Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang
Chào bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang!
Diễn Đàn là nơi giao lưu kết bạn, sưu tầm, lưu trữ, học hỏi và chia sẻ kiến thức.
Để cùng nhau tiến bộ trên con đường hướng thiện.
Chúc bạn sức khỏe và có nhiều thành công mới trong cuộc sống!

Om mani pad me hum
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang

Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho; một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tạo lấy.
 
Trang ChínhTrang Chính    CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Chào mừng các bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang! Chúc các bạn sức khỏe và thành đạt! Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang.

Share | 
 

 ***Lã Bất Vi***

Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2
Tác giảThông điệp
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5933
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Lã Bất Vi***   Thu Feb 06, 2014 5:37 pm

Hàn Diệu Kì
Lã Bất Vi
PHẦN THỨ HAI: QUYỀN MƯU
Chương 12
Giáo đâm thẳng - Tên bắn lén
Dị Nhân - Lã Bất Vi - Tư Mã Không, ba người tờ mờ sáng thì đến Hàm Dương.
Ăn sương nằm đất, giãi gió dầm mưa mấy ngày nay đã kiệt hết sức lực của họ. Ba con người, anh nhìn tôi - tôi nhìn anh, đều như nhau cả, đầu óc rối bù, quần áo nhem nhuốc. Tư Không Mã tự giễu cười nói: "Bộ dạng của chúng ta thế này đến cung Chương Đài vẫn chưa đủ để làm cho Hoàng Thượng Chiêu Tương Vương của chúng ta khiếp đến nỗi hồn bay phách lạc!"
Lúc này Lã Bất Vi cũng hứng khởi nói: "Vậy ta phải khấu đầu tạ tội, ông Thái phụ vô dụng này cũng chẳng tiếp đón điện hạ Dị Nhân tử tế đâu."
Dị Nhân cười lớn rồi nói: "Ngài hơi quá lời rồi!"
Ba người cười nói một hồi rồi sửa sang mủ áo đi về phía cổng thành. Cổng thành vừa mở chưa lâu, phía trong cổng thành vẫn chưa thấy xe ngựa qua lại - tên lính canh không để cho ba người tả tơi rũ rượi bọn họ vào thành.
Vừa thấy bị chặn lại, Dị Nhân tức tối. Trong lòng nghĩ, mấy tên tiểu tốt tép riu các người có mắt cũng như mù, chả lẽ còn nghi ngờ điện hạ Dị Nhân ta hay sao?
Nghĩ đến đó, Dị Nhân giận dữ nói: "Muốn giấy phong truyền gì? các người biết ta là ai không?"
Lã Bất Vi vội đẩy Dị Nhân về phía sau, rút giấy phong truyền của mình ra, cúi đầu khúm núm nói: "Chúng tôi là thương nhân nước Triệu, đến Hàm Dương để làm ăn một chuyến, xin đại ca trấn giữ cổng thành rộng lòng cho chúng tôi qua."
Lã Bất Vi sợ rằng Dị Nhân nói ra: "Ta là Tân Vương Tôn Dị Nhân". Tin tức này sẽ được truyền đi nhanh chóng, khắp thành Hàm Dương sẽ biết Dị Nhân trở về. Họ mới đến lần đầu, vẫn còn chưa biết trong Vương Cung có động tĩnh gì không, đừng nói là nảy sinh nhiều chuyện bất ngờ, gây nhiều phiền phức.
Tên lính trấn giữ cổng thành lật đi lật lại giấy phong truyền nhầu nát của Lã Bất Vi. Lã Bất Vi vội vàng nháy mắt Tư Không Mã một cái, Tư Không Mã hiểu ý, lấy ra một nén bạc từ trong ngực đưa cho tên lính trấn giữ cổng thành.
Tên lính nhận bạc, trả lại cho Lã Bất Vi giấy phong truyền, hất hàm để cho ba người lật đật đi vào trong cổng thành.
Mặc dù phố xá trong thành Hàm Dương vẫn còn che phủ trong sương sớm mong manh, mặc dù Dị Nhân đã xa nó bảy mùa xuân, nhưng anh vẫn còn nhớ được phố này là phố gì, ngôi lầu kia là lầu nào, anh hào hứng sôi nổi kể với Lã Bất Vi và Tư Không Mã khi anh đến đây cảnh tượng như thế nào.
Ngắm nghía một lượt cảnh phố lờ mờ, bỗng nhiên Dị Nhân hỏi Lã Bất Vi: "Thái phụ, ngài nói xem ta đi bái kiến ông nội Chiêu Tương Vương trước hay là đi gặp mẫu thân Hạ Phi trước?"
Lã Bất Vi nói như đã có dự tính sẵn: "Điện hạ, theo ý của tiểu nhân, người mà ta phải bái kiến trước tiên là Hoa Dương phu nhân."
Dị Nhân nghi ngờ hỏi: "Trên có Gia gia Chiêu Tiên Vương. Quân Vương của một nước, sau có mẫu thân Hạ Phi sinh ra ta. Sao phải đi bái kiến Hoa Dương phu nhân!"
Lã Bất Vi nói: "Điện hạ, tôi là một thương nhân, xin cho tôi phép so sánh trong kinh doanh. Ở đây có ba mối làm ăn, một mối có thể thu về ngàn lạng bạc, một mối có thể thu về trăm lạng bạc, còn một mối chẳng có lợi gì. Vậy Điện hạ sẽ làm ăn mối nào trước?"
Dị Nhân nói: "Chẳng cần so sánh cũng biết, đương nhiên phải buôn bán mối thu về ngàn lạng trước, mới tiếp đến là thu về trăm lạng, còn vất bỏ cái mối chẳng có lợi lộc gì."
Lã Bất Vi nói tiếp: "Nghe thế có lý. Hoa Dương phu nhân nói một lời là định đặt trời đất, lập Điện hạ lên làm vua. Từ nay về sau Điện hạ có thể thuận lợi trở thành quốc quân hay không! Hoa Dương phu nhân là người có quyến thế. Đó chính là mối làm ăn kiếm được ngàn lạng vàng đấy!"
Dị Nhân nói: "Được sự chỉ bảo của Thái phụ, làm cho ta tỉnh ngộ ra, thật sự cần phải đi bái kiến Hoa Dương phu nhân trước. Vậy thì chúng ta hãy đến ngay cấm cung Loan Phượng Các của Hoa Dương phu nhân thôi!"
Lã Bất Vi ngăn lại nói: "Đến trước không có nghĩa là lúc này."
Dị Nhân: "Vậy..."
Lã Bất Vi nói: "Bây giờ chúng ta cần phải đến Phủ đệ của Hoa Dương Quân thăm dò. Điện hạ là nghĩa tử và là Hạ thần của Hoa Dương phu nhân, cần phải ăn mặc cho đẹp, mang theo lễ gặp mặt mới không mang tiếng về lễ nghĩa mẫu tử và quân thần, đồng thời đến chỗ Hoa Dương Quân nắm bắt được đầu mối rõ ràng, tình hình chính trị, để Điện hạ từ nay về sau hành sự tránh được sự lỗ mãng hoang đường."
Dị Nhân gật đầu cho thế là phải.
Về việc Dị Nhân và Lã Bất Vi trải qua gian khổ tìm đến Hoa Dương Quân vui ra mặt, vội vàng chuẩn bị rượu làm lễ tẩy trần cho Thái tử và Thái phụ.
Trong bữa tiệc, Lã Bất Vi nói ra ý muốn đến Phủ Đệ của Hoa Dương phu nhân trước, Hoa Dương Quân không ngớt lời thán phục mưu tinh sâu xa của Lã Bất Vi, liền hỏi: "Thái tử và Thái phụ từ Hàm Đan trở về trong công việc làm ăn không biết có đầy đủ hay không, cần bao nhiêu lạng bạc để chi trả mặc dù không dám nói ra."
Lã Bất Vi cười nói: "Cám ơn tấm lòng nghĩa của Hoa Dương Quân. Việc này có lẽ không cần làm phiền đến Hoa Dương Quân, tôi đã chuyển mấy cửa hiệu ở Hàm Đan đến Hàm Dương rồi, không dám nói là buôn bán thịnh vượng, của cải dư thừa nhưng cũng có thể thu lợi, có một số vốn nhỏ. Phụng hiếu cho sự chi trả của Hoa Dương phu nhân cũng không đến nỗi nào."
Hoa Dương phu nhân ngạc nhiên hỏi: "Sao cơ, Thái phụ đã chuyển cửa hiệu về trước rồi phải không?"
Lã Bất Vi trả lời: "Đúng vậy."
Hoa Dương Quân nói: "Là những cửa hiệu gì?" Lã Bất Vi nói: "Lời cửa miệng, vẫn là buôn bán châu báu. Ngay đến tên cửa hiệu, muốn cần đến chút tiếng tăm của Hoa Dương Quân, gỉa dụ như "Long Xương Quảng" chẳng hạn."
Hoa Dương Quân nói: "Lấy tên Long Xương Quảng, nhưng trong thành Hàm Dương tiếng tăm đã lâu, bản nhân còn mấy lần gặp mặt Dương Tử chủ cửa hiệu."
Lã Bất Vi nói: "Dương Tử là một người thông minh năng nổ trong những môn khách của tôi."
Hoa Dương Quân: "Trời đất! sao Thái phụ không sớm nói ra? Mau mời Dương Tử đến, chủ tớ các ngài cũng lâu ngày chưa được gặp lại."
Một lát sau Dương Tử đến, thăm hỏi cặn kẽ đối với Dị Nhân và Lã Bất Vi.
Sau khi cơm no rượu say, Hoa Dương Quân từ sớm đã chuẩn bị xong nước tắm hương thơm, mời Dị Nhân - Lã Bất Vi - Tư Không Mã tắm rửa.
Trong phòng tắm hơi nước bốc ngùn ngụt, ba người bọ họn tuy rằng không một mảnh vải che thân, nhưng đều được khí hơi nước che lấp, hai bên cũng chẳng nhìn rõ nhau. Hơi nước mờ mịt không chỉ làm da thịt của Lã Bất Vi dễ chịu mà còn làm cho tư duy của ông thỏai mái. Tuy ông cùng Dị Nhân trở về nước Tần, nhưng chưa hẳn đã phải là sự thành công, mục tiêu Dị Nhân làm vua Tần, ông trở thành Tướng Quốc vẫn còn cách xa vời vợi. Mỗi bước đi sau này cần phải hết sức thận trọng, không thể có một chút sơ suất nào, nếu không công lao đổ hết xuống sông xuống biển. Trước mắt thật khéo léo đi bái kiến An Quốc Quân và Hoa Dương phu nhân để cho họ càng thêm vui mừng, để củng cố và tăng thêm ấn tượng sâu sắc tốt đẹp đối với Dị Nhân và mình. Do đó Lã Bất Vi nghĩ đến việc Dị Nhân ăn mặc trang phục nào đi vào hầu An Quốc Quân và Hoa Dương phu nhân, việc đó thể hiện được Lã Bất Vi là một điều tinh tế của một thương nhân. Ông nghĩ, ăn mặc mũ áo cũ kỹ thậm chí rách nát của nước Triệu đó, dễ làm cho người ta nghĩ tới nỗi khổ sở phải chịu đựng khi tha hương nước khác, có thể gợi lên sự thông cảm và thương xót của An Quốc Quân và Hoa Dương phu nhân, ăn mặc mũ áo của nước Tần, khiến người ta cho rằng chủ tớ họ nhớ nhung quê hương đất nước, một bầu máu nóng của đứa trẻ sơ sinh, sẽ làm cho An Quốc Quân và Hoa Dương phu nhân cảm thấy lòng tận trung hổ thẹn của họ đối với nước Tần... Đúng lúc Lã Bất Vi không biết lựa chọn cách nào giữa hai cách, đột nhiên ông nghĩ đến Hoa Dương phu nhân là người nước Sở, bà hết sức yêu thích trang phục, vật phẩm, bài hát của nước Sở. Phải phải rồi! Để cho Dị Nhân cùng mình ăn mặc trang phục của nước Sở để vào hầu An Quốc Quân và Hoa Dương phu nhân thôi!
Lã Bất Vi vui mừng trước chủ ý tuyệt diệu của mình, như con giao long lộn mình trong bồn tắm phát ra tiếng nước kêu róc rách.
Dị Nhân, Lã Bất Vi, Tư Không Mã sau khi tắm rửa xong, tất cả vẻ mặt đều rạng rỡ, tinh thần đều sảng khóai. Họ sai người ra chợ mua về ba bộ quần áo thêu con phượng của nước Sở, ăn mặc chỉnh tề rồi vào hầu An Quốc Quân và Hoa Dương phu nhân, tuyệt chiêu này của Lã Bất Vi quả nhiên rất hiệu nghiệm, làm cho Hoa Dương phu nhân hết đỗi vui mừng, có những sử sách đã ghi chép tỉ mỉ tình tiết này.
Trước khi vào cung gặp Hoa Dương phu nhân ngày hôm đó, Lã Bất Vi đã sắp đặt kỹ lưỡng cho Dị Nhân, ngòai những cách thức dạy cho anh ta làm thế nào kể cho Hoa Dương mến mộ, còn có đặc ý để cho Dị Nhân mặc trang phục đang lưu hành trên đất Sở. Phục trang đất Sở thời kỳ chiến quốc có một nét đặc sắc riêng, bởi đất Sở thích hợp trồng cây đay, có lịch sử thêu dệt lâu đời, cho nên sản phẩm dệt của đất Sở tương đối đẹp, sự tinh tế của trang phục thủ công vượt trội các nơi khác. Áo đai, áo dài trở thành kiểu dáng rộng rãi nhưng thỏai mái, con gái thường kéo áo dài và con trai thường dệt áo đai rộng, đều là kiểu dáng trang phục lưu hành của nước Sở, người nước Sở phong Chúc Cách là tổ tiên, Chúc Cách là Hỏa Thần, người nước Sở xưa phần lớn đều thích màu đỏ, vua nước Sở thường mặc là "áo thêu". Người nước Sở lại tôn kính chim phượng hoàng, các đường nét được thêu trên chất liệu quần áo phần lớn là phượng hoàng, thêm lên ít hoa văn phức tạp, thành những mẫu hoa văn hình dạng quái đản. Trang phục nước Sở màu sắc đẹp vô cùng thích mắt. Cách ăn mặc cả bộ của Dị Nhân có thể gợi lên tình cảm thân thiết cho Hoa Dương phu nhân và những hồi ức tốt đẹp của bà. Quả nhiên, sự bố trí kỹ càng đó đã giành được kết quả không thể ngờ tới.
Dị Nhân và Lã Bất Vi mặc trang phục đẹp của nước Sở vừa định cất bước, Hoa Dương Quân liền sai người đến Loan Phượng Các báo trước. An Quốc Quân cùng Hoa Dương phu nhân không ngớt vui mừng. Vội ngồi ngay ngắn trên công đường đón chờ. Tiếp đến là một tiếng kêu lớn: "Tần Vương Tôn Dị Nhân và Thái phụ Lã Bất Vi tới!". An Quốc Quân và Hoa Dương phu nhân nhìn thấy hai người đàn ông mũ áo chỉnh tề, sắc mặt trang nghiêm, toàn thân đều ăn mặc trang phục nước Sở, theo đuôi nhau đi tới. Hoa Dương phu nhân chợt thấy trang phục của nước Sở, thêm phần thân thiết. Nhất thời cảm động, cũng chẳng cần để ý đến lễ nghĩa phép tắc giữa quân thần mẫu tử, bước vội xuống công đường ôm chặt lấy Dị Nhân đang lao tới, khóc không thành tiếng: "Con của ta, làm mẫu thân nhớ con đến chết!"
Dị Nhân nước mắt lưng chòng nói: "Nhi thần ở Hàm Đan cũng muôn nhớ mong da diết Phụ quân và Mẫu hậu."
Lã Bất Vi thấy thế, bà Hoa Dương phu nhân vẫn như trước đây dung nhan xinh đẹp, mà An Quốc Quân thì nay đã khác xưa, nếp nhăn già nua đầy khuôn mặt.
Nửa buổi, Dị Nhân mới rời ra khỏi lòng Hoa Dương phu nhân, làm lễ khấu kiến với An Quốc Quân. An Quốc Quân vẻ mặt phấn khởi nói: "Con của ta lớn lên thành một người tài giỏi tư thế hiên ngang, vả lại trên đường đi thuận lợi, không có gì khó khăn hiểm trở, thật là điều đáng mừng."
Dị Nhân nói: "Nhi thần có được ngày hôm nay, đều trông cậy vào sự tính toán, và bảo vệ của Thái phụ Lã Bất Vi."
An Quốc Quân nói: "Thái phụ Lã Bất Vi, ngươi có công lớn vất vả, ta nhất định sẽ trọng thưởng cho ngươi."
Lã Bất Vi cúi người đáp: "Tạ ơn An Quốc Quân."
Hoa Dương phu nhân ngắm nhìn một lượt trang phục của Dị Nhân rồi lại ngắm nhìn trang phục của Lã Bất Vi, nhìn mãi mà không thấy chán.
An Quốc Quân bông đùa nói: "Ái phi của ta, hãy cẩn thận kẻo cứ nhìn vào đó rồi không thu lại ánh mắt về được đâu!"
Hoa Dương phu nhân nói: "Con trai ta, con và Thái phụ ở Hàm Đan đã bao năm nay, vì sao toàn mặc trang phục của nước Sở?"
Dị Nhân nhìn Lã Bất Vi một lượt rồi trả lời: "Dị Nhân bất hiếu không thể ở lại Loan Minh Các hầu hạ Phụ Quân và Mẫu Hậu, trong lòng cảm thấy áy náy, bèn mua về hai bộ trang phục nước Sở để ở trong cấm cung, mỗi lần nhìn thấy, cảm thấy như được ở bên cạnh Phụ Quân và Mẫu Hậu rồi!"
Lã Bất Vi cũng đứng ở một bên liền nói: "Mỗi khi đến ngày sinh nhật của Phụ quân và Mẫu hậu, Dị Nhân đều mặc lên bộ trang phục của nước Sở, thiết đàn chúc thọ cho hai người ở trong Phủ Đệ, chúc phúc cho hai người ở tứ đường phía ngòai thành."
Nghe Dị Nhân và Lã Bất Vi nói như vậy, Hoa Dương phu nhân cảm động lệ chảy ướt đẫm gò má, nghẹn ngào khen ngợi: "Dị Nhân, tấm lòng hiếu nghĩa của con còn hơn nhiều lần con đẻ. An Quốc Quân, tiện thiếp nhận con kế nghiệp, đó là sự nhìn xa trông rộng!"
An Quốc Quân gật đầu cho là phải.
Lã Bất Vi nhân cơ hội cúi đầu làm lễ Hoa Dương phu nhân nói: "Khởi bẩm An Quốc Quân và Hoa Dương phu nhân, tiểu nhân và Thái tử điện hạ đều có một suy nghĩ, không biết có nên nói ra hay không? xin được tha tội."
Hoa Dương phu nhân nói: "Thái phụ, sau này chúng ta đều là người nhà cả, việc gì phải khách khí, cứ nói đi!"
Lã Bất Vi nói: "Điện hạ Dị Nhân muốn đổi tên thành Tứ Sở, là con của nước Sở, thứ nhất là thể hiện chữ hiếu của Thái tử, thứ hai là để kỷ niệm ngày cha mẹ con cái đoàn tụ."
Một câu nói làm cho An Quốc Quân và Hoa Dương phu nhân lòng vui như mở cờ, nói: "Ý hay, ý rất hay!"
An Quốc Quân và Hoa Dương phu nhân nói cười vui vẻ, quyết định để Dị Nhân và Lã Bất Vi tạm thời ở trong phủ trại của An Quốc Quân, đợi sau khi bẩm tấu Triệu Tương Vương sẽ xây dựng cung điện Thái tử và Phủ viện Thái phụ. Không biết ai khởi xướng lên việc Dị Nhân lấy vợ sinh con, chuyện An Quốc Quân và Hoa Dương phu nhân tìm kiếm Triệu Cơ và tiểu Doanh Chính, Dị Nhân không khỏi nghẹn ngào, lòng dạ trăm sầu.
An Quốc Quân an ủi nói: "Con trai ta không phải buồn rầu nữa, bởi cha muốn tìm cách làm cho mẹ con bình an đoàn tụ. Nếu như việc không thành, con gái trong thành Hàm Dương đều đẹp như hoa như ngọc, chọn trong số họ làm thê thiếp, làm trò tiêu khiển cho con trai ta!"
Hoa Dương phu nhân nói: "Thời gian không còn sớm nữa, Dị Nhân mau đi khấu kiến Hạ Phi, mẹ đã sinh ra con."
Buổi chiều một ngày mùa thu, mặt trời yếu ớt, tia nắng mệt mỏi từng lúc từng lúc chiếu trên những hoa tàn tạ, cánh hoa rơi khắp mặt đất, giống như cõi mộng tan vỡ mà khiếp sợ.
Mờ sáng hôm nay, Triệu Cơ uể ỏai nằm trên chiếc chõng, nhìn chiếc chăn bên cạnh bà trống trải còn ở đó, biết rằng Dị Nhân đêm qua chưa trở về. Lòng bà vừa oán trách vừa lo lắng: "Tiệc tùng gì lung tung ở đâu rồi."
Sau khi dậy, cũng như mỗi sáng theo trình tự bà đang trang điểm, chải chuốt khuôn mặt của mình, Lận Bửu bí mật chạy vào ghé sát tai bà nói: "Lã Bất Vi bảo tôi đến báo với Thái tử phi, ông cùng Điện hạ Dị Nhân đêm qua đã trốn khỏi Hàm Đan trở về nước Tần rồi. Bảo bà trốn đi, bảo trọng lấy mình, có cơ hội họ sẽ cứu mẹ con bà!"
Lận Bửu sau khi nói xong, nhìn rõ trên khuôn mặt của Triệu Cơ hiện ra sắc mặt nhợt nhạt, sau đó lẩm bẩm: "Các ngươi.." tiếp theo là "bọn đàn ông lòng lang dạ sói này.." Chưa dứt lời, Lận Bửu vội vàng bịt miệng bà nói: "Hiện giờ quân thần của nước Triệu vẫn chưa biết điện hạ Dị Nhân và Lã Bất Vi bỏ trốn, Công Tôn Càn mất cảnh giác, bà cùng với Chu Kiệm nhân cơ hội này mà trốn đi. Nếu như bà to tiếng như vậy việc sẽ bại lộ, lập tức Bình Nguyên Mã sẽ bắt mẹ con bà và Chu Kiệm, trở thành con tin của những con tin, đến lúc đó dù có cánh mọi người cũng khó lòng thóat được."
Triệu phi thấy lời nói của Lận Bửu có lý, bèn vuốt nước mắt. Sau khi Lận Bửu đi rồi, bà vội tìm đến Chu Kiệm bàn bạc tìm cách. Chu Kiệm nói với Triệu phi: "Đợi lát nữa tôi và Công Tôn Càn chơi cờ, bà nhân cơ hội đó mà dẫn tiểu Doanh Chính trốn chạy, thay họ dấu tên trú ngụ ở nhà dân thường, sau đó tìm cơ hội trốn khỏi Hàm Đan."
Triệu phi nói: "Tôi thay quần áo, đeo một chiếc đai."
Chu Kiệm nói: "Không được, làm như vậy Công Tôn Càn nhìn thấy sẽ nghi ngờ. Bà và tiểu Doanh Chính cứ ăn mặc thế này, đợi tôi và Công Tôn Càn đặt bàn cờ ở trên bàn, hai người sẽ lập tức đi ngay."
Triệu Phi nói: "Vậy thì..."
Chu Kiệm nói: "Bà làm Thái tử phi, tiểu Doanh Chính là Công tử, tính mệnh hai người ngàn vàng, tiền đồ còn sáng lạng, bất kể thế nào cũng phải trốn về Hàm Dương."
Triệu phi nhận thấy trong mấy tiếng gọi đầu tiên của Chu Kiệm, Công Tôn Càn tỏ ra phớt lờ, chẳng chút mảy may. Triệu phi phán đoán mấy tiếng gọi đó đủ để thấy được cự ly giữa Chu Kiệm và Công Tôn Càn rồi. Phải chăng Công Tôn Càn đã phát giác ra điều gì.
Tiếp đó một tiếng gọi nữa của Chu Kiệm: "Đại ca Công Tôn Càn lại đây chơi cờ với tôi nào!" Công Tôn Càn mới chậm chạp nhúc nhích tấm thân béo tròn đi về phía đó.
Triệu phi nhìn đích xác Công Tôn Càn đã ngồi ngay trước bàn cờ, mới ôm tiểu Doanh Chính vụt chạy qua như lá rơi trong gió giật.
Đi trên ngõ phố người ngựa qua lại nhộn nhịp, Triệu phi không ngớt tự khuyên mình "không nên sợ hãi luống cống, không nên sợ hãi luống cuống!" Cho dù như thế, nhưng bà vẫn cảm thấy tâm can hồi hộp, có lúc như con chim bị dính tên, cuống cuồng lật đật chạy về phía trước.
Công Tôn Càn luôn đi nhầm nước cờ, đem lại cho lòng mình một cảm giác như đãng trí.
Quả thực Công Tôn Càn đãng trí, ông đã có cảm nhận phải cảnh giác về việc đêm qua Dị Nhân đi dự tiệc ở Tùng Đài. Một là vì sao tiệc lại tổ chức trước một ngày, hai là tiệc sẽ thâu đêm suốt sáng, bây giờ đã là buổi chiều ngày thứ hai rồi, tiệc cũng phải tan. Đến giờ này Dị Nhân vẫn chưa về, không biết đã xảy ra chuyện gì đây?
Nghĩ tới đó, Công Tôn Càn thu cờ vào nói: "Để hôm khác sẽ quyết một trận sống còn nhé!"
Công Tôn Càn từ trong phòng của Chu Kiệm đi ra, bỗng nghe thấy tiếng trống kèn kinh thiên động địa từ phía Tùng Đài, người đi trong ngõ phố đều đứng lại nghe ngóng gần xa rồi cụm đầu nhỏ to bàn luận điều gì đó.
Công Tôn Càn cũng chạy ra phố đứng trong một đám người nhìn về phía Tùng Đài. Nghe đám luận giữa những người qua lại, mới biết rằng tiệc mừng ngày lập nước của Bình Nguyên Quân chính thức bắt đầu. Giật mình, ông mới nghĩ tới, tại sao Dị Nhân nói tối qua nó đi dự tiệc nhỉ? Ông quay người trở về trong cung, nhìn ngó khắp nơi cũng chẳng thấy bóng dáng mẹ con Triệu phi, xét đoán là có điều gì không hay xảy ra.
Công Tôn Càn hỏi Chu Kiệm: "Thái tử phi và tiểu Doanh Chính đâu?"
Chu Kiệm cố ý tỏ ra vẻ không biết nói: "Thế à? tôi cũng đang tìm họ, vừa nãy Thái tử phi và tiểu Doanh Chính còn ở đây, nháy mắt một cái đã không thấy đâu rồi!"
Công Tôn Càn đợi người quản gia về, dặn anh theo dõi Chu Kiệm còn mình thì bước vội đến Tùng Đài, tìm tới một tên quan gác cổng quen biết, hỏi thăm xem bên trong có Tần Vương Tôn Dị Nhân và Lã Bất Vi không? tên quan gác cổng nói, ông ta không thấy Tần Vương Tôn Dị Nhân và Lã Bất Vi nào cả! Công Tôn Càn nhờ tên quan gác cổng vào trong phòng tiệc thăm dò tìm giúp. Tên quan gác cổng quay người đi vào, quá nửa buổi mới chạy ra nói với Công Tôn Càn bên trong cũng chẳng thấy Tần Vương Tôn Dị Nhân và Lã Bất Vi.
Lúc này Công Tôn Càn mới bắt đầu hoảng hốt và sợ hãi. Ông đoán chắc đến tám - chín phần là Dị Nhân và Lã Bất Vi bỏ trốn. Khi Công Tôn Càn nghĩ như vậy, ông cảm thấy mồ hôi đang chảy lã chã sau lưng, giống như chó mất đuôi. Ông lại chạy đến phủ đệ của Lã Bất Vi, hỏi han bọn người hầu và các môn khách, thì họ đều nói lão gia nhà họ đêm qua đi dự tiệc ở Tùng Đài.
Công Tôn Càn không dám chần chừ. Lại quay người tìm đến Tùng Đài, bẩm báo với Bình Nguyên Quân sự thể tìm mọi nơi mà chẳng thấy Dị Nhân và Lã Bất Vi đâu. Bình Nguyên Quân đang dương dương tự đắc trong ánh đèn tiệc rượu, sau khi nghe xong thất kinh trách mắng Công Tôn Càn rằng: "còn tìm gì nữa, e rằng họ đã trốn khỏi thành Hàm Đan này rồi!"
Tin Dị Nhân và Lã Bất Vi bỏ trốn, từ bữa tiệc mừng ngày lập nước mà nói, quả là như một cơn gió độc. Bình Nguyên Quân tức giận đùng đùng, lòng dạ rối bời đạp đổ bàn tiệc. Ngày hôm đó, sau khi gửi thiếp mời đến Dị Nhân và Lã Bất Vi, ông đã cẩn thận đưa ra kế sách làm sao trong bữa tiệc làm cho Tần Vương Tôn và thái phụ của hắn trói tay chịu bị bắt, sau đó đưa ra một tội danh để giết họ. Tối hôm qua thấy Chu Kiệm phụng mệnh Dị Nhân và Lã Bất Vi đem lễ mừng đến Bình Nguyên Quân vui mừng hể hả. Một là họ không có cảnh giác khi bị giết hại, hai là nước láng giềng của Triệu Vương nhiếp chính vẫn tỏ ra ngưỡng mộ kính phục mình. Hôm nay tiệc mừng bắt đầu, không nhìn thấy bóng dáng Dị Nhân và Lã Bất Vi đâu cả, Bình Nguyên Quân võ đoán, hai kẻ chủ tớ này vì sự lúng túng mà tránh dự tiệc. Ông nhếch mép cười nhạt rồi nói: "Trốn tránh lần đầu chứ không thể trốn tránh được mãi, đợi đến sau bữa tiệc rồi sẽ bắt các ngươi!"
Bình Nguyên Quân không thể ngờ rằng Dị Nhân và Lã Bất Vi sớm chuồn mất, ông giận sai người bỏ tù tất cả gia quyến, môn khách của Lã Bất Vi và Dị Nhân, nói: "Không được để cho những người này trốn thóat!"
Công Tôn Càn sợ Chu Kiệm lại có một sai lầm nữa, tội càng thêm nặng, vội trở lại phủ đệ của Dị Nhân, vừa nhìn thấy Chu Kiệm đang đứng bần thần ở đó, như trút được gánh nặng ông thở dài một tiếng.
Được bài học Triệu phi và tiểu Doan Chính chạy trốn, thần kinh của Công Tôn Càn và tên quản gia kia hết sức căng thẳng. Mặc dù Bình Nguyên Quân cắt cử rất nhiều lính canh ở đó, chỉ bỏ tù Chu Kiệm, nhưng Công Tôn Càn không dám có một sơ suất nhỏ ngay cả khi ngủ cũng phải mở một mắt.
Hôm đó, Công Tôn Càn đang trừng mắt nhìn Chu Kiệm đi lại dưới hành lang như không có chuyện gì xảy ra, bỗng nghe có một tiếng trẻ chưa vỡ giọng đang gọi ông; "Công Tôn thúc thúc ơi! Công Tôn thúc thúc!"
Công Tôn Càn nhìn theo hướng tiếng gọi, cho đó là giấc mơ, đứa bé trai thông minh sáng dạ, nhanh nhẹn họat bát đang đứng trước mặt ông không phải là công tử tiểu Doanh Chính của Dị Nhân sao? nó vẫn ở trong thành Hàm Đan, nói rõ rằng bố mẹ nó cũng chưa trốn khỏi. Lần theo dấu vết thì có thể truy nã được hai tên tội phạm của Bình Nguyên Quân, bắt về sẽ được một khoản tiền thưởng lớn.
Chu Kiệm vừa nhìn thấy tiểu Doanh Chính, sợ hãi mặt không còn giọt máu, thất thanh kêu lên: "Tiểu công tử, sao lại chạy về đây?"
Tiểu Doanh Chính hào hứng nói: "Mẫu thân nhốt ta ở trong nhà một bà lão, ngột ngạt đến chết đi được!"
Sắc mặt Chu Kiệm thần hồn nát thần tinh nói: "Tiểu công tử, mau chạy đi, Công Tôn Càn là người xấu, muốn bắt mọi người hãm hại đấy!"
Tiểu Doanh Chính cãi lại nói: "Ngươi lừa ta, Công Tôn thúc thúc là bạn tốt của ta."
Thì ra, Triệu phi dẫn tiểu Doanh Chính trốn đến ngòai thành ẩn náu, tìm đến một nhà bà lão hiền lành tốt bụng, nói là từ Biên Ấp đến thành Hàm Đan tìm người thân bị lạc đường. Bà lão rất cảm thông bèn để cho mẹ con Triệu phi ăn nghỉ ở đó. Triệu phi sợ để lộ tin tức, bèn nhốt tiểu Doanh Chính trong phòng như chim trong lồng cá trong chậu, khó chịu sự vắng vẻ và tĩnh mịch trong căn phòng tăm tối, phải đi ra ngòai chơi cho thích mới được. Triệu phi một chút sơ xuất, cậu liền chạy ra ngòai.
Công Tôn Càn ôm tiểu Doanh Chính vào lòng, như bắt được vàng dụ dỗ nói: "Nào, Công Tôn thúc thúc dẫn cháu đi mua quà nhé!"
Công Tôn Càn tìm đến một cửa hàng thực phẩm gần đấy, mua cho tiểu Doanh Chính bao nhiêu là những thứ ngon, rồi hỏi: "Tiểu công tử, bố mẹ cháu đang ở đâu?"
Tiểu Doanh Chính trả lời: "Mẹ cháu đang ở nhà của một bà lão, còn bố cháu không biết ở đâu cả."
Công Tôn Càn lại hỏi: "Cháu có thể tìm đến nhà bà lão ấy được không?"
Tiểu Doanh Chính nói: "Được, cháu nhớ đường mà!"
Công Tôn Càn bế tiểu Doanh Chính chạy thẳng về phía Tùng Đài đặt tiểu Doanh Chính nô đùa bên ngòai cung điện, còn mình thì vào bẩm báo với Bình Nguyên Quân: "Công tử tiểu Doanh Chính của Dị Nhân đã rơi vào tay tôi, xin điều quân đi theo nó để bắt Dị Nhân và Triệu Cơ."
Bình Nguyên Quân nói: "Tiểu Doanh Chính đang ở đâu?"
"Đang ở ngòai điện ạ."
Bình Nguyên Quân từ trong cung điện bước ra, nhìn thấy một đứa bé trai đang vui đùa như một chú khỉ dưới ánh nắng rực rỡ.
Công Tôn Càn tay dắt tiểu Doanh Chính đi về phía trước như không có chuyện gì xảy ra, một tốp lính theo sau từ phía xa. Tiểu Doanh Chính vừa đi vừa hỏi Công Tôn thúc thúc những chuyện ngây thơ nực cười, hoàn toàn không biết được những âm mưu đằng sau.
Vòng vèo đi qua những ngõ phố nối tiếp nhau, Công Tôn Càn nhìn thấy Triệu phi đang ngẩng đầu đứng đợi trước một gian nhà tranh. Khi Công Tôn Càn dắt tiểu Doanh Chính đi vào, bà biết rõ chuyện gì sắp xảy ra, sắc mặt bà trắng bệch như chưa từng thấy, giống như một chiếc lá run rẩy trong cơn gió.
Công Tôn Càn đẩy ngã tiểu Doanh Chính, chỉ Triệu phi nói với quân lính phía sau: "Đây chính là phi tử của Tần Vương Tôn Dị Nhân!"
Ánh nắng tắt đen trong cái lấp lánh của những mũi đao kiếm và giọt nước mắt của Triệu phi. Lúc đầu, tiểu Doanh Chính còn đủ sức để gào thét. Không lâu sau, cổ họng nó khản đặc lại, chẳng còn nghe thấy gì nữa. Triệu phi đưa vạt áo dài lau nước mắt, cất lên tiếng khóc thổn thức.
Quân lính tinh thần lên cao, áp giải thái tử phi đẹp như hoa đi về Tùng Đài.
Triệu phi và tiểu Doanh Chính đứng trước cung điện Tùng Đài mong manh như ngọn cỏ xuân yếu ớt. Bà nghe thấy giọng nói trống rỗng hỏi bà về nơi ở của Dị Nhân và Lã Bất Vi.
Triệu phi nói với ông rằng, có thể họ đã trở về Hàm Dương rồi. Bình Nguyên Quân không hài lòng nói, tại sao lại có thể? thái tử phi đang giấu giếm ta điều gì?
Triệu phi nói, khi đi Dị Nhân và Lã Bất Vi giấu ta, ta chẳng có điều gì dấu giếm ông cả.
Câu nói vòng vo làm cho Bình Nguyên Quân thấy vui, Bình Nguyên Quân nhìn ngắm, sau khi cười thì Triệu phi cũng nở nụ cười gượng. Bà cảm thấy câu trả lời của mình làm cho mọi người buồn cười.
Bình Nguyên Quân phát hiện thấy nụ cười của Triệu phi có một nét đẹp mê hồn. Làn môi mỏng như một thứ rượu ngon say lòng người, hàm răng trắng như ngọc dày và đều đặn, xếp vào hàng vợ thứ trong hậu cung của ông.
Khi nụ cười của Triệu phi thâu tóm toàn bộ sự chú ý của Bình Nguyên Quân, một tên quan gác ngòai chạy vào điện bẩm báo Bình Nguyên Quân, Xuân Thân Quân đến bái kiến ông, đang đợi hầu ngòai cung điện. Bình Nguyên Quân đành phải cho người đem Triệu phi đi, coi giữ cẩn thận.
Bình Nguyên Quân cho Xuân Thân Quân vào trong điện, Xuân Thân Quân đến báo cáo tình hình với Bình Nguyên Quân.
Xuân Thân Quân mồm năm miệng mười nói: "Quân Tần đã bị đánh bại, Hàm Đan được bảo vệ, tôi ở quý quốc đã nhiều ngày rồi. Ngày mai chuẩn bị về Trần Thành, Chương Hoa Đài vẫn còn hàng đống việc cần tới giúp Hiếu Liệt Vương giải quyết."
Thấy Xuân Thân Quân phải trở về nước Sở, trong lòng Bình Nguyên Quân ngòai sự lưu luyến và bâng khuâng ra, phần lớn là sự lo lắng. Lần này Triệu - Nguy - Sở hợp sức chống lại Tần, đánh cho mười mấy vạn quân Tần tan tác giành được thắng lợi lớn, làm cho nước Triệu từ nguy thành an, cũng là để cho Bình Nguyên Quân nhìn thấy sự đồng tâm hiệp lực, cùng nhau chèo chống của ba nước Triệu - Nguy - Sở thì chẳng có sức mạnh nào chống đỡ nổi. Bây giờ Xuân Thân Quân phải về nước Sở, không lâu nữa Tin Lăng Quân cũng sẽ trở về nước Nguy, liên minh ba nước cũng sẽ tuyên bố giải tán.
Vua của các nước chư hầu và các tướng của họ thường là Triều Tần Mạc Sở, mâu thuẫn với nhau để cướp lấy thành ấp và của cải nhiều hơn. Có cách nào có thể làm cho hai nước Sở - Nguy cùng nhau lâu dài chống lại Tần đây?
Những ngày nay, Bình Nguyên Quân lo lắng mà buồn phiền về việc này. Bây giờ thấy Xuân Thân Quân sắp rời Hàm Đan rồi, cảm giác ấy bỗng như sôi sục, ông thành khẩn nói: "Lần này phá vỡ Tần, bảo về Hàm Đan, toàn bộ nhờ vào Xuân Thân Quân và Tin Lăng Quân. Ta xem ra hai vị anh tài đại lược, tấm lòng nghĩa hiệp, cùng ta sớm tối có nhau nay phải cách xa, một phút không nhìn thấy mà như chia ly ba mùa thu rồi, ta vẫn đợi có nhiều thời gian để mà tâm linh trò chuyện, uống rượu vui đùa, làm sao có thể nói đi là đi được."
Xuân Thân Quân cũng buồn rầu nói: "Trong thiên hạ có bữa tiệc nào là không tàn đâu."
Bởi Xuân Thân Quân hơn Bình Nguyên Quân mấy tuổi, Bình Nguyên Quân trêu đùa nói: "Trưởng huynh nhớ nhung bà chị dâu hay là nhớ nhung mấy vị thiếp xinh đẹp đấy?"
Xuân Thân Quân bĩu môi giễu đùa lại: "Tôi đây bóng hoàng hôn che lấp trước hoàng kim rồi, mấy a tiện thiếp ấy so với các mỹ nữ bên cạnh Bình Nguyên Quân, đâu có dám?"
Bình Nguyên Quân tim đập thình thịnh với kiểu đùa của mình điều đó làm cho ông chợt nghĩ đến một chút ý tuyệt vời. Đúng đúng rồi, phải làm như thế, tiện bề đợi đôi ba việc. Ông muốn dâng tặng Triệu phi cho Xuân Thân Quân làm thiếp. Như vậy, mối thù không đợi trời chung giữa nước Tần và nước Sở, giữa nước Sở và nước Tần cũng không còn một chút thỏa hiệp: "Hiếu Liệt Vương sợ thân cô thế cô, không chịu được sự báo thù của nước Tần, cũng sẽ không thay lòng đổi dạ dựa vào nước Triêu." Bình Nguyên Quân nghĩ đến đây, cười nhăn nhở nói: "Mũi tên ngọn kiếm giao chiến với nước Tần đã làm ta đầu óc quay cuồng, làm việc không còn được chu tất nữa, cuối cùng lại không nghĩ đến cách dâng tặng mỹ nữ để phục dịch bên cạnh. Vừa lúc hiện có một giai nhân tuyệt sắc, tối nay sẽ tiến dâng với công quan của Trưởng huynh để làm trò vui thú!"
Xuân Thân Quân cảm tạ từ chối nói: "Tôi làm sao có được diễm phúc ấy, hay là hiền đệ giữ lấy mà dùng!"
Bình Nguyên Quân nghĩ đó chính là sự khách sáo của Xuân Thân Quân với ông, liền chuyển sang chuyện khác nói: "Trưởng huynh nhất định phải ở lại Hàm Đan mấy hôm, ngọc thể của Đại vương chúng tôi bất an, việc ngọai giao nội chính của triều đình làm tôi hết sức lúng túng, xin trưởng huynh giúp đỡ tôi mưu tính kế lược trị quốc."
Xuân Thân Quân nói: "Đâu dám, đâu dám! Hiền đệ là một trong những người quyết định sách lược, tránh được mọi sự thất bại, chư hầu trong thiên hạ ai chẳng biết tài cán của hiền đệ, phò trợ nước Triệu làm cho nước Triệu cường thịnh, giàu có một phương. Tôi ở đây bàn gì việc kế lược trị quốc, đó không phải là múa rìu qua mắt thợ hay sao?"
Bình Nguyên Quân thái độ và lời nói cầu khẩn: "Trưởng huynh dẫn quân viễn chinh, chỉ cần ở Hàm Đan vui nghỉ mấy ngày, ta mới an tâm được!"
Thấy Bình Nguyên Quân bày tỏ tình cảm sâu nặng như vậy, Xuân Thân Quân đành nói: "Tôn kính không bằng nghe lệnh."
Bình Nguyên Quân tiễn Xuân Thân Quân đến ngòai điện, sau khi đợi Xuân Thân Quân lên xe đi, ông lập tức sai người áp giải Triệu phi trở lại. Bình Nguyên Quân bịa ra một lọat lời nói dối để đánh lừa Triệu phi, nói rằng Dị Nhân trên đường chạy trốn đã bị quân Triệu chặn giết, Triệu phi trở về nước Tần cũng chỉ là cô nhi quả mẫu, Triệu Thắng ta luôn là người quân tử thương xót những kẻ cô quả, có đặc ý tìm nơi sinh sống yên ổn cho hai mẹ con. Triệu phi đau khổ, vội hỏi Thái phụ Lã Bất Vi kia đâu. Bình Nguyên Quân giả nhân giả nghĩa nói: "Cũng đã đến ngày tận số rồi!" Triệu phi tê tái cõi lòng, khóc lóc thảm thiết. Bình Nguyên Quân nói, người chết không thể sống lại được, đã giao ngươi cho tướng quốc nước Sở làm thiếp của Xuân Thân Quân. Xuân Thân Quân là người có quyền có thế, là một phú hào tiếng tăm. Còn người lại phong lưu tài ba, coi sắc đẹp hơn cả minh châu. Ông hiện đang ở Hàm Đan mấy ngày nữa sẽ quay lại Trần Thành, ngươi đi cùng ông ấy cũng có tiếng thơm lây, vinh hoa phú quý. Đợi lát nữa, ta sẽ dẫn ngươi đến công quán, ngươi phải hầu hạ ông ấy đêm nay ở đấy, ngươi phải niềm nở làm cho ông ấy vui, nếu như cứng đầu cứng cổ, làm phiền Xuân Thân Quân, mẹ con nhà ngươi sẽ bị đuổi ra khỏi cổng, lưu lạc đầu đường xó chợ, ăn sương nằm đất, còn nếu không thì cũng bị bán cho nhà chứa, suốt đời ở đó.
Nghe xong một lọat những lời đường mật, đòn cứng đòn mềm dọa dẫm, Triệu phi cảm thấy chỉ có thể chết dần từng khúc ruột mà đi theo con đường ấy. Bình Nguyên Quân thấy Triệu phi đã chịu, trong lòng mừng thầm vội sai người giúp mẹ con Triệu phi trang điểm chải chuốt. Triệu phi sau khi được trang điểm như cành liễu trong gió, Bình Nguyên Quân cảm thấy có những rung động trong lòng, tâm hồn rạo rực trước một cô gái có khuôn mặt xinh đẹp như thế.
Triệu phi sáng ngời nét đẹp tay dắt tiểu Doanh Chính rãi bước ra, đi theo hướng kiệu hoa lỗng lẫy đã được chuẩn bị từ trước. Bình Nguyên Quân đứng ở một bên nhìn bờ vai đang lay động của bà. Trong đầu chợt hiện ra một chú cá tung tăng, một hòn đá sỏi màu trắng và tròn trịa, một quả đồi bị gió thổi xác xơ... Khi Bình Nguyên Quân liên tưởng như thế, trên mặt thoáng một nụ cười đê tiện.
Lúc này, trong căn phòng của ông quá chỉ còn lại Xuân Thân Quân và Triệu Cơ.
Ánh sáng của ngọn đèn dầu rất rõ, chiếu sáng tất cả mọi thứ trong căn phòng, Xuân Thân Quân tầm nhìn không rõ hoặc là cố ý tỏ ra lúng túng trước mặt một người con gái, dáng vẻ tỏ ra không cần để ý tới Triệu phi. Sau khi Bình Nguyên Quân cáo biệt với các môn khách của ông. Xuân Thân Quân bắt đầu nhìn chằm chằm vào Triệu Cơ của vị Tần Vương Tôn.
Xuân Thân Quân ở trong phủ đệ của ông hoặc khi ở các nước chư hầu khác nói chuyện về sắc đẹp của phụ nữ, mọi người đều nói đến mảnh đất Ngô Việt sinh ra một mỹ nữ, giống như người đẹp trên đời tên Tây Thi. Xuân Thân Quân không chút hòai nghi về điểm này. Nhưng hôm nay nhìn thấy Triệu Cơ, làm cho ông có được ấn tượng của cây cỏ ngát mùi thơm của mỹ nữ Yến Triệu. Ông cảm thấy kỳ lạ, Hàm Đan gần kề Man Hồ lễ bạc lòng thành, hoang thể tản mạn thường thường chùm lên áng mây che lấp mặt trời, dòng sông Hoàng Hà tuôn trào ấy không rõ cọ sát thế nào với khu ấp ấy để mang thai sinh ra Triệu phi yểu điệu thục nữ như thế.
Đối với vị tướng của một nước mưu tính, sâu sa như Xuân Thân Quân, cự tuyệt thú vui với một mỹ nữ bên cạnh mình quả là điều khó thấy, thậm chí không thể tìm được. Hiện giờ, Xuân Thân Quân đang ở trong cái điều khó thấy ấy, ông không phải là không nghĩ đến Triệu phi, dục vọng dày vò cũng tự nhiên mất.
Sau khi Bình Nguyên Quân thở dài một cái, liếc nhìn Tin Lăng Quân rồi nói: "Chị gái ta tuổi nay đã cao, làm việc gì cũng lực bất tòng tâm, nghe nói mấy bà vỡ lẽ bên cạnh anh rể cũng đã lơ là cẩu thả, qua loa đại khái, không thể phụng hầu hết lòng được anh rể. Lỡ một khi anh rể có điều gì sai sót không chỉ nước Nguy nam chinh bắt phạt, mà còn nước Triệu ta cũng sẽ mất đi tấm bình phong ngàn vàng. Tôi suy nghĩ và tìm cho anh rể một nữ tỳ đẹp như hoa như ngọc, biết chăm chút từng ly từng tí, nếu nay ông trời tác thành, cuối cùng thì cũng thỏa mãn tâm nguyện của tôi!"
Những lời nói ngon ngọt của Bình Nguyên Quân, giấu kín tâm tư của ông. Triệu phi gả cho Xuân Thân Quân không thành, Bình Nguyên Quân lại nghĩ đến cho Tin Lăng Quân lấy Triệu phi làm thiếp, như vậy Triệu - Nguy hợp sức sẽ vững chắc như bức tường đồng không thể nào phá nỗi. Tin Lăng Quân lại muốn hai chân đạp lên hai chiếc thuyền Tần - Triệu thì còn khó hơn cả việc muốn đi lên trời.
Khi Bình Nguyên Quân đương đương tự đắc với cách tính toán, ông nghe thấy Tin Lăng Quân cảm kích vạn phần nói: "Thật khó có được tấm lòng nhiệt huyết của em đối với ta!"
Bình Nguyên Quân ba hoa khóac lác nói: "Nếu là nữ tứ xuất chúng như vậy, không biết quý danh là ai, nhân sĩ nơi nào?"
Bình Nguyên Quân hí hửng nói: "Nhắc tới họ tên của bà càng thấy tiếng tăm, nổi tiếng tới cả các nước chư hầu."
Xuân Thân Quân là người phá tan sự tính mệnh bằng cách nói chuyện với Triệu phi. Triệu phi lúc này vui buồn lẫn lộn, nghe Bình Nguyên Quân nói đến tin buồn về Dị Nhân và Lã Bất Vi của bà, bà đau buồn khôn tả, nhưng nay lại có thể gửi thân cho Xuân Thân Quân, tướng quốc của một nước vừa giàu có lại nắm giữ quyền lớn, sao không thể vui được? Tuy rằng như vậy, khi trả lời câu hỏi của Xuân Thân Quân, bà vẫn buồn rầu xúc động. Trên thế gian này bà chẳng còn ai thân thích để cậy nhờ, phu quân Dị Nhân danh chính ngôn thuận và Lã Bất Vi dẫu bà có ý vương tơ lòng về tình cảm kia, đã chôn vùi xương thịt duới đất. Bà và tiểu Doanh Chính như hai chiếc lá lả tả rơi rụng trong cơn gió mùa thu khi Xuân Thân Quân hỏi bà có can tâm tình nguyện theo ông đế đấy không. Bà chẳng chút dấu giếm nói ra hết sự tình.
Xuân Thân Quân biết Dị Nhân và Lã Bất Vi đã trở về Hàm Dương, tờ giấy không thể hứng được ngọn lửa, tin tức này rất nhanh được lan truyền đến các nước chư hầu. Giở trò lừa bịp chiếm đọat vợ người khác, từ góc độ khí tiết - đạo đức của Xuân Thân Quân mà nói, quả là một nỗi nhục nhã, một khi các nước chư hầu biết được, danh dự của ông gần như mất hết. Việc này đối với ông, đối với cả nước Sở là một hành động tồi bại bị phơi bày, bất kể thế nào cũng không thể tránh khỏi. Bây giờ, giáp mặt với quân tướng Sở - Tần, chẳng còn mặt mũi nào. Xuân Thân Quân làm tướng của một nước có thể vì tình nghĩa mà chỉ huy hàng ngàn vạn binh mã xung phong vào chỗ hiểm nguy, nhưng sự gặp lại của Dị Nhân đầy sự cảm thông rồi! Thời ký chiến quốc, rất nhiều thái tử, công tử của vua các nước đều trở thành con tin, qua ngày đoạn tháng gian nan thậm chí còn rơi vào sự hiểm nguy ở các nước chư hầu khác. Năm ấy thái tử Hoàn của Thanh Tương Vương làm con tin đến nước Tần, chịu khó khăn vất vả, là ông đã dùng kế để thái tử Hoàn thóat hiểm trở về nước Sở, đối với số phận của những con tin, Xuân Thân Quân có một sự cảm thông sâu sắc, với những nguyên nhân đó, Xuân Thân Quân không chỉ không dung nạp Triệu phi làm thiếp, mà còn muốn thuyết phục Bình Nguyên Quân thả Triệu phi và tiểu Doanh Chính trở về Tần.
Thế rồi Xuân Thân Quân nói với Triệu phi: "Mấy ngày nay mẹ con ngươi chạy ngược chạy xuôi, trốn đông tránh tây đủ mệt rồi! Ta đưa ngươi đến công quán ở nơi khác để nghĩ ngơi nhé!"
Nghe Xuân Thân Quân nói như vậy, Triệu phi sợ hãi vạn phần, không biết điều đó đã thất lễ với vị tướng quốc Sở này, vội quỳ xuống xin tha tội.
Xuân Thân Quân không biết vì sao, vội nói: "Thái tử phi. Ngươi làm gì thế, mau đứng dậy đi!"
Triệu phi nói: "Chắc hẳn tôi có điều gì đắc tội với tướng quốc, nên tướng quốc mới đuổi tôi ra ngòai!"
Xuân Thân Quân nói: "Thái tử phi hiểu biết lễ nghĩa, làm sao có thể đắc tội với ta được!"
Triệu phi mở cửa nhìn trời đất nói: "Bình Nguyên Quân dặn thân hèn này cùng tướng quốc qua đêm, nếu thân hèn này không có điều gì thất thế, sao lại không giữ lại."
Xuân Thân Quân lúc này mới hiểu rõ, nhưng lại không thể tiết lộ sự thật Dị Nhân chưa chết và cái suy nghĩ của mình với Triệu phi, đành chiếu lệ nói: "Thái tử phi đẹp như chim sa cá lặn, sao ta lại không muốn cùng ngươi động rèm hoa trúc? Mấy ngày nay dẫn quân đi chinh chiến, sức lực mệt mỏi, đành phải chọn khi để vui vẻ vậy."
Nghe Xuân Thân Quân nói vậy, Triệu phi cũng vái ba vái cáo từ, nhưng thân bà trong lao tù, không nơi nương náu. Xuân Thân Quân muốn tìm cho Triệu phi một công quá khác qua đêm, vừa tiễn bà ra đến ngòai cửa, đã có mười mấy quân lính nước Triệu phụng mệnh canh giữ. Xuân Thân Quân đành phải nhờ bọn lính này áp giải đi.
Ngày thứ hai, Xuân Thân Quân lại đến bái kiến Bình Nguyên Quân. Bình Nguyên Quân bực dọc đêm qua Xuân Thân Quân cự tuyệt Triệu phi đuổi ra ngòai cửa, bây giờ biết Xuân Thân Quân không tiếp nhận Triệu phi, cười thầm trong bụng miệng lẩm bẩm: "Lại vẫn chỉ là sự nhân hậu cổ hủ." Việc này ta đâu có ép, còn những lời khuyên khua môi múa mép của Xuân Thân Quân nói thả Triệu phi ra, bề ngòai Bình Nguyên Quân tỏ ra chịu nghe lời, nhưng lập tức lại nghĩ ra một quỷ kế.
Sau khi Xuân Thân Quân đi khỏi, Bình Nguyên Quân lại đến công xá của Tin Lăng Quân, đối với cuộc đến thăm bất ngờ của em trai vợ, Tin Lăng Quân không chút ngạc nhiên mà còn yên tâm nữa. Một là mình là anh rể của Bình Nguyên Quân, hai là ông còn là Tiển Nhi Tử của Nguy Thiệu Vương có thể đích thân dẫn đại quân giải vây Hàm Đan, đối với Bình Nguyên Quân thậm chí cả nước Triệu đều là tình sâu nghĩa nặng.
Bình Nguyên Quân hàn huyên mấy câu, bèn nói với Tin Lăng Quân: "Anh rể! mấy ngày nay có một việc ám ảnh trong lòng ăn không ngon, ngủ không yên nữa."
Câu nói đó của Bình Nguyên Quân làm xúc động Tin Lăng Quân, ông vội hỏi Bình Nguyên Quân chuyện gì đã làm ông áy náy không yên như vậy.
Tin Lăng Quân không chờ được nữa, nói: "Em đừng vòng vo với ta nữa, mau nói xem bà là ai?"
"Thái tử phi của nước Tần - Triệu Cơ!"
Vừa nghe đến phi tử Triệu Cơ của Dị Nhân, Tin Lăng Quân lập tức có một thái độ do dự, vội vàng xua tay nói: "Ta không thể sử dụng vị thái tử phi này."
"Đợi một lát, ta sẽ đưa bà ta tới, nhìn thấy anh có cần cũng chẳng được!" Bình Nguyên Quân nói dứt khóat.
Tin Lăng Quân biết rõ lần này Triệu - Nguy - Sở hợp thành một khối, giải vây Hàm Đan, sớm rửa hận nước Tần mạnh thế. Bởi vì bản thân mình là anh rể của Bình Nguyên Quân không thể cháy nhà hàng xóm bình chân như vại, thấy chết mà không cứu. Nếu như thừa cơ trước sự nguy hiểm của người khác, lấy thái tử phi làm thiếp, như vậy được đằng chân lẫn đằng đầu, quan hệ giữa nước Nguy và Tần sẽ sớm cùng thủy tận, chẳng còn nghi ngờ gì nữa, Trần Thành đứng mũi chịu sào sẽ trở thành mục tiệu đánh phá của nước Tần, oan gia dễ gì gỡ được, không nên cạn tàu ráo máng.
Đã là người bạn thân thiết với Bình Nguyên Quân, phải nói thẳng sự lợi hại của việc này một cách trực tiếp cho rõ ràng. Thế là Tin Lăng Quân chẳng giấu giếm nói ra cách nghĩ từ đáy lòng mình. Bình Nguyên Quân nghe xong, tuy miệng nói: "Có lý!" Nhưng trong bụng lại mắng rằng: "Gan không bằng con chuột, nước Tần lòng lang dạ sói sẽ không tươi cười hớn hở đối với nước Nguy, không lễ nghĩa đón tiếp bởi Tin Lăng Quân nhà ngươi không tiếp nhận Triệu phi đâu." Sẽ có ngày quân lính đến chân thành, phá thành chiếm đất đó!"
Sau khi Tin Lăng Quân đi rồi, Bình Nguyên Quân suy sụp tinh thần đi đi lại lại trong điện, khuôn mặt ngọc ngà tươi như hoa của Triệu phi bất chợt ẩn hiện trước mặt ông, ông nổi giận đùng đùng nghĩ: "Triệu phi ơi! Triệu phi! Thả một tiểu mỹ nhân như ngươi trở về nước Tần quá dễ dàng, không làm nhục được ngươi cũng phải sai ngươi đi làm một cái gì có ích!"
Trận tuyết đầu tiên của thành Hàm Dương, trắng trong làm mê hồn người như bộ ngực của đứa bé gái, nhưng đối với một cô gái chạy nạn trong gió rét, chẳng có chút yên vui nhàn tản để thưởng thức cảnh tuyết rơi.
Di Hồng vác cái gói, tay ôm hai vai đi trong gió bấc lạnh gía của Hàm Dương, có hai thứ đang được giấu trong bụng cô gái chật chội đến nỗi tưởng như cô không bước đi được, một cái là ngọc tỉ của Triệu Vương, sau khi từ nhà chứa trở về cung làm thiếp của Triệu Hiến Thành Vương đã trở thành con sen chẳng đáng gì. Do một buổi chiều khi đem áo dài cho Triệu Hiến Thành Vương, ăn trộm cái ấn tín thay trời đổi đất - quyền sinh quyền sát kia. Cô muốn đem bảo vật này làm lễ vật ra mắt Dị Nhân. Bây giờ cô nghĩ về sự việc lúc đó, vẫn là nỗi sợ hãi giống như con rắn đang chui luồn trong người cô.
[justify][color=black]Một thứ nữa mà Di Hồng mang đó là thai nhi trong bụng. Cô có thể tính toán chính xác nó xảy ra khi nào. Sau khi ngủ với Dị Nhân trong nhà chứa, mỗi tháng có như hẹn mà đến. Thai nhi cô mang là cốt nhục của thái tử nước Tần, đạo lý muôn đời là muốn được ở bên cạnh Dị Nhân. Mặc dù có được làm phi tử chính thức hay không. Có được hưởng thụ vinh hoa phú quý hay không, cô cũng chẳng cần coi trọng, cô muốn nắm giữ số phận của mình, cô muốn cáo biệt thân phận thiếp hầu với Triệu Hiến Thành Vương, cần thì đến, không cần thì đi. Cô nhìn thấy những cảnh như thế ngay bên cạnh mình.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5933
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Lã Bất Vi***   Sat Feb 08, 2014 6:40 pm

Một số thiếp hầu của quân vương kia, một khi người đàn ông chủ nhân của họ quá bộ ngó tới, không đến Chúc Từ trông coi đèn xanh thì cũng thay thế những hậu phi canh mộ cho người quá cố. Nếu được giữ lại trong cung, cũng phải khổ sở đến nhạt phấn phai hương, sau đó giống như đồ đạc lâu ngày bị vất bỏ ra khỏi cung.
Hỏi thăm nơi ở của Dị Nhân ở Hàm Dương, già trẻ lớn bé đều biết cả. Di Hồng không mấy khó khăn tìm đến Điện Thiện Thanh phủ đệ của Dị Nhân. Khi cô đứng dưới bức hoành phi lớn đưa tay ra mở cổng, bất chợt trăm ngàn cảm xúc xốn xang, bỗn tuôn trào nước mắt.
Tên quan đứng canh cổng nhìn thấy rõ mái tóc bay phất phơ trong gió lạnh đầu mùa đông của một người con gái.
Tên quan gác cổng đi tới hỏi Di Hồng tìm ai. Di Hồng hỏi đây có phải là phủ đệ của điện hạ Dị Nhân không? Tên quan gác cổng nói là đúng rồi. Sau đó hỏi cô là ai, Di Hồng hùng hồn nói, ta là phi thiếp của điện hạ Dị Nhân, đến từ Hàm Đan của nước Triệu.
Tên quan gác cổng vừa nghe thế, không dám chậm trễ, vội mời Di Hồng vào ngôi điện cạnh cổng, sau đó quay người lật đật đặt bước vào phòng của Dị Nhân, bẩm báo nói rằng phi tử ở Hàm Đan của điện hạ Dị Nhân đã trở về.
Dị Nhân nghe thấy thế, nghĩ là Triệu phi và tiểu Doanh Chính trở về, vui mừng khua chân múa tay kêu lớn: "Triệu Cơ phi của ta và Doanh Chính của ta, hai người đã trở về rồi!"
Bởi vì phủ đệ của Lã Bất Vi chưa xong, ông cũng tạm thời ở trong điện Thiện Thanh. Dị Nhân vội bước - tìm đến phòng của Lã Bất Vi, lớn tiếng kêu lên: "Thái phụ ơi! Lã Thái phụ! thái tử phi Triệu Cơ và Doanh Chính nhi trở về rồi."
Đám người hầu nói với Dị Nhân, Thái phụ vừa đi ra ngòai. Dị Nhân lúc này mới quay người tìm tên quan gác cổng, vội vàng hỏi thái tử phi đang ở đâu. Tên quan gác cổng trả lời nói, đang ở trong ngôi điện bên. Dị Nhân trách mắng nói: "Ngươi không có mắt hay sao? còn không mau mời vào Đại đường chính điện."
Khi tên quan gác cổng đưa Di Hồng vào chính điện. Điều bất ngờ mà ông nhìn thấy không phải là Triệu phi và Doanh Chính như ông nghĩ. Ông trau mày hỏi Di Hồng, ngươi là ai?
Di Hồng khẩn thiết nói: "Thái tử điện hạ, ngài không nhận ra tiện thiếp hay sao? Tiện thiếp là Di Hồng, là Di Hồng cùng chung chăn chung gối với điện hạ ở nhà chứa Hàm Đan!"
Dị Nhân nghĩ ra! Người đàn bà lăng nhăng này quả đúng là Di Hồng. Người con gái thướt tha yểu điệu, phong tinh vạn trạng lúc đầu kia và Di Hồng đang đứng trước mặt thật rất khác nhau, trong lòng dâng lên một sự ghét giận.
Di Hồng rất nhanh thấy cái nhìn của Dị Nhân là thứ tình cảm gì, vội nói: "Trong bụng của tiện thiếp đang mang giọt máu của điện hạ."
Dị Nhân chẳng thèm để ý nói: "Vợ chồng sông nước, vì sao gọi là dòng giống của ta? chẳng qua là ta nhất thời hồ đồ mà thôi!" Dị Nhân nói xong, sai người đuổi Di Hồng ra.
Di Hồng khóc lóc kêu trời kêu đất nói: "Tiện thiếp không sợ sống chết, bất chấp hiểm nguy trôi nổi mấy trăm dặm đường tìm đến điện hạ, vì sao điện hạ lại tuyệt tình đoạn nghĩa như vậy."
Dị Nhân lòng gang dạ thép, thẳng tay chỉ mắng nói: "Hãy đuổi bà ta đi cho ta."
Di Hồng kéo lê tấm thân ục ịch, la lối om sòm với bọn a hầu ở dưới môn khách, bước đi trong nước mắt đầm đìa.
Cơn giận của Dị Nhân chưa nguôi, ông lẩm bẩm nói: "Sao có thể như thế được. Ta vui đùa với ngươi, ngươi lại đến tìm ta. Ta bây giờ đường đường là Tần Vương Tôn, thái tử của An Quốc Quân. Di Hồng kia ta đâu thèm nhắc tới. Chỉ cần ta vung tay một cái, các cô gái như hoa như ngọc muốn có bao nhiêu mà chẳng được."
Giữa buổi, Lã Bất Vi trở về, sau khi xem xet thăm dò. Ông hỏi Dị Nhân: "Thái tử điện hạ nổi giận đùng đùng, phải chăng vừa rồi có người làm phiền tới điện hạ!"
Dị Nhân kể lại một lượt sự việc Di Hồng tìm đến.
Lã Bất Vi âu sầu buồn bã nói: "Thành Hàm Dương gió sương mù mịt này, Di Hồng cô gái tiều tụy, tứ cố vô thân đến bước đường cùng, điện hạ xử lý với cô ta thế nào?"
Dị Nhân sắc mặt không hề thay đổi, nói: "Còn thế nào với Di Hồng nữa? không có liên quan gì đến ta!"
Lã Bất Vi cho rằng không đúng, bèn nói: "Lời của thái tử cần xét lại có ba điều mà Di Hồng liên quan đến điện hạ. Một là một ngày nên nghĩa vợ chồng, tình cảm trăm năm tựa sâu như biển sự va chạm da thịt giữa điện hạ và Di Hồng tuy rất ít, nhưng không phải là không có, dù thế nào cũng được coi như một chút duyên phận vợ chồng. Hai là Di Hồng mang dòng máu của điện hạ, điện hạ cũng phải có trách nhiệm của người làm cha. Ba là Di Hồng đương nhiên bỏ Triệu theo Tần, chín phần sống một phần chết, người đàn ông có được thế cũng là khó, huống hồ lại là một người con gái, về tấm lòng nghĩa cử của cô ấy, điện hạ cũng phải lấy tình nghĩa để báo đáp."
Lời nói đanh thép của Lã Bất Vi khiến Dị Nhân băn khoăn áy náy. Ông nói tiếp: "Ăn quen làm biếng, có mới nới cũ... là những hành động xấu xa người chính nhân quân tử không thèm để ý tới, kỳ thực đó là thiên tính của mỗi người. Nếu như một người muốn hèn hạ làm một đồ trang sức, thậm chí can tâm tình nguyện trở thành môi giới làm theo những việc của kẻ tiểu nhân để kiếm lợi, thì cũng không đáng trách lắm. Nhưng người ta muốn trở thành kẻ quân tử đội trời đạp đất đặc biệt là làm vua của một nước, người ta cẩn phải tự kìm chế mình, khiêm tốn, tu thân tích đức mới có thể đạt được mục đích mà mình theo đuổi."
Dị Nhân gật đầu cho là phải.
Lã Bất Vi nói tiếp: "Sau này điện hạ muốn làm Quốc Quân người trong nước có răm rắp nghe theo hay không? có tấm lòng nhân ái yêu thương Quốc Quân hay không? có liên quan rất lớn. Có một lần Quốc Quân của nước Tề là Tề Tuyên Vương thỉnh giáo Mạnh Kha - Mạnh phu tử đạo lý Tề Hoàn Công - Tấn Văn Công bá nghiệp. Từ Tuyên Vương nói: "Mạnh tiên sinh, vì sao Tế Hoàn Công - Tấn Văn Công trị quốc được thịnh vượng? Mạnh Tử trả lời nói: "Môn sinh của Khổng Trọng Ni không nói việc của Tề Hoàn Công - Tấn Văn Công cho nên chẳng lưu truyền được cho hậu thế. Thần hạ cũng không được nghe nói, quả thật đại vương muốn bàn việc trị quốc với thần, vậy thì hãy bàn về đạo ý làm vua thiên hạ. Tề Tuyên Vương hỏi, nhân đức đạt ở mức nào thì có thể làm vua thiên hạ. Mạnh Tử nói: "Trấn an được dân chúng thì có thể làm vua thống trị thiên hạ", "Như quả nhân đây có thể làm vua thống trị thiên hạ được không? " Mạnh Tử nói: "Được." Tề Tuyên Vương lại hỏi: "Dựa vào cái gì mà biết quả nhân có thể làm được?" Mạnh Tử trả lời: "Tôi nghe cận thần Hồ Linh của Đại vương nói: "Đại vương ngồi trên công đường, có một người dắt con trâu đi ngang qua công đường, Đại vương nhìn thấy bèn hỏi: dắt trâu đi đâu. Người đó trả lời, đem trâu đi giết để dùng máu của nó quét chuông. Đại vương nói, thả con trâu đó ra đi, quả nhân không dám nhìn dáng vẻ sợ hãi của con trâu trước khi bị giết, giống như người vô tội đi ra pháp trường. Người đó lại hỏi: Vậy thì bỏ nghi thức quét chuông đó được không? Đại vương nói: Làm sao có thể bỏ nghi thức quét chuông ấy được! Lấy dê để đổi trâu là được rồi! Xin hỏi Đại vương chuyện Hồ Linh kể có thật không? Từ Tuyên Vương nói, chuyện ấy có thật. Mạnh Tử nói: Tấm lòng nhân từ ấy đủ để minh chứng Đại vương có thể làm vua thống trị thiên hạ rồi." Lã Bất Vi nói đến đây, ngừng một lát rồi nói tiếp: "Điện hạ vừa về đến Hàm Dương, cần phải dựng lên cho hình tượng nhân từ, tiếng tăm nhân từ mở rộng, giống như câu chuyện của Di Hồng hãy châm lên một ngọn đèn đều không phải dễ, đúng như là mấu chốt đẹp đẽ về chữ đức của điện hạ Thiện Hiếu Quân Vương vậy. Vì sao điện hạ lại có thể đuổi Di Hồng ra khỏi cổng vậy?"
Những câu nói đó của Lã Bất Vi làm cho Dị Nhân tâm phục khẩu phục.
Dị Nhân nói: "Thái phụ mưu tính sâu xa, những lời nói hôm nay đều là lời hay lẽ phải, ta nhất định ghi tâm khắc cốt. Chẳng may Di Hồng mất đi tin tức trong phong sương bão tố, thật rất khó tìm được."
Lã Bất Vi bí mật cười, nói: "May mà tôi vừa trở về, gặp gỡ cô ấy ngòai cổng phủ, được tôi mời quay trở lại."
Dị Nhân đích thân đón Di Hồng vào chính điện, sai bọn người hầu, chuẩn bị quần áo để cô tắm rửa, hầu hạ cơm nước. Khi Di Hồng đem ngọc tỉ sáng chói trình lên trước mặt Dị Nhân, Dị Nhân vui mừng ra mặt, không tài nào kể xiết. Đang bàn bạc cùng Lã Bất Vi, sai môn khách đem ấn tín của Triệu Vương đến Liễn Thành - Thân Thành ở biên giới của nước Triệu nói dối họ là sứ thần từ Hàm Đan đến, phụng mệnh của Triệu Vương cắt hai thành dâng cho nước Tần. Quân canh giữ của hai thành nhìn thấy ấn tín của Triệu Vương, tin đó là thật, sẽ ngoan ngoãn giao cho ấn tín và công văn của Quận Trứ. Rồi nhẹ nhõm trở về Hàm Đan để phục mệnh.
Dị Nhân chẳng cần mất tí công sức nào mà được hai thành ấp và muốn coi nó là thành ấp của mình. Lã Bất Vi khuyên giải nói: "Điện hạ, theo như kiến giải của hạ thần, hai thành trì này điện hạ không thể xem nó là của mình, nên dâng cho Đại vương, một là để cho triều đình và dân chúng kính nể một chút, quân lính của Dị Nhân ta không phải chịu đao kiếm mà dễ dàng có được hai thành của nước Triệu, thực sự vẫn có tài năng khuấy trời đạp đất, hai là thể hiện một chút tấm lòng chí công vô tư của điện hạ.
Dị Nhân hành sự theo sự chỉ bảo của Lã Bất Vi, quả nhiên làm cho văn võ bá quan trong triều phục sát đất tài cán của Dị Nhân và tỏ lòng kính phục, hết lời ca tụng. Việc này đã được truyền đi khắp nhân gian, dân trăm họ cũng mến mộ vạn phần, đều nói rằng Dị Nhân làm Tần Vương, nước Tần của chúng ta có thể vá trời lấp biển, vô địch thiên hạ.
Thiện Tương Vương thấy con trẻ lấy hai thành của nước Triệu, làm lễ tiến, vui mừng tột cùng nói: "Cháu của quả nhân ta, sức mạnh lẫy lừng, văn võ toàn tài. Dị Nhân này thật hơn người?"
Thiện Tương Vương vui vẻ một lúc, cuối cùng lại thưởng cho Dị Nhân Liễn Thành - Thân Thành làm phong địa.
Liễn Thành - Thân Thành đã tặng đi rồi lại được trả lại, đổi lấy được thanh danh to lớn, Dị Nhân cảm thấy trở về Hàm Dương vừa phất cờ đã thắng, mở tiệc mừng ở trong phủ. Đèn nến rực rỡ, gái đẹp hầu hạ. Lã Bất Vi uống đến nỗi mặt đỏ phừng phừng, hứng khởi nói: "Lần này thắng ít, chỉ là thử nghiệm bước đầu, những người buôn bán cho chúng ta thường nói bỏ ra ít thu về nhiều, một vốn bốn lời. Muốn đầu tư ít nhất mà được đền đáp lại lớn nhất như việc chính sự triều đình, việc này là xứng đáng!"
Dị Nhân bảo các môn khách rót đầy chén cho Lã Bất Vi vui mừng hỉ hả nói: "Lời của thái phụ đều là vàng ngọc cả, chúng tôi cứ thế tuân theo mà làm!"
Lúc này, có một người nữ hầu vào báo, Di Hồng sinh một đứa bé trai.
Lã Bất Vi phấn khởi vội nói: "Điện hạ Dị Nhân lại có cả quý tử nữa, thật là hết niềm vui này đến niềm vui khác." Theo sau lời nói của Lã Bất Vi, lại vang lên tiếng cốc chén chạm nhau.
Bởi Di Hồng suốt đường đi vất vả nên sinh sớm, đứa bé trai sinh ra không đủ cân, đầu bé tí teo. Nhưng Dị Nhân vẫn rất thương yêu nó, nói: "Đứa bé yếu ớt quá, như một con sâu nhỏ!"
Di Hồng bị đày đọa đến khổ sở, xin Dị Nhân đặt tên cho đứa bé, Dị Nhân không khỏi suy tính nói: "Thì gọi nó là Tiên đi."
Thấy Di Hồng đã sinh cho mình một đứa con trai, Dị Nhân nghĩ rằng cô cũng phải có một danh phận. Bởi trước đó đã có Triệu phi, Di Hồng đương nhiên không thể gọi làm phi được, chỉ có thể gọi là phu nhân, đó là hàng thứ hai trong hàng thê thiếp.
 
Lại nói đến hai tên quan huyện canh giữ Liễn Thành, Thân Thành của nước Triệu. Sau khi không dừng lại nghỉ ngơi về đến Hàm Đan, tìm tới trước Tùng Đài xin phục chức.
Triệu Hiến Thành Vương vẫn luôn ốm đau, triều chính của nước Triệu luôn luôn do Bình Nguyên Quân nắm giữ. Sau khi hai tên quan canh giữ huyện thành khấu đầu bái kiến liền nói với Bình Nguyên Quân. Sau khi hai thành Liễn, Thân cắt cho nước Tần, chúng tôi vội về ngay.
Lúc đầu Bình Nguyên Quân như người trên trời rơi xuống, việc gì thế? Cắt hai thành Liễn, Thân cho nước Tần ư?
Hai tên trấn giữ huyện thành bẩm báo lại sự việc đã qua, Bình Nguyên Quân nghe xong thấy rất nghi ngờ. Vội tìm đến chỗ Triệu Hiến Văn Vương để hỏi xem, Triệu Hiến Văn Vương cũng kinh ngạc vô cùng, hỏi lại: "Chúng ta chẳng có nguyên cớ gì, vì sao lại cắt hai thành Liễn, Thân cho Tần?"
Bình Nguyên Quân nói: "Hai vị trấn giữ huyện thành nói là làm theo lệnh truyền của quan giữ ngọc tể của Đại vương."
Triệu Hiến Văn Vương lúc này mới nghĩ đến việc kiểm tra ngọc tỉ của mình, vội vàng sai người mở hộp ngọc ở cạnh đầu giường ra xem, nhìn thấy ngọc tỉ đã không cánh mà bay.
Triệu Hiến Văn Vương sợ hãi nói: "Kẻ nào ăn trộm ngọc tỉ của quả nhân?" Nói rồi một mồm đầy máu tươi phun ra vạt áo.
Bình Nguyên Quân bắt tất cả các cung nữ, hoạn quan trong Tùng Đài có thể đến cấm cung của Triệu Hiến Văn Vương, điều tra xét hỏi. Nhưng miệng người nào người ấy đều câm như hến chẳng nói chẳng rằng, tỏ ra việc ấy không phải là mình làm.
Bình Nguyên Quân thấy việc truy hỏi không có kết quả thì vắt óc suy tính tìm ra cách khác, muốn tìm ra ngọc tỉ của Triệu Hiến Văn Vương đưa về nước Triêu. Cuối cùng ông nghĩ đến thái tử phi và tiểu Doanh Chính của nước Tần, còn có gia quyến của Lã Bất Vi cũng nằm trong đối tượng được nắm bắt, có thể đổi họ lấy ngọc tỉ của Triệu Hiến Văn Vương. Bình Nguyên Quân suy đi tính lại, cảm thấy ngòai cách này ra không còn cách nào hơn. Thế là viết quốc thư, sai sứ thần đến Hàm Dương thương lượng với nước Tần, nước Tần đồng ý.
Sau rất nhiều năm, mỗi khi nói về việc này ở trong cung Chương Đài, Di Hồng đương đương tự đắc nói: "Tin Lăng Quân hắn có thể ăn trộm thẻ để cứu Triệu, ta sẽ lấy ngọc tỉ hoàn cơ cho ông ta thấy." Công Tử Vương Tôn tuổi trẻ không hiểu được nhân tình thế thái và những cung nữ sau này muốn tìm hiểu ngọn ngành đầu đuôi "ăn trộm ngọc tỉ hoàn cơ". Thế rồi giai đoạn lịch sử xúc động tâm hồn năm đó làm sống lại số phận bạc bẽo của Di Hồng."
Tướng quốc Phạm Thư nhớ rõ, hoàng hôn ngày hôm đó kéo dài dằng dặc. Một dãi nắng chiều tàn tạ chậm chạp, không mấy hài lòng lặn xuống Sơn Cốc.
Đó là ngày Phạm Thư biết rằng Dị Nhân và Lã Bất Vi đã trở về Hàm Dương. Trong phòng khách của phủ tướng quốc, Tử Hề và Đỗ Thương sau một thời gian dài oán giận Thiện Tương Vương và Du Quốc Quân, lặng nhìn vào khuôn mặt không tỏ rõ buồn vui của Phạm Thư. Chòm râu rậm rạp bao năm cheo kín miệng của Phạm Thư lúc ẩn lúc hiện. Tử Hề rất chú ý chi tiết này. Hy vọng có một âm thanh làm ông hưng phấn cất lên tiếng nói từ đó.

Hồi lâu, cuối cùng Phạm Thư lên tiếng: "Phàm làm việc đều có nhanh, chậm, nặng, nhẹ, như nay Đại vương nhằm đúng vào Vũ An Quân Bạch khởi nghĩa rửa sạch hận thù, tuy nhiên làm giảm quân sĩ của ông ấy, nhưng chưa giải hận được trong lòng, không muốn nghỉ ngơi. Tôi muôn nghĩ ra một chủ ý, làm hết tâm nguyện của Đại vương. Đợi việc này giải quyết xong, rồi là ra tay đối phó với Dị Nhân và Lã Bất Vi. May sao quốc quân chưa biết được, dù rằng quốc quân sau khi thiên thu, còn có An Quốc Quân được hạ nắm giữ triều đình, Dị Nhân và Lã Bất Vi còn phải nhờ trên chạy dưới, phúc chốc thời gian khó lòng gây lên sóng gió."

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5933
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Lã Bất Vi***   Tue Feb 18, 2014 6:51 pm

Tử Hề và Đỗ Thương thừa biết, Phạm Thư đang bị vướng mắc về việc này không biết xử lý Vũ An Quân như thế nào? Thiện Tương Vương phái Ngũ Đại Phu Vương dẫn quân đánh Hàm Đan, Vũ An Quân đang mắc bệnh. Quân Tần không những tấn công lâu mà không hạ được Hàm Đan, mà còn tiêu binh tổn tướng. Lúc này, bệnh của Vũ An Quân thấy đã giảm, Thiện Tương Vương muốn ông thay Vương Lăng làm Đại tướng quân, chỉ huy đội quân nước Tần. Vũ An Quân sau khi dưỡng bệnh thân thể suy nhược đến điện Kỳ Niên khấu kiến Thiện Tương Vương, khuyên rằng: "Đại vương, nô thần dám nói thật, quả thật Hàm Đan không dễ phá vỡ, mà chư hầu muốn cứu viện, một hôm tức thì từ Trường Bình đến Hàm Đan, các chư hầu đó từ lâu đã oán hận nước Tần, mấy năm trước tuy đại phá quân Triệu tại Trường Bình, nhưng nước Tần ta quân chết một nửa, sức lực trong nước yếu thế. Bây giờ chúng ta không những tích trữ lực lượng khôi phục nguyên khí, mà còn trèo đèo lội suối để đánh vào thành đô của người ta, giả sử nước Triệu tiếp ứng từ trong, chư hầu từ ngòai đánh vào, nước Tần chúng ta như rắn mất đầu, xin Đại vương suy xét để hành sự."
Mấy hôm sau, Thiện Tương Vương nghĩ đi nghĩ lại, cảm thấy Vũ An Quân xứng làm chỉ huy, liền gọi Phạm Thư đem chiếu lệnh của ông đến phủ của Vũ An Quân thúc mời. Phạm Thư nói hết nước hết cái. Vũ An Quân không hể mảy may. Phạm Thư trở về cung Chương Đài, sôi nổi kể nào là Vũ An Quân thân thể khoẻ mạnh, muốn tìm vui thú, nào là nói năng thẳng thắn, trách Thiện Tương Vương hạ lệnh muốn đánh Hàm Đan. Sau khi Thiện Vương nghe xong tức giận đùng đùng, bởi vì lúc đó nước Tần đang đánh nhau đẫm máu với liên quân ba nước Triệu - Sở - Nguy ở ngòai thành Hàm Đan, tình thế hết sức nguy ngập. Thiện Tương Vương không sử phạt Vũ An Quân. Không lâu sau, quân lính Tần bại trận ngòai thành Hàm Đan. Thiện Tương Vương tức tối cách chức của Vũ An Quân đẩy xuống làm quân sĩ. Vũ An Quân hậm hực nói: "Nếu như Đại vương nghe theo lời khuyên của hạ thần, quân Tần đã không thất bại thảm hại." Câu nói đó đến tai Thiện Tương Vương, Thiện Tương Vương ra lệnh giam Vũ An Quân vào phòng tối. Vũ An Quân vừa buồn vừa hận, bệnh tình tái phát. Một số quan trong triệu đã minh can cho Vũ An Quân, nói rằng Vũ An Quân đã có công lao lớn với nhà Tần, Thiện Tương Vương động lòng trắc ẩn lại ra lệnh nói là đợi sau khi bệnh tình của Vũ An Quân thuyên giảm sẽ đẩy vào phòng tối sau. 
Tận mắt nhìn thấy Vũ An Quân sắp rơi vào chỗ chết mà không có đường thóat, Phạm Thư - Tử Hề - Đỗ Thương, bọn họ không ngớt lời than vãn. Không ngờ rằng Thiện Tương Vương hạ hàng lọat chiêu lệnh như thế, họ lo lắng một ngày nào đó Vũ An Quân trở lại cầm quyền, đặc biệt là Phạm Thư vốn dự tính một khi Vũ An Quân lưu đày vào phòng tối ẩm lạnh lẽo, mất đi sự quây quanh giữa môn khách và cựu bộ, tìm mấy vị thích khách du lãng tài nghệ tuyệt vời, cướp đi tính mạng của Vũ An Quân. Bây giờ xem ra kế họach này phải từ từ thực hiện.
Tử Hề và Đỗ Thường lo rằng: Dị Nhân và Lã Bất Vi trở về, sẽ chạy vạy cứu vớt Vũ An Quân ra. Hai người đưa ra ý kiến như vậy, Phạm Thư như người trong mơ tỉnh dậy nghĩ đến lúc đầu là vì không để cho Dị Nhân đến Hàm Đan làm con tin, Vũ An Quân đã không tiếc sức lực cầu cạnh van xin. Bánh ú trao đi, bánh tri trao lại. Lần ngày khẳng định rằng trước mặt Thiện Tương Vương và An Quốc Quân, Dị Nhân và Lã Bất Vi sẽ ca tụng công đức của Vũ An Quân. Lâu dần, nhóm người bọn họ phải tụ tập liên kết, hình thành lên một thế lực mạnh ngang với mình.
Thấy Phạm Thư cứ trầm tư chẳng nói, Tử Hề và Đỗ Thường đứng một bên nói như thể lửa đổ thêm dầu: "Tướng quốc! kẻ hèn xin có lời: đã chặt thì chặt cho đứt, tránh để sau này tất loạn. Phải nhân cơ hội khi họ chưa gây lên sóng gió dao sắc chém đay rối, trước tiên diệt Vũ An Quân, sau đó đối phó với Dị Nhân và Lã Bất Vi."
Pham Thư dáng vẻ lo lắng xa tính kỹ, nói: "Công tử và lão tướng quốc nói nghe có lý lắm, chúng ta phải đồng tâm hiệp lực, nắm chắc thời thế, chú ý động tĩnh của Vũ An Quân, không khó tìm ra những sai sót, sau đó bẩm tấu với Đại vương, nói ra điều lợi hại, đuổi Vũ An Quân ra khỏi Hàm Dương. Đến lúc đó, chúng ta sẽ ra tay đúng như ý muốn."
Tử Hề khẩn thiết nói: "Tướng quốc! chúng ta tìm được khuyết tật và tội danh trong con người của Vũ An Quân, vậy thì phải đợi đến ngày tháng năm nào? dứt khóat chúng ta phải dựng lên câu chuyện làm cho mọi người kinh sợ, rồi đến cung Chương Đài bẩm tấu Đại vương, để Đại Vương tin và cho đó là thật, chẳng chút ngờ vực và cảm thấy Vũ An Quân là một phạm nhân tội ác tày trời không thể dung tha."
Đỗ Thương lắc đầu nguây nguẩy nói: "Không được, không thể được, Đại vương của chúng ta rất anh minh, không dám nói là thấy được chân tơ kẽ tóc, nhưng có khả năng nắm bắt được đầu mối của sự việc, khó lòng che đậy được. Nếu như cố tình bịa đặt vô lý, một khi bị Đại vương tìm hiểu xem xét, như vậy khác gì việc lạy ông tôi ở bụi này!"
Pham Thư nói: "Bịa đặt vô lý đương nhiên không thể được, nhưng chúng ta có thể tìm hình bắt bóng. Tôi đã nghĩ kỹ rồi. Bây giờ không phải là có một số người nối đuôi nhau đi vào phủ đệ của Vũ An Quân, giải bày nỗi oan khuất hay sao? chúng ta nói rằng họ xỏ xiên triều đình, phỉ báng Thánh thượng, có ý đồ mưu phản theo địch. Tôi đến chỗ Đại Vương bẩm báo, các ngài loan tin trong vương cung và các triều thần. Như vậy sợ gì Đại vương không tin?"
Tử Hề khóat tay tán dương: "Điều này Đại vương tức giận nhất là hạ thần bình luận cái hay cái dở của ông sau lưng."
Đỗ Thương nói: "Dân chúng kích bác triều chính, phỉ báng Thánh thượng, mưu phản theo địch, như vậy là tội đại phản nghịch mắc tội chết chu di chín họ đấy!"
Pham Thư lại cùng Tử Hề - Đỗ Thương mưu tính một hồi lâu sau đó chạy về phí cung Chương Đài kiến diện Thiện Tương Vương.
 
Gia quyến của môn khách trở về Hàm Dương không lâu sau, Lã Bất Vi đã xây dựng xong phủ đệ của mình. Việc nhà trong phủ ông để cho Hoàng Phủ Kiều toàn quyền lo liệu, việc làm ăn ngòai phủ đệ dựa vào Dương Tử và mấy người tâm phúc kinh doanh. Ông dốc hết tâm sức cùng các môn khách thu thập và nghiên cứu sự việc đổi thay của các nứơc chư hầu và trong cung vua Tần, để củng cố địa vị vương hầu của Dị Nhân và để sớm có ngày lên ngôi, ông đã cố gắng hoàn tất việc chuẩn bị.
Việc đầu tiên Lã Bất Vi nhắc Dị Nhân phải làm là vào cửa thăm hỏi hoàng thân quốc thích và các vị lão tướng trong triều. Dị Nhân biết rõ dụng ý của Lã Bất Vi, họ vừa về đến Hàm Dương, thế lực mỏng yếu, vây cánh chẳng có. Việc cần kíp trước mắt là cúi mình trọng dụng người tài, tìm kiếm mọi nơi thu phục nhân tâm, xây dựng lên thế lực của mình. Lã Bất Vi với sự tinh tế của một thương nhân, ông đều suy tính kỹ càng chu đáo đối với việc Dị Nhân tới phủ đệ của ai, đến nơi nào trước nơi nào sau, mang theo lễ vật gì, cầu lễ nghĩa thế nào để đạt được mọi sự tốt đẹp.
Lã Bất Vi nghĩ thấu đáo mọi việc, tìm đến phủ để của Dị Nhân cùng bàn bạc cho tiện. Dị Nhân trở về Hàm Dương mặc dù thời gian không lâu, nhưng nay cũng đã khác xưa. Đường đường là Tần Vương Tôn, thái tử của An Quốc Quân, nơi ở rèm hoa lộng lẫy, thị vệ nô tì tiền hô hậu ủng, lời lẽ cung kính nịnh hót rót tâu bên tai, bản thân tự cho mình là nhất, vênh vang tự cao tự đại. Do vậy, đối với Thái phụ Lã Bất Vi mặc dù là người tri ân tri kỹ, nghe theo sự tính toán, nhưng chẳng giống khi ở Hàm Đan mọi việc đều phải nghe theo.
Lã Bất Vi sau khi cúi đầu bái kiến, tường tận tỉ mỉ kể lại sự sắp đặt chu tất của ông với Dị Nhân. Đại khái nói để Dị Nhân thấy sự giao thiệp rộng rãi, phú quý quyền lực và thế sự phải làm. Nhưng nghe Lã Bất Vi một thôi một hồi nói đến việc tìm tới phủ đệ của ai, đến đâu trước đến đâu sau, mang theo lễ vật gì, lễ nghi ra sao... cảm thấy rườm rà rách việc, thậm chí hơi chút dạy bảo cặn kẽ như đối với đứa trẻ không biết gì. Dị Nhân mệt mỏi nghe xong Lã Bất Vi kể lễ, chẳng mấy vui vẻ nói: "Thái phụ xin hãy yên tâm, ta lại không phải là đứa trẻ lên ba mà không biết đâu là gần gũi thân quen!"
Lời của Dị Nhân nói vừa dứt thì trong ánh mắt phát ra những cái nhìn sắc lạnh như khinh miệt. Lã Bất Vi biết rõ, nếu như ông còn tiếp tục liên thuyên nữa, sẽ chẳng có gì hay ho cả.
Lã Bất Vi về phủ đệ của mình, trong lòng canh cánh nỗi lo âu như vẫn có một điều gì báo trước không tốt lành.
Trong danh sách những người bái yết mà Lã Bất Vi lập lại không có Vũ An Quân, ông có đầy đủ lý do để nói với Dị Nhân là vì sai người ông cần tôn kính mà lại không biết. Nhung khi Dị Nhân nghe đến sắc mặt không chút mảy may, khiến Lã Bất Vi không nói ra hết ý.
Dị Nhân lên kiệu xe, bằng lòng đi bái yết người mà ông cho rằng cần phải bái yết. Kiệu xe của Dị Nhân leng keng tiến vào phủ đệ của Vũ An Quân.
Dị Nhân vừa nhìn thấy Vũ An Quân bàng hoàng một lát.
Một ông già lọm khọm, đầu gối trên thành giường. Trong trí nhớ của anh, một vị tướng tài quát mây thét gió, dũng mãnh hiên ngang biết bao. Anh còn nhớ rõ lắm, cái trâm cài tóc trên cái đầu lốm đốm bạc của Vũ An Quân như một ngọn lửa lay động, phát sáng rực rỡ mãi mãi trong con mắt của anh. Không ngờ rằng vị đại tướng quân vô tình trước mắt này, cái trâm cái tóc bao năm quân úy ngưỡng mộ ấy đã sớm bị Thiện Tương Vương thu lại mất, búi tóc trắng muốt phủ đầy sương của những tháng năm. Khuôn mặt lâu ngày không nhìn thấy ánh mặt trời kia giống như một cái bánh nướng thiếu lửa - trắng bợt và yếu đuối. Lại còn những nếp nhăn vừa dày vừa sâu, nứt lẻ như một đáy hồ khô cạn.
Dị Nhân nghĩ đến Vũ An Quân lập lên chiến công hiển hách cho Đại Tần, nghĩ đến việc chăm lo cẩn thận đối với anh trong vấn đề làm con tin ở Hàm Đan, một nỗi chua xót cuộn lên trong lòng, nước mắt ngậm ngùi gọi không thành tiếng: "Đại tướng quân!"
Vũ An Quân được nữ hầu giúp việc tựa vào thành giường sau khi kêu lên một tiếng. "Thái tử điện hạ!" Con mắt ấy ẩn hiện sự đan xen một thứ tình cảm vừa hàm chứa nhưng không biểu lộ rõ, rồi lập tức lớn tiếng quát mắng: "Ngươi - kẻ tiểu nhân vong ơn bội nghĩa, cút ngay đi cho ta nhờ!"
Câu nói của Vũ An Quân như một gáo nước lạnh dội vào đầu Dị Nhân làm anh không kịp tránh. Rất lâu sau, Dị Nhân mới như tỉnh lại, trách móc hỏi: "Đại tướng quân, ngươi không thể nhận ra kẻ lại nhân này ư? ta có ý tốt đến thăm viếng ngươi, sao ngươi lại lăng nhục trách mắng ta?"

"Nay ta và ngươi không thể có cùng mặt trời, cũng chẳng có cùng ngôn ngữ chung. Ngươi mau đi đi?" Vũ An Quân với một bộ mặt xa lạ, sau đó gọi bọn người hầu đuổi Dị Nhân ra khỏi cửa.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5933
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Lã Bất Vi***   Wed Mar 26, 2014 6:42 pm

Dị Nhân từ trong phủ đệ của Vũ An Quân bị coi thường mà trở về, bao nhiêu hứng thú thăm viếng người thân bè bạn bỗng nhiên chẳng còn nữa, ngao ngán trở về phủ đệ của mình, anh ngồi bần thần cả buổi, không tài nào lý giải nổi cử chỉ của Vũ An Quân, lẩm bẩm một mình nói: "Vũ An Quân ngươi chẳng hiểu tình người... đày đi thiên Tỉnh Quan."
Khi Dị Nhân đến phủ đệ của Lã Bất Vi để thông báo cho ông ta biết chiếu lệnh của Chiêu Tương Vương, Lã Bất Vi trông thấy Dị Nhân nước mắt giàn dụa, biểu lộ một nỗi xót thương, đồng cảm chân thành.
Dị Nhân bùi ngùi than thở: "Phía bắc Thiên Tỉnh quan giáp với đất của người Hồ, là nơi hoang vu hẻo lánh, cách trở núi non, đường xá xa xôi. Vũ An Quân lại bệnh tật triền miên, chưa kịp đến nơi có lẽ đã chết đói chết rét dọc đường rồi, chắc rằng trọn đời cũng chẳng thể trở về được nữa!"
Dị Nhân ủ dột, buồn rầu ngồi lại một lúc, rồi rời khỏi phủ Lã Bất Vi trở về.
Nỗi niềm của Dị Nhân đã cảm động đến Lã Bất Vi. Sau khi Dị Nhân trở về, Lã Bất Vi trơ trụi một mình một bóng, đối diện với ngọn đèn dầu mà lặng lẽ buồn thương. Ông có được nghe một số người nhiều lần nói đến chuyện Vũ An Quân đã chăm lo cho những kẻ bị bạc đãi là Hạ Cơ và Dị Nhân với tấm lòng rộng rãi, nghĩa hiệp ra sao; đã cầm gươm mặc giáp , chiến công hiển hách thế nào; đã thương xót những kẻ bần hàn cơ độc, đã tiếp tế cho dân thường áo vải ra sao; và đã công bằng liêm chính, cương trực bất khuất, dám nói thẳng để mạo phạm đến Chiêu Tương Vương như thế nào...
Lã Bất Vi nghĩ đến đây, trong lòng bỗng nảy sinh một nỗi thương xót và kính phục lớn lao đối với Vũ An Quân. Và ông cũng đã lý giải được phần nhiều nguyên do tại sao Dị Nhân luôn luôn có thâm tình với Vũ An Quân như vậy.
Trầm tư khá lâu, rồi Lã Bất Vi cho tìm Tư Không Mã đến phòng ngủ của mình, đóng cửa lại, rồi nói với ông ta, vẻ bí mật vô cùng: "Ngày mai, ngươi hãy thay ta làm một chuyện, mà phải làm sao cho thật kín đáo, trôi chảy, thần không biết, quỷ chẳng hay."
Tư Không Mã với một vẻ sẵn sàng lao vào nước sôi lửa bỏng đáp lời: "Thái phó đại nhân, có chuyện gì tùy đại nhân sai bảo."
"Đại để là người đã được nghe rồi, Vũ An Quân vì làm cho đại vương nổi giận nên bị lưu đầy đến Thiên Tỉnh Quan. Ngươi hãy chờ trên con đường từ Hàm Dương đến Thiên Tỉnh Quan, đợi đúng thời cơ, hãy đem 50 dật vàng này đưa cho Vũ An Quân, rồi nói rằng có vị Vương Tôn nước Tần không tiện bày tiệc tiễn đưa, nên đặc mệnh cho ngươi mang tặng ông ta số tiền vàng này. Mong rằng tướng An Quân hãy gắng bảo trọng."
"Tiểu nhân cam đoan sẽ đưa 50 dật vàng đến tận tay Vũ An Quân, không sót một ly."
"Khi làm việc này, không thể để cho bất kỳ ai trông thấy."
"Tiểu nhân đã rõ. Nhưng giả sử Vũ An Quân có hỏi năm mươi dật vàng này có phải do Dị Nhân điện hạ tặng cho hay không thì tiểu nhân phải trả lời ra sao?"
"Ngươi không phải đáp gì cả, không bảo đúng, cũng chẳng bảo sai. Lập tức đi ngay."
Trên con đường từ Hàm Dương đến Thiên Tỉnh Quan, Tư Không Mã suốt hai ngày đêm gội tuyết dẫm băng, nhịn đói nhịn rét để trốn trong rừng rậm chờ đợi, nhưng cũng chẳng thấy chút tăm hơi nào của Vũ An Quân. Tư Không Mã có biết đâu rằng Vũ An Quân vừa rời khỏi Hàm Dương được mười dặm, mới đi đến vùng Đỗ Sưu, thì Chiêu Tương Vương đã ban cho ông ta một thanh kiếm để tự vẫn rồi.
Lã Bất Vi sững sờ trước cảnh đi săn hoành tráng của Chiêu Tương Vương.
Đó là một buổi sáng, tuyết mới ngừng rơi, gió lạnh tê tái. Đỉnh Tần Lĩnh tô điểm, trang sức một màu bạc trắng, tựa như ánh nến đang thỏa sức lung linh, dòng sông Vị tuyết băng phủ kín, tương tự một cô gái an nhàn đang nằm yên lặng giữa bình nguyên um tùm xanh sẫm. Trên con đường từ Hàm Dương đến ung thành, những lá cờ Thúy hoa năm màu sáu sắc đón gió bay phần phật. Đi đầu tiên trong hàng ngũ đi săn là những quân úy, ngồi trên bốn hàng ngựa đang cùng tiến lên. Những gíap trụ họ mặc trên người và ánh phản quang của đống tuyết trắng phản chiếu lẫn nhau. Đi sát phía sau là đội Nghi trượng. Các thị vệ, cung nga giơ cao cờ hiệu, cờ tiết, quạt lông. Gió bấc thổi vào làm phát ra những âm thanh lọat soạt tựa như tiếng xé vải.

Sau đó là chiếc xe của Chiêu Tương Vương, do bốn con ngựa ngũ sắc kéo. Bên trái xe là An Quốc Quân, bên phải xe làm Phạm Tuy. Tuy rằng đã vào tiết giữa đông gía rét, nhưng trên xe vẫn không che rèm, để tiện lợi cho việc quan sát được xa, khi phát hiện ra con mồi có thể nhanh chóng giương cung bắn tên. Chiêu Tương Vương đầu đội mũ miện, mình mặc măng bào bằng lông chồn. Tuy rằng vị quân chủ của một nước này tuổi đã cao, người đã khô gầy, nhưng vẫn bám vào càng xe, hiên ngang trước gió, rất có khí phách của ngựa Ký tại chuồng, chí ngòai nghìn dặm. Điều này đã cổ vũ cho các văn võ bá quan, vương tôn công tử tùy tùng. Phía sau xe của Chiêu Tương Vương là các quan lại trạng yếu như Cung giảo sĩ, Thứ trưởng, Tả thứ trưởng, Tưởng sử, Bang tư không, Công thất thừa, Tông chúc, Quốc úy, Thượng tướng quân, Tư ngự, họ dắt theo chó săn. Hai mươi ba người cháu của Chiêu Tương Vương cùng với các thái phó của họ cùng ngồi xe, cầm cung, sung thêm vào đội ngũ xạ thủ đi săn.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5933
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Lã Bất Vi***   Wed Mar 26, 2014 6:58 pm

Đến Ung Thành, Chiêu Tương Vương đích thân bái tế ở bốn khu vực thờ phụng trời và ở Tông miếu, sau đo mới bắt đầu đi săn. Phạm Tuy là tổng tư nghi của đoàn đi săn, sau khi được Chiêu Tương Vương truyền ý chỉ, ông ta bèn ra lệnh một tiếng, tức thì các vương hầu, quan tướng vương tôn, công tử liền thúc ngựa giong xe, chạy vào trong bãi hoang hay rừng núi nơi đi săn. Thoáng chốc đã ồn ào tiếng người la ngựa hý, chiêng trống ầm vang. Bụi tuyết bay mù mịt khắp nơi. Đâu đâu cũng huyên náo, tựa như trong một chiếc vạc đang sôi sùng sục, loạn vô cùng, sôi động.
Những hổ, báo, lợn rừng, dê rừng ẩn nấp trong rừng, bãi, khe, hang bị kinh động, bỏ chạy loạn xạ, trở thành những mục tiêu cho người ta truy đuổi, bắn giết.
Dị Nhân vì đã bị giữ làm con tin rất lâu ở Hàm Đan, võ công rất kém cỏi, ở trên xe, tuy rằng thỉnh thoảng cũng bắn ra vài mũi tên, nhưng đều chỉ phí công vô ích. Vài giờ đã trôi qua, mới bắn trúng một con dê rừng non yếu ớt.
Lã Bất Vi buôn bán khắp thiên hạn, có thể cho rằng đã luyện thành cái thuật hút vàng vào tay áo, nhưng về phép giương cung bắn tên lại dốt đặc. Ông ta phóng ngựa truy đuổi, cũng vờ bắt chước động tác giương cung đặt tên, nhưng chẳng hề động chạm đến một con thú hoang nào.
Trông thấy rất nhiều Vương Tôn khác của nươc Tần bắn bách phát bách trúng, trên thanh chắn phía sau xe, trên khung xe treo, vắt la liệt những chim rừng, thú hoang máu tươi còn nhỏ ròng ròng, con thì đã chết, con thì còn thoi thóp thở, Lã Bất Vi cảm thấy số thú vật mà Dị Nhân săn được ít ỏi đến đáng thương hại. Nếu so sánh Dị Nhân với đám anh em dũng mãnh tráng kiện kia, thì khác gì đem con dê non nhãi ranh trên xe của Dị Nhân so sánh với cả dây những hổ dữ, sư tử kia. Mặc dù là như vậy, nhưng Lã Bất Vi không hề lo lắng, sốt ruột.
Về việc phải làm sao để cải thiện tình trạng thảm hại của Dị Nhân trong cuộc đi săn này, ông ta đã có sẵn kế sách trong lòng.
Trước khi ra khỏi kinh thành, Lã Bất Vi đã dự liệu trước tình hình. Nếu xảy ra tình trạng như vậy, sẽ làm tổn hại đến hình tượng anh dũng của Dị Nhân điện hạ. Ông ta đã có chuẩn bị từ trước nên không hề lo lắng, móc từ trong túi ra rất nhiều tiền bạc. Trong khi mọi người đang vô cùng hào hứng, mê mải trong cuộc săn, đã sắp sửa đẩy xe trở về, Lã Bất Vi lặng lẽ, kín đáo đi mua lại những thú vật do các quan tướng có tước vị khá thấp kém đã săn được, mặt khác, chỉ mua của mỗi người một con. Ông ta vung tiền rộng rãi, giá cả gấp mấy lần ngòai chợ. Trong nháy mắt, con ngựa của Lã Bất Vi khắp lưng khắp người đã treo đầy chim thú, ông ta mới ruổi ngựa đi theo Dị Nhân. Khi đến bên xe của Dị Nhân, Dị Nhân thấy Lã Bất Vi săn được nhiều như vậy, thì vô cùng kinh ngạc. Dị Nhân hỏi: "Thật không ngờ rằng Thái phó lại là mũi dùi giấu trong đống thóc, không để lộ mũi nhọn ra ngòai. Tổng cộng được bao nhiêu?"
Lã Bất Vi trả lời: "Ba hổ, ba sói, năm dê rừng, hai nhung, hai hoẵng, tổng cộng được mười bốn con."
Dị Nhân vô tình nhìn đến túi đựng tên của Lã Bất Vi, phát hiện ra túi tên của ông ta chẳng hao đi mấy chiếc, bèn vô cùng nghi họăc mà hỏi rằng: "Tên của thái phó dường như còn nguyên chưa động đến, vậy bắn bằng thứ gì?"
Lã Bất Vi móc từ túi ra một đĩnh bạc, trả lời: "Bắn bằng cái này, kích phát bách trúng, dễ dàng như lấy đồ vật ở trong túi."
"Lã thái phó dùng tiền bạc để mua về ư?"
"Phải!"
"Giá bao nhiêu?"
Lã Bất Vi nói với Dị Nhân số tiền bỏ ra để mua thú về.
Dị Nhân thấy quá đắt đó, bèn nói: "Giá tiền gấp đôi gấp ba so với chợ, thế mà lại bỏ gần theo xa, về kinh đô rồi đi mua có phải hơn không?"

Lã Bất Vi nhìn khắp xung quanh không thấy ai, bèn nhấc một con dê bụng vàng lên ném vào trong xe của Dị Nhân. Dị Nhân kinh ngạc, mừng rỡ chăm chăm nhìn Lã Bất Vi đầy vẻ biết ơn. Lã Bất Vi vừa định giải thích, thì Dị Nhân nói: "Thái phó không cần phải nói, tôi đã hiểu rõ rồi. Hành động này thực chẳng khác nào tặng than cho người đúng khi trời tuyết!" Thực ra, Dị Nhân cũng đang xấu hổ vô cùng vì bản thân mình gần như trở về tay không. Bây giờ đã được Lã Bất Vi mua cho những chim thú quý hiếm, để bổ sung vào đám chiến lợi phẩm, cứu được ông ta trong lúc nguy cấp.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5933
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Lã Bất Vi***   Thu Mar 27, 2014 6:48 pm

Lã Bất Vi mang những muông thú mua được theo thứ tự mà treo đầy vào thanh chắn phía sau xe, nói một cách thẳng thắn: "Điện hạ là bậc cao quý, thái tử của An Quốc Quân. Hạ thần trộm nghĩ, không những chỉ cần danh phận, tước vị cao quý vô song, mà về mọi phương diện khác đều phải tỏ ra siêu phàm thóat tục, tinh anh khác thường."
Dị Nhân mặt mày hớn hở, nói: "Ta cũng nghĩ như vậy, thực là suy nghĩ của những anh hùng tương tự như nhau!"
Kết thúc cuộc săn, Chiêu Tương Vương sai quan sắc phu phát nỏ đi kiểm tra số lượng mông thú đã bị các Vương tôn nhà Tần bắn được. Sau khi tổng kết, kết quả là Dị Nhân đứng đầu bảng. Chiêu Tương Vương biết, vui mừng hiển hiện lên nét mặt, nói với các cận thần tả hữu với giọng tự hào, trước mắt đội ngũ đi săn vừa mới trở về: "Các cháu của quả nhân ai nấy đều giỏi cưỡi ngựa bắn cung. Hàng long phục hổ, rõ ràng không phải Dị Nhân thì còn là ai được nữa. Lo gì họ Doanh nhà ta lại không thể tiêu diệt sáu nước chư hầu, hoàn thành bá nghiệp nhất thống thiên hạ!"
Cả đoàn người bùng lên một đợt tung hô, âm hưởng vang dội khắp núi non hang suối.
Rốt cục là vì tuổi đã quá năm mươi, thể lực không còn kham nổi, nên Chiêu Tương Vương khi trở về đế thẩm cung ở Chương Đài, liền cảm thấy đau lưng nhức chân, gan cốt rã rời. Ông ta nằm dài trên giường để hai cung nữ da thịt nõn nà đấm bóp lưng một cách nhịp nhàng.
Một vị hoạn quan tiến vào, quỳ xuống khả bẩm rằng Tướng quốc Phạm Tuy muốn được diện kiến. Trong lúc này, nếu là người khác thì Chiêu Tương Vương ắt đã cho người cự tuyệt từ ngòai cửa hoặc cho đuổi khỏi cung Chương Đài. Nhưng vừa nghe là Phạm Tuy, lại bất chấp những mệt nhọc sau cuộc săn bắn mà đến, ắt hẳn là có chuyện quan trọng muốn tâu bày.
Phạm Tuy bước vào, nói: "Đại vương mới trở về, long thể còn mỏi mệt, mà hạ thần lại đến quấy nhiễu, thực là tội đáng muôn chết. Nhưng đại vương đã lơ là mất một chuyện, hạ thần không thể không đến đề cập với đại vương."
Chiêu Tương Vương nói: "Ồ, Đại tướng quốc của quả nhân, khách sáo cái gì, có điều gì thì mau nói ra đi."
Phạm Tuy nói: "Một việc lớn là cuộc săn bắn rầm rộ, vang dội như hôm nay, thực là lâu lắm rồi không có, Đại vương long nhan sảng khóai, nên ban thưởng thịt tế mới phải."
Chiêu Tương Vương nói, rất đồng cảm: "Nên ban thịt tế! nên ban thịt tế! nhà ngươi xem đấy, trí nhớ của ta thật là tệ quá!"
Vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, sau khi kết thúc những công việc như đến Ung Thành tế Trời tế Miếu, đi săn bắn, thì bậc quân chủ phải tiến hành ban thưởng cho các hạ thần và thân thuộc. Ban thưởng chia thành các lọai thưởng vật, thưởng thành, thưởng mệnh, thưởng thịt. Thưởng vật, tức là ban thưởng bằng vật phẩm. Thưởng thành, tức là ban cho thành cấp làm đất phân phong. Thưởng mệnh, tức là quân vương ban bố mệnh lệnh khen thưởng. Nhưng cao quý nhất, long trọng nhất phải kể đến thưởng thịt tế. Ba lọai ban thưởng phía trên, hầu như tất cả mọi quan lại đều có thể được hưởng, nhưng thưởng thịt tế thì chỉ có những kẻ thân thuộc của nhà vua mới có thể được hưởng. "Thịt tế" tức là thịt được sử dụng trong những dịp tế tổ ở tông miếu, sau khi cúng tế xong, chỉ có thể ban cho những người có quan hệ huyết thống với nhà vua.
Chiêu Tương Vương gắng gượng cất tấm thân mệt mỏi trở dậy, truyền cho quan Tông chúc chưởng quản việc tế tự đến, hỏi xem những thịt tế để cung phụng trong tông miếu đã được vận chuyển đến chưa. Tông chúc nói rằng đã vận chuyển để nơi nguyên vẹn, không hề hao tổn. Chiêu Tương Vương run lật bật ngồi dậy khỏi giường, định chấp chưởng công việc chia thịt. Phạm Tuy nói rằng: "Bóng đêm đã bao trùm, đại vương lại vô cùng mệt mỏi, xin đại vương hãy ban một mệnh lệnh cho chia thịt, còn những công việc cụ thể hãy để hạ thần thừa lệnh thi hành cũng được. Chiêu Tương Vương suy nghĩ chốc lát, rồi ban một đạo mệnh lệnh, giao cho Phạm Tuy thực thi.
Sau khi Phạm Tuy trở về Tướng phủ, lập tức sai môn khách mời Tử Hề đến. Từ Hề dụi dụi đôi mắt lem nhèm ngái ngủ, lầu bầu nói:"Đại tướng quốc của ta, nửa đêm canh ba mà vẫn còn trăn trở cái gì vậy?"
Phạm Tuy vẻ hưng phấn ngồi nói: "Hôm nay săn bắn, đại vương rất vui vẻ, nên đã cho chia thịt tế."
Tử Hề lộ rõ vẽ hớn hở nói: "Buổi đi săn hôm nay khiến cho thằng nhóc Dị Nhân hăng máu quá mức, có thưởng thịt tế cho hắn thì ăn cũng chẳng biết ngon."
Phạm Tuy không vừa lòng, nói: "Đại công tử nói như vậy là bất kính đối với Đại vương rồi!"
Rồi ông ta đuổi hết tả hữu, ghé tai thì thào nói với Tử Hề rằng: "Thịt tế này sẽ trị khỏi cho tâm bệnh của đại công tử."
"Trị khỏi được tâm bệnh gì của ta?"
Phạm Tuy nghiến răng nghiến lợi mà nói: "Đại vương giao cho tôi chấp hành việc này, tôi sẽ tẩm độc vào khắp trên dưới miếng thịt tế được chia cho Dị Nhân, để cho hắn cùng hai mụ phi tử với lại thằng nhãi ranh kia ăn vào mà lăn đùng ra chết."
Chuyện này quả thực nghiêm trọng, Tử Hề hoảng sợ đến thót tim, tinh thần chấn động. Tử Hề cũng thấy rằng đây là cơ hội ngàn năm một thuở để trừ khử Dị Nhân, nhưng Tử Hề lại lo rằng sau khi Dị Nhân chết đi, không may bị Đại vương tra xét, mà lộ chân tướng, thì quả thật là một đại họa giáng xuống đầu. Phạm Tuy bảo Tử Hề không phải suy nghĩ nhiều quá, trên đường đi Ung Thành, ông ta đã suy tính trước sau rồi, đảm bảo việc này rất kín đáo, không có một chút sơ hở.
Tử Hề đảo đảo đôi mắt sáng, hỏi: "Dựa vào đâu để bảo rằng không có chút sơ hở?"
Phạm Tuy nói chắc như đinh đóng cột: "Đại công tử hãy nghĩ mà xem, nếu Dị Nhân quả thật chết đi, có kẻ nào lại dám nghi ngờ rằng trong miếng thịt Đại vương ban cho lại có độc. Vả lại từ khi giết thú vật, rửa ráy, thui nướng, vận chuyển đi xa, rồi trải qua cúng tế, vận chuyển trở về, cắt xẻ, phân phát, cho đến khi đưa vào phủ đệ của Dị Nhân, miếng thịt tế ấy đã phải qua tay bao nhiêu người theo một lọat những mắt xích như vậy, đến thần tiên cũng không thể biết rõ được ai là kẻ hạ độc thủ. Chắc chắn là Đại vương sẽ không nghi ngờ cho ngài và tôi đâu!"
Nghe Phạm Tuy nói vậy, Tử Hề được tăng thêm lòng dũng cảm, bèn tự mình xuống bếp hành động, đem thuốc độc tẩm vào khắp miếng thịt tế phát cho Dị Nhân, đồng thời lại chừa lại trên thớt một tiếng thịt đem cho mèo đen ăn, con mèo đen ăn xong kêu gào, giãy giụa trên mặt đất một hồi rồi chết.
Khi Phạm Tuy sai người đem miếng thịt tế đến phủ đệ của Dị Nhân, ở đó vẫn đèn đuốc sáng trưng, người rất đông đúc, không có vẻ yên lặng chuẩn bị đi ngủ. Người trên người dưới trong phủ đều biết chuyện Dị Nhân được Chiêu Tương Vương khen ngợi, nên một cảnh tượng tưng bừng choán ngợp khắp nơi. Giờ đây, lại được Đại vương ban thịt tế, thực là như gấm thêm hoa.
Dị Nhân lập tức sai người cắt thịt làm món, bày đặc tiệc rượu. Lại sai Triệu Cơ, Di Hồng, Doanh Chính tắm gội, thay quần áo, chuẩn bị một cuộc say sưa hưởng thụ ơn trạch nồng hậu của nhà vua trong yến tiệc ban đêm.
Dị Nhân lại nghĩ đến Lã Bất Vi. Bản thân Dị Nhân có thể chuyển nguy thành an, từ Hàm Đan trở về, được nối dõi, đứng vào hàng tên quý, là đều nhờ vào vị đại thương nhân này. Không những thế, lại còn khảng khái nhường người đẹp cho, mỗi khi nguy cấp gian nan, đều chỉ đường dẫn lối, trù tính sắp đặt. Nghĩ đến đấy, Dị Nhân kiên quyết định sai người đi mời Lã Bất Vi đến, cùng nhau chung hưởng vinh dự muộn màng này.
Khi Lã Bất Vi đến nơi, việc chuẩn bị cho yến tiệc đã ổn định xong xuôi. Mùi thơm của rượu, của thức ăn từ trong gian bếp tỏa ra từng đợt liên tục, xua cũng không bay đi. Những chén rượu, tửu lệnh sáng phát quang, phản chiếu lên những cảnh tượng mỹ lệ.
Lã Bất Vi vừa đến, cũng là lúc người đầu bếp bưng thức ăn vào sảnh đường, Lã Bất Vi đưa tay ngăn lại, nói: "khoan đã, chớ vội động đũa rót rượu!"
Rồi ông ta hỏi kỹ càng về quá trình Chiêu Tương Vương ban thưởng thịt tế.
Khi ông ta biết được rằng việc này do Phạm Tuy chủ trì, lại sai người đưa thịt tế đến, thì nhíu lông mày lại, hằn lên những vết nhăn dọc giữa trán, đôi con ngươi đảo qua đảo lại, rồi nói, giọng nhẹ nhàng, rõ rệt: "Trước khi mọi người thưởng thức thịt tế, tôi có một mẩu chuyện có liên quan đến thịt tế, cũng rất lý thú. Bây giờ tôi xin được kể cho thái tử điện hạ và mọi người cùng nghe, để trợ hứng, tô điểm thêm cho buổi yến tiệc đêm nay."
Nếu một kẻ bình thường nào khác mà rườm rà như vậy để trì hoãn cuộc thưởng thức thịt tế, thì đã bị Dị Nhân chửi mắng, tống cổ ra ngòai lập tức.
Nhưng hôm nay lại là Thái phó Lã Bất Vi, vả lại, Dị Nhân đã từng trải thực tế, biết rằng mỗi khi xảy ra những tình trạng tương tự, Lã Bất Vi thường có những hành động nằm ngòai dự liệu của mọi người, khiến người ta học tập được không phải là ít.
Dị Nhân nói với Lã Bất Vi: "Nghe được một lời của ngươi còn hơn đọc sách mười năm. Chúng tôi xin cung kính lắng nghe câu chuyện của Thái phó."
Thực ra trong lúc ấy, Lã Bất Vi không hề hay biết rằng Tử Hề đã tẩm thuốc độc vào miếng thịt, mà chẳng qua, ông chỉ cảm thấy rằng Phạm Tuy chủ trì công việc này, có lẽ sẽ sử dụng thủ đoạn. Thậm chí, ông còn thấy trỗi dậy một nỗi hoảng sợ kỳ lạ. Việc này khiến cho ông nhớ đến một câu chuyện xảy ra trong cung đình nước Tấn, ông muốn kể ra để cảnh cáo cho Dị Nhân.
Lã Bất Vi bắt đầu kể với một giọng rất hấp dẫn, lọt tai:
"Xưa kia, nước Tấn còn là một quốc gia lớn mạnh, sau đó là nước Nguy, Hàn, Triệu chia xẻ nước Tấn, nước Tấn mới bị diệt vong. Trước kia, Tấn Hiến công nắm giữ chính sự, cưới người con gái nước Tề là Khương Thị làm vợ, sinh được người con trai tên là Thân, lập làm thái tử. Năm Tấn Hiến công thứ năm, nước Tấn chinh phạt Ly Nhung, bắt được Ly Cơ và em gái. Cả hai đều trở thành những người thiếp được Tấn Hiến công rất sủng ái. Vài năm sau, Ly Cơ sinh được một con trai, đặt tên là Hề Tề. Tấn Hiến công bắt đầu xa lánh ba người con trai đầu, mà rất yêu Hề Tề, muốn lập Hề Tề làm thái tử, phế bỏ Thân. Ly Cơ là một người tâm địa độc ác, quỷ kế đa đoan, chỉ mong sao con trai mình được lập làm thái tử. Nhưng mụ còn e sợ thái tử Thân công cao đức trọng, chư hầu đều hướng theo, sợ rằng bây giờ bỏ trưởng lập thứ, sẽ gây ra loạn lạc, tai họa. Khi Hiến Công nói với Ly Cơ suy nghĩ của mình, mụ ta lại dùng lời lẽ ngon ngọt mà nói rằng: việc lập thái tử, chư hầu đều đã biết cả rồi. Thái tử lại nhiều lần dẫn quân chinh phạt, công đức ngời ngời, rất có thanh danh trước dân chúng, vậy thì đại vương làm sao có thể vì thần thiếp mà phế trưởng lập thứ cho được! nếu đại vương kiên quyết làm như vậy, tiện nữ chỉ còn biết dùng cái chết để can gián mà thôi!
Ngòai mặt, Ly Cơ ca ngợi thái tử Thân, nhưng trong lòng lại ghét cay ghét đắng, chỉ chăm chăm tìm thời cơ để dịêt trừ thái tử. Mẹ đẻ của thái tử Thân là Tề Khương mất sớm. Thái tử là người con có hiếu, muôn phần tưởng nhớ mẫu thân. Thái tử Thân thay mặt Hiến công ra phòng thủ Khúc Ốc. Khúc Ốc là vùng đất màu mỡ, nơi đặt Tông miếu của tổ tiên nước Tấn. Một hôm, Ly Cơ nói với thái tử Thân rằng: Đêm hôm qua Đại vương mơ thấy Tề Khương, nhà ngươi là đứa con có hiếu, hãy mau mau đến tông miếu ở Khúc Ốc tế lễ cho bà ta đi, sau đó mang thịt tế dâng cho Đại vương, để cho Đại vương được hưởng thụ cái phúc ấy.
Thái tử Thân đã đến Khúc Ốc để tế lễ cho mẹ đẻ là Tề Khương, lại đem thịt tế trong Tùng miếu dâng lên cho phụ vương. Ly Cơ đã lén sai người mang thuốc độc bôi lên miếng thịt. Hai ngày sau, Hiến công đi săn trở về, viên quan lo việc nấu nướng đem thịt tế ấy dâng lên cho Hiến công, Hiến Công vừa định ăn, thì Ly Cơ đứng bên cạnh ngăn lại, khuyên rằng: Thịt tế này được mang đến từ một nơi rất xa, nên phải thử qua một chút!
Ly Cơ sai người cắt lấy một miếng thịt mang cho chó ăn, chó lập tức lăn ra chết. Lại cho một hoạn quan nhỏ ăn, hoạn quan cũng lập tức chầu trời..."
Nghe đến đây, Dị Nhân như đã tỉnh ra, bèn đứng dậy đi vào gian bếp.
Lã Bất Vi vẫn say sưa kể tiếp: "Khi đó, Ly Cơ khóc lóc nói rằng: Đại vương, Thái tử thật quá tàn nhẫn! đến cha ruột của mình mà còn muốn giết hại, muốn nhân dịp để lên ngôi, huống gì là đối xử với những người khác. Đại vương tuổi tác đã cao, là người trong buổi xế chiều, vậy mà hắn không đợi nổi lại muốn giết đi, thật là độc ác quá lắm! Sở dĩ thái tử làm như vậy, chẳng qua là vì tiện thiếp và Hề Tề thôi. Tiện thiếp khẩn cầu đại vương gia ơn, cho phép mẹ con tiện thiếp được chạy sang nước chư hầu lánh nạn, hoặc là cho phép được tự sát sớm đi, để tránh khỏi thảm cảnh bị rơi vào bàn tay tàn độc của thái tử.
Hiến Công nổi giận đùng đùng, nhưng vì Thái tử Thân đã trở về Khúc Ốc, nên đã mang Thái phó của Thái tử đang sống ở kinh thành là Đỗ Nguyên Khoản ra giết. Có người đem đầu đuôi câu chuyện kể lại với thái tử Thân, đồng thời khuyên thái tử hãy đến gặp Hiến Công để biện bạch rõ ràng. Thái tử Thân nói: phụ thân tuổi đã cao rồi, nếu không có Ly Cơ thì ngủ không được yên, ăn không được ngon. Nếu chuyện này được vạch rõ trắng đen, Ly Cơ không bị lưu đày thì cũng bị giết chết, vậy thì phụ vương biết sống ra sao đây?
Có người lại nói với thái tử Thân rằng: thái tử điện hạ hãy mau chạy sang nước chư hầu khác đi! Thái tử Thân nói: mang theo tội ác giết cha cướp ngôi nghiêm trọng như vậy, còn vị vua chư hầu nào dám tiếp nhận ta? ta tự sát là xong chuyện! Như vậy vào ngày mậu thân tháng 12, thái tử Thân tự sát mà vong mạng ở Khúc Ốc."
Lã Bất Vi vừa kể xong câu chuyện, thì một người hầu bước vào mời Lã Bất Vi xuống bếp, chỉ thấy một con chó nằm chết còng queo trên mặt đất, còn Dị Nhân đứng bên cạnh, sợ đến nổi mặt xám như chàm. Lã Bất Vi đã hiểu ra, câu chuyện ông ta kể đã gợi ý cho Dị Nhân. Thái tử điện hạ đã thông minh ra nhiều.
Dị Nhân hỏi Lã Bất Vi: "Thái phó, làm sao ngài biết được trong thịt tế có độc?"
Thực sự, Lã Bất Vi không hề biết rằng trong miếng thịt có độc, chỉ là nghi ngờ mà thôi. Nghe Dị Nhân hỏi như vậy, để đề cao hình tượng của mình trong mắt Dị Nhân, Lã Bất Vi khéo léo lên giọng tự phụ rằng: "Mánh khoé của lão giào họ Phạm ấy làm sao có thể qua khỏi mắt tôi."
Dù rằng Lã Bất Vi nói rất nhẹ nhàng thỏai mái, nhưng chính mắt trông thấy miếng thịt quả thực là có độc, ông ta cũng sợ đến bủn rủn chân tay. Những chuyện đấu đá, hãm hại lẫn nhau kiểu một mất một còn trong chốn cung đình, trước đây ông ta chỉ biêt đến qua sách vở hoặc nghe người ta đồn đãi, nhưng giờ đây lại là nếm trải của người trong cuộc. Hơn nữa, lại còn liên quan đến cả bản thân mình. Cây muốn lặng mà gió chẳng đứng, từ nay về sau phải luôn luôn dè chừng như bước trên băng mỏng, những mũi tên ngọn giáo trước mặt sau lưng rồi sẽ liên tục đập kích vào bọn họ.
Dị Nhân định bỏ yến tiệc đêm này, đến chỗ Chiêu Tương Vương để tố cáo Phạm Tuy.
Lã Bất Vi ngăn Dị Nhân lại, nói: "Thịt tế đã chuyển qua tay rất nhiều người, mà công tử lại không bắt được tận tay Phạm Tuy. Không có bằng cớ xác đáng rõ ràng, mà chỉ là hòai nghi, thì làm sao đại vương có thể tin cho được. Điện hạ mà làm lớn chuyện, đòi chất vấn trước triều đình, chúng ta và bọn Phạm Tuy, Tử Hề công khai đối địch, vậy thì không còn chỗ nào có thể tiến thóai được nữa. Bọn họ thao túng trong triều đã lâu, người đông thế mạnh, nếu bị dồn đến đường cùng, chó càn dứt giậu, sẽ dũng mãnh vô cùng. Còn điện hạ mới từ Hàm Đan trở về, các văn võ đại thần trong triều đình được mấy người sẵn lòng liều chết để giúp cho điện hạ. Cái đạo văn võ, là phải vừa căng vừa chùng, căng hay chùng thì phải dựa theo thời thế. Điện hạ giờ đây cần phải âm thầm gây dựng, tăng thêm vây cánh, bao giờ thời cơ chín mùi, chỉ một gậy là có thể đập chết được bọn chúng!"
Dị Nhân hỏi: "Vậy còn bữa yến tiệc đêm nay..."
Lã Bất Vi nói: "Vẫn cứ bắt đầu không nên chậm trễ, đừng nên cho người khác biết chuyện này. Thịt khô mùi vị không khác mấy so với thịt tế, cắt ra một mâm bảo là thịt là xong."
 
Sự hưng phấn và thắc thỏm, khiến cho Tử Hề trằn trọc không yên, cả đêm không tài nào ngủ được. Tử Hề nghĩ rằng, đến lúc mặt trời lên ba con sào, chắc rằng sẽ có tin dữ từ phủ đệ của Dị Nhân truyền ra. Nhưng suốt một buổi sáng, bên đó vẫn chẳng thấy động tĩnh tăm hơi gì về sau, Tử Hề không cầm lòng nổi, bèn đích thân sang phủ đệ Dị Nhân xem kết cục ra sao.
Khi Dị Nhân trang phục đẹp đẽ, vẻ như chưa từng xảy ra chuyện gì, bước ra đón tiếp Tử Hề, Tử Hề muôn phần kinh sợ. Tử Hề gắng hết sức tự trấn tĩnh, đến phòng khách để hàn huyên với Dị Nhân. Nói chuyện được một lúc, Tử Hề mới gợi đến đề tài phân chia thịt tế tối hôm trước. Dị Nhân điền nhiên nói: "Lâu lắm rồi không được thưởng thức thịt tế mà cha ban thưởng, hương vị của nó thật là nồng hậu khó quên, thấm sâu vào gan ruột. Đến bây giờ vị ngon vẫn còn trong miệng!"

Tử Hề úp úp mở mở, ba hoa một hồi, rồi cáo từ. Về đến phủ đệ của mình, Tử Hề nghi hoặc liệu có phải đã đưa nhầm miếng thịt có độc đi đâu không. Nhưng những vương tôn khác đều đã ăn cả, mà vẫn bình yên vô sự. Tử Hề kinh sợ, hoảng hốt khi nghĩ rằng phải chăng tổ tiên hoặc trời cao đã ngầm bảo hộ cho Dị Nhân. Nghĩ đến đấy, Tử Hề bất giác thấy sống lưng sởn gai ốc.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5933
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Lã Bất Vi***   Sat Aug 02, 2014 7:25 pm

Hàn Diệu Kì
Lã Bất Vi
PHẦN THỨ HAI: QUYỀN MƯU
Chương 13
Hậu cung dâm loạn
Sau khi tới Hàm Dương, Dị Nhân đã bắt đầu một cuộc sống xa hoa truy lạc của bậc vương tôn quý tộc. Trong phủ đệ là điện Chiêu Thanh. Dị Nhân giành một khu riêng biệt cho vợ và các tì thiếp sinh họat giống y như hậu cung của vua chúa, người hầu trong đó toàn là cung nữ và hoạn quan; ngòai cửa có quân lính đứng canh giữ nghiêm nghặt. Cảnh tượng này khiến những người đàn ông như Lã Bất Vi ra vào rất bất tiện. Dù ở địa vị Thái phó, nhưng khi vào bên trong vẫn rất dễ bị người ta trông thấy.
Cuộc sống sung túc ở đây khiến cho tinh lực dồi dào và dung nhan kiều diễm của Triệu Cơ hồi phục lại một cách nhanh chóng đến thần kỳ. Thứ ma lực của tình dục ấy như những dòng máu chảy tuần hoàn trong huyết quản của Triệu Cơ từng giờ, từng phút. Mà ngòai vợ là Triệu Cơ ra, Dị Nhân còn có người thiếp tên là Di Hồng, mới đây Dị Nhân còn thu nạp thêm hai người thiếp khác nữa. Thời gian trên giường của Dị Nhân được chia ra cho cả bốn người đàn bà. Giống như ngọn đèn bão, Dị Nhân giao hoan thâu đêm khiến tinh lực, khí huyết hao tổn đến cạn. Cho dù cứ cách năm ba ngày Dị Nhân lại đến "ôn luyện" và "diễn tập" một số "chiêu thức" trên cơ thể của Triệu Cơ, nhưng cái bản sắc "anh hùng" như buổi đầu ở Hàm Đan đã sớm bị mất đi rồi. Đối với Dị Nhân thì tiêu chuẩn tối cao của nữ nhân là mới lạ và xinh đẹp. Triệu Cơ tuy như một tấm gấm thêu rực rỡ nhưng mặc lâu ngày thì cũng không thể nào tươi sáng như lúc đầu. Vì thế, nên khi Dị Nhân và Triệu Cơ ở bên nhau, đã không còn tiếng khanh khanh, ta ta nữa, mọi ý vị đã trở nên chán ngắt. Điều này đối với Triệu Cơ là một sự "trống vắng" lớn. Vì vậy mà có sự xao động mãnh liệt như đào non lấp bể đang xốn xang trong lòng Triệu Cơ. Mỗi lúc như vậy, Triệu Cơ rất khao khát được gặp Lã Bất Vi. Đặc biệt là khi nhớ lại lần đầu tiên chung đụng với Lã Bất Vi, niềm hạnh phúc trong thầm lặng lại bùng lên xen lẫn với cảm giác sợ hãi, và sự khao khát đó càng ngày càng trở nên mãnh liệt hơn. Điều này rất hợp với câu nói: "Nữ nhân tư tiền phu, nam nhân luyến hậu thế." Triệu Cơ muốn lên gặp Lã Bất Vi, nhưng với thân phận là Thái tử phi nhất cử nhất động đều được tiền hô hậu ủng, mọi việ đều gây ra sự chú ý nên Triệu Cơ không dám khinh suất vọng động.
Mặc dù như vậy, nhưng Triệu Cơ vẫn ôm ấp hy vọng và nghĩ trăm phương nghìn kế để tìm cơ hội. Ông trời quả thương người có lòng. Một hôm Triệu Cơ tới phòng khách thấy Dị Nhân và Lã Bất Vi đang nói chuyện với nhau, vô tình Triệu Cơ nghe thấy Lã Bất Vi nói với Dị Nhân rằng: "Điện hạ, đã lâu rồi thần chưa tới Châu Bảo điếm, mọi việc làm ăn chỉ nghe bẩm báo lại qua lời của môn khách tên là Dương Tử, còn tình hình thực tế như thế nào thì rất mơ hồ. Ngày mai thần xin nghỉ một ngày để tới đó một lần xem sự thể ra sao." Hôm sau, Triệu Cơ liền thay đổi y phục và dẫn theo một thị nữ tới Châu Bảo điếm.
Khi Triệu Cơ tới, đã gần buổi trưa, ngòai quầy hàng khách mua đã đứng chật kín. Ánh mắt chăm chú của Triệu Cơ không màng đến những châu báu ngọc ngà ở trên quầy hàng mà chỉ muốn nhanh chóng tìm ra một khuôn mặt quen thuộc.
Trong quầy là một dãy những kẻ làm thuê chuyên tâm dốc sức vào việc tiếp đãi khách hàng. Lần lượt nhìn qua từng khuôn mặt xa lạ, Triệu Cơ đứng ở bên ngòai với sự thất vọng chán chường. Trong giây phút chần chừ ngần ngại, bỗng nhiên Triệu Cơ trông thấy một người hầu bưng tách trà đi qua căn phòng lớn, mở một cánh cửa nhỏ bên trong rồi bước vào đó. Triệu Cơ nghĩ thầm: "Trong đó vẫn còn một căn phòng, chắc là Lã Bất Vi đang ở đấy!"
Nghĩ tới đây, Triệu Cơ liền nảy ra một kế là gỡ một miếng ngọc bội ở trên người xuống, đưa cho người đứng trước quầy hàng và nói rằng: "Đây là món đồ mà hôm qua tôi mua ở đây, nhưng thấy không vừa ý nên muốn đổi lại." Người đó cầm lấy mảnh ngọc bội xem qua, nhìn mặt Triệu Cơ mấy lần rồi nói: "Mảnh ngọc bội này không phải mua ở đây!" Triệu Cơ nói là phải còn người kia thì bảo rằng không phải. Hai người lời qua tiếng lại, rất ồn ào, và chốc lát đã biến thành một trận cãi vã. Khi Triệu Cơ nói, mắt không lúc nào rời khỏi cánh cửa nhỏ kia.
Quả nhiên, chẳng phải đợi lâu, cánh cửa nhỏ đó mở ra, Lã Bất Vi xuất hiện và quát hỏi rằng: "Người nào ầm ĩ thế?" Lã Bất Vi ngay lập tức đã nhận ra khuôn mặt kiều diễm xinh tươi của Triệu Cơ. Liền vội vàng biết tội nói rằng: "Thái tử phi, đã mạo phạm!" Vừa nghe nói thái tử phi giá lâm, tất cả khách hàng vội vàng chạy đi hết. Người bán hàng kia quỳ xuống thỉnh tội. Triệu Cơ không thèm để ý tới những chuyện xung quanh và nói với Lã Bất Vi rằng: "chúng ta hãy vào trong nói chuyện."
Lã Bất Vi hiểu ý, cung kính mời Triệu Cơ, chủ tớ hai người cùng vào trong.
Người bán hàng vội kê ghế và bưng trà.
Triệu Cơ dặn dò thị nữ trở về Chiêu Thanh điện lấy một ít tiền tới, vì Triệu Cơ thích một số đồ ngọc ở đây. Sau khi ả thị nữ đi khỏi, Triệu Cơ nhìn Lã Bất Vi với ánh mắt mơ màng. Lã Bất Vi liền đuổi người bán hàng kia đi. Triệu Cơ thấy trong phòng chỉ còn có hai nguời thì như một ánh chớp đã sà vào trong lòng của Lã Bất Vi.
Lã Bất Vi như ôm lấy một ngọn lửa cháy rực, muốn tránh nhưng sợ không kịp liền vội vàng đẩy Triệu Cơ ra.
Triệu Cơ hờn trách nói: "Thái phó, chàng..."
Lã Bất Vi thóai lui mấy bước để giữ khoảng cách với Triệu Cơ. Khoé mắt rưng rưng, vai gầy khẽ động, Triệu Cơ tức tưởi khóc và oán trách rằng: "Thái phó, chàng đã quên hẳn thiếp rồi ư?" Lã Bất Vi nói: "Thái tử phi, đừng trách oan cho ta. Nàng không thấy đây là nơi nào ư? Tai vách mạch rừng, để người ta thấy thì ta và nàng lại không thân bại danh liệt hay sao?"
Lã Bất Vi làm sao có thể quên được Triệu Cơ đây? Triệu Cơ với khuôn mặt kiều diễm, điệu múa phiên chiều mơ màng và tấm thân đẹp tới mức xiêu hồn lạc phách sau khi đã thóat y, luôn ám ảnh Lã Bất Vi ngay cả trong giấc mơ, thậm chí có lúc còn làm cho Lã Bất Vi cả đêm không thể chợp mắt được. Nhưng khả năng kiềm chế của Lã Bất Vi rất vững vàng. Lập nên ông vua của một nước, nghiệp lớn đã thu được nửa giang sơn, cho nên Lã Bất Vi khi hành sự lập ngôn đều rất thận trọng như dẫm trên băng mỏng, nhìn trước trông sau, ông ta không ngừng răn giới, dè chừng bản thân, không thể vì chuyện nhi nữ tình trường với Triệu Cơ mà làm hỏng việc lớn của mình.
Thấy tiếng khóc của Triệu Cơ mỗi lúc một lớn. Lã Bất Vi vội vàng tìm lời khuyên giải, an ủi và bộc bạch tấm lòng rằng: "Thái tử phi, ta làm sao có thể quên được nàng đây. Ta làm như vậy chỉ là lo lắng cho thái tử phi. Hiện tại nàng không chỉ sống trong cảnh giàu sang phú quí mà còn là bậc mẫu nghi của thiên hạ, không thể vì tình cảm vấn vương với Lã Bất Vi này mà đánh mất đi tất cả mọi thứ."
Triệu Cơ âu yếm nói rằng: "Thái phó nói đúng lắm, nhưng tất cả những thứ đó so với sự sung sướng mà ta có được khi ở trên giường cùng với Thái phó thì chỉ tựa như lông hồng mà thôi!"
Lã Bất Vi nói: "Con người ai mà chả như nhau, muôn vật đều có chung một lẽ! chuyện hoan hợp làm gì có người nào chối bỏ? huống gì thái tử phi lại là một mỹ nhân đang độ xuân tình."
Triệu Cơ nhếch mép mỉa mai: "Thái phó nói miệng thì như thế, cứ tưởng là Trời là bể, nhưng khi hành sự lại như một con rùa rụt đầu rụt cổ mà thôi!"
Lã Bất Vi chống chế lại rằng: "Ta đâu phải hạng người có lá gan của thỏ đế. Đó chỉ vì thái tử phi đã gây ra sự chú ý cho mọi người, lại không có chỗ an toàn bí mật, thì sao ta có thể cùng vui vẻ thân tình với thái tử phi đây!"
Triệu Cơ cướp lời hỏi ngay: "Thế nếu như có một chỗ an toàn đến mức người không biết, quỷ chẳng hay thì sao đây?"
Lã Bất Vi đáp: "tất nhiên ta sẽ hầu đáp nàng rồi!"
Triệu Cơ lại hỏi: "Có thực vậy không?"
Lã Bất Vi đáp: "Quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy."
Triệu Cơ mừng rỡ ra mặt nói: "Hay lắm! ta đợi câu này của Thái phó từ lâu rồi!"
Lã Bất Vi chịu ưng thuận, chỉ vì muốn khuyên nhủ Triệu Cơ nên thuận miệng mà nói ra như vậy thôi. Nào ngờ đâu, khi ông ta đến cái chỗ người không biết, quỷ không hay mà Triệu Cơ từng nói đến, súyt nữa thì đã rước lấy tai họa sát thân.
Ba ngày sau, vào lúc hoàng hôn, một nữ tỳ trong Chiêu Thanh điện tới tìm Lã Bất Vi. Bất Vi biết người nữ tỳ này, tên gọi là tiểu Thục, một hầu gái thân cận của Triệu Cơ. Tiểu Thục xinh tươi như hoa nở, tâm cơ nhanh nhẹn nên đã chiếm được sự tin yêu rất mực của Triệu Cơ, và cũng là tai mắt của nữ chủ nhân này. Tiểu Thục tới báo với Lã Bất Vi là thái tử phi mời ông ta qua đó.
Lã Bất Vi vừa nghe nói tới đã giật mình kinh sợ vội hỏi: "Có chuyện gì vậy?"
Tiểu Thục nói: "Thái phó tới đó thì khắc rõ."
Lã Bất Vi lạnh lùng đáp: "Ngươi không nói thì ta không đi." Tiểu Thục nói: "Hôm nay thái tử phi tìm thấy một bài thơ âm vận hài hòa, ngôn từ hoa lệ gọi là "Thiền Chi Hoa". Thái tử phi muốn dùng âm luật của nhà tụng để phổ thành nhạc khúc diễn xướng, nhưng không hợp với âm vận bằng trắc của bài thơ đó, nên muốn thỉnh giáo thái phó đại nhân." Lã Bất Vi liếc thấy ngòai cửa, bóng tối đã phủ mờ. Trong hơi sương của buổi chiều tối, tất cả cảnh vật đều đã bị che khuất diện mạo chỉ còn trông thấy những hình khối mơ hồ.
Lã Bất Vi nghĩ rằng đi trong Chiêu Thanh điện vào lúc này có lẽ không gây chú ý cho mọi người, huống hồ gì đây lại là việc chỉ bảo về âm luật. Lã Bất Vi quyết định tới chỗ của Triệu Cơ.
Lã Bất Vi đi theo tiểu Thục ra khỏi phủ của mình, nhìn quanh một lúc rồi nghĩ: "Chiêu Thanh điện ở phía đông phủ của mình, nhưng tại sao tiểu Thục lại đi về phía tây?"
Lã Bất Vi bảo tiểu Thục rằng đã đi nhầm hướng, nhà một đằng lại đi một nẻo. Tiểu Thục nói không phải nhầm, Lã Bất Vi nói, ai mà lại không biết Chiêu Thanh điện ở phía đông của Lã phủ. Tiểu Thục nói: "Thái tử phi không ở trong hậu cung của Chiêu Thanh điện. Thái tử điện hạ vừa mới xây cho thái tử phi một phủ đệ mới." Lã Bất Vi nói: "Việc lớn như vậy tại sao ta chẳng biết gì? Phủ đệ mới của thái tử phi ra sao? " Tiểu Thục nói: "Thái phó đại nhân cứ tới đó thì biết liền."
Lã Bất Vi theo tiểu Thục xuyên đường vượt ngõ trong bóng tối ngày càng dày đặc. Bước thấp bước cao một hồi lâu thì tới trước một tòa nhà được bao bọc rừng cây rậm rạp. Lã Bất Vi không thể trông thấy rõ ràng mái nhà hay cổng, bèn bước theo tiểu Thục.
Ngọn nến và đôi mắt của Triệu Cơ đều hướng về Lã Bất Vi long lanh tỏa sáng. Triệu Cơ mừng vui khôn xiết nói: "Thái phó đại nhân tới rồi à!" Tiếng oanh vàng thỏ thẻ của Triệu Cơ vừa tới bên tai của Lã Bất Vi, từng đợt hương phấn son ngào ngạt cũng đã ập vào tới mũi. Triệu Cơ sai tiểu Thục ra ngòai canh chừng xem xét. Lã Bất Vi nhìn quanh sự bài trí trong phòng, thấy rất đơn giản, có một chiếc sạp gỗ, đàn cầm đàn sắt, ghế ngồi, án thư, trên án thư có bày bút mực, sách vở, và bức lụa. Lớp sơn trên các cánh cửa có chỗ đã bong, các bức tường cũng không phải là quét hồ tiêu; lại thêm khung cảnh tĩnh mịch yên lặng như vậy, không trông thấy bóng dáng tiểu Thục ra vào, Lã Bất Vi đoán chắc: "Nơi này đâu phải là phủ đệ mới nào của thái tử phi." Trong thâm tâm Lã Bất Vi chợt nảy ra ý nghĩa: "Đây liệu có phải là nơi bí mật của người không biết quỷ không hay mà Triệu Cơ nói tới mấy hôm trước không?"
Nghĩ tới đây, Lã Bất Vi nói: "Thái tử phi dấn thân vào chốn tồi tàn này làm gì?"
Triệu Cơ thỏ thẻ nói: "Chẳng phải thái phó sớm tối mong có được chốn an toàn tuyệt bí mật hay sao?"
Lã Bất Vi lúc này vừa bị kích động, lại vừa sợ hãi, tiến thóai lưỡng nan, nói rằng: "Làm vậy há chẳng phải là đã phạm phải điều tối kỵ của thiên hạ hay sao?"
Triệu Cơ không trả lời, chỉ "phù" một tiếng thổi tắt phụt ngọn nến ngay sau đó Lã Bất Vi liền cảm thấy hai cánh tay mèm mại tựa như dây mây đã quấn quanh cổ mình...
Đã từ rất lâu rồi, Lã Bất Vi không được trải qua một đêm ngọt ngào. Xiêu hồn lạc phách như vậy. Đêm nay Lã Bất Vi mê mẩn, nhưng vẫn còn suy nghĩ không yên, vì vậy cứ sau mỗi lần cùng Triệu Cơ giao hoan tới suy kiệt tinh lực, Lã Bất Vi lại ước hẹn giờ phút gặp nhau lần tới. Lã Bất Vi luôn cảm thấy thời gian giữa hai lần gặp sao mà ngắn quá, ông ta lo lắng gặp nhau nhiều sẽ bị lộ cho nên cái cảm giác lo sợ tai họa bất ngờ sẽ ập tới lúc nào cũng ám ảnh tâm trí của ông ta.
Triệu Cơ nói như không hề có chuyện gì xảy ra: "Thái phó, chàng chớ nên sợ hãi như chim sợ cành cong làm gì, sự sắp đặt của thiếp không hề có sai phạm! Nơi đây gần thành Hàm Dương, nhưng lại rất hoang sơ vắng vẻ, ít người lui tới, hơn nữa đêm hôm khuya khoắt lại có tiểu Thục canh chừng thì có thể nói là tuyệt đối không hề có gì sơ suất."
Sau vài lần lén lút gặp nhau, Lã Bất Vi cảm thấy để cho tiểu Thục phận quần thoa má phấn canh chừng không được thích hợp cho lắm, liền cử một môn khách tâm phúc tới thay thế, môn khách đó chính là người làm ở Chu Bảo điếm ở Hàm Đan, tên gọi là Triệu Khả Tín, tiểu Thục chỉ làm nhiệm vụ đưa Triệu Cơ tới khi trời sắp tối rồi trở về hậu cung của Chiêu Thanh điện, gần sáng thì lại tới đón Triệu Cơ về. Ba tháng sau, rốt cuộc cũng có người biết được chuyện giữa Lã Bất Vi và Triệu Cơ.
Nguyên là từ khi Dị Nhân và Lã Bất Vi về tới Hàm Dương. Tử Hề, Phạm Tuy liền phái môn khách tới ngầm giám sát. Quả nhiên, một tâm phúc của Tử Hề, một ngọai giáo sĩ từng dạy chó để cắn chết Lã Bất Vi đã đánh hơi được sự bí mật giữa Triệu Cơ và Lã Bất Vi và lập tức báo cho Tử Hề biết. Tử Hề dặn hắn phải kín miệng như bưng, không được để cho ai biết việc này, sau đó, Tử Hề liền tới tướng phủ đem chuyện này bẩm báo với Phạm Tuy. Phạm Tuy nghe xong, trầm ngâm không nói, đưa tay vuốt râu, bước đi bước lại trong phòng rồi hỏi rằng: "Đại công tử, người của ngài có trông thấy rõ ràng không?"
Tử Hề trả lời chắc chắn rằng: "Trông thấy rất rõ ràng."
Phạm Tuy lại hỏi: "Có giữ được bằng chứng đích xác nào không?"
Tử Hề cứng họng không nói được.
Phạm Tuy nói: "Những việc như thế này, nhất định phải có được bằng cớ rõ ràng, thì lúc hành động mới nắm được phần thắng!"
Phạm Tuy có chút nghi ngờ về tin tức mật báo ấy, nên nhất định phải tận mục sở thị mới tin theo. Đợi tới lúc Lã Bất Vi và Triệu Cơ lại lén lúc gặp nhau. Tên ngọai giải sĩ lần trước vội vàng phóng ngựa tới tướng phủ, hơi thở dồn dập, quỳ trước mặt Phạm Tuy nói: "Tiểu nhân trông thấy rất rõ ràng, một trước, một sau bước vào căn nhà ấy!"
Thế là Phạm Tuy và Tử Hề dẫn theo vài môn khách và thị vệ tới thẳng căn phòng đó. Lúc gần tới nơi, thì trông thấy thấp thoáng có một người đứng dưới gốc cây, ngó đông ngó tây. Phạm Tuy nói rằng đó có thể là tai mắt của Triệu Cơ và Lã Bất Vi, chớ nên làm kinh động. Bọn họ rón rén nhẹ nhàng tiếp cận với căn nhà đó và nấp trong bụi cây để quan sát động tĩnh. Đến lúc ở phương đông, bầu trời vừa chuyển dần rạng sắc trắng. Theo sau cánh cửa cọt kẹt mở ra, Phạm tuy và Tử Hề mới trông thấy Triệu Cơ và Lã Bất Vi đang chia tay nhau từ căn nhà đó. Về tới tướng phủ, Tử Hề vui sướng quá độ nói: "Tướng quốc, chúng ta hãy nói việc dâm loạn của Lã Bất Vi và Triệu Cơ cho thiên hạ biết, làm cho bọn chúng nhục nhã, khiến uy tín và thanh danh của chúng chìm xuống đáy bùn nhơ, không dám ló mặt ra với đời được nữa.'
Phạm Tuy nói: "Đại công tử nói sai rồi, chúng ta vất vả lắm mới có được cơ hội ngàn năm khó gặp này, chỉ làm nhục thôi thì dễ dàng cho chúng quá."
Tử Hề nói: "Đây là chuyện trai gái dâm loạn, ta há lại bỏ qua cho chúng sao?"
Phạm Tuy lộ rõ vẻ độc ác nói rằng: "Ta muốn đẩy bọn họ vào chỗ chết"
Tử Hề vội hỏi: "Tướng quốc, ngài lại có diệu kế gì chăng?"
Phạm Tuy nói gằn từng tiếng: "Ta muốn lùa Dị Nhân tới chỗ bọn họ làm trò tồi bại rồi nhân lúc mọi người rối loạn, giết chết Lã Bất Vi và Dị Nhân, sau đó bẩm với Đại vương là chủ tớ bọn họ chỉ vì ghen tuông nên chém giết lẫn nhau. Chứng cớ đều ở đó, chẳng ai có thể nghi ngờ điều gì cả."
Tử Hề lo lắng hỏi rằng: "Liệu Dị Nhân có tới không?"
Phạm Tuy vỗ ngực tự tin nói: "Đối với việc này, Dị Nhân một là sẽ tức giận, hai là sẽ cảm thấy tò mò, nên chẳng có lý gì mà không tới."
Phạm Tuy sai người trong các ngõ hẻm ở gần Chiêu Thanh điện và phủ đệ của Lã Bất Vi, giám sát cả ngày lẫn đêm. Cuối cùng, cũng tới ngày hẹn hò vụng trộm giữa Triệu Cơ và Lã Bất Vi. Trời vừa xẩm tối, Lã Bất Vi và Triệu Cơ hai người không hẹn mà cùng bước ra khỏi phủ của mình.
Phạm Tuy và Tử Hề nhận được tin báo của môn khách.
Phạm Tuy nắm chắc phần thắng trong tay, nói: "Chớ nên hành động vội vàng, đợi hai canh giờ để cho hai người bọn chúng tay kề gối ấp quên cả thời gian, chúng ta lập tức xông vào mới có thể khiến cho bọn chúng phơi trần trước ánh sáng ban ngày. Sau đó thì..." Phạm Tuy nói xong, liền quơ tay chém một nhát ra lệnh bắt đầu hành động.
Sau một lát, Phạm Tuy, Tử Hề dẫn một đám võ sĩ và môn khách ngựa xe rầm rộ tới Chiêu Thanh điện, xin được vào cầu kiến thái tử điện hạ. Dị Nhân lúc này đang ở chỗ của Di Hồng, đang thay đồ ngủ. Vừa nghe nói bọn Phạm Tuy, Tử Hề cầu kiến, liền nghĩ ngay tới việc chém giết nên sau một lúc trù trừ do dự, Dị Nhân mới sai người ra bảo rằng ông ta đã đi ngủ rồi, hôm khác hãy đến. Người hầu nói với bọn Phạm Tuy ở ngòai cửa rằng: "Thái tử điện hạ đã ngủ say giấc, xin tướng quốc và đại công tử ngày mai hãy đến."
Phạm Tuy nghe nói liền xông thẳng vào trong, người hầu vội vàng ngăn lại.
Phạm Tuy lên mặt kiêu ngạo nói: "Ta có việc lớn liên quan tới tính mệnh của thái tử điện hạ cần phải bẩm báo gấp!". Nói xong, cả đám người ồ ạt xông vào.

Tiếng huyên náo ầm ĩ ở bên ngòai, làm kinh động tới Dị Nhân, khiến Dị Nhân phải ra ngòai xem đã xảy ra chuyện gì. Vừa trông thấy tình cảnh đó, Dị Nhân lắp bắp hỏi: "Tướng quốc... làm cái gì đấy?"

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5933
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Lã Bất Vi***   Sun Aug 24, 2014 12:46 pm

Phạm Tuy nhảy xuống ngựa, quỳ xuống nói: "Hạ thần có chuyện quan trọng liên quan tới tính mệnh của thái tử điện hạ, cần phải tự mình bẩm báo."
Nghe Phạm Tuy nói vậy, Dị Nhân mới thở phào nhẹ nhàng, sau đó đuổi hết kẻ hầu người hạ ra khỏi phòng rồi hỏi: "Tướng quốc, có chuyện gì? xin cứ nói."
Phạm Tuy ra vẻ trịnh trọng nói: "Việc này là việc riêng ở trong cung của điện hạ, kẻ hạ thần này đáng lẽ ra không nên can dự vào. Song nghĩ đi nghĩ lại, nếu không nói ra thì thực mang tội bất trung với chủ. Hơn nữa, việc này cũng có liên quan rất lớn tới sự an nguy và danh tiếng của điện hạ."
Dị Nhân vội hỏi: "Có việc gì thì hãy mau nói ra đi! chớ đừng có úp úp mở mở nữa!"
Phạm Tuy nói: "Thái tử phi Triệu Cơ và thái phó Lã Bất Vi đã lén lút tư tình với nhau."
Nói xong, Phạm Tuy nhìn chăm chăm vào đôi mắt trợn tròn của Dị Nhân. Không rời một phút.
Dị Nhân thọat đầu thì rất kinh, nhưng sau lại nhếch mép cười nói: "Không phải như thế đúng không? tướng quốc! chắc ngài nghe bọn đầu đường xó chợ nói bậy bạ chứ gì?"
Phạm Tuy trịnh trọng nói tiếp: "Ngay lúc này đây thái tử phi và thái phó đang gối ấp tay kề ở một ngôi nhà gần thành Hàm Dương."
Dị Nhân hỏi: "Tại sao tướng quốc lại biết rõ ràng vậy?"
Phạm Tuy nói: "Thái tử điện hạ không nên hỏi câu ấy mà nên vào Chiêu Thanh điện tìm thái tử phi, nếu như kẻ hạ thần này lừa dối ngài thì xin để trời tru đất diệt."
Dị Nhân vội vàng dẫn một ả thịt nữ đến chỗ ở của Triệu Cơ. Vừa đúng lúc tiểu Thục từ chỗ Triệu Cơ quay về phủ. Dị Nhân ngó không thấy Triệu Cơ, trong lòng tràn ngập nghi ngờ hỏi: "thái tử phi đâu?"
Tiểu Thục thọat nhìn thấy bộ mặt hằm hằm tức giận của Dị Nhân, lập tức tâm thần rối loạn, tim đập loạn xạ, lắp bắp trong miệng nói: "Thái tử phi đi ra ngòai... không, vừa nãy hãy còn ở đây..." Dị Nhân khí nộ xung thiên, quát "rốt cục thái tử phi đi đâu?" Tiểu Thục vội quỳ xuống, tự trách rằng: "Nô tỳ trí nhớ không tốt, tội đáng muôn chết có lẽ là thái tử phi đi thỉnh an Hoa Dương phu nhân."
Dị Nhân lập tức phái người tới chỗ Hoa Dương phu nhân kiểm chứng. Dị Nhân vừa đi vừa thắc mắc trong lòng: "nếu như có xảy ra việc cùng thi tại sao mình chẳng hay biết, một tí gì nhỉ? ta phải hỏi Phạm Tuy cho rõ ràng mới được, tại sao hắn lại biết được nhỉ?"
Tiểu Thục nhìn thần thái, điệu bộ của Dị Nhân biết chắc là Dị Nhân đã phát giác được điều gì rồi, nên lập tức đi báo cho Triệu Cơ, để đưa thái tử phi trở về cung ngay lập tức.
Phạm Tuy vừa thấy Dị Nhân quay trở về, liền hỏi ngay rằng: "Điện hạ, có thấy thái tử phi không?"
Dị Nhân không đáp còn hỏi lại rằng: "Tại sao tướng quốc lại biết chuyện đó!'
Phạm Tuy nói: "Tại sao điện hạ thông minh một đời lại hồ đồ một phút thế? Ngài tra hỏi cặn kẽ thế làm gì nào? ngay bây giờ thần xin dẫn thái tử điện hạ tới tận nơi để ngài được tận mục sở thị có phải là rõ ràng hơn không?
Dị Nhân thấy lời nói của Phạm Tuy rất hợp lý, liền lên ngựa đi theo bọn Phạm Tuy mà quên tiệt đi chuyện miếng thịt tế tẩm thuốc độc trước đây.
Tiểu Thục cắm đầu chạy cứ vài bước lại nhìn ngang nhìn ngửa. Khi trông thấy những ánh đuốc loang loáng ở đằng sau chạy tới, bèn theo tiếng vó ngựa mỗi lúc một gần, tiểu Thục thấy lòng nóng như lửa đốt vì biết rằng mình đến không kịp. Bọn Dị Nhân, Phạm tuy cưỡi ngựa, chẳng mấy chốc đã xuất hiện ở phía sau tiểu Thục. Tiểu Thục vội vàng ẩn núp vào bụi cây ở bên đường. Tâm trạng của Dị Nhân rối bời như tiếng vó ngựa. Dị Nhân vừa muốn tới đó để làm rõ ràng mọi việc nhưng cũng sợ việc thái tử phi và thái phó cùng lõa lồ ở đó sẽ làm ảnh hưởng tới tiếng tăm của mình. Lúc đó, bỗng nhiên Dị Nhân nghĩ rằng việc này không nên đi nhiều người theo kiểu tiền hô hậu ủng, chỉ cần ông ta và Phạm Tuy là đủ, để tránh chuyện người đông lắm chuyện, phao đồn chuyện này ra ngòai, nhưng Dị Nhân cũng nghĩ rằng nếu không mang theo hộ vệ tùy tùng, thì lại sợ ở đó có chuyện ám muội, nếu có lâm vào hiểm cảnh thì chẳng có cách nào ứng phó, phòng vệ...
Bụi cát tung lên dưới vó ngựa và ánh đuốc loang loáng chẳng mấy chốc đã lọt vào tầm nhìn của một người. Đó chính là Triệu Khả Tín - người canh chừng của Lã Bất Vi. Đêm hôm khuya khoắt, ai có thể tới đây được nhỉ? e là nhằm vào thái phó và thái tử phi chăng? trong đầu của Triệu Khả Tín vụt qua những suy đoán đó, và rồi cuống cuồng chạy đến bên cửa sổ nói vọng vào với giọng run rẩy: "Thái phó, mau ra đi, có người tới đấy!"
Triệu Khả Tín hoảng sợ gọi liền hai câu, thì Triệu Cơ và Lã Bất Vi trên giường không một mảnh vải vội vàng vật dậy, quơ vội quần áo mặc vào và dọn dẹp giường chiếu. Triệu Cơ như con bọ ngựa ở trên chảo nóng, chân tay lóng ngóng. Lã Bất Vi vừa mặc quần áo chỉnh tề xong liền nghĩ ngay ra biện pháp để đối phó, nhờ vào ánh ao mờ mờ, Lã Bất Vi nhúng ngay bàn tay ào nghiên mực chưa không hẳn rồi bôi lên mặt, rồi nói: "Ta phải đóng vai tay thầy tướng thọt chân mới có thể thóat được tình cảnh này, bất luận là ai tới, nàng cứ nói là xem bói cầu phúc cho Dị Nhân điện hạ."
Triệu Cơ lúc này mới trấn tĩnh lại được nói: "Thầy tướng bôi mặt, đâu thể chỉ bôi mỗi màu đen, phải bôi cả màu nữa chứ!" Nói xong, Triệu Cơ lấy một con dao cắt một đường trên cánh tay của chính mình rồi lấy máu bôi lên mặt của Bất Vi. Lã Bất Vi mở cửa đi ra ngòai, làm cho Triệu Khả Tín đang ngồi chờ đợi dưới ánh sao mờ mờ sợ đến hồn xiêu phách tán. Lã Bất Vi nói: "Đừng sợ, ta bây giờ chỉ là một kẻ bói toán mà thôi!"
Khi ánh sáng của những ngọn đuốc kia chiếu tới chỗ của mình, Lã Bất Vi trông thấy rõ ràng bóng người ngựa nhấp nhô. Lã Bất Vi nói: "Bọn họ cách ta không xa". Triệu Khả Tín muốn cùng với Lã Bất Vi đi vòng ra bụi cây sau nhà để tránh mặt bọn kia. Nhưng Lã Bất Vi cho rằng, kẻ dám tới đây quấy nhiễu nhất định không phải những kẻ tầm thường. Bọn họ đã quyết lùng bắt thì ngươi chẳng thể chạy thóat được đâu. Nếu để họ bắt được chẳng phải là tự mình chui đầu vảo rọ sao. Chẳng bẳng đánh liều đi về phía bọn họ. Triệu Khả Tín nói, đi về phía đó là đi vào tử địa, nguy hiểm bội phần. Lã Bất Vi nói, với kinh nghiệm buôn bán của ta, thì đó mới là sinh lộ trong tử địa, ở trong tuyệt địa mà thu được lợi lộc.
Triệu Khả Tín miễn cưỡng theo, Lã Bất Vi tập tà tập tễnh đi về phía đám người ngựa kia. Khi tới gần, hai người đứng dẹp sang một bên đường.
Lã Bất Vi nghe thấy có người quát: "Đứng lại, ngươi đi đâu đấy?"
Lã Bất Vi không nghe thấy cứ tập tễnh bước đi. Ngay lập tức có người cưỡi ngựa chạy tới giơ ngọn kích ra chắn đường, mượn uy quát hỏi: "Đi đâu đó? đứng lại!"
Triệu Khả Tín trả lời rất rõ ràng: "Là thầy bói thọt, đến thành Hàm Dương xem bói qua đây!"
Phạm Tuy không tin, giục ngựa quay lại nói: "Để ta xem xem". Lã Bất Vi đã nhìn rõ đôi mắt của Phạm Tuy, nhưng vẫn xiêu vẹo bước tới trước mắt của Phạm Tuy. Phạm Tuy nhìn qua, thấy đúng là tên thầy tướng bôi mặt liền quát lớn: "Mau xéo đi chỗ khác, đừng có lảng vảng ở đây nữa!" Sau đó dẫn người lao tới ngôi nhà kia. Lúc gần tới nơi, Phạm Tuy chia người ra bao vây sau trước, rồi đắc ý hỏi Dị Nhân: "Điện hạ, lúc nào thì chúng ta xông vào đây?"
Dị Nhân nói: "vào đó mà làm gì, cứ đợi bọn họ từ trong đó đi ra là rõ hết chứ gì?"
Mọi người đợi ở bên ngòai khoảng hai canh giờ, bên trong vẫn im lìm không tiếng động, không âm thanh. Phạm Tuy đứng ngồi không yên giục: "Điện hạ, hay là chúng ta xông vào trong đó xem sao? đừng để cho bọn họ có cơ hội tự vẫn."
Thế là dưới sự dẫn đường của hai tên thị về cầm đuốc, Phạm Tuy và Dị Nhân đẩy cửa bước vào thì thấy Triệu Cơ quỳ dưới đất như một pho tượng đang lầm rầm cầu phúc. Tất cả đều rất kinh ngạc.
Phạm Tuy cầm lấy cây đuốc sáng rực, soi quanh căn phòng trống rỗng mấy lần mà không thấy tung tích của Lã Bất Vi đâu, thất sắc hoảng kinh nói: "người đâu?"
Triệu Cơ vờ như không biết hỏi: "Tướng quốc, ngài tới đây để tìm ai vậy?"
Dị Nhân hỏi: "Đêm hôm khuya khoắt, nàng tới đây làm gì?"
Triệu Cơ đáp: "Thiếp thấy sức khoẻ của thái tử điện hạ không được tốt lắm, thân hình ốm yếu, ăn không ngon, ngủ không yên. Nên tự dựng nên một ngôi miếu, cầu trời cho điện hạ an khang, mong trời phật phù hộ điện hạ mạnh khoẻ như rồng như cọp là thiếp mãn nguyện lắm rồi!"
Tình cảnh trước mắt khiến mọi nghi ngờ của Dị Nhân đều tan biến hết. Dị Nhân âu yếm nói: "Ái phi, đêm hôm khuya khoắt lạnh lẽo thế này, tại sao nàng lại ra đây một mình?"
Phạm Tuy lập tức xen vào, soi mói hỏi: "Đúng vậy! thái tử phi sao lại ra đây chỉ có một mình?"
Lời của Phạm Tuy thốt ra vừa dứt, thì từ ngòai cửa có giọng nói trong trẻo vang vào: "Chính nô tì đưa thái tử phi đến đây, nô tì sợ ảnh hưởng tới tấm lòng thành khẩn của thái tử phi với thái tử điện hạ nên mới núp qua một bên." Kèm theo lời nói là sự xuất hiện của tiểu Thục.
Lúc này, Phạm Tuy cảm thấy xấu hổ vô cùng, bèn đi ra bên ngòai, rút gươm của một tên thị vệ, chỉ vào tên môn khách kia mà trách rằng: "Ngươi tung tin nhảm nhí, hý lộng thái tử điện hạ, ta không thể dung tha!" Tên môn khách kia còn chưa kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra thì đầu đã lìa khỏi cổ.
Dị Nhân, Phạm Tuy đi trong đám đông bao bọc bởi bọn thị vệ và môn khách.

Còn ở nơi giao hoan của thái phó Lã Bất Vi và thái tử Triệu Cơ, chỉ còn lại bầu không gian tĩnh mịch, tăm tối và một vũng máu của tên môn khách vô duyên phải chết oan.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5933
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Lã Bất Vi***   Fri Sep 12, 2014 6:48 pm

Hàn Diệu Kì
Lã Bất Vi
PHẦN THỨ HAI: QUYỀN MƯU
Chương 14
Quyền lớn trong tay
Ngày 23 tháng 8 năm 251 trươc Công Nguyên tính theo nông lịch, tại cung Chương Đài sau 56 năm tự vì, Chiêu Tương Vương bị bệnh chết. An Quốc Quân Doanh Trụ lên ngôi, xưng là Hiếu Văn Vương.
Vì chưa phát tang cho Chiêu Tương Vương nên Hiếu Văn Vương không thể cử hành đại lễ đăng cơ. Nhiệm vụ cần kíp nhất lúc đó là an táng Chiêu Tương Vương. Hiếu Văn Vương bàn bạc với quần thần rồi quyết định chọn ngày mồng 9 tháng 9 làm ngày cử hành lễ an táng. Một là vì đây cũng là ngày giỗ của danh sĩ Giới Tử Thôi nước Tấn, các nước chư hầu đều có phong tục cấm đốt lửa để bày tỏ sự thương tiếc; hai là chữ Cửu (chín) đồng âm với chữ Cửu (lâu dài) ẩn tàng cái ý rằng cơ nghiệp của nhà Tần tồn tại mãi mãi cùng trời đất. Bên ngòai chính điện của cung Chương Đài mọi người dựng một linh bằng (nhà rạp dùng cho đám ma) và tất cả mọi người trong cung, ngòai cung hết thảy đều phải mặc áo xô gai. Hai mươi ba người con trai của Hiếu Văn Vương thay nhau túc trực bên linh cữu chịu tang, ngồi bên cạnh chiếc quan tài sặc sỡ là những khuôn mặt đầy ắp vẻ đau thương. Tiếng nhạc hiệu nổi lên như ai oán như khóc thương không hề mệt mỏi. Những văn vũ bá quan triều thần, lời hoàng thân quốc thích tới phúng điếu đi qua linh điện liên miên bất tuyệt. Ở từ rất xa còn có thể nghe thấy tiếng ò e í e.... của khúc nhạc hiếu vọng ra từ trong cung. Một cỗ hiên xa (xe của quan đại phu) phủ toàn màu trắng, kèm theo tiếng cọt kẹt của bánh xe đi thẳng vào cung Chương Đài. Mọi người tỏng cung ai cũng biết người ngồi trên xe là Tướng quốc Phạm Tuy người điều khiển quốc tang. Phạm Tuy ngồi trong xe suy đoán xem ai sẽ được chọn làm người cầm quốc thư thông báo tin buồn cho các nước chư hầu và mời vua của các nước đó đến trước linh cữu phúng điếu. Lão nghĩ thầm, chắc Hiếu Văn Vương sẽ chọn lão. Chiêu Tương Vương là một vị quốc quân vĩ đại của nước Tần, cả một đời chinh chiến xa trường uy danh vang dội; chết đi há đâu lại im hơi lặng tiếng được. Nếu khiến chư hầu các nước dập đầu cúi lạy trước linh cữu thì cũng làm rạng rỡ uy danh của nhà Tần lắm chứ!.
Cỗ Hiên xa của Phạm Tuy chạy vào trong cung Chương Đài rồi dừng lại ở trước thềm điện. Lão xuống ngựa bước tới chỗ của Hiếu Văn Vương đang mắt quầng tóc rối vì cả đêm không ngủ để bẩm báo về dự định mời các nước chư hầu đưa tang, phúng điếu. Hiếu Văn Vương ngồi trước ngự án nói rằng: "Được. Quả nhân đồng ý." Phạm Tuy vừa khom khom lưng lui bước, vừa nghĩ thầm: "Ông vua mới này, dung mạo tầm thường, thân hình khô héo, tinh huyết cơ hồ sắp cạn, làm sao có thể lo liệu nổi công việc triều chính bộn bề đây?"
Rất nhanh chóng, trên con đường thông ra cả bốn phương tám hướng tại thành Hàm Dương, nước Tần phái các sứ giả lên ngựa vung roi, chạy tới các nước chư hầu mau như tên bắn.
Phạm Tuy ra lệnh cho tất cả các dịch trạm, tân quán đều phải để trống, quét cửa sơn tường, lau chùi bàn ghế, để chuẩn bị nghênh tiếp sứ thần và vua của các nước chư hầu. Phạm Tuy tưởng tượng là với cái chết của Chiêu Tương Vương ở nước Tần vĩ đại, nhất định là kẻ đến phúng viếng, sẽ đông như trảy hội, cờ che rợp trời. Nhưng những gì trên thực tế đều hoàn toàn trái ngược với dự đoán của Phạm Tuy. Chỉ có Hoàn Huệ Vương của nước Hàn, nhận được quốc thư của nước Tần là vội vàng mặc áo tang tới Hàm Dương hành lễ của kẻ hạ thần dưới linh cữu của Chiêu Tương Vương. Sau đó thì những người tới phúng viếng không có một quốc quân của nứơc nào nữa cả mà chỉ có những đại thần như Thượng khanh, đại phu, thái phó, tể tướng... hoặc là công tử của các nước chư hầu tới dự. Hơn nữa người tới lại rất thưa thớt vì có nước chư hầu không phái sứ thần sang phúng điếu.
Cả Tần Hiếu Văn Vương và Phạm Tuy đều không thể nào hiểu nổi, lẽ nào Chiêu Tương Vương vừa nằm xuống thì trong con mắt của các nước chư hầu đã không còn coi nước Tần ra gì hay sao? Rốt cuộc là có chuyện gì xảy ra vậy? Chẳng phải đợi lâu thám báo của nước Tần có tin báo về. Nguyên nhân là vì vua Đông Chu dự định lấy danh nghĩa thiên tử triệu tập các nước chư hầu hội minh ở Bình Ấp của nước Nguy, thời gian kéo dài một tháng, bắt đầu đúng vào ngày mồng 9 tháng 9. Nội dung của cuộc hội minh gồm có diễn luyện trận pháp, đua thuyền rồng, nhảy múa, săn bắn, thưởng họa ngâm thơ. Khi vua Đông Chu vừa đề xướng các nước chư hầu lập tức hưởng ứng đông đảo. Tới Bình Ấp sớm nhất là Bình Nguyên Quân và Hiếu Thành Vương của nước Triệu. Hiếu Văn Vương và Phạm Tuy lập tức hiểu ngay rằng, đó là nứoc Triệu mượn các danh phận thiên tử của nhà Chu để khiêu khích và thị uy với nước Tần. Thực ra, nhà Chu từ khi Bình Vương Nghi Cửu dời đô từ Cảo Kinh về Lạc Ấp thì không vực dậy được nữa; đất đai nhà Chu thống trị rất nhỏ hẹp, binh lực lại rất yếu. Còn các nước chư hầu như Trịnh, Tề Tống, Tần, Sở Ngô, Việt... ngày càng cường thịnh tranh nhau xưng bá Trung Nguyên. Trên danh nghia thì Chu Vương vẫn giữ địa vị chí tôn thiên tử, còn thực tế thì chẳng có tí uy quyền nào đối với các nước chư hầu. Có nước chư hầu mượn danh nghĩa dựng cờ "Tôn Vương" nhưng thực ra là có ý nghĩa "giúp đỡ thiên tử thống lãnh chư hầu". Vua nhà Chu biến thành thiên tử bù nhìn. Đến thời Nản Vương, nhà Chu ngày càng suy yếu, hữu danh vô thực. Không những vương quyền rệu rã mà đất nước cũng bị nước Hàn, Triệu xâm lấn cắt chia đến nỗi lãnh địa bị chia làm hai mảnh. Gọi Lạc Ấp là Tây Chu và Phàm Thành là Đông Chu. Chu Vương đã không còn địa bàn của chính mình nữa. Phải dựa dẫm vào nước khác, ở vùng Lạc Ấp dựa dẫm Tây Chu. Vua nước Đông Chu ở trong tình cảnh nguy vong như vậy nên khi nghe tin vua nước Tần là Chiêu Tương Vương bệnh chết thì vui mừng khôn xiết, cho rằng đây là một cơ hội để chấn hưng lại uy quyền thiên tử của mình. Ông ta phấn khích không cùng cho rằng thần linh đã chỉ cho mình một con đường sáng sủa trong giờ phút tối tăm. Quả nhiên Hiếu Thành Vương nước Triệu cũng cho là việc đổi chủ của nước Tần là một cơ hội ngàn năm có một để thực hiện lại mưu đồ "hợp tung kháng Tần" khi xưa. Hiếu Thành Vương thấy mình không nên xuất đầu lộ diện chiêu binh mãi mã, liền sai người tới kinh đô Lạc Ấp ngỏ lời với vua nhà Đông Chu. Hai bên vừa nói đã bắt tay hợp tác. Thế là, mở cờ gióng trống kêu gọi các nước chư hầu hội minh. Các nước chư hầu với việc vua Tần là Chiêu Tương Vương đánh đông phạt tây, công thành cướp đất, đều thấy lo sợ phập phồng, ngày đêm trăn trở chỉ sợ họa ập đến mình, nên khi Chiêu Tương Vương chết, tất cả đều thở dài nhẹ nhõm. Thấy có người đứng ra dựng cờ kêu gọi chư hầu hội minh chống Tần là tự nguyện đầu nhập. Vua các nước chư hầu đều tự thân đem quân tới hội minh, khí thế ngùn ngụt, ùn ùn kéo về Bình Ấp có tới hơn hai mươi vạn người.
Bình Ấp nằm ở ranh giới nước Tần và nước Nguy. Điều này đối với nước Tần mà nói chẳng khác gì thằng mù mở cửa rước gấu vào nhà. Thi thể của tiên vương hãy còn chưa lạnh mà các chư hầu lại cậy thế mạnh người đông tạo nên một hiểm họa đối địch với nước Tần.
Chư hầu các nước làm như vậy thực là khinh người thái quá, vua tôi nước Tần trên dưới như một, đầy lòng phẫn uất. Có người chủ trương xuất quân thảo phạt Đông Chu, san phẳng Bình Ấp. Có người lại cho rằng việc cần trước mắt là phải phát tang cho Chiêu Tương Vương để cáo úy với linh hồn của tiên vương ở trên trời.
Hiếu Văn Vương, một vị thái tử đợi ngày lên ngôi đã mấy mươi năm trời, trong lúc chống chọi lại muôn vàn khó khăn đó đã đánh mất đi cái chí hướng mưu đồ việc lớn. Thêm vào đó lại sống xa hoa trụy lạc trong cảnh xác thịt má hồng, mới ngòai năm mươi tuổi mà khí huyết đã suy kiệt, trông như một ông già.
Chẳng có được cái di khí hào nghị cương dũng, xông pha chiến trận như các tiên vương. Giải quyết các công việc thì trù trừ do dự, thiếu quyết đoán. Rốt cuộc nên xuất binh thảo phạt hay là an táng tiên vương chẳng thể nào quyết định được, nên chỉ biết triệu tập quần thần lại để thương nghị.
Ánh sáng mùa thu không còn chói chang như mùa hạ, trời nhợt nhạt và không nóng bức. Tiếng khóc than và tiếng nhạc hiếu thê lương buồn thảm không ngừng vang vọng vào đại đường của điện Kỳ Niên. Hiếu Văn Vương ngồi trước ngự án hình dung không quắt, bên dưới và hai hàng văn võ đại thần, cùng với hai mươi ba vị thái tử và thái phó của mỗi người. Lã Bất Vi cũng ở trong số đó. Từ khi tới thành Hàm Dương này, Lã Bất Vi chỉ được gọi vào tham dự việc triều chính có một lần. Hiếu Văn Vương ho gằn vài tiếng rồi yếu ớt nói, vua nước Đông Chu hội minh ở Bình Ấp ca hát nhảy múa, khinh nhờn vong linh của tiên vương, vậy ta phải đối phó với họ thế nào đây. Các quần thần sau một hồi rỉ tai nhau bàn tán mới đưa ra ý kiến riêng của mình. Nhưng bất kể là nói ít hay nói nhiều tất cả đều là những quan điểm cũ. Một phe thì bảo lưu ý kiến phải tiến hành tang lễ trọng hậu trước đã, vì đó mới là việc lớn trước mắt; còn phe khác thì vẫn giữ nguyên chủ kiến là đối với bọn Đông Chu dám giễu võ dương oai trong lúc quốc tang thì phải xuất binh trừng phạt, chứ không thể ngồi im, khoanh tay bỏ mặc được. Hiếu Văn Vương thấy ai nói cũng đều có lý cả.
Dị Nhân bám chặt lấy Lã Bất Vi, yên lặng không nói câu nào, vì vẫn nhớ rõ ràng lời dặn dò của Thái phó là phải tuyệt nhiên im lặng. Không được bừa bãi nói năng. Dị Nhân mấy lần bắt gặp ánh mắt ngăn cản không cho mình được đề xuất ý kiến. Lã Bất Vi biết rằng, ngay bản thân mình lúc này cũng không nên nói gì. Ở chốn triều đình, toàn những bậc đại quan tước cao lộc hậu này đâu có thể lấy thân phận thấp hèn hơn để tham dự vào, huống gì lại chẳng có được mưu kế đáng nể nào.
Lúc này, chỉ thấy hai viên đại tướng bước lên, quỳ trước ngự án đồng thanh nói rằng: "Bọn Đông Chu khinh người cường ngạo như vậy, lẽ nào chúng ta lại chịu nhịn chúng hay sao? Bọn hạ thần mạo muội cho rằng, lũ quân chó má ấy dám khinh ngạo tiên vương, coi thường đại vương. Nếu như đại vương không lên tiếng dạy cho bọn súc sinh này một bài học thì e rằng mọi người thiên hạ đều cho đại vương là hèn yếu, nhu nhược bất tài. Nếu như không xuất quân thì quốc thể của nước Tần sẽ tiêu tan hết, sự tôn quý của đại vương sẽ chẳng còn cả chữ Văn.
Lã Bất Vi đưa mắt nhìn, thì ra là hai viên đại tướng Mông Ngao và Vương Hột.
Lời tấu của Mông Ngao và Vương Hột như một phép khích tướng khiến Hiếu Văn Vương lập tức quyết định tiến quân vào Bình Ấp. Tiễu trừ Đông Chu và những chư hầu hội minh ở đó. Nhưng Phạm Tuy ngăn cản rằng: "Tiên vương vừa mất. Cả nước khóc thương, lòng người chưa định, sĩ khí chưa hăng, còn các nước chư hầu hội minh người đông thế mạnh hơn hai vạn tinh binh, lại còn nóng lòng muốn nhân cơ hội nước ta đổi chủ mà quyết một trận thư hùng. Chúng ta nếu như không suy tính cho kỹ mà cứ mạo muội tiến quân thì tám, chín phần mười sẽ gặp cảnh đầu rơi máu chảy, xin đại vương hãy thu hồi mệnh lệnh!"
Tuy đã coi Phạm Tuy là kẻ cừu thù, nhưng Lã Bất Vi cũng phải công nhận rằng ý kiến của Phạm Tuy rất cao siêu, thực là biết nhìn xa trông rộng. Vì những chuỗi ngọc trước miện của Hiếu Văn Vương che khuất nên Lã Bất Vi không thấy được nét mặt của ông vua này ra sao khi nghe lời can gián của Phạm Tuy. Cho dù Hiếu Văn Vương mỗi khi hành sự thường do dự thiếu quyết đoán. Nhưng trong tính cách của ông ta lúc này sự ngang ngạnh đang trỗi dậy dẫn đến việc ông ta quyết định dứt khóat rằng: "Chủ kiến của quả nhân đã định rồi, Phạm tướng quốc chớ nên can gián nữa làm gì, mà hãy xem phải cử ai làm nguyên sóai thống lĩnh quân đội đây?"
Lã Bất Vi thấy ngay bên cạnh mình, Phạm Tuy mở lớn con ngươi trầm tư suy nghĩ, một lúc sau thì Phạm Tuy tấu lên rằng: "Vừa rồi chỉ là ngu kiến của hạ thần, thấy mình kiến văn thật nông cạn nên rất thành phục trước trái tim quyết đoán của đại vương. Nếu nói tới người làm soái thống binh xuất trận, thì không thể là những hạng tầm thường; dù cho có là những chiến tướng công huân hiển hách, nhiếp phục chư hầu như Vương Hột hay Mông Ngao cũng không thích hợp với việc lãnh chức nguyên sóai thống binh xuất trận, đây không phải là lời nói khoa trương vô căn cứ. Nước ta thay chủ đúng là lúc muôn vàn khó khăn thì phải là một người đức cao trọng vọng trong dòng tông thất họ Doanh mới có thể ổn định lòng quân, chấn hưng sĩ khí, giải tán hội minh, làm mất hồn như muôn nước. Người thích hợp nhất đầu tiên phải là đại vương, nhưng không thể nào thế được vì việc triều chính không thể thiếu vắng đại vương và đại vương còn phài chủ trì lễ an táng cho tiên phụ; thế nên người tiếp theo có thể đảm nhận được trọng trách này chính là thái tử Dị Nhân!" Lời nói của Phạm Tuy vừa thốt ra, các quan lớn bé trong triều đều gật gù, không lời phản đối.
Dị Nhân trở tay không kịp, thần sắc tiêu tan nhìn sang Lã Bất Vi. Lã Bất Vi như hít phải luồng khí lạnh, âm thầm kêu thở, tay Phạm Tuy này quả nhiên tâm cơ giảo hoạt, độc ác khôn bì. Hắn nói là do một người đức cao vọng trọng trong tôn thất họ Doanh làm sóai thống binh là rất hợp tình hợp lý, rồi lại đề cử thái tử đảm nhận trọng trách đó thì ai có thể phản đối được. Nhưng trên thực tế là đẩy mình vào chốn rừng đao biển lửa, hiểm họa khôn lường, thực là một mũi tên mà trúng cả hai đích! Lã Bất Vi đưa ánh mắt đăm chiêu của mình chạm vào đôi mắt đầy van lơn cầu cứu của Dị Nhân, khẽ khàng nói: "Xin cứ ngồi yên, chớ nói gì cả!"
Tất cả các quần thần và các thái tử, thái phó đều gật đầu đồng ý đồng thanh phụ họa: "Thái tử cầm quân thực là đúng! thái tử cầm quân hợp lẽ hợp tình!"
Lã Bất Vi biết bọn họ hành động như vậy chắc chắn không phải là can tâm tình nguyện cảm phục Dị Nhân, mà là sau khi nghe sự phân tích thời thế của Phạm Tuy ai nấy đều sợ mình phải cầm quân đi vào chốn rừng đao mũi kiếm, họa ấy tới đầu mà thôi.
Lúc này lời nói của tất cả mọi người đều không còn giá trị mà chỉ đợi một lời của Hiếu Văn Vương.
Hiếu Văn Vương nói: "Thái tử Dị Nhân nghe chiếu, ban cho ngươi làm nguyên sóai, dẫn mười vạn quân tiến về Bình Ấp!"
Lã Bất Vi biết rõ vào thời khắc này, chiếu mệnh của Hiếu Văn Vương không thể nào thay đổi được bèn dục khẽ Dị Nhân rằng: "Mau bước lên nhận chiếu chỉ!"
Dị Nhân bước tới hai bước, rồi quỳ dưới đất, run rẩy nói rằng; "Như thần tuân chỉ!"

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5933
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Lã Bất Vi***   Tue Sep 30, 2014 1:06 pm

Sau khi tan triều. Dị Nhân về điện Chiêu Thanh như kẻ mất hồn. Trong lúc về cung của mình phát hiện thấy có một người bán theo sau. Ngóai đầu nhìn lại thì ra là Lã Bất Vi, liền nghĩ ngay tới cái lần mà Phạm Tuy dẫn mình đi bắt gian phu dâm phụ, tuy không có kết quả gì song ở trong đầu Dị Nhân lúc nào cũng có một bóng đen ám ảnh, thêm vào đó là việc Triệu Cơ đã từng là hầu thiếp của Lã Bất Vi nên có lúc Dị Nhân cũng thấy rất khó chịu.
"Thái phó, tại sao cứ đi theo ta về phủ là thế nào?" Dị Nhân lạnh lùng nói. Lã Bất Vi nói: "Tại sao thái tử điện hạ nhanh quên thế! khi vừa mới ra khỏi cung Chương Đài, điện hạ bảo ta không lúc nào được rời ngài nửa bước cơ mà!"
Lúc này Dị Nhân mới nhớ ra là khi tan triều mình có dặn thái phó như vậy.
Dị Nhân từ xưa đến nay chưa từng tận mắt trông thấy hai bên giao chiến, lại phải thống lĩnh thiên binh vạn mã xông vào hiểm địa, đưa thân vào nơi rừng đao biển lửa, hơn nữa lại là đối đầu với hai mươi vạn tinh binh của các nước chư hầu, điều này khiến Dị Nhân sợ tới kinh hồn lạc phách, chân tay rụng rời. Dị Nhân cảm thấy chỉ có Lã Bất Vi là chỗ dựa duy nhất đáng tin cậy mà thôi. Vì thế cho nên vừa ra khỏi cổng chính của cung Chương Đài ông ta đã nói với Lã Bất Vi như van xin cầu khẩn rằng: "Thái phó, ngàn vạn lần xin ngài chớ rời xa ta." Đối với việc bài binh bố trận, cầm quân đánh trận như thế nào ông ta rất cần sự chỉ đạo của Lã Bất Vi để ban mệnh chỉ huy. Cho dù Dị Nhân có bảo là phải đi theo, nhưng lúc này Lã Bất Vi cũng cảm thấy mình có chỗ sơ suất, đáng nhẽ lúc về cung phải hỏi qua xem có cần về theo không. Nên khi nghe Dị Nhân trách cứ vậy, Lã Bất Vi cũng biết mình cũng có điều thất lễ. Vì vậy, Lã Bất Vi nói với Dị Nhân rằng: "Điện hạ, chúng ta tới chỗ khác nói chuyện!"
Dị Nhân vẫn bực bội nói: "Ở luôn tại đây cũng được."
Sau khi hai người bàn bạc xong, Dị Nhân mới bắt đầu mở mồm chửi rủa Phạm Tuy. Sau đó thốt ra một câu - tanh nồng mùi máu rằng: "Phạm Tuy! ta hận ngươi tới tận xương tủy, ta thề không đội trời chung với ngươi! sau khi ta được lên ngôi thì ta sẽ băm vằm thân ngươi làm muôn mảnh, chém hết cả tam đại, cửu tộc của nhà ngươi."
Lã Bất Vi xoa dịu nói rằng: "Điện hạ, việc gấp trước mắt là phải thực hiện chiếu mệnh của đại vương như thế nào mới đúng. Còn chửi mắng Phạm Tuy chỉ hả giận nhất thời mà chẳng giải quyết được việc gì cả."
Dị Nhân lại quay sang oán trách Lã Bất Vi: "Thái phó, lúc đầu đáng lẽ ra ngài chớ bảo ta đứng ra nhận mệnh vội, thì giờ đây ta cũng có chỗ mà rút lui, nhưng giờ thì tất mọi sự đều đã rồi, mũi tên đã rời cung thì sao có thể quay lại được nữa!"
Lã Bất Vi ôn tồn nói: "Điện hạ, ngài thử nghĩ xem, đại vương vừa mới nắm quyền ở trong tay, việc đầu tiên là phải tuyên bố mệnh lệnh, há lại để cho người khác xen vào, hơn nữa lão quái vật Phạm Tuy lại nói rất hợp tình hợp lý như vậy thì điện hạ sao có thể chối từ được". Dị Nhân thấy lời của Lã Bất Vi cũng rất có lý liền im lặng không nói nửa lời, được một lúc dường như không thể chịu đựng thêm được nữa lại thốt lên: "Thái phó, thế ngài thử nói xem, bây giờ ta phải làm như thế nào đây?"
Lã Bất Vi dặn Dị Nhân rằng lúc này nên đến cầu kiến đại vương rồi nói với đại vương rằng, việc lấy mười vạn quân đi đánh lại hai mươi vạn quân thì chẳng khác nào lấy trứng chọi đá, chỉ chuốc lấy sự thất bại mà thôi. Đến lúc chiến bại, tính mạng của nhi thần chỉ là chuyện nhỏ nhưng thanh danh của đại vương mới là chuyện lớn, sĩ khí của nước Tần cũng bị ức chế, vậy thần xin đại vương cấp thêm cho mười vạn quân nữa. Đó là nước cờ thứ nhất.
Nghe tới đây, Dị Nhân không hiểu hói: "Ngay một lúc mà đòi xin thêm mười vạn binh mã, vương phụ rất khó đáp ứng được."
Lã Bất Vi nói: "Đúng thế! như vậy sẽ xuất hiện cái kiểu mặc cả trên thương trường của ta, ta cố kéo dài thời gian để tìm đối sách và chờ những thay đổi khác."
"Thế còn nước cờ thứ hai như thế nào?"
Lã Bất Vi nói tiếp: "Khi điện hạ nói chuyện với đại vương thì vừa kéo dài thêm thời gian, vừa nói lấy quyền điều binh khiển tướng, chuẩn bị đầy đủ lương thảo quân chung. Tới khi đại vương cấp thêm cho mười vạn binh mã thì chúng ta đã có sự chuẩn bị rất kỹ lưỡng rồi!" Cứ thế, Dị Nhân trở lại cung Chương Đài, Hiếu Văn Vương cũng biết được cái quan hệ trọng đại trong cuộc chiến với các nước chư hầu, và đang bàn với Phạm Tuy là sẽ phái viên đại tướng nào đi theo. Dị Nhân vừa gặp Hiếu Văn Vương đã đem tất cả những lời mà Lã Bất Vi dặn dò ra nói hết. Hiếu Văn Vương nghe xong, trầm ngâm một lúc rồi nói: "Đúng vậy, đúng vậy! trận chiến đầu tiên lúc ta lên ngôi nhất định phải giành được thắng lợi. Thế thì ta lại cho con thêm mười vạn binh mã dưới cờ nữa!"
Phạm Tuy can rằng: "Đại vương, ngay một lúc mà điều động nhiều binh mã ở thành Hàm Dương thế thì nhỡ chư hầu các nước nhân cơ hội tiên vương băng hà này tấn công vào đây, thành Hàm Dương há giữ được sao?"
Hiếu Văn Vương nghe Phạm Tuy nói vậy cũng thấy binh mã ở Hàm Dương không thể xuất trận lúc này được.
Dị Nhân viện đủ mọi lý do đòi xin tăng viện. Hiếu Văn Vương nghe xong cũng thấy trận chiến với chư hầu hội minh lần này không chi viện thêm thì không xong. Phạm Tuy vừa mở miệng nói với Hiếu Văn Vương về sự trọng yếu trong việc bảo vệ kinh sư như thế nào, thì ngay lập tức Dị Nhân quay sang cãi nhau với ông ta. Lời qua tiếng lại mỗi lúc một ầm ĩ.
Hiếu Văn Vương nghe một lúc thấy đau đầu loạn óc bèn quát lớn: "Thôi đi! các ngươi hãy lui ra hết cả đi, để cho ta suy nghĩ một chút đã."
Trên đường trở về điện Chiêu Thanh của mình, Dị Nhân nghĩ bụng: "Mẹo của thái phó thực là thần cơ diệu toán, xem ra việc tấn công Bình Ấp có thể hoãn lại được rồi, nhưng vừa nghĩ tới chuyện vừa rồi chẳng được kết quả gì thì lại thấy rối như tơ vò. Dị Nhân cảm thấy chiếc xe của mình lắc lư chao đảo liền vén rèm ra quát người đánh xe và bọn tùy tùng rằng: "Chạy gì mà nhanh thế, các ngươi thích chết hả!"
Lã Bất Vi tới phủ của mình suy tính rằng khi mà Dị Nhân vâng mệnh xuất quân thì không chỉ có mình phải đi theo mà còn phải đem thêm một số môn khách nữa. Người thứ nhất mà Lã Bất Vi nghĩ đến chính là Tư Không Mã. Lã Bất Vi cảm thấy rằng phải tới chỗ các môn khách ở, để nói rõ mọi chuyện với Tư Không Mã phân tích lợi, hại.
Lã Bất Vi liền đi luôn sang chỗ của các môn khách, chứ không bước vào phòng của mình. Lã Bất Vi nuôi tới hàng trăm môn khách trong nhà, gồm đủ mọi hạng người, nho gia có, hiệp sĩ có, bói toán có, buôn bán có... Trong đó có những người văn võ toàn tài, nhưng cũng không ít kẻ tầm thường. Có những nhân tài khó gặp thì Lã Bất Vi thu làm môn hạ, còn có những kẻ văn dốt, võ nhát lại không biết làm ăn chỉ đến đó với một tấm lòng xin chết vì chủ. Lã Bất Vi cũng giữ lại. Lã Bất Vi biết rằng, muốn họ phong hoán vũ, thống nhất thiên hạ thì phải chiêu hiền đãi sĩ. Nước Triệu có được Lạn Tương Như không chỉ lấy lại được ngọc quý mà còn hòa hợp với Liêm Pha, nên quốc thế vững mạnh và trở thành một trong thất hùng (Bảy nước lớn). Mạnh Thường Quân của nước Tề có được Phùng Hoan mới có thể ở yên lành vô sự trong hang bao lỗ của con thỏ khôn lanh. Nếu như không có Mai Tọai liều mình, hiên ngang uy dũng ở nước Sở thì đâu có chuyện Bình Nguyên Quân và Khỏa Liệt Vương uống máu ăn thề để cứu Triệu... Mà Lạn Tương Như, Phùng Hoan, Mao Tọai lúc đầu cũng đều là những môn khách tầm thường. Vì thế cho nên Lã Bất Vi coi trọng các môn khách này như là thượng khách. Những môn khách thuộc hạng nhất đẳng thì ở tại chốn sang trọng, ngồi xe vung kiếm, ăn uống rượu thịt. Còn đến như bọn phàm phu tục tử, mạt hạng cùng đinh thì cũng được cho ăn uống và tiền bạc hơn cả những kẻ nô tì, phục dịch ở tại trong phủ.
Lã Bất Vi cho rằng Tư Không Mã chính là một kẻ kiêu hùng trong đám thượng đẳng môn khách.
Lúc này Tư Không Mã đang ngồi tiếp đãi một vị khách không mời mà đến. Người này tuy toàn thân ăn mặc trang phục nước Tần nhưng giọng nói thì là khẩu âm của nước Yên, nước Triệu. Đó chính là Triệu Hoảng người may mắn thóat chết cùng Tư Không Mã trong trận chiến ở Trường Bình.
Triệu Hoảng cũng chính là người đi cùng với Hiếu Thành Vương và Bình Nguyên Quân của nước Triệu đến triệu tập chư hầu hội minh ở Bình Ấp. Vua nước Triệu là Hiến Thành Vương và Bình Nguyên Quân không biết tin tức gì về tình hình trong thành Hàm Dương sau khi vua Chiêu Tương Vương qua đời và thái độ của nước Tần đối với lần hội minh của nước chư hầu. Vì thế nên Triệu Hoảng tự xung phong với thành Hàm Dương để thăm dò động tĩnh. Bình Nguyên Quân hỏi Triệu Hoảng có chắc chắn và an toàn không? Triệu Hoảng quả quyết tin rằng là có. Lão nói tuy lã và Tư Không Mã không cùng thờ một chủ, gặp nhau trong trận tuyến giữa Tần và Triệu, nhưng giữa lão và Tư Không Mã còn có tình bằng hữu vào sinh ra tử. Tại Hàm Đan chỗ của Dị Nhân lão trông có ơn hạ thủ lưu tình tha mà không giết Tư Không Mã. Và Tư Không Mã không phải là hạng tiểu nhân lấy oán báo ân, cho dù Tư Không Mã không nói cho lão biết mọi tình hình nhưng cũng không thể báo cho người tới bắt lão được. Lại thêm việc Tư Không Mã đã đường đường chính chính là thủ hạ của thái phó Lã Bất Vi giữ trọng trách nặng nề trong đám môn khách, đối với việc đại sự quân cơ của nước Tần cũng có thể biết sơ đôi chút.
Lúc Triệu Hoảng bí mật xuất hiện trong phòng của mình, Tư Không Mã cảm thấy rất bất ngờ. Triệu Hoảng nói, lần này lão theo Hiếu Thành Vương đến Bình Ấp hội minh chư hầu, lén bớt chút thời gian tới đây thăm bạn cũ. Tư Không Mã thấy Triệu Hoảng đem cả những chuyện bí mật và trọng đại như vậy nói cho mình biết thì vừa cảm thấy Triệu Hoảng đến đây thực lòng vì sự thăm giao nhưng cũng vừa nghi ngờ nên cũng có sự đề phòng.
Tư Không Mã thiết tiệc tẩy trần cho Triệu Hoảng. Hai người cách biệt đã vài năm, có rất nhiều chuyện không thể nào nói hết được. Triệu Hoảng bảo với Tư Không Mã rằng lão đã kết duyên cùng với Khương Đào Hoa và không còn là viên lang trung tầm thường nữa mà là ngự y trong cung ở Tùng Đài. Tư Không Mã nghe Triệu Hoảng tự kể về mình xong liền nói ngay rằng: "Kẻ sĩ ba ngày không gặp là đã thành danh. Vậy hãy uống liền ba chén chúc mừng ngài chứ!" Sau đó Triệu Hoảng liền hỏi Tư Không Mã rằng: "Từ lúc chia tay ở Hàm Đan đến giờ tình hình thế nào? Có thăng quan tiến chức gì không? Có vợ con gì chưa?"
Tư Không Mã nói với Triệu Hoảng rằng mình vẫn như xưa, là một môn khách, cô độc một mình không vợ con.
Nghe xong Triệu Hoảng chà chà... mấy tiếng tỏ ý thông cảm với hoàn cảnh của Tư Không Mã. Sau đó liền ba hoa một hồi về sự giàu sang phú quý ở Hàm Đan. Nói nào là từ khi Tư Không Mã rời Hàm Đan thì đô thành này của nước Triệu đã có thêm bao nhiêu con đường, bao nhiêu tòa lầu cao mái uốn, bao nhiêu trung tâm thương nghiệp phồn hoa. Thấy bộ mặt ra vẻ của Triệu Hoảng, Tư Không Mã rất không bằng lòng nên cũng phóng đại sự huy hoàng và giàu có của thành Hàm Dương, cuối cùng nói thêm một câu "thành Hàm Đan ở nước Triệu của ông so với Hàm Dương nước Tần chúng tôi thì chỉ như gò đống so với núi cao mà thôi!"
Triệu Hoảng phản bác lại nói: "Tôi đã đi hai vòng khắp các đường to, ngõ hẹp ở thành Hàm Dương, những gì trông thấy thì cũng chỉ thế mà thôi. Phải nói rằng ở đây không phồn thịnh huy hoàng bằng Hàm Đan được."
Tư Không Mã giữ vẻ hòa khí nói: "Anh em bọn mình to tiếng tranh luận làm gì, vì ai cũng yêu cái mà mình quý, ai lại không nhìn nước mình bằng con mắt xanh đây!"
"Đúng thế, đúng thế!" Triệu Hoảng tỏ ý tàn đồng rồi chuyển ngay sang đề tài khác: "Vua nước Đặng Chu và hai mươi vạn quân của các nước chư hầu hội minh ở Bình Ấp, có khiến cho văn võ triều thần của nước Tần sợ kinh hồn thất phách không?"
Tư Không Mã thấy câu nói của Triệu Hoảng có ý miệt thị nên mất hết cảm tình, trong lòng nghĩ thầm, mình chán ngấy cái thái độ của tay ngự y nước Triệu này rồi. Nghĩ tới đó, Tư Không Mã buột miệng nói bừa: "câu đó sai bét! huynh không biết chứ. Chiêu Tương Vương chết đi rồi, cả nước Tần đã biến đau thương thành sức mạnh, lại vừa mới mộ thêm khoảng hai mươi vạn tân binh, một lòng thề sống chết đợi ngày ra trận."
"Thực đúng vậy sao? Chỉ vài ngày ngắn ngủi mà chiêu mộ được nhiều nhân mã như thế ư? tôi đi hai vòng quanh thành Hàm Dương tại sao lại chẳng thấy ngựa xe quân lính bài binh bố trận nhỉ?"
"Huynh hỏi câu đó thực quá ngây ngô. Số lượng quân binh là bí mật quân sự, há đâu lại phơi ra trước thanh thiên bạch nhật! mà đã ẩn hết trong rừng cây và các dinh phủ rồi." Tư Mã Không nói như là có chuyện như thế thực.
"Hả!" Triệu Hoảng kêu lên một tiếng kinh ngạc, rồi lại hỏi tiếp: "Nước Tần lúc này đang có đại tang mà các nước chư hầu lại nhảy múa, diễn võ giương oai ở ngay sát biên cảnh. Liệu rằng Hiếu Văn Vương có chịu mà bỏ qua việc đó không?"
Tư Không Mã giả vờ bí hiểm nói rằng: "Mấy ngày hôm nay chỉ thấy văn võ triều thần ra vào cung Chương Đài không ngớt. Nghe nói Hiếu Văn Vương ngày đêm bàn bạc với các quan để tìm kế sách, còn cụ thể ra sao thì không biết được. Nhưng gần đây, triều đình phái Can Quân úy dẫn người đi thu mua những ống tre to và dài nửa mét trở lên cứ rầm rập rầm rập, nên có thể là sắp có đánh nhau rồi."
Triệu Hoảng hỏi ngay: "sao ngài lại biết?"
"Ngài nghĩ mà xem, chỉ có những người đi xa mới dùng những ống tre trúc ấy để đựng gạo thổi cơm chứ, còn quân đội xuất binh đi xe để làm gì? Không thể nào không đi đánh nhau; qua đó cũng biết được nước Tần đi đánh chứ, chắc chắn phải là những chư hầu hội minh rồi." Tư Không Mã khóai chí nói ra những điều mà mình tưởng tượng ra.
Triệu Hoảng lầm bầm nói một mình: "Nói vậy là sắp có chuyện lớn xảy ra rồi!"
Tư Không Mã nghĩ thầm: "Xem ra thằng cha Triệu Hoảng này bị ta gạt rồi!"
Đúng lúc Lã Bất Vi bước vào, thì Tư Không Mã và Triệu Hoảng đã uống được ba tuần rượu rồi. Tư Không Mã giới thiệu ngay với Triệu Hoảng rằng đây là chủ nhân của mình - Thái phó Lã Bất Vi. Còn quay sang giới thiệu với Lã Bất Vi rằng đây là giang hồ Lang Trung Triệu Hoảng người bạn ở Hàm Đan. Triệu Hoảng hơi bối rối, lóng ngóng khấu kiến Lã Bất Vi. Lã Bất Vi cảm thấy quen quen nhưng không nghĩ ra, chỉ nhìn bằng ánh mắt nghi ngờ sắc lạnh, điều đó càng khiến tâm thần của Triệu Hoảng thêm bất định, cho nên nói chuyện với Lã Bất Vi cứ lúng túng, đầu đuôi chẳng ăn nhập gì với nhau. Nói chuyện qua quýt một lúc Triệu Hoảng xin cáo từ ra về. Sau khi tiễn Triệu Hoảng quay lại, Lã Bất Vi hỏi Tư Không Mã rằng: "Tư Không Mã, người bạn từ Hàm Đan tới của ngươi có đúng là thầy thuốc giang hồ không? Hình như là quân thám báo của nước Triệu."
Tư Không Mã khâm phục nói: "Thái phó đại nhân quả là có con mắt tinh tường! Đó là Ngự y ở trong Tùng Đài, lần này đi theo Bình Nguyên Quân và Hiếu Văn Vương tới Bình Ấp hội minh với các nước chư hầu, nhận sự giao phó của họ tới thành Hàm Dương để dò thám tình hình hư thực. Tôi có mối giao tình sinh tử với người ta..." Nói tới đây Tư Không Mã mới giật mình nghĩ lại lần ở trong núi gần nhà của Đào Hoa. Triệu Hoảng tưởng Lã Bất Vi là Dị Nhân mà truy sát. Nên khi Tư Không Mã vừa nói tới là Lã Bất Vi nhớ lại như in chuyện cũ, và nói không hề che đậy: "Hồi đó ta súyt nữa thì trở thành con ma dưới lưỡi kiếm của hắn và Khương Đào Hoa rồi! tay Triệu Hoảng này hình dáng đã thay đổi nhiều rồi." Tư Không Mã cảm thán nói: "Mới đó đã gần mười năm rồi! năm tháng trôi đi, núi sông còn biến đổi, huống gì là con người." Lã Bất Vi lại hỏi: "Hắn có nói gì về tình hình chư hầu các nước hội minh ở Bình Ấp không?"
Tư Không Mã nói: "Chưa kịp nói tới chuyện đó thì hắn trông thấy Thái phó đại nhân bước vào nên sợ hãi trốn mất rồi." "Hắn về nhà trọ không?" "Không, hắn về Bình Ấp, ở trong phủ của Thái tử tại Tùng Đài, hắn từng có ơn cứu mạng tại hạ cho nên tại hạ không thể không để hắn đi."
Lã Bất Vi vẻ mặt có vẻ khinh mạn nói: "Môn khách võ sĩ các ngươi thực là có tinh thần hiệp sĩ quá nhỉ!"
Tư Không Mã thấy Lã Bất Vi có thái độ ấy liền đem tất cả mọi chuyện mà mình với Triệu Hoảng nói với nhau thuật lại hết cho Lã Bất Vi nghe, rồi nói: "Tại hạ bịa ra chuyện đấy vì nghĩ tới bản thân và thái phó đại nhân cùng thờ thái tử nước Tần; còn việc tại hạ để hắn đi là vì tình bằng hữu. Xin thái phó đại nhân rộng lòng thứ tội."
Lã Bất Vi nhận thấy rằng Tư Không Mã tuy không chịu đem Triệu Hoảng ra giao nộp cho nước Tần, nhưng Lã Bất Vi nghĩ mình không thể thả hổ về rừng đơn giản như thế được, dù thế nào thì cũng phải do thám được tình hình chư hầu hội minh ở Bình Ấp. Nên dù cho Tư Không Mã có làm vậy thì Lã Bất Vi cũng rất vui vì Tư Không Mã tiến thóai có chừng mực, và lại có tính cách hiệp nghĩa can trường.
Sau khi Lã Bất Vi đem chuyện Hiếu Văn Công hạ chiếu sai Dị Nhân làm thống soái lãnh quân đi đánh Bình Ấp thì nói tiếp với Tư Không Mã rằng: "Để cho Triệu Hoảng về Bình Ấp cũng được nhưng chúng ta sẽ tương kế tựu kế để cho nhà ngươi tới đó một chuyến."
Thế rồi, Lã Bất Vi dặn dò Tư Không Mã rất cẩn thận kỹ càng mọi tình huống cần phải đối phó như thế nào. Tư Không Mã vừa nghe vừa gật đầu lia lịa khen hay...
"Thái phó đại nhân, không xong rồi!" Lã Bất Vi đang trầm tư suy nghĩ trong thư phòng thì giật thót tim vì nghe tiếng nói thất thanh hoảng hốt của Dương Tử. Một ý nghĩ vụt qua trong đầu: "Không phải là Tư Không Mã gặp chuyện bất trắc chứ?"
Lã Bất Vi vừa nghĩ tới đó thì trông thấy Dương Tử mặt mày nhợt nhạt nhễ nhại mồ hôi. Trong tiết thu lạnh lẽo như thế này, nếu như không phải là chạy vội vàng và trong lòng bị kích động mạnh, thì không thể nào ra nhiều mồ hôi đến vậy. Lã Bất Vi hỏi ngay: "Có chuyện gì mà khiến ngươi hốt hoảng thế kia?"
Dương Tử liền trả lời: "Lúc nãy tôi từ thương điếm trở về thì trông thấy một đám tang. Chiếc quan tài bọn hầu khiêng rất to lớn và nặng, chạm trỗ rất tinh sảo. Đặc biệt là tấm lụa phủ trên có thêu rất nhiều hình như: hải mã long phi, sóng nổi ba đào, mây hiệu cầu vồng, toàn là những màu sắc rực rỡ. Từ xưa tới giờ tôi chưa từng trông thấy màu sắc nào tươi sáng, rực rỡ như vậy. So với quan tài này thì quan tài của Chiêu Tương Vương còn kém một trời một vực!"
Lã Bất Vi nghĩ thầm: "Khắp nước Tần này, bậc chí tôn chí quý mà không phải là Chiêu Tương Vương, thì ai còn có tài năng hơn đây! ai dám làm quan tài lớn hơn, đẹp hơn đây? hơn nữa, cũng không nghe nói tới ở trong cung có người mất." Lã Bất Vi suy đoán một hồi, trong lòng đột nhiên chấn động, hai cặp lông mày chau lại, giật giật liên hồi rồi tự hỏi: "Hay là Hiếu Văn Vương đây?"
Lã Bất Vi cảm thấy quá rối rắm liền tự mình vào cung Chương Đài để tìm hiểu cho ra lẽ. Lã Bất Vi mặc đồ tang rồi lên xe, vẻ mặt buồn buồn đi tới cung Chương Đài. Xe tới cửa cung, Lã Bất Vi xuống xe đi bộ. Vào thời điểm này, và với thân phận lúc đó của mình, Lã Bất Vi không được ngồi trên xe để đi vào cung điện. Lã Bất Vi liếc nhanh mắt tới chỗ linh cữu thấy ở bên cạnh quan tài của Chiêu Tương Vương lại đặt thêm một cỗ quan quách mới rất là sặc sỡ. Dị Nhân mình mặc đồ tang đang tiếp một nữ tân khách tới phúng điếu.
Dị Nhân vì chưa xuất chinh nên cũng giống như các thái tử khác, thay nhau giữ linh cữu.
Bởi vì sự sặc sỡ huy hoàng của cỗ quan tài mới kia nên tất cả mọi thứ xung quanh nó đều trở nên nhợt nhạt, tầm thường. Lã Bất Vi vừa đi vừa chạy tới, tâm trí vẫn bị hút bởi cỗ quan tài mới kia. Đến nỗi ngay cả những người xung quanh như Dị Nhân, ban nhạc hiếu, vị quân cùng giữ linh cữu cho tới vị nữ tân khách kia cùng những người tùy tòng, tất cả đều không lọt vào tầm mắt của Lã Bất Vi.
Cho đến lúc tới trước cỗ quan tài nọ, Lã Bất Vi mới giật mình sửng sốt. Tuy đã từng làm ăn buôn bán lớn, đặt chân tới cả sáu nước ngòai quan đông, mắt đã nhìn qua không biết bao nhiêu cột kèo chạm trổ ở các phú độ của các bậc quân vương, thái tử, trong những tấm rèm thêu rực rỡ ở trên xa mã của các hầu tước, tướng quân cho đến cả những đồ trang sức của các trang quần thoa má phấn nơi khuê các... nhưng tất cả mọi màu sắc đó, tất cả sự rực rỡ đó còn kém cỗ quan tài này xa về sự tươi sáng huy hoàng. Điều đó khiến cho Lã Bất Vi phải há hốc mồm kinh ngạc: màu trắng thì như ánh trăng như sắc ngọc, từng chỗ ảo mờ; từng đám mây ngũ sắc, từng mảnh sắc chiều hôm sáng đỏ, tất cả đều là cái đẹp của bốn màu tụ lại cứ như khói như mây. Rồi đến hình tượng ngũ linh tượng trưng cho điều tốt của vua chúa như Long, Lân, Quy, Phượng và Bạch Hổ dù đứng, nằm hay bay nhảy tất cả đều sống động như thật; lại đến những kỳ hoa dị thảo cũng tươi thắm rực rỡ, thêm ở đó còn phảng phất tỏa hương...
"Cỗ quan quách này không chỉ được chế tác khéo léo vượt cả hóa công, mà chất liệu, màu sắc còn độc nhất vô nhị; không thể có cái thứ hai trên đời!" Lã Bất Vi cảm thán thốt lên trong lòng.
"Thái phó, lại đây làm quen một chút nào!" Dị Nhân gọi Lã Bất Vi.
Lã Bất Vi quay mình bước tới; đáp lễ vị nữ tôn kính tới phúng điếu kia, rồi ngay lập tức thấy trước mặt sáng bừng như xuất hiện vầng nhật nguyệt. Sự diễn bộ của vị nữ tôn khách này còn vượt lên trên cả sắc màu huy hoàng cỗ quan tài mới kia, mặt như hoa đào, hai mắt long lanh, sống mũi thanh mảnh, môi đỏ như ngậm son.
Dị Nhân giới thiệu rằng: "Vị nữ tân khách tới phúng điếu này là đại thương nhân Thanh quả phụ."
Vị quả phụ họ Thanh này phong tư kiều diễm, trở nên giàu có nhờ kinh doanh Đau Sa, và cũng là một phú thương nổi tiếng cuối thời chiến quốc. Thời kỳ Chiến Quốc, với sự phát triển của sản xuất, sự phân công lao động trong xã hội càng ngày càng rõ rệt, tỉ trọng của kinh tế hàng hóa ngày càng lớn dần. Lọai hình kinh tế hàng hóa này hình thành trên cơ sở thay đổi và sát nhập giữa kinh tế thủ công nghiệp và kinh tế tiểu nông. Vào thời điểm này, thậm chí còn trước nữa, quan niệm về kinh tế hàng hóa của mọi người cũng rất khắc nghiệt. Kinh tế hàng hóa phát triển tới thời Xuân Thu Chiến Quốc thì đã sản sinh ra một nhóm các cự phú. Hầu như các cự phú này đều giàu lên là nhờ đầu cơ tích trữ. Như đại thần Phạm Lãi của Việt Vương Câu Tiễn, như Tử Cống môn sinh của Khổng Tử hay đại thần đại thủy Bạch Khuê của Huệ Vương nước Nguy... tất cả đều giàu có nhờ cách này. Khổng Tự tại sao lại có thể vang danh bốn biển được? Tư Mã Thiên đã phân tích, khảo chứng là cũng có liên quan tới phú thương Tử Cống. Tư Mã Thiên dùng dẫn chứng xác thực để nói rằng Tử Cống từng đọc sách ở chỗ Khổng Tử, sau khi dời chỗ của Khổng Tử đến nước Vệ làm quan, đã dùng phương pháp đầu cơ tích trữ trong công việc kinh doanh buôn bán ở hai nước Tào và Lỗ. Trong hơn bảy mươi môn sinh đắc ý của Khổng Tử thì Tử Cống là người giàu có nhất. Còn như Nguyên Hiếu (tức Tử Tư) thì ngược lại, nghèo đến nỗi ăn không đủ no, lại còn ở trong ngõ hẻm tối tăm ẩm thấp.
Tử Cống ngồi trên xe tứ mã, mang theo nhiều lễ vật, đến các nước chư hầu, nơi nào cũng thăm hỏi, yến tiệc. Nơi nào Tử Cống đến, vua các nước đó đều dùng lễ để đối đãi với ông ta, cách cư xử không có gì phân biệt. Danh tiếng của Khổng Tử có thể lưu truyền khắp thiên hạ là vì trong thời gian Tử Cống chu du liệt quốc đã ca ngợi, biểu dương ông ta. Đây chính là được thanh thế nên càng nổi tiếng vậy.
Một lọai người khác lập nghiệp được nhờ nghề đại thủ công, buôn bán lớn, như y bọn Y Đốn, Quách Tung. Tài sản và sự giàu có của những thương gia lớn này có thể sánh ngang với vua các nước chư hầu. Hàn Phi Tử đã từng đem cái gọi là trên có sự tôn quý của thiên tử chư hầu với dưới có sự giàu có của bọ Y Đốn, Đào Mạt (tức Phạm Lãi), Bối Chúc để đưa ra bình luận. Đến thời kỳ Lã Bất Vi, nhân vật chính của cuốn sách này, họat động thì lại có chuyện từ việc chăn nuôi và khai thác mỏ Đa San (cinabre) mà phát triển lên nhanh chóng. Có người họ Ô tên Khỏa, anh ta mua hàng tơ chỉ cao cấp đem về dâng cho Nhung Vương của bộ tộc du mục. Nhung Vương liền tặng lại cho anh ta rất nhiều gia súc, anh ta lại đem số gia súc đó bán lại với giá rất cao. Trong những kẻ khai thác đa san mà phất lên, thì kẻ đầu sỏ đương thời chính là vị quả phụ Thanh người Ba Thục đang rì rầm trò chuyện với Lã Bất Vi kia. Do bà ta vơ vét của cải làm giàu, tự cương vẻ vì bà ta mà dựng bia lập truyện. Tiết thứ mười một trong cuốn "Hóa thực liệt truyện" (những truyện sinh lợi) của Tư Mã Thiên có chép rằng: "Quả phụ ấy tên là Thanh người Ba Quận, tổ tiên bà ta có được mỏ khai thác đan sa, mưu lợi đã đến mấy đời, gia sản nhiều không thể tính được. Thanh là một quả phụ lại giữ được sản nghiệp của tổ tiên, dùng tiền bạc để bảo vệ mình không bị kẻ khác xâm hại. Tần Thủy Hoàng nhận thấy bà ta là một phụ nữ tiết tháo trong sạch mới đem lễ tân khách đối đãi, lại còn cho xây một tòa nhà gọi là "Nữ hòai thanh đài."
Trong lúc chúng tôi đang giới thiệu một cách đại khái về những tình huống trên thì mối quan hệ giữa Dị Nhân, Lã Bất Vi, quả phụ Thanh đã rất nồng thắm. Lã Bất Vi và quả phụ Thanh đều là những thương nhân lớn có tiếng tăm đối với các vua chư hầu, hai bên cũng đều rất ngưỡng mộ nhau nhưng từ trước tới giờ chưa có ý định liên kết với nhau. Ngày hôm nay hai người không hẹn mà gặp, cả hai đều tiếc rằng gặp nhau đã quá muộn. Đến lúc này, Lã Bất Vi mới hiểu rõ lai lịch của chiếc quan tài màu sắc có một không hai này.
Có thời kỳ, quả phụ Thanh đưa một đội buôn tới quanh kinh đô Hàm Đan nước Triệu để buôn bán. Một lần, trong lúc đến biên giới nước Triệu, đội buôn gặp gỡ đoàn người đi săn của thái tử nước Trịnh, liền đó xảy ra xung đột.
Đội buôn trong tay không có một tất sắc đành bó tay bị bắt. Nhưng lúc đó cái khiến cho thái tử nước Trịnh động lòng không phải là những đồ châu báu, đan sa giá trị liên thành mà là dung mạo tuyệt mỹ của quả phụ Thanh. Trong lúc thái tử nước Trịnh áp giải đoàn buôn của quả phụ Thanh lên đường trở về quốc đô thì cũng chính là lúc gặp đoàn quân của Tần Chiêu Tương Vương đến Hàm Đan tham dự minh hội chư hầu. Quả phụ Thanh không hề biết đó là Tần Chiêu Tương Vương mà chỉ thấy một vị lão tướng oai phong lẫm liệt ngồi trên xe, nàng liền kêu lên mấy tiếng vang động đất trời: "Đại tướng quân, xin cứu mạng!" Chiêu Vương vội sai người lên phía trước hỏi xem có chuyện gì xảy ra, quả phụ Thanh mắt lệ ngấn dòng đem câu chuyện qua đường gặp cướp thuật lại toàn bộ. Tần Chiêu Tương Vương cũng nghe nói ở đất Ba Thục có người quả phụ tên là Thanh rất giỏi buôn bán, hôm nay gặp mặt mới biết người con gái này đi từ bắc xuống nam buôn bán thật không dễ dàng chút nào. Chiêu Tương Vương liền tiến tới phia trước cùng thương lượng với thái tử nước Trịnh, xin thái tử thả quả phụ Thanh ra. Thái tử nước Trịnh nhìn qua nghi trượng và tinh kỳ biết rằng vị tướng quân trước mắt, người mà quả phụ Thanh cầu cứu chính là vua Chiêu Tương Vương nước Tần nên đành phải tuân theo mệnh lệnh. Chiêu Tương Vương còn nói với thái tử nước Trịnh rằng người con gái băng rừng vượt suối, làm công việc buôn bán, gặp cướp, chịu nạn thực là không dễ dàng gì, cầu mong thái tử điện hạ từ nay về sau không nên gây phiền phức. Quả phụ Thanh chưa kịp định thần, liền tiến tới lạy ba lạy trước xe Chiêu Tương Vương muôn vàn cảm tạ. Sau khi chia tay, mỗi người một ngả, quả phụ Thanh mới nhớ ra rằng mình quên không hỏi quý tính đại danh của ân nhân cứu mệnh, có lẽ đã bị những tình huống kiếp nạn không kịp trở tay làm cho u mê cả đầu óc. Bọn thủ hạ của quả phụ Thanh bảo với nàng rằng, thấy qua nghi tượng cờ quạt và tự hiệu thì có thể đó là vua Chiêu Tương Vương nước Tần. Quả phụ Thanh than tiếc không ngớt, quyết tâm đem lễ hậu vào Hàm Dương khấu tạ. Nhưng tiếc rằng việc buôn bán rốt cục lại khiến cho nàng luôn bận rộn chân tay, không thể thực hiện tâm nguyện. Trước đó không lâu, nàng từ nước Lệ buôn bán trở về, nghe tin Tần Chiêu Tương Vương qua đời, trong lòng sầu thảm khôn xiết hối hận vô cùng, lập tức nàng bỏ công việc kinh doanh trong tay lên đường tới Hàm Dương điếu tang. Nàng vừa nhìn thấy linh cữu của Chiêu Tương Vương khác xa với những hình ảnh đẹp đẽ tinh xảo mà nàng tưởng tượng, trong lòng nàng cảm thấy đã phụ ân đối với vị tướng quân nam chinh bắc chiến, một đời rong ruổi trên lưng ngựa. Quả phụ Thanh tự quyết định làm lại cho Chiêu Tương Vương một chiếc quan tài, sử dụng màu sắc nước sơn do chính mình tạo ra. Chất liệu sơn của nàng có đan sa được pha chế bí mật, bề mặt sơn ánh lên màu sắc đẹp đẽ, dẫu nắng thiêu gió thổi cũng không dễ gì làm phai nhạt màu sắc. Nàng thuê một vài người thợ mộc, khắc lên trên quan tài những hình Tinh, Dực, Nguyệt khiến càng thêm lộng lẫy.
Những việc làm của quả phụ Thanh thực sự khiến cho Dị Nhân và Lã Bất Vi cảm động. Khi rời khỏi cung Chương Đài, Lã Bất Vi và Dị Nhân bàn bạc để cho quả phụ Thanh đến điện Chiêu Thanh chỗ của Triệu Cơ nghỉ ngơi chứ không đến nghỉ ở dịch quán hay nhà khách. Nhưng vì Dị Nhân phải túc trực bên linh cữu, do đó Lã Bất Vi dẫn quả phụ Thanh đến điện Chiêu Thanh.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5933
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Lã Bất Vi***   Tue Oct 14, 2014 11:00 am

Xe của Lã Bất Vi ở phía trước, xe của quả phụ Thanh ở phía sau, xe ngựa phóng nhanh tới điện Chiêu Thanh. Quả phụ Thanh đầy đặn đẹp đẽ, tài cán và tấm lòng của nàng khiến cho Lã Bất Vi ngưỡng mộ và rung động. "Một người con gái mặt hoa da phấn một thân một mình lại có thể đi buôn bán trao đổi qua các nước, làm rạng rỡ cơ nghiệp tổ tiên sáng lập, vả lại nàng xinh đẹp như hoa như ngọc, sắc đẹp đáng giá, thực là kẻ nữ anh hùng! Nếu như có thể thu nạp con người đó để làm thiếp, vui vẻ với cô ta thì cũng không uổng là một trang trượng phu. Người này trước đây vì Chiêu Tương Vương mà đến viếng, có lẽ là phải lưu lại Hàm Dương một thời gian, vận may trời phú, ta phải tính kế bắt chuyện kết giao qua lại, nếu không đạt được mục đích thề quyết không thôi! Chuyện này có thể bước đầu khó khăn, nhưng ta nghĩ khó khăn cũng chẳng bằng chuyện đưa Dị Nhân từ Triệu về Tần kế vị." Tư tưởng tình cảm của Lã Bất Vi tuy được thả nổi nhưng không phát triển đến mức không tự chủ được, hai cỗ xe nhanh chóng đã đến điện Chiêu Thanh.
Từ lần Lã Bất Vi giả dạng thầy bói thóat hiểm đến nay, đã có một khoảng thời gian rất dài không gặp mặt Triệu Cơ. Nghĩ lại những ngày tháng hãi hùng, hai người đều lo lắng, cho dù có lúc cô đơn, lạnh lẽo, mong nhớ sục sôi nhưng cả hai đành phải kiềm chế không theo ý muốn sống qua ngày để đợi cơ hội sau này.
Chính lúc Triệu Cơ đang đùa vui thân mật với Doanh Chính thì thấy Lã Bất Vi không hẹn mà gặp thì có cảm giác vừa mừng vừa sợ. Trong giây lát Triệu Cơ lại thấy quả phụ Thanh theo sau Lã Bất Vi thì lại cảm thấy rất kỳ quặc. Sau khi Lã Bất Vi nói rõ ý, Triệu Cơ mới biết người khách nữ này là quả phụ Thanh. Bất chợt sau khi nhìn ngắm kỹ càng quả phụ Thanh một hồi, trong lòng Triệu Cơ thốt lên kinh ngạc. Quả phụ Thanh này có đôi mắt như làn sóng mùa thu, cổ trắng như ngó sen, da mịn, xương ngọc, dáng vẻ đoan trang, giống như tiên nữ trên trời giáng lâm xuống cõi trần.
Lần đầu tiên gặp mặt, lại có cả Triệu Cơ ở đó nên Lã Bất Vi tự nhiên không dám có cử chỉ vọng động mà đành phải từ tốn lịch sự cùng Triệu Cơ và quả phụ Thanh hàn huyên. Trong khi đó Triệu Cơ biết quả phụ Thanh giống như một trong nam tử lưu lại trong thiên hạ, ráng sức chèo chống giữ lấy sản nghiệp thì rất lấy làm ngạc nhiên, thứ nhất là vì quả phụ Thanh thuộc lớp nữ lưu, lại có thể ở các nước chư hầu lo việc kinh doanh, chỉ đạo sai khiến những người đàn ông, điều kinh ngạc thứ hai là quả phụ Thanh luôn bận rộn đi lại mệt mỏi, trên chốn phong trần, hao tâm tổn sức nhưng mảy may chẳng biểu hiện vẻ già nua tiều tụy chút nào, mà mười ngón tay vẫn như búp măng, khuôn mặt hồng hào. Triệu Cơ không biết phải xưng hô như thế nào với quả phụ Thanh bèn hỏi tuổi của quả phụ Thanh, quả phụ Thanh nói với Triệu Cơ rằng nàng thuộc tướng ngọc thỏ, năm nay ba mươi hai tuổi. Triệu Cơ nói: "Chị lớn hơn tôi ba tuổi, tôi gọi chị là chị Thanh." Quả phụ Thanh như vừa được nhận ơn huệ vừa lo sợ, liên tục xua tay và nói: "Như vậy không được, phu nhân là thái tử phi, xin phu nhân cứ gọi tôi là Thanh thôi." Triệu Cơ nói một cách trách móc: "Nếu vậy phải xem mặt nhau, tôi già hơn chị, chị cứ gọi tôi là tỷ nhưng tuổi trẻ là do thiên địa xếp đặt chẳng phải ý người, thôi thì cứ như vậy thôi."
Trong khi Triệu Cơ và quả phụ Thanh vì chuyện xưng hô mà nhún nhường thì Lã Bất Vi đem dung mạo hai người để so sánh, Lã Bất Vi thấy khoé mắt của Triệu Cơ đã phảng phất xuất hiện những bết nhăn hình đuôi cá mà trong khi đó khoé mắt quả phụ Thanh vẫn phẳng phiu nhẵn bóng, không thấy được những dấu tích của cuộc sống phiêu bạt. Lã Bất Vi cảm thấy quả phụ Thanh tuy không có sự trong trắng chất phác của người thiếu nữ, cả tâm hồn lẫn thể xác thực là một người ung dung tự tại, nhưng đó là cái đẹp thể hiện đầy đủ khiến trái tim con người dễ rung động.
Triệu Cơ nhìn thấy ánh mắt si mê của Lã Bất Vi với quả phụ Thanh thì hoàn toàn không vui vẻ. Thêm vào đó, quả phụ Thanh là do Lã Bất Vi đưa tới nên lệ tràn đầy mắt thầm nghĩ: "Quả phụ Thanh đi khắp đó đây, giao kết hầu hết với bọn đàn ông, sợ rằng đây là con quỷ phóng đãng của bọn người rác rưởi. Nhưng bộ dáng liếc mắt đưa tình giữa quan thái phó và nàng ta thì dẫu quá khứ chẳng ô tạp cũng khó giữ được tình cảm phu thê từ nay về sau không thành sương khói."
Khi Triệu Cơ nghĩ như vậy, trong phút chốc hứng thú nói chuyện đã trở nên nguội lạnh, Triệu Cơ khẽ ngáp một cái rồi quay sang nói với Doanh Chính đang quấn quýt bên đầu gối: "Chính nhi, đừng quấy rầy trong này nữa, ta mệt lắm rồi."
Triệu Cơ nói như vậy Lã Bất Vi và quả phụ Thanh mới chú ý đến Doanh Chính. Doanh Chính tuy vừa tròn bảy tuổi nhưng hình dáng to lớn, đầu tròn như đầu hổ. Không chỉ mặt mũi có hình ảnh của Lã Bất Vi mà vẻ khôi ngô cũng như sức mạnh dường như cũng thừa nối Lã Bất Vi.
Lã Bất Vi kéo Doanh Chính lại hỏi một câu đầy ẩn ý: "Nữ thương gia đất Ba Thục, nàng xem Doanh Chính lớn lên có giống thái tử điện hạ không?"
Quả phụ Thanh đương nhiên là không rõ ý tứ của Lã Bất Vi, cứ nhìn Doanh Chính lại nhìn Lã Bất Vi và nói một cách giễu cợt: "Tôi thấy công tử điện hạ lớn lên trông rất giống với thái phó đại nhân."
Kẻ nói vô tình, người nghe thấu ý, Lã Bất Vi vội dùng nét mặt tươi cười không được tự nhiên để che lấp vẻ bối rối. Triệu Cơ trong lòng sợ hãi, hai gò má ửng lên như đám mây hồng buổi chiều tối.
Quả phụ Thanh không chú ý đến những cảnh ấy, bế Doanh Chính lên âu yếm, đùa vui cười nói với Doanh Chính không ngừng.
Lã Bất Vi thấy rằng không còn chủ đề thích hợp để cùng hai người đàn bà kia đàm đạo, nếu như lại còn lưu lại ở đó thì có thể sẽ để lại ấn tượng háo sắc khiếm nhã, liền đứng dậy cáo từ.
Nếu như Dị Nhân không đến, Doanh Chính sẽ ngủ cùng Triệu Cơ. Buổi tối hôm nay nếu quả phụ Thanh qua đêm ở đây thì Triệu Cơ sợ rằng quả phụ Thanh ở lại sẽ làm mọi người chen chúc chật chội một chỗ, nàng nghĩ như vậy liền bảo nữ tỳ đưa Doanh Chính đi ngủ, nhưng Doanh Chính khăng khăng một mực không nghe theo.
Quả phụ Thanh nói với Triệu Cơ không cần phải ép buộc, Triệu Cơ có thể đặt thêm một giường nữa ở bên ngòai. Triệu Cơ đối với quả phụ Thanh cũng chẳng nồng nhiệt gì, lại thấy nàng ta cứ khăng khăng như vậy cũng đành thuận ý, bảo bọn nữ tỳ bày thêm giường và chăn đệm ở bên ngòai phòng ngủ của mình. Quả phụ Thanh không muốn đi ngủ sớm, ý muốn cùng vị thái tử phi có cơ hội nói chuyện cởi mở vể những câu chuyện của người con gái trong nhân gian.
Nhưng thấy Triệu Cơ có vẻ lạnh nhạt thờ ơ thì cảm thấy rất kỳ lạ, tự suy đoán: "Không biết có phải cử chỉ lời nói của mình thất lễ đã đắc tội với vị thái tử phi tôn quý này ư?" Nghĩ đi nghĩ lại, đột nhiên nàng mới nhớ ra câu nói công tử lớn lên giống thái phó của mình đã khiến cho thái tử phi buồn rầu. Nghĩ đến đó, nàng liền tới trước mặt Triệu Cơ, đau khổ chau mày nói: "Thái tử phi, chúng tôi là những kẻ buôn bán thô tục thiếu lễ, nếu có câu nói gì mạo phạm, xin người rộng lượng tha thứ." Thực ra Triệu Cơ khi đó cũng hơi khó chịu với câu nói đó, nhưng lại không hề để bụng. Thậm chí Triệu Cơ còn cảm thấy thích thú với câu nói đó, nhưng nó lại khiến cho Triệu Cơ nhớ lại những ngày tháng hạnh phúc đã qua. Sở dĩ Triệu Cơ lạnh nhạt với quả phụ Thanh thứ nhất là vì Dị Nhân đã để cho một nữ thương gia xưa nay không quen biết đến nghỉ ở trong cung. Triệu Cơ cảm thấy điều này là một sự xúc phạm lớn. Thứ hai vì Lã Bất Vi cùng với quả phụ Thanh sắp xe song hành đến thì biết đâu lại không có những cử chỉ đưa tình đối với người nữ đồng hành xinh đẹp nhưng lẳng lơ này. Triệu Cơ chẳng thèm lưu tâm tới câu nói đầy ân hận của quả phụ Thanh, bèn nói một cách miễn cưỡng: "Mọi người đã mệt rồi, mau đi ngủ sớm thôi."
Nghe Triệu Cơ nói như vậy, quả phụ Thanh biết ý liền đi ra nơi đặt giường và để nguyên quần áo ở bên ngòai mà nằm. Doanh Chính từ lúc nhìn thấy người khách mới nghỉ tại đây thì không còn hứng thú đi ngủ bèn đi lang thang khắp trong phòng. Thấy quả phụ Thanh chưa thay đồ thì cảm thấy rất lạ, liền hỏi Triệu Cơ: "Mẫu hậu, sao thím kia không thay đồ đi ngủ?"
Nghe Doanh Chính hỏi như vậy, Triệu Cơ không tin, liền đi ra ngòai xem, quả nhiên đúng là như vậy. Nàng thầm nghĩ: "Chả lẽ người đàn bà này cho là chăn chiếu của ta không được sạch sẽ?"
Quả phụ Thanh cũng không ngủ được, thấy Triệu Cơ đi tới bên giường liền vội ngồi dậy. Triệu Cơ hỏi một câu lạnh lùng: "Chị Thanh đi ngủ sao không thay quần áo chẳng lẽ sợ chăn chiếu của tôi làm bẩn người chị ư?"
Quả phụ Thanh chợt thấy Triệu Cơ xuất hiện vội vàng cúi người thi lễ rồi nói: "Thái tử quá lo rồi, một thương nhân nhỏ bé như chúng tôi lại có thể cùng ngủ chung phòng với thái tử phi thì thực là cái phúc ba đời vậy. Giường chiếu chăn đệm trong này toàn là đồ tốt quý mà lại dùng để che phủ lên cái thân thô tục của tôi thì sợ rằng có sự đảo lộn nghi lễ trong cung."
Triệu Cơ hỏi: "Vậy vì sao chị lại mặc quần áo đi ngủ?" Quả phụ Thanh đáp: "Tôi sợ rằng nếu thay quần áo bên ngòai sẽ khiến thái tử phi chê cười."
Triệu Cơ càng không hiểu rõ lại hỏi: "Thay quần áo sao lại chê cười?" Quả phụ Thanh nói: "Thái tử phi đã hỏi đến vậy thì tôi dứt khóat phải thay đồ rồi." Vì quả phụ Thanh đến Hàm Dương là để điếu tang nên mặc bên ngòai là bộ quần áo lụa màu trắng. Nàng tháo đai quần, lắc nhẹ cánh tay, chiếc quần lụa trắng lặng lẽ rớt xuống để lộ ra một chiếc quần lụa hoa quê nhà bên trong.
Triệu Cơ đã hiểu ra vội nói: "Chị Thanh nghĩ thật chu đáo, sợ mặc những màu sắc quá rực rỡ này sẽ khinh nhờn đến vong linh Chiêu Tương Vương ư?" Quả phụ Thanh khẽ lắc đầu, đau khổ nói: "Xin thái tử phi cầm bộ quần áo này của tôi lên xem xét kỹ lưỡng."
Đây là một chiếc áo dài màu tím, bên trên thêu đầy những hình vẽ như hoa, lại như rồng uốn, lại giống như bằng chữ màu vàng da cam. Triệu Cơ nhìn một lúc nhưng không ra được là hình gì.
Doanh Chính vỗ tay vui mừng nói: "Mẫu hậu, hình thêu trên áo của thím là chữ."
Triệu Cơ tập trung tư tưởng nhìn lại một lần nữa quả vậy, trên chiếc áo đều là những chữ màu vàng cam "nữ nhi giữ thân mình như ngọc, nam nhi tự tôn tự trọng." Cô tự lẩm bẩm một mình "nữ nhi giữ thân mình như ngọc, nam nhi tự tôn tự trọng."
Triệu Cơ đọc xong lặng im trầm tư suy nghĩ.
Quả phụ Thanh nói một cách thẳng thắn: "Phi tử đã hiểu rõ chưa? từ bên ngòai nhìn vào cuộc sống của chị thật sung sướng vinh hoa phú quý, cơ nghiệp huy hoàng, chị sống cuộc sống xa hoa vô độ, đi xe tứ mã, người hầu kẻ ở khắp nhà, tiêu tiền như rác, chị có thể gặp mặt các chư hầu, ngang hàng với họ. Đừng nói là thân phận đàn bà con gái, ngay cả các đấng mày râu cũng không có phúc hưởng cuộc sống của chị. Mọi người sùng bái chị, tôn trọng chị, dâng biếu chị của ngon vật lạ, ngưỡng mộ đấy nhưng cũng đầy lòng đố kỵ! Nhưng có ai biết rằng đằng sau vẻ bên ngòai từng trải dầy dặn và phát đạt lại chất chứa những đau khổ uất hận của một người phụ nữ! Những cái khác chị không nói, chị nói tới một số quan gia, phu thương hào thân, họ thèm thuồng nhan sắc của chị nhẹ thì họ cợt nhả cười đùa sàm sỡ, nặng thì động tay chân còn có cả người thì cưỡng ép chị chung chăn chung gối với họ. Có những lúc vì việc làm ăn buôn bán mà không thể cự tuyệt họ, đành phải nuốt căm phẫn mà chịu đựng, cũng có lúc chị phải mắng chửi họ một cách cay độc. Không còn cách nào khác nên chị may chiếc áo này, thêu lên những chữ đó để thông báo với các bậc nam nhi trong thiên hạ rằng: quả phụ Thanh chị đây bán hàng chứ không bán thân, phẩm hạnh đáng giá ngàn vàng! Phi Tử, em đã nghe nói về đại thi hào khuất Nguyên người nước Sở chưa? Vị tả đồ của Sở Hòai Vương này phong cách đạo đức mũ áo đàng hoàng Nhưng do chịu lời gièm pha hăm hại của bọn Tử Lan Cận Thương mà phải nhảy xuống sông Mịch La chết oan ức. Tuy chị học hành không nhiều, nhưng chị rất thích bài thơ ca tụng cây quýt của ông ấy, mỗi lần đọc chị vẫn cảm thấy vô cùng thích thú, chị muốn đọc đi đọc lại. Ông ấy đã chỉ cho chúng ta học tập tấm gương của cây quýt, hoa quýt trắng tinh khiết thơm dịu, nội dung của nó chân thật mà hợp lý mà xung quanh nó lại đầy những sự châm chích! cứ nghĩ đến những điều này, trong lòng chị lại trào lên những cảm xúc, để chị đọc cho phi tử nghe một đoạn:
Hậu hoàng gia thụ
Quýt
Thụ mệnh
Sinh Nam Quốc
Thân
Càng
Lục diệp.
Quả phụ Thanh bị tình cảm của đoạn thơ trên chi phối, nước mắt trào ra, không sao kìm lại được.
Lòng đố kỵ từ trước tới nay của Triệu Cơ với chị ta bỗng chốc tan biến, một sự kính nể bỗng dâng lên từ đáy lòng cô, "Chị Thanh, em hiểu rồi, những chữ thêu trên áo chị màu vàng cam là do quả quýt có màu như vậy có đúng không?" Quả phụ Thanh gật đầu.
Lúc này, Doanh Chính cũng không còn dáng vẻ của một đứa trẻ bướng bỉnh nghịch gợm nữa. Nó trầm ngâm nói: "Những lời lẽ huy hoàng của thím, phẩm cách trong sáng của thím quả thực đã làm cháu mở tầm mắt, tăng thêm cho cháu ý chí chiến đấu. Khi nào cháu làm vua nhất định cháu sẽ phong hầu, bái thím làm thừa tướng, mời thím tham dự triều chính; không những thế còn phải lập bia để biểu dương đạo đức tốt đẹp của thím!"
Triệu Cơ quở trách: "Thằng nhóc kia, chẳng hiểu cái gì cả, đừng có mả nói lung tung!"
Doanh Chính ngẩng đầu lên nói: "Mẫu hậu, không được nói như vậy, con cũng sắp trưởng thành rồi. Khi con làm vua, con nói một là một, hai là hai. Nhất định con sẽ lập bai biểu dương thím."
Quả phụ Thanh nói với Triệu Cơ: "Doanh Chính tuy có hơi ba hoa một chút nhưng rất có chí hướng, tài cao sau này ắt có đất dụng võ."
Mấy câu của quả phụ Thanh quả thực làm cho Triệu Cơ như nở từng khúc ruột. Vẻ mặt Triệu Cơ rạng rỡ, nhưng ngay lập tức có chuyển vẻ mặt đắc ý thành nụ cười nói: "Chị Thanh, chị em mình đã trở thành chị em gái thân mật rồi, việc gì còn phải ngồi ở hai phòng riêng biệt nữa!"
Cuối cùng hai người phụ nữ cũng ngồi chung trên một chiếc giường cùng nhau tâm sự một cách tâm đầu ý hợp.
Tiếng gà gáy báo sáng đã lan khắp thành Hàm Dương. Ở phía đông đã bừng sáng, dần dần lan tỏa ra khắp bầu trời. Những ý nghĩ đan xen nhau đã làm Lã Bất Vi mất ngủ cả một đêm. Lúc thì là gương mặt trong sáng như đá thạch lựu, đôi môi tươi tắn của quả phụ Thanh, gây cho ông ta những ham muốn, lúc thì là gương mặt trầm ngâm của Tư Không Mã đang đi giữa những lều quân của các chư hầu ở Bình Ấp; lúc lại là cảnh của Dị Nhân đang bước lên xe dẫn trăm quân nghìn mã xung phong vào trận mạc... Tất cả những ý nghĩ lẫn lộn ấy thi nhau dày vò Lã Bất Vi làm ông ta trăn trở không sao ngủ được. Chỉ tới khi dùng xong bữa sáng ông ta mới cảm thấy hơi buồn ngủ lúc này có môn khách vào báo, có nữ thương nhân quả phụ Thanh đến cầu cứu.
Lã Bất Vi bỗng cảm thấy như tỉnh hẳn, đứng bật dậy nói: "Mau mời vào! mau mời vào!"
Khi những tôi tớ và môn khách còn đang tập trung ở phòng ngòai, xe của quả phụ Thanh đã dừng trong sân lớn. Có một nô tỳ mặt mũi thanh tú bước xuống xe trước, vén rèm xe, lúc đó quả phụ Thanh xinh đẹp như vẻ mới từ từ bước xuống, Lã Bất Vi để ý thấy cô ta vẫn mặc cái áo trắng mặc trong lễ phúng viếng ở cung Chương Đài ngày hôm qua.
Lã Bất Vi vừa dẫn quả phụ Thanh vào phòng khách, vừa suy tính nên làm cách nào để lấy lòng người đẹp này. Sau khi đã ngồi yên ở trong phòng khách hàn huyên vài câu, Lã Bất Vi nói với quả phụ Thanh, vốn dĩ ông đã muốn mời cô ta vào trong phủ đàn hát yến tiệc một bữa, tiếc rằng đúng vào lúc vua Chiêu Tương Vương mất đi không thể mạo muội được, lần đầu tiên gặp mặt không biết cách nào để tỏ ý kính trọng, ta bèn chọn trong đống quần áo, trang sức dự phòng của thê thiếp vài bộ quần áo dâng tặng, mong đừng cười chê.
Quả phụ Thanh mỉm cười rộng lượng: "Được nhận quà của thái phó đã là rất vinh dự đối với ta rồi."
Lã Bất Vi vội vàng sai người đem đến mấy bộ quần áo mới, đẹp, hiếm quí đưa đến trước mặt quả phụ Thanh.
Lã Bất Vi khiêm tốn cung kính nói: "Cũng không biết có vừa với quí nương không?"
Quả phụ Thanh nói: "Thái phó học rộng tài cao, thấy rõ cả tình hình biến động của các nước, nói chi đến việc ước lượng độ dài rộng của một bộ quần áo. Vậy để ta thử xem." Nói xong bèn lấy một cái áo được đặt trên bàn gấm sau khi nhìn quanh một lượt tất cả các tôi tớ trong phòng nói: "Mời các vị tạm bước ra ngòai."
Tôi tớ và môn khách dần dần lui ra hết, còn một mình Lã Bất Vi tiến thóai lưỡng nan không biết làm thế nào. Ông cảm thấy trực tiếp nhìn một người con gái thử áo quần thì có phần đường đột. Đúng lúc ông ta cất bước định đi, quả phụ Thanh nói: "Thái phó đại nhân không thể đi được, ta còn phải nhờ đại nhân xem hộ có vừa không."
Lúc này Lã Bất Vi mới như tỉnh cơn mê trong lòng mừng thầm quả phụ Thanh một mình giữ ông ta ở lại là có ý với ông ta, cho ông ta một cơ hội. Vậy không thể để tuột khỏi tay ông ta quyết định phải tận dụng cơ hội này.
Quả phụ Thanh đã cởi xong cái áo trắng bên ngòai. Lã Bất Vi nhân lúc đó vội vàng tiến lại gần.
Quả phụ Thanh cố ý nói bộ quần áo ta đang mặc không được tử tế lắm, không biết có làm thái phó đại nhân cười không. Kỳ thực ngay trong lúc tiếp xúc với Lã Bất Vi ngày hôm qua, quả phụ Thanh đã cảm thấy Lã Bất Vi có những ham muốn và mưu đồ đối với mình. Ngày hôm nay cô ta nhận được sự ủy thác của Triệu Cơ đến bàn với Lã Bất Vi một số việc quan trọng, suốt đường đi cô luôn lo lắng, e rằng bị rơi vào cái thòng lọng của Lã Bất Vi. Tới phòng khách cô nhìn thấy vẻ mặt tươi cười như bắt được của của ông ta thì càng cảm thấy ông ta đang có một mưu đồ gì. May sao ông ta lại tặng cô quần áo trang sức, cô cảm thấy đây là một cơ hội tốt để cô dùng những chữ thêu trên áo của mình để cảnh cáo Lã Bất Vi.
Lúc đầu Lã Bất Vi chưa nhìn ra được những chữ thêu trên áo của quả phụ Thanh, ông ta cũng hơi hồi hộp với những hình thêu lạ kỳ đó, tới khi nhìn rõ thì rất kinh ngạc. Quả phụ Thanh này quả nhiên là người tướng mạo hành vi đoan trang, xinh đẹp mà có trí tuệ. Cô ta dùng những chữ thêu trên áo "nữ nhi giư thân như ngọc, nam nhi tự tôn tự trọng" để đưa ra một lời cảnh cáo ngầm đối với ông ta, không được có những ý nghĩ sai trái đối với cô ta, phải thật thà từ ý nghĩ, ánh mắt cho tới hành động. Những chữ thêu ấy giống như một gáo nước lạnh dập tắt ngọn lửa ham muốn đang cháy trong đầu Lã Bất Vi, làm ông ta tự cảm thấy khó xử và xấu hổ.
Rất nhanh chóng Lã Bất Vi giấu đi được những cảm xúc thật, ông ta quyết tương kế tựu kế, thể hiện mình là một đại trượng phu không ham tửu sắc. Ý nghĩ luôn trong sáng đúng đắn.
Lã Bất Vi làm ra vẻ không nhìn ra những chữ thêu trên áo của quả phụ Thanh, nói một cách khác đúng đắn nghiêm túc: "cái áo này của quí nương không hẳn là không tử tế nhưng những hình thêu lộn xộn của nó làm người ta rối mắt. Khổng Tử đã nói nam nữ thọ thọ bất thân, mong quý nương mau mặc quần áo chỉnh tề, ngồi xuống nghiêm chỉnh để tránh người ta gièm pha dè bỉu, để không tổn hại đến sự tu dưỡng bấy lâu của quý nương, tổn hại đến danh tiếng vốn trong ngọc trắng ngà của quý nương."
Quả phụ Thanh không ngờ được là Lã Bất Vi lại lái câu chuyện sang hướng này. Trong khi cô nhận thấy Lã Bất Vi đã nhìn ra những chữ thêu trên áo. Cô nghĩ rằng vị thái phó này không che dấu được thái độ họac là phải tự cảm thấy vô cùng xấu hổ với chính bản thân mình, nếu không thì cũng phải quay ra tán tụng ca ngợi cô. Cô không hề nghĩ rằng vị thái phó này lại có thể thay đổi tình thế trong chốc lát, giả ngây giả dại quay ra răn dạy cô. Ông ta không chỉ che dấu được những ý nghĩ sai trái của mình mà còn giữ được lễ nghi và sự tôn nghiêm của một bậc đại trượng phu. Cô cảm thấy khi Dị Nhân lên làm vua nước Tần, vị thái phó này không những sẽ được bước lên cầu vồng quyền cao chức trọng, mà còn có thể quát gió gọi mây oai phong dữ dội, thâu tóm triệu chính khiến cho nước Tần như rồng điểm mắt sẽ dần dần nuốt lấy thiên hạ.
Quả phụ Thanh cũng là người thông hiểu quyền mưu, đối diện với sự phản ứng bất ngờ của Lã Bât Vi với sự răn dạy bề trên của ông ta cô cũng không hề mất thần thái. Cô nói một cách bình tĩnh không kiêu ngạo cũng không hề tự ti: "Thái phó đại nhân quá lo rồi, quả phụ Thanh ta đi đứng nghiêm chỉnh hành vi đoan trang lẽ nào chỉ vì thay một cái áo mà chịu sự dèm pha?"
Nói xong quả phụ Thanh lại từ từ thay sang cái áo trắng của mình, xếp lại cái áo Lã Bất Vi vừa tặng đặt trên bàn gấm nói: "Tấm chân tình của thái phó đại nhân nhận thì hổ thẹn, từ chối thì bất kính, sau này quả phụ Thanh ta nhất định sẽ báo đáp."
Lúc này Lã Bất Vi mới nghĩ tới việc quả phụ Thanh này vốn dĩ không hề có tình ý gì với ông ta, chả nhẻ là cô ta đến đây là do sự ủy thác của Triệu Cơ rằng có việc gấp phải cùng ông ta bàn bạc.
Quả phụ Thanh đã ăn mặc lại chỉnh tề, nô dịch tôi tớ ai vào việc ấy, đến lúc đó bà ta mới nói rõ ý định của việc viếng thăm ngày hôm nay. Vốn là đêm qua nói chuyện với Triệu Cơ bà ta được biết thi hài của vua Chiêu Tương còn chưa lạnh chư hầu các nước đã tập hợp tại Bình Ấp để liên kết đồng minh, tổ chức ăn mừng ngay ở cửa ngõ nước Tần, dương oai diễu võ, thật là bọn chúng khinh người quá đáng. Bà ta là một thương nhân được ân huệ của vua Chiêu Tương, bà ta cũng không thể chịu được cảnh này. Để đối phó với liên hiệp đồng minh của các chư hầu ở Bình Ấp. Quả phụ Thanh định tổ chức lễ viếng cho các thương nhân ngay tại Bình Dương, mời phú gia hào kiệt và các nhà buôn lớn của các nước đến nước Tần phúng viếng, nhằm nâng cao uy phong của Tần quốc đồng thời dập tắt ý chí của các chư hầu.
Triệu Cơ hoàn toàn đồng ý với dự định của quả phụ Thanh nên đã bảo bà ta đến tìm Lã Bất Vi để thương lượng.
Lã Bất Vi nghe quả phụ Thanh nói xong, cảm thấy đây quả là một kế có thể nâng cao uy thế quốc gia, động viên dân chúng và quân lính, dập tắt mọi hành động của kẻ phản nghịch. Ông ta nhìn quả phụ Thanh với ánh mắt khâm phục nói: "Dám hỏi phú thương làm thế nào để tổ chức lễ viếng?"
Quả phụ Thanh nói như đã được tính toán sẵn trong đầu: "Thái phó ta và ông đều lưu lạc trong thế giới thương nhân lâu rồi, đều có những người bạn tâm giao chí cốt, chúng ta lên tiếng mới không dám nói là thiên hạ đều hưởng ứng, cũng chắc chắn là bạn bè sẽ về tự họp chúng ta chỉ cần định sẵn ngày giờ tổ chức lễ phúng, ông sai người đưa thứ tới bạn của ông, tôi sai người đưa thư tới bạn của tôi. Triệu Diên phụ trách việc lo tổ chức lễ, phải thịnh soạn một chút. Những vị phú thương, những nhà buôn lớn kia không thể đến tay không mà nhất định phải mang lễ vật hậu hĩnh dâng cho nước Tần. Như vậy Tần quốc vừa thể hiện oai phong vừa thu được lễ vật, há chẳng phải là một mũi tên trúng hai đích hay sao."
Lã Bất Vi vôi vàng tán thưởng: "Diệu kế, diệu kế!"
Từ xa, Tư Không Mã đã nhìn thấy những lều vải chi chít như quân cờ ở trong Bình Ấp.
Vài cây lau, cây sậy khô để dáng mệt mỏi mọc ngay bên cạnh những trạm dịch đến Bình Ấp. Thường ngày thì có rất ít dấu vết người qua lại, thỉnh thoảng mới có dấu xe ngựa đi qua. Vậy mà mấy hôm nay lại không như vậy, mấy trăm nghìn cỗ chiến xa của các chư hầu đang từ khắp nơi tới, phân ngựa rải dầy khắp đường, nước đái ngựa như mưa tưới lên trên khiến cho một mùi tanh khét bay đầy khắp đây làm người ta phát nôn mửa khi bắt đầu đi tới đoạn đường này. Tư Không Mã bị cái mùi đấy làm cho đau đầu chóng mặt đi qua một đoạn mới thấy bình thường lại.
Khi sắp vào tới thành Bình Ấp, Tư Không Mã nhìn thấy một xe vận chuyển lương thực đang bị sa lấy dưới hố bùn, mấy người lính đã được vũ trang toàn bộ đang vừa dùng hết sức kéo xe lên vừa hò hét ngựa. Nghe giọng nói của họ, Tư Không Mã thấy cũng gần giống thổ âm của Lã Bất Vi. Ông ta đoán rằng họ chắc là người nước Vệ. Tư Không Mã nhìn thấy hướng xe được quay ra từ phía Bình Ấp cảm thấy rất lạ: "Chư hầu vẫn còn ở trong thành Bình Ấp tại sao lại chở quân như ra bên ngòai."
Tư Không Mã nghỉ một lúc, rồi tiến lên phía trước giúp mấy người lính nước Vệ đẩy xe bò ngựa.
Ông làm việc cật lực để lấy đẩy cái bánh xe đã bị chìm xuống bùn lên trên đường toàn thân ông ta ướt đẫm mồ hôi và nước bùn. Những người lính nước Vệ vốn quá mệt mỏi nay thấy Tư Không Mã giúp mình giải quyết khó khăn liền người nọ bảo người kia mời Tư Không Mã nghỉ một lát rồi lấy rượu thịt ra thết đãi.
Tư Không Mã vừa uống rượu vừa nói chuyện với họ, được biết những xe quân nhu này được đưa từ Bình Ấp sang Bộc Dương của nước Vệ. Ông ta cảm thấy rất lạ, liên hiệp đồng minh chư hầu các nước kéo dài trong một tháng nay vừa được mấy hôm đáng lẽ phải vận chuyển một số lượng lớn lương thực từ các nước đến Bình Ấp mới phải. Nước Vệ ở đây lại hoàn toàn ngược lại, chở lương thực từ Bình Ấp về Bộc Dương.
Tư Không Mã hỏi thăm mấy người lính nước Vệ có chuyện gì xảy ra, mấy người lính ấy mỗi người nói một cách. Rằng liên hiệp đồng minh kéo dài một tháng nhưng mới họat động mấy ngày mà đã có vẻ hết việc, về phần các chư hầu phải ở cái thị trấn hoang vắng này thì đã chán ngán trăm phần; lại đúng lúc vua Triệu Hiếu Thành lâm bệnh, thể lực suy yếu không thể cúng lo việc hội họp của các chư hầu, cũng phải nhanh chóng trở về Hàm Đan còn quân Đông Chu thế tàn lực mỏi chỉ biết thấy quân nước Triệu làm gì thì làm. Tình thế này liên hiệp đồng minh chỉ kéo dài được mười hôm, chư hầu sứ giả các nước phải thu quân về hết.
Tư Không Mã nghe xong cảm thấy vô cùng kinh ngạc, đây là tin tình báo quân sự vô cùng quan trọng. Ông giữ thái độ như không có chuyện gì xảy ra từ biệt mấy người lính thúc ngựa chạy về Bình Ấp
Tư Không Mã vào Bình Ấp một lúc lâu mới tìm thấy Triệu Hoảng.
Tư Không Mã đến làm Triệu Hoảng vô cùng bất ngờ, dẫu sao cũng là bạn cũ, Triệu Hoảng đã bầy tiệc rượu ở trong lều quân khoản đãi Tư Không Mã. Triệu Hoảng nói một cách rào đón với Tư Không Mã. Bây giờ đại vương của đệ đang bị đau bụng, để phải lo việc khám và điều trị, vô cùng bận rộn, không thể thiết đãi đại ca lâu. Nếu đại ca có việc quan trọng cần phải nói rõ, tiểu đệ nguyện làm trâu ngựa để giúp đỡ đại ca.
Tư Không Mã thở dài nói: "Bữa đó sau khi hiền đệ đi khỏi chỗ ta, trong lòng ta quả thực đấu tranh dữ dội. Ta theo thái tử điện hạ, thái phó đại nhân đã mười mấy năm rồi chịu khổ chịu cực, vào sỉnh ra tử ta đã được cái gì? hay là chỉ là một thằng tay sai vặt gọi thì đến bảo thì đi. Ta thiết nghĩ muốn một bước lên mây thăng quan tiến chức vùn vụt chi bằng đổi chủ, từ bỏ chỗ tối đi đến chỗ sang, đến bên vua Triệu Hiếu Thành mưu sự nghiệp giúp đỡ cho vị anh minh quân chủ này, nhất định sẽ có ngày hơn hẳn người khác."
Tư Không Mã nói xong ngửng lên nhìn Triệu Hoảng.
Triệu Hoảng hỏi: "Những lời đại ca vừa nói có phải là sự thật?"
Tư Không Mã liền nói: "Quân tử nhất ngôn tứ mã nan truy."
Triệu Hoảng nói: "Đại vương của đệ bây giờ ngọc thể bất an qua mấy hôm nữa có chuyển biến tốt, đệ sẽ bẩm với đại vương."
Tư Không Mã nói: "Vậy lúc nào ta nghe được tin chính xác của hiền đệ."
Triệu Hoảng gập đầu ngón tay tính toán một lúc nói: "Nửa tháng sau."
Tư Không Mã nghĩ tới câu chuyện mấy người lính nước Vệ nói trước khi vào thành rằng mười ngày sau chư hầu các nước sẽ rời Bình Ấp trở về liền cố ý thăm dò: "Vậy nửa tháng sau ta vẫn đến đây tìm hiền đệ à?"
Triệu Hoảng nói: "Không, ở Hàm Đan."
Tư Không Mã làm ra vẻ không hiểu được nói: "Hiền đệ vẫn ở đây cùng vua Triệu và các chư hầu tổ chức liên hiệp đồng minh vậy ta đến Hàm Đan tìm ai?"
Triệu Hoảng cẩn thận nhìn quanh quất một lát nói với vẻ bí mật: "Liên hiệp đồng minh các chư hầu chỉ tổ chức mười ngày là ai về nước ấy!"
Tư Không Mã gật đầu với vẻ ngạc nhiên nói: "Vậy phải giữ lời nhé, nửa tháng sau gặp lại ở Hàm Đan."
Tư Không Mã từ biệt Triệu Hoảng, sợ làm lỡ mất thời gian nên vội vàng đến chợ Bình Ấp mua một con tuấn mã tốt nhất, lên ngựa phóng một mạch quay xe về Hàm Dương.
Lã Bất Vi biết được tin tình báo liên hiệp các chư hầu chỉ kéo dài trong mười ngày lòng vô cùng vui mừng, vội vàng lên xe đi thẳng tới điện Chiêu Thanh.
Dị Nhân nhìn thấy vẻ mặt quá sức vui mừng, dáng điệu quá sức ung dung của Lã Bất Vi vội hỏi: "thái phó hà cớ gì mà vui mừng vậy?"
Sau khi Lã Bất Vi khởi bẩm với Dị Nhân tin tức tình báo liên hiệp đồng minh các chư hầu chỉ kéo dài mười ngày, đã tự quyết định: "Điện hạ cần xin đại vương phái quân sĩ tới nửa mười vạn quân này hoàn toàn có thể đánh thắng một cách gọn ghẽ! vào hôm các chư hầu tan họp điện hạ hãy khởi binh điều quân, tới khi đến Bình Ấp quân Đông Chu và các chư hầu còn lại đã mỗi người một ngả, còn vài trăm binh sĩ của nước Nguy còn lưu lại ở Bình Ấp thì cũng không chịu nổi, chỉ cần thấy đại binh của Tần quốc tiến vào đã bủn rủn chân tay bỏ thành mà chạy. Điện hạ không cần tốn một giọt mồ hôi đã lập được công lớn. Đại vương và các văn võ bá quan ai mà biết được các chư hầu đã tan hội trước mà còn cho rằng điện hạ có tài dùng quân như thần!"
Vào ngày thứ mười của cuộc họp liên hiệp đồng minh các chư hầu ở Bình Ấp, Dị Nhân và Lã Bất Vi giáp trụ chỉnh tề lên xe khởi hành từ cung Chương Đài.
Vua Chiêu Tương còn chưa nhập liệm, Tần quốc đã phải đối phó với các nước chư hầu. Dị Nhân thống lĩnh đại quân rất có chí khí, tiếng trống hùng hồn và những tiếng kèn của đám tang đem đến cho người ta có cảm giác cái chết như là được quay về nhà vô cùng khí khái hào hùng. Vua Hiếu Văn tự mình đưa quân Tần ra khỏi thành Hàm Dương, và tự mình dập đâu bái lậy trời đất. Vì thái tử là sóai nên thái phó và nhiều môn khách khác, đều phải phụ gía xuất chinh, Lã Bất Vi đứng bên cạnh cổ chiến xa của Dị Nhân tạm biệt vua Hiếu Văn và thành Hàm Dương một cách đầy luyến tiếc, mười vạn đại quân nườm nượp rời khỏi biên giới nước Nguy tiến về Bình Ấp. Đúng như dự đoán của Lã Bất Vi quân Tần đến gần Bình Ấp thì trời gần tối sương mù che khuất cả mặt người, mấy trăm quân sĩ nước Nguy đang giữ thành quá sợ hãi ôm đầu chạy trốn như chuột. Dị Nhân thống lĩnh mười vạn quân Tần không tốn một ít sức lực đã chiếm gọn Bình Ấp. Lã Bất Vi đề nghị Dị Nhân cử quân sĩ an ủi nhưng người dân nước Nguy vô cùng sợ hãi không dám ra khỏi cổng, vì vậy trong suốt đêm không xảy ra một sự lộn xộn nào.
Ngày thứ hai, mặt trời vừa ló lên phía đông, Dị Nhân cử hơn một vạn quân úy ở lại giữ Bình Ấp. Còn mình và Lã Bất Vi dẫn đầu quân Tần ca khúc khải hoàn trở về. Ở thành Hàm Dương đêm qua vua Hiếu Văn nhận được tin chiến thắng đưa đến từ sáng sớm đã triệu tập văn võ bá quan nghênh đón ở cổng thành. Phần đông người không biết được thời gian Dị Nhân tiến quân và thời gian các chư hầu tan họp là trùng nhau, thi nhau ca ngợi Dị Nhân nhìn xa trông rộng dùng binh như thần. Chỉ có Phạm Thư, Tử Hề và một số người khác là không cho như vậy do họ đều cảm thấy chua xót ở trong lòng. Khi đại quân của Dị Nhân về tới Hàm Dương trời đã chính ngọ, các dấu chân ngựa và bụi mù mịt che phủ đất trời. Phần đông các chiến binh đều mang nổi nhớ quê, vừa nhìn thấy thành Hàm Dương nguy nga tráng lệ đã reo hò một cách vui mừng. Tiếng thúc ngựa hòa theo tiếng gió vọng vào vách núi truyền đi vang dội cả một vùng, cờ xí rợp trời, gió thổi dập dờn như sóng biển.
Ca khúc khải hoàn hùng hồn tráng lệ đã làm vua Hiếu Văn cảm thấy phấn chấn trong lòng. Những mệt mỏi do lo việc tang cho cha và nước mắt khóc tang trong chốc lát đã tan biến hòa theo không khí vui mừng chiến thắng ở bên ngòai. Lúc Dị Nhân bước từ chiến xa xuống, quì lạy trước mặt ông, ông vội đỡ Dị Nhân đứng dậy, vui vẻ hỏi: "Con trai ta anh hùng, đánh thăng trận, nâng cao uy phong của nước Tần, dập tắt ý chí của các chư hầu."
Sau khi về tới cung Chương Đài đã thiết tiệc để Dị Nhân tẩy trần. Bởi vì vẫn trong thời gian lưu giữ linh cữu của vua Chiêu Tương nên tiệc rượu phải hết sức thanh đạm, không được múa hát đàn ca. Ngày mai lại là ngày tổ chức lễ phúng cho các thương nhân, thương nhân các nước mang theo vàng bạc lễ vật dáng vẻ cát bụi dặm trần tập trung bên ngòai cung Chương Đài. Vua Hiếu Văn, Dị Nhân, Phạm Thư, và quả phụ Thanh đại diện cho chủ nhà tiếp đãi bạn bè, tạ ơn đáp lễ... Ở địa vị thái phó, nhìn thấy những việc này trong lòng Lã Bất Vi mừng thầm tăng thêm nhuệ khí cho ông ta. Hai việc đại sự là chiếm Bình Ấp và tổ chức lễ viếng cho các thương gia đã khiến cho từ vua tới các nông dân ở các ngõ nhỏ trong thôn xóm đều biết đến đức tài của Dị Nhân, tiếng tăm lan đến chư hầu của các nước, củng cố địa vị thái tử của Dị Nhân một cách vững chắc và lâu dài.
Tin chiến thắng ở Bình Ấp và vẻ náo nhiệt đông đúc ở lễ viếng của các phú thương đã có thể làm cho vua Chiêu Tương chết nhắm được mắt, ngậm cười nơi chín suối, cái chết của một vị vua nước Tần đã hoàn thành nghiệp lớn được cử hành rất long trọng hợp với lễ nghi. Hai nghi thức được làm đầy đủ. Quán, hạ, tắm xôi nước, ngậm cơm khắc, thiết trọng, tiêu táng, tiểu liệm, đại liệm đồ cúng, quàn, bói cỏ thi, táng nhật, hạ quan tài xuống huyệt, hạ ráng, tuần táng, vẫn ca, đồ chôn cho người chết, quan quách, bia mộ, khóc, vải bọc. Mặc dù nước Tần đã sớm ra quy định nghiêm cấm nghi thức tuẫn táng, nhưng quân vương thì không nằm trong trường hợp ấy, có sách nói: trong di chúc trước khi chêt của vua Chiêu Tương có viết: tuẫn táng một trăm chín chín người. Sỡ dĩ ông ta quy định số người tuẫn táng là có căn cớ nguyên do của nó thiếu một người nữa là đủ hai trăm, ý nói rằng là thiếu một chút nữa thôi là tiêu diệt được các nước chư hầu thống nhất thiên hạ. Ông ta vừa tuyên bố rõ ràng công tích to lớn của mình, lại cảnh cáo răn đe con cháu mình đời sau không được coi nhẹ, mà phải tiếp tục cố găng để hoàn thành đại nghiệp để bẩm báo với vong linh ông trên trời.
Lễ tang của tiên đế được làm một cách trọn vẹn, vua Hiếu Văn không ngừng sửa chữa cải chính sách giống như dòng chảy quanh co ngoằn ngoè, nhưng nhanh và liên tục. Đại xá tội nhân, mở cửa vườn cấm, mở tiệc tiễn đưa binh lính và quan khách, chữa sách của các nước chư hầu, tăng thưởng cho các trọng thần của tiên vương, những người có công trong việc thu phục Bình Ấp và tổ chức lễ phúng cho các thương nhân.
Từ trước đến nay có nhiều sự việc xảy ra đối với Lã Bất Vi giống như là những làn khói, nhanh chóng bị rơi vào dĩ vãng. Nhưng việc ban thưởng cho các trọng thần của tiên vương và những người có công trong việc thu phục Bình Ấp và tổ chức lễ viếng cho quần thương đã để lại cho ông ta những ấn tượng sâu sắc. Ông nhớ rất rõ, buổi trưa hôm đó ánh mặt trời ở cung Chương Đài sáng lấp lánh, vua Hiếu Văn không còn vẻ bệnh tật mệt mỏi ủ rũ nữa, tinh thần ông rất phấn chấn ngồi lên trên điện. Lã Bất Vi ngồi cách vua Hiếu Văn chỉ có mấy bước chân. Ông có thể nhìn rõ cái lư hương đang cháy đặt trên ngự án, nhìn rõ cả chuỗi ngọc trên mũ vua và cả cái yết hầu đang lên xuống. Theo sự lên xuống của cái yết hầu ấy phát ra giọng nói: "Thái phó Lã Bất Vi theo giúp thái tử Dị Nhân. Việc tổ chức lễ phúng cho quần thương hôm nay có thành tích rất lớn, quả nhân đặc biệt ban thưởng mười sáu cấp tước." Lã Bất Vi hiểu rõ rằng ở nước Tần từ cấp một "công sĩ" đến cấp mười hai tước vị "tuất hầu", so với các bậc thái phó khác là ông hơn hẳn họ. Nhưng để đạt đến cấp cao nhất của "triệt hầu" tước vị cấp bốn thì cũng phải cần tới bốn mươi năm thời gian nữa. Trong lúc còn đang nhẩm tính về số mệnh của mình, Lã Bất Vi mơ hồ nghe thấy vua Hiếu Văn nói đến một lọat các tên khác. Phạm Thư, Tử Hề, Hoa Dương Quân, Mông Ngạo, quả phụ Thanh...
Sau khi tan triều, Lã Bất Vi đi ra khỏi đại đường, ánh sáng huy hoàng lúc ở sân lớn của cung Chương Đài vẫn nhảy múa trong đầu ông.
Lã Bất Vi vẫn còn đang chìm trong hạnh phúc vì được phong tước, về tới phủ vừa ngồi xuống ở trong phòng khách thì một nô dịch vào báo cáo thái tử Dị Nhân tới. Lã Bất Vi vội cung kính đón tiếp, mời Dị Nhân vào phòng khách.
Nhìn thấy vẻ mặt đằng đằng sát khí của Dị Nhân, Lã Bất Vi kinh ngạc hỏi: "Thái tử điện hạ, hà cớ gì mà người buồn bực vậy?"
Dị Nhân hỏi lại: "Thái phó ngươi vẫn chưa hiểu ra à?"
Lã Bất Vi nói: "Bất Vi ngu muội khởi mong điện hạ chỉ bảo."
Dị Nhân nói với giọng bực tức bất bình: "Đại công Tử Hề có tài có đức gì mà được ngang bằng, cũng được thăng mười ba cấp."
Dị Nhân vừa nói như vậy, Lã Bất Vi mới cảm tháy hối hận là lúc này đã quá chú tâm vào việc vua Hiếu Văn ban thưởng cho mình mà không để ý tới việc phong thưởng cho các vương tôn công tử khác, cái kiểu coi nhẹ này thật là không nên tí nào. Lã Bất Vi không thể nói rằng mình không để ý tới việc vua ban thưởng cho thái tử, như vậy không tránh khỏi ý khinh thường điện hạ là thường dân áo vải.
Lã Bất Vi nói tránh: "Cũng có thể đại nhân động lòng trắc ẩn, sắc phong cho tước để bù vào chỗ không được phong làm vương tôn."
Dị Nhân nói một cách không vui mừng: "Đại vương đối với đại công tử thật quá thiên vị, chắc chắn là do cái lão già rồi mà không chết Phạm Thư dùng lời lẽ gian xảo xúi giục, như thế phụ vương mới để ta ngang hàng với Tử Hề."
Lã Bất Vi trầm ngâm nói: "Điện hạ nói rất có lý, nếu mấy người này cấu kết phối hợp với nhau, gặp thời cơ là gây sóng gió họat động phá họai chúng ta. Nếu không cẩn thận, bọn họ sẽ phá họai đại sự của chúng ta."
Dị Nhân nói: "Thái phó lẽ nào chúng ta không có cách nào với lũ trâu chó này sao?"
Lã Bất Vi suy nghĩ hồi lâu trong lòng nảy ra một kế nói: "Điện hạ trước mắt chúng ta chưa thể đặt bọn này vào chỗ chết, nhưng có thể tách chúng ra, mỗi đứa một nơi, một cây thì không thể làm nên rừng."
Dị Nhân: "Như vậy cũng hơn là để chúng tập hợp ở trong thành. Thái phó mau nói xem ông có diệu kế gì?" Lã Bất Vi nói một cách nghiêm túc: "Điện hạ từ Bình Ấp trở về, đại vương vẫn chưa cử vị tướng nào đến đó đốc binh trông thành. Bây giờ điện hạ có thể bẩm với đại vương rằng để đại công Tử Hề đảm trách nhiệm vụ này, như vậy có thể mượn tay người khác để đuổi Tử Hề ra khỏi kinh."
Dị Nhân lo lắng nói: "Phụ vương có thể phê chuẩn không?"
Lã Bất Vi nói: "Điện hạ phải nó rõ với đại vương Bình Ấp vừa thuộc về đại Tần, lại nằm sâu trong lãnh thổ nước Nguy, việc cử quân giữ thành phải được coi trọng, chỉ cần cử vương tôn công tử dẫn binh giữ thành, mới có thể không xảy ra sai sót gì. Phụ vương phái đại công tử Tử Hề đi nhận nhiệm vụ này, vừa biểu thị sự coi trọng của đại vương, hóa giải được nỗi ấm ức không được làm thái tử."
Dị Nhân lại hỏi: "Nếu Tử Hề kháng lại lệnh vua thì sao?"
Lã Bất Vi nói: "Điện hạ lo lắng như vậy khác chi lo bò trắng răng. Điện hạ vẫn chưa hiểu được tâm tư của đại vương lúc này. Đại vương muốn nhanh chóng thiết lập quyền thế tuyệt đối của mình, muốn được như tiên vương nói một là một, hai là hai, đại vương làm sao có thể để người khác kháng lại lệnh của mình."
Dị Nhân cảm thấy lời của Lã Bất Vi rất có lý, liền đến chỗ vua Hiếu Văn dùng lời lẽ thưa bẩm về việc đưa Tử Hề đến Bình Ấp. Sau một hồi quả nhiên vua Hiếu Văn ban chiếu lệnh cho Tử Hề đến Bình Ấp thống lĩnh quân. Sau khi biết được Tử Hề vô cùng bực tức, muốn kháng chỉ, Phạm Thư khuyên bảo Tử Hề nói: "Đại vương mới lên ngôi, hoàn toàn không muốn người khác ngang vai ngang vế với mình, nếu đại công tử không phục tùng, nhẹ thì có thể bị phế con trưởng lập con thứ, nặng thì nguy hiểm đến tính mạng. Theo ý thần, đại công tử cứ tạm thời cố gắng chịu oan ức, đợi thời cơ sau này sẽ lại làm lại."
Tử Hề đành phải phục tùng, ngày hôm sau lưu luyến chia tay với Hàm Dương, cùng với mấy môn khách và nô dịch cô độc đi về phía Bình Ấp. Phạm Thư theo tiễn đến tận ngòai thành, dốc hết gan ruột ra khuyên Tử Hề không được sa sút ý chí, phải nhìn xa trông rộng, hăng hái lo toan trị nước yên dân, sau này sẽ có tiền đồ sáng lạng. Tử Hề gật đầu ghi nhớ, nhắc nhở Phạm Thư phải chú úy mọi động tịnh ở trong cung, chỉ cần có một ngọn gió thổi qua hay ngọn cỏ lay động cũng phải lập tức phái người đưa tin về Bình Ấp.
Trong lúc Phạm Thư và Tử Hề vẫn đang nói lời từ biệt ở bên ngòai thành Hàm Dương, quả nhiên trong cung nhà Tần có chuyện "gió thổi cỏ bay". Đó là việc Hoa Dương phu nhân người được Hiếu Văn sùng ái mang bệnh. Bệnh tật quanh người, ăn uống không được làm Hoa Dương phu nhân có sắc đẹp đến hoa nhường nguyệt thẹn làm người khác mê hồn mất đi vẻ tươi tắn dễ thương. Trong khi phải miễn cưỡng chung chăn gối không lên được đến cao trào làm cô mất hồn lạc phách, cũng không thể đùa cợt với vua bằng giọng oanh yến hàng ngày. Như vậy, vua Hiếu Văn đối diện với một Hoa Dương phu nhân mệt mỏi, không có sinh khí khác nào vô vị nhạt nhẽo như nước ốc, vua Hiếu Văn bèn phải rời khỏi thẩm cung. Cảm giác trong chuyện chăn gối với Hoa Dương phu nhân, các phi tần thê thiếp khác không thể đem đến được. Vua Hiếu Văn cũng đã thử đi đến nơi khác mà mặc sức chung chăn gối nhưng những bộ mặt xinh đẹp ấy không có vẻ gì là bẽn lẽn, gượng gạo cứng nhắc, không biết mơn trớn, cảm giác chỉ bùng lên trong chốc lát, sau đó lại tĩnh lặng chẳng có cảm gíac gì. Từ sau ngày Hoa Dương phu nhân bị bệnh, vua Hiếu Văn ăn ngủ không yên, suốt ngày vò đầu bứt tai. Đây không phải là vì ông nhớ tới tình nghĩa quân phi của mình với Hoa Dương phu nhân, sợ cô ta xảy ra chuyện gì, mà là ông ta đang ngày đêm lo sợ tìm không ra một người nào tài sắc song toàn như Hoa Dương phu nhân.
Phạm Thư quan sát thần sắc đã đoán ra được suy nghĩ ở trong lòng của vua Hiếu Văn, liền phái một môn khách tâm phúc đến Bình Ấp đưa tin này cho Tử Hề, đồng thời bảo Tử Hề lập tức chọn cấp tốc hai mỹ nhân có thể làm cho đại vương vui vẻ, lại vừa có thể nói được lời hay ý đẹp cho Tử Hề tiến vào cung.
Sau khi được biết tin này Tử Hề vui mừng như phát điên, cho rằng đây chính là một cơ hội để thay đổi vận mệnh của mình. Tử Hề tự mình đi dò hỏi điều tra, cuối cùng phát hiện được ở nhà một thân sĩ họ Khương có hai chị em sinh đôi hiểu biết lễ nghi, tài sắc nghiêng nước nghiêng thành. Tử Hề vội đưa lễ trọng, lấy được sự tín nhiệm của cha họ, sau đó đưa hai chị em đến phủ nói rõ dụng ý đưa họ vào cung làm thiếp. Vừa nghe nói được làm thê thiếp của Tần Vương, chị em họ Khương vội vàng cảm tạ ân đức của Tử Hề, chị em họ cảm thấy không còn có vinh dự nào cao quí vinh dự hơn, vui mừng khôn xiết hỏi Tử Hề ngày nào thì có thể lên đường. Tử Hề kiểm tra họ một lượt ca hát lời nói hành động, gặp cảnh sinh tình, không để sót một thứ gì.
Sau đó nói với họ rằng trước mặt phụ vương phải nói rõ Tử Hề nhớ thương phụ vương như thế nào, trị nước yên dân ra làm sao. Sau đó mới trang điểm thật đẹp cho hai chị em, rồi đích thân dẫn họ về Hàm Dương.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5933
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Lã Bất Vi***   Fri Oct 17, 2014 10:56 am

Sau khi tới Hàm Dương, Tử Hề đến phủ tướng quốc đầu tiên, để Phạm Thư xem trước và đánh giá hai chị em họ Khương, hỏi ông ta không biết phụ vương có hài lòng không. Phạm Thư nói một cách chắc chắn, sau khi gặp họ đại vương dứt khóat sẽ vui lòng. Lúc đó Tử Hề mới dùng xe đưa hai chị em họ Khương vào cung Chương Đài. Tử Hề để hai cô vẫn ngồi trong xe còn mình vào đại điện khấu kiến vua Hiếu Văn. Sau khi hành lễ giữa hai cha con xong, Tử Hề nói một cách thành thực: "Nhi thần ở Bình Ấp trung thành với nhiệm vụ giữ thành, thường xuyên đến cả những ngóc ngách trong thôn xóm để thăm hỏi tình hình nhân dân, tìm hiểu phong tục tập quán, tình cờ gặp được hai tuyệt sắc gia nhân, tướng mạo như tiên nữ trên trời, nghiêng nước nghiêng thành. Nhi thần nghĩ ngay đến đại vương, không dám hưởng, để đưa đến cung Chương Đài."
Những lời của Tử Hề quả thực làm tiêu tan nỗi khó chịu trong lòng vua Hiếu Văn, ông ta vội vàng tán thưởng: "Thật là trung thần là đứa con có hiếu! hai mỹ nữ họ Khương ở đâu mau đưa đến đây cho phụ vương."
Khi hai chị em được đưa đến khấu kiến vua Hiếu Văn, nhà vua hoàn toàn bị sắc đẹp làm say lòng người của hai cô thu phục, nhìn không biết chán mắt, vội vàng nói với vẻ rất hùng hồn: "Thật là chim sa cá lặn, hiếm có ở đời."
Nhìn thấy dáng điệu vui vẻ của đại vương, trong lòng Tử Hề như vừa trút được một gánh nặng, nói liền một hơi: "Chỉ cần đại vương cảm thấy vui vẻ, nhi thần có chết cũng không hối hận. Nhiệm vụ giữ gìn Bình Ấp vô cùng quan trọng, nhi thần không thể ở lại kinh thành lâu để hầu hạ bệ hạ."
Vua Hiếu Văn đã sớm bị hai mỹ nữ hút hồn, không còn hơi sức đâu để ý tới những lời lẽ tràn lan của Tử Hề, vội xua tay nói: "vậy con trai ta trở về Bình Ấp ngay đi."
Tử Hề lại đến phủ tướng quốc, nói lại toàn bộ tình hình đã xảy ra. Phạm Thư nghe xong, mặt mày vui vẻ nói: "Thật là diệu kế, đại công tử phải nhân dịp này mà tiến tới."
Tử Hề không hiểu được dụng ý của Phạm Thư, ông ta xích lại gần bên cạnh nói vào tai Tử Hề dự định của ông ta.
Tử Hề nghe xong mặt mày hớn hở, mắt híp lại như một sợi chỉ, nói: "Tướng quốc thật là một cao cờ."
Sau bao lần quấn quýt suốt đêm ngày, vua Hiếu Vương đã lấy lại được cảm giác của mình. Hai chị em họ Khương không chỉ thân thể tướng mạo đều xuất chúng mà cũng đều nhiệt tình và dẻo dai như nhau. Sau khi việc gối chăn thỏa thuê, long trời lở đất vẫn như người khát chưa uống đủ nước, nũng nịu nói vẫn muốn. Vua Hiếu Văn lực bất tòng tâm chỉ có thể nằm xuống, cuốn lấy hai thân thể nõn nà. Đại vương bắt đầu buồn ngủ, hai mỹ nữ ghé vào tai nói lại chuyện Tử Hề thương nhớ cha, nhớ kinh thành như thế nào, trị nước yên dân ra sao, cho tới khi tiếng ngáy đều đều của vua vang lên, hai chị em họ Khương mới thôi không cuốn lấy Hiếu Văn. Vua Hiếu Văn ngày càng quấn quýt với hai chị em họ Khương và dần dần xa rời Hoa Dương phu nhân.
Cũng ngày hôm đó một đám người ở nơi khác đến tụ tập bên ngòai cung Chương Đài làm huyên náo cả một vùng, đòi khấu kiến vua Hiếu Văn. Các quan ở trong cung sợ làm kinh động đến vua đang nghỉ ngơi vội vàng ra bên ngòai cung đuổi họ đi. Nhưng những người địa phương đó đối mặt với các quan, mắt trợn mày dựng mà không hề sợ sệt, càng cao giọng: "Chúng tôi nghìn dặm xa xôi từ Bình Ấp tới đây, dù thế nào cũng phải khấu kiến vua Hiếu Văn một lần."
Vua Hiếu Văn đang sắp vào giấc ngủ thì bị tiếng huyên náo đánh thức dậy, vừa nghe nói là có người ở Bình Ấp đến bèn cho triệu kiến. Trong khi họ lần lượt vào quỳ gục ở đại đường, vua Hiếu Văn mới biết được đám người bình dân áo vải từ Bình Ấp đến này là đại diện cho cả vạn dân. Họ trình lên một quyển sách bên trong nói rõ Tử Hề có tài có đức như thế nào, trị nước yên dân ra làm sao. Họ còn nói rằng nhất quyết phải lập con trưởng lên làm thái tử.
Đợi vua Hiếu Văn ngồi xuống ngự sạp, người cầm đầu đám người này lại cố gắng chọn lọc từ ngữ đẹp đẽ thay lời cả vạn dân nói lại. Tiếp theo đám người kia lại lần lượt phụ họa tiếp.
Đám người này là kế sách của Phạm Thư do Tử Hề đạo diễn làm những thứ dân tình nguyện, nhưng đã gây được những suy nghĩ mới trong lòng vua Hiếu Văn. Vua Hiếu Văn nghĩ: "Xem ra nếu sắc phong Tử Hề làm thái tử cũng có lý. Nhưng mấy năm trước ông đã ban chiếu nói cho toàn thiên hạ biết việc lập Dị Nhân làm thái tử, ván đã đóng thuyền rồi khó mà thay đổi được nữa. Bây giờ nếu lập lại thái tử, chư hầu vương tử sẽ mưu tính hại nhau, một khi quốc vương băng hà các chư hầu vương tử tranh ngôi dẫn đến cảnh đầu rơi máu chảy, xã tắc giang sơn sẽ có những rối ren. Việc lập thái tử đã xong, bây giờ nếu thay người đổi ngôi lấy cái tốt thay cái xấu, cũng khó mà yên ổn được, chưa biết chừng dẫn đến cảnh cốt nhục tương tàn, triều chính rối loạn."
Vua Hiếu Văn rơi vào tình trạng tiến thóai lưỡng nan, ông nói với đám thường dân áo vải kia: "Lập ai làm thái tử quả nhân đã có chủ ý từ trước, các ngươi không nên lôi thôi nữa!"
Nghe thấy quốc vương nói thế, đám người thay mặt cho cả vạn dân kia đành đồng lọat im lặng, không ai dám chống lại chỉ ý của vua. Sau khi khấu đầu tạ ơn bèn lần lượt lui ra.
Lúc trời sắp tối vua Hiếu Văn lại tới Tẩm cung, việc tắm gội cũng đã hoàn tất. Hai chị em họ Khương tắm gội thơm tho đã ở đó từ trước để đón nhân sự sủng ái của thánh thượng không giống như mọi ngày bình thuong, họ không cợt nhã nũng nịu với vua mà nói tới chuyện hôm nay, những người từ Bình Ấp thay mặt cho cả vạn dân đến. Vua Hiếu Văn thở dài một tiếng nói: "Gạo đã nấu thành cơm rồi, mọi việc cứ để như vậy đi." Chị em họ Khương kia bèn áp cả bầu ngực căng mọng vào đầu vào lưng vua, cười mắng: "Thể công không thể lừa dối được, lòng dân cũng không thể trái ý, việc lập lại Tử Hề làm thái tử mới thuận theo ý của trời đất, ý của muôn dân." Vua Hiếu Văn nói: "Một lời của quốc vương đáng giá nghìn vàng làm sao có thể hôm nay ban chiếu mai lại thay đổi huống hồ đã khắc cả khế ước ở trên Ngọc Phủ." Chị em họ Khương lại phản đối: "Lời nói này của đại vương thật đáng cười! Núi không chuyển thì nước phải chuyển, khắp cả thiên hạ này không có quy tắc nào là không thể thay đổi. Người xưa thiên tử đã ra lệnh chỉ huy thì chư hầu chỉ cúi đầu nghe lệnh, không dám cả thở mạnh. Còn bây giờ thì sao? các chư hầu không những có thể đứng ngồi ngang hàng với vua mà còn âm mưu cướp cả thiên hạ đánh dẹp cả vua sao? Vua còn có thể bị bãi truất huống hồ chỉ là một thái tử?" Những lời lẽ đó của chị em họ Khương làm cho vua Hiếu Văn im lặng hồi lâu ông mới lên tiếng: "Việc này không thể tùy tiện thay đổi mà phải tính kế lâu dài." Nói xong như thể không nhẫn nại được nữa, ông ta vội vàng giật phăng hai bộ váy áo mỏng như tơ của hai chị em, bày ra cơ thể trắng ngần như hoa như trăng làm say đắm lòng người.
Rất nhanh chóng tin quốc vương lập lại thái tử đã bay khắp trong cung. Vào đúng mấy hôm đó Tử Hề lại từ Bình Ấp vào cung tới hai lần không chỉ là thỉnh an thăm hỏi mà còn tiến cống những sản vật hiếm quí của khắp mọi nơi.
Những hành động ấy đều bị những người tinh mắt nhìn thấy, thêm mắm thêm muối rồi truyền đi khắp kinh thành, càng củng cố thêm tin quốc vương định lập Tử Hề làm thái tử.
Lã Bất Vi nghe được tin này từ Dị Nhân.
Vừa nghe tin lập lại thái tử, Dị Nhân đã như người gặp phải đại họa trở tay không kịp. Dị Nhân vội vàng đến chỗ Lã Bất Vi cùng nhau suy nghĩ tìm ra cách đối phó. Dị Nhân khóc sưng hết cả mặt hỏi Lã Bất Vi việc này có thể là sự thật không?
Lã Bất Vi luôn luôn quan sát một cách chặt chẽ mọi động tĩnh ở trong cung. Đối với việc vua Hiếu Văn lạnh nhạt với Hoa Dương phu nhân, nhóm người đến từ Bình Ấp thay mặt cho cả vạn dân, việc Tử Hề hai lần vào cung, ông ta đều biết rõ, nhưng đối với việc vua Hiếu Văn quyết định lập lại thái tử thì ông ta chưa từng nghe nói.
Lã Bất Vi đem tất cả những nguyên nhân và hậu quả của những sự việc trên liên hệ lại bỗng chợt giật mình, cảm thấy không có lửa thì làm sao có khói, những tin đồn đó chắc chắn không phải chỉ là những tin đồn nhảm của mấy cung nữ rỗi việc trong cung. Cứ nghĩ tới đó Lã Bất Vi lại có cảm giác sợ hãi, hoảng loạn, tê lạnh cả sống lưng. Tuy ông ta vô cùng lo lắng nhưng vẫn làm ra vẻ không có việc gì, gương mặt vẫn bình thản. Ông ta an ủi Dị Nhân vài câu rồi hai ngừoi cùng đi tới chỗ Hoa Dương phu nhân hỏi rõ ngọn ngành.
Từ sau khi Hoa Dương phu nhân bị ốm liệt giường, cách mấy hôm Dị Nhân lại kéo theo Lã Bất Vi đến hỏi thăm bệnh tình, lúc thì mang theo những sản vật hiếm có, lúc thì là thuốc thang tẩm bổ.
Khi Dị Nhân và Lã Bất Vi tới thăm Hoa Dương phu nhân ở thẩm cung, gương mặt trắng bệch của cô làm người khác mủi lòng. Nhìn thấy hai người đến, Hoa Dương phu nhân mệt mỏi, quay mặt lại, nước mắt trực trào ra, giọng nói yếu ớt: "Các ngươi đều nghe rồi chứ?"
Dị Nhân và Lã Bất Vi đều biết rõ Hoa Dương phu nhân nói đến việc gì, gật đầu nói: "Rõ rồi."
Dị Nhân hỏi: "Mẫu hậu, phụ vương có thể vô tình vô nghĩa như vậy có phải là đặt nhi thần vào chỗ chết hay không?"
Hoa Dương phu nhân nói: "Sự việc đã lộ ra manh mối, hai con tiểu hồ ly tinh ấy bất kể ngày đêm đều cận kề bên gối của đại vương tán tụng hớt lẻo lại còn có cả bọn Phạm Thư, Tử Hề phụ họa theo. Còn bây giờ ta nói gì đại vương cũng đều cho là vô lý, xem ra việc lập lại thái tử chỉ là việc nay mai."
"Vậy chúng ta không thể bó tay chịu chết, mặc người khác muốn làm gì thì làm!" Dị Nhân nóng lòng nói để thử Hoa Dương phu nhân.
"Các ngươi cứ mưu tính đi, ta bây giờ đã trở nên không còn sức lực nữa rồi. Xảy ra việc gì có thể nhờ Hoa Dương phu nhân giúp một tay." Gương mặt Hoa Dương phu nhân lộ rõ vẻ bế tắc.
Sau khi từ biệt Hoa Dương phu nhân, để tránh tai mắt của mọi người, Dị Nhân và Lã Bất Vi không về điện Chiêu Thanh mà về phủ của Lã Bất Vi. Vào đến phòng sách, chưa kịp ngồi xuống, Dị Nhân đã quỳ thụp xuống lạy Lã Bất Vi. Lã Bất vi sợ tái xanh cả mặt vội vàng đỡ Dị Nhân dậy nói: "Điện hạ làm như vặy không phải là ép Lã Bất Vi ta vào tội đại nghịch sao, điện hạ mau đứng dậy có gì từ từ sẽ nói."
Dị Nhân khóc nói: "Sự việc đã đến lúc cấp bách ngàn cân treo sợi tóc rồi, một khi phụ vương ban chiếu lập Tử Hề làm thái tử, chúng ta chỉ như đồ bỏ đi sớm muộn gì cũng bị quét ra khỏi cổng. Ta đã cùng thái phó trải qua bao khó khăn hoạn nạn, mọi thành công rực rỡ rồi sẽ đổ ra biển đông sao? Như vậy không được! như vậy không được! như vậy quyết không được! phụ vương bất nhân thì cũng đừng trách thi thần bất nghĩa! ta phải chế ra một viên độc dược đầu độc ông ta, sau đó ta sẽ lên ngôi. Như vậy có được không? xin thái phó hãy giúp ta định đọat."
Những lời nói đầy sát khí của Dị Nhân làm Lã Bất Vi sởn tóc gáy. Đối với việc quan hệ cha con, anh em trở thành thù nghịch, sát hại lẫn nhau ở trong cung đình, trước kia Lã Bất Vi chỉ được đọc trong sách, được nghe trong dân gian. Lã Bất Vi vẫn cảm thấy đây là việc vô tình vô nghĩa, trời đất khó dung tha, cốt nhục tương tàn, anh sông thì tôi chết. Ông ta chưa từng nghĩ rằng ngày hôm nay lại phải đặt mình vào trong hoàn cảnh ấy. Quyền lực tối cao đã làm thay đổi cả nhân tính. Đến Dị Nhân điện hạ là người xưa nay vẫn vâng vâng dạ dạ, không có chủ biến, nay thấy việc sắp mất đi địa vị thái tử thì đến cả lục thân cũng không nhận, giết vua, giết cha.
Lã Bất Vi hiểu rõ rằng quan hệ của ông ta với Dị Nhân là quan hệ môi hở răng lạnh, cùng sống cùng chết. Một khi Dị Nhân bị bãi truất, tất cả tiền bạc và trí óc mà ông ta đặt vào vị vua một nước sẽ mất hết, giấc mộng được cùng vua phân chia đất nước cũng trở thành mây khói. Phải chấm dứt cái thế yếu này, quét sạch mọi trở ngại ngăn trên con đường mà ông ta và thái tử điện hạ tiến tới đỉnh cao quyền lực. Như vậy chỉ có cách đặt vua Hiếu Văn vào chỗ chết. Ông ta chưa kịp ban chiếu sắc lập thái tử mới thì đã chết rồi, lúc đó Dị Nhân mới có thể bước lên ngôi báu một cách đàng hoàng hợp tình hợp lý.
Nhưng sắc mặt của Lã Bất Vi thì lại hoàn toàn trái ngược với những suy nghĩ của ông ta. Ông ta nói một cách tức giận: "Điện hạ đã trở nên quá sợ hãi mà ăn nói lung tung. Giết vua, giết cha là một việc trời chu đất diệt! ta và điện hạ đều được hưởng ân đức của đại vương chỉ có thể trước sau trung thành báo đáp."
Lã Bất Vi nghĩ nếu tới mức bất đắc dĩ phải hạ độc thủ với vua Hiếu Văn ngòai ông ta ra không thể có người thứ hai biết. Lã Bất Vi có can dự vào. Kể cả Dị Nhân cũng phải dấu. Nếu khi thành công thì chỗ yếu nhất của ông ta cũng bị vị vua mới nắm trong lòng bàn tay, sau này lúc nào cũng phải chịu sức ép. Nếu việc bại lộ ông ta phải chịu tiếng bất trung, bất nghĩa nghìn đời sau rửa cũng không sạch. Còn nếu thất bại tránh không khỏi bị liên lụy, cái án chu di chín họ sẽ buộc lấy ông ta. Những việc như thế này đã làm phải làm cho kín, không có bất kỳ sơ suất nào. Như vậy thành bại đều có thể giữ được yên thanh họa nguy thành an, đồng thời trước mặt Dị Nhân vẫn giữ được tiếng trung hiếu, lễ, trí, tín.
Dị Nhân đang lo lắng như có lửa đốt ở trong lòng lại bị Lã Bất Vi phản đối dự định, liền hỏi: "Vậy phải tiến phải lui như thế nào, thái phó hãy nói ra một tiếng."
Lã Bất Vi trả lời: "Tục ngữ nói binh đến ắt phải chặn lại, nước đến ắt phải chắn lại. Điện hạ không được rối lòng mà đi vào chỗ nguy hiểm, đợi đến lúc nghĩ kỹ rồi hành động cũng không muộn. Điện hạ hãy cứ về phủ nghỉ ngơi, trấn tỉnh lại ngày mai nói tiếp."
Sau khi Dị Nhân đi rồi Lã Bất Vi ngồi yên trong phòng, tập trung tất cả trí lực để suy nghĩ sự việc này quá trọng đại, quá đột ngột và cũng quá tàn khốc. Hàng lọat dấu vết đã nói rõ vua Hiếu Văn có ý định phế truất Dị Nhân lập Tử Hề lên làm thái tử. Trước kia cứ nghe đến việc âm mưu tính kế tiểu nhân trục lợi, Lã Bất Vi đã nhổ nước bọt, hỉ mũi một cách khinh bỉ.
Còn bây giờ chính ông ta lại đang suy nghĩ chuẩn bị kế họach mà không phải chỉ là cắt một ngọn cỏ, hay một chuyện cỏn con mà là sát hại một vị vua của một nước. Cứ nghĩ đến đó Lã Bất Vi lại không thể dung tha cho sự tàn nhẫn của chính mình. Vua Hiếu Văn cũng chính là người tiếp nhận một thương nhân từ Hàm Đan, vì việc lập thái tử mà đến Hàm Dương. Lúc đó ông ta đã để lại cho Lã Bất Vi một ấn tượng tốt đẹp về một con người hiểu được và giúp đỡ người khác có cùng chí hướng. Một người như vậy, lại phải chết thảm, chết dưới độc thủ của ông ta sao.
Lã Bất Vi nghĩ tới đây tự nhiên không rét mà run. Ông ta tự nói với mình: "Lã Bất Vi ơi Lã Bất Vi, ngươi không thể thành được kẻ tiểu nhân, kẻ tiểu nhân âm mưu hãm hại người khác à?"
Con đường chính đạo trong nhân gian thì tang thương, khó chịu, chính ông ta đã trải qua việc làm ăn buôn bán, có lúc đã sử dụng những thủ đoạn nhưng cũng chưa từng hại đến mạng ai. Bây giờ bước vào cuộc sống triều chính thì phải mưu sát người khác, kể cả quân vương cũng không phải là ngọai lệ. Một khi Dị Nhân lên ngôi vua, ông ta được tham dự vào việc triều chính thì những việc đấu tranh trong cung đình như thế này sẽ xảy ra liên tục, lúc đấy ông ta sẽ bị rơi vào trong cái vòng xóay của sự tranh đấu mà không biết mình chìm nổi như thế nào.
Lã Bất Vi cũng đã từng nghĩ tới chuyện thóat ra khỏi cuộc sống thị phi của chốn cung đình, an phận thủ thường vào việc kinh doanh. Nhưng như vậy sẽ như thế nào? như vậy ông ta sẽ trở thành một thằng vô tài giữ của đích thực. Vậy thì mục đích của việc từ bỏ làm sỉ tử để làm một thương nhân lúc ban đầu là ở chỗ nào? không phải là vì phong hầu bái tướng sao? Hơn mười năm theo hầu Dị Nhân bao nhiêu vàng bạc đã được dùng vào việc này, đã vào sinh ra tử, thành công chỉ còn ở trong gang tấc, bây giờ lại dễ dàng vứt bỏ, đấy chỉ là hành động của kẻ ngu muội bỏ gốc lấy ngọn. Sau này nắm được đại quyền trong tay, chỉ huy thiên quân oan mã công thành cướp đất, cũng chẳng tránh khỏi phải tàn sát sinh linh, có lúc làm cho số đầu rơi xuống đất đếm không xuể nếu lòng dạ không sắt đá thì rất khó. Đối với vua Hiếu Văn thì không phải là cảnh đầu rơi máu chảy chỉ cần một viên thuốc là có thể kết thúc được mọi việc. Phải dùng thuốc gì, dùng như thế nào... Nhưng một khi đã hạ thủ thì ông ta cũng đã biến thành một tay đao phủ coi mạng người như cỏ rác.
Lã Bất Vi nghĩ mài nhưng cũng không nghĩ được đến cảnh tương lai huy hoàng. Suốt cả một đêm ông ta phải lao tâm khổ từ về việc ấy. Ông ta nhìn ra phía xa trằn trọc mãi mà không sao ngủ được.
Dị Nhân trải qua một đêm trong lo sợ, cố giương đôi mi mắt đang nặng trịch nhìn ra cổng lớn điện Chiêu Thanh. Dị Nhân trông đợi cái dáng chắc nịch đi vào, mang tới cho Dị Nhân những tin tức tốt lành để có thể hồi sinh từ cõi chết. Thái tử Dị Nhân suy đoán xem thái phó có đồng ý với kế họach dùng độc dược hại chết phụ vương không.
Theo sau một lọat tiếng bánh xe lộc cộc, Dị Nhân nhìn thấy trong đó có một chiếc xe dừng ở sân lớn. Không kìm được, thái tử la lớn: "Thái phó đến."
Người từ trên xe bước xuống đích thực là một Lã Bất Vi thần sắc vẫn tự nhiên như khi Lã Bất Vi tới điện Chiêu Thanh bàn bạc với Dị Nhân, các nô bộc và môn khách đều phải lui ra ngòai. Lã Bất Vi nói với Dị Nhân không bao giờ được dùng độc dược với vua Hiếu Văn. Chỉ cần đại vương không ban chiếu lập thái tử mới, việc này vẫn còn hy vọng cứu vãn được. Phàm là việc gì cũng phải dùng lời lẽ trước, sau đó mới dùng vũ lực, huống hồ đây lại là cha mình. Điều này cần ở Dị Nhân đối với vua Hiếu Văn thì làm việc gì cũng phải thấu tình đạt lý. Như Tử Hề làm những việc hợp với ý thích của đại vương, nên đã lấy lòng của vua, làm cho vua vui vẻ. Như vậy địa vị thái tử của điện hạ lại càng không được để khiếm khuyết.
Đối với việc làm thế nào để hợp được với ý thích của đại vương, Dị Nhân không cần chỉ bảo, hỏi: "Chả nhẽ chúng ta chọn một số mỹ nữ dâng lên cho phụ vương sao?"
Lã Bất Vi cười đáp: "Vậy thì chẳng khác gì đông thi nhăn mặt."
"Vậy thái phó có cao kiến gì?"
Lã Bất Vi nói: "Ta nhớ rằng trong nhân gian có một phương thuốc gia truyền tên là "Cao Sâm Lộc Nhung Thai" có tác dụng ổn định cơ thể tăng thêm sinh lực, tráng âm bổ thận. Với thân thể của đại vương ngày đêm lại đắm chìm trong chuyện chăn gối với các mỹ nữ sẽ khó tránh khỏi những thiếu hụt, lâu ngày sẽ suy giảm cả về tinh và huyết, làm giảm tuổi thọ. Chỉ cần dùng lọai thuốc "Cao Sâm Lộc Nhung Thai" này mới có thể bổ tinh bổ huyết, dương cường mà không khóai?" Lã Bất Vi nói xong, hai người lấy ra từ trong xe một túi vuông nhỏ được gói kỹ, nói với Dị Nhân đó chính là Cao Sâm Lộc Nhung Thai.
Dị Nhân vẫn còn ngờ vực nói: "Để ta đưa tới chỗ phụ vương thử xem."
Lã Bất Vi nói: "Điện hạ không thể chỉ đưa thuốc, mà phải thường xuyên đưa Triệu Cơ, Di Hồng và các thê thiếp khác tới vấn an đại vương, ca hát để ngài vui. Điện hạ lại ở thành Hàm Dương, việc hiếu thuận với đại vương là vô cùng thuận lợi, so với Tử Hề xa xôi ngàn dặm thì đúng là như trời tạo cơ hội."
Ngày hôm đó, Dị Nhân dẫn theo Triệu Cơ, Di Hồng và một số người nữa đến khấu kiến thỉnh an đại vương. Sau đó mới đưa lên thứ Cao Sâm Lộc Nhung Thai và khuếch đại khoe khoang công dụng như thần của lọai thuốc này.
Sau khi nghe xong, bộ mặt đầy những nếp nhăn của vua Hiếu Văn bỗng tươi cười như một bông hoa, không tiếc lời tán thưởng: "Những con trai của ta thật là hiểu được suy nghĩ của ta. Con cả Tử Hề tiến cống mỹ nữ, thái tử Dị Nhân lại tiến công thuốc bổ, nếu cùng giúp đỡ phối hợp với nhau thì sức mạnh chả khác nào rồng nào hổ."
Vua Hiếu Văn uống lọai thuốc đó xong kết quả thế nào? Trong một bộ truyền ký của Lã Bất Vi đã nói như thế này.
"Kể cũng lạ, lọai cao mà Lã Bất Vi đưa đến khi uống có mùi rất lạ, uống xong một lúc thì tinh thần sảng khóai. Vua Hiếu Văn cho chọn các phi tử và mỹ nữ xinh đẹp trẻ trung để qua đêm. Những vương phi mỹ nhân đó hiếm khi có được sự ân sủng của vua, đều như lòai lang sói bị bỏ đói, cố gắng nũng nịu mọi cách, buông thả nhân cách như đang đại hạn gặp mưa rào, quyết để thỏa mãn sự ân sủng của vua, không hề ngừng nghỉ. Chỉ tới khi vua Hiếu Văn mệt mới mức thở hồng hộc, mùi hôi thốc bốc ra, họ vẫn vô cùng thích thú, họ vẫn muốn tiếp tục cho tới khi đã hoàn toàn thỏa mãn mới chịu ông vua mà ngủ một cách hạnh phúc. Cứ như vậy, vua Hiếu Văn liên tục cho gọi toàn bộ các cung tần mỹ nữ hơn hai tháng, và vua cũng đã uống xong hai thang thuốc của Lã Bất Vi, rồi dần dần cảm thấy bất lực... Quần thần mời tiệc, tuy rằng đã quá sức mệt mỏi với những cuộc truy hoan thâu đêm suốt sáng, nhưng cũng gắng sức lấy lại tinh thần để đến dự yến tiệc với các quan. Tiệc rượu đến ngày sau cùng, vua muốn đi nghỉ sớm một chút, nhưng sau khi uống thuốc xong lòng xuân lại trỗi dậy, ông khởi giá định đến chỗ các mỹ nữ, rồi giữa đường không kênh mà chết."
Từ đó có thể thấy được lọai cao Sâm Lộc Nhung mà Lã Bất Vi tìm được trong dân gian là lọai cao tráng dương bổ thận hay là lọai cao kích dục đọat mạng.
Tháng chín năm hai trăm năm mươi trước công nguyên, thái tử Dị Nhân đường hoàng bước lên ngôi báu, chính thức kế vị, lấy tên là vua Trang Tương.
Vào lúc Dị Nhân lên ngôi trước khi lễ nhạc bắt đầu, là người hiểu rõ thời thế Phạm Thư xin Dị Nhân chuẩn tấu cho việc từ chức tướng quốc, Tử Hề về kinh chịu tang, đến phủ tướng quốc hỏi thăm trước. Phạm Thư đã hoàn toàn nản chí nói: "Hễ ra khỏi núi bị chó lừa, từ nay trở đi những ngày tháng của ta ngươi sẽ vô cùng khó khăn."
Tử Hề không cam chịu là mềm yếu, nói: "Chúng ta theo kẻ phản nghịch, không làm gian tế thì quân vương nói và Lã Bất Vi sẽ làm gì được chúng ta? nếu bọn họ ép người khác quá đáng thì chúng ta sẽ có cớ để lật bọn chúng."
Phạm Thư nhắc nhở: "Đại công tử không nên lơ là như vậy. Khi trước vua Chiêu Tương ban cho chúng ta tô thịt cúng hội độc. Có thể bọn họ không hề nghi ngờ gì, nếu lần này lại để chúng bắt thóp chúng ta, rồi tính chung cả nợ cũ và nợ mới vào thì chúng ta chỉ có đường chết."
Tử Hề tiếp: "Theo ý kiến của ta, vua mới bây giờ sẽ không cho ta quay về kinh thành mà sẽ bắt ta ở cái nơi heo hút khỉ ho cò gáy đó ba mươi tư năm nữa. Ta vẫn sẽ có mắt như mù có tai như điếc không nghe không thấy được gì. Trong thành Hàm Dương và cung Chương Đài có tin tức biến cố gì, vẫn phải nhờ đến lão tướng quốc đưa tin, nhắc nhở cho."
Đối lập với không khí thê lương ảm đạm ở phủ tướng quốc, điện Chiêu Thanh và phủ của Lã Bất Vi khắp nơi đều vui tươi hoan hỉ, yến tiệc, đèn nến rạng rỡ thâu đêm suốt sáng. Dị Nhân mặc trang phục quốc vương mới tinh.
Dưới sự hầu hạ của các mỹ nữ ở cung Nga, Triệu Cơ, Di Hồng và các phi tần mỹ nữ khác dáng điệu hoan hỉ, vây quanh Dị Nhân đang mặc bộ phục sức của vua, dáng dấp ung dung tự tại của một nhà vua mà khen nịnh. Doanh Chính và các vương tử vương tôn khác, chạy nhảy đuổi nhau len lỏi khắp đám người thỉnh thoảng lại đùa nhau kêu la những tiếng kinh thiên động địa.
Lã Bất Vi ở phủ của mình, dáng vẻ hết sức nghênh ngang đắc ý, mở tiệc rượu, ca múa khắp nơi. Ông ta vừa tận hưởng cảm giác thắng lợi, vừa dùng bàn tay to dày vuốt lấy chòm râu. Sau khi kết thúc mấy bài hát, ông ta cho gọi thê thiếp con cái, môn khách tùy tùng, phân lọai ra, chờ đến lượt mình để nhận thưởng, không sót ai. Hoàng Phủ Kiều, Tư Không Mã, Dương Tử, Triệu Khả Tín,... đều được nhận tiền vàng và các đồ tế nhuyễn hiếm có, tất cả đều rất vui mừng. Ai ai cũng đều biết rõ, tướng quốc nước Tần chắc chắn sẽ là Lã Bất Vi. Những môn khách đó điệu bộ trở nên cung kính đều nói: "Sau này còn phải dựa vào sự nâng đỡ của tướng quốc nhiều."
Ngày thứ hai, ở cung Chương Đài treo đèn kết hoa rực rỡ, tiếng đàn tiếng sáo khắp nơi, vua Trang Vương Dị Nhân trang điểm phục sức oai phong đẹp đẽ ngồi ngay ngắn oai vệ trên đại đường. Văn võ bá quan cũng mặc triều phục mới toanh, phân làm hai dãy hiên ngang phía dưới điện hạ.
Quan nghi trượng đứng bên ngự án, tuyên bố chiếu chỉ thứ nhất của vua Trang Tương. Phong Lã Bất Vi làm thừa tướng, phong văn tín hầu, lấy mười hai huyện ở Lam Điền làm thực ấp.
Quan Nghị Trượng vừa nói xong, các quan văn võ phía dưới điện hạ thi nhau rỉ rầm bàn tán, Lã Bất Vi lên làm tướng quốc, phò vua nắm giữ triều chính thì là việc nằm trong suy nghĩ của mọi người. Nhưng những cấp vị cao nhất tập quan, tước, thực ấp đều ban cho ông ta thì văn võ bá quan đều chưa từng nghĩ tới. Trước Lã Bất Vi tướng quốc của nước Tần đã có Sư Lẻ Tật, Cam Mậu, Khuất Cai, Hướng Thọ, Nguy Nhiễm, Tiết Văn, Lầu Hoãn, Kim Thụ, Thọ Chú, Đỗ Tang, Phạm Chư, Tế Trạch, nhưng người được phong hầu chỉ có hai là Phạm Thư và Nguy Nhiễm. Nguy Nhiễm được phong là Nhượng Hầu, ngòai việc ông ta đã làm tướng quốc mười mấy năm giúp đỡ quốc vương bao nhiêu chuyện, quan trọng hơn chính là việc ông ta có quan hệ thân thuộc với Hoàn Thái Hậu, Phạm Thư được phong ứng hầu lại vào một giai đoạn lịch sử đặc biệt làm tiếp cho Nguy Nhiễm. Còn Lã Bất Vi không hề phải Hoàng Thân Quốc Thích của vua Tần, lại chưa lập được công trạng gì, trước khi lên làm tướng quốc thì chưa từng có một chức quan và thành tích chính trị nào. Sau khi vua Trang Tương kế vị, Lã Bất Vi một bước đã bước lên đỉnh cao được phong làm tướng quốc, phong Vương Tín Hầu, tặng thưởng cho hơn một chục vạn hộ lương thực. Thử hỏi, văn võ bá quan làm sao mà không kinh ngạc cho được.
Lã Bất Vi không phải là kiểu người có việc gì vui mừng thì hiện ngay ra nét mặt. Sau khi nghe xong chiếu lệnh thứ nhất của vua Trang Tương và trực tiếp nhìn thấy văn võ đại thần thì thầm bàn tán thì im lặng không nói gì, gương mặt bình tĩnh ung dung, nhưng quả thực trong lòng ông ta thì đang trống giong cờ mở, vui vẻ vô cùng. Mười năm trước ông ta gặp Dị Nhân - một vị vương tôn đang mất hêt hồn phách tại Hàm Đan, đã dự kiến tới lúc trở thành vua một nước. Cách nhìn của Lã Bất Vi quả không sai, Dị Nhân nói lời cũng giữ lấy lời, nói một khi ông ta lên làm vua sẽ chia nửa giang sơn đại tần cho Lã Bất Vi, bây giờ lời nói của vua đã trở thành sự thật. Từ giờ trở đi vị trí của Lã Bất Vi là dưới một người mà trên cả vạn người thống lĩnh thiên hạ, thét gió gọi mây, có đất để sử dụng tài hoa của ông và có cả cơ hội để báo đáp thiên hạ.
Suy nghĩ của Lã Bất Vi hoàn toàn chính xác. Vua Trang Tương làm vua được ba năm rồi băng hà. Doanh Chính lên kế vị lúc mười ba tuổi. Lúc Doanh Chính chưa được chính thức đội vương miện là bảy năm, tổng cộng là mười năm. Mười năm đó trên thực tế Lã Bất Vi là người thống trị Đại Tần. Cũng có thể nói Đại Tần bước vào thời đại của Lã Bất Vi.
Trọng đại lễ lên ngôi của vua Trang Tương, nhất cử nhất động của Lã Bất Vi đều trở thành mục tiêu chăm chú của bao nhiêu người. Văn võ đại thần nhìn thấy, ngay lúc bãi triều hai chiếc xe sang trọng của Lã Bất Vi rời khỏi cung Chương Đài đầu tiên, tiến về phía xa của các ngõ xóm. Mấy hôm sau, họ mới nghe nói Lã Bất Vi làm việc đầu tiên từ khi nhận chức là tới thăm hỏi lão tướng quốc Phạm Thư.
Trí nhớ của thương nhân, thì rất chặt chẽ và chắc chắn. Phạm Thư gây khó khăn và chỉnh lý những việc trước kia của Lã Bất Vi, lại thêm chuyện mọi việc để càng lâu thì càng rối ren.
Những chuyện ấy Lã Bất Vi không bao giờ quên được. Nhưng ông ta hiểu rằng vua mới lên ngôi, lại thay đổi tướng quốc thì việc cần kíp nhất chính là ổn định triều chính, lấy được lòng dân. Quan hệ của Lã Bất Vi và Phạm Thư là quan hệ hiềm khích, văn võ bá quan trong triều, không ít thì nhiều, qua loa họac rõ ràng đều biết. Lã Bất Vi phải nhân dịp này mà lợi dụng những phản ứng khác nhau ấy nói cho toàn thiên hạ biết.
Lã Bất Vi, ông ta là người có trí óc, sẽ đưa giang sơn nước Tần đi vào ổn định và phát triển.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5933
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Lã Bất Vi***   Mon Oct 20, 2014 11:33 am

Hàn Diệu Kì
Lã Bất Vi
PHẦN THỨ HAI: QUYỀN MƯU
Chương 15
Tiêu Diệt Đông Chu
Lã Bất Vi đã tìm được cớ để tiêu diệt vua Đông Chu, chính thức đặt dấu chấm hết cho cả một triều đại.
Từ năm 256 trước công nguyên, vua Chiêu Tương đã tiêu diệt xong Tây Chu, các tên vua Chu chỉ là hữu danh vô thực. Nhưng trên đất cũng vẫn còn giữ lại vua Đông Chu. Vua Đông Chu này tuy được gọi là "Châu Công" nhưng không phải là thiên tử, nhưng dẫu sao cũng là hậu duệ tương huyết thống với vua Chu. Sự tồn tại nó tạo thành trở ngại lớn trong lòng chư hầu các nước. Khi gặp được thời cơ tro trấu vẫn bốc được thành lửa, gây sóng gió. Có lúc lại bị lợi dụng, ví dụ: Khi vua Chiêu Tương băng hà, họ đã lấy tên ông ta để tổ chức liên kết đồng minh hội. Muốn hoàn thành bá nghiệp thống nhất các chư hầu thì nhất định phải tiêu diệt gọn vua Đông Chu. Nhưng nếu không có thời cơ, và có cái cớ hợp lý thì cũng không thực hiện được mục tiêu. Lã Bất Vi lên làm tướng, đã dâng sớ lên vua Trang Tương lấy tội danh là khinh nhờn vong linh tiên đế và mưu kế thôn tính Đại Tần để đánh dẹp vua Đông Chu. Vua Trang Tương chuẩn tấu.
Trung thu năm 249 trước công nguyên, gió thu từng đợt lá rụng ào ào. Dưới bầu trời xanh trong bát ngát từng đàn chim nhạn di chuyển về phía Nam, in bóng thành hình mỏ neo xuống con đường thông từ Hàm Dương đến đất cảng. Lã Bất Vi chưa từng điều binh, cũng chưa từng đánh trận, thống lĩnh mười vạn quân ngựa đi thảo phạt Đông Chu. Chiến xa của Lã Bất Vi đi ở giữa đội quân. Ông ta đeo kiếm giữ ấn trọng rất hào hùng, ông ta nhìn lên phía trước ánh sáng mặt trời chiếu vào lưỡi gươm phản xạ lại sáng lóa, như ánh trăng chiếu trên mặt nước. Ông quay về phía sau đoàn người ngựa xe kéo bụi cả một vùng, hàng ngũ ngay thẳng, trong lòng Lã Bất Vi vui mừng phấn chấn nghĩ: "Quân sĩ hăng hái như thế này thì không có gì kiên cố mà không phá nổi, không có thành nào mà không cướp nổi, tiêu diệt Đông Chu chỉ như sóng lớn pha cát, một vùng Đông Chu bé tí như thế, nhắc đến làm gì."
Quân Đông Chu ở đất Củng, nhận được báo cáo của quân lính có quân Tần đến tiến công, vội lên vọng gác xem xét tình hình, chỉ thấy Lã Bất Vi đang thống lĩnh quân Tần, ùn ùn kéo tới thì vô cùng khiếp sợ, run lẩy bẩy. Biết rằng có kháng cự lại cũng chỉ như trứng chọi với đá, bèn sai quân mở cổng thành đầu hàng.
Sau khi Lã Bất Vi bắt sống được vua Đông Chu, chiếm cứ được đất Củng, tiếp tục chỉ huy quân sĩ đang thế như chẻ tre, tiến công Hà Nam, Lạc Dương, Dục Thành, Bình Dương, Yến Sư, Câu Thị và toàn bộ các thành trì khác của Đông Chu.
Lã Bất Vi áp giải vua Đông Chu về kinh. Trong tiệc mừng chiến thắng ở cung Chương Đài, có đại thần nói dùng thủ cấp của vua Đông Chu cúng tế vong linh vua Chiêu Tương, giải được nỗi hận trong lòng.
Lã Bất Vi không đồng ý, khởi bẩm với vua Trang Tương: "Đại vương điện hạ, theo ý thần, nên đưa vua Đông Chu về vùng đất Dương Nhân, nơi đó cách phần đất được phong ấp của thần chỉ có mấy dặm, ông ta cũng không dám có động tĩnh gì, để cho ông ta có thể cúng tế, duy trì dòng họ Chu."
Những lời của Lã Bất Vi nói xong, tiệc rượu đang huyên náo bỗng im bặt, văn võ bá quan đều gác đũa bỏ chén, ngơ ngác nhìn Lã Bất Vi, tự hỏi: "Đấy chẳng phải là thả hổ về rừng sao, để cho ông ta được tiếp tục thờ cúng bài vị của tổ tiên. Tha tội chết, thì chẳng phải là quá thiên trị ông ta sao?"
Vua Trang Tương tuy không biết trong đầu Lã Bất Vi nghĩ gì, nhưng ông ta tin rằng suy nghĩ của bậc phụ ông ta là thuộc hàng cao nhân, có lý do có căn cứ của nó, liền nói: "Tướng quốc, ngươi hãy giảng giải xem tại sao phải làm như vậy."
Lã Bất Vi chỉnh lại mũ, cất giọng sang sảng, trình bày số lý do tại sao phải di dời vua Đông Chu, không tiêu diệt nơi thờ cúng với vua Trang Tương và văn võ bá quan.
Thái độ của văn võ bá quan biến đổi theo sự chuyển động của hai môi mỏng như lá liễu của Lã Bất Vi, họ thay đổi từ chỗ không hiểu lý do đến lúc dần dần hiểu ra.
Ý kiến của Lã Bất Vi quả thật là không giống mọi người, theo thế như thác trút từ trên cao xuống. Tiêu diệt vua Đông Chu lại không tuyệt được đường thờ cúng, là sự cụ thể hóa của lý tưởng Nho giáo "Hưng diệt quốc, kết tuyệt thế, cử dật dân". Đại Tần từ trăm năm nay đều dùng vũ lực để giết chóc trừng phạt các nước chư hầu, trong mắt họ Đại Tần là một nước dữ như lòai hổ soái không hiểu nhân nghĩa, không có tình người. Lã Bất Vi cho vua Đông Chu đến Dương Nhân, một mặt sẽ diệt trừ tận gốc vua Đông Chu, mặt khác cũng giảm nhẹ được quan hệ huyết thống với họ Khương, dẹp yên lòng chống đối của các nước chư hầu, như vậy mới có thể thu phục một số lớn các hiền tài tập trung về nước Tần, việc thống nhất hoàn toàn nước Tần mới được tiến hành thuận lợi.
Khi một người đàn ông đối với một phụ nữ xinh đẹp lại chung tình thì bị mê mẩn, hồn bay phách lạc. Nhưng bây giờ Lã Bất Vi lại hoàn toàn ngược lại, trong đầu ông ta chỉ toàn là sự ngạc nhiên và lo lắng.
Triệu Cơ trang điểm xinh dẹp tuyệt trần, dung nhan chim sa cá lặn. Gương mặt trắng ngần của cô giờ thêm sắc hồng, không biết là do son phấn che phủ hay là huyết mạch tăng lên. Trong những ánh mắt ở hậu cung, Lã Bất Vi có thể nhìn ngay ra ánh mắt của Triệu Cơ vừa chung tình, vừa rừng rực lại vừa ưu tư. Theo dân gian, con gái lớn lên có 18 thay đổi, càng thay đổi càng xinh đẹp. Bây giờ xem ra, thì phụ nữ già đi cũng có mười tám thay đổi càng thay đổi càng xinh đẹp. Triệu Cơ đã qua thời kỳ xinh đẹp nhất, nhưng trông cô như thể đang cải lão hoàn đồng. Mấy hôm trước, khi gặp quả phụ Thanh ở cung Chương Đài, Lã Bất Vi đã bị chấn động bởi vẻ xinh đẹp của cô ta. Ông đã làm một phép so sánh giữa cô ta và Triệu Cơ, cảm thấy cô ta hơn Triệu Cơ tới cả mười phần. Nhưng bây giờ Lã Bất Vi lại cảm thấy quả phụ Thanh kém Triệu Cơ mấy bậc. Triệu Cơ có hai người đàn ông, một người khiến cho sáu nước chư hầu chỉ nhìn thấy đã khiếp sợ, khiến cho mọi người đều phải cúi đầu làm lễ khi gặp, đó là Tần Vương. Người kia chỉ huy cả nghìn quân vạn mã, viết sử sách tướng quốc Lã Bất Vi. Là một người phụ nữ, còn ai vinh dự hơn, nổi tiếng hơn không? Cuộc sống vui vẻ nhàn nhã, đi xe tứ mã, cổng cao nhà rộng, ung dung về mọi mặt của Triệu Cơ khiến cô có thể ngăn chặn được tuổi già. Còn quả phụ Thanh phải lo toan suy nghĩ, hao tâm tổn sức, làm cho gương mặt cô ta có vẻ già dặn hơn Triệu Cơ.
Suy nghĩ một lúc Lã Bất Vi lại thấy suy nghĩ lúc nãy của mình hơi hoang đường, quả phụ Thanh dáng vẻ thanh tú, xinh đẹp một lần nữa lại xuất hiện trước mặt Lã Bất Vi. Không biết ai là người đẹp nhất, Lã Bất Vi cũng không thể xác định được. Sau cùng, Lã Bất Vi tự giải thích: “Sắc đẹp của hai người ngang nhau, ai đứng trước mặt mình thì người ấy là đẹp nhất”.
Bây giờ Triệu Cơ đang đứng ở trước mặt Lã Bất Vi.
Lúc chập choạng tối, Lã Bất Vi được một thị nữ ở chốn hậu cung của điện Chiêu Thanh mời đến. Triệu Cơ đang chờ đón Lã Bất Vi, ánh mắt đong đưa, tiệc rượu thơm lừng. Triệu Cơ nói với Lã Bất Vi, từ lúc quân Tần tiêu diệt được Đông Chu, đã muốn bày tiệc rượu, chúc mừng chiến công của tướng quốc. Lã Bất Vi nói với Triệu Cơ, ông ta cũng mong ngày mong đêm để được đến hậu cung thỉnh an Vương Hậu.
Triệu Cơ và Lã Bất Vi ngồi cách nhau một bức tường, hai người hàn huyên một cách miễn cưỡng, không biết là do lâu ngày họ không gặp mặt hay cả hai bên giờ đã vinh hoa phú quý, quyền cao chức trọng, thân phận đã hoàn toàn đổi thay, hoặc là đang có bao nhiêu gương mặt cứng nhắc của các thị nữ và các thái giám bên cạnh, nên cuộc nói chuyện của hai người gò bó, khách sáo, chẳng có vẻ gì thân thiết của cuộc hàn huyên giữa hai người từng là vợ chồng, có một đứa con.
Mỗi lần Lã Bất Vi gặp Triệu Cơ đều thấy Ung Chính ở xung quanh cô, nhưng lần này không thấy nó đâu bèn hỏi: “Thái tử điện hạ đâu rồi?” Khi ở chỗ đông người, Lã Bất Vi gọi Ung Chính là “đại công tử”, từ khi Dị Nhân lên ngôi, Triệu Cơ là Vương Hậu thì gọi thành thái tử, còn khi chỉ có ông ta và Triệu Cơ thì gọi là “con trai”. Triệu Cơ hiểu rõ, Lã Bất Vi bỏ đi ba chữ “của chúng ta”, không nói ra nhưng cả hai người đều hiểu rằng Lã Bất Vi nói: “con trai của chúng ta”.
Câu hỏi của Lã Bất Vi làm Triệu Cơ giật mình, cô chợt nghĩ cô và Lã Bất Vi tối nay phải hàn huyên những gì, làm những gì, nghĩ tới đó cô xua tay về phía cung nữ và thái giám nói: “các ngươi lui cả đi”.
Trong phòng chỉ còn lại có hai người, Triệu Cơ nói một cách phóng đãng: “Tướng quốc xem, nãy giờ chúng ta toàn nói chuyện cứng nhắc, vô vị, như thể người dưng nước lã gặp nhau?”
Lã Bất Vi bây giờ cũng không phải chịu gò bó nữa, đùa lại: “Vi thần đâu dám bừa bãi trước mặt thái hậu?”
Triệu Cơ hỏi lại: “Tướng quốc của ta, ngươi không dám bừa bãi, người còn muốn bừa bãi như thế nào nữa? ta nghĩ…”
Lã Bất Vi nói: “Như vậy Lã Bất Vi vẫn chưa đã khát”. Triệu Cơ nói tiếp: “Đêm nay ta nhất định phải xem tướng quốc bừa bãi như thế nào?”
“Đêm nay…” trong lòng Lã Bất Vi vừa kinh ngạc, vừa vui mừng hỏi: “Đại vương hôm nay đến chỗ Di Hồng hay chỗ các cung nữ khác rồi?”
Triệu Cơ nói: “Tướng quốc của ta, ngươi yên tâm đi, ta không để ngươi phải lo lắng như vậy đâu! Người cũng biết, đại vương ngoài Di Hồng còn có bao cũng nữ đẹp như hoa như ngọc, phải khoảng nửa tháng nữa mới sủng ái một lần, tức khoảng mồng một mồng hai đầu tháng mới đến chỗ ta, chỉ cần đại vương không nhìn thấy, thử hỏi có đứa nào gan chó dám nghi ngờ ta đường đường một vương phi, dám nghi ngờ ngươi là tướng quốc nước Tần?”
Rất nhanh chóng, hai người đã cuốn lấy nhau. Sau vài tiếng đồng hồ, cả hai đều mềm rũ xuống, Sau một lúc nghỉ ngơi, hai người hàn huyên tâm sự.
Triệu Cơ nói, để che mắt mọi người, tướng quốc có thể nhận làm thái phó cho Ung Chính, như vậy khi ra vào hậu cung sẽ không bị người khác đoán này đoán nọ, nói ngược nói xuôi. Lã Bất Vi nói, như vậy cũng tốt, con trai có mấy vị thái phó rồi, ta lại tiếp tục làm thái phó như vậy là bù vào cho đủ số lượng. Nhưng việc này phải bẩm với Tần vương, Triệu Cơ nói, đợi con trai lên làm Tần vương, giang sơn xã tắc này chẳng phải là của ta và nàng sao?
Triệu Cơ nói: “Mỗi lần đại vương không ở lại chỗ ta, ta sẽ báo cung nữ đưa chàng đến, chàng đến nhé”. Lã Bất Vi nói: “Như vậy không được năm rộng tháng dài, e rằng sẽ lộ mất mọi chuyện”. “Vậy phải làm thế nào?” Triệu Cơ hỏi. Lã Bất Vi trả lời: “Khi đại vương không có ở đây, nàng hãy treo một dải lụa dài màu xanh ở cửa nhỏ phía bên ngoài hậu cung, không cần có đèn nến làm gì, ta sẽ gõ ba tiếng ở phía ngoài phòng của nàng, nàng ra mở cửa là được rồi”.
Triệu Cơ bảo: “Vậy ngày nào thiếp cũng phải treo dải lụa ở khe cửa” Lã Bất Vi nói: “Như vậy không được, việc gì hăng hái quá cũng hoá dở, tốt quá hoá xấu. Lòng ham muốn của con người, ai cũng có, không có gì là sai cả. Dù là dân đen áo vải cho đến người quyền cao chức trọng hay bậc thánh hiền cũng đều có tai, mắt, miệng và dục. Nhưng không thể không kiềm chế những ham muốn đó Vương Phi, nàng không hy vọng Lã Bất Vi trở thành người có chí lớn dự tính được cả việc của trời đất, tiếng thơm lưu truyền muôn đời hay sao? Bậc thánh hiền tự kiềm chế mình tức là khống chế, bức ép bản thân. Để tai có thể không nghe, mắt không chán, miệng không được thoả mãn, dục không thừa thì đều phải tự kiềm chế. Nếu không sẽ bị hao tổn gân cốt, mạch máu sẽ bị ngưng trệ, bị cửu khuyết. Nếu ta mà yếu đuối như vậy, đừng nói là ta không thể giúp được vua Tần điều hành quốc sự mà ngay cả việc ở bên nàng cũng không được chấp nhận”.
Triệu Cơ vừa nũng nịu vừa trách mắng nói, thái phó chàng đừng lấy những điều lý luận của bậc tiên sinh trách móc đệ tử mà trách móc răn dạy ta, ta cứ muốn chàng phải đến.
Cứ thế cho đến những năm sau, cho dù xuân hạ thu đông, ở trên cửa nhỏ của hậu cung cung Chương Đài, ở một nơi không được người khác chú ý lắm, luôn phất phơ một dải lụa màu xanh, giống như đồng ruộng đầu xuân vừa nhú lên chồi biếc. Đương nhiên, ngoài Lã Bất Vi và Triệu Cơ, chẳng ai chú ý tới nó.
Việc Lã Bất Vi làm thái phó của Ung Chính đối với vua Tang Tương thì thuận lợi vô cùng. Còn đối với Lã Bất Vi và Triệu Cơ thì đúng là ý trời thuận với lòng người. Riêng với Ung Chính thì không như vậy, thậm chí có phần hơi ấm ức. Khi đứa trẻ mười mấy tuổi này bị Triệu Cơ dẫn vào gặp Lã Bất Vi, nó bèn dẩu cái môi đã lún phún lông tơ ra nói: “Thái phó nhiều giống như trâu ngựa rồi, còn cần thêm làm gì?”
Ung Chính dần lớn lên dưới ánh mắt yêu thương của Lã Bất Vi và nỗi nhớ thương không dứt của ông ta đối với nó. Mặc dù thời gian Ung Chính và Lã Bất Vi ở bên cạnh nhau không nhiều, mặc dù Ung Chính không biết gì về việc này hoặc biết không rõ lắm, nhưng lòng quan tâm của Lã Bất Vi với cốt nhục, với hậu duệ của mình thì sâu sắc như giếng khơi. Không giống với các ông bố bình thường khác, Lã Bất Vi không được đùa với con, không bế con trên vai mà trêu đùa hoặc dạy nó bi bô tập nói. Đương nhiên, một phần là do trên hình thức vua Tang Tương mới là cha của nó, Lã Bất Vi không thể hiện lòng yêu thương và quan tâm của mình một cách lộ liễu và thái quá, một phần nữa là Lã Bất Vi ít khi thể hiện điều gì. Thời gian ông ta ở bên cạnh con không nhiều, chỉ lúc nó không để ý, ông ta mới chăm chú nhìn vào gương mặt sắc nét của nó, tìm kiếm những đặc điểm riêng của mình trên cái sinh thể mà mình đã tạo ra. Còn Ung Chính, nó không hề biết Lã Bất Vi là cha nó, thỉnh thoảng phát hiện vị thái phó này nhìn chằm chằm vào mình mà không hề phát ra lời khen ngợi làm nó vui thích, hoặc biểu thị bất kỳ hành động yêu thương thân thiết nào. Ung Chính không thích bị Lã Bất Vi nhìn chằm chằm kiểu đó. Thậm chí còn cảm thấy nghi hoặc và ghét hành động này. Nó không hề biết rằng, qua ánh nhìn đó Lã Bất Vi đặt vào nó bao nhiêu kỳ vọng, mong nó khôn lớn thành người, trở thành một quân vương xuất sắc của nước Tần.
Nghi thức bái nhận thái phó của Ung Chính cũng được giản lược gần hết, chỉ làm qua lễ đệ tử, rồi khắc quan hệ tiên sinh đệ tử này trên Ngọc phủ, sau đó Lã Bất Vi hỏi Ung Chính đã đọc qua những cách pháp chế nào, rồi nói rằng phải nên tập trung vào bài vở ra sao.
Ung Chính cảm thấy chán ngắt những nghi thức gò bó này. Nghi thức vừa kết thúc, nó bèn chạy ra sàn lớn của điện Chiêu Thanh chơi. Tiết trời mùa thu se lạnh, gió thổi xào xạc hun hút, chỉ nghe tiếng chim kêu ve hót mà không thấy bóng dáng của chúng đâu. Ung Chính nhìn khắp nơi, chẳng có đứa trẻ nào tầm tuổi với nó, thỉnh thoảng có vài bóng dáng vội vã của những người trong cung đi ngang qua. Bỗng nhiên, trong lòng nó trào lên cảm giác cô đơn, trống trải, chơi với ai đây? Chơi cái gì?
Một loạt tiếng dế kêu rất vui tai làm Ung Chính thích thú, nó tìm nơi phát ra tiếng kêu, nhìn thấy ở gốc cây ở đằng sau sân lớn đứa con trai của Di Hồng đang chơi dế, Ung Chính tiến về phía ấy, nhìn thấy hai con dế to béo mập trong hộp gấm, đang hăng hái chọi nhau. Nó cũng có mấy con dế, nhưng không có con nào hùng dũng hăng hái như hai con này. Sau khi xem một lúc, Ung Chính nói với đứa bé kia: “em à, cho anh mượn chơi đi”. Mặc dù hai đứa là anh em cùng cha khác mẹ, nhưng do sống ở hai nơi khác nhau, lại do hai bà vú khác nhau nuôi dưỡng nên chẳng có vẻ gì là anh em thân thiết quyến luyến với nhau cả.
Đứa trẻ kia trông yếu đuối, gầy guộc, nó nói, đây là dế của nó, không cho mượn. Ung Chính lại hỏi mượn lần nữa, nó vẫn không cho. Ung Chính tức giận nói: “Ta là thái tử, phụ vương nói rằng mọi thứ trong thiên hạ đều là của ta, huống hồ là hai con dế của nhà ngươi”. Nói xong tiến lại giằng lấy, đứa kia đậy nắp hộp lại không cho. Hộp gốm để hở ra một ít, một con dế nhảy ra ngoài, nhảy được hai ba cái thì đến phía chân Ung Chính. Ung Chính nhìn thấy, tiến lên một bước dẫm bẹp con dế, con dế lập tức tan thịt nát xương.
Đứa kia kêu khóc ầm ĩ, lúc ấy Ung Chính mới cảm thấy trút được giận, mới buông tay ra, đứa kia vội vã đi nơi khác. Nhìn theo dáng của nó, Ung Chính lẩm bẩm một cách tức giận: “Ta không lấy được thứ mà ta thích chơi thì cũng không để ngươi giữ được”.
“Nói đúng lắm! Thái tử lẽ ra phải dẫm chết cả con dế kia” Một giọng eo éo cất lên từ phía sau
Ung Chính quay lại thấy một vị thái giám còn trẻ, có gương mặt của đứa trẻ con quen quen, hình như ta đã nhìn thấy ở hậu cung.
Vị thái giám trẻ này đã đứng ở bên cạnh được một lúc
Ung Chính cảm thấy lời nói của vị thái giám này rất dễ nghe, hơi có cảm tình với anh ta. Anh ta nói rằng, ở chỗ anh ta không những có nhiều dế biết nhảy, biết chọi mà còn có cả những tượng gốm được nặn với nhiều hình thù khác nhau kiếm gỗ, đao gỗ, bảo Ung Chính tới chỗ anh ta chơi. Vị thái giám trẻ này cũng ở trong cung. Ung Chính tới đó vừa nhìn đã thấy ở trên giá quả nhiên có những đồ chơi mà anh ta vừa nói, Ung Chính cảm thấy hứng thú với những đồ chơi ấy. Chơi dế một lúc lại quay ra nặn tượng gốm. Ung Chính chơi mãi cảm thấy không chán với những con hổ con báo và những con thú khác được nặn bằng gốm, nó đặt hổ và giữa và cho những con thú khác ở xung quanh bảo vệ nó.
Ung Chính nói hổ là vua của muôn loài, ta sẽ là hổ của muôn dân.
Sau mấy tiếng đồng hồ, vị quan thái giám trẻ tuổi đó nói với nó, thái tử điện hạ mau trở về, nếu không Vương Hậu tìm. Những đồ chơi này điện hạ thích, ngày mai thần sẽ đem đến cho điện hạ.
Ung Chính cảm thấy lưu luyến vị thái giám thân thiện hoà nhã này, bèn nói ngày mai ngươi hãy đến chỗ ta, bảo ta đọc sách, chơi với ta. Ung Chính thấy, sau khi nó nói như vậy, vẻ mặt của vị thái giám trẻ sáng bừng lên, nói, quả thật là tiểu nhân có nằm mơ cũng không thấy.
Đi một đoạn khá xa, Ung Chính mới nhớ ra là mình chưa kịp hỏi họ tên của vị thái giám ấy, thế là nó quay lại hỏi.
Vị quan thái giám đó cung kính trả lời nó, tiểu nhân họ Triệu, tên Cao, là người nước Triệu
Mưa dầm triền miên không dứt ba ngày ba đêm khiến cho Lã Bất Vi và các môn khách nô dịch của ông ta mặt mày ủ dột và lo lắng vô cùng. Sau ba ngày, tuy mưa đã ngớt nhưng nước lũ vẫn tràn ngập khắp nơi còn bầu trời thì đen kịt như sắp đổ mưa xuống. Bờ bên sông kinh đô cũng lầy lội khiến xe ngựa không thể nào qua lại được. Lã Bất Vi ngồi trên kiệu, các phu kiệu khênh dọc từ sông theo hướng từ Tây-Đông xem xét tình hình lũ lụt. Cái kiệu nhỏ rung lẩy bẩy như thể một mảng da cừu trôi lềnh bềnh giữa mênh mông biển nước đỏ ngầu. Hơi nước lạnh xô đến khiến người ta cảm thấy đây không phải là thời tiết đầu xuân mà là cái rét lạnh thấu xương của tiết đầu đông.
Vùng này là khu vực quan trọng, hồi còn là thương nhân không ít lần Lã Bất Vi đã qua lại đây. Ở đây đất đai màu mỡ, mưa thuận gió hoà, lúa ngô dồi dào, dân chúng đông đúc giàu có, lưu lại cho Lã Bất Vi những ấn tượng sâu đậm. Nhưng mấy năm gần đây, do mưa lũ quá nhiều, mấy con sông lại bị cải tạo, phần lớn đồng ruộng không có nước tưới biến thành ruộng hoang nứt nẻ. Đồng thời lại có những dòng sông hồng thuỷ dâng mạnh, tràn lên gây ngập, sông Kinh là một trong những dòng sông ấy. Sau khi Hồng thuỷ, nhà mục đất nũng, dân chúng không sống nổi, Lã Bất Vi vừa điều quân đi diệt Đông Chu trở về, lại nhận được cấp báo của quận Dương Kinh, cần triều đình cứu tế mười vạn thạch lương thực. Trước khi cho cứu tế, Lã Bất Vi không kể trăm dặm xa xôi, đích thân đi dọc sông Kinh để cho rõ ngọn ngành.
Màn kiệu của Lã Bất Vi được vén lên để nhìn cho rõ cảnh vật bên ngoài
Lã Bất Vi nhìn thấy ở phía trước có một đám người đang tụ tập, cúng tế cái gì đó, những tiếng rì rầm bì bõm nối tiếp nhau vọng lại. Tới gần đấy, Lã Bất Vi vừa xuống kiệu nhìn thấy thì vô cùng ngạc nhiên, một đám dân thường mặt mũi bẩn thỉu, tóc tai bù xù, quần áo bẩn thỉu đang cúng tế, cầu xin thần sông phù hộ. Bọn họ cung kính cúi sát mặt xuống mép nước, cầu nguyện, đốt hương, sau đó ném từng kiện, từng kiện lợn trâu, tơ lụa, lúa gạo xuống sông, nói là lễ vật dâng cho thần sông.
Lã Bất Vi ngăn lại nói: “Bớ bà con, làm gì có thần sông thần nước, các người làm như vậy là uổng phí toàn bộ trâu bò, tơ lụa, lúa ngô rồi”.
Lã Bất Vi không làm lộ ra thân phận của mình, đương nhiên, đám dân thường này không thể biết ông ta là tướng quốc của một nước, thế nên họ lờ đi như không hay biết gì đối với lời khuyên của Lã Bất Vi, tiếp tục ai làm việc nấy.
Nhìn thấy hàng loạt gia súc, vật phẩm bị ném xuống dòng sông đỏ ngầu, chảy cuồn cuộn, Lã Bất Vi tức giận bảo họ ngừng tay.
Một vị có vẻ vai vế trong đám ấy nói với Lã Bất Vi: “Đại nhân, mong ngài đừng nói những lời như vậy, nếu mạo phạm đến thần sông, thần nổi giận, dân chúng chúng tôi lại càng khổ gấp bội lần!”
Đám tuỳ tùng và thuộc hạ của Lã Bất Vi thấy thái độ của họ bất kính như vậy với tướng quốc đương triều thì tức giận vô cùng, định nói với họ là vị đại nhân vừa bước xuống kiệu là Lã Bất Vi, tướng quốc đương triều. Lã Bất Vi vội dùng ánh mắt và tay ngăn họ lại, rồi lệnh cho họ khởi kiệu quay về.
Khi về tới phủ ở thành Hàm Dương, Lã Bất Vi cảm thấy toàn thân mệt mỏi, đang muốn nghỉ ngơi. Tư Không Mã đến bái kiến, nói có một vị Lý Tư đến cầu kiến.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5933
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Lã Bất Vi***   Tue Oct 21, 2014 11:19 am

Lý Tư là ai? Lã Bất Vi im lặng một lúc rồi hỏi Tư Không Mã Lý Tư đó đến có việc gì? Tư Không Mã nói Lý Tư đến xin làm môn khách trong đám thủ hạ ở phủ tướng quốc. Lã Bất Vi nói: “Ta vừa từ quận Kinh Dương trở về, vô cùng mệt mỏi, ngươi hãy kiểm tra trước về võ nghệ tài đức của người này. Nếu chỉ là một người bình thường thì hãy cho lộ phí đi đường rồi cảm ơn anh ta. Nếu quả thực là người tài giỏi thì quyết phải giữ lại, ngày mai ta sẽ triệu kiến, suy nghĩ xem nên dùng vào việc gì”.
Tư Không Mã phụng mệnh quay đi. Lã Bất Vi vẫn cảm thấy chưa thoả đáng lắm muốn tự mình đi gặp mặt vị Lý Tư này. Tư Không Mã nói: “Sắc mặt tướng quốc đã mệt mỏi lắm rồi, học trò sẽ đi gặp trước”. Tư Không Mã nói tiếp: “Tướng quốc hãy yên tâm nghỉ ngơi, học trò tuy không phải là Bá Lạc tinh tường có thể nhận biết được ngọc tốt, nhưng cũng có thể nhận ra ai là bậc anh hùng, ai là kẻ thường thường bậc trung”. Lã Bất Vi nhắc đi nhắc lại không nên để một người có tài rời khỏi cổng phủ Lã mà đến nơi khác.
Tư Không Mã cáo từ bước ra, trong lòng nghĩ: “Trong phủ tướng quốc, môn khách có gần 3000 người mà vẫn còn cảm thấy thế mỏng lực ít, thật là lạ”.
Thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc, phong trào “đãi sĩ” rất mạnh. Chư hầu các nước và các quý tộc đương quyền nhìn xa trông rộng đều đem hết sức mình ra để lôi kéo nhân tài. Trong đó nổi danh nhất là “tứ công tử”: Mạnh Thường Quân ở nước Tề, Bình Nguyên Quân ở nước Triệu, Tín Lăng Quân ở nước Nguỵ và Xuân Giáp Quân ở nước Sở. Họ đều mở rộng cánh cửa quốc gia, chiêu hiền đãi sĩ ở một phạm vi. Lấy chế độ đãi ngộ hậu hĩnh, cung cấp cho một số lượng khách. Những thực khách này, không những trở thành chỗ dựa không những thế lực tư gia mà còn vạch định kế hoạch, chính sách cho việc trị quốc yên dân, trở thành “túi mưu trí” và “kho nhân tài”. Nước Tần thu phục nhân tài từ bên ngoài, đã mở cửa các nước chưa hầu từ quan đông trước. Từ thời Xuân Thu đã có một số lượng lớn trí sĩ bên ngoài nước Tần đến Quang Trung, được vua Tần coi là cánh tay đắc lực, phong cho quyền cao chức trọng. Như thời Mục Công, có người nước Sở tên Bạch Li Hề, người phương Tây do dự, thời Hiếu Công có người nước Vệ Công Tôn Ưng đều được Tần quốc trọng dụng, lập được công lớn. Nhưng phạm vi thu hút hiền tài phía bên ngoài của nước Tần tương đối hẹp, chủ yếu chỉ thu nạp các sĩ tử duy trì quan điểm Pháp Gia, bài trừ các sĩ tử theo các quan điểm khác. Bởi vì Pháp gia chủ trương canh tác chiến trận và ngu dân, điều này phù hợp với sách lược trị quốc của lịch sử các triều đại nước Tần. Họ cho rằng muốn nước mạnh binh cường thì phải quan tâm tới việc trồng trọt và đánh trận, không cần coi trọng các ngành nghề khác. Họ coi khinh người học hành, đặc biệt là Nho giáo, thậm chí còn loại trừ và đả kích những người này. Sau này Hàn Phi là một quý tộc của nước Hàn, khi tham gia vào triều chính của Tần quốc đã xếp nho sinh vào cùng một hạng với hiệp sĩ, nhà tung hoành, người đánh xe, nhà buôn, cho rằng họ là “năm loại sâu bọ” nguy hại đến quốc gia. Từ đó có thể thấy được kiểu nhìn phiến diện đã được lưu truyền từ rất lâu ở Tần quốc. Nói một cách nghiêm khắc thì nước Tần không có phong trào “đãi sĩ”. Lã Bất Vi là người đầu tiên trong lịch sử của nước Tần công nhận vị trí quan trọng của “giới sĩ tử”, là nhà chính trị đã mở cánh cửa nước Tần, chiêu hiền đãi sĩ với một số lượng lớn. Qua hàng nghìn năm, tên tuổi các môn khách dưới trướng của Lã Bất Vi về cơ bản đã bị mai một, không được người đời nhắc đến. Nhưng có một người tên tuổi đã được lưu truyền theo thời gian, được người sau biết rõ và quan tâm tới. Đó là Lý Tư.
Tư Không Mã đi ra từ chỗ của Lã Bất Vi, quay lại phòng bên trái của cổng chính phủ Tướng quốc chuyên dùng để đón tiếp những người đến cầu kiến.
Một người trẻ tuổi, dáng dấp phong trần, giản dị, lập tức đứng dậy thi lễ với Tư Không Mã. Anh ta chính là người Tề nước Sở, đồ đệ Lý Tư của tuần tự đại học vận gia.
Tư Không Mã nói không cần câu nệ, ngồi xuống đi. Nói xong tự mình ngồi xuống. Lúc này chỉ kịp nhìn quanh, bây giờ Tư Không Mã mới có đủ thời gian để xét kỹ lưỡng vị trẻ tuổi đến phủ Tướng quốc cầu chức này. Tư Không Mã nhìn Lý Tư một lượt từ đầu tới chân, sau đó dừng lại ở miếng ngọc dắt ở thắt lưng, hỏi: “Lý tiên sinh đeo loại ngọc gì vậy?”
Lý Tư trả lời: “Tiểu nhân gia cảnh bần hàn, chỉ là một loại ngọc được gọt giũa thô kệch”
Trong lúc Tư Không Mã và Lý Tư nói chuyện, Tư Không Mã cố ý để lộ chiếc trâm ngọc có viền hoa văn lấp lánh. Tư Không Mã muốn dùng lời lẽ, cử chỉ của mình để nói với Lý Tư tướng phủ có quyền chức làm loá mắt người khác, của cải danh tiếng vô cùng, không phải loại phàm phu tục tử có thể được nhận vào làm môn khách.
Lý Tư cũng nhìn ra được thần thái của Tư Không Mã
Tư Không Mã tự mãn, đắc ý nói: “Cá thích hồ sâu, chim bay ở những vùng rừng hoa cỏ màu mỡ, tài hoa hào kiệt ở sáu nước Quan Đông thì thích đến phủ Tướng quốc, phải xua như xua vịt, thế mà bây giờ đã đến 3000 người. Tiên sinh đã trăm dặm xa xôi trèo đèo lội suối tới đây, tất phải có học thức và võ nghệ siêu việt, không biết có thể cho tại hạ được thấy trước, tại hạ rất vui mừng”.
Lý Tư hiểu rất rõ ý của Tư Không Mã, phải thử trước với Tư Không Mã một lần, thế là nói thẳng: “Tại hạ lúc nhỏ từng theo học một đại hiệp võ lâm luyện tập kiếm thuật, vài năm sau cũng luyện được một chút về thân thủ. Sau này gặp được Bị Tư Thiên, bỏ võ mà theo văn, làm học trò của Tuần Tự, nghiên cứu “môn học về pháp luật” và “thuật đế vương”, ngày rộng tháng dài, từ đó bị gián đoạn. Cũng có thể là huyênh hoang, tự cảm thấy không phải là có năng khiếu về múa đao, múa kiếm, liền bỏ dở. Sau thời gian bỡ ngỡ liền tập lại, cũng chẳng phải là bản lĩnh gì lắm, chỉ là thuật Hoa Quyền mà thôi. Nhưng nói đến “môn học về pháp luật” và “thuật đế vương” thời gian tại hạ được nghiền ngẫm học tập rất nhiều, dám mong được cùng Tư Không Mã tiên sinh bàn bạc”.
Tư Không Mã biết rõ mình chỉ là người ngoài ngành của “môn học về pháp luật” và “thuật đế vương”, đối đáp vài câu thì được chứ nói chuyện cặn kẽ thì sẽ bị xấu mặt, hai môn này để đấy ngày mai tướng quốc nói chuyện với anh ta, còn mình sẽ thử anh ta môn trận kiếm thuật xem sao, thứ nhất anh ta có vẻ không phải là đối thủ của mình, thứ hai nếu tướng quốc hỏi đến kết quả kiểm tra Lý Tư như thế nào thì còn có thể trả lời được.
Tư Không Mã bảo nô dịch mang đến hai thanh kiếm đồng, Tư Không Mã và Lý Tư mỗi người một thanh, bắt đầu đọ sức, trong chốc lát mọi người chỉ thấy một thanh kiếm như con giao long múa dưới nước, còn thanh kia thì như gió giật long trời lở đất. Tiếng kiếm chạm vào nhau liên tiếp. Môn khách và nô dịch trong phủ quây lại xem rất đông, chỉ trỏ, bình luận về kiếm thuật của hai người. Qua mấy hiệp đấu, Tư Không Mã cảm thấy võ thuật của Lý Tư về cơ bản rất chắc chắn, nhưng phản xạ vẫn chưa nhanh nhạy, xem ra không phải là đối thủ của mình.
Lý Tư cũng nhìn ra nhược điểm này, anh ta đánh thêm mấy chiêu thức nữa, rồi thu kiếm về trước, chắp tay chịu thua, nói: “Lý Tư bái tài xin chịu thua”.
Thấy Lý Tư thực sự chịu thua, không huyênh hoang khoe tài khoe mẽ, không sợ mất mặt trước người khác nên rất có cảm tình, nói: “Kíêm thuật của Lý tiên sinh đúng như lời Lý tiên sinh nói, lại do lạ lẫm, nếu không kiếm pháp rất siêu việt, có thể so tài cùng thiên hạ. Nay tiên sinh mới đến Hàm Dương, cũng không thể để tiên sinh cảm thấy cô đơn nên Tư Không Mã này mới giúp tiên sinh chơi kiếm pháp, đao thuật. Ngày mai tướng quốc sẽ cùng với tiên sinh bàn tiếp về “môn học về pháp luật” và “thuật đế vương”. Lý Tư cáo từ nói: “Vậy ta không dám quấy nhiễu tướng phủ nữa, ngày mai ta sẽ đến để khấu kiến Tướng quốc đại nhân”.
Tư Không Mã hỏi: “Lý tiên sinh nghỉ chân ở quán trọ hay trạm dịch nào?”
Lý Tư trả lời: “Ở một quán trọ trong thành Hàm Dương, tên là Tân Khách Cửu”.
Sau khi Lý Tư đi rồi, Tư Không Mã quay trở về phòng của mình, chuẩn bị bẩm báo với Lã Bất Vi về tình hình mình và Lý Tư thi võ, lời lẽ thành thực của anh ta lúc xin chịu thua. Lúc này tiều phu chở củi đến cho phủ Tướng quốc, bởi vì người quản phú không có nhà nên người hầu mời Tư Không Mã đến kiểm tra. Sau khi xong việc, Tư Không Mã lo liệu nốt mấy việc lặt vặt trong phủ. Lúc định đi gặp Lã Bất Vi thì phát hiện không thấy cái trâm ngọc của mình nữa. Ông ta kiểm tra kỹ lại áo dài, lúc nhìn thấy phần dây buộc của chiếc trâm vẫn còn đoán là bị một vật gì đó cắt đứt đoạn dây nên rơi mất. Ông ta tìm kỹ khắp trong sân trước ngõ mà vẫn không tìm thấy. Tư Không Mã nghĩ ngày mai thử hỏi các môn khách, nô dịch trong phủ xem, cũng có thể là ai đó nhặt được.
Đúng lúc đó có một cậu bé thông minh lanh lợi đến gặp Tư Không Mã, nói là thư đồng của Lý Tư, phụng mệnh của chủ nhân đến đưa cho Tư Không Mã một lễ vật, có chỗ nào thất lễ mong đại nhân lượng thứ. Nói xong đứa trẻ đưa cho Tư Không Mã một gói nhỏ rồi cáo từ. Tư Không Mã cẩn thận mở ra, thấy bên trong chính là chiếc trâm ngọc bị mất của mình thì vô cùng kinh ngạc: tại sao Lý Tư lại có chiếc trâm của mình trong tay? bản thân Tư Không Mã thì ngồi cách anh ta, trừ lúc đọ kiếm ra thì hai người làm gì có lúc nào gần nhau? Tư Không Mã suy nghĩ một hồi rồi chợt hiểu ra, nhất định là trong lúc đọ kiếm anh ta đã dùng kiếm lấy mất chiếc trâm ngọc của mình, đúng là như vậy! Tư Không Mã không thể nghĩ rằng Lý Tư nhanh mắt nhanh tay lấy trâm ngọc của ông ta là tinh tuyệt kiếm pháp gì, nhưng trong lòng thì quả khâm phục tài năng của Lý Tư sát đất. Đa số môn khách khi đến lần đầu thì cố dùng lời khen nịnh để lấy lòng chủ nhân, khiến chính Tư Không Mã cảm thấy lời lẽ đó đi quá khả năng của ông, ông chỉ như cái cây mà không có quả. Còn vị Lý Tư này thì không nói không rằng thể hiện tài thao lược và mưu sách của mình hoàn toàn khác biệt. Tư Không Mã cảm thấy Lý Tư quả thật không phải là một con người bình thường mà chính là một kỳ tài trong thiên hạ.
Tư Không Mã không dám lơ là nhiệm vụ của mình, vội vàng thưa lại với Lã Bất Vi tất cả các sự kiện mà anh ta vừa chứng kiến và những điều anh ta nghĩ. Lã Bất Vi cũng cảm thấy Lý Tư kia không phải là người bình thường, vội vàng cùng Tư Không Mã đến quán trọ “Tân Khách Cửu”.
Lý Tư đang tập trung nghiên cứu sách pháp chế, nhìn thấy Tướng quốc đích thân đến tận nơi, quá kinh ngạc trước sự sủng ái đó vội đứng dậy thi lễ mời ngồi.
Sau khi Lã Bất Vi ngồi xuống, nói thẳng không rào đón gì: “Lý Tư tiên sinh có thể trở thành người trong môn hạ của ta không?”
Lý Tư trả lời một cách ý nhị: “Tiểu nhân là người Tề nước Sở, lúc trẻ cũng đã nhận một chức quan nhỏ không tên tuổi ở quận Thượng Tề. Gần đấy có một cái hố xí, mỗi khi tiểu nhân đi đại tiểu tiện đều thấy một lũ chuột đến đấy ăn và lấy đi, đang yên lành thì bị giật mình bởi người hoặc chó, vội quay đầu tháo chạy. Có lúc tiểu nhân lại thấy ở một kho lương thực kia, phát hiện lũ chuột ở đó tha hồ thoải mái mà không kinh động, không việc gì phải lo lắng khi người hoặc chó đến gần. Cũng giống như loài chuột kia, một con người có thể thành đạt hay không thì phải xem xét kỹ xem mình đang ở hoàn cảnh như thế nào”.
Lã Bất Vi vui mừng nói: “Lý tiên sinh thật khéo so sánh, như vậy có thể nói, tiên sinh muốn đến cái kho lương thực ở phủ Tướng quốc của ta rồi”.
Lý Tư trả lời: “Học trò nghe nói Tướng quốc là người cương nhu đúng lúc, là Bá Lạc dùng người. Lời văn của tướng quốc rõ ràng mà vẫn huyền bí, tài học thì tinh thông cả thiên hạ, mong rằng tướng quốc có thể mở rộng tấm lòng thu nạp học trò, nếu kiểm tra ngay tài học của học trò cũng có thể biết được đôi điều, học trò có tài viết văn nhanh”.
Lã Bất Vi xua tay nói: “Vậy Lý Tư hãy đến làm người của phủ Tướng quốc đi”
Ngay sau đó, Lã Bất Vi đã cử Lý Tư áp giải một vạn thạch lương thực cứu tế của triều đình đến Kinh Dương đồng thời phải dừng ngay việc ném các vật phẩm hi sinh xuống sông. Trước khi lên đường, Lã Bất Vi hỏi Lý Tư có thể làm tốt các công việc được giao không. Lý Tư trả lời một cách chắc chắn, mong tướng quốc yên tâm ở nhà chờ tin tốt lành.
Sau khi Lý Tư đi rồi, Tư Không Mã nói anh ta có thể phát hết lương thực cứu tế của triều đình đến tận tay dân chúng, nhưng đối với việc họ cúng tế thần sông thì e Lý Tư cũng phải bó tay. Tướng quốc cũng đã không có cách gì huống hồ là Lý Tư.
Lã Bất Vi nói: “Những việc ta không làm được không có nghĩa là Lý Tư cũng không làm được”.
Tư Không Mã nói: “Học trò và thừa tướng cùng chờ xem”.
Mười ngày sau, Lý Tư vui mừng trở về phụng mệnh, Lã Bất Vi hỏi: “Lương thực đã phát hết được tận tay dân chúng chưa?” Lý Tư trả lời: “Phát hết rồi!” Lã Bất Vi lại hỏi: “Họ đã thôi không ném các lễ vật xuống tế thần chưa?” Lý Tư trả lời: “Thôi vứt rồi”.
Lã Bất Vi nghe Lý Tư trả lời một cách đơn giản, trong lòng cũng không khỏi nghi ngờ. Việc làm dân chúng không ném đồ tế lễ xuống sông nữa, phải là một quá trình, nhưng Lý Tư dùng ba chữ đơn giản “thôi vứt rồi” để trả lời, không làm người khác tin được. Tư Không Mã ở bên cạnh cũng lắc đầu tỏ ý không thể tin được.
Lã Bất Vi không tiện tra hỏi trực tiếp, liền bảo Lý Tư về phòng nghỉ ngơi.
Lý Tư đi rồi, Lã Bất Vi liền cho gọi một nô dịch tên là Trịnh Sáo cùng đi Kim Dương với Lý Tư đến hỏi rõ ngọn ngành.
Trịnh Sáo đến, đằng sau còn có một người trông dáng vẻ như một nô dịch đi theo. Bởi vì Trịnh Sáo có vẻ lanh lợi, nhanh mồm nhanh miệng, nói chuyện ở cuối mỗi câu thường thêm những từ đệm nên Lã Bất Vi có ấn tượng với anh ta. Còn người nô dịch đi vào theo kia thì Lã Bất Vi thấy hoàn toàn lạ lẫm. Hơn 3000 người Lã Bất Vi làm sao có thể nhớ hết mặt mọi người.
Trịnh Sáo kể lại hết toàn bộ sự việc Lý Tư làm sao ngăn mọi người ven bờ sông Kinh thôi không ném của cải xuống sông nữa. Biết được đến ngày tế lễ, Lý Tư đến đó từ sớm, dân chúng ùn ùn chở đến trâu bò, lợn dê, lúa gạo. Lý Tư cũng đã dùng hết lời lẽ khuyên can họ không nên vứt những đồ tế lễ xuống sông như vậy. Nhưng họ phớt lờ nói: “Đại nhân làm sao biết được những đồ tế lễ này là vứt không xuống nước, đều là dâng cho thần sông hưởng thụ. Lý Tư nói với một ông lão có chòm râu dài, thần sông không thể hưởng thụ được con lợn này của ông . Ông lão không tin. Lý Tư lấy ra một sợi chỉ đỏ, buộc vào chân sau con lợn. Một con lợn béo trắng phau, buộc thêm một sợi chỉ đỏ vào chân, trông rất chói mắt. Sau đó Lý Tư nói: “Thưa bà con, sau khi bà con ném hết các đồ tế lễ xuống sông xin đừng đi vội, đợi thần sông sẽ đem hết các đồ tế lễ này trả lại cho bà con.” Vốn là Lý Tư đã thuê người giăng lưới sẵn ở dưới lòng sông. Khi dân chúng ném đồ lễ xuống, trôi nổi rồi bị mắc vào lưới kéo lên gần hết. Theo sự phân công của Lý Tư, những thứ này đều được đưa trả về cho bà con vừa tế lễ lúc nãy.
Trong đó ông già cũng nhận lại được con lợn có buộc chỉ đỏ ở chân của mình, dân chúng tin lời nói của Lý Tư là thật…
Những lời nói trầm bổng của Trịnh Sáo chỉ đơn giản là kể lại câu chuyện nhưng điều đó khiến Lã Bất Vi và Tư Không Mã bái phục mãi.
Lã Bất Vi tán thưởng nói: “Lý Tư quả thật đã đánh thắng trận bằng một phương pháp bất ngờ”.
Lã Bất Vi vừa nói xong, vị đi cùng Trịnh Sáo nói: “Những lời nói của tướng quốc quả là không chính xác! Việc này của Lý Tư chỉ là một chút tài mọn, mới chỉ giải quyết được phần ngọn của vấn đề!”
Những lời nói hỗn xược đó làm Lã Bất Vi tức giận hỏi: “Nhà ngươi là ai?”
Trịnh Sáo vội trả lời: “Đây là anh em thúc bá của tiểu nhân, tên là Trịnh Quốc, là người nước Hàn, làm nghề thuỷ nông, có tuyệt kỹ về trị thuỷ, muốn giúp Tần quốc cải tạo về kênh mương, trị thuỷ nạn đang hoành hành. Anh ấy đã đến Hàm Dương mấy ngày nay nhưng chưa có cơ hội tiếp kiến đại nhân, nay tiểu nhân mạo muội đưa tới gặp, mong tướng quốc đại xá”.
Mấy ngày này Lã Bất Vi đang đau đầu với thuỷ nạn ở sông Kinh không biết giải quyết bằng cách nào, nay gặp được Trịnh Quốc có kỹ năng trị thuỷ này trực tiếp đến cầu kiến xin được phục vụ cho Đại Tần thì nhẹ cả lòng, vui mừng hỏi: “Chỉ cần là ngươi mong muốn phục vụ nước Tần, tướng quốc nhất định hoan nghênh thu nạp. Trịnh Quốc, ngươi hãy đến vùng sông Kinh thị sát một lượt, sau đó lập ra một kế hoạch, nếu chấp nhận được lập tức cho thi công”.
Trịnh Quốc nói: “Tiểu nhân đã đến khu vực Quan Đông xem xét kỹ rồi, muốn trị được thuỷ nạn này, phải dãn nước sông Kinh chảy sang sông Lạc, từ chỗ úng của vùng này phải đào một con kênh dài ba trăm dặm, chảy ngang qua cao nguyên Hoạt Bắc. Như vậy ở sông Kinh nước sẽ không ngập lụt nữa, mà lại có thể tưới cho cả một vùng đất hoang khiến vùng đất này lại trở thành đồng ruộng tươi tốt, đúng là đẹp cả đôi đường”.
Lã Bất Vi cảm thấy quy hoạch trị thuỷ của Trịnh Quốc mạch lạc, rõ ràng, thiết thực và hoàn toàn có thể thực hiện được. Lã Bất Vi đồng ý phê chuẩn, cấp nhân công và lương thực cho kế hoạch này, để ông ta có thể nắm chắc kế hoạch thi công. Đồng thời Lã Bất Vi hạ lệnh phong Lý Tư làm giám công cũng lập tức tiến về vùng Kinh Dương.
Mùa xuân năm 247 trước Công nguyên, sông Lạc Thuỷ lững thững chảy y hệt người con gái đang độ tuổi thanh xuân mà không muốn lấy chồng. Thời tiết đang vào tháng tư, những cây bồ kết ngoài cung Chương Đài vẫn xanh thẳm. Mỗi năm vào độ xuân này, nó lại đâm lên lộc non xanh biếc hàm ý mùa xuân về, nhưng năm nay cành lá vẫn im lìm nhưng đang độ tiết thu.
Trong cái tiết giao mùa Xuân thu ấy, vua Trang Tương ốm bệnh không dạy được. Các thầy thuốc đã dùng thuốc tốt nhất để chữa trị, nhưng bệnh tình vẫn không có gì khởi sắc. Có thái y nói, bệnh này là do phong hàn xâm nhập, độc ứ lại trong cơ thể, có thái y khác lại nói do tì vị mất cân bằng, âm tiết đều quá đà. Vào tháng năm, bệnh tình của vua trầm trọng hơn. Vua lúc lạnh lúc nóng, không ăn uống gì, cả ngày lẫn đêm đều run lẩy bẩy trong chăn.
Lã Bất Vi bận ngập đầu vào công việc triều chính, chỉ có thể vào thăm vua vào những lúc khuya khoắt. Nhìn sắc mặt đức vua đầy vẻ tử khí, Lã Bất Vi thầm tính toán việc đức vua băng hà chỉ là việc nay mai. Đối với việc này, Lã Bất Vi rất vui mừng. Vua Trang Tương mất đi thì đương nhiên Triệu Cơ và cả giang sơn xã tắc sẽ thuộc về tay ông ta, Vương phi Triệu Cơ tài sắc song toàn sẽ không phải chia cho hai người đàn ông nữa, mà sẽ chỉ còn là một mình Lã Bất Vi độc quyền. Ung Chính được lên làm vua, thì chẳng phải chính là cốt nhục của Lã Bất Vi, chẳng phải là Lã Bất Vi đang thống lĩnh thiên hạ đó sao.
Những ý nghĩ thương hại đau buồn bỗng xuất hiện trong đầu Lã Bất Vi theo những tiếng rên khó nhọc của vua Trang Tương. Dẫu sao ông ta cũng cùng vua phải trải qua những ngày tháng khó nhọc đáng nhớ khi ở Hàm Đan. Ông ta được vinh quang như ngày hôm nay chính là nhờ vinh quan của Dị Nhân. Một vị quân vương có liên hệ chặt chẽ với ông ta như vậy, một tháng trước đây vẫn còn nói cười khoẻ mạnh, uy phong lấn át cả một vùng, các đại thần vẫn phải cúi rạp trước ông ta ở cung Chương Đài nghe ông ta ban triệu ban lịch. Nay chỉ trong nháy mắt đã sắp nhắm mắt xuôi tay, cưỡi lạc vân du rồi, thật là làm người khác vô cùng thương xót.
Từ giường bệnh của vua Trang Tương trở về, Lã Bất Vi bắt đầu mưu tính đến một số việc sau khi vua chết. Bởi vì vua vẫn chưa trút hơi thở cuối cùng nên những việc này không thể tiến hành một cách trống giong cờ mở được. Tang lễ phải được tổ chức như thế nào? Ung Chính lên ngôi ra làm sao?
Kinh thành và các huyện đều phải tăng cường phòng thủ, phải đón tiếp các sứ thần của các nước chư hầu đến phúng viếng. Ông nghĩ rạch ròi mọi chuyện, rồi hạ lệnh cho Tư Không Mã, Lý Tư và các hạ thần môn khách tâm phúc, chuẩn bị sẵn mọi việc một cách lặng lẽ, âm thầm.
Sau đó Lã Bất Vi cảm thấy vẫn phải làm nốt hai việc có liên quan đến cái chết của nhà vua, nhưng hai việc này phải do đích thân Lã Bất Vi làm. Việc thứ nhất, ông ta phải mở một cửa hàng tơ lụa, phải treo biển bán hàng trước khi vua băng hà. Việc thứ hai, đưa Tử Hề về cung đích thân lo liệu việc tang cho đại vương.
Từ sau khi làm tể tướng cho vua Trang Tương, Lã Bất Vi không còn thời gian quan tâm tới việc buôn bán. Dương Tử và Triệu Khả Tín thay ông làm việc kinh doanh mặc dù cũng biết một số việc làm ăn buôn bán nhưng còn lâu mới được thành thạo, tính toán có lợi như Lã Bất Vi. Vì thế châu ngọc của ông ta tuy không mất đi nhưng cũng không làm cách nào để đầy lên được. Như vậy có lúc làm cho Lã Bất Vi cảm thấy một nguy cơ thiếu hụt về tài chính. Mặc dù bổng lộc của ông ta hưởng của triều đình không nhỏ, cũng phong ấp chục vạn hộ nhưng việc tiêu tốn của phủ tướng quốc cũng làm cho ông ta phải lo lắng. Chỉ nói đến 3000 môn khách, riêng tiền lương một năm đã là bao nhiêu rồi.
Lã Bất Vi cho người tìm Dương Tử đến, bảo ông ta lo liệu một số việc. Cái vị Dương Tử này lúc theo Lã Bất Vi ở Hàm Đan trước kia không phải là một mặt gầy guộc khắc khổ bây giờ gương mặt to béo núng nính mỡ.
Vừa nghe nói phải mở một cửa hàng tơ lụa, Dương Tử ngẩng khuôn mặt béo núc ních mỡ hỏi: “Tướng quốc, trong thành Hàm Dương đã có 12, 13 cửa hàng tơ lụa rồi, hoàn toàn có thể đáp ứng nhu cầu may mặc của người dân trong toàn thành rồi, chúng ta mở thêm chẳng khác nào thêm chân cho rắn, chắc chắn không được lợi lộc nhiều.
Lã Bất Vi không giải thích nỗi lo lắng của Dương Tử lại nói tiếp: “Người còn phải mua toàn bộ số vải xô trắng, tơ lụa trắng của các cửa hàng trong thành Hàm Dương này để đầu cơ tích trữ’.
Lã Bất Vi nói như vậy, Dương Tử lại càng rối lên, không biết giải thích như thế nào.
Lã Bất Vi hiểu được thái độ của ông ta, nói nhỏ: “Việc này ông không được nói ra, đại vương sắp băng hà rồi”.
Dương Tử kinh ngạc nói: “Mới nghe nói đại vương bị bệnh, lại nhanh đến thế sao?”
Lã Bất Vi nói tiếp: “Đại vương băng hà, cử hành quốc tang. Cả thành Hàm Dương này chỉ có một mình nhà ta có xô trắng, tơ lụa trắng, vật hiếm thì chắc trở nên quý, còn lo gì mà không kiếm được khoản tiền lớn?”
Dương Tử gật đầu nói: “Tướng quốc cao minh”.
Lã Bất Vi dặn dò: “Phải giữ mồm giữ miệng, nhất quyết không được lộ tin tức bệnh tình của đại vương ra ngoài. Tin tức chính là vàng đấy”.
Lã Bất Vi cảm thấy sự việc thứ hai còn khó khăn hơn sự việc trước.
Vua Trang Tương vừa cảm thấy thân thể mệt mỏi, Lã Bất Vi đã cho người đưa thư về Bình Ấp để Tử Hề thăm hỏi đại vương nhưng Tử Hề không chịu trở về, vẫn cứ ở lỳ tại cái thị trấn nhỏ ở Bình Ấp. Lã Bất Vi biết đối với việc mình không được lên làm thái tử trong lòng Tử Hề vẫn căm tức vua Trang Tương, oán hận Lã Bất Vi đến tận xương tuỷ. Sau khi Lã Bất Vi lên làm tướng quốc, cũng đã tự suy nghĩ về việc này, theo truyền thống của tổ tông, con trưởng vợ cả lên làm thái tử, vị trí thái tử kia đường đường chính chính là của Tử Hề. Lã Bất Vi vì mục đích của chính mình, vì ý định trước làm thương nhân sau lên làm quan, nên đã tìm mọi cách để Dị Nhân thay thế Tử Hề chính là việc bất đắc dĩ. Oan gia khó giả chứ không khó kết thúc. Kết quả là, trước khi vua Trang Tương băng hà, Tử Hề không chịu gặp phụ vương của mình một lần về tình về lý đều không thể chấp nhận được, người không rõ nội tình còn cho rằng tướng quốc chấp chính ta đây là kẻ gây sóng gió ngăn trở!
Lã Bất Vi cảm thấy rằng, muốn thúc đẩy sự việc này chắc chắn phải có một người thay ông ta đi hoà giả, người đó chính là Phạm Thư.
Xe của Lã Bất Vi đi đến cổng phủ của Phạm Thư vào lúc giữa trưa, cổng phủ đóng kín, rêu phong bám đầy bậc thềm, Lã Bất Vi bước từ trên xe xuống, dưới chân không xa là một lớp bụi dầy và lá rụng xơ xác. Điều này cho thấy cửa phủ rất ít người qua lại.
Người nô bộc của Lã Bất Vi đứng bẩm cửa hồi lâu mới thấy có tiếng đi từ phía trong ra.
Khi Lã Bất Vi vừa lên chức tướng quốc đã đến thăm hỏi, ông ta thì trong lòng lo ngay ngáy, cho rằng đó là lòng từ bi của con mèo trước khi ăn thịt chuột. Ông ta cảm thấy Lã Bất Vi thông tuệ như vậy thì việc đối phó với những người như ông và Tử Hề thì dễ như trở bàn tay. Lã Bất Vi nhận chức ngự sử, lại đến phủ thăm ông ta, chẳng qua chỉ là tiên lễ hậu binh, dùng lời hay ý đẹp để dụ nhà ngươi đứng yên một chỗ, sau đó chọn lúc thích hợp nhất sẽ đánh gọn một mẻ lưới cả ông ta vả Tử Hề, Đỗ Thương. Sau khi Lã Bất Vi đi khỏi, Phạm Thư luôn cảm thấy bất an và ra sức chờ đợi. Ông luôn cảm thấy rằng, một cảnh tượng máu chảy đầu rơi đang đợi ông ở phía trước. Ông ta cũng từng nghĩ cách rời khỏi Tần quốc, đến một nước chư hầu nào đó mà yên phận, nhưng nghĩ lại thì dự định của ông là hết sức hoang đường. Ông ta đã từng giúp vua Chiêu Tương mưu định sách lược, giết chóc khắp nơi, khiến cho các nước chư hầu rơi vào cảnh khốn nạn vô cùng. Ở đấy người ta căm thù ông đến tận xương tuỷ, bây giờ ông lại định đến đấy để kiếm bát cơm chỗ ở thì khác chi đâm đầu vào rọ? Hơn nữa, nếu Lã Bất Vi kia muốn mưu hại ông thì ông làm sao có thể đi khỏi thành Hàm Dương này?
Phạm Thư đóng chặt cửa, dấu biệt tung tích, trong lòng lúc nào cũng lo sợ chờ vận rủi giáng xuống đầu mình. Nhưng ngày qua ngày lại , thấm thoắt ba năm mà vẫn bình yên vô sự, chưa xảy ra chuyện gì. Có năm tết đến, Lã Bất Vi còn sai người đưa quà đến thăm hỏi. Những ngày gần đây, Phạm Thư mới dần tỉnh ngộ ra rằng Lã Bất Vi kia quả là người rộng rãi, không để ý đến quá khứ, đối đãi tử tế với người khác. Ông chắc chắn rằng những điều ông nghĩ là đúng nên trong lòng cũng thoải mái được đôi phần. Tử Hề cũng cho người đến qua mấy lượt, ông ta không còn sợ hãi, đóng kín cổng cao tường như trước, nhiệt tình khoản đãi sứ giả của Tử Hề sau đó bảo sứ giả mang về cho Tử Hề những vật phẩm cao cấp và những tin tức ở trong thành và của các quan mà ông biết được.
Hôm nay Lã Bất Vi lại đến, Phạm Thư không còn nghi ngờ và sợ hãi như trước. Hai người hàn huyên một lúc, Lã Bất Vi nói rõ ý định của cuộc viếng thăm lần này, nhờ Phạm Thư đến Bình Ấp mời Tử Hề về kinh thành thăm hỏi hầu hạ đại vương sắp về nơi chín suối.
Lòng tín nhiệm và nhiệt tình của Lã Bất Vi thực sự làm Phạm Thư xúc động, ông nhận lời Lã Bất Vi.
Xe của Phạm Thư chạy qua một chặng đường bụi bặm vô cùng đã đến được Bình Ấp, đúng vào buổi trưa mát mẻ. Trong vườn của công đường hoa tươi khoe sắc, chim hót líu lo. Loáng cái đã ba năm, nay hai người vốn xa cách nhau ngàn dặm được gặp lại, mừng mừng tủi tủi. Phạm Thư thấy Tử Hề vẫn mạnh khoẻ, không hề có dấu vết của sự ủ rũ, cảm thấy rất vui mừng. Tử Hề vui vẻ kể lại cuộc sống của mình ở Bình Ấp ba năm qua và cảm giác ở đây khíên cho Phạm Thư cảm thấy vô cùng mới mẻ. Tử Hề hỏi thế đại vương và Lã Bất Vi có gây khó khăn cho ông không? Phạm Thư trả lời, bọn họ ngồi trên đài cao còn lão phu chỉ sống qua ngày. Tử Hề nói vậy ta không phải lo lắng nữa rồi. Phạm Thư lại nói: “Đại vương bệnh tình trầm trọng, cũng sắp khuất núi rồi, người nên về chăm sóc và hầu hạ đại vương, cho phải nghĩa huynh đệ. Tử Hề nghe xong hừ một tiếng, gương mặt lộ rõ vẻ phẫn nộ.
Phạm Thư hiểu rõ nỗi ấm ức bị mất địa vị thái tử của Tử Hề. Nhưng ông ta nghĩ, mặc dù Dị Nhân đã tráo khướu thành vượn nhưng vẫn nên trở về, anh khoan dung một ít, em nhẫn nhục một ít, hai bên đều trung nghĩa nhún nhường thì mới là phải đạo.
Tử Hề thấy Phạm Thư dùng hết lời để khuyên bảo, gương mặt đượm vẻ già nua cằn cỗi thì vừa thấy xót xa vừa thấy kính trọng.
Tử Hề liền thay đổi ý định nói: nể mặt lão tướng quốc, ta sẽ về thành Hàm Dương xem sao. Ông ta chết rồi, cũng là gặp phải báo ứng. Ông ta còn sống thì quan hệ của ta với ông ta như nước với lửa, không bao giờ hàn gắn được.
Phạm Thư vội dùng tay run run ngăn Tử Hề lại, nhắc rằng, Đại công tử về đến kinh thành không được dùng những lời lẽ ngỗ ngược như vậy.
Vào đêm của hôm Phạm Thư đến Bình Ấp, ở Hàm Dương bầu trời cao rộng và trong xanh vô cùng, những ngôi sao hợp lại tạo nên dòng Ngân Hà sáng chói. Lúc nửa đêm, những tiếng khóc xé lòng từ cung Chương Đài được truyền đi từ khắp thôn cùng ngõ hẻm. Viên quan chuyên quản việc tang lễ trong cung đình đi khắp các ngõ ngách báo tin buồn, cái tin đó hoàn toàn không thích hợp với cái thời tiết đầu xuân ấm áp này. Văn võ bá quan cũng như các thường dân áo vải đều nhận được tin, họ đều biết được rằng vua Trang Tương đã trút hơi thở cuối cùng. Nhưng họ không thể biết được rằng, sáng sớm ngày mai mọi người sẽ mua tơ trắng, lụa trắng ở cửa hàng của Lã Bất Vi để làm quần áo tang, họ cũng không thể biết được rằng ngày mai trên đoạn đường gập ghềnh từ Bình Ấp về Hàm Dương có một cỗ xe tứ mã, trong đó một người đến phúng viếng mà vẫn đang mờ mắt vì tức giận.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5933
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Lã Bất Vi***   Sun Oct 26, 2014 2:19 pm

Hàn Diệu Kì
Lã Bất Vi
PHẦN THỨ HAI: QUYỀN MƯU
Chương 16
QUẦN THẦN GIAO TRANH
Âm thanh hùng hồn vang vọng trong mái nhà rộng lớn, âm thanh này vang vọng từ trong cung Chương Đài ra đến bên ngoài, nó cũng tác động đến nội tâm đang dao động của Doanh Chính.
Từ hôm nay, Doanh Chính chính thức kế vị ngôi vua. Đại lễ được tiến hành sau lễ tang của vua Trang Tương ít hôm. Doanh Chính được Lã Bất Vi và Triệu Cơ dẫn đến đại đường. Trên đầu nó hôm nay không phải là chuỗi ngọc đong đưa mọi hôm mà là một vành khăn tang. Văn võ đại thần đều mặc tang phục. Lễ lên ngôi của Doanh Chính vẫn được tiến hành theo nghi thức truyền thống, chỉ không có các sắc màu sặc sỡ của quần áo vàng bạc lễ chào mừng. Dưới sự chỉ huy của Lã Bất Vi, Doanh Chính thực hiện đúng các nghi thức, vái lạy trời đất. Đối lập hoàn toàn với thần thái của Doanh Chính là vẻ mặt đầy sức sống của Lã Bất Vi.
Sau khi hoàn thành các nghi thức, quan nghi trượng cao giọng ban bố thánh chỉ của Doanh Chính: Tần vương chiếu lệnh, phong cho văn tín hầu Lã Bất Vi là Trọng phụ.
Lệnh được ban ra, dưới triều các quan thi nhau bàn tán. Các đại thần đều biết rằng, Tần vương của họ vừa mới 13 tuổi, vẫn là một đứa trẻ chưa thông hiểu thế sự, đại lễ lên ngôi và chiếu lệnh của vua Tần đều do Lã Bất Vi đứng sau rèm thao túng. Nhưng họ không hiểu, Lã Bất Vi tự đội cho mình vòng nguyệt quế trọng phụ là với dụng ý gì.
Dụng ý của Lã Bất Vi rất sâu sắc, trọng phụ không phải là chức quan, cũng không phải là tước danh càng không phải là cách gọi họ hàng thân thuộc. Chữ “trọng” nghĩa là thứ hai, tức là người cha thứ hai, hay là chú cũng được. Ý của Lã Bất Vi là ám chỉ mình sinh ra Doanh Chính, đồng thời cũng thể hiện được quan hệ của ông ta và Dị Nhân – cha Doanh Chính là quan hệ đặc biệt. Đồng thời “trọng phụ” cũng là tên hiệu của Quản Trọng thời Tề Hoàn Công. Quản Trọng cũng là tướng quốc của nước Tề, tài giỏi vô cùng, giúp cho nước Tề dân giàu nước mạnh, Tề Hoàn Công trở thành một trong ngũ bái thời Xuân Thu, Tề Hoàn Công tôn trọng mọi kế sách của Quản Trọng, việc triều chính của nước Tề hoàn toàn giao cho Quản Trọng, không hề can thiệp một chút nào. Lúc ấy Quản Trọng được gọi là “trọng phụ”. Lã Bất Vi lấy tên gọi này, không những mong Doanh Chính thừa nhận ông ta là cha nó mà còn ngầm ý với văn võ bá quan, Lã Bất Vi sẽ xử lý được việc triều chính giống như Quản Trọng mà không cần Tần Vương trao quyền.
Doanh Chính đặt lại bút mực và ngọc tỷ trên ngự án, thấy đám triều thần tụ tập ở dưới đang bàn bạc thì cảm thấy rất thích thú. Nó nắm chắc tay cầm của ngự sàng đến nỗi tay cầm trở nên trơn bóng và ấm. Mẫu hậu Triệu Cơ cũng ngồi ngay bên cạnh nó, chỉ cách nó trong gang tấc. Nó nhìn chằm chằm vào gương mặt đỏ hồng của mẫu hậu như bị thôi miên, nó đã nhận ra mùi hương phát ra từ phía nào. Đó chính là gương mặt của mẫu hậu. Nó không hề biết rằng, để mẫu hậu có gương mặt đẹp như vậy thì thường xuyên phải xoa bóp bằng các loại quả nước. Đôi mày lá răm, đôi môi hồng như đá thạch lựu, đôi mắt long lanh như hồ nước xuân. Doanh Chính nhìn đi nhìn lại, cảm thấy có một gương mặt nào đó giống hệt gương mặt của mẫu hậu, nó nhớ ra rồi, đó chính là gương mặt của quả phụ Thanh. Đúng rồi, nó đã từng hứa một khi được lên ngôi vua, nó sẽ mời quả phụ Thanh tham dự vào việc triều chính. Bây giờ nó đã trở thành Tần vương, không thể nuốt lời được.
Nghĩ tới đây, Doanh Chính nhìn khắp một lượt các đại thần đang thì thầm to nhỏ ở phía dưới, nói to bằng một giọng trẻ con: “Các khanh không được huyên náo, quả nhân muốn ban chiếu lệnh”. Doanh Chính thấy giọng nói đầy uy lực của nó đã nhanh chóng có hiệu lực, cung Chương Đài bỗng nhiên trở nên yên lặng. Triệu Cơ và Lã Bất Vi đang ngổi ở hai bên nó, cũng quay mặt lại, đầy vẻ kinh ngạc.
Doanh Chính đứng dậy, đặt tay lên ngự án nói rõ ràng: “Truyền chiếu lệnh của quả nhân, cho gọi quả phụ Thanh vào triều, tham dự quốc chính”.
Lời nói của Doanh Chính giống như hắt một bát nước vào chảo mỡ đang sôi, gây phản ứng mạnh mẽ hơn cả câu lúc nãy: Tần vương chiếu lệnh, phong văn tín hầu Lã Bất Vi làm trọng phụ.
Lã Bất Vi và Triệu Cơ cũng cảm thấy kinh ngạc vô cùng. Trước đó không hề có sự sắp xếp nào để Doanh Chính công bố thánh chỉ này, hơn nữa từ thuở khai thiên lập địa, chưa có người phụ nữ nào được tham dự triều chính, luận đàm việc nước. Khổng Phụ Tử từng nói: “Tiểu nhân và đàn bà đều khó dậy!” Một khi quả phụ Thanh có thể ngang hàng với bá quan văn võ ra vào cung Chương Đài, há chẳng phải vua chẳng ra vua, tưóng chẳng ra tướng, phá bỏ kỷ cương triều chính luân thường đạo lý hay sao?
Nghĩ tới đây, Lã Bất Vi vội nói: “Thưa các bá quan văn võ, lời của đại vương vừa nói chỉ là nói đùa, không nên tin là thật”.
Doanh Chính nói với Lã Bất Vi: “Tướng quốc đấy không phải là lời nói đùa của quả nhân mà là quả nhân không muốn nuốt lời”.
Lã Bất Vi nhận thấy nếu cứ đôi co với Doanh Chính về chuyện của quả phụ Thanh thì thật là mất thể diện nên ông ta liền thay lời vua tuyên bố: “Bãi triều”
Doanh Chính bực bội trở về tẩm cung. Triệu Cao đã đứng bên cạnh, Doanh Chính hỏi: “Triệu Cao, ngươi nói xem trọng phụ nghĩa là như thế nào?”
Triệu Cao trả lời: “Khởi bẩm đại vương, trọng phụ có nghĩa là người cha thứ hai”.
Doanh Chính nghe xong nổi trận lôi đình: “Cái gì? Lã Bất Vi đó đã làm tướng quốc và thái phó cho quả nhân rồi còn chưa đủ hay sao , lại còn muốn làm cha của quả nhân. Thật là không biết trời cao đất dày!”
Triệu Cao sợ Doanh Chính tức giận, vội chữa lại: “Trọng phụ có nghĩa là cha tiên vương và tướng quốc đã từng đồng cam cộng khổ ở Hàm Đan, ngang vai với nhau. Nếu nhìn từ điềm này, tướng quốc cũng được coi là…” nói tới chỗ này, nghỉ một lát, quan sát sắc diện của Doanh Chính nói tiếp: “Tướng quốc cũng có thể coi là chú của đại vương”.
Doanh Chính hừ một tiếng nói với Triệu Cao: “Triệu Cao, nhanh chóng mài nghiên mực đợi quả nhân ban chiếu”.
Triệu Cao vâng một tiếng, vừa mài mực vừa suy nghĩ, đại vương vừa thiết triều trở về nay lại định ra chỉ gì?
Nghiên mực đã mài xong, Triệu Cao im lặng chờ đợi, Doanh Chính hứng khởi nói: “Viết, mau viết, truyền quả phụ Thanh vào thành Hàm Dương, nhập triều tham dự quốc chính!”
Bởi vì Triệu Cao đi theo Doanh Chính, lúc thiết triều ban nãy Triệu Cao đứng ngoài theo dõi hết những diễn biến trong triều, trong lòng nghĩ: “Tướng quốc chỉ cho những lời nói đó là nói đùa trẻ con, viết cũng chẳng có tác dụng gì!”
Doanh Chính thấy Triệu Cao không động bút vội hỏi: “Triệu Cao, tại sao không viết?”
Triệu Cao nói: “Lúc nãy, lúc nãy tướng quốc đã nói, đó chỉ là trò đùa trẻ con!”
Doanh Chính mắng: “Hồ đồ, chẳng nhẽ ngươi cũng đã trở thành kẻ nịnh bợ xum xoe với tướng quốc rồi sao, quả nhân bảo ngươi viết thì ngươi viết, quả nhân muốn làm việc gì thì đừng mong ai ngăn cản được!”
Triệu Cao sợ xanh mặt, cúi rạp đầu xuống chân Doanh Chính, dập đầu nói: “Tiểu nhân đáng chết, tiểu nhân đáng chết”
Doanh Chính bình tĩnh trở lại nói: “Mau đứng dậy”
Triệu Cao nhanh chóng viết xong, nhưng anh ta biết ngọc tỷ ở bên cạnh thái hậu Triệu Cơ, không có chiếu lệnh của ấn chỉ thì chẳng khác chi tờ giấy trắng. Triệu Cao thừa biết nhưng vẫn cố hỏi: “Đại vương, ngài đóng ngọc tỉ lên đi”
Chỉ là một câu nói nhưng như là dội một gáo nước lạnh vào Doanh Chính. Nó biết rõ ràng, mẫu hậu giữ ngọc tỉ không bao giờ có thể đưa cho nó để đóng dấu tên. Nghĩ tới đó, Doanh Chính ngồi im trên giường, không nói một lời.
Triệu Cao vội khuyên nhủ: “Đại vương không nên buồn bực, phải kiên nhẫn. Tục ngữ nói làm cô dâu nhiều năm rồi cũng thành vợ. Chẳng bao lâu nữa đại vương cũng sẽ được đeo kiếm giữ ấn, ngọc tỉ sẽ nằm trong tay đại vương”.
Nghe Triệu Cao nói vậy, Doanh Chính thấy nhẹ nhõm được vài phần.
Một lúc sau, có một người đàn ông trung niên, là thương nhân nước Nguỵ đến cầu kiến, nói là thuộc hạ của quả phụ Thanh. Nói rằng chủ nhân ông ta luôn luôn ghi nhớ ân đức của Chiêu Tương Vương với mình, luôn coi nước Tần là tổ quốc của mình. Bây giờ nghe nói Doanh Chính lên ngôi, vốn dĩ chủ nhân của anh ta muốn tự tay dâng lễ chúc mừng. Tiếc rằng công việc kinh doanh buôn bán bận rộn, nên chủ nhân không đến triều kiến đại vương được, nói xong dâng lễ đồ mừng lên.
Triệu Cao sợ Doanh Chính lại nghĩ ra chuyện này chuyện nọ, nhất thời hứng khởi, đưa chiếu lệnh lúc nãy cho vị thương nhân nước Nguỵ đem về, quả phụ Thanh đến thật, thì đúng là cả hai bên đều khó xử, chủ và khách đều bối rối khó mà chu toàn được.
Nghĩ vậy Triệu Cao vội bảo vị thương nhân nước Nguỵ: “Đại vương của chúng ta cũng không bao giờ quên được chủ nhân của các ngươi, nay nhờ ngươi nhắn với quả phụ Thanh, là đại nhân mời bà ta đến thành Hàm Dương, đại vương nhà chúng ta nhất định sẽ hậu đãi”.
Doanh Chính nói: “Nếu quả phụ Thanh đến, quả nhân nhất định khoản đãi”
Tiết xuân ở Hàm Dương ngày dài đêm ngắn, màn đêm thực sự buông xuống vào khoảng canh ba. Sau canh ba, hậu cung điện Chiêu Thanh tối om, như ở trong một chiếc lọ đậy kín. Triệu Cơ nằm trên giường, hai mắt mở thao láo, không hề muốn ngủ, trằn trọc không yên. Thỉnh thoảng bà ta lại căng tai ra, chú ý động tĩnh phía bên ngoài. Bà ta đã treo một dải lụa xanh ở bên ngoài khung cửa, Lã Bất Vi đi ngang qua vài lần nhất định sẽ nhìn thấy. Bà ta đã bảo hết các tì nữ trong cung ra ngoài. Trong cả tẩm cung chỉ có một mình bà ta.
Đột nhiên có ba tiếng gõ nhẹ nhưng dứt khoát lên cột nhà.
“Đến rồi” Triệu Cơ ngồi dậy, mở cửa nhỏ. Cái thân hình mà bà ta quen thuộc nhẹ nhàng đi vào trong mà không nói một lời nào.
Giữa hai người đã không còn khoảng cách.
Rất lâu sau đó, họ nói đến chuyện Doanh Chính lên ngôi hôm nay.
Triệu Cơ ấm ức nói: “Thằng nhỏ Doanh Chính này, vừa lên ngôi đã giở trò rồi, định đưa quả phụ Thanh vào triều tham gia việc triều chính thì có phải là đần độn không? Thiếp nghĩ, chàng chẳng cần phải đứng giữa sa trường mà khoa chân múa tay, cứ đoàng hoàng trực tiếp lên làm Tần vương là xong”.
Lã Bất Vi vội ngăn lại: “Như vậy không được”
Triệu Cơ trách: “Các người có phải là nam nhi đại trượng phu đội trời đạp đất ở đời không? Chỉ mới một câu nói mà đã sợ xanh cả mặt”.
Lã Bất Vi nói: “Câu nói này không phải là vừa, ta lên làm Tần vương là việc ngu ngốc, thân bại danh liệt, hại nước hại dân.”
Triệu Cơ đáp: “Đấy chỉ là người sợ đến sởn tóc gáy thôi”.
Lã Bất Vi cười nói: “Người đẹp của ta, đây quyết không phải là ta sợ đến sởn tóc gáy. Nàng thử nghĩ xem. Giang sơn xã tắc của Tần quốc là do họ Doanh truyền từ đời này sang đời khác, thiên hạ đều biết. Ta làm Tần vương, thay đổi họ vua không chỉ tổ tông tôn hầu nhà họ Doanh không thể chấp nhận được mà các nước chư hầu cũng sẽ can thiệp vào. Như vậy ta đã thành kẻ mà cả thiên hạ này chống lại ta, là kẻ loạn thần tặc tử cướp nước hại dân”.
“Ta sẽ chết mà không có chỗ chôn! Còn bây giờ con trai ta lên làm Tần vương, bề ngoài thì vẫn là giang sơn xã tắc của họ Doanh nhưng trên thực tế chẳng phải là của họ Lã sao. Cũng giống như nàng, bên ngoài thì là Vương phi của Tần vương Trang Tương, là người đàn bà goá còn trên thực tế lại là thê thiếp của tướng quốc Lã Bất Vi đó sao?”
Triệu Cơ ôm chặt Lã Bất Vi rồi nói: “Chàng đúng là thương nhân, lắm mưu nhiều chước!”
Ở bên ngoài sân cung đình, tiết trời mùa hè nóng nực. Tề là con của Di Hồng giờ đã cao ngang cái bàn, đang chơi nhảy dây dưới một gốc cây. Xem ra nó đã chơi rất lâu rồi, gương mặt đỏ như người say rượu.
Bỗng có tiếng của Di Hồng gọi: “Tề à, về ăn cơm!”
Tề không có ý định dừng tay, vẫn tiếp tục nhảy.
Di Hồng lại phải tìm đến gốc cây nói: “Tề à, về phòng ăn cơm đi!”
Tiếng của Di Hồng làm đứt đoạn mất hứng thú của Tề, nó không nhảy nữa nói: “Con đã là người lớn rồi, lúc nào cũng Tề à Tề à như gọi một con mèo con, thật là khó nghe”.
Di Hồng nghĩ ngợi một lúc vui mừng bảo: “Được, con trai ta thành người lớn rồi vậy gọi là Thành Tề nhé. Kỳ thực Thành Tề năm nay đã 14 tuổi rồi. Doanh Chính là anh cùng cha khác mẹ với nó nhưng trông chắc chắn nhanh nhẹn khoẻ mạnh, còn Tề thì gày còm ốm yếu, như thể không có cơm ăn. Sau khi vua Trang Tương chết được hai năm, Di Hồng đã dồn hết sức để chăm sóc đứa con trai độc nhất của mình, vốn dĩ có thể sai một đứa thị nữ đi gọi Tề về ăn cơm nhưng bà vẫn tự đi gọi lấy. Bà biết khi Doanh Chính lên làm Tần vương thì nó khó có thể đối xử tốt với đứa em này. Mấy hôm nay Di Hồng đang mưu tính một việc là xin phong ấp cho Thành Tề.
Trời hôm nay vô cùng nắng, trên trời không có lấy một gợn mây. Gần tối trời vẫn sáng, Di Hồng cảm thấy trong lòng vui vẻ, Thành Tề đã dùng cơm tối xong, còn bà ta đi trang điểm lại, đi xin về việc phong ấp cho con trai.
Di Hồng biết rõ, Doanh Chính bên ngoài thì là Tần vương nhưng mọi chuyện đại sự bên trong đều do tướng quốc Lã Bất Vi quyết định. Bà nghe các quan trong cung nói, mỗi lần lâm triều, Lã Bất Vi đều ngồi bên cạnh Doanh Chính. Lã Bất Vi nói “truyền chỉ” thì Doanh Chính cũng nói “truyền chỉ”; Lã Bất Vi nói “chuẩn tấu” thì Doanh Chính cũng nói “chuẩn tấu”. Lã Bất Vi tuy không phải là văn võ song toàn nhưng ông ta lại là người nắm giữ việc triều đình rất chặt chẽ. Những tướng võ thiện chiến luôn sẵn sàng bảo vệ ông ta: “Mông Ngạo Vương Tiễn, nội sử Đằng Lý Tín, còn những môn khách mà ông ta tín nhiệm cũng là những nhân tài đa mưu túc trí như Lý Tư, Tư Không Mã. Không chỉ ở nước Tần mà ở các nước chư hầu cũng biết rõ ở thành Hàm Dương này, Lã Bất Vi là người có sức mạnh thét gió gọi mây, một lời của ông ta có sức mạnh ngàn vàng”.
Di Hồng đến cầu kiến, ông ta ngồi trên chiếc ghế có nhiều hoa văn, chăm chú nghe hết những lời của bà ta, nói với bà ta rằng Thành Tề còn nhỏ chưa cai quản được ấp phong. Hơn nữa, tước vị bổng lộc mà triều đình ban cho mẹ con bà đã có thể sống dư dật rồi.
Di Hồng nói, con của bà đã lớn rồi, bây giờ được gọi là Thành Tề rồi. Mẹ con bà ấy mẹ goá con côi, cuộc sống khó khăn mong tướng quốc đại nhân giúp đỡ. Nếu được phong ấp, nhất định mẹ con bà ta sẽ cai quản tốt.
Lã Bất Vi nói những đất để phong ấp đã ban thưởng hết rồi, không còn phần nào dư nữa.
Di Hồng liền nói: “Nghe nói tướng quốc đang định thôn tính năm thành của nước Triệu, bổ sung nó vào bản đồ của Tần quốc”.
Lã Bất Vi đang định mưu tính chuyện đó, không ngờ người vợ goá của vua Trang Tương lại rõ tin tức như vậy. Lã Bất Vi nói: năm thành đó ở giữa nước Triệu và nước Yên, tình hình thay đổi, giao tranh liên tục xảy ra, các ngươi mẹ yếu con yếu có gan đi đến nơi đó không?
Di Hồng tuy là phận nữ nhi nhưng cũng không chịu thua cánh mày râu. Nghe Lã Bất Vi nói như vậy liền nói: chỉ lo rằng tướng quốc không lấy được năm thành đó về.
Nếu là người khác có những lời bất kính như vậy thì Lã Bất Vi đã cho một bài học. Nhưng tiếc rằng đây là thê thiếp của vua Trang Tương.
Di Hồng nói tiếp, nếu tướng quốc có thể lấy được năm thành trì đó về, phong ấp hết cho mẹ con bà thì mẹ con bà cũng dám nhận.
Lã Bất Vi nghĩ trong lòng, chỉ là một con tiện thiếp của Triệu Hiến Thành mà dám coi khinh người khác. Nghĩ tới đây, tức giận nói: nếu ta không lấy được năm thành trì đó về bản đồ Tần quốc, chức tướng quốc ta nhường lại cho ngươi. Lã Bất Vi nói xong cũng cảm thấy mình hơi quá lời, nhưng một lời nói ra tứ mã nan truy. Bây giờ xem ra chỉ còn một cách nghĩ ra trăm phương ngàn kế để lấy được năm thành đó về thì mới đáng mặt tướng quốc, thực hiện được lời nói của mình.
Mấy ngày nay Lã Bất Vi không ra khỏi cửa, dồn sức để suy nghĩ, sau cùng ông ta đã nghĩ ra được một cẩm nang diệu kế.
Triệu Yên là hai nước láng giềng, gần đây mới chuyển thành thù địch của nhau. Trong trận giao tranh, quân Yên đã bị thiệt hại vô số. Quân Yên bị rơi xuống nước nhiều không kể xiết chỉ còn cách cúi đầu nhục nhã xin cầu hoà. Sau này nước Yên trở thành cái bàn đạp để nước Triệu đi xâm chiếm các nước khác.
Lã Bất Vi quyết định phải ly gián quan hệ của hai nước Triệu Yên. Từ nước Yên theo hai hướng Nam và Bắc thành thế gọng kìm kẹp chặt nước Triệu.
Nước Triệu thuận theo sẽ phải giao nộp năm thành, nếu không sẽ phải giết hết quân Triệu đang chiếm cứ ở đó. Sau đó để con tiện thiếp Di Hồng biết những gì ta đã nói là làm.
Lã Bất Vi nghĩ trước nghĩ sau quyết định cử Tề Trạch là lão thần đã giúp vua Chiêu, vua Hiếu Văn, vua Trang Tương đến nước Yên làm thuyết khách.
Lần làm thuyết khách cuối cùng của Tề Trạch là vào một ngày hè nóng ẩm giữa tháng bảy. Ông được Lã Bất Vi đưa ra tận ngoài thành Hàm Dương, rồi đem theo lệnh và nô dịch của Lã Bất Vi, đi về phía Bắc, đến kinh đô nước Yên. Qua cửa sổ của xe, ông nhìn thấy bầu trời xanh ngăn ngắt, trong xe thì nóng nực vô cùng, ai nấy đều đẫm mồ hôi. Trong thời tiết như vậy, cuối cùng hai chiếc xe chở Tề Trạch và nô dịch cũng đến được kinh đô nước Yên.
Vua Yên thấy Lã Bất Vi cử sứ thần đến nước Yên thì không rõ lý do gì nhưng cũng vui vẻ tiếp đón, mở tiệc tẩy trần khoản đãi.
Sau khi xem thư của Lã Bất Vi, vua Yên đã rõ ý đồ của chuyến đi này.
Thấy dáng vẻ suy tư chần chừ của vua Yên, Tế Trạch nói đại vương Văn tín hầu của Tần quốc cử ta ngàn dặm xa xôi tới đây, thực chất là giúp cho nước Yên. Quý quốc và Triệu quốc đều là những quốc gia ngang nhau, tại sao phải chịu nhục cho nước Triệu đè đầu cưỡi cổ, chỉ huy việc. Ta nghe nói trước kia nước Triệu đã giết không biết bao nhiêu binh sĩ nước Yên. Quý quốc không báo thù lại còn nhận giặc làm cha, lại liên kết với nước Triệu, lúc thì đánh Tần, lúc thì tấn công nước Sở. Kết quả là các thành trì ấy đều thuộc về nước Triệu. Quý quốc thì chỉ hao binh tổn tướng, gây thù chuốc oán với các nước chư hầu. Tôi không hiểu nổi đại vương phải làm thế là vì cái gì?
Gương mặt của vua Yên lúc trắng lúc đỏ xấu hổ nói: Không phải là đại nhân can tâm tình nguyện làm trâu làm ngựa cho nước Triệu mà là do nước Yên thế đơn độc, quân lại mỏng, chống lại nước Triệu thì cũng như trứng chống lại đá. Tình thế như vậy e không thể không cúi đầu. Nếu có người giúp đỡ quả nhân, nước Yên sẽ phải quyết chiến với quân Triệu.
Nhân cơ hội đó, Tế Trạch nói: “Đại vương, nếu ngài muốn đi ngủ thì tôi sẽ chuẩn bị gối cho ngài.Văn tín hầu lần này cử tôi đến là muốn giúp đại vương giải mối hận này. Tần Yên hợp binh đánh lại nước Triệu, cướp lại địa bàn ở phần sông của nước Triệu, lợi ích cả hai bên cùng hưởng”.
Vua Yên sợ nước Tần nuốt lời nên vẫn im lặng, Tế Trạch biết được suy nghĩ của ông ta nói: “Đại vương lo Tần quốc chúng tôi nói không giữ lời đúng không? Đại vương à, Tần quốc chúng tôi từ đại vương đến dân thường nói lời đều giữ lấy lời. Nếu đại vương vẫn không tin, chúng tôi sẽ cử một vị đại tướng đến nước Yên làm con tin”.
Vua Yên chỉ chờ câu nói này của Tế Trạch, vội trả lời: “Được, được. Vậy cử ai tới?”
Tế Trạch nói: “Xin đại vương lựa chọn!”
Vua Yên như thể đã chuẩn bị trước từ lâu buột miệng nói ngay: “Trương Đừơng”
Trương Đường là phó tướng của Mông Ngao, anh dũng thiện chiến, đã cùng vua Chiêu Tương Vương chinh chiến bao lần, vào sinh ra tử, công tích dày như núi, uy hiếp các nước chư hầu. Vua Yên nghĩ rằng, để Tương Đường đến nước Yên, uy danh của ông ta sẽ làm các nước chư hầu khiếp sợ, còn Tần quốc vì sợ mất một vị tướng tài mà không dám nuốt lời. Đó là việc có lợi thế cả đôi đường.
Tế Trạch đáp ứng lời yêu cầu của vua Yên nhưng cũng đề nghị nước Yên cử một người đến Tần quốc làm con tin. Để biểu thị tấm chân tình của mình, vua Yên đã cử ngay thái tử Đan đến nước Tần.
Tế Trạch vội cử một thụôc hạ tâm phúc về thành Hàm Dương mời Lã Bất Vi và Trương Đường đến nước Yên. Từ sau khi Tế Trạch đi Lã Bất Vi thấp thỏm không yên, nay nhận được tin báo vội cử Tư Không Mã đến phủ của lão tướng Trương Đường mời vị lão tướng này đến nước Yên.
Tư Không Mã đi rồi, Lã Bất Vi nghĩ chỉ cần Trương Đường đến nước Yên thì năm thành trì kia nếu quân Triệu không giao cho nước Tần thì nước Tần cũng cướp lấy. Đến lúc đó, không những bản đồ của Tần quốc được mở rộng mà Di Hồng cũng phải thấy rằng Lã Bất Vi là bậc đại trượng phu, nói lời chắc như đinh đóng cột.
Tư Không Mã nhanh chóng trở về, nhìn thấy khuôn mặt dài thuỗn cùng vẻ thất thần của ông ta Lã Bất Vi cũng đoán được sự việc không được như ý muốn. Tư Không Mã nói với Lã Bất Vi Trương Đường không thể phụng mệnh.
Từ lúc Lã Bất Vi lên làm tướng quốc chưa gặp phải sự chống đối nào, ông ta không hề nghĩ rằng Trương Đường dám chống lại ông ta.
Lã Bất Vi hỏi Tư Không Mã: “Hà cớ gì mà Trương Đường không muốn đi?”
Tư Không Mã trả lời: “Trương Đường nói ông ta đã nhiều lần dẫn quân đi đánh nước Triệu, quân sĩ nước Triệu căm hận ông ta đến tận xương tuỷ. Vua Triệu đã từng ban thưởng cho ai lấy được đầu ông ta. Đường từ thành Hàm Dương đến kinh đô nước Yên gần với nước Triệu. Trương Đường sợ trên đường sẽ bị hành thích, khó bảo toàn tính mạng.”
Lã Bất Vi nghe xong tức giận vô cùng, nói: “Lấy đâu ra cái lý ấy, ở một quốc gia quan văn không tham của, quan võ không tham sống thì mới ổn định được thiên hạ. Trương Đường là đại tướng của Tần quốc lại ham sống sợ chết, gan nhỏ như gan chuột! Ngươi hãy đến phủ của ông ta một lần nữa nói, đại vương có lệnh nếu ông ta kháng lệnh sẽ bãi quan, bãi chức đuổi về quê làm dân thường”.
Tư Không Mã đi rồi, Lã Bất Vi đứng ngồi không yên, trong lòng như có lửa đốt. Mấy môn khách nhìn thấy Lã Bất Vi nghiến răng nghiến lợi, đầu tóc dựng ngược như râu mèo.
Lã Bất Vi không phải đợi lâu, Tư Không Mã rầu rầu trở về nói: Trương Đường vẫn kiến quyết nói một câu. Ông ta không thể đi. Ông ta tuổi cao rồi, không màng đến danh lợi bổng lộc, trở thành thứ dân lại càng thanh thản.
Lã Bất Vi bình tĩnh lại nghĩ, đúng là không thể bãi quan bãi chức của Trương Đường. Nếu như vậy, một là Lã Bất Vi bất tài, chỉ một mình Trương Đường mà không làm gì nổi. Hai là, những lão tướng trong triều sẽ thay ông ta bất bình như vậy sẽ tạo ra một tình thế cưỡi lên lưng hổ rồi khó xuống. Còn cách gì nữa đây? Lã Bất Vi hạ lệnh cho các môn khách và tôi tớ lui ra rồi bản thân lại vắt óc tìm ra kế hay.
Lã Bất Vi vừa ra lệnh, đám môn khách và tôi tớ tự nhiên lác đác lui ra tựa như lá thu rụng.
Lã Bất Vi dường như đang niệm kinh ngồi im trên sạp suy nghĩ. Bỗng nhiên Lã Bất Vi mở to mắt và bị giật mình bởi một tay môn khách đang đứng khoanh tay cạnh cửa. Lã Bất Vi cho rằng mình bị hoa mắt chính bởi vì hồi nãy ông đã kêu đám môn khách và tôi tớ lui ra, kẻ nào lại dám không nghe lệnh, vẫn đứng trơ trơ ở đây.
Lã Bất Vi định thần lại nhìn thì quả nhiên có một người đang đứng ở đó. Vì khoảng cách hơi xa nên Lã Bất Vi không nhìn rõ mặt mũi người đó thì liền trách mắng: “Ta bảo các người lui ra, mi điếc à?”
“Quân vương đang chưa biết làm thế nào về chuyện tướng quân Trương Đường, làm sao tôi có thể dửng dưng mà lui ra được?” Tay môn khách đang nói độ hăm hai, hăm ba tuổi xem ra cũng không kém phần khéo léo và nho nhã.
Lã Bất Vi nhìn cử chỉ và lời nói của người đó thì nhận ra đó chính là tiểu môn khách Cam La ở trong phủ của mình. Cam La là cháu của lão tướng quốc Cam Mậu, sau khi cha chết, đến đời Cam La thì gia sản cũng đã suy yếu. Qua tiến cử của Thái Trạch, Cam La mới đến phủ làm một chức quan nhỏ gọi là “tiểu thứ tử” - một chức vị không ra ngô ra khoai xen lẫn với đám môn khách. Lã Bất Vi không ấn tượng với người này lắm mà chỉ biết rằng ngoài việc Cam La ê a đọc sách ra, nếu không nghịch ngợm cùng đám trẻ con thì cũng trèo cây chọc tổ chim hái quả bồ kết.
Trẻ con nói chuyện người lớn, Lã Bất Vi lấy làm thích thú thì bình tĩnh nói: “Tiểu Cam La, ta đang nghĩ cách, ngươi mau ra ngoài chơi đi”.
Cam La khoác lác không ngượng mà rằng: “Tướng quốc đang nghĩ chuyện gì chứ? Chẳng phải là việc để tướng quân Trương Đường đi sứ nước Yên hay sao? Chỉ là một việc nhỏ chẳng đáng kể gì lại khiến ngài khó xử thế sao? Ngài xem, anh cả Tư Không của tôi chỉ là đồ giá áo túi cơm thôi. Đi đến mấy bận mà chẳng được việc gì. Nếu là tôi đi thì lão tướng quân Trương Đường nhất định đi sứ nước Yên thôi”.
Lã Bất Vi ôm bụng cười mà rằng: “Tiểu Cam La, nhà ngươi nói mạnh như vậy không sợ gió to cướp đi cái lưỡi của mi à. Chuyện người lớn bọn ta còn chưa làm được huống hồ là một đứa nhãi con như nhà ngươi!”
Cam La không chịu nói: “Tướng quốc, ngài không nên nhìn người trong khe cửa mà nhìn sai người. Chắc ngài đã từng nghe chuyện Hạng Thác lúc bảy tuổi đã làm thầy của đại thánh nhân Khổng Khâu, còn tôi thì đã 22 tuổi rồi. Làm sao ngài biết là tôi không thể khuyên tướng quân Trương Đường đi sứ nước Yên?”
Lã Bất Vi cảm thấy tranh cãi với một đứa trẻ ranh thì thật vô ích liền thủng thẳng nói: “Nếu thế thì nhà ngươi hãy đến phủ của Trương Đường xem”
Cam La hỏi: “Nếu tôi làm được việc đó thì tướng quốc thưởng gì nào?”
Lã Bất Vi không ngần ngừ nói: “Phong ngươi làm thượng khanh”
Cam La nghe xong thì mặt mày rạng rỡ hẳn lên

Cam La nhớ rằng khi mình còn rất nhỏ đã từng gặp Trương Đường một lần. Ấn tượng cũng đã mờ nhạt như giấc mộng xa xôi vậy. Trong tưởng tượng của Cam La, lão tướng quân Trương Đường đã qua đi cái năm tháng “tai sóng” rồi. Một đời trên yên ngựa rong ruổi giữa chốn sa trường, yên thân đã làm cho Trương Đường nghiên ngả, chòng chành thành một thân già lụ khụ rồi. Nhưng khi gặp tướng quân Trương Đường, Cam La vô cùng kinh ngạc bởi thân thể tráng kiện của ông. Tướng quân Trương Đường lưng không cong, vai không gù, đang ngồi trong phòng khách tiếp chuyện Cam La.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5933
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Lã Bất Vi***   Mon Oct 27, 2014 2:02 pm

Trương Đường nói: “Bạch Câu quá khích, lâm mục thành âm, thoáng một cái tiểu Cam La sắp trở thành người lớn rồi. Không biết bây giờ ngươi định chơi ngón nghề gì đây?”
Cam La nói đầy vẻ nghiêm túc: “Tôi đâu được thanh thản như lão tướng quân. Một việc quan trọng sinh tử đang giày xé lòng tôi khiến tôi ăn không ngon, ngủ chẳng yên”
Trương Đường cười sảng khoái mà rằng: “Nhãi ranh như ngươi có việc gì to tát mà liên hệ đến việc sinh tử cơ chứ?”
Cam La vẫn nói với vẻ nghiêm túc: “Lời lão tướng quân nói rất đúng. Khi tôi còn rất nhỏ thì đã làm môn khách dưới trướng Lã tướng quốc rồi, hết thảy đều được hầu hạ, cơm bưng nước rót, không chút bận tâm, không chút lo lắng thì đương nhiên không có việc gì to tát can hệ đến sinh tử rồi. Mà tôi chỉ thấy buồn lo không yên về tai hoạ sắp giáng xuống đầu lão tướng quân đó thôi.”
Trương Đường không lấy làm ngạc nhiên mà rằng: “Nhãi ranh, muốn thứ gì ở lão phu cứ việc nói rõ, đừng có khoa trương thanh thế hòng hù doạ lão phu”
Cam La nghiêm mặt hỏi: “Lão tướng quân, công lao của ngài so với Vũ An quân Bạch Khởi thì công lao của ai lớn hơn?”
Trương Đường chịu nhận lép vế mà rằng: “Vũ An quân Bạch Khởi thống soái ngàn vạn binh mã, đánh đâu thắng đó. Nói là Bạch Khởi lập nên một nửa giang sơn quả là chẳng phải khoa trương. Cho dù Bạch Khởi đã bị Ứng hầu Phạm Thư xử tội chết đã nhiều năm nay nhưng người nước Tần đều biết công lao của Bạch Khởi. Lão phu đâu dám đánh giá công lao trước mặt Bạch Khởi chứ”.
Cam La biết rõ nhưng vẫn hỏi: “Lão tướng quân biết rằng công lao của mình không bằng Bạch Khởi chứ?”
Trương Đường thẳng thắn: “Đương nhiên là biết”
Cam La nói tiếp: “Thế tôi xin hỏi thêm lão tướng quân, Ưng hầu Phạm Thư so với Văn tín hầu Lã Bất Vi ai là người có quyền cao quýêt đoán hơn?”
Trương Đường suy nghĩ giây lát mà rằng: “Không phải nhà ngươi làm môn khách trong Lã phủ, lão phu cũng phải nói thật lòng. Ưng hầu Phạm Thư đâu có thể bì bằng Văn tín hầu Lã Bất Vi chứ”
Cam La nhấn mạnh ngữ khí hỏi vặn lại: “Lão tướng quân vẫn biết rõ quyền hành của Lã Bất Vi là rất lớn chứ?”
Trương Đường vẫn đáp lại là: “Đương nhiên biểt rõ”.
Giọng Cam La cũng đanh sắc mà rằng: “Điều gì lão tướng quân cũng đều đã rõ thì sao bây giờ lại hồ đồ đến bước chẳng còn thuốc gì cứu vãn nổi? Giống như năm nào, Ưng hầu Phạm Thư lệnh cho An Vũ quân Bạch Khởi đem quân đánh nước Triệu, Bạch Khởi cậy công kiêu ngạo bỏ lời Phạm Thư ngoài tai không chịu xuất quân mà làm theo cách của mình bất chấp mọi người vẫn cứ ở lại thành Hàm Dương. Kết quả ra sao? Bạch Khởi bị đuổi khỏi quốc đô, sau đó Phạm Thư lại sai người giết chết Bạch Khởi. Một đời danh tướng lại nát thây nơi tây thành Hàm Dương! Giờ đây Văn tín hầu Lã Bất Vi đã mấy lần sai người mời ngài đi sứ nước Yên, ngài lại cự tuyệt không tuân mệnh, không biết giờ đây lão tướng quân xuống hoàng tuyền ở chốn nào đây?”
Lời Cam La nói khiến Trương Đường bừng tỉnh giấc mộng, Trương Đường thở dài và hỏi Cam La: “Há Văn tín hầu Lã Bất Vi sai ngươi đến đây sao?”
Cam La nói: “Văn tín hầu Lã Bất Vi hành sự thi lệnh chỉ có một hai bận chứ đâu có năm lần bảy lượt được.Tôi chả là không nỡ thấy lão tướng quân lại dẫm vào vết bánh xe đổ của Bạch Khởi nên mới đến đây nói vậy thôi”.
Những lời Cam La nói khiến Trương Đường sợ hãi tái nhợt mặt mày.
Trương Đường ngồi trên sạp mà như đang ngồi trên thảm gai thì liền rướn người thi lễ Cam La mà rằng: “Tiểu thứ tử, nhà ngươi hãy cứu giúp lão phu phen này”.
Cam La nhẹ nhàng nói: “Lão tướng quân, ngài không nên hoang mang quá. Ngài hãy đến chỗ Văn tín hầu cúi đầu nhận tội và đồng ý đi sứ nước Yên là có thể biến dữ thành lành rồi”.
Trương Đường mời Cam La ngắm cảnh thưởng hoa, vui chơi thoả thích trong phủ của mình rồi ông phanh ngực lộ cánh tự mang roi đi thẳng đến phủ tướng quốc.
Lã Bất Vi thấy tướng quân Trương Đường cúi đầu nhận tội thì vội đỡ ông dậy và hỏi: “Lão tướng quân, sao lại đổi ý muốn đi sứ Yên quốc?”
Trương Đường nói vẻ ngượng ngùng: “Tục ngữ có câu Hữu chi bất tại niên cao, vô chí không hoạt bách tuế! Chính lời tiểu thứ tử của tướng quốc nói làm tôi hiểu ra điều đó.
Lã Bất Vi không tin lắm, hỏi rằng: “Một đứa trẻ ranh miệng còn hơi sữa đi khua môi múa mép lại có thể làm lão tướng quân động lòng ư?”
Trương Đường nói: “Lời tiểu thứ tử thấu tình đạt lý khiến tôi phải tâm phục khẩu phục”.
Điều đó khiến Lã Bất Vi thực sự bất ngờ. Tư Không Mã mấy lần mang chiếu của tướng quốc đến gặp nhưng Trương Đường không đả động. Mấy lời của tiểu Cam La lại khiến Trương Đường thay đổi đến nỗi tối tăm trời đất. Xem ra vị tiểu thứ tử đây tài hoa có phần khác người đấy. Chính ta cũng không phát hiện ra mà chỉ có hắn là thứ tầm thường vô dụng thật là có mắt như không.
Lã Bất Vi đang thầm trách mình thì Trương Đường hỏi: “Tướng quốc đại nhân khi nào tôi lên đường đi Yên quốc?”
Lã Bất Vi nói: “Đương nhiên là nên đi sớm không nên muộn rồi”.
Trương Đường vừa đi không được bao lâu thì Cam La cũng mừng rỡ quay về. Cam La nói với Lã Bất Vi rằng: “Tướng quốc đại nhân, hôm nào mời đại nhân ban chiếu phong thần làm thượng khanh nhé”.
Thế là Lã Bất Vi có phần phân vân khó xử. Không phong cho Cam La làm thượng khanh ư? Chính ta đã hứa rằng nếu Cam La thuyết phục được Trương Đường đi sứ Yên quốc thì sẽ phong làm thượng khanh. Đường đường là tướng quốc của một nước làm sao có thể nuốt lời được? Phong cho Cam La làm thượng khanh ư? Chỉ có mỗi việc thuyết phục Trương Đường đi sứ nước Yên e rằng công lao hơi ít, không đủ để ban chức thượng khanh. Biết làm sao đây…
Cam La thấy Lã Bất Vi lặng yên không nói thì liền nói: “Tướng quốc đại nhân, ngài không cần phải khó xử như vậy đâu. Ngài cứ phong tôi làm thượng khanh đi, tôi làm chơi mấy hôm rồi trả lại ngài thôi”.
Lã Bất Vi thấy Cam La khéo léo đáng yêu, lại có thể thuyết phục được Trương Đường đi sứ nước Yên thì chứng tỏ rằng năng lực phân tích giải quyết vấn đề của Cam La không phải là hạng thường. Bản thân mình là tướng quốc và là chủ nhân thì phải nên khen thưởng, đề bạt, tạo cơ hội cho Cam La lập công dựng nghiệp.
Nghĩ đến đó, Lã Bất Vi liền hoà nhã thân thiện nói với Cam La rằng: “Chức thượng khanh không đơn thuần chỉ tốn mấy thứ nước bọt là lấy được. Thế này vậy, ngươi hãy giúp ta lấy năm thành trì Hà Gian của nước Triệu, khi đó ta sẽ phong cho ngươi làm thượng khanh”.
Cam La làm bộ người lớn nói: “Thần xin nghe sai khiến của quân hầu”.
Lã Bất Vi nói: “ngày mai ngươi hãy đến đây, ta sẽ có kế truyền đạt cho nhà ngươi”.
Cam La sảng khoái vui vẻ nhận lời rồi quay trở về chỗ ăn chỗ ở của các môn khách. Lã Bất Vi nhìn cái bóng vui mừng nhảy nhót của Cam La mà than rằng: “Thật là trẻ con!”
Trong mắt Trương Đường thì hết thảy mọi người trong phủ từ thê thiếp đến tôi tớ đều nhìn ông bằng con mắt buồn đau và lo lắng. Trương Đường biết những người này đều vã mồ hôi về việc ông đi sứ nước Yên. Uyển Cơ vợ ông thì khóc cả ngày, mặt mày ủ ê. Trương Đường cũng biết chuyến đi này lành ít dữ nhiều. Nhưng nếu không đi thì việc Lã Bất Vi trong tay một đống quyền hành sẽ khiến ông phải chết dễ dàng giống như giẫm chết một con kiến vậy. Còn nếu làm thành chuyến đi sứ Yên quốc này thì không chỉ có thể biến nguy thành hoà mà còn có thể được thăng quan tiến chức.
Trong phủ, không khí tang thương u uất vẫn ngày một nặng nề. Trong khi Trương Đường đang tỉ mỉ căn dặn Uyển Cơ thì tiền xe binh mã cũng đã chuẩn bị xong một cách nhanh chóng.
Buổi sáng hôm lên đường, trời bắt đầu mưa rả rích. Gió thu ào ào thỉnh thoảng lại tốc rèm mưa lên. Trong không khí thấm đượm sự u ám mịt mù khiến người ta cảm thấy xơ xác tiêu điều. Trương Đường không nỡ nhìn đám tôi tớ con cháu và Uyển Cơ nước mắt đầy mặt xen lẫn nước mưa đang đứng cạnh cửa, ông giật lấy chiếc roi từ người điều khiển và vụt thật mạnh vào mông con ngựa một cái, chiếc xe lắc mạnh và lao đi trong mưa. Khi gần đến cổng thành thì thấy tiếng trống phách dập dồn vọng lại đến đinh tai nhức óc. Trương Đường vén rèm xe bị mưa làm ướt lên thì thấy lố nhố những đầu đội mũ vẫn còn ánh lên vệt nước ở một chỗ sáng sủa không xa về phía trước, thương kích cờ quạt thì dày đặc tựa như cây khô không lá.
Đội xe của Trương Đường còn chưa đi đựơc bao xa thì bị chặn lại. Trương Đường liền sai người đi thăm dò thì liền biết ngay đội quân ấy là do Cam La chỉ huy đến tiễn biệt, ông vừa bực vừa buồn cười. Thật là trẻ con, muốn làm gì là làm. Cam La huy động nhiều người tham gia nghi thức này khiến ầm ĩ cả thành. Trương Đường vốn chọn một ngày mưa gió như vậy để lên đường là vì không muốn cho ai biết để tránh cho nước Triệu biết trước được tin này.
Một lát sau, Cam La liền đến cạnh xe của Trương Đường nói với ông rằng: “Trên đường đi lão tướng quân phải nổi trống giong cờ để tuyên truyền cho hết thảy lớn bé già trẻ được biết. Nhưng hãy đi chầm chậm. Khi đến gần biên giới của nước Triệu thì lão tướng quân hãy dừng chân đón nghe tin tức của tôi”.
Trương Đường không còn dám khinh thường Cam La nữa, ông vội hỏi: “Tiểu thứ tử, nhà ngươi lại có cẩm nang diệu kế gì chăng?”
Cam La nói: “Tôi làm theo kế của Văn tín hầu Lã Bất Vi đại nhân đó, lão tướng quân không nên hỏi nhiều. Tôi đi trước đến Hàm Đan đây”. Nói rồi, Cam La không để Trương Đường kịp hỏi han thêm gì bèn trèo lên xe của mình và khuất dần trong mưa gió mịt mù.
Mấy hôm sau đã bắn ra một tin mới trong thành Hàm Đan là: Tần quốc phái một đứa trẻ 22 tuổi đi sứ Triệu quốc.
Hiếu Thành vương nước Triệu lúc ấy đã qua đời, con trai Hiếu Thành vương là Triệu Uyển lên kế vị lấy hiệu là Điếu Tương Vương. Điếu Tương Vương biết Cam Mậu – cha của Cam La đã từng làm tới chức tả thừa tướng dưới thời của Tần Võ Vương và cũng là môn khách dưới trướng Lã Bất Vi thì không dám chậm trễ làm lễ trọng thể nghinh tiếp Cam La ở Tùng Đài.
Xưa nay Cam La chưa từng thấy trường hợp nào phô trương náo nhiệt như thế. Cam La và Điếu Tướng Vương cùng ngồi dưới triều. Cam La chỉ thấy hai bên triều, bá quan văn võ đều đứng như rừng mọc, thương kích dàn thành trận thì trong lòng không khỏi hồi hộp. Cam La nhớ đến lời Lã Bất Vi đã nhắc nhở; nhà ngươi hãy tỏ rõ phong độ của sứ thần một nước lớn và hãy lấy phong thái ngồi cao nhìn xuống mà nói chuyện với Triệu vương. Đã có trăm ngàn đạo quân hùng mạnh của Tần quốc hậu thuẫn cho ngươi rồi. Điếu Tương Vương sẽ không dám đụng đến một sợi lông của nhà ngươi đâu.
Nghĩ đến đây, Cam La liền trấn tĩnh lại hỏi: “Đại vương, ngài có nghe chuyện thái tử Đan nước Yên đi sứ Tần quốc chúng tôi không?”
Điếu Tương Vương gật đầu nói: “Có nghe nói”
Cam La lại hỏi: “Tần quốc chúng tôi cũng phái lão tướng Trương Đường đi sứ Yên quốc, đã lên đường đi từ lâu. Việc đó đại vương có biết không?”
Điếu Tương Vương nói: “Có biết!”
Cam La nói tiếp: “Thái tử Đan đi sứ Tần quốc biểu thị sự hoà hảo giữa Tần quốc và Yên quốc; Trương Đường đi sứ Yên quốc biểu thị sự hoà hảo giữa Yên quốc và Tần quốc. Yên Tần liên minh, Triệu quốc ở giữa Yên quốc và Tần quốc e rằng sẽ nguy khốn đó.”
Điếu Tương Vương không hiểu bèn hỏi: “Yên Tần liên minh thì làm sao Triệu quốc chúng tôi lại nguy hiểm chứ”
Cam La nói ngay: “Thưa điện hạ, thế ngay cả việc Tần Yên liên quân tấn công Triệu quốc ngài cũng không nhận ra ư?”
Điếu Tương Vương lòng nặng trĩu sợ hãi hỏi: “Chúng tôi đâu có đắc tội với Tần quốc, tại sao Tần quốc lại liên minh với Yên quốc tấn công chúng tôi chứ?”
Cam La nói: “Bệ hạ nói rất phải. Nguyên nhân Tần quốc đánh Triệu quốc là do Văn tín hầu Lã Bất Vi muốn có năm thành trì ở Hà Gian của Triệu quốc đó”.
Điếu Tương Vương biết rằng, Triệu quốc không thể chống đỡ được liên minh Tần Yên mạnh như con thú dữ và dòng thác lũ thì ngồi đỡ đầu trên ngai vàng.
Cam La thừa thế nói: “Bệ hạ, ngài không nên lo lắng về chuyện này. Tôi có một kế giải nguy giúp ngài”.
Điếu Tương Vương vội vàng nói: “Nói mau đi!”
“Theo ý tôi, chi bằng bệ hạ cứ dâng năm toà thành trì ở Hà Gian cho Văn tín hầu Lã Bất Vi làm phong ấp của ông ấy. Sau đó ngài hãy đề nghị Lã Bất Vi cắt đứt liên minh với Yên quốc. Một khi Yên quốc mất đi cánh tay phải hỗ trợ đắc lực là Tần quốc thì ngài có thể tấn công Yên quốc được rồi. Tôi thấy Yên quốc nhỏ bé nhất định sẽ không chịu nổi một đòn đâu. Bệ hạ có được đâu phải chỉ có năm toà thành trì”. Cam La nói một cách xúc tích.
Đíêu Tương Vương đổi buồn thành vui, vỗ tay khen hay: “Xin sứ thần Cam La chuyển lời cho Văn tín hầu Lã Bất Vi rằng quả nhân tình nguyện dâng năm thành trì ở Hà Gian”.
Cam La hỏi: “Chỉ nói suông vậy thì lấy gì làm bằng chứng?” Điếu Tương Vương liền sai người mang bản đồ của năm toà thành trì Hà Gian đến, đóng lên ngọc tỉ và giao cho Cam La.
Cam La như vớ được vàng, giấu ngay bản đồ và rời khỏi Hàm Đan. Khi đến giáp ranh giữa Tần và Triệu thì Cam La thấy Trương Đường cắm trại đợi tin. Khi Cam La kể xong quá trình giành được năm toà thành trì ở Hà Gian thì lão Trương Đường mừng rơi nước mắt không ngớt lời ngợi khen Cam La rằng: “Tiểu thứ tử thật đúng là thần đồng!”
Cam La xua tay mà rằng: “Việc này đều do Văn tín hầu Lã Bất Vi đã đoán trước được sự việc như thần vậy. Tôi chẳng qua chỉ làm theo kế đó thôi. Chúng ta mau trở về thành Hàm Dương để tướng quốc nhận được tin vui mừng sớm.
Sông Kinh Hà trước mắt đã thay đổi bộ mặt cũ. Khắp chốn mọi nơi trên bờ sông đều chất đầy gỗ đá. Còn như con đường ở giữa thì lại ngoằn nghèo chật chội như ruột rắn. Dân phu đông như kiến, mồ hôi họ ướt đầm như mưa đang đào kênh khắp kinh thành. Con sông vốn ngoằn nghèo không ra thể thống trước đây giờ đã được gọt cho thẳng. Con kênh rộng rãi thẳng tắp đã dần hiện ra mô hình của nó.
Xe của Lã Bất Vi đến bên bờ sông Kinh Hà, trời đã về trưa. Đá và ngô được chuyển đến đây không ngớt nhưng đã bị hao đi một lượng vật tư lớn. Cũng không biết bị Trịnh Quốc đảm nhiệm công trình thuỷ lợi từ nước Hàn tới sửa kênh rạch thành thứ quỷ quái gì rồi. Tay môn khách Trịnh Thược thường hay ba hoa chích choè về tay thân thích họ hàng này, Lã Bất Vi phải đích thân đến xem sự thể ra sao. Hơn nữa, tiến độ biên soạn bộ “Lã thị xuân thu” do các môn khách biên soạn cũng bị trì trệ, nội dung thể loại cũng bị lộn xộn rối tung cả lên.
Lã Bất Vi thấy tiến độ công trình đào kênh khơi rạch rõ ràng thì rất lấy làm vui vẻ, cho người đi tìm Trịnh Quốc và Lý Tư đến. Gò má của Trịnh Quốc và Lý Tư đều bị nắng làm cho cháy đỏ, vừa nhìn thì đã biết họ luôn làm tiên phong. Lã Bất Vi cùng Trịnh Quốc và Lý Tư ngồi xuống. Lã Bất Vi lắng nghe vị giám sát công trình thuỷ lợi từ Hàn quốc đến tường thuật kế hoạch xây dựng quy mô và tiến độ thi công thì gật đầu khen ngợi không ngớt. Cuối cùng Trịnh Quốc nói: “Con kênh này có lợi trước mắt, nó là tiếng vang để lại cho đời sau, là cái kế hàng năm, lấy chất lượng làm hàng đầu. Xin tướng quốc đại nhân hãy tăng thêm việc chuyển đá và số lượng dân phu để tăng tiến độ thi công. Lã Bất Vi lần lượt đồng ý rồi căn dặn Lý Tư và Trịnh Quốc phải về Hàm Dương để tham gia biên soạn “Lã thị xuân thu”. Trịnh Quốc lưu luyến nói, Lý xá nhân đây là vị anh tài trị quốc, lao động không phân biệt chủ tớ nhọc nhằn, quản lý mọi việc đều rất rõ ràng mạch lạc.
Lã Bất Vi ven theo bờ sông quan sát một lượt rồi cùng Lý Tư ngồi cùng một xe trở về Hàm Dương. Ở trên xe, Lã Bất Vi lại hỏi Lý Tư về tình hình đào kênh khơi rạch, Lý Tư đều trả lời rõ ràng đâu vào đấy cả. Đợi Lã Bất Vi nói ấn tượng về Trịnh Quốc của mình xong, Lý Tư muốn nói lại những băn khoăn lo lắng. Lã Bất Vi liền nói: “Lý xá nhân, đây là chúng ta đang nói chuyện tầm phào chứ không phải đang đọc văn Tân cho đại vương nghe nên không cần phải cắt gọt câu chữ, cân nhắc nhiều bề”. Lúc đó Lý Tư mới nói: Trịnh Quốc đúng là am hiểu kỹ thuật đào kênh khơi rạch, chỉ có điều kế hoạch thiếu kiện toàn nên vật liệu lãng phí hơi nhiều.
Lã Bất Vi ra chiều suy nghĩ mà rằng: À ra vậy!
Đường đất Hà Sáo không rắn chặt. Bánh xe như bị xoáy vào trong đất. Một lúc rất lâu xe của Lã Bất Vi mới đến được đoạn đường đất cứng. Bốn con ngựa cùng nương rộng vó cứ cắc cắc cắc phi như bay vậy. Lã Bất Vi cũng ngủ thiếp đi theo sự lắc lư của bánh xe. Cái kế sinh nhai của một vị tướng quốc là một ngày trăm phương ngàn kế khiến Lã Bất Vi bị mệt mỏi ghê gớm. Mọi việc lớn nhỏ trong triều không việc nào không cần đến sự quyết đoán của ông. Lã Bất Vi nuôi kế hoạch thống nhất thiên hạ bằng cả tâm huyết của mình. Ông cho quân thám thính tình hình quân đội của sáu nước chư hầu ở Quan Đông giống như đèn kéo quân trở về Hàm Dương vậy. Quân thám thính báo cáo quân cơ cho Lã Bất Vi. Lã Bất Vi phân tích tỉ mỉ những tin tức này mà không dám để lộ một động thái nào rồi sau đó mới dùng kế dùng binh. Việc chọn dùng khảo sát của bá quan văn võ cũng phải toàn tâm toàn ý sao cho dùng đúng điểm mạnh, tránh dùng điểm yếu. Những người chí khí trung thần, những người có thành tích xuất sắc rõ ràng thì thăng quan tiến chức; những kẻ tiểu nhân xảo quyệt thì không thể để chúng đắc ý được. Chỉ có như thế thì nhân tài của triều điìh mới trong sạch và liêm khiết được. Còn cả việc ăn mặc và sinh hoạt của trăm dân nữa cũng không được khinh suất. Một khi có hạn hán lũ lụt dưới các quận huyện thì không chỉ làm cho ông ta phải thấp thỏm lo lắng mà ông còn phải điều lương thực đến để cứu tế. Còn cả sự hoạt động của cung Chương Đài cũng do ông điều khiển. Tuy rằng xưa nay ông chưa hề so đo những việc cỏn con như hạt thóc hạt vừng nhưng việc chi tiêu, việc tế lễ đình đám trong cung, việc bảo vệ phòng thủ chung quanh ông cũng luôn phải chú ý đến… Những việc đó cũng như ngàn vạn nút sợi, cũng giống như những mắt lưới đang chụp lấy ông. Nhưng Lã Bất Vi cũng không luống cuống đến độ cẩu thả bừa bãi mà ông thường nắm bắt mấu chốt một cách nghiêm túc có căn cứ.
Lã Bất Vi cảm thấy dường như đường bị ách lại. Khi xe dừng lại thì nghe thấy tiếng binh khí va chạm vào nhau và tiếng người ngựa huyên náo vây chặt lấy. Lã Bất Vi mở đôi mắt hãy còn ngái ngủ nhập nhèm nhìn xem thì thấy xe của mình đang bị một đội quân tiến về phía trước ngăn lại. Mấy chục chiếc xe và đến vài nghìn binh lính của cả hai bên bị nhuộm nhoạm vào nhau, người này chen vào người kia, cứ giống như cháo bị nấu quá lửa vậy. Lã Bất Vi nhìn vào màu cờ và đồ án phía đối phương thì mới biết đó là đội quân hộ giá của công tử Thành Tề.
Lã Bất Vi cảm thấy Thành Tề là em vua một nước mà không xuống xe thi lễ thì thật là thất lễ. Thế là Lã Bất Vi sai Lý Tư vén rèm xe lên rồi điều chỉnh cho chân mình đứng vững trên thành xe một cách ngay ngắn. Lã Bất Vi lại ra lệnh cho một môn khách truyền đạt lại mệnh lệnh của mình rằng: “Người xe ngựa đều không được nhốn nháo tranh đường. Ai ở chỗ đấy, không được huyên náo nghe điều phái của tướng quốc đại nhân Lã Bất Vi”. Mệnh lệnh vừa chấm dứt thì người ngựa đều im bặt không động đậy cả thảy như thể bị đông cứng lại.
Lã Bất Vi đến cạnh chiếc xe không có màu sơn cất giọng nói: “Tuỳ tùng và ngựa xe của phủ tướng quốc nhất loạt tránh vào lề đường để đội xe của công tử Thanh Kiều qua”. Mệnh lệnh vừa ngớt thì ngựa xe của tướng quốc nhất tề tránh sang một bên, đường đi đã trở lại trật tự và yên ắng.
Đội quân của Thành Tề đi qua xong thì dừng lại rất lâu mà không tiến về phía trước mà cũng không đến chào các vị khanh tướng. Lã Bất Vi đã rõ, đó là Thành Tề đang đợi Lã Bất Vi đến bái kiến. Lã Bất Vi nghĩ: “Ta vừa là bậc tướng quốc lại vừa là bậc cha chú ngươi. Ta xuống xe dẹp đường cho ngươi, cũng là nhân nghĩa rồi. Nếu ngươi không sai người đến đáp lễ thì ai người đó đi vậy”.
Vẫn một hồi im ắng rất lâu thì quả nhiên có một vị là thái bác của Thành Tề đi đến thi lễ với Lã Bất Vi xong và nói: “Công tử Thành Tề sai tôi đến cám ơn và hỏi thăm tướng quốc đại nhân”.
Lã Bất Vi nói: “Ta cũng chúc phúc và hỏi thăm công tử Thành Tề. Chẳng hay công tử huy động nhiều người là thế nào vậy?”
Thái bác của Thành Tề trả lời lại rằng: Tử Hề điện hạ tổ chức đại hội mùa thu ở Bình Ấp. Đại lễ có không ít cảnh đẹp và thú vui vô cùng náo nhiệt và có mời công tử chúng tôi đến tiêu khiển.
Lã Bất Vi nghĩ: “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng. Con người Tử Hề bụng dạ phản trắc, xấu xa, rồi không biết sẽ làm cho công tử Thành Tề có ý đồ xấu gì đây? Sau này sẽ càng phải chú ý tới động tĩnh của Bình Ấp mới được”. Tuy Lã Bất Vi tính toán như vậy nhưng miệng thì lại nói: “Chúc công tử Thành Tề thuận buồm xuôi gió, vui chơi vui vẻ thoải mái ở Bình Ấp’.
Lã Bất Vi và Lý Tư vừa về đến thành Hàm Dương thì Cam La và Trương Đường cũng mặt mày rạng rỡ chiến thắng trở về. Cam La dâng bản đồ năm toà thành ở Hà Giang cho Lã Bất Vi. Trương Đường thì ở bên cạnh thêm cành thêm lá tô vẽ việc Cam La mưu trí dũng cảm, không tốn một chút hơi sức nào mà giành được năm toà thành Hà Gian. Kỳ thực Trương Đường đâu biết được đó là do Lã Bất Vi quyết định sách lược tác chiến ở phía sau mà quyết thắng vượt ngàn dặm. Lã Bất Vi thì tươi cười rạng rỡ khen ngợi Cam La rồi truyền lệnh làm lễ mừng công thắng lợi chúc mừng thượng khanh Cam La trong phủ Tướng quốc.
Di Hồng hay tin năm toà thành ở Hà Gian của nước Triệu đã về tay nước Tần thì vui mừng khôn xiết. Lúc trước Lã Bất Vi có ngoa miệng rằng: “chỉ cần mẹ con Thành Tề có dũng khí thì chờ đến khi chiếm được thành ấp ở Hà Gian sẽ lấy hai thành làm phong ấp của Thành Tề. Di Hồng thấy con trai của mình đã ngày càng khôn lớn, lại là em vua thì càng phải có nhiều phong ấp hơn để mở rộng địa bàn, nuôi dưỡng bản lĩnh, đợi khi Lã Bất Vi tuổi ngày càng cao hoặc có mệnh hệ gì thì sẽ để con mình làm tướng quốc. Hai con trai của Dị Nhân Trang Tương Vương một đứa làm vua, một đứa làm tướng quốc cùng hỗ trợ bổ sung cho nhau thì sẽ vô địch thiên hạ. Bà ta cũng được thoả lòng nơi chín suối.
Sáng hôm ấy, Di Hồng trang điểm xong xuôi thì ngồi xe vua lên thẳng phủ tướng quốc. Vừa thấy Di Hồng – di thiếp của tiên vương đến, Lã Bất Vi liền hiểu ngay mục đích của bà ta thì long trọng tiếp đón. Lã Bất Vi vừa nói chuyện với Di Hồng vừa nghĩ cách trả lời sao với vị di thiếp này của tiên vương. Lã Bất Vi luôn có cảm tình với người cung nữ bên cạnh Hiếu Thành Vương nước Triệu, có mối tình thâm với Dị Nhân và cũng từng vào sinh ra tử đến từ thành Hàm Dương này. Nhưng khi Di Hồng khuyên nhủ với Lã Bất Vi về chuyện Dị Nhân trước đây thu nhập và giúp đỡ bà ta thì mối cảm tình ấy cũng dần dần bị nhạt mất đi. Lã Bất Vi biết điều đó nhưng cũng mặc kệ. Nếu không phải là chuyện từ Kinh Hà về Hàm Dương, Lã Bất Vi được biết chuyện công tử Thành Tề đến tham dự lễ hội mùa thu của Tử Hề thì chắc rằng ông sẽ không ngần ngừ vạch ra hai thành trên bản đồ cho Thành Tề làm phong ấp của mình. Nhưng trên đường thấy cảnh Thành Tề đến Bình Ấp làm Lã Bất Vi phải cảnh giác. Tướng không thuộc dòng dõi vua còn chưa muốn trao huống hồ một người là chú vua, một người làm em vua. Lã Bất Vi nhớ lại chuyện Công Thúc Đoạn – em trai Trịnh Võ Công lấy phong ấp Kinh Địa làm cứ điểm rồi phát động phản loạn. Lúc đầu Võ Khương - vợ Trịnh Võ Công muốn xin Hổ Lao làm phong ấp cho con trai út. Trịnh Võ Công đã thấy từng chân tơ kẽ tóc, đã thấy được ý đồ của Công Thúc Đoạn thì nói với mẹ mình rằng: Không được, vì Hổ Lao là cửa ải trọng yếu, ấp của Trịnh Võ Công chỉ làm theo mệnh lệnh. Nếu lúc đó Trịnh Võ Công nể tình anh em ruột thịt mà thưởng Hổ Lao cho Công Thúc Đoạn thì Công Thúc Đoạn sẽ trở thành nguy hiểm và tạo phản thì chẳng phải đã bị bình định một cách dễ dàng rồi sao. Lã Bất Vi liên hệ chuyện đó đến chuyện năm thành Hà Gian. Địa phận năm thành thì ở giữa Yên và Triệu, là cửa khẩu quân sự quan trọng. Một khi quân của Thành Tề đã đông mạnh thì Tần vương cũng ở ngoài tầm tay rồi, không thể khống chế nổi. Nếu như hắn phản Tần và phối hợp tác chiến với Yên Triệu thì chẳng khác nào như Tề Trọng từng nói: “Cỏ mọc lan khó bề cuốc dỡ”.
Nghĩ đến đây, Lã Bất Vi không lạnh mà run liền nói với Di Hồng là: “Việc triều chính đại sự đều do Thái hậu quyết định. Coi như việc phong thưởng cho hoàng thân quốc thích cũng phải thông qua Thái Hậu”.
Lã Bất Vi thấy Di Hồng nghe xong thì đôi mắt vốn trong suốt bỗng mờ đi.
Di Hồng không biết là Lã Bất Vi chỉ qua loa cho xong với mình hay việc này nhất thiết phải do thái hậu quýêt định. Trương Tương Vương qua đời đã bấy lâu nay, tuy bà không tham gia việc triều chính, nhưng kẻ ra người vào trong cung đến những tin tức trong triều đều không ngừng truyền đến. Rồi cả từ trong những lời qua tiếng vào của cung nữ hoạn quan tạp dịch, Di Hồng cũng nắm được một số cơ quan trọng yếu. Bà cảm thấy như chuyện cho Thành Tề hai thành Hà Gian làm phong ấp thì tướng quốc Lã Bất Vi quyết định được. Nhưng Lã Bất Vi bảo phải bẩm tấu với Thái hậu thì có lẽ đúng như thế thật. Ta cũng không liệt vào hàng tiền đường nên cũng không rõ chuyện đấy lắm. Nếu tướng quốc đại nhân bảo ta đi hỏi thái hậu thì ta đi vậy. Thái hậu thì có gì ghê gớm lắm đâu, chẳng phải thái hậu ăn nằm với Trang Tương Vương sớm hơn ta mấy hôm đó sao? Nếu ta nhanh chân đến trước thì chẳng phải đã là chính thất, chẳng phải đã là Thái hậu rồi sao? Hừm…
Khi sắp sửa đi, Di Hồng không kiêu ngạo cũng không tự ti nói với Lã Bất Vi rằng: “Lã đại nhân đã bảo tôi đi bẩm tấu Thái hậu thì tôi sẽ về cung Chiêu Thanh gặp người chị em Triệu Cơ xem Triệu Cơ sẽ trả lời ra sao!”
Di Hồng đi rồi, Lã Bất Vi sợ Triệu Cơ không hiểu mối nguy hiểm khuất tất trong chuyện này. Nếu thật đã nhận lời giao hai thành Hà Gian cho Thành Tề làm phong ấp thì khó lòng thu lại mệnh lệnh đã ban, gieo xuống mầm hoạ. Bây giờ nhất định ông phải đi tìm Triệu Cơ nói rõ tình hình, không thể chấp nhận lời thỉnh cầu của Di Hồng được. Lã Bất Vi lệnh cho đầy tớ dắt ngựa đến, bản thân không mang tuỳ tùng theo rồi đi thẳng tới điện Chiêu Thanh như một làn khói vậy.
Vào đến điện Chiêu Thanh, Lã Bất Vi đi thẳng đến phòng ngủ của Triệu Cơ. Khi Lã Bất Vi đi thẳng đến cửa nhỏ thì nhìn thấy một dải lụa xanh bay phấp phới nơi mí cửa. Lúc ấy, Lã Bất Vi mới nhớ ra, dễ đến năm bảy hôm không suồng sã cùng Triệu Cơ cho thoả dục vọng rồi. Những ngày đó, Lã Bất Vi bận túi bụi không có lấy một chút thảnh thơi nào nên không mảy may nghĩ đến chuyện cụng đầu, cùng chung chăn gối với Triệu Cơ. Nhìn thấy dải lụa xanh, Lã Bất Vi mới thấy một tình cảm mãnh liệt đang dâng trào.
Triệu Cơ trang điểm thật tươi tắn trẻ trung, đang nói chuyện cùng các cung nữ bỗng nghe thấy ba tiếng choang choang ngoài cột hành lang thì đôi mắt hổ phách của Triệu Cơ bỗng sáng rực lên, trong lòng mừng rỡ nói: “Tướng quốc đã đến!”
Triệu Cơ đứng dậy trước gương đồng, ngắm nghía lại dung nhan rồi nó với các cung nữ: “Các ngươi lui ra”
Lã Bất Vi vào phòng ngồi xuống sạp, còn chưa lấy lại được nhịp thở bình thường thì Triệu Cơ đã sà vào lòng Lã Bất Vi nũng nịu nói: “mấy ngày này ngài đi đâu để thiếp nhớ chết đi đuợc. Thiếp cho người đến phủ tướng quốc tìm nhưng cũng chẳng thấy đâu.”
Lã Bất Vi âu yếm Triệu Cơ một lát rồi đẩy Triệu Cơ ra khỏi lòng nói: “Có việc quan trọng không thể làm nhỡ”. Sau đó Lã Bất Vi đem chuyện Di Hồng, Thành Tề muốn xin hai thành Hà Gian làm phong ấp và lý do không thể chấp thuận cho Triệu Cơ nghe, sau đó dặn dò Triệu Cơ tỉ mỉ. Triệu Cơ nói: Thiếp chẳng phải là đứa trẻ năm ba tuổi mà phải để ngài dăn dò năm bảy bận. Lã Bất Vi nói: Ta đã nói với Di Hồng là việc này do Thái hậu quyết định, nàng hãy tìm lý do chính đáng để từ chối bà ta.
Triệu Cơ nói: “Ai dà, giờ đây thiếp còn lòng nào mà đi cắt gọt chuyện đó với ngài nữa, ngài mau thay quần áo lên giường cho thoả tình đi thôi”.
Lã Bất Vi nhìn ra ngoài cửa, mặt trời chiều đang tàn dần, bầu trời giống như một dải lụa màu rực rỡ ánh sáng. Có cái gì đó khó nói làm sao. Trời vẫn còn sớm quá, không tận dụng được hết các hứng thú. Triệu Cơ nói với vẻ đầy dâm dục, người ta đang trong cơn thèm thuồng thì ăn thịt lúc nào mà chẳng ngon. Nói rồi liền nhào vào như dòng thủy triều cuốn lấy Lã Bất Vi.
Di Hồng cũng ở trong điện Chiêu Thanh. Triệu Cơ ở phía Đông, Di Hồng ở phía Tây, ở giữa có cách một cái sân đình. Di Hồng ở phủ tướng quốc về thì nghỉ ngơi trong phòng mình một lát rồi đến cung phía Đông để gặp Triệu Cơ. Di Hồng cảm thấy việc xin hai thành cho Thành Tề phong ấp việc mười đã chắc chín.
Di Hồng vừa đi đến cửa nhỏ cung Đông thì bị các cung nữ chặn lại. Cung nữ nói với Di Hồng rằng: “Thái hậu đã dặn rằng đang làm việc triều chính cùng Lã tướng quốc, bất kể người nào cũng không được phép quấy rầy. Di Hồng chấp vấn lại: “Ta đường đường là vợ tiên vương, muốn gặp thái hậu một chút mà khó như lên trời vậy sao?” Cung nữ canh cửa nét mặt xấu hổ vội quỳ sụp xuống tạ tội nói rằng đó là ý của thái hậu. Di Hồng coi như không có ai vừa xông vào trong vừa nói: ta gặp thái hậu cũng để bàn việc triều chính. Cung nữ cũng không biết Triệu Cơ và Lã Bất Vi đang quấn quýt trên sạp, lại thấy Di Hồng cũng là vợ của tiên vương liền không ngăn cản ráo riết nữa mà cứ để cho Di Hồng đi vào.
Ngày thường, trong hành lang thông đến phòng ngủ của Triệu Cơ ở trong cung thì tấp nập các cung nữ ra ra vào vào, váy áo sặc sỡ nhưng hôm nay thì trống vắng không còn một bóng nào. Di Hồng cảm thấy rất kỳ quặc. Di Hồng đến trước cửa phòng ngủ của Triệu Cơ lấy tay đẩy cửa nhưng cửa đóng then cài. Bà ta bèn nghiêng người lắng nghe thấy bên trong hình như có tiếng động song lại im bặt. Bà ta gọi liền mấy câu “Thái hậu” nhưng không nghe thấy trả lời mà chỉ thấy gió lùa trống trải qua hành lang phát ra những âm thanh như đang nức nở nghẹn ngào.
Di Hồng quay người về được mấy bước thì bỗng loé lên ý nghĩ: “Hay là Triệu Cơ và Lã Bất Vi đang dâm loạn ở bên trong?” Ý nghĩ đó vừa loé lên trong đầu khiến cho tim Di Hồng đập rộn rã, hồi hộp vô cùng. Di Hồng lấy lại bình tĩnh và nghĩ: “Nếu Triệu Cơ và Lã Bất Vi quả thật là như thế thì thật là tàn nhẫn, không có tình người, phải trời tru đất diệt”.
Lòng hiếu kỳ thúc giục Di Hồng nấp sau một chiếc cột to phía hành lang chăm chú nhìn về phía cửa phòng ngủ của Triệu Cơ. Ánh mặt trời nóng sáng đã dần dần chuyển sang màu vàng cam. Di Hồng đứng đến nỗi lưng mỏi vai đau. Cánh cửa sơn điêu khắc hoa lá trong mắt Di Hồng có lúc thấy xuất hiện dáng người. Cuối cùng thì cánh cửa kia cũng được mở ra. Cùng với tiếng động cọt kẹt của cánh cửa, Di Hồng nhìn thấy dáng người khôi ngô của Lã Bất Vi lộ ra, tiếp theo đó là gương mặt phờ phạc nhưng đầy no đủ của Triệu Cơ. Nhìn mái tóc rối bù của Triệu Cơ, Di Hồng đã tưởng tượng ra cảnh mây mưa của hai ngươi. Di Hồng nghe thấy Triệu Cơ nói với Lã Bất Vi bằng một giọng kìm nén: “Ngày mai chàng lại đến nữa nhé!”
Lã Bất Vi nghiêng ngó nhìn tứ phía sau đó thì đi ra, như không có chuyện gì. Di Hồng vội nấp vào phía sau cột hành lang trong lòng cảm khái muôn phần nói: “Ban ngày ban mặt, trong tưởng tượng của mọi người thì người là một vị quân tử đạo mạo khiêm tốn lễ độ, nhưng ở đằng sau mọi người lại làm trò mờ ám của bọn hạ lưu hèn mạt”. Di Hồng khám phá ra bí mật này xong thì vừa phấn khởi vừa ghen ghét. Thế là bà có thể nắm chuôi việc giữa Triệu Cơ và tướng quốc rồi và điều đó đủ ép bọn họ lấy hai thành Hà Gian cho Thành Tề phong ấp. Nhưng trong lòng Di Hồng lại trào lên sự cô liêu, buồn bã. Từ khi Trang Tương Vương băng hà, bản thân bà đã cô quả chăn đơn gối lạnh. Còn như thái hậu tuổi đã toan về già nhưng lòng ham muốn vẫn được đền đáp. Thấy bóng Lã Bất Vi đã xa dần thì Di Hồng cũng trơ trọi trở về phòng ngủ của mình.
Khi trời đã tối thì Di Hồng bèn tìm đễn chỗ Triệu Cơ. Hàn huyên chưa được bao lâu thì Di Hồng liền ngầm bắn tin với Triệu Cơ rằng: “Lúc chiều em đến tìm thái hậu, em gọi cửa rất lâu mà không thấy mở cửa. Đêm qua vất vả nỗi gì mà buổi trưa ngủ say như đá chùn vậy?” Di Hồng hỏi rồi đưa mắt nhìn Triệu Cơ.
Triệu Cơ nghe ra ngụ ý của Di Hồng nhưng lại bịa chuyện nói với Di Hồng rằng: “Bạn gái ngốc ngếch của ta ơi, một người thông minh như em sao lại trở nên ngu ngốc thế. Buổi chiều ta bơi thuyền trong ngự hoa viên mà, có ở trong phòng ngủ đâu. Dù em có gõ cửa đến sấm vang chớp giật thì cũng không có ai mở cửa đâu!”
Trong lòng Di Hồng thầm rủa rằng: “Hễ kéo váy lên là không nhận, thật là con đàn bà ghê tởm. Rõ ràng là mình nhìn thấy mái tóc rối bù của nhà ngươi sau khi chung đụng với Lã Bất Vi mà còn nói dối ta”. Di Hồng biết không thể nói toạc ra chuyện này được. Mà cho dù có nói ra thì Triệu Cơ cũng chối đây đẩy. Còn Di Hồng thì cũng không thể ấn hai người xuống giường để mọi người tận mắt chứng kiến.
Di Hồng ba phải mà rằng: “Thái hậu nằm mơ hay sao, bơi thuyền du ngoạn chẳng phải là chuyện của mấy hôm về trước đó sao?”
“Hứ, chuyện đùa! Từ chuyện lớn như chuyện ngoại giao nội vụ đến chuyện nhỏ như chuyện sinh hoạt hàng ngày, việc lớn việc nhỏ nào ta cũng đều để quan thái sử ghi lại, có thể kiểm tra đối chiếu”. Triệu Cơ không để Di Hồng vặn vẹo lôi thôi, liền hỏi thẳng vấn đề: “Này em, có chuyện gì, nói thẳng ra đi, đừng vòng vèo lôi thôi nữa”.
Thế là Di Hồng liền đưa ra việc muốn xin hai thành Hà Gian cho Thành Tề làm phong ấp. Vì Lã Bất Vi đã cảnh giác chuyện này trước đó nên Triệu Cơ đã tìm được lý do để nói cho xong chuyện với Di Hồng, Triệu Cơ vờ vĩnh nói: “Khi Cam La lấy được năm toà thành ấp của nước Triệu làm địa phận của Tần quốc thì ta cũng mừng thầm định lấy một hai thành để công tử Thành Tề làm phong ấp. Nhưng khi thảo luận với tướng quốc thì thấy rất nhiều vấn đề nan giải. Chúng ta liên minh với nước Yên thì lợi ích giành được đều phải chia đều. Dự tính sẽ chia cho nước Yên hai thành, thưởng hai thành cho Cam La còn lại một thành thì làm phong ấp của Lã Bất Vi.
Di Hồng nghe xong thì biết ngay đó là do Triệu Cơ và Lã Bất Vi đã bàn bạc từ trước, trước khi việc xảy ra thì đã bố trí một cái bẫy sẵn để bà ta mắc vào. Triệu Cơ nói ra mấy lý do khiến Di Hồng không còn nói được vào đâu nữa. Hai nước Tần Yên đồng tâm hiệp lực, nước Yên được chia hai thành là hoàn toàn hợp lý. Cam La thuyết phục được Trương Đường rồi lại đích thân đến Hàm Đan, vừa vất vả vừa có công lớn đựơc thưởng hai thành là chính đáng. Tướng quốc Lã Bất Vi hoạch định kế sách bên trong, được một thành làm phong ấp cũng không phải là lừa dối, cưỡng đoạt của cải hay quyền lợi nào cả.
Di Hồng đứng dậy nói lạnh nhạt: “Làm phiền thái hậu quá!” rồi đứng dậy ra về. Di Hồng về đến phòng mình thì ngồi buồn, trong lòng cảm thấy Thành Tề là công tử của tiên vương mà đến hai thành làm phong ấp không được thì bức người quá đáng. Bà từ cung điện Tùng Đài ở Hàm Đan đến. Trong thành Hàm Dương còn chẳng có ai thân thích thì nói gì đến chuyện trong đám vương hầu quan tương lại có người tri kỷ hiểu lòng bà. Nhưng Di Hồng cũng không cam lòng nhẫn nhục để người khác ăn hiếp mình.
Di Hồng nghĩ đi nghĩ lại và thấy có một cách có thể trả thù Lã Bất Vi và Triệu Cơ.
Trong mắt Di Hồng thì từ hồi lang cửu khúc, đài ca vũ tạ trong cung đến từng nhành cây chiếc lá, trăng mờ sao thưa tất cả đều rất thắm thiết dịu dàng. Nhưng từ hôm phát hiện ra Lã Bất Vi và Triệu Cơ thông dâm thì Di Hồng thấy tất cả đều giống như cảnh trí trong câu chuyện vậy, đầy sự thấp thỏm hồi hộp và dường như sắp xảy ra điều gì đó. Bây giờ bà cần phải thực hiện kế hoạch báo thù. Tất cả mọi vật trong điện Chiêu Thanh đều phủ lên một bóng đen đáng sợ.
Đã rất lâu Di Hồng không đến cung Chương Đài rồi. Sáng hôm ấy, Di Hồng cho cung nữ giăng lưới bắt hai con chim nhỏ nhốt vào trong chiếc lồng đẹp đẽ rồi bà đến gặp Tần vương Doanh Chính. Người ta thường nói: “Xa cách lâu ngày, khi gặp lau mắt mà nhìn”. Di Hồng ngẫm một lúc thấy cũng đã rất lâu không gặp Doanh Chính, có lẽ Doanh Chính đã rất cao lớn rồi. Từ xa bà nhìn thấy hình dáng và khuôn mặt của Doanh Chính thì giật mình. Dáng hình Tần vương giống Lã Bất Vi quá, hai người như thể một mẻ gạch được đúc ra từ một khuôn vậy. Như thế thì Triệu Cơ và Lã Bất Vi thông gian xong thì mới có Doanh Chính.
Doanh Chính đang ngồi trên bệ rồng sơn hoa trong điện lớn, thấy Di Hồng mang đến hai con chim nhỏ linh hoạt ngoan ngoãn thì người không chút động đậy, nói: “Cảm ơn dì!”, sau đó gọi Triệu Cao nhận lấy lồng chim rồi không nói gì thêm. Di Hồng hỏi: “Đại vương không thích sao?”
Doanh Chính nghiêm mặt nói: “Thích”
Di Hồng nói: “Thích thì chơi đi!”
Triệu Cao tự mình tiếp lời: “Đại vương sắp sửa tự mình chấp chính rồi, hàng ngày đều phải đọc bộ luật nên không được hứng thú lắm với các loại tiêu khiển trò chơi”.
Di Hồng đưa mắt nói: “Gần đây tướng quốc Lã Bất Vi có một thú tiêu khiển mới thật muôn hình muôn vẻ, ý vị tuyệt vời. Nhưng tướng quốc không cho người thường cái phúc được thấy, ta đã thấy nhiều lần rồi. Nhiều hơn nữa là tướng quốc thường vui đùa với thái hậu. Thái hậu luôn nói rằng, trò chơi của tướng quốc làm thái hậu thấy vui vẻ thoải mái.
Doanh Chính cảm thấy rất mới mẻ liền hỏi rằng: “Trò chơi gì vậy, nói cho quả nhân nghe xem”
Di Hồng nói: “Loại trò chơi này là một nghệ thuật mới, dăm ba câu không thể nói rõ được. Thế này vậy: xin đại vương hãy hỏi tướng quốc hoặc khi tướng quốc và thái hậu đùa vui, đại vương hãy đến tận nơi tai nghe mắt thấy là rõ ngay thôi”.
Doanh Chính bật cười - điều này khiến Triệu Cao và Di Hồng đều cảm thấy thoải mái. Vì Doanh Chính không dễ nói cười mà luôn làm mặt lạnh. Các hoạn quan và cung nữ trong cung Chương Đài đều nói: mặt mày đại vương lúc nào cũng như mây đen dày đặc vậy.
Di Hồng thấy Doanh Chính vui vẻ thì nói năng cũng tự nhiên hơn: “Đại vương tuy sắp lên ngôi nhưng trước mắt thái hậu vẫn chỉ là một đứa trẻ. Có trò gì vui thì phải để con ruột của mình được mở rộng tầm nhìn chứ”.
Doanh Chính không lấy làm lạ nói: “Quả nhân nhất định sẽ thấy được”.
Lúc sắp đi khỏi, Di Hồng nói: “Trò chơi mới của Lã Bất Vi đại vương đừng nói với người khác là ta nói đấy”.
Triệu Cao tiễn Di Hồng ra khỏi điện, khi trở vào lại thấy khuôn mặt của Doanh Chính u ám lạnh lùng. Triệu Cao biết rằng đại vương ngày một khôn lớn và rất muốn được tự mình chấp chính. Doanh Chính là người chủ kiến sâu xa. Mọi việc lớn nhỏ trong triều đều có ý kiến của chính Tần vương, Nhưng cốt cán trong triều thì lại do Triệu Cơ và Lã Bất Vi nắm giữ. Doanh Chính chẳng qua chỉ là vật trang trí hoặc là cái tai bị điếc vậy. Mỗi khi lên triều, Doanh Chính đều áo quần chỉnh tể ngồi nghiêm chỉnh sau ngự án chẳng khác nào gỗ đá, mặc cho Lã Bất Vi ngồi bên cạnh chỉ huy. Chất giọng hùng hồn của Lã Bất Vi khiến Doanh Chính nghe như có một lưỡi kiếm sắc đang đâm vào tim phổi. Nào là “Tần vương dạy rằng”, đó chẳng phải là cách của Lã Bất Vi đó sao. Có những việc Doanh Chính không hề được biết mà mãi đến khi ban chiếu thì Doanh Chính mới được nghe nói. Gần đây các triều thần đều bàn luận xôn xao, lời lẽ kịch liệt hoặc chỉ qua loa cho xong chuyện, chỉ trích Lã Bất Vi bổ nhiệm công trình thuỷ lợi Hàn quốc dẫn kênh khỏi rạch đã dùng nhiều đá và phu dịch quá, dân lao động bị hao mòn sức lực của cải. Doanh Chính phái Triệu Cao đến nơi thi công ở sông Kinh Hà xem xét tỉ mỉ. Triệu Cao trở về báo cáo lại cho Doanh Chính rằng: vấn đề các đại thần phản ánh là chính xác, xin đại vương định đoạt. Doanh Chính cho Triệu Cao truyền lệnh cho Đô Tư Không – viên giám sát quản lý công trình địa phương hạn chế tiết kiệm việc dỡ đá. Đô Tư Không vội thỉnh thi Lã Bất Vi. Lã Bất Vi nói: Cứ dỡ và vận chuyển như bình thường. Đô Tư Không nói đó là chỉ thị của đại vương. Lã Bất Vi nói: “Nó chỉ là một đứa trẻ thì biết cái gì, xây đập mà không dùng đá thì dùng người đắp lên chắc?”
Hôm đó, trước khi vào triều Doanh Chính nói với Lã Bất Vi ở trong điện gần cung Chương Đài rằng: Quả nhân nghe nói nguyên liệu dùng cho việc đào kênh Kinh Hà lãng phí vô cùng nhiều, việc này tướng quốc phải xem xét xử lý mới được. Lã Bất Vi nói: đó chỉ là lời đồn đại mà thôi, xin đại vương chớ có cả tin. Doanh Chính nói: Quả nhân đã sai người đi xem xét rồi, chuyện đó là có thật. Lã Bất Vi nói: Là người nào đi, để người đó nói xem, một trượng đất dùng bao nhiêu đá, thế nào là lãng phí? thế nào là tiết kiệm? Ta cũng đến nơi thi công kênh Kinh Hà rồi, sao không phát hiện thấy lãng phí gạch ngói gỗ đá chứ? Cuộc đối thoại giữa vua tôi lời nói tuy nhẹ nhàng, rành mạch, rõ ràng nhưng cả hai đều cảm thấy rằng trong lời lẽ của đối phương có chứa đựng một sự cứng nhắc nào đó. Khi hai bên đều lời qua tiếng lại, ai nấy đều dùng ánh mặt để biết được sự thay đổi trong thái độ phía đối phương.
Lã Bất Vi thấy trong mắt Doanh Chính có sự sắc sảo lạ thường của một người đang độ thành niên, những đám ria đen xung quanh miệng đã thấy thấp thoáng, vùng trên hai lông mày trông lạnh lùng uy nghiêm dường như bị đông cứng lại không có sự thay đổi gì. Trong lòng Lã Bất Vi bỗng loé lên một ý nghĩ: Doanh Chính sắp thành người lớn rồi, ngày đích thân chấp chính không còn xa nữa. Doanh Chính cũng nhận thấy Lã Bất Vi mỗi lần nói chuyện với mình thì không vâng vâng dạ dạ cẩn trọng như các hạ thần khác mà luôn ngẩng đầu hất hàm sai khiến. Doanh Chính thấy trong ánh mắt sâu thẳm của Lã Bất Vi mình không phải là một vị quân vương cao quý mà chỉ là một cây cỏ tầm thường hoặc chỉ là một thứ đồ bình thường không có gì lạ cả. Một cuộc nói chuyện lúng túng khó xử, không nồng nàn, không nhạt nhẽo giữa Lã Bất Vi và Doanh Chính đã kết thúc. Tíêp theo đó, Doanh Chính đi vào triều đường và ngồi trước ngự án như cũ, rồi giống như các bá quan văn võ lắng nghe giọng nói hùng hồn của Lã Bất Vi lặp đi lặp lại là: “Đại vương dạy rằng”…
Triệu Cao khẽ khàng rón rén bước đi như thể sợ giẫm chết kíến vậy. Trong cung Chương Đài, Triệu Cao hơn mọi người một bậc đó là hắn suy ngẫm tìm tòi tâm lý của Doanh Chính và đáp lại những sở thích của Doanh Chính. Triệu Cao giống như một cái bóng mập mờ ra ra vào vào theo sát Doanh Chính. Dạo này “cái bóng” đó có lúc lại di động theo Lã Bất Vi. Doanh Chính giao cho Triệu Cao một nhiệm vụ mới đó là xem lúc nào vị tướng quốc này đến cung Chiêu Thanh gặp thái hậu. Chính bởi vì hôm nghe Di Hồng nói Lã Bất Vi và Triệu Cơ có một trò chơi mới thì Doanh Chính quyết tâm đi xem xem sao. Doanh Chính thấy rằng mình là vua của một nước thì những thứ gì ngon mình phải ăn trước. Một trò chơi tuyệt diệu mà hắn lại không hay biết gì thì điều đó không những đáng tiếc mà còn là sỉ nhục nữa.
Doanh Chính nói với Triệu Cao rằng hắn phải tìm mọi cách để thưởng thức thú vui này. Một hôm, vào lúc chập chọang tối, cũng là khi ánh mặt trời sắp tắt thì Triệu Cao cùng bộ mặt thần bí báo cáo cho Doanh Chính rằng: Chính mắt Triệu Cao nhìn thấy dáng bộ lặng lẽ bí mật của Lã Bất Vi lọt vào cung Chiêu Thanh, chắc là chơi cái thú vui đó. Doanh Chính và Triệu Cao rảo bước đến thẳng phòng Triệu Cơ trong điện Chiêu Thanh. Khi vào trong điện, Triệu Cao đợi bên ngoài cửa còn Doanh Chính thì một mình đi thẳng vào phòng Triệu Cơ.
Doanh Chính đến trước cửa và đẩy một cái nhưng cửa đã cài then, bên trong dường như có tíêng động. Doanh Chính bực bội vô cùng: lẽ nào mẫu hậu có thú vui tuyệt diệu thật mà lại giấu diếm con ruột vốn là vua một nước? Doanh Chính lùi ra phía sau rồi lao mạnh vào phòng. Cánh cửa “cọt kẹt” một tiếng rồi bật ra. Bốn vành môi đang chụm vào nhau. Triệu Cơ và Lã Bất Vi đang hôn nhau, bỗng nhiên bị quấy rầy thì rời ra, cả hai không hẹn cùng nói: “Là ngươi…”. Doanh Chính tuổi đã 16, 17, Doanh Chính dần dần hiểu được sự đời, bắt gặp cảnh này thì Doanh Chính thấy có gì bí ẩn trong đó. Thế là Doanh Chính đùng đùng nổi giận hỏi hai người: “Thì ra các ngươi…”
Triệu Cơ vội đậy điệm nói: “Vai tướng quốc bị cái dằm đâm, ta lấy răng để nhổ cái dằm ra”
Doanh Chính dùng mũi hừ một cái rồi bực tức đi ra.
Lã Bất Vi tim đập rộn rã nói: “Sao nó lại xông vào đây? Sau này khi chúng ta gặp nhau như thế thì phải tuyệt đối tránh xa tầm mắt của đám quan lại và cung nữ mới được’.
Triệu Cơ chải lại mái tóc của mình và nói như không có chuyện gì xảy ra: “Một đứa trẻ như nó thì biết cái gì? Chỉ như nhìn thấy sợi tơ nhện, dấu chân ngựa thì con ta chưa thể phát hiện được chuyện này đâu”
Lã Bất Vi nói: “Nó không còn là một đứa trẻ nữa đâu’
Triệu Cơ kéo Lã Bất Vi lại rồi đi cài chặt cửa lại.
Hôm sau Lã Bất Vi nghĩ lại chuyện trên giường cùng Triệu Cơ hôm qua thì cảm thấy ngượng ngạo, không còn tự nhiên thoải mái như trước đây nữa. Lã Bất Vi luôn cảm thấy như có một đôi mắt đen nhánh như hổ nhìn muốn nuốt chửng chuyện phòng the của mình vậy.
Lã Bất Vi biết rằng Doanh Chính cũng đã lớn rồi. Không biết tại sao đứa trẻ này hình như có sự thù địch nào đó đối với ông. Ông tự cảnh giác với mình rằng: về sau bất kể là bàn việc triều chính hay hò hẹn với thái hậu thì đều phải đặc biệt cẩn thận hơn. Có một số việc cũng phải tiến hành nhanh chóng, ngày Doanh Chính lên ngôi đích thân chấp chính không còn xa nữa.
Lã Bất Vi cho người tìm Tư Không Mã đến mà rằng: viên quan quận Lũng Tây vừa qua đời, nhà ngươi mau đến bổ nhiệm đi. Nhà ngươi không thể làm môn khách dưới quyền ta mãi được mà cũng cần phải thăng quan tiến chức chống đỡ một khoảng trời đất của mình mới được. Tướng một nước như ta cũng phải có một số người tâm đầu ý hợp, tài ba xuất chúng trong châu quận địa phương. Tư Không Mã nói: trấn giữ một quận, quyền lớn trong tay, sinh thời phú quý phát đạt, khi chết thì con cháu đời đời được tận hưởng vinh hoa phú quý. Nhưng thần sợ bản thân không có cách gì trấn giữ quận, đến khi về già triều đình cho khảo sát tính toán, thần sợ rằng sẽ không hoàn thành thuế má quy định. Lã Bất Vi cười sảng khoái mà rằng: “Nhà ngươi hãy cố mà làm đi. Nếu không hoàn thành đựơc thuế má quy định thì ta sẽ nghĩ cách giúp nhà ngươi’.

Khi Tư Không Mã cáo từ về thì Lã Bất Vi lại cho người tìm Lý Tư đến hỏi về tiến độ biên soạn “Lã thị xuân thu”. Lý Tư tường trình lại cho Lã Bất Vi rằng: các môn khách đang ngày đêm khởi thảo, chỉnh lý, khắc vẽ và đến nay đã đến phần cuối rồi. Lã Bất Vi nói: được, đóng thành quyền xong rồi mang đến đây.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5933
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Lã Bất Vi***   Fri Nov 07, 2014 2:36 pm

Hàn Diệu Kì
Lã Bất Vi
PHẦN THỨ HAI: QUYỀN MƯU
Chương 17
LAO ÁI ĐƯỢC SỦNG ÁI
Sấm dậy đất bằng. Một ngày mùa hè năm 239 trước công nguyên, một tin tức mới được loan báo ở thành Hàm Dương. Ai có thể thêm hoặc bớt một chữ trong “Lã thị xuân thu” do các môn khách biên soạn cho Lã Bất Vi sẽ được hưởng ngàn vàng. Nghe nói mấy vạn tấm thư và hàng ngàn vạn vàng ấy được đặt sáng loáng trước cổng thành Hàm Dương.
Ngàn vạn lượng vàng thật khiến người ta bị mê hoặc! Cả thành giống như nước nồi cần sôi bùng lên vậy. Mọi người bàn luận xôn xao, bảo cho nhau biết. Ước vọng phát tài khiến cho nhiều người phải xúc động đến độ nước mắt phải tuôn trào. Thêm bớt một chữ sẽ được ngàn vàng thật là một chuyện dễ dàng mà trên trời hay dưới đất đều khó mà tìm thấy. Lại cũng có người lắc đầu không tin. Thêm bớt một chữ nào phải như Ngu Công dời núi, Tinh Vệ lấp bể, nào phải cực nhọc chân tay mà được thưởng ngàn vàng? Tai nghe là hư, mắt thấy là thực. Mọi người hết thảy già trẻ gái trai, ngựa xe ồn ào đến thẳng kinh thành chẳng khác nào đi chợ, đi hội.
Mặt trời trên đầu mọi người rọi những tia nắng như kim châm đốt lên da thịt người xem. Trước cổng thành, đầu người xúm xít chen nhau. Những tấm thẻ gỗ và những mảnh trúc trắng muốt được bện vào nhau bởi những sợi dây gai hay dây cao su được treo trên cổng thành; nào là ngàn vạn lượng vàng sáng loáng cũng được xếp ở cạnh bên. Mọi người nghiền ngẫm từng câu chữ một toàn văn “Lã thị xuân thu”. “Lã thị xuân thu” chia thành 8 cột, 6 luận và 12 ký, tổng cộng 160 thiên, dài dằng dặc khoảng hai mươi vạn từ. Toàn thư bao gồm các chủ trương và học thuyết các phái thời đại tiên Tần. Mà khi tuyên dương các chủ trương này, giữa các dòng chữ, các thiên trang sách cũng xuất hiện các bó hoa lửa tư tưởng và triết học phong phú và kỳ lạ rực rỡ giống như “trăm hoa đua nở” vậy.
Trong nhiều thiên có xen cả những điếu cố lịch sử và chuyện ngụ ngôn làm cho các loại lý luận đều tỏ ra rất sinh động. Cho dù “Lã thị xuân thu” nhặt nhạnh tất cả các thuyết trong “Chu tử bách gia” nhưng toàn thư đều xoay quanh và giải thích thuyết minh trọng tâm về thống nhất và trị vì thiên hạ. Vì thế người đời sau gọi sách này là “Tạp gia đế vương học”.
Mọi người kề vai sát gót vừa đọc vừa cắt gọt nội dung trong sách. Trong số độc giả, vừa có người làm quan trọng vọng, cũng có người là áo vải dân thường, còn có cả những khanh sĩ học giả đến từ lục quốc Quan Đông nữa.
Dưới cổng thành, môn khách của Lã Bất Vi đứng sắp hàng ngay ngắn, Lý Tư cũng đứng trong đám đó. Quần chúng đối diện thì không ngừng chen trước lấn sau. Mùi mồ hôi chua lòm của nam giới và mùi phấn son của phụ nữ trộn lẫn vào nhau. Cái mùi xoa cũng không hết đó khiến cho Lý Tư cảm thấy nghẹt thở. Lý Tư nhìn không dời mắt những người xem hồ hởi tấm tâm trên đầu mũi để nắm bắt ý định trên mặt người xem và đoán xem ai có thể tăng giảm đựơc chữ nào trong “Lã thị xuân thu”. Trước khi bày chữ treo giải thưởng, Lý Tư có phần lo lắng phân trần với Lã Bất Vi rằng: “Lã thị xuân thu” tuy sâu rộng, câu chữ cắt gọt nhưng vẫn chưa đạt được đến mức câu chữ không sai sót một tí nào, không lọt một chữ nào. Nếu ai đó có thể thêm bớt được vài chữ thì ngàn vạn lượng vàng của chúng ta chẳng phải là đi đứt không? Lã Bất Vi nói: trước tác ta đã thẩm định, lửa lò đã xanh, lời vàng ngọc sẽ không có thể có ai thêm bớt được chữ nào đâu. Lúc đó Lý Tư không nói gì, trong lòng nghĩ: Lã Bất Vi có quá tự tin chăng?
Ngày đầu tiên trôi qua, trong đám người xem không ai có thể thêm bớt đựơc chữ nào. Ngày hôm sau qua đi, ngàn vàng khiến người ta phải động lòng vẫn giữ nguyên treo trên cửa thành. Ngày thứ ba, ngày thứ tư rồi ngày thứ năm… Lý Tư và các môn khách đều nhất loạt đợi đã một tháng, đợi đến khi không có ai dừng bước lại xem mà cũng không có ai thay đổi nổi một chữ trong “Lã thị xuân thu”.
Thời điểm đó, Lã Bất Vi dùng phương pháp đó để công bố “Lã thị xuân thu” là rất phí tổn tâm sức. Doanh Chính rồi chẳng mấy nữa là lên ngôi và trở thành Tần vương như đúng với danh nghĩa. Lã Bất Vi biết rằng: nể quyền thế của ông thì bất kể là khách của lục quốc Quan Đông hay là khanh sĩ Tần quốc, ai cũng đều không dám thêm bớt một chữ nào trong trước tác của Lã Bất Vi, muốn được để Tần vương sắp lên ngôi đích thân chấp chính thấy đựơc quyền uy của mình. Đồng thời cũng đủ để chứng minh những phương lược đại chính do ông chế định, không có ai đưa ra dị nghị là đã được lòng dân rồi. Doanh Chính nhà ngươi không những cùng một huyết thống mà cả trên phương diện cầm quyền trị nước cũng thường xuyên bổ trợ cho nhau đấy.
Chính sau khi “Lã thị xuân thu” được treo trên cổng thành một tháng thì có một người đang chăm chú đọc bộ sách này ở chính đường của điện Kỳ Niên - người đó chính là Doanh Chính.
Doanh Chính đọc sách rất nghiêm túc, dựa bàn mà đọc, có lúc thì lại trầm bổng réo rắt đọc to lên. Triệu Cao tay cầm sách nín thở đứng một bên. Có chương Doanh Chính chỉ xem một lượt, có chương thì lại đọc đến năm bảy bận không chán. Hơn thế nữa, có chương thì phải đối chiếu và xem lại những chương trước đó làm Triệu Cao phải tìm lại những chương trước, điều đó khiến cho Triệu Cao bận bịu tối tăm mặt mũi.
Triệu Cao nhìn thái độ trên mặt Doanh Chính thì biết được Doanh Chính thích chương nào mục nào, ghét chương nào mục nào. Bỗng nhiên Doanh Chính vỗ bàn khen hay khiến Triệu Cao phải giật mình.
Doanh Chính không kìm đựơc nói: “Triệu Cao, ngươi hãy xem đoạn này, Lã Bất Vi nói trúng ý quả nhân quá: “Nay nhà Chu diệt vong mà thiên tử đã tuyệt. Loạn ở chỗ không có thiên tử, không có thiên tử thì kẻ mạnh ức hiếp kẻ yếu, kẻ đông giày xéo kẻ cô quả, dẫn quân tàn sát lẫn nhau, không thể bình yên. Triều này chỉ đến đây thôi.” Sau khi Chu bị diệt vong, lại không có thiên tử. Mà không có thiên tử sẽ khiến thiên hạ không được bình yên. Trăm dân chịu đựng nỗi khổ cực của quân cường bạo. Nhất thiết phải có thiên tử. Ai là người làm thiên tử đây?
Triệu Cao tiếp lời: “Không nói cũng đã rõ, đại Tần diệt Chu là hùng mạnh nhất, đương nhiên sẽ do đại vương lên thay ngôi, đấy cũng là ý của Lã Bất Vi đó’.
Doanh Chính nói: “Nói có lý đấy”. Nói rồi Doanh Chính lại im lìm đọc tiếp. Cứ thể đọc, trên miệng Doanh Chính lại xuất hiện mấy nét cười mỉa mai. Doanh Chính nói: “Bây giờ Lã tướng quốc lại chỉ gà mắng chó răn đe quả nhân đây”.
Triệu Cao cẩn trọng nói: “Lã tướng quốc không dám to gan thế đâu, hay là đại vương hiểu lầm rồi?”
Doanh Chính hừm mũi một cái mà rằng: “Quả nhân biết từng chân tơ kẽ tóc lại không thấy được dụng ý về điểm này của hắn sao? Hắn nói rõ rằng: liền chủ vất vả cốt ở việc tìm người mà nhàn ở việc trị sự. Sau đó lại kể một câu chuyện lịch sử với ý đồ khác”.
Triệu Cao cảm thấy mới mẻ kỳ lại thì hỏi: “Trong Lã thị xuân thu cũng có chuyện ạ?”
Doanh Chính nói: “Ngươi hãy nghe xem, không phải là chuyện thì là cái gì? Nước Tề có một hiền nhân tên Bách Quách Tao. Người này sống bằng nghề đan lưới, đốn củi, dệt vải nhưng vẫn không có cách gì nuôi được mẹ mình. Có một hôm, Bách Quách Tao xin gặp tướng quốc Yến Anh của nước Tề xin Yến Anh bố thí cho mình. Lúc đó Yến Anh không biết Bách Quách Tao nhưng các môn khách của Yến Anh thì biết rõ người này, họ liền nói với Yến Anh là Bách Quách Tao là một quân tử chân chính nổi tiếng của Tề quốc. Những câu chuyện bất nghĩa với thiên tử, bất hữu với chư hầu dù có lợi cho người này thì hắn cũng không làm. Yến Anh nghe mọi người nói vậy thì cho người hầu mang lương thực và tiền bạc đến. Bách Quách Tao chủ nhiệm lương thực mang về cho mẹ già. Mấy năm sau đó, Yến Anh bị Tề vương hiềm nghi thất sủng mà đành phải đi khỏi quốc đô. Trên đường đi, qua nhà Bách Quách Tao, Yến Anh rẽ vào giã từ. Bách Quách Tao đang tắm gội vội ăn mặc chỉnh tề tiếp đón Yến Anh vào nhà và hỏi rằng: Tiên sinh chuẩn bị đi đâu vậy? Yến Anh trả lời rằng: Tề vương hoài nghi ta, không tín nhiệm ta nên ta đành phải trốn đi vậy. Bách Quách Tao không chút động lòng nói: Thế thì tiên sinh cứ trốn đi thôi, tốt mình tốt người. Yến Anh vốn nghĩ Bách Quách Tao sẽ dùng những lời lẽ nhiệt tình hơn để an ủi ông ấy, thậm chí sẽ thu nạp ông ấy mà không hề nghĩ rằng đó là những lời lẽ lạnh nhạt, vô tình khiến ông đau lòng vô cùng, thế rồi Yến Anh đành lòng bỏ đi. Lòng ông nguội lạnh mà than với chính mình rằng: A, Yến Anh ta có kết cục như ngày hôm nay thật đáng kiếp! Ai bảo ta có mắt như đui, ta không phân biệt đựơc tốt xấu lại đi kết bạn với một kẻ vong ơn phụ nghĩa. Yến Anh đi rồi, Bách Quách Tao nói với bạn thân rằng: Tôi từng vì ngưỡng mộ Yến tiên sinh, vì người mà xin được giúp đỡ, tục ngữ có câu: Mang ơn của người bằng giọt nước thì phải đáp trả lại như suối chảy vậy. Bây giờ Yến tiên sinh bị hiềm nghi, gánh hoạ lớn, phải chịu oan ức, tôi sẽ lấy cái chết để chứng minh cho lòng trong sạch của ông ấy.
Thế rồi Bách Quách Tao ăn mặc chỉnh tề, ông nhờ bạn lấy kiếm và hòm tre cho mình và cùng vào cung xin gặp Tề vương. Quân gác cửa không cho ông vào, ông nói với binh lính rằng: Yến Anh là hiền nhân của nước Tề, hiền nhân bị đi đày thì chứng tỏ rằng chính trị quốc gia không hiền minh. Như thế các chư hầu khác sẽ đến tấn công, nếu cho các chư hầu khác làm bề tôi thì chẳng bằng chết còn hơn. Ta sẽ lấy cái này để thay cho Yến Anh rửa sạch cái oan không rõ ràng kia.
Bách Quách Tao dặn bạn mình rằng: sau khi tôi chết, xin hãy để đầu tôi vào chiếc hòm tre rồi gửi cho Tề vương. Nói rồi ông tự vẫn và chết. Bách Quách Tao chết rồi thì bạn của ông bèn cắt lấy đầu của ông ta đem đến cho Tề vương. Bạn của ông ta lại nghĩ: Bách Quách Tao vì nước mà chết thì ta cũng vì Bách Quách Tao mà chết. Nói rồi ông ta liền chặt đầu tự sát.
Tề vương nghe xong hai câu chuyện đó thì sợ hãi liền cho người đi tìm Yến Anh về và phục chức cho Yến Anh. Khi Yến Anh về đến thành thì mới biết được nghĩa cử của Bách Quách Tao. Yến Anh hận mình không phân biệt được trắng đen, nói ta có mắt như đui không biết người của Thái Sơn thì nước mất nhà tan cũng đáng đời.
Triệu Cao nghe xong liền nói: “Lã tướng quân muốn so sánh mình thành những bậc hiền tướng nghĩa sẽ như Yến Anh và Bách Quách Tao đây”.
Doanh Chính chẳng bảo đúng sai lại chúi đầu vào đọc “Lã thị xuân thu”. Đột nhiên Doanh Chính như con mãnh thú đang lên cơn điên loạn hất hết sách vở trên án xuống đất. Cái âm thanh đó vô cùng gay gắt trong điện lớn vốn yên ả và rộng rãi khíên cho người ta hoảng sợ. Doanh Chính đùng đùng nổi giận mà rằng: “Thật là ăn nói hồ đồ. Nào là hưng vong quốc, kế tuyệt tự, cử dật dan! Phải trừ hết xấu xa, phải trừ từng cái cây ngọn cỏ của lục quốc chư hầu!”
Triệu Cao vừa thu gom những thẻ tre rơi vãi trên sàn vừa nghĩ: “Đại vương nói một là một, bảo thủ cố chấp. Một khi đại vương đã đích thân chấp chính thì rồi sẽ không hoà thuận được với Lã Bất Vi”
Trong ánh mắt không mấy để ý của dân chúng ở kinh thành Hàm Dương thì một cung điện nguy nga sừng sững cuối cùng đã hoàn tất. Đó chính là cung Hàm Dương nổi tiếng. Trong “thất quốc khảo” có chép lại rằng: “Tần vương mặc triều phục thết khách, tiếp kiến sứ giả nước Yên tại cung Hàm Dương… Tần chưa trị vì thiên hạ đã thu cung Hàm Dương”.
Cung điện mới đón chủ mới của nói. Người chủ mới chính là Tần vương Doanh Chính. Doanh Chính đã bắt đầu xử lý triều chính trong cung Hàm Dương. Doanh Chính là một vị quân vương cần mẫn. Hàng ngày khi ánh ban mai đậu sát phía cửa thì cũng là lúc xe của Doanh Chính leng keng xuất hiện trong cung Hàm Dương. Doanh Chính vô cùng ngưỡng mộ và lưu luyến cung điện mới này. Mỗi khi Doanh Chính bước vào cung điện thì luôn cảm thấy tinh thần sảng khoái nhẹ nhõm vô cùng. Bách điện điệp hiên, khí sạch mây lành – đó là những sinh linh nhất mực đáng yêu trong mắt Doanh Chính. Nào là lâu đài bát ngát, cửa ngọc đinh vàng, trúc tùng xanh ngắt, thuý liễu đào tơ, nào là chuông ngói rộn ràng, thềm đỏ lung lay rộn rã…Những âm thanh và cảnh trí đó khiến Doanh Chính phải say sưa ngất ngây.
Doanh Chính cảm thấy cung Hàm Dương của mình giống như thiên cung điện ngọc vậy. Khi Doanh Chính lên triều, nắng sớm ấm áp chiếu lên mái ngói thủy tinh bóng loáng, ánh nghiêng trong sân đình rộng rãi dần dần chuyển sang màu vàng nhạt. Những hành lang gấp khúc lượn quanh vốn sặc sỡ xanh đỏ thì hiện ra dáng vẻ rộng thoáng của mình. Trên thềm đỏ, trước chính điện được bày sẵn một đôi đỉnh đồng và cũng bao trùm lên đó cái không khí trang nghiêm cung kính. Trong cái âm thanh có tiết tấu của những ống trúc, của cầm và sắc, Doanh Chính ngẩng cao đầu khoan thai bước lên đài điện và ngồi lên ngai vua. Doanh Chính cảm thấy thần thái vui vẻ vì không chỉ cung điện mới to lớn vĩ đại mà điều quan trọng hơn cả là bên cạnh Doanh Chính không có Lã Bất Vi ngồi ở đó nữa. Lúc đó Lã Bất Vi cũng giống như những tam công cửu khanh kia-đều là những người dưới bệ rồng cả.
Những điều được tai nghe mắt thấy ở trong cung, những điều được dạy bảo của tổ tiên, những thuyết giáo về đạo làm vua trong sách cổ đều giúp Doanh Chính thiết lập hoàn thành tư tưởng thống lĩnh thiên hạ. Doanh Chính bắt đầu lên ngôi thì sẽ chinh phạt nước Triệu.
Doanh Chính sẽ tập trung binh lực lương thực, điều binh khiển tướng, sai Mông Ngao làm đại tướng quân, Trương Đường làm phó tướng thống soái mười vạn binh mã tiến về Hàm Đan.
Cho dù Lã Bất Vi là cha đẻ của Doanh Chính hay là người gánh vác cương vị là tướng của một nước thì ông cũng đều dốc toàn tâm toàn lực ủng hộ Doanh Chính. Thấy Doanh Chính tài giỏi xốc vác thì Lã Bất Vi vừa vui mừng thanh thản lại vừa thấy buồn bã. Lã Bất Vi và Triệu Cơ thấy Doanh Chính trưởng thành thì dồn vào Doanh Chính sự yêu mến và lòng hy vọng vô hạn. Họ hy vọng Doanh Chính trở thành một vị hoàng đế thông hiểu văn thao võ lược. Lã Bất Vi thấy Doanh Chính dám nghĩ dám làm, mạnh mẽ vang dội thấy làm vui mừng vô cùng. Nhưng chuyện “Nhất ngôn đường” thì Doanh Chính không hề tham khảo sự khuyên can của Lã Bất Vi và tất cả các triều thần trong bất cứ việc gì - điều đó khiến Lã Bất Vi có phần thất vọng. Ông sâu sắc cảm nhận được sự đau khổ và lạnh nhạt khi cán trôi tuột khỏi tay ông. Ông thấy các văn thần võ tướng, khi gặp ông trong mắt họ không còn sự kính nể, rụt rè như trước đây nữa mà lạnh nhạt như nước lã vậy. Phủ ông ở tuy vẫn có xe lọng tứ mã ra ra vào vào nhưng cảnh tấp nập đã mất đi rồi.
Doanh Chính ban chiếu xuống các quận, huyện, trưng thu thóc lúa, đồng thời đích thân sát hạch kết quả thượng kế. Thượng kế là một phương pháp sau khi khảo hạch các quan lại, huyện lệnh và quận thư nộp thúê và lương thực cho triều đình thì viết các con số, thời gian, họ tên vào các thẻ trúc đựơc làm từ gỗ trúc. Loại thẻ này được gọi là chất. Sau khi viết xong thì xẻ chất từ một thành hai, triều đình giữ chất phải, quan lại giữ chất trái để làm bằng chứng. Khi khảo hạch đối chất.
Từng chiếc xe tứ mã chất đầy những miếng chất nặng trĩu tiến vào thành Hàm Dương nhộn nhịp tựa như thoi đưa.
Xung quanh bàn ngự án chất đầy những tấm chất đã được trải ra hoặc vẫn đang cuộn lại toả ra mùi thơm của gỗ trúc. Doanh Chính thức dậy từ tờ mờ và lên điện rất sớm để xem các chất. Doanh Chính xem rất tỉ mỉ như sợ bỏ sót cái gì vậy. Doanh Chính cứ thế xem nhưng nhíu mày lại, nén cái bực tức trong lòng thành một khối lạnh như băng tuyết.
Doanh Chính gọi Quốc Chính Giám – viên quan phụ trách việc khảo hạch các quan đến bên ngự án nghiêm giọng mà rằng: “Tư Không Mã quận thư quận Lăng Tây và Khổng Khác quận thư quận Kiểm Trung mỗi người còn thíêu ba vạn thạch thóc lúa, nhà ngươi mau truyền lệnh cho Lã tướng quốc, bảo họ trong vòng 100 ngày phải giao đi số lượng nếu không ta sẽ cho bãi chức làm thường dân”.
Quốc ChínH Giám không dám chậm trễ vội đến ngay phủ tướng quốc truyền đạt chủ ý của Doanh Chính cho Lã Bất Vi hay. Lã Bất Vi biết rằng Doanh Chính rất để tâm đến việc trưng thu thóc lúa ở các quận. Và ông cũng biết Doanh Chính đang sát hạch kết quả thượng kế nhưng không rõ con số cụ thể của ba mươi quận trong cả nước. Hai viện quận thủ không nộp đủ lương thực đúng hạn lại có một người là Tư Không Mã điều đó thật bất ngờ đối với ông.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5933
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Lã Bất Vi***   Sat Nov 08, 2014 11:52 am

Dù sau khi Quốc Chính Giám đi khỏi, trời mưa dầm dề nhưng Lã Bất Vi vẫn phái một tay môn khách lên đường đến Lũng Tây mời Tư Không Mã về Hàm Dương để bàn việc. Tư Không Mã biết Tần vương bực bội, không vừa ý mình thì ngay tối hôm đó thúc ngựa xuất phát từ Lũng Tây vượt núi nhấp nhô, đi dưới ánh sao lờ mờ để đến kịp Hàm Dương vào lúc rạng sáng.
Xa nhau dễ hơn nửa năm, Lã Bất Vi thấy vẻ bình thản trên mặt Tư Không Mã thì nhíu mày lại. Hai bên gò má thì lõm lại như thể một mảnh thịt bị xêu đi vậy. Trong mắt Lã Bất Vi không còn vẻ thoải mái nhẹ nhàng như trước đây nữa mà là đôi mắt ngổn ngang trăm mối tơ lòng. Lã Bất Vi hỏi Tư Không Mã mấy câu xen lẫn sự trách móc rằng tại sao không giao đủ số lương thực mà triều đình đã trưng thu. Tư Không Mã kêu khổ không ngớt mà rằng: Lũng Tây là một quận nhỏ, đất hẹp đất mỏng, năm ngoái lại gặp hạn hán. Số lương thực mà hiện nay ông ta giao nộp đã cùng kiệt rồi. Kể cả bây giờ có gõ xương hút tuỷ dân thường thì e rằng cũng không có lấy mấy hạt thóc lúa nữa đâu.
Lã Bất Vi nghe xong thì thở ngắn than dài mà rằng: Thế thì cũng không thể trách tội nhà ngươi được. Tư Không Mã nói: tướng quốc đại nhân, ngài cũng không phải khó dễ gì với tôi đâu, tôi tính từ chức quan quay về thành Hàm Dương làm môn khách cho ngài. Lã Bất Vi nói: Lúc này người trở về đen đủi như vậy không chỉ tổn hại đến danh dự của người mà sau cũng khó mà vận dụng đựơc. Tư Không Mã nói: nếu để đại vương cắt chức thì thà từ chức còn hơn. Đằng nào ba vạch thạch lương đó tôi cũng không có cách nào nộp cho đủ được. Lã Bất Vi không chấp thuận dự tính của Tư Không Mã nói: Tư Không Mã, nhà ngươi theo ta từng đấy năm. Ngươi cũng biết ta từ một tiểu thương bần hàn đến khi trở thành đại gia bạc triệu dắt lưng. Cũng có lúc ta nhớ lại chuyện cũ, tổng kết, khấu triệt những sai lầm. Ngoài những cảm khái chua ngọt đắng cay hữu nhân sinh ra thì điều quan trọng hơn cả là phải biết quy nạp và nắm bắt lấy những mạch lý phát triển của sự vật. Nếu nhìn từ góc độ kinh doanh thì ta là một người thành công, thế thì bí quyết của ta là “Trí, dũng, nhân, cường”. Trí tức là phải biết quyền biến, mưu lược. Dũng là phải biết quyết đoán, dám nhận những lỗi lầm lớn của thiên hạ. Nhân tức là phải có lòng từ bi bác ái. Cường tức là phải biết kiên cường bất khuất, hiển định không lay chuyển. Con người ta thường đến bước đường cùng mới dám liều mình và trở thành người thành đạt tài cao. Có lần ta đi thuyền trên dòng Hoàng Hà thấy những bức thông suốt không vật cản trở, sóng yên gió lặng, con thuyền bình thản yên ả. Nhưng một khi núi lở, nham thạch trào lên thì con nước mênh mông sẽ trào lên ngàn trượng sáng to gió lớn trước bức tường đá ngăn trở nó đến mức rầm rộ long trời lở đất. Sự phấn đấu của con người ta cũng như dòng nước vậy! Những lời nói của Lã Bất Vi khiến Tư Không Mã cảm thấy thấm thía và lòng ông cuộn sóng. Nhưng cảm động chỉ là cảm động còn ba vạn thạch lương thực thì lấy ở đâu ra.
Đúng vậy, ba vạn thạch thóc lúa thì biết lấy ở đâu? Tư Không Mã thấy Lã Bất Vi chậm rãi đi đi lại lại với vẻ mặt đầy nghiêm túc, tiếng cân đai như gió mát lướt trên mặt nước. Lã Bất Vi vẫn cứ đi đi lại lại nhưng ông bỗng quay lại trịnh trọng nói: Nhà ngươi hãy mua ngay ba vạn thạch lương thực mà nộp triều đình đi! Tư Không Mã cười khổ mà rằng: Phải cần tới mấy trăm lượng vàng mà có róc xương cái thân tôi đây cũng không đủ.
Lã Bất Vi cười: Ta biết ngươi khó khăn về vật chất. Số tiền này ta sẽ trả thay ngươi. Tư Không Mã sợ hãi mà rằng: Dùng tiền mua lương thực cho đủ con số thì chẳng là cướp công đòi thưởng, lừa gạt bề trên ư?
Sự xuất thân của Lã Bất Vi khiến ông có đầy đủ sự tinh tế của một thương nhân và tác phong làm những việc có tính chất thiết thực. Lã Bất Vi bảo với Tư Không Mã rằng ông có thể sắp xếp mọi chuyện một cách êm thấm tuyệt đối không để sai sót sơ suất một chút nào. Trong thành Hàm Dương có một người tên gọi là Tây Môn Dã và cũng là bạn thân giao với mình. Tư Không Mã hãy cải trang thành nhà buôn, sau khi chất lúa lên xe thì không được mang thẳng đến triều đình ngay mà phải mang về Lũng Tây trước, sau đó hãy mang về Hàm Dương. Như thế người khác sẽ không nghi ngờ gì cả. Ở đây ta sẽ dặn dò Tây Môn Dã, ai đến hỏi dò kể cả Tần vương đến truy hỏi thì cũng không làm gì đựơc với người đã bán cho quân thủ quận Lũng Tây – Tư Không Mã ba vạn thạch thóc lúa bao giờ.
Nghe Lã Bất Vi nói xong, Tư Không Mã thấy thư thái nhẹ nhõm hẳn. Tư Không Mã nói: Khi Lã đại nhân treo ấn làm quan mà vẫn kinh doanh buôn bán như cũ thì tôi cũng chẳng lấy làm lạ. Mà tôi chỉ nghĩ rằng: quyền cao chức trọng như vậy thì gom góp tài sản làm gì? giờ đây thấy không có tiền thì làm quan cũng khó. Lã Bất Vi dặn Tư Không Mã phải làm việc này cho kín kẽ, không được để xảy ra bất trắc hay sơ suất nhỏ nào. Tư Không Mã nói: Nộp đủ số lương thực triều đình trưng thu lần này xong, xin Lã đại nhân dành cho một chức quan ở Hàm Dương. Lã Bất Vi nói: Theo như ta được biết thì đại vương đang tìm một vị quan thiếu nội để thay người giữ ngân khố, đến lúc đó ta sẽ tiến cử.
Tư Không Mã làm theo sự sắp xếp của Lã Bất Vi thì nhanh chóng nộp đủ cho triều đình ba vạn thạch thóc lúa.
Buổi sáng hôm đó, Hoạn Giả lệnh trong cung Hàm Dương đến phủ tướng quốc nói với Lã Bất Vi rằng: Đại vương cần gặp, hãy tiến cung ngay. Lã Bất Vi hỏi Hoạn Giả Lệnh là chuyện gì nhưng Hoạn Giả Lệnh nói là không biết. Trên đường đến cung Hàm Dương, Lã Bất Vi ngồi suy tính trên xe: Là chuyện gì vậy? Là chuyện này? Lã Bất Vi lắc đầu tự nhủ với mình rằng: cũng không phải. Hay là chuyện Tư Không Mã mua lương thực để bù vào số lương thực mà triều đình trưng thu? Khi Lã Bất Vi nghĩ đến chuyện đó thì thấy lòng mình lay động, trước ngực áo dịn đầy mồ hôi. Sợ thì chẳng giải quyết được gì. Cho dù có là chuyện đó thì cũng phải bản lĩnh cứng rắn mà đối phó lại thôi.
Vào đến chính điện Hàm Dương, Lã Bất Vi thấy Doanh Chính đang ngồi trên ngai vàng vẻ mặt thờ ơ. Khi còn chưa đứng vững dưới bệ rồng thì Doanh Chính đã hỏi trước: “Lã tướng quốc, có người tố cáo ngươi cùng Tư Không Mã - quận thư quận Lũng Tây mua lương thực bù số thiếu, chẳng hay việc đó có thật hay không?”
Vì trên đường đã chuẩn bị tâm lý đầy đủ nên Lã Bất Vi đối đáp nhanh như cháo chảy: “Trưng thu lương thực ở các quận huyện là việc do đại vương quyết định. Mỗi quận đã nộp được bao nhiêu, thiếu bao nhiêu hạ thần tuyệt nhiên không biết. Thần không thể hiểu tại sao lại cùng Tư Không Mã mua lương thực để bù số thiếu. Nếu đã có người tố cáo, nay xin đại vương minh xét.”
Doanh Chính nói: “Nếu đã có người tố cáo thì quả nhân đã xem xét. Nhưng ta không tin rằng tướng quốc thông minh tuyệt đỉnh, thông hiểu luật phát, sẽ không hàm hồ làm những chuyện như vậy. Quả nhân muốn tìm chủ hiệu buôm Tây Môn Dã để truy hỏi thì chân tướng sẽ lộ rõ. Chỉ có Tây Môn Dã nói thì mới có thể tin là thật và mới có thể rửa được nỗi oan cho Lã tướng quốc”.
Nghe Doanh Chính nói vậy thì Lã Bất Vi hà nhẹ một hơi: Ông mở mắt to hơn, nhìn xa hơn để nhìn rõ bộ mặt thật của đứa con của chính mình. Doanh Chính không còn là một đứa trẻ ngây thơ và đơn thuần nữa. Nó đã trở thành người đa mưu túc trí rồi. Là một vị vua thì kế sách của nó phải sâu như giếng khơi khó lòng mà đo đếm được, kể cả bậc bề tôi hay chư hầu thì cũng không thể nắm bắt đựơc. Doanh Chính đang từng bước một tiến đến phương diện này. Dụng ý lúc nãy nó nói thì vô cùng sâu sắc: một là cho tìm Tây Môn Dã đến để đối chất trước triều đường, nó phải chứng thực rằng Lã Bất Vi đã làm điều phi pháp. Lã Bất Vi này sẽ không thể chối cãi được nữa đành phải bó tay chịu trói. Hai là một khi chuyện này đã không thể tra ra là thật hoặc tra ra cho rõ đầu mối, nói năng không căn cứ thì Doanh Chính vẫn có chỗ để thoái thác rằng đó là muốn rửa sạch nỗi oan không rõ nguồn cơn cho Lã Bất Vi. Ba là để cho Lã Bất Vi thấy được cái oai là Tần vương vẫn dám vuốt má hổ của “trọng phụ” đó. Nếu kế này Doanh Chính xử cho người khác thì Lã Bất Vi sẽ vui vẻ hưởng ứng, sẽ phục sát đất con trai mình. Chỉ tiếc rằng sự sắc bén của mưu kế đó lại nhằm vào chính mình. Về mặt tình cảm thì Lã Bất Vi khó mà chấp nhận được mưu kế này.
Doanh Chính thấy Lã Bất Vi trầm ngâm suy nghĩ thì không còn nghi ngờ nữa mà rằng: “Tây Môn Dã đã ở ngoài điện, mời Lã tướng quốc hãy lui vào trong điện đã”.
Lã Bất Vi đành phải đứng vào sau trướng trong điện theo dõi tình hình trên triều đường. Khi cái bóng béo tốt đầy đặn của Tây Môn Dã từng bước từng bước một theo sau quan nghi trương xuất hiện thì Lã Bất Vi cảm thấy sợ hãi. Nếu Tây Môn Dã cứ nói như trên thực tế thì Lã Bất Vi và Tư Không Mã sẽ gặp phải phiền phức và nỗi bất hạnh vô cùng lớn thậm chí còn là tai hoạ. Lã Bất Vi bất an theo dõi từng bước của Tây Môn Dã.
Dường như từ khi sinh đến nay đây là lần đầu tiên Tây Môn Dã yết kiến nhà vua nên rất hoang mang sợ hãi, tay chân không biết để vào đâu. Khi quỳ lạy trước ngai vua, thân hình Tây Môn Dã bỗng run lên. Khi trả lời Doanh Chính thì Tây Môn Dã nói không đâu vào đâu cả. Nhưng ý mà Tây Môn Dã muốn nói thì Lã Bất Vi nghe được rất rõ ràng mạch lạc. Bất kể Doanh Chính truy hỏi và doạ dẫm thế nào thì Tây Môn Dã cũng trả lời hết sức cứng rắn rằng: Tây Môn Dã không biết Tư Không Mã là người nơi nào nên thực không có chuyện bán cho Tư Không Mã ba vạn thạch lương thực.
Sau khi Tây Môn Dã được viên quan nghi trượng dẫn ra khỏi điện thì Lã Bất Vi sợ hãi đến nỗi mình mẩy đẫm đầy mồ hôi mới đựoc như thoát khỏi gánh nặng bước ra.
Doanh Chính nhìn Lã Bất Vi một lượt mà rằng: “Đã không chứng minh được lời tố cáo tướng quốc là thật, vậy lời cáo buộc là không có căn cứ chăng? Tướng quốc và vị quan quận thủ Tây Lũng đó đều là người trung thành làm tròn chức vụ của quả nhân”.
Nhân đó Lã Bất Vi nói thên rằng: “Tư Không Mã, quận thủ quận Lũng Tây vốn trước là môn hạ của hạ quan, người này vốn rất trung thần, xuất sắc siêu việt. Chẳng phải là đại vương đang cần tìm quan thiếu nội đó sao? Thần trộm cho rằng Tư Không Mã có thể đảm nhiệm được chức vụ này”.
Doanh Chính nói một cách nuối tiếc: “Sao tướng quốc không nói sớm? Chức quan thiếu nội đó đã có người đảm nhiệm rồi”.
Lã Bất Vi không kìm được hỏi: “là ai vậy?”
“người thiếu nội này cũng là chỗ quen biết cũ với tướng quốc, nhưng chốc nữa gặp nhau hẳn tướng quốc cũng sẽ ngạc nhiên”.
Là ai nhỉ? Lã Bất Vi ngầm suy đoán xem đó là ai?
Khi vị thiếu nội này bước ra thì Lã Bất Vi không dám tin vào mắt mình nữa: người đó chính là Thanh quả phụ Ba Thục.
Từ khi Chiêu Tương Vương qua đời đến nay cũng đã mười năm có dư nhưng những nét già nua nơi Thanh quả phụ vẫn còn chưa rõ, vẫn là cái dáng thướt tha nền nã, tưới tắn lạ thường. Lã Bất Vi thầm khen rằng: “Thật là một mỹ nhân phi tử!”
Quả phụ Thanh Hiền Huệ đáp lễ rồi cất giọng ấm áp dịu dàng hàn huyên cùng Lã Bất Vi mấy câu. Thanh Hiền Huệ lần lượt hỏi thăm Lã Bất Vi từng chuyện một đồng thời mời Lã Bất Vi về sau hãy dìu dắt cho bà nhiều hơn. Những lời Thanh Hiền Huệ nói rất đúng mức khiến người ta cảm thầy chủ khách đều rất hoà hợp. Chính bởi quốc vương đang ngồi trên triều; nên nói thừa một câu lại là thô lỗ thất lễ, ít nói một câu lại hoá ra là tự cao tự ti.
Cho dù như thế nhưng Lã Bất Vi vẫn cứ cau mày lại rồi thầm kêu khổ không ngớt “Từ thuở khai thiên lập địa đến nay có triều đại nào lại có đàn bà con gái thương triều giải quyết việc triều chính không? Tần vương thật là độc đoán chuyên quyền đã thực hiện hứa hẹn của Lã Bất Vi mười năm về trước. Nếu ta làm vua thì sẽ mời Thanh quả phụ nhập triều tham chính. Hừ, điều đó thật là khác kiểu, mất cả quốc thể và sẽ làm cho các nước chư hầu phải phì cười thôi”.
Doanh Chính thấy vẻ lo lắng của Lã Bất Vi thì nói: “Vị tân thiếu nội này của quả nhân chỉ giải quyết việc triều chính chứ không vào chầu triều”.
Không giống với tất cả các hoàng hậu phi tử đó là ngoài chuyện mê mẩn si mê việc giường chiếu ra, Triệu Cơ còn đặc biệt thích mình giống như một con mèo mềm mại dựa vào vòm ngựa nóng hổi của nam giới nghe kể chuyện. Những chuyện trong sách tạp lục, những truyền thuyết ít được biết đến, những “chuyện mò” trong xó xỉnh hoặc những chuyện kể về người thật việc thật trong triều mà thú vị đều có thể khiến Triệu Cơ vui vẻ sảng khoái và phát ra tiếng cười giống như chuông bạc reo vậy. Các cung nữ và hoạn quan ở bên cạnh Triệu Cơ thì ru rú trong cung, những việc được nghe thấy nhìn thấy không nhiều. Hai vành môi không mấy khi hé ra ấy ngoại trừ lúc ăn uống phát ra một loại âm thanh kiểu lầy lội ra thì rất ít khi động đậy. Chỉ có Lã Bất Vi người đàn ông thanh tú đó mới có thể làm cho Triệu Cơ được thoả mãn trên cả hai phương diện này.
Mỗi khi nghe thấy nơi cột phía hành lang phát ra ba tiếng gõ lanh lảnh thì sự thích thú mãnh liệt lại trào dâng trong Triệu Cơ giống như có một con rắn đang bò loạn xạ trong cơ thể vậy. Và thế là cả hai loại âm thanh đẹp đẽ kì diệu lại trở thành chương nhạc mà làm Triệu Cơ phải ngây ngất say sưa cả đêm. Loại âm thanh thứ nhất đó là tiếng kêu kin kít phát ra từ chiếc sạp khi Lã Bất Vi duỗi ra trên người Triệu Cơ. Thứ âm thanh thứ hai là giọng kể chuyện đầy cuốn hút của Lã Bất Vi, sau khi hai người đã qua cơn “mưa to gió lớn” và cùng thư giãn một cách thoải mái. Là một phụ nữ dục tính mạnh nên dường như Triệu Cơ có một sự ham muốn lâu dài tưởng chừng như đang thèm khát đối với thứ âm thanh kỳ diệu đó.
Trừ số ít những cung nữ thân tín gác cửa bất động ra thì đa số các đầy tớ trong cung Chiêu Thanh nếu không phải là hờ hững thì cũng cảm thấy kỳ lạ bởi thứ âm thanh được phát ra từ phòng của Triệu Cơ. Viên quan tuần đêm thì không dám ghé sát vào cánh cửa lắng nghe cái thứ âm thanh như có như không và khiến hắn phải sợ hãi đó. Gần đây thứ cảm giác sợ hãi của viên quan tuần đêm này đã tiêu tan rồi. Chính bởi trong phòng Thái hậu không còn phát ra thứ tiếng động kỳ quái đó nữa. Trên khuôn mặt Triệu Cơ đã bắt đầu xuất hiện sự u phiền cùng với sự mất đi thứ âm thanh đó. Mấy người cung nữ thân cận kia thì biết ngay là vì mấy đêm nay Lã Bất Vi không đến; cuối cùng Triệu Cơ không chịu được nữa liền sai cung nữ đi tìm Lã Bất Vi nói là ta có việc cần bàn. Cung nữ đi rồi nhanh chóng trở về nếu không bẩm lại là tướng quốc không có trong phủ thì cũng bẩm lại là tướng quốc có việc bận. Triệu Cơ liền nổi giận lôi đình mắng chửi các cung nữ một chập như hát hay. Triệu Cơ không kìm được mấy lần đã định ra khỏi cung tự mình đến phủ tướng quốc. Nhưng Triệu Cơ sợ mất thể thống, gây chuyện thị phi nên đành thôi không đi nữa.
Vào một buổi sáng trong xanh, Triệu Cơ bắt đầu thực hiện diệu kế mà phải mất một đêm Triệu Cơ mới có thể nghĩ ra. Triệu Cơ đưa cho một cung nữ một dải lụa xanh và hẹp, rồi bảo cung nữ đó đem đến cho Lã Bất Vi. Cung nữ đó rụt rè nói: “Thế tướng quốc hỏi có ý gì thì sao ạ?” Triệu Cơ nói: “Ngươi còn lôi thôi cái gì, cứ đưa cho tướng quốc là ông ấy biết rõ như lòng bàn tay thôi”. Triệu Cơ tâm trang thấp thỏm không yên đợi chờ. Rồi Triệu Cơ nhanh chóng nhìn thấy cung nữ trở về cùng bộ mặt hớn hở. Mấy lần trước các cung nữ từ phủ tướng quốc trở về thì đều ủ rũ mặt mày, nói năng ấp a ấp úng. Thấy thái độ của người cung nữ thay đổi thì Triệu Cơ biết ngay rằng sự mong muốn sớm hôm đó của mình đang từng bước đến gần. Quả nhiên người cung nữ đó hớn hở bẩm báo lại rằng: Lã tướng quốc nói ngài sẽ đến ngay lập tức.
Triệu Cơ không hiểu nổi mình nữa. Tại sao lại nảy sinh tâm trạng hồi hộp hoảng loạn giống như một thiếu nữ hẹn hò yêu đương lần đầu vào giờ phút này. Triệu Cơ cuộn lại búi tóc rồi đưa ánh mắt vừa mừng vừa trách móc ra phía hành lang dài hun hút và dừng lại trên hai cánh cửa cung điện được sơn đỏ chót. Rồi bỗng nhiên cánh cửa cung điện trong tầm mắt của Triệu Cơ được mở ra và tiếp theo đó liền xuất hiện một thân hình khôi ngô. Chính là cái thân hình khôi ngô ấy đã biết bao lần khiến Triệu Cơ gần như nghẹt thở. Triệu Cơ cảm thấy mắt mình ươn ướt và dường như có mấy con bọ đang động đậy trên khuôn mặt bà ta. Triệu Cơ biết đó chính là nước mắt của mình đang lăn xuống.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5933
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Lã Bất Vi***   Sun Nov 09, 2014 11:12 am

Lã Bất Vi đi đến ngồi đối diện vối Triệu Cơ. Triệu Cơ thấy Lã Bất Vi dường như bị gầy đi, khuôn mặt thì cứng rắn và lạnh lùng như viên đá vậy. Đợi cho các cung nữ và hoạn quan đã lui ra hết thì Triệu Cơ bắt đầu trách móc. Triệu Cơ trách Lã Bất Vi đã ghét bà ta già rồi, trách Lã Bất Vi sợ con trai họ phát hiện họ tư thông.
Lã Bất Vi không nói gì ngồi nghe Triệu Cơ kể lể không ngớt, có lúc lại cười khổ hoặc mồm thì ấp úng ngập ngừng. Lã Bất Vi thứa nhận thầm rằng Triệu Cơ hiểu rõ thế giới nội tâm của ông ta. Từ khi Doanh Chính trẻ tuổi ấy tự mình nắm quyền chấp chính thì Lã Bất Vi luôn cảm thấy vị hoàng đế mới này luôn giám sát và đề phòng mình mọi nơi mọi lúc. Mỗi đợt có chiếu của bệ hạ, Lã Bất Vi đều không dám cẩu thả trễ như sợ người ta nắm lấy một cái chóp nào đấy. Còn như việc loạn dâm nơi hậu cung thì thật là một tội ác đại nghịch về nhân đạo, một tội ác trời chu đất diệt. Còn như Triệu Cơ của ngày hôm nay, đối với Lã Bất Vi thì bà ta dường như là một cái bánh không nhân mà người ta đã nhai rất lâu không còn thơm tho mới mẻ gì nữa.
Triệu Cơ oán trách một chập rồi lại mỉm cười, liếc mắt đưa tình nói: “Tướng quốc này, hôm nay ngài hãy qua đêm ở điện Chiên Thanh nhé”. Lã Bất Vi không muốn làm Triệu Cơ thất vọng. Sự qua lại và cảm tình của Lã Bất Vi với Triệu Cơ giống như sông Vị Thuỷ đầu đông làm ông ta bị đông kết lại. Sự níu giữ của Triệu Cơ hôm nay Lã Bất Vi không thể chối từ. Triệu Cơ đề nghị Lã Bất Vi kể chuyện cho bà ta nghe. Lã Bất Vi kể chuyện của chính mình cho Triệu Cơ nghe bằng một giọng buồn rầu. Triệu Cơ không để ý lắm cảm xúc trên gương mặt Lã Bất Vi, cái mà Triệu Cơ cầm đó là thân thể và những câu chuyện của Lã Bất Vi.
Đêm hôm đó các âm thanh kỳ diệu lâu lắm không gặp, lại được phát ra từ phòng thái hậu. Thứ âm thanh đó bị các cung nữ thân cận của Triệu Cơ nghe thấy. Thế là họ liền tưởng tượng ra cái cảnh đôi nam nữ thân thể trần truồng đang quần nhau trên giường. Sự dễ chịu vui vẻ của thái hậu bù đắp lại những thiếu sót đáng tiếc của những cung nữ này.
Triệu Cơ cảm thấy lần này rất khó chịu khi ân ái với Lã Bất Vi. Động tác cảu Triệu Cơ và Lã Bất Vi trước đây hoà hợp chẳng khác nào nước chảy.
Vậy mà hôm nay những cử động đờ đẫn của Lã Bất Vi đã khiến Triệu Cơ cảm thấy chẳng khác nào củi ướt không đun được vậy. Dù không thoả mãn nhưng điều đó càng kích thích dục vọng nóng hổi nơi Triệu Cơ. Lúc chia tay Triệu Cơ đề nghị ngày hôm sau Lã Bất Vi lại đến. Lã Bất Vi nói ngày mai ông ta phải đến Hán Quận xem xét tình hình nước, e rằng không về kịp. Triệu Cơ bảo ngày kia. Lã Bất Vi nói không rõ đại vương có chú ý gì không; Triệu Cơ nói: Thế thì ngày kia ngài nhất định phải đến. Lã Bất Vi nói là không dám chắc. Triệu Cơ nặng mặt nói: Nếu tướng quốc không đến thì ta sẽ đến phủ và qua đêm ở đó. Lã Bất Vi thấy Triệu Cơ muốn giở trò, thì vội vã nói: Ngày kia sẽ đến, ngày kia sẽ đến. Lúc đó Triệu Cơ mới cười vui vẻ mà rằng: tướng quốc nhớ để ý những điều tai nghe mắt thấy và mang về những chuyện hay nhé.
Qua lại với Triệu Cơ một đêm, Lã Bất Vi quay cuồng đầu óc, thở hồng hộc và vô cùng mệt mỏi. Khi về đến phủ ông liền vật ra giường trong phòng sách mà ngủ. Chẳng mấy chốc đã đến ngày kia rồi, Lã Bất Vi không muốn thất hứa làm Triệu Cơ buồn. Trời nhá nhem tối ông ta lại như có thần sai quỷ khiến luồn qua tiền đình của điện Chiêu Thanh tràn ngập ánh trắng rồi như một cái bóng, ông lọt vào phòng của Triệu Cơ. Triệu Cơ toàn thân trắng nõn và nằm duyên dáng trên giường chờ đợi. Lã Bất Vi không kịp nới rộng quần áo mà lao đến như một mũi tên. Đang lúc ông ta và Triệu Cơ quần nhau đến độ trời đất tối sầm lại thì cửa phòng bỗng loảng xoảng bật ra. Doanh Chính dẫn một đội quân hầm hầm sát khí xông vào cất giọng nói: “Mau giải tên dâm loạn này đi!” Lã Bất Vi sợ đến mức hồn bay phách lạc rồi ngã đến “uỵch” một cái xuống giường.
Lã Bất Vi mở mắt thì nhìn thấy ánh trăng sáng trắng trải rộng nơi thư phòng của ông. Tiếng hò hét cuả người này kẻ kia bên ngoài khiến ông bừng tỉnh cơn ác mộng. Ông ta thấy quần áo lót đều đầm đìa mồ hôi lạnh toát dính vào người.
Lã Bất Vi liền bò dậy, vừa ngồi xuống giường thì Lý Tư bước vào bẩm báo nói: “Có người tự xưng là Lao Ái, không cho làm môn khách của quân hầu không được”.
Lã Bất Vi hỏi: “Người này có tài gì?”
Lý Tư trả lời: “Người này nói là có kỹ thuật tuyệt vời”.
Lã Bất Vi hỏi lại: “Kỹ thuật tuyệt vời đến mức nào?”
Lý Tư đáp: “Lao Ái nói nhất định quân hầu phải đích thân xem không thì hắn nhất định không thể hiện tuyệt kỹ đó”.
Nghe Lý Tư nói thế, Lã Bất Vi đành phải ra khỏi thư phòng đến gặp Lao Ái người có kỹ thuật tuyệt vời.
Đã có một đám người tập trung ở tiền đình cách thư phòng một khoảng không xa. Lã Bất Vi biết những người này đều là đầy tớ và môn khách của mình cả. Trong đám đông có một thanh niên cao lớn thô kệch, mặt mày đen xì đang nói thao thao bất tuyệt về tài của mình. Lã Bất Vi nghĩ: người này chính là Lao Ái đây.
Thấy Lã Bất Vi đến, đám đông vội tránh ra. Lý Tư bảo Lao Ái rằng: đó chính là tướng quốc Lã Bất Vi.
Lã Bất Vi thấy Lao Ái quỳ xuống một cách hết sức lo sợ rồi dập đầu thình thịch ba cái liền. Trên bộ ngực rộng lớn của hắn dính đầy cỏ đất.
Lã Bất Vi nói: “Lao Ái, mau đứng dậy đi. Hãy biểu diễn tuyệt kỹ của ngươi cho mọi người xem đi”.
Lao Ái đứng dậy nói: “Xin tướng quốc cho người đem một bánh xe đến”.
Người ta khiêng đến một bánh xe và đặt dưới chân Lao Ái. Chỉ thấy Lao Ái cởi phăng đai quần phơi ra dương vật đen sì của hắn. Mấy đầy tớ gái trong đám đông liền hét toáng lên và quay đầu chạy mất.
Lý Tư luống cuống sợ hãi mắng rằng: “Lao Ái, nhà ngươi định làm gì vậy?”
Lao Ái mạnh mẽ nói: “Tôi biểu diễn tuyệt kỹ cho quân hầu xem đó”.
Lã Bất Vi lấy tay ra hiệu cho Lý Tư để Lý Tư không ngăn cản Lao Ái nữa, Lao Ái nhổ nước bọt vào hai bàn tay và khéo léo gẩy đi gẩy lại dương vật. Vừa gẩy mồm hắn vừa nói “ự, ự, ự” trong giây lát, dương vật của hắn cương cứng lên giống như củ cải nổi trong nước hay chày cán bột vậy. Hắn dựng bánh xe lên rồi kẹp dương vật vào trục bánh xe rồi lắc người lấy đà. Dương vật của Lao Ái đẩy bánh xe dần dần lăn về phía trước. Người xem xung quanh đều trợn mắt há mồm, kinh ngạc kêu lên không ngớt.
Khi Lao Ái biểu diễn xong và mặc quần vào, Lý Tư không thèm nhìn mà rằng: “Lao Ái, thứ tuyệt kỹ gì vậy? Thật là một trò bẩn thỉu!”
Lao Ái nháy mắt nói bằng vẻ mặt không vui rằng: “Hừm, Lý sá nhân, sao lại có thể nói như vậy được. Ngài nói đó không phải là tuyệt kỹ thì ngài hãy lôi cái của ngài ra xem nó có thể đẩy bánh xe đi về phía trước được không?”
Lý Tư nói: “Cái thứ tuyệt kỹ ấy của ngươi không có đất dùng đâu. Nhà ngươi hãy mau đi đi”.
Nghe Lý Tư nói vậy thì Lao Ái cuống quýt đến độ mặt xanh nanh vàng vội cầu cứu Lã Bất Vi rằng: “Quân hầu đại nhân, xin ngài hãy thương lấy tôi. Tôi sống nhờ vào sự tiếp tế của bạn bè, sớm tối không biết ra sao, ăn bữa nào biết bữa đấy. Ngài cho tôi làm gì trong phủ đều được, gánh nước, quét sân, bổ củi hầu bếp, đổ phân, tôi đều không xoi mói bắt bẻ!” Hắn thấy Lã Bất Vi trầm ngâm không nói gì thì ngồi bệt xuống đất nói cùn: “Nếu ngài không nhận tôi thì tôi cứ ngồi đây không đi đâu sất”.
Lã Bất Vi bảo Lý Tư: “hãy thu nạp Lao Ái, cho hắn thay quần áo sạch đi”.
Màn đêm buông xuống điện Chiêu Thanh như một cơn dông làm mờ nhạt hết thảy các hành lang, mái hiên trong cung điện. Đến khi bước đến cửa Lã Bất Vi mới ý thức được rằng ngày hôm nay đã quá mất một ngày mà Triệu Cơ hẹn với ông. May mà mình đã đến không thì vị thái hậu này rất có thể sẽ vì lợi mất khôn mà đến thẳng phủ tướng quốc. Đến chỗ thái hậu thì là chuyện dễ dàng đối với Lã Bất Vi, có nhắm mắt ông ta cũng không sai nửa bước.
Phía trước chính là cây cột hành lang. Khi Lã Bất Vi nghĩ đến đấy thì đã đến trước cột hành lang rồi.
Màn đêm dày đặc quá, ông không thể nhìn rõ những vật thể đứng sát xít kia. Ông đưa tay sờ vào thân cột trơn bóng. Ông lấy ngón trỏ búng liền ba cái lảnh lót rồi tiếng kéo then cửa vọng ra từ phòng, Triệu Cơ xuất hiện. Lã Bất Vi cứ thế đi thẳng vào vòng tay ấm áp của người đàn bà ấy… Sau cuộc lao động thể lực năng nhọc, Triệu Cơ lại bắt đầu quấn lấy Lã Bất Vi đòi ông ta kể những câu chuyện mới và thú vị. Thế rồi Lã Bất Vi kể cho Triệu Cơ nghe về chuyện Lao Ái. Lã Bất Vi kể nguyên si như thế. Có một thanh niên tên gọi Lao Ái, dương vật hắn đặc biệt to và có thể đẩy cho bánh xe đi. Hắn đã cậy vào tuyệt kỹ này mà trở thành xá nhân của ta. Triệu Cơ liền chất vấn: ngoài lừa già ngựa già ra thì cái thứ đó của con người ta cũng không thể quý đến mức như vậy được. Lã Bất Vi nói: đó là những điều chính mắt ông ta nhìn thấy, ở ngay trong phủ của ông ta. Triệu Cơ nói: tai nghe là hư, mắt thấy là thực. Lã Bất Vi nói: Chuyện đó không có cách gì cho thái hậu xem là có thực. Triệu Cơ nói: Cũng tại tướng quốc độc ác nữa cơ, ngài lại bày ra câu chuyện đó khiến thiếp phải thèm mắt, phải nao lòng.
Màn đêm đã nhạt dần, ánh ban mai rực hồng rớt xuống điện Chiêu Thanh. Lúc đó Lã Bất Vi và Triệu Cơ mới nhìn rõ mặt mũi của nhau. Triệu Cơ vừa chậm rãi mặc áo váy vừa bảo Lã Bất Vi đêm mai lại đến. Lã Bất Vi ngập ngừng: Không dám chắc. Triệu Cơ nói như van vỉ: Tướng quốc tốt bụng của thiếp, đêm mai ngài nhất định phải đến nhé. Lã Bất Vi nói: để xem vậy.
Bước chân hoàng hôn tiến về trời đêm thật là chậm chạp. Từ khi Triệu Cơ sai cung nữ mang dải lụa xanh đến cho Lã Bất Vi thì bà ta luôn ngóng nhìn khoảng không lúc mặt trời lặn. Đám mây giống như bày ngựa hồng kia không chịu nhạt đi màu sắc của nó mà vẫn cứ vàng chói rất lâu. Không biết sẽ bao lâu nữa trời tây mới sẫm lại. Rồi tấm màn đèn kia cũng dường như bị ngâm trong một ao mực vậy và cứ thế đen dần đi. Triệu Cơ lại đợi chờ. Tất cả mọi âm thanh trong đêm đen thanh tĩnh vắng lặng đều rất ồn ào.
Bà ta nghe thấy tiếng giày quan của Lã Bất Vi quét trên mặt đất từ nơi rất xa. Cái âm thanh “soàn soạt” ấy cuối cùng cũng đã vang lên tiếp theo đó là ba tiếng kêu nơi cột hành lang.
“Đến rồi!” Triệu Cơ xúc động vô cùng mà thầm than.
Tiếng bước chân từ xa đến gần tiến vào trong phòng. Mượn ánh trăng mờ mờ Triệu Cơ thấy cái bóng dáng thường xuyên xuất hiện trên giường của bà ta hôm nay dường như phình ra nhưng lại loạng choạng va đụng chẳng khác nào con rối mất đầu. Triệu Cơ nũng nịu hỏi rằng: “Tướng quốc của thiếp, hôm nay ngài thèm rượu ư?”
Triệu Cơ đợi Lã Bất Vi trả lời nhưng cái khối đen đó lại chẳng nói năng gì mà mò mẫm đến bên giường bắt đầu đè lên người Triệu Cơ luôn. Hắn ưỡn mông ra một cách mạnh mẽ và đẹp đẽ khiến Triệu Cơ thấy phần dưới bụng mình vô cùng đau đớn tưởng chừng như bị toạc ra. Lã Bất Vi sao thế nhỉ? Là do hứng rượu chăng? Ngày trước thì tuần tự từng bước, hôm nay lại chẳng khác nào dân đói khát ấy, “loảng xoảng” vài cái đã đến ngay nước này rồi. Lòng hăng hái và sự dẻo dai của tướng quốc thật bền bỉ, đã mấy tiếng đồng hồ trôi qua mà vẫn chưa bỏ cuộc giữa chừng. Bao nhiêu năm nay Triệu Cơ chưa bao giờ có được khoái cảm và thoả mãn giống như đêm nay. Bà ta khen không ngớt rằng: “Tướng quốc của thiếp, ngài cải lão hoàn đồng rồi ư, đã chẳng khác nào một thanh niên tràn đầy huyết khí rồi đó!”
Sau khi ông ta dùng hết sức lực để “dời non lấp bể” xong thì liền ngồi dậy sột soạt mặc quần áo. Triệu Cơ thấy lạ. Đêm hôm khuya khoắt thế này Lã Bất Vi còn đi làm gì nữa? Ngày thường sau khi qua cơn “cuộn trào dữ dội” Lã Bất Vi còn hứng thú vuốt ve bà ta. Triệu Cơ bằng cảm nhận mò tìm vị trí của tay Lã Bất Vi. Bà ta tìm thấy rồi. Trong khoảnh khắc bà ta nắm lấy tay Lã Bất Vi thì bỗng cuống cuồng sợ hãi. Đó không phải là tay của Lã Bất Vi. Tay của Lã Bất Vi nhẵn nhụi mỡ màng, nhu cương tương tế; còn cái tay này thì vô cùng to và thô ráp như đá mài vậy.
Triệu Cơ bình tĩnh đi châm đèn dầu. Trong chùm tia sáng đó Triệu Cơ nhìn thấy một gã đàn ông lạ mặt nhưng mạnh mẽ đang sợ hãi quỳ trước mặt mình.
Người đàn ông đó rập đầu như tế sao nói “Tiểu nhân mạo phạm thái hậu, tội đáng chết!”
Triệu Cơ hỏi: “Người là ai, tai sao lại vào đây?”
Người đàn ông kia thì run lẩy bẩy trả lời rằng: “Tiểu nhân là Lao Ái, tất cả việc này đều do tướng quốc Lã Bất Vi sắp đặt cả”.
Triệu Cơ như tỉnh mộng nhủ thầm rằng: “Lã Bất Vi cũng khéo hiểu ý người, trước khi tháo thoát còn tìm cho gã trai lơ Lao Ái. Lao Ái tấn công nhạy bén mạnh gấp mấy lần ông ta”. Vì vừa nãy Lao Ái đem đến cho Triệu Cơ dư vị mà từ trước đến nay bà ta chưa được nếm bao giờ nên Triệu Cơ cũng có chút cảm tình với hắn ta nên nói: “Mau đứng dậy đi, thái hậu không trách ngươi. Nhà ngươi vào bằng cách nào vậy?”
Lao Ái trả lời: “Lã tướng quốc dùng xe của ông ta đưa tôi vào đây. Khi đến ngoài cổng điện, tướng quốc bảo tôi rằng sau khi vào thì búng ba cái ở cột hành lang thứ tư và sau đó cứ đi thẳng vào. Tôi tốn nhiều công sức mới mò được vào phòng thái hậu”.
Triệu Cơ lại hỏi: “Thế thì Lã Bất Vi đang đợi ngoài cung điện ư?”
Lao Ái đáp: “Thưa vâng. Lã tướng quốc nói: đêm đầu ông ấy sẽ giúp tôi quen đường, sau này tướng quốc không đến nữa. Tướng quốc đã sắp đặt xong tất cả, chỉ cần sau khi trời tối đi xe của ông ấy là tôi có thể vào được”.
Lao Ái nói vậy Triệu Cơ thấy lòng mình ấm lại vì cảm ơn ân đức Lã Bất Vi. Nhưng đang lúc có Lao Ái trước mặt nên bà ta không nói gì. Cho dù bà ta nói: “Thái hậu không trách ngươi” nhưng trong lòng Lao Ái vẫn còn run sợ tay hắn đầm đìa mồ hôi. Trong ánh đèn nhảy nhót hắn nhìn thấy khuôn mặt lay động bất đồng của Triệu Cơ.
Triệu Cơ nói: “Đêm nay không nên ở đây lâu quá – Lã tướng quốc đang đợi người ở ngoài. Sau này hàng đêm thì đến đây”. Lao Ái như mở cờ trong bụng nói: “Chỉ cần làm thái hậu được vui thì cho dù xương nát thịt tan tôi cũng cam lòng”.
Triệu Cơ lại dặn dò: “Lao Ái, sau này ngươi ra vào điện Chiêu Thanh phải đặc biệt cẩn thận, không được để người khác biết”.
Lao Ái mạnh dạn hẳn, hắn không nói năng vói bộ dạng run lẩy bẩy như lúc nãy nữa. Lao Ái đáp lại: “Lã tướng quốc đã sắp đặt mọi chuyện kín kẽ cả rồi. Tôi ngồi trong xe của ông ấy nếu bị người ta bắt gặp cũng không quan trọng mà họ vẫn cho rằng người ngồi trong xe là Lã tướng quốc”.
Triệu Cơ nghe xong thì gật đầu hài lòng.
Sau khi Lã Bất Vi tìm được người thay thế thì rất ít khi đến điện Chiêu Thanh. Mấy hôm đầu, mỗi khi rạng sáng Lao Ái từ điện Chiêu Thanh trở về cùng bộ mặt mệt mỏi thì Lã Bất Vi đều cho gọi Lao Ái đến hỏi thăm tình hình. Còn Lao Ái thì sướng rơn trả lời: “Thái hậu rất hài lòng”.
Mấy hôm về sau Lã Bất Vi không hỏi thêm gì chuyện đó nữa. Một là do Triệu Cơ phóng túng dâm lạc, bình yên vô sự, không cần đến sự lo lắng của ông ta; Hai là gần đây những việc trong triều vô cùng phức tạp. Trịnh Quốc phô trương công trình thuỷ lợi dẫn kênh Kinh Hà ngày một lớn, lượng đá cần dùng ngày càng nhiều và không ngừng sai người đi giục triều đình phải cung ứng đầy đủ. Lã Bất Vi phái Trịnh Thược làm đặc sứ đến các quận điều động thúc giục. Trên tiền tuyến quân sự tấn công nước Triệu, quân Tần gặp trở ngại, tiến triển không nhiều, chí khí binh sĩ bị nhụt. Lã Bất Vi kiến nghị Doanh Chính phái Thành Tề làm phó tướng ra tiền tuyến đôn đốc binh lính, hưng chấn chí sĩ. Doanh Chính ban chiếu chuẩn hành. Cho dù Di Hồng kéo dài một vài ngày làm sự trả giá để đòi lấy phong ấp nhưng cuối cùng Thành Tề vẫn đến kịp tiền tuyến. Em trai của Tần Vương mặc giáp cầm gươm xuất hiện trong lúc quân hai bên ở thế giằng co khiến tướng sĩ Tần quốc nhận được sự cổ vũ khích lệ mạnh mẽ, hôm đầu đã đánh cho quân Triệu phải chạy trốn vào vùng đồng hoang lùi xa đến 20 dặm mới dám dựng trại. Thanh quả phụ từ khi nhậm chức thiếu nội Tần Quốc thì rất mực trung thành làm tròn trách nhiệm, thành tích hết sức cụ thể nhận được sự tín nhiệm sâu sắc của Doanh Chính. Gần đây Thanh quả phụ chủ trương tăng thu thuế khóa một số hàng hóa giao dịch ở các chợ và được Doanh Chính. Còn con số cụ thể thì để Thanh quả phụ và Lã Bất Vi bàn bạc thỏa thuận. Bà ta tìm Lã Bất Vi mà rằng: mức cao quá thì gây tổn hại công nông, thương mại thưa thớt không có lợi cho dân cho nước. Mà mức thấp quá thì dân lợi nhiều nhưng triều đình thì lợi ít cũng khó lòng thu. Cuối cùng Lã Bất Vi và Thanh quả phụ quyết thu thuế là 25% rồi làm tờ trình xin sự đồng ý của Doanh Chính xong sẽ thực hiện ở các chợ.
Lã Bất Vi đang bận tối mắt tối mũi về việc này thì thấy Lao Ái mặt mày ủ rủ đến tìm ông ta. Trên người Lao Ái đầy trang sức và quần áo sang trọng hào hoa, điều đó thật tương phản với khuôn mặt vốn đen sạm của hắn ta. Lúc đó Lã Bất Vi mới sực nhớ đã mấy ngày nay ông ta không gặp Lao Ái rồi. Xem ra hắn ta nhất định được Triệu Cơ trọng thưởng cho không ít thứ, toàn thân hắn rực rỡ hẳn lên, không còn là một tiểu sa nhân nghèo nàn bấn túng nữa.
Lao Ái bẩm với Lã Bất Vi rằng: “ Thái hậu không chỉ muốn hắn ta đồng sáng hành lạc với bà ta mà còn bảo hắn ta ban ngày cũng phải hầu hạ phục dịch. Lao Ái cảm thấy một người to lớn mày râu năm tấc như hắn mà lại ngang nhiên đi lại huyênh hoang nơi hậu cung là trái với quy chế của đại Tần. Nếu hắn ta không làm theo thì thái hậu không chấp thuận, nếu hắn ta làm theo thì lại sợ Tần vương truy xét, hoạ hề cạnh thân.
Lã Bất Vi nghe xong thì trầm ngâm chốc lác và bảo Lao Ái hãy cứ về. Lã Bất Vi lao tâm khổ tứ tìm tòi nghĩ cách mất mấy ngày và cuối cùng ông đã nghĩ ra một diệu kế.
Một hôm trong thành Hàm Dương truyền đi một tin mới: Sá nhân Lao Ái của tướng quốc Lã Bất Vi dám cưỡng dâm một nhà quyền quý giữa ban ngày ban mặt và bị quan phủ truy xét bắt tội để xử lý. Lã Bất Vi vì đại nghĩa mà bỏ tình riêng sẽ thi hành án phủ hình đối với Lao Ái . Viên quan thi hành phủ hình tên gọi Khương Khoái vốn tham của ham lợi. Trước khi thi hành, Lã Bất Vi cho gọi Khương Khoái đến phủ. Lã Bất Vi hỏi: Ngươi là Khương Khoái phải không? Khương Khoái không dám ngẩng đầu và quỳ xuống trả lời là phải. Bỗng nhiên một thỏi vàng sáng loáng rơi trước mặt hắn ta khiếm hắn ta giật mình, hắn ngẩng đầu lên nhìn. Lã Bất Vi đang nhìn hắn bằng đôi mắt nghiêm khắc. Lã Bất Vi nói: Vàng này là để thưởng cho ngươi, ngươi hãy cầm lên đi. Khương Khoái cúi đầu nhặt vàng và cho vào trong tay áo. Lại “binh” một cái - lại một thỏi vàng nữa rơi xuống trước mặt hắn. Lã Bất Vi lại bảo hắn nhặt vàng lên. Hắn vừa nhặt vàng lên và cất xong thì một thỏi vàng khác lại xuất hiện trước mặt hắn. Lã Bất Vi vẫn bằng một câu nói: “Ngươi hãy nhặt lên đi”. Lần này hắn không dám nhặt nữa, tim đập thình thịch ngẩng nhìn Lã Bất Vi . Lã Bất Vi nói: “Ngươi hãy nhặt lên đi, ta có việc muốn ngươi làm”. Khương Khoái nói: “tướng quốc đại nhân có chuyện gì xin cứ dạy bảo, tiểu nhân nguyện bỏ sức trâu ngựa để làm. Lã Bất Vi nói: Khi thi hành phủ hình với Lao Ái nhà ngươi phải làm theo lời ta. Lã Bất Vi cúi xuống ghé sát vào tai Khương Khoái nói cách làm như vậy. Khương Khoái gật đầu vâng dạ lia lịa. Khi Khương Khoái đi, Lã Bất Vi bảo hắn rằng  sau khi xong việc còn có thưởng.
Ngày hôm thi hành, khoảng đất trống trước ngục giam có rất nhiều người tập trung ở đó. Cùng với tiếng hò hét “Dẫn Lao Ái ra” của viên đinh uý, Lao Ái bị trói gô cổ và chéo đánh sau lưng bị dẫn ra. Dưới sự áp giải của lính ngục hắn bị nhấc lên một tấm sàn. Lính ngục trói chặt chân tay hắn vào cột sàn. Lao Ái thì ngửa mặt lên trời không thể cựa quậy nổi. Vừng thái dương lơ lửng giữa thiên không như bị đóng đông chắc lại, phủ một vệt sáng loang lổ trước mắt Lao Ái. Cho dù Lã Bất Vi đã dặn dò Lao Ái rằng đó chỉ là đóng kịch thôi nhưng trong lòng hắn vẫn cứ nặng trĩu. Mặt trời khiến hắn bị lóa mắt, hắn không mở to được mắt mà chỉ có thể nhìn ti hí được thôi. Khi hắn nhìn thấy Khương Khoái tay cầm dao sắc từng bước một tiến đến gần hắn thì tim hắn dường như sắp sửa bật lên tận cổ họng vậy. Hai bên lính ngục lách ra một nơi thật xa còn Khương Khoái thì bước đến trước tấm sàn thi án. Mồm hắn thì ngậm lưỡi dao sắc,hai tay hắn thì cởi đa khố của Lao Ái . Lao Ái nói như cầu khẩn mong hắn hãy để ý chứ đừng có cắt thật. Khương Khoái thì không để ý những lời đó mà đặt dao xuống phần bụng dưới chi chít những lông của Lao Ái và sau đó thì dùng sống dao ấn mạnh xuống một cái khiến cho Lao Ái sợ hãi dường như vỡ tim rách phổi kêu lên một tiếng: ái yo, Trời ơi! Khương Khoái nhanh tay nhanh mắt xối túi máu gà giấu trong tay áo vào giữa hai bên bẹn Lao Ái và làm một động tác kiểu cắt khoét rồi sau đó giơ cái túi dư đựng máu gà có vết máu hãy còn loang lỗ lên không trung lắc lắc mà gào lên rằng:
“Cắt đi rồi này!”
Đám đông vây quanh liền bung ra một trận gào thét.
Vào một buổi chiều gió thu xào xạc, các cung nữ và hoạn quan trong điện Chiêu Thanh phát hiện ra trong đội ngũ của họ lại có thêm một đồng nghiệp mới: Người bạn mới này to cao vạm vỡ khác người, chỉ có điều anh ta bước đi có phần loạng choạng. Chính bởi đêm qua anh ta lại làm bạn với thái hậu một đêm. Thái hậu đùa vui vẻ đến mức anh ta không chợp mắt được một tí nào, nên ngày hôm sau tinh thần anh ta có phần hoảng hốt. Thế nhưng, điều đó lại chẳng có ai hay biết. Những người trong điện Chiêu Thanh chỉ biết rằng anh ta tên gọi Lao Ái, do phạm luật lệ nên bị tịch thân và trở thành hoạn quan hầu hạ thái hậu. Quả trên cột phía hiên cung điện lại có thêm một cái quả nữa. Trong mỗi quả có đựng dương vật của một hoạn quan. Sau khi hoan quan chết thì dương vật được đựng trong quả cũng được chôn xuông đất và như thế thì gọi là “hoàn thân”. Khương Khoái khắc trong túi nhỏ họ tên của Lao Ái đựng vào đó một nhánh cây khô của cây ô cựu mà chẳng ma quỷ nào hay biết. Mọi người thấy rằng Lao Ái nhẵn nhụi không có lấy một sợi râu. Điều đó đã để lại một ấn tượng đặc biệt sâu sắc cho những người trong điện Chiêu Thanh, họ đoán rằng có lẽ anh ta đã là hoạn quan từ lâu rồi. Chỉ có điều khi qua lại trong điện Kỳ Niên họ không nhìn thấy mà thôi. Mãi về sau, mọi người trong điện Chiêu Thanh mới biết lai lịch của Lao Ái.
Trong ánh mắt chăm chú của mọi người, Lao Ái vừa mừng lại vừa lo. Hắn là hoạn quan thân cận của thái hậu rồi, ngoài việc hằng đêm hắn được đùa vui bỡn cợt thoải mái trong phòng thái hậu ra thì hắn còn khiến cho những người cùng nghề phải nhìn hắn bằng ánh mắt khác. Mà chưa biết chừng một ngày nào đó hắn lo lắng đó là cái thứ lúc mềm lúc cứng lúc Lao Ái lúc lắc giữa hai bên bẹn kia của hắn hãy còn đó – đó là cây cột cho hắn được yên thân gửi phận. Hắn sợ để lộ thiên cơ nên thường thót bụng lại để đi lại. Đặc biệt là khi cái thứ đó không được nề nếp thì hắn lại càng không thể sơ suất một tí nào.
Lao Ái giả bị thiến nên khi ở bên Triệu Cơ được thăng quan tiến chức nhanh chóng.
Khoảng 100 năm sau có một người bị hoàng đế thi hành cung hình (thiến) thật khi viết truyện về Lã Bất Vi, người này liền chú ý đến chi tiết giả thi hành cung đình này và ông ta có viết rằng: “Thuỷ hoàng đế dần dần trưởng thành, nhưng hành động dâm loạn của thái hậu vẫn không ngừng ngớt. Lã Bất Vi sợ tình gian bị phát giác thì tai họa sẽ giáng xuống đầu ông ta nên ông ta đã tìm kiếm được Lao Ái người có dương vật đặc biệt to để làm môn khách cho ông ta và thường xuyên phóng túng hành lạc. Lã Bất Vi để thái hậu biết chuyện Lao Ái luồn dương vật của hắn vào bánh xe được làm từ gỗ cây ngô đồng và đẩy cho bánh xe đi để dụ dỗ thái hậu. Thái hậu nghe xong quả nhiên muốn giành lấy Lao Ái . Lã Bất Vi liền tiến cử Lao Ái đồng thời giả cho người tố giác ông ta về sai lầm do sơ xuất khi thi hành nhục hình. Lã Bất Vi lại bí mật nói với thái hậu rằng: “Có thể để Lao Ái giả thi hành phụ hình là hắn có thể phục vụ hầu hạ nàng ở hậu cung rồi”. Thái hậu liền ngầm tặng cho viên quan chủ trì nhục hình để hắn giả như the để trị tội Lao Ái, nhổ hết râu ria của Lao Ái và để Lao Ái đội lốt thành hoạn quan. Và thế là Lao Ái có thể được hầu hạ thái hậu. Thái hậu liền thả sức thông gian với Lao Ái và bà ta rất thích Lao Ái”.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5933
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Lã Bất Vi***   Mon Nov 10, 2014 6:24 pm

Hàn Diệu Kì
Lã Bất Vi
Chương 18
BỊ TRỤC XUẤT KHỎI KINH THÀNH
Trung thu năm 239 trước công nguyên Thành Tề em trai Doanh Chính đã làm phản đầu hàng quân Triệu ở tiền tuyến quân sự khi tấn công Triệu quốc, đồng thời hắn đã giết chết Hồi Mã Thương của nước Tần.
Bá quan văn võ cả triều hãy còn nhớ cái tin bất hạnh đó đã giáng xuống ngự án của Tần Vương trong điện Kỳ Niên cùng với gió thu se lạnh. Khi quân hầu vội vã mang sớ từ tiền tuyến về dâng lên Tần Vương. Doanh Chính nhận lấy và xem thì là một bài hịch truyền bá rộng rãi việc thảo phạt Tần Vương. Biết bao năm sau, Doanh Chính hãy còn nhớ rõ câu mở đầu: “Trường an quan Thành Tề thông báo cho thần dân gần xa được biết”.
… Tay Doanh Chính run run như thể chiếc lá đang run lẩy bẩy trong gió. Sau đó Doanh Chính ném tờ hịch đó xuống đất. Tiếng thẻ trúc rơi và tiếng gần gào của Doanh Chính hòa vào nhau lan ra phủ ngọc vỡ dội vào tai các đại thần.
Các đại thần thấy gương mặt đó của Doanh Chính không sáng sủa như tiền vừa đúc khiến người ta phải động lòng như thuở ngày xưa nữa. Vì quân vương việc gì cũng nhất định phải tự làm này đã rất mệt mỏi rồi. Hàng ngày, Doanh Chính phải đọc duyệt đến một trăm mấy mươi câu thẻ tre.
Tần chương bên ngự án từ khi còn chưa thấu ánh nắng mặt trời. Gương mặt Doanh Chính dần dần chuyển sang màu vàng giống như sương sớm lướt trên lá cây vậy. Chỉ có đôi mắt sắt bén và trong suốt như mắt đại bàng kia là vẫn còn rực sáng.
Đang khi cơn thịnh nộ của Doanh Chính còn chưa giảm bớt thì quân hầu của Tần quốc lại về bẩm báo hai thành Hồ Quan và Chường Tử của Tần Quốc dưới sự tấn công dữ dội của phản quân Thành Tề đã bị chiếm đóng rồi. Doanh Chính nghe xong rồi dường như không hẹn mà gặp, ông và các đại thần của mình đều thốt lên kinh ngạc.
Doanh Chính gọi: “Tướng quốc Lã Bất Vi, nghe mỗi lời quốc vương nói đều khiến người ta thấy sổn gai ốc. Bản thân Lã Bất Vi cũng có cái cảm giác này một cách nhanh chóng. Lã Bất Vi bước ra một bước từ trong hàng ngũ đại thần quỳ xuống dưới ngự và nói “Có thần”.
“Ngươi tiến cử Thành Tề làm phó tướng ra tiền tuyến đốc quân thúc sư. Hắn ta đã làm phản đầu hàng Triệu quốc rồi, như thế là sao vậy”. Đây là lần đầu tiên Doanh Chính chất vấn Lã Bất Vi trước đông đủ triều thần. Mấy vị đại thần đứng gần Lã Bất Vi thấy Văn Tín Hầu quyền lực một thời lúc này đang mặt đỏ tía tai. Lã Bất Vi lấy lại bình tĩnh. Ông biết rằng lúc này phải thể hiện ra thái độ không tự hào quá mà cũng không tự ti thì mới có thể giữ được nét tôn nghiêm của ngày trước.
Quỳ lạy xong, Lã Bất Vi đứng dậy đáp lời to rõ ràng mà rằng: “Khởi bẩm đại vương, xưa nay lòng người khó lường. Thành Tề do đâu mà làm phản, không phải chỉ có thần mà e rằng kể cả đại vương cũng khó lòng minh xét. Theo như ngụ ý của thần thì đang lúc việc gấp, không nhất thiết phải minh xét duyên do Thành Tề làm phản mà hãy hỏa tốc xuất quân, hăng hái bình định quân phản nghịch, thu hồi đất đai bị mất”.
Các quần thần thấy việc đang khẩn cấp trước mắt như Lã Bất Vi vừ nói thì gật đầu tán thành đồng chủ ý của Lã Bất Vi.
Doanh Chính cũng thấy được thái độ của bá quan văn võ thì xuống giọng nói: “Được rồi, quả nhân không truy cứu trách nhiệm tiến cử Thành Tề nữa. Lã Bất Vi ngươi hãy nói xem ai sẽ là người dẫn quân bình định quân làm phản, thu hồi đất đai bị mất”.
Lã Bất Vi biết Doanh Chính bảo thủ cố chấp, không thể trái ý nên gần đây bất kể việc gì Lã Bất Vi điều che giấu chủ kiến và tài năng. Lã Bất Vi nói: “Đại vương nhìn xa trông rộng có con mắt nhìn người, xin đại vương hãy tự quyết định”.
Doanh Chính đưa mắt nhìn quần thần một lượt hỏi: “Ai có thể thay quả nhân thống binh bình định phản quân, thu hồi đất đai bị mất?”.
Dưới sự im lìm, bá quan văn võ nhìn nhau không có ai xung phong đảm nhiệm. Thành Tề dẫn người ngựa hàng Triệu, ai mà không biết rõ rằng: Nếu phản quân và Triệu quân tự hội lại thì thế như chẻ tre khó mà địch nổi. Trong tình thế đó các bá quan văn võ đều không dám tùy tiện thống binh.
Doanh Chính lại lên giọng hỏi: “ Ai có thể thay quả nhân thống binh bình định phản quân thu hồi đất đai bị mất?.
Dưới ngự vẫn cái không khí nặng trĩu im lìm của lúc trước. Ý nghĩ như chiếc cối xay uốn lượn đang chuyển động trong đầu Lã Bất Vi. Việc Thành Tề ra tiền tuyến uý quân đốc sư là do ta tiến cử. Thành Tề đã làm phản ta, ta cũng không thoát được những ràng buộc có liên can, cần phải lập công chuộc tội, thống binh đi bình định.Và quan trọng hơn cả là quan hệ huyết thống giữa ta và Quốc vương. Nếu ta không dám anh dũng hăng hái ra đi cứu nguy cho đất nước thì còn đợi ai đây?”.
Lã Bất Vi cân nhắc kỹ lưỡng rồi cuối cùng ông nói: “Khởi bẩm Tần vương, hạ thần nguyện đem quân đi bình định phản quân, thu hồi đất đai bị mất”.
Điều đó thật bất ngờ đối với Doanh Chính. Lúc đó, vị quốc vương này trông mòn con mắt, mong có người bước ra nhưng ông ta hy vọng rằng người đó là Lã Bất Vi. Từ khi còn rất nhỏ Doanh Chính đã tai nghe mắt thấy mối quan hệ giữa Lã Bất Vi và Triệu Cơ. Doanh Chính không muốn mẫu hậu cao quý phải dây máu ăn phần vì người khác. Doanh Chính có đầu sự thù hận ghi xương khắc cốt nhục của Lã Bất Vi mà ông cho rằng những lời đồn kia chỉ là những lời đồn đại vô căn cứ. Doanh Chính hãy còn nhớ rất rõ rằng trong mười năm, khi mình chưa đích thân chấp chính, vị “trọng phụ” chuyên quyền này rất kinh mạng và hay bắt ép ông. Có những chuyện mà bây giờ nghĩ lại thì vẫn như còn sờ sờ trước mắt. Hãy còn trong một thời gian tương đối dài, một số bá quan văn võ cứ hễ nói là gọi Lã tướng quốc hoặc quân hầu như thể vị vua một nước như Doanh Chính chỉ để làm gì mà thôi.
Lúc đó, nếu là một triều thần khác chủ động xin đi đánh giặc thì Doanh Chính sẽ khen ngợi cổ vũ và điều cho 20 vạn quân. Bây giời lại là Lã Bất Vi người mà Doanh Chính vốn không thân cận. Doanh Chính không có lý do gì để phản đối việc Lã Bất Vi thống quân. Doanh Chính hy vọng quân làm phản của Thành Tề sẽ bị tiêu diệt như hoa đàn vừa nở đã tàn, nhưng Doanh Chính không muốn phần thắng nằm trong tay Lã Bất Vi. Và chí ít thì Doanh Chính không thể để Lã Bất Vi dễ dàng chiến thắng trở về.
Doanh Chính đưa mắt nhìn các quần thần một lượt rồi nói: “ Chiếu của quả nhân, do Lã Bất Vi thống soái năm vạn quân ra tiền tuyến Đồn Lưu”.
Nếu là một vị hoàng đế khác điều năm vạn binh mã thì nhất định Lã Bất Vi sẽ phân trần này kia. Năm vạn binh mã thì ít quá. Hậu kỳ Chiến quốc. Tần quốc mỗi lần dụng binh đối ngoại đều thiết lập mặt trận có quy mô lớn, cứ động một tí là dùng đến mười hai vạn binh mã. Lã Bất Vi biết rằng giờ đây ông bỏ sức lực ra vì con trai mình, thế nhưng đứa con đó thì lại trăm phương ngàn kế kìm chế ông ta. Ông như kẻ câm ăn hoàng liên vậy, thấy đắng mà không nói ra được. May thay đã có Mông Ngạo - người mà ông đã từng tin dùng chỉ huy ba mươi vạn binh mã. Khi tác chiến với Triệu quốc Lã Bất Vi có thể nhờ cậy vào bộ phận binh lực này.
Nghĩ đến đây Lã Bất Vi thản nhiên nói: “ Tuân chỉ, xin đại vương chờ đợi tin lành”.
Sáng ngày hôm sau, trong mưa thu lúc dày lúc mỏng, Lã Bất Vi ngồi trên chiêu xa thống lĩnh năm vạn binh mã ra khỏi thành Hàm Dương. Đến khi xuất phát đến tiền tuyến và dùng binh đối phó Triệu quốc thì đã là lúc trời quang mây tạnh buổi chiều ngày hôm sau rồi. Những người từng được Lã Bất Vi dìu dắt như tướng quân Mông Ngao, phó tướng Vương Tiễn, Lý Tín, Nội Sử Đằng đều rất nhiệt tình thiết đãi Lã Bất Vi từ xa đến. Trong quân tướng được viền lên bởi ánh sáng còn lại của buổi hoàng hôn. Sự ấm áp của ánh vàng tràn trề đó khiến người ta cảm thấy ở đây dường như không phải là một chiến trườmg gươm đao đấu chọi mà là gia đình của một vương hầu dìu dắt ti sáo bên tai. Các tướng quân nhận thấy sự lạnh buốt rõ rệt bao phủ trên gương mặt Lã Bất Vi. Mí mắt ông mọng lên che đi đôi mắt vốn tràn đầy niềm vinh dự. Thần thái đó nơi Lã Bất Vi khác xa so với tưởng tượng của họ. Tướng quốc của họ có bao giờ không ngẩng đầu sải bước, mặt mày hớn hở đâu. Sao giờ đây lại trầm mặc không nói, ngổn nganh trăm mối tơ lòng?
Chắc chắn là việc quản quân của Thành Tề là một tảng đá đè lên lòng ông. Tiếng va chạm chén uống rượu như con sâu nhỏ đang luồn vào mang tai ông. Với mỗi chén rượu được chuốc ông đều uống một hơi hết sạch. Tuy lòng ông nặng nề nhưng cũng không thể làm mất hứng của mọi người. Sau khi “ Thửu chí tam tuần, thái quá ngũ vị”. Lã Bất Vi nói số binh mã ông thống lĩnh ít quá. Còn chưa để Lã Bất Vi nói hết, Mông Ngao đã vỗ to ngực nói: ba mươi nghìn binh lích của Tần quốc chỉ làm theo ý của tướng quốc thôi.
Ngày hôm sau năm vạn binh mã của Lã Bất Vi và ba mươi vạn binh mã của Mông Ngao hội tập làm một rồi rầm rộ tiến về Đồn Lưu. Trên đường qua lại thành Chương Tử và Hồ Quan, quân làm phản không chịu nổi một đòn đánh phải tan rã tan tành trong giây lát. Tin tức truyền đến Đồn Lưu , Thành Tề một mặt bố trí phòng thủ, một mặt thì xin Triệu quốc viện trợ.
Ba mươi lăm vạn đại quân Tần quốc cắm trại ở Hộ Thành Hà – Đồn Lưu . Các lều trại cái này nối cái kia như gò đồi chi chít vây chặt lấy Đồn Lưu.
Đang khi Lã Bất Vi muốn phát binh tấn công thì có một quân úy tên gọi Dương Đoan Hòa của quân Tần xin gặp Lã Bất Vi. Dương Đoan Hòa gặp Lã Bất Vi thì nói: Trước đây thần là một môn khách của Thành Tề. Lã Bất Vi nhìn kỹ mặt mũi người này thấy hơi quen. Khi Dương Đoan Hòa nói vậy thì ông mới nhớ là đã gặp người này ở chỗ Di Hồng. Dương Đoan Hòa nói: Tiểu nhân có một kế có thể lấy Đồn Lưu. Đợi ông ta nói xong Lã Bất Vi thấy có thể thực hiện kế đó thì dặn dò Dương Đoan Hòa phải xử lí cẩn thận.
Gần trưa, Phan Dương Dư Kỳ ra khỏi thành giao chiến với quân Tần. Dương Đoan Hòa và một đội quân Tần thay mặt phục trang của quân Thành Tề và đợi đến khi quân của hai bên giết nhau lẫn lộn thì băng qua Hộ Thành Hà và lọt vào Đồn Lưu. Dương Đoan Hòa bảo các tuỳ tùng đợi ở ngoài cổng thành rồi một mình ông ta vào gặp Thành Tề. Việc Lã Bất Vi thống soái ba lăm vạn đại quân tiến đến tấn công khiến cho Thành Tề sợ vãi đái. Thành Tề giờ đây chẳng khác nào kiến gặp lửa cứ vòng ra vòng vào trên mặt đất. Thành Tề không ngừng sai người lên thành xem xét, xem xem Phàn Dư Kỳ có đánh thắng không, xem quân viện trợ của Triệu quốc đã đến chưa. Khi Thành Tề gặp lại Dương Đoan Hòa, môn khánh ngày trước của hắn thì cũng là lúc hắn đang ngổn ngang trăm mối. Thành Tề hỏi Dương Đoan Hòa đến đây bằng cách nào. Dương Đoan Hòa đáp rằng: đến cùng đại quân của Lã Bất Vi. Thành Tề lại hỏi Dương Đoan Hòa đến gặp ta hắn có yêu cầu gì. Dương Đoan Hòa nói: Lã tướng quân mời ngài ra ngoài thành nói chuyện với ông ấy. Thành Tề và Dương Đoan Hòa lên thành thì thấy binh mã hai bên đang giết nhau lẫn lộn. Bụi đất bị vó ngựa tung lên mù mịt, ánh hào quan của qua kích thì giống như vảy cá rợp trời kín đất. Thành Tề không nhìn rõ Lã Bất Vi ở chổ nào. Đang lúc Thành Tề muốn xem Lã Bất Vi đang ở đâu thì chỉ thấy Dương Đoan Hòa giật một lá cờ trắng từ trong tay áo ra. Trên lá cờ có thêu chữ: “giáng” (hàng) nổi bật một cách rỏ ràng.
Dương Đoan Hòa xông lên hành khản cổ gào to: “Trường An quân hầu đã lệnh cho toàn thành đầu hàng rồi!”. Đến khi Thành Tề hiểu rõ mọi chuyện thì đoản kiếm trong tay Dương Đoan Hòa đã đặt lên gáy hắn ta rồi.
Phàn Dư Kỳ đang ra sức chém giết ở dưới thành cho rằng Thành Tề đã đầu hàng thật thì ngửa cổ than rằng: “Nhữ tự bất túc phụ dã” (Không thể trông cậy vào con trẻ!). Sau đó mở một đường máu chạy về Yên Triệu. Quân làm phản thấy chủ soái chạy trốn vào vùng đồng hoang thì lộn xộn rối bời. Có người thì quy phục xin hàng, có kẻ thì quay đầu chạy trốn như chuột lủi.
Quân Tần theo Dương Đoan Hòa vào thành chiếm cứ lấy cổng thành đồng thời nghêng đón đại quân do Lã Bất Vi và Mông Ngao hiên ngang tiến vào thành Đồn Lưu. Thành Tề thấy thế lớn không còn nữa thì đành phải buông tay chịu trói.
Niệm Thành Tề là em trai của Tần Vương. Lã Bất Vi muốn xử lý nhẹ giáng chức Thành Tề làm thứ dân, sung quân Ba Thục; Quân làm phản và cư dân Đồn Lưu thì đều giáng làm nô lệ đầy đi biên tái: Lã Bất Vi sai quân uý về Hàm Dương xin chiếu Doanh Chính. Quân uý mang chiếu của Tần Vương từ thành Hàm Dương đến một cách nhanh chóng. “Phản tặc không giết chết thì cốt nhục của hắn cũng sẽ mưu phản mà thôi! Thành Tề, quân làm phản và dân cư Đồn Lưu toàn bộ chu di”. Lã Bất Vi thấy cư dân Đồn Lưu vô tội, nếu giết hại hàng loạt thì thật tàn nhẫn quá giả mệnh đem Thành Tề và quân làm phản ra xử chảm hết thảy. Còn cư dân Đồn Lưu thì chuyển về địa bàn Lâm Thao xa xôi hẻo lánh.
Nghi thức nghênh đón phía ngoài thành Hàm Dương vô cùng đơn giản sơ sài - điều đó cũng không nằm ngoài dự tính của Lã Bất Vi. Ánh nắng nhàn nhạt của mùa thu rớt trên đám ngựa xe cờ quạt và dân chúng thưa thớt. Một số đại thần và quân uý chú ý thấy trên khuôn mặt phong trần của Lã Bất Vi không hề có một vẻ đắc ý hay vui mừng của một người thắng lợi. Ánh nắng nhạt đã chuyển thành màu trắng nơi mặt của Lã Bất Vi.
Lã Bất Vi về đến phủ tướng quốc thì các môn khách và gia nhân trong phủ nhiệt liệt đón mừng đã kể cho ông nghe nhiều tin tức. Lã Bất Vi vô cùng kinh ngạc khi thấy thái độ lạnh nhạt của họ khi họ kể đến chuyện Tần Vương bị nhiễm bệnh, họ hoàn toàn không tỏ thái độ đau đớn tuyệt vọng hay sự luống cuống sợ hãi. Trong câu chuyện hỗn tạp đủ các loại của các môn khách, Lã Bất Vi được biết việc làm phản của Thành Tề đã khiến Doanh Chính bị độc hoả công tâm, miệng lưỡi lở loét, mông đít lở loét thối rữa. Nghe vậy Lã Bất Vi chẳng quản nhọc nhằn vội đến điện Kỳ Niên hỏi thăm nhà vua.
Khi Lã Bất Vi bước vào trong điện thì liền ngửi thấy mùi thuốc sắc kỳ quái khó ngửi đang bay đầy trong điện. Trong phòng của Doanh Chính, các ngự y chân tay cuống quýt vây quanh giường bệnh của nhà vua. Lã Bất Vi hướng đôi mắt dịu dàng thắm thiết nơi má Doanh Chính. Khi ông nhìn thầy khuôn mặt xanh xao tiều tụy của Doanh Chính thì sự khó chịu dường như đã thành sự lo lắng trong ông. Lã Bất Vi bắt đầu hỏi thăm và an ủi Doanh Chính bằng những lời lẽ thành thật dễ lọt tai. Tuy Doanh Chính với thân thể suy nhược nhưng ánh mắt thì vẫn không lộ vẻ trống trãi hoảng hốt. Doanh Chính nhìn Lã Bất Vi bằng một anh mắt tràn đầy sức sống rồi sau đó lại nói với Lã Bất Vi bằng giọng nói không hài lòng mang tính chất vấn rằng: “Tướng quốc, người không nên nhân nhượng vô nguyên tắc mà tha thứ cho lũ điêu dân Đồn Lưu”. Lã Bất Vi nói: “Bệ hạ làm vua thiên hạ, chẳng gì bằng đức, chẳng gì bằng nghĩa, sau đó mới là thưởng phạt”. Doanh Chính cũng không lấy gì làm lạ bởi những lời thuyết giáo của Lã Bất Vi. Doanh Chính nói: “Quả nhân nhất định sẽ dùng hình pháp nghiêm khắc, áo đỏ tắc đường, nhà tù thành chợ để cai trị thiên hạ. Như thế thì dân thường áo vải mới nhìn thấy mà sợ, không dám phạm thượng làm loạn, gian đao giả dối”. Lã Bất Vi biết rằng nếu cứ thảo luận với Doanh Chính về việc “trọng đức trị” hay là “trọng hình phạt” thì khi lời qua tiếng lại, mâu thuãn giữa hai họ rồi sẽ chẳng khác nào lưỡi dao sắc thêm loáng. Lã Bất Vi dặn dò đám ngự y rồi cáo từ ra về.
Thứ mùi thuốc khiến người ta thấy buồn nôn đang bao phủ nơi điện Kỳ Niên kia ngày một đậm đặc. Khi các phương thuốc tốt của các ngự y kia chẳng có tác dụng gì đối với bệnh tình của Doanh Chính thì chính Doanh Chính và Lã Bất Vi đều bắt đầu thực sự lo lắng.
Lã Bất Vi thấy các ngự không còn cách gì khác để chữa trị bệnh tình của Doanh Chính thì cho treo bảng trọng thưởng ngàn vàng, trưng cầu thương phẩm danh y trong dân. Đám người xem thì chặc lưỡi nắc nỏm khen ngợi số tiền thường khả quan trước mặt mấy câu rồi lại gật gù đắc ý bước đi. Mấy ngày sau đo thì người xem tước biển to cũng thưa thớt đi. Đương lúc mấy viên quan lại canh biển mệt mỏi rũ rượi thì có một người xấu xí trên mặt bị vết dao sâu làm rúm ró laị. Người này bước đến và không chút ngần ngừ tháo biển xuống.
Khi được dẫn đến trước Lã Bất Vi người này nhất mực tự tin nói rằng ông ta có thể trị được bệnh tật cho Tần vương. Lã Bất Vi hỏi tên họ lai lịch người đó thì ông ta trả lời rằng: “Người sơn dã không màng danh tiếng, các ngài cứ gọi tôi là Xú Y là được”. Lã Bất Vi nói: “Xú Y nếu ngươi không chữa khỏi bệnh cho đại vương được thì đó là tội khi quân đấy”. Xú Y nói: “Nếu không chữa khỏi bệnh cho Tần vương thì cho dù bị róc xương róc thịt, cho dù có bị đun sôi tôi cũng không trách”.
Khi Xú Y chẩn trị cho Doanh Chính thì đám ngự y xì mũi coi khinh ông ta và Lã Bất Vi đều mở to mắt hiếu kỳ quan sát. Người ngày ngoài việc cho những dược thảo vào trong đỉnh đồng ninh như một tiền lệ quen thuộc xong rồi chắt ra một bát thuốc vàng khè tỏa ra mùi chát xít rồi dâng lên miệng vua, thì cũng không có một bí quyết bàng tay vàng nào cả. Nhưng sau khi Doanh Chính nhíu mày uống thuốc xong thì Xú Y bắt đầu phương pháp điều trị thứ hai. Những người xem tập trung quanh giường bệnh của Doanh Chính đều kinh ngạc đến đẫn đờ. Chỉ thấy Xú Y cúi sát xuống Doanh Chính và để Doanh Chính nằm xấp xuống rồi lấy mồm mút các máu mủ nơi các vết thương trên mông đít Doanh Chính. Doanh Chính bị mút ngứa ngáy thì không quen liền bật cười hì hì. Chỉ thấy Xú Y chùn chụt đầy môm màu mủ sau đó thì ông nhổ xuống một đồ đựng bằng gốm bên giường Doanh Chính. Khi Xú Y lại mút tiếp lần thứ hai thì trong phòng của Doanh Chính không ngớt những lời nắc nỏm khen ngợi. Điều mà mọi người khen ngợi không phải là kỹ thuật chữa trị của Xú Y mà là lòng trung thành của ông đối với Tần vương.
Dưới sự trị liệu tỉ mỉ và hầu hạ của Xú Y, bệnh hiểm của Doanh Chính đã có sự chuyển biến tốt như có phép thần vậy. Khoảng một tháng thì bệnh của Doanh Chính đã khỏi hẳn. Trong ngoài điện Kỳ Niên, khắp nơi đều truyền tụng câu chuyện về Xú Y. Y thuật tỉ mỉ mà khuôn mặt khác thường của Xú Y khiến cho những vương hầu quan tướng đều nảy sinh niềm thích thú khôn cùng.
Không những Xú Y có bộ mặt mà người thường không có mà ông ta còn có tính cách mà người thường không có. Ông ta trầm mặc ít nói, sâu sắc nhưng dễ hiểu và ông ta sợ gặp người khác. Ngay cả khi Doanh Chính tổ chức yến tiệc mừng công cho ông ta thì ông ta cũng từ chối khéo. Nhưng khi Doanh Chính muốn ông ta ở lại làm ngự y trong triều thì ông ta vui vẻ nhận lời.
Có một hôm, Xú Y bị Lã Bất Vi gọi đến phủ tướng quốc. Xú Y đối mặt với sự cảnh giới chặt chẽ trong phủ tướng quốc và khuôn mặt trầm mặc không dễ gì nói cười của Lã Bất Vi thì phỏng đoán rằng có lẽ xảy ra chuyện gì không hay với ông ta. Rất nhanh, Xú Y liền chú ý đến nụ cười hạn chế như thể một áng mây màu xuất hiện trong đám mây đen trên mặt Lã Bất Vi.
Sau khi mời Xú Y ngồi xuống xong, Lã Bất Vi liền nói:
“Thần y, ngài chữa bệnh cho đại vương chúng tôi thật là công đức ngàn năm. Đến bây giờ ngài cũng nên nói ra lai lịch thật của ngài đi”.
Mặt Xú Y tựa như một tấm thép lạnh lùng và cũng không tỏ thái độ gì. Đối mặt với anh mắt kim đâm của Lã Bất Vi, ông ta trả lời một cách tự nhiên: “Tôi sinh ra ở Thảo Mãng hành nghề y thôn dã, không màng danh lợi. Tướng quốc biết tên tôi là Xú Y là đủ rồi”.
Nụ cười dường như bao hàm một ý khác trên khuôn mặt Lã Bất Vi cũng mất dần đi. Lã Bất Vi nói: “Được, nếu thần y không muốn lộ rõ lai lịch của mình thì ta sẽ mời người đến để kể ra bộ mặt vốn có của người”.
Lã Bất Vi nói xong thì Tư Không Mã bước ra từ phía sau bình phong. Tư Không Mã nắm tay trước ngực chào Xú Y rằng: “Triệu Hoảng đại ca, anh vẫn khỏe chứ!”.
Thì ra từ khi Xú Y gỡ biển vào cung thì Lã Bất Vi đã nghi ngờ mai danh ẩn tích của ông ta rồi. Đặc biệt là chất giọng đặc sệt Yên Triệu khiến ông phải cảnh giác. Có một hôm đưới ánh nắng chói chang, khuôn mặt của Xú Y khiến Lã Bất Vi sực nhớ đến một người. Lã Bất Vi cảm thấy người này giống hệt Triệu Hoảng, người này giống như Triệu Hoảng-người mà ông đã gặp ở Đào Hoa Dục sơn-Lã Bất Vi sợ mình nhìn nhầm thì đã tìm Tư Không Mã đến ngầm phân định phân biệt. Tư Không Mã nhìn không bao lâu thì khẳng định ngay Xú Y chính là Triệu Hoảng thoát chết trong trận Chường Bình. Nhưng tại sao hắn ta lại phải thay đổi dung mạo, phải giấu tên tuổi đến trị bệnh cho Doanh Chính thì không thể hiểu nổi. Tư Không Mã hoài nghi nói: “Hay là Triệu quốc sai đến làm thích khách, hãy bắt hắn lại tra hỏi và xử phạt nghiêm khắc”. Lã Bất Vi nói: “Hắn chữa khỏi bệnh cho đại vương, xem ra bệnh của đại vương đã khỏi hẳn rồi. Nếu giữa đường mà bắt hắn làm nhỡ việc trị bệnh cho đại vương thì lại là làm việc nhỏ nhưng hậu quả khó lường”. Thế là, Lã Bất Vi liền ngầm sai người giám sát chặt chẽ hành tung của Xú Y.
Mấy hôm đầu chưa có dấu hiệu gì lộ ra nơi Xú Y. Các nếp như đi lại ăn ở đều theo mực thước, không có gì vượt ra khỏi pham vi quy định. Nhưng mấy hôm sau thì phát hiện ra cái đuôi áo của hắn. Những lúc không có ai hắn liền nhòm ngó đường đi xung quanh và phòng của Doanh Chính. Điều càng làm cho Lã Bất Vi lo sợ hơn cả là khi khám xét ngầm túi thuốc của Xú Y phát hiện có một thanh đoản kiếm được giấu trong đó. Lã Bất Vi nhận định: “Xú Y chắc chắn thích khách do Triệu quốc phái đến; Chính bởi vậy khi bệnh của Doanh Chính đã khỏi, Lã Bất Vi liền thẩm xét Xú Y.
Xú Y đích thực là Triệu Hoảng, sứ mệnh của hắn là hành thích Doanh Chính nhưng chỉ có điều hắn chưa tìm được cơ hội để hạ thủ thôi.
Triệu Hoảng thấy mình bị Tư Không Mã nhận ra. Sau giây phút sợ hãi ngắn ngủi thì hắn trấn tĩnh lại và nói: “Xa nhau dễ đến mấy năm rồi, hiền đệ vẫn có thể nhận ra đại ca mặt mang vết dao thật là không dễ”.
Trên miệng Tư Không Mã xuất hiện cái cười nhạt. Tư Không Mã hỏi: “Đại ca tốn công vô ích đến thành Hàm Dương sợ rằng không phải là để gặp mặt tôi”.
Triệu Hoảng nói: “Hiền đệ hỏi như thế khiến người ta thấy khó lý giải. Hiền đệ và tướng quốc đều biết rõ là do biểu to của mọi người gọi ta đến để cứu người bệnh tật, chữa bệnh cho đại vương mà”.
Lã Bất Vi lệnh cho người vứt túi thuốc của Triệu Hoảng xuống đất và hỏi:
“Trị bệnh cho đại vương chúng tôi sợ không dùng được thanh kiếm này”.
Triệu Hoảng thấy âm mưu của mình bị bại lộ thì vội xông đến giằng lấy thanh đoản kiếm, định đâm Lã Bất Vi và Tư Không Mã nhưng đã bị hai đại hán cao lớn xông đến trói chặt lại.
Tư Không Mã nói: “Đến nước này thì người nên nói thật đi”.
Triệu Hoảng cương quyết nói: “Việc đã đến nước này thì ta nói cho các ngươi biết vậy: Ta đến để hành thích Tần vương. Đừng thấy rằng Tần quốc các ngươi binh hùng mã mạnh, đang thịnh, Mong Ngao dẫn ba mươi ngìn đại quân đến tấn công Triệu quốc ta. Nhưng nhân dân Triệu quốc sẽ không bao giờ khuất phục Tần quốc đâu. Ta tự hủy khuôn mặt ta là để các người không nhận ra ta nhưng chỉ tiếc rằng chưa tìm được cơ hội để hạ thủ mà thôi. Tuy rằng ta không thành công nhưng các ngươi cần phải biết rõ rằng: Con cái Yên Triệu thì khó khuất phục lắm. Từ hôm ta đến thành Hàm Dương thì ta không thèm để ý đến sinh mạng mình nữa, cũng không thèm để ý đến hình phạt lăn trì của các người.
Thái độ coi thường cái chết của Triệu Hoảng dường như đã chấn động và cảm hóa Lã Bất Vi. Lã Bất Vi nói: “Triệu Hoảng, ta rất khâm phục lòng dũng cảm của người. Nhưng ngươi là kẻ lỗ mãng không biết thời thế. Đại Tần chúng ta từ khi khai quốc bắt đầu, quân thân đã có chí khí hào hùng thu gom thiên hạ, thâu tóm bốn bể. Đến đời Hiến Công, Thương Quản phò tá giúp việc về mặt đối nội thì xây dựng chế đố lập pháp, thực hiện canh tác. Chỉnh đốn kiện toàn kho vũ khí. Về mặt đối ngoại thì thu phục chư hầu, không tốn một chút sức lực nào mà đã thu tóm phục được bốn bể. Tần quốc ngày một cường thịnh, các chư hầu sợ hãi thì hợp tác với nhau và qua lại với nhau như một, đã từng nhiều lần dẫn hàng trăm vạn quân tấn công Tần quốc. Kết quả là thế nào! Tần quốc mở cửa khẩu nghênh địch, binh lính kiên dũng thiện chiến đánh cho quân chín nước đều tan thây nát thịt, máu chảy lềnh bềnh. Cho đến bây giờ Doanh Chính là vua, quốc thế ngày một phát triển đi lên, chấn hưng chính sách lâu dài mà trị vì trong thiên hạ. Tần vương thống nhất thiên hạ, thế lực mạnh lớn, kẻ nào dám ngăn trở. Triệu Hoảng, đại vương chúng ta đầy cá nhân, vốn có thiên tướng, âm mưu của ngươi sẽ không thể thực hiện được. Cho dù có thực hiện được thì các công tử điện hạ khác của Chương Tương Vương khi làm vua cũng sẽ vẫn quyết định sách lược tác chiến phía sau và sẽ quyết thắng vượt xa ngàn dặm. Cuối cùng sẽ tiêu diệt xong các nước chư hầu, khôi phục lại ngôi vị, đồng phục lục hợp. Lã Bất Vi ta nể người cáo công chữa bệnh cho đại vương, nể ngươi trung thành dũng cảm, nay cho người một lối thoát đó”.
Lã Bất Vi thấy Triệu Hoảng nghe xong lời ông ta nói vẻ hồ nghi ngửa cổ cười lớn mà rằng: “Hừ, ta không tin các người sẽ thả một người mưu hại Tần vương. Các ngươi nắm quyền sinh sát trong tay thì không cần phải vòng vo với ta nữa đâu!”.
Lã Bất Vi lệnh cho người đem phong truyền đến nói với Triệu Hoảng rằng: “Nói thế nào làm thế ấy đó là mỹ đức của người quân tử. Ta nói thả ngươi thì sẽ thả ngươi. Ngươi hãy cầm lấy giấy thông hành mà ta cấp phát sẽ không gặp cản trở gì tại Tần quốc và cũng như không có người gia hại ngươi. Nhưng ngươi phải chấp thuận với ta rằng không còn thù địch với Tần quốc nữa”.
Lã Bất Vi nói xong thì bảo mọi người thả Triệu Hoảng ra và đưa cho hắn phong truyền.
Triệu Hoảng nhận lấy phong truyền, giàn giụa nước mắt quỳ lạy mà rằng: “Tiểu nhân Triệu Hoảng xin được cảm tạ tấm lòng bao dung độ lượng và ơn không giết của tướng quốc. Về sau thần không thù địch với Tần quốc nữa và cũng không thù địch với các nước chư hầu khác. Thần sẽ làm một thầy lang thảo dược không có xu hướng phát triển, giang hồ phiêu bạt sơn dã cho xong đời này”.
Khi Triệu Hoảng sắp đi, Lã Bất Vi còn lệnh cho người lấy ra một ít tiền vàng để hắn chi dùng. Sau khi Triệu Hoảng đi rồi thì Tư Không Mã nói: “Xú Y đi rồi, cần phải bẩm báo việc này cho đại vương biết”. Lã Bất Vi suy tính một lúc rồi nói: “Việc này không nhất thiết phải nói với đại vương. Một khi đại vương biết được chân tướng của chuyện này sẽ không vui và lại sinh nghi”
Vừa vào đến cửa Rạp Nguyệt, một trận tuyết nhỏ rắc đầy trời không nhanh không chậm. Trong thành Hàm Dương nóc nhà trắng xóa như miếng vá. Không khí trong lành và sảng khoái khiến tinh thần Doanh Chính phấn chấn hẳn lên sau khi sức khỏe đã được hồi phục. Triệu Cao thấy Doanh Chính đang có hứng thú thì nói: “Đại vương, long thể của ngài mạnh khỏe. Bây giờ đang là giai tiết đi săn”.
Triệu Cao dâng lời khuyên can thật đúng lúc đúng chỗ khiến Doanh Chính cũng hửng khởi nóng lòng muốn thử. Khi sắp xếp nhân viên tùy tùng thì Doanh Chính viết vào đó Xú Y. Lúc đó Doanh Chính mới sực nhớ ra đã mấy hôm liền không gặp vị ân nhân cứu mạng mình rồi thì liền vội sai người đi tìm khắp nơi. Người về bẩm báo lại với Doanh Chính rằng phụng mệnh tướng quốc Xú Y đã đi khỏi điện Kỳ Niên, không biết là đi đâu.
Sau khi biết được như thế thì Doanh Chính đùng đùng giận dữ mà rằng: “Lã Bất Vi, trong mắt ngươi không có quả nhân nữa rồi chăng!”
Triệu Cao đứng bên cạnh lại thêm dầu thêm mỡ nói: “A, Lã tướng quốc không chỉ thiệm quyền trong triều đình mà lại còn can thiệp vào chuyện riêng của đại vương nữa!”
Các hoạn quan thấy Doanh Chính nghe Triệu Cao nói xong thì tức đến sắc mặt trắng bệch, mới nói: “Có ơn mà không báo đáp thì không phải là quân tử, Xú Y chữa khỏi bệnh cho quả nhân, quả nhân còn chưa trọng thưởng cho Xú Y sao lại dám thất lễ. Truyền chiếu chỉ của quả nhân, dán ảnh của Xú Y trên toàn quốc. Người nào biết được Xú Y ở đâu sẽ nhận thưởng; Ai đưa Xú Y đến điện Kỳ Niên sẽ nhận trọng thưởng”.
Hai cánh cửa điện màu đỏ thẳm nơi phòng ngủ của Triệu Cơ trong điện Chiêu Thanh được đóng mở một cách có quy luật theo bóng dáng ra vào tùy thích của Lao Ái. Lao Ái đã tạo ra sự vui vẻ không có giới hạn cho thái hậu trên người bà. Đồng thời bản thân Lao Ái cũng được nếm thưởng sự giàu có và vui vẻ nhục thể ra. Hắn được phong là Trường Tín Hầu-tước vị tương đương với tước vị của Lã Bất Vi. Ngoại trừ có đất Sơn Dương là phong ấp của hắn ra thì hắn lại đổi quận Hà Tây Thái Nguyên thành Lao Quốc và quy hoạch theo danh nghĩa của hắn và thế là Lao Ái trở nên hiển hách như nước sông trào dâng. Ngoài phủ đệ vẫn chưa tu sửa kịp thì ngựa xe, trang phục, quy cách sắp xếp bố trí đi lại cho Lao Ái đều chẳng kém gì Lã Bất Vi. Môn khách và gia đồng của hắn đã đến nghìn người mà hãy còn nhét đầy chỉ có tăng chứ không bớt. Khi Tư Mã Thiên lập truyện cho Lã Bất Vi đã từng than rằng Lao Ái giàu sang phú quý nhanh chóng quá. “Lao Ái thường xuyên theo sát thái hậu, được hậu thưởng. Mọi việc nhỏ trong triều đều thuộc về Lao Ái. Lao Ái có gia đồng đến hơn mấy nghìn người. Những hoạn quan xin nương nhờ phủ hắn cũng tính bằng ngìn”.
Chuyện Lao Ái vinh hoa phú quý khiến cho trong ngõ ngoài đường, hầu môn thân chủ khai sinh ra một câu chuyện kéo dài không ngớt. Nhặt được ngàn vàng không bằng chọn đúng một người bạn. Những tay lưu manh xó chợ Bình Tố và Lao Ái đã cùng vật vạ lang chạ đã phát đạt hẳn lên nhờ dựa vào quyền thế của Lao Ái. Mỗi khi xa nghi phô trương lòe loẹt của bọn họ đi qua đường phố thì các bà các chị lại chỉ chỉ trỏ trỏ nói cho con cháu họ biết rằng người ấy chính là vệ úy tứ có biết chút quyền thuật thường hay ra oai giúp Lao Ái đánh nhau, bây giờ trở thành vệ úy phụ trách cảnh giới trong hoàng cung, việc canh tuần trong cung vào ban đêm và các đồn vệ bộ hạ cửa cung đều do hắn nắm giữ. Người ấy là nội sử tứ, trước đây được ngồi bàn ghế mấy hôm ở trường tư thục, về sau sợ học vất vả mà bỏ dở học hành, giờ đây hắn trở thành bọn nhắm của Lao Ái, giúp Lao Ái bàn mưu định sách. Bây giờ nội sử tứ thăng tiến ghê lắm: về quân sự hành chính các khu vực xung quanh thành Hàm Dương đều do hắn quyết đoán. Người đó chính là tả dực kiệt đã từng là quân khua chiêng gõ trống mua vui, Lao Ái dùng sở trường của hắn cho hắn làm chủ quản bắn tên. Người ấy chính là Lệnh Tề. Hắn thấy sau khi Lao Ái trở thành hoạn quan thì vinh quy hiển đạt và hắn đi thiến thật. Lao Ái thưởng cho hắn một chức quan trung đại phu. Nhưng đừng xem thường vị khach suông bình thường chỉ huy uốn lưỡi này, hắn là quan tư vấn bên cạnh quân vương có thể bàn việc triều chính với Tần vương. Hắn chính là Nhan Tiết vốn là một tay cờ bạc. Nay hắn trở thành gia tướng của Lao Ái. Ngoài việc quản lý công việc gia đình ra thì hắn còn đi cùng Lao Ái đánh vài ván bạc cũng những viên quan phát đạt…

Khi những tiếng lúc lắc từ những chiếc xe sang trọng ấy mất dần nơi cuối phố thì những người dân thường hãy còn nhìn theo đám bụi đất bị bước chân người và bánh xe làm tung lên mù mịt rồi lại không ngớt kể lại rằng. Cách đây không lâu vào một đêm đông gió bất lạnh giá thổi quét cành khô lá úa xaò xạc. Trên thành Hàm Dương xuất hiện một ngôi sao chổi trắng bệch. Chiếc đuôi dài của nó giống như một chiếc chổi và cứ chiếu sáng mãi trên bầu trời. Những người dân thường ưa truyền những tin vịt nơi đầu đường thành Hàm Dương thì nói bằng một vẻ kinh hoàng sợ hãi: Sự xuất hiện của ngôi sao thần bí này đoán trước sẽ có người xấu đến nhiễu loạn kỷ cương triều chính. Nhưng lúc đó lại không có ai liên hệ điềm đó với Lao Ái. Một năm sau đó khi đồng đảng bầy dê lũ chó của Lao Ái phản nghịch làm loạn bị tan vỡ và bị xử trảm, xé xác diệt tộc thì những người trước đây hay bàn luận về Lao Ái lo lắng. Họ sợ đồng đảng thì sẽ bị dây dưa nên bây giờ câm như hến.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5933
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Lã Bất Vi***   Mon Nov 10, 2014 6:55 pm

Những tôi tớ và hoạn quan trong cung vua còn nhớ rất rõ rằng Lao Ái luôn chuyển động theo thái hậu như một chiếc bóng. Đó là vào một ngày thu mà từ đó về sau vây cánh của hắn thương xuyên ra vào cung Chương Đài. Tuy mùa đông với lá cây xào xạc và người đi đường ít ỏi đã đến nhưng ngựa xe áo gấm bỗng nhiên tăng nhiều khiến cho cung Chương Đài náo nhiệt hẳn lên. Có một dạo trong cung tắt nghẽn tất cả mọi cái đều đã khiến cho người ta phải rối ren hoa mắt. Nếu như thoạt đầu mới đến người ta không thể lần ra đầu mối mà sự mưu tính hại nhau không rõ nguồn cơn giữa các bè phái khiến cho họ thấy chán ngán mà phải lùi bước. Những tay hoạn quan già giỏi việc tìm tòi suy xét tâm lý nhà vua và phân loại đảng phái cho các quan đại thần thì tìm ra đầu mối một cách nhanh chóng trong quan hệ nhân sự hỗn tạp rối bời đó. Họ bắt tất cả phải nhất trí rằng trong triều đình chia làm ba phái: một phái là thế lực của Lã Bất Vi. Ông từng lấy danh nghĩa là tướng quốc và “trọng phu” đã một dạo nắm toàn bộ triều chính kỷ cương. Bây giờ tuy quyền lực bị phân tán nhưng lạc đà gầy vẫn to hơn ngựa và ông vẫn không phải dạng tầm thường. Một phái là thế lực của Lao Ái. Bọn chúng lấy thái hậu làm núi dựa và nắm giữ một bộ phần quyền lực rất lớn. Lũ người này là một bọn vô học, bọn chúng dám làm những điều vô lại, bí quá hóa liều nơi đầu chợ. Bọn chúng lòng tham vô đáy, trành giành quyền lợi không chút đắn đo. Có viên hoạn quan thiển cận hẹp hòi thì lại cho rằng lực lượng của bọn này giống như mặt trời mọc ở đằng đông vậy, khó mà ngăn cản. Một phái là lực lượng của Doanh Chính. Tuy Doanh Chính có tính cách chuyên quyền độc đoán và địa vị cao nhất do vì mới chấp chính không lâu. Khi còn chưa lên ngôi, Doanh Chính luôn không muốn lấy ra một bộ phận quyền lực của Lã Bất Vi và Lao Ái. Những hoạn quan am hiểu những việc bí mật cung triều này không chỉ hòa giải giữa các phái dễ như dao thái thịt của người đầu bếp giỏi mà còn lấy đó để phục vụ cho công tác thu gom tư liệu và tình báo để ngầm truyền đi hoặc bán cho các bạn bè thân thích các chư hầu lục quốc Quan Đông. Có sách sử đã vạch ra việc Ngụy quốc đã lợi dụng mâu thuẫn giữa Lã Bất Vi và Lao Ái trong triều thần như sau: Năm 239 trước Công nguyên có một lần đại quân Tần quốc tấn công ác liệt Ngụy quốc. Nước Ngụy thế yếu không còn chỗ nào bám víu. Cảnh Dẫn vương không còn cách nào thì sợ hãi không còn cách nào yên. Trong lúc cấp yếu sinh tử tồn vong ấy thì có người xin Khổng Thuận nước Ngụy chỉ giáo để lui giặc. Không Thuận là hậu duệ của Không Tử người nước Lỗ. Khổng Thuận được mọi người gọi là “Tử Thuận”. Tử Thuận nói: “Bề tôi chút kiến giải vụng về nhưng những người đang năm giữ chính quyền kia chưa chắc đà chịu nghe chi bằng tôi không nói thì hơn”. Thái độ lưỡng lự muốn nói lại thôi của Tử Thuận được Cảnh Dẫn vương biết được thì đích thân đến nơi Tử Thuận ở xin được chỉ bảo. Tử Thuận thấy vua một nước lại có thể khiêm tốn cung kính như vậy thì đã nói ra mưu lược của mình. “Nếu đại vương nghe theo kế của thần chịu mất một ít đất đai mà không làm ảnh hưởng đến nguyên khí của quốc gia. Mất một chút danh dự mà không tổn hại quốc sách. Như thế thì mối thù quốc nan khả giải sẽ được trả thôi!”. Cảnh Dẫn vương như bị rơi vào năm dặm sương mù không biết tại sao phải làm như vậy thì nói: “Mời tiên sinh hãy chỉ rõ”. Tử Thuận tiến thêm một bước trình bày sách lược của mình có Cảnh Dẫn nghe: “Hạ thần cho rằng: Bây giờ Lã Bất Vi và Lao Ái trong cung đình Tần quốc đanh tranh giành quyền lực, đại vương có nghe nói không? Hà gì đại vương không cắt bỏ một chút đất đai hối lộ cho Lao Ái. Như thế có thể tăng thêm thanh danh cho Lao Ái, ủng hộ Lao Ái trong khi Lã, Lao đấu đá nhau. Như thế thái hậu nước Tần cũng sẽ cảm ơn công đức của ngài và thực lòng liên kết hữu hảo với Ngụy quốc. Trước đây hai nước Ngụy Tần như chân với tay, đối xử tốt với nhau mà bây giờ Tần quốc tấn công chúng ta đều là do quỷ ý của Lã Bất Vi cả. Sự đấu đá lẫn nhau giữa Lã-Lao sẽ tạo cho đại vương một cơ hội để tận dụng khiến Tần vương không còn tín dụng Lã Bất Vi nữa, khiến các nước chư hầu phải xa lánh Lã Bất Vi, đó chẳng phải là báo thù rửa hận cho Ngụy quốc đó sao?”. Nghe Tử Thuận nói thế, Cảnh Dẫn sai người đến thành Hàm Dương hoạt động theo kế sách của Tử Thuận. Không lâu sau đó, trong phủ đệ của Lao Ái quả nhiên xuất hiện nhân vật thần bì nói giọng Đại Lương. Và ở tiền tuyến, quân Tần cũng nới lõng tấn công Ngụy quốc. Một thời gian sau, hai nước Tần-Ngụy lại bắt tay hòa hợp được một cách kỳ lạ… Và việc đó không gây vướng mắc gì trong triều Tần cả. Doanh Chính, Lao Ái, Lã Bất Vi vẫn bình yên vô sự. Bọn họ bằng mặt không bằng lòng kinh doanh triều chính.
Nếu không có cuộc phong ba do việc khơi đào kênh rạch và tu sửa phủ đệ phải tranh giành nhau đất đá phát sinh gấp gáp thì mâu thuẫn trong triều lại vẫn như mạch nước ngầm dưới đáy sông, ngầm thai nghén sự trào dâng – Còn trên mặt nước thì vẫn là sóng yên gió nhẹ, ca hát thanh bình.
Ngòi nổ là do việc Lao Ái muốn xây dựng mở rộng phủ để gây ra.
Khoảng thời gian Lao Ái chuyển vào cung Chường Tín rất ngắn ngủi. Thế mà chẳng khác nào như đã chơi chán một người đàn bà vậy. Lao Ái cảm thấy tòa nhà đẹp đẽ hoa lệ của mình bỗng nhiên trở nên xấu xí vô cùng. Từng đàn chim trĩ canh thấp thỏm không yên trên những ngọn cây và nóc lầu, những đôi cánh khi chúng bay đi bây lại đập vào nhau. Những chiếc lông cánh bị rụng rơi trên mặt đất giống như những chùm ánh sáng loang lổ rõ rệt. Xe kiệu ra vào đông vô kể giống như những đạp đá chi chít để lẩn với nhau.
Màu sơn đỏ rực trên những cánh cửa hành lang mái hiên đã bị nhạt dần sự diễm lệ của nó như ngọn đèn trước gió. Những nơi mà ánh mắt của Lao Ái đã từng đến đều để lại cho hắn những ấn tượng cũ rích hẹp hòi. Khi xây dựng thành Hàm Dương phồn hoa, Lao Ái luôn cảm thấy phủ đệ và thân phận hắn là không tương xứng. Thế là sau mấy lần xem xét hắn liền ngang nhiên quyết định sẽ xây dựng mở rộng tòa nhà của hắn. Sau khi thầy bói bấm đốt ngón tay tính toàn và đo đạc làm như có thật thì cuối cùng cũng đã động thổ xây dựng.
Vào một ngày hoàng đạo phong hòa nhật lệ, tòa nhà của Lao Ái được xây dựng mở rộng được sắp hàng lững thững trong quân thần triều hạ thì tiếng trống nhạc vang trời truyền ra toàn thành một tin tức kinh thiên động địa, tường thành phủ đệ của Lao Ái dài 500 trượng thế nhưng thể chế đã quy định rằng tường thành tòa nhà của con cháu Tần vương không được vượt quá 300 trượng. Như thế thì quy mô phủ đệ của Lao Ái cũng sắp ngang hàng với nhà vua rồi. Hành động tiếm việt rõ rằng của Lao Ái làm chấn động cả triều đình.
Trong ấn tượng của Doanh Chính thì khuôn mặt của Thanh quả phủ luôn thanh tú nho nhã, nói năng mềm mại uyển chuyển tựa như cơn gió nhẹ phảng phất mùi thơm thổi vào tai ông. Xưa nay Doanh Chính chưa bao giờ nhìn thấy sự xúc động phẩn nộ và bất an hiện ra trên mặt Thanh quả phụ như ngày hôm nay. Thanh quả phụ gặp Doanh Chính ở cung Chương Đài. Vừa gặp Doanh Chính chưa hàn huyên được bao lâu thì Thanh quả phụ liền hỏi thẳng Doanh Chính rằng: “Đại vương, ngài biết việc Trường Tín Hầu xây dựng mở rộng phủ đệ chưa?”.
Doanh Chính nói rằng ông biết, là do mẫu hậu đưa Tần Chưong đến. Thanh quả phụ hỏi: “Đại vương có viết dài bao nhiêu trong Tần Chương không?”. Doanh Chính nói rằng không viết. Thanh quả phụ nói: “Tường vây của phủ đệ Lao Ái dài 500 trượng”. Doanh Chính thất kinh nói là không có chuyện đó. Thanh quả phụ nói: “Trước đây tường thành phong ấp của em trai Trịnh Trạng Công-Cộng Thúc Đoạn vướt quá 300 trượng đã trở thành tai họa quốc gia. Đại vương, nếu bàng quan mặc kệ chuyện này sẽ gây ra tai họa đó”.
Doanh Chính cũng biết lịch sử làm loạn của Cộng Thúc Đoạn liền vội cho đòi gặp Lao Ái tại cung Chương Đài. Lao Ái dường như đã biết trước mọi việc. Khi đến gặp Tần vương hắn liền mang theo Tần Chương mà đã được duỵêt.
Doanh Chính thấy các thẻ tre của Tần Chương có ghi kích cỡ từong thành phủ đệ được xây dựng mở rộng của Lý Tư có viết rõ ràng là 500 trượng.
Doanh Chính xem xong thì không nói được gì nữa. Trên tấm Tần Chương có hai chữ chiếu lệnh “Chuẩn hành” do chính tay ông ký duyệt. Giờ đây Doanh Chính không thể hiểu rõ năm trăm trượng này đã có từ lúc Tần Chương được đưa đến mà không để ý hay là sau đó Lao Ái mới thêm vào.
Đang khi Doanh Chính còn đờ đẩn hoảng hốt thì Lao Ái thẳng thắn nói: “Đại vương, ngài nói lời vàng ý ngọc, nói thế nào là làm thế ấy. Chiếu chỉ không thể sớm ban tối sửa được ạ”.
Doanh Chính không thể phản bác lại điều lý đó mà cũng chỉ nói thêm rằng: “Đúng, đúng, chiếu chỉ của quả nhân không thể sớm ban tối sửa được”.
Doanh Chính chẳng tìm ra được lý do gì để níu giữ Lao Ái thì đành phải nhìn cái dáng đi cao lớn của hắn từ lớn chuyển dần sang nhỏ và khuất dần nơi cửa cung điện.
Khi Lao Ái chiếu kiến Doanh Chính thì Thanh quả phụ lánh vào bên trong. Lao Ái đi rồi, lúc đo Thanh quả phụ mới bước ra hầm hầm tức giận mà rằng: “Một hoạn quan hung hăng càn rỡ như vậy, nếu không chỉnh trị uy vua phép nước thì sẽ mất hết cả thôi!”.
Doanh Chính thông cảm sâu sắc nói: “Nếu để Lao Ái xây dựng mở rộng phủ đệ thì chẳng khác nào tổn hại đến uy phong của quả nhân, tiêu diệt ý chí của quả nhân vậy!”.
Thanh quả phụ đưa lời can gián mà rằng: “Theo ý của hạ thần thì hãy để Lã Bất Vi cắt cung cấp gạch ngói cho Lao Ái khiến hắn không thể làm gì tiến triển hơn được nửa”.
Doanh Chính nói: “Làm như vậy đi. Ngươi hãy đến phủ tướng quốc truyền đạt chiếu lệnh của quả nhân đi”.
Thanh quả phụ ngự xe đến phủ tướng quốc. Không đợi Thanh quả phụ nói hết nguồn cơn của sự việc, Lã Bất Vi đã không kìm được hầm hầm nổi giận mà rằng: “Phủ đệ của Lao Ái lại vượt cả một tướng quốc như ta, thật không thể chấp nhận được! Xin truyền đạt lại với đại vương rằng: Lã Bất Vi sẽ không cung cấp gạch đá cho Lao Ái nữa đâu!”.
Kiến trúc được nhà vua phê chuẩn sẽ được triều đình cung cấp gạch đá. Lã Bất Vi thấy Thanh quả phụ hài lòng đi rồi thì lập tức ban bố cáo thị trong cả nước. Để bảo đảm hoàn tất và tăng nhanh tiến độ thì công công trình đào kệnh khơi rạch Kinh Hà, gạch ngói gỗ đá của tất cả mọi nơi đều phải vận chuyển đến nơi thi công công trình Kinh Hà. Nếu làm trái sẽ nghiêm phạt không tha.
Tốc độ xây dựng tường thành không quản ngày đêm của Lao Ái đã dùng hết số vật liệu lần đầu được chuyển tới. Lao Ái cho gia tướng Nhan Tiêm đến phủ tướng quốc làm thủ tục nhận gạch ngói gỗ đá. Nhan Tiêm bẩm báo lại nội dung cáo thì mà Lã Bất Vi dán trên cổng thảnh cho Lao Ái biết và sau đó nói nếu hắn đến phủ tướng quốc nhất định sẽ chẳng giải quyết được chuyện gì. Lao Ái nhíu mày nói “Ta bảo ngươi đi thì ngươi hãy đi, đừng có lôi thôi dài dòng. Nếu kênh Kinh Hà của hắn không xây dựng thì cũng không thể để phủ đệ của Trường Tín Hầu ta bị đình công được”.
Nhan Tiêm đành phải đến phủ tướng quốc, hắn run lẩy bẩy nói với Lã Bất Vi rằng: “Trường Tín Hầu sai tối đến gặp tướng quốc xin cho vận chuyển vật liệu xây dựng đến”.
Nhan Tiên nói xong thì thấy Lã Bất Vi không chớp mắt nói: “Nhà ngươi có thấy cáo thị trên cổng thành không?”.
Nhan Tiêm nói có nhìn thấy – Lã Bất Vi liền mắng:
“Ngươi đã nhìn thấy rồi còn đến tìm bản tướng quốc xin vận chuyển vật liệu nữa!”.
Nhan Tiêm không được việc thì ủ rũ trở về phủ. Lao Ái nghe Nhan Tiêm kể xong thì đi xe thẳng đến phủ tướng quốc thở phì phì tức giận nói: “Lẽ nào ngài lại không biết Trường Tín Hầu này cũng ngang hàng với tướng quốc sao?”. Lã Bất Vi nhẹ nhàng bình tĩnh nói: “Việc quản hầu đại nhân xây dựng mở rộng phủ đệ bản quan không được biết. Để bảo đảm việc hoàn tất kênh Kinh Hà mới thông báo trong toàn quốc đó. Cũng giống như tục ngữ có nói rằng: kẻ không biết thì không bị trách”. Lao Ái nói: “Tướng quốc đã biết rồi thì xin giúp tôi hoàn thành công việc mà cho vận chuyển vật liệu xây dựng đến đi”. Lã Bất Vi nói: “Ta đã thông báo toàn thiên hạ rồi, không thể làm ngược lại được”. Lao Ái đưa ra Tần Chương và nói: “Lẽ nào phê chuẩn của Tần vương lại không bằng cái thị của ngài”. Lã Bất Vi nói: “Đại vương lại không nói rõ việc xây dựng kênh Kinh Hà và việc xây dựng phủ đệ của ngài cái nào trước, cái nào sau. Xin hãy đợi đê Kinh Hà hoàn tất nhật định sẽ vận chuyển gạch ngói gỗ đá đầy đủ đến cho quân hầu”. Lao Ái nói: “Lã Bất Vi chẳng phải là ngài đang làm khó tôi sao? Kênh Kinh Hà hoàn tất phải đợi đến bao giờ! Lẽ nào ngài lại nhẫn tâm nhìn công trình đang xây dựng dở của tôi như vậy? Lẽ nào lại để tôi phải nuôi không đám thợ kia?”. Lã Bất Vi thấy sắc mặt Lao Ái từ đỏ thành trằng rồi lại từ trắng thành xanh, bắp thịt trên mặt hắn dường như co giật. Ngón tay ngắn run lên và chọc vào mũi. Cái kiểu nhe nanh mài vuốt của Lao Ái đã để lại cho Lã Bất Vi môt ký ức ghi xướng khắc cốt. Không lâu sau thái độ trước khi mưu phản và bị tru di của hắn chẳng khác nào thái độ của hắn lúc này. Rồi rất nhanh, Lã Bất Vi liền nghe thấy tiếng gầm ghè phát ra từ cái mồm thâm tím và run run của hắn. “Lã Bất Vi, ngươi đừng có đắc ý vênh váo, sớm muộn thì ta cũng thu phục ngươi để người biết rằng Trường Tín Hầu này không phải là nắm bùn để cho người khác mặc ý vê đi vò lại”. Khi Lao Ái đi khỏi thì hắn còn nhổ một đống đờm bọt chẳng khác nào một cái bánh trước chân Lã Bất Vi. Một thời gian tương đối dài, mỗi khi dùng cơm thì Lã Bất Vi luôn cảm thấy buồn nôn.
Nếu dùng một từ “phẫn nộ” thì cũng không thể diễn đạt nổi tâm trạng của Lã Bất Vi trong giờ phút này. Sự bi ai thê thảm như một con chuột đói khát đang gặm nhắm lòng ông. Lúc đầu, Lao Ái no ấm đầy đủ dưới chân của Lã Bất Vi, rồi hắn không biết vô liêm sĩ lấy dương vật làm những động tác xấu xa bỉ ổi, rồi cái bộ dạn hàng tướng a dua lấy lòng cua hắn nữa chứ. Không có Lã Bất Vi này thì Lao Ái ngươi muốn trèo lên giường thái hậu chẳng phải là mơ tưỡng huyền hão đó sao? Thoắt một cái đã thay lòng dở mặt.
Lao Ái thật là quân lộn kiếp vong ơn bội nghĩa.
Sự tranh giành sâu sắc giữa Lã Bất Vi và Lao Ái chỉ là một màn mở đầu nho nhỏ.
Vào tiết xuân ấm hoa hoa nở thư hai, trong cung Chương Đài vật cũ người không, Lao Ái và Lã Bất Vi đều lần lượt bị Doanh Chính đưa xuống hoàng tuyền. Các hoạn quan và nỹ tỳ trong cung còn nhớ rất rõ các chi tiết lớn nhỏ xảy ra giữa Lã Bất Vi và Lao Ái. Mỗi khi họ đi qua phủ viện đã trở thành đống gạch hoang tàn của Lao Ái thị họ lại tới tấp kể chuyện xoay quanh việc hai người đã dâng phong nơi cung đình và việc xây dựng phủ đệ này. Những hoạn quan và nữ tỳ đó sẽ nói cho bạn biết: Lao Ái từ phủ tướng quốc về thì khó mà nuốt nỗi bực tức. Hắn không thể trợn mắt nhìn phủ đệ đang xây dựng của hắn bị dở dang. Hắn liền thuê mấy ngàn phu khuận dịch lên núi chặt củi dỡ đá, xây dựng lò nung gạch. Một tòa nhà phủ đệ khiến hắn cho một nửa Tần quốc chướng khi mịt mù, người ngã ngựa đổ. Lao Ái vô cùng mệt mỏi. Ban ngày thì chỉ huy trù hoạch ở phủ đệ. Đêm đến lại phải thỏa mãn thái hậu khiến hắn bị tiêu hao thể lực. Lã Bất Vi không thể để Lao Ái được lợi. Ông liền cho thu thuế chặt cây dỡ đá nung gạch của Lao Ái. Lao Ái thì không chịu nộp một chút thuế khóa nào. Thiếu nội Thanh Hiên Huệ nắm giữ tài chính trong triều, thì đương nhiên hành sự theo thái độ của Tần vương và tướng quốc, bà ta liền rút đi bổng lộc cấp phát cho Lao Ái. Lao Ái đã có thưởng tựa như núi vàng hang bạc của thái hậu và có thu nhập phong ấp thì hắn chẳng thèm nhòm ngó gì đến chút lương vụn vặt của triều đình. Hắn vẫn cứ làm theo cách của hắn, bất chấp tất cả xây dựng bằng xong phủ đệ sắc màu rực rỡ đó.
Thế là nơi đây trở thành khu phong cảnh để mọi người mở rộng tầm nhìn trong thành Hàm Dương. Vào hôm khi trời gần gới, ánh sáng như đang nhạt dần thì Doanh Chính ngồi trên xe cũ đi xem. Trong mắt Doanh Chính thì những lầu cao gác lớn, những mái hiên cong cong sáng sủa rõ ràng kia lại chẳng khác nào lũ hung thần gian ác trong cung điện mà lũ ma quỷ trong một cơn ác mộng. Sau khi xem xong phủ đệ của Lao Ái, Doanh Chính dường như đang bị kích động và luôn lo lắng sẽ phát sinh một tai họa khó lương nào đó. Doanh Chính đi lại đứng ngồi cũng thường hết sức cẩn thận như để phòng mọi bất trắc. Về sau Doanh Chính đập tan sự làm phản của Lao Ái nhân lúc hắn không ngờ đến. Mọi người trong cung đều nói, đã từ rất lâu ông trời đã ban cho đại vương một bí ẩn nào đó.
Truyền thuyết trong cung nói chung quy lại thì cũng chỉ là một thứ lịch sử thật giả lẫn lộn.
Các hoạn quan và nữ tỳ trong cung Chương Đài thấy từ khi xem phủ đệ của Lao Ái thì Doanh Chính thường lặng lẽ. Khi chiếc trướng trong phòng của Doanh Chính được mở ra thì các hoạn quan và nữ tỳ lại bắt đầu thì thào, đoán xem vị phi tần mỹ nữ nào đựoc nhà vua sủng ái. Nhưng một thời gian lâu sau họ thấy Triệu Cao từ trong trướng đi ra. Lúc đó mọi người mới vỡ lẽ rằng thứ mà đại vương hao tâm tổn sức không phải là nhục thể đàn bà mà lại là một thứ khác. Thứ gì vậy? Họ không thể đoán được, dường như đó là một sự huyền bí còn quan trọng hơn nhiều so với nhục thể đàn bà.
Doanh Chính bắt đầu xây dựng thế lực binh mã của mình mà chẳng ma quỷ nào biết được. Doanh Chính không nhớ rõ rằng mình đã gặp Sương Bình Quân và Sương Văn Quân trong đêm khuya dưới ánh nến dập dờn hay trong một buổi giữa trưa có ánh mặt trời chói chang.
Khi Triệu Cao dẫn hai thanh niên với khuôn mặt sáng sủa khôi ngô đến tẩm cung rèm đỏ trướng tím thì Doanh Chính vui vẻ xúc động khôn cùng. Triệu Cao quỳ xuống đất vái lạy mà rằng: “Thưa đại vương, đây là công tử Duẩn Hồ nước Sở và hiệp sĩ Hàn Hoành nước Hàn. Cả hai người đều trí dũng song toàn nguyện bỏ tuổi trẻ và tuổi xuân ra phục vụ đại vương”. Doanh Chính nói: “Quả nhân phong cho Duẩn Hồ làm Sương Bình Quân, Hàn Hoành làm Sương Văn Quân. Mỗi người dẫn năm nghìn cung kỵ tìm nơi bí mật không cho mọi người biết luyện tập võ nghệ, nghe và đợi sự điều khiển của quả nhân bất cứ lúc nào”.
Triệu Cao thấy Sương Bình Quân và Sương Văn Quân thề thốt thành khẩn trước Doanh Chính. Sau đó lại thấy Doanh Chính giống như dòng suối nóng nhìn hai thanh niên đó một cách sinh động và long lanh.
Khi Triệu Cơ và Lao Ái ôm nhau nằm ngủ, bà ta có một cảm giác hạnh phúc như tuổi gấm hoa lại đang trở lại. Bà ta không còn là hoa vàng ngày mai, tư phong tàn tạ nữa mà là một thục nữ yểu điệu, móng tay bôi đầy nhũ đỏ, phong tình vui vẻ trong thành Hàm Dương. Lao Ái, một người nhỏ hơn bà ta mười tuổi đã mang đến cho thân thể bà ta một sức thanh xuân mãnh liệt bồng bột và cũng làm cho bụng bà ta phồng lên một cách kỳ lạ. Một điểm rõ rệt nhất mà ba ta cảm thấy trong sự khác biệt giữa Lã Bất Vi và Lao Ái là dù cho người thứ nhất có làm gì trên người bà ta đi nữa thì bụng của bà ta vẫn cứ phẳng lì như chiếc túi rỗng. Nhưng bây giờ cái cảm giác buồn nôn và thích của chua đã không có từ lâu lại xuất hiện khiến lòng dạ bà ta hoảng hốt rối bời. Một vị thái hậu không có phu quân mà lại mang thai, bà ta không có cách gì để che giấu hay sự giải thích hợp tình hợp lý nào đó. Và đây là một sự cực kỳ sỉ nhục không thể tha thứ đối với thanh danh của bà ta và gia tộc Doanh Thị. Một khi đã lộ ra việc đó thì hậu quả gây ra thật khôn lường. Bà ta như con kiến gặp hỏa hoạn vậy, khiếp sợ vô cùng. Dưới sự tính toán trù hoạch với Lao Ái và mấy người cung nữ của bà ta, một kế vẹn toàn đã ra đời. Không lâu sau trên đại đường trong điện Chiêu Thanh bỗng vang lên tiếng trống bao cho các hoạn quan và cung nữ biết phệ chúc đang xem bói. Kết quả xem bói tiên đoán rằng một ngày gần đây sẽ có hung vận giáng xuống điện Chiêu Thanh, thái hận cần phải đến cung Đại Trịnh ở Ung Thành đê lánh nạn. Thẻ trúc có khắc lời bói quẻ hào vẫn còn phản phất hương khói được đưa đến ngự án của Doanh Chính. Doanh Chính chuẩn bị cho thái hậu đến cung Đại Trịnh ở Ung Thành để tránh việc không lành.
Một buổi sáng nắng ráo và tiết cuối chạp đầu xuân một đôi nghi thức ô lọng phấp phới ra khỏi thành Hàm Dương đi về phía Ung Thành. Mọi ngươi trong thành Hàm Dương đều nói: Thái hậu đến đó để tránh điềm xấu.

Ung Thành đã từng là quốc đô, điều đó khiến cho nhân dân cả nước Tần đều một lòng hướng về và quỳ lạy bái phục. Tổ tiên của họ từ khi bật lên từ phương tây rồi lại thiên về phía đông. Đến đời Đức Công thì chính thức định đô ở đây. Mãi đến đời Hiên Công thì dời đô đến Lịch Dương. Ung Thành có gần 400 năm lịch sử. Sai khi định đô ở Hàm Dương những điển lễ như vua lên ngôi hay thờ cúng của đất nước đều cử hành tại Ung Thành. Đối với mảnh đất phát trường của tổ tông này, vua các triều đại nhà Tần đều đặc biệt lưu ý việc bảo vệ và tu sửa Ung Thành. Ngoài những binh lính bảo vệ các cung địch lo việc quét dọn ra thì trong Ung Thành không còn bóng dáng qua lại của họ nữa. Khí hậu tốt lành và không khí yên tĩnh ở đây giúp cho Triệu Cơ có thể chăm sóc chu đáo khối tinh huyết trong bụng bà ta. Triệu Cơ và Lao Ái, Nhan Tiêm và vài cung nữ thân tín khá thì ở nội điện bên trong. Rồi vào một buổi sáng trời đất sáng sủa, trong khi Triệu Cơ vượt cạn để mẹ tròn con vuông, thì đám tùy nhân bận bịu nhộn nhịp như thoi đưa nơi ngoại điện thì không biết việc sinh nở của thái hậu. Nửa năm đã trôi qua. Trong cung Đại Trịnh một dải xanh mướt yên ả, bách điểu ca hát. Sau khi than thể Triệu Cơ đã được hồi phục nguyên khí thì bà ta cho người bế công tử vui vẻ nhảy nhót tựa như cá chép của bà ta về Hàm Dương nhờ dân thường nuôi dưỡng rồi khởi giá hồi kinh. Đám tùy tùng mù tịt không biết gì theo xe thái hậu ra khỏi Ung Thành. Thấy cảnh sắc núi non thôn dã sáng bừng thì họ mới than lên rằng: Thái hậu đến Ung Thành lánh nạn nhoáng một cái đã nửa năm trôi qua.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5933
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Lã Bất Vi***   Tue Nov 11, 2014 12:06 pm

Năm 238 cũng là năm thứ 9 đời Tần Thủy Hoàng trước Công nguyên là một năm những điềm xấu cực nhiều. Đến đây, thiên tướng đã lộ rõ. Trong “Tần Thủy Hoàng bản ký” có viết: “Cửu niên, tuệ tinh kiến, hoạc ư cách thiên” (Năm thứ 9 đời Tần Thủy Hoàng thấy sao chổi thường xuyên xuất hiện trên trời). Sao chổi chủ hung xuất hiện, có lúc lại lơ lửng giữa trời. Thứ ánh sáng trắng xóa đó không phải chỉ có một lần xuất hiện trên thành Hàm Dương.
Thần dân cư trú trong thành đã không còn thấy lạ cái thứ ánh sáng đó nữa. Sau khi họ ngẩng đầu lên nhìn một chập thì họ lại trở về cuộc sống hàng ngày với các nề nếp cũ. Thứ ánh sáng còn lại của ngôi sao đó cũng mất dần đi cùng với mùi tanh hôi của cuộc động loạn nơi thành Hàm Dương.
Năm đó thời gian mà thái hậu đi tránh điềm dữ lại là dịp cuối chạp, đầu xuân. Thần dân trong thành Ung Thành thì vẫn còn nhớ rất rõ: Khi xe của thái hậu đi về phía Ung Thành thì ánh sáng mờ mờ của ngôi sao chổi vẫn còn chưa xuất hiện. Khi ngôi sao thần bì khiến người ta phải lo lắng rối bời lấp lóe trên bầu trời. Trong bụng thái hậu giãy giụa một sinh mệnh mới. Sau khi đã tắm gội gột rửa những bụi bặm trên người thì thái hậu lại vào nội điện trong cung Đại Trịnh để ở. Sau cuộc vận loạn đó không lâu thì họ mới vỡ lẹ: Không phải thái hậu đi tránh họa mà họa bắt nguồn từ thái hậu, Lao Ái – kẻ ngồi ôm ấp thái hậu sau tấm màn che trong xe của thái hậu.
Trong cửa của thái hậu ngoài Lao Ái ra còn có một hài đồng ngoan ngoãn thông minh đó chính là Lao Lương – con trai của họ.
Trong thời gian nửa năm Lao Ái đợi thể lực của Triệu Cơ phục hồi sau khi sinh đẻ. Đối với đám binh lính, cung dịch, nữ tỳ ở ngoài điện cung Đại Trịnh thật là buồn chán và ngày thì dài dằng dặc. Thế nhưng thái hậu và Lao Ái thì vô cùng bận bịu và khẩn trương hồi hộp. Bọn vệ úy tứ tả dực kiệt, trung đại phu Lệnh Tề thì thường xuyên qua lại cung Đại Trịnh. Họ đang ấp ủ một cuộc binh biến cung đình trong tẩm cung sặc sụa mùi sữa. Bọn họ sẽ phế truất Doanh Chính và Lao Lương sẽ lên ngôi. Thái hậu và Lao Ái sẽ rủ rèm nhiếp chính. Họ nghiên cứu tỉ mỉ vô cùng, vị đại thần nào sẽ theo phía họ, tấn công cung Chương Đài bằng đường nào; bắt được Doanh Chính thì sẽ giết. Nếu giết thì sẽ lấy thủ cấp của vị vua trẻ đó ở đâu; Nếu giam thì sẽ giam ở ngục tối nào…
Lũ người tiểu nhân đắc chí đầu đường xó chợ đó trong thời khắc quan trọng của tiền đồ biết trước và có quan hệ đến tính mạng thì vẫn cứ không quên sử dụng nghiệp cũ, vui vẻ đấu gà chọi có một chập. Trò chơi mà Lao Ái thích thú là lục bác thi đỗ (đánh bạc), bạn bạc thiên kinh địa nghĩa của hắn là Nhan Tiêm. Mỗi con xúc xắc trên bàn cờ đều gian trá nguy hiểm, biến hóa khôn lường, nó cũng giống như những ẩn số và sự hung hiểm của chính biến trong kế sách của bọn chúng. Cũng chính ngay trong cuộc chơi ấy, Nhan Tiêm đã trở thành kẻ thù của Lao Ái, hắn đã tố cáo Lao Ái. Chính bởi nội điện cung Đại Chính không chỉ là phòng để của thái hậu mà còn là nơi quan trọng để bọn chúng bàn bạc quân cơ mật sự.
Lao Ái và Nhan Tiêm trong ván cờ này ít có người quan sát cho nên nguyên nhân tranh giành giữa hai người và rất nhiều chi tiết quan trọng khác đều không có bằng chứng gì. Và hơn 1.800 năm sau, giữa thế kỷ 16, một người triêu Thanh có tên gọi là Phùng Mộng Long đã viết cuốn “Đông Chu liệt quốc chí”, trong sách có một chi tiết miêu tả quá trình phát sinh vở kịch giữa Lao Ái và Nhan Tiêm như sau:
Lao Ái đánh bạc uống rượu với đám cận thần. Đến ngày thứ tư Lao Ái thua liên tiếp trung đại phu Nhan Tiêm. Khi Lao Ái uống rượu đã say thì nải nỉ Nhan Tiêm đánh bạc thêm. Nhan Tiêm cũng uống say nên không nghe. Lao Ái đến trước và bạt tai Nhan Tiêm. Nhan Tiêm không nhịn cũng giật mũ tua đỏ của Lao Ái xuống. Lao Ái vô cùng giận dữ trợn mắt mà mắng rằng: “Bây giờ ta là giả phụ của vua rồi đó! Ngươi nghèo hèn như thế sao lại dám chống đối với ta”. Nhan Tiêm sợ hai bỏ đi thì gặp đúng lúc Tần Vương Chính uống rượu ở phòng thái hậu trở về cung. Nhan Tiêm quý xuống khấu đầu khóc lóc thảm thiết xin được chết. Tần Vương Chính là một người có tâm cơ. Ông ta không nói gì nhưng cho người đưa Nhan Tiêm đến điện Kỳ Niên sau đó mới hỏi chuyện Nhan Tiêm. Nhan Tiêm kể một lượt chuyện Lao Ái bạt tai hắn và tự xưng là giả phụ. Thế là Tần vương nói: “Lao Ái giả làm hoạn quan, giả bị thiến, ngầm hầu hạ thái hậu, nay lại sinh hai đứa con nuôi dưỡng ở trong cung, không lâu nữa sẽ mưu phản Tần quốc”.
Về việc Nhan Tiêm tố cáo Lao Ái là một lịch sử có thực không có ai ngờ vực gì nữa. Nhưng nói là “Gặp đúng lúc Tần Vương Chính uống rượu ở phòng thái hậu trở về cung” là không hợp lý rồi. Nếu thế thì Doanh Chính sẽ biết ngay hai đứa con riêng của thái hậu. Không cần ai tố cáo thì âm mưu của Lao Ái cũng bị đập vỡ.
Chính trong cuộc khởi nghĩa Trần Thắng, Ngô Quảng ở Đại Trạch Hương bắt đầu nổ ra thì cũng là lúc xung quanh mộ Li Sơn Tần Thủy Hoàng cỏ mọc um tùm. Những người từng đi qua lại trong cung Chương Đài lại tụ tập trên đó họ đều cùng cất giọng nói rằng: Thủy Hoàng đế là một người trẻ tuổi nhưng từng trải, tâm cơ như giếng sâu. Quan điểm đó cũng được coi là chính xác.
Sau khi Doanh Chính nhận được mật báo từ Nhan Tiêm thì ông không luống cuống sợ hãi mà cũng không triệu tập các quần thần đến để bàn bạc mà ông bí mật tăng cường chuẩn bị để đối phó với tất cả các biến cố có thể xảy ra. Trước đây Doanh Chính có biết việc thái hậu và Lao Ái đã kết thành một đảng, nhưng ông không hề biết việc hai người thông gian đã sinh ra hai đứa con riêng và âm mưu lật đổ ngôi vị. Đầu tiên Doanh Chính sai Sương Bình Quân giả làm phệ chúc (thầy bói) đến Ung Thành xem xét kỹ lưỡng hai đứa con riêng của thái hậu đang giấu trong cung Đại Trịnh. Sau đó sẽ bắt bất ngờ trung đại phu Lệnh Tề và lôi hắn đến bên địa ông lấy lửa nướng đỏ. Dùng phương pháp “Thình quân nhâp ông” (mời ông vào lò than) là để dọa Lệnh Tề. Lệnh Tề sợ đến vãi đái lên khai hết các âm mưu của bọn chúng. Doanh Chính sợ Lã Bất Vi phối hợp tác chiến với Lao Ái thì liền phái Thanh quả phụ dẫn một đám quân úy để giup Lã Bất Vi sát hạch các khoản mục của quốc khố nhằm giám sát và khống chế Lã Bất Vi. Doanh Chính bí mật gặp Sương Bình Quân và Sương Văn Quân trong cung và yêu cầu bọn họ nghe và đợi sự điều khiển của mình. Doanh Chính lại phái Triệu Cao làm đại thần khâm sai đến vùng tiền tuyến tấn công Triệu quốc truyền lệnh cho Mộng Ngao đình chỉ tấn công, ở đó đợi lệnh, chuẩn bị thu quân về triều. Mộng Ngao hỏi Triệu Cao nguyên nhân nhưng Triệu Cao vẫn làm chỉ thị của Doanh Chính và nói là: có thể sẽ tấn công chư hầu khác để tránh lòng quân phấp phỏng dễ dẫn đến làm phản bất ngờ.
Sau khi Doanh Chính bố trí xong mọi việc một cách kỹ càng tỉ mỉ thì ông vẫn một mình đi đi lại lại trong điện lớn khoáng đạt nhưng lạnh giá lúc thì vội vã, lúc thì chậm rãi cứ giống như nhịp đập của tim ông vậy. Lúc này có một việc đại sự đang chờ, đó chính là hai ngày nữa sẽ là ngày ất dậu của tháng tư, ngày Doanh Chính tròn 20 tuổi. Theo quy định của thể chế triều Tần thì khi vua tròn 20 tuổi sẽ phải đến Ung Thành cử hành nghi thức lên ngôi, như thế mới thể hiện rằng quốc quân đã trưởng thành, có thể tự mình chấp chính. Nhưng bọn thái hậu và Lao Ái đã bàn mưu tính kế ở Ung Thành và nơi đó trở thành hang hùm miệng cọp rồi.
Doanh Chính suy nghĩ kỹ lưỡng xong thì cuối cùng ban bố chiếu lệnh. Ngày ất dậu tháng tư sẽ cử hành lễ lên ngôi ở cung Kỳ Niên Ung Thành.
Thành Hàm Dương chập tối ngày Kỷ Dậu tháng tư. Gió ác mạnh mẽ đập vào những mảnh ngói tự như vảy cá và các cành khô cứng của tùng bách cao chót vót. Những bông hoa tuyết rơi xuống bãi đất trống bên ngoài ngọ môn và phủ lên tụi đất mù trời và những vết máu đỏ thắm. Màn đêm còn chưa khép lại hẳn, trong khoảnh khắc đám mây muộn ló ra khỏi kẽ mây thì trên ngọn cây hay trên nóc một công trình kiến trúc nào đó trong thành Hàm Dương vẫn tích tóp từng tí một thứ quang cảnh loang lổ. Trừ Triệu Cơ bị nhốt trong cung ra thì những kẻ làm phản của Lao Ái đều bị chặt đầu và bị xe kéo cho tan thây nát thịt ở đây. Những thi thể chồng chất lên nhau bị tuyết ướt nửa tan nửa đông lâp lên trông bừa bãi như những viên đá ngổn ngang của một công trình kiến trúc nào đó. Trận làm phản chẳng ra đâu vào đâu này bị trấn áp một cách nhanh chóng. Cũng giống như những mảng tuyết bị rơi vào móng nóng vậy, no cũng mất tăm mất tích một cách nhanh chóng. Cùng với sự thay đổi của thời gian, câu chuyện của Lao Ái đã trở thành hồi ức xa xăm và nhỏ bé trong nhiều người và nó trở thành thứ văn tự nhạt nhẽo trong điển tịch sử sách đời sau.
Sau khi Doanh Chính dẫn các văn võ bá quan quan trọng trong triều đến Ung Thành, Lao Ái tự thầy rằng hành vi xấu xa dâm loạn và mưu phản của mình và thái hậu đã bị phát hiện. Hắn lại thấy Tần vương Doanh Chính cử hành lễ lên ngôi thì biết sau khi Doanh Chính đích thân chấp chính thì sớm muộn cũng sẽ xử phạt mình, thế là hắn quyết tâm thừa lúc Hàm Dương trống vắng thì làm loạn. Vì hắn đã mưu tính từ trước nên các mắt mũi tay chân quan trọng trong và ngoài cũng như quân công Giới Trác, Sá Nhân, vệ úy đều bị hắn mua chuộc nên cũng có thế lực nhất định. Cái khó duy nhất là binh lính mà hắn nắm giữ và khống chế thì quá ít. Quản chế của Tần quốc vô cùng nghiêm mật. Từ sau hiến pháp Thương Ưởng đã thiết lập hệ thống chỉ huy thống nhất có lợi cho tác chiến. Và quyền chỉ huy lực lượng vũ trang hoàn toàn nằm trong tay nhà vua. Kể cả việc điều động tập trung lính huyện cũng phải có mệnh lệnh đóng dấu của nhà vua mới có tác dụng. Các võ tướng trong triều thì bình thường không cố định nắm giữ binh lính. Khi ra trận những người dẫn số lính trở lên phải có ủy nhiệm và hổ phù của nhà vua mới được điều binh. Hình dạng của hồ phù thì giống hổ chia làm hai nửa trái phải. Nửa trái giao cho chủ soái ra trận, nửa phải do vua nắm giữ. Khi ra trận trở về, chủ soái giao trả hổ phù và ra khỏi quân đội. Như thế, quân đội có thể trực tiếp khống chế trong tay nhà vua, bất cứ ai cũng khó có thể điều động lực lượng quân đội lớn. Khi Lao Ái mưu đồ phản loạn, cho dù hắn mua chuộc không ít những người là tai mắt trụ cột để dẫn quân như vệ úy nhưng nhất định hắn cũng gặp phải những khó khăn. Nhưng việc đó Lao Ái cũng đã chuẩn bị phần nào. Từ lâu lắm đã làm ngọc ấn giả như ngọc ấn của Tần vương và thái hậu. Lao Ái giữ lệnh điều binh mà hắn làm giả điều động tập trung bộ phận vũ trang địa phương “Huyện tốt” (lính huyện) và quân đội bảo vệ thủ đô – “Vệ tốt” và các kỵ binh đồng thời lệnh cho họ tiến về Ung Thành, mục tiêu là cung Chương Đài-nơi đang tiến hành điển lễ. Tình thế xem ra vô cùng khẩn trương. Tùng, tùng, tùng… quân làm phản còn chưa ra khỏi Hàm Dương thì đã nghe thấy tiếng trống trận vọng đến. Lúc đó quân đội từ Ung Thành đến để trấn áp quân phản loạn đã sắp đến châu thành. Ngày đầu tiên Tần vương Doanh Chính đích thân chấp chính đã thể hiện tác phong thống trị cương nghị, quyết đoán của ông. Khi hay tin Hàm Dương phát sinh phản loạn thì ông liền không do dự hạ lệnh cho Sương Bình Quân và Sương Văn Quân dẫn quân trực tiếp xuất phát từ điện Kỳ Niên, ngày đêm tiến về Hàm Dương. Thế nên quân làm phản của Lao Ái còn chưa ra khỏi thành Hàm Dương thì đã gặp ngay phải quân Tần từ Ung Thành đến. Quân phản loạn Lao Ái chỉ là đạo quân ô hợp. Khi đại quân do Sương Bình Quân và Sương Văn Quân thống soái vừa đến thì bọn chúng đã bị đánh cho tơi bời tan tác. Trận chiến nhanh chóng kết thúc, quân phản loạn bị giết chết dễ đến mấy trăm người.
Đến đêm hôm xảy ra sự việc Lã Bất Vi mới biết được chân tương của sự việc. Việc ông không được nhà vua tín nhiệm và ông đã trở thành người ngoài cuộc khiến Lã Bất Vi vô cùng buồn bã thất vọng. Nhưng ông cũng lấy làm vui mừng vì ông chẳng phải tốn một chút sức lực nào mà cũng đã trừ được tận gốc một kỳ địch. Về sau Lã Bất Vi còn tiếp tục nghe thấy một số tin tức về kết cục của chuyện đó. Sau khi một số tay chân của Lao Ái chạy trốn vào đám dân đã bị tìm ra và xử tội chết. Ở cung Đại Trịnh, Doanh Chính tự tay cầm bảo kiếm chém chết hai đứa con riêng của Triệu Cơ đồng thời giam bà ta vĩnh viễn không cho trở Hàm Dương.
Bọn loạn thần tặc tử Trường Tín Hầu Lao Ái, vệ úy tứ, nội sử tức, tả dặc, trung đại phu Lệnh Tề bị tan xương nát thịt nơi đầu thành Hàm Dương một tháng sau mới được an táng. Trong đám người xem ồn ào ngựa xe tấp nấp, không ai có thể đoán được trong số đó có Lã Bất Vi. Mãi đến cuối tháng mọi việc dường như đã nguội lạnh vẳng vẻ thì Lã Bất Vi mới đến xem mặt mũi bọn người đã chết đó. Lã Bất Vi đi bằng một chiếc xe ngựa có lọng và đơn giản của môn khách đến xem. Ông không muốn mọi người biết đám đất trống ngoài ngọ môn. Như lúc này đây ông muốn đạm hóa chính mình. Ông hóa mình thành một làn sương nhẹ không bay ra kỏi hang núi hoặc một mạch nước ngầm dưới đáy sống để Doanh Chính và các văn võ ba quan quên hết đi những ngày tháng ấm áp của ông và Triệu Cơ và mối quan hệ khi Lao Ái từng là môn khách của ông. Trên khoảng đất trống vẫn còn sặc sụa mùi tanh, chiếc xe ngặng mang lọng giảm dần tốc độ, Lã Bất Vi nhẹ vén rèm xe để ánh mặt của mình đảo đi đảo lại trong đống thi thể đó. Cuối cùng ông dừng lại trước khuôn mặt ông cần tìm. Lã Bất Vi không chỉ một lần nghe người ta nói: người đã chết sau đó sẽ bị biến dạng. Câu nói này được nghiệm chứng thấy trên thi thể Lao Ái.
Có lẽ là do đau đớn và vật vã khi bị giết nên mắt mũi của Lao Ái bị biến dạng. Mấy cục thịt giống như cánh hoa mai vàng còn loang máu dính trên má hắn. Điều khiến Lã Bất Vi kinh ngạc vô cùng đó là hai con ruồi đầu đỏ to béo đang hút cái gì đó ở mấy cánh hoa mai kia. Giờ này trước kia cái sinh linh tùy tiện này vẫn còn trong kén chưa tỉnh lại!
Lã Bất Vi biết rằng mình đi ra với tâm trạng buồn vui lẫn lộn. tiếng ngựa xe lộc cộc khiến lòng ông chòng chành. Con người tiểu nhân tự cho là không ai bì kịp mình này lại thành ma dưới lưỡi đao của Tần vương và đó cũng là báo ứng.
Lã Bất Vi lại không biết rằng khi ông về phủ tướng quốc bằng một tâm trạng nhẹ nhõm, thì bi kịch của ông mới chính thức bắt đầu.
Đó là ngày hôm mai táng đống thi thể kia, Khương Khoái – người từng thi hành nhục hình cho Lao Ái đang đầm đìa mồ hôi quỳ trước mặt Doanh Chính. Doanh Chính vô cùng ngạc nhiên, một kẻ đáng phải thi hành nhục hình tại sao dương vật lại không mất một sợi lông mà lọt vào trong cung. Khương Khoái thấy Doanh Chính hỏi đến chuyện này, biết rằng không thể quanh co được thì bạt hồn vía vội kể lại rằng Lã Bất Vi, người trù hoạch nghĩ ra chuyện này.
Doanh Chính nghĩ xong thì bực tức đến nỗi gan mật muốn vỡ, liền không đợi các hạ thần ngăn lại liền dẫn người đến thẳng phủ tướng quốc. Lã Bất Vi thấy Doanh Chính đùng đùng giận dữ thì biết là việc không hay. Doanh Chính hỏi: “Trước đây việc thi hành nhục hình đối với Lao Ái là do ngươi chấp hành giám sát phải không?”. Lã Bất Vi trả lời phải. Doanh Chính hỏi: “Ngươi có nhìn thấy dương vật của hắn bị cắt xuống không?”. Lã Bất Vi biết rằng vũ khí để trì hoãn giờ đây là chống chế và nói dối, bèn nói là có nhìn thấy. Doanh Chính lại hỏi: “Sau khi cắt xuống thì để ở đâu?”. Lã Bất Vi nói: “Để trong quả nhỏ ở phía hiện điện Chiêu Thanh”. Doanh Chính nói: “Được, vậy ngươi hãy theo quả nhân đi xem”.
Điện Chiêu Thanh từ khi thái hậu đi khỏi thì phong cảnh hào hoa rực rỡ trước đây đã thay đổi, giờ đây cung điện trở nên lạnh lẽo thê lương, mạng nhện giăng đầy.
Đến hiên chếch của đại điện, Doanh Chính liền cho người lấy quả nhỏ có khắc tên Lao Ái từ trên mái hiên xuống. Khi quả nhỏ phủ đầy cát được mở ra thì thứ mà bốn con mắt của Lã Bất Vi và Doanh Chính nhìn thấy là nhánh cây khô của cây ô cựu. Doanh Chính liền giật lấy ném xuống đất và nói với Lã Bất Vi rằng: “Hừ, đây là dương vật mà nhà ngươi nhìn thấy phỏng! Khi quân phạm thượng!” Nói rồi. Doanh Chính liền phật tay mà đi.
Lã Bất Vi trở về phủ còn chưa hoàn hồn thì lại truyền đến một tin càng nặng nề hơn: Trinh Quốc ở công trình xây dựng kênh Kinh Hà là gian tế do Hàn quốc phái đến. Hắn đến là để thực hiện kế hoạch làm Tần bị suy bại của Hàn vương, đó là: Dùng phương pháp làm hao mòn và lãng phí vật chất của Tần quốc để gọt mỏng lực lượng của Tần quốc. Khi hắn đang ngầm vận chuyện gạch ngói gỗ đá về Hàn quốc thì bị quan hầu của Tần quốc kiểm tra và thu giữ. Bây giò Trịnh Quốc đã bị áp giải về Hàm Dương và bị nhốt trong ngục. Trịnh Quốc là do Trịnh Thược-là anh em con chú con bác của hắn cử đến. Lã Bất Vi không thể tin môn khách của minh. Về điểm này ký ức của Lã Bất Vi như hãy còn mới. Lã Bất Vi vội sai người đày tớ đi tìm tay môn khách này để hỏi rõ nguồn cơn. Đày tớ trở về nhanh chóng và nói rằng: “Không biết Trịnh Thược đã đi đâu”.
Nghe xong, Lã Bất Vi ngồi đờ đẩn trên sạp, một khoảng không chiếm cứ đầu ông ta. Một lúc sau ông mới nhìn rõ thứ vật dụng sáng màu trước mắt và cảm thấy thế giới lại chân thực trở lại. Khi ông nhìn thấy dải treo ấn tướng quốc ở trong tử thi thì lòng ông bỗng dâng lên một thứ tâm tư đau đớn bi thương. Thứ bảo vật khác lạ này là phấn đấu và tâm huyết trong hơn nửa đời người của ông và phải không biết bao nhiêu tiền bạc mới có thể đổi được nó.
Thế gian này có biết bao người thèm muốn nó và bất chấp mọi thủ đoạn để giành giật nó. Họ đã phải bỏ ra sự giàu sang, học thức, danh dự, lương tâm, quyền mưu, tình ruột thịt và kể cả sinh mệnh đẫm máu. Nhưng lại có bao nhiêu ngươi được toại nguyện đây. Lã Bất Vi ta được toại nguyện nơi Tần quốc rồi. Giờ đây ánh sáng sặc sỡ này, kim ấn nặng như đá này, rồi dải treo ấn mềm mại như nước, sặc sỡ như hoa này lẽ nào sẽ phải thay chủ thật? Cả thiên hạ, lớn nhỏ già trẻ đều biết sự thắng lợi lập quân của Lã Bất Vi ta mới khiến cho Dị Nhân đang gặp khó ở Hàm Đan mới trở thành Trang Tương Vương. Ở kinh đô của Dị Quốc ấy, Lã Bất Vi ta không chỉ khiến đời cha Doanh Chính thông thạo con đường hoàng quyền mà ta còn tạo ra xương thịt khí quan của chính bản thân người. Không có Lã Bất Vi ta thì còn cần nói giang sơn xã tắc của Doanh Chính mà ngay cả đến sinh mệnh nhục thể ngươi cũng không thể tồn tại. Tất cả những thứ đó, có cái thì kề sát bên ngươi, có cái thì ngươi đã nghe thấy phần nào. Ta nghĩ ngươi sẽ không vì việc của Trịnh Quốc và Lao Ái mà lảm cản trở và cũng không quên tình cốt nhục và công lao xương máu của ta bãi truất chức tướng quốc của ta.
Sau này kết cục của sự việc đã chứng minh rằng những điều mà Lã Bất Vi huyền tưởng về Doanh Chính vô cùng sai lầm.
Dự cảm không lành đến từ một lần Lã Bất Vi đi đái sau giấc ngủ trưa. Khi Lã Bất Vi vào nhà xí đi đái, ông nhìn thấy rõ rằng dóng nước nơi bụng dưới ông trước đây là màu trong vắt thì giờ đây lại trở nên vàng khè như một dòng rượu đỏ rớt trên mặt đất. Bỗng nhiên mọt con chồn sốc xông ra từ khe tường và nó đứng lại nhìn chỗ kín nhất của ông. Cái ánh mắt sáng sủa ấy lại giống như ánh sáng lòa của cao dao sắt lóe ra: Bộ lông màu vàng ấy còn trơn hơn cả lụa. Đang lúc Lã Bất Vi định giẫm nó một cái thì nó giống như một tia sáng khẽ rung mình rồi biến mất trong đám cỏ. Tiếp đó là thứ mùi thối trong mũi nó cũng nồng nặc lên cùng với sự biến mất của nó. Lã Bất Vi cho rằng đây là mùi của vận xấu đêm đến. Ông cảm thấy như mùi thối khiến người ta phải buồn nôn đó cứ quanh quẩn nơi cánh mũi của ông và xua cũng không hết. Khi Doanh Chính ra chiếu lệnh bãi truất chức tướng quốc của ông cũng là lúc ông nghe thấy tin đó trong cái mùi này.
Hai tên hoạn quan đến phủ tướng quốc đọc chiếu lệnh Lã Bất Vi đều biết. Giờ đây cái cười nịnh bợ của họ trước đây với ông được thay bằng bộ mặt lạnh nhạt, chỉ có giọng nói thì vẫn trơn tuột như trước đây: Bãi miến tướng vị của Lã Bất Vi. Hạn trong 10 ngày phải dời khỏi thành Hàm Dương trở về thực ấp Lạc Dương ở Hà Nam. Nghe xong chiếu lệnh, Lã Bất Vi lại phảng phất ngửi thấy mùi thôi sặc mũi đó.
Chiếu bãi tướng trong phủ gây ra gào khóc và hổn loạn là điều có thể nghĩ mà thấy được. Đầu tiên là vợ cả của ông – Hoàng Phủ Kiều khản cổ gào khóc như báo tang. Tiếp theo là mấy người thiếp của ông thì đờ đẩn khóc thút thít. Trong số môn khách có người thì buồn bã oán trách, có người thì muốn thay đổi cái thứ đang thu nạp họ ở cổng thành. Đám tôi tớ và nữ tỳ thì dường như đang đứng trong trận động đất không kịp trở tay đối mặt với sự ảm đạm của vận mệnh. Tư Không Mã và Lý Tư là hai môn khách thực sự có tài và nhất mực trung thành với Lã Bất Vi. Họ lặng lẽ không nói gì đứng bên cạnh Lã Bất Vi. Lúc này Lã Bất Vi mới nhớ câu nói: “Cây đổ thì đàn khỉ cũng tan” (Thầy bại thì tớ cũng cụp đuôi). Và thế là ông thật lòng thật ý để họ dời khỏi chốn này, đi tìm một cành cao khác. Lã Bất Vi nói: “Lý Tư, ta đã nhiều lần tiến cử học thức và thao lược của ngươi với đại vương. Đại vương vẫn còn rất hài lòng và lưu ý. Bây giờ ngươi hãy tìm đến hạ môn của Triệu Cao, tìm cơ hội đi dự thuyết với đại vương rồi nhất định sẽ có ngày vượt hẳn mọi người”. Nói rồi Lã Bất Vi quay lại đang chuẩn bị khuyên Tư Không Mã thì Tư Không Mã lại nói trước: “Tư Không Mã từ xưa tới nay không màng vinh hoa phú quý. Những năm tôi theo đại nhân đã được hưởng thụ và biết nhiều điều, như thế đã đủ rồi. Tôi nguyện theo đại nhân đến Lạc Dương, có chịu nhiều khó khăn gian khổ hơn nữa tôi cũng cam tâm tình nguyện”.
Nhìn nét mặt lưỡng lự của Lý Tư có thể thấy được lòng hắn đang cuộn sóng.
Lý Tư cân nhắc đắn do một hồi lâu rồi chọn con đường mà Lã Bất Vi đã chỉ cho hắn.
Nhìn bóng tay áo phần phật lay động của Lý Tư, Lã Bất Vi than dài một câu.
Tư Không Mã an ủi Lã Bất Vi mà rằng: “Đại nhân không nên thở vắng than dài. Bãi tướng là một kết cục rất đáng được chúc mừng rồi. Nếu không phải đại nhân mà là một người nào khác có dây dưa đến hai án của Lao Ái và Trịnh Quốc thì sợ rằng đầu lìa khỏi cổ, chu gia diệt tộc từ lâu rồi”.
Lời Tư Không Mã nói khiến Lã Bất Vi thấy trong lòng sáng ra: Đúng, đúng! Việc này nếu là người khác thì chu diệt gia tộc là chắc chắn rồi. Chỉ bãi tướng ta mà không lột tước là một sự khoan dung vô cùng lớn lao rồi. Nếu không xét tình cốt nhục và công đức lớn lao của ta với tiên vương thì Doanh Chính có làm như thế không?
Khi Lã Bất Vi nghĩ như thế thì sự đau khổ, tủi thân đều tan biến hết tựa như ngàn ánh mấy màu chiếu dọi làm tan đám sương mù. Nét mặt ông vui vẻ hẳn lên và bảo Tư Không Mã nhắc nhỏ gia nhân và đày tơ thu gom đồ đạc, chuẩn bị hành trang để về Lạc Dương.
Sẽ không có triều chính phức tạp và những quan hệ nhân sự rắc rối như tò vò đến dây dưa và quấy nhiễu ông nữa. Ông như người thoát được gánh nặng và ông có thể bình tâm lại việc gì cần làm trước khi dời khỏi Hàm Dương.
Thời gian ngắn ngủi tựa như cái bật ngón tay, Lã Bất Vi đến thành Hàm Dương đã mười mấy mùa thu rồi. Lúc ấy Doanh Chính vẫn còn là một đứa trẻ học nói i-a, nhoáng một cái giờ đây đã trở thành vua đích thân chấp chính rồi. Thật là “bạch câu quá khích, thệ thủy lưu niên” (thời gian trôi đi nhanh như ngựa con chạy qua khe cửa, như nước chảy…). Lại được bước vào cửa của quốc đô, không biết sẽ phải đợi đến năm nào tháng nào. Như vậy, Lã Bất Vi nghĩ đến việc đầu tiên cần phải trước khi dời kinh là phải yết kiến Doanh Chính. Ông sẽ nói chuyện về phương lược trị quốc và kiến giải về tinh ruột thịt từ đáy lòng mình.
Ngày trước Lã Bất Vi ra vào cung Chương Đài như sau phẳng đất. Giờ đây khi đối mặt với hai cánh cửa điệu sơn đỏ chót khép chặt thì ông lại có cảm giác lạ lẩm. Quân úy bảo vệ ở bên cửa sau khi nghe Lã Bất Vi giới thiệu xong thì vui vẻ kéo cánh cửa điện nặng chình chịch ra và lẩm bẩm vài câu với viên hoạn quan ở bên trong. Viên họan quan ló mặt ra nói: Bảo Lã Bất Vi đợi một chút, hắn sẽ đi bẩm báo đại vương. Trong khi đợi yết kiến, trong lòng Lã Bất Vi hồi hộp vô tận. Ông không rõ khi gặp Doanh Chính ông sẽ phải dùng phương thức và ngôn ngữ nào để nói cho Doanh Chính biết: “Ta là cha thân sinh của ngài đó”. Đây là cơ hội cuối cùng rồi, câu nói này như xương cá hóc trong cổ mà không thể nhổ ra được.
Vị hoạn quan đó lại ló mặt ra nói với Lã Bất Vi rằng: Đại vương nói rằng: “Lã Bất Vi sẽ vĩnh viễn không được yết kiến đại vương”. Lã Bất Vi nói: “Tôi sắp…”ông còn chưa nói hết thì hai cánh cửa đỏ rực đó bỗng đóng sầm lại và vĩnh viễn tình cha chân thành của ông chỉ giống như một đống cứt chó, không đáng một hào. Lã Bất Vi thấy cay mũi, nước mắt giàn giụa bước đi. Không ai biết con bằng cha; Lã Bất Vi biết đời này kiếp này sẽ không bao giờ được nhìn thấy Doanh Chính nữa. Những lời nói tự đáy lòng đó sẽ tan đi trong bụng theo năm dài tháng rộng.
Việc thứ hai là Lã Bất Vi phải đến Ung Thành để đánh một dấu chấm kết thúc tình yêu những ngọt những đắng những vui những buồn giữa ông và Triệu Cơ. Ông biết đó là một chặng đường rất xa xôi. Ông tìm ra thể trúc di chúc có khắc Triệu Khôi Tử “Cơ Nhi hạ giá Lã Bất Vi” (Gả Cơ Nhi cho Lã Bất Vi) của hai mươi năm trước và lên đường.
Cung Đại Trịnh tương cao hào sâu, khóa chặt một giấc mộng tàn đẹp đẽ nơi hậu cung. Khi Lã Bất Vi đến Ung Thành cũng là lúc mùa xuân đang khoe cái sắc xanh làm say lòng người nơi bờ sống ngọn liễu. Sau trận biến cô, ở đây vô cùng lạnh lẽo thê lương. Hoàng thành của ngày cũ từ lâu đã quen với sự cô đơn trong tháng rộng năm dài. Theo dòng nước chảy quanh cụng điện và những gợn sóng xanh biếc, Lã Bất Vi đã nhìn thấy cung Đại Trịnh đóng kín, dưới sự bao phủ của bóng cây có đám binh lính cầm kích gác cửa. Lã Bất Vi đi qua chiếc cầu rung rinh đến dưới cổng cung và nhét một lượng vàng vào tay tên lính canh cửa và đề nghị hắn cho Lã Bất Vi vào gặp thái hậu cung cấp một số thứ tiện dùng. Tên lính đó lại không nhận lễ vật Lã Bất Vi tặng mà bảo ông hãy tránh xa nơi thị phi này: “Ngài muốn gặp thái hậu bị cấm giam thì chẳng phải nói cái đầu của ngài sẽ rơi mà cả tôi cũng sẽ xuông âm tào địa phủ”. Nghe xong lời cảnh cáo của tên lính, Lã Bất Vi lại có cảm giác thê thảm đau xót bị cự tuyệt ở ngoài cung Chương Đài.
Cung Đại Trịnh đêm vắng lặng như tờ. Ánh trăng trắng bệch cắt ra dãy hành lang của các nóc lầu mông lung mờ nhạt và dường như ở đó đang tàng lâp một âm mưu và quỷ kế khó lường. Gió lùa nhẹ, bóng của tường cung điện và cây cối lúc tụ lúc dời. Ánh trăng vẫn không thay đổi, chiếu thứ anh sáng đẹp đẽ hắt ra từ các kẽ cây, rồi nhảy nhót không ngừng cùng với sự lay động của cây cối. Việc cũ giống như tiếng kêu của con dế nơi góc thành dai dẳng và rõ ràng đang rộn rã trong ký ức của ông. Lã Bất Vi nhớ đến khi vừa gặp Triệu Cơ ở đầu thành Hàm Đan, cà cái dáng tinh khiết nho nhã, mặt nóng hừng hực của ông. Ông nghĩ đến đêm đầu chung phòng với Triệu Cơ và rồi những động tác khéo léo của Triệu Cơ đều tràn ngập những tiết tấu tựa như thiền nhạc mê người; ông nghĩ đến những đêm ở Hàm Đan; Ông nghĩ đến thứ tình cảm dần dần nhạt giữa ông và Triệu Cơ ở điện Chiêu Thanh… Lã Bất Vi rút ra một kết luận là: quá trình ông và Triệu Cơ trao cho nhau cả thể xác lẫn tinh thần giống như việc ăn đoạn quả dưa chuột, đến miếng cuối cùng cẳn phải núm dưa thì vị lại đắng. Nhưng ông lại không hối hân. Thứ chất nước thanh xuân của Triệu Cơ cuối cùng đã nuôi dưỡng nơi ông nhiều thứ. Bức tường cung điện cao quá đầu ông vẫn đứng sờ sờ. Bên trong không một tiếng động. Thái hậu Triệu Cơ lúc này đang làm gì? Giấc mộng đang đẹp? Khóc lóc thảm thiết? Nghĩ lại chuyện cũ? Lã Bất Vi không thể biết được. Lã Bất Vi đi lại thấp thỏm hồi lâu cảm thấy hai chân nặng nề khó nhấc, ông phải đi thôi. Lã Bất Vi lấy tấm thẻ trúc có khắc “Nhi Cơ hạ giá Lã Bất Vi” từ trong tay áo ra và ném vào phía trong tường cung điện. Lã Bất Vi tin chắc một điều là thái hậu Triệu Cơ có thể nhìn thấy nó được. Nếu Triệu Cơ biết được người đầu tiên làm cho bà ta biết thế nào là đàn ông, thế nào là người đàn bà đã đến nơi giam cầm nầy cũng đã đủ rồi.
Mưa xuân tầm tã khiến cho trên đường Lã Bất Vi phải dừng lại một ngày. Khi ông trở về phủ tướng quốc thì đúng ngày mà Doanh Chính hạn định cho ông rời khỏi Hàm Dương. Vì lúc sắp đi ông đã dặn lại rằng: Ông đi Ung Thành, có lẽ đường sẽ không được thuận lợi, sẽ phải cách quãng một ngày hoặc nửa ngày. Mọi người không phải đợi ông đến hôm đó thì cứ đi đừng để đại vương trách tội. Tư Không Mã đang lo lắng đợi ông về. Khi Lã Bất Vi và Tư Không Mã bàn bạc về việc: Ngày mai mấy giờ lên đường thì đội xe lọng lớn chở tài sản và thân quyến và đày tớ của Lã Bất Vi đang rồng rắn trên đường hướng về phía Lạc Dương.
Tư Không Mã rất hiểu việc lên đường từ lúc rất sớm của Lã Bất Vi. Ở thành Hàm Dương, ai mà không biết Lã Bất Vi quyền lực tiếng tăm lừng lẫy một thời. Lã Bất Vi không muốn mọi người nhìn thấy cảnh ông bị mất mũ chuồn, và sự thê thảm khi ông bị vua trục xuất khỏi kinh thành. Hai chiếc xe phổ thong. Một chiếc chở Lã Bất Vi và Tư Không Mã. Một chiếc chở bốn quân lính hộ tống nhưng thực ra là áp giải họ ra khỏi Hàm Dương trong ánh sáng mờ mờ ảo ảo. Không có nghi thức, không có người tiễn. Lã Bất Vi lên đường trong tư vị lạnh nhạt của thời thế.
Xe của Lã Bất Vi vừa ra khỏi cửa nam Hàm Dương thì đằng sau vọng lại tiếng gọi: “Lã đại nhân, xin hãy dừng bước”. Rõ ràng đó là chất giọng nhẹ nhàng ngọt ngào của phụ nữ, là ai nhỉ? Lã Bất Vi cho xe dừng lại, ông kinh ngạc vô cùng hỏi: “Thiếu nội địa nhân đến đây làm gì vậy?”. Thanh quả phụ phong thái như cũ, hai má hồng rực nói: “Lã đại nhân tôi và ngài đều là thương gia, cũng là đồng liêu. Dù có thế nào thì cũng phải mở tiệc tiễn đưa đại nhân chứ”. Trong lòng Lã Bất Vi trào lên sự ấm áp. Thanh quả phụ thật là một người trọng tình trọng nghĩa, một nữ anh hùng làm việc tỉ mỉ kỹ lưỡng. Nếu Triệu Cơ giống bà ta thì vận mệnh của ta và thái hậu chắc đã khác rồi.
Tùy tùng của Thanh quả phụ để hộp thức ăn xuống đất và lấy thức ăn, mỹ tửu và thìa đũa ở trong ra. Thanh quả phụ rót đầy một ly cung kính đưa cho Lã Bất Vi. Lã Bất Vi đỡ lấy uống một ngụm hết sạch. Nơi miệng ông còn lại hơi cay, ông nói: “Đã lâu không được uống thứ rượu nào thơm như thế này rồi”.
Lã Bất Vi nghĩ, Thanh quả phụ là thiếu nội được Doanh Chính tín nhiệm, bà ta có thể ra vào tự do trong cung Chương Đài. Thế thì hãy nói những lời đã giữ trong lòng từ lâu cho ba ta hay và nhờ bà ta chuyển lên Doanh Chính.
Thế là Lã Bất Vi liền nói cho Thanh quả phụ rằng: “Tôi có ba câu thơ nhờ thiếu nội đại nhân hãy chuyển lên đại vương. Câu thứ nhất là phải trăm phương ngàn kế tiêu diệt lục quốc chư hầu. Câu thứ hai là Trịnh Quốc xây kênh mang đến cái lợi tươi tắn to lớn cho Quan Trung. Tuy đã hao tốn tài sản nhưng không nên giết hắn mà hãy để cho hắn xây dựng xong kênh rạch. Câu thứ ba là thái hậu ở Hàm Đan theo tiên vương sống gởi nhà người, kêu gọi đại vương, sức cùng lực kiệt, vô cùng vất vả, tôi đã đến đó rồi, xin đại vương hãy khoan dung độ lượng cho thái hậu”.
Thanh quả phụ ý vị sâu sắc nói: “Tôi hiểu”. Nói xong bà liền rút trong bụng ra một con dao bằng đồng thau tặng cho Lã Bất Vi và nói: “Lã đại nhân giàu sang một phương, ngài cũng gặp nhiều vô số kim ngân vàng bạc. Nào là kiếm Thái A, cờ Thúy Phương, trống Lịch Quy, ao a cảo, nào là đồ tê tượng, những thứ đó không cần phải nói. Tôi không có vật gì tốt hơn để tặng đại nhân. Con dao bằng đồng thau này là tiền vốn lúc tôi bắt đầu kinh doanh, về sau tôi không nỡ bán đi. Những lúc nhàn rỗi tôi thường lấy ra xoa xoa cho vui. Người thiết kế ra nó thật là một phong cách đặc biệt, độc đáo, am hiểu thế sự. Tôi và ngài đều là thương gia, vàng bạc hàng ức trong tay nhưng lý giải về tiền thì e rằng sẽ không thể bằng người thiết kế ra con dao này. Tại sao ông ta lại thiết kế tiền thành hình dao? Có phải muốn nhắc nhở mọi người rằng: tiền là con dao giết người.
Sự am hiểu sâu sắc và tinh tường của Thanh quả phụ về đồng tiền khiến Lã Bất Vi run lên như lá thu rơi và điều đó sẽ được giữ mãi trong lòng ông.

Con đường ngàn dặm từ Hàm Dương đến Lạc Dương là con đường giáng chức đầy sự đau khổ và thê thảm. Hai chiếc xe lăn đi chậm chạp bên đường. Mặt trời mọc lặn nghênh tiếp họ với sự cô đơn. Những bụi đất màu vàng trên đường và cánh đồng bị gió nhào đến cướp đi rồi vô tình để rớt trên nóc xe của Lã Bất Vi, có khi lại giống như ánh mặt trời úa vàng. Hoa núi cỏ dại bên đường không hiểu tâm tình hành nhân và cảnh đời thay đổi nên cứ xanh đỏ tím vàng men theo con đường ngoằn nghoèo chạy thẳng đến nơi chân trời. Đàn nhạn bay về phía nam và lúc thì biến thành chữ “nhân” lúc lai biến thành chữ “nhất”. Những lữ hành gia dũng cảm này kêu lên bằng tiếng kêu thê thảm và bóng của chúng như những cái mỏ neo in lên những bờ ruộng dài rộng.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5933
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Lã Bất Vi***   Thu Nov 13, 2014 12:55 pm

Hàn Diệu Kì
Lã Bất Vi
Đoạn kết
Đó là điều Lã Bất Vi không hề ngờ tới. Phong ấp Lạc Dương kết đèn giăng hoa, khua chiêng gõ chóng nghênh đón Lã Bất Vi. Phủ đệ ở đây chẳng khác nào phủ đệ ở Hàm Dương – hào hoa khí thế, trong chiếc sân rộng thoáng có một cỗ xe tư mã. Các gia quyến thân thuộc và đầy tớ vẫn ăn mặc diêm dúa như cũ, ngẩng đầu sải bước ra ra vào vào; đại điện, chính thất, tẩm thất, thư phòng, nhà bếp, tất cả đều có cửa màu sơn đỏ, một mảng nhẵn bóng....
Việc Lã Bất Vi di cư đến phong ấp Lạc Dương đã trở thành một tin tức mới quan trọng cuối đời chiến quốc.
Trong sự bận bịu bởi những cuộc gặp gở, nói chuyện vui vẻ và trù hoạch mưu lược, Lã Bất Vi thấy mình không bị bỏ phế lại không và những ngày tháng cô đơn. Các hào kiệt trong vùng đến thăm hỏi ông như đèn kéo quân. Lã Bất Vi phi thường bàn luận với họ việc làm sao để lãnh địa của ông được thịnh vượng giàu sang. Những việc như cầu trời tế đất, hồi hoa mẫu đơn quốc sắc thiên hương hay những việc hiếu hỉ, ông đều là nhân vật chủ chốt không thể thiếu được. Trong những cuộc tiêu khiển thể diện đó tâm trạng vui vẻ nơi ông lại xuất hiện như đài hoa mẫu đơn.
Chiêu hiền nạp sĩ, Lã Bất Vi có thể đẹp ngang với Mạnh Thường Quân nước Tề, Bình Nguyên Quân nước Triệu, Tín Lang Quân nước Ngụy, Xuân Thân Quân nước Sở. Sau khi ông đến Lạc Dương thì Lạc Dương lại trở thành Thánh điện của nhiều, trung tâm văn nhân học tri. Người đến Lạc Dương không ngớt. Ông đều khiêm tốn lễ phép tiếp nhận họ. Những môn khách mới và cũ thì tập trung lại hoặc là phân tích nói chuyện vui vẻ kết cấu và cách thức thời sự và đưa ra kế sách cho ông học là biên soạn sách vở, cả công ban đức cho ông
Điểu khiến người ta phải vô cùng xúc động đó là chư hầu sau nước Quan Đông đều sai những nhân vật thần bí đến gặp Lã Bất Vi . Có người thì lòng vòng hỏi ông về hư thực động tĩnh của Tần Quốc . Có người thì chân thành ban thưởng ngàn vàng mời ông Hàm mưu khách khanh. Một người lão luyện như ông thì không dễ dàng gì chấp thuận cả. Ông luôn thỏa đáng đúng mức để không làm gì hại đến mọi người và cũng không làm hại đến sự đền đáp của Tần Quốc đối với ông. Cho dù như thế nhưng các chư hầu vẫn không cam lòng và vẫn sai người đến. Họ mang tâm lý gặp may chờ đợi một điều gì đó ngoài lòng mong đợi.
Con dao bằng đồng thau của Thanh quả phụ lúc nào cũng được cất trong túi áo Lã Bất Vi. Điều đó khiến ông mang bên mình một tình cảm quý mến thơm thảo và cũng chan hòa hứng thú về đồng tiền của ông .Nhưng ông có một sự lưu luyến bẩm đối với kinh doanh. Ông vẫn mở mấy cửa hàng châu báu ở các nơi và làm ăn vẫn phát đạt như cũ. Có lúc ông gọi Dương Tử, Triệu Khả Tiến đến bên. Và tình hình, con số, màu sắc, hoa văn sản phẩm là những chủ đề mà ông nói đến lúc đó.
Một gánh thê thiếp khiến con cái của Lã Bất VI thành đàn thành đống. Một thời gian những người con này dường như đã trở thành nguồn suối trong niềm vui gia đình của ông và họ cũng là trung tâm của sự chú ý. Đặc biệt là đối với mấy vị công tử , ông dồn vào họ lòng yêu thương và niềm hy vọng vô hạn. Ai đã đủ tuổi trưởng thành ông liền cho họ ra ngoài va chạm và học hỏi thể hiện. Ai chưa đến tuổi trưởng thành thì ông cho theo bên người mà ân cần dạy bảo kiến thức cho họ, để họ tiếp thu kiến thức và rèn luyện bản lĩnh. Những đứa còn nhỏ chưa biết gì thì ông mời thầy kiến thức phong phú đức cao vọng trọng về dạy vỡ lòng cho họ.
Những tin tốt lành không ngừng được truyền đến, điều đó làm Lã Bất Vi vô cùng mừng rỡ và phấn khích. Doanh Chính đích thân dẫn đại quân , thể như chẻ tre đã đánh đến chân thành Hàm Đan .... Lý Tư được tín nhiệm nhất mực đã trở thành thành viên phải kể đầu tiên trong phủ Tần Vương .... du thuyết của Đệ Tiều người nước Tề đã khiến cho Doanh Chính hồi tâm chuyển ý đón Thái hậu Triệu Cơ về ở, điện Chiêu Thanh cung Cam Tuyền ...Trịnh Quốc người giám sát công trình thủy lợi của nước Hàn đã không bị giết và cuối cùng đã hoàn thành xong công trình khai kênh Kinh Hà và được Tần Vượng thưởng danh là Trịnh Quốc Cừ (« Cừ » có nghĩa là kênh mương) . Dòng kênh tựa như một dòng ngọc đang từ nơi xa xôi ngọt ngào chảy vào lòng Lã Bất Vi....
Trong thời gian dài, sự trầm tư mặc tưởng đã trở thành một bộ phận và đặc trưng tính cách trong nội dung cuộc sống của Lã Bất Vi. Ông thường ngồi buồn trong thư phòng tập trung tinh thần để nghĩ ngợi. Bỗng nhiên ông để ánh mắt hướng vào một hang trống nơi phong cảnh mờ nhạt phía ngoài cửa hoặc của một nơi nào khác. Đối với một người già sáu mươi mấy tuổi thường để lòng mình trôi nổi trong những chuyện cũ hoặc niềm mơ ước thì mọi người cũng không lấy làm ngạc nhiên và xoi mói bắt bẻ. Trên khuôn mặt đầy những nếp nhăn tựa như mạng nhện của ông tràn đầy sự an tường và tôn kính. Ông đang nghĩ đến hoàn cảnh của ông, tương lai của ông . Ông đang nghĩ đến con cái ông, sự nghiệp của ông.
Một hôm, bỗng nhiên Lã Bất Vi dường như sực nhớ đến một việc gì đó, đại để như có họa lớn sắp giáng xuống. Ông tìm Tư Không Mã đến rồi hoảng hốt luống cuống mà rằng :
«Mau, mau giải tán các môn khách đi, truyền thư đến lục quốc chư hầu, ta không tiếp nhận sứ thần của họ nữa ; hãy bán đi một số tuấn mã và xe lọng, không rời nhà đi xa, chúng ta sẽ đi bộ cũng xong; đóng cửa không tiếp khách, để cho sân của chúng ta vắng vẻ đi. Ngươi mau làm nhanh việc này, không thể coi thường được ».
Tư Không Mã cho rằng thần kinh Lã Bất Vi xuất hiện sự rối loạn nào đó thì hỏi :
« Thưa đại nhân , ngài làm sao vậy ? »
Lã Bất Vi sợ hãi nói :
«Tư Không Mã , người thử nghĩ xem chúng ta ở đây phát đạt, khách đến đầy cửa, lại liên lạc với các chư hầu, bàn luận thế thời, chính trị. Như thế Đại vương sẽ nghi ngờ chúng ta sẽ khôi phục địa vị ! Ta biết rất rõ Đại vương của chúng ta . Nhất định ngài sẽ không cho phép nơi đây trở thành một loại trung tâm cùa thế lực đâu ! »
Những điều Lã Bất Vi nói quả không sai. Chỉ tiếc rằng ông nhận ra điều đó hơi muộn. Còn chưa để cho Tư không Mã biến những điều ông nhắc nhở dặn dò thành sự thật thì vào một buổi trưa hè nóng ẩm ngột ngạt có hai viên họan quan mặt mũi đầm đìa mồ hôi từ Hàm Dương đến Lạc Dương tuyên bố chiếu lệnh của Doanh Chính đối với ông :
«Ngươi có công lao gì đối với Tần Quốc mà được phong ấp Hà Nam, Thực Ấp mười vạn hộ ! Ngươi có máu mủ gì với Tần Vương mà xưng là trọng phụ » Ngươi hãy mau cùng gia quyến thân thuộc dời đến đất Thục đi !.
Hoạn quan vừa đọc xong, Lã Bất Vi liền ngồi lặng đi dưới đất như bị sấm sét đánh trên đầu vậy. Doanh Chính muốn đầy gia đình ông đến đất Thục xa xôi hẻo lánh.
Ở đó rừng sâu núi cao, đường đi ách tắc, sói hổ chạy tứ tung, chướng khí mịt mùng. Tấm thân già nua cằn cọc của ông đến đó ở nhà lợp cỏ, cơm rau toàn là gạo lứt, rau lê, lá đậu, lòng không được vui, chí không được bày tỏ, cơ thể không được hoạt động, ốm không được cứu chữa. Cũng chẳng được bao nhiêu ngày là sẽ dằn vật mà chết. Những tội phạm áo đỏ bị đày đến đó được mấy người sống sót. Cả gia quyền thân thuộc cũng chuyển đến đó, không chỉ ông sẽ bị phơi thây ngoài đồng mà vợ quý con yêu của ông cũng sẽ trở thành oan hồn. Cho dù ông tìm ra lối thoát thì Doanh Chính cũng sẽ không để ông được thở chút hơi tàn mà nhất định sẽ tìm một cách khác đưa ông vào chỗ chết và còn chết nhanh hơn. Chung quy lại là chết, chi bằng chết ở đây lại có thể đỡ phải chịu cảnh sức cùng lực kiệt và sự đau khổ chòng chành nghiêng ngả của sự đày ải, và lại có thể để vợ quý con yêu không phải chịu sự dây dưa đi đày.
Lã Bất Vi nghĩ đi, nghĩ lại mấy ngày đêm và ông đã quyết định dùng phương thức tự vẫn để chấm dứt sinh mệnh của mình. Vào một đêm yên ả sao thưa, trên thư án trong thư phòng của Lã Bất Vi được để lên đó cuốn « Lã thị xuân thu ».
Lã Bất Vi uống một cốc rượu độc mà ông đã chuẩn bị từ lâu. Khuôn mặt ông bình tĩnh để thuốc trong bụng ông ngấm vào gan ruột. Đang khi đau đớn vô cùng và ngã xuống đất thì bị một vật gì sắc đâm vào. Ông nằm lại và nhìn – thì ra đó chính là con dao mà Thanh quả phụ đã tặng cho ông. Trong cơn rên rỉ co giật cuối cùng, Lã Bất Vi đã hiểu rõ một sự thực rằng : Ông đã dùng tiền vàng của chính mình giết chết mình. Lúc đó ông hoảng hốt nhận ra mọi đau khổ đã qua, linh hồn và biết bao chuyện ân oán khác đều ra khỏi cơ thể ông ? Ông cảm nhận được sự nhẹ nhỏm, như mình mọc cánh thành tiên rồi bay về cỏi phiêu diêu.
Mấy hôm sau, dưới núi Bắc Mang Lạc Dương theo sự chỉ dẫn của một vị thuật sĩ giang hồ trầm mặc ít nói, ở một nơi oai phong hướng dương có mạch nước chảy ra xuất hiện một gò đất vàng mới tinh. Trên đầu gò hoàng thổ nhô lên một bia mộ có khắc năm chữ sơ sài : « Lã Bất Vi chi mộ » ( Mộ của Lã Bất Vi).
Mùa đông năm 240 trước Công nguyên, trên con đường đông kết lại như sắt từ Hàm Dương về phía Bình Dương. Một đoàn người ngựa xa kỵ chật chội chen chúc, cờ rồng phần phật đang hăng hái tiến  về phía trước, Tần Vương Doanh Chính đang ngồi trên xa ngự tứ mã, chuỗi ngọc trên mũ vua hình đầu báo trâm anh như lửa ; trên chiến mãnh bào màu tím có phủ giáp trụ tựa như vảy cá, nụ cười mừng vui thanh thản dường như đông cứng lại trên mặt Doanh Chính . Vì vừa rồi quân hầu đến báo : Tần Tướng quân Hoan Ỷ đã đánh thắng thành Binh Dương của nước Triệu. Đang khi Doanh Chính mừng vui hớn hở ngắm nghía ngôi thành trì đó thì có ba đóm đen xuất hiện trong tầm nhìn của ông . Trên đống tuyết trắng xóa, bất cứ một vật thế khác màu nào đó đều hướng vào mắt. Doanh Chính chẳng bao lâu đã rõ mọi chuyện. Ba đóm đen đó chính là ba người đang cưỡi ngựa. Trong chốc lát, ba con ngựa đã lao đến trước xa ngự của Doanh Chính. Ba người đó nhanh nhẹn nhảy xuống ngựa. Doanh Chính định thần nhìn kỹ thì ra hai quân úy của Tấn Quốc đang kẹp một thường dân. Quân úy quỳ trước Doanh Chính bẩm báo :
« Đại Vương , đây là người ngài treo bảng cần tìm ».
Doanh Chính rất lạnh lùng với điều đó, ông tự nghĩ thầm rằng : « Quả nhân treo bảng tìm người bao giờ ?
Người bị hai quân úy kẹp vào giữa có hai vết dao nổi bật trên mặt. Doanh Chính thất kinh:
“Ồ! Đây chẳng phải là Xú Y mà ta phải trọng thưởng đó sao”.
Người có vết dao trên mặt chính là Xú Y Triệu Hoảng.
Doanh Chính nói:
“Ngươi là ân nhân cứu mệnh của ta mà ta còn chưa báo đáp. Năm năm nay ta tự hỏi lòng thấy hổ thẹn. Mau lên xe đi cùng với ta”
Đợi Xú Y Triệu Hoảng lên xe xong, Doanh Chính lại hỏi :
« Xú Y, lúc ấy sao ngài chưa từ biệt mà đã bỏ  đi rồi ?.
Thế là Triệu Hoảng kể cho Doanh Chính nghe câu chuyện chân thực do Lã Bất Vi đạo diễn. Doanh Chính nghe xong thì trầm mặc hơi lâu. Ông cho tìm Triệu Cao đến rồi, nói :
«Hoạn giả lệnh, bây giờ ngươi làm thay ta một việc. Hãy đến trước mộ Lã Bất Vi dưới núi Bắc Mang, Lạc Dương tưới rượu giúp ta. Nhưng không được để ai biết là ta sai ngươi đi ».
Một người làm việc cần mẫn như Triệu Cao lúc đó thấy trong đôi mắt rực sáng, long lanh khí phách xưa nay của Doanh Chính là một khoảng mờ tối, ưu tư .
HẾT

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: ***Lã Bất Vi***   

Về Đầu Trang Go down
 
***Lã Bất Vi***
Về Đầu Trang 
Trang 2 trong tổng số 2 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang :: Các Đạo Khác :: Gương Xưa Tích Cũ-
Chuyển đến