Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang
Chào bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang!
Diễn Đàn là nơi giao lưu kết bạn, sưu tầm, lưu trữ, học hỏi và chia sẻ kiến thức.
Để cùng nhau tiến bộ trên con đường hướng thiện.
Chúc bạn sức khỏe và có nhiều thành công mới trong cuộc sống!

Om mani pad me hum
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang

Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho; một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tạo lấy.
 
Trang ChínhTrang Chính    CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Chào mừng các bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang! Chúc các bạn sức khỏe và thành đạt! Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang.

Share | 
 

 Bách Gia Chư Tử

Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2
Tác giảThông điệp
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Bách Gia Chư Tử    Mon Oct 21, 2013 6:29 pm

Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
Hàn Phi Tử
THIÊN XIII
HÒA THỊ
(HỌ HÒA)
 
Người nước Sở là ( Biện) Hòa tìm được trong núi Sở một khối ngọc sống, đem dâng vua Lệ vương[1]. Lệ vương sai thợ ngọc xem. Thợ ngọc bảo chỉ là một cục đá. Lệ vương cho (Biện) Hòa là nói láo, ra lệnh chặt chân trái ông ta. Khi Lê vương mất, Võ vương[2] nối ngôi, (Biện) Hòa lại dâng ngọc lên. Võ vương lại sai thợ ngọc xem, thợ ngọc lại bảo chỉ là đá. Võ vương lại cho là Biện Hòa nói láo, ra lệnh chặt chân phải ông ta, Võ vương chết, Văn vương[3] lên nối ngôi, (Biện) Hòa ôm khối ngọc mà khóc ở chân núi Sở ba ngày đêm, hết nước mắt thì khóc ra máu. Văn vương hay tin, sai người hỏi nguyên do :
- Trong thiên hạ có nhiều người bị chặt chân, sao mà riêng ông khóc lóc bi thảm đến vậy ?
(Biện) Hòa đáp :
- Tôi không đau xót vì bị chặt chân mà vì nỗi : thiệt là ngọc mà lại bảo là đá, kẻ sĩ ngay thẳng mà lại bảo là nói láo, tôi đau xót vì lẽ đó.
Nhà vua bèn sai thợ mài khối ngọc đó, được một hòn ngọc quí, và đặt tên là : “ngọc bích Biện Hòa”.
*
Châu ngọc là thứ mà nhà vua muốn có gấp, dù Biện Hòa dâng một khối ngọc không tốt thì cũng không hại gì cho nhà vua, thế mà phải bị chặt hai chân rồi khối ngọc mới được nhận là quí; nhận ra được của báu, khó như vậy đó. Ngày nay bậc vua chúa cần có pháp thuật để ngăn cấm quần thần, sĩ dân, gian tà chưa chắc đã gấp như cầu có ngọc bích Biện Hòa[4]; sở dĩ kẻ sĩ có đạo ( tức có pháp thuật) chưa bị giết là vì họ chưa dâng thứ ngọc lập nên nghiệp đế vương (tức pháp thuật) cho vua vậy. Vua chúa dùng thuật thì đại thần không thể tự chuyên, kẻ thân cận không dám bán quyền chức; quân thi hành pháp luật thì bọn du thủ du thực vội quay về nghề nông, bọn sĩ du thuyết phải chịu cảnh nguy hiểm ngoài mặt trận[5]. Vậy thì pháp thuật là cái quần thần, sĩ dân cho là tai họa; bậc vua chúa nếu không phản đối lời bàn bạc của đại thần, không bất chấp lời chê bai của nhân dân, cứ làm đúng theo đạo thì kẻ sĩ có pháp thuật dù chết, đạo[6] vẫn không được chấp nhận.
*
Xưa Ngô Khởi dạy[7] Sở Điệu vương về tục (tình hình) nước Sở: “Quyền thế của đại thần lớn quá, các vị hầu được phong đất nhiều quá, như vậy họ áp bức chúa ở trên, ngược đãi dân ở dưới, nước tất nghèo mà binh tất yếu. Chi bằng đối với con cháu các vị hầu được phong đất, cứ ba đời thì thu tước lộc lại, tài giảm lương bổng của thư lại, bỏ các chức quan không cần thiết đi để có tiền nuôi các chiến sĩ được chọn và huấn luyện kĩ”. Điệu vương mới thi hành kế hoạch đó được một năm thì chết và Ngô Khởi bị chặt tay chân ở Sở.
 
Thương quân (tức Thương Ưởng) dạy Tần Hiếu công thi hành phép ngũ gia và thập gia liên bảo, nhà nào có tội, nhà khác phải tố cáo, nếu không thì bị liên lụy; đốt thi thư[8] mà làm rõ pháp luật; chặn những lời thỉnh cầu của tư gia mà thưởng những người có công lao với đất nước; cấm bọn đi nơi này đi nơi khác xin xỏ làm quan, hiển dương nông dân và chiến sĩ. Hiếu Công thi hành kế hoạch đó mà vua được tôn sùng, yên ổn, nước được phú cường, tám năm[9] sau chết, Thương quân bị xe xé thây ở nước Tần. Sở không dùng Ngô Khởi mà bị mất đất và loạn. Tần thi hành phép của Thương quân mà phú cường. Lời hai ông ấy đều đúng mà Ngô Khởi bị chặt chân tay. Thương quân bị xe xé thây là tại sao?
 
Tại bọn đại thần oán[10] pháp thuật mà dân chúng ghét sự cai trị. Đời nay, đại thần tham quyền, dân chúng quen cảnh loạn còn hơn Tần và Sở thời xưa nữa, mà bậc vua chúa không có ai nghe lời phải như Điệu vương, Hiếu Công, như vậy kẻ sĩ giỏi pháp thuật làm sao được mạo hiểm cái nguy của hai ông ấy mà làm sáng tỏ pháp thuật của mình được? Do đó mà đời nay mới loạn mà không ai thực hiện nghiệp bá vương được.


[1][2][3] Có sách chép là Văn vương, Vũ vương và Thành vương.
[4] Chỗ này ngờ mất một câu.
[5] Nghĩa là phải đánh giặc, không nói nhảm nữa. Có sách giảng là bọn sĩ du thuyết không dám nói bậy về chiến tranh nữa.
[6] Đạo đây là pháp thuật.
[7] Nguyên văn là "giáo": có lẽ Hàn Phi muốn tỏ lòng kính trọng Ngô Khởi và Thương Ưởng.
[8] Sử không chép việc này, chỉ chép việc Tần Thuỷ Hoàng nghe lời Lý Tư mà đốt sách thôi. Thi thư là sách của Nho gia.
[9] Mười tám năm thì đúng hơn; chắc thiếu chữ thập.
[10] Nguyên văn là khổ pháp, có sách giảng là khổ vì pháp thuật.

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Bách Gia Chư Tử    Tue Oct 22, 2013 2:01 pm

8. Thương Ưởng - Thân Bất Hại - Hàn Phi - Lý Tư.
 
Thương ưởng, Thân bất Hại là những Pháp gia trong thời kỳ đầu, còn Hàn Phi và Lý Tư thì thuộc vào thời kỳ sau.
Trong thiên Định pháp, Hàn Phi luận về Pháp gia, đặc biệt nêu tên hai người là Thương Ưởng và Thân bất Hại, đó là hai người đúng là những chánh trị gia thời Chiến Quốc.
Truyện Thương Quân trong sách Sử ký rất rườm rà, nay xin căn cứ theo Tiên nho Kiến hầu, lược lại cho gọn.
Thương Ưởng lược khảo
Thương Ưởng là thứ công tử nước Vệ [dòng thứ] ông tên Ưởng, họ Công Tôn, tổ phụ ông vốn là họ Cơ.
Thương Ưởng lúc còn nhỏ rất thích ngành học Hình danh, thờ Ngụy tướng là Công thúc Tỏa...Công thúc Tỏa biết ông giỏi, nhưng chưa có dịp tiến cử ông...
Gặp lúc Thúc Tỏa bịnh, Ngụy Huệ Vương thân đến thăm bịnh và hỏi :
- Công thúc bịnh...Nếu không có gì kiêng kỵ, xin hỏi, sắp tới phải tế xã tắc như thế nào ?
Công thúc Tỏa thưa :
- Đứa thứ tử của tôi là Công tôn Ưởng, tuổi tuy còn nhỏ nhưng có kỳ tài, xin vua hãy chú ý đến những lời nói của nó...
Huệ Vương lặng thinh không nói gì...lại sắp sửa ra đi.
Bảo người trong nhà tránh mặt, Thúc Tỏa thưa :
- Nếu vua không nghe lời khuyên nên dùng Thương Ưởng, vậy thì phải giết ngay, không cho nó rời khỏi nơi nầy !
Huệ Vương đồng ý và ra về.
Công thúc Tỏa gọi Thương Ưởng vào và từ tạ :
- Hôm nay, vua có hỏi ta, ai có thể làm Tướng quốc, ta tiến cử ngươi...nhưng thái độ của vua là không đồng ý, ý riêng của ta là lo cho vua trước, mà bầy tôi thì sau, nhơn đó mới bảo vua : " Nếu không dùng Ưởng thì nên giết nó...Vua đã đồng ý như vậy ngươi phải đi trốn cho mau... "
Thương Ưởng đáp :
- Nếu vua không nghe lời tướng công để dùng tôi, thì đâu có thể nghe lời tướng công để giết tôi !
Thương Ưởng liền không đi.
Huệ Vương ra về, bảo kẻ tả hữu :
- Công thúc bịnh nhiều, thật đáng buồn, nhưng lại muốn quả nhơn dùng Công tôn Ưởng để trị nước, thật là trái lễ.
Công thúc Tỏa chết, Thương Ưởng nghe Tần hiếu Công hạ lịnh cầu người hiền trong nước, để trau dồi cơ nghiệp của Mục Công phía Đông lấy lại những đất bị xâm lấn, Thương Ưởng liền nhờ sủng thần của Hiếu Công là Cảnh Giám xin đến ra mắt.
Qua bốn lần gặp, mà sau đó, Hiếu Công mới thích.
Thương Ưởng cho Cảnh Giám biết :
- Ban đầu tôi nói với vua về Đế đạo...nhưng vua không nhận được. Kế đó tôi nói với vua về Vương đạo, mà không thể vào được. Sau đó tôi nói về Bá đạo, vua khen hay mà không dùng. Tôi bèn nói cái đạo làm cho nước mạnh, vua rất thích.
Như thế thì làm sao sánh đức với nhà Ân, Châu được ?
*
Hiếu Công muốn dùng Thương Ưởng biến pháp [thay đổi chế độ cai trị] nhưng sợ thiên hạ dị nghị mình, liền triệu tập quần thần bàn bạc về chuyện ấy.
Cam Long và Đỗ Chí đều phản đối biến pháp.
Thương Ưởng nói :
- Cai trị không phải có một đạo, làm tiện lợi cho nước không nhứt thiết phải theo xưa, cho nên vua Thang, vua Võ không theo phép xưa mà làm nên nghiệp Vương, nhà Hạ, nhà Ân không đổi Lễ mà mất, thế nên làm trái với đạo xưa chưa chắc là đã sai, và theo Lễ cũ, cũng chưa chắc là đầy đủ...
Hiếu Công liền phong cho Thương Ưởng làm chức Tả thứ Trưởng, và quyết định lịnh biến pháp : ra lịnh cho dân vào đội ngũ, ai không tố cáo kẻ gian bị tội chém ngang lưng, người cáo kẻ gian được thưởng như chém đầu giặc, chứa chấp kẻ gian đồng tội với đầu hàng địch, nhà có 2 đứa con trai trở lên nếu không ra riêng thì đánh thuế gấp đôi, có quân công (công đánh giặc) thì sĩ tốt được thượng tước, đánh lộn thì bị hình phạt, lớn hay nhỏ gì cũng phải rán sức làm việc.
Cày ruộng, dệt vải có nhiều lúa, lụa được huởng, kẻ nào làm không được việc, lười biếng sanh ra nghèo nàn thì thâu tài sản bắt làm nô lệ.
Người trong Tôn thất, nếu không có quân công thì không còn được ở hàng Tôn thất, tôn ti, tước trật, đẳng cấp phân biệt rõ ràng. Tên gọi điền trạch, thần thiếp, y phục đều có thứ lớp, phân minh. Kẻ có công thì hiển vinh, kẻ không công thì dù cho giàu cũng không được vinh hạnh.
[Chức tước nhà Tần có 20 cấp. Tả thứ trưởng là cấp thứ 10. Thứ trưởng là chức chỉ huy quân sự, dưới chức Đại thứ trưởng. Đại thứ trưởng thuộc cấp thứ 18].
Lịnh biến pháp gồm 6 điều :
1. Ra lịnh cho dân phải tổ chức thành đội ngũ, như chế độ bảo giáp hay tổ chức nhơn dân tự vệ ngày nay.
2. Ra lịnh cho dân nhà nào có hai người con trai trở lên phải ra riêng để tăng số hộ khẩu.
3. Thưởng người có quân công, trừng phạt kẻ đánh lộn, làm cho dân mạnh dạn trong việc đánh giặc mà nhát chuyện đánh lộn riêng tư.
4. Khen thưởng việc cày cấy trồng dâu dệt vải để tăng gia sản xuất.
5. Dòng Tôn thất không quân công thì không được nối chức để ức chế lớp quí tộc không làm việc
6. Kẻ không công lao, tuy giàu cũng không được vinh sang, để ức chế lớp hào phú không làm việc.
Chư tử thời Tiên tần đều noi theo xưa mà thay đổi chế độ, duy Pháp gia thì lại biến cải thời xưa để thay đổi chế độ [xem thêm quyển Thương Quân Thơ, thiên Tống chú].
Lịnh đã chuẩn bị xong xuôi, nhưng chưa ban ra, Thương Ưởng sợ dân không tin mình, liền dựng cây cao 3 trượng ở cửa phía Nam quốc đô, ra lịnh cho dân, hễ ai có thể dời cây ấy đến cửa Bắc thì cho 10 nén vàng.
Dân chúng lấy làm lạ, không một ai dám dời, rồi lại ra lịnh tiếp :
- Nếu ai dời được sẽ thưởng 50 nén.
Có một người đến dời thử, liền được thưởng ngay 50 nén vàng, để chứng tỏ là người trên không lừa dối.
Sau đó liền hạ lịnh Biến pháp.
Năm đầu, người nước Tần cho là lịnh bất tiện, kể có số ngàn, thi hành lịnh 10 năm, nước Tần đại trị, chừng đó, những người trước kia cho là bất tiện bây giờ lại nói là rất tiện.
Thương Ưởng nói :
- Đó là những người dân làm rối loạn phép tắc.
Liền dời hết bọn người ấy ra biên giới. Sau đó, người nước Tần không một ai dám dị nghị gì về pháp lịnh cả.
[Về chuyện nầy sách Tần Bản Kỷ có chép : Ban đầu khi thi hành pháp lịnh mới, bách tánh ai cũng cho là khổ, nhưng sau 3 năm thi hành, bách tánh lại cho là tiện lợi].
Rồi Thương Ưởng được phong chức Đại lương tạo, đem binh vây An ấp của Nguỵ...nước Ngụy hàng.
[Chức Đại lương tạo của Tần là ở cấp 16, cũng gọi là Đại thượng tạo.
Theo Tần Bản Kỷ thì Thương Ưởng được phong chức Đại lương tạo vào năm thứ 10 đời Hiếu Công. An ấp là thủ đô của Ngụy].
Năm thứ 12 đời Hiếu Công, nước Tần từ đất Ung dời đô đến Hàm dương, mở rộng bờ cỏi, bình thuế khóa, định việc đo lường, rồi năm 15, phong Thương Ưởng làm Tướng quốc.
Thái tử phạm pháp. Thương Ưởng nói :
- Pháp mà không thi hành được là do người trên phạm.
Vì thái tử là người nối dõi cho vua, nên không thể thi hành luật, liền cắt mũi người thái phó là công tử Kiền, và xâm mặt sư phó là Công tôn Giả.
Gặp lúc Tề tướng là Điền Kỵ đánh quân Ngụy đại bại ở Mã Lăng, Hiếu Công dùng kế của Thương Ưởng, thừa cơ sai Ưởng đem binh đánh Ngụy.
Thương Ưởng giả vờ cùng Ngụy tướng là công tử Cung ăn thề, rồi đánh bất ngờ và bắt cầm tù công tử Cung, đại phá quân ấy, nước Ngụy cắt đất Hà Tây để làm hoà, rồi lìa bỏ An ấp, đến đóng đô ở Đại Lương.
Vua Huệ Vương tức mà nói rằng :
- Ta hối hận đã không nghe lời Công thúc Tỏa.
Thương Ưởng trở về, Hiếu Công phong cho đất Thương 15 ấp, và lấy hiệu là Thương Quân.
Thương Quân làm Tướng Quốc nước Tần 10 năm, các hàng Tôn thất và quí thích đều oán ghét, Triệu Lương đến ra mắt Thương Quân và khuyên ông nên trở về đất phong 15 ấp...ông không nghe. Được 5 tháng, Hiếu Công mất, thái tử Tứ lên ngôi, đó là Huệ Văn Vương.
Bọn công tử Kiền tố cáo Thương Quân muốn làm phản, vua sai người đến bắt, Thương Quân chạy ra cửa ải, muốn vào ở nhà trọ, người chủ không biết đó là Thương Quân liền từ chối nói rằng :
- Pháp lịnh của Thương Quân, nếu cho người lạ ở trọ mà không biết rõ thì sẽ bị tù.
Thương Quân than :
- Cái hại làm pháp lịnh đi đến nỗi nầy !
Liền chạy qua nước Ngụy. Người Ngụy oán ông, lại sợ Tần, liền đưa ông trở về Tần.
Thương Quân lại vào đất Tần, chạy vào Thương ấp, phát ấp binh. Tần cũng phát binh đánh, đuổi và giết ông ở Trịnh mẫu trì, rồi dùng xe xê xác ông để trị tội, và diệt luôn cả gia đình ông.
Những người đã học với Thương Quân, tìm gom góp những pháp lịnh thành pho Thương Quân thơ.
[Trong Hán chí, phần Pháp gia, có Thương Quân thơ gồm 29 thiên, ngày nay còn 24 thiên].
*
Đồng thời với Thương Ưởng có Thân bất Hại, Thương Quân làm tướng quốc cho Tần, còn Thân Tử thì làm tướng quốc cho nước Hàn, đều nắm trong tay chánh quyền thực tế, duy 2 nước Tần và Hàn mạnh yếu không giống nhau, chánh sách khác nhau, cho nên công nghiệp cũng khác.
Thương Quân chỉ nói " Pháp ", còn Thân Tử thì dùng " Thuật ", tuy chánh sách có khác, nhưng cũng đều là Pháp gia trong thời kỳ đầu của Chiến Quốc.
Hàn Phi là Pháp gia thời kỳ sau của Chiến Quốc, nhưng không có nắm chánh quyền, mà học thuyết của ông lại gom được cái sở trường của Thương Quân và Thân Tử.
Thân Tử và Hàn Tử, trong Sử ký chép chung với Lão Trang thành một truyện, Kiến hầu căn cứ theo đó, viết thành truyện Thân, Hàn.
Thân Bất Hại, Hàn Phi Truyện Khảo
Thân bất Hại là người đất Kinh, một người tôi tầm thường ngày xưa của nước Trịnh, ông học " thuật " để cầu lộc với Hàn Chiêu Hầu.
Chiêu Hầu dùng ông làm tướng quốc, bên trong sửa đổi chánh trị, giáo dục : bên ngoài ứng phó với chư hầu suốt 15 năm ; trọn đời của Thân Tử, ông làm cho quốc trị, binh cường, không ai xâm phạm nước Hàn cả.
Cái học của Thân Tử, gốc ở Hoàng Lão, mà chỉ là Hình Danh, viết sách gồm 2 thiên, đề là Thân Tử.
[Truyện Thân bất Hại so với Thương Quân, thật là sơ lược.. . đất Kinh là một ấp của nước Trịnh, thành cũ hiện nay ở phía Đông huyện Bình Diên, tỉnh Sơn Tây...Như thế thì Thân bất Hại là người nước Trịnh].
*
Hàn Phi là một công tử nước Hàn, thích cái học Hình, Danh, Pháp, Thuật...mà gốc là Hoàng Lão...
Hàn Phi là người có tật cà lăm nên không thể thuyết đạo được mà chỉ giỏi về viết sách.
Ông với Lý Tư thờ Tuân Khanh, và Lý Tư cho rằng mình không bằng Hàn Phi.
Hàn Phi thấy nước Hàn nhỏ yếu, cho nên nhiều lần viết thơ khuyên can vua Hàn, vua Hàn không dùng vì thế Hàn Phi rất ghét việc trị nước mà không biết sửa sang cho pháp chế sáng tỏ, chỉ nắm thế lực mà ngự trị thần hạ. Còn chuyện tìm người, dùng kẻ giỏi, thì trái lại, cử kẻ phù phiếm, sa đọa như bọn sâu mọt mà giao cho việc quan trọng.
Ông cho rằng phái Nho dùng văn để làm rối loạn " pháp ", bọn hiệp sĩ thì dùng võ để phạm điều cấm...
Khi thảnh thơi thì phải dùng người danh dự, khi gấp thì phải dùng kẻ sĩ áo giáp...Nhưng ngày nay thì nuôi người không có chỗ dùng, mà dùng người thì là người không nuôi dưỡng.
Ông buồn việc kẻ thanh liêm, ngay thẳng không ở được với bọn tôi tà vậy, nhìn chuyện biến đổi của thành công và thất bại đã qua, ông đã viết mấy thiên : Cô phẫn, Ngũ đố, Nội ngoại từ thuyết, Thuyết lâm, Thuyết nan, gồm hơn 10 vạn lời...
Có người truyền sách ông đến nước Tần, vua Tần thấy mấy thiên Cô phẫn, Ngũ đố, liền nói :
- Hỡi ơi ! Quả nhơn mà được gặp người nầy, cùng giao thiệp thì dù có chết cũng không hận vậy !
Lý Tư thưa :
- Đây là quyển sách của Hàn Phi viết.
*
Nước Tần đánh Hàn rất dữ...
Ban đầu vua Hàn không dùng Hàn Phi, đến lúc bối rối liền sai ông đi sứ qua Tần.
Vua Tần rất thích, nhưng chưa tin dùng, Lý Tư và Diên Cổ muốn hại ông nên gièm pha :
- Hàn Phi là một công tử nước Hàn, bây giờ vua muốn gồm thâu chư hầu, thì thế nào Hàn Phi cũng không bỏ nước Hàn, mà lo cho Tần được, đó là tình cảm tất nhiên của con người.
Bây giờ vua không dùng mà giữ lại lâu, đó là giữ cái hại vậy...Chẳng thà tìm cách mà giết y...
Tần Vương nhận là phải, liền sai người trị tội Phi, Lý Tư lại sai người đưa đến thuốc độc, để Hàn Phi tự sát.
Hàn Phi muốn trần tình, nhưng không thể gặp vua được...Sau đó Tần Vương hối hận, liền sai người đến tha tội, nhưng Hàn Phi đã chết.
[Chuyện Hàn Phi, so với chuyện Thân bất Hại, có phần rõ ràng hơn, Hàn Vương tên là An...
Ngũ đố [5 loài sâu mọt] đây là : một là nho, hai là du sĩ, ba là du hiệp, bốn là tả hữu cận thần, năm là bọn công thương không lo cày cấy...
Chuyện Hàn Phi có tật cà lăm có người nghi ngờ không dám quả quyết, vì Phi có viết thiên " Nan ngôn " biết đâu người đời sau suy diễn mà cho ông cà lăm.
Lý Tư và Hàn Phi đều là đệ tử của Tuân Tử và cũng đồng là Pháp gia, nhưng Lý Tư lại nhẫn tâm sát hại bạn đồng môn mình là một điều hết sức chua xót...
Hàn Phi có viết sách để lại cho đời sau, còn Lý Tư thì không...nhưng Hàn Phi thì không được nhà cầm quyền dùng còn Lý Tư thì công nghiệp hiển hách một thời.
Về chuyện của Lý Tư, xin trích trong Sử ký, vì đây là tài liệu khá đầy đủ nhứt hiện nay]
Lý Tư Truyện
Lý Tư là người đất Thượng Thái nước Sở, hồi nhỏ làm chức quan thường. Ông thấy có con chuột ở trong nhà xí, đã ăn dơ, lại còn bị chó đuổi, còn chuột trong kho, được ăn lúa tốt lại không bị chó rượt, liền than :
- Con người có tài và bất tài, y như loài chuột, chỉ tại chỗ ở của mình mà thôi.
Liền theo Tuân Khanh học cái thuật của Đế Vương, đã thành công, nhận thấy Sở Vương không đáng cho mình thờ, và trong số Lục quốc không có gì để cho mình gầy dựng được công nghiệp cả, nên muốn đi về phía Tây, vào nước Tần.
Ông liền từ giã Tuân Khanh và thưa :
- Tư nầy nghe gặp thời thì không nên chậm trễ, ngày nay nước muôn cổ xe đang tranh nhau, kẻ du thuyết được trọng dụng.
Vua Tần muốn gồm thâu thiên hạ, xưng đế để trị, đây là lúc kẻ áo vải đi du thuyết đó...Ở chỗ vị trí thấp hèn, kế hoạch mình không được thi hành, như nhìn thịt trước mắt mà không ăn được, tuy mặt mũi như người nhưng không bằng ai cả...cho nên không gì nhục bằng ti tiện, không gì buồn bằng bần cùng.
Ở lâu nơi vị trí ti tiện và chỗ khốn khổ rồi chê đời và gọi là ghét lợi lộc, tự dấn mình vô chỗ vô vi, đó không phải là cái tình hợp lý lẽ của kẻ sĩ...cho nên Tư sẽ đi về phía Tây để du thuyết với Tần Vương.
Đến nước Tần, xin làm xá nhơn [người trong nhàcho Thừa tướng nước Tần là Lữ bất Vi...Bất Vi khen ông giỏi, liền cho làm chức Lang, nhờ đó mà được ra mắt vua Tần Vương Chánh. Vua liền cho làm Khách khanh.
Lúc đó bầy tôi nước Tần chủ trương đuổi những người của Lục quốc đang làm quan ở Tần, Lý Tư cũng ở trong số người bị đuổi, liền dâng thơ can vua Tần, vua liền bỏ lịnh đuổi khách...và phục chức cho Lý Tư.
Ông làm quan cho đến chức Đình Úy, năm thứ 26 đời Tần Vương Chánh, nhà Tần thống nhứt Lục quốc rồi xưng là Thủy Hoàng Đế, và dùng Lý Tư làm Thừa tướng, bỏ chế độ phong kiến, làm quận, huyện, thành, thâu tất cả binh khí, đúc 12 người đồng để biểu thị là chẳng dùng việc binh nữa, đa số chủ trương đó đều do chánh sách của Lý Tư.
Năm thứ 34 đời Thủy Hoàng, bày tiệc rượu ở cung Hàm Dương, bác sĩ, bộc xạ, bọn Châu Thanh Thần đều tán tụng công đức Thủy Hoàng.
Bác sĩ Thuần vu Việt tố cáo Thanh Thần a dua ngoài mặt, mà lại phản đối việc bỏ chế độ phong kiến, cho rằng việc làm như thế là không theo thời xưa...nên không thể lâu dài được...
Thủy Hoàng liền hạ lịnh bình nghị về việc đó...
Lý Tư dâng thơ nói rằng :
Kẻ sĩ thời Lục quốc, đều nói đến đạo xưa mà chê đạo ngày nay, cho cái học riêng của mình là hay, mà chê cái xây dựng của bề trên. Bây giờ bệ hạ đã thâu gồm thiên hạ, phân biệt trắng đen mà định một ngôi tôn quí, bọn học riêng tư lại chê trong lòng và bàn bạc lén, mỗi người lấy cái học riêng của mình để chê chế độ pháp giáo của nhà vua, chê vua để có danh cho mình, thích cái lạ để làm cao, đem bọn thuộc hạ gây chuyện phỉ báng, như thế mà chẳng cấm thì thế của vua từ trên xuống, mà thành ra thấp.
Việc cấm đoán rất tiện, thần xin những người có sách văn học, thi thơ và Bách gia, đem ra trừ khử cho hết, lịnh ra trong vòng 30 ngày, nếu ai không đem đốt bỏ, thì thích vào mặt và bắt đi đắp thành.
Các loại sách không đốt bỏ là : sách y dược, bói toán và trồng cây. Nếu ai muốn học thì phải nhờ quan làm thầy dạy.
Thủy Hoàng làm y theo lời, liền đốt sách, làm sáng pháp độ, định luật lịnh, các điều ấy đều bắt đầu từ thời Thủy Hoàng.
Đồng với sách vở, luật lịnh, các pháp đo lường đều qui định, các việc làm ấy đều có công của Lý Tư dự vào.
Trưởng tử của Lý Tư là Do làm Thái thú đất Tam Xuyên, các con ông đều cưới các công chúa nước Tần, con gái thì gả cho các công tử nước Tần.
Do xin về qui lão, Lý Tư đặt tiệc ở nhà, trăm quan đều đến chúc thọ.
Lý Tư than thở :
- Tôi nhớ lời dạy của Tuân Khanh " Phàm sự vật cấm quá thạnh " nhưng Tư nầy là kẻ áo vải ở Thượng Thái, mà bậc nhơn thuần ngày nay không ai hơn Tư nầy, có thể nói là tôi đã giàu sang tột bực, nhưng tôi chưa nhận thấy là mình bị bỏ...
Tháng 10, năm thứ 37, Thủy Hoàng ra đi tuần thú đến Cối Kê, noi theo biển đi lên, phía Bắc đến Lang gia, thừa tướng Lý Tư, giữ nhiệm vụ Trung xa phủ lịnh kiêm Hành phù di lịnh. Triệu Cao và đứa con nhỏ của Thủy Hoàng là Hồ Hợi đều có đi theo.
Tháng 7 năm sau, đến đất Sa Khâu, Thủy Hoàng bịnh nặng, liền sai Triệu Cao làm tờ chiếu, triệu con lớn là Phò Tô đến Thượng quận, và tướng Mông Điềm theo lo việc quân, lịnh đến lo việc tang ở Hàm Dương.
Tờ chiếu đã xong, nhưng chưa đưa cho sứ giả và ấn thì còn ở tại dinh Triệu Cao.
Thủy Hoàng băng, Lý Tư nghĩ rằng vua băng ở ngoài, thái tử chưa lập, liền để Thủy Hoàng trong xe và giữ bí mật.
Triệu Cao thuyết phục Hồ Hợi để lập y làm Thái tử. Hồ Hợi tuân theo, Triệu Cao liền uy hiếp Lý Tư, nói dối là đã lãnh di chiếu lập Hồ Hợi làm thái tử, làm tờ di chúc khác và trao luôn ấn kiếm rồi sai Hồ Hợi đến Thượng Quận , ra lịnh cho Phò Tô tự sát, và cho Mông Điềm tự chọn cái chết...và trao quyền cầm quân cho tướng Vương Ly.
Phò Tô nhận được chiếu giả liền tự sát, Mông Điềm không chịu tuân lịnh liền bị bắt giam ở Dương Châu rồi chết trong ngục.
Sứ giả trở về báo cáo, đến Hàm Dương mới phát tang, thái tử Hồ Hợi lên nối ngôi, đó là Nhị thế hoàng đế.
*
Vua Nhị Thế thường ở trong cung cấm, Triệu Cao giữ chức Lang trung lịnh chuyên quyền, bọn đại thần như Mông Nghị và các công tử, công chúa và quần thần bị giết rất nhiều.
Trước kia, Thủy Hoàng xây cất cung A phòng chưa xong. Nhị Thế tiếp tục và hoàn thành, việc bắt xâu liên miên, thuế má càng nặng nề.
Bọn đi thú ở Sở là Trần Thiệp làm loạn, giặc cướp nổi lên khắp nơi và tràn đến đất Tam Xuyên, Lý Do [con Lý Tư] không sao ngăn được, cho đến lúc Chương Hàm phá được Trần Thiệp, sứ giả lên án là Tam Xuyên thú thông đồng với giặc. Lý Tư sợ liền dâng sớ xin làm việc hết mình để được Nhị Thế tín nhiệm.
Vì việc làm càng nghiêm, kẻ nào thu thuế dân nhiều là quan lại tốt, giết người nhiều là người tôi có năng lực.
Triệu Cao gièm xiểm Lý Tư, cho rằng làm Thừa tướng mà quyền nhiều hơn Hoàng đế, và Lý Tư muốn làm việc mà Điền Thường đã làm [làm phản], bọn Trần Thiệp đều là người nước Sở, khi đến Tam Xuyên, Lý Do không chịu đánh, và cũng thường nghe hai bên thường thơ từ qua lại với nhau v.v...
Lý Tư cũng dâng sớ, kể những chỗ sai lầm của Triệu Cao. Nhị Thế liền ra lịnh cho Triệu Cao làm án Thừa tướng Lý Tư và con là Lý Do về tội mưu phản.
Lý Tư bị bắt, từ trong ngục, ông dâng sớ để biện bạch, Triệu Cao ra lịnh xé sớ và nói rằng :
- Tên tù đâu có thể dâng sớ cho vua được !
Triệu Cao liền nói dối là Lý Tư đã chịu tội.
Án đã đầy đủ, Nhị Thế liền nói :
- Nếu không có Triệu Quân thì ta đã bị Thừa tướng bán đứng rồi !
Nhị Thế sai sứ giả đến Tam Xuyên, thì Lý Do đã bị Hạng Lương đánh và giết chết...
Sứ giả trở về, Triệu Cao lại nói dối là Lý Do đã làm phản. Tháng 7, năm thứ 2 đời Nhị Thế, Lý Tư bị tội chém ngang lưng ở chợ Hàm Dương, lúc sắp bị hành hình, Lý Tư nhìn đứa con giữa nói :
- Bây giờ ta muốn với con được dắt con chó ra cửa Đông đất Thượng Thái cũng không còn được nữa !
Cha con cùng khóc, rồi bị tru di tam tộc.
úp Tần Thủy Hoàng định quận huyện chế, thống nhứt văn tự, định pháp đo lường, nước Trung Hoa từ đời Hán đến đời Thanh, pháp luật và chế độ đều theo nhà Tần, đó là thành tích to lớn của Lý Tư, mặc dầu ông không có viết sách nhưng đó là một kỳ tài của Pháp gia, chỉ vì ông tham luyến vinh hoa phú quí, tuy biết là " [color=red]Sự vật cấm không nên quá thạnh ", nhưng ông vẫn không tránh được]
*
Lý Tư, khi mới đến nước Tần, chưa làm Thừa tướng, đã làm xá nhơn cho Lữ bất Vi. Sách Hán chí, phần Tạp gia có Lã thị Xuân Thu, trong lời chú có viết : Thừa tướng Lữ bất Vi gom kẻ sĩ có trí lược để viết...Như thế thì rõ ràng không phải quyển sách ấy do Lữ bất Vi viết, nhưng Lã thị Xuân Thu là một quyển sách nổi tiếng của phái Tạp gia, nên cũng cần tìm hiểu sự tích của Lữ bất Vi, người đã đứng tên quyển sách ấy.
Tài liệu sau đây trích trong quyển Sử ký.
Truyện Lữ Bất Vi
Lữ bất Vi là một thương gia lớn ở Dương Địch, thái tử của Tần Chiêu Công chết nên đem thứ tử là An quốc Quân Trụ làm Thái tử.
Phu nhơn của ông nói :
- Hoa dương phu nhơn [vợ An quốc Quân] được sủng ái mà không con, Hạ cơ sanh Tử Sở, đi làm con tin ở Triệu, rất nghèo.
Bất Vi liền nói :
- Đó là hàng hoá đặc biệt, có thể chứa...
Liền qua du thuyết...Ông đi từ phía Tây đến nước Tần, đem những của báu lạ, những món đẹp đến hiến Hoa dương phu nhơn.
Phu nhơn liền nói với An quốc Quân, xin nuôi Tử Sở làm đích tử.
Bất Vi có người hầu là Hàm Đan, đã có thai, liền đem tiến dâng cho Tử Sở, khi sanh con đặt tên là Chánh.
Tần Chiêu Vương mất, Trụ lên ngôi, lập Hoa Dương phu nhơn làm hoàng hậu, Tử Sở làm thái tử.
Trụ lên ngôi một năm mà mất đó là Hiến Văn Vương...
Tử Sở lên ngôi, dùng Bất Vi làm Tướng quốc, phong làm Văn tín hầu.
Tử Sở lên ngôi 3 năm mà mất, đó là Trang Tương Vương.
Thái tử Chánh nối ngôi, tôn Bất Vi làm trọng phụ, Chánh tuổi nhỏ, thái hậu trước kia là ái thiếp Hàm Đan của Bất Vi, liền tư thông với ông.
Bất Vi đã sang, liền gom các kẻ sĩ trí lược, khiến mỗi người ghi chép những hiểu biết của mình, thành pho Lã thị Xuân Thu, đem treo trước cửa chợ Hàm Dương rao nếu ai thêm bớt được một chữ, thì thưởng ngàn vàng.
Đến khi Chánh lớn, tự cầm quyền, mà thái hậu dâm loạn không thôi. Bất Vi lại tiến cử một người đa dâm là Giao Độc, với thái hậu sanh hai đứa con. Việc đổ bể, Chánh giết hai đứa con, tru di tam tộc Gia Độc, miễn chức Bất Vi, ra lịnh cho ông về đất Hà Nam, sau lại đày ông đi đất Thục,
Bất Vi rất sợ, liền uống thuốc độc tự sát.
*

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Bách Gia Chư Tử    Wed Oct 23, 2013 12:50 pm

9. Huệ Thi, Công Tôn Long và Nhóm Tắc Hạ.
  
Dưới thời Chiến quốc, những người biện luận nổi tiếng, người đời sau gọi là " Danh gia ". Nhưng về Danh học thì mỗi môn phái đều có cái thuật biện luận cần thiết cho mình, chớ không phải chỉ mình Danh gia mới có riêng thuật biện luận mà thôi.
[Danh là đối với Thực, sự vật đều thực, vì thế những " từ " dùng để gọi những sự vật ấy (gồm cả ngôn ngữ và văn tự) là danh].
Dùng từ để tạo thành câu, để chỉ cái thực, dùng đạt ý mình, nhưng dùng câu, dùng văn từ tất nhiên phải có những qui tắc, và dùng câu để biện luận để giữ lập trường mình, hay công phá lập luận của đối phương, cũng phải có phương pháp, đó là " Danh học ".
Danh học của Trung Hoa, cũng như " Logique " của Tây phương và Nhơn minh của Ấn Độ, đều là những phương pháp biện luận.
Danh học của Trung Hoa hưng thạnh vào lúc giữa thời Chiến quốc trở về sau. Khổng Tử tuy có thuyết " chánh danh ", Mạnh Tử tuy giỏi về biện luận, nhưng vẫn không được gọi là Danh gia.
Lớp sau của Mặc gia, tuy có những thiên sách : Kinh, Kinh Thuyết, Đại thủ và Tiểu thủ, Nho gia lớp sau, cũng có thiên Chánh danh của Tuân Tử, như thế thì danh học là phương pháp biện luận mà môn phái nào cũng cần phải có để bảo vệ học thuyết của mình, nhưng Danh gia thì đặc biệt chuyên về biện luận.
Trong phái Danh gia, có Huệ Thi và Công tôn Long là nổi tiếng hơn hết.
Sau đây xin lượt thuật tiểu sử của hai ông và bổ túc thêm phần lược khảo về Huệ Thi và Công tôn Long sách Sử ký.
*
Huệ Thi là người nước Tống, thường đến du thuyết với Trâu quân giùm cho Điền Tứ.
[Sách Hàn Phi có chép : Điền Tứ ngạo mạn với vua nước Trâu. Trâu quân định sai người để giết ông. Điền Tứ sợ liền cho Huệ Tử hay. Huệ Tử liền đến ra mắt Trâu quân, thuyết giùm Điền Tứ. Vua Trâu liền không giết ông ấy...]
Huệ Thi là người đồng thời với Trang Tử, đôi bên rất thân thiện.
Ông thường làm tướng quốc cho Ngụy Huệ Vương, ở nước Ngụy rất lâu, sau đó Trương Nghi đến Ngụy, Huệ Thi qua Sở, vua Sở liền đưa ông về Tống.
[Sách Lã thị Xuân Thu chép : Huệ Tử làm việc chánh ở Ngụy, nhằm thời Huệ Vương, đánh 50 trận, bị thua hết 20, vây thành Hàm Đan 3 năm mà không lấy được.
Sách Trang Tử có chép : Trang Tử đưa đám tang, đi ngang qua mộ Huệ Tử...như thế Huệ Tử chết trước Trang Tử.
Sách Cửu vức chí, phần Hoạt Châu có ghi mộ của Huệ Tử...không biết chắc có phải Huệ Tử chết ở Hoạt Châu không ?]
Trong thiên Thiên hạ sách Trang Tử có viết :
" Huệ Thi có nhiều phương thuật, sách ông viết đầy 5 xe, đạo của ông là biện bác, lời nói của ông trung thực. "
Lại có chép thêm thuyết của ông 20 điều. Trong sách Hán chí phần Bách Gia có tên Huệ Tử.
*
Công tôn Long tự Tử Bỉnh người nước Triệu, ông thường đi du thuyết qua nước Ngụy, có gặp Ngụy công tử Mâu và Huệ Thi.
[Hồ Thích, trong quyển Trung Quốc Cổ Đại Triết học sử đại cương có viết : " Công tôn Long không thể nào có biện luận với Huệ Thi được ". Sách Trang Tử có ghi những lời của Công tôn Long là do người đời sau ngụy tạo].
Ông thường làm khách ở Bình Nguyên quân nước Triệu, và khuyên Bình Nguyên quân đừng lãnh đất Thọ Phong.
Ông lại thường bàn với Huệ Văn Vương nước Triệu về việc ngưng binh đao.
Trâu Viễn qua Triệu, thường chê Công tôn Long.
Ông thường đến du thuyết nước Yên, bàn với Yên Chiêu Vương về việc ngưng binh đao.
Công tôn Long, trong sách Hán chí được xếp vào phái Danh gia.
Đệ tử truyện lại chép là người nước Vệ, Trịnh Huyền lại nói là người nước Sở, các thuyết đều khác nhau, không biết đâu là sự thật.
Sách Đệ tử truyện cũng có viết : " Công tôn Long tự Tử Thạch nhỏ hơn Khổng Tử 36 tuổi ".
[center>*
Sách Sử ký, trong phần Mạnh Tử, Tuân Khanh có một đoạn dài nói về Tắc Hạ chư tử, là vì Mạnh Tử và Tuân Tử đều thường ở Tắc Hạ trong số gọi là " Liệt Đại phu " [có lương mà không nhiệm vụ rõ ràng].
[Dưới đây xin chép tài liệu Tắc Hạ chư tử của Kiến Hầu]
Tắc Hạ Chư Tử Khảo
Tắc Hạ ở cửa Tây thủ đô nước Tề, trong Mạnh Tử, Tuân Khanh truyện có viết : Từ Trâu Viễn cùng các Tiên sinh ở Tắc Hạ nước Tề như Thuần vu Khôn, Thận Đáo, Hoàng Uyên, Tiếp Tử, Điền Biền, Trâu Thích v.v...mỗi người đều có viết sách để trần thuyết với người có trách nhiệm với đời. Số ấy không thể kể xiết...
Từ Thuần vu Khôn trở đi, các ông đều được gọi là Liệt Đại phu, được cất cho nhà cao cửa rộng, đường sá thênh thang để tỏ lòng kính mến.
Trong thiên hạ, tân khách như các chư hầu, đều nói nước Tề là giỏi tiếp đãi kẻ hiền trong thiên hạ.
Sách Điền Kỉnh Trọng thế gia có viết : " Tuyên Vương rất thích các kẻ sĩ du thuyết và văn học như nhóm Trâu Viễn, Thuần vu Khôn, Điền Biền, Tiếp Tử, Thận Đáo, Hoàng Uyên, v.v...tất cả 76 người, đều cho nhà ở không làm việc chánh mà bàn luận, nhóm Tắc Hạ học sĩ rất đông, con số lên đến trăm, ngàn người.
Như thế đã thấy số Tắc Hạ chư tử rất đông...
Sau đây xin ghi tên những người nổi tiếng nhứt :
[Thượng Đại phu cũng như Liệt đại phu].
1.2. Trâu Viễn, Trâu Thích.
Trong sách Sử ký, phần Điền Kỉnh Trọng thế gia và Mạnh Tuân liệt truyện có ghi Tắc Hạ chư tử, trước hết là nêu tên Trâu Viễn.
Mạnh Tuân liệt truyện viết : Tề có ba Trâu Tử, trước là Trâu Kỵ, đánh đàn mà du thuyết với Uy Vương, nhơn đó mà dự vào quốc chánh phong làm Thành hầu và thọ tướng ấn, ông thuộc lớp người trước Mạnh Tử.
Kế đó là Trâu Viễn, thuộc lớp sau Mạnh Tử, trong số ba Trâu Tử ấy, duy chỉ có Trâu Kỵ là không ở trong hàng ngũ Tắc Hạ chư tử.
Có người nói : " Trâu Viễn thấy người cầm vận mạng nước kiêu sa, dâm dật, không chuộng đức, nếu lấy cái chính đính chỉnh được nơi thân mình những người ấy, thì bủa ra đến lê dân vậy. "
Ông liền xem xét kỹ lẽ âm dương trời đất, mà viết ra các thiên : Chủ vận, Chung thủy, Đại thánh, hơn 10 vạn chữ, lối viết của ông bao la, rộng rãi không giống thói thường, trước hết xét ở những vật nhỏ, rồi suy mà mở rộng ra, cho đến chỗ vô cùng...
Các bậc vương công, đại nhơn, ban đầu mới nhìn thấy thuyết của ông thì ngơ ngác rồi tìm cách dối trá, mà sau đó cũng không thi hành được, nhưng sau Trâu Tử được trọng ở nước Tề.
Ông qua nước Lương, Lương ra tận ranh nước đón, thi hành lễ chủ khách.
Ông qua nước Triệu, Bình nguyên quân đi một bên, và ngồi ở góc chiếu.
Ông qua Yên, Yên Chiêu Vương đi trước dọn đường, ngồi ở vị trí học trò mà thọ nghiệp, vua dựng nhà thạch thất để tự mình đến tôn làm thầy.
Ông đi du thuyết các nước Chư hầu được lễ tôn kính là như thế.
*
Kế là Trâu Thích, ông là một trong những Trâu Tử của nước Tề, cũng thể theo thuyết của Trâu Viễn làm giềng mối. Thuyết của Trâu Viễn thì bao la rộng rãi, còn của Thích thì văn vẽ, khó theo cho nên người nước Tề mới tán tụng :
- Rộng rãi như trời đất thì Trâu Viễn, còn thêu rồng, vẽ phượng thì Trâu Thích.
3. Thuần vu Khôn
Cũng là một trong Tắc Hạ chư tử. Truyện của ông thấy có chép trong Sử ký, phần Hoạt Kê liệt truyện và trong Chiến Quốc sách.
Thuần vu Khôn và Mạnh Tử đồng thời, ông gởi rễ ở nước Tề, mình cao không đầy 7 thước, ông rất hâm mộ Án Anh.
Ông học rộng nhớ dai, mà sự học lại không có chủ đích, ông hoạt kê, hay biện luận và khéo trong việc can gián...Ông thường đùa cợt để can gián vua Tề.
Mạnh Tuân truyện có viết : Thuần vu Khôn, nếu ở lâu với người ấy, có lúc học được những lời hay, cho nên người nước Tề mới tán dụng : Xe cộ đến ông đông đảo...
Sách Hán chí không có trích lục sách của Thuần vu Khôn, chắc có lẽ ông không có viết sách chăng ?
4. Điền Biền
Sách Hán chí phần Đạo gia có Điền Biền, ông tên Biền, người nước Tề, đến Tắc Hạ, hiệu là Thiên khẩu Biền. Sách Lã thị Xuân Thu, sách Hoài Nam lại viết là Trần Biền.
Sách Trang Tử viết chung Điền Biền, Bành Mông và Thận Đáo đồng một hạng.
Trong Tuân Tử, thì Điền Biền và Thận Đáo được nhắc chung. Sách Trang Tử viết : Điền Biền họcvới Bành Mông, nhưng theo sách Doãn văn Tử thì dường như Bành Mông học với Điền Biền.
Điền Biền là dòng dõi Tôn thất nước Tề, cho nên tuy không làm quan mà ăn lộc ngàn chung, nuôi khách 100 người. Sau đó, Đường Tử gièm pha Điền Biền với vua Tề Uy Vương, Uy Vương muốn giết ông, ông liền chạy ra đất Tiết, Mạnh thường quân rất hậu đãi ông.
5. Thận Đáo
Sách Trang Tử viết : ông tên Quảng, Mạnh Tuân truyện viết : Người nước Triệu, học thuật của Hoàng Lão.
Sách Hán chí, phần Pháp gia, có Thận Đáo, nói ông tên Đáo. Ông trước thời Thân bất Hại, Tuân Tử, và Thân bất Hại và Hàn Phi đều ngợi khen ông.
Sách Hàn Phi Tử nói học thuyết của Thận Tử là gốc ở Hoàng Lão, rồi đi về Hình, Danh. Sách Hàn Phi thường dẫn lời nói của ông, và cho rằng thế của ông đủ để nhờ đó mà trở thành người giỏi, nhưng chí của ông thì không đủ để phục dân chúng.
Pháp gia thời kỳ đầu được chia làm 3 phái : Thương Quân chủ trương " pháp luật ", Thân Tử thì " thuật ", còn Thận Tử thì " thế ".
Sách Mạnh Tử có viết : Nước Lỗ muốn sai Thận Tử làm tướng quân...Phía dưới lại chép : Chuyện ấy thì Hoạt Ly không biết...Ông Thận Tử nầy là Hoạt Ly, người nước Lỗ, đồng thời với Mạnh Tử nhưng không phải là Thận Đáo.
6. Tiếp Tử
Cũng là một trong số Tắc Hạ chư tử, người nước Tề...
Sách Chánh nghĩa viết : Sách Nghệ văn chí có viết : Tiếp Tử có hai thiên sách...Ông thuộc về phái Đạo gia, nhưng trong sách Hán chí, phần Đạo gia, không thấy có tên Tiếp Tử mà chỉ có Tiệp Tử với lời chú : Người nước Tề, đi du thuyết dưới thời Võ Đế...
7. Hoàn Uyên
Cũng là một trong số Tắc Hạ chư tử, sách Hán chí, phần Đạo gia, có Quyên Tử với lời chú : tên Uyên, người nước Sở, đệ tử của Lão Tử.
Quyên, Uyên tức là Hoàn Uyên nhưng không phải đệ tử của Lão Tử, sự tích ông như thế nào không ai biết rõ.
*
Trong số chư tử ở Tắc Hạ, Mạnh Tử và Tuân Tử là nổi tiếng nhứt, kế đó là 7 người vừa kể trên...
Phần sau của thiên Mạnh Tuân có viết : Ở Triệu có Công tôn Long với biện thuyết " Kiên, bạch, đồng dị " và cũng có thuyết của Kịch Tử. Ở Ngụy thì có Lý Ly ra sức dạy dỗ ở địa phương, nước Sở có Thi Tử, Trường Lư, và Vu Tử đất A...
Sáu người nầy được chép ở phần như phụ lục, nhưng chưa chắc là thuộc nhóm Tắc Hạ.
Công tôn Long, Thi Tử đã có chép ở phần trước, bây giờ còn 4 người xin chép ra sau :
1. Kịch Tử
Trong Hán chí, phần Pháp gia, không có tên Kịch Tử mà có Xứ Tử với lời chú : Sử ký có chép : Nước Triệu có Xứ Tử, tức là Kịch Tử, vì chữ Xứ và chữ Kịch giống nhau.
Dưới thời Chiến Quốc có Kịch Tôn, Hán có Kịch Mạnh, như thế thì thời xưa đã có họ Kịch, tên và sự tích của ông không ai biết rõ.
2. Lý Ly
Sách Hán chí, phần Pháp gia, có Lý Tử với lời chú : tên Ly làm Tướng quốc cho Ngụy văn Hầu, làm cho nước giàu binh mạnh.
Sách Thực hóa chí cũng có viết : " Lý Ly giúp Ngụy văn Hầu hết sức mở rộng nền giáo dục địa phương...
Tấn thơ, thiên Hình pháp có viết : " Luật và Văn bắt đầu từ Lý Ly. Ly soạn có thứ lớp quốc pháp của các nước, viết quyển Pháp kinh gồm 6 thiên. Thương Quân rước ông để giúp nước Tần "...Như thế thì dường như Thương Quân là đệ tử của ông.
Mặc dù chuyện đó không có gì làm bằng chứng, nhưng Lý Ly là Pháp gia trong thời kỳ đầu, đó là chuyện chắc chắn có thể tin được.
3. Trường Lư Tử
Sách Hán chí ghép vào phái Đạo gia với lời chú : Người nước Sở...Chữ Trường Lư, dường như không phải là họ, nhưng không có tài liệu gì để tìm hiểu thêm cho rõ ràng hơn.
4. Vu Tử
Sách Sách Ẩn viết : Đây là chữ Hu mà phải đọc là Vu.
Sách Chánh nghĩa có viết : sách Nghệ Văn chí chép : Vu Tử có sách gồm 11 thiên, ông tên Anh, người nước Tề, đứng phía sau số " Thất thập tử ".
Nhan sư Cổ viết : Chữ " Vu " âm là " Di " trong Hán chí, Vu Tử được xếp vào phái Nho gia, nhưng sự tích không có đâu ghi rõ...
*
Tài liệu Điền Kỉnh Trọng Thế gia, bắt đầu từ Trâu Viễn trở đi, đều là Thượng Đại phu gồm 76 người. Ở đây chỉ tìm được có 7 người, rồi từ Công tôn Long trở đi, lại thêm được 6 nữa, như thế còn thêm một số lớn nggười, không một ai biết tên họ là gì cả.
Trong sách Hán chí, phần Danh gia có Doãn văn Tử với lời chú : " Lưu Hướng có viết : Ông cùng vớiTống Hình có đến Tắc Hạ ". Như thế thì trong Tắc Hạ chư tử còn có hai người Doãn Văn và Tống Hình, nhưng trong Điền Kỉnh Trọng thế gia và Mạnh Tuân truyện không thấy đề cập đến không hiểu tại sao.
Xin bổ túc thêm :
1. Doãn Văn
Sách Hán chí viết : Đến du thuyết Tề Tuyên Vương, trước Công tôn Long. Trong sách Trang Tử, Doãn Văn được đề cập chung với Tống Hình.
Sách Lã thị Xuân Thu chép : Doãn Văn bàn về đạo sĩ với Tề Mẫn Vương, hai người cũng có bàn luận về việc " Bị làm nhục mà không đánh trả "...Ông và Tống Hình đồng tôn thờ Mặc Tử.
Sách Thuyết Uyển chép chuyện Doãn Văn đáp lời Tề Tuyên Vương về việc " Chuyện của các vì nhơn quân ". Ông có lời đáp : " Vô vi mà có thế bao dung kẻ dưới... ". Như thế thì ông gần với Đạo gia.
Sách Hán chí liệt sách ông vào phái Danh gia, không hiểu tại sao...Theo tài liệu kể trên thì ông đồng thời với Tề Tuyên Vương và Mẫn Vương, y như lời Nhan sư Cổ đã nói : " Ông thường đến Tắc Hạ ".
Sách Khổng Tòng Tử có chép : Tử Tư ở nước Tề, Doãn Văn có con không giống mình, nghi vợ bất trinh nên nói với Tử Tư v.v...
Lưu Hâm cũng có viết : " Doãn Văn, Tống Hình, Điền Biền, Bành Mông, đồng học với Công tôn Long.
Công tôn Long là khách Bình Nguyên quân ở vào thời Triệu Hiếu Thành Vương như thế đâu có thể làm thầy nhóm Doãn Văn được.
2. Tống Hình
Trang Tử, Tuân Tử và Mạnh Tử đều có nhắc đến Tống Hình, nhưng chữ Hình mỗi người lại viết khác nhau, còn sách Trang Tử, ở một thiên khác, và Hàn Phi lại viết là Tống Vinh Tử.
Mạnh Tử và Tuân Tử đều viết là người nước Tống. Mạnh Tử có chép chuyện : " Tống Hình nghe Tần Sở sắp đánh nhau liền đến du thuyết để can ngăn, như thế thì Tống Hình đồng thời với Mạnh Tử, lúc đó nhằm năm Châu Noãn Vương thứ 3 [312 trước T.L.].
Mạnh Tử gọi ông là Tiên sinh, như thế thì tuổi ông lớn hơn Mạnh Tử.

Trang Tử nhận xét Tống Hình là chủ trương : " Chống việc đánh nhau, ngưng binh đao, bị hiếp đáp mà không thấy nhục ". Tuân Tử và Hàn Phi nhận xét về ông cũng như thế, vì vậy Tuân Tử sắp ông chung với Mặc Tử.

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Bách Gia Chư Tử    Thu Oct 24, 2013 10:48 am

10. Tô Tần, Trương Nghi và Khuất Nguyên.
 
Dưới thời Xuân Thu, nước Sở là lớn mạnh hơn hết, phía Bắc thì tranh Bá với Tề, Tấn, tạo thành một cuộc thế " kháng tung ", còn dưới thời Chiến Quốc, nước Tần là lớn mạnh, nên hướng về phía Đông định xâm lăng Lục Quốc tạo thành thế " kháng hoành ".
Nước Sở tuy đã thôn tính các nước vùng Giang Hán, nhưng còn muốn mở rộng thế lực về phía Bắc, là muốn làm Minh chủ lãnh đạo chư hầu, cho nên cứ tranh với hai nước lớn là Tề và Tấn.
Tề đã gồm thâu Quang trung, rồi quay về phía Đông là muốn thôn tính Lục Quốc, thế nên lúc bấy giờ Lục Quốc chỉ có hai con đường phải chọn, hoặc là chống lại, hay là chịu khuất phục.
Lúc ấy sách lược các chánh khách, cũng theo đó mà phân ra làm hai lớp. Một lớp chủ trương Lục Quốc hợp với Nam, Bắc để chống lại Tần, đó là " Hợp Tung ", còn một lớp khác thì chủ trương Lục Quốc hướng về phía Tây hợp với Tần gọi đó là " Liên Hoành ".
Tung và Hoành đó là hai loại sách lược về ngoại giao đã kể trên, và Tung Hoành gia, tức là những chánh khách đã vận dụng hai sách lược ngoại giao đó. Thế nên Tung Hoành, không phải là học thuyết, và những Tung Hoành gia cũng không phải là những học giả.
Sách Hán chí cho rằng Tung Hoành gia là một môn phái trong Thập Gia Chư Tử, như thế thì không đúng.
Trong số Tung Hoành gia có Tô Tần và Trương Nghi là nổi tiếng hơn hết, trong Sử ký đều có truyện, nay theo tài liệu của Kiến Hầu, cũng theo Sử ký viết ra cho rõ ràng hơn...
Tô Tần, Trương Nghi Lược Khảo
Tô Tần, tự Quí Tử, người đất Lạc Dương, nước Đông Châu.
Ông cùng Trương Nghi là người nước Sở, đồng học với Quỉ Cốc tiên sinh, về thuật Tung Hoành.
[Sách Sách Ẩn viết :Tô Tần có anh em tất cả 5 người, ông là người nhỏ nhứt, cho nên mới gọi là Quí Tử.
Sách Sách Ẩn cũng có viết : Quỉ Cốc là địa danh. Ở Phò Phong, Trì Dương, Dĩnh Châu, Dương Thành, đều có gò Quỉ Cốc, có người ở, rồi nhơn đó, gọi người ấy là Quỉ Cốc Tử.
Sách Quỉ Cốc Tử viết : Ở đất Châu, có nhà hào sĩ ở Quỉ Cốc, hiệu là Quỉ Cốc tiên sinh, Tô Tần, Trương Nghi đến ra mắt chọn ngày mà học.
Sách Phong tục thông viết : Quỉ Cốc tiên sinh là một Tung Hoành gia dưới thời Lục Quốc. Như thế, dường như Quỉ Cốc Tử là có người thật, người ấy lấy chỗ ở làm danh hiệu mình.
Trong sách " Bút nghiệp " Hồ Ứng Lân viết : " Quỉ Cốc Tử có viết quyển " Để Ứng ".
Trương Nghi, trọn đời bôn ba đi du thuyết đó đây, bận rộn về việc chạy theo vinh hoa, phú quí, như vậy đâu có thì giờ rảnh để viết sách. Sách Tô Tần, Trương Nghi có lẽ do người đời sau gom góp, thể theo ý hai ông mà viết, rồi có kẻ hiếu sự lại ghi thêm vô của Quỉ Cốc Tử, thế nên Quỉ Cốc Tử e rằng không có người thật, mà là một tên chung để gọi những nhà học giả ẩn cư...]
Tô Tần học thành công, đến du thuyết với Châu Hiển Vương, kẻ tả hữu xem thường ông, cho nên ông không được dùng...Lý Đoái nước Triệu giúp đỡ, ông liền đi về phía Tây vào nước Tần, dùng sách lược Liên Hoành thuyết với Tần Huệ Văn Vương.
Lúc đó nước Tần vừa mới giết Thương Ưởng nên rất ghét bọn du sĩ các nước liền không dùg. Ông rất khốn quẩn mà trở về.
Đến nhà, vợ vẫn ngồi y trên khung cửi dệt, không thèm ngó ngàng đến ; còn chị thì không nấu cơm, cha mẹ anh em đều mỉa mai...
Ông liền phát phẫn, đọc sách, nếu buồn ngủ thì lấy mũi dùi tự đâm vào vế cho tỉnh...Được một năm, dùi mài học tập thành công, liền qua du thuyết Yên Văn Hầu nên cầu thân với Triệu.
Yên Văn Hầu liền giúp cho vàng lụa, xe ngựa, qua du thuyết với Triệu Tiêu Hầu, xin hợp Hàn, Ngụy, Tề, Sở, Yên để chống Tần. Nước Triệu lại giúp đỡ thêm vàng bạc xe ngựa, khiến ông đi du thuyết với chư hầu.
[Theo Lục Quốc niên biểu, năm thứ 35 đời Châu Hiển Vương, nhằm năm thứ 28 Yên Văn Hầu có chép chuyện Tô Tần sang du thuyết nước Yên. Trong Yên thế gia cũng chép y như vậy [nhằm năm 336 trước T.L.]
Trương Nghi học thành công, làm khách ở Tướng Quốc nước Sở.
Tướng Quốc nước Sở làm mất viên bích ngọc, nghi Trương Nghi lấy trộm, hành phạt ông nặng nề, Trương Nghi trở về, hả miệng hỏi vợ :
- Lưỡi của ta còn không ?
Vợ đáp :
- Lưỡi vẫn còn đó.
Trương Nghi cười đáp :
- Như vậy là được rồi...
Lúc đó nước Tần đánh Ngụy, lấy đất Điêu âm, lại còn muốn tiến binh về phía Đông.
Tô Tần sợ minh ước " Hợp Tung "chưa thành mà binh Tần đã đến Triệu, liền sai người đến nói riêng với Trương Nghi :
- Sao ông không đến gặp Tô Quân ?
Quả nhiên Trương Nghi đến Triệu, xin gặp Tô Tần, Tô Tần dặn người giữ cửa không cho vào, nhưng cũng không cho đi, vài ngày sau mới cho gặp mặt, nhưng lại tiếp đãi không đủ lễ...
Trương Nghi giận dữ, nghĩ rằng chỉ có nước Tần là làm khốn đốn được nước Triệu mà thôi...Ông liền đi qua phía Tây vào nước Tần.
Tô Tần liền sai Xá Nhơn đem vàng lụa xe ngựa giúp cho Trương Nghi và lén đi theo, cùng ăn ngủ chung lần lần thân mật nhau, và khi giúp vàng lụa xe ngựa cho ông cũng không nói là của ai.
Trương Nghi đến nước Tần, dùng sách lược Liên Hoành thuyết với Huệ Văn Vương, vua liền cho làm Khách khanh, người Xá Nhơn của Tô Tần liền từ giã ra về...
Trương Nghi lưu lại, lúc đó Xá Nhơn mới nói rõ duyên do...
Trương Nghi thán phục và nói rằng :
- Ông vì tôi về, cảm tạ Tô Quân. Lúc nào Tô Quân còn ở đó thì không bao giờ tôi dám nói đến chuyện đánh Triệu.
Tô Tần liền định ước việc Hợp Tung với Hàn Tuyên Vương, Ngụy Tương Vương, Tề Tuyên Vương, Sở Uy Vương, Tô Tần làm Tung Ước trưởng, làm tướng luôn 6 nước...
[Theo Lục Quốc niên biểu, thì năm 37 đời Châu Hiển Vương, là năm đầu Hàn Tuyên Vương, năm thứ 3 Ngụy Tương Vương, năm thứ 11 Tề Tuyên Vương, năm thứ 8 Sở Uy Vương (năm 334 trước T.L.)
Năm ấy, Tô Tần đi du thuyết các nước, từ năm Châu Hiển Vương thứ 38 (335 trước T.L.) đến năm thứ 43 (330 trước T.L.) cộng chung 6 năm, là thời kỳ Hợp Tung, ở Lục Quốc, không có cuộc chiến nào đáng kể].
Tô Tần về báo cáo với Triệu Vương, đi qua Lạc Dương, Châu Hiển Vương sai người ra biên giới ủy lạo, vợ và chị đứng chờ đón bên đường, chỉ khẻ liếc mắt mà không dám ngó ngay mặt.
Tô Tần cười nói :
- Sao trước kia chị làm cao mà bây giờ cung kính vậy ?
Chị ông khúm núm tạ lỗi :
- Vì Quí Tử nhiều vàng và ngôi cao...
Tô Tần thở dài :
- Con người, hễ bần cùng thì cha mẹ chẳng xem là con, giàu sang thì thân thích sợ sệt, con người sanh ra trên đời nầy chuyện giàu sang phú quí, có thể xem thường được không ?
Về đến Triệu, Triệu Tiên Hầu phong làm Võ An quân, nhờ thế mà binh Tần không dám ra Hàm Cốc quan trong suốt thời gian dài 15 năm.
[Sự thật không đúng như vậy, vì theo Lục Quốc niên biểu thì năm thứ 39 Châu Hiển Vương (334 trước T.L.) Tần đã lấy đất Hà Tây của Ngụy, rồi năm thứ 40 (333 trước T.L.) lại lấy đất Phần Ân và Tiêu của Ngụy, năm thứ 41 (332 trước T.L.) lại lấy đất Thượng quận cũng của Ngụy rồi đến năm thứ 47 (326 trước T.L.) lại lấy thêm mấy phần đất : Khúc Yển, Bình Châu, cũng của Ngụy...
Đến năm thứ hai Châu Thận Tịnh Vương (319 trước T.L.) lấy đấy Yển của nước Hàn, đến năm thứ 5, lấy đất Trung Độ, Tây Dương của Triệu (316 trước T.L.) là cũng lấy đất An Ấp của Ngụy.
Trong suốt thời gian dài 15 năm, thật ra Tần lấn đất của chư hầu rất nhiều.]
Sau đó, Tần lừa Tề và Ngụy để hợp nhau đánh Triệu, Triệu Vươg trách Tô Tần...
Tô Tần xin qua Yên để tìm cách báo thù Tề, từ Tô Tần rời khỏi nước Triệu mà minh ước Hợp Tung bị tan rã...
Trước kia, Tần Huệ Văn Vương đem con gái gã cho thái tử nước Yên, năm ấy Văn Hầu mất, thái tử lên ngôi, hiệu là Diệc Vương.
Tề Tuyên Vương nhơn nước Yên có tang, liền ra quân đánh, lấy 10 thành, Diệc Vương trách Tô Tần, Tô Tần xin qua Tề, du thuyết với Tề Vương để đòi lại 10 thành. Mẹ của Yên Diệc Vương tư thông với Tô Tần, Diệc Vương biết chuyện ấy, có người lại chê Tô Tần với Diệc Vương, Tô Tần sợ bị giết, liền thuyết với Diệc Vương, rồi giả như mình bị tội mà chạy trốn sang Tề.
Tề Tuyên Vương cho làm Khách khanh, đến khi Tuyên Vương mất, Mân Vương lên ngôi, Đại phu nước Tề và Tô Tần tranh nhau để được vua sủng ái, Tô Tần bị đâm, kẻ giết người chạy mất.
Tô Tần sắp chết, nói với Mân Vương :
- Thần chết, muốn tìm kẻ chết theo thì cứ phao tin " Tô Tần vì nước Yên mà qua làm loạn ở Tề... " như thế thì sẽ bắt được tên thích khách...
Vua Tề y lời, quả nhiên bắt được tên thích khách, liền giết ngay.
Năm thứ 10 Tần Huệ Văn Vương, Trương Nghi và công tử Hoa đánh Ngụy, lấy đấy Bồ Dương, rồi cùng hoà với Ngụy.
Huệ Văn Vương đưa ông về Thượng quận, Sa Khâu để thưởng công, từ đó Trương Nghi làm tướng quốc nước Tần.
Năm thứ 13 Huệ Văn Vương, vua Tần mới bắt đầu xưng vương...
Huệ Văn Vương hậu ngươn năm thứ 3, Trương Nghi ra đi, đến làm Tướng quốc nước Ngụy, ở Ngụy 4 năm, Tương Vương mất, Ai Vương lên ngôi, nghe theo lời Trương Nghi, bội ước việc Hợp Tung, hòa với nước Tần, Trương Nghi lại trở về làm tướng nước Tần, lúc đó Tề với Sở Hợp Tung, thân mật nhau, Trương Nghi qua Sở, kéo Sở Hoài Vương, khuyên ông dứt Tề, nếu được như thế thì sẽ hiến cho đất Thương Ô 600 dặm.
Quả nhiên Hoài Vương dứt giao thiệp với Tề, và sai sứ theo Trương Nghi vào đất Tần để nhận đất nhưng Trương Nghi chỉ chịu cắt cho có 6 dặm.
Hoài Vương giận, liền sai Khuất Cái đánh Tần, bị đại bại, Khuất Cái chết.
Tần liền lấy của Sở các vùng Đơn Dương, Hán Trung, Sở vẫn tăng binh đánh Tần, rồi lại bị bại ở Lam Điền.
Tần nghị hòa, nói muốn lấy vùng đất ngoài Võ quan để đổi đất Kiềm Tung của Sở.
Hoài Vương nói :
- Nếu được Trương Nghi thì cam tâm vậy và vui lòng hiến đất Kiềm Tung.
Trương Nghi qua Sở, lại nhờ nịnh thần nước Sở là Cận Thượng và sủng cơ Trịnh Tụ nói giùm, Hoài Vương thả Trương Nghi và hứa việc Liên Hoành.
Trương Nghi về báo lại với Huệ Văn Vương, được phong 5 ấp, hiệu là Võ tin Quân, nhơn đó mà đi luôn qua các nước Tề, Triệu, Yên, các nước đều hứa Liên Hoành với Tần.
Trương Nghi trở về Tần chưa đến Hàm Dương mà Huệ Văn Vương mất, Võ Vương lên ngôi. Lúc còn là thái tử, Võ Vương đã không thích Trương Nghi, bọn tả thần lại gièm siểm thêm, Trương Nghi liền xin đi qua làm Tướng quốc cho Ngụy.
Làm Tướng quốc cho Ngụy được một năm thì ông mất.
[Trương Nghi qua làm Tướng quốc cho Ngụy vào năm đầu Tần Võ Vương năm sau ông mất, tức vào năm Tần Võ Vương thứ 2 và Châu Noãn Vương thứ 6 (309 trước T.L.)].
*
Sách Hán chí có viết : Phái Tung Hoành xuất thân từ lớp quan đi đó đi đây [du thuyết]. Nếu người tà vọng làm việc ấy, thì trí trá mà bỏ mất chữ tín.
Theo ý của Hán chí thì chữ Tung Hoành chỉ việc ngoại giao, như Tô Tần và Trương Nghi là những nhà trí trá và không giữ chữ tín.
Sách Luận Ngữ, thiên Tử Lộ có ghi lời Khổng Tử : " Đọc kinh Thi 300 bài...đi sứ ở 4 phương, mà không thể ứng đối, tuy đọc nhiều mà có làm được gì đâu ? "
Dưới thời Xuân Thu, có việc gì thì hợp nhau lại để hỏi ý, và thường thường làm ra bài thi để bày tỏ ý của mình, cho nên sách Hán chí mới chép : " Lên cao, làm bài phú, là có thể làm chức Đại phu ".
Thời đó, hễ ai lên đàn mà có thể làm bài thi bày tỏ chí của mình cho đúng là có thể làm Đại phu, phụng mạng đi sứ để ứng dối.
Thứ nhứt là vì : Thi đa số thuộc loại Tỉ, Hứng, khéo phô trương, mà trong lúc ngoại giao, lời nói phải khéo léo, khi thì ngụ ý, lúc ví dụ, châm biếm, hay mượn lời kẻ khác để nói ý mình cho khỏi bị đụng chạm...cho nên lời nói phải linh diệu vô cùng.
Muốn trau dồi được như thế thì phải học kinh Thi...Cho đến lúc Tần Hán thống nhứt, các chư hầu thành quận huyện, các nhà du thuyết không còn đất dụng võ lần lần biến thành những văn nhân giỏi từ phú như Lục Giả, Trâu Dương, v.v...đều là những Tung Hoành gia kiêm Từ phú gia, đó là do kinh Thi biến ra từ phú, mà Tung Hoành gia là những người mở đường đầu tiên.
Phái Tung Hoành tuy không thể gọi hẳn là một học phái, nhưng rất có công trong việc làm cho nền văn học của Trung Hoa biến chuyển và tiến tới, trong số Tung Hoành gia kể trên, có Khuất Nguyên là người đáng ghi nhớ hơn hết.
Từ xưa đến nay, đề cập đến Bách Gia Chư Tử, ít ai nhắc đến Khuất Nguyên, nhưng chính ông là người khai tổ cho nền Từ phú của Trung Hoa.
Ông lại có những tư tưởng Đạo gia siêu xuất trần thế, và kiêm luôn cả tư tưởng trung quân, ái quốc của Nho gia.
Nền văn học của Trung Hoa bắt đầu từ ngành trước thuật chuyển sang văn chương từ phú cũng nhờ Khuất Nguyên là người đầu tiên đã mở một con đường mới.
Sau đây xin trích lục truyện Khuất Nguyên căn cứ theo sách Sử ký.
Khuất Nguyên Truyện Khảo
Khuất Nguyên, tên Bình, cùng dòng họ với nhà Sở.
[Cao và Bằng gọi là Nguyên, vì thế tên Bình (Bằng) mà tự là Nguyên.
Khuất Nguyên là người trong công tộc nước Sở. Con Sở Võ Vương là Hà, ăn lộc ở đất Khuất, vì thế lấy tên đất làm họ. Khuất Nguyên là dòng dõi của Hà...]
Ông làm chức Tả đồ cho Hoài Vương, người học rộng, nhớ dai, biết rõ việc trị loạn, khéo văn chương từ phú, vào triều thì bàn với vua về chuyện trị nước để ra hiệu lịnh, còn ra ngoài thì tiếp đãi tân khách, ứng đối chư hầu, vua rất tín nhiệm ông.
[Tả đồ là một chức quan của nước Sở, tham gia việc cơ mật, phụ trách ngoại giao, là một chức quan trọng yếu.]
Thượng quan Đại phu cùng đồng hàng với ông, nhưng lại tranh giành cho được vua tin yêu nên có lòng hại tài ông.
Vua Hoài Vương khiến Khuất Nguyên làm ra từ lịnh. Khuất Bình thảo chưa xong, Thượng quan Đại phu nhìn thấy muốn đoạt, Khuất Bình không cho, vì đó mà ông bị gièm :
- Vua sai Khuất Bình làm lịnh, chuyện đó ai cũng biết, nhưng mỗi lần lịnh ra, Bình lại khoe công mình, nói rằng, ngoài ta không một ai có thể làm được.
Vua giận mà thờ ơ với Khuất Bình.
[Sách Chánh nghĩa chú thích Thượng quan Đại phu là Cận Thượng].
Khuất Nguyên buồn về chuyện vua nghe lời mà không xét nét, bị lời gièm siểm làm cho mất sáng suốt, chuyện tà vạy làm hại việc công, không dung người ngay thẳng, vì thế u oán, ưu tư mà làm ra bài Ly tao.
Ly tao tức là " gặp chuyện buồn ".

Khuất Bình đã bị chê, sau đó, Tần muốn đánh Tề, Tề và Sở Hợp Tung, thân thiện nhau, Huệ Vương lo ngại, liền sai Trương Nghi giả vờ bỏ nước Tần, đem lễ vật trọng hậu đến để xin thờ nước Sở và nói :



Trích trong Trung Quốc Văn Học Sử của Trịnh Chấn Đạc, quyển 1 [trang 52].
- Tần rất ghét Tề, Tề với Sở Hợp Tung, thân thiện nhau, nếu Sở có thể dứt với Tần thì Tần nguyện hiến đất Thương Ô 600 dặm.
Sở Hoài Vương tham và tin lời Trương Nghi, liền dứt nước Tề, sai sứ đến nước Tần lãnh đất, Trương Nghi liền trở mặt nói :
- Tôi chỉ hứa với vua có 6 dặm, chớ đâu phải 600 dặm...
Sứ Sở tức giận ra về, tâu lại với Hoài Vương, Hoài Vương giận dữ đại hưng binh phạt Tần, Tần cũng phát binh ra đánh, đại phá binh Sở ở Đan Triết, chém đầu quân Sở 6 vạn, bắt tướng nước Sở là Khuất Cái và lấy đất Hán Trung của Sở.
Hoài Vương liền dốc binh trong nước để đánh sâu vào nước Tần, đôi bên đánh ở Lam Điền.
Nước Ngụy nghe tin, liền đánh úp nước Sở đến đất Đặng. Binh Sở sợ, từ nước Tần kéo trở về, trong lúc đó thì nước Tề giận không thèm cứu Sở, làm cho nước Sở rất khốn đốn.
Năm sau, Tần xin trả lại đất Hán Trung để nghị hoà.
Vua Sở nói :
- Không muốn được đất, chỉ muốn được Trương Nghi mới cam tâm
Trương Nghi nghe tin liền nói :
- Nếu Nghi nầy mà đổi được đất Hán Trung, thì thần xin qua Sở.
Tới Sở, ông liền đem lễ vật trọng hậu đút lót cho cận thần Cận Thượng, và bày kế cho sủng cơ của Hoài Vương là Trịnh Tụ. Hoài Vương liền nghe lời Trịnh Tụ, lại thả Trương Nghi.
Lúc đó Khuất Bình đã bị đối xử lạt lẽo, không còn tại vị mà đi sứ ở Tề.
Ông quay trở về, khuyên Hoài Vương :
-Tại sao vua không giết Trương Nghi ?
Hoài Vương ăn năn, cho người đuổi theo nhưng không kịp.
[Bài tựa của Ly tao có viết : " Khuất Nguyên đồng tánh với Sở Vương làm chức Tam Lư Đại phu... " Trong bổn truyện không thấy ghi điều nầy, chắc có lẽ khi ông bị nhà vua đối xử lợt lạt, nên bị bãi chức Tả đồ, giáng xuống còn Tam Lư Đại phu, và phụng mạng đi sứ sang Tề.]
Sau đó, chư hầu hợp sức đánh Sở, giết tướng Sở là Đường Muội.
Trước kia Tần Chiêu Vương làm suôi với Sở, bây giờ lại muốn hội với Hoài Vương.
Hoài Vương muốn đi, Khuất Nguyên khuyên :
- Nước Tần là giống hổ lang, không thể tin được, không đi là hơn.
Con nhỏ của Hoài Vương là Tử Lan khuyên vua đi :
- Tại sao lại làm mất vui với Tần ?
Hoài Vương liền đi. Vào Võ quan, Tần phục binh, chặn phía sau, rồi giữ Hoài Vương để đòi cắt đất.
Hoài Vương giận, không nghe theo, chạy trốn qua Triệu, Triệu không cho vào, lại trở qua Tần, rồi chết ở Tần và được đem về nước chôn.
Trưởng Tử là Khoảnh Tương Vương lên ngôi, dùng em là Tử Lan làm lịnh doãn.
Người nước Sở đổ lỗi cho Tử Lan vì đã khuyên Hoài Vương vào nước Tần rồi không về được.
Khuất Bình đã ghét chuyện ấy, nhưng mặc dù bị bỏ rơi, ông vẫn nhớ Tổ quốc, lòng vẫn không quên Hoài Vương, luôn luôn muốn trở về, mong mỏi được may mắn là vua hối ngộ, và thay đổi tánh tình...Ông cứ thiết tha về việc gìn giữ ngôi vua, làm cho quốc gia hưng thạnh...nên trong thiên Ly tao, ông đã nhắc đi nhắc lại điều đó đến 3 lần.
Rồi sau cùng, không còn làm gì được, ông không thể thay đổi gì...đành nhìn thấy Hoài Vương trọn đời không hối ngộ.
Lịnh doãn Tử Lan nghe chuyện ấy giận dữ, liền khiến Thượng quan Đại phu nói xấu Khuất Bình với Khoảnh Tương Vương.
Tương Vương giận liền đày ông đi...
Khuất Nguyên đến bờ sông, bỏ tóc xõa, vừa đi vừa hát bên bờ hình dung héo khô...liền làm bài phú Hoài sa...rồi sau cùng ôm đá, nhảy xuống sông Mịch La mà chết.
[Sông Mịch Thủy và La Thủy hợp lưu gọi là Mịch La giang, hạ lưu chảy vào sông Tương. Chỗ Khuất Nguyên nhảy xuống sông gọi là Khuất Đàm.
Khuất Nguyên sanh vào năm Sở Tuyên Vương thứ 27 (343 trước T.L.) tháng giêng, ngày Canh dần, năm ông tự trầm, có người cho là vào năm đầu Khoảnh Vương, cũng có người cho là vào năm thứ 3, sau khi Hoài Vương chết ở Tần.
Sách Tục Tề Hài chép : Khuất Nguyên tự trầm vào ngày mùng 5 tháng 5, ngày nay thành tục ngày " Đoan ngọ ", v.v...]
Sau khi Khuất Nguyên chết, nước Sở có bọn Tống Ngọc, Đường Lặc, Cảnh Sai, đều thích về từ phú và nổi tiếng, nhưng tất cả đều noi theo từ lịnh của Khuất Nguyên và không một ai dám thẳng thắn gián can...Sau đó, nước Sở ngày càng yếu, vài mươi năm sau liền bị Tần diệt.
trở đi, có nhiều người làm từ phú, thấy có chép trong Sở từ...
Đại để, người Sở gọi là Từ, người Hán gọi là Phú, Sở Từ như Cửu ca nguyên là những bài hát trong dân gian, nhưng đại bộ phận không thể ca.
Đến đời nhà Hán, những bài nào hát được thì phổ nhạc, gọi là ca thi, nếu đem diễn thì gọi là nhạc phủ, nếu không hát mà đọc thì gọi đó là " phú "]. 

Đến đời nhà Hán, những bài nào hát được thì phổ nhạc, gọi là ca thi, nếu đem diễn thì gọi là nhạc phủ, nếu không hát mà đọc thì gọi đó là " phú "]. 

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Bách Gia Chư Tử    Thu Oct 24, 2013 11:20 am


Chương 18
Đức Khổng, vị thánh nhân chân thực
 
A. VÌ KHIÊM CUNG, ĐỨC KHỔNG KHÔNG BAO GIỜ TRỰC TIẾP XƯNG MÌNH LÀ THÁNH NHÂN
Người Á Đông vốn dĩ trọng sự khiêm tốn và tế nhị, nên không bao giờ đề cao mình.
Ngay đến vua chúa cũng xưng mình là Quả Nhân, là Cô Gia, chứ đừng nói chi đến thường dân.
Những chữ «bỉ nhân», «bần đạo», «ti chức», v.v… là những tiếng nói rất thông thường và toàn là ngụ ý tự ti, tự hạ.
Đó là chủ trương:
«Hữu xạ tự nhiên hương,
Hà tất đương phong lập.»
Tạm dịch:
«Có xạ thời tất có hương,
Cần chi đầu gió, phô trương với người.»
Đức Khổng vì thế không bao giờ lớn tiếng xưng mình là «thánh nhân».
Ngài nói: «Như làm bậc thánh với bậc nhân thời ta chẳng dám! Nhưng làm mà không chán, dạy người mà không mỏi, ta chỉ có thể gọi được như vậy mà thôi.» (LN, VII, 33).
Đó cũng là đường lối sau này Mạnh Tử đã theo: Khi Công Tôn Sửu muốn xưng tụng Mạnh Tử là một vị thánh nhân thì Mạnh Tử liền gạt đi và lảng sang chuyện khác. (Mạnh Tử, Công Tôn Sửu thượng 2).
B. NHƯNG NGAY TỪ KHI NGÀI CÒN SINH TIỀN, CÁC MÔN ĐỆ NGÀI ĐÃ XƯNG TỤNG NGÀI LÀ THÁNH NHÂN
Có một vị quan thái tể hỏi Tử Cống: «Đức Phu Tử có phải là thánh chăng? Sao Ngài có nhiều tài quá vậy?»
Ông Tử Cống đáp rằng: «Ấy vì Trời rộng rãi với Ngài đó. Chẳng những Ngài là thánh, Ngài còn có nhiều tài.» (LN, IX, 6).
Tử Cống hỏi đức Khổng: «Thầy là thánh rồi chứ gì?» Đức Khổng đáp: «Ta chẳng dám nhận là Thánh! Nhưng làm lành, học đạo mà không chán, dạy đời mà không mệt, ta chỉ được như vậy thôi.» Ông Tử Cống thưa rằng: «Làm lành, học đạo mà không chán, tức là trí; dạy đời mà không mệt, tức là nhân. Có đủ nhân và trí, Thầy quả là Thánh rồi.» (Mạnh Tử, Công Tôn Sửu thượng 2).
Hữu Nhược cho rằng thánh nhân là người siêu quần bạt tụy; mà theo ông thì từ khi có nhân loại đến thời đức Khổng, chưa có ai vượt trổi hơn đức Khổng. (Mạnh Tử, Công Tôn Sửu thượng 2).
Sách Vựng Uyển có chép:
Tề Cảnh Công hỏi Tử Cống: «Khổng Tử có phải là hiền nhân không ?» Tử Cống đáp: «Ngài là một vị thánh nhân.» Tề Cảnh Công hỏi: «Sự thánh thiện của Ngài ra sao?» Tử Cống đáp: «Tôi không biết.» Tề Cảnh Công biến sắc nói: «Mới đầu thời ông nói Khổng Tử là thánh nhân, nay lại nói không biết. Thế là thế nào ?» Tử Cống đáp: «Tứ này suốt đời đội trời mà không biết trời cao bao nhiêu; suốt đời đạp đất mà không biết đất dầy bao nhiêu. Tứ này theo Ngài Phu Tử, cũng y như kẻ khát nước đem gáo, đem bình ra sông, ra bể, để múc nước uống. Uống no bụng rồi đi, mà chẳng biết sông, biển, sâu là bao nhiêu.» (Xem Uyên Giám Loại Hàm, quyển IV, trang 4672, mục chữ Thánh).
C. NHƯNG NHIỀU HỌC GIẢ ÂU CHÂU CHỈ GỌI ĐỨC KHỔNG LÀ HIỀN NHÂN, CHỨ KHÔNG CHỊU GỌI NGÀI LÀ THÁNH NHÂN
Nơi trang 458, quyển Lễ Ký II, Séraphin Couvreur chủ trương đại khái rằng:
1- Không thể dùng chữ Saint, chữ Sanctus của Công giáo mà dịch chữ Thánh, chữ Thánh nhân của Tứ Thư, Ngũ Kinh.
2- Thánh nhân phải là những người được Chúa Thánh Thần ban ơn thánh sủng, cho nên thánh nhân Trung Hoa không thể như thánh nhân Công giáo, v.v…
Vì thế mà Séraphin Couvreur dịch chữ Thánh nhân bằng chữ Le Sage hay Le Sage de premier ordre; chữ Chí Thánh bằng chữ Le Sage par excellence, v.v… James Legge cũng theo đường lối ấy.
D. QUAN NIỆM THÁNH NHÂN CỦA ĐÔNG TÂY
Như vậy muốn biết thế nào là thánh nhân, ta sẽ khảo sát quan niệm của cả Đông lẫn Tây. Ta sẽ lần lượt trình bày quan niệm về thánh nhân của:
1- Công giáo
2- Tứ Thư, Ngũ Kinh.
3- Chu Hi.
4- Chư Nho.
1. Quan niệm về thánh nhân của Công giáo
Jacques Douillet, năm 1960 mới đây, có viết quyển: Qu’est-ce qu’un Saint (Thế nào là một vị thánh nhân) do nhà sách Arthème Fayard phát hành. Trong sách này, ông đưa ra quan niệm về thánh nhân theo Công giáo. Ta có thể tóm tắt vài điểm chính như sau:
a/ Nói đến thánh thiện, tức là lấy Thượng Đế làm tiêu chuẩn và chủ chốt. (Il n’y a pas de sainteté sans référence à Dieu. - p. 65)
b/ Thánh thiện là hoàn thiện. (Sainteté serait alors synomyme de perfection morale. - p. 14)
c/ Thánh nhân là những người chế ngự được nhân dục. (Ib. p. 12 - Xem thêm Col. 3, 5-7. - I Cor. 6, 9-11).
d/ Hiền nhân là những người trau chuốt tâm thần mình; còn thánh nhân là những người quên mình vì Chúa. (Le sage a son attention concentrée sur lui-même, il travaille à sculpter sa propre nature, tandis que le Saint s’oublie lui-même pour ne penser qu’à Dieu. - p. 65).
e/ Từ năm 1534 trở về sau, chỉ có Giáo hội mới được phong chuẩn thánh nhân. Năm 1634, Giáo Hoàng Urbain VIII ra sắc chỉ chấp nhận tất cả những vĩ mà dân chúng coi là Thánh, trước năm 1534. (Ib. pp 84, 85, 92…)
f/ Những người tuẫn tiết vì đạo, đều được coi là thánh, nhất là những người được ghi trong Tuẫn Tiết Lục (Martyrologue) của thánh Jérôme (thế kỷ thứ V), của Bède (thế kỷ IX), của giáo mục Adon (thế kỷ XI), của Usuard (thế kỷ IX), hay Tuẫn Tiết Lục của thánh Giáo Hội La Mã (thế kỷ XV) (Martyrologue de la Sainte Eglise romaine). (Ib. pp 90, 91)
2. Quan niệm về thánh nhân theo Tứ Thư, Ngũ Kinh
Trong cuộc đối thoại với Hạo Sinh Bất Hại, Mạnh Tử đã định nghĩa và định vị trí của thánh nhân như sau:
… Hạo Sinh Bất Hại người nước Tề hỏi Mạnh Tử: «Nhạc Chính Tử là người thế nào ?» Mạnh Tử đáp: «Là người thiện và tín.» Hạo Sinh Bất Hại hỏi tiếp: «Sao gọi là thiện? Sao gọi là tín?» Mạnh Tử giải: «Người mà hành vi, nhân phẩm đáng yêu, đáng kính gọi là Thiện. Người làm theo lương tâm và bản tính, không cưỡng ép, không giả trá, gọi là Tín. Người mà lòng thiện phát lộ ra thân thể và mỗi cử động đều hợp với ý lành, gọi là Mỹ. Người có mỹ đức đầy đủ và làm nên sự nghiệp, khiến cho cái mỹ đức mình chói lói trên đời, gọi là Đại. Đã là bực đại nhân, lại đứng ra hoằng hóa cho đời, khiến cho thiên hạ đều quay về nẻo thiện, gọi là Thánh. Đã là bực Thánh, cảm hóa cho đời, thế mà sở hành và trí huệ mình chẳng ai ức đạc được, biến hóa vô tận, thông với trời đất, gõi là Thần…
«Trong 6 bậc đó, Nhạc Chính Tử dự vào hai bậc thấp, còn 4 bậc kia thì ngoài sức của người vậy.» (Mạnh Tử, Tận Tâm chương cú hạ, 24).
Như vậy, theo định nghĩa của Mạnh Tử thì thánh nhân thực là hi hữu, ngàn năm một thuở.
Hữu Nhược nói:
«… Người năm bảy đấng,
Kìa kỳ lân vẫn giống thú rừng,
Phượng hoàng vẫn loại chim muông,
Thái Sơn vẫn đúc theo khuôn đống gò,
Sông với biển vẫn nhà ngòi lạch,
Thánh với phàm một phách thế nhân,
Nhưng thánh phàm, muôn phân, ngàn biệt,
Vì thánh nhân bạt thiệp, siêu quần…»
(Mạnh Tử, Công Tôn Sửu thượng, 2)
Thánh nhân bạt thiệp, siêu quần, vì các Ngài là những người thông minh, duệ trí (Trung Dung XXXII), đức hạnh tuyệt vời (Kinh Thư, Duyệt Mệnh trung, tiết 3), noi gương Trời mà hành sự (Thánh hi thiên - Cận Tư Lục Tạp Chú, quyển nhị, trang 1. - Dịch Kinh, Kiền quái, Tượng), sống cuộc đời phối kết với Thượng Đế (Trung Dung XXXI).
Dịch Kinh viết: «Thánh nhân đức độ sánh với trời đất, sáng láng như hai vầng nhật nguyệt, biến thông tựa bốn mùa, ảnh hưởng người in tựa thần minh…» (Dịch Kinh, Hệ Từ thượng).
Trung Dung đề cập tới thánh nhân nhiều lần nhất, với những lời lẽ đẹp đẽ nhất. Dưới đây, xin trích dẫn một trong nhiều đoạn.
Trung Dung viết:
«Chỉ có đấng chí thánh trong trần thế,
Mới có đầy đủ thông minh trí tuệ.
Y như thể có trời ẩn áo giáng lâm,
Mới khoan dung, hòa nhã, ôn thuần.
Y như có dung nhan Trời phất phưởng,
Phấn phát, tự cường, kiên cương, hùng dũng.
Y như là đã cầm giữ được sức thiêng;
Trang trọng, khiết tinh, trung chính, triền miên,
Y như thừa hưởng được đôi phần kính cẩn.
Nói năng văn vẻ rõ ràng, tường tận,
Y như là chia được phần thông suốt tinh vi.
Mênh mang sâu thẳm, ứng hiện phải thì,
Mênh mang như khung trời bao la vô hạn,
Sâu thẳm như vực muôn trùng thăm thẳm.
Thấy bóng ngài, dân một dạ kính tôn,
Nghe lời ngài, dân tin tưởng trọn niềm,
Ngài hành động: muôn dân đều hoan lạc.
Nên thanh danh ngài vang lừng Trung Quốc,
Vượt biên cương lan tới các nước ngoài.
Đâu xe có thể đi, người có thể tới lui,
Đâu có được trời che và đất chở.
Đâu còn nhật nguyệt hai vầng tở mở,
Đâu có móc đọng đâu có sương rơi.
Đâu còn có dòng máu nóng con người,
Ở nơi đó ngài vẫn được tôn sùng quí báu.
Thế nên gọi là “cùng trời phối ngẫu”.»
(Trung Dung XXXI)
3. Quan niệm về thánh nhân theo Chu Hi
Trong tập Chu Hi học án của linh mục Stanislas Le Gall, dòng tên, có một đoạn bình luận về thánh nhân như sau:
«Trên mẫu người quân tử còn có thánh nhân, kiệt tác của Tạo Hóa, tinh hoa của nhân loại.
«Xét về phương diện bản thể, phương diện «thiên địa chi tâm», thì thánh nhân cũng như mọi người, đều thụ hưởng như nhau. Nhưng điểm làm cho thánh nhân khác biệt chính là tại «khí chất chi tính» ở nơi thánh nhân tinh toàn, thuần túy, y như hạt kim cương trong suốt, mặc tình cho ánh sáng rọi thấu qua.
Chu Hi nói: «Con người là tinh hoa của ngũ hành, nhưng thánh nhân là tinh hoa của tinh hoa đó…»
«Trong những thế kỷ tiếp giáp với thời kỳ nguyên thủy, khi hoàn võ còn măng sữa, mới mẻ, khi khí chất hãy còn tinh khiết, thì dĩ nhiên có thánh nhân sinh; đó là thời kỳ hoàng kim, có những thánh nhân, minh triết trị dân, làm cho họ sung sướng. Hứa Dung Trai cho rằng đầu mỗi kỷ nguyên vũ trụ, lại có một vị thánh nhân như Phục Hi. Vũ trụ càng già càng cỗi, vật chất càng ô trọc, thì thánh nhân lại càng trở nên hiếm thấy, và hoàn võ lại dần dà quay trở về trạng thái hỗn mang nguyên thủy.
«Dưới đây là những vị thánh nhân đã được công nhận:
1- Phục Hi (2852-2737)
2- Thần Nông (2737-2697)
3- Hoàng Đế (2697-2597)
4- Nghiêu (2357-2255)
5- Thuấn (2255-2205)
6- Vũ (2205-2197)
7- Thành Thang (1766-1753)
8- Y Doãn (? -1713)
9- Tỉ Can (? - 1222)
10- Văn Vương (1232-1135)
11- Vũ Vương (1196-1116)
12- Châu Công (? -1105)
13- Liễu Hạ Huệ (khoảng 600)
14- Khổng Tử (551-479)
Vị thánh sau cùng lại là vị thánh được suy tôn, sùng thượng nhiều nhất: đó là đức Khổng. Tử Cống nói trong quyển V, tiết 6, Luận Ngữ: «Thực Trời đã ban nhiều ân trạch nhiều tài năng cho đức Khổng; Ngài chính là vị Thánh…»
«Thánh nhân chính là mẫu người lý tưởng trong nhân loại, chính là tinh hoa của nhân loại, chính là người đã thể hiện được sự toàn thiện. Sự toàn thiện ấy cũng được gọi là «Thành», là «Chí Thành», «chí thiện», vì thế mà Rémusat đã dịch «thành” là «toàn thiện»; Intorcetta đã dịch là hoàn thiện, tinh tuyền; Legge cũng dịch là tinh tuyền không pha phách tà ngụy.
«Chu Hi cũng định nghĩa «thành» là chân thực, không còn chút chi man muội, lỗi lầm.
«Thánh nhân như vậy có một đời sống hoàn toàn phù hợp với thiên lý. Cũng có thể nói thánh nhân được mệnh danh là «thành», chính là vì đã sống cuộc đời hoàn toàn phù hợp với tính bản nhiên, với thiên lý, và vì vậy đã phối hợp được với trời đất, đã sánh được với trời đất.
«Chu Liêm Khê cho rằng chữ «thành» đồng nghĩa với chữ Thái Cực, với Lý. Thái Cực hay Lý ấy, bất kỳ ai cũng có, nhưng khi Thái Cực hay Lý đã lồng vào hình hài, khí chất không tinh tuyền thì ảnh hưởng sẽ bị giới hạn lại. Chỉ có thánh nhân sống theo tính bản thiện của mình, nên thần trí người nhận định được hằng tính của mỗi vật, mỗi sự; ý chí người hướng về chân, thiện, mỹ, không chút khó khăn và sống trong đường nhân nẻo đức, trong trật tự và bổn phận, không chút chi vất vả.
«Nhiều người thường nghĩ «thánh nhân sinh nhi tri chi» và cho là thánh nhân có khối óc thông minh quán triệt, bao quát mọi sự, mọi điều; «thánh nhân cũng thông minh khôn lường như thần minh»… Nhưng Chu Hi cho rằng thánh nhân chỉ thông suốt được những nguyên lý đại cương, và dễ dàng suy ra những áp dụng cụ thể, hữu ích cho mọi người.
«Đó cũng là ý kiến của Doãn Nhan Minh (1200), một nhà bình giải Luận Ngữ. Ông nói: «Tuy là bậc thánh nhân, thông minh thiên phú, và sinh nhi tri chi, đức Khổng thường nhắc đi nhắc lại rằng Ngài ham học, hiếu học. Ta đừng tưởng đó là Ngài nói nhún nhường, để khuyến khích các đệ tử theo gương mà cố gắng. Không, Ngài chỉ biết những chân lý hằng cửu, còn những áp dụng cụ thể, đặc thù, ví như những chi tiết về lễ nghi hay nhã nhạc, những chuyện xưa tích cũ, những biến cố lịch sử cổ kim, thời đức Khổng cũng phải học mới biết.
«Nhưng mỗi khi gặp những vấn đề nan giải, khó khăn, Ngài liền thấu triệt dễ dàng, có những quyết định sáng suốt, những phán đoán xác đáng, minh triết, vì Ngài thông minh tinh tế rất mực.» Chu Hi cho rằng thánh nhân có một khối óc hoàn toàn trong sáng, hàm tàng vạn lý, vừa thoạt mới cảm xúc, liền thông suốt ngay…
… «Thánh nhân sở dĩ có cái nhìn tinh tế thấu triệt, vì lòng không bợn tư tà, dục vọng, cho nên mới nhìn thấu đáo được những điều tinh vi huyền diệu.
«Thánh nhân lại còn là những người có đức hạnh siêu việt, theo đúng Trung Dung, Trung Đạo; xử sự luôn theo chính lý. Mạnh Tử nói: «Các quan năng thì Trời ban cho mọi người, nhưng chỉ có thánh nhân tận dụng được quan năng mình, vì các Ngài sống hoàn toàn hợp với chân lý, hợp với lương tri, lương năng…
… «Thánh nhân vì không bị dục tình quấy nhiễu, nên lúc nào cũng ung dung thanh thản. Thiên lý, thiên đạo được thể hiện nơi Ngài một cách sáng tỏ để soi đường dẫn lối cho kẻ khác…» Ở nơi thánh nhân, mỗi động tác, mỗi cử chỉ, mỗi lời ăn tiếng nói, ngay đến sự ngơi nghỉ yên lặng, cũng là những bài học hữu ích cho các bậc chính nhân quân tử. Những kẻ phàm phu tục tử nếu không được cải hóa, thời chỉ tại họ đã thâm căn cố đế trong tính hư nết xấu, và lòng họ đã hư hỏng. Còn thánh nhân luôn luôn có thể soi sáng nhân trí và cải hóa nhân tâm.
«Ảnh hưởng của thánh nhân thực là vô biên như ảnh hưởng của Trời. Chu Hi nói: «Cũng y như xem bốn mùa vần xoay, xem vạn vật sinh hóa, thì biết được thiên lý biến dịch ở khắp nơi mà chẳng cần Trời phải nói nên lời. Ở nơi thánh nhân cũng vậy, động hay tĩnh, nhất nhất đều khải minh nguyên lý huyền diệu; sự toàn thiện, tinh tuyền sẵn chứa nơi người. Và Chu Hi kết luận bằng những lời hết sức hào hứng như sau: «Thánh nhân là hiện thân của Trời.» (Xem Stanislas Le Gall, Le Philosophe Tchou Hi, sa doctrine, son influence, p. 63 et ss).
4. Quan niệm về thánh nhân theo chư Nho
Các danh nho sau này cũng có những nhận định hết sức sâu sắc và chính xác. Các Ngài cho rằng:
a/ Thánh nhân là những người sống «thuần thiên lý», không còn tư tà, nhân dục: Đó là trạng thái mà nho gia gọi là «thành». (Thành giả chân thật vô vọng chi vị, thiên lý chi bản nhiên dã. Chu Hi. - Xem Lễ Ký, Couvreur dịch, quyển II, trang 458, chú thích).
b/ Thánh nhân là những người đã đạt thiên đạo, thiên vị, thực hiện được thiên tính. (Thành giả thiến tính dã. - Trịnh Khang Thành. -Xem Lễ Ký, Couvreur dịch, quyển II, trang 458).
c/ Thánh nhân là những người đạt được tầm kích vũ trụ. (Thánh nhân giả, thiên địa chi lương dã. Trình Tử. - Xem Uyên Giám Loại Hàm IV, trang 4670, mục chữ Thánh).
d/ Thánh nhân là những người thông minh, duệ trí tuyệt vời, sinh sau trời đất, mà biết chuyện có trước trời đất; chết trước trời đất mà biết chuyện khi trời đất cáo chung. (Thanh nhân giả, hậu thiên địa nhi sinh, nhi tri thiên địa chi thuỷ. Tiên thiên địa nhi vong, nhi tri thiên địa chi chung. - Hạc Quan Tử. - Xem Uyên Giám Loại Hàm IV, trang 4669, mục chữ Thánh).
e/ Thánh nhân là những người hoàn thiện. (Tích thiện chi toàn vị chi thánh nhân. Tuân Tử. - Xem Uyên Giám Loại Hàm IV, trang 4669).
Á Đông, khác với Tây phương, không cho rằng những người hi sinh tuẫn tiết vì đạo giáo là thánh nhân. Đó chỉ là những anh hùng, liệt nữ, những bậc khả kính mà thôi.
Á Đông cũng cho rằng không thể nào tu phàm tâm mà trở thành thánh nhân được; phải đạt tới Thiên Tâm, mới thành thánh được. Cũng y như mài gạch, không thể nào khiến gạch thành gương; cũng như đem ấp trứng gà mà muốn nở ra vịt, thì là chuyện không thể có được. Đó cũng chính là quan niệm của Phật giáo và Lão giáo.
Đối chiếu quan niệm về thánh nhân giữa Đông và Tây, và chỉ giữ lại những điểm tương đồng, ta ghi nhận:
1- Thánh nhân phải là những người siêu phàm.
2- Thánh nhân phải là những người thông minh duệ trí.
3- Thánh nhân phải là những người đã khống chế được nhân dục và đã đạt được thiên đức, thiên đạo.
4- Thánh nhân phải là những người tinh toàn, hoàn thiện.
5- Thánh nhân phải là những người đã có công cải hóa quần sinh.
E. ĐỨC KHÔNG LÀ VỊ THÁNH NHÂN CHÂN THỰC
Khi đã nắm vững được những tiêu chuẩn để xác định thế nào là thánh nhân, ta trở lại suy khảo xem tại sao Nho gia xưa nay xưng tụng đức Khổng là vị thánh nhân.
Nho gia cho rằng đức Khổng là thánh nhân vì:
1- Đức Khổng đã đạt tới Thiên đạo, tới Trung Đạo (Mạnh Tử, tận Tâm hạ, câu 37, 38. - LN, XIII, 21).
2- Đức Khổng đã «tận tính», đã đi vào được tới siêu thức (Trung Dung XXII).
3- Ngài đã sống cuộc đời phối kết với Thượng Đế, nhất là trong tuổi già (LN, II, 4).
4- Ngài đã có công đem thiên lý, nhân luân, dạy cho muôn triệu con người; thế tức là đã tham tán cùng trời đất (Trung Dung XXII).
Đọc Tứ Thư ta thấy tuy đức Khổng không trực tiếp xưng mình là thánh nhân, nhưng ngôn ngữ, cử chỉ Ngài đã bộc lộ rằng Ngài tin tưởng mình là thánh nhân.
1- Ngài nói thường mông thấy Chu Công. Thế là đồng thanh tương ứng (LN, VII, 5).
2- Ngài nói Ngài là vẻ sáng của Thượng Đế như Văn Vương (LN, IX, 5); mà Văn Vương là một vị đại thánh theo Tứ Thư, Ngũ Kinh, (Xem Trung Dung XXVI. - Kinh Thi, Đại Nhã, Văn Vương).
3- Ngài cho rằng đời Ngài là một bài kinh nguyện trường thiên (LN, VII, 34).
4- Ngài cho rằng chỉ có Trời mới hiểu Ngài (LN, XIV, 37).
5- Ngài muốn bắt chước Trời mà hành sự (LN, XVII, 18).
6- Ngài cho rằng có thánh nhân ra đời, thì thần vật cũng hiện ra để chứng minh (LN, IX, Cool. Quả nhiên năm Ai Công 24, mùa xuân, kỳ lân xuất hiện. Ngài ghi chú sự kiện ấy xong, liền dừng bút, cho rằng nhiệm vụ mình đã xong, và hơn một năm sau Ngài tạ thế.

Ngày nay, xét lại đời sống Ngài, công trình Ngài, đức độ Ngài, ảnh hưởng của Ngài đối với hậu thế, sau khi đã xác định lại những tiêu chuẩn để minh định thế nào là một vị thánh nhân, chúng ta cũng phải đi đến kết luận: Đức Khổng là vị thánh nhân chân thực…


_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Bách Gia Chư Tử    Fri Oct 25, 2013 9:36 am

11. Phụ lục.
I. CHƯ TỬ THỜI TÂY HÁN
 
Trở lên là phần lược khảo về thân thế Chư Tử, căn cứ phần nhiều theo tài liệu trong Sử ký Tư Mã Thiên, có thêm bớt cho hợp với nội dung quyển sách.
Các Chư Tử được kể đều là những nhân vật tiêu biểu cho 10 môn phái, Nho gia thì có Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử ; Đạo gia thì có Lão Tử, Trang Tử ; Mặc gia có Mặc Tử ; Pháp gia có Thương Quân, Hàn Phi, Lý Tư ; Danh gia có Huệ Thi, Công Tôn Long, đều là những người nổi danh hơn hết.
Phái Âm Dương gia có Trâu Viễn, Tung Hoành gia có Tô Tần, Trương Nghi, đây là những người tuy có tiếng nhưng không bằng những người của các phái đã kể trên.
Kế đó là những người như Hứa Hành, học thuyết của ông xuất phát từ Đạo gia, nhưng vì lại gán cho là của Thần Nông, cho nên mới gọi là Nông gia...
Thuyết của Tống Hình thì gần với Mặc gia, nhưng vì thiên về văn chương, chuyện tích cho nên gọi là Tiểu thuyết gia.
Lã thị Xuân Thu là do Môn khách viết, mà Lữ bất Vi chỉ đứng tên, học thuyết thì gom góp của nhiều phái, cho nên đứng sau cùng các nhân vật khác.
Căn cứ theo thời đại, trước hết là cuối thời Xuân Thu, Lão Tử và Khổng Tử mở đầu, cho đến Lý Tư thời nhà Tần, thì thời Chiến Quốc là thời kỳ toàn thạnh của Chư Tử, thế nên bàn về Chư tử, là nói đến thời kỳ Châu Tần, hay cũng gọi là Tiên Tần.
Sách Hán thơ nghệ văn chí của Ban Cố, dùng sách Thất lược của Lưu Hâm làm căn cứ.
Lưu Hâm là người cuối thời Tây Hán, Ban Cố là người của thời Đông hán lúc mới bắt đầu dựng nghiệp, cho nên về phần trích lục Chư Tử lược của ông, không hạn chế ở thời Châu Tần, mà lại không có những người của thời Tây Hán.
Phong trào Chư Tử dưới thời Châu Tần còn ảnh hưởng đến thời Tây Hán sâu xa, vì thế cũng cần tóm lược thân thế một số Chư Tử dưới thời Tây Hán để cho quyển sách được đầy đủ hơn.
Sau đây xin kể 10 nhân vật có tiếng nhứt trong số Chư Tử dưới thời kỳ ấy :
1. Lục Giả
Người nước Sở, giúp Hán Cao Tổ định thiên hạ, thường đi sứ đến Chư hầu, có hai lần đi sứ sang Việt Nam, thương thuyết với Triệu Đà.
Dưới thời Lữ Hậu, thường với Thừa tướng Trần Bình, Thái Úy Châu Bột cùng nhau diệt họ Lữ...
Như thế ông thuộc phái Tung Hoành gia.
Trong Hán chí, phần Thi phú lược phân phú ra làm 4 loại, loại thứ 3, thuộc về Lục Giả, như thế Lục Giả cũng là một Từ phú gia.
Ông có viết cho Cao Tổ một quyển sách gồm 12 thiên gọi là Tân Ngữ Hán chí. Sách nầy được liệt vào phái Nho gia.
2. Giã Nghị
Người đất Lạc Dương, làm chức Đình úy nước Ngô được Văn Đế triệu đến làm bác sĩ, năm sau, được lên chức Đại trung Đại phu, bị bọn Đại thần là Châu Bột, Quán Anh tìm cách ngăn trở, nên bị đưa ra Trường Sa làm Thái phó cho Trường Sa Vương, sau đó lại bị dời đến làm Thái phó cho Lương Vương.
Lương Vương té ngựa chết, Giã Nghị buồn vì làm Thái phó không nên việc gì cả, buồn rầu khóc lóc hơn một năm rồi cũng chết.
Bài phú " Bằng Điểu " của ông đã nói lên được tâm tư u uất của ông. Ông là một Từ phú gia mà lại có căn bản sâu sắc về Đạo gia, ông viết được 58 thiên sách, gọi là Tân thơ Hán chí, được liệt vào phái Nho gia.
3. Đổng Trọng Thư
Người Quảng Châu, làm bác sĩ dưới thời Cảnh Đế.
Võ Đế hỏi chánh sách với các kẻ sĩ văn học và hiền tài, Đổng Trọng Thư làm đối sách được hạng đầu, nên được làm Tướng quốc cho Giang độ Vương và Giang tây Vương.
Tài học của ông sở trường về truyện Công Dương Xuân Thu và các Nho gia trong Hán chí.
123 thiên sách của Đổng Trọng Thư đều là những bài sớ điều trần về giáo dục và những thuật trị nước, người đời sau chỉ gom tinh túy của một thiên mà cũng thành được tập sách.
4. Hoàn Khoan
Tự Thứ Công, người Nhữ Nam, dưới thời Tuyên Đế, thường làm quan Thái thú Lư Khâu.
Chiêu Đế hạ chiếu cho các kẻ sĩ hiền tài, văn học, hỏi về những điều khổ sở trong dân chúng, ai cũng nói chuyện muối và sắt làm khổ dân, ông cũng biện luận với Tang hoằng Dương về việc ấy.
Ông gom góp lại những lời biện luận ấy thành pho Diêm thiết luận, sách Hán chí liệt sách trên vào phần Nho gia, nhưng thật ra quyển Diêm thiết luận, không phải do chính tay Hoàn Khoan viết.
5. Lưu Hướng
Bổn danh là Cánh Sanh, dòng Tôn thất nhà Hán, dưới thời Ngươn đế, từng làm Tôn Chánh Cấp Sự Trung, sau đó đồng một lượt với nhóm Châu Kham, Tiêu vọng Chi, bị bọn hoạn quan Hoằng Cung, Thạnh Hiển gièm siểm, bị hạ ngục mấy lần.
Lưu Hướng bực dọc liền viết mấy thiên sách : Tật sàm, Cứu nguy, Trích yếu, Thế tụng, gồm tất cả 8 thiên, ông lại gom góp những điều lành, dữ lạ lùng từ thời Thượng cổ đến đời nhà Hán viết thành pho : Hồng phạm ngũ hành truyện, góp các truyện ký và Thi, Thơ ; làm các pho Liệt nữ truyện, Tân tự, và Thuyết uyển, Hán chí tổng xưng...Các sách kể trên đều được liệt vào phái Nho gia. Ngoài ra 8 thiên sách do chính ông viết [đã bị thất lạc] các sách đều do ông gom góp lại mà thành.
Dưới thời Thành đế, ông phụng chiếu lãnh chức Hiệu trung bí thơ, đó là sự nghiệp rất to lớn của đời Lưu Hướng, chính ông là người khai tổ cho ngành học sắp xếp mục lục đứng đắn, và khảo chính chỗ sai, chỗ đúng các sách của nước Trung Hoa.
6. Dương Hùng
Tự Tử Vân, người Thụ quận, đất Thành đô, ban đầu làm quan Lang, đến thời Vương Mãng được lên chức Đại phu.
Trong sách Hán chí, phần Nho gia có " sách Dương Hùng sở tự ", quyển " Thái huyền ", Pháp ngôn " của ông viết cũng ở trong bộ sách kể trên.
Quyển Thái huyền phỏng theo Châu Dịch, còn quyển Pháp ngôn thì phỏng theo Luận Ngữ, ông lại phỏng theo sách " Ngu châm " viết quyển " Châu châm ", phỏng theo Thương hiệt Thiên, viết Huấn soán, phỏng theo Nhĩ nhã viết Phương ngôn, còn về phần chú, ông có viết thiên " Phản ly tao ", " Bạn lao sầu " v.v...phỏng theo Ly Tao. Thiên " Giải trào ", thì ông phỏng theo " Đáp khách nạn " của Đông Phương Sóc.
Các bài phú : Cam tuyền, Trường dương, Vũ lạp thì phỏng theo Tư mã Tương Như.
Như thế thì Dương Hùng sở trường về môn mô phỏng để sáng tác.
7. Triệu Thố
Người Dĩnh Châu, học với Trương Khôi về thuyết Hình, Danh của Thân bất Hại, Thương Quân.
Dưới thời Văn Đế, làm chức Thái thường Chưởng cố, phụng chiếu đến Tế Nam nhậm chức Thượng thơ với Phục Thắng, rồi sau đó làm Gia lịnh [dạy học] cho thái tử.
Thái tử rất kính, gọi là Trí Nang [trí khôn], Cảnh đế lên ngôi cho làm chức Nội sử, quyền lớn hơn chức Cửu khanh, rồi sau lại làm Ngự sử Đại phu.
Ông chủ trương xén bớt đất phong cho các vương hầu; Ngô, Sở, bảy nước làm phản, mượn danh trừ Triệu Thố, Cảnh đế nghe lời Đậu Anh, Viên Áng đem Triệu Thố ra chém ở chợ phía Đông.
Trong Hán chí, phần Pháp gia có Triệu Thố, với những thiên về : các sớ tâu, nghị...và về giáo dục.
8. Bằng Thông
Gốc tên là Triệt, húy tên Võ đế, nên cải lại là Thông, người Phạm dương, ông là người du sĩ dưới thời Tần Hán, ban đầu du thuyết với Phạm Dương rồi kế đó thuyết với Hàn Tín đánh Tề và làm phản nhà Hán để tự lập.
Đến khi Hàn Tín bị tội, lúc sắp bị giết có câu " hối hận vì không nghe lời Bằng sanh ". Cao tổ liền bắt Bằng Thông muốn xé xác. Ông vì khéo nói mà khỏi.
Sau đó ông làm thượng khách cho thừa tướng Tào Tham, có viết quyển Huề thủy, sách Hán chí liệt vào phái Tung Hoanh gia.
Quyển sách nầy luận về việc quyền biến của các thuyết sĩ thời Chiến Quốc, nội dung phần lớn là chép lại các chuyện của du sĩ thời Chiến Quốc.
9. Trâu Dương
Người nước Tề, ban đầu làm khách ở Ngô vương Tỷ, vì ông can ngăn không được liền bỏ sang Lương Hiếu Vương, vì Dương Thắng gièm siểm, bị hạ ngục, sau lại được làm thượng khách.
Hiếu Vương sai người giết Viên Áng, ông bị liên can, liền vào Trường An.
Ông sở trường về từ phú, ngang hàng với Mai Thừa, Hán chí liệt ông vào hàng Tung Hoành gia.
10. Lưu An
Con của Hoài Nam Lệ vương Trường, ban đầu được phong Phụ lăng hầu, sau nối nghiệp Hoài Nam Vương, rồi sau vì mưu phản bị phát giác nên tự sát.
Lưu An thích văn học, ưa nuôi kẻ sĩ, Môn khách đã làm cho ông quyển Hoài Nam nội ngoại thơ, phần ngoại thơ đã bị thất lạc, Hán chí liệt ông vào phần Tạp gia.
*
Trở lại cộng chung tất cả 10 người. Dưới thời Tây Hán, không có sách của Danh gia và Mặc gia, vì đến thời kỳ đó, 2 phái ấy đã suy vi, còn các phái : Đạo gia, Âm Dương gia, Nông gia và Tiểu thuyết gia cũng không có nhân vật nào nổi danh.
Phần trên, những người được nêu tên, đều thuộc về Nho gia và Pháp gia, nhưng cũng không một ai xướng xuất ra được một học thuyết như Mạnh Tử, Tuân Tử, hay Thương Quân, Hàn Phi Tử.
Dưới thời Tây Hán, các học giả đều chú tâm Kinh học [Ngũ kinh] chuyên chú vào chương cú trong sách vở xưa, còn văn nhân thì chú trọng từ phú, sách vở của họ là những thiên từ phú diễn tả tâm tình hay những bài luận, bài sớ.
Từ đó, cái học của Chư Tử và việc trước thuật sách để phổ biến học thuyết, cũng bị suy vi.
Trong sách Hán chí, phần Chư Tử lược thời Tây Hán, có thể nói đó là phần chót suy tàn của Chư Tử thời Châu Tần...vì thế, những nhà khảo cứu, ít ai chú ý đến phần Chư Tử dưới thời Tây Hán.
II. CHƯ TỬ ĐẠI SỰ NIÊN BIỂU
Phần nầy chúng tôi dùng Tây lịch đối chiếu cho độc giả dễ nhớ. 
  
 
Năm tr. T.L.
Các đời vua liên hệ
Những việc quan trọng của Chư Tử
551
Châu Linh vương năm thứ 21Khổng Tử sanh, tên Khâu tự Trọng Ni.
545
Châu Linh vương năm thứ 27Nhan Lộ sanh tự Vô Do, cha của Nhan Hồi nhỏ hơn Khổng Tử 6 tuổi.
544
Châu Cảnh vương năm đầuNhiễm Canh sanh, tự Bá Ngưu nhỏ hơn Khổng Tử 7 tuổ
542
Châu Cảnh vương năm thứ 3Trọng Do sanh, tự Tử Lộ nhỏ hơn Khổng Tử 9 tuổi.
540
Châu Cảnh vương năm thứ 5Tất điêu Khai sanh, nhỏ hơn Khổng Tử 11 tuổi.
536
Châu Cảnh vương năm thứ 9Mẫn Tổn sanh, tự Tử Khiên nhỏ hơn Khổng Tử 15 tuổi.
532
Châu Cảnh vương năm thứ 13Khổng Lý sanh tự Bá Ngư, nhỏ hơn Khổng Tử 19 tuổi.
525
Châu Cảnh vương năm thứ 20Nguyên Hiếu sanh tự Tử Tư, nhỏ hơn Khổng Tử 26 tuổi.
522
Châu Cảnh vương năm thứ 23Nhiễm Cầu, tự Tử Hữu sanh.  
Nhiễm Ung, tự Trọng Cung sanh, hai ông đều nhỏ hơn Khổng Tử 29 tuổi.
521
Châu Cảnh vương năm thứ 24Năm sanh của các ông Nhan Hồi tự Tử Uyên, Cao Sài tự Tử Cao,  
Vu mã Thi tự Tử Kỳ. Mỗi người đều nhỏ hơn Khổng Tử 30 tuổi.
520
Châu Cảnh vương năm thứ 25Đoan mộc Tứ tự Tử Cống sanh. Nhỏ hơn Khổng Tử 31 tuổi.
518
 
Châu Kỉnh vương năm thứ 2Khổng Tử qua nhà Châu xem sách gặp Trưng tàng sử Lý Nhĩ. Sử ký nói Lý Nhĩ là Lão Tử.
515
Châu Kỉnh vương năm thứ 5Phàn Tu tự Tử Trì sanh. Nhỏ hơn Khổng Tử 36 tuổi.
507
Châu Kỉnh vương năm thứ 13Bốc Thương tự Tử Hạ sanh. Nhỏ hơn Khổng Tử 44 tuổi.
506
Châu Kỉnh vương năm thứ 14Ngôn Yển tự Tử Du sanh. Nhỏ hơn Khổng Tử 45 tuổi. 
505
Châu Kỉnh vương năm thứ 15Tăng Sâm tự Tử Dư sanh. Nhỏ hơn Khổng Tử 46 tuổi.
503
Châu Kỉnh vương năm thứ 17Chuyên Tôn Sư tự Tử Trương sanh. Nhỏ hơn Khổng Tử 48 tuổi.
500
Châu Kỉnh vương năm thứ 20Khổng Tử làm Tư khấu nước Lỗ rồi sau đó ra đi.
495
Châu Kỉnh vương năm thứ 25Khổng Lý, Nhan Hồi mất. Khổng Cấp tự Tử Tư sanh [cháu Khổng Tử].
486
Châu Kỉnh vương năm thứ 36Khổng Tử trở về nước Lỗ, ông đã xa nước Lỗ tất cả 14 năm.
480
Châu Kỉnh vương năm thứ 40Trọng Do tử nạn ở nước Vệ.
479
Châu Kỉnh vương năm thứ 41Khổng Tử mất. Nhằm năm Lỗ Ai Công thứ 16.
468
Châu Định vương năm đầuMặc Tử, tên Địch sanh [theo tài liệu của Lương Khải Siêu].
439
Châu Khả vương năm thứ 2Mặc Tử qua Sở du thuyết, dâng sách cho Sở Vương.
406
Châu Uy Liệt vương năm thứ 20Khổng Cấp mất [cháu Khổng Tử, tự Tử Tư].
374
Châu Liệt vương năm thứ 2Thái sử Chiêm nhà Châu vào nước Tần [có thuyết cho ông là Lão Tử].
372
Châu Liệt vương năm thứ 4Mạnh Tử, tên Kha sanh [theo tài liệu của Địch tử Kỳ].
369
Châu Liệt vương năm thứ 7Trang Tử tên Châu sanh [theo tài liệu của Mã di Sơ].
361
Châu Hiển vương năm thứ 8Huệ Thi làm tướng nước Ngụy.
359
Châu Hiển vương năm thứ 10Vệ Ưởng vào nước Tần ra mắt Hiếu Công.
351
Châu Hiển vương năm thứ 18Thân Bất Hại làm tướng nước Hàn.
347
Châu Hiển vương năm thứ 22Vệ Ưởng làm tướng nước Tần.
343
Châu Hiển vương năm thứ 26Khuất Nguyên sanh. Nhằm Sở Tuyên vương năm thứ 27.
341
Châu Hiển vương năm thứ 28Tần phong Vệ Ưởng về đất Thương gọi là Thương Quân.
338
Châu Hiển vương năm thứ 31Tần giết Vệ Ưởng.
337
Châu Hiển vương năm thứ 32Thân Bất Hại mất.
334
Châu Hiển vương năm thứ 37Tô Tần làm Tung ước trưởng. Hợp Tung thành ở năm nầy.
328
Châu Hiển vương năm thứ 41Trương Nghi làm tướng nước Tần.
320
Châu Thận Tịnh vương năm đầuTô Tần bị đâm chết ở Tề, Mạnh Tử đến Ngụy gặp Huệ Vương.
319
Châu Thận Tịnh vương năm thứ 2Mạnh Tử bỏ Ngụy qua Tề.
310
Châu Noãn vương năm thứ 5Trương Nghi đi làm tướng nước Ngụy. Huệ Thi ra đi.
309
Châu Noãn vương năm thứ 6Trương Nghi mất ở nước Ngụy.
289
Châu Noãn vương năm thứ 26Mạnh Tử mất [theo tài liệu của Địch tử Kỳ].
286
Châu Noãn vương năm thứ 29Trang Tử mất [theo tài liệu của Mã Di Sơ]
264
Châu Noãn vương năm thứ 51Tuân Tử [tên Huống] du thuyết ở Tề.
257
Châu Noãn vương năm thứ 58Công tôn Long đến thuyết Bình nguyên Quân.
255
Sở Khảo Liệt vương năm thứ 8 [nhà Châu mất]Tuân Tử làm quan Lịnh đất Lan Lăng của Sở.
249
Tần Trung Tương vương năm đầuLữ bất Vi làm tướng quốc nước Tần.
239
Tần Vương Chánh năm thứ 8Viết xong pho Lã thị Xuân Thu.
237
Tần Vương Chánh năm thứ 10Lữ bất Vi bị bãi chức, ra đất Thục rồi tự sát.
233
Tần Vương Chánh năm thứ 14Hàn Phi vào nước Tần bị hại.
214
Tần Thủy Hoàng năm thứ 33Lý Tư làm thừa tướng.
213
Tần Thủy Hoàng năm thứ 34Theo đề nghị của Lý Tư, hạ lịnh đốt sách.
208
Tần Nhị Thế năm thứ 2Lý Tư bị giết [năm sau nhà Tần mất].
203
 
Nhà Sở năm thứ 4 
Năm sau nhà Sở bị diệt, Hán thống nhứt.
Bằng Triệt khuyên Hàn Tín tự lập.
200
Hán Cao Đế năm thứ 7Giả Nghị sanh.
196
Hán Cao Đế năm thứ 11Lục Giả đi sứ Việt Nam. Phong Triệu Đà làm Nam Việt vương.
179
Hán Văn Đế năm đầuLục Giả lại đi sứ Việt Nam bảo Triệu Đà bỏ đế hiệu.
168
Hán Văn Đế năm thứ 12Giả Nghị chết.
164
Hán Văn Đế năm thứ 16Phong Lưu An làm Hoài Nam vương.
154
Hán Cảnh Đế năm thứ 3Triệu Thố bị giết.
134
Hán Võ Đế Ngươn quang năm đầuĐối sách lần thứ nhứt của Đồng trọng Thư.
122
Hán Võ Vương Ngươn thú năm đầuLưu An tự sát.
80
Hán Chiêu Đế Ngươn phụng năm thứ 2Lưu Hướng sanh, tự Tử Chánh. Ban đầu tên Cánh Sanh.
53
Hán Tuyên Đế Cam Lộ năm đầuDương Hùng sanh, tự Tử Vân.
26
Hán Thành Đế Hà Bình năm thứ 3Lưu Hướng phong chiếu lãnh chức Hiệu trung bí thơ.
8
Hán Thành Đế Tuy Hoà, năm đầuLưu Hướng mất.
   
[Nước Việt Nam ta bắt đầu có sử, theo tài liệu kê cứu được, bắt đầu từ đời nhà Thục [258-207 trước T.L.] lúc đó Khổng Tử đã qua đời được 221 năm và Mặc Tử, Mạnh Tử, Trang Tử cũng đều qua đời, duy chỉ còn có Tuân Tử, Lữ bất Vi, Hàn Phi, Lý Tư.

Nước Pháp có sử vào năm 151 [trước T.L.] tức sau ta 107 năm, vào thời Hán Cảnh đế, tức là lúc Bách Gia Chư Tử đã suy tàn.]

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Bách Gia Chư Tử    Mon Oct 28, 2013 4:52 pm

Phần Ba  
* 
Tình hình xã hội dưới thời Bách Gia Chư Tử
 
Trong phần trên, bạn đọc đã lược qua phần thân thế của Bách Gia Chư Tử, không dám quả quyết hẳn con người là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội, nhưng tư tưởng hành động của con người có quan hệ rất mật thiết đến hoàn cảnh xã hội đương thời.
Vì thế, trước khi vào phần lược khảo các tác phẩm của Chư Tử, chúng tôi trình bày qua với bạn đọc hoàn cảnh xã hội đương thời với " sự kiện lịch sử " và " tổ chức văn hoá, xã hội của thời Xuân Thu Chiến Quốc " để các bạn có một ý niệm tổng quát về hoàn cảnh và trình độ xã hội của thời ấy, như thế sẽ giúp đỡ thêm các bạn rất nhiều trong việc tìm hiểu Bách Gia Chư Tử.
- 1- 
Sơ lược sự kiện lịch sử thời xuân thu, chiến quốc
1. Thời Xuân Thu.
[722-479 trước T.L.]. Nhà Châu, sau khi dời đô về phía Đông, các đời vua suy nhược, chư hầu tự do, phóng túng, người xưng Công, kẻ xưng Bá, tranh giành đánh nhau không ngớt, trong nước rất rối loạn, nhơn dân hoặc phải làm binh lính , hoặc phải chịu ảnh hưởng của chiến tranh thật vô cùng khốn khổ.
Đức Khổng Tử ở vào thời đại hổn độn ấy, làm sách Sử ký nước Lỗ, kể những sự việc xảy ra ở nước ấy từ đời vua Lỗ Ẩn Công năm đầu [tức năm thứ 49 đời vua Châu Bình Vương ] đến Lỗ Ai Công năm thứ 14 [tức năm thứ 39 đời vua Châu Kính Vương] cộng 242 năm, gọi tên sách là Xuân Thu
Người đời sau nhân đó gọi thời đại ấy là Xuân Thu.
Đầu nhà Châu, số chư hầu hơn 1000 [gọi là chư hầu, nhưng thực tế chỉ là những bộ lạc với tù trưởng, và nhà Châu như là người lãnh tụ của các bộ lạc ấy] nhà Châu suy lần, chư hầu thôn tính lẫn nhau, đến lúc nầy, chỉ còn độ hơn 1 phần 10 nhưng trong sử sách chỉ thấy mấy nước là :
1. Nước Tề, ở Đông Nam huyện Xương Lạc, tỉnh Sơn Đông ngày nay.
2. Nước Sở, thuộc huyện Giang Lăng, tỉnh Hồ Bắc ngày nay.
3. Nước Tấn thuộc huyện Giáng, tỉnh Sơn Tây ngày nay.
4. Nước Tần, thuộc huyện Kỳ Sơn, tỉnh Thiểm Tây ngày nay.
5. Nước Lỗ, thuộc huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông ngày nay.
6. Nước Vệ, thuộc huyện Kỳ, tỉnh Hà Nam ngày nay.
7. Nước Tống, thuộc huyện Thương Khâu, tỉnh Hà Nam ngày nay.
8. Nước Yên, thuộc Đại Hưng, đất Kinh Triệu ngày nay.
9. Nước Trịnh, thuộc huyện Tân Trịnh, tỉnh Hà Nam ngày nay.
10. Nước Tào, thuộc huyện Định Đào, tỉnh Sơn Đông ngày nay.
11. Nước Trần, thuộc huyện Hoài Dương, tỉnh Hà Nam ngày nay.
12. Nước Thái, thuộc huyện Tân Thái, tỉnh Hà Nam ngày nay.
Trong 12 nước chư hầu kể trên thì có các nước Tề, Tấn, Tần, Sở, Tống là lớn và mạnh hơn hết. Đến sau có nước Việt, thuộc huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang ngày nay, và nước Ngô, thuộc huyện Ngô, tỉnh Giang Tô ngày nay, nổi lên cùng các nước chư hầu khác tranh hùng.
Bấy giờ tuy nhà Châu đã suy, chính lệnh thiên tử không được chư hầu tuân theo nữa, nhưng ân đức các tiên vương chưa phai hẳn trong trí người, nên nhân tâm còn theo. Vì thế, chư hầu nào có mưu lược, thường lấy cớ " Tôn phò nhà Châu, đánh dẹp giặc rợ " để làm minh chủ sai khiến thiên hạ.
Làm được minh chủ các chư hầu thì gọi là Bá. Đời Xuân Thu có 5 chư hầu kế tiếp nhau làm minh chủ, gọi là Ngũ Bá, đó là Hoàn Công nước Tề, Văn Công nước Tấn, Trương Công nước Tống, Trang Công nước Sở, Mục Công nước Tần.
Hoàn Công nước Tề là dòng dõi ông Thái công Vọng, nguyên huân, của nhà Châu, nhờ có tướng là Quản Trọng, biết dùng kẻ hiền năng, tu chỉnh việc vỏ bị, khai mỏ, đúc tiền, lấy nước biển làm muối, nước Tề thành phú cường, chư hầu đều phục
Nước Linh Chi [Sơn Nhung] cử đại binh quấy nhiễu nước Yên, Hoàn Công đem binh sang cứu, lấy được địa giới Linh Chi, và nước Cô Trúc, cho cả nước Yên. Hoàn Công lại đem quân chư hầu đi đánh các rợ Di, Địch cứu nước Hình bị Bắc địch xâm chiếm, sai đắp thành cho Vệ, vì nước nầy bị rợ vào giết vua và cướp phá.
Nước Sở không chịu cống nhà Châu, Hoàn Công đi đánh : trước sau Hoàn Công hội chư hầu 9 lần, làm cho ai nấy đều thần phục thiên tử.
Nhưng sau khi Quản Trọng chết, ông dùng bọn tiểu nhân như Thọ Điêu, Dịch Nha, Khai Phương, lại ham vui chơi, trễ nải việc nước, nên uy quyền suy lần.
Đến lúc ông chết, các công tử tranh nhau kế vị, trong nước rối loạn, bá nghiệp lại về Văn Công nước Tấn.
Văn Công nước Tấn là dòng dõi ông Đường Thúc Ngu, em vua Châu Thành Vương, vì chuyện trong nước phải trốn tránh ở ngoài, khi lên ngôi đã 62 tuổi.
Ông dùng các ông Thiệu Thôi, Hồ Yển, Tiên Trẩn hết sức sửa sang việc nước. Bấy giờ nước Trung Hoa bị Di, Địch quấy nhiễu luôn.
Xích Địch vào nhà Châu, Tương Vương phải chạy qua đất Trịnh, Văn Công hội chư hầu đi đánh dẹp và rước thiên tử về ngôi. Lại đại phá quân Sở ở Thành bộc, rồi hội chư hầu vào chầu vua Tương Vương mà ăn thề tôn nhà vua, không được hại lẫn nhau.
Văn Công mất, con là Tương Công kế vị, đánh được quân Tần ở đất Hào [Lạc Ninh, tỉnh Hà Nam ngày nay]. Truyền vài đời đến Niên Công là bậc anh minh, dùng những người hiền năng như Hàn Quyết, Triệu Võ, Nguỵ Giáng cùng nước Sở tranh hùng, bá nghiệp rất thạnh.
Về sau, con cháu kế làm minh chủ, có những bề tôi lão thành phụ tá, nên cơ ngiệp còn hơn 100 năm nữa. Bấy giờ, Tần, Sở tuy mạnh và có ý dòm ngó Trung Nguyên, nhưng không xâm lấn được.
Mục Công nuớc Tần là hậu duệ ông Ích, nhà Châu dời về phương Đông, cho nhà Tần đất Tây Châu, nên nước Tần được rộng thêm.
Đến đời Mục Công có Bá Lý Hề làm tướng, chăm lo việc chánh trị, đánh đuổi rợ Tây nhung, mở nước rộng thêm ngàn dặm, rồi làm Bá rợ nầy ở phương Đông, vì nước Tấn đương mạnh, chưa thể cùng tranh ngôi minh chủ được.
Tương Công nước Tống là hậu duệ ông Vi Tử đời Thương, sau khi Hoàn Công nước Tề chết, ông định thay làm minh chủ nên hội chư hầu ở Lộc thượng, nhưng việc không thành, sau lại hội ở đất Hu, ông bị nước Sở bắt.
Được tha về, ông đem quân đi đánh nước Sở, thua, bị thương rồi chết.
Trang Vương nước Sở từ khi mới lên ngôi, đã say đắm tửu sắc không thiết gì đến việc nước. Sau nhờ gián thần khuyên can, đổi tánh nết, rất được lòng dân. Ông diệt nước Dung, đánh nước Tống, đánh rợ Lục hồn, rồi đến Lạc ấp [kinh đô nhà Châu] xem binh bị nhà Châu, có ý dòm ngó Châu thất.
Ông phá quân Tấn ở đất Bi rồi làm Bá chủ chư hầu. Truyền đến Bình Vương vì nghe lời sàm thần, giết hiền thần Ngũ Xa, con Xa là Ngũ Viên [tức Ngũ Tử Tư] qua cầu cứu nước Ngô, đem quân về đánh, Sở Vương thua bỏ chạy, may nhờ có viện binh của Tần mới giữ nước được.
Mấy năm cuối đời Xuân Thu, vua nước Ngô là Hạp Lư, Phù Sai, vua nước Việt là Câu Tiển lại là những Bá chủ xuất sắc.
Hạp Lư, Tôn thất nhà Châu, dùng vong thần nước Sở là Ngũ Tử Tư, đánh nước Sở, đại thắng, oai danh lừng lẫy Trung quốc, nhưng về sau đánh với Câu Tiển bị thương rồi chết.
Câu Tiển là hậu duệ vua Thiếu Khương nhà Hạ, thắng Hạp Lư rồi, sau ông bị con Hạp Lư là Phù Sai đánh thua, và vây ở Cối Kê [nay thuộc Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang] phải hạ mình xin hoà.
Từ đó, trong 10 năm trời, ông cùng bầy tôi là Phạm Lãi, Văn Chủng, hết sức mưu tính việc báo thù. Bấy giờ Phù Sai rất kiêu ca, đang tranh hùng với chư hầu, Câu Tiển thừa dịp vào nước Ngô, đánh dứt Phù Sai, thanh thế chấn động khắp mọi nơi.
Các Bá chủ kế tiếp nhau ra oai, xưng hùng, xuống lịnh, khi đó Thiên tử chỉ là hư vị, đã không dám hỏi đến họ, mà nhiều khi lại phải nhờ đến họ để can thiệp vào việc riêng của mình, các chư hầu nhỏ thì nương vào nước mạnh để nhờ che chở.

Tranh giành để lập công danh, các Bá chủ khi hoà, khi chiến, nay minh, mai hội, làm tao nhiễu cả thiên hạ cho đến đời Chiến Quốc.

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Bách Gia Chư Tử    Tue Oct 29, 2013 3:49 pm

2. Đời Chiến Quốc.
 
[403-221 trước T.L.]. Cuối thời Xuân Thu các chư hầu đua nhau mở mang bờ cõi, nước càng mạnh lần.
Đã phú quí rồi, tự nhiên tập thành cái thói an lạc, việc chánh trị đều giao cho bầy tôi, họ Điền ở nước Tề, sáu quan Khanh ở nước Tấn, vì chuyên quyền mà thành mạnh lần.
Sau Điền Hoà đoạt nước Tề, Hàn Kiều, Ngụy Tư, Triệu Tịch, chia nhau nước Tấn, và đều được nhà Châu phong làm chư hầu.
Bốn nước nầy và Tần, Sở, Yên cùng nhau đối địch, đều thích việc chiến tranh, danh tuy lấy nhà Châu làm chủ, nhưng thật ra đều là những nước độc lập.
Từ đó, 7 nước đánh nhau liên miên, đời gọi thời gian ấy là Chiến Quốc, và 7 nước ấy là Thất hùng.
Thất hùng là :
1. Ở nước Tần, sau Mục Công hơn 10 đời, đến Hiếu Công, có tướng là Thương Ưởng biến đổi các pháp chế, chăm nom việc cày cấy, ngoài lo việc chinh phạt, nên nước trở nên giàu mạnh, từ đó, vua Tần hùng cứ đất Quan Trung mà mưu thôn tính các chư hầu ở Sơn Đông [Quan Trung tức là Thiểm Tây ngày nay. Vì nằm trong 4 cửa ải : Hàm cốc, Tân quan, Tiêu quan, Võ quan nên gọi là Quan Trung].
2. Nước Sở, dưới đời Chiêu Vương, tuy bị quân Ngô đánh bại, nhưng chẳng bao lâu lại thạnh lên được.
Sau đó, Huệ Vương diệt được nước Trần, nước Thái, Giản Vương diệt nước Lữ, đến đời Uy Vương, Sở có một giải đất ở phương Nam, đất rộng dân đông, nước rất cường thạnh.
3. Nước Yên là đất nhà Châu, phong cho người đồng họ là Triệu Công Thích. Đời Xuân Thu, thế nước còn yếu, đến đời Chiến Quốc, chiếm được phía Bắc nước Tề, rồi cùng chư hầu tranh hùng ở mặt Nam.
4. Điền Hoà tiếm nước Tề, truyền đến cháu nội là Uy Vương, nước được đại trị, các chư hầu không dám phạm đến. Sau nước Ngụy đánh nước Hàn, Chiêu Hầu là vua nước Hàn đến cầu cứu nước Tề, Tề Tuyên Vương sai Điền Kỵ, Tôn Tẩn đi đánh Ngụy, đại thắng ở Mã Lăng, giết tướng là Bàng Quyên và bắt được thái tử Thần.
Đất nước Tề [nay thuộc huyện Lâm Tri, tỉnh Sơn Đông] giáp biển, có núi non hiểm trở, giàu, đông dân, nên là nước có thế lực nhứt trong số các chư hầu thời bấy giờ.
5. Nước Triệu là do Triệu Tích chiếm một phần đất của nước Tấn [nay thuộc huyện Đàm Đan, tỉnh Trực Lệ] mà lập lên, rồi lấy hiệu là Liệt hầu, đô ở Hàm Đan.
Sau nước Triệu thắng nước Tề, đánh được Ngụy và đất Trung Sơn [nay thuộc huyện Địch, tỉnh Trực Lệ] nên càng thêm mạnh.
6. Nước Ngụy, do Ngụy Tư đồng họ với nhà Châu, chiếm một phần đất của nước Tấn [nay thuộc huyện Giải, tỉnh Sơn Tây] mà dựng lên rồi lấy hiệu là Văn hầu, đô ở An ấp. Văn hầu dùng Bộc tử Hạ, Điền tử Phương làm thầy, sai Nhạc Dương đánh Trung Sơn, dùng Ngô Khởi làm tướng đánh dẹp, làm cho nước Tần không dám dòm ngó đến phương Đông. Đến con là Võ hầu, nhiều lần đánh nước Tề, nước Triệu, phá được quân Sở, lừng lẫy một thời.
7. Nước Hàn là của Hàn Kiều, cũng đồng họ với nhà Châu, chiếm một phần đất của nước Tấn [nay thuộc huyện Võ, tỉnh Hà Nam] mà dựng nên, lấy hiệu là Cảnh hầu, đô ở Dương quắc.
Từ đời Cảnh hầu đến Văn hầu, đánh nước Trịnh, lấy được Dương thành [phía Nam đất Đăng phong, tỉnh Hà Nam] đánh nước Tống, bắt được vua, và đánh nước Tề.
Chiêu hầu dùng Thân Bất Hại làm tướng, trong sửa sang việc chính giáo, ngoài ứng đối với các chư hầu, nên nước trị, binh cường.
*
Bảy nước trên, mỗi nước hùng cứ một phương, nhưng địa thế nước Tần thắng lợi hơn, vì Tần có cửa quan Hàm Cốc [nay ở Tây Nam, đất Linh bảo, tỉnh Hà Nam] đóng cửa quan lại mà giữ, thì quân chư hầu không đánh mình được, mở cửa quan ra mà đánh, thì quân chư hầu không cự lại được.
Bấy giờ có người nước Triệu là Tô Tần, hiểu rõ hình thế thiên hạ, xướng lên thuyết " Hợp Tung ", cùng nhau liên hiệp để chống lại Tần.
Lại có Trương Nghi là bạn của Tô Tần, đã cùng Tần học với Quỉ Cốc tiên sinh, xướng lên thuyết " Liên Hoành " khuyên các nước cùng nhau liên hiệp với Tần.
Tô, Trương đem thuyết mình đi giảng giải với các chư hầu rồi đều được giàu sang.
Tô được đeo ấn 6 nước, Trương thì 2 lần làm tướng nước Tần. Từ đó phong trào du thuyết rất thạnh, các nước nuôi hàng ngàn biện sĩ, mỗi người chủ trương một phương sách. Rồi khi phân, khi hợp, khi chiến, khi hoà, can qua không dứt, quốc lực hao mòn.
Tựu trung, như Khương Vương nước Tống, Mân Vương nước Tề, đều vì ham dùng binh mà bị diệt ; Chủ Phụ nước Triệu, Chiêu Vương nước Yên thì dùng binh được nhiều thành tích. Còn nhóm Liêm Pha [tướng nước Triệu], Triệu Xa [tướng nước Triệu], Nhạc Nghị [tướng nước Yên] nhờ chinh chiến mà nổi danh một thời.

Tuy rằng nước nào cũng vì thời thế bắt buộc, nhưng vì đánh nhau mãi mà nước yếu nghèo, thù ghét nhau càng lắm, chỉ làm cho nước Tần dễ thôn tính mà thôi.


3. Nhà Châu diệt vong.
 
Nhà Tần dùng kế của Tư Mã Thác, lấy được Ba Thục nên nước càng giàu mạnh, bèn đánh nước Ngụy, phá nước Hàn, nước Sở.
Trong hơn 50 năm, năm nào cũng xuất binh, làm cho các chư hầu ở Sơn Đông rất là khốn đốn. Đến đời Chiêu Vương, Tương Vương nhờ tướng quân là Bạch Khởi và kế " Viễn giao cận công " của Phạm Tuy nên thường đánh phá được các chư hầu.
Chỉ trận đánh nước Triệu, bị quân liên hiệp của Xuân Thân nước Sở và Tín Lăng nước Ngụy đánh thua, nhưng nước Tần không vì thế mà suy, mà chí xâm lược lại càng hăng hái.
Nhà Châu ngày càng suy yếu, vua Noãn Vương sợ bị Tần diệt, nên cùng chư hầu hợp quân đánh Tần, quân Tần liền vào nhà Châu và chiếm hết đất.
Vua Noãn Vương xin hàng, Tôn thất nhà Châu là Đông Châu Quân lại cùng chư hầu mưu đánh Tần, bị Tần đem an trí ở đất Dương Nhân [ở phía Tây Lâm nhữ, tỉnh Hà Nam ngày nay]. Nhà Châu mất từ đó. Bấy giờ là năm đầu Trang Tương Vương nhà Tần.
Nhà Châu từ đời vua Võ Vương đến đó, được 37 đời, cộng 874 năm [1134-247 trước T.L.].

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Bách Gia Chư Tử    Tue Oct 29, 2013 4:23 pm

- 2- 
Tổ chức văn hoá xã hội thời nhà Châu là một di sản quí báu  
cho thời xuân thu chiến quốc
 
Thời Xuân Thu Chiến Quốc đã thừa hưởng được một gia tài quí báu về vật chất lẫn tinh thần của thời nhà Châu, thế nên muốn tìm hiểu tình hình văn hoá xã hội thời Xuân Thu Chiến Quốc, chúng ta cũng nên tìm hiểu tình hình thời nhà Châu để hiểu rõ hơn tình hình xã hội của thời sau.
Tìm hiểu tình hình văn hoá xã hội, tức tìm hiểu tổ chức xã hội của thời ấy và nếp sinh hoạt vật chất lẫn tinh thần của dân chúng thời đó.
Sau đây chúng tôi trình bày sơ lược về tổ chức trong chánh quyền dưới thời nhà Châu :
Nếp sinh hoạt về vật chất lẫn tinh thần của nhà Châu là noi theo hai đời nhà Hạ, nhà Thương trước, gom góp được tất cả những tinh tuý của đời trước để phát triển thêm và mở đầu cho một nền sinh hoạt sáng lạn cho đời sau.
Đây là một thời kỳ rất quan trọng trong lịch sử Trung Quốc.
A. Về tổ chức xã hội
1. Quan Chế
Dưới thời nhà Hạ có 3 quan công, 9 quan khanh và 27 đại phu với 81 ngươn sĩ, 2 quan tướng [tả tướng và hữu tướng], 6 quan thái [thái tể, thái tòng, thái sử, thái chúc, thái sĩ, thái bốc], 5 quan tư [tư đồ, tư mã, tư không, tư sĩ, tư khấu], 6 quan phủ [tư thổ, tư mộc, tư thủy, tư thảo, tư khí, tư hoá], 5 quan công (thổ công, kim công, thạch công, thú công, thảo công].
Đến thời nhà Châu có các quan tam công, lục cô, lục quan, cùng phân công nhau lo việc chánh.
Đời nhà Hạ, nhà Ân Thương, vì chưa có sách vở rõ ràng nên không thể tìm hiểu được một cách chính xác quan chế dưới thời ấy như thế nào, chỉ biết sơ là triều đình thời ấy còn hình thức như một bộ lạc, mà các quan là những người giúp việc cho tù trưởng để lo gìn giữ trật tự, và lo việc sanh sống cho những người trong bộ lạc [như có những người lo về việc làm giỗ, lo gìn giữ vật dụng v.v...]
Đến thời nhà Châu, quan chế thì có : thái sư, thái phó, thái bảo, đó là tam công, rồi đến thiếu sư, thiếu phó, thiếu bảo, đó là tam cô. Trở lên, đều là những chức quan " luận đạo ", trong triều đình, chọn những người có đức để cử vào chức ấy, cũng như những chức cố vấn của chúng ta ngày nay, và đó không phải là chức quan hành chánh.
Về các Bộ trưởng hành chánh thì có Lục quan, cũng như Quốc vụ viện ngày nay, gồm có Trủng tể tức là Thiên quan, nắm quyền chánh trị trong nước, đứng đầu trăm quan, trông nom " 4 biển " cũng như Hành chánh viện trưởng ngày nay [thủ tướng].
Kế đó là Tư đồ, tức Địa quan, coi về giáo dục trong nước, kiêm cả phần giáo dục và hướng dẫn về chánh trị, y như Bộ trưởng giáo dục và nội vụ ngày nay.
Quan Thái bá, tức Xuân quan, trông nom về việc tế lễ, hoà trên dưới, thời xưa rất chú trọng về tôn giáo cho nên phải cử một đại thần để lo riêng về việc ấy.
Quan Tư mã là Hạ quan, chỉ huy quân lính, lo việc an ninh trong nước, cũng như ngày nay Tổng trưởng bộ quân lực, kiêm Tham mưu trưởng.
Quan Tư khấu là Thu quan, nắm pháp luật, cũng như ngày nay là Bộ trưởng bộ tư pháp.
Quan Tư không là Đông quan, xem về việc đất đai, xét về thiên thời địa lợi và cuộc sống của dân, như Bộ trưởng Nông, Công, Thương ngày nay.
Tổ chức nầy bắt đầu từ thời kỳ đầu của nhà Châu, rồi lần lần về sau, trải qua các đời : Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh được gọi là Lục bộ thượng thơ, phân công nhau để lo việc cai trị chung trong nước.
Thuộc hạ của 6 chức quan kể trên, mỗi bộ có 60 người, cộng tất cả là 360, thể theo đúng độ của vòng tròn trời đất. Tên gọi các chức quan thì cũng noi theo đời trước, chỉ có sửa đổi chút ít cho hợp mà thôi.
Ví như quan Trủng tể, thì dưới thời Ân Thương, gọi là Thái tể, còn Tông bá thì ngày xưa gọi là Thái công ; trong Thiên quan thì có thêm Tể phu, Nữ quan và Yêm nhơn ; Xuân quan thì thêm quan Côn Xa ; Hạ quan thì thêm quan Thái bộc...Những chức quan mới nầy đặt ra là để phục dịch riêng cho vua, mất cả tánh chất trước kia, vì sự lợi ích cho dân mà mới đặt ra chức quan.
Ngoài ra cũng còn các quan : Khanh, Đại phu, cũng đều noi theo Hạ.
2. Địa phương chế
Sau khi vua Nghiêu bình nạn Hồng Thủy [nạn lụt lội do sông Hoàng Hà gây nên] liền phân chia đất đai làm 12 châu...dưới thời nhà Hạ lại sắp lại thành 9 châu, rồi nhà Ân noi theo nhà Hạ mà không có gì thay đổi.
 
3. Điền chế
Về chế độ thuế khóa ruộng đất, dưới thời Đường Ngu [từ 2205 trước T.L. về trước] không có tài liệu gì để tìm hiểu được, là vì sau trận Hồng Thủy, nông nghiệp chưa phát triển được.
Dưới thời nhà Hạ, kể ruộng 50 mẫu [mẫu ta] làm một gian, 10 gian làm một tổ, mỗi gia đình được lãnh 1 gian ruộng.
Dưới thời nhà Ân Thương, thi hành phép tỉnh điền, chia ruộng thành 9 khu, mỗi khu là 70 mẫu, xung quanh là tư điền, giữa là công điền, 8 gia đình cùng nhau hợp sức cày cấy phần ruộng xung quanh, luôn cả khu ruộng công ở giữa.
Dưới thời nhà Châu cũng vẫn còn giữ y theo chế độ đó, nhưng mỗi khu lại rộng thêm được đến 100 mẫu. Về cách phát ruộng, thì đến 20 tuổi là được lãnh đến 60 tuổi thì trả lại.
Vị thành niên thì gọi là dư phu, được lãnh 25 mẫu ruộng, đến khi lớn có gia đình thì lãnh phần ruộng 100 mẫu.
Về trạch [ruộng riêng] cũng do quan cấp : mỗi người được 5 mẫu, 2 mẫu rưởi thì ở ngoài, còn 2 mẫu rưởi thì ở rong ấp, dân chúng có điền trạch tư hữu, số đất lại qui định đồng đều, cho nên ai cũng có việc làm mà không bị thất nghiệp, giàu nghèo cũng không quá chênh lệch, nghĩ rằng trong xã hội ngày nay cũng chưa chắc là đã tổ chức được chu đáo đến mức ấy, nhưng có điều đáng tiếc là lúc đó chỉ mới thi hành được ở các vùng đông tây gần thủ đô, chớ chưa thi hành được trong khắp nước.
4. Chế độ thuế má
Dưới thời nhà Hạ có phép Cống, tức là mấy năm nộp một lần, đánh vào số lợi tức của 5 mẫu ruộng riêng.
Dưới thời nhà Ân có phép Trợ, tức là nhờ dân giúp cày cấy khoảnh công điền, tức là lấy số huê lợi của công điền làm thuế.
Dưới thời nhà Châu thì dùng phép Triệt, tức là dùng luôn 2 phép Cống và Trợ. Những nơi nào xa xôi hẻo lánh, những năm mất mùa không có cách gì để xem xét được thì dùng phép Trợ để lấy thuế, còn những nơi gần gũi, có thể xem xét mùa được hay thất thì dùng phép Cống.
Ba cách đánh thuế ấy đều đánh trên lúa, ngoài ra lại còn thu thuế " làm xâu " [tức lực dịch].
Mỗi năm chánh quyền đều cần sức dân để làm những việc ích lợi công cộng, nhưng hạn định không quá 3 ngày trong một năm nếu năm nào bị mất mùa thì được giảm bớt.
Lại có thuế đánh vào lụa vải và đất tư, mỗi gia đình mỗi năm phải nộp một số lụa vải theo qui định và đất ruộng bỏ hoang thì bị phạt.
Núi, đầm, rừng sơn, cửa ải, chợ cũng đều đánh thuế. Thuế núi và đầm đánh với mục đích là gìn giữ tài nguyên, vườn sơn đánh thuế là để cho dân tiết kiệm, đánh thuế chợ là để dân giữ vốn và có ý hạn chế việc buôn bán. Tất cả các sắc thuế trên đều đặt ra với mục đích làm cho dân tiết kiệm, chớ không phải để làm hại dân, lợi cho vua.
5. Binh chế
Dân là binh mà quan là tướng, ở hương lý thì 5 nhà là một Tỷ, có Tỷ trưởng. Năm Tỷ là một Lư, có Lư thủ. Bốn Lư là một Tộc, có Tộc sư. Năm Tộc là một Đảng, có Đảng chánh. Năm Đảng là một Châu, có Châu trưởng. Năm Châu là một Hương, Hương có Đại phu.
Ở Toại [cách xa kinh đô chừng 100 dặm] thì 5 nhà là một Lân, Lân có Trưởng.
Năm Lân là một Lý có quan Tể. Bốn Lý là một Tán, có Trưởng Tán. Năm Tán là một Bỉ có chức Sư. Năm Bỉ là một Huyện có chức Chánh. Năm Huyện làm một Toại, có Đại phu.
Đó là tổ chức dân chúng lúc bình thường, nếu lúc cần binh lính thì mỗi nhà đưa một người, lính của Tỷ hay là Lân gọi là một Ngũ, có người Trưởng, đó là chức Hạ sĩ ở triều đình.
Binh lính của Lư, Lý gọi là một Lưỡng, Lưỡng có Tư mã chỉ huy, đó là chức Trung sĩ ở triều đình.
Binh lính của Tộc và Tán thì gọi là Tốt, có quan Chánh, đó là chức Thượng sĩ ở triều.
Binh lính của Đảng và Bỉ thì gọi là Lữ, có chức Sư, đó là Hạ đại phu ở triều.
Binh lính của Hương và Toại, gọi là Quân, có chức Sư, tức là quan Khanh ở triều.
Thiên tử có 6 quan Khanh, tức là có 6 quân, đó là biên chế theo luật định, còn về trưng tập quân dụng thì tổ chức như sau :
Vuông một dặm thì gọi là Tỉnh, mỗi tỉnh có 8 nhà, 4 tỉnh làm 1 Ấp, 4 ấp làm 1 Khâu, 4 Khâu làm 1 Điện.
Mỗi Khâu phải nộp ngựa trâu 1 con, bò 3 con. Mỗi Điện phải nộp 4 ngựa trâu, binh xa 1 chiếc, trâu 12 con, giáp sĩ 3 người, bộ tốt 72 người và lính khuân vác 25 người.
Dưới thời nhà Châu gọi việc binh là xâu thuế cũng vì việc thu góp ấy.
Thuở ấy dùng khí giới có cung tên, đao kiếm, cái mâu, cái kích, mũi nhọn đều làm bằng sắt.
Áo giáp thì làm bằng da thú, mũ thì làm bằng da hoặc bằng đồng, thời gian còn có thể bị sung vào lính là từ 20 đến 60 tuổi. Dân ở kinh đô thời gian phục dịch là 6 tháng sẽ được thay thế, suốt đời chỉ đi phục dịch 1 lần. Dân của chư hầu thì phục dịch một năm mới được thay thế, suốt đời chỉ phục dịch vài ba lượt, về phương pháp và thời gian huấn luyện thì chọn vào lúc không có làm mùa để khỏi làm trở ngại việc cày cấy.
6. Hình chế
Về dân sự thì có mấy loại khác nhau, nếu người và người đụng chạm thì lấy người hàng xóm làm chứng, tranh tụng về đất đai thì lấy họa đồ của vua làm chứng cớ, về việc vay mượn thì lấy giấy tờ làm chứng cớ, về việc buôn bán trao đổi thì lấy giao kèo làm chứng, tất cả đều do Sử quan ghi chép giùm.
Việc kiện tụng, trước hết phải nộp bó tên, tiền thế chân để tránh những vụ kiện cáo điêu ngoa, trừng phạt thì trước răn dạy rồi sau mới xử phạt, và phải được quan Đại phu và người dân trong vùng đồng ý.
Lúc quyết án tử hình thì quan Sĩ sư nhận lãnh tờ tuyên cáo để chọn ngày thi hành án.
Người thuộc hoàng tộc, kẻ có chức tước và đàn bà, được khỏi thọ hình ở chợ.
Hình chế thì có Mặc [bôi mực vào mặt] Tỉ [cắt mũi] Phỉ [chặt chân] Cung [thiến] Đại tịch [xử tử] tất cả gọi là ngũ hình. Những hình phạt nầy có từ thời Đường Ngu. Đời Tam đại [Hạ Thương Châu] noi theo, rồi lại có thêm mấy cách gia hình khác như : cạo đầu, cắt tai, đóng gông, lưu đày và cũng có thể thức chuộc tội.
Những người có hành động phương hại đến làng xóm thì bị đóng gông, rồi làm sai dịch ở nhà quan hoặc lâu hoặc mau tùy theo tội trạng.
Hình phạt cũng có những trường hợp giảm khinh như người già, trẻ nít, kẻ ngu, mất trí.
Cuối năm, tập trung lại tất cả những việc xử hình, gọi là " pháp lệ " để sau nầy tham khảo trong việc xét xử.
Những người có chức tước cao, thì không vào ngục, mà kẻ bầy tôi phải thay thế...đó là chế độ của giai từng quí tộc thống trị.
7. Chế độ tuyển cử
Các quan Đại phu ở hương lý, chọn người ưu tú đưa lên cho quan Tư đồ, đó gọi là tuyển sĩ, rồi quan Tư đồ lại tuyển những người ưu tú hơn để đưa lên nhà học gọi là tuấn sĩ.
Nếu đã được tiến cử lên quan Tư đồ, thì dù cho còn ở trong hương lý cũng được miễn làm sai dịch, khỏi đóng thuế, khi lên đến nhà " Học " rồi thì khỏi đi lính, hai điều tuyển chọn đó gọi là " tạo sĩ".
Sau đó lại chọn những người ưu tú trong số tạo sĩ, đưa lên cho quan Tư mã, gọi là " tiến sĩ ".
Quan Tư mã xét tài rồi ban cho tước lộc. Nếu kẻ từ hương lý đi lên, thì Đại phu tiến cử, quan Tư đồ dùng.
Quan lại ở vùng xa kinh đô [toại] thì do nhà Quốc học tiến cử cho quan Đại nhạc chánh chọn, quan Đại tư mã dùng.
Các bậc Đại phu, kẻ sĩ thì phép tuyển cử phải lấy đức hạnh và đạo nghệ làm chủ.
8. Chế độ học hiệu
Dưới thời Hữu Ngu, nhà đại học gọi là Thượng tường, nhà tiểu học gọi là Hạ tường. Chữ tường có nghĩa là nuôi dưỡng
Dưới thời nhà Hạ, tiểu học gọi là Tây tự, nhà đại học gọi là Đông tự.
Dưới thời nhà Ân, thì tiểu học gọi là nhà Tả học, đại học gọi là Hữu học.
Dưới thời nhà Châu, chế độ học hiệu có phần tinh tế hơn, và cũng có tài liệu để tìm hiểu được.
Chế độ học hiệu nhà Châu có những đặc điểm sau đây :
- Các loại trường
Có trường Hương học [trong hương lý] và Quốc học.
Rồi trong hai loại trường kể trên lại còn chia ra các trường lớn nhỏ, cao thấp khác nhau.
- Địa chỉ
Nhà Tiểu học của Thiên tử thì ở phía Đông cung vua, nhà Tiểu học của chư hầu thì ở phía trái của phía Nam cung điện. Nhà Tiểu học của thứ dân thì cất đâu cũng được, còn nhà Đại học của Thiên tử thì ở giữa nước, nhà Đại học của chư hầu thì ở ngoài thành.
Nhà Đại học của Thiên tử cũng có ở ngoài thành phía Tây, đó là dành cho thứ dân.
Tên trường
Nhà Đại học trong nước có 5 tên gọi : ở giữa gọi là Tịch Ung, theo chế độ nhà Châu, còn ở phía Nam gọi là Thành quân, là theo chế độ Hoàng đế, ở phía Đông gọi là Đông tự, theo chế độ nhà Hạ, ở phía Tây gọi là Cổ Tông, theo chế độ nhà Ân, ở phía Bắc gọi là Thượng tường, theo chế độ nhà Ngu.
Ở hương lý thì có nhà Hiệu, ở châu thì có nhà Tự, ở đảng thì có nhà Tường, đó là dùng danh xưng của các đời trước.
Về Tiểu học, thì trong xóm có nhà Thục. Nhà Đại học của chư hầu gọi là Phán cung.
- Tài liệu dạy học
Tài liệu dạy học nhắm mục đích dạy dỗ đức hạnh, kính mến người già làm chủ.
Bậc Đại học dạy " Lục nghệ " và đạo tu kỷ, trị nhơn. Bậc Tiểu học thì dạy làm vặt vạnh trong nhà và những lễ nghi thông thường.
Về quân sự thì tập đi đứng, nhận tù binh. Ở cấp Đại học cũng có dạy quân sự để khích lệ tinh thần thượng võ và lòng khí khái.
- Về học trò
Ở nhà Quốc học thì nhận thái tử, các thế tử của vương tử và hoàng hậu, các đích tử của khanh, đại phu, ngươn sĩ, và các tuấn sĩ trong nước được chọn đưa đến.
Ở hương lý thì nhận con cái của thứ dân, nhà Hương học của vua thì nhận các cống sĩ của chư hầu và những người được chọn trong hương lý đưa lên.
- Thầy dạy
Ở trường Quốc học thì có Sư bảo, Đại nhạc chánh, Tiểu nhạc chánh, Đại tư, Tiểu tư, Thái sư và Đại tư thành đó là những giáo sư phụ trách dạy ở trường Quốc học.
Ở Hương học thì chọn chững người có đức hạnh đạo nghệ làm thầy.
Ở cấp Tiểu học cũng có phong tục đổi con để dạy dỗ lẫn nhau.
- Về tuổi tác
Ở bậc Tiểu học thì từ 8 đến 14 tuổi, bậc Đại học thì 15 đến 24 tuổi.
9. Chế độ thực nghiệp
Dưới thời nhà Châu, nhà cầm quyền rất trọng Thực nghiệp nên đặt để những qui tắc chặt chẽ, rõ ràng.
- Về nông nghiệp
Thiên tử tự đi cày cấy, mở ruộng để làm gương cho thứ dân, lại lập ra những chức việc để trông nom về nông nghiệp như Đạo nhơn, Điền tuấn. Những người có đất bỏ hoang bị phạt, người không đủ sức làm, được giúp đỡ, lại hướng dẫn cho dân việc chọn thời tiết, chọn giống và cách bón phân, cho nên thời ấy nền nông nghiệp rất thạnh.
- Nghề tơ tầm
Các bà hậu phi cũng nuôi tầm, ươm tơ để làm gương cho thứ dân, bên cạnh nhà luôn luôn có trồng dâu, lúc có kén, cứ xem dâu trồng nhiều hay ít để nộp thuế.
- Nghề lâm sản
Có đặt các viên chức như Sơn ngu, Lâm hoành để trông nom, đốn cây phải đúng mùa, đúng qui tắc đã định, mùa Đông thì đốn Dương mộc, mùa Hạ thì đốn Âm mộc để nuôi dưỡng cây.
-Nghề thủy sản
Có đặt các viên chức : Xuyên hoành, Trạch ngu để trông nom, bắt cá cũng phải có mùa có qui tắc.
Đến lúc rái tế cá xong mới được xuống sông bắt cá, và cũng cấm loại lưới nhặt để dưỡng cá con.
- Khoáng nghiệp
Có đặt viên chức trông nom, muốn khai mỏ thì phải được hướng dẫn đúng chỗ, đúng lúc.
- Công nghiệp
Có thợ ngọc, thợ chạm, thợ bạc, thợ mộc, thợ da, và các loại viên chức để hướng dẫn các nghề ấy.
- Thương nghiệp
Có đặt viên chức trông nom về chợ để hướng dẫn trong việc buôn bán và chỉ dẫn những điều ngăn cấm...
Khuyên dân chúng không nên xa hoa, cấm điều dối trá, hàng hoá xấu tốt không cho làm lẫn lộn, giá cả phải bình thường.
Vàng ngọc, những vật dụng trong triều đình, tôn miếu, những áo giáp khí giới đều bị cấm buôn bán, nhà buôn đi qua xứ khác phải đóng thuế quan [cửa ải] ai trốn thuế hàng hóa bị tịch thu.
Trong 9 điểm kể trên, chỉ có Điền chế, chế độ trường học và chế độ thực nghiệp là quan trọng hơn hết, và cũng nhờ những điểm đó mà nền văn hoá xã hội nhà Châu mới được vững vàng sáng lạn.
Nhờ Điền chế ấy mà dân có hằng sản và có hằng sản thì có hằng tâm, có cơm no áo ấm tất nhiên giữ được đạo đức cho con người và trật tự cho xã hội
Trường học nhiều, học trò được ưu đãi thì nền giáo dục phổ cập, lễ nghĩa phát huy và nền thực nghiệp hưng thạnh thì đời sống dễ dàng, xã hội không rối loạn, khỏi cần dùng đến hình phạt.

Nhà Châu hưng thạnh được một thời gian dài hơn 400 năm, thật ra không phải là một điều ngẫu nhiên, và đó cũng là một điểm rất quan trọng cần cho chúng ta chú ý suy nghĩ.

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Bách Gia Chư Tử    Wed Oct 30, 2013 11:59 am

- 3- 
Tình hình văn hóa xã hội  dưới thời xuân thu chiến quốc
 
Thời Xuân Thu Chiến Quốc đã thừa hưởng được một di sản quí báu về văn hóa xã hội của thời Tây Châu, trong khi đó thì nền chánh trị của Trung Hoa thời ấy cũng có những biến chuyển lớn lao quan trọng, tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nền văn hoá xã hội đã sáng lạn ấy.
Dưới đây là những đặc điểm của nền văn hóa xã hội thời Xuân Thu Chiến Quốc.
A. Chế độ
1. Quan chế
Lúc ấy chế độ địa phương tập quyền đã phát triển mạnh, chế độ phong kiến lung lay và tan rã lần.
Chế độ Quận huyện lớn mạnh, quan chế địa phương dưới thời nầy có các quan : Tể, Doãn, Công, Đại phu, danh xưng tuy khác nhau, nhưng chức quyền thì giống nhau, đó đều là những chức quan hành chánh ở Huyện.
Ở nước Lỗ, Huyện có quan Tể, cũng như phần trước đã viết : Khổng Tử làm quan Tể đất Thành, Tử Cao làm quan Tể đất Phi v.v...
Ở nước Sở thì gọi là Công, như Diệp công, Trần công, Thái công và cũng gọi là Doãn.
Ở nước Tấn thì gọi là Đại phu...
Dưới thời Chiến Quốc cũng có chức Thú, đó là người phụ trách hành chánh ở Quận. Còn quan chế ở trung ương của các nước thì có 3 quan Khanh, chỉ có phân nửa số Lục quan của Thiên tử : đó là các quan Tư đồ, Tư mã, Tư không.
Ở các nước, như nước Tấn có các quan Thượng, Hạ quân, Tướng tá, ở nước Sở có Lịnh doãn, Tư mã, nước Tần có Tả, Hữu Thứ trưởng, nước Tống có Hữu sư, Tả sư, Tư thành, Tư khấu...Danh xưng tuy khác nhau, nhưng cũng đều là chấp chánh đại thần.
Đến thời Chiến Quốc, các chức trên đều được gọi là Tướng, sau đó lại được tôn là Tướng quốc, cũng y như Quốc vụ tổng lý hay Thủ tướng ngày nay.
Về quân sự thì gọi là Tướng quân cũng như chức Tổng tư lịnh bây giờ.
2. Điền chế Thuế vụ
Dưới thời Xuân Thu có phép đánh thuế vào mẫu ruộng Sử chép : đời Lỗ Tuyên công, năm thứ 15, đánh thuế vào mẫu ruộng ngoài số ruộng công điền, mức thuế là 1 phần 10 trong số hoa lợi, nếu cộng thêm với hoa lợi của công điền thì thuế tăng lên gấp đôi.
Về chế độ nộp quân dụng thì y theo thời trước, căn cứ theo tỉnh điền để nộp số ngựa, xe trận, trâu và người lao công, nếu có thay đổi, thì chỉ đôi chút mà thôi.
Đến thời Chiến Quốc, nhà Tần dùng chánh sách của Thương Ưởng bỏ tỉnh điền, mở rộng bờ cõi để chiêu dụ dân chúng và quan không được lãnh ruộng, để cho dân được tự do mua bán ruộng làm của riêng.
Chánh sách thuế khóa cũng thay đổi, cứ tính theo số mẫu ruộng mà tính thuế, cứ để cho dân tự do canh tác, bao nhiêu cũng được, không hạn chế diện tích, vì thế mà đất đai ngày càng mở rộng thêm, mà cũng vì thế mà đi lần đến chỗ dân chúng giàu nghèo rất cách biệt nhau.
3. Binh chế
Cũng theo thời trước, thời Xuân Thu trưng binh trong nông dân, mà trong chiến tranh thì dùng xa chiến làm chủ. Nước Tấn là lớn hơn cả, lúc toàn thạnh, giáp xa có đến 4 ngàn chiếc, mỗi chiếc có 75 người theo, cộng chung quân số có đến 30 vạn người.
Đến thời Chiến Quốc, mới bắt đầu dùng cách mộ lính. Triệu Võ Linh ăn mặc theo người Hồ, tập cỡi ngựa bắn cung, đa số các nước bắt chước theo, vì thế Trung quốc bắt đầu dùng kỵ binh từ lúc ấy.
Quân số ở các nước lớn, mỗi lần huy động toàn lực, có đến mấy mươi vạn hay 100 vạn, xe ngựa có đến cả ngàn hay cả vạn chiếc vì thế quân chế và chiến thuật có thay đổi nhiều hơn trước, quân số cũng gia tăng, và cũng từ đó thế lực của Trung quốc đã áp đảo được các vùng xung quanh.
4. Hình chế
Dưới thời Xuân Thu cũng noi theo Ngũ hình thời trước, nhưng các hình thức cắt tai, cắt mũi, xâm mặt, đóng gông chỉ thi hành trong giới dân chúng còn hàng quí tộc thì khỏi.
Lớp quí tộc có tội thì bị đày, đến thời Chiến Quốc, quân quyền rộng lớn thêm, thì hình pháp lại càng chặt chẽ hơn.
Dưới thời nhà Tần có hình phạt liên can đến 3 họ, 7 họ, 10 họ...lại có hình phạt chém ngang lưng, ngựa xé xác v.v...
Nước Sở có hình phạt giết cả gia đình, nước Tề có hình phạt phanh thây, nước Triệu có Di hình [giết cả 9 họ]. Tóm lại hình phạt chỉ do sự tùy thích của vua chúa mà thi hành chớ không chiếu theo luật pháp thành văn hay tập quán gì cả, vì thế mà hình pháp lần lần đi đến chỗ hết sức tàn khốc.
Tuyển chọn nhơn tài
Dưới thời Xuân Thu, đời đời ăn lộc, đời đời làm quan, cha truyền con nối, đó là chánh thể chuyên chế của quí tộc, mặc dù chế độ tuyển cử đã có đặt ra, nhưng lại không dùng.
Dưới thời Chiến Quốc, việc cạnh tranh rất kịch liệt, được lòng kẻ sĩ thì nên nghiệp Bá, mất lòng kẻ sĩ thì cơ nghiệp tiêu tan, vì thế các bậc vua chúa, và các bậc đại thần đều hạ mình đem lễ vật trọng hậu để tiếp đón du sĩ, bất luận thân sơ, bất luận mới cũ, nếu ai có tài, mặc dù là kẻ thù cũng tìm cách dùng cho được...và mặc dù đó là kẻ tà vạy cũng không bỏ, dùng được càng nhiều người càng tốt.
Dưới thời Tề Tuyên Vương, nhóm Tắc Hạ, đông đến mấy ngàn người, trong số đó có đến phân nửa số người thuộc thành phần trung và hạ lưu trong xã hội. Sau đó, đến những năm cuối thời Chiến Quốc, Mạnh thường quân Điền Văn nước Tề, Tín lăng quân Công tử Vô Kỵ nước Ngụy, Ngụy Thắng nước Triệu, Xuân thân quân Hoàng Yết nước Sở, mỗi người nuôi kẻ sĩ trong nhà, có đến mấy ngàn.
Trong số tân khách đông đảo ấy, mặc dù là bình dân, nếu có một nghề sở trường là có thể nhờ đó mà được phú quí, vì đó mà chế độ giai cấp quí tộc bị lung lay, tiếp theo quần hùng chia nhau cát cứ địa phương, mỗi người đều có chủ quyền riêng và chọn người cai trị theo ý mình, nhờ đó mà kẻ sĩ muốn tìm hiển vinh, nếu đến nước nầy không được thì lại di sang nước khác.
Có người, ngày hôm qua là kẻ đào vong lang thang, nhưng ngày hôm nay đã trở thành một Tể tướng quyền cao, tước trọng.
Tô Tần, Trương Nghi, Thương Ưởng, Phạm Thư, v.v...có kẻ là người đã từng bị phạm tội, có kẻ là người đi trốn tránh, đều là những người tầm thường, chỉ trong một sớm một chiều mà thành danh tướng văn hay võ của một nước lớn, đó là chuyện thường, không một ai lấy làm lạ.
*
Trong thời gian ấy các ngành Học thuật phát đạt một cách mạnh mẽ dị thường, nước Trung Hoa, trải qua mấy ngàn năm lịch sử, các môn như triết học, văn học, khoa học, mỹ thuật và các ngành kỹ nghệ khác, ngoài ra việc từ ngoại quốc du nhập vào, đại đa số đều được phát sinh ra trong thời gian nầy.
Cũng từ lúc đó, văn tự lần lần phát triển, từ lối văn tự tượng hình đi đến lối đại triện và tiểu triện, nhờ đó mà tiết kiệm được thời gian và trí nhớ của con người, và việc ghi chép học tập được dễ dàng rất nhiều.
Lúc ấy, chế độ học hiệu của thời xưa cũng bị suy tàn, phong trào tư nhân dạy học phát triển mạnh. Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử và các Chư Tử khác, ai ai cũng dạy học trò, số đệ tử đông có đến cả ngàn, mở phong trào dạy tư cho đến đời sau.
Kết quả của phong trào dạy học ấy là kẻ sĩ càng lúc càng nhiều, nhiều hơn số học trò trong các trường nhà quan.
Điều nên chú ý là việc dạy trong các trường quan cứ y theo qui củ cũ, còn tư nhơn dạy học thì mỗi người theo chủ trương riêng của mình, có chỗ hay mà cũng có chỗ dở, đó là đặc điểm của nền giáo dục dưới thời Chiến Quốc.
Nhờ phong trào dạy học ấy mà kẻ sĩ rất đông, phong trào du hiệp thạnh hành, thích giúp đỡ người hoạn nạn, dù cho mình có tan xương, nát thịt cũng vui lòng. Những gương như Trinh Anh, Dự Nhượng nước Tấn, Lạn Tương Như, Mao Toại nước Triệu, Kinh Kha, Điền Quang, Phàn Ô Kỳ, Cao Tiệm Ly của nước Yên v.v...đều là những người tầm thường mà nổi danh trong thiên hạ.
Họ trọng nghĩa, xem cái chết nhẹ như lông hồng, và có lẽ phong thái ấy lưu truyền đến nước Nhựt mà biến thành môn Võ sĩ đạo.
B. Lễ Giáo
1. Chế độ gia tộc
Dưới thời Chiến Quốc, chế độ gia tộc phát triển thêm, việc cùng họ kết hôn bị cấm, các lễ hỏi cưới đểu lần lần hoàn bị, trong khi đó thì chế độ đa thê lại thịnh hành.
Thiên tử có 3 bà phu nhơn, 9 bà tần, 27 thế phụ, 81 ngự thê, còn chư hầu thì một lần cưới đến 9 vợ. Nhà sĩ, Đại phu thì tự do nuôi tỳ, thiếp, pháp luật không ngăn cấm.
Thời ấy, địa vị người phụ nữ trong xã hội rất thấp kém, đàn ông xem đàn bà như nô tỳ, thường thường, vì một lý do nhỏ mọn cũng có thể để vợ, đó là chuyện không có gì lạ...người đàn bà bị để bỏ, pháp luật không cấm tái giá.
Lúc ấy, cũng có nạn tảo hôn, đồng thời phong tục lã lơi cũng lưu hành, đãng phụ, du tử, công nhiên cợt nhả mà không ai thấy chướng tai gai mắt, nhứt là ở nước Trịnh, rồi kế đó là nước Vệ, rồi sau là nước Trần, và các nước khác cũng có tật ấy nhiều hay ít.
2. Chế độ dòng dõi
Đến đời Chiến Quốc chế độ dòng dõi được hoàn bị thêm, dưới thời Thái Cổ, trai gái lộn xộn, con chỉ biết mẹ, mà không biết cha là ai rồi sau đó, lần lần mới có cưới hỏi thành vợ chồng, dòng dõi được rõ ràng.
Từ vợ chồng, rồi có cha con, anh em, luân lý cũng được qui định từ đó.
3. Lễ Tang tế
Chế độ gia tộc phát triển hoàn bị, đó là đặc điểm về tổ chức gia đình xã hội Trung Hoa, vì thế tang lễ cũng rất long trọng.
Đến thời nhà Châu, tang lễ đã hoàn bị, từ tang phục cho đến quan khách, cúng tế, việc gì cũng có thứ lớp và tỉ mỉ.
Từ Thiên tử cho đến thứ dân, tang lễ cũng được phân biệt rõ ràng.
Dưới thời Xuân Thu mới có tục tuẩn táng, Tần Mục Công chết, đem 3 đứa con của Tử Xa thị chôn theo...dưới thời Chiến Quốc, tục tuẩn táng còn ghê gớm hơn, vua chúa chết, có lúc tuẩn táng theo đến mấy trăm người, thật là một điều vô cùng tàn nhẫn, sau đó tục tuẩn táng được thay bằng hình nộm cho đến bây giờ cũng vẫn còn thấy ở một vài nơi.
Về tế lễ cũng lần lần hoàn bị hơn trước, ngoài việc tế Thiên thần, Địa kỳ, còn việc tế lễ người đã mất. Thiên tử thì tế lễ 7 miếu, chư hầu 5 miếu, đại phu 3 miếu v.v...đó là tế lễ người trước đã qua đời, thứ dân thì không lập miếu chỉ tế lễ ở nhà trong.
4. Việc bói toán và thuyết thần tiên
Việc bói toán rất thạnh hành trong thời kỳ nầy, trong nước có việc gì quan trọng, là bói toán. Ngoài ra, khi gặp vật gì thay đổi lạ lùng, hoặc nằm chiêm bao, hay nghe lời đồng dao, mà xét việc kiết hung, họa phước.
Đến cuối thời Chiến Quốc thì chuyện thần tiên rất thạnh hành. Trâu Viễn xướng xuất thuyết Âm Dương rồi sau đó, các tay phương sĩ ở vùng Yên, Tề, lại bày ra những chuyện thần tiên quái đản, để mê hoạc các vì vua chúa.
Lúc đó Tề Ung vương và Tuyên vương, Yên Chiêu vương v.v...rất tin thuyết thần tiên của bọn Phương sĩ nên sai người ra biển để tìm thần tiên, cho rằng người tiên có thứ thuốc trường sanh bất tử, nhưng sau cùng chẳng tìm được gì cả, đó là một biến động thất thường trong ngành tôn giáo, học thuật.
5. Dân phong các nước
Phong tục dân chúng trong các nước giống nhau, đại để nước Lỗ thì chuộng Lễ, nước Tề chạy theo lợi, nước Việt tin quỉ thần, nước Tần thì chuộng công, Trịnh Vệ thì phong tục thiếu đoan chính.
Vùng Trâu, Lỗ ở cạnh sông Thù, Tứ, thích đạo Nho, theo Lễ nghĩa, sợ tội, xa lánh điều tà. Vùng Tam hà thì đất hẹp người đông nên dân chúng cần kiệm lo làm việc. Vùng Yên, Triệu thì nhiều kẻ sĩ khảng khái, thích bi ca. Lương, Tống thì trung hậu có nhiều bực quân tử, còn giữ được tục tốt của tiên vương, nước Sở thì khắc bạc, trí trá và ít tín nghĩa.
Đại để, vì địa lý và khí hậu các nước không đồng, lịch sử và di truyền của từng nước cũng khác nhau, thế nên phong tục, tính chất của dân chúng cũng có khác, đến khi nước Tần thống nhứt thì dân phong các nơi mới lần lần thống nhứt.
*
Trở lên là lược qua về hoàn cảnh lịch sử và tình hình văn hóa xã hội dưới thời Xuân Thu Chiến Quốc.
Nhận xét về sự phát triển mạnh mẽ của nền học thuật lúc ấy, sử gia Vương đồng Linh có mấy ý kiến :
" Thời đại học thuật toàn thạnh của Trung Quốc, chính là ở vào thời Chiến Quốc, mà điểm xuất phát là ở vào thời kỳ cuối đời Xuân Thu, các môn phái sánh vai nhau tuyên truyền phổ biến học thuyết mình, đó là một hiện tượng đặc biệt hiếm có trong lịch sử Trung Hoa mà có lẽ luôn cả trên thế giới.
Tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng ấy, có mấy ý kiến sau đây :
1. Nhờ sức tiềm tàng phong phú
Một tập thể người lúc mới gầy dựng, thì phải từ chỗ tối tăm đi lần đến nơi sáng lạng, trình độ văn minh, không phải do một sớm một chiều mà thành tựu được. Căn cứ theo sách vở xưa đã ghi chép, từ lúc Hoàng đế, Nghiêu, Thuấn trở đi, thì nền văn hóa của Trung Hoa đã bắt đầu gầy dựng, rồi đến đời nhà Hạ, nhà Ân, và đến đời nhà Châu thì trung ương tập quyền đã hình thành và nền văn hóa cũng bắt đầu thống nhứt.
Trải qua một thời gian khá dài, nước Trung Hoa từ trạng thái man dã đã bước sang nếp sống văn minh, xã hội có tổ chức, nếp sống tinh thần phát triển mạnh, chính nhờ sức súc tích lâu dài, phong phú mà nền văn hóa Trung Hoa mới bộc phát một cách huy hoàng sáng lạn như thế.
2. Do nơi xã hội biến thiên
Từ đời Nghiêu, Thuấn đến lúc Châu sơ, rồi kế đó là nhà Châu dời sang phương Đông, cho đến cuối đời Xuân Thu, nước Trung Hoa đã trải qua nhiều biến thiên trọng đại.
Từ địa vực chánh trị cho đến dân tâm, phong tục, tất cả đều biến đổi và tiến bộ, sau mỗi lần phát minh về phương tiện giao thông và phương tiện sanh sảnh, rồi cũng từ đó mà học thuật tư tưởng tiến bộ theo, nền học vấn giai từng quí tộc lan rộng đến giới bình dân, đó cũng là điều kiện cho nền văn hóa phát triển mạnh.
3. Nhờ tư tưởng, ngôn luận tự do
Tư tưởng, ngôn luận mở đường cho chánh trị, quốc gia thống nhứt, tư tưởng ngôn luận được thống nhứt đúng theo ý nguyện của dân chúng thì nền văn hóa giáo dục cũng thống nhứt và phát triển mạnh.
Nhà Châu, với nền chánh trị thuần nhứt, chánh quyền trung ương vững mạnh, vì thế học thuật tư tưởng vững vàng, nhưng đến khi chánh quyền yếu kém, xã hội suy đồi thì học thuật, tư tưởng cũng bị tan rã theo.
Chánh quyền vững mạnh, học thuật tư tưởng được khuyến khích nâng đỡ, cho tự do phát triển đó là một điều kiện quan trọng làm cho nền văn hóa phát triển mạnh.
4. Nhờ đường sá giao thông tiện, kinh tế phát triển.
Dưới thời Xuân Thu Chiến Quốc, các nước tiếp xúc nhau nhiều hơn trước, hoặc do chiến tranh, hay do các cuộc liên lạc giao thông ngoại giao, nhờ vậy mà giao thông ngày càng mở rộng.
Giao thông dễ dàng, con người đi đó đi đây, được gần gủi tiếp xúc nhau tất nhiên kiến thức được trao đổi và mở rộng.
Trong thời gian nầy sự sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh, và thương nghiệp cũng bắt đầu lớn lên làm cho sự sống con người được thoãi mái hơn trước, đó cũng là một điều kiện quan trọng cho sự phát triển văn hóa.
5. Nhân tài được trọng dụng
Các nước tranh nhau, muốn có kẻ hiền tài, để cho nước giàu dân mạnh, và cũng sợ người giỏi qua nước khác gây nên tai vạ cho mình thế nên các nước đua nhau đón rước nhân tài.
Nước Tề có lúc chứa cả ngàn tân khách, đó cũng là một nguyên nhân làm cho nền học thuật, văn hóa phát triển mạnh.
6. Nhờ văn tự phát triển, và có lụa vải để thay thế thẻ tre
Văn tự phát triển, việc ghi chép dễ dàng, khỏi phải dùng lối chữ tượng hình. Văn tự phát triển đến mức có thể ghi những sự kiện trừu tượng của tư tưởng, rồi kế đó sự phát minh ra viết, vải lụa dùng để ghi chép tiện lợi, dễ cất, dễ đem đi, đó cũng là một điều kiện làm cho văn hóa, học thuật phát triển.
7. Và sau cùng, nhờ nền giáo dục phổ cập đến dân gian
Như phần trên đã viết, nhờ sách vở và việc học tập từ trong nhà quan đi lần ra dân chúng và được phổ biến rộng rãi thành phong trào đó cũng là một nguyên nhân chính làm cho văn hoá, học thuật phát triển mạnh.
*
Nhận xét chung về tình hình văn hóa, học thuật, tư tưởng lúc ấy, giáo sư Tiền Mục có những tổng kết như sau :
Thời Xuân Thu suốt một thời gian dài 240 năm, một mặt đó là thời kỳ rất rối loạn và khẩn trương nhưng có một mặt khác đó là cũng là thời kỳ nền văn hóa quí tộc của thời xưa phát triển đến một cao điểm chưa từng có, vì thế cho nên nền văn hóa lúc đó được hậu thế ngưỡng mộ và tôn trọng.
Tóm lại, giai từng quí tộc lúc ấy đã có những tư tưởng, hiểu biết về nền tôn giáo của thời xưa khá đúng đắn, mặc dù tin tưởng quỉ thần nhưng họ cũng nghĩ rằng : Đạo trời, không xa với đạo người...vì thế đối với cuộc sống, họ có những quan niệm khá rõ ràng, chính xác.
Lúc đó, mặc dù trên phương diện quốc tế, giữa nước nầy với nước kia, luôn luôn có những vụ xung đột binh đao, nhưng xu hướng chung là tất cả đều trọng hòa bình, cố gắng tránh việc binh đao và giữ tín nghĩa.
Về phương diện ngoại giao, các nước cũng giữ được phong thái văn nhã, tiêu biểu được cho nền văn hóa khá cao của thời phong kiến lúc bấy giờ. Lúc đó có nhiều khi chỉ làm một bài thi, chỉ viết một phong thơ mà giải quyết được những vấn đề chánh trị gay go, thật là một điều hết sức tốt đẹp.
Cho đến khi phải đánh nhau, mặc dù trong chiến tranh cũng vẫn còn giữ được tánh chất nhơn, đạo, giữ được tín nghĩa, biết khiêm nhượng, tạo thành một nét đặc biệt cho phong thái chánh trị lúc ấy. Vào thời nầy, đạo đức, nhơn nghĩa lễ trí tín, được tôn trọng hơn là sức mạnh của võ lực, đó là điểm khác biệt giữa thời Xuân Thu và Chiến Quốc.
Trong pho Tả truyện, mặc dù ghi rất ít về chánh trị nội bộ của các nước, nhưng lại ghi rất nhiều về việc sinh hoạt tư riêng của giai từng quí tộc thời ấy, qua sử liệu kể trên, lớp người quí tộc thời ấy thấy xa hiểu rộng, tinh thần khoáng đạt, nhơn cách hoàn bị, rất đáng cho người đời sau tôn kính và noi theo.
Nói chung, dưới thời Xuân Thu, nền văn hóa quí tộc của nước Trung Hoa xưa, đã phát triển đến một điểm rất cao, rất tốt đẹp, rất sáng lạn.
Rồi đến lúc giai từng quí tộc bị tan rã, để nhường chỗ lại cho giai từng bình dân, và tự nhiên nền văn hóa cũ cũng phải tự nhiên biến đổi để nhường chỗ lại cho một nền văn hóa khác hợp thời hơn.
Thời Chiến Quốc, có thể nói là một thời kỳ chiến tranh sát phạt, với những cuộc giao thiệp dối trá lừa đảo, tàn nhẫn, tiêu biểu cho giai từng quí tộc bị đọa lạc, trong khi đó thì từ giới bình dân đã bắt đầu xuất hiện một nền học thuyết, tư tưởng mới đó là thời đại hoàng kim của nền văn hoá Trung Quốc.
Phân tích kỹ, thì nền văn hóa ấy có thừa hưởng được những di sản tốt đẹp của nền văn hóa quí tộc cũ để phát triển thêm theo đúng đường lối của mình.
Vì thế chúng ta có thể nói, giới bình dân không phá hoại hẳn nền móng cũ, mà chỉ nương theo đó xây dựng cái mới cho hợp với giai từng mình hơn, và đó cũng là điểm mà các nhà học giả Trung Quốc bảo rằng : Nền văn hóa, học thuật của Trung Quốc từ xưa cho đến nay như chỉ có một phái nối tiếp nhau, và cũng nhờ điểm đó mà nền văn hoá Trung Quốc mới uyên thâm.

*

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Bách Gia Chư Tử    Wed Oct 30, 2013 7:44 pm

Hàn Diệu Kì
Lã Bất Vi
PHẦN THỨ NHẤT: THƯƠNG BÁ
Chương 3
HÀNH TRÌNH TỚI HUNG NÔ
Lã Bất Vi cùng hai gia nhân chờ đón từng người qua lại trên khắp mọi nẻo đường để bán lụa. Giờ đã là mùa thu. Những thửa ruộng sau mùa gặt giờ chỉ còn trơ ra những gốc rạ. Chưa có sương rơi, vẫn còn có thể trông thấy sắc màu xanh non của vài sợi cỏ ngọn cây lưa thưa giữa những khoảng đất rộng trên những thửa ruộng. Những cơn gió thu xào xạc cuốn theo từng đợt lá vàng rơi. Vài gốc cây khô trụi lá gầy guộc bất lực nhìn sắc trời cuối thu âm vang tiếng lá rụng mang theo hơi mùa đông tới.
Trời se lạnh, Lã Bất Vi nhóm lửa sưởi ấm, hâm nóng vài ngụm rượu để uống cho huyết mạch lưu thông, người ấm áp lên. Thời gian này, rất ít ai đi về vùng ruộng đồng ngoài thành ấp vì sợ cái lạnh tê người nơi đồng không hoang vắng ấy. Và chuyện làm ăn kiểu “lũng đoạn” của Lã Bất Vi cũng lắng nhạt đi tựa như sự tiêu điều của thời tiết vậy.
Một hôm, Lã Bất Vi tình cờ gặp người biểu diễn rắn cưỡi một con ngựa, lưng đeo kiếm. Không biết tại bởi đã quá mệt hay do quần áo mặc trên mình quá mỏng mà vừa nhìn thấy đống lửa trước mặt Lã Bất Vi, anh ta liền nhảy xuống ngựa, co mình sưởi ấm.
Lã Bất Vi nhận thấy đó là một chàng trai nhiều hơn mình dăm tuổi, dáng vẻ cương nghị, trầm tĩnh. Anh ta không hề bắt chuyện với Lã Bất Vi và hai gia nhân mà ngồi sưởi ấm một lát rồi tháo bầu rượu đeo bên sườn ra, định hớp vài ngụm. Lã Bất Vi liền giữ tay anh ta lại, đoạn đưa cho anh ta một ly rượu đã được hâm nóng, nói: “Uống rượu lạnh hại tỳ sinh bệnh, uống rượu ấm này đi”.
Người biểu diễn rắn không từ chối, cũng chẳng cám ơn, cầm lấy ly rượu tu ừng ực hai ngụm, chùi mép rồi đưa lại chiếc ly cho Lã Bất Vi.
Lã Bất Vi cảm thấy thật kỳ lạ, không lẽ người này bị câm hay sao?
Chợt con ngựa đứng bên cạnh hý lên một tiếng dài. Lúc này Lã Bất Vi mới để ý, con ngựa của người biểu diễn rắn là thuộc giống long mã mặt sư tử. Con tuấn mã lông đỏ thẫm có điểm những đốm đen đang lúc lắc cái bờm trông tựa một tấm lụa đỏ. Bốn chân cao, khoẻ đứng tựa hồ còn vững hơn cả bốn cột chống nhà. Toàn thân nó láng bóng như bôi mỡ. Mặc dù phải thồ theo xe đựng mấy con rắn nhưng bốn chiếc móng ngựa như đá chôn xuống đất, vững vàng không nhúc nhích.
Lã Bất Vi không ngớt miệng khen: “Con ngựa tuyệt quá! Con ngựa tuyệt quá!”
Hai gia nhân cũng nói: “Ở Bộc Dương chưa bao giờ được thấy một con tuấn mã to khoẻ như thế này, đến con ngựa dùng để kéo xe vàng cho Vệ Nguyên Quân e là cũng không sánh kịp!” Lã Bất Vi tò mò hỏi người biểu diển rắn: “Con ngựa quý này là giống ở đâu vậy?” Người biểu diễn rắn rốt cục cũng mở miệng: “Hồ Địa”. Lã Bất Vi hỏi tiếp: “Đó chẳng phải là quốc gia của người Hung Nô ở phương bắc đó sao?” Người biểu diễn rắn gật đầu. Lã Bất Vi lại hỏi: “Anh đến đó rồi ư?” Anh ta lại gật đầu. Lã Bất Vi nghe nói, ở nước Triệu, kể từ khi Triệu Võ Linh đề xướng: “Hồ phục kỳ lạ”, ở thành Hàm Đan nơi đâu cũng thấy người mặc trang phục của người Hồ, học cưỡi ngựa bắn cung. Bởi vậy, ở đó, ngựa và trang phục của người Hồ rất đắt.
Đã có người đến Hồ Địa mang theo lục là ngọc trân châu vốn rất rẻ đổi lấy ngựa tốt, quần áo bằng da thú đem về bán rất đắt trong thàng, kiếm lãi kếch xù. Lã Bất Vi cũng từng có ý tưởng này trong đầu nhưng ngặt nỗi đường sá không thuộc, ngôn ngữ không thông nên đành nhìn mà nuối tiếc. Người biểu diễn rắn đã từng đi tới quốc gia Hung Nô đang đứng trước mặt chàng đây chợt trở nên đầy lôi cuốn với Lã Bất Vi. Lã Bất Vi đến gần hơn một chút, thân mật hỏi: “Xin hỏi vị đại ca, nghe nói mười thước lụa như chúng tôi đang bán đây có thể đổi được mười mấy con ngựa của người Hồ có đúng không?” Người biểu diễn rắn đáp: “Đúng. Người Hồ đặc biệt thích lụa.” Lã Bất Vi lại hâm nóng thêm một ly rượu mời người biểu diễn rắn uống.
Lã Bất Vi thấy ánh mắt lạnh lùng của anh ta giờ đã trở nên ấm áp hơn đôi chút. Cũng có thể là sự nhiệt tình của chàng đã làm anh ta cảm động. Chợt, người biểu diễn rắn lên tiếng trước: “Ba người các anh can đảm, nhiệt huyết ở đây dầm mưa dãi nắng kiếm chẳng nổi vài đồng. Chi bằng các anh mang vải lụa của mình tới chỗ người Hung Nô, cầm chắc đổi được 180 con ngựa tốt đem về Hàm Dương bán thì có thể kiếm được bằng với số lãi các anh kiếm ở đây 18 năm!” Lã Bất Vi vội đỡ lời nói tiếp: “Chúng tôi đâu phải không muốn như vậy! Hiềm nỗi núi cao, đường xa, lại không biết lối, ngôn ngữ chẳng thông, bởi vậy không dám mạo hiểm lên đường”.
Nói xong câu này, Lã Bất Vi nhìn chằm chằm, quan sát sắc mặt của người biểu diễn rắn, đoạn thăm dò tiếp: “Nếu mà được một người đã từng đi tới Hung Nô dẫn đường cho chúng tôi thì quả thực chẳng còn gì bằng!” Người biểu diễn rắn nhận thấy ý bóng gió trong lời nói của Bất Vi, do dự một lát rồi nói: “Như thế này vậy, ta sẽ đưa các anh đi một chuyến”.
Lã Bất Vi không giấu nỗi vui mừng hỏi: “Thật sao?”
Người biều diễn rắn đứng dậy, đập đập vào chiếc áo cho bụi đất bay xuống, nói: “Sáng ngày kia hẹn gặp tại đây, anh phải có một con ngựa để cưỡi và thồ hàng”. Nói rồi nhảy lên ngựa, lao vút đi.
Con người đến tên cũng không để lại mà nhận lời giúp đỡ một cách dễ dàng đến vậy khiến cho Lã Bất Vi vừa cảm thấy ngạc nhiên, vừa có cảm giác nghi hoặc. Nhưng rồi chàng nghĩ anh ta trông thật thà, nghĩa hiệp hẳn sẽ không đến nỗi hứa hươu hứa vượn, lời nói gió bay.
Về tới nhà, Lã Bất Vi kiểm tra lại toàn bộ số hàng, còn bảy trăm thước lụa, mua vào thêm ba trăm thước là vừa đủ một nghìn thước. Có việc vào thành mua ngựa là khiến chàng đau đầu một chút bởi lẽ chàng chưa hề cưỡi ngựa, nhìn thấy những con tuấn mã to khoẻ hung dữ mà phát run. Bất Vi cưỡi thử vài con, sau cùng cũng mua được một con có vẻ ngoan ngoãn vâng lời và dắt về nhà.
Ngay tối hôm ấy, Lã Bất Vi tìm đến nhà Phùng Quân Úy để từ biệt Hoàng Phủ Kiều. Kể từ lần chia tay trước bên bờ sông Bộc Dương, chàng và Hoàng Phủ Kiều mới gặp lại nhau một lần. Đó là vào ngày đầu tiên Lã Bất Vi đi buôn bán tơ lụa, chàng đã cắt ra một mảnh vải bông hình lá nho đẹp nhất tốt nhất và mua thêm một chiếc thoa cài đầu bằng vàng mang đến trước cửa nhà Phùng Quân Úy, vội vàng gặp rồi vội vàng chia tay với Hoàng Phủ Kiều.
Lần đầu tiên Lã Bất Vi nhìn thấy Phùng Quân Úy, vị lão tướng đã bao phen mặc giáp cầm gươm nam chinh bắc phạt với phong thái cởi mở, râu dài, nét mặt đôn hậu. Phùng Quân Úy vui mừng nói: “Con gái nuôi của ta thường nhắc đến công tử, ngợi ca công tử, hôm nay được gặp mặt quả là bậc hào hoa phong nhã, khí khái hơn người. Lần trước công tử đi mua đào từ vùng sơn cước trở về, lão phu vốn định bày tiệc tiếp công tử, tiếc một nỗi là phải tháp tùng Tể tướng đại nhân đi tuần thị vùng biên ải nên lỡ mất, quả thực đáng tiếc. Hôm nay nhất định lão phu phải bày mâm đãi công tử!” Nói đoạn, không cần biết Lã Bất Vi có đồng ý hay không, liền sai quản gia chuẩn bị rượu thịt. Lã Bất Vi mặc dù vừa dùng bữa xong nhưng thấy lão Quân Úy chân thành nhiệt tình đến vậy nên chẳng tiện nói lời từ chối.
Lã Bất Vi cùng lão Quân Úy thưởng thức những món ngon vật lạ bên Hoàng Phủ Kiều đi tới đi lui tiếp rượu hầu thịt, chàng đã có một buổi tối đầy mãn nguyện.
Sáng sớm ngày hôm sau, một con ngựa tắm mình trong ánh nắng ban mai mang trên lưng chàng thanh niên ôm mộng tới Hung Nô quyết liều mình một phen, chẳng mấy chốc đã ra khỏi thành Bộc Dương.
Lã Bất Vi vừa phi ngựa tới điểm hẹn vừa nghĩ: “Không có lẽ nào anh ta lại không tới!”, chỉ đến khi chàng nhìn thấy từ xa bóng một người đang dắt ngựa đứng đợi ở đó, chàng mới trút được gánh nặng âu lo trong lòng.
Lã Bất Vi cùng người biểu diễn rắn trèo đèo vượt suối, ngày đi đêm nghỉ. Tới mỗi thành ấp, người biểu diễn rắn lại dựng rạp mời gọi người xem xiếc rắn đi thu tiền. Người biểu diễn rắn thâm trầm ít nói, biểu diễn xong quay về lữ điếm cũng không chuyện trò gì cùng Lã Bất Vi, mà một mình tới khoảng đất trống để đi quyền múa kiếm. Lã Bất Vi đã mấy lần hỏi quý tính đại danh của anh ta song anh ta đều cười nhạt mà rằng, công tử cứ gọi tôi là người biểu diễn rắn. Thấy anh ta nói vậy, Lã Bất Vi cũng không hỏi thêm nữa. Người biểu diễn rắn này kiệm lời nhưng rất hào phóng, anh ta thường lấy tiền biểu diễn để trả chi phí ăn ngủ dọc đường, điều này khiến Lã Bất Vi trong lòng áy náy.
Cuối cùng, hôm đó, Lã Bất Vi theo người biểu diễn rắn đến vùng biên giới gió thổi lồng lộng, có đồng cỏ rộng trải dài tít tắp. Người biểu diễn rắn thở phào thốt lên: “Đến rồi!”
Khi Lã Bất Vi cùng người biểu diễn rắn đặt chân lên mảnh đất hàn bắc, đi nghìn dặm chưa thấy bóng người. Là tác giả mà tài mọn, tôi không có cách nào miêu tả cho bạn đọc bức tranh sinh động về cuộc sống của dân tộc du mục Hung Nô này. May thay, đã có nhà sử học, nhà văn học Tư Mã Thiên, đành trích đôi lời thần diệu của ông để miêu tả phong tục, sinh hoạt của người Hung Nô thời bấy giờ hầu bạn đọc.
Thuỷ tổ Hung Nô là hậu duệ họ Hạ Hậu, gọi là Thuần Duy. Trước thời Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, có Sơn Tuấn, Hiển Doãn, Hồn Châu… sinh sống ở Bắc Nam, di chuyển theo sự chăn nuôi gia súc. Số lượng gia súc của họ phần lớn là ngựa, bò, dê, một số gia súc đặc thù như lạc đà, lừa… Họ tìm đến những nơi có nước và cỏ, do vậy thường xuyên di chuyển. Không có thành quách và nơi ở cũng như vùng đất nông nghiệp nhất định, nhưng cũng có những khu đất không có văn tự thư tịch, dùng ngôn ngữ làm ước thúc. Trẻ con biết cưỡi dê, bắn chim thú, lớn một chút có thể săn bắn cáo, thỏ làm thức ăn. Đàn ông của họ đều biết bắn cung, cưỡi ngựa. Tập tục của họ là: bình thường vô sự, thì theo đàn gia súc, lấy việc săn bắn để duy trì cuộc sống; gặp tình hình nguy cấp, mọi người đều tập luyện binh sĩ, dàn trận, đi xâm lược người khác là thiên tính của họ. Binh khí mà họ thường dùng là cung tên, binh khí ngắn là dao kiếm, mâu, thuẫn. Khi tác chiến, nếu thuận lợi thì tiến công, không lợi thì rút lui, bỏ chạy không cho là nhục. Chỉ cốt có lợi, không để ý đến lễ tiết. Từ vua cho đến thường dân, ai cũng ăn thịt súc vật mặc áo da thú, khoác chăn lông. Thanh niên khoẻ mạnh được ăn thức ăn ngon, người già ăn những thức dư thừa. Họ coi trọng trai tráng khoẻ mạnh, coi thường người già cả yếu đuối. Bố chết, con có thể lấy mẹ kế làm vợ; anh em chết, anh em của người đó có thể lấy vợ cuả người chết làm vợ mình. Tập tục của họ là mỗi người đều có tên, không kiêng kị, lại không có họ và chữ…
Phóng tầm mắt ra xa trên bình nguyên trải rộng bao la, Lã Bất Vi thấy có những túp lều nho nhỏ tựa như những hạt đậu được vãi ra tứ phía. Hai con ngựa phi lên phía trước mặt cho từng đợt gió táp, những túp lều nhỏ mỗi lúc một rõ nét và trở nên to hơn. Lã Bất Vi nhìn rõ trước mặt chàng có năm túp lều vải, trong đó một lều trướng cao và to hơn hẳn những lều khác, trên vải lều có hình hoạ đẹp đẽ, trên đỉnh lều, một lá cờ đỏ thắm viền xanh đang tung bay trong gió. Lã Bất Vi và người biểu diễn rắn nhảy xuống ngựa, mở túi ra, dùng một thứ mực đen đựng trong túi xoa lên mặt. Người Hung Nô quy định, sứ thần và khách thương người Hán nếu không theo phong tục mà bôi đen lên mặt sẽ không được phép vào nhà họ.
Người biểu diễn rắn cho Lã Bất Vi hay, lều trướng lớn trước mặt là của Hữu Cốc Lãi Vương quan tước tương tự như Tể tướng cuả nước Vệ và bảo Lã Bất Vi cùng anh ta vào triều kiến ông ta. Người biểu diễn rắn bảo Lã Bất Vi đừng sợ, đã có anh ta nói giúp chàng.
Hai bên cửa lều là hai tên lính lưng dắt dao, sau khi bẩm báo, Lã Bất Vi và người biểu diễn rắn được đưa vào trong. Khi tấm dạ trên cửa buông cũng là lúc mùi tanh khét ở đâu hầm hập bao lấy Lã Bất Vi, trong giây lát, Bất Vi cảm thấy lạnh toát sống lưng.
Đây là lần đầu tiên đến Hung Nô. Trước mặt chàng giờ là một toán người đang ngồi trên một tấm thảm dạ, ở giữa là một người trông rất cao lớn vạm vỡ mình khoác da thú, hai bên là một vài vị quan thần và thê thiếp. Lã Bất Vi nghĩ, người này hẳn là Hữu Cốc Lãi Vương rồi.
Người biểu diễn rắn quỳ lạy Hữu Cốc Lãi Vương theo nghi lễ của người Hung Nô, Lã Bất Vi cũng làm theo, quỳ xuống thảm. Lã Bất Vi nghe thấy người biểu diễn rắn dùng một thứ ngôn ngữ lai tạo giữa tiếng Hồ và tiếng Hán rất khó nói để bẩm, với Hữu Cốc Lãi Vương về mục đích chuyến đi của họ. Sau đó, người đã dùng tiếng Hồ trò chuyện cùng vị thủ lĩnh của người Hung Nô. Hai người nói chuyện say sưa, Hửu Cốc Lãi Vương cười phá lên khoái trá.
Lã Bất Vi và người biểu diễn rắn được một trưởng bộc có bộ râu quai nón đưa ra khỏi lều. Người biểu diễn rắn cho hay, chuyện làm ăn đã bàn bạc xong mười thước lụa sẽ đổi một con ngựa. Lã Bất Vi giao một nghìn thước lụa cho vị trưởng bộc này. Đổi lại chàng sẽ được nhốt trên một bãi đất bao quanh bởi hàng rào gỗ, trong đó những con ngựa đang hý vang ầm ĩ như một dàn đồng ca, màu lông sặc sỡ như một bức tranh dưới hoàng hôn tuyệt đẹp. Vị trưởng bộc mời Lã Bất Vi và người biểu diễn rắn kiểm tra những con ngựa.
Lã Bất Vi đếm nhanh, nhưng cứ đếm chưa được hơn mười con thì lại bị những con khác nhảy nhót xung quanh làm hoa cả mắt, đếm không nổi. Người biểu diễn rắn nói, không cần phải đếm, hơn vài con thiếu vài con cũng chẳng sao, trâu ngựa đối với người Hung Nô cũng chỉ như gà vịt đối với chúng ta mà thôi.
Bên cạnh chuồng ngựa có độc một chiếc lều, bên trong có giường đệm, thức ăn và bếp lửa. Vị trưởng bộc nói, nơi này được chuẩn bị cho những thương gia người Hán tới Hung Nô. Người biểu diễn rắn nói: “Sáng mai phải đưa hết số ngựa này đi, về đến chợ ở thành Hàm Dương rồi, chúng chỉ cần hý mấy tiếng thôi là lập tức đã biến thành tiền trong túi Lã đại thương gia rồi!”
Đây là câu nói dài nhất, hài hước nhất mà người biểu diễn rắn thần bí, khó hiểu nói với Lã Bất Vi trên suốt chặng đường dài nghìn dặm mà hai người cùng đi bên nhau. Trên mảnh đất hoang vu giữa cái lạnh tê tái của trời đất Lã Bất Vi chợt nghĩ: vận mệnh con người, chớp mắt vạn biến. Việc mà mới đây thôi còn tưởng là chỉ biết nhìn mà tiếc, không với tay nổi thì trong chốc lát, tựa hồ như trăm nghìn đoá sen chợt nở bừng trước mắt ta! Nửa tháng trước đây, chuyện đổi lụa lấy ngựa đối với ta vẫn còn rất lờ mờ, không rõ nét, vậy mà bây giờ thì sao? Ôi, một món tiền lớn đã ở gần trong tầm tay rồi, thật dễ như trở bàn tay vậy!
Ở nơi thảo nguyên mênh mang, khoáng đạt này, màn đêm buông xuống nhanh hơn ở thành Bộc Dương. Khi mặt trời vừa lặn, trời vẫn còn hơi sáng, nhưng rồi sau đó, rất nhanh, ánh hoàng hôn lẫn sắc thần bí ùa xuống bao phủ bốn xung quanh những túp lều. Từng cơn gió tây thổi rào rào, tựa hồ như những cô thiếu nữ xấu hổ, chỉ khẽ làm lay động cỏ cây vàng khô bên ngoài lều trướng, tạo nên những âm thanh trống trải và xa xôi.
Lúc đi ngủ, người biểu diễn rắn thái độ rất lạ ra hiệu cho Lã Bất Vi rằng, đêm ở đất Hung Nô này có thể có những hiểm nguy khó lường, và anh ta thì thầm: “Chúng ta mặc áo vào nhưng phải nằm dưới gầm giường”. Sau này Lã Bất Vi nhớ lại, đêm ấy, chàng đã bị đánh thức. Có hai vệt lửa quét sáng trong lều rồi tắt ngay. Sau đó chàng nghe thấy có tiếng Hung Nô loáng thoáng chen lẫn tiếng gió. Chàng nín thở hồi lâu, rồi một cánh tay kéo chàng ra khỏi gầm giường.
Trong bóng tối đen như mực, Lã Bất Vi nghe thấy giọng nói run run của người biểu diễn rắn: “Có người muốn giết chúng ta, chúng ta phải đi mau thôi”. Bên ngoài lều tối mù mịt. Dưới ánh sao yếu ớt, Lã Bất Vi nhìn thấy một lưỡi dao trắng đang lay động trông như một con rắn, thanh kiếm sắc trong tay người biểu diễn rắn càng làm cho chàng cảm thấy dường như sắp có một trận quyết tử diễn ra. Đằng xa, có hai quầng lửa soi sáng cả một khoảng tối. Hai kẻ Hung Nô tay cầm đuốc, tay cầm dao tìm kiếm. Người biểu diễn rắn nhẹ nhàng không một tiếng động tiến lại sau lưng chúng, chỉ kịp nghe thấy hai tiếng kêu khô khốc “Ai a”, “Ai a”, rồi hai bó đuốc rơi xuống đất. Lã Bất Vi kinh hãi nghĩ: “Có lẽ anh ta đã giết chết cả hai tên rồi”. Người biểu diễn rắn đang lật giở quần áo của hai tên Hung Nô đã hồn lìa khỏi xác, Lã Bất Vi vội vàng lao tới nói: “Tìm gì vậy? Chúng ta mau chạy thôi!” “Tù và” Người biểu diễn rắn có lẽ đã tìm thấy, đứng dậy nói với Lã Bất Vi: “Công tử cưỡi ngựa của tôi, tôi cưỡi ngựa trong chuồng, mau!” Lã Bất Vi dắt con ngựa màu đỏ thẫm đang buộc ngoài lều, người biểu diễn rắn mở cửa chuồng ngựa, phóng mình nhảy lên lưng con ngựa lao ra trước, nói với Lã Bất Vi: “Chạy nhanh theo tôi, kiểu gì cũng phải ghìm được cương ngựa cho chắc!”
Hai con ngựa lao đi trong đêm tối. Người biểu diễn rắn thổi tù và, những tiếng “tu… tu… tu…” giục gọi hơn một trăm con ngựa trong chuồng cùng lao ra vùn vụt. Lã Bất Vi nắm chặt bờm ngựa, người tung lên tung xuống. Lúc đầu chàng còn nghe thấy tiếng gió thổi vun vút, sau đó chỉ còn tiếng vó ngựa rầm rập tựa tiếng gió thét mưa gào làm rung chuyển mặt đất. Màn đêm dày đặc vùng hàn bắc dần lùi lại sau lưng họ…
Hai cánh cửa lớn hai thành Hàm Dương của nước Triệu vốn đã bị thời gian làm cho phai màu đỏ thẫm, giờ trước dòng cuộn chảy của hơn một trăm con ngựa tiền hô hậu ủng dường như đã trở nên chật chội. Bụi cuốn dưới vó ngựa tựa như một lớp mây mù dày đặc phủ trên nóc nhà. Lã Bất Vi và người biểu diễn rắn đang gò mình trên lưng ngựa trong lớp gió bụi như đang cưỡi mây vờn sương vậy. Mọi người nhìn thấy một đội quân người ngựa lao tới vùn vụt như giông bão kéo đến trước cơn mưa đều vội vàng nhường đường. Hàm Đan là đô thành nổi tiếng từ thời Xuân Thu Chiến Quốc. Theo sự giải thích của chú giả Trương Yến trong cuốn “Hán thư” thì Hàm, là tên núi; Đơn, nghĩa là tận cùng. Bởi lẽ núi Hàm cao vô cùng tận cho nên được gọi là Hàm Đơn. Thành bắt nguồn từ ấp, bởi vậy thêm chữ ấp vào chữ “Đơn” thành chữ “Đan”. Mảnh đất người đông vật nhiều này, phố phường chằng chịt, xóm ngõ giăng giăng. Đi men theo các đường phố dọc ngang, hai bên đường lần lượt hiện ra rất nhiều nơi buôn bán, nào là các cửa hiệu cờ bay phấp phới, nào là các quán trà, tiệm ăn, tiệm rượu. Cách một đoạn phố lại xuất hiện một lầu các cao vút có vọng lâu với rường cột chạm trổ, thoáng nhìn biết ngay là một nhà dòng dõi trâm anh thế phiệt. Trên phố người đi lại như mắc cửi, thỉnh thoảng lại có xe ngựa lộng lẫy của một bậc vương hầu khanh tướng nào đó hoặc những chiếc xe có đính tua cờ của các tiểu thư đi qua, quả là “xe ngọc ngà của bậc vương hầu tấp nập lại qua, dây cương vàng của bậc khanh tướng rộn ràng lui tới”. Còn có biết bao thiếu nữ xinh đẹp, cổ đeo vòng ngọc, xiêm áo thanh thoát, gương mặt thắm hồng. Ngoài ra còn có một vài người mặc trang phục của người Hung Nô, đây là vết tích của chủ trương “Hồ phục kỳ lạ” do Triệu Linh Vương từng khởi xướng. Ngồi trên lưng ngựa, Lã Bất Vi không biết nên nhìn ngắm gì trước biết bao cảnh đẹp của một đô thành phồn hoa thịnh vượng như thế này. Khi chàng và người biểu diễn rắn dẫn đoàn ngựa tiến vào cổng chợ, Bất Vi càng cảm thấy hoa mắt trước bao nhiêu là thứ đẹp. Được bày bán có ngọc trân châu, lụa là gấm vóc, rồi giày da, đồ gốm, dao găm, xe ngựa. Người bán người mua chen chúc, tiếng mời gọi vang lên rộn ràng. Người đi không có chỗ vòng lại, ngựa xe chẳng có chỗ quay đầu.
Hơn một trăm con ngựa của Lã Bất Vi chả mấy chốc bán hết. Bất Vi cùng người biểu diễn rắn tìm một nhà trọ loại hảo hạng để nghỉ ngơi, tính ra được lãi trọn hai trăm dật vàng. Lã Bất Vi chia đôi số vàng đưa cho người biểu diễn rắn một nửa, anh ta nói đưa cho anh ta quá nhiều, anh ta lại chẳng phải bỏ vốn nên kiên quyết không nhận. Lã Bất Vi cau mày nói, nếu đại ca từ chối không nhận, hẳn là chê kẻ tiểu đệ đền ơn không xứng chăng? Lần này đi lên vùng đất của người Hồ ở miền Bắc, may mà có đại ca dẫn đường chỉ lối, chuyển nguy thành an, nếu không, đừng có nói là hai trăm dật vàng chứ đến hai mươi dật cũng không kiếm nổi. Tiểu đệ nhận một trăm dật, cũng cảm thấy hổ thẹn vô cùng! Người biểu diễn rắn thấy Lã Bất Vi không phải hạng người tham lam gian xảo nên cũng không từ chối nữa!
Lã Bất Vi dặn chủ quán cẩn thận làm mấy món ăn thơm phức, mua một hũ rượu, muốn cùng người biểu diễn rắn nâng ly chúc mừng, uống cho thoả sức. Rượu thịt đã được mấy hồi, Lã Bất Vi và người biểu diễn rắn đều đã ngà ngà say. Lã Bất Vi không úp mở nói thẳng những lời bấy lâu nay vẫn giấu trong lòng: “Huynh đệ sống chết có nhau đã được hơn một tháng. Đệ thấy huynh là bậc quân tử hiệp nghĩa, trung dũng, đệ cũng chẳng phải kẻ tiểu nhân tham tiền vô đạo, huynh đệ chúng ta cũng coi như là duyên phận trời ban, tâm đầu ý hợp. Nhưng, quý tính đại danh, xuất xứ lai lịch của đại huynh ra sao, đối với đệ vẫn là điều bí ẩn, điều này khiến cho tiểu đệ suy nghĩ, day dứt”. Người biểu diễn rắn vẫn lặng thinh không nói. Lã Bất Vi hỏi: “Huynh tên họ là gì?” Người biểu diễn rắn đáp: “Người biểu diễn rắn”. Lã Bất Vi nổi giận: “Đệ không hiểu, tại sao huynh lại phải giấu kín tên họ của mình?” Người biểu diễn rắn đỏ mặt tía tai nói: “Bởi vì ta là kẻ đã thả rắn trong cung của Vệ Nguyên Quân cắn chết công tử Nộ Khiên, có lẽ Vệ Nguyên Quân giờ đang sai thích khách đến các nước chư hầu truy bắt ta!”
Thì ra vụ án mạng mà dân chúng đang bàn tán xôn xao xảy ra ngay chốn hoàng cung lại do người biểu diễn rắn thâm trầm ít nói đang đứng trước mặt chàng đây gây ra. Lã Bất Vi hỏi: “Huynh và Vệ Nguyên Quân có thù oán gì?” Người biểu diễn rắn nói:”Kể ra thì dài lắm! Công tử có biết cũng chẳng để làm gì! Lời của bậc quân vương mới đáng giá nghìn vàng, quân vương đâu có thể là kẻ gian xảo, vô đạo, cạn nghĩa được! Tôi có một bảo vật, có thể sẽ giúp ích cho việc buôn bán của công tử. Ớ phía tây bắc nước Tề có một thái ấp nhỏ, nhà tôi ở đó. Trong vườn tử có một cây thân cong, dưới cây này có chôn bảo vật đó, công tử hãy đi đào lấy nó”. Người biểu diễn rắn nói xong, vòng tay chào từ biệt Lã Bất Vi. Lã Bất Vi lưu luyến rơi lệ hỏi: “Đại huynh đi thế này, chẳng biết về phương nào, huynh đệ còn có cơ hội gặp lại không?” Người biểu diễn rắn cảm động mà rằng: “Bốn bể là nhà, giang hồ phiêu bạt. Bao giờ được gặp lại nhau, còn phải xem chúng ta có duyên phận không đã!” Lã Bất Vi tiễn người biểu diễn rắn ra cửa lữ điếm, nhìn theo cái bóng đơn độc cho đến khi đã chìm vào dòng người qua lại mới quay gót về phòng. Lòng chàng chợt cảm thấy hơi hối hận, nếu chàng không cố tình căn vặn tên họ thân thế của người biểu diễn rắn thì anh ta hẳn sẽ không bất đắc dĩ mà nói chuyện thả rắn cắn chết công tử Nộ Khiên. Có lẽ anh ta thấy hối hận vì đã nói ra, sợ bị sát hại, vội vàng bỏ đi. Lã Bất Vi tự quyết với lòng rằng, rồi sẽ có một ngày, chàng sẽ trở thành một thương gia ở cái thành Hàm Đan này.
Về tới nhà, Lã Bất Vi đem câu chuyện chàng mạo hiểm đi đến Hồ Đại bắc hàn làm ăn kể cho cha mẹ nghe, không quên thêm đôi ba chi tiết cho sinh động. Hai vị song thân nghe mà giật mình kinh sợ. Nghe xong, cả hai nhìn Lã Bất Vi với một ánh mắt lạ lùng. Có lẽ nào chàng trai râu ria đã mọc lởm chởm đầy mặt kia lại là con trai của họ? Đây chính là đứa con đã bất chấp hiểm nguy, đùa giỡn cái chết đến tận vùng Hồ Địa của họ đó sao? Ánh mắt hiền từ không rời khỏi khuôn mặt, niềm tự hào dâng tràn trong lòng họ: “Đây đích thực là con trai Lã Bất Vi của chúng ta rồi!” Tiếc là họ không được gặp mặt người biểu diễn rắn tốt bụng ấy.
Bảo vật của người biểu diễn rắn rốt cục là cái gì? Chắc chắn nó phải kích thích sự tò mò ghê gớm nên mới khiến cho Lã Bất Vi quyết băng ngàn dặm đường đến nơi thành ấp nước Tề. Khi đến nơi rồi, họ cảm thấy đây là một mảnh đất thần bí. Khi đã đặt chân vào vườn tử, Lã Bất Vi không lập tức chạy tới gốc cây thân cong để đào bới tìm kiếm mà đưa mắt nhìn khắp quang cảnh đổ nát, từng đống gạch ngói ngổn ngang - hậu quả cuả ngọn lửa chiến. Lã Bất Vi cảm thấy, nơi đây, khi loạn lạc chưa xảy ra, cũng là nơi ở của một gia đình giàu sang có địa vị. Giữa cảnh hoang tàn này, có mấy con chim lông cánh sặc sỡ nhìn thấy Lã Bất Vi tới liền cất giọng hót vang khắp nơi rồi bay đi. Lã Bất Vi dõi nhìn đàn chim dần bay xa, thầm nghĩ: “Chủ nhân ngôi nhà này liệu có được bình an vô sự như những con chim này không, có tìm được nơi khác nương thân không?” Nghĩ đến đây, chợt Lã Bất Vi đoán rằng, nhất định trong đó chủ nhân của ngôi nhà này có một người là người ấy!
Lã Bất Vi là người đầu tiên xắn tay áo dùng chiếc xẻng sắt sắc nhọn đào xuống lớp đất sét mềm dưới gốc cây tử thân cong, lòng chàng chợt run lên hồi hộp: một lát nữa thôi, ở đây sẽ lộ ra ngọc ngà châu báu, hay tiền đồng tiền bạc, hay là vô số tơ lụa?...
Lã Bất Vi thấy mấy người cùng đến với mình thi nhau đào bới. Lộ dưới lớp đất đầu tiên là mấy cái hộp miệng nhỏ bụng phìng to, miệng bịt bằng da thú. Lã Bất Vi bóc miếng da thú, lấy ở trong ra một quyển sách. Bên trong mấy cái hộp còn lại cũng đều là những thẻ tre. Lã Bất Vi sai người nhấc những cái hộp để sang một bên, tiếp tục đào bới sâu rộng dưới tán cây tử cành lá lưa thưa. Đất bùn ẩm ướt dưới gốc cây chất dần thành gò. Chẳng có gì ngoài những con giun đỏ hỏn. Mọi người mồ hôi đầm đìa, có người ngồi thở hổn hển.
Lã Bất Vi ngồi nghỉ tại đó, trong lòng nghĩ: “Hay là chúng ta đào không đúng chỗ?” Ông căng mắt nhìn xung quanh chỉ có chỗ này có mấy cây tử và chỉ có cây này chếch ngọn. Hay là đào chưa tới nơi? Người biểu diễn rắn nói với mình, đây là vật quý mình có thể dùng cả đời không hết, nó nhất định có giá trị rất lớn. Là vật có giá trị như vậy, ông ta càng không thể chôn một cách qua loa đại khái được. Huống hồ, ở đây lại không có người canh giữ, nên phải chôn thật sâu. Tục ngữ nói, đào sâu ba thốn, bây giờ cũng không còn kém bao nhiêu nữa! Nghĩ đến đây, Lã Bất Vi lại ra lệnh cho mọi người đào tiếp. Càng đào xuống dưới, lượng nước trong đất càng lớn, giày cũng bị nước ướt sũng. Đào một chập nữa, chân của mọi người đều sũng dưới bùn đất. Nhìn thấy đất bùn đen nhão, Lã Bất Vi nghĩ: người biểu diễn rắn này có lừa dối mình không? Xem anh ta xương cốt cứng cỏi, mi mắt ngay ngắn. Không thể giảo quyệt đưa mình chui vào bẫy. Anh ta có thể hứng lên mà nói vậy thôi, lấy câu chuyện làm quà. Hai người không quen biết gặp nhau, người ta dựa vào cái gì mà tặng những thứ quý giá cho mình.
Lã Bất Vi nghĩ đi nghĩ lại, cho rằng người biểu diễn rắn chỉ thuận miệng nói ra mà thôi. Ông nhìn những người phía trước mình mẩy đầy đất và mồ hôi, giống như những con rắn vừa chui ở trong hang ra, bị người biểu diễn rắn làm trò chơi.
Lã Bất Vi nghĩ đến đây, vung tay nói: “Đừng đào nữa”. Mấy người từ trong hố đất sâu rộng mệt mỏi chui lên. Chàng bảo mọi người nghỉ ngơi một lát, sau đó về Bộc Dương. Lã Bất Vi ngồi đó hết sức chán ngán, thò tay vào trong hộp lấy ra một tấm thẻ tre tiện tay lật xem, giở đi giở lại. Lã Bất Vi như bừng tỉnh: “Người biểu diễn rắn nói muốn tặng mình vật quý vô giá dùng cả đời không hết, chính là bộ sách này đây!”
Bộ sách này có tên là “Kế Nhiên”. Lã Bất Vi nhớ khi còn đi học nghe thầy giáo giảng qua. Kế Nhiên… bảy thiên, Phạm Lãi mới dùng năm thiên đã khiến cho người nước Việt hưng thịnh, xưng bá Trung Nguyên. Sau này Phạm Lãi từ quan đi buôn, vận dụng sách “Kế Nhiên” trở thành người giàu có ức triệu. Mãi về sau này, Lã Bất Vi hết lòng hâm mộ quyển sách này, nhưng chưa được đọc qua. Không ngờ, hôm nay vô tình lại được nó ở đây.
Người soạn sách “Kế Nhiên” chính là Kế Nhiên trong “Ý LÂM” của Mã Thông viết: Kế Nhiên, người Khâu Bồ Thượng đất Thái, họ Tân Thị, tự văn Tử, vốn là công tử nước Tấn. Sau nam du xuống nước Việt, Phạm Lãi theo học. “Kế Nhiên” là một bộ trước tác bao quát muôn vật, kế sách dân giàu nước mạnh. Tư Mã Thiên trong “Sử Ký Hoá Thực Liệt Truyện” viết: Trước kia Việt vương Câu Tiễn bị khốn trên núi Hội Kê mới sử dụng Phạm Lãi, Kế Nhiên. Kế Nhiên nói: “Biết sẽ đánh nhau thì phải chuẩn bị chiến tranh, biết mùa vụ của hàng hoá và nhu cầu của mọi người mới được coi là biết hàng hoá. Nắm vững quan hệ giữa mùa vụ với nhu cầu, tình hình cung cấp và nhu cầu hàng hoá trong thiên hạ thì có thể thấy được rõ ràng. Năm ở hành “Kim” thì được mùa, ở hành “Thuỷ” thì mất mùa, ở hành “Mộc” sẽ mất mùa, khó khăn, ở hành “Hỏa” sẽ khô hạn. Khi trời hạn thì phải chuẩn bị thuyền, khi ngập lụt phải lo chuẩn bị xe. Đây là nắm vững đạo biến hoá của vạn vật. Thông thường cứ sáu năm một lần được mùa, sáu năm một lần hạn hán, mười hai năm có nạn đói lớn. Thóc gạo bán ra mỗi đấu giá hai mươi tiền, nông dân chịu thiệt; mỗi đấu giá chín mươi tiền, người làm nghề thủ công, buôn bán sẽ chịu thiệt. Người làm nghề công thương bị tổn thất, ruộng sẽ bỏ hoang, không ai đi khai khẩn. Do đó giá ngũ cốc cao nhất cũng không được quá tám mươi tiền, thấp nhất không thể dưới ba mươi tiền, như vậy công, nông, thương đều có lợi. Giá ngũ cốc bán ra cũng có sự điều chỉnh với giá các mặt hàng khác. Thu thuế chặt chẽ và cung cấp thị trường đều không thể thiếu. Đây là đạo lý trị quốc. Ngay như tích luỹ hàng hoá, cần phải tích trữ chắc chắn, có thể để được lâu dài, để tiêu thụ, mới không lo lỗ vốn. Trong buôn bán, hàng hoá dễ hư hỏng thì không nên tích trữ chờ giá. Nghiên cứu hàng hoá dư thừa hay thiếu thốn thì biết được xu hướng giá cả của hàng hoá. Giá cao đến đỉnh điểm thì sẽ hạ, giá thấp đến kịch điểm thì sẽ tăng. Khi giá cả tăng đến điểm cao nhất thì phải đem hàng hoá tích trữ ra bán ngay, khi giá hành thấp nhất thì phải nhanh chóng thu mua vào. Phải để cho đồng tiền chu chuyển giống như dòng nước chảy không ngừng.” Việt Vương Câu Tiễn theo sách lược của Kế Nhiên thực thi trong mười năm, đất nước cường thịnh, dùng tiền bạc đi mua quân sĩ, các chiến sĩ xung phong lâm trận, không sợ tên đạn, giống như khi khát muốn uống nước, Việt Vương rút cục đã báo được thù, tiêu diệt nước Ngô hùng mạnh. Sau đó lại dẫn quân lên phía bắc vào Trung Nguyên, thị uy chư hầu, xưng là một trong ngũ bá thời Xuân Thu.
Sau khi Phạm Lãi giúp nước Việt rửa sạch mối nhục ở núi Hội Khê, thở dài nói: “Sách lược của Kế Nhiên có bảy điều, nước Việt mới dùng năm điều đã báo được thù. Sách lược đó trong trị quốc rất hữu hiệu, ta phải dùng nó trị gia”. Vậy là làm một chiếc thuyền nhỏ vượt sông lớn, thay tên đổi họ. Đến nước Tề, tự gọi là: “Xích Di Từ Bì”; đến đào ấp gọi là “Chu Công”. Chu Công cho rằng đào ấp là trung tâm của thiên hạ, thông với các nước chư hầu, là yếu địa trong giao dịch hàng hoá, ông liền đặt mua sản nghiệp, tích trữ hàng hoá, tuỳ cơ ứng biến, không khắt khe với mọi người - Sở dĩ giỏi về kinh doanh sản nghiệp, biết dùng người tài, lại nắm vững thời cơ. Trong mười chín năm, ba lần kiếm được cả ngàn vàng, hai lần phân tán tài sản cho bạn bè khó Khăn và các huynh đệ ở xa. Đây chính là khi giàu có thì thực thi ân đức, sau khi Phạm Lãi già yếu, giao cho con cháu nắm giữ cơ nghiệp, con cháu kế thừa sự nghiệp của ông, không ngừng phát đạt, cho tới khi già yếu lên tới triệu lạng vàng. Do đó, khi nói đến phú hào, mọi người đều nhắc đến Chu Công.
Lã Bất Vi như vật được chi bảo, bê bộ “Kế Nhiên” đã đem đến cho ông biết bao sự tin tưởng và bí quyết về Bồ Nương. Sự vui sướng của thành công ban đầu đã đem đến cho vị thương nhân trẻ tuổi lần đầu bước chân vào sự sinh nhai mạo hiểm một sự phấn khích và cổ vũ to lớn.
Lã Bất Vi mong muốn được gặp Hoàng Phủ Kiều, kể cho người con gái đã khiến ông xao xuyến từ lâu này quá trình buôn ngựa mang đầy màu sắc thần bí, kể về người biểu diễn rắn đối với ông ân trọng như núi nhưng bây giờ không biết ở đâu, lại cho nàng xem bộ sách dày kể những chuyện về buôn bán này, cuối cùng sẽ trao tặng nàng những vàng bạc tế nhuyễn đã mua cho nàng ở Hàm Đan. Hoàng Phủ Kiều sẽ đưa ánh mắt say sưa, đầy vẻ phấn khích nhìn mình, và không ngừng kêu lên: “Chà, nguy hiểm thế!”… Khi nàng trông thấy những món quà hậu hĩnh mà chàng mang về, nàng sẽ càng vui sướng và…
Nghĩ tới những điều này, Lã Bất Vi thấy trái tim mình rạo rực. Chỉ có điều chàng muốn những điều này sẽ diễn ra tại nhà mình. Chàng nghĩ: hay là mời Hoàng Phủ cô nương đến nhà, vừa thân mật lại thuận tiện, như vậy hai người sẽ không có cảm giác không tự nhiên thoải mái như ở nhà Phùng Quân Uý. Chàng có thể khua chân múa tay, có thể thoải mái bộc bạch…
Lã Bất Vi ôm ấp giấc mộng đẹp này trong suốt lúc đi dạo trong buổi chiều tà. Lã Bất Vi nhìn lên nền trời phía tây rộng lớn, những đám mây hình thù kỳ lạ, nhiều màu sắc, có cả hình long li quy phượng. Lã Bất Vi phấn chấn, rảo bước nhanh hơn trong ngõ nhỏ đang nhập nhoạng tối.
Đã có kế sách để làm giàu, hơn lúc nào hết Lã Bất Vi càng khao khát thứ tình cảm ngọt ngào với một người con gái.
Lã Bất Vi cùng Hoàng Phủ Kiều vai kề vai thong dong bước bên nhau. Hoàng Phủ Kiều hôm nay trang điểm rất kỹ lưỡng, hương thơm từ nàng toả ra khiến Lã Bất Vi thấy lòng xao xuyến, mơ màng. Chưa bao giờ chàng có cảm giác gần gũi với một người con gái như thế này, gần đến mức chàng cảm nhận được cả hơi thở lẫn nhịp tim của nàng.
Bất Vi lắng nghe Hoàng Phủ Kiều nói, chàng cảm nhận được sự lo âu tận đáy lòng qua giọng nói run rẩy của nàng.
“Lần này chàng đi biệt hơn hai mươi ngày, thiếp quả vô cùng lo lắng”
“Ta và người biểu diễn rắn ấy đều cưỡi ngựa, nếu đi bộ thì phải mất đến một năm rưỡi ấy chứ”.
“Gặp bọn Hung nô ấy, chàng có sợ không?”
“Sợ chứ, bọn chúng kẻ nào cũng cao to vạm vỡ, tanh hôi khủng khiếp. Khi ta và gã thích khách vào được hang ổ của Hữu Cốc Lãi Vương, ta thấy quân hung nô kẻ nào cũng dao gươm sáng loáng, mắt mũi trợn trừng. Người bình thường trông thấy ắt phải sợ đến hồn bay phách lạc, chẳng khác gì nơi hang hùm miệng cọp! Nhưng ta vẫn bình thản, không chút kinh hãi, đường hoàng tự tin tranh luận với chúng, đối đáp sắc sảo. Sau cùng, tất cả bọn chúng đều tròn mắt há miệng, ngoan ngoãn lặng im nghe ta nói. Lã Bất Vi cảm thấy những lời khoa trương tự mãn này của chàng, nói được cho Hoàng Phủ Kiều nghe, chàng thật hạnh phúc biết bao! Ánh trăng như dát bạc soi rọi bóng chàng và nàng bên nhau trên con đường mờ ảo.
Bước chân vào sau cánh cửa nhà mờ tối, Lã Bất Vi chợt cất giọng run run khẽ gọi “Hoàng Phủ cô nương”! Chàng biết, ngay lúc này và chính tại đây, tất cả đã chín muồi đủ để Hoàng Phủ Kiều đáp lại tấm tình cảm mà chàng sẽ biểu lộ với nàng. Và quả vậy, Phủ Kiều lặng lẽ quay nghiêng sang phía Bất Vi. Chàng biết, giờ đây, đôi tay chàng đang sắp đón đợi một niềm hạnh phúc.
Bất Vi giang tay ôm Hoàng Phủ Kiều vào lòng và cảm thấy bờ môi mình khao khát. Gương mặt Hoàng Phủ Kiều, từ sống mũi, nét môi đều nổi bật sáng rõ dưới ánh trăng. Bất Vi không kìm nổi lòng mình, áp khuôn mặt thô ráp bởi những sợi râu vào mặt Hoàng Phủ Kiều và đặt lên môi nàng một nụ hôn. Hai đôi môi nồng nàn gắn chặt vào nhau. Họ say đắm trong nụ hôn đầu…
Ánh đèn dầu soi tỏ tất cả căn phòng. Lã Bất Vi sau khi đã trấn tĩnh lại chậm rãi kể cho Hoàng Phủ Kiều nghe về quãng thời gian mà chàng đi buôn lụa kiểu “lũng đoạn” bất chấp bao khó khăn cực nhọc. Và đương nhiên, đối với Lã Bất Vi, anh chàng đã khổ luyện với văn chương thơ phú mười năm thì thêm thắt đôi lời khoa trương cho câu chuyện của mình thì không khó. Lã Bất Vi thấy Hoàng Phủ Kiều chăm chú lắng nghe, mắt mở to không chớp. Đến đoạn chàng đi tới vườn tử ở một thành ấp nghèo nọ, Bất Vi chợt cảm thấy dường như trống ngực Hoàng Phủ Kiều bỗng đập dồn dập, rồi nàng bật khóc, nức nở thành tiếng.
Lã Bất Vi ngạc nhiên, im bặt hỏi Phủ Kiều: “Hoàng Phủ cô nương, có chuyện gì vậy?”
Hoàng Phủ Kiều đứng dậy, bước tới bên cuốn sách “kế nhiên” đang mở, tay khẽ khàng vuốt nhẹ từng mặt trúc trơn láng, gọi: “Đại ca ơi, đại ca ơi!”
Lã Bất Vi càng kinh ngạc không hiểu, hỏi: “Đại ca? Ai là đại ca của nàng?”
Hoàng Phủ Kiều đáp: “Chính là người biểu diễn rắn ấy”
Lã Bất Vi bán tín bán nghi hỏi: “Anh ta đích thực là đại ca của nàng ư?”
Hoàng Phủ Kiều thổn thức kể: “Cái vườn tử nơi thành ấp nghèo nàn ấy chính là nhà thiếp. Thiếp còn nhớ ngày nhỏ thường cùng đại ca Hoàng Tử Nghĩa chơi đùa dưới cây tử thần cong ấy. Có một lần, anh ấy nhanh thoăn thoắt như khỉ leo lên trốn trên cây làm thiếp sợ phát khóc tìm kiếm khắp nơi… Bộ “kế nhiên” này là do một người bạn tên Tư Không Mã tặng đại ca thiếp bởi lẽ anh ấy vốn là người không ham hố chuyện buôn bán làm giàu mà chỉ thích đao thương kiếm thuật, dạy chó luyện rắn…
Lã Bất Vi áy náy: “Giá mà anh nàng không giấu tên giấu họ thì ta đã sớm giúp được hai người đoàn tụ rồi”.
Hoàng Phủ Kiều đáp: “Thiếp nghĩ, đại ca thiếp hẳn sẽ đi tìm Vệ Nguyên Quân báo thủ rửa hận, phanh xác, băm thây Nguyên Quần, con trai của hắn, thê thiếp của hắn làm trăm mảnh! Chúng tôi là gia tộc Hoàng Phủ, sống ở nước Tấn, ở cả nước Vệ, đại ca e liên luỵ đến họ và liên luỵ đến cả thiếp nữa!”. Lã Bất Vi hiểu ra gật đầu, cảm thấy thương cho hoàn cảnh của hai anh em Hoàng Phủ Kiều.
Hoàng Phủ Kiều hỏi: “Khi chia tay với chàng ở Hàm Đa, đại ca không nói sẽ đi đâu ư?”. Lã Bất Vi đáp: “Ta cũng hỏi nhưng anh ấy chỉ bảo, bốn bể là nhà, phiêu bạt giang hồ”. “Thiếp phải đi tìm đại ca của thiếp” Hoàng Phủ Kiều quả quyết.
Lã Bất Vi phát hiện, trong đôi mắt tuyệt đẹp của Hoàng Phủ Kiều ánh lên tia nhìn sắc nhọn mà chàng chưa từng bắt gặp.
Lại một lần nữa, Lã Bất Vi lang thang giữa thành Hàm Đan tấp nập người xe để tìm kiếm Hoàng Phủ Kiều, những ngọn lạnh buốt làm tuyết trắng bay đầy trời mang đến cho đô thành của nước Triệu một mùa đông đáng nhớ.
Khi mới nghe Hoàng Phủ Kiều nói: “Thiếp nhất định phải đi tìm đại ca của thiếp!” Lã Bất Vi cho rằng đó chỉ là lời nói gío bay của một nữ nhi dễ xúc động, đâu ngờ Hoàng Phủ Kiều lại nói sao làm vậy. Hôm đó là buổi chiều sau khi Hoàng Phủ Kiều đã rời nhà chàng đi được 3 ngày, có một người nô bộc của Phùng Quân Uý hớt hải đến tìm chàng. Phùng Quân Uý gửi cho Lã Bất Vi một mảnh lụa bạc, trên đó là dòng chữ nhỏ nhắn nắn nót: “Con đi Hàm Đan đây”. Phùng Quân Uý vừa giận vừa thương người con gái nuôi đã ra đi mà không một lời từ biệt. Lã Bất Vi miệng an ủi Phùng Quân Uý nhưng trong lòng chàng đang nghĩ đến cảnh người con gái một thân một mình lang thang trên từng con phố nhỏ nơi đô thành rộng lớn xa lạ với bao mối hiểm nguy.
Lã Bất Vi biết rõ khắp đường phố ngõ ngách ở cái thành Hàm Đan đất rộng người đông này để hỏi một cô gái tên là Hoàng Phủ Kiều thì chẳng khác gì mò kim đáy bể. Mấy ngày trời đội mưa đội tuyết tìm kiếm mà dã tràng xe cát. Chàng vừa cảm phục ý chí người con gái trọng tình anh em, vừa giận hành động bướng bỉnh điên rồ của nàng khiến chàng phải lao tâm khổ tứ như thế này.
Có điều, Lã Bất Vi hoàn toàn chẳng thể ngờ rằng, chính bước chân tìm kiếm của chàng in dấu trên con đường phủ tuyết trắng đang dẫn chàng đến với một mảnh đất mới cho cái nghiệp làm thương nhân của chàng.
Khi ta men theo dòng chảy thời gian, cùng bước chân của Lã Bất Vi trên con đường tìm kiếm kế sinh nhai, tìm kiếm những mốc đáng chú ý của lịch sử, ta rút ra kết luận Lã Bất Vi là kiểu thương nhân luân có khả năng có phát hiện mới cho công việc buôn bán của mình.
Khi Lã Bất Vi đang ở Hàm Đan thì nước Triệu xảy ra một sự kiện chính trị quan trọng. Chính sự kiện này đã khiến cho Bất Vi hiểu được thế nào là món lời kếch sù do một viên ngọc nhỏ đem lại. Sự kiện xảy ra ở nước Triệu chính là cuộc đấu tranh ngoại giao xung quanh viên ngọc - ngọc bích họ Hoà.
Về lai lịch viên ngọc bích họ Hoà, “Hàn Phi Tử, Hoà Thị Bích”. Có viết như sau: trước kia có người nước Sở, tên là Biện Hoà, nhặt được ở núi Kim Sơn một viên ngọc quý vẫn chưa mài rũa mang hiến cho Sở Lệ Vương, Sở Lệ Vương sai người thợ ngọc xem thử, thợ ngọc nói là đá. Sở Vương cho rằng, Biện Hoà mang ngọc giả đến lừa dối mình, phán xử Biện Hoà tội hình, chặt của anh ta chân phải. Sau khi Lệ Vương chết, Sở Vũ Vương kế vị, Biện Hoà lại đem hiến viên ngọc, Vũ Vương sai thợ ngọc kiểm tra, thợ ngọc lại nói đây là một hòn đá, Vũ Vương lại chặt chân trái của Biện Hoà. Sau khi Sở Vũ Vương chết, Sở Văn Vương kế vị, Biện Hoà không dám mang ngọc đi tặng nữa mà ôm viên ngọc khóc ở núi Kinh Sơn ba ngày ba đêm, chảy khô cả nước mắt, chảy cả ra máu. Sở Văn Vương nghe được tin này cho người đến hỏi tại sao lại khóc thống thiết như vậy? Biện Hoà trả lời: “Tôi không phải bị chặt mất hai chân mà đau buồn. Tôi đau buồn vì tôi hiến ngọc cho đại vương rành rành là một viên ngọc quý, lại nói nó là đá; rõ ràng là kẻ trung thần thì lại nói là lừa dối. Đây là cái cớ vì sao tôi đau buồn!”
Vậy là Sở Văn Vương đem cho người thợ mài ngọc rũa, quả là một viên bảo ngọc màu sắc loá mắt, trên đời chỉ có một. Gọi nó là Ngọc Bích họ Hoà.
Thấm thoắt thoi đưa, đến năm 283 trước CN, Ngọc bích họ Hoà đã trở thành báu vật trong tay Huệ Văn Vương nước Triệu. Các nước chư hầu và sứ thần của họ khi đến Hàm Đan đều yêu cầu Huệ Văn Vương mang Ngọc Bích họ Hoà cho họ xem, lấy làm no mắt. Phàm những ai đã xem qua viên ngọc này đều không ngớt lời ca tụng.
Khi đó nước Tần đã trở thành một trong thất hùng thời Chiến Quốc. Tần Chiêu Tương Vương rất ao ước có được Ngọc Bích họ Hoà, vì vậy ông ta phái sứ giả mang quốc thư sang bái kiến Huệ Văn Vương nước Triệu, nói muốn đổi mười năm thành trì lấy viên ngọc đó. Huệ Văn Vương xem xong bức thư bèn cùng đại tướng quân anh dũng thiện chiến Liêm Pha cùng các đại thần bàn bạc, muốn đem Ngọc Bích họ Hoà mang sang nước Tần nhưng lại sợ Tần Vương bội tín không giao mười năm thành trì, sẽ bị lừa; nếu không đem viên ngọc sang Tần lại sợ bị Tần Vương đánh. Huệ Văn Vương cùng bá quan văn võ bàn bạc đi bàn bạc lại nhưng vẫn không đưa ra được một kế sách vẹn toàn. Trong khi đó, việc đồng ý hay không đồng ý đem viên ngọc đổi mười năm thành trì nước Tần cũng phải trả lời sớm. Chọn đi chọn lại cũng không tìm ra ai đi sứ nước Tần. Huệ Văn Vương vô cùng lo lắng. Chính lúc đó, quan Tổng quản Diệu Hiền tiến cử một người với Huệ Văn Vương: “Môn khách tại hạ có Lạn Tương Như trí dũng song toàn, tôi thấy để người đó đi sứ nước Tần là hợp lý nhất”. Huệ Văn Vương bèn cho triệu kiến Lạn Tương Như tại cung tấu Dương, Huệ Văn Vương nói: “Tần Vương muốn đổi viên Ngọc Bích họ Hoà lấy mười năm thành trì, ông thấy thế nào?”
Lạn Tương Như thẳng thắn nói: “Nước Tần mạnh, nước Triệu yếu. Chúng ta không thể không đồng ý”. Huệ Văn Vương lo lắng hỏi: “Điều quả nhân lo lắng là nếu Tần Vương có được ngọc quý của quả nhân rồi lại không giao thành trì cho chúng ta nữa, lúc đó làm thế nào?”.
Lạn Tương Như đã có chủ định sẵn nói: “Nước Tần dùng mười năm thành trì đổi lấy viên Ngọc Bích họ Hoà của nước Triệu, Triệu không đồng ý tức là Triệu đuối lý, Triệu đem ngọc bích sang Tần, Tần không trao mười năm thành trì cho Triệu, vậy thì nước Tần đuối lý. Hai cái này cái nào hay hơn? Tôi thấy đem viên Ngọc Bích họ Hoà sang nước Tần vẫn là thượng sách. Tôi phụng chỉ đi sứ, nếu quả thật nước Tần đem mười năm thành trì trả cho Triệu, tôi sẽ để viên ngọc lại Tần và đem bản đồ mười năm thành trì về; nếu Tần không giao mười năm thành trì, tôi sẽ đem viên ngọc về nguyên vẹn”.
Huệ Văn Vương thấy Lạn Tương Như nói năng trôi chảy, có chủ kiến liền phái ông làm sứ thần mang ngọc đi sứ nước Tần. Tần Chiêu Vương triệu kiến Lạn Tương Như trong Chương Đài, Lạn Tương Như mang Ngọc Bích họ Hoà trình lên, Chiêu Tương Vương nhận lấy viên ngọc yêu thích không muốn rời tay, ngắm đi ngắm lại, rất vui sướng. Sau đó đưa cho bọn thị tì, cung nữ và ái thiếp xem. Mọi người đều vô cùng tán thưởng, đồng loạt chúc mừng TầnVương.
Một mình Lạn Tương Như bị bỏ quên dưới điện, đứng đợi rất lâu không thấy Tần Vương nhắc tới chuyện giao cắt mười năm thành trì. Lạn Tương Như nghĩ: “Tần Vương quả nhiên muốn chiếm đoạt viên ngọc họ Hoà này”. Ông bèn nói với Tần Vương: “Trên viên ngọc có một chút vết, xin để tôi chỉ cho Đại Vương xem”.
Tần Chiêu Vương đem viên ngọc đưa cho Lạn Tương Như nói: “Viên ngọc hoàn mĩ như thế này, sao quả nhân không thấy vết nứt của nó?”
Lạn Tương Như nắm chặt viên ngọc, lui lại mấy bước, sát vào cây cột trong cung, phẫn nộ nói với Tần Vương: “Đại Vương muốn có được viên ngọc quý này, sai người đưa thư cho Triệu Vương tôi, Triệu Vương triệu tập bá quan văn võ bàn bạc, mọi người đều nói: “Nước Tần lòng tham vô đáy, dùng thế mạnh bức người, muốn dùng mấy lời nói suông để lừa bịp nước Triệu lấy viên ngọc”. Vậy nên sau khi bàn bạc không muốn đem viên ngọc này đi. Nhưng tôi cho rằng, dân thường khi giao kết với nhau còn biết giữ tín nghĩa, không đến nỗi lừa dối nhau, huống hồ đường đường là quân vương nước lớn! Và lại vì một viên ngọc mà để mất hoà khí với nước Tần, như thế không tốt. Triệu Vương nghe lời tôi, trai giới năm ngày, trên triều đình đích thân giao quốc thư cho tôi, sai tôi mang ngọc bích sang Tần. Đây là Triệu Vương tôn trọng uy vong của đại vương, biểu thị đặc biệt tôn kính! Giờ tôi đã đến quý quốc, Đại Vương không tiếp kiến tôi tại triều đình mà ở cung thất tầm thường, lễ tiết đơn giản, thái độ ngạo mạn còn đưa ngọc cho bọn mỹ nhân làm trò đùa với tôi. Tôi thấy ý Đại Vương không muốn giao cắt mười năm hành trì, muốn đoạt không lấy viên ngọc. Nếu Đại Vương nhất định muốn bức ép tôi, tôi tự nguyện mang cả đầu mình lẫn viên ngọc đập nát trước cây cột này”. Nói xong, Lạn Tương Như bê viên ngọc, nghiêng mắt nhìn cây cột, nộ khí bừng bừng, dường như sắp lao vào cây cột.
Tần Chiêu Tương Vương vô cùng hoảng sợ, sợ rằng sẽ vỡ mất viên ngọc quý vội tạ tội với Lạn Tương Như, khuyên ông không nên làm như vậy. Lại giả nhân giả nghĩa sai người mang bản đồ đến, chỉ cho Lạn Tương Như xem, mười năm toà thành từ chỗ này tới chỗ này sẽ trả về Triệu. Lạn Tương Như biết Tần Vương lòng dạ gian trá, ông nói với vua Tần: “Ngọc Bích họ Hoà là vật báu

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Bách Gia Chư Tử    Thu Oct 31, 2013 12:42 pm

Phần Bốn  
* 
Lược khảo các tác phẩm của Bách Gia Chư Tử
 
Phần lược khảo về các tác phẩm của Chư Tử, đa số tài liệu chúng tôi đều căn cứ theo phần Chư Tử lược trong sách Hán thơ Nghệ Văn chí làm chủ, kế đó là phần Chư Tử trong sách Hán chí.
Các tác phẩm của Chư Tử, có quyển còn quyển mất, quyển còn trọn vẹn hay quyển mất mát một phần, hay có quyển là ngụy thơ v.v...
Trong phần đầu của quyển sách nầy, chúng tôi đã viết : Khổng Tử là khai tổ của Chư Tử, và phong trào tư nhơn sáng tác cũng bắt đầu từ nhóm đệ tử và hậu học ghi chép những lời nói, việc làm của Khổng Tử thành pho Luận Ngữ, vì thế pho Luận Ngữ được kể là quyển sách đầu tiên trong các tác phẩm của Bách Gia Chư Tử.
Vì lý do trên, trong phần khảo lược nầy, chúng tôi cũng bắt đầu bằng pho Luận Ngữ, khác hẵn với trật tự trong pho Hán chí, phần Chư Tử lược.
Pho Luận Ngữ là pho sách được kể là đầu tiên trong Chư Tử, nhưng trong Hán Chí, pho Luận Ngữ lại bị sắp sau nhiều pho sách khác, tại sao lại có chuyện không hợp lý như thế ?
Là vì Chư Tử thời Châu tần, đa số đều có mục đích thay đổi chế độ cứu đời, và thói thường người đời hay quí trọng thời xưa mà xem thường thời nay, thế nên có người dùng tên Thần Nông, Hoàng Đế, đề lên quyển sách mình để cho người đời dễ tin tưởng hơn, y như lời Hoài Nam Tử đã nói : " Mượn danh người đời xưa để thay đổi chế độ ".
Vì lẽ đó mà Khổng Tử, Mặc Tử đều nói mình theo Nghiêu, Thuấn, mà chủ trương của mỗi người lại khác nhau.
Khổng Tử nói mình theo Nghiêu - Thuấn, Lão Tử, Trang Tử ngợi khen thời thượng cổ là đời chí đức, Mặc Tử thuật lời của Hạ, Võ, Hứa Hành giả thác sách của mình là lời của Thần Nông, đều cùng một ý ấy. Vì thế, các tác phẩm của Chư Tử cũng thường thường giả thác của người xưa mà ẩn danh mình.
Sách Thần Nông, Hoàng Đế, Ban Cố đã tìm hiểu và chú thích là do người đời sau viết rồi mượn danh 2 ông, cho đến quyển Lão Tử, mà người đời ai ai cũng thích, là cũng do người đời sau gom góp, lượm lặt những câu cách ngôn hay biên chép lại : Đây là mượn danh của một người trong truyền thuyết, không có thật, để đề tên quyển sách mình...
Kế đến là những người như Quản Trọng, Án Anh, Thương Quân, đều là những người cầm giềng mối chánh trị trong nước, với những chủ trương mọi ngành, mọi mặt để lo cho quốc tế, dân sinh, người đời sau thu nhặt những chủ trương ấy để viết thành sách, đó là loại sách biên soạn lại chủ trương của một người.
Pho Luận Ngữ cũng là một loại tác phẩm nằm trong những loại đã kể trên.
Sách Luận Ngữ là do đệ tử và hậu học, gom góp lại những lời nói và việc làm của thầy để viết ra và mở đầu cho một phong trào trước tác càng ngày càng thạnh thêm.
Kế đó là các pho Mặc Tử, Mạnh Tử, Trang Tử, tiếp tục ra đời. Pho Mạnh Tử là phỏng theo tích chất của pho Luận Ngữ, còn các pho Mặc Tử và Trang Tử thì do người đời sau thêm vô rất nhiều, mà không phải do chính tác giả đã viết.
Về pho Tuân Tử thì đại bộ phận là do Tuân Tử viết, quyển Hàn Phi Tử cũng chính tay tác giả viết ra, cũng có loại sách do Môn khách viết mà đề tên người chủ, như các quyển Lã thị Xuân Thu và Hoài Nam Tử.
Cũng có loại sách, ban đầu là từng bài rời, rồi người đời sau gom lại thành sách, giống như những sách sau đời Đông Hán, như các quyển sách Triệu Thố, Đổng Trọng Thư.
Từ sách Luận Ngữ trở đi cho đến các sách Chư Tử đều không ngoài những trường hợp đã kể trên.
Rồi cũng có loại sách, trước kia không bao giờ có, nhưng sau nầy có người ngụy tạo như loại sách Quan Doãn Tử, rồi cũng có loại sách bổn chánh đã mất, rồi người đời sau gom góp lại viết thêm vào để thành nguyên một sách, như quyển Liệt Tử mà chúng ta thấy ngày nay.
*
Pho Luận Ngữ, tuy có ghi những việc làm, thái độ và sanh hoạt của Khổng Tử, nhưng phần ghi về những lời nói của ông là phần quan trọng hơn hết.
Thể thức ghi lời nói ở đây rất khác hẳn với thể thức trong pho Kinh Thơ. Cách ghi lời nói trong pho Luận Ngữ chỉ là ghi những lời rất ngắn ngủi, không phiền toái, ghi thẳng những lời nghe thấy, không trau tria, nhuận sắc, cho nên có những điểm đặc sắc là giản dị, chất phác, đó là quyển sách ghi lời nói cổ nhứt trong phần Chư Tử.
Mạnh Tử phỏng theo Luận Ngữ, ghi toàn lời nói của Mạnh Tử, mà không xen vào lời nói của người khác, nhưng lại có những thiên dài, có cách ví dụ, ngụ ngôn, giả thiết, bàn ngược, bàn xuôi, cho nên lời văn rộng rãi, khoáng đạt, khí văn hùng hồn, phong cách khác hẳn với pho Luận Ngữ, nhưng thật ra trong pho Mạnh Tử cũng có những đoạn văn thật ngắn, thật gọn y như trong Luận Ngữ.
Trong sách Mặc Tử và Trang Tử thì khác hẳn, không thấy có những đoạn văn, hay những chương ngắn ngủi, mà văn lại dài, nhiều lời ví dụ, ngụ ngôn.
Đến Tuân Tử, Hàn Phi Tử, thì căn cứ theo đề mà luận thành trường thiên. Trong sách Tuân Tử cũng có thể văn ghi lời nói, nhưng trong sách Hàn Phi Tử thì lại là những bài nghị luận trường thiên, ít thấy chỗ nào có lối văn ghi lời nói.
Trở lên là những đặc điểm trong văn thể của sách Chư Tử.
*
Những tiêu đề các thiên trong sách Luận Ngữ và Mạnh Tử đều dùng mấy chữ trong câu đầu hoặc câu kế đó để đặt tên, đó là những tiêu đề không có ý nghĩa gì, mục đích chỉ để phân riêng thành từng đoạn văn, chớ không thành hẳn một thiên.
Sau khi thành một thiên dài, thì lấy ý tổng quát của toàn thiên, để đặt tên cho có ý nghĩa.
Trong sách Mặc Tử và Trang Tử, những tên thiên, có khi vô nghĩa, có khi lại có ý nghĩa, trong sách Tuân Tử, cũng có những thiên có tên không có ý nghĩa, còn những thiên trong sách Hàn Phi Tử đều có những tên có ý nghĩa.
Đó là những đặc điểm về các tên trong thiên sách của Chư Tử.
*
1. Luận Ngữ.
Các sách của Chư Tử thời Tiên Tần, đa số đều do đệ tử và hậu học biên chép lại những lời nói và hành vi của thầy để thành quyển sách cho Môn phái và phong trào nầy bắt đầu từ pho Luận Ngữ của phái Nho gia, cho nên sách Luận Ngữ được kể là pho sách thứ nhứt của Chư tử.
Mạnh Tử có nói :" Sở nguyện của tôi là được học Khổng Tử ". Sách của ông cũng do môn đệ biên chép và phỏng theo lề lối của Luận Ngữ.
Sách Hán Chí ghép sách Luận Ngữ trong phần Lục Nghệ lược, và ghép Mạnh Tử trong phần Chư Tử lược, như thế là xếp loại không đúng.
Các nhà học giả thời trước khi khảo cứu về tác phẩm của Chư Tử, không đề cập đến pho Luận Ngữ, cũng vì Hán Chí đã xếp pho ấy vào phần Lục nghệ, rồi sau đó, có người lại xếp pho nầy vào loại " Kinh " như thế cũng không đúng.
Sách Luận Ngữ phải được xếp vào phần Chư Tử, như ở đầu, như thế mới đúng với tính chất của quyển sách.
*
Sách Hán Chí chép : pho Luận Ngữ hồi xưa có 21 thiên [pho tìm được trong vách nhà Khổng Tử, có 2 thiên Tử Trương].
Pho nước Tề có 22 thiên [có thêm 2 thiên : Vấn Vương, Tri Đạo]. Pho của nước Lỗ có 20 thiên.
Gọi là Luận Ngữ thời xưa, đó là pho Cổ văn Luận Ngữ, còn của nước Tề gọi là Tề Luận, của nước Lỗ gọi là Lỗ Luận đều là Kim văn Luận Ngữ.
Cổ văn, Kim văn đó là vấn đề chuyên môn của ngành Kinh học, chúng ta không đề cập ở đây, mà chỉ nghiên cứu về pho Luận Ngữ thôi.
Sách Hán Chí viết : "Luận Ngữ là những lời của Khổng Tử ứng đáp với đệ tử và người đương thời, và cả những lời của đệ tử bàn bạc với nhau và được Khổng Tử tiếp thêm vào.
Lúc đó mỗi đệ tử đều có ghi riêng, khi Phu Tử mất, môn nhơn liền gom góp, bàn luận, biên soạn lại, cho nên mới gọi là Luận Ngữ. Luận Ngữ là bàn luận thứ lớp để biên soạn.
Bộ Luận Ngữ là pho sách của Nho gia ghi chép những lời của Khổng Tử nhiều hơn hết, và đó là chủ đích chánh.
Những lời của Khổng Tử, hoặc luận về đạo đức, về việc học hành, về chánh trị, có khi là những lời cảm khái, hoặc trả lời những câu hỏi của đệ tử hoặc người đương thời.
Có khi cũng là những lời dạy bảo đệ tử, hoặc lời phê bình đệ tử, phê bình thời sự, người đương thời hay người xưa, và cũng có khi ghi những lời của đệ tử, kế đó cũng ghi những việc làm của Khổng Tử, thái độ, cách ăn mặc, sanh hoạt, làm cho chúng ta đọc qua có thể tưởng tượng được cách sống của ông như thế nào, và ông đã sống như thế, ta học với ông cũng phải sống như thế [tự nhiên là trong tinh thần, chớ không phải ngoài hình thức].
Sách Luận Ngữ cũng có ghi chép những điều nghe, thấy, đó là phương pháp trực tiếp ghi chép, thế nên lời văn ngắn mà chất phác, và nếu như trau tria, nhuận sắc lại thì bị mất chân thực, ghi chép trung thực đó là lý đương nhiên phải như thế, và đó cũng là thể văn xưa nhứt về môn ghi chép lời nói.
Về người soạn pho Luận Ngữ, trong các sách Biệt Lục của Lưu Hướng và Hán Chí của Ban Cố không thấy đề cập đến. Trong một bản Luận Ngữ xưa thì lại chép rằng do Tử Hạ và cùng một nhóm đệ tử 64 người cùng soạn, đó chỉ là lời nói đoán không có bằng chứng gì chắc chắn cả, rồi tiếp theo sau lại có rất nhiều thuyết khác nhau.
Như trong sách Kinh Điển Thích Văn Tự Lục dẫn lời Trịnh Huyền nói rằng : do Trọng Cung, Tử hạ soạn.
Sách Luận Ngữ âm nghĩa dẫn lời Trịnh Huyền viết : do Trọng Cung, Tử Du và Tử Hạ soạn.
Một học giả người Nhựt, ông Thái tể Xuân Đài, nhận xét trong Luận Ngữ, khi chép tên các đệ tử đều ghi tên tự, hoặc gọi ông tên nầy, ông tên nọ, duy trong Thượng Luận, thiên Tử Hản, thấy một điểm lạ là khi nhắc đến Tử Lao chỉ ghi có một tên " Lao " mà thôi, kế đó trong Hạ Luận, thiên Hiến Vấn, lại ghi Tử Hiến có một chữ " Hiến " mà thôi, vì thế ông nhận rằng : Thượng Luận do Cầm Lao soạn, và Hạ Luận do Nguyên Hiến soạn.
Liểu Tôn Nguyên, trong sách Luận Ngữ biện nhận rằng đệ tử của Tăng Tử là nhóm Nhạc Chánh, Tử Xuân và Tử Tự soạn, còn Châu Tử thì lại cho là Trình Tử, môn nhơn của Hữu Tử và Tăng Tử soạn.
Có một điều đáng chú ý là trong Luận Ngữ, thường có những câu lặp đi, lặp lại trùng nhau, như câu " Xảo ngôn lịnh sắc, tiễn hỉ nhơn ". Câu nầy thấy trong thiên Học Nhi và thiên Dương Hoá.
Câu " Tam niên vô cải ư phụ chi đạo, khả vị hiếu hỉ " thấy trong các thiên Học Nhi và Lý Nhơn, nhưng có khác nhau đôi chút, như thế chúng ta dám quyết đoán quyển Luận Ngữ không phải chỉ do một người soạn ra.
Hơn nữa trong Thượng Luận và Hạ Luận, văn thể, cách xưng hô đều không giống nhau, có chỗ thấy rõ ràng là ghi chép thêm vào hoặc kéo dài thêm, như vậy là pho Luận Ngữ được thêm bớt nhiều lần, trong một thời gian khá dài, chớ không phải được hoàn thành trong một khoảng thời gian nào đó.
Tăng Tử nhỏ hơn Khổng Tử 46 tuổi, Khổng Tử mất vào năm 73 tuổi, như thế thì lúc đó Tăng Tử mới có 27 tuổi, trong Luận Ngữ lại có chép lúc Tăng Tử lâm chung lại có lời dặn với Mạnh Kỉnh Tử và gọi Kỉnh Tử bằng tên Thụy...như vậy thì Mạnh Kỉnh Tử chết sau Tăng Tử.
Qua những bằng chứng trên, sách Luận Ngữ được biên soạn, ít nhứt là sau khi Khổng Tử mất 5, 6 mươi năm.
Việc biên chép không phải do một người, và biên soạn không phải xong một lần, và ai biên soạn cho đến bây giờ không tìm đâu ra chứng cớ xác đáng để quyết định, mỗi người đều có những ý kiến khác nhau, nhưng chỉ ức đoán.
Sách Hán Chí không ghi rõ tên ai biên soạn, mà chỉ viết " Các đệ tử đều có góp công ghi chép và môn nhơn gom góp lại để soạn ra ".
Nếu căn cứ theo Hán Chí, thì có những nhận xét sau đây : Đệ tử và môn đệ là khác nhau. Âu Dương Tử có nói : Đến học là đệ tử, còn học với đệ tử của Phu Tử gọi là môn nhơn.
Xét trong Luận Ngữ thì thấy là đúng, như câu : " Nhan Uyên chết, môn nhơn hậu táng ". Môn nhơn đó là đệ tử của Nhan Uyên. Thật ra thì thuyết nầy cũng chưa chắc là đúng vì lúc Nhan Uyên chết, chưa chắc là ông đã có đệ tử, và môn nhơn đây có thể là đệ tử của Khổng Tử.
Như thế thì đệ tử và môn nhơn có khác nhau không ? Theo sách Khổng Tử thế gia thì : Đệ tử là người học trò trực tiếp còn môn nhơn là học trò chung, có thể là người đến học với đệ tử, vì vậy sách Hán Chí mới ghi phân biệt.
Sách Luận Ngữ gồm 20 thiên, mỗi thiên đều dùng 2, 3 chữ đầu của câu thứ nhứt hay thứ hai để làm tiêu đề. Vì như thiên Học Nhi thì câu đầu của thiên ấy là " Học Nhi thời tập Chi ".
Hai mươi thiên của sách Luận Ngữ là : Học Nhi, Vi Chánh, Bát Dật, Lý Nhơn, Công Dã Trường, Ung Dã, Thuật Nhi, Thái Bá, Tử Hản, Hương Đảng, Tiên Tiến, Nhan Uyên, Tử Lộ, Hiến Vấn, Vệ Linh Công, Quí Thị, Dương Hoá, Vi Tử, Tử Trương và Nghiêu Viết.
Trong số 20 thiên ấy, 10 thiên đầu là Thượng thiên, trong số có 9 thiên ghi những lời nói của Khổng Tử, còn thiên thứ 10, thiên Hương Đảng thì ghi những việc làm, nếp sống và thái độ của Khổng Tử.
Kế đó, 10 thiên sau gọi là Hạ Luận, trong số có 8 thiên, ghi những lời của Khổng Tử là chánh, còn thiên thứ 9, thiên Tử Trương thì ghi những lời của đệ tử Khổng Tử, thiên thứ 10 : Nghiêu Viết chỉ có 3 chương, có nhiều điểm đáng nghi, chương đầu trong thiên nầy không phải là lời nói của Khổng Tử, mà cũng không có gì liên hệ đến Khổng Tử hay đệ tử, còn chương cuối là chương Tri mạng thì không thấy trong sách Lỗ Luận. Còn chương thứ 2 thì văn thể rất khác với Luận Ngữ, nên rất đáng nghi.
Phần Thượng Luận 10 thiên, là được biên soạn trước, cho nên mới kết luận ở thiên Hương Đảng để chấm dứt, còn phần Hạ Luận được biên soạn sau cho nên chấm dứt bằng thiên Tử Trương. Thiên Nghiêu Viết là do người đời sau, khi học Luận Ngữ viết thêm vào rồi thành ra một thiên.
Thượng Luận và Hạ Luận được biên soạn làm 2 lượt, lúc biên soạn Hạ Luận thì cách thời gian Khổng Tử mất rất xa, thế nên Thượng Luận thì thuần nhứt, còn Hạ Luận lại lộn xộn.
Dưới thời Tống, Triệu Phổ có nói : " Chỉ cần nửa pho Luận Ngữ cũng đủ trị thiên hạ ". Và nửa pho ấy tức là chỉ phần Thượng Luận.
Về phần lộn xộn trong Hạ Luận thì thấy có mấy điểm chánh như sau : cùng một việc mà lại ghi chép khác nhau, danh xưng một người mà trước sau không giống nhau, và có nhiều chỗ thêm bớt không thuần nhứt với nội dung và hình thức của pho sách.
Đại để về 10 thiên trong phần Hạ Luận, chỉ có 2 thiên Hiến Vấn và Tử Trương là có thể tin được, rồi kế đó là 2 thiên Tiên Tiến và Tử Lộ, tiếp theo là tuần tự các thiên Nhan Uyên, Vệ Linh Công, và sau cùng là thiên Vi Tử còn các thiên Quí Thị và Dương Hoá rất lộn xộn, và thiên Nghiêu Viết rất đáng nghi ngờ.
Sách Luận Ngữ, so với các cổ thơ khác, rất đáng tin, mà còn lộn xộn như thế, như vậy đọc cổ thơ quả là một chuyện rất khó khăn.
Vì thế khi đọc sách nầy, cần phải chú ý ghi chú sắp xếp lại, thứ nhứt là thấy chỗ nào đáng nghi nên ghi ra một bên để xếp vào phần phụ lục hoặc tạp thiên. Thứ hai là trong các thiên, chỗ nào ghi việc làm, thái độ hay cuộc sanh hoạt của Khổng Tử thì phải ghi riêng để chép vào thiên Hương Đảng cho hợp. Thứ ba là trong các chương, thiên ghi lời đệ tử, thì phải trích ra đem xếp vào Tử Trương cho hợp lý. Thứ tư là trong những thiên ghi lời Khổng Tử, phải xem xét nội dung của từng câu để phân loại sắp xếp, như các loại về dạy học, chánh trị, đạo đức, bình luận nhơn vật, thời sự v.v... hay là lời phê phán các đệ tử. Thứ năm là trong các thiên, soát lại các chương, nếu có chương nào đồng loại thì sắp xếp chung để so sánh.
Sau khi chỉnh lý, thì đọc một cách được dễ dàng hơn, và chừng đó chúng ta sẽ nhận được một cách rõ ràng con người của Khổng Tử với học thuyết, với ngôn luận và cá tánh của đệ tử đều rất dễ nhận thấy.
*
Từ trước đến nay, trải qua các đời Tây Hán, Tuỳ, Đường, Tống, Thanh, v.v...có rất nhiều học giả chú thích cho pho Luận Ngữ, nhưng tóm lại chỉ có bổn Luận Ngữ tập giải của Hà Án là bản xưa hơn hết, và kế đó là bản Luận Ngữ tập chú của Châu Hi là rành hơn hết, rồi tập Luận Ngữ chánh nghĩa của Lưu bảo Nam là rộng hơn hết.
Hai phái học giả của thời Hán và thời Tống, giải thích sách Luận Ngữ, mỗi phái đều có sở trường riêng, chúng ta xếp sách Luận Ngữ lên hàng đầu của tác phẩm Chư Tử, thì không nên câu nệ vào tên người chú thích của phái nào cả, mà nên tham khảo tất cả các phái với những lời chú khác nhau để châm chước, chọn cái hay, để thông suốt thêm nội dung quyển sách.
Từ lúc cuối nhà Thanh cho đến nay, các nhà học giả cũng chú tâm đến việc chú thích quyển Luận Ngữ rất nhiều, ngoài ra lại còn các bài khảo cứu bình luận đăng trên các tạp chí, nếu chịu khó tham khảo thêm thì có lẽ chúng ta sẽ thông hiểu được tất cả những đoạn khó trong sách.
Bộ phận quan trọng nhứt trong pho Luận Ngữ, cho đến ngày nay vẫn còn giá trị, đó là phần nói về đạo làm người. Chẳng những chúng ta tìm đạo lý ấy trong lời văn quyển sách, mà trong khi tìm hiểu thêm, đọc những lời giải thích, và học thuộc lòng những đoạn hay ấy, chúng ta còn phát hiện thêm những điều rất thâm thuý, nhứt là khi liên hệ với hoàn cảnh xã hội ngày nay.
Sau khi đã đọc kỹ, và nếu có thể, học thuộc lòng, rồi suy nghĩ thêm cho chín chắn, gặp trường hợp nào, hoàn cảnh nào chúng ta cũng có thể suy nghiệm để tìm cách giải quyết cho thích đáng với hoàn cảnh.
Nếu không được như thế thì cũng y như lời Châu Hi đã viết trong bài tựa khi chú thích quyển Luận Ngữ.
" Khi chưa đọc quyển Luận Ngữ thì con người như thế, rồi sau khi đọc, cũng vẫn y như vậy ", như thế thì chỉ đọc cho có đọc chớ chẳng ích lợi gì cả.
2. Sách Mạnh Tử và Tuân Tử.
Về nhân vật trong phái Nho gia, sau Khổng Tử, phải kể Mạnh Tử và Tuân Tử, về các tác phẩm của Nho gia, sau pho Luận Ngữ, phải kể 2 pho Mạnh Tử và Tuân Tử.
Ba nhân vật ấy với ba tác phẩm ấy cũng đủ tiêu biểu cho phái Nho gia từ đời Xuân Thu đến cuối đời Chiến Quốc, vì thế cho nên trong thiên khảo cứu nầy chúng ta không thể không nhắc đến 2 pho Mạnh Tử và Tuân Tử sau pho Luận Ngữ.
Pho Luận Ngữ, từ khi sách Hán Chí ra đời cho đến ngày nay được liệt vào " Kinh bộ " còn Tuân Tử thì được liệt vào " Tử bộ " [của Chư Tử] Mạnh Tử cũng được liệt vào " Tử bộ ".
Từ đời Ngũ đại trở về sau, thì 2 pho ấy lại được liệt vào Kinh bộ, cộng với Luận Ngữ, được xếp vào Thập Tam kinh.
Trước kia, học giả có những quan niệm truyền thống, họ phân biệt " Kinh " và Tử " không phải ở tính chất của sách mà ở địa vị cao hay thấp của nhân vật thời xưa.
Sách Hán Chí ghép Luận Ngữ vào phần Lục Nghệ, là ý muốn đề cao địa vị Khổng Tử, còn người đời sau đổi Mạnh Tử từ " Tử bộ " sang " Kinh bộ " là cũng muốn đề cao địa vị Mạnh Tử, như thế là một sai lầm lớn trong tiêu chuẩn phân loại sách vở.
Trong quyển sách nầy, Luận Ngữ được xếp vào loại " Tử " thì tự nhiên Mạnh Tử và Tuân Tử cũng thuộc vào loại Tử vậy.
Khảo cứu về hai pho sách trên, đa số tài liệu, chúng tôi đều căn cứ theo sách Hán Chí.
Pho Mạnh Tử
Trong sách Hán Chí, phần Chư Tử, có ghi pho Mạnh Tử, 11 thiên, dưới thời Hán Văn Đế, pho Mạnh Tử được chọn chung với các pho Luận Ngữ, Hiếu Kinh và Nhĩ Nhã để làm tài liệu cho chức vụ Bác sĩ, nhưng sau đó lại bãi bỏ.
Dưới thời Ngũ đại, khi khắc bản pho Thập Nhứt Kinh, trong số có pho Mạnh Tử, đó là lần đầu tiên sách Mạnh Tử được liệt vào Kinh bộ.
Dưới thời Nam Tống, Châu Tử đem sách Mạnh Tử, Luận Ngữ và trích 2 thiên Lễ Ký, Đại học trong pho Lễ Ký, làm thành bộ Tứ Thơ.
Dưới thời Minh Thanh, dùng văn " bát cổ " để khảo thí, và lấy trong văn Tứ Thơ làm đề thi, vì thế mà pho Mạnh Tử trở thành một pho sách ai ai cũng phải học.
*
Sách Sử ký trong phần Mạnh Tuân liệt truyện có chép : " Mạnh Tử viết sách gồm 7 thiên ". Sách Hán Chí lại viết là 11 thiên, nhiều hơn 4 thiên.
Triệu Kỳ trong pho Mạnh Tử đề từ có viết : " Lúc lui về cùng với nhóm cao đệ, đệ tử là Công Tôn Sửu, Vạn Chương vấn đáp về những điều nghi nan, rồi lại soạn ra những lời " Pháp độ ", viết sách 7 thiên, rồi lại có phần Ngoại thơ 4 thiên : Tánh Thiện, Biện Văn Thuyết, Hiếu Kinh, Vi Chánh, văn chương không sâu sắc, không giống với phần Nội thiên, dường như không phải thật là của Mạnh Tử. Người đời sau cứ nương theo mà gán cho Mạnh Tử "
Như thế là Mạnh Tử có Nội thiên gồm 7 thiên, và Ngoại thiên, 4 thiên. Triệu Kỳ cho là 4 thiên của Ngoại thơ là giả, nên chỉ chú thích có phần Nội thiên.
Sách Sử ký chép 7 thiên là nói Nội thiên, còn Hán Chí nói 11 thiên là gom chung Nội, Ngoại thiên.
Bây giờ quyển Mạnh Tử chỉ gồm có 7 thiên, y như Sử ký đã nói, còn phần Ngoại thiên thì đã bị mất từ lâu.
Bảy thiên sách của Mạnh Tử các tiêu đề đều cũng không có ý nghĩa, y như sách Luận Ngữ.
Các thiên ấy là : Lương Huệ Vương, Công Tôn Sửu, Đằng văn Công, Ly Lâu, Vạn Chương, Cáo Tử, Tận Tâm.
Quyển Mạnh Tử do ai viết ?
Sách Sử ký viết : " Mạnh Tử thuật cái đức của Đường, Ngu và thời Tam đại, vì các chỗ ông đi đến đều không hợp, cho nên trở về cùng với nhóm Vạn Chương, làm tựa Thi, Thơ, thuật ý Trọng Ni làm pho Mạnh Tử 7 thiên ", như thế là theo Sử ký, quyển ấy do tự tay Mạnh Kha viết.
Triệu Kỳ, trong quyển Mạnh Tử đề từ cũng viết : " Quyển sách nầy do Mạnh Tử viết ".
Diêm Nhược Cừ trong quyển Mạnh Tử sanh tốt niên nguyệt khảo có viết : " Sách Luận Ngữ do nơi môn nhơn của Khổng Tử viết, cho nên ghi dung mạo thánh nhơn rất rõ, còn 7 thiên của Mạnh Tử do tự tay ông viết ra, cho nên chỉ ghi những lời nói hay ý của mình thôi... ". Như thế là họ Diêm cũng cho là tự tay Mạnh Tử đã viết ra quyển sách.
Nhưng điều nầy cũng còn có chỗ đáng nghi ngờ :
- Một là : từ thời Khổng Tử trở về sau, đệ tử gọi thầy là Tử, điều đó đã thành thói quen, sách của Chư Tử, đa số đều do học trò viết, khi ghi lời thầy thì viết : " Thầy nói... " và người đời sau khi nhắc đến một nhân vật cũng gọi là " Phu Tử v.v... " từ đời Châu Tần đã có thói quen như thế.
Nếu như tự tay Mạnh Tử viết quyển sách ấy, thì trong toàn quyển sách ấy đâu có thể viết : " Mạnh Tử nói v.v... "
- Hai là : Trong quyển sách có viết : " Khi Mạnh Tử gặp một ông vua đương thời, như Lương Huệ Vương, Tương Vương, Tề Tuyên Vương, Đằng Văn Công, Trịnh Mục Công v.v...đều nhắc tên thụy của những vì vua ấy.
Nếu quả như Mạnh Tử viết, thì nhứt định ông đâu có thể gặp những ông vua đã mất trước ông [vì tên thụy là tên truy tặng những người đã qua đời].
- Thứ ba là : trong quyển sách ghi những đệ tử của Mạnh Tử như Nhạc Chánh Tử, Công Đô Tử, Ốc Lư Tử, Mạnh Trọng Tử, trong toàn quyển sách đều ghi là Tử, như Trần Tăng, Từ Tiết, cũng gọi là Trần Tử, Từ Tử, cũng y như trong Luận Ngữ đã gọi Hữu Tử, Tăng Tử, Mẫn Tử, Nhiễm Tử v.v...
Như quả Mạnh Tử tự tay viết quyển sách, thì không bao giờ gọi đệ tử mình bằng chữ " Tử ", cho nên qua những lý do kể trên chúng ta dám quả quyết 7 thiên sách ấy không phải do chính tay Mạnh Tử viết.
Luận Ngữ thì không phải do một người, mà cũng không phải do một lúc nào đó viết xong, cho nên Thượng Luận và Hạ Luận không giống nhau, còn sách Mạnh Tử thì do nhóm Công Tôn Sửu, Vạn Chương biên soạn một lượt mà hoàn thành vì thế toàn quyển sách được nhứt trí từ đầu đến cuối.
*
Pho Mạnh Tử từ trước đến nay có rất nhiều người chú thích, nhưng bản cổ nhứt hiện nay còn là bản Mạnh Tử chú của Triệu Kỳ.
Pho Mạnh Tử tập chú của Châu Tử rất gọn, rõ ràng, nghĩa ý sâu xa, cũng y như pho Luận Ngữ tập chú của ông...Châu Tử cũng còn chú thích thêm trong mấy quyển Mạnh Tử tinh nghĩa và Mạnh Tử hoặc vấn...nhưng trong quyển Mạnh Tử tập chú cũng còn những chỗ chưa được hoàn toàn.
Dưới thời nhà Thanh, Đái Chấn có quyển " Mạnh Tử tự nghĩa sớ chứng ", ông không câu nệ ở nghĩa từng câu chữ, mà lại chú ý mở rộng nghĩa chánh của Mạnh Tử.
Đái Chấn đề xuất những từ ngữ trọng yếu trong pho Mạnh Tử như : Lý, Tánh, Tài, Đạo, Nhơn, Thành, Quyền...rồi từ nghĩa hẹp phát huy thêm, mỗi một từ ngữ thành một thiên để làm điểm chứng cứ giải thích.
Ông gọi " Lý " là dục vọng không được toại nguyện, cho nên nói đến " Lý " là có ẩn ý " dục " bên trong
Tống Nho có thuyết Thiên Lý và Nhơn Dục không thể song song tồn tại được, cái Lý có thuận và nghịch, tai hại có thể đi đến chỗ chết người v.v... vì thế Lương Khải Siêu mới cho Đái Chấn là người đã sáng lập môn Tình Cảm triết học để thay thế cho môn Lý học của Tống Nho. Lời phê phán của Lương Khải Siêu cũng khá đúng.
Đái Chấn đã tập trung mũi nhọn tấn công vào Tống Nho ngay chỗ Lý học, và ông thành một học giả nổi tiếng cũng nhờ biết thoát khỏi khuôn sáo cũ, không bị nô lệ từng câu chữ trong sách.
Quyển Mạnh Tử tự nghĩa đã thành một học thuyết riêng biệt của Đái Chấn, chúng ta phải xem đó là pho Mạnh Tử của riêng ông, chớ không phải đó là pho sách lột hết được ý nghĩa đứng đắn của Mạnh Tử
Khương Hữu Vi, trong quyển Mạnh Tử Vi của ông, đã mổ xẻ tỉ mỉ tất cả 7 thiên, rồi qui nạp lại thành loại, mỗi loại làm một thiên, trước trích lục nguyên văn rồi sau đó giải thích mở rộng, để phát huy chỗ tinh vi trong học thuyết Mạnh Tử.
Nghiên cứu Mạnh Tử bằng cách phân loại chương, thiên như trên, cũng là một phương pháp hay, nhưng Khương Hữu Vi rất chủ quan, có lúc ông bắt ép Mạnh Tử theo ý mình, y như ông đã làm trong hai pho sách Trung Dung Chú và Lễ Vận Chú, như thế thì pho Mạnh Tử ấy đã trở thành một pho Mạnh Tử khác, mà không còn thuần tuý là học thuyết của Mạnh Tử nữa.
Đó là pho Mạnh Tử theo ý của Khương Hữu Vi.
Gần đây, ông Hạ Chấn Võ, có viết quyển Mạnh Tử giảng nghĩa, ông cũng phân loại và chú thích, rồi phát huy học thuyết, nhưng lại giữ đúng được học thuyết của Mạnh Tử, hình thức thì giống như quyển Mạnh Tử của Khương Hữu Vi, nhưng nội dung lại khác.
Ông Hạ Chấn Võ đã đúng theo đường lối của Trình Chu, tổng hợp và phát huy được tất cả tinh úy của pho Mạnh Tử nên giữ được đúng ý nghĩa của pho sách nầy.
Sách Hán Chí, phần Nho gia có Tôn Khanh Tử 33 thiên, bản in ngày nay có 32 thiên, trong lời tựa Lưu Hướng có viết : " Trong khi hiệu đính, quyển Tôn Khanh thơ có đến 322 thiên, đem ra so sánh, phân tích, bỏ những chỗ trùng hết 290 thiên, còn lại 32 thiên.
Đây là quyển sách do Lưu Hướng hiệu đính, căn bản là chỉ có 32 thiên, sách Hán Chí ghi là 33 thiên là lầm lẫn với bài tựa.
Trong các sách Tùy chí, Cựu Đường chí đều viết là Tôn Khanh Tử, trong Tân Đường chí và Tống chí thì viết Tuân Khanh Tử, còn Dương Kinh thì viết là Tuân Tử và được dùng luôn cho đến ngày nay.
Các thiên trong sách Tuân Tử, trước kia như thế nào, bây giờ không còn tài liệu nào để tham khảo, thứ tự sắp xếp thiên của Lưu Hướng, so với Dương Kinh thì đại đồng tiểu dị...
Như thiên đầu trong sách Tuân Tử là Khuyến Học, thiên chót là Nghiêu Vấn, thì phỏng theo Luận Ngữ với thiên đầu Học Nhi, và kết với thiên Nghiêu Viết.
Dương Kinh đã sửa đổi trật tự, sắp thiên Nghiêu Vấn để kết thúc quyển sách, còn của Lưu Hướng thì sau thiên Nghiêu Vấn lại còn hai thiên Quân Tử và Phú Thiên.
Tiêu đề các thiên trong Tuân Tử đa số đều có ý nghĩa, và đại đa số các thiên đều là những bài nghị luận dài, khác hẳn với tính chất của Luận Ngữ, vì Luận Ngữ là tác phẩm của thời kỳ đầu Chiến Quốc còn Tuân Tử thì viết vào cuối thời Chiến Quốc.
Sau đây là 32 thiên của sách Tuân Tử, trật tự sắp theo Lưu Hướng : Khuyến Học, Tu Thân, Bất Câu, Vinh Nhục, Phi Tướng, Phi Thập Nhị Tử, Trọng Ni, Thành Tương, Nho Hiệu, Vương Chế, Phú Quốc, Vương Bá, Quân Đạo, Thần Đạo, Tứ Sĩ, Nghị Binh, Cường Quốc, Thiên Luận, Chánh Luận, Nhạc Luận, Giải tế, Chánh Danh, Lễ Luận, Hựu Tọa, Tử Đạo, Tánh Ác, Pháp Hành, Ai Công, Đại Lược, Nghiêu Vấn, Quân Tử, Phú Thiên.
Thành Tương và Phú Thiên là mấy bài phú của Tuân Tử, cho nên văn thể khác hẳn với mấy thiên trên. Phần " Thi phú lược " trong Hán Chí, có ghi Tôn Khanh phú 10 thiên, trong Phú Thiên ngày nay có 5 bài phú : Lễ, Trí, Vân, Tâm, Châm...lại có Quí thị, cộng 6 thiên.
Trong Thi phú lược phần tạp phú có Thành Tương tạp từ 11 thiên, như thế Thành Tương trước kia là phú vậy.
Sách Hán Chí chép Tôn Khanh Tử 32 thiên, tuy có Phú Thiên lại có Thành Tương, và Thi phú lược cũng có phần Tôn Khanh phú 11 thiên, đó là cách sắp xếp theo thể tài riêng của mỗi người.
Hai thiên Thành Tương và Phú Thiên khác hẳn với thể tài các thiên trên, nếu sắp vào phần chót của quyển sách cũng là điều hợp lý.
Quyển Tuân Tử chú của Dương Kinh đời Đường, đến ngày nay vẫn còn, đó là quyển Tuân Tử xưa nhứt, lời chú cũng khá rành rẽ, nhưng cũng còn khuyết điểm, là có những chỗ còn mập mờ.
Dưới thời nhà Thanh, Vương Tiên Khiêm có viết quyển Tuân Tử tập giải, gom góp được tất cả những lời chú thích của người đời trước, và sau cùng phụ thêm ý của mình, đó là pho Tuân Tử đầy đủ và dễ hiểu nhứt hiện nay.
*

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Bách Gia Chư Tử    Fri Nov 01, 2013 11:28 am

3. Sách Tử Tư - Phụ Lục Sách Trung Dung.
 
Khai tổ của Nho gia là Khổng Tử, sau Khổng Tử, Mạnh Tử là Nho gia đại sư.
Tử Tư tên Cấp, cháu của Khổng Tử, mà Mạnh Tử thì thọ nghiệp với môn nhơn của Tử Tư, cho nên giữa Khổng Tử và Mạnh Tử, Tử Tư cũng chiếm một địa vị thật quan trọng, và tác phẩm của ông cũng cần phải khảo sát
Sách Hán Chí có ghi quyển Tử Tư Tử gồm 23 thiên với lời chú : Ông tên Cấp, cháu Khổng Tử, làm thầy Lỗ Mục Công.
Trong các sách Tuỳ Chí, Đường Chí cũng có ghi sách Tử Tư gồm 7 cuốn.
Từ đời Lục triều đến đời Tống, quyển Tử Tư Tử được lưu truyền gồm có 7 cuốn.
Vương Ứng Lân, trong quyển Hán Chí khảo chứng có viết : " Bổn sách một quyển ngày nay là do Khổng Tòng Tử lượm lặt ngôn hạnh của Tử Tư mà viết ra, mà không phải là nguyên bản của sách Tử Tư ". Như thế thì quyển Tử Tư gồm 7 cuốn dưới thời Nam Tống đã bị mất.
Sách Tuỳ Thơ, phần Âm nhạc chí có ghi : " Trung Dung, Biểu Ký, Phường Ký, Tư Y đếu rút ra trong sách Tử Tư Tử, vì thế mặc dù quyển sách của Tử Tư đã mất nhưng vẫn còn giữ được 4 thiên kể trên trong sách Lễ Ký.
Quyển Tử Tư Tử ngày nay có hai bổn khác nhau : một là của Uông Trác người Nam Tống và một bổn khác của Hoàng Dĩ Châu người đời Thanh. Bản của họ Hoàng hay hơn của họ Uông, nhưng tất cả hai bổn kể trên đều không phải là bổn chánh đã ghi trong Hán Chí, mà cũng không phải là bổn 7 quyển dưới thời Lục triều và thời Tống.
Sau đây là 7 thiên trong quyển Tử Tư Tử hiện nay : Thiên Mạng [tức là từ chương 1 đến chương 11 trong quyển Trung Dung], Diên Ngư [tức là từ chương 12 đến chương 20 trong Trung Dung], Tự Thành Minh [tức từ chương 21 đến chương chót trong Trung Dung].
Trở lên là phần nội thiên gồm 3 thiên, còn ngoại thiên có 6 thiên : Vô Cưu, Hồ Vô Báo, Tang Phục, Mục Công, Nhiệm Hiền, Quá Tề...
Sách Trung Dung
Trung Dung là một thiên trong sách Lễ Ký. Tống Nho cho rằng : " Thiên nầy là tâm pháp truyền thọ của Khổng môn, Tử Tư sợ lâu rồi biến ra sai, cho nên mới ghi vào sách để truyền lại cho Mạnh Tử ".
Châu Tử liền đem Trung Dung, Đại Học hợp với Luận Ngữ và Mạnh Tử làm pho sách Tứ thơ, và từ đó Trung Dung với Đại Học lên ngang hàng với Luận Ngữ và Mạnh Tử và đó cũng là một tác phẩm trọng yếu của Nho gia.
*
Học giả đời sau phân tích nhận rằng toàn pho Trung Dung không phải do Tử Tư viết ra, sau đây xin phân tích kỹ từng đoạn trong quyển sách :
Quyển Trung Dung được phân ra làm 5 đoạn chánh :
Đoạn 1.- Chủ yếu là ghi lời nói của Khổng Tử, lời văn giản dị chất phác, giống như Luận Ngữ, như thế đoạn nầy kể như được viết ra trước hơn hết. Đoạn nầy gồm những chương cú thứ : 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9,10 và 11.
Đoạn 2.- Đoạn nầy luận về Đạo không xa người, và tạo giềng mối ở vợ chồng, ở vị trí ngay thẳng thân mình, chú trọng trung thứ, kế chí, thuật theo việc người trước để thành đạo hiếu.
Đây là theo thể văn ghi lại lời nói, nhưng lại có thêm cho đầy đủ...cho nên giống với các thiên : Tri Y, Phường Ký, Biểu Ký. Đoạn nầy trong Trung Dung thuộc các chương cú thứ : 12 - 13 - 14 - 15 -17 - 18 - 19.
Đoạn 3.- Đoạn nầy luận về việc làm chánh trị phải sửa mình [tu thân] làm gốc, mở đầu bằng câu : " Ai Công hỏi về việc chánh... " đoạn nầy thể văn cũng ghi lời nói, nhưng được gọt giũa, sắp xếp thành một trường thiên nghị luận. Đoạn nầy bắt đầu từ câu " Ai Công vấn chánh " đến " Bất thành Hồ thân ".
Đoạn 4.-Đoạn nầy luận về chữ " Thành ", đây là đoạn văn thuần tuý nghị luận, cũng không phải thể văn ký sự. Đoạn nầy bắt đầu từ chương 1 rồi kế là các chương 20 đến câu " Thành giả, thiên chi đạo dã" trở đi và các chương 21-22-23-24-25-26 và 16.
Đoạn 5.- Đoạn nầy toàn là những lời tán dương, lời văn hoa mỹ, ý huyền diệu, như thế là đoạn nầy được soạn sau cùng, vào thời gian chót của Chiến Quốc.
Đoạn nầy thuộc các chương : 27-28-29-30-31-32-33.
Trong tất cả 5 đoạn nầy, 2 đoạn trước là phần Trung Dung của Tử Tư, đoạn sau là của nhóm hậu học của Tử Tư thêm vào. Đoạn sau không phải do một người viết, hay được soạn trong một thời gian nhứt định nào, có lẽ đoạn nầy được viết vào lúc sau khi Tần Thuỷ Hoàng thống nhứt Trung Hoa.
*
Vị trí Trung Dung trong pho Lễ Ký được sắp xếp làm loại " Thông Luận " tức là ngày nay chúng ta gọi " Đó là nhơn sanh triết học của Nho gia và một bài văn luận về đạo nghĩa ".
Về chú giải thì pho Trung Dung chương cú của Châu Tử là khá hơn hết, pho Trung Dung chú của Khương Hữu Vi thì rất chủ quan, ông biến sách cổ nhơn thành sách của ông như pho Mạnh Tử Vi đã nói trong phần trước.
Ngày nay có nhiều bản Tứ thơ chú giải, có luôn cả văn Bạch thoại, trong có đủ Luận Ngữ, Mạnh Tử, Trung Dung, Đại Học của ngành Đại Học Trung Hoa rất tiện cho các bạn nào muốn tham khảo thêm chính văn của các pho sách ấy.
4. Sách Tăng Tử - Phụ thêm Hiếu Kinh và Đại Học.
Trong Luận Ngữ, thiên Lý Nhơn có ghi lời Khổng Tử : " Sâm à ! Đạo của ta chỉ có một mà thông suốt tất cả... ". Tống Nho bảo rằng Tăng Tử là người độc nhứt được nghe đạo " Nhứt quán " của Khổng Tử, và được chân truyền của thầy.
Trong số đệ tử của Khổng Tử, Tăng Tử là người nhỏ nhứt, mà tuổi thọ lại cao, thế nên đối với sự học của thầy rất có quan hệ. Nhưng ông có được chân truyền của thầy hay không, đó chỉ là do Tống Nho nói, còn Khổng Tử thì không thấy đề cập tới.
Sau đây là phần tìm hiểu về pho sách Tăng Tử.
Sách Tăng Tử
Trong Hán Chí, phần Chư Tử lược, có pho Tăng Tử 18 thiên, với lời chú : " Ông tên Sâm, đệ tử của Khổng Tử ".
Có người nói : Tử Tư là đệ tử của Tăng Tử, nhưng trong Hán Chí lại sắp Tăng Tử sau Tử Tư, tại sao vậy ?
Hay là vì Tử Tư là cháu Khổng Tử, cho nên không bị sắp xếp theo trật tự thời gian chăng ?
Sách Tăng Tử, trong Hán Chí chép là 18 thiên. Sách Thất Lục và Tuỳ Chí chép là hai quyển, và nhiều sách khác cũng ghi là hai quyển cộng 10 thiên, y như 10 thiên trong Đại Đái Ký.
Dường như sách Tăng Tử có hai loại, một loại là 18 thiên và một loại là hai quyển gồm 10 thiên, mà tất cả đều bị mất, bây giờ không còn tài liệu gì để tìm hiểu được cả.
Trong sách Đại Đái Ký còn 10 thiên, để rõ ràng là của Tăng Tử, như thế, tuy nguyên bản sách đã mất, nhưng vẫn còn được 10 thiên. Nguyễn Ngươn đem 10 thiên nầy ra chú thích thành pho Tăng Tử và đề tựa : " Học giả trăm đời sau đều noi theo " Pháp " của Khổng Tử, thời gian nầy xa Khổng Tử bao nhiêu thì lời nói của ông càng khác lạ. Lời nói của Tử Tư, Mạnh Tử, tuy gần với Khổng Tử, nhưng không phải tự thân những người ấy thọ nghiệp với ngài. Trong số 70 học trò thân thọ nghiệp với ngài, và lời nói gần ngài nhứt, duy chỉ có Tăng Tử 10 thiên ".
Nguyễn Ngươn đã suy tôn đúng mức Tăng Tử, và 10 thiên sách ấy là : Tăng Tử lập sự, Tăng Tử bổn hiếu, Tăng Tử lập hiếu, Tăng Tử đại hiếu, Tăng Tử sự phụ mẫu, Tăng Tử chế ngôn [thượng], Tăng Tử chế ngôn [trung], Tăng Tử chế ngôn [hạ], Tăng Tử tật bịnh, Tăng Tử thiên viên.
Trong thiên Tăng Tử đại hiếu có lời vấn đáp của đệ tử Tăng Tử là Nhạc Chánh Tử Xuân với môn đệ tử, như thế đã rõ ràng là đệ tử của Tăng Tử và số đệ tử lớp sau đã ghi chép đoạn nầy.
*
Tăng Tử 10 thiên trong Đại Đái Ký, so sánh với sách Tăng Tử do Lư Biên chú, thì lời chú của Đại Đái là xưa hơn cả, nhưng khá hơn hết là bản chú thích của Nguyễn Ngươn.
Sách Hiếu Kinh
Uông Trác và Vương Định An, khi biên chú sách Tăng Tử đều kèm theo Hiếu Kinh và Đại Học.
Sách Hiếu Kinh, trong Hán Chí ghép chung với Luận Ngữ vào phần Lục Nghệ lược, và bây giờ là một trong pho Thập Tam Kinh, còn Đại Học là một thiên trong Lễ Ký, Hán Chí sắp vào phần Lục Nghệ lược, loại Lễ, bây giờ cũng là một trong Thập Tam Kinh.
Như thế là Hiếu Kinh và Đại Học dường như thuộc loại Kinh chớ không phải Tử, nhưng tương truyền hai pho ấy đều do Tăng Tử viết cho nên phải ghép vào phần Chư Tử.
Lời chú trong Hán Chí có viết : " Sách Hiếu Kinh là Khổng Tử trần thuật Hiếu Đạo cho Tăng Tử, nhưng trong sách Hiếu Kinh thuật nghĩa, Lưu Huyền có viết : Khổng Tử viết Hiếu Kinh, không phải do Tăng Tử xin học mà mới trả lời, đó chỉ là lối giả thiết để trình bày học thuyết... ".
Sách Cổ thơ nghi nghĩa cử lệ của Du Việt cũng có viết : " Xét theo câu đầu của Hiếu Kinh : " Trọng Ni cư, Tăng Tử thị... " thì thấy có mấy điều đáng chú ý : Trọng Ni là tự của Khổng Tử, Tăng Tử là tiếng tôn xưng Tăng Tử, vô luận quyển sách nầy do Khổng Tử viết, hay là nói ra để cho Tăng Tử chép, cũng không có lý do gì để viết gọi Khổng Tử là Trọng Ni và Tăng Sâm là Tăng Tử ", đó là điều đáng nghi ngờ quyển sách ấy không phải do Khổng Tử viết hay Tăng Tử chép, mà chỉ do người đời sau biên soạn rồi gán cho Khổng Tử và Tăng Tử.
Hơn nữa, chữ Kinh là để chỉ những sách vở của thời xưa, nếu quả như Khổng Tử hay Tăng Tử viết thì không bao giờ đặt tên cho quyển sách mình là " Kinh " cả.
*
Về chú thích pho Hiếu Kinh, tương truyền có hai loại : một là bổn của Trịnh Huyền, thuộc kim văn, một bổn khác của Khổng An Quốc, thuộc cổ văn, nhưng từ khi bổn Ngự Chú của Đường Huyền Tôn ra đời, thì hai bản của Trịnh Huyền và Khổng An Quốc không được ai chú ý đến nữa.
Ngoài ra, lại còn các bản của Châu Tử, của Ngô Trừng đời Nguyên và của Nguyễn Phúc đời Thanh. So với các bản khác, bản chú Hiếu Kinh của Nguyễn Phúc là đầy đủ, rõ ràng hơn cả.
Sách Đại Học
Đại Học là một thiên trong sách Lễ Ký, nhưng người viết là ai, thì không có tài liệu nào đề cập đến cả. Trình Tử đời Tống cho đó là di thơ của họ Khổng, nhưng cũng không nói rõ là ai đã viết quyển sách ấy. Châu Tử cũng nói :
" Đó là lời của Khổng Tử và Tăng Tử ghi chép ". Phần kinh gồm 1 chương, còn về phần truyện 10 chương, thì nói đó là lời của Tăng Tử và do môn nhơn ghi chép, và có lẽ vì thế mà Tăng Tử có liên quan đến quyển Đại Học.
Nhà học giả Đái Chấn, khi còn nhỏ, lúc học đến pho Đại Học chương cú có hỏi thầy :
- " Thưa thầy, Khổng Tử và Tăng Tử đều là người dưới thời nhà Châu, còn Châu Tử là người Nam Tống, nhà Châu nhà Tống cách nhau rất xa, tại sao Châu Tử biết là do 2 ông ấy viết ? ".
Ông thầy không có bằng chứng gì để trả lời cho xác đáng được.
Châu Tử thấy Đại Học thường dẫn lời Tăng Tử, và đề cập đến " Tâm " cũng như trong Trung Dung nói về " Tánh ", làm căn cứ cho thuyết " Tâm Tánh " thế cho nên mới ức đoán Đại Học là của Tăng Tử.
Luận Ngữ, Đại Học, Trung Dung, Mạnh Tử, làm tiêu biểu cho học thuyết của Khổng Tử, Tăng Tử, Tử Tư và Mạnh Tử, và cũng thuộc về thầy trò cùng truyền đạo cho nhau, 1 phái nối tiếp nhau, kế tục truyền thống của Đạo, như thế ghép Đại Học cho Tăng Tử viết ra thấy cũng là hợp lý, mặc dù không tìm thấy bằng chứng gì để xác định được.
Sách Đại Học và Trung Dung, ban đầu đều là một thiên trong Lễ Ký, sau đó thành một phần trong bộ Tứ thơ, cho nênphần chú thích cũng có nhiều người như : Trịnh Huyền, Khổng Dĩnh Đạt, rồi sau đó cũng có tập chú của Châu Tử, của Triệu Thuận Tôn, của Châu Đức Tú.
Từ trước đến nay nhiều người thích bản chú của Châu Tử, lần lần thành thói quen, nhưng xét cho kỹ, bản của Châu Tử còn nhiều khuyết điểm và tư tưởng nhiều chỗ không còn thích hợp với hoàn cảnh ngày nay.
5. Sách Án Tử - Phụ lục thêm vài quyển khác và quyển Lễ Vận.
Trong Hán Chí, phần Chư Tử lược, phần Nho gia cũng có sách Án Tử Xuân Thu, Lục Giả Tân Ngữ, Giã Nghị Tân Thơ, Diêm Thiết Luận v.v...
Sau đây xin lần lược khảo về các quyển sách ấy.
Sách Án Tử
Theo sách Hán Chí, sách Án Tử gồm 8 thiên, với lời chú : Tên ông là Anh, thụy là Bình Trọng, làm tướng quốc cho Tề Cảnh Công, Khổng Tử khen là khéo giao thiệp với người.
Sách Tứ Khố toàn thơ sắp vào Sử bộ, về loại Truyện Ký, nhưng xét theo thể tài quyển sách thì thấy thuộc vào loại Chư Tử, chớ không phải Sử, hay là người ta liệt sách ấy vào loại Sử cũng vì tiêu đề quyển sách là Án Tử Xuân Thư chăng ?
Bài Tự Lục của Lưu Hướng khi hiệu đính sách Án Tử có viết : " Thần gom góp các sách trung, ngoại thơ được 30 thiên, cọng 838 chương, trừ 22 thiên trùng nhau, gồm 623 chương, còn lại 8 thiên, gồm 215 chương.
Quyển sách nầy có 6 thiên, hợp với ý nghĩa Lục Kinh, những chỗ trùng nhau, văn từ khác lạ, nhưng không dám bỏ sót, nên gom riêng vào 1 thiên, rồi có những chỗ không hợp với kinh điển, dường như không phải là lời của Án Tử, nghi của người đời sau là bọn biện sĩ thêm vào, nhưng cũng không dám bỏ sót, nên gom thành một thiên nữa, cọng chung là 8 thiên ".
Như thế sách Hán Chí ghi theo bổn của Lưu Hướng đã hiệu đính, bổn sách còn lại hiện nay cũng 8 thiên.
Tám thiên sách ấy là :
Nội thiên gồm 6 thiên [tức Lưu Hướng nói hợp với nghĩa Lục Kinh] gồm các thiên : Gián Thượng, Gián Hạ, Vấn Thượng, Vấn Hạ, Tạp Thượng và Tạp Hạ.
Ngoại Thiên gồm 2 thiên [tức Lưu Hướng nói lộn xộn và văn từ khác lạ] gồm thiên thứ 7 văn từ đáng nghi và thiên thứ 8, dường như không phải lời của Án Tử.
Khổng Tòng Tử, trong các sách Thuận thuyết thiên và Phong tục thông, nghi sách nầy ra đời ở nước Tề vào thời Xuân Thu, như trong sách Mặc Tử, thiên Minh quỉ đã viết : " Án Anh chết, tân khách tiếc thương, liền gom góp việc làm của ông viết thành sách, tuy không ghi rõ năm tháng, nhưng cũng còn danh cũ. Ngu Khanh và Lục Giả tiếp theo, sách xong ở thời Chiến Quốc, gọi là sách của Chư Tử, đa số không do người ấy viết, điều đó không có gì lạ ".
Như thế thì quyển sách không phải do Án Tử viết, mà do người đời sau thể theo việc làm của ông, ghi lời nói của ông, chép lại thành sách, quyển sách viết vào thời Chiến Quốc, rồi Hán Chí ghi tên Án Tử lên trên.
Án Tử và Khổng Tử đồng thời, cho nên liệt ông vào hàng Nho gia.
Về chú bổn Án Tử, có sách Án Tử âm nghĩa của Tôn Tinh Viễn, sách Án Tử Xuân Thu hiệu chánh của Lư Văn Chiêu và Án Tử Xuân Thu của Hoàng Dĩ Châu.
Sách Lục Giã Tân Thơ
ách Hán Chí, phần Nho gia, có Lục Giã gồm 23 thiên.
Sách Giã Nghị Tân Thơ
Sách Hán Chí, phần Nho gia, có Giã Nghị gồm 58 thiên. Chương Học Thành cho rằng Giã Nghị cũng tinh thông về Pháp gia và Đạo gia. Chương Bình Lân cũng nhận xét ông giỏi về Từ phú, vì học giả đời Tây Hán không chuyên về một môn phái nào mà thường học được nhiều phái khác nhau.
Sách Diêm Thiết Luận
Sách Hán Chí, phần Nho gia có Diêm Thiết Luận của Hoàn Khoan, 60 thiên, Vương Ứng Lân có thấy 1 bổn gồm 10 quyển, nhưng cũng 60 thiên.
Hoàn Khoan tự Thứ Công, dưới thời Chiêu Đế, năm Thủy ngươn thứ 6, ra chiếu cho quận quốc cử kẻ hiền lương, văn học, để hỏi thăm về việc khổ sở của dân, ai ai cũng xin bỏ chế độ khắc nghiệt về muối và sắt, rồi biện luận với Ngự sử đại phu Tang Hoằng Dương. Hoàn Khoan gom góp tất cả những lời luận gồm tất cả 60 thiên, đó là Diêm thiết luận.
Đây là một loại sách khác hẳn với chư tử khác, đó là loại gom góp tất cả lời biện luận của kẻ khác, còn nội dung thì biện luận về biện pháp tài chánh của quốc gia.
Sách Hán Chí viết : " Phái Tạp gia, là ra từ Nghị Quan ". Diêm Thiết Luận không phải do một mình Hoàn Khoan viết ra, mà là gom tất cả những lời biện luận của các kẻ sĩ hiền lương, văn học, tranh luận với Thừa tướng, Ngự sử đại phu về chế độ muối và sắt, rõ ràng là biện luận ấy xuất phát từ Nghị Quan cũng nên liệt vào phái Tạp gia.
Về pho Diêm Thiết Luận có những tập chú của Trương Chi Tượng đời Minh và của các ông : Lư Văn Chiêu, Tôn Tinh Viễn, Vương Tiên Khiêm.
Sách Lưu Hướng sở tự
Sách Hán Chí phần Nho gia, có Lưu Hướng sở tự gồm 67 thiên, với lời chú : Tân tự, Thuyết Uyển, Thế thuyết, Liệt nữ truyện, Tụng đố...tức là tổng quát những trước tác của Lưu Hướng.
Theo sách Tuỳ Chí thì Tân tự và Thuyết Uyển được liệt vào phần Nho gia, còn Liệt nữ truyện thì nhập vào Sử bộ tạp truyện.
Theo Tứ khố toàn thơ thì Liệt nữ truyện cũng xếp vào loại Sử bộ truyện ký.
Sách Hán thơ có viết : " Lưu Hướng đã trích sự tích các Hiền phi, Trinh phụ trong Thi, Thơ, luôn cả những người đàn bà dâm ác sắp xếp có thứ tự để làm gương cho đời sau, thành pho Liệt nữ truyện 8 thiên, rồi lại chọn những Truyện ký viết pho Tân sự, Thuyết Uyển gồm 50 thiên.
Ông lại có viết các thiên : Tật sàm, Trích yếu, Cứu nguy và Thế tụng gồm 8 thiên, y theo chuyện xưa mà buồn phận mình và đồng loại.
Sách Tùy Chí viết : Tân tự có 30 quyển, Thuyết Uyển 20 quyển là hợp với số 50 thiên, là vì lấy mỗi thiên làm một quyển, thêm vô Thế thuyết 8 thiên, Liệt nữ truyện 8 thiên, Liệt nữ truyện đồ 1 thiên là đúng 67 thiên.
Tật sàm, Trích yếu, Cứu nguy, Thế tụng, đó là tên của Thế Thuyết, mỗi thiên đều có thượng hạ, cọng chung là 8 thiên.
Sách Tân tự, bây giờ còn là Tạp sự 5 quyển, Thích xí 1 quyển, Tiết sĩ 2 quyển, Thiện mưu 2 quyển, cọng chung 10 quyển, như thế so với Tuỳ Chí đã chép là 30 quyển thì đã bị mất đến 20 quyển.
Quyển nầy chép những chuyện về thời Xuân Thu Chiến Quốc, có những chuyện giống với Tả truyện, Quốc ngữ, Chiến Quốc sách, Sử ký.
Sách Thuyết Uyển, bây giờ còn 20 quyển, y như trong Tùy Chí, Đường Chí đã ghi. Sách nầy và sách Tân tự đều gom góp những chuyện xưa từ đời Xuân Thu đến đời Hán, nhưng tại sao lại chia làm 2 pho sách, không ai hiểu được, những chuyện ghi trong sách cũng có chỗ sai lầm.
Về Liệt nữ truyện, sách Hán Chí và Bổn truyện đều ghi là có 8 thiên, sách Sơ học ký, dẫn sách Biệt lục viết : Thần là Hướng cùng quan Hoàng môn Thị lang Hâm hiệu đính Liệt nữ truyện, sắp xếp theo từng loại, cọng 7 thiên.
Như thế là Liệt nữ truyện do cha con Lưu Hướng, Lưu Hâm làm hiệu đính, không phải do một mình Lưu Hướng viết, và truyện chỉ có 7 thiên, hợp với Tụng nghĩa là 8 thiên.
Sách Tuỳ Chí có ghi : Liệt nữ truyện 15 quyển, Tào Đại Cô chú : Bảy thiên, mỗi thiên đều có thượng hạ, cọng với Tụng Nghĩa là 15 thiên.
Nhan thị gia huấn có viết : Lưu Hướng viết Liệt nữ truyện, còn con là Lưu Hâm viết phần Tụng nghĩa. Những Liệt nữ được ghi, gồm có mẹ Trần Anh, cuối đời nhà Hán, và 16 nggười đời Đông Hán, Tăng Cũng nghi Tào Đại Cô có viết tiếp theo, bản sách ngày nay phân ra làm Tục Liệt nữ truyện, Triệu Công Võ cho rằng, phần nối tiếp là do Hạng Nguyên viết.
Nhưng Hạng Nguyên viết là Liệt nữ hậu truyện 10 quyển, trong Tuỳ Chí có ghi rõ, đó là một quyển sách riêng, Triệu Công Võ đã sai lầm.
Bản sách ngày nay có Tụng Nghĩa thì phần Đại Tự để phía trước mục lục, còn Tiểu Tự 7 thiên thì sắp chung trong mục lục, còn Tụng thì phụ ở phía sau các truyện. Truyện nào cũng có hình vẽ, do Cố Khải Chi đời Tấn vẽ, nhưng những bản vẽ đầu tiên ấy đã bị mất.
Tóm lại, quyển Lưu Hướng sở tự, thì phần Thế thuyết đã bị mất, còn Tân tự, Thuyết Uyển thì theo Truyện Ký, Liệt nữ truyện thì thể theo Thi, Thơ, Thế thuyết thì nương theo chuyện xưa, tất cả đều là sách Ký sự, khác hẳn với lối trình bày học thuyết của Chư Tử.
*
Lư Văn Chiêu có viết các sách Tân Tự hiệu bổ, Thuyết Uyển hiệu bổ, còn Liệt nữ truyện, ngoài bản chú của Tào Đại Cô còn có các bản chú khác của Vương Viên Chiếu, Uông Viễn Tôn.
Sách Dương Hùng sở tự
Sách Hán Chí, phần Nho gia, có Dương Hùng sở tự 38 thiên, quyển sách nầy được liệt sau cùng phần Nho gia, sau đó có lời tổng kết viết : " Trở lên là tất cả 53 Nho gia " rồi lại có lời chú " Thêm sách Dương Hùng 38 thiên " là vì sách Thất lược của Lưu Hâm không có Dương Hùng, rồi sau đó Ban Cố thêm vô 38 thiên gồm có : " Thái Huyền 18 thiên, Pháp Ngôn 13 thiên, Nhạc 4 thiên, Châm 2 thiên ".
Thái Huyền và Pháp Ngôn bây giờ còn. Vương Ứng Lân viết : Nhạc 4 thiên, không rõ, Dương Hùng còn có thiên Cầm Thanh Anh.  Như thế thì Nhạc 4 thiên đã mất.
Sách Hậu Hán thơ, phần Hồ Quảng truyện có viết : " Trước tiên, Dương Hùng y theo Ngu Châm viết 12 thiên Châu Châm và 25 thiên Quan Châm, nhưng 9 thiên đã mất ". Như thế thì còn 28 thiên.
*
Đời Tấn Phạm Huyền có làm chú sách Thái Huyền, theo lời chú cũ của Tống Trung và Lục Tích. Tư Mã Quang có tập chú sách Pháp Ngôn, theo lời chú của Lý Quỷ, Liễu Tôn Ngươn, Tống Hàm và Ngô Bí.
*
Hán Chí trích lục những sách của Nho gia cho đến bây giờ vẫn còn, được kể ra trong phần trên.
Sách Tăng Tử 10 thiên, là trích trong Lễ Ký của Đại Đái, sách Đại Học, Trung Dung trích trong Lễ Ký của Tiểu Đái, Đại Đái Ký là do Đái Bức biên soạn, còn Tiểu Đái Ký thì do Đái Thánh biên soạn, đại bộ phận sách đều trích trong sách Hán Chí, Lục Nghệ lược, phần Lễ, gồm 131 thiên, với lời chú : " Đây là theo lời ghi chép của 70 tử hậu học ".
70 tử hậu học thì gồm đến chư Nho đời Tây Hán, như thế thì Đại Đái và Tiểu Đái là một pho sách gồm tất cả những trước tác của Nho gia, vì thế những tư tưởng của Nho gia từ thời Chiến Quốc đến thời Tây Hán có thể tìm thấy được một phần lớn trong hai pho sách ấy.
6. Các pho sách của Nho Gia đã bị thất lạc.
Sách Hán Chí trích lục các sách của Nho gia được 53 nhà, nhưng cho đến ngày nay đã bị mất đến 42 nhà, như thế số bị mất mát kể ra cũng quá nhiều.
Sau đây xin kể những loại sách đã bị mất :
- Tất Điêu Tử
12 thiên, sách Hán Chí chú : đây là hậu duệ của Tất Điêu Khải đệ tử của Khổng Tử.
Sách Hàn Phi, thiên Hiển học có viết : " Phái của Tất Điêu Khải, trong số đệ tử của Khổng Tử, đã lập riêng một phái cho mình ".
- Mật Tử
16 thiên, sách Hán Chí chú : tên Bất Tề, tự Tử Tiện đệ tử Khổng Tử. Trong Chiến Quốc sách ghi là Phục Tử.
- Cảnh Tử
3 thiên, theo thuyết của Mật Tử, dường như là đệ tử của ông nầy
- Thế Tử
21 thiên, sách Hán Chí chú : tên Thạc, người nước Trần, đệ tử của 70 tử [đệ tử lớp sau của Khổng Tử] nhưng không biết là đệ tử của ai.
Sách Luân Hoành, thiên Bổn tánh có viết : " Người nhà Châu, Thế Thạc cho rằng, nhơn tánh có thiện, có ác, nên cái tánh thiện của người mà được nuôi dưỡng thì thiện nhiều, khuyến khích tánh ác và nuôi dưỡng thêm thì ác nhiều. Như thế thì tánh có tốt xấu, thiện ác, chỉ tại cách nuôi dưỡng mà thôi, vì thế Thế Tử viết Dưỡng thơ 1 thiên. Dưỡng thơ tức là 1 thiên trong sách Thế Tử.
- Ngụy Văn Hầu
6 thiên, Sử ký chép Ngụy Văn Hầu thọ nghiệp với Tử Hạ, như thế là đệ tử lớp hai của Khổng Tử.
- Lý Khắc
7 thiên, sách Hán Chí có lời chú : Làm tướng cho Ngụy Văn Hầu, đệ tử của Tử Hạ. Nhưng " Kinh điển thích văn tự lục " lại viết : Tử Hạ truyền kinh Thi cho Tăng Thân, Tăng Thân lại truyền cho Lý Khắc, người nước Ngụy. Như thế thì Lý Khắc là đệ tử lớp 3 của Khổng Tử.
- Công Tôn Ni Tử
28 thiên, Hán Chí chú : Đệ tử của Thất thập Tử, tức là đệ tử lớp thứ hai của Khổng Tử.
- Vu Tử
18 thiên, sách Hán Chí chú : Không biết ai đã viết quyển sách ấy. Vương Ứng Lân nói : Quản Tử có thiên Nội nghiệp có lẽ quyển sách nầy cũng đồng loại...Sách Quản Tử do người đời sau gom góp chép ra. Có lẽ thiên Nội nghiệp ở quyển nầy.
- Châu Sử, Lục Thao
6 thiên, Hán Chí chú : Giữa thời Tương Vương, Huệ Vương, hay cũng có thể vào thời Hiển Vương...dường như Khổng Tử có đến gặp.
Lời chú của họ Nhan : Tức là quyển Lục Thao, bàn về việc chinh phục thiên hạ và việc quân sự.
Trang Tử, trong thiên Tắc dương có viết : " Trọng Ni đến gặp Thái sử Lục Thao ". Lục Thao tức là người viết quyển sách nầy.
- Châu Chánh
6 thiên, chép pháp đệ và chánh giáo dưới thời nhà Châu.
- Châu Pháp
9 thiên, noi theo phép tắc của trời mà lập chức quan.
Hai quyển sách trên, dường như nội dung ghi chép chánh pháp và quan chế dưới thời nhà Châu.
- Hà Gian Châu Chế
18 thiên, dường như của Hà Gian Hiến Vương chép.
- Lan Ngôn
11 thiên, Hán Chí chú : Không biết do ai viết, trình bày pháp độ của nhơn quân.
- Công Nghi
4 thiên, không biết do ai viết, luận về việc công đức.
- Ninh Việt
1 thiên, người đất Trung Mâu, làm thầy Châu Uy Vương.
- Vương Tôn Tử
1 thiên, cũng gọi là Xảo Tâm. Vương Tôn là họ, không biết tên gì. Xảo Tâm là tên quyển sách.
- Công Tôn Cố
1 thiên, gồm 18 chương, Tề Mẫn Vương mất nước, hỏi ông, ông liền thuật những chuyện cổ kim thành bại. Có thuyết cho ông là nhóm của Hàn Phi.
- Lý Thị Xuân Thu
2 thiên, đồng loại với Lã Thị Xuân Thu. Có lẽ là người thời Chiến Quốc, cuối thời Chiến Quốc, Chư Tử viết sách thường đặt tên Xuân Thu.
- Dương Tử
4 thiên, 100 chương, một Bác sĩ cũ của nhà Tần.
- Đổng Tử
1 thiên, tên Vô Tâm có lần vấn nạn Mặc Tử, có thuyết cho rằng là người thời Lục Quốc. Sách Tùy Chí có chép : Đổng Vô Tâm người phái Nho gia, gặp Truyền Tử người phái Mặc gia. Như thế là Đổng Tử vấn nạn Truyền Tử chớ không phải Mặc Tử.
- Hầu Tử
1 thiên, có thuyết nói là " Người hiền thời Lục Quốc ".
- Từ Tử
42 thiên, người nước Tống, đất Ngoại Hàng. Sử ký Ngụy Thế gia có chép : Huệ Vương sai thái tử Thân với Bàng Quyên kéo quân đi, đến Ngoại Hoàng.
Từ Tử ở Ngoại Hoàng nói : 
- Thần có thuật " bách chiến, bách thắng " v.v...

- Lỗ Trọng Liên Tử
14 thiên Chiến Quốc sách, Xuân Thu chánh nghĩa, Sử ký chánh nghĩa v.v...đều có dẫn lời trong sách nầy.
- Bình Nguyên Quân
7 thiên, tên là Châu Kiến.
- Ngu Thị Xuân Thu
15 thiên, tên Ngu Khanh
- Cao Tổ Truyện
13 thiên, Cao Tổ và đại thần thuật lại những lời xưa và chép lại những tờ chiếu, sách. Sách Tuỳ Chí chép : có quyển Hán Cao Tổ thủ chiếu...
- Lưu Kỉnh
3 thiên, Lưu Kỉnh họ Lục nhưng được tứ tánh Lưu [họ vua ban]. Sách Bổn truyện chép : Lưu Kỉnh thuyết với Cao Đế 3 việc : 1 đóng đô ở Quan Trung, 2 hoà thân với Hung Nô, 3 dời dân vào Quan Trung. Có lẽ đây là 3 điểm trong 3 thiên sách ấy chăng ?
- Hiếu Văn Truyện
11 thiên, chuyện của Văn Đế và các chiếu, sắc.
- Giả Sơn
8 thiên.
- Thái Thường, Liêu Hầu Khổng Tàng
10 thiên, Khổng Tàng từ chức Ngự sử đại phu, xin làm Thái thường, được Võ Đế dùng. Liêu Hầu là được noi theo chức tước của cha.
- Hà Gian Hiến Vương, đối thượng hạ tam cung
Tam cung là minh đường, tị cung, linh đài [tức 3 loại trường thời xưa]
- Đổng Trọng Thư
123 thiên. 
Sách Tuỳ Chí và Đường Chí có ghi sách Xuân thu phồn lộ của Đổng Trọng Thư 17 quyển, nhưng không phải là trọn quyển sách kể trên, vì Bổn truyện có viết : " Đổng Trọng Thư trước tác loại làm sáng tỏ ý kinh, thuật, và những bài sớ, những điều dạy v.v... "

- Nghê Khoan
9 thiên, chuyên về lịch, ngày tháng.
- Công Tôn Hoằng
10 thiên, trong sách Bổn truyện chép thiên Đối sách và bức thơ dâng lên Võ Đế, sách Nghệ văn loại tự dẫn bài : " Đáp Đông phương Sóc thơ ", sách Ngự Lãm cũng thường dẫn lại lời của ông. Tất cả đều thuộc trong 10 thiên sách của ông.
- Chung Quân
8 thiên, sách Bổn truyện và sách của Nghiêm Khả Quân có dẫn trong mấy thiên sách nầy.
- Ngô Khâu Thọ Vương
6 thiên, sách Bổn truyện và Nghệ văn loại tự có dẫn trong mấy thiên nầy.
- Ngu Khâu Thuyết
1 thiên, sách Hán Chí chú : " Vấn nạn Tuân Khanh ". Chữ " Ngu " đồng với chữ " Ngộ ". Đây là quyển Tạp thuyết của Thọ Vương.
- Trang Trợ
4 thiên, cũng gọi là Nghiêm Trợ.
- Thần Chương
4 thiên.
- Câu Thuẩn
8 thiên, Câu Thuẩn là chức quan dưới thời nhà Hán. Viết về việc làm và lời nói dưới thời Tuyên Đế.
- Nho Gia Ngôn
18 thiên. Không biết tác giả là ai. Nghi là sách góp lượm lặt các thiên tản mác của Nho gia.
*
Trở lên là 42 quyển sách, mà Hán Chí có ghi là của phái Nho gia đã bị mất, còn lại 9 Môn phái khác, ở phần sau, thì số sách bị mất lại càng nhiều hơn, số còn lại chẳng có bao nhiêu.

Dưới thời Tây Hán, sách của Nho gia được viết ra thành từng tập 1 thiên, như các sách của Khổng Tàng, Ngô Khâu, Thọ Vương ...đó là triệu chứng suy vi của Chư Tử dưới thời Tây Hán.

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Bách Gia Chư Tử    Sat Nov 02, 2013 12:20 pm

Phần Bốn  
* 
Lược khảo các tác phẩm của Bách Gia Chư Tử
- 2 - 
Các sách của phái Đạo gia
1. Lão Tử
Sách của phái Đạo gia, pho Lão Tử là nổi tiếng hơn hết. Tương truyền pho Lão Tử, là lúc Lão Tử vào nước Tần, khi qua cửa ải viết cho Quan Doãn 5 ngàn lời.
Lão Tử họ Lý, tên Nhĩ, tự Đam, làm quan Thủ tàng thất sử cho nhà Châu, Khổng Tử qua nhà Châu xem sách, thường hỏi Lễ với ông.
Lão Tử thường nêu mẫu mực cho Khổng Tử và Khổng Tử cũng thường khen Lão Tử. Sách Sử ký, phần Lão Tử truyện và Khổng Tử Thế Gia đều có ghi việc ấy.
Theo các chứng cớ ấy thì dường như Lão Tử và Khổng Tử đồng thời, mà tuổi đời và đức của Lão Tử cao hơn Khổng Tử, như thế thì quyển Lão Tử phải ra đời trước quyển Luận Ngữ rất lâu...và mở đầu cho phong trào sáng tác tư nhân, và là người khai tổ cho Chư Tử.
Nhưng Lão Tử chỉ là một tên gọi chung, và quyển Lão Tử được mọi người thích đọc chỉ là tác phẩm của một nhân vật truyền thuyết mà không phải là của Lão Lai Tử, của Thái sử Chiêm nhà Châu, hay là của Lý Nhĩ như phần trên đã nói.
Về quyển Lão Tử thì không phải do Lão Tử viết mà do người thời Chiến Quốc gom góp những lời truyền tụng của phái Đạo gia, rồi cũng có trích ở các sách khác, góp lại mà thành.
Quyển sách ấy ra đời sau pho Luận Ngữ rất xa, sau đây là phần lược khảo về pho Lão Tử.
*
Trong Hán Chí, phần Chư Tử lược, về phái Đạo gia, thì có quyển Lão Tử, có 4 quyển khác nhau :
1. Quyển Lão Tử Lân thị kinh truyện, 4 thiên, với lời chú : " Ông họ Lý, tên Nhĩ, Lân thị truyền học thuyết của ông ".
2. Quyển Lão Tử Phó thị kinh thuyết, 37 thiên, với lời chú : " Thuật học thuyết của Lão Tử, v.v... ".
3. Quyển Lão Tử Từ thị kinh thuyết, 6 thiên, với lời chú : Tự Thiếu Quí, người đất Lâm Hoài, truyền học thuyết Lão Tử.
4. Quyển " Thuyết Lão Tử " của Lưu Hướng, 4 thiên.
Bốn quyển kể trên đều là bổn chú của Lão Tử, với những câu : " Kinh truyền... " hay " Kinh thuyết rằng ... " là vì trong thời kỳ đầu Tây Hán, Hoàng Lão rất được sùng thượng, suy tôn quyển Lão Tử là " Kinh "...cho nên gọi quyển Lão Tử là " Kinh "... để truyền thuật học thuyết.
Sách của Lưu Hướng, sở dĩ không viết " Lão Tử nói... " là vì Lưu Hướng gốc là người phái Nho, mà lại nói về thuyết Lão Tử, thì có khác với các họ Lân, Phó và Từ đã kể trên.
Ngày nay, còn được quyển Lão Tử 81 chương, phân làm 2 thiên thượng, hạ. Thượng thiên 37 chương, gọi là Đạo Kinh. Hạ thiên 44 chương gọi là Đức Kinh. Hợp chung gọi là Đạo Đức kinh.
Đạo Tòng bản có quyển Đạo Đức chú tập giải của Đổng Tư Tịnh đời Tống, trong lời tựa có viết : Lưu Hướng định ra 2 thiên 81 chương, như thế thì khi Lưu Hướng hiệu đính đã phân ra thượng, hạ kinh, nhưng số chương trong các thiên lại không giống với bổn ngày nay.
Lại có quyển Hỗn Ngươn thánh kỷ của Tạ Thủ Hạo đời Tống dẫn lời quyển Thất lược viết : " Lưu Hướng hiệu đính sách Lão Tử 2 thiên, sách Thái sử 1 thiên, và riêng sách của ông 2 thiên, tất cả 5 thiên, 143 chương, trừ những chỗ trùng 3 thiên gồm 62 chương, định ra làm 2 thiên và 81 chương : Thượng kinh đệ nhứt 37 chương, Hạ kinh đệ nhị 44 chương ".
Như vậy Thượng, Hạ kinh và chương số giống với bổn còn hiện nay.
*
Sách Lão Tử, Thượng thiên, câu đầu viết : " Đạo khả đạo, phi thường đạo " và câu đầu Hạ thiên là : " Thượng đức bất đức, thị dĩ hữu đức ". Trong Đạo Đức kinh, dường như lấy chữ đầu trong 2 câu đầu 2 thiên để làm tên, như thế là tiêu đề không có nghĩa, vì chỉ dùng những chữ đầu trong các thiên ghép lại chớ không nêu nội dung quyển sách.
Trong sách Sử ký, phần Bổn truyện chép : Lão Tử viết sách gồm Thượng, Hạ thiên, nói cái ý của Đạo, Đức " vì thế quyển sách mới gọi là Đạo Đức kinh, đó là cái ý của toàn thể quyển sách chớ không phải vì tên của 2 thiên đầu mà đặt ra.
Sách Tùy Chí có viết : " Vương Bật chú Đạo Đức kinh 2 quyển. Triệu dĩ Đạo, trong lời bạt của quyển sách Vương Bật có viết : "  Bật đề tên quyển sách là Đạo Đức kinh... " như thế thì Vương Bật đã đề tên cho quyển sách.
Nhưng Vương Bật không đề tên 2 thiên là Đạo kinh và Đức kinh. Trong phần Lão Tử thích văn của quyển kinh điển thích văn Lục thị đã ghi là căn cứ theo bổn của Vương Bật, và trong quyển sách đã phân ra Đạo kinh và Đức kinh. Nhưng trong quyển sách, quyển thượng lại có tên là Âm nghĩa, với chữ đầu Đạo đức...rồi giải thích...
Nếu đã phân thiên, thì phần Âm nghĩa ấy chỉ phải giải thích có chữ Đạo thôi.
Do đó, tuy Vương Bật đã đề toàn bộ quyển sách là Đạo Đức kinh, nhưng thật ra chưa phân ra 2 thiên Đạo kinh và Đức kinh, tóm lại, sở dĩ quyển sách có tên là Đạo Đức kinh là vì quyển sách nói cái ý Đạo Đức.
Đạo Đức là ý chính yếu của học phái Lão Tử, cho nên phái ấy cũng gọi là Đạo Đức gia, mà quyển sách của Lão Tử lại may mắn có 2 thiên, nên có kẻ mới phân đề ra làm Đạo kinh và Đức kinh, chớ không phải lúc ban đầu đã có phân đề rồi sau mới hợp lại thành Đạo Đức kinh.
*
Các sách của Chư Tử, lúc ban đầu, đa số đều không phải do chính tay người ấy viết ra. Sách Lão Tử là do người thời Chiến Quốc gom góp lại mà thành. Bằng chứng về lời nhận xét nầy có tất cả 6 điểm.
1. Luận Ngữ là do hậu học của Khổng Tử biên soạn, mỗi người đều có ghi riêng lời nói của thầy, và đến cuối đời Xuân Thu gom lại mà soạn.
Lúc đầu thời Chiến Quốc, văn chương còn đơn giản chất phác, những chương không liền nhau. Văn trong quyển Lão Tử cũng đơn sơ chất phác, mỗi đoạn lại không liền nhau, giống như sách Luận Ngữ, nhưng Luận Ngữ thì viết theo thể văn ký ngôn, cho nên mỗi chương đều ghi tên người phát ngôn, còn sách Lão Tử thì chỉ là những đoạn cách ngôn, không phải thể văn ký ngôn, khác hẳn với Luận Ngữ. Đó là bằng chứng thứ nhứt.
2. Trong sách Luận Ngữ, chưa bao giờ có đề cập đến Lão Tử, Khổng Tử đã từng đến thọ giáo, hỏi về việc Lễ, với tinh thần khâm phục, tại sao lúc bình thường lại không nhắc đến Lão Tử một câu nào cả ?
Trong các sách Mặc Tử và Mạnh Tử, cũng có những lời phê phán Lão Tử, trong sách Lão Tử cũng có những luận điệu phản đối Nho, Mặc, như thế là quyển Lão Tử đã viết sau các quyển Luận Ngữ, Mặc Tử và Mạnh Tử.
Đó là bằng chứng thứ 2.
3. Sách Luận Ngữ không phải do một người biên soạn, cho nên thỉnh thoảng có những đoạn trùng nhau, trong quyển Lão Tử, những đoạn trùng lại càng nhiều hơn, như thế là không phải do một mình Lão Tử viết, không phải viết ra trong lúc ông đi ngang qua cửa ải.
Đó là bằng chứng thứ 3.
4. Toàn bộ sách Luận Ngữ không có vần, trong Mạnh Tử tuy thỉnh thoảng có những đoạn vần, nhưng rất ít, nhưng trong sách Lão Tử thì lại rất nhiều, khác hẳn với sách Luận Ngữ, Mạnh Tử.
Thiên Hồng Phạm trong kinh Thơ, các thiên Văn Ngôn, Hệ Từ trong kinh Dịch, những câu vần cũng rất nhiều, loại văn xuôi nghị luận mà xen có vần như trong sách Lão Tử không phải là loại văn của thời xưa, đây là bằng chứng thứ 4 rất dễ nhận.
5. Chương thứ 38 sách Lão Tử có viết : " Cho nên mất đạo mà sau đức, mất đức mà sau nhơn, mất nhơn mà sau nghĩa, mất nghĩa mà sau lễ...và lễ là cái bạc của trung tín, và cũng là mối đầu của loạn " và " người biết trước là cái văn vẽ bên ngoài của đạo và cũng là cái bắt đầu của điều ngu... ".
Lập luận nầy rất đúng với sự diễn biến của đạo đức dưới thời Chiến Quốc qua các học phái của Lão Tử, Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, nếu Lão Tử là người của thời Xuân Thu thì làm sao có được lập luận như thế ?
Đó là bằng chứng thứ 5.
6. Những câu trong Lão Tử, thấy rất nhiều trong sách Trang Tử, và cũng có những câu của Pháp gia, Binh gia, Tung Hoàng gia, rõ ràng đây là một pho sách gom góp.
Đó là bằng chứng thứ 6.
*
Căn cứ theo 6 bằng chứng kể trên, chúng ta có thể quả quyết rằng pho Lão Tử không phải do một người viết trong một thời gian nào đó, mà do một số người trong thời Chiến Quốc gom góp những câu hay truyền tụng trong phái Đạo gia [vì những câu có vần trong pho sách là những câu như cách ngôn dễ nhớ, dễ đọc, dễ truyền tụng trong dân chúng], rồi cũng có những câu hay trích lục từ trong các sách khác, rồi gán cho Lão Tử.
Dưới thời Hán sơn, vua chúa, hoàng hậu và đại thần rất say mê quyển Lão Tử vì thế mới tôn là " Kinh " rồi học giả lại a dua theo biến quyển sách thành tác phẩm của Chư Tử và được tôn lên hàng đầu.
*
Bổn chú của Lão Tử, bổn xưa nhứt, bây giờ còn là quyển Lão Tử chú của Hà thượng Công. Sách Tùy chí có viết : " Lão Tử Đạo Đức Kinh 2 quyển, dưới thời Hán văn Đế, Hà thượng Công chú ... ".
Sách Sử ký, phần Nhạc nghị truyện có viết : " Nhạc thần chuyên tâm học Hoàng Đế, Lão Tử, Bổn sư là Hà thượng trượng nhơn nhưng không biết ông là người từ đâu đến...Hà thượng trượng nhơn dạy An kỳ Sanh, An kỳ Sanh dạy Mao hấp Ông, Mao hấp Ông dạy Nhạc hà Công, Nhạc hà Công dạy Nhạc thần Công, Nhạc thần, Công dạy Cái Sanh, Cái Sanh dạy Cao mật Tây, Cao mật Tây làm quốc sư cho Tào tướng ".
Tào tướng quốc là Tào Tham, dường như từ Hà thượng trượng nhơn đến Tào Tham, việc truyền thọ rất phân minh, bảy lần truyền mà đến đời Hán sơ, như thế thì Hà thượng trượng nhơn là người thời Chiến Quốc.
Kinh điển Thích văn tự lục có viết : " Hà thượng Công viết sách Chương cú 4 quyển, vua Văn Đế triệu, không đến, Văn Đế liền đến trách ông. Hà thượng Công liền nhảy lên không trung, Văn Đế nghiêm chỉnh tạ lỗi, ông liền trao cho Văn Đế quyển Lão Tử chương cú gồm 4 quyển.
Sách Thuyết văn đã dẫn lời trong quyển Lão Tử tự quyết, và Lão Tử tự quyết chép ở Đạo Tòng Bản, Đạo Đức chơn kinh tứ gia tập chú, tương truyền quyển nầy do Cát Hồng hay Cát Huyền soạn, cho nên chuyện thần thoại Hà thượng Công hợp với truyện thần tiên của Cát Hồng...
Hà thượng trượng nhơn dưới thời Chiến Quốc, tức là Hà thượng Công thời Hán Văn Đế. Trong sách Tùy chí có nói đến quyển Lão Tử chú, tức là bản Lão Tử còn đến ngày nay, và nếu như Hà thượng Công đã trao cho Văn Đế bản Lão Tử chú ấy, thì tự nhiên ông phải cất giữ kỹ trong cung cấm, tại sao lúc Lưu Hướng hiệu đính các sách cho vua lại không có quyển sách ấy ? Và luôn cả sách Thất lược, Hán Chí cũng không thấy ghi vào ? Hơn nữa sự tích và hành động của Hà thượng Công lại quá lờ mờ, không có gì rõ rệt, rõ ràng, đó chỉ là lời thêu dệt của bọn phương sĩ mà thôi.
Vì thế mà Lưu Tri Cơ sau nầy chỉ đề cập đến quyển Lão Tử với lời chú của Vương Bật, chớ hề nhắc đến quyển chú của Hà thượng Công.
Trong Thích Văn tự lục mặc dù đã ghi chuyện Hà thượng Công, nhưng đến phần Lão Tử thích văn cũng chỉ căn cứ đến quyển chú của Vương Bật mà thôi.
*
Về chú bổn quyển Lão Tử, chỉ có quyển của Vương Bật là đáng chú ý hơn hết. Vương Bật là người nước Ngụy, rất giỏi về truyền ngôn, lại tinh thông Dịch lý, cho nên có thể bài bác những lời hoang đường của bọn phương sĩ tìm hiểu được chỗ tinh vi, huyền diệu của pho Lão Tử.
Sách Lưu Đường chí có ghi quyển Huyền ngôn tân kỷ đạo đức 2 quyển, đó chỉ là tập chú Đạo Đức kinh của Vương Bật.
Sách Tân Đường chí lại cho rằng đó là quyển sách do Vương Túc soạn chớ không phải quyển chú của Vương Bật.
Dưới thời nhà Minh có Tiêu Hoằng viết quyển Lão Tử dực, tập trung tất cả tài liệu của Hàn Phi trong các thiên Giải Lão, Dụ Lão cho đến các tập chú Lão Tử khác, cọng tất cả tài liệu của 64 người.
Quyển nầy tài liệu tham khảo rộng rãi, đầy đủ, việc lựa chọn cũng chính xác, tinh vi, phương pháp biên soạn phỏng theo Lý Đảnh Tộ trong Châu Dịch tường giải, nên đây là một quyển đáng chú ý.
Ngoài ra cũng còn quyển Lão Tử thuyết lược của Trương Nhĩ Kỳ đời Thanh, Nhĩ Kỳ là người chuyên môn về cổ học rất đáng tin cậy, kế đó là quyển Lão Tử của Mã Di Sơ...tiếp theo lại còn rất nhiều bản chú khác không sao kể cho hết được.
2. Sách Trang Tử.
Dưới thời nhà Hán, nói đến Đạo gia là đề cập đến Hoàng Lão mà không nói đến Lão Trang. Đối với quyển Lão Tử, sách Hán Chí cho là " Kinh ", còn sách Trang Tử thì không được trích lục những chú bổn, là vì lúc đó Trang Tử chưa được các học giả tôn trọng.
Học thuyết của Trang Tử được trọng là bắt đầu từ thời Ngụy, Tấn và được sắp chung với kinh Dịch và Lão Tử, gọi là " Tam huyền " và cũng từ đó mới được gọi chung là Lão Trang.
Trang Tử được tôn lên làm " Kinh " là bắt đầu từ thời Đường Huyền Tôn, sách Tân Đường Chí có viết : " Đầu năm Thiên Bảo, hạ chiếu gọi quyển Trang Tử là Nam Hoa chơn kinh ".
Trong quyển " Viên Thuần Đường bút ký " của Diêu Phạm có viết : Tên Nam Hoa không hiểu xuất phát từ đâu...
Sách Tùy Chí có nhắc đến các quyển Nam Hoa Luận, Nam Hoa Luận Âm của Lương Khoáng...và gọi Trang Tử là Nam Hoa chơn nhơn, quyển Trang Tử là Nam Hoa chơn kinh, từ đời Đường Khai Nguyên năm thứ 25, như thế thì tên Nam Hoa, trước đời nhà Đường đã có rồi.
Đường Huyền Tôn tôn sùng Trang Tử với một lý do không đâu, và sách Trang Tử liền thành một quyển sách quan trọng trong phái Đạo gia, giá trị còn hơn quyển Lão Tử.
Sau đây, xin lược khảo về quyển Trang Tử :
Trong Hán Chí, phần Chư Tử lược, phái Đạo gia, có quyển Trang Tử 52 thiên, nhưng quyển Trang Tử ngày nay có 33 thiên, so với Hán Chí thì ít hơn 19 thiên, như thế thì quyển sách còn ngày nay là bổn đã bị mất mát.
33 thiên trong sách Trang Tử kể ra như sau :
Nội thiên gồm 7 thiên : Tiêu diêu Du, Tề vật Luận, Dưỡng sanh Chủ, Nhơn gian Thế, Đức sung Phù, Đại tôn Sư, Ứng đế Vương.
Ngoại thiên gồm 15 thiên : Biền Mẫu, Mã Đề, Khư Kịp, Tại Hựu, Thiên địa, Thiên đạo, Thiên vận, Khắc ý, Thiện tánh, Thu thủy, Chí lạc, Đạt sanh, Sơn Mộc, Điền tử Phương, Tư Bắc Du.
Tạp thiên gồm 11 thiên : Canh tang Sở, Từ vô Quỉ, Đạo Chích, Thuyết kiếm, Ngư phù, Liệt ngự khấu, Thiên hạ.
Trong Nội thiên, các thiên đều có tiêu đề có nghĩa, còn trong Ngoại thiên và Tạp thiên, thì dường như hầu hết các tiêu đề đều không có ý nghĩa.
Về 19 thiên bị mất, thì không rõ mất vào lúc nào, theo sách Kinh điển thích văn tự lục có ghi, thì dưới thời Tấn, có 5 nhà chú thích quyển Trang Tử, nhưng số thiên của mỗi quyển lại nhiều ít khác nhau.
Sau đây là mấy quyển ấy :
1. Bản chú của Tư Mã Bưu 21 quyển, 52 thiên, Nội thiên gồm 7 thiên, Ngoại thiên 28 thiên, Tạp thiên 14 thiên, Giải Thuyết 3 thiên, nhưng sách đã bị mất.
2. Bản chú của Mạnh Thị 18 quyển, 52 thiên, không biết có chia làm Nội, Ngoại, Tạp thiên hay không, sách Thích văn không có ghi. Bản nầy cũng bị mất.
3. Bản chú của Thôi Soạn, 10 quyển, 27 thiên, Nội thiên 7 thiên và Ngoại thiên 20 thiên.
Quyển nầy đã mất.
4. Bản chú của Quách Tượng : 33 quyển, 33 thiên, Nội thiên 7 thiên, Ngoại thiên 15 thiên, Tạp thiên 11 thiên, Âm : 1.
Bản nầy hiện nay còn nhưng sửa lại làm 10 quyển.
Trên đây là bản chú của 5 người, 2 bản của Tư Mã và Mạnh Thị thì số thiên đồng với Hán Chí. Ba bản của Thôi, Hướng, Quách thì số thiên lại ít hơn.
Xét ra, cũng đồng một thời nhà Tấn tại sao lại có bản bị mất đi đến một phần ba số thiên ? Hai bản chú của Thôi và Hướng đã bị mất, nhưng tìm hiểu kỹ bản của họ Quách hiện nay còn, so sánh với bản khác, thì dưới thời nhà Tấn, các nhà chú thích có cắt xén và gom lại nên mới còn ít thiên.
Sách Thích văn tự lục có viết : Trang Tử tài rộng, dạy đời lời nói thâm thúy, thú vị, nói ngay mà như ngược, cho nên khó có ai thông được...người đời sau thêm bớt làm cho mất lần lần cái chân chính của ông, cho nên Quách Tử Huyền có nói : " Có những người đa sự thêm bớt, làm cho có những thiên bị mất bản sắc cũ đến 3 phần 10 ".
Sách Hán thơ Nghệ văn chí, ghi quyển Trang Tử 52 thiên, tức là bản chú của Tư Mã Bưu và Mạnh Thị. Lời chú của ông hoang đường, hoặc giống như Sơn Hải Kinh, hoặc giống như sách bói, mộng...
Chỉ có bản chú của Tử Huyền và Quách Tượng chiếm đến 3 phần 10 quyển sách, chỗ nào nghi ngờ là do kẻ đời sau thêm vào, không đúng với ý của Trang Tử, là Quách Tượng cắt bỏ để giữ cho đúng ý, y như sách Triệu Kỳ đã chú sách Mạnh Tử, cắt bỏ 4 thiên ngoại thơ, thành ra bị mất luôn.
Sách Bắc Tề thơ, phần Đỗ Bật truyện, có viết : Bật đã từng chú thích thiên Huệ Thi sách Trang Tử. Có lẽ bổn Trang Tử ngày nay nửa phần sau từ chỗ " Huệ Thi đa phương " trở về sau, trước kia là 1 thiên riêng, mà những nhà chú thích gom lại thành 1 thiên vì thế mới có thuyết là quyển Trang Tử ngày nay ít thiên hơn là do lý do ấy.
Những đoạn bị mất trong sách Trang Tử, có chỗ còn thấy trong sách Liệt Tử và Hoài Nam Tử, tuy chưa tìm hiểu được những đoạn ấy thuộc về thiên nào, nhưng biết chắc đó là những đoạn bị các nhà chú thích bỏ bớt.
Nội thiên sách Trang Tử, các bản chú thích đều giống nhau là 7 thiên, như thế là các đoạn cắt bỏ thuộc về Ngoại thiên và Tạp thiên.
Nhưng trong phần Nội thiên cũng có những chỗ bị cắt xén hay thay đổi vị trí, quyển Trang Tử ngày nay còn chẳng những số thiên đã ít mà các câu có nhiều đoạn cũng khác với bản cũ.
Vì thế, chúng ta có thể suy đoán, trong số 52 thiên của sách Trang Tử trước kia, nội dung rất bao la, tạp nhạp, và sách ấy không phải do chính Trang Tử viết, mà chỉ do những người hậu học Trang Tử biên soạn, gom góp và việc biên soạn cũng không phải trong một thời gian nhứt định, một lần mà xong, có nhiều người, nhiều lần đã viết thêm vô.
Bản Trang Tử 33 thiên còn lại ngày nay tự nhiên là đã mất mát rất nhiều, và đại bộ phận đã được các nhà chú thích Thôi Soạn, Hưóng Tú, Quách Tượng thêm bớt sửa chữa nhiều lần.
Năm bản chú thích của đời Tấn đã kể trên, bây giờ chỉ còn có một bổn của Quách Tượng, như thế thì " chân diện mục " trước kia của pho Trang Tử như thế nào, chúng ta không có cách gì để biết được cả.
*
Bản chú thích sách Trang Tử còn cho đến ngày nay, bản của Quách Tượng là xưa hơn hết. Bản Quách Tượng tương truyền là đã cóp theo bản Trang Tử của Hướng Tú.
Vụ án đạo văn nầy bắt dầu từ thiên Văn học trong pho Thế thuyết tân ngữ.
Trong thiên Văn học của pho sách trên có chép Hướng Tú chú thích pho Trang Tử chỉ đến 2 thiên Thu Thủy và Chí Lạc, nhưng chưa xong là qua đời.
Phía dưới lại viết tiếp : " Con của Hướng Tú còn nhỏ nhưng lại giữ được 1 bổn chú của cha. Quách Tượng là người kém hạnh thấy bản chú của Hướng Tú chưa lưu hành, liền lấy làm của mình, còn những thiên khác Hướng Tú chưa chú thích thì Quách Tượng chỉ định văn và chấm câu mà thôi.
Sau đó quyển chú của Hướng Tú được lưu hành, cho nên ngày nay có 2 bản của Hướng Tú và Quách Tượng, tuy là 2 bản, nhưng lại giống nhau.
Sách Tấn thơ trích Quách Tượng truyện, và Tiền Tăng trong quyển " Đọc thơ mẫn cầu ký " có viết : " Tôi đọc sách Thích văn của họ Lục, có dẫn lời chú của Hướng Tú nhiều chỗ, như thế là Hướng Tú có một quyển chú Trang Tử lưu hành, thời đại cách nhau quá xa, lời nói truyền nhau có khi bị sai lạc, những lời trong sách Tấn thơ đã nói, cũng chưa chắc là đúng... ".
Đó là những lời biện bạch, minh oan cho Quách Tượng.
Trong phần Thơ mục đề yếu của sách Tứ Khố Toàn Thơ có viết : " Về bản chú của Hướng Tú, Trần Chấn Tôn cho biết đến đời nhà Tống đã bị mất, nhưng còn thấy rải rác những đoạn trong sách Thích Văn của họ Lục. Đem những đoạn ấy so sánh, như câu " Hữu bồng chi tâm " trong thiên Tiêu diêu Du...thì thấy 2 bản đều khác nhau, như câu : " Thánh nhơn bất tử, đại đạo bất chỉ " trong thiên Khư Kịp, hai bên cũng không giống...ngoài ra cũng còn nhiều đoạn không giống nhau.
Trương Trạm trong bản Liệt Tử chú, có những đoạn giống Trang Tử, và cũng có dẫn lời của Hướng Tú và Quách tượng v.v...
Theo sách Thế Thuyết Tân Ngữ thì Hướng Tú chú 2 thiên Thu Thủy và Chí Lạc mà chưa xong rồi chết, nếu Quách Tượng có " cóp " theo thì cũng chỉ một đoạn ngắn ấy thôi, chớ không phải toàn bộ quyển sách.
Tiêu Hoằng cũng có pho Trang Tử dực, cũng gom góp những lời chú của người trước, từ Quách Tượng trở đi, tổng cộng có lối 22 người, có thể nói đây là pho tập chú rộng rãi và đầy đủ. Rồi phần sau lại thêm phần Trang Tử khuyết ngộ gom góp những chỗ sai biệt từ pho Nam Hoa kinh giải của Lục Cảnh Ngươn đời Tống đến các tài liệu trong Sử ký, sách Trang Tử luận của Nguyễn Tịch, Vương An Thạch, sách Trang Tử từ đường ký của Tô Thức v.v... tóm lại, hầu hết sách của các học giả về Trang Tử, ông đều có đọc và trích lục đầy đủ.
Về những pho Trang Tử chú bổn, dưới đời Thanh có pho Trang Tử tập giải của Quách Khánh Phiên, chú thích rõ ràng, bản Trang Tử tập giải của Vương Tiên Khiêm rất giản dị dễ đọc, bản Trang Tử nghĩa chứng của Mã Di Sơ vừa rộng mà lại vừa dễ tóm lược, bản của Mã Di Sơ gồm được những sở trường của Quách Khánh Phiên và Vương Tiên Khiêm, rất đáng cho đọc giả chú ý.
3. Sách Quản Tử và Thái Công.
Sách Đạo gia bây giờ còn lại rất nhiều, nhưng sách nên đọc ngoài Lão Tử, Trang Tử, thì chỉ có Quản Tử. Còn như sách Thái Công không phải là loại sách dưới thời Châu Tần, đọc cũng không có ích lợi gì bao nhiêu.
Các nhà học giả, đề cập đến phái Đạo gia, thường thường chỉ nhắc đến Lão Tử, Trang Tử và Quản Tử, Lão Trang, đoạn trước đã lược qua, bây giờ xin tìm hiểu đến sách Quản Tử.
*
Sách Hán Chí, phần Đạo gia có Quản Tử 86 thiên, với lời chú : Tên Di Ngô, làm tướng cho Hoàn Công, 9 lần hợp chư hầu, không dùng đến binh xa, có Liệt truyện trong Sử ký.
Bản Quản Tử hiện nay, phía trước có phần Tự Lục của Lưu Hướng viết : Khi hiệu đính sách Quản Tử, có 389 thiên, sách Đại trung, đại phu Bốc Khuê 27 thiên, sách của Phú Tham 41 thiên, sách của Tạ Trung Hiệu Úy Lập 11 thiên, sách của Thái sử 96 thiên, tất cả sách trong ngoài là 564 thiên.
Sau khi hiệu đính, bớt những phần trùng 484 thiên, định còn lại 86 thiên, như thế là bản hiệu đính của Lưu Hướng có 86 thiên.
Trong sách Sử ký, chép Quản Án liệt truyện có viết : " Quản Tử đã bị mất 10 thiên, 10 thiên đó là Mưu thất, Chánh ngôn, Phong thiện, Ngôn chiếu, Tu thân, Vấn bá, Mục dân giải, Vấn thừa mã, Khinh trọng (bính), Khinh trọng (canh).
Nghiêm Khả Quân trong quyển Thiết kiều mạn cảo cũng có viết : Dưới thời Lương, Tùy đã mất 10 thiên. Dưới thời nhà Tống lại mất thêm Vương Ngôn, cho nên bản Quản Tử ngày nay, 11 thiên ấy có tên mà không có bài.
Trong sách Tứ khố toàn thơ có ghi : Quản Tử 24 quyển, 86 thiên, trong phần Pháp gia tức là bổn Quản Tử còn hiện nay.
24 quyển với các thiên chép ra sau :
Quyển 1 : các thiên : Mục dân, Hình thế, Quyền tu, Lập chánh, Thừa mã.
Quyển 2 : Thất pháp, Bản pháp.
Quyển 3 : Ấu quan,Ấu quan đồ, Ngũ phụ.
Quyển 4 : Trụ hợp, Xu ngôn.
Quyển 5 : Bát quang, Pháp cấm, Trọng lịnh.
Quyển 6 : Pháp pháp, Binh pháp.
Quyển 7 : Đại khuôn.
Quyển 8 : Trung khuôn, Tiểu khuôn, Vương ngôn.
Quyển 9 : Bá linh, Bá ngôn, Vấn, Mưu thất.
Quyển 10 : Giới, Địa đồ, Tham hoạn, Chế phân, Quân thần [thượng].
Quyển 11 : Quân thần [hạ], Tiểu xưng, Tứ xưng, Chánh ngôn.
Quyển 12 : Xí mị.
Quyển 13 : Tâm thuật [thượng], Tâm thuật [hạ], Bạch tâm.
Quyển 14 : Thủy địa, Tứ thời, Ngũ hành.
Quyển 15 : Thế, Chánh, Cửu biến, Nhiệm tánh, Minh pháp, Chánh thế, Trị quốc.
Quyển  16 : Nội nghiệp, Phong thiện, Tiểu vấn.
Quyển 17 : Thất thần, Thất chủ, Cấm tàng.
Quyển 18 : Nhơn quốc, Cửu thủ, Hoàn công Vấn, Đạt địa.
Quyển 19 : Địa viên, Đệ tử chức, Ngôn chiếu, Tu thân, Vấn bá, Mục dân giải.
Quyển 20 : Hình thế giải.
Quyển 21 : Lập chánh cửu bại giải, Bản pháp giải, Minh pháp giải, Mục thừa mã, Thừa mã số, Vấn thừa mã.
Quyển 22 : Sự ngữ, Hải vương, Quốc súc, Sơn quốc quỷ, Sơn quyền số, Sơn chí số.
Quyển 23 : Địa số, Quì độ, Quốc chuẩn, Khinh trọng [giáp]
Quyển 24 : Khinh trọng [ất], Khinh trọng [binh], Khinh trọng [đinh], Khinh trọng [mậu], Khinh trọng [kỷ], Khinh trọng [canh].
Trở lên tất cả 86 thiên, trừ 11 thiên bị mất, chỉ còn 75 thiên.
*
Quản Trọng làm tướng cho Hoàn Công, làm Bá chư hầu, công nghiệp thật to lớn, còn hơn cả Án Anh, người nước Tề khen ông ngợi ông mãi mãi...cho nên quyển sách của ông như quyển Án Tử là chỉ do người đời sau gom góp lại mà thành, và quyển sách ra đời rất xa thời Chiến Quốc trở về sau.
Quản Trọng mất trước vua Hoàn Công, mà trong sách nhắc đến Hoàn Công, chỉ dùng tên thụy, trong thiên Tiểu Vấn, nhắc chuyện Tần Mục Công phong tướng Bá Lý Hề cũng cách sau Hoàn Công rất xa.
Thiên Tiểu xưng khen Mao Tường, Tây Thi, là mỹ nhân trong thiên hạ cũng là người cuối đời Xuân Thu. Thiên Khinh trọng [giáp] nhắc nước Lương, nước Triệu ; thiên " tuất " thì nhắc đến Triệu Đại, như thế pho sách chẳng những ra đời sau khi Tam gia phân chia nước Tấn, mà cũng sau thời gian nước Ngụy dời qua Đại Lương, và sau khi nước Triệu đến đời Đại Vương.
Lời chú nầy nông cạn, nhiều chỗ sai lầm, xem không có lợi ích gì.
Dưới thời nhà Minh có Quản Tử bổ chú của Lưu Tích khá hơn. Dưới thời nhà Thanh có bản Quản Tử nghĩa chứng của Hồng Di Tuyên, bản Quản Tử hiệu đính của Đái Vọng, tất cả đều là những bản có giá trị.
*
Trong sách Tử Lược, Cao Tợ Tôn có viết : " Sách của Chư Tử bắt đầu từ Bật Hùng, trong sách " Chư Tử biện ", Tống Liêm cũng viết : " Bật Tử là pho sách đầu của Chư Tử ".
Xét theo Hán chí, có ghi chép những sách của Đạo gia, trước Quản Tử có Y Doãn, Tân Giáp, Thái Công, Bật Nhiên, Cao Tống, như thế thì thuyết của 2 người kề trên đã sai.
Hiện nay sách của Y Doãn, Tân Giáp đã mất, còn sách của Thái Công, Bật Nhiên cho đến bây giờ vẫn còn.
Thái Công và Bật Nhiên là người đồng thời nhưng tuổi tác lại cách biệt nhau nhiều.

Sau đây là phần lược khảo về tác phẩm của 2 người.

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Bách Gia Chư Tử    Sat Nov 02, 2013 12:47 pm

Sách Thái Công
Sách Hán chí, phần Đạo gia, có sách Thái Công 237 thiên, phần Mưu có 81 thiên, Ngôn 71 thiên, Binh 85 thiên, lời chú như sau : Lã Vọng làm chức Thượng phu, cầm binh nhà Châu, người gốc có Đạo, hoặc gần đây, có kẻ làm Thái Công Thuật để thêm vào quyển sách...
Tiền Đại Chiêu có viết : " Mưu, Ngôn, Binh là tóm ý trong 237 thiên sách và cũng như là tổng danh của quyển sách ".
Trầm Khâm Hàn cũng có viết : " Mưu, tức là " Mưu lược " của Thái Công, Ngôn, tức là Kim quỉ của Thái Công, lời hay ghi lên bảng vàng, Binh tức Thái Công binh pháp ".
Trong Chiến Quốc sách, thiên Tần sách có viết : " Tô Tần, ban đêm dở sách, tìm được mưu Âm phù của Thái Công ".
Sách Quần thơ tự yếu, sau phần Lục thao, có chép mấy việc về mưu lược của Thái Công, đó tức là " Mưu " trong 237 thiên của sách Thái Công.
Sách Sử ký, phần Tề thế gia viết : " Văn Vương với Lữ Thượng bàn mưu, tu đức để lật đổ nền chánh trị nhà Thương, dùng binh quyền và những kế kỳ lạ...đời sau nói về việc binh và mưu chước của nhà Châu, đều tôn Thái Công ".
Nhà Châu, từ đời Thái Vương đã bắt đầu đánh nhà Thương, Thái Công giúp Văn Vương, Võ Vương hoàn thành việc phạt Trụ thay thế công nghiệp nhà Thương, những lời trần thuyết của ông gọi là " Ngôn ", những sách lược kế hoạch đặt ra gọi là " Mưu ", lúc đi phạt Trụ, hành quân gọi là " Binh ".
Công nghiệp của Thái Công với nhà Châu thật là to lớn, và hậu thế còn nhắc mãi. Kẻ sĩ thời Chiến Quốc, thích mượn danh người xưa trong những học thuyết mới định cải tạo chế độ, vì thế kẻ háo sự mới gom góp những tài liệu truyền thuyết, những lời nói của Thái Công, rồi lại thêm vào những quyển mưu của Tô Tần, Trương Nghi, những loại lập luận như Tôn Ngô binh pháp để thêm vô cho thành 237 thiên sách như ngày nay.
Thế nên sách Thái Công là sách của hậu thế viết ra mượn danh ông, chớ đó không phải là tác phẩm của thời Châu sơ, và nhứt là không phải chính do Thái Công đã viết ra.
Sách Tùy Chí có Thái Công Âm mưu 1 quyển, Thái Công Âm phù kiềm lục 1 quyển, Thái Công Phục phù Âm dương 1 quyển.
Sách Cựu Đường chí có Thái Công Âm mưu 3 quyển, Thái Công Âm mưu tam thập lục dụng 1 quyển, đó là những sách thuộc về loại " Mưu ".
Sách Tùy chí có Thái Công kim quỷ 2 quyển, còn Cựu Đường chí thì lại ghi 3 quyển, đó là thuộc loại " Ngôn ".
Sách Tùy chí Thái Công binh pháp 2 quyển, đó thuộc về loại " Binh ".
Như thế là từ đời nhà Đường đến lúc Tống sơ, sách của Thái Công còn lưu truyền.
Sách Thông khảo chỉ chép có quyển Lục thao, trong Tứ khố toàn thơ cũng có quyển sách nầy. Trong phần Binh gia, hiện nay còn quyển Lục thao, tức là Văn thao, Võ thao, Hổ thao, Báo thao, Long thao và Khuyển thao.
Theo bản sách ngày nay thì Long thao được sắp trước Hổ Thao, dường như trong sách Thái Công 237 thiên, phần Binh là 1 bộ phận gồm 85 thiên.
Sách Thông khảo có ghi sách " Cải chánh Lục thao " gồm 4 quyển đó là bổn sách san định dưới đời Tống Ngươn Phong. Bổn Lục thao hiện nay còn, trong có phần Tị Chánh điện v.v...
Sách Lục thao, đọc qua đã thấy rõ là giọng văn của thời Tần Hán, vì dưới thời Thái Công, thuộc nhà Châu, chưa có giọng văn tiến bộ như thế.
Sách Lục thao, thiên Âm phù có viết : " Chủ và tướng có Âm phù, phàm có 8 đẳng : Phù khắc địch dài 1 thước, phù phá quân dài 9 tấc, phù thất lợi dài 3 tấc mà thôi v.v... " như thế là lầm lẫn Âm phù với cờ phù tiết, bùa chú, thật đáng buồn cười.
Sách Châu thị thiệp bút có viết : " Quyển sách bắt nguồn từ Ngô Khởi, góp nhặt những lời của người xưa rồi thêm vào những lý luận quân sự, chánh trị của thời nay, thật là nông cạn không có chỗ nào dùng được cả... "
Tóm lại, sách Lục thao nội dung nông cạn, lời lẽ quê mùa, rõ ràng là pho ngụy thơ, chẳng những không phải của Thái Công viết, mà cũng không phải của người có học thời Tần Hán viết ra mượn tên người xưa để luận về việc binh, mà đó chỉ là một pho sách tạp nhạp, đọc không có ích gì cả.
Sách Bật Tử
Sách Hán chí phần Đạo gia, có Bật Tử 22 thiên, với lời chú : Ông tên Hùng, làm sư phó cho nhà Châu, từ Văn Vương trở xuống, ai ai cũng học.
Nhà Châu phong làm tổ nước Sở. Huân nghiệp của Bật Hùng không bằng Thái Công, và đó là một danh thần thời Châu sơ, thì tất nhiên sách của ông cũng do kẻ háo sự thời Chiến Quốc gom góp thêm bớt mà ra, y như quyển sách Thái Công còn cho đến ngày nay, và cũng không phải là quyển sách trong Hán chí đã ghi, nhứt là nhận xét về lời văn và cách lập luận, thấy rõ ràng không phải thuộc thời Châu Tần mà là thời Chiến Quốc trở về sau, vì thế nên nhiều nhà học giả đã đồng ý đó là pho sách ngụy tạo do người thời Lục triều viết ra, còn pho sách trong Hán chí có ghi thì đã bị mất từ lâu.
4. Các sách Văn Tử, Quan Doãn Tử, Liệt Tử và Hạc Quan Tử .
Trong sách Hán chí, phần Đạo gia, sau Lão Tử, lại có Văn Tử 9 thiên, với lời chú : " là đệ tử của Lão Tử, đồng thời với Khổng Tử, và tự xưng là Châu Bình Vương đã học với ông ".
Sách Tùy chí có ghi Văn Tử gồm 12 quyển, với lời chú : " Trong sách Thất lược ghi có 9 thiên, sách Thất lục đời Lương ghi 10 quyển nhưng đã mất ".
Theo tài liệu trên như thế thì sách Văn Tử đã mất rồi lại xuất hiện, nhưng số thiên, hay số quyển lại nhiều hơn trước. Tại sao vậy ? Bản sách còn cho đến ngày nay gồm 12 quyển, trong số có mấy thiên : Đạo nguyên, Thập thủ, Đạo đức, Thượng nhơn, Thượng lễ bị mất mát nhiều, còn lại 7 thiên thì đầy đủ.
Về tiểu sử của Văn Tử, phần trên đã có khảo cứu qua, và quyển sách của ông cũng do kẻ háo sự thời Chiến Quốc biên soạn rồi gán cho ông.
Bản sách ngày nay còn cũng không phải là bản của thời Chiến Quốc đã bị mất mà chỉ là quyển ngụy tạo dưới thời Lục triều, cho nên tạp nhạp không thể đọc được.
Liễu Tôn Ngươn trong thiên Biện Văn Tử có viết : " Ý của ông là gốc ở Lão Tử, nhưng tìm hiểu kỹ quyển sách thì đó là quyển sách lộn xộn, rất ít chỗ có tinh ý, mà lấy ý sách khác ghép vô thì nhiều, như sách của Mạnh Tử và nhiều nhà khác đều thấy được trích đem vô, nhìn qua là thấy ngay, rồi cách dùng ý, dùng văn cũng thấy không thuần nhứt, như thế rõ ràng là có người đã thêm vào hay cũng có thể đó là quyển sách góp của nhiều người... ".
Như thế bổn sách mà Liễu Tôn Ngươn có đọc cũng đã tạp nhạp rồi.
Trong sách Chư Tử biện, Tống Liêm đã viết : " Tôi thường đọc tìm hiểu sách Văn Tử, thì thấy noi theo Lão Đam, đại khái như là giảng nghĩa Đạo Đức kinh, nhưng lời nói của Lão Tử bao la, rộng rãi, còn quyển Văn Tử thì lộn xộn, có Hoàng Lão, có Danh gia, Pháp gia, Nho gia, Mặc gia...nên cho là lộn xộn rất đúng. "
Trong pho Tử bộ chánh ngụy, Hồ Ngươn thoại đã viết : " Liễu Tôn Ngươn cho rằng pho sách tạp nhạp, như thế là đúng. "
Trong pho " Đáo Hán vi ngôn " Chương Binh Lân đã viết : " Pho Văn Tử ngày nay, phân nửa là viết theo Hoài Nam Tử, còn những chỗ dẫn lời Lão Tử, đều là những thuyết quái dị, rõ ràng là một pho sách góp nhưng lại mượn danh Văn Tử. ".
Giang Tuyền cho rằng pho sách ấy của Văn Chủng viết và tôn sùng như pho Lão Tử, đó là một sai lầm rất lớn.
Bản Văn Tử ngày nay còn lại là bản chú của Từ Linh Phủ người đời Đường, một đạo sĩ đời Nam Tống, Đỗ Đạo Kiên có chú bản Văn Tử, tài liệu khá rộng, lời chú hay, tuy sách ngụy tạo, nhưng lời chú lại có giá trị.
Sách Quan Doãn Tử
Sách Hán chí có ghi Quan Doãn Tử 9 thiên với lời chú : " Tên là Hỉ làm quan giữ cửa ải, Lão Tử đi ngang, Hỉ bỏ chức đi theo " đó là căn cứ theo thuyết của Sử ký, trong phần Lão Tử truyện, nhưng trong Sử ký không có nói Hỉ bỏ chức quan đi theo.
Xét theo nguyên văn của Sử ký thì Hỉ không phải tên người, và việc Lão Tử qua cửa ải không có bằng chứng gì xác thực đáng tin cả, như thế thì Quan Doãn Hỉ cũng e rằng chỉ là một điều bịa đặt. Như vậy thì quyển sách là ngụy tạo, khỏi cần biện chứng, chúng ta cũng đã thấy rõ, nhưng trong thiên Đạt Sanh của Trang Tử, và thiên Thẩm Kỷ của Lã Thị Xuân Thu đều nói Liệt Tử có đến học hỏi với Quan Doãn Tử.
Trong thiên Thiên Hạ, Trang Tử lại đề cập Quan Doãn chung với Lão Đam, như thế thì đến đời Chiến Quốc, Quan Doãn Tử đã thành nhơn vật truyền thuyết.
Sách của Quan Doãn không thấy ghi trong Tùy chí, Đường chí và Quốc sử văn nghệ chí đời Tống, như vậy là quyển sách đã bị mất từ lâu.
Dưới thời Nam Tống, có Từ Xiển, tự Tử Lễ tìm được quyển sách ấy ở nhà của Vĩnh Gia Tôn Định, phía trước có phần Tự lục của Lưu Hướng, phía sau có lời tựa của Cát Hồng, quyển sách cũng có 9 thiên, đó là bổn còn cho đến ngày nay.
Trong sách Biện Văn Tử, Liễu Tôn Ngươn viết : " Quyển sách ấy, trước có lời tự của Lưu Hướng, viết rằng : Cái công trao quyển sách cho Tào Tham, Tào Tham chết, quyển sách mất, dưới thời Hiếu Võ, có người phương sĩ đem đến dưng cho Hoài Nam An vương, ông giữ kín, không đưa ra cho ai xem cả. Thân phụ của Lưu Hướng là Đức, phụng sự cho Hoài Nam vương, được quyển sách, nhưng văn lại không đúng, nên nghi đó là sách giả, thỉnh thoảng đọc thử thì thấy góp nhặt theo thuyết nhà Phật và chuyện thần tiên của bọn phương sĩ, mà mượn lập luận của Nho gia, bên trong có những câu như : " Một hơi thở mà đắc đạo... ", " Thanh giao, Bạch hổ... ", " Tụng chú mộc ngẩu v.v... " đó là những câu không bao giờ có dưới thời Lão Tử, như thế rõ ràng là sách giả rồi.
Tóm lại, phần Lão Tử truyện trong sách Sử ký, chép chuyện Lão Tử qua cửa ải, rồi viết sách cho Quan Doãn, đó là chuyện chép sau nầy, vào thời Chiến Quốc, khi đã có quyển Lão Tử rồi, và chuyện Quan Doãn Hỉ bỏ chức đi theo Lão Tử cũng là câu chuyện phụ họa thêm, rồi câu chuyện Quan Doãn viết sách cũng là chuyện phụ họa thêm cốt ý làm cho sách Lão Tử được thêm nhiều người chú ý.
Sách Hán chí ghi pho Quan Doãn Tử, chỉ là một pho sách giả của bọn phương sĩ thời Tần Hán soạn, bọn ấy còn giả luôn cả lời tự lục của Lưu Hướng.
Quyển Quan Doãn Tử không thấy có ghi trong sách Tùy chí, vì pho sách nầy không có giá trị gì, hay cũng có thể vì pho sách đã mất.
Pho sách hiện nay còn chắc chắn là pho sách giả của bọn phương sĩ đời Ngũ Đại soạn ra, như thế là pho sách đã bị giả đến 2 lần.
Sách Liệt Tử
Sách Hán chí phần Đạo gia có ghi sách Liệt Tử 8 thiên với lời chú : " Ông tên Ngự Khấu, trước thời Trang Tử. Trang Tử rất khen phục ông ".
Các sách Tùy chí và Tân, Cựu Đường chí đều ghi số thiên của sách ấy y như Hán chí.
Bản sách hiện nay còn cũng 8 thiên, phía trước có tự lục của Lưu Hướng viết : Trung và ngoại thơ gồm tất cả 22 thiên, trừ trùng 12 thiên và định lại còn 8 thiên, tức là bản Liệt Tử còn đến ngày nay, dường như là Lưu Hướng đã san định và Hán chí ghi theo.
Tám thiên sách Liệt Tử kể như sau :
" Thiên thoại, Hoàng đế, Châu Mục vương, Trọng Ni, Thang vấn, Lục mạng, Dương châu, Thuyết phù. "
Người thời nay, hễ đề cập đến sách Đạo gia, nếu không nói Lão, Trang thì cũng nói Lão Liệt. Liệt Tử và Lão Trang đều là những sách nổi tiếng trong phái Đạo gia, nhưng đó là sách giả hay thiệt thì không một ai dám quả quyết.
Liễu Tôn Ngươn, trong sách Biện Liệt Tử có viết : " Sách của ông bị thêm bớt rất nhiều, và sách viết rằng : Ngụy Mâu, Khổng Xuyên đều ra đời sau Liệt Tử, lời nói nầy không đáng tin v.v... " như vậy là Liễu Tôn Ngươn đã nghi ngờ quyển sách rồi.
Sách Tử lược của Cao Tợ Tôn lại nghi rằng Liệt Tử chỉ là tên một nhân vật truyền thuyết chớ không có thật trong phần khảo cứu về nhân vật Liệt Tử đã có nói qua.
Họ Cao cũng có viết tiếp : Sách Sử ký không có truyện Liệt Tử, mà nội dung quyển sách lại thiển cận, hoang đường, cho nên nghi rằng người đời sau làm giả.
Quyển Liệt Tử mà sách Hán chí đã ghi tức là quyển họ Cao đã nói của người đời sau làm giả, còn bổn Liệt Tử ngày nay còn lại không phải bổn mà sách Hán chí đã ghi.
Diêu Tế Hằng, trong quyển Cổ kim ngụy thơ khảo đã viết : Dưới thời Chiến Quốc, cũng có thể là có quyển sách ấy, do nhóm hậu học của Trang Tử viết và mượn danh người xưa đề tên, nhưng quyển sách ngắn, rồi người đời sau lại viết thêm vô.
Trong sách viết : Thánh nhơn phương Tây, đó là muốn nói Đức Phật, đó là người thời Đông Hán, Minh đế thêm vào, không có gì nghi ngờ được cả.
Tóm lại quyển Liệt Tử được người đời sau làm giả dưới thời Chiến Quốc, tính chất quyển ấy giống với pho Lão Tử mà sách Hán chí đã ghi thì pho ấy đã mất.
Dưới thời Ngụy, Tấn, những người thích huyền ngôn mới góp nhặt những lời Trang Tử và trong các sách khác, thêm vô những tư tưởng và ngôn luận của người đương thời để thành pho Liệt Tử mà chúng ta còn cho đến ngày nay.
Lời văn quyển nầy sinh động, trau chuốt, nên số đông văn nhân rất thích, vì thế mà được đứng ngang hàng với quyển Trang Tử. Nếu đứng trên phương diện học thuật mà xét đoán, thì quyển nầy có giá trị ngang hàng với các quyển Bật Tử, Văn Tử và Quan Doãn Tử hiện nay, nhưng lại thua các quyển Trang Tử, Quản Tử và Lão Tử.
Sách Hạc Quan Tử
Sách Hán chí, phần Đạo gia, có Hạc Quan Tử 1 thiên, với lời chú : người nước Sở, ở thâm sơn, dùng lông chim Hạc làm mũ, như vậy cũng là kẻ sĩ lánh đời, không ai biết ông danh tánh là gì chỉ thấy ông đội mũ bằng lông chim, liền đặt luôn danh hiệu ấy.
Các sách Tùy chí, Đường chí đều ghi là sách ông có 3 quyển, sách Quận trai đọc thơ chí của Triệu Công Võ có chép : Hàn Dũ đọc Hạc Quan Tử 16 thiên, nhưng trong Xương Lê [Hàn Dũ] tiên sanh tập lại ghi là 19 thiên, sách Hiệu Hạc Quan Tử của Lục Điền cũng chép là 19 thiên.
Sách Tứ khố thơ mục thì lại chép đến 26 thiên, như thế là rất nhiều hơn trước, và đó cũng là một bằng chứng rõ ràng có người viết thêm vào.
Bản Hạc Quan Tử hiện nay còn là do Lục Điền hiệu đính, gồm 3 quyển, 19 thiên.
Sách Biện Hạc Quan Tử của Liễu Tôn Ngươn có viết : Kẻ học giả cho rằng bài Phục điểu phú của Giã Nghị là từ Hạc Quan Tử mà ra. Tôi đọc quyển sách ấy thấy lời quê mùa, thô siển, tôi nhận thấy có kẻ háo sự đã viết quyển sách giả rồi mượn bài Phục điểu để đề cao quyển sách ấy.
Sách Sử ký, phần Bá Di liệt truyện có dẫn lời Giã Nghị viết : " Kẻ tham chết vì tiền bạc, kẻ liệt sĩ chết vì danh, còn kẻ hám danh chết vì quyền... ". Quyển sách Hạc Quan Tử không được nhắc đến, có lẽ lúc đó Sử công không thấy quyển sách ấy sao ?
Thật ra, quyển Hạc Quan Tử, văn chương tối tăm, ý văn lẩn quẩn, dở hơn sách Liệt Tử nhiều, như thế nhứt định không phải là sách dưới thời Châu Tần.
*
Trong phần trên, theo sách Hán chí ghi những sách của phái Đạo gia hiện nay còn là tất cả 9 quyển gồm có : Trang tử, do hậu học biên soạn, Lão Tử và Quản Tử, do người thời Chiến Quốc gom góp biên soạn, sách Thái Công, Bật Tử, do người thời Chiến Quốc gom góp biên soạn và mượn danh 2 ông để đề tên lên quyển sách. Sách Văn Tử, Quan Doãn Tử, Liệt Tử, Hạc Quan Tử thì nguyên thơ đã có nhiều chỗ nghi ngờ là giả, rồi quyển sách còn cho đến ngày nay thấy rõ ràng là đã bị ngụy tạo, thế nên sách của phái Đạo gia, những quyển nên đọc chỉ có : Trang Tử, Lão Tử, và Quản Tử mà thôi.
5. Những sách của phái Đạo gia đã bị mất.
Sách Hán chí ghi sách của Đạo gia có tất cả 37 bổn, cho đến ngày nay, chỉ còn có 9 bổn ở phần trên, trong số ấy đặc biệt quyển Lão Tử có đến 4 loại, còn lại 25 bổn sách khác thì đã bị mất.
Các sách bị mất kể như sau :
- Y Doãn
51 thiên, với lời chú : " Làm tướng cho vua Thang ". Vương Ứng Lân viết : Sách Thuyết Uyển, Lã Lãm đều có dẫn lời Y Doãn trả lời cho vua Thang, và sách Châu thơ cũng có viết : Y Doãn chầu nhà Thương dâng sách.
Mạnh Tử cũng có dẫn lời Y Doãn, nhưng chữ Đạo của Y Doãn cũng chưa chắc là đã giống nghĩa chữ Đạo của Lão Tử.
Sách Hán chí, đã đem sách của Y Doãn, Thái Công từ phái Binh quyền mưu gia qua phái Đạo gia, là vì dưới thời Chiến Quốc kẻ sĩ quyền mưu đã viết sách và mượn danh Y Doãn, là vì Y Doãn làm tướng cho vua Thang, công nghiệp được truyền tụng, nhưng niên đại xưa, truyền thuyết có nhiều, kẻ háo sự viết sách mượn danh ông, luôn luôn gom góp những lời truyền thuyết và nương theo sách vở xưa để làm tài liệu, làm cho người đời sau dễ bị lầm.
- Sách Tân Giáp
29 thiên, với lời chú : " Làm tôi vua Trụ, 75 lần can rồi đi. Nhà Châu phong chức cho ông... ".
Vương Ứng Lân viết : " Sách Biệt lục của Lưu Hướng có viết : Tân Giáp có đến nhà Châu, Thiệu Công bàn chuyện và khen...rồi tâu lại với Văn Vương, Văn Vương thân tự đi rước ông, cho làm công khanh và phong làm Trưởng tử. "
Sách Tả truyện viết : " Tân Giáp làm Thái sử... ". Trầm Khâm Hàn có viết : " Hàn Phi thì gọi là Tân Giáp Công... ". Như thế Tân Giáp là danh thần thời Châu sơ cho nên sách Hán chí sắp quyển sách của ông trong lớp Thái Công và Bật Tử...nhưng thật ra đó chỉ là cuốn sách được viết dưới thời Chiến Quốc.
Sách Quyên Tử
13 thiên, lời chú viết : " Ông tên là Uyên, người nước Sở, đệ tử Lão Tử... ". Nhan Sư Cổ viết : Quyên là họ. Sách Sử ký viết : " Hoàn Uyên, người nước Sở, học thuật Đạo đức của Hoàng Lão, viết sách 2 thiên... ".
Có thuyết cho rằng Quyên Uyên tức là phần Điền Kỉnh Trọng thế gia và Mạnh Tuân liệt truyện trong sách Sử ký nói là Hoàn Uyên trong nhóm Tắc Hạ.
- Khảo Thành Tử
18 thiên, Trầm Khâm Hàn viết : Thiên Châu Mục vương sách Liệt Tử có viết : Lão Thành Tử học thuật kỳ ảo với Doãn văn tiên sinh. Sách Thích văn của Âu Kỉnh Thuận thì viết là Khảo Thành Tử...chữ Lão và Khảo hình và âm giống nhau nên dùng chung.
- Trường Lư Tử
9 thiên, Tiền Đại Chiêu viết : Người nước Sở...Sách Ngự lãm dẫn lời Lã Thị Xuân Thu viết : " Trường Lư Tử có nói : Núi non, sông biển, kim thạch, hỏa mộc, chất chứa mà hình thành ra đất... ".
- Cung Tôn Tử
2 thiên, Nhan Sư Cổ viết : Cung Tôn là họ, không biết tên là gì.
Thời xưa có họ Công Tôn, nhưng chưa hề nghe có học Cung Tôn.
Châu Huấn
14 thiên, cũng là loại sách của Nho gia như Châu chánh, Châu pháp, Châu chế, nhưng các sách trên luận về chế độ chánh trị, còn sách nầy ghi chép những lời cổ huấn.
Hoàng Đế Tứ Kinh
4 thiên, sách Lã Lãm thiên Khứ tư có viết : Thinh cấm trọng, sắc cấm trọng, áo quần cấm trọng, hương cấm trọng, vị cấm trọng.
Giả Tử, thiên Tu chánh thượng có chép : Hoàng đế nói : Đạo như nước chảy qua khe đá, cứ chảy ra không ngừng, và vận hành không thôi...
Các sách Chư Tử dẫn lời của Hoàng đế rất nhiều, nhưng có phải trích từ pho Hoàng đế tứ kinh nầy hay không, thì không có tài liệu nào để tìm hiểu được cả.
Người nhà Hán, hễ nói đến Đạo gia là nói đến Hoàng Lão, Chư Tử cũng thường dẫn lời Hoàng đế, có lẽ đó chỉ là ức thuyết vì không một ai nhìn thấy pho sách của Hoàng đế cả.
Hoàng đế hiệu Hiên Viên thị, hay đó chỉ là người phát minh ra xe rồi được người tôn sùng chăng ? Giả sử như hồi xưa mà có Hoàng đế thật, thì việc văn hoá phát minh, đâu phải do một người mà nên.
Tương truyền thời xưa các sự vật phát minh hết 9 phần 10 đều do Hoàng đế, điều đó không có bằng chứng gì để cho chúng ta tin chăc được. Các nhà Đạo gia như Trang Tử, Lão Tử thường mường tượng đến các cảnh xã hội chí thiện, chí đức của thời Thượng cổ, đó chỉ là lối mượn thời xưa để mong cải tạo thời nay mà thôi. Mặc Tử mượn danh Hạ, Võ, Hứa Hành mượn danh Thần Nông cũng cùng một trường hợp như thế, cho nên sách Hán chí ghi những sách của Hoàng đế, đó chỉ là những pho sách của phái Đạo gia thời Chiến Quốc mượn danh người xưa để viết ra mà thôi.
- Hoàng Đế Minh
6 thiên, vua Hoàng đế muốn răn người cho nên làm người vàng, 3 lần bịt miệng gọi rằng người xưa cẩn thận lời nói là như thế...Trong Hoàng đế minh 6 thiên, có Kim nhơn minh...
Đến thời Khổng Tử, Kim nhơn nầy vẫn còn ở miếu nhà Châu, đó cũng là loại " lời hay ghi lên bảng vàng... " chớ không phải nhứt định là người vàng ở dưới thời Hoàng đế, mà chỉ ghi những lời của Hoàng đế thôi.
Ngoài ra những thuyết khác về Hoàng đế minh đều là những lời truyền văn, không có gì làm bằng chứng cả.
- Hoàng Đế Quân Thần
10 thiên, bắt đầu có từ thời Lục Quốc tương tợ như pho Lão Tử.
- Tạp Hoàng Đế
58 thiên, lời chú viết : " Người hiền thời Lục Quốc soạn ". Quyển sách nầy dường như là gom góp những lời truyền thuyết của Hoàng đế dưới thời Lục Quốc mà viết ra, chưa chắc là do một người soạn ra trong một thời gian nào ...
- Lực Mục
22 thiên, lời chú viết : Viết dưới thời Lục Quốc nhưng mượn tên người xưa, Lực Mục là tướng của Hoàng đế.
Trở lên mấy quyển : Hoàng đế tứ kinh, Hoàng đế minh, Hoàng đế quân thần, Tạp Hoàng đế, Lực Mục là do người đời sau viết mà mượn danh Hoàng đế hay danh thần của ông, và sách Hán chí đã sắp những sách kể trên phía sau Lão Tử là vì biết rõ đó chỉ là những tác phẩm của những người thời Lục Quốc
- Tôn Tử
16 thiên, sách của thời Lục Quốc. Đây không phải là quyển Tôn Tử binh pháp của Tôn Võ Tử Tôn Tẩn.
- Tiệp Tử
2 thiên, người nước Tề, dưới thời Lục Quốc. Trong sách Sử ký phần Mạnh Tuân liệt truyện có nhắc Tiệp Vũ tức ông nầy.
- Tào Vũ
2 thiên, người nước Sở, dưới thời Võ đế, đi du thuyết với Tề vương.
- Lang Trung Anh Tề
12 thiên, người dưới thời Võ đế.
- Thần Quân Tử
2 thiên, người đất Thục.
- Trịnh Trưởng Giả
1 thiên, người thời Lục Quốc, trước Hàn Phi, Hàn Phi xưng tụng ông. Nhan Sư Cổ viết : Người nước Trịnh, không biết tánh danh là gì.
Sách Phong tục thông viết : Cuối đời Xuân Thu, nước Trịnh có người hiền, viết sách một thiên, tên là Trịnh trưởng giả, vì tuổi lớn, đức cao nên mới tôn là trưởng giả.
- Sở Tử
3 thiên.
- Đạo Gia Ngôn
2 thiên, ra đời gần đây hơn hết nhưng không biết tác giả là ai. Sách nầy sắp sau chót, y như phần Nho gia sau chót có pho Nho gia ngôn.
*
Trở lên tất cả 25 quyển, là số sách của phái Đạo gia đã bị mất, còn số sách còn lại cho đến ngày nay là 9 quyển, cọng 34 quyển, riêng quyển Lão Tử có đến 4 quyển khác nhau, nên tổng cọng là 37 quyển.

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Bách Gia Chư Tử    Sun Nov 03, 2013 6:11 pm

 3 - 
Các sách của phái mặc gia
 
1. Sách Mặc tử và các môn đệ
Sách Hàn chí ghi sách của Mặc gia trước hết là của Doãn Dật, và sau cùng là Mặc Tử.
Doãn Dật là người thời Châu sơ, sách của ông do người đời sau viết và mượn danh ông...
Sách Mặc gia, trước tiên kể Doãn Dật, cũng như trong Đạo gia trước tiên kể Y Doãn, là vì thời gian trước hơn hết, mà không hề chú ý đến sách đó thật hay giả.
Mặc Tử là người khai tổ cho Mặc gia, mà sách của ông lại bị sắp sau cùng thì thật là một điều không hợp lý, vì thế cho nên phải sắp sách ông lên phần đầu chương nầy.
Sách Mặc Tử.
Phần Chư tử lược sách Hán chí có Mặc Tử 71 thiên, với lời chú : Ông tên Địch, làm Đại phu nước Tống, thời sau Khổng Tử... ". Vương Ứng Lân và Trần Chấn Tôn chép là có 1 bổn chỉ có 13 thiên, đây là một bổn Mặc Tử khác.
Sách Tứ khố toàn thư liệt sách này vào Tử bộ, loại Tạp gia, cọng 15 quyển, 53 thiên, số quyển giống như sách Tùy chí đã ghi, còn số thiên thì ít hơn Hán chí 18 thiên, bổn Mặc Tử ghi trên đây còn cho đến ngày nay, và đã bị mất mát một số khá nhiều.
Mặc Tử gồm 53 thiên kể ra như sau :
Quyển 1 : 7 thiên :Thân sĩ, Tu thân, Sở nhiễm, Pháp nghi, Thất hoạn, Từ quá, Tam biện.
Quyển 2 : 3 thiên :Thượng hiền [thượng], Thượng hiền [trung], Thượng hiền [hạ].
Quyển 3 : 3 thiên :Thượng đồng [thượng], Thượng đồng [trung], Thượng đồng [hạ].
Quyển 4 : 3 thiên :Kiêm ái [thượng], Kiêm ái [trung], Kiêm ái [hạ].
Quyển 5 : 3 thiên :Phi công [thượng], Phi công [trung], Phi công [hạ].
Quyển 6 : 3 thiên :Tiết dung [trung], Tiết dung [hạ], Tiết táng [hạ].
Quyển 7 : 3 thiên :Thiên chí [thượng], Thiên chí [trung], Thiên chí [hạ].
Quyển 8: 2 thiên :Minh quỉ [hạ], Phi nhạc [thượng].
Quyển 9: 4 thiên :Phi mạng [thượng], Phi mạng [trung], Phi mạng [hạ], Phi nho [hạ].
Quyển 10: 4 thiên :Kinh [thượng], Kinh [hạ], Kinh thuyết [thượng], Kinh thuyết [hạ].
Quyển 11: 3 thiên :Đại thủ, Tiểu thủ, Canh trụ.
Quyển 12: 2 thiên :Quí nghĩa, Công mạnh.
Quyển 13: 2 thiên :Lỗ vấn, Công thâu.
Quyển 14: 7 thiên :Bị thành môn, Bị cao lâm, Bị thê, Bị thủy, Bị đột, Bị huyệt, Bị nga phụ.
Quyển 15 : 4 thiên :Nghinh địch từ, Kỳ xí, Hiệu lịnh, Tạp thủ.
Trong số 53 thiên kể trên, từ thiên Bị thành môn trở xuống cọng chung 11 thiên, [tức 7 thiên trong quyển 14 và 4 thiên trong quyển 15] là chuyên nói về phương pháp phòng ngự.
Các thiên Kinh thượng, hạ và Kinh thuyết thượng, hạ, cọng chung 4 thiên [trong quyển 10], y như là những định lý trong hình học. Hai thiên Đại thủ, Tiểu thủ [quyển 11] chuyên nói về thuật biện luận, đó là điểm đặc biệt nhứt trong toàn pho sách, cần phải chú ý riêng biệt.
Còn lại tất cả 36 thiên đều là học thuyết của Mặc Tử, nhưng việc biên soạn không phải một lần mà xong, mà việc biên soạn cũng không được thuần nhứt.
Thiên Lỗ Vấn viết : " Phàm nhập quốc, phải chọn việc mà làm, quốc gia hôn loạn thì nói việc " Thượng hiền ", " Thượng đồng ", quốc gia nghèo nàn thì nói việc " Tiết dụng ", " Tiết táng ", quốc gia thích vui chơi, chìm đắm, thì nói việc " Phi nhạc ", " Phi mạng ", quốc gia dâm loạn, vô lễ, thì nói việc " Tôn thiên ", " Thờ người khuất mặt ", quốc gia thích việc cướp đoạt , xâm lăng, thì nói việc " Kiêm ái ", " Phi công "...cho nên mới chọn việc mà làm... "
Như thế thì các thiên Thượng hiền, Thượng đồng, Tiết dụng, Tiết táng, Phi nhạc, Phi mạng, Thiên chí, Minh quỉ, Kiêm ái, Phi công ...đều là những thiên nói lên tôn chỉ của Mặc gia, và đó là chỗ quan trọng của toàn bộ quyển sách.
*
Trong số 53 thiên của pho Mặc Tử, các thiên Kinh thượng, hạ, Kinh thuyết thượng, hạ, Đại thủ, Tiểu thủ, tất cả 6 thiên ấy đều viết ra trong thời gian hậu kỳ thời Chiến Quốc, nên khác hẳn với các thiên khác, cần phải chú ý tìm hiểu riêng.
Phùng Hữu Lan, trong pho Trung quốc Triết học sử đã viết : Trong pho Mặc Tử, các thiên Kinh và Kinh thuyết là do phái Mặc của Hậu kỳ thời Chiến Quốc viết, trong thời gian ấy, phong trào du thuyết rất thịnh hành, việc học tập biên chép, có xu hướng đi đến chỗ giản dị, dễ ghi chép, vì thế có rất nhiều nhà viết sách. Mặc gia có Mặc Kinh, Tuân Tử có Đạo Kinh, Hàn Phi Tử có " Nội ngoại sử thuyết ". Tất cả những tác phẩm kể trên đều có hình thức " Kinh ", nếu dưới thời Chiến Quốc tiền kỳ, thì không bao giờ có thể tài như thế.
Cổ thơ, do tư nhơn sáng tác, được biết cho đến ngày nay, pho cổ nhứt là Luận Ngữ, Luận Ngữ viết theo thể ký ngôn, và cách ký ngôn cũng rất giản dị, đến pho Mạnh Tử và Trang Tử, từ chỗ giản dị đi lần đến thiên ký ngôn và trình bày thêm lý luận, đôi khi có ngụ ngôn, đó là bước đầu của sự diễn biến về văn thể của Chư Tử thời Chiến Quốc, rồi lần lần về sau thì bỏ luôn thể ký ngôn, mà lý luận theo đềø tài, như một bộ phận quan trọng trong sách Tuân Tử đã bỏ hẳn thể ký ngôn mà viết theo lối lập luận có đề tài hẳn hòi. Đó là bước diễn tiến thứ 2 về văn thể của Chư Tử dưới thời Chiến Quốc.
Trong pho Mặc gia, như các thiên Đại thủ, Tiểu thủ, đều căn cứ theo đề tài mà luận, dưới thời đại của Mặc Tử, khi ông còn sống, chưa bao giờ có thể văn như thế.
Hơn nữa, trong các thiên Kinh và Kinh thuyết, Đại thủ, Tiểu thủ, các thuyết : " Kiên bạch đồng dị ", " Ngưu mã phi ngưu "...sau nầy mới có, cho nên Mạnh Tử là người thích biện luận, cũng chưa bao giờ đề cập đến vấn đề ấy.
Qua mấy phương diện trên mà quan sát, chúng ta thấy rõ mấy thiên ấy đều được sáng tác ở hậu kỳ thời Chiến Quốc.
Phùng Hữu Lan đã nhận xét rất đúng, trước kia, dưới thời cổ chưa bao giờ có ai gọi một loại sách nào đó là " Kinh ". Đến như các sách Dịch, Thơ, Thi, Lễ Nhạc, Xuân Thu, ban đầu cũng chưa có tên gọi là Kinh.
Thiên Thiên vận trong sách Trang Tử có ghi việc Khổng Tử nói với Lão Đam : " Khâu sắp xếp Thi, Thơ, Dịch, Lễ, Nhạc, Xuân Thu, 6 kinh... " gọi 6 quyển sách trên là Kinh có lẽ đây là lần đầu tiên.
Thiên Thiên vận cũng không phải do tự Trang Tử viết, mà do người sau thời Trang Tử. Mạnh Tử và Trang Tử đồng thời, Mạnh Tử là một Nho gia đại sư mà cũng chưa bao giờ gọi quyển sách trên là Kinh.
Thiên Kinh giải trong sách Lễ ký có nói : " Điều giáo hoá của Thi, Thơ, Nhạc, Dịch, Lễ, Xuân Thu... ". Mặc dù chưa gọi sách ấy là Kinh, nhưng lại dùng chữ " Kinh giải " để đặt tên cho thiên sách, thì cũng như đã đặt tên cho các quyển sách ấy là Kinh rồi.
Nhưng thiên Kinh giải, nếu có ra đời sớm lắm thì cũng chỉ đồng thời với Trang Tử mà thôi. Cuốn sách được đặt tên là Kinh duy chỉ có cuốn Hiếu Kinh, nhưng Hiếu Kinh là một tác phẩm đời nhà Hán, phần trước đã có nói qua.
Niên đại của Mặc Tử, ở cách Khổng Tử không bao xa, và cũng ở trước Trang Tử, nhưng trong sách lại có thiên tên Kinh, như thế rõ ràng không phải là tác phẩm dưới thời Mặc Tử.
Dưới thời Nho gia, các sách được tôn kính đều gọi là Kinh, và bắt đầu bằng pho Lục Kinh, rồi Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia v.v...sau đó mới có sách gọi là Kinh.
*
Về bản chú giải Mặc Tử, không có nhiều, dưới thời Nam Tống và thời Minh sơ, có một bản khác chỉ gồm có 13 thiên, do Nhạc Đài chú, nhưng bản sách nầy đã bị mất.
Tất Ngươn có bản Mặc Tử hiệu chú, gom được tất cả những lời hiệu đính của Lư Văn Chiêu, Tôn Tinh Viễn, lại tham khảo thêm được nhiều sách khác dưới thời Đường, Tống. Tôn Di Nhượng cũng có quyển Mặc Tử, tập trung được ý kiến của nhiều người để so sánh, sửa chữa lại những chỗ sai lầm, nghĩa lý minh bạch, mà đoạn hoàn thiện nhứt là " 6 thiên Mặc biện ".
Dưới thời nhà Tấn, Lễ Thắng có quyển Mặc biện chú nhưng đã bị mất, Trương Huệ Ngôn có quyển Mặc Tử kinh thuyết giải, Hồ Thích thì có Tiểu thủ thiên tân hổ, Lương Khải Siêu có Mặc kinh hiệu thích, các sách nầy đều có giá trị.
Sách Hán chí ghi những sách của Mặc gia, ngoài pho Mặc Tử còn có 5 quyển khác, nhưng đã bị mất.
Năm quyển ấy kể như sau :
1. Doãn Dật
2 thiên, với lời chú : Công thần nhà Châu, dưới thời Thành vương, Khương vương. Sách Tả truyện có chép : " Chi của Sử Dật... "
Sách Thuyết Uyển, thiên Chánh lý có dẫn lời Thành vương hỏi việc chánh với Doãn Dật, Doãn Dật là quan sử nhà Châu, là người đầu trong phái Mặc gia, nhưng quyển sách của ông đã mất, không còn tài liệu gì để tìm hiểu được cả.
Doãn Dật được kể là người mở đầu cho phái Mặc gia, cũng như Y Doãn, Tân Giáp, Thái Công mở đầu cho phái Đạo gia, tất cả đều là danh thần dưới thời Châu sơ. Tất nhiên những lời nói của những người ấy lưu truyền cho đến đời sau rất nhiều, cho nên được dẫn trong nhiều sách, dưới thời Chiến Quốc, có kẻ háo sự viết sách rồi mượn danh những người ấy, mặc dù bên trong có gom góp những lời của người xưa, nhưngphần thêm vào những ý của mình cũng không ít....
Quyển Doãn Dật cũng trong trường hợp kể trên.
2. Điền Cầu Tử
3 thiên, người thời trước Hàn Phi Tử. Sách Tùy chí có chép : Nước Lương có Điền Cầu Tử viết sách 1 quyển.
Sách Lã Lãm và Hàn Phi thì lại chép là Điền Cưu Tử. Ông thuộc thời trước Hàn Phi, thì có lẽ sau Mặc Tử.
3. Ngã Tử
1 thiên, Nhan Sư Cổ viết : Sách Biệt lục của Lưu Hướng viết : Ngã Tử thi hành cái học của Mặc Tử, như thế ông là hậu học của Mặc Tử.
4. Tùy Sào Tử
6 thiên,đệ tử của Mặc Tử. Theo sách Tùy Đường chi thì pho sách gồm 1 quyển, đã mất.
5. Hồ Phi Tử
3 thiên, đệ tử của Mặc Tử. Sách Ngươn hòa tánh soán viết : Hồ phi là họ, hậu duệ của Hồ Công nước Trần có Công tử Phi, rồi tử tôn lấy Hồ phi làm họ.
Sách Tùy chí và Đường chí đều ghi sách nầy gồm 1 quyển nhưng đã bị mất.
*
Sách Hán chí chép về sách của Mặc gia chỉ có 6 pho, trong 6 pho ấy bây giờ chỉ còn có 1 quyển Mặc Tử mà thôi. Nhưng quyển Mặc Tử 71 thiên, bây giờ chỉ còn lại có 53 thiên, như thế là còn mà không trọn vẹn. Dưới thời Chiến Quốc, Mặc gia và Nho gia có thế đứng ngang hàng nhau, mà sách vở lại ít oi như thế, thật là một điều đáng tiếc.

Có thuyết cho rằng vì Mặc Tử chủ trương gian khổ, đạo của ông quá khắc khe cho nên ít ai chịu đựng được, mà Mặc Tử lại chủ trương thực tế, không thích văn từ hoa mỹ cho nên học thuyết chỉ bồng bột nhứt thời nên không có sách vở lưu truyền nhiều cho hậu thế.

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Bách Gia Chư Tử    Sat Nov 09, 2013 6:35 pm

- 4 - 
Các sách của phái Pháp gia 
Thương quân, Hàn phi và môn đệ
 
Hán chí chép sách của Pháp gia, bây giờ còn có Thương quân thơ và Hàn Phi Tử.
Thương quân là một đại chánh trị gia lúc bắt đầu thời Chiến Quốc, còn Hàn Phi sanh vào cuối thời Chiến Quốc, gom góp được tất cả những học thuyết của phái Pháp gia.
Nếu đọc tất cả 2 quyển sách kể trên là biết qua tổng quát chủ trương của phái Pháp gia.
I. Sách Thương quân
Sách Hán chí, phần Chư Tử lược, phái Pháp gia có Thương quân thơ 29 thiên với lời chú : " Tên Ưởng, họ Cơ, hậu duệ nước Vệ, làm tướng Tần hiếu công, có liệt truyện ".
Ưởng được phong đất Thương, cho nên gọi là Thương quân, sách Tứ khố thơ mục đề yếu có viết : " Trong sách Tam quốc chí, Tiên chúa truyền chú có nhắc đến Thương quân thơ, và tên Thương Tử được gọi bắt đầu từ sách Tùng chí ".
Trong Tùng chí cũng có ghi Thương quân thơ gồm 5 quyển, sách Tân Đường chí có chép : cũng gọi là Thương Tử, như thế thì bắt đầu từ đời Tống trở về sau, mới có danh xưng là Thương Tử.
Triệu Công Võ, trong sách Quận trai đọc thơ chí có viết : Quyển sách là 29 thiên, nhưng đã mất 3 thiên...Quyển Thương quân thơ còn cho đến ngày nay là quyển sách đã bị mất hết một phần.
Hiện nay quyển sách còn như sau :
Quyển 1 :4 thiên : Canh pháp, Khẩn lịnh, Nông chiến, Khử cương.
Quyển 2 :3 thiên : Thuyết dân, Toán địa, Khai tái.
Quyển 3 :7 thiên : Nhứt ngôn, Thác pháp, Chiến pháp, Lập dân, Binh thủ, Cận lịnh, Tu quyền.
Quyển 4 :4 thiên : Lai dân, Hình ước [có tên thiên mà không có bài], Thường hình, Hoạch sách.
Quyển 5 :8 thiên : Cảnh nội, Nhược dân, [mất 1 thiên], Ngoại nội, Quân thần, Cấm sứ, Định phân, Vivi.
*
Sách Thương quân, cũng như sách Quản Tử và Án Tử là do người đời sau gom góp biên soạn, không phải do chính tay Thương quân viết ra.
Các sách Văn Hiến thông khảo và Cổ kim ngụy thơ khảo có dẫn lời trong Châu thị thiệp bút viết : Trong sách Thương quân, có nhiều chỗ phụ hội việc đời sau, từ ngữ lại khác lạ, rõ ràng không phải là của Thương quân viết, những điểm tinh yếu, xác thực của Thương quân, trong Sử ký bản truyện đều có chép, và chỗ nào trong Sử ký không có mà sách Thương quân lại có là do người đời sau thêm vào.
Trầm Khâm Hàn có viết : Trong thiên Lai dân thứ 15, pho sách có viết : " Ngày nay Tam Tấn không thắng Tần đã 4 đời rồi, từ đời Ngụy Tương vương cho đến nay, dã chiến không thắng mà công thành thì được... ". Trong thiên Nhược dân thứ 20 có viết : " Binh Tần đến đất Yển, đất Sính... " đó là những chuyện dưới thời Tần Chiêu vương, dưới thời Thương quân chưa có những việc ấy.
Sách Tứ khố thơ mục đề yếu có viết : Xét theo sách Sử ký, lúc Tần Hiếu công mất, thái tử lên ngôi, bọn Công tử Kiền tố cáo Thương Ưởng muốn làm phản, Huệ vương liền xé xác Thương Ưởng, như thế thì sau khi Huệ vương lên ngôi, Thương Ưởng đang lo chạy trốn, đâu có thì giờ rổi rảnh để ngồi viết sách?
Nếu ông viết lúc còn bình thường thì tất nhiên phải dưới thời Hiếu công, nhưng nếu viết dưới thời Hiếu công, tại sao trong thiên đầu của quyển sách lại gọi Hiếu công bằng tên thụy? [tên truy tặng người đã qua đời].
Như thế rõ ràng là những người đời sau trong phái Pháp gia, đã gom góp ngôn luận của Thương Ưởng để viết thành quyển sách, cũng như Quản Trọng mất trước thời Tề Hoàn công, nhưng trong sách ông lại có nhắc đến Tề Hoàn công.
Trường hợp như thế có rất nhiều trong sách Chư Tử, vì không để được tên của người biên soạn nên phải mượn danh người trước để nhờ tiếng tăm.
Thương quân đã làm tướng cho Hiếu công, chủ trương biến pháp làm cho quốc gia phú cường, và sau đó bị Huệ vương giết, lúc ông còn sống, ngôn lịnh và chánh lịnh, người nướcTần tất cả đều nghe biết và khâm phục.
Hơn nữa, ngôi vị của Thương Ưởng rất cao, môn khách rất nhiều, trong số đó có nhiều học giả, và cũng có kẻ là môn đệ ông, thế nên môn khách và hậu duệ gom góp những ngôn luận, chánh lịnh của ông để viết thành sách là một điều dễ dàng và hợp lý.
Về pho Thương quân hiện đang lưu hành, có quyển chú bổn của Nghiêm Vạn Lý đời Thanh, gần đây lại có pho Thương quân thơ của Vương Thời Nhuận, và pho Thương quân thơ giải của Châu Sư Triệt.
II. Sách Hàn phi
Trong Hán chí, phần Chư Tử lược, phái Pháp gia, có Hàn Tử 55 thiên, với lời chú : " Ông tên Phi, một trong những công tử nước Hàn, làm quan nước Tần, Lý Tư hại và giết ông. "
Sử ký bổn truyện và sách Chánh nghĩa viết : Sách Thất lục của Nguyễn Hiếu Tự chép : Sách Hàn Phi có 20 quyển. Sách Hàn chi khảo chứng của Vương Ứng Lân viết : 56 thiên. Chữ 6 e rằng khi chép đi chép lại bị sai lầm, bản Hàn Phi còn lại ngày nay có 20 quyển, 55 thiên.
Sách Hàn Phi có 55 thiên như sau :
Quyển 1 : 5 thiên : Sơ kiến Tần, Tồn hàn, Nan ngôn, Ái lỗi, Chủ đạo.
Quyển 2: 4 thiên : Hữu độ, Nhị binh, Dương quyền, Bát gian.
Quyển 3: 1 thiên : Thập quá.
Quyển 4 : 5 thiên : Cô phẫn, Thuyết nan, Hòa dân, Gian lỗi, Thí cướp.
Quyển 5 : 5 thiên : Vô trưng, Tam thủ, Bị nội, Nam diện, Sức tà.
Quyển 6: 1 thiên : Giải lão.
Quyển 7 : 2 thiên : Dụ lão, Thuyết lâm [thượng].
Quyển 8 : 7 thiên : Thuyết lâm [hạ], Quang hạnh, An nguy, Thủ đạo, Dụng nhơn, Công danh, Đại thể.
Quyển 9 : 1 thiên : Nội sừ thuyết [thượng], Thất thuật.
Quyển 10 : 1 thiên : Nội sừ thuyết [hạ], Lục trưng.
Quyển 11 : 1 thiên : Ngoại sừ thuyết [tả thượng].
Quyển 12 : 1 thiên : Ngoại sừ thuyết [tả hạ].
Quyển 13 : 1 thiên : Ngoại sừ thuyết [hữu thượng].
Quyển 14 : 1 thiên : Ngoại sừ thuyết [hữu hạ].
Quyển 15 : 2 thiên : Nan [nhứt], Nan [nhị].
Quyển 16 : 2 thiên : Nan [tam], Nan [tứ].
Quyển 17 : 6 thiên : Nan thế, Vấn biện, Vấn điền,Định pháp, Thuyết nghi, Quỉ lại.
Quyển 18 : 3 thiên : Lục phản, Bát thuyết, Bát kinh.
Quyển 19 : 2 thiên : Ngủ xuẩn, Hiển học.
Quyển 20 : 5 thiên : Trung hiếu, Nhơn chủ, Sức lịnh, Tâm độ, Chế phân.
*
Sách của Hàn Phi, 9 phần 10 do ông viết, lúc trước khi ông vào nước Tần, nhưng cũng có đoạn ghi những ngôn luận của ông sau khi vào nước Tần, đó là phần do người đời sau gom góp chép thêm, như thiên " Tồn hàn ".
Cũng có đoạn chép những ngôn luận của người khác thêm vào, như thiên " Sơ kiến Tần ", còn 2 thiên Giải Lão, Dụ Lão, cũng đáng nghi là do người đời sau thêm.
Sách Tứ khố thơ mục đề yếu có viết : " Nghi rằng lúc còn sống Hàn Phi viết rời từng thiên một, sau khi ông mất, môn đệ liền gom góp sắp xếp lại thành sách, cho nên những thiên viết lúc ở nước Hàn và khi ở nước Tần đều được gom lại.
Những quyển Hàn Phi in dưới thời Nguyên, Minh có nhiều chỗ thiếu, nhưng quyển được in gần đây thì tương đối đầy đủ, nhưng riêng về 3 thiên : Sơ kiến Tần, Giải Lão, Dụ Lão, chưa hiểu lúc Lưu Hướng hiệu đính là 55 thiên, đã có ai viết thêm vào 3 thiên nầy chưa.
Nếu lúc đó chưa bị thêm vào, thì quyển sách 55 thiên ngày nay đã bị mất 3 thiên.
*
Trong sách Ngọc Hải, Vương Ứng Lân có viết : " Bản chú cũ của Hàn Phi Tử, không biết do ai viết, Hà Biện, trong Hàn Phi Tử tự có viết : Trước kia, có tập chú của Lý Tán, nhưng tầm thường, không có chỗ nào dùng được, nên bỏ hết... ".
Bản Hàn Phi lưu hành ngày nay do Cố Thiên Lý hiệu đính, có phụ thêm 1 quyển Thực ngộ, Lư Văn Chiêu cũng có viết quyển Hàn Phi hiệu chánh, Vương Tiên Thận thì viết quyển Hàn Phi Tử tập giải, quyển nầy rất có giá trị.
*
Hán chí ghi những sách của Pháp gia, ngoài 2 quyển Thương quân thơ và Hàn Phi Tử, còn lại quyển Thận Tử thì bị mất hết một phần.
Thận Tử chuyển từ Đạo gia sang Pháp gia, sách Hán chí ghi Thận Tử 42 thiên với lời chú : " Ông tên Đáo trước Thân Bất Hại, và Hàn Phi, Thân Bất Hại và Hàn Phi đều xưng tụng ông ".
Vương Ứng Lân viết : Sách Sử ký ghi : Thận Đáo, người nước Triệu, viết " Thập nhị luận ".
Sách Chánh nghĩa viết : " Thận Tử gồm 10 quyển, Thận Tử là một xử sĩ thời Chiến Quốc. Sách Hán thơ ghi Thận Tử 42 thiên, nhưng đã bị mất đến 37 thiên bây giờ chỉ còn lại các thiên : Uy đức, Nhơn tuần, Dân nạn, Đức lập, Quân nhơn, cọng tất cả có 5 thiên mà thôi. Như thế thì quyển Thận Tử bị mất mát rất nhiều.
*
Nhắc đến Pháp gia, nếu không nói Thân Bất Hại, Thương Ưởng, thì nói Thân Bất Hại, Hàn Phi. Trong thiên Định pháp, Hàn Phi cũng nhắc đến Thân Bất Hại và Thương Ưởng, như thế thì Thận Tử cũng là một quyển sách quan trọng trong phái Pháp gia, nhưng đến ngay nay đã bị mất.
Sách Hán chí, phần Pháp gia có ghi sách Thận Tử 6 thiên với lời chú : Thân Bất Hại, người đất Kinh, làm tướng cho Hàn Chiêu hầu, trọn đời ông, chư hầu không dám xâm lấn nước Hàn.
Trong sách Hán chí, phần Pháp gia, trước tiên có ghi sách của Lý Tử 32 thiên với lời chú : " Ông tên Ly, làm tướng Ngụy Văn Hầu, làm cho nước giàu, binh mạnh ".
Sách Tấn thơ, phần Hình pháp chí có viết : " Luật văn bắt đầu từ Lý Ly, Ly soạn quốc pháp, viết Pháp binh, cho rằng làm vương giả không gì cần thiết hơn là trừ đạo tặc, cho nên luật của ông là lo về việc ấy trước.
Ông trước tác tất cả 6 thiên, và Thương quân học sách ấy để làm tướng nước Tần... " Và Lý Ly được xem như là khai tổ của Luật gia.
Sách Xứ Tử : 9 thiên. Nhan Sư Cổ viết. Sách Sử ký viết : Nước Triệu có Xứ Tử, và Xứ Tử tức là Kịch Tử.
Du Lệ Tử : 1 thiên. Trầm Khâm Hàn cho rằng Du Lệ, theo Triệu Thố là Lưu Đái vì Du và Lưu một vận, Lệ và Đái âm mường tượng nhau, nhưng đây chỉ là ước đoán, không có bằng chứng gì để quyết đoán cả.
Triệu Thố : 31 thiên. Châu Thọ Xương viết : Trong bổn truyện chép là 30 thiên. Sách Tùy chí chép : Nước Lương có Triệu thị tân thơ 3 quyển, nhưng đã mất...
Sách của Triệu Thố cũng đồng loại với sách Giã Nghị.
Yên Thập Sự : 10 thiên. Lời chú viết : Không biết tác giả là ai. Dường như quyển sách nầy ghi những chuyện về nước Yên, mỗi chuyện là một thiên, nhưng không biết tại sao sách lại được liệt vào phái Pháp gia.
Pháp Gia Ngôn : 2 thiên. Không biết ai là tác giả. Sách nầy cũng đồng loại với Nho gia ngôn, Đạo gia ngôn.
*
Trong sách Hán chí, phần Chư Tử lược, số sách của Pháp gia được ghi tất cả là 10 quyển.
Các sách Thương quân thơ, Hàn Phi Tử, tuy có những thiên bị mất mát, nhưng sách vẫn còn, về Thận Tử thì số mất quá nhiều, chỉ còn lại được có mấy thiên, còn kỳ dư 7 pho khác thì bị mất tất cả.
Còn Quản Tử, Hán chí liệt vào phái Đạo gia, nhưng xét nội dung của sách, thì lại nhiều lý thuyết về Pháp gia, cho nên khi chúng ta muốn tìm hiểu về Pháp gia thời Chiến Quốc, ngoài các sách của Thương quân, Hàn Phi Tử và Thận Tử, cũng nên đọc thêm Quản Tử cho đầy đủ.

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Bách Gia Chư Tử    

Về Đầu Trang Go down
 
Bách Gia Chư Tử
Về Đầu Trang 
Trang 2 trong tổng số 2 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang :: Kiến Thức Tổng Hợp-
Chuyển đến