Ðề Bà Ðạt Ða tuy phá Phật nhưng là Bồ Tát nghịch hạnh, làm trợ duyên để Phật tiến đạo, nên không đọa địa ngục vì không có ác tâm. Tuy nhiên trên lý nhân quả, Phật vẫn nói ông đọa địa ngục vô gián. 
Câu chuyện Ngài Mục Kiều Liên xuống địa ngục thăm ông Ðề Bà Ðạt Ða. Ngài hỏi: Ông ở đây có khổ không? 
Ông trả lời: 
-- Tôi vẫn vui như Tỳ Kheo đạt quả đệ tam thiền. 
-- Chừng nào ra khỏi? 
-- Khi nào Phật vào địa ngục. 
Như vậy, Ðề Bà Ðạt Ða dù ở địa ngục mà không thấy có địa ngục.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhặt Lá Bồ Ðề   Fri Dec 13, 2013 11:09 am

7. Chỗ Khác Biệt Giữa Ðại Thừa Và Tiểu Thừa 
Ðại thừa nhận tâm mình rộng lớn trùm khắp pháp giới, tức thể nhập pháp thân (thể đại, tướng đại, dụng đại). - Ðại Thừa Khởi Tín luận. 
Tiểu thừa chỉ diệt "sanh diệt" của sáu thức rồi nhập "Diệt tận định" chứng A La Hán. Ðại thừa gọi đó là "Trầm không trệ tịch, tiêu nha bại chủng" (không phát đại bi tâm độ sinh).

8. Chấp Thiện Thì Ác Liền Sanh
Ở Hy Lạp một dạo có phong trào giết người khủng khiếp! Tại sao? Vì người đạo ấy cho rằng mọi người không chịu theo kinh thánh để lên Thiên đường. 
Sự thường, nếu ai không làm theo mình thì ghét. Nhưng chưa hẳn cái hiểu của mình là đúng, và khi cái mình cho là đúng là tốt mà kẻ khác không theo, thì coi như kẻ đó là kẻ "xấu số" sẽ bị cái "ác" đến với họ. 
Nghĩ thiện, chấp thiện thì cái ác liền sanh. Nghĩ thương người nào thì muốn bảo vệ người ấy. Thấy người khác muốn hại người mình thương, liền có niệm phản đối (ác) và sẽ có ra hành động phản đối can thiệp bảo vệ. 
Chấp cái thương, cái thiện là tai họa. Muốn làm thiện mà bị cản trở, thì trở nên bực, tâm ác theo đó mà sanh. Vậy, "không nghĩ thiện, không nghĩ ác là hơn tất cả". 
"Nếu là cái thật thì không thương giận. Thương giận thì không phải thật".

9. Khác Nhau Trên Một Cái Nhìn
Chúng ta sở dĩ phiền não là bởi do nhìn người trên cặp mắt chỉ trích, hoặc cặp mắt khinh miệt tự cao... rồi thấy người xấu xa dở tệ... bởi thế mới sanh ra phiền não, tâm tật đố sân si... 
Trái lại, nếu dẹp những lối nhìn trên mà nhìn mọi người trên "cặp mắt bình đẳng" mỗi người đều tốt, đều có tánh đặc biệt của họ. Người ăn cướp vẫn có tánh tốt. Nhất là mỗi người đều có Phật tánh (như Bồ Tát Thường Bất Khinh nhìn) thì đâu có phiền não. 
Ðạo Phật nhìn bằng cái nhìn như vậy (tất cả bình đẳng trên thể tánh) nên phá hết các kiến chấp chủng tộc, nhân loại v.v... 
Ðạo Phật lấy chúng sanh làm đối tượng cứu khổ, để thực hành hạnh từ bi. Vì thế từ bi của đạo Phật cao tột, vượt ngoài tình gia đình, quốc gia, nhân loại. Nó là thứ tình chúng sanh. Tất cả chúng sanh đều bình đẳng. 
Có cái thấy như vậy, nên Phật mới thí thân cho cọp đói v.v...
10. Biết Chủ Khách 
Hỏi: 
-- Khi tu chỉ biết: Khách có biết có, không biết không, còn gì nữa không? 
-- Như người chủ nhà biết khách biết chủ, đó là giai đoạn thứ nhất. Ở địa vị chủ loại khách, khách hết, sắp xếp việc trong nhà, làm đẹp nhà cửa. Ðến lúc hư hoại muốn gở phá nhà (nhà dụ cho thân ngũ uẩn) tùy ý. 
Một Thiền sư nói: Sở dĩ ta không làm chủ được nhà mình là cứ để "tâm trộm" lén vào khuấy phá. 
Hỏi: Người tu "Biết vọng" mà vọng cứ khởi có lợi ích gì? 
Lục Tổ nói: Không sợ niệm khởi mà sợ giác chậm. Vọng khởi mà tỉnh giác là đều có tánh giác hiển lộ. Một trăm lần vọng khởi có một trăm lần giác. 
Biết sóng là nước, thì không sợ vọng, vì nó là chân. 
Trong Pháp Bảo Ðàn Kinh, Ngọa Luân nói: "niệm bất khởi". 
Lục Tổ nói: "Niệm sổ khởi". 
Hễ có niệm liền giác, giác là Phật. 
Nhớ mặt biển mà không ngại sóng dậy, vì sóng từ biển sanh. 
Sống với bao nhiêu người mê mà mình vẫn tỉnh, chớ không phải đóng cửa không tiếp khách.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhặt Lá Bồ Ðề   Fri Dec 13, 2013 11:15 am

11. Hồ Hán Ðều Hiện 

Như tấm gương xưa, Hồ đến hiện Hồ, Hán đến hiện Hán. Người nào đến, vật nào đến đều hiện rõ mỗi thứ. Dầu hiện rõ muôn thứ mà mặt gương không thay đổi. 
Như nhạn bay trong hư không, không lưu lại dấu vết nào. 
Như trăng soi dòng nước, mà nước và trăng không đến nhau. Nước chẳng dính trăng. 
Người thấy tánh, gặp duyên liền khởi dụng, nhưng thể tánh chân thật không thay đổi. Ấy là tự tánh dụng.
12. Một Câu Tóm Tắt 
Hỏi: 
-- Xin cho một câu tóm tắt nghĩa tu thiền? 
-- Biết cái giả không theo, nhận cái thật thường sống.

13. Sống Cái Nào Gọi Là "Ông Chủ"
1. Phân biệt tốt xấu, yêu ghét... Cái biết này thuộc về thức tình. 
2. Biết được cái phân biệt tốt xấu trên tức biết được cái thức tình. Cái này thuộc về Trí. Và Trí này thuộc về Trí dụng. 
3. Biết lặng lẽ trùm khắp không so sánh phân biệt. Trí này thuộc về Trí thể. Trí này cũng gọi là "ông chủ". Người tu phải sống trở lại với Trí này. 
Hỏi: Kinh Kim Cang nói: "Tâm ba thời không thể đặng". Tại sao lại dạy phải sống với ông chủ (có đặng). 
-- Kinh dạy phá ba thời vì tâm ba thời vọng không thật. Nhưng ông chủ hằng hữu, phi thời gian, lúc nào cũng vẫn hiện tiền.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhặt Lá Bồ Ðề   Sat Dec 14, 2013 3:25 pm

14. Ðịnh Nghĩa Chơn Không 

Tên Chơn Không có ba nghĩa: 
1. Y cứ kinh điển Ðại thừa: 
-- Chơn không thể tịch tịnh của các pháp. Từ thể hiện bày diệu dụng, hay gọi là Diệu hữu. 
2. Y cứ Thiền Tông: 
-- Chơn không là tánh giác, tánh giác này "không một vật". Lục Tổ nhận được tánh này nên nói kệ... "Bản lai vô nhất vật"... 
3. Y cứ Thiền sử: 
-- Tên vị Thiền sư Chơn Không đời Lý, Việt Nam.
15. Tu Tập Ðừng Ðặt Nặng Thời Gian 
Hỏi: Có người vừa phát tâm tu thì tính toán thời gian, tôi phải tu năm năm, bảy năm v.v... Tính toán như thế có hợp đạo lý không? Thử hỏi có hai người: 
Một người làm cho hết việc.
Một người làm cho hết giờ.
Vậy người nào tốt? 
Ðáp: Người làm hết việc tốt. 
Vậy mà thường người tu học hay có quan niệm tu cho mau thành, chóng kết quả. Do vậy mà dễ bị gạt. Ðúng ra chúng ta tu, không thể hẹn thời gian. Vì có ai biết bao giờ hết vọng tưởng đâu? Ðặt thời gian là yếu đuối, là lười biếng! Tu ít mà muốn kết quả nhiều. Người mạnh, sẵn sàng làm bất cứ bao lâu, miễn xong việc là xong. 
Tóm lại, chúng ta hãy nỗ lực tiến tu, đừng đặt nặng thời gian.
16. Tinh Thần Cầu Nguyện 
Hỏi: Vì sao trong Kinh Nhật Tụng lại chọn phẩm Phổ Môn làm kinh cầu an. 
Ðáp: Vì phẩm này nói nhiều về cứu khổ cứu nạn, mà người ta hay cầu an vì sợ khổ. Vì vậy chọn phẩm này làm kinh cầu an. Nhưng ít ai hiểu được tầm quan trọng của phẩm này. 
Chúng ta thường cứ nghĩ tụng cho có phước, chứ không hiểu được ý nghĩa thâm sâu của kinh. 
Kinh Pháp Hoa đến phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát, Phổ Môn này là đến phần phá Tưởng ấm, mà con người có khổ là do tưởng. Phá tưởng thì hết khổ. Một viên đạn bất ngờ xuyên qua chúng ta, chúng ta đâu có sợ. Một nhát dao qua nhanh không làm ta sợ, nhưng nếu cứ khứa khứa, từ từ thì ta tưởng tượng mà rợn mình! Ðể chứng tỏ cái sợ từ tưởng mà có, cho nên niệm Quán Thế Âm Bồ Tát là trở về tánh nghe. Trở về tánh nghe thì bặt chỗ tưởng. Không chỗ tưởng, thì khổ từ đâu mà có? Nên nói, niệm Quán Thế Âm Bồ Tát thì qua khổ nạn. Ðó là nói về "lý". 
Về "sự", niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát hết khổ như thế nào? 
Giả sử chúng ta đi đường sợ ma, lúc đó sợ quá, thành khẩn niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. Bởi lo niệm Quán Thế Âm Bồ Tát nên một lúc hết nhớ đến ma, sợ cũng theo đó mà hết, tức là hết khổ. Bị tai nạn cũng vậy. Gặp lúc tai nạn, chúng ta mãi lo niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát nên không còn thời giờ rảnh để tưởng nhớ đến sự việc xảy ra, do đó cũng quên hết khổ. 
Hỏi: Tôi thấy có nhiều chuyện niệm Quán Thế Âm rất linh ứng là sao? 
Ðáp: Vẫn biết đức Quán Thế Âm Bồ Tát rất linh ứng và sẵn sàng cứu khổ cho chúng ta, nhưng nó cũng còn đòi hỏi chúng ta phải tu nghiệp lành đúng với quả mong cầu thì việc cầu an của ta mới có kết quả. 
Bây giờ tôi hỏi lại: như gặp tai nạn thì bao nhiêu người niệm danh hiệu Quán Thế Âm, nhưng tại sao có người được khỏi, có người không khỏi? Ðâu phải ai niệm cũng được khỏi hết? Như vậy Bồ Tát có lòng thiên vị người này, ghét bỏ người kia sao? 
Ðiểm này chúng ta phải hiểu rõ. Tùy theo nghiệp tương ứng của mỗi người mà có. Người có phước lành thì niệm đến điều lành, cảm việc lành. Trái lại, người nghiệp ác quá nặng có thể không cảm nổi điều lành. Người có phước không nhất định họ niệm Bồ Tát thì Bồ Tát hiện, mà có thể họ niệm Chúa thì Chúa hiện, hoặc niệm thần thánh thì thần thánh hiện đều do phước lành của họ mà cảm nên. Còn người tạo nghiệp ác quá nặng, tuy có niệm đến điều lành, nhưng không đủ sức cảm hiện, nên vẫn bị khổ. Người xưa nói: "Linh bất linh tại ngã" là như thế. 
Tóm lại, cảm ứng chẳng phải không, nhưng có là do ở chúng ta, chẳng phải ở Bồ Tát. Phật Bồ Tát chỉ là cái duyên phụ thuộc bên ngoài thôi. Nếu chúng ta một bề hướng bên ngoài mà cầu sự linh ứng, đó là bỏ gốc theo ngọn, trái với ý chỉ của kinh. 
Hiểu vậy thì chúng ta niệm mới cảm ứng bất tư nghì.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhặt Lá Bồ Ðề   Sun Dec 15, 2013 12:29 pm

17. Xin Một Chữ 
Một người học thiền từ phương xa gởi thư đến xin một chữ để tu. 
Ðáp: Một chữ "Tỉnh" hoặc một chữ "Xả".
18. Phật Ði Ðâu? 
Ðây là lời nói của Ngài Phó Ðại Sĩ nói về chỗ sở hành của mình: 
Tâm Phật 
Dạ dạ bảo Phật miên
Riêu riêu hoàn cộng khởi
Khởi tọa trấn tương tùy
Ngữ mặc đồng sở chỉ
Tiêm hào bất tương ly
Như thân ảnh tương tợ
Dục thức Phật khứ xứ
Chỉ giá ngữ thinh thị 
Dịch:
Ðêm đêm ôm Phật ngủ 
Ngày ngày cùng Phật dậy
Ngồi đứng hằng theo nhau
Nói nín đồng chung ở
Mãi mãi chẳng xa nhau
Như hình cùng với bóng
Muốn biết nơi Phật đi
Chỉ chỗ nói năng ấy.
"Muốn biết nơi Phật đi
Chỉ chỗ nói năng ấy". 
Ðây là chỗ Ngài Mã Tổ trả lời với Huệ Hải: 
-- Chính cái ngươi hỏi ta đó! 
Nhận ra được điều này rồi sống cùng như vậy.
19. Ðừng Kềm Tâm Và Ðoạn Vọng Tưởng
Chỉ biết vọng không theo là đủ, đừng kềm tâm và đoạn tư tưởng (vì đoạn vọng tưởng là pháp tu của Tiểu thừa). Tại sao? Vì tư tưởng như mây khói, đâu có thật mà phải đoạn trừ. Như bài kệ của Lục Tổ bác cái hiểu lầm của ông Ngọa Luân, trong Kinh Pháp Bảo Ðàn. 
Lối tu "chăm chăm nhìn vọng tưởng như mèo rình chuột" là lối dạy tu của pháp tu công án, dùng áp lực để tâm thành một khối, đủ duyên sẽ phát ngộ (bộc phát).

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhặt Lá Bồ Ðề   Tue Dec 17, 2013 6:01 pm

20. Nghiệp Và Vọng Tưởng Có Ðáng Sợ Không?

1.Sợ nghiệp.
2.Sợ vọng tưởng. 
* Nghiệp: đáng sợ với người thấy nghiệp là thật, không đáng sợ với người biết nghiệp không thật. Không đáng sợ mà làm chủ nên chuyển được nghiệp. 
* Vọng tưởng: Nếu biết thì không sợ. Ðừng sợ vọng khởi, chỉ sợ biết chậm. Nó khởi mặc khởi, mình chỉ giữ vững cái Biết, bám sát cái biết. Mình tức biết, biết tức tánh, không ngại. 
Lại thêm trong giấc ngủ có nhiều mộng mị, là do nơi nghiệp thức chủng tử khởi hiện hành. Ðây là do thiếu sự làm chủ, vì thiếu trí tuệ quán chiếu. 
Muốn tiêu trừ mộng mị, thì tăng cường độ huân quán trí tuệ. 
Hãy điềm đạm huân tu. Vọng trước là thù, sau ấy là bạn.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhặt Lá Bồ Ðề   Wed Dec 18, 2013 12:22 pm

Phần 5 
Trích Giảng Thiền Sử
 
1. Ðược Danh Và Ðược Thể

Có vị Thiền khách hỏi Thiền Sư Tánh Không:
-- Thế nào là ý Tổ Sư từ Ấn Ðộ sang? 
Tánh không đáp:
-- Như có người bị té dưới giếng sâu ngàn trượng, không có một tấc dây, đợi chừng nào người ấy lên sẽ đáp ông. 
Ngưỡng Sơn Huệ Tịch nghe nói vậy thắc mắc đem hỏi Ngài Ðam Nguyên:
-- Người ở dưới giếng làm sao lên được? 
Ðam Nguyên quở:
-- Kẻ si! Ai ở dưới giếng? 
Sau đến Qui Sơn, Huệ Tịch lại đem câu ấy hỏi:
-- Người ở dưới giếng làm sao lên được? 
Qui Sơn liền gọi:
-- Huệ Tịch! 
Huệ Tịch đáp: 
-- Dạ ! 
Qui Sơn liền bảo:
-- Ra rồi! Ra rồi! 
Ngay đó Huệ Tịch liền ngộ. Ngài nói:
-- Tôi ở chỗ Ðam Nguyên được danh, ở chỗ Qui Sơn được thể. 
Bình:
Vì sao Ngài nói ở chỗ Ðam Nguyên được danh? Vì sao ở chỗ Qui Sơn được thể. 
Bởi Ngài Ngưỡng Sơn cứ đinh ninh rằng, có người ở dưới lên, ngờ đâu bị gạt một cách đáng thương. Thấy vậy Ngài Ðam Nguyên bèn phá gỡ cho, liền bảo: - Kẻ si! Ai ở dưới giếng? Huệ Tịch liền nhận ra lỗi trước, tuy nhiên chỉ mới nhận ra cái lý không người dưới giếng mà chưa thật thấy chính mình. Ðến Qui Sơn gọi: Huệ Tịch. Ðáp: Dạ! Bảo: Ra rồi! Ra rồi! Là chỉ rõ cái thể hiện tiền. Huệ Tịch ngay đó vỡ lẽ: chính mình vậy.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhặt Lá Bồ Ðề   Thu Dec 19, 2013 8:57 am

2. Trâu Ðã Thuần Chưa?


Một hôm Tề An Công đến hỏi đạo Ngài Bạch Vân Nghĩa Ðoan. Bạch Vân hỏi:
-- Trâu đã thuần chưa? 
Công thưa:
-- Ðã thuần, đã thuần. 
Bạch Vân bèn mắng cho một trận. Công mặt đỗi sắc, đang ngồi bèn đứng dậy khoanh tay. Bạch Vân hỏi:
-- Thuần chưa? 
Công im lặng. 
Bạch Vân liền nói:
-- Trâu ở trong núi đủ nước đủ cỏ, trâu ra khỏi núi chạm Ðông chạm Tây.
Bình:
Người tu ví như người chăn trâu giữ gìn chớ cho ăn lúa mạ người. Lúc đầu nó còn hung hăng, sau lần lần thuần thục. Khi thuần buông roi buông dây không phải chăn giữ mà nó vẫn không phạm lúa người. Người giữ tâm mình đúng mức thì không bị thinh sắc (cảnh) làm chuyển lay. Ðể trắc nghiệm trình độ, Thiền Sư đã hỏi người: 
-- Trâu đã thuần chưa? 
Tức tâm ông đã yên chưa? 
Ở đây Công thưa: Ðã thuần, đã thuần (tâm tôi đã yên rồi). 
Ngay đó Thiền Sư bèn mắng cho một trận. Ðây là để nghiệm xem Công đã thiệt chưa, tâm đã thực yên chưa? Tiếc thay Công chưa được yên thật sự, nên mặt mày biến sắc, trong lòng có vẻ không vui. 
Bạch Vân gạn lại: Thuần chưa? 
Hỏi như vậy để đánh thức thực trạng trong tâm người. Nhưng Công lại cố chấp, khoanh tay im lặng. Ngài tiếp: Trâu ở núi đủ nước, đủ cỏ. Trâu ra khỏi núi chạm Ðông chạm Tây. 
Khi tâm không duyên thì yên. Có duyên đến thì bị động, mất đi cái an ổn, mà sân hận nổi dậy. Khác nào trâu ra khỏi chuồng thì báng bổ quật Ðông quật Tây. 
Việc huân tu như vậy là chưa được thuần. Khi không duyên thì ngỡ mình đã thuần. Khi duyên đến, chạm duyên mới hay mình chưa. 
Người tu, tu không chỉ ở trong yên, mà phải ở ngay trong cái động mà vẫn yên, thế mới là thực. 
Công khi không có bị mắng thì  ngỡ mình là yên. Khi bị mắng thì nổi sân hết yên. Ðây là chưa thật. Phải khi không có mắng, khi có mắng mà vẫn yên thì cái yên đó mới là thực.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Admin
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 293
Reputation : 1
Join date : 27/07/2013

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhặt Lá Bồ Ðề   Fri Dec 20, 2013 8:45 am

3. Hái Dưa Cho Người Không Vào Vườn Ăn
Thiền Sư Thanh Phẩu ở nơi hội Ngài Ðại Dương. Một hôm Sư đang trồng dưa, Ðại Dương vào vườn hỏi:
-- Dưa đã chín chưa?
Sư thưa:
-- Dưa đã chín.
Ðại Dương bảo:
-- Lựa một trái hái ăn chơi.
Sư thưa:
-- Hái cho người nào ăn?
Ðại Dương bảo:
-- Hái cho người không vào vườn ăn.
Sư thưa:
-- Chưa biết người không vào vườn có ăn không?
Ðại Dương hỏi:
-- Ông có biết y chưa?
Sư thưa:
-- Tuy nhiên không biết mà đâu được chẳng cho.
Bình:
Ðã có người hỏi xin mà chủ vườn lại hỏi: Hái cho người nào ăn?
Người chủ vườn muốn gì? Ông trả treo khó dễ. Muốn người xác định cái kẻ "biết ăn", kẻ ấy là ai?
Tại sao đương sự sờ sờ ra đấy mà hỏi quái như vậy?
Tuy vậy không thể trả lời rằng:
-- Hái cho tôi ăn.
Nói như vậy có được không?
Người xin xác nhận như vậy là đã lầm, mắc bẩy kẻ trồng dưa rồi!
Ðại Dương không thế, Ngài là người "lái buôn" sành sỏi, chỉ chó lừa người, nào ai lừa được. Ðâu dễ nửa câu lại bị mắc hợm! Ðã là kẻ "lái " chuyên nghiệp nên trả giá đúng mức để thủ lợi, phải nắm chắc việc ấy trong tay. Ngài quật ngược lại người, đoạt cơ chủ rẫy: - Hái cho người không vào vườn ăn.
Một câu trả lời ma quái, hư ảo! Người vào vườn xin dưa cho kẻ "không vào" ăn. Một chuyện lật lọng ngược lại chủ vườn trả treo. Ðã vào, mở miệng xin, sao lại để cho kẻ khác? Ngài mắc cở chăng? Không dám nhận kẻ ấy là mình? Không tự cho mình là kẻ ăn, lại đổ thừa kẻ khác!
"Kẻ không vào vườn" ấy là ai? Là kẻ nào? Có ai thấy hắn đâu! Có chăng cũng chỉ là óng ma.
Nhưng đã là một bậc đại nhân, Ngài Ðại Dương đâu thể chối quanh, nói vô nghĩa như thế.
Ngài nói một cách xác thật đó. Ðã giới thiệu một khách quí với chủ vườn. Người đó là kẻ sành sỏi biết thưởng thức hương vị dưa ngon. Kẻ đó đáng được cho ăn. Người đó là "người không vào vườn".
Nếu là kẻ khác, không phải Thanh Phẩu, người chủ vườn này, thì sẽ nhìn quanh quất kiếm người không vào vườn ấy là ai? Nhưng kẻ chủ vườn này không làm cái việc phí công vô ích ấy. Không bị lời lẽ ma mị của "ông già" lừa. Mà trái lại, còn làm khó dễ hỏi đon ren, không muốn hái dưa cho nữa là khác.
-- Chưa biết người không vào vườn có ăn không?
Một lối hỏi để giữ dưa, không muốn mất một quả. Người chủ vườn thật lợi hại, dù là tay đại bịp cũng khó mà qua. Lời nói ấy chứng tỏ người chủ dưa đã biết rõ con người "không vào vườn" kia. Lời nói ấy đã chặn trái dưa trước mắt Ðại Dương. Người chủ vườn quả thật là kẻ đáo để. Kẻ "bỏn xẻn".
Nhưng Ðại Dương là một ông lái tài giỏi, đâu để mất món hàng xét ra lợi nhuận rất cao. Ngài lật ngang lời người, hất chân kẻ chặn:
-- Ông có biết y chưa?
Ðây là lời quyết liệt, lời đoạt dưa. Lời này thật lợi hại, nếu không phải là Ðại Dương, kẻ lái buôn chuyên nghiệp thì khó lòng, chỉ ngó dưa mà trừ, hối tiếc.
Ðại Dương, một lời đã buộc người dâng hoa quả. Một xảo thuật "kiếm ăn" thật tài tình. Lời ấy đã đưa chủ vườn vào thế phải chấp nhận. Và chủ dưa đã hoan hỷ không còn trả treo nữa, mà nhất tâm tùy hỷ cúng dường lên con người "không vào vườn" ấy. Chủ dưa đã kính cẩn:
-- Tuy nhiên không biết mà đâu được chẳng cho.
Người chủ vườn thật là hiếu khách, một kẻ thạo việc trồng trọt, lại thạo của thạo người. Một chủ vườn giữ dưa trọn vẹn, dâng dưa mà không mất một trái.

-- "Người không vào vườn" ấy là ai?

_________________________________
Tri Âm Quán
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Admin
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 293
Reputation : 1
Join date : 27/07/2013

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhặt Lá Bồ Ðề   Sat Dec 21, 2013 12:19 pm

4. Có Mắt Không Mắt
Một hôm Thiền Sư Nguyệt Am đến chơi Phong Nguyệt Ðình thấy có đề bài thi:
Phong lai tùng đảnh thanh nan lập
Nguyệt đáo ba tâm đoạn dục trầm
Hội đắc phong tùng nguyên ngoại vật
Thủy tri giang nguyệt tự ngô tâm.
Ðọc xong Sư liền nói:
-- Ai làm bài thơ này là kẻ mù.
Bình:
Ðây chỉ cần sửa hai chữ thôi tức được sáng mắt, mỗi người tự sửa xem?
5. Cái Ðánh Không Can Dự Gì Ðến Việc Kia
Ngài Minh Ðạo Giả ở chùa Khai Phước đến tham vấn với Ngũ Tổ Pháp Diễn. Ngũ Tổ thấy Sư tính tình điềm đạm, thông minh, phong cách đặc biệt, thường khen ngợi hạnh Sư trước chúng. Vì thế, trong chúng có một số người đố kỵ, muốn làm nhục Sư cho bỏ ghét. Một hôm nọ rủ Sư đi dạo núi, rồi hè nhau đánh Sư một trận thương tích đầy mình. Về chùa, Sư nằm liệt luôn mấy hôm không đi thọ trai được. Sau Ngũ Tổ hỏi ra mới hay cớ sự, bèn đến thăm Sư. Ngũ Tổ bảo:
-- Ông bị bọn vô lễ làm hỗn như thế sao không mách với lão Tăng để lão Tăng đánh đuổi họ đi.
Sư thưa:
-- Con bị đánh thương tích thì con chịu, không can dự gì đến việc kia.
Tổ bảo:
-- Sức nhẫn nhục của ông còn hơn lão Tăng, về sau không ai làm gì ông nổi.
Bình:
Tuy là chốn đạo tràng, nhưng người tiểu tâm đâu phải không có. Ở đạo tràng Hoàng Mai, Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn khi trao y bát cho Lục Tổ, khiến Ngài Huệ Năng thiếu điều mất mạng nay đến đạo tràng Ngũ Tổ Pháp Diễn, chỉ vì Ngài Pháp Diễn đặc biệt chú ý đến người, khiến người bị kẻ xấu ác đánh đập tàn nhẫn. Việc đời là vậy. Trong tập thể thì có kẻ xấu người tốt là lẽ đương nhiên, như bàn tay có năm ngón, ngón dài, ngón ngắn không đều; việc ấy không phải nói. Chỉ nói đến người thọ nạn.
Ngài Minh Ðạo Giả đã bị kẻ xấu hành hung. Ngài có thân thế lớn (Hòa Thượng Pháp Diễn) thế mà không dựa vào để trả hận, ngược lại Ngài còn lặng lẽ không dỉ hơi. Bị đánh đau, liệt bại thì chịu, không kêu than, không thống trách tính toán trả hận. Một việc làm như vậy, có phải vì Ngài sợ bọn kia hăm dọa sẽ hạ sát khi Ngài thưa ra không?
Không! Chắc chắn là không. Ngài có thế lực lớn mà. Ngài một bề im lặng chịu đựng chỉ vì một dạ sống vì Phật pháp.
Lấy ân báo oán.
Tình thương xóa bỏ hận thù.
Tứ đại giả hợp
Ngũ uẩn giai không.

Nhưng Ngài không phải vì những thứ ấy mà nhẫn chịu, để trở thành con người cao thượng, một con người có dạ từ bi, mà Ngài đã thể nhận sâu sắc lẽ nhiệm mầu: "Không can dự đến việc kia!".
"Việc kia" chính là pháp mầu rứt Ngài ra khỏi vòng ân oán, mà có được sự nhẫn chịu phi thường để Ngài trở thành một kẻ có tâm hồn cao thượng, một kẻ biết đem tình thương xóa bỏ hận thù, một con người từ bi đại độ.
"Việc kia" là việc gì? Ấy là việc không là ngũ uẩn, không ngoài ngũ uẩn. Là việc mà ở trong đó không một quả đấm nào có thể đấm được.

Có thế Ngũ Tổ Pháp Diễn mới tán thán:
-- Sức nhẫn nhục của Ông còn hơn lão Tăng, về sao không ai làm gì ông nổi!

_________________________________
Tri Âm Quán
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Admin
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 293
Reputation : 1
Join date : 27/07/2013

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhặt Lá Bồ Ðề   Sun Dec 22, 2013 10:40 pm

6. Một Chiếc Áo Rách Nát
Ngài Tuyết Ðường lúc ở trong chúng ngộ đạo, Sư chỉ mặc duy nhất có một chiếc áo từ Ðông sang Hạ trải qua nhiều năm nên rận đầy cả áo mà sư không nỡ bắt. Trong chúng có người chán ghét cái hạnh nuôi rận của Sư.
Sư có ông thân làm quan, khi ấy đổi đến gần chỗ Sư đang ở. Một hôm, Sư đến thăm cha mẹ, nhưng lính gác thấy Sư ăn mặc dơ rách quá nên không cho vào cổng. Sư bèn cởi chiếc áo đưa cho lính nhờ đem vào trình quan. Bà mẹ nhìn biết áo của con bèn cho gọi vào. Thấy áo rách quá và đầy rận bà mẹ đem dẹp và đổi áo khác cho Sư. Sư khóc nói:
-- Là quyến thuộc ở cùng tôi đã lâu, nay chia tay lẽ đâu lại chẳng buồn.
Khi ấy bà con quyến thuộc hay tin Sư về mới hẹn hôm sau cùng đến thăm Sư. Ðêm ấy Sư lẻn trốn đi và để lại một bài kệ:
Mạc hiềm tâm tợ thiết
Tự kỷ thượng vi oan
Tảo tận môn tiền tuyết
Phương khai hỏa lý liên
Vạn ban hưu cách vấn
Nhất đẳng thị vong duyên
Cá sự tương ưng xứ
Kim Cang chủng hiện tiền.
Dịch:
Chớ trách tâm như sắt
Chính mình còn chẳng ưa
Quét sạch tuyết trước cửa
Mới nở lò sen hồng.
Muôn việc thôi chớ hỏi
Bậc nhất là quên duyên
Việc này chỗ thích hợp
Giống Kim Cang hiện tiền.
Bình:
Khi người ngộ đạo, thấu lẽ Chơn không, mọi việc quanh thân đều được xem nhẹ. Ăn mặc cơm áo đã trở thành phụ thuộc. Có gì phải nghĩ tới. Một cái áo chân thật mặc hoài không cũ, trùm hoài không rách, mang hoài không hư hoại nhầu nát. Tung ra thì khắp sum la vạn tượng, thâu lại chừng mẩy lông đầu sợi tóc. Có gì làm nhơ nó? Bất cấu bất tịnh. Có gì làm thay đổi? Bất tăng bất giảm. Có gì làm suy suyễn? Bất sinh bất diệt.
Chiếc áo như vâỵ đã khoác lên mình Sơn Tăng, thì còn chiếc áo nào đáng giá hơn nữa. Vì vậy việc áo xống chỉ là sở thuộc của Sơn Tăng. Sơn Tăng đã dùng nó, làm chủ nó. Chứ nó không còn làm chủ, sai khiến Sơn Tăng nữa. Mặc và mặc mãi, mặc đến khi nào không mặc được nữa thì quăng, khỏi chăm sóc không luyến tiếc.
Ðể nói lên việc làm chủ sự ăn mặc khi thấy mình có chiếc áo bằng trân bảo lộng lẫy. Ngài Tuyết Ðường đã mặc hoài một chiếc áo suốt bao năm. Việc ấy đã làm ngứa mắt người có cái nhìn chỉ biết trên cái ăn cái mặc. Ðáng tiếc thay cho người! Người trong tùng lâm còn như vậy, huống là kẻ thế tục không hiểu đạo lý gì!
Từ một chiếc áo như vậy, đã hóa hiện biết bao chúng sanh. Loại rận mặc tình nẩy nở. Dù có bị cắn rứt mà Ngài vẫn xem như bạn. Mỗi cắn rứt ngoài da thịt có là bao. Ngại rằng nỗi cắn rứt trong tim trong não kia. Ngài không có nỗi cắn rứt trong tim não thì coi việc cắn rứt trên da thịt có nghĩa gì. Nó hút máu Ngài là hút dòng máu cam lồ. Với dòng máu ấy chúng sẽ "tu" theo Ngài, sẽ là con cái Ngài. Cũng như con cái nút sữa mẹ vậy.
Vì vậy, khi các "lũ con" của Ngài bắt buộc phải xa lìa Ngài bởi bàn tay người mẹ thì Ngài không làm sao mà không xót xa được.
Sự thể hiện đời sống đạo của Ngài tuy cục bộ, nhưng rất gần gũi và xác thật với sinh hoạt thường nhật của cuộc sống.
Con người mãi bận rộn, cũng chỉ vì duyên. Duyên mà không dứt chỉ phí công tu. Người muốn rảnh rang thanh sạch phải lo quét dọn tuyết ngõ nhà mình. Duyên duyên phải cắt đứt. Ấy là yếu chỉ: Vạn duyên buông hết.

Duyên trong duyên ngoài đều bặt dứt, đây là chỗ giống Kim Cang nẩy nở.

_________________________________
Tri Âm Quán
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Admin
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 293
Reputation : 1
Join date : 27/07/2013

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhặt Lá Bồ Ðề   Tue Dec 24, 2013 3:56 pm

7. Thành Cái Gì?


Vua Hiến Tông nhà Tống hỏi Thiền sư Phật Chiếu:
-- Ðức Thế Tôn vào núi Tuyết, sau thành đạo, hỏi thành cái gì?
Phật Chiếu đáp:
-- Dám hỏi bệ hạ đã quên.
Vua rất hài lòng.
(Vua Hiến Tông đã từng hỏi câu này với nhiều vị Thiền Sư khác, nhưng câu đáp không được vua hài lòng lắm).
Bình:
Ðức Thế Tôn thành đạo là thành cái gì? Ðây là một vấn đề trọng đại. Vua Hiến Tông đã từng hỏi câu này với nhiều Thiền Sư. Thành cái gì? Ðã bao người học đạo thắc mắc đều này. Người ta nói "thành" tức chứng Bồ Ðề đạt cõi Niết Bàn. Nhưng ở đây Ngài Phật Chiếu trả lời đơn giản:
-- Dám bảo bệ hạ đã quên.
"Có" mà không nhớ ra, tức đã "quên".
Ngài Phật Chiếu rất khéo, vua hỏi việc Phật mà Ngài từ Phật xoay lại vua, vì vua mà chỉ thẳng. Khác nào Ðạt Ma Tổ Sư vì vua Lương mà chỉ cho. Ngài đã mạnh dạn nói: Bệ hạ đã quên.
"Quên" cái gì?
-- Quên cái đã có.
Ở vị Bệ hạ "có" cái gì?
-- Có cái mà nhà vua đã quên.
Cái "có" là cái quí giá tột bực ở một ông vua, ở một người. Nhưng rất tiếc ở nhà vua và con người đều quên.
Ðức Phật đã thành đạo, nay Ngài từ bi chỉ thẳng chỗ "thành" ấy. Ðó là chỗ mà bệ hạ đã quên, mà bao người đã quên. Thành cái "có" mà đã "quên".
Thật đơn giản biết bao?
Nhà vua nghe qua mà bừng tỉnh. Tỉnh cái mình đã "có".

Vua có, người có chăng? -- Có.

_________________________________
Tri Âm Quán
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Admin
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 293
Reputation : 1
Join date : 27/07/2013

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhặt Lá Bồ Ðề   Wed Dec 25, 2013 12:26 pm

8. Một Tiếng Nạt Ðáng Giá Ngàn Vàng


Thiền Sư Phần ở Kiếm Môn. Thuở nhỏ, một hôm Sư bất thần hiểu đạo rồi tự cạo tóc, nhưng vẫn thường chạy rong chơi trong xóm làng, nên thiên hạ gọi Sư là "Tăng điên".
Sau Sư xuất gia tham thiền và đến nương Ngài Ðại Huệ. Ðại Huệ nghe nói "Gã phong điên" nên không cho Sư nhập chúng. Sư đành phải ra đi, đến sông Triết Giang, đứng bên bờ trạm, Sư tủi thân khóc than:
-- Ta đã lang thang bao năm trời nay định nương Ngài Ðại Huệ mà cũng không được chấp nhận, chắc tại kiếp trước ta không có gieo hạt giống Bát Nhã.
Trong khi đang khóc sướt mướt thì nghe lính nạt:
-- Tránh ra, quan Thị Lang đến!
Sư bỗng nhiên đại ngộ liền làm bài kệ:
Cơ niên cá sự quảy hung hoài
Vấn tận chư phương nhẫn bất khai
Kim nhật can trường hốt nhiên phá
Nhất thinh giang thượng Thị Lang lai.
Dịch:
Bao năm việc ấy chứa trong lòng
Hỏi hết các nơi mắt chẳng khai
Nay bỗng ruột gan tan vỡ hết
Trên sông một tiếng Thị Lang lai.
Bình:
Một con người đã thao thức trên lối về đại đạo. Nhưng hình tung kỳ quái, khiến người ruồng rẫy không chấp nhận. Hận mình một nỗi vô duyên, kém mầm Bát Nhã. Thề một quyết hy sinh thân mạng, dứt đi nghiệp chướng oan khiên. Mong sao đời khác tiếp nối trọn lành, không oan oan, ương ương như thuở này nữa.
Thời cơ đã đến. Lính mở đường quát nạt mở lối cho quan Thị Lang tiến bước. Ðang khi đau khổ bời bời, ruột gan rối loạn, nỗi lòng rã tan. Giữa cái lúc chỉ còn có ta và ta, niềm băng giá phủ lấp cõi hồn thì tiếng quân thét.

Ngay đó băng tan giá rã, nỗi khổ cuốn trôi. Phăng phăng một mối. Tâm hồn rỗng rang nhẹ hửng. Ngài đã sống lại từ bên kia cõi chết.

_________________________________
Tri Âm Quán
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Admin
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 293
Reputation : 1
Join date : 27/07/2013

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhặt Lá Bồ Ðề   Sat Dec 28, 2013 4:49 pm

9. Buông Xuống Ði!



Nghiêm Vương Tôn Giả hiệu Thiện Tín là đệ tử của Triệu Châu. Một hôm Sư hỏi Triệu Châu:
-- Một vật chẳng đem đến thì thế nào?
Triệu Châu bảo:
-- Buông xuống đi!
Sư thưa:
-- Ðã là một vật chẳng đem đến buông cái gì?
Triệu Châu bảo:
-- Buông chẳng được thì nên gánh đi.
Qua chuyện này, Ngài Huệ Nam có làm bài tụng:
Nhất vật bất tương lai
Kiên đầu đảm bất khởi
Ngôn hạ hốt tri phi
Tâm trung vô hạn hỷ
Ðộc ác ký vong hoài
Xà hổ vi tri kỷ
Quang âm cư bách niên
Thanh phong du vị dĩ.
Dịch:
Một vật chẳng đem đến
Trên vai gánh chẳng kham
Qua lời chợt biết lối
Trong tâm vui vô vàn
Lòng quên các độc ác
Cọp rắn làm bạn mình
Thời gian trăm năm lẻ
Gió mát vẫn còn nguyên.
Bình:
Ngài Huệ Nam tuy là người sau, cách nhiều đời mà vẫn tương thông người trước. Ngài đã biết rõ chỗ vì người của Triệu Châu. Kẻ đến hỏi đã mang gông mà còn quảy môi lưỡi. Tiếc thay đương sự chẳng nhận ra. Ngài Huệ Nam qua lời chợt biết lỗi. Lỗi tại chỗ nào?
-- Buông!
Lòng Ngài Huệ Nam thư thái nhẹ nhàng. Ngài đã quên các loài độc ác, cùng cọp rắn làm bạn mình. Sao kỳ vậy?
Người đã thôi rồi đa mang nghiệp chướng ẩn chốn cùng cốc sơn lâm mà làm bạn với thú rừng. Ngày qua tháng lại thong thả huân tu.
Dù thời gian trên thế kỷ, giữa mình và người xưa, Ngài vẫn thấy lời kia là làn gió mát. Lời ấy vẫn còn nguyên. Vẫn rõ ràng giữa hoa ngàn cỏ dại.

Lời gì? -- Buông!

_________________________________
Tri Âm Quán
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Admin
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 293
Reputation : 1
Join date : 27/07/2013

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhặt Lá Bồ Ðề   Sun Dec 29, 2013 12:07 pm

10. Ðạo Tại Hành Ðộng
Cư Sĩ Quách Ðạo Nhơn chuyên làm nghề thợ rèn. Một hôm ông đến chùa Cảnh Ðức tham cứu với Thiền Sư Trung. Trung bảo:
-- Ông bỏ hết những cái nặng đi rồi xoay lại ông mà tham cứu thì việc gì cũng xong.
Sau đó một thời gian, ông trở lại gặp Thiền Sư Trung. Trung bảo:
-- Thiện ác như mây nổi, sanh diệt không chỗ nơi.
Ông nghe xong liền đại ngộ. Sau đó ông hay nói những lời lạ. Trước khi chết ông đi giã từ bà con, bè bạn xong về nhà làm một bài kệ để lại rồi ngồi kiết già mà tịch.
Lục thập tam niên đả thiết
Nhật dạ phiến bành bất kiệt
Kim triêu phóng hạ thiết trùy
Hồng lô biến thành bạch tuyết.
Dịch:
Sáu mươi ba năm đập sắt
Ngày đêm quạt lửa chẳng thôi
Hôm nay chùy sắt buông rồi
Lò hồng biến thành tuyết trắng.
Bình:
Nngười Cư Sĩ hành nghề thợ rèn, vậy mà nghiệp chướng nhẹ. Một phen hỏi đạo liền chợt tỉnh, quẳng hết sắt chùy ống bể. Một phen tắt ngún lò hồng, ngay đó trở thành tuyết trắng.

Thật một kẻ phi thường. Việc kiến đạo giải thoát đâu phải chỉ dành cho kẻ trí thức đạo gia. Một tay thợ rèn, khi quăng búa tắt lò thì liền đó bể lửa hóa thanh lương, rảnh tay dạo khúc vô sanh.

_________________________________
Tri Âm Quán
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Admin
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 293
Reputation : 1
Join date : 27/07/2013

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhặt Lá Bồ Ðề   Mon Dec 30, 2013 10:49 pm

11. Tỉnh Giác Là Ðạo
Thiền Sư Tư Nghiệp trước khi xuất gia làm nghề đồ tể. Một hôm đang thọc huyết heo bổng chợt tỉnh liền đi xuất gia.
Ngài có làm bài kệ:
Tạc nhật Dạ Xoa tâm
Kim triêu Bồ Tát diện
Bồ Tát dữ Dạ Xoa
Bất cách nhất điều tuyến.
Dịch:
Hôm qua tâm Dạ Xoa
Sáng nay mặt Bồ Tát
Bồ Tát cùng Dạ Xoa
Chẳng cách một sợi tóc.
Bình:
Một con người bị miệt thị là kẻ đồ tể. Thế mà ngay khi xuống tay thọc huyết heo, thì liền chợt tỉnh. Người đồ tể hôm nay khác nào người đồ tể thuở trước: Ðồ tể Quảng Ngạch. Phóng hạ đồ đao lập địa thành Phật (Quăng dao mổ heo, ngay đó thành Phật).
Xưa nay chỉ một tâm. Xưa nay chỉ một hành động. Kẻ xưa và người nay không khác. Người bên cạnh Phật một thuở, người cách Phật nghìn năm vẫn không khác. Tâm và hạnh giống nhau, người nay vẫn đồng xưa. Chánh pháp, mạt pháp nào có quan hệ. Chánh mạt chỉ ở tâm này.

Làm sao dựng lập thời gian trên một tâm mê hay tâm giác? Giác mê, mê giác bao nhiêu mặt, cách một thời gian nào? Mặt mũi Dạ Xoa và Bồ Tát, chỗ khác nhau được xác định bởi ranh vức nào? Ai biết rằng, chính đây, ngay đây.

_________________________________
Tri Âm Quán
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Admin
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 293
Reputation : 1
Join date : 27/07/2013

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhặt Lá Bồ Ðề   Wed Jan 01, 2014 12:38 pm

12. Nghịch Hạnh
Thượng Tọa Pháp Minh là cháu trong tông Vân Môn. Sau khi ngộ đạo, Ngài về quê và chuyên đi tụng đám, gặp ai mời uống rượu ăn thịt thì xáp vô nhậu đến say mèm, còn ai mời ăn chay thì nhất định từ chối.
Như thế trải qua mười mấy năm. Một hôm Ngài bảo trong chúng:
-- Mai ta tịch đây!
Chúng không ai tin cả. Sáng hôm sau Ngài la to:
-- Ta đi đây, hãy đến nghe ta nói kệ:
Bình sanh túy lúy điên quyết
Túy lúy khước hữu phân biệt
Kim triêu tửu tỉnh hà xứ
Dương liễu ngạn, hiểu phong tàn nguyệt.
Dịch:
Bình sanh trong say té ngã
Trong say lại có phân biệt
Sáng nay tỉnh rượu đi đâu
Bờ dương liễu, trăng tàn gió sớm.
Ngài nói kệ xong liền tịch.
Bình:
Một con người say khướt đã bao nhiêu năm, công hạnh theo thông thường không có. Một người tu như vậy thật lạ. Vậy mà trước phút ra đi vĩnh viễn khỏi cuộc đời lại hẹn được ngày giờ, lại nói lên điều uẩn áo. Tâm hạnh Thiền Sư thật khó lường.
Phải nói sao cho phải? Rằng say phải hay tỉnh phải? Thế nào là phải?
Nhìn trên hiện tượng quyết đoán bản chất, đâu là chân lý?
Người như vậy còn say còn tỉnh nữa sao?
Phải nói với Ngài thế nào cho phải? Chỗ về của Ngài là đâu?

-- Bờ dương liễu, trăng tàn gió sớm.

_________________________________
Tri Âm Quán
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Admin
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 293
Reputation : 1
Join date : 27/07/2013

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhặt Lá Bồ Ðề   Sun Jan 05, 2014 10:53 pm

13. Hạnh Kỳ Ðặc
Thiền Sư Tu Diễn ở đời Minh, sau khi ngộ đạo ở Thạch Môn, Ngài về trụ tại chùa Ðông Sơn, chuyên tu hạnh đầu đà. Ðêm nào Sư cũng cởi trần để bố thí cho muỗi, có người thấy thế đem quần áo cúng cho Sư, Sư lại đem cho người khác. Như thế trải qua hơn bốn mươi năm, Sư không hề tắm rửa.
Khi tịch Sư ngồi kiết già, làm kệ xong rồi an nhiên thị tịch, đệ tử đem nhập tháp. Một thời gian sau mở cửa tháp ra thấy Sư vẫn ngồi yên như trước.
Tứ thập niên lai thường tiễn túc
Bất thể đầu hề bất tháo dục
Quận quan vị ngã hoán y sam
Chỉ khủng bình sanh nguyện bất túc.
Dịch:
Bốn chục năm liền thường cởi trống
Ðầu chẳng gội chừ thân chẳng tắm
Quận quan vì ngã đổi chiếc y
Chỉ ngại bình sanh nguyện chẳng đủ.
Bình:
Hạnh đầu đà cần khổ nhọc xác thân. Người tu cởi áo phơi mình hiến muỗi xơi. Suốt mấy mươi năm liền như vậy, quả là một con người phi thường. Một việc làm không mấy ai làm được.
Do định lực, do trí lực, do nguyện lực, do gì mà Ngài được như vậy? Việc làm của Ngài thật khó nói. Ngài đâu không tham lý sự? Ngài là kẻ ngộ đạo kia mà. Thì việc làm của Ngài đâu phải là mù quáng. Ngài làm như vậy có mục đích gì, và đã được lợi ích như thế nào? Việc này thật là bí mật. Không thể nói có làm như vậy mới gọi là tu (mục đích), và làm như vậy mới được an nhiên thị tịch (lợi ích), không thể y cứ như vậy. Vì với các vị khác thì sao?
Và dù sao đi nữa, thì một sự thật vẫn hiển nhiên, vẫn sờ sờ ra đó. Cho đến sau khi tịch một thời gian, Sư vẫn ngồi đó.

Trí thì không khác, hạnh thật khó lường. Trí hạnh không hai, diệu dụng bất tư nghì.

_________________________________
Tri Âm Quán
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Admin
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 293
Reputation : 1
Join date : 27/07/2013

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhặt Lá Bồ Ðề   Mon Jan 06, 2014 11:51 am

14. Ông Là Huệ Siêu
Một Thiền khách tên Huệ Siêu, hỏi Thiền Sư Pháp Nhãn:
-- Thế nào là Phật?
Pháp Nhãn đáp:
-- Ông là Huệ Siêu.
Huệ Siêu nghe xong liền ngộ đạo.
Bình:
Một lời chỉ thẳng đúng đích danh.

Lột mặt nạ chơn nhơn rồi.

_________________________________
Tri Âm Quán
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhặt Lá Bồ Ðề   Wed Jan 08, 2014 11:47 am

15. Ba Cân Gai
Một Thiền khách hỏi Ngài Ðộng Sơn Thủ Sơ:
-- Thế nào là Phật?
Ðộng Sơn nói:
-- Ba cân gai.
 
Bình:
Chơn nhơn hiện tiền.
16. Thế Nào Là Phật
Hòa Thượng Ðã Ðịa bình sinh ai đến hỏi đạo, Ngài cũng lấy gậy đập xuống đất. Một hôm có vị Thiền khách lén dấu gậy rồi hỏi Ngài:
-- Thế nào là Phật?
Ngài quơ tay tìm gậy nhưng không có, liền há họng to.
Bình:
Muốn thấy mặt hồ phẳng, trước khi cá ăn móng.
17. Chỗ Nào Không Phải Là Phật?
Nam Tuyền, Qui Tông và Ma Cốc đi tham vấn Quốc Sư Huệ Trung, giữa đường Nam Tuyền vẽ một vòng tròn nói:
-- Nói được thì đi, không nói được thì về.
Qui Tông liền vào trong vòng tròn ngồi kiết già, Ma Cốc giả làm người nữ quỳ xuống đảnh lễ.
Nam Tuyền nói:
-- Thôi!
Xong cả ba đi về.
Bình:
Ðêm rằm lễ sám hối
Trăng rằm sáng vằng vặc
Phật ngự trên tòa sen
Phật tử lễ sám hối
Công đức được vẹn toàn.
18. Khuôn Thước Người Xưa
Ngũ Tổ Pháp Diễn dạy Ngài Phật Nhãn khi đi trụ trì:
1. Có phước không nên hưởng hết, hưởng hết thì họa sẽ đến.
2. Có thế lực không nên dùng hết, dùng hết thì sẽ bị khinh lờn.
3. Ngôn ngữ không nên nói hết, nói hết thì cơ chẳng mật.
4. Quy củ không nên hành hết, hành hết thì chúng không ở được.
(Phải khéo linh động không nên quá chấp theo quy luật).
Bình:

Người đi trụ trì nên nhớ lời dặn này.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhặt Lá Bồ Ðề   Sat Jan 11, 2014 6:00 pm

19. Ðồng Hay Khác
Một Thiền khách hỏi Thiền Sư Ba Lăng:
-- Tổ ý, giáo ý đồng hay biệt?
Ba Lăng đáp:
-- Gà lạnh lên cây, vịt lạnh xuống nước.
Về sau Ngài Bạch Vân Nghĩa Ðoan phê bình lời đáp này, nói rằng Ba Lăng chỉ nói được năm phần, theo Ngài sẽ đáp:
Cúc thủy nguyệt tại thủ
Lộng hoa hương mãn y.
Dịch:
Vốc nước trăng trong tay
Ðùa hoa hương đầy áo.
Sau Ngài Trung Nguyên lại nói:
-- Nghĩa Ðoan cũng chỉ nói được tám phần, theo Ngài thì sẽ đáp:
-- Nhơn ngã vô minh xâu một chùm.
Bình:
Tổ ý, giáo ý đồng hay biệt? Ý Tổ, ý Kinh đồng hay khác?
-- Gà lạnh lên cây, vịt lạnh xuống nước. Vịt và gà khác loài. Vịt không là gà, gà không là vịt. Mỗi thứ giữ phận mình. Gà lạnh lên cây, vịt lạnh xuống nước. Cái phận ấy nhằm ổn việc mình.
Người Việt Nam đói ăn cơm. Người Tây đói ăn bánh mì.
Ngài Ba Lăng đã nói gà nói vịt như vậy không lầm. Ngài Nghĩa Ðoan lại muốn làm khéo, đè người xưa, giành phần mình, nói:
Vốc nước trăng trong tay
Ðùa hoa hương đầy áo.
Lời này bóng bẩy thi vị thay! Nước trăng trong tay, nắm mà không dính. Hương hoa đầy áo, vương mà không nhiễm. Cũng là những muốn làm thơm làm đẹp.
Và rồi, cũng bị nghiệp quả. Ngài Nghĩa Ðoan bị Ngài Trung Nguyên đè xuống, nói:
-- Nhơn ngã vô minh xâu một chùm.

Loay hoay, đây cũng chỉ là việc nói trăng nói cuội. Cuội và cây đa vậy thôi.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5961
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhặt Lá Bồ Ðề   Sun Jan 12, 2014 10:23 am

20. Quý Ở Chỗ Thực Hành
Thi hào Bạch Cư Dị đến hỏi đạo Thiền Sư Ô Sào:
-- Thế nào là căn bản Phật pháp?
Ô Sào đáp:
-- Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành.
Bạch Cư Dị thưa:
-- Câu này con nít ba tuổi cũng thuộc.
Ô Sào bảo:
-- Con nít ba tuổi cũng thuộc, nhưng ông già tám mươi tuổi làm cũng không xong.
Bình:
"Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành". Các ác chớ làm, điều lành vâng làm. Làm lành lánh dữ. Lời này quả trẻ con ba tuổi cũng thuộc. Nhưng mà lời này Ông già tám mươi không làm nổi. Bảy mươi chín năm tạo ác, đến năm tám mươi mới làm thiện, liệu có trừ bảy mươi chín năm tạo ác kia được không?

Việc tu quý ở chỗ thực hành, hành được ít cũng hơn nói nhiều mà không làm, nên cổ Ðức nói: "Nói một trượng không bằng làm một thước, nói một thước không bằng làm một tấc".

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Nhặt Lá Bồ Ðề   

Về Đầu Trang Go down
 
Nhặt Lá Bồ Ðề
Về Đầu Trang 
Trang 2 trong tổng số 6 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6  Next

Permissions in this forum:Bạn được quyền trả lời bài viết
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang :: Căn Bản Phật Pháp-
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề nàyChuyển đến