Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang
Chào bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang!
Diễn Đàn là nơi giao lưu kết bạn, sưu tầm, lưu trữ, học hỏi và chia sẻ kiến thức.
Để cùng nhau tiến bộ trên con đường hướng thiện.
Chúc bạn sức khỏe và có nhiều thành công mới trong cuộc sống!

Om mani pad me hum
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang

Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho; một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tạo lấy.
 
Trang ChínhTrang Chính    CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Chào mừng các bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang! Chúc các bạn sức khỏe và thành đạt! Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang.

Share | 
 

 Hàn Phi Tử

Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4  Next
Tác giảThông điệp
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5957
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Hàn Phi Tử   Mon Oct 07, 2013 3:23 pm

Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
Hàn Phi Tử
THIÊN XLIX
NGŨ ĐỐ

(NĂM LOẠI MỌT)
Đời thượng cổ nhân dân ít mà cầm thú nhiều, nhân dân không thắng được cầm thú, trùng, rắn. Sau có các thánh nhân ra đời, kết cành làm ổ (trên cây) để các loài đó khỏi xâm hại, nhân dân mừng, tôn làm vua thiên hạ, gọi là họ “Hữu Sào” (có ổ). Nhân dân ăn trái cây, rau cỏ, trai hến, tanh tao hôi hám mà hại ruột, bao tử, nhiều người đau ốm. Sau có thánh nhân ra đời, dùng cái “toại” dùi cây khô để lấy lửa, nướng các thức ăn cho hết tanh tao, nhân dân mừng, tôn làm vua thiên hạ, gọi là họ “Toại Nhân”. Thời trung cổ, thiên hạ bị lụt lớn, ông Cổn và ông Vũ[1] khơi ngòi (cho nước rút). Đời cận cổ, Kiệt, Trụ bạo loạn, ông Thang (nhà Thương), ông Võ (nhà Chu) đánh dẹp họ. Nếu có người ở đời Hạ dạy nhân dân kết cành làm ổ, hoặc dùng cái “toại” để lấy lửa, tất bị ông Cổn, ông Vũ chê cười; có người ở đời Ân (Thương), Chu khơi ngòi tất bị ông Thang, ông Võ chê cười. Hiện nay nếu có người ca tụng đạo đức các ông Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Võ, tất bị các ông thánh đời nay chê cười. Vậy thì thánh nhân không nhất định phải theo cổ, giữ lệ cũ, mà phải xét việc đương thời rồi tuỳ nghi tìm biện pháp. Nước Tống có người đi cày, trong ruộng có mấy gốc cây khô, một con thỏ đâm bổ vào, gãy cổ, chết. Anh ta thấy vậy bỏ cày mà ôm gốc cây khô, hi vọng lại bắt được con thỏ nữa. Thỏ không được thêm, mà bị cả nước Tống chê cười. Nay muốn dùng chính sách của tiên vương để trị dân thì cũng không khác gì anh chàng ôm gốc cây đợi thỏ đó vậy.
*
Thời cổ đàn ông không phải cày ruộng, trái cây và hột cỏ đủ ăn rồi; đàn bà không phải dệt vải, da cầm thú đủ che thân rồi. Họ không phải gắng sức mà dư ăn đủ mặc, nhân dân ít mà vật dụng thừa cho nên không tranh giành nhau. Vì vậy khỏi phải thưởng hậu, phạt nặng mà dân tự nhiên không loạn. Ngày nay một người có năm người con, không phải là nhiều, mỗi người con lại có năm người con nữa, thành thử ông chưa chết mà đã có hai mươi lăm đứa cháu, vì vậy nhân dân đông mà tài sản ít, phải lao lực nhiều mà thức ăn đồ mặc lại ít, cho nên họ phải tranh giành nhau, dù có thưởng hậu gấp hai, phạt nặng gấp mấy thì cũng không tránh khỏi loạn.
*
Ông Nghiêu làm vua thiên hạ mà nhà lợp bằng cỏ tranh không xén, cột rui bằng gỗ không đẽo, ăn cơm gạo xấu với canh rau lê rau hoắc, mùa đông không mặc áo da hươu da nai, mùa hè mặc áo vải thô, dầu kẻ canh cổng cũng không sống đạm bạc hơn. Ông Vũ làm vua thiên hạ, tự cầm bừa và xách sọt đi trước nhân dân, đùi và ống chân trụi hết lông, đến kẻ nô lệ cũng không cực khổ hơn. Do đó mà xét, các vua thời thượng cổ nhường ngôi thiên tử thì cũng chỉ là từ bỏ cuộc sống của người giữ cổng và đời lao khổ của tên nô lệ, có gì đáng khen đâu. Một viên huyện lệnh ngày nay khi chết rồi, thì con cháu mấy đời còn được (ung dung) ngựa xe, vì vậy mà người ta quí chức huyện lệnh. Cho nên về cái việc từ nhượng, thời xưa nhường ngôi thiên tử thật dễ mà ngày nay từ chức huyện lệnh thật khó, chỉ do cái lợi hậu hay bạc khác nhau xa. Người ở trong núi, lại hang múc nước, tới ngày lễ “lâu”, lễ “lạp”[2]đem nước tặng nhau,[3] còn người ở chằm thì khổ vì úng nước, phải thuê người đào rãnh cho nước thoát. Mùa xuân những năm đói kém, dù là em ruột còn nhỏ, người ta cũng không nhường cho thức ăn, mà mùa thu những năm được mùa, dù là khách lạ tới, cũng mời ăn, đâu phải sơ với tình ruột thịt mà thân với khách qua đường, chỉ là vì thực phẩm còn nhiều hay ít đấy thôi. Cho nên cổ nhân khinh tài vật, không phải là có lòng nhân, mà vì tài vật có nhiều; ngày nay người ta tranh đoạt của nhau không phải là ti tiện mà vì tài vật có ít; ngày xưa người ta coi thường và từ bỏ ngôi thiên tử, không phải cao thượng mà vì quyền thế ít; ngày nay người ta coi trọng và tranh nhau quan chức, không phải đê tiện mà vì quyền thế nhiều. Vì vậy thánh nhân xét xem tài vật nhiều hay ít, quyền thế nặng hay nhẹ mà tuỳ theo đó lập ra chính sách: phạt nhẹ không phải là nhân từ, mà chém giết không phải là tàn bạo, chỉ là tuỳ thế tục mà thi hành pháp luật. Tóm lại việc phải theo thời, mà biện pháp phải thích ứng.
*
Thời xưa vua Văn vương ở đất Phong, đất Cảo[4], đất vuông trăm dặm, thi hành nhân nghĩa, vỗ về rợ Tây Nhung mà thống nhất được thiên hạ. Vua Yển Vương nước Từ ở phía đông sông Hán[5] đất vuông năm trăm dặm, thi hành nhân nghĩa, mà ba mươi sáu nước chư hầu cắt đất triều phục. Vua Văn vương nước Kinh (Sở) sợ (nước Từ mạnh lên) nguy hại cho mình, bèn đem quân diệt nước Từ[6]. Vậy ra Văn vương thi hành nhân nghĩa mà thống nhất thiên hạ còn Yển vương thi hành nhân nghĩa mà mất nước. Thế thì nhân nghĩa dùng được ở thời xưa mà không dùng được ở thời nay. Cho nên bảo: “Đời khác thì việc cũng khác”. Đời vua Thuấn, rợ Miêu không qui phục, ông Vũ muốn đem quân đi đánh, vua Thuấn can: “Không nên. Người trên đức không dày mà dùng vũ lực là trái đạo”. Rồi vua Thuấn sửa sang việc giáo hoá trong ba năm, sau đó tổ chức lễ múa khiên múa búa, rợ Miêu coi rồi thuần phục. Tới khi lâm chiến với Cung Công[7], binh khí bằng sắt[8] ngắn quá, không đâm tới địch, áo giáp không chắc, bị địch đâm phạm thân thể, vậy việc múa khiên và búa dùng được thời xưa mà không dùng được thời nay. Cho nên bảo: “Việc khác thì biện pháp phải đổi”. Đời thượng cổ người ta đua nhau trọng đạo đức, đời trung cổ người ta tranh nhau về mưu trí, đời nay người ta tranh nhau về sức mạnh. Nước Tề muốn đánh nước Lỗ, vua Lỗ sai Tử Cống (một môn đệ của Khổng tử) qua Tề thuyết phục. Người nước Tề bảo: “Lời thầy nói không phải là không khéo. Nhưng cái chúng tôi muốn là đất đai kia chứ không phải cái mà thầy nói”. Rồi họ đem quân chiếm Lỗ, cách kinh đô Lỗ mười dặm mới ngừng lại, lấy chỗ đó làm ranh giới. Vậy Yển vương thi hành nhân nghĩa mà nước Từ mất, Tử Cống dùng trí mưu, khéo nói mà nước Lỗ bị chiếm đất: theo đó mà xét, nhân nghĩa, trí mưu, khéo nói không giữ được nước. Bỏ cái nhân nghĩa của Yển vương, cái trí mưu của Tử Cống đi, mà dùng binh lực nước Từ, nước Lỗ, cự với nước địch vạn cỗ xe, thì tham vọng của Tề, Kinh làm sao thi hành với hai nước đó được.
*
Phong tục xưa và nay khác nhau, biện pháp cũ và mới phải khác nhau. Muốn dùng chính sách khoan hòa để trị dân thời loạn thì không khác gì không dùng dây cương và roi mà muốn chế ngự một con ngựa bất kham. Đó là cái hại của sự bất trí. Nho và Mặc đều khen tiên vương kiêm ái thiên hạ, coi dân như con[9]. Để chứng minh điều đó, họ bảo: “Khi quan tư khấu (coi việc hình) hành hình thì vua không tấu nhạc; khi báo kẻ bị tử hình đã chết thì vua rơi lệ”. Họ đem điều đó để khen tiên vương, rồi bảo vua tôi coi nhau như cha con thì nước trị. Cứ như họ nói thì cha nhân từ, con nhất định không loạn sao? Theo tình người, không ai yêu con bằng cha mẹ, nhưng như vậy vị tất con đã không loạn: vậy thì dù vua rất yêu dân đi nữa, làm sao giữ cho dân không loạn được? Tiên vương yêu dân không hơn cha mẹ yêu con, mà cha mẹ yêu con vị tất con đã không loạn, thì tiên vương làm sao cho dân trị được? Vả lại theo pháp luật hành hình, mà vua rơi lệ, như vậy chứng tỏ rằng vua có lòng nhân từ chứ không phải làm cho nước được trị (vì nếu nước được trị thì sao còn phải hành hình?) Rơi lệ, không muốn hành hình, là nhân; nhưng vẫn không thể không hành hình được, đó là pháp luật. Tiên vương đã cho pháp luật thắng lòng nhân, không theo lòng thương của mình[10]vậy thì rõ ràng là nhân ái không dùng để trị nước được. Lại thêm, dân chúng đa số phục tùng quyền lực, đạo nghĩa chỉ cảm hoá được một số ít thôi. Trọng Ni là bậc thánh trong thiên hạ, ông sửa đức, làm sáng đạo, chu du khắp thiên hạ, nhưng quí lòng nhân, khen lòng nghĩa mà phục dịch ông thì chỉ có bảy mươi người[11], vì số người quí đức nhân ái vốn ít mà thi hành đạo nghĩa là việc khó. Cho nên thiên hạ mênh mông như vậy mà kẻ phục dịch ông chỉ có bảy mươi người, thi hành được nhân nghĩa thì chỉ có một người (tức Khổng tử). Lỗ Ai Công là hạng vua tồi, quay mặt về phương nam mà trị dân, thì dân trong nước không ai dám không thuần phục, vậy dân vốn phục tòng quyền thế mà quyền thế quả là dễ khiến cho người ta phải phục. Cho nên Trọng Ni mới phải làm bề tôi, Ai Công ngược lại, được làm vua. Trọng Ni (thờ Ai Công) đâu phải là khen đạo nghĩa của Ai Công mà chỉ là phục tòng cái thế của ông ta thôi. Xét về đạo nghĩa thì Trọng Ni không phục Ai Công, mà nhờ cái thế, Ai Công bắt Trọng Ni phải làm bề tôi mình. Nay bọn học giả đi du thuyết các vua chúa không khuyên họ dùng cái thế tất thắng, mà lại bảo: “Trọng nhân nghĩa thì lập được nghiệp vương”, như vậy là đòi bậc vua chúa phải (có đức) như Trọng Ni hết, mà phàm nhân trong đời đều phải như (bảy chục) môn sinh của ông hết. Đó là điều nhất định không thể được.
*
Nay có đứa con hư, cha mẹ giận, la nó, nó không sửa tính, người trong làng trách nó, nó cứ trơ trơ, thầy dạy nó, nó cũng không chừa.
Lòng yêu của cha mẹ, hành động của người trong làng và lời giáo huấn sáng suốt của thầy dạy, có đủ ba cái đẹp đẽ đó mà chung qui không động đến được một sợi lông ở ống chân của nó. Khi quan lại ở châu bộ đem binh tới thi hành phép nước, lùng bắt kẻ gian, lúc đó nó mới hoảng sợ, thay đổi tính khí hạnh kiểm. Vậy lòng yêu của cha mẹ không đủ để dạy con, phải đợi có nghiêm hình của châu bộ mới được, vì dân vốn được yêu thì nhờn, phải dùng uy lực mới chịu nghe. Thành cao mười nhẫn (bảy hay tám chục thước), dẫu Lâu Quí[12] cũng không vượt qua được vì nó dựng đứng; ngọn núi cao ngàn nhẫn thì con cừu què cũng dắt lên đó chăn được vì dốc thoai thoải[13]. Cho nên bậc minh chủ mới đặt ra hình pháp nghiêm khắc. Tấm vải dài một tầm hay một thường[14] thì người thường (không tham lam) cũng không chịu bỏ, mà một trăm dật vàng chảy (nóng bỏng) thì Đạo Chích cũng không lấy đi. Biết rằng không hại gì cả nên không bỏ một tầm, một thường vải, biết rằng bỏng tay nên một trăm dật vàng chảy cũng không lấy. Cho nên bậc minh chủ cương quyết trừng trị. Thưởng thì không có gì bằng trọng hậu và tín thực để cho dân thấy là lợi; phạt thì không gì bằng nặng mà cương quyết để cho dân sợ; pháp luật không gì bằng thống nhất, cố định để cho dân dễ biết. Bậc vua chúa thưởng thì không đổi ý, phạt thì không ân xá, đã thường rồi lại khen thêm nữa, đã phạt rồi lại chê thêm nữa, như vậy người hiền và kẻ bất tiếu đều tận lực làm điều phải.
Ngày nay không vậy: ban tước cho kẻ có (quân) công nhưng lại khinh thị quan (võ); thưởng kẻ gắng canh tác nhưng lại coi rẻ nghề nông; kẻ mình không thu dùng được (tức bọn ẩn sĩ) thì bỏ ra ngoài, nhưng lại đề cao là biết khinh thế tục; kẻ nào phạm cấm thì bị tội, nhưng lại khen là dũng cảm (trỏ bọn hiệp sĩ). Khen chê, thưởng phạt trái ngược nhau như vậy cho nên pháp luật, cấm lệnh bị huỷ hoại mà dân càng loạn. Ngày nay ai đánh kẻ xâm phạm đến anh em mình thì được khen là người có góc cạnh (có khí tiết): ai thấy bạn bị nhục mà trả thù cho bạn thì được khen là trung trinh. Cái phẩm hạnh có góc cạnh, trung trinh mà thành thì pháp độ của vua bị vi phạm. Bậc vua chúa tôn trọng cái hạnh góc cạnh, trung trinh mà quên cái tội phạm cấm, cho nên dân ganh nhau xem ai mạnh mà quan lại không kiềm chế họ được. Không phải làm lụng khó nhọc mà có ăn có mặc thì khen là có tài năng; không có chiến công mà có chức vị tôn quí thì khen là hiền đức. Tài năng và hiền đức như vậy mà thành thì binh lực trong nước phải yếu mà đất bị bỏ hoang. Bậc vua chúa ưa thích cái hạnh tài năng hiền đức đó mà quên cái hoạ binh nhược đất hoang, như vậy là cái hạnh riêng được thành lập mà cái ích công bị tiêu diệt.
*

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5957
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Hàn Phi Tử   Mon Oct 07, 2013 3:44 pm

Bọn nho sĩ dùng văn làm loạn pháp luật, bọn hiệp sĩ dùng võ phạm cấm, mà bậc vua chúa đều tôn trọng, do đó mới sinh loạn. Hễ trái phép thì bị tội, nhưng các “tiên sinh”[15] lại nhờ văn học mà được dùng; phạm cấm thì bị giết, nhưng các hiệp sĩ chuyên ám sát lại được nuôi. Vậy người mà pháp luật cho là trái thì vua lại dùng, kẻ mà quan lại giết thì bề trên lại nuôi. Pháp luật, thu dụng, trên, dưới bốn cái đó trái nhau, không có gì nhất định, như vậy dù có mười ông Hoàng Đế cũng không làm cho nước trị được. Vậy kẻ thi hành nhân nghĩa là không nên khen, khen thì hại cho sự nghiệp; kẻ chuyên về văn học là không nên dùng, dùng thì loạn pháp.
 
Nước Sở có người được tiếng là “ngay thẳng”, cha ăn trộm cừu, anh ta đi báo quan. Quan lệnh doãn ra lệnh: “giết nó đi”, vì anh ta ngay thẳng đối với vua mà có lỗi với cha, cho nên tuy báo quan mà bị giết. Do đó mà xét, người bề tôi chính trực đối với vua là đứa con hung bạo đối với cha.
 
Nước Lỗ có kẻ theo vua ra trận, ba lần đánh ba lần chạy. Trọng Ni hỏi nguyên do, người đó đáp: “Tôi có cha già, tôi chết thì không ai nuôi”. Trọng Ni khen là hiếu, tiến cử người đó với vua Lỗ. Do đó mà xét, người con hiếu với cha là kẻ bề tôi phản vua. Cho nên quan lệnh doãn nước Sở giết kẻ tố cáo cha, mà không ai tố cáo kẻ gian với bề trên nữa; Trọng Ni thương kẻ bỏ chạy khi ra trận mà dân nước Lỗ dễ thua trận, hàng giặc; cái lợi của người trên kẻ dưới khác nhau như vậy đó. Bậc vua chúa muốn vừa khen hạnh tốt của nhân dân vừa mưu cái phúc cho xã tắc thì tất không thể được. Đời xưa, ông Thương Hiệt đặt ra chữ viết, dùng cái hình như cái vòng khép, gọi là chữ “tư” (nghĩa là riêng), trái với “tư” thì gọi là “công” (chung)[16], vậy ông Thương Hiệt đã biết rằng công và tư trái với nhau rồi. Ngày nay coi công và tư, lợi hại như nhau, là do cái hoạ của sự không biết thẩm sát. Như vậy thì đối với người dân thường, lợi hơn hết là làm điều nhân nghĩa và luyện tập văn học. Làm điều nhân nghĩa thì được tin cậy và sẽ được giao cho chức vụ; luyện tập văn học thì thành ông thầy giỏi và sẽ được vinh hiển, đó là điều tốt đẹp đối với người dân thường. Nhưng không có quân công mà được giao cho chức vụ, không có tước mà được vinh hiển, theo chính sách đó, nước tất loạn, vua tất nguy. Hai cái đó không thể dung nhau được, không thể lưỡng lập được. Thưởng người chém được đầu quân địch mà đồng thời lại đề cao hành vi nhân từ; ban tước lộc cho người phá được thành địch mà đồng thời lại tin thuyết kiêm ái; chế tạo áo giáp cho chắc và luyện binh cho nghiêm để phòng hoạn nạn mà đồng thời lại thích y phục của nhà Nho; trông cậy vào nông dân để cho nước giàu, trông cậy vào quân lính để cự địch mà đồng thời lại trọng kẻ sĩ chuyên về văn học; ruồng bỏ hạng dân biết kính bề trên, biết sợ pháp luật mà nuôi bọn hiệp khách ám sát kẻ thù riêng, hành động như vậy mà mong cho nước được trị và mạnh là điều không thể được. Thời bình nuôi nho sĩ và hiệp khách, thời loạn lại dùng binh sĩ như vậy là kẻ được ân huệ(?). Vì vậy mà kẻ nhiệm sự bỏ bê công việc mà kẻ du học mỗi ngày mỗi đông, do đó mà đời hoá loạn.
*
Người đời mà gọi là hiền thì giữ khí tiết và có tín nghĩa; người đời mà gọi là trí thì lời nói tinh vi tế nhị. Lời nói tinh vi tế nhị thì ngay bậc rất thông minh cũng khó hiểu được. Nay, làm pháp luật cho quần chúng mà dùng những lời ngay bậc rất thông minh cũng khó hiểu được thì quần chúng biết đâu mà rờ. Tấm cám mà còn không có đủ ăn cho no thì đâu có nghĩ tới gạo thơm, thịt bổ; quần áo cụt mà không được lành lặn thì đâu có nghĩ tới gấm thêu. Chính sách trị nước, việc gấp kia mà chưa làm xong thì việc hoãn, tính tới làm gì. Làm chính trị lo việc trong dân gian, mà điều dân thường hiểu rõ được thì lại không dùng, đi hâm mộ ngôn luận của bọn thượng trí, như vậy là trái ngược với việc trị dân. Cho nên những lời tinh vi tế nhị, không phải là cái cần thiết cho dân chúng. Nếu khen hành vi giữ khí tiết có tín nghĩa là hiền thì tất quí kẻ sĩ không dối trá, mà quí kẻ sĩ không dối trá thì tất cũng không có cái thuật làm cho người không lừa gạt mình được[17]. Người áo vải giao du với nhau, không vì ham của cải hoặc sợ uy thế của nhau, cho nên mới cầu kẻ sĩ không dối trá. Còn bậc vua chúa đã ở vào cái thế chế ngự được người, mà lại giàu có làm chủ cả một nước, thưởng hậu, phạt nặng, nắm hai quyền (thưởng, phạt) đó để làm sáng tỏ cái mà thuật của mình soi đến được (tức để biết rõ được kẻ gian tà), thì tuy có bề tôi như Điền Thường, Tử Hãn[18] cũng không dám dối mình, vậy thì còn cần gì tới kẻ sĩ không dối trá? Kẻ sĩ giữ khí tiết có tín nghĩa (cả nước) không được tới mười người mà số quan lại trong cõi thì có tới trên trăm, nếu cứ phải hạng sĩ giữ khí tiết có tín nghĩa mới được bổ dụng thì kiếm đâu cho đủ người làm quan? Không có đủ người làm quan thì kẻ cai trị ít mà kẻ làm loạn nhiều. Cho nên cái đạo của bậc minh chủ là cứ nhất thiết theo pháp luật mà không cần có người trí, cứ nắm vững lấy thuật mà không hâm mộ kẻ trung tín, như vậy pháp luật không bị huỷ hoại mà quan lại không sinh ra gian trá.
*
Ngày nay bậc vua chúa, đối với ngôn luận (của bọn du sĩ) chỉ thích lời nói khéo mà không xét xem có thích đáng hay không; đối với hành vi (của bọn du sĩ) thì chỉ trọng hư danh của họ chứ không xem họ có công (cày ruộng hay đánh giặc) không, vì vậy mà dân trong thiên hạ hễ đàm luận thì chỉ vụ ăn nói cho khéo chứ không nghĩ đến thực dụng. Cho nên bọn dẫn chứng tiên vương, nói chuyện nhân nghĩa đầy cả triều đình mà quốc chính không khỏi loạn; kẻ lập thân chỉ tranh nhau cái tiếng thanh cao[19], không cầu cái công dụng thực tế, do đó bọn trí sĩ lui về ở ẩn trong hang núi, từ bỏ tước lộc không nhận mà binh lực không khỏi suy nhược. Binh lực không khỏi suy nhược, quốc chính không khỏi loạn, nguyên do ở đâu? Ở chỗ cái mà dân chúng khen, nhà vua trọng đều là những học thuyết làm loạn nước. Nay nhân dân trong nước đều bàn về chính trị, chứa cất những sách về pháp luật của Thương Ưởng, Quản Trọng, mà nước càng nghèo, là vì kẻ bàn về nông nghiệp thì đông mà kẻ cầm cày lại ít. Trong nước ai cũng bàn về việc binh, chứa cất những sách về binh pháp của Tôn Tử, Ngô Tử[20], mà binh lực càng yếu là vì kẻ nói chuyện đánh giặc thì đông mà kẻ bận áo giáp lại ít. Cho nên bậc minh chủ chỉ dùng thực lực chớ không nghe lời nói suông, thưởng công lao mà nhất định cấm cái vô dụng, như vậy dân mới tận lực đến chết để theo bề trên. Cày ruộng là việc rất lao khổ mà dân làm vì biết rằng có vậy mới giàu được, đánh giặc là việc rất nguy hiểm mà dân làm vì biết có vậy mới sang được. Nếu trau dồi văn học, tập tành ngôn luận, không cày cấy khó nhọc mà được giàu có, không nguy hiểm đánh giặc mà được tôn quí thì ai chả muốn làm như vậy? Kết quả là một trăm người dùng trí chỉ có một người dùng sức, người dùng trí mà đông thì pháp luật bại hoại, kẻ dùng sức mà ít thì nước nghèo, do đó mà đời hoá loạn. Cho nên một nước có minh chủ thì không dùng văn học trong sách[21] chỉ lấy pháp luật mà dạy dân, không dùng lời của các “tiên sinh”[22], chỉ dùng quan lại làm thầy (dạy pháp luật), không có bọn hiệp khách hung hãn, cho chém được đầu giặc mới là dũng cảm. Nhờ vậy dân trong nước hễ đàm luận là căn cứ vào pháp luật, hễ hành động là hướng về sự lập công, sự dũng cảm đem dùng hết vào việc quân, mà thời bình thì nước giàu, lúc có giặc thì binh mạnh. Đó là cái vốn[23] để lập vương nghiệp. Súc tích cái vốn đó, thừa lúc địch sơ suất thì sự nghiệp sẽ vượt ngũ đế, bằng tam vương[24]. Theo phép đó nhất định phải thành công.
*

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5957
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Hàn Phi Tử   Mon Oct 07, 2013 3:58 pm

Ngày nay khác hẳn. Bên trong thì sĩ dân làm theo ý mình, bên ngoài thì bọn biện sĩ mượn quyền gây thế lực, trong ngoài đều làm điều gian ác để đợi cường địch, như vậy chẳng nguy ư? Cho nên quần thần bàn về đối ngoại, nếu không chia ra hai phe hợp tung và liên hoành thì cũng nhân có mối thù với nước khác mà mượn sức nước mình để trả thù[25]. Hợp tung là liên hợp các nước yếu (tức lục quốc Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, Yên, Tề) để đánh một nước lớn (tức nước Tần); liên hoành là thờ một nước mạnh để đánh các nước yếu, hai phe đó đều không duy trì được quốc gia. Bọn bề tôi nói chuyện liên hoành đều bảo: “Không thờ nước lớn thì tất bị địch xâm lược”. Thờ nước lớn đâu phải là nói suông, tất phải đem bản đồ nước mình và ấn của các quan giao cho nước lớn xin họ phân phát. Dâng bản đồ thì nước bị cắt xén, giao ấn thì danh phận bị hạ thấp; đất đai bị cắt xén thì nước yếu đí, danh phận bị hạ thấp thì chính trị hỗn loạn. Vậy là theo chủ trương liên hoành để nhờ nước lớn, lợi chưa thấy mà đã mất đất và loạn chính. Bọn bề tôi nói chuyện hợp tung đều bảo: “Không cứu nước nhỏ mà đánh nước lớn thì thiên hạ sẽ bị thôn tính, mà thiên hạ mất thì nước mình nguy, nước nguy thì vua hoá thấp hèn”. Cứu nước nhỏ đâu phải là nói suông, phải đem binh đánh nước lớn. Cứu nước nhỏ chưa chắc đã bảo tồn được nước đó mà đánh nước lớn vị tất đã không có sự sơ hở (?), có sự sơ hở thì sẽ bị nước mạnh chế ngự. Xuất quân thì quân thua, lui về cố thủ thì thành bị phá. Vậy là theo chủ trương hợp tung để cứu nước nhỏ, lợi chưa thấy mà đã mất đất, thua quân. Kẻ chủ trương thờ nước mạnh chỉ mong nhờ thế lực nước ngoài để có quan chức lớn ở trong nước[26]; kẻ chủ trương cứu nước nhỏ chỉ mong mượn thế lực của nước mình mà cầu lợi ở nước ngoài[27]. Quốc gia chưa được lợi gì mà họ đã được đất phong, lộc hậu; địa vị của vua bị hạ thấp mà quyền thế của bề tôi lại thêm cao, đất đai của quốc gia bị cắt xén mà nhà riêng (của bề tôi) thì giàu thêm. Việc thành thì họ nắm quyền mà được trọng dụng hoài; việc hỏng thì họ cũng giàu có rồi, lui về mà hưởng. Còn bậc vua chúa nghe lời họ, việc chưa thành, tước lộc của họ đã thêm cao, việc hỏng thì lại không giết họ, thành thử kẻ sĩ du thuyết không người nào không dùng những lời hão huyền để cầu may, được tước lộc. Tại sao lại nghe những thuyết hão huyền đó để cho nước tan, vua chết? Tại vua chúa không hiểu rõ cái lợi công và tư, không xét kĩ xem lời nói của bọn biện sĩ có thích đáng hay không, mà sau khi thất bại rồi, lại không giết, trị tội bọn họ. Những kẻ chủ trương liên hoành và hợp tung đó đều nói: “Việc đối ngoại (nghĩa là theo liên hoành hay hợp tung) thành công lớn thì có thể thành bá vương, nhỏ thì nước cũng được yên”. Làm bá vương thì có thể tấn công người, mà nước yên thì không bị người tấn công. Nhưng cái sự mạnh và trị thì không thể trông vào việc ngoại giao, nó tùy nội chính (tốt hay không). Không thi hành pháp luật ở trong nước mà cứ trông vào mưu trí đối ngoại, thì không thể trị và mạnh được. Tục ngữ có câu: “Tay áo dài thì khéo múa, tiền của nhiều thì khéo buôn”, nghĩa là có nhiều vốn thì dễ thành công. Nước trị và mạnh thì dễ mưu sự, nước yếu và loạn thì khó thiết kế. Cho nên dùng ở nước Tần (nước mạnh), mưu có thay đổi mười lần cũng ít thất bại; dùng ở nước Yên (nước yếu), mưu chỉ một lần thay đổi mà cũng ít thành công; không phải vì mưu dùng ở Tần đều khôn cả, mưu dùng ở Yên đều ngu cả, chỉ vì cái “vốn” trị hay loạn khác nhau đấy thôi. Cho nên Chu li khai Tần mà theo hợp tung, mới một năm đã bị diệt, Vệ li khai Ngụy mà theo liên hoành, mới nửa năm đã mất. Chu vì hợp tung mà bị diệt, Vệ vì liên hoành mà mất nước. Giá Chu và Vệ khoan tính cái kế hợp tung hay liên hoành, mà gấp lo việc trị nước, làm cho phép lệnh nghiêm minh, thưởng phạt xác định, khai phá hết đất đai để súc tích cho nhiều khiến cho dân xuất tự lực ra giữ thành trì, thì thiên hạ dù có chiếm đất mình, lợi cũng không được bao, công phá được đất mình thì tổn thất cũng nặng, như vậy một nước vạn cỗ xe không dám đóng binh ở dưới thành kiên cố của mình, mà chế ngự chỗ yếu kém của mình (?) đó là cái thuật chắc chắn giữ được nước cho khỏi mất. Bỏ cái thuật chắc chắn giữ được nước cho khỏi mất mà làm cái việc nhất định cho nước tới diệt vong, đó là lỗi của kẻ trị nước. Kết quả là mưu trí lúc ngoại giao bị khốn ở ngoài mà chính trị thì loạn ở trong như vậy tất mất nước, không sao cứu được.
*
Nhân dân bao giờ cũng tìm sự an toàn, lợi ích mà tránh sự nguy nan, khốn cùng. Nay ta bắt họ ra trận, tiến lên thì chết vì địch mà lui về thì bị giết, đằng nào cũng nguy. Bỏ việc nhà cửa làm ăn mà tìm cái công lao hãn mã[28], nhà lâm cảnh khổ mà bề trên không xét cho thì tất phải khốn cùng. Chỗ nào khốn cùng và nguy nan thì làm sao dân không tìm cách tránh? Cho nên họ thờ các tư gia có thế lực để được miễn quân dịch mà xa trận mạc, xa trận mạc thì được yên. Họ dùng hối lộ nhờ nhà cầm quyền để được cái họ muốn, được cái họ muốn thì có lợi. Chỗ nào yên ổn và có lợi thì sao dân không ùa tới? Do đó mà dân lo việc công thì ít mà dân lo việc tư thì nhiều. Chính sách trị nước của bậc minh chủ là khiến cho bọn thương nhân, công nhân và du thủ du thực ít và bị khinh để cho dân đổ xô vào các nghề gốc (trồng trọt, cày cấy) mà bỏ các nghề ngọn (công và thương). Nay lời xin của bọn thân cận với vua chúa được chấp nhận, thì quan tước có thể mua được, quan tước có thể mua được thì công nhân và thương nhân không còn thấp hèn nữa. Của gian và đồ gian được dùng ở chợ, thì thương nhân tất nhiều. Tiền của họ tích tụ được nhiều gấp bội nhà nông, mà địa vị của họ lại cao hơn nông gia và chiến sĩ, như vậy thì chiến sĩ[29] tất ít, mà bọn con buôn phải nhiều. Cho nên nước loạn có cái thói: bọn học giả thì khen đạo tiên vương, tạ khẩu là trọng nhân nghĩa, trau chuốt dung mạo và y phục, lời ăn tiếng nói để làm loạn pháp độ đương thời, làm mê hoặc lòng vua chúa; bọn du sĩ thì dùng thuyết gian trá mượn thế lực của nước ngoài để đạt được tư lợi, làm thiệt hại cho quốc gia, bọn đeo gươm thì tập hợp đàn em, lập tiết tháo để nổi danh mà phạm cấm lệnh của năm chức quan[30] (tức của triều đình) bọn thị thần nịnh bợ, tích tụ tài sản, ăn hối lộ, mượn cái thế của nhà cầm quyền mà xin miễn dịch (cho kẻ hối lộ cho họ), còn bọn thương gia và công nhân thì sửa lại[31] những đồ xấu xí, tích trữ những vật thường dùng[32] để đợi thời (bán đắt giá mà) bóc lột cái lợi của nông phu. Năm hạng người đó là mọt của nước, bậc vua chúa không trừ chúng, không nuôi chiến sĩ thì trong thiên hạ có quốc gia bị tàn phá suy vong, có triều đại bị tiêu diệt, cũng không có gì lạ!
 
Chú thích:
[1] Ông Cổn là cha của ông Vũ, người sáng lập nhà Hạ. Vua Thuấn sai ông Cổn trị lụt không thành công, bị giết; sau ông Vũ trị lụt, vua Thuấn truyền ngôi cho. Đừng lộn ông Vũ này với ông Võ của nhà Chu đời sau.
[2] Tục nước Sở, tháng hai có lễ “lâu”, đông chí có lễ “lạp” để tế thần.
[3] Vì ở núi ít nước, nước hoá quí.
[4] Phong và Cảo đều ở Thiểm Tây, nhà Chu mới đầu đóng đô ở đất Cảo.
[5] Một con sông phát nguyên từ Thiểm Tây, chảy vào Hồ Bắc rồi đổ vào sông Dương Tử.
[6] Tương truyền vua Yển vương vì thương dân không kháng cự nên Sở chiếm được nước Từ.
[7] Cung Công là một bộ lạc thời thượng cổ, trước thời vua Vũ đã có lần xâm phạm Trung Nguyên, thời vua Vũ cũng có thể gây chiến với Trung Nguyên nữa, nhưng không thấy sử chép việc đó.
[8] Theo các nhà khảo cổ gần đây thì thời đó chưa có sắt, cuối đời Xuân Thu mới có.
[9] Nguyên văn: “thị dân như phụ mẫu”. Câu này theo Trần Khải Thiên tỉnh lược mấy chữ (… như phụ mẫu) chi phụ mẫu.
[10] Nguyên văn: bất thính kì khấp là không theo sự khóc lóc.
[11] Tức thất thập nhị hiền.
[12] Một người nổi tiếng chạy nhanh thời xưa.
[13] Nguyên văn là di, có sách giảng là phẳng, có sách giảng là phẳng lần lần.
[14] Một tầm là tám thước, một thường là hai tầm, thước hồi đó bằng khoảng một gang tay.
[15] Chữ “tiên sinh” mới đầu trỏ các danh sĩ khắp nơi tụ tập ở Lâm Tri (Tề) mà được vua Tề trọng đãi (coi phần I), ở đây trỏ hạng người mà ngày nay chúng ta gọi là học giả.
[16] Coi chú thích phần III chương IV
[17] Chúng ta nên nhớ Hàn Phi chủ trương vua phải dùng thuật để chế ngự bề tôi.
[18] Điền Thường hay Điền Thành, Điền Hằng, một đại phu nước Tề đời Xuân Thu, giết vua Tề là Giản Công để lập Bình Công. Sau con cháu ông ta cướp luôn ngôi vua nước Tề - Tử Hãn chưa rõ là ai, có lẽ là một Đại phu nước Tống.
[19] Ám chỉ bọn Đạo gia ở ẩn.
[20] Tôn Tử tức Tôn Võ, người nước Tề, giỏi binh pháp, tác giả một bộ binh thư nổi tiếng. Ngô Tử tức Ngô Khởi, một danh tướng đời Chiến Quốc, gốc nước Vệ, làm quan ở Lỗ, Ngụy, Sở, mấy lần thắng được Tần.
[21] Tức các Thi, Thư, điển tích của Nho gia.
[22] Tức các học giả (như các Tắc hạ tiên sinh). Có sách chép là tiên vương.
[23] Tức nước giàu binh mạnh.
[24] Ngũ đế là Hoàng đế, Chuyên Húc, Đế Cốc, Nghiêu, Thuấn.
Tam vương là vua đời Tam đại: Hạ Vũ, Thương Thang, Chu Văn vương.
[25] Như trường hợp Ngũ Viên, người nước Sở, cha là Ngũ Xa bị vua Sở giết, ông qua nước Ngô, thuyết phục vua Ngô là Hạp Lư đánh nước Sở để báo thù cho cha.
[26] Khuyên vua thờ nước mạnh mà vua nghe thì họ được nước mạnh trọng dụng, thăng quan, phong đất cho.
[27] Khuyên vua cứu nước nhỏ mà vua nghe thì họ được nước nhỏ mang ơn, tặng cho tiền của, bảo vật.
[28] Công lao lập trên lưng con ngựa toát mồ hôi, tức chiến công.
[29] Nguyên văn là cảnh giới chi sĩ nghĩa là kẻ sĩ ngay thẳng, nhưng ý đồ không hợp với tiền hậu vận, cho nên một số học giả ngờ là chiến giới chi sĩ (chiến sĩ) hoặc canh chiến chi sĩ (nông gia và chiến sĩ).
[30] Năm chức đó là: tư đồ, tư mã, tư không, tư sĩ và tư khấu.
[31] Tức như ta nói: đánh bóng lại cho có vẻ mới, trông được.
[32] Nguyên văn: phất mị tài, có sách giảng là tiền của vô dụng hoặc vô hạn. Chúng tôi thấy không xuôi nên theo Trần Khải Thiên: phất mị tài - bất gia hoá - tiện nghi hoá.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5957
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Hàn Phi Tử   Mon Oct 07, 2013 7:08 pm

Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
Hàn Phi Tử
THIÊN XL
NẠN THẾ

(VẤN NẠN VỀ CÁI THẾ[1])
Thận Tử (tức Thận Đáo) bảo:
- Con phi long cưỡi mây mà bay (lên trời), con đằng xà (một loại rắn như rồng, không có chân) chế ngự sương mù mà lượn (trong đó). Mây tan sương tạnh rồi thì hai con đó cũng chỉ như con giun, con kiến vì mất chỗ dựa. Người hiền mà chịu khuất kẻ bất tiếu (tài đức kém) là vì quyền (thế) nhẹ, (địa) vị thấp; kẻ bất tiếu mà khuất phục được người hiền là vì quyền trọng, vị cao. Nghiêu hồi còn là dân thường thì không trị được ba người, mà Kiệt khi làm thiên tử thì có thể làm loạn cả thiên hạ. Do đó tôi biết rằng quyền thế và địa vị đủ để nhờ cậy được, mà bậc hiền trí không đủ cho ta hâm mộ. Cây ná yếu mà bắn được mũi tên lên cao là nhờ sức gió đưa đi; kẻ bất tiếu mà lệnh ban ra được thi hành là nhờ sức giúp đỡ của quần chúng. Nghiêu khi còn là kẻ lệ thuộc, đi giảng dạy thì dân không nghe; đến khi ngồi quay mặt về phương Nam, làm vua thiên hạ, lệnh ban ra là người ta thi hành liền, cấm đoán là người ta phải ngừng ngay. Do đó mà xét thì hiền và trí không đủ cho đám đông phục tòng, mà quyền thế và địa vị đủ khuất phục người hiền.
Có kẻ trả lời Thận Tử:[2]
- Con phi long cưỡi mây mà bay, con đằng xà chế ngự sương mù mà lượn, tôi đồng ý rằng hai con đó dựa vào cái thế của mây và sương mù. Tuy nhiên, nếu bỏ người hiền mà chuyên dựa thế lực, có đủ để trị nước không, thì tôi chưa được thấy đấy. Có cái thế của mây, sương mù mà cưỡi, lượn được, quả là con rồng, con rắn có tài cao. Có mây dày mà con giun không cưỡi được; có sương mù đặc mà con kiến không lượn được vì tài năng của chúng kém. Kiệt Trụ quay mặt về phương Nam, làm vua thiên hạ, dùng uy thế của ngôi thiên tử làm mây và sương mù, mà thiên hạ không khỏi đại loạn là vì tài năng của họ kém. Vả lại ông đó (tức Thận Tử) bảo cái thế của vua Nghiêu trị được thiên hạ, thì cái thế đó có khác gì cái thế Kiệt làm loạn thiên hạ đâu? Cái thế tự nó không thể khiến cho người hiền dùng nó, kẻ bất tiếu không dùng nó. Người hiền dùng nó thì thiên hạ trị, kẻ bất tiếu dùng nó thì thiên hạ loạn. Tính tình con người hiền thì ít, bất tiếu thì nhiều. Lấy cái lợi của uy thế mà giúp kẻ bất tiếu thời loạn thì kẻ dựa thế làm loạn thiên hạ sẽ rất đông, người nhờ thế làm cho thiên hạ trị rất ít. Cái thế rất tiện lợi cho việc trị mà cũng tiện lợi cho sự loạn. Cho nên Chu Thư[3] có câu: “Đừng chắp cánh cho cọp, cọp sẽ bay vào trong ấp, bắt người để ăn thịt”. Giúp cho kẻ bất tiếu có thế lực tức là chắp cánh cho cọp. Kiệt Trụ bắt dân xây đài cao, đào ao sâu, làm kiệt sức dân, dùng cực hình bào lạc[4] làm hại mạng dân. Kiệt Trụ làm được bốn việc đó[5] nhờ có cái uy thế thiên tử làm cánh cho họ. Nếu họ là thường nhân thì chưa làm được một (trong bốn việc đó) đã bị xử tử rồi. “Thế là cái nuôi lòng hổ lang để gây nên việc bạo loạn. Đó là mối hại lớn của thiên hạ. Thế có thể làm cho nước trị, cũng có thể gây loạn, chớ không nhất định. Như vậy mà chuyện nói rằng thế đủ để trị thiên hạ, thì kiến thức thực là nông cạn. Có ngựa tốt và xe chắc mà sai đầy tớ đánh xe thì bị thiên hạ cười, giao cho Vương Lương[6]đánh xe thì ngày đi được ngàn dặm. Cũng vẫn là ngựa ấy xe ấy mà người thì đi được ngàn dặm, người bị chê cười, chỉ do khéo vụng khác nhau xa vậy. Nay coi nước là chiếc xe, coi cái thế là con ngựa, coi hiệu lệnh là dây cương, hình phạt là ngọn roi, để ông Nghiêu, ông Thuấn đánh xe thì thiên hạ trị, để Kiệt, Trụ đánh xe thì thiên hạ loạn, chỉ do hiền và bất tiếu khác nhau xa vậy. Muốn đi nhanh và xa thì biết dùng[7] Vương Lương; mà muốn tiến lợi trừ hại lại không biết dùng người hiền năng, đó là cái hại của sự không biết suy luận về những cái giống nhau. Nghiêu, Thuấn chính là Vương Lương trong việc trị nước đấy.”
*
Lại có kẻ[8] trả lời câu trả lời trên:
- Ông ấy (Thận Tử) cho cái “thế” là đủ để vua dựa vào mà trị quan lại; mà ông (tức người bắt bẻ Thận Tử như trên) lại bảo: “Phải đợi có hiền thần rồi mới trị được”, như vậy không đúng. Cái thế, “danh” chỉ có một mà “thực” thì thay đổi rất nhiều[9]. Nếu cái thế tự nhiên[10] thì chẳng cần phải bàn. Nhưng cái tôi gọi là thế là cái thế do người thiết lập ra kia[11]. Ông bảo: Nghiêu, Thuấn đắc thế mà trị; Kiệt, Trụ đắc thế mà loạn. Tôi không bảo rằng dưới triều Nghiêu Thuấn (vua Kiệt, Trụ), không phải như vậy, nhưng cái đó không phải do người thiết lập ra. Nghiêu, Thuấn sinh ra mà đã làm vua thì có mười Kiệt, Trụ (ở dưới) cũng không làm cho loạn được vì đó là cái thế trị; Kiệt, Trụ sinh ra mà đã làm vua thì có mười Nghiêu, Thuấn (ở dưới) cũng không làm cho trị được, vì đó là cái thế loạn. Cho nên bảo: “Thế mà trị thì không thể làm cho loạn được, thế mà loạn thì không thể làm cho trị được”. Đó là cái thế tự nhiên, không phải con người thiết lập được. Cái tôi nói là cái thế mà con người có thể thiết lập được kia (tức là quyền thế). Mà cái này thì sự hiền minh có liên quan gì tới? Làm sao biết được điều ấy?
 
Có người kể chuyện: “Một người bán mâu và thuẫn, khoe thuẫn của mình chắc, không vật gì đâm thủng được. Một lát sau lại khen mâu của mình bén, không vật gì là không đâm thủng”. Có người hỏi lại anh ta: “Thế bây giờ lấy cây mâu của ông mà đâm cái thuẫn của ông thì sao” – Anh ta bí. Cái thuẫn không gì đâm thủng với cái mâu không gì là không đâm thủng, hai cái đó không cùng tồn tại một lúc được. Sự hiền minh thì không chịu sự cưỡng chế (như cái thuẫn), mà cái thế dùng làm đạo trị nước thì có tính cách công dụng cưỡng chế (như cái mâu). Hai cái đó để chung thì là mâu thuẫn. Hiền và thế, không thể dung nhau được, điều đó hiển nhiên[12].
Vả lại, Nghiêu, Thuấn, Kiệt, Trụ ngàn đời mới xuất hiện một lần; số đó rất ít[13]. Mà cái thường thấy trên đời thì là hạng người trung bình[14], cho nên tôi nói về thế là nói hạng trung bình. Hạng người trung bình thì trên không bằng Nghiêu, Thuấn, dưới không đến nỗi như Kiệt, Trụ. Nếu cứ giữ chặt pháp luật, dùng quyền thế thì nước trị, quay lưng lại pháp luật, bỏ quyền thế thì nước loạn. Nay bỏ quyền thế, quay lưng lại pháp luật mà đợi Nghiêu, Thuấn. Nghiêu, Thuấn tới là nước trị, thì ngàn đời loạn mới có một đời trị. Giữ chặt pháp luật, dùng quyền thế mà đợi Kiệt, Trụ. Kiệt, Trụ tới là nước loạn, thì ngàn đời trị mới có một đời loạn. Ngàn đời trị mà một đời loạn, với ngàn đời loạn mà một đời trị, hai cái đó ngược hẳn nhau như hai người cưỡi con ngựa Kí và con ngựa Nhĩ[15], mà mỗi người phi nhanh về một phía vậy.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5957
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Hàn Phi Tử   Mon Oct 07, 2013 7:13 pm

Bỏ đồ để uốn gỗ (ẩn quát)[16], bỏ đồ đo lường mà sai Hề Trọng[17] đóng xe thì một cái bánh xe ông ta đóng cũng không xong. Không có sự khuyến khích khen thưởng, không có cái uy của hình phạt, bỏ quyền thế pháp luật, thì Nghiêu, Thuấn dù đi từng nhà thuyết phục, người ta cũng cãi lại, mà không trị nổi ba nhà. Vậy cái thế đủ để dùng được, điều đó hiển nhiên. Mà ông bảo: “Phải đợi có người hiền”, thì là sai. Vả lại không ăn một trăm ngày, đợi có thịt ngon mới ăn thì tất chết đói mất. Đợi có bậc hiền như Nghiêu, Thuấn để trị dân đời nay thì khác gì đợi có thịt ngon để cứu người chết đói không?
Ông bảo: “Có ngựa tốt xe chắc mà sai đầy tớ đánh xe thì bị thiên hạ cười; giao cho Vương Lương đánh thì ngày đi được ngàn dặm”. Tôi nghĩ không phải vậy. Một người Trung Quốc (tức ở Trung Nguyên, như miền Lỗ, Tề, Tấn, Chu…) chết đói mà đợi người nước Việt lội[18] giỏi tới cứu, thì người Việt lội giỏi đến đâu cứu cũng không được. Đợi ông Vương Lương thời cổ để đánh cỗ xe ngày nay thì cũng không khác gì đợi người nước Việt cứu người chết đuối vậy. Đợi làm sao được, lẽ đó là hiển nhiên. Có ngựa tốt, xe chắc cứ năm chục dặm đặt một trạm (để tiếp sức), rồi sai người trung bình đánh xe thì có thể chạy nhanh, đi xa, một ngày đi được ngàn dặm, cần gì phải đợi có ông Vương Lương thời cổ! Vả lại nói tới việc đánh xe, không đưa ra trường hợp dùng Vương Lương thì đưa ra những trường hợp dùng kẻ tôi tớ không biết đánh xe, nói về việc trị nước, không đưa ra trường hợp Nghiêu, Thuấn thì đưa ra trường hợp Kiệt, Trụ, làm loạn nước; như vậy tức như nói về khẩu vị, nếu không đưa ra đường mật, thì đưa ra rau đắng, rau đay, nghị luận như vậy là nói cho nhiều mà không hợp lý hợp phép vì đưa ra hai trường hợp cực đoan, làm sao có thể bắt bẻ những lời hợp đạo lí được? Lời ông bàn không bằng thuyết về thế trên kia của Thận Tử.
 
Chú thích:
[1] Vấn nạn là đặt câu hỏi để bắt bẻ.
[2] Hàn Phi thay lời Nho gia mà bác thuyết về thế của Thận Đáo.
[3] Phần trong kinh Thư chép về nhà Chu.
[4] Tương truyền do vua Trụ đặt ra nhưng không chắc đúng; Trụ sai bôi mỡ lên một cái trụ bằng đồng, dưới để than hồng, bắt tội nhân đi lên cái trụ (đặt nằm ngang), để hắn trượt chân té xuống than hồng, cho Đát Kỉ thấy mà cười. Có thuyết nữa cho rằng tội nhân bị cột vào một cái ống đồng rỗng, rồi người ta đổ than hồng vào cho nó đỏ lên làm cháy da thịt tội nhân.
[5] Trên chỉ mới kể ba việc: xây đài cao, đào ao sâu, dùng cực hình bào lạc, cho nên có người bảo bào và lạc là 2 cực hình (không đáng tin), có người bảo trên chép thiếu một việc (đáng tin hơn).
[6] Người nước Tấn giỏi đánh xe, thời Xuân Thu.
[7] Có bản thêm chữ bất: Muốn đi xa và nhanh mà không biết dùng Vương Lương… Chúng tôi cho là sai vì như vậy không hợp với kết luận ở cuối câu: cái hại của sự không biết suy luận về những cái giống nhau.
[8] Đây là ý kiến của Hàn Phi.
[9] Có sách giảng là ý nghĩa rất nhiều. Nguyên văn: biến vô số.
[10] Có học giả hiểu là thiên mệnh, có học giả lại hiểu là sự truyền ngôi.
[11] Có học giả hiểu là sự vận dụng chủ quyền (quyền thế).
[12] Cả đoạn này nguyên văn rất khó hiểu.
[13] Nguyên văn là: thị tị kiên, tuỳ chủng nhi sinh, dịch từng chữ là: là sánh vai nối gót mà sinh, mỗi sách giảng một khác, có sách ngờ là sai hay thiếu chữ. Chúng tôi theo Trần Khải Thiên đoán ý mà dịch.
[14] Nguyên văn là: thế chí trị giả, bất tuyệt ư trung; mỗi sách cũng hiểu một khác, chúng tôi cũng đoán ý mà dịch.
[15] Những loài ngựa tốt, ngày đi ngàn dặm.
[16] Coi chú thích ở thiên Hiển học.
[17] Bề tôi vua Hạ Vũ, coi về xe cộ
[18] Có bản thêm chữ hải: lội bể giỏi.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Admin
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 293
Reputation : 1
Join date : 27/07/2013

Bài gửiTiêu đề: Re: Hàn Phi Tử   Mon Oct 07, 2013 11:16 pm

Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
Hàn Phi Tử
THIÊN XLIII
ĐỊNH PHÁP

(LẬP PHÁP[1])

Có người hỏi:
- Thuyết của hai ông Thân Bất Hại và Công Tôn Ưởng, thuyết nào khẩn thiết cho quốc gia hơn? Đáp:
- Không thể quyết được. Ngưòi ta không ăn mười ngày thì chết, mà trời lạnh gắt, không có áo mặc cũng chết. Hỏi ăn mặc cái nào khẩn thiết cho người hơn thì không thể quyết được vì cả hai đều để dưỡng sinh, không thể thiếu một. Thân Bất Hại nói về thuật, mà Công Tôn Ưởng nói về pháp. Thuật là nhân tài năng mà giao cho chức quan, theo cái danh mà trách cứ cái thực (nói sao thì phải làm đúng như vậy hoặc giữ chức vụ nào thì phải làm đúng nhiệm vụ), nắm quyền sinh sát, xét khả năng của quần thần. Đó là cái bậc vua chúa phải nắm trong tay. Pháp là hiến lệnh công bố ở các công sở, thưởng hay phạt[2] đều được dân tin chắc là thi hành[3], thưởng người cẩn thận giữ pháp luật, phạt kẻ phạm pháp, như vậy bề tôi sẽ theo pháp[4]. Ở trên vua không có thuật thì bị bề tôi che lấp; ở dưới bề tôi không có pháp luật thì loạn. Vậy không thể thiếu một trong hai cái đó, cả hai đều là công cụ của bậc đế vương.
*
Người đó lại hỏi: “Chỉ theo thuật mà không có pháp luật hoặc chỉ có pháp luật mà không theo luật, đều không được, là tại sao?
Đáp: “Thân Bất Hại làm phụ tá cho Hàn Chiêu hầu, Hàn (lúc đó) là một phần của nước Tấn (mới) tách ra[5]. Vì vậy pháp luật cũ của Tấn chưa bỏ mà pháp luật mới của Hàn đã đặt ra: lệnh của vua trước chưa thu về mà lệnh của vua mới đã ban hành. Nếu Thân Bất Hại không chỉnh đốn lại pháp luật, thống nhất lại hiến lệnh thì sẽ có nhiều kẻ gian vì pháp luật và lệnh cũ có lợi cho họ thì họ theo, pháp luật và lệnh mới có lợi cho họ thì họ theo. Cũ và mới trái ngược nhau, trước và sau nghịch nhau, thì dù Thân Bất Hại có bảo Chiêu hầu cả chục lần phải dùng thuật, bọn gian thần vẫn còn có chỗ dối trá trong lời nói được. Vì vậy, Thân Bất Hại dựa vào sức mạnh của nước Hàn có vạn cỗ xe mà mười bảy năm[6] không lập được nghiệp bá vương cho Hàn. Đó là cái hại bề trên tuy dùng thuật mà các quan không chỉnh đốn, thống nhất pháp luật.

Công Tôn Ưởng trị nước Tần, đặt ra lệnh phải cáo gian, nếu tố cáo sai thì bị tội, năm và mười nhà phải cùng chịu trách nhiệm; thưởng hậu mà xác thực, phạt nặng mà cương quyết; nhờ vậy mà dân tận lực làm lụng không nghỉ, đánh đuổi địch, dù nguy cũng không lùi bước, làm cho nước giàu binh mạnh. Nhưng không dùng thuật để biết kẻ gian, cho nên sự giàu mạnh đó chỉ lợi cho bọn đại thần mà thôi. Tới khi Hiếu Công và Thương quân (Thương Ưởng) chết, Huệ Vương lên nối ngôi, pháp luật của Tần chưa huỷ hoại, mà Trương Nghi đem Tần hi sinh cho Hàn, Ngụy[7]. Rồi Huệ Vương chết, Võ Vương lên nối ngôi, Cam Mậu (Tả thừa tướng của Tần) đem Tần hi sinh cho nước Chu. Võ Vương chết, Chiêu Tương Vương lên nối ngôi, Nhương Hầu (tức Ngụy Nhiễm) vượt nước Hàn, nước Ngụy mà đánh Tề ở phía Đông, năm năm Tần không thêm được một thước đất, mà Nhương Hầu thì được phong ấp Đào, Ứng Hầu (tức Phạm Tuy) đánh Hàn tám năm, mà được phong đất Nhữ Nam. Từ đó trở đi, những kẻ được trọng dụng ở Tần đều thuộc hạng Ứng Hầu, Nhương Hầu hết. Vậy, đánh giặc mà thắng thì đại thần được tôn quí, quốc gia được thêm đất thì đại thần được thêm đất riêng, chỉ vì nhà vua không có thuật để biết kẻ gian. Thương quân dù mười lần sửa sang pháp luật, gian thần cũng ngược lại lợi dụng pháp luật làm lợi cho họ[8]. Cho nên nhân sức mạnh của Tần mà mấy chục năm không lập được sự nghiệp đế vương. Đó là cái hại của pháp luật được các quan áp dụng đúng, nhưng vua ở trên lại không có thuật.
*
Lại nói:
- Vua chúa dùng thuật của Thân tử, quan lại dùng pháp của Thương quân, như vậy là được rồi chứ (hay chưa đủ?)[9]
Đáp:
- Thân tử chưa đạt đến chỗ hoàn toàn của thuật, Thương quân chưa đạt đến chỗ hoàn toàn của pháp. Thân tử bảo: “Quan lại không được vượt chức (không thuộc quyền chức của mình thì) dù biết cũng không được nói”. Quan lại không được vượt chức, như vậy là giữ chức phận của mình, cái đó được; nhưng biết mà không nói thì là không tố cái lỗi[10] (của người khác với vua), cái đó sai. Bậc vua chúa lấy mắt của cả nước mà xem cho nên không ai nhìn sáng bằng, lấy tai của cả nước mà nghe cho nên không ai nghe tỏ bằng. Nay bề tôi biết mà không nói thì vua chúa còn nhờ vào đâu mà nhìn thấy, nghe thấy được nữa? Pháp luật của Thương quân bảo: “Chém được một đầu giặc thì thăng tước một cấp, nếu muốn làm quan thì được một chức quan mà lương là 50 thạch (mỗi thạch là mười đấu); chém được hai đầu giặc thì thăng tước hai cấp, nếu muốn làm quan thì được một chức quan lương 100 thạch. Việc thăng quan tước xứng với công chém đầu giặc. Nay nếu có một pháp lệnh bảo: “Ai chém được đầu giặc thì được làm thầy thuốc hay thợ mộc” thì nhà cất không xong mà bệnh trị không hết. Làm thợ cần khéo tay, làm thầy thuốc cần giỏi dùng thuốc. Cứ chém được đầu giặc là được làm những nghề đó thì không hợp với khả năng của họ. Làm quan trị dân thì cần có trí năng, còn chém đầu giặc thì cần sức mạnh. Dùng người chỉ có sức mạnh mà cho làm quan trị dân cần có trí năng, thì cũng như cho người có công chém đầu giặc làm thầy thuốc hay thợ mộc. Cho nên tôi bảo: “Hai ông ấy – Thân tử và Thương quân – chưa đạt được đến chỗ hoàn toàn của thuật, pháp”.


Chú thích:
[1] Theo Trần Khải Thiên, cũng có thể hiểu là giải thích pháp luật. Nhưng chúng tôi nghĩ nghĩa đó hẹp quá. Nhan đề này không tóm được ý toàn thiên.
[2] Có bản chép là hình phạt, nhưng đọc hàng dưới sẽ thấy thưởng phạt đúng hơn.
[3] Nghĩa là pháp luật đã ban thì phải thi hành đúng, dân mới tin.
[4] Nguyên văn: nhân thần chi sở sư, có bản giảng là: bề tôi sẽ coi là thầy.
[5] Năm 376 trước Tây Lịch, nước Tấn chia ba thành Ngụy, Triệu và Hàn.
[6] Sự thực chỉ có 15 năm thôi, mà Hàn không phải là nước lớn có vạn cỗ xe.
[7] Trương Nghi làm tướng quốc choTần Huệ vương, chủ trương liên hoành, thuyết lục quốc họp nhau lại phục vụ Tần. Vậy thì sao lại bảo đem Tần hi sinh cho Hàn, Ngụy.
[8] Chính nghĩa là “nhờ cậy vào đó”
[9] Nguyên văn: khả hồ? Nhiều sách dịch sát là "được không"? Chúng tôi nghĩ dịch như vậy thì lời đáp của Hàn Phi ở dưới hoá ra không nhằm, cho nên chúng tôi lấy ý mà dịch như trên.
[10] Nguyên văn: thị bất yết (謁) quá dã. Có sách không dịch chữ yết đó, có sách dịch là không nói cái gì không thuộc chức vị của mình. Nhưng thiên Bát kinh viết: yết quá thưởng, thì rõ ràng yết có nghĩa là tố cáo. Tố cáo tội lỗi của người khác nên được thưởng.

_________________________________
Tri Âm Quán
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5957
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Hàn Phi Tử   Tue Oct 08, 2013 6:40 pm

Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
Hàn Phi Tử
THIÊN VII
NHỊ BÍNH

(HAI QUYỀN CỦA VUA[1])
Bậc minh chủ sở dĩ chế ngự được bề tôi là chỉ nhờ có hai cái quyền mà thôi. Hai cái quyền đó là “hình” và “đức”. Thế nào là hình và đức? Giết phạt gọi là hình, khen thưởng gọi là đức[2]. Bề tôi nào cũng sợ bị giết phạt và ham được khen thưởng, cho nên vua chúa biết tự sử dụng hai cái quyền hình và đức thì quần thần đều sợ uy của vua mà mong được vua khen thưởng. Bọn gian thần trên đời thì không vậy. Chúng ghét ai thì làm mê hoặc vua để được vua giao cho quyền trị tội ngưòi đó; chúng yêu ai thì làm mê hoặc vua chúa để được vua giao cho quyền thưởng người đó. Bậc vua chúa không giữ cho cái uy cùng cái lợi, phạt và thưởng xuất phát từ chính mình, mà nghe lời bề tôi, thưởng phạt theo ý họ thì dân chúng trong nước đều sợ bọn bề tôi đó mà coi thường vua, qui phục họ mà xa vua, đó là cái hại bậc vua chúa đánh mất hai cái quyền hình và đức. Cọp làm cho chó phải khiếp phục là nhờ nanh với vuốt: nếu cọp bỏ nanh vuốt đi, để cho chó dùng thì ngược lại nó phải khiếp phục chó. Bậc vua chúa dùng hình và đức để chế ngự bề tôi, nếu bỏ hai quyền đó, để cho bề tôi dùng thì ngược lại bị bề tôi chế ngự. Cho nên Điền Thường trên xin tước lộc để ban cho quần thần, dưới làm cái đấu cái hộc lớn hơn mẫu mực để thi ân cho trăm họ; thế là Giản Công mất cái quyền thi ân, để cho Điền Thường lấy mà dùng, rốt cuộc Giản Công bị giết.[3]Tử Hãn tâu với vua Tống[4]: “Dân thích được khen thưởng, vậy việc đó xin đại vương tự làm lấy; dân ghét bị hình phạt, việc này thần xin đảm nhận”. Thế là vua Tống mất cái quyền hình phạt để cho Tử Hãn lấy mà dùng, rốt cuộc vua Tống bị hiếp bức. Điền Thường chỉ dùng cái đức mà Giản Công bị giết; Tử Hãn chỉ dùng cái hình mà vua Tống bị hiếp. Vậy mà ngày nay bọn bề tôi dùng cả hai cái hình và đức, thì vua chúa tất nguy hơn Giản Công và vua Tống nhiều. Cho nên các vua chúa bị hiếp, bị giết, bị che lấp, lừa dối là vì bỏ cả hai cái quyền hình và đức để cho bề tôi dùng. Như vậy mà không bị nguy vong là điều không thể có được.
*
Bậc vua chúa muốn ngăn cấm gian tà, tất phải xét xem hình và danh có hợp nhau không; danh là lời nói mà hình là sự việc. Bề tôi trình bày một kiến nghị, vua theo kiến nghị đó mà giao việc cho, rồi tùy việc mà xét kết quả. Kết quả phù hợp với việc, việc phù hợp với lời nói thì thưởng; trái lại, kết quả không phù hợp với việc, việc không phù hợp với lời nói thì phạt. Lời nói của bề tôi huênh hoang, mà kết quả nhỏ thì phạt, không phải phạt vì kết quả nhỏ mà vì kết quả không phù hợp với lời nói. Lời nói của bề tôi nhũn quá mà kết quả lớn thì cũng phạt, không phải không mừng vì kết quả lớn, nhưng kết quả không phù hợp với lời nói thì công không đủ bù hại, vì vậy nên phạt. Xưa Hàn Chiêu hầu say rồi ngủ. Viên điển quan (thị thần coi về mão) sợ vua lạnh, lấy áo đắp lên cho vua. Chiêu Hầu thức dậy, thấy vậy, vui lòng, hỏi kẻ tả hữu: “Ai đắp áo cho ta đó?”. Kẻ tả hữu đáp: “Viên quan coi về mão". Chiêu Hầu bèn phạt cả viên điển y vì không làm nhiệm vụ; phạt viên điển quan vì vượt chức vụ. Không phải là ông không sợ lạnh, mà vì ông cho rằng để bề tôivượt chức vụ thì cái hại còn hơn là mình bị lạnh. Cho nên bậc minh chủ đối với bề tôi, không để cho bề tôi vượt chức mà lập công, không để cho lời nói không phù hợp với việc làm. Vượt chức thì chết, lời nói không phù hợp với việc làm thì bị tội. Bề tôi cứ giữ chức vụ của mình, lời nói phù hợp với việc, như vậy quần thần không thể kết bè đảng làm điều gian tà được.
*
Bậc vua chúa có hai mối lo: dùng người hiền,[5] bề tôi nhân sự hiền tài của họ mà lấn vua; mà dùng người bừa bãi thì việc tất thất bại. Vua thích người hiền thì bề tôi trau dồi bề ngoài để làm vừa lòng vua, như vậy chân tình của họ không xuất hiện, mà chân tình của họ không xuất hiện thì vua không phân biệt được đâu là chân, đâu là ngụy. Cho nên vua Việt hiếu dũng mà đa số nhân dân coi thường sự chết; Sở Linh vương thích những lưng eo mà trong nước nhiều người (nhịn ăn tới) chết đói; Tề Hoàn công hay ghen mà hiếu sắc, nên Thụ Điêu tự hoạn để được làm thái giám; ông lại thích ăn ngon nên Dịch Nha luộc đứa con đầu lòng của mình[6] để dâng; vua nước Yên là Tử Khoái thích người hiền[7] cho nên Tử Chi làm bộ tỏ ra rằng mình (thanh cao) không nhận ngôi vua[8]. Vua để lộ lòng ghét của mình thì bề tôi làm ra bộ tài năng để hợp với sở thích của vua; vua để lộ lòng muốn thì bề tôi sửa đổi tính tình thái độ để thích ứng với lòng vua mà cầu lợi. Cho nên Tử Chi làm bộ hiền nhân mà đoạt được ngôi vua; Thụ Điêu, Dịch Nha lợi dụng sở thích của vua mà lấn vua; (kết quả là) Tử Khoái chết vì nội loạn, Hoàn Công chết tới khi dòi bò ra ngoài cửa phòng[9] mà chưa được chôn. Nguyên do tại đâu? Tại vua để lộ tình dục của mình, để bề tôi lợi dụng (mà mưu lợi cho họ). Bề tôi vị tất đã yêu vua, họ chỉ tính cái lợi cho họ thôi. Bậc vua chúa không che giấu tình dục, ý tứ của mình mà để cho bề tôi có cơ hội lấn áp mình thì bề tôi học cái thói của Tử Chi, Điền Thường đâu có khó. Cho nên bảo: “Vua bỏ yêu, bỏ ghét đi thì chân tướng của bề tôi sẽ hiện, mà vua sẽ không bị che lấp”.
 
Chú thích:
[1] Bính nghĩa gốc là cái cán, là cầm. Ở đây bính là quyền bính, nghĩa là quyền thế nằm trong tay như cầm cái cán của vật.
[2] Chữ đức ở đây có nghĩa khác nghĩa người ta thường dùng.
[3] và [4] Điền Thường và Giản công; Tử Hãn và vua Tống: coi chú trang 10 thiên Ngũ đố.
[5] Chữ hiền này trỏ hạng người đa tài đa thuật, không phải hạng hiền nhân quân tử theo quan niệm Nho gia.
[6] Thụ Điêu và Dịch Nha đều là bọn gian trá được Tề Hoàn công tin dùng. Nguyên văn bản Trần Khải Thiên: thủ tử. Có bản chép là tử thủ (luộc) đầu đứa con (của mình).
[7] Chữ hiền này hiểu theo quan niệm Nho gia.
[8] Việc này chép trong Chiến Quốc sách – Yên sách -9 – (Lá Bối - 1973) Yên vương là Khoái đem nước nhường cho Tử Chi để được tiếng là hiền như vua Nghiêu (người đã nhường ngôi cho Hứa Do), nhưng Tử Chi không được người nước Yên phục, nước Yên hóa loạn, sau bị Tề đánh. Sử không chép Tử Chi mới đầu có làm bộ cao thượng như Hứa Do mà từ chối hay không.
[9] Nguyên văn bản của Trần Khải Thiên: trùng lưu xuất hộ. Có bản chép là trùng lưu xuất thi (giòi từ thây bò ra). Hai chữ hộ và thi chỉ khác nhau một nét chấm.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5957
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Hàn Phi Tử   Wed Oct 09, 2013 1:28 pm

Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
Hàn Phi Tử
THIÊN VI
HỮU ĐỘ

(CÓ PHÁP ĐỘ)
Không nước nào luôn luôn mạnh, không nước nào luôn luôn yếu. Người thi hành pháp luật mà cương cường (nghĩa là chí công vô tư) thì nước mạnh; người thi hành pháp luật mà nhu nhược thì nước yếu. Vua Kinh (Sở) Trang vương thôn tính hai mươi sáu nước, mở đất ba ngàn dặm mà khi mất rồi[1] thì nước Kinh suy vong. Vua Tề Hoàn Công thôn tính ba mươi nước, mở đất ba ngàn dặm mà khi mất rồi thì nước Tề suy vong. Vua Yên Chiêu vương[2]lấy sông Hoàng Hà làm biên giới, lấy đất Kế làm đô mà bình phong là đất Trác và đất Phương Thành[3], tàn phá nước Tề, bình định nước Trung Sơn, khiến cho nước láng giềng nào là bạn của vua Yên thì được coi trọng, nếu không thì bị khinh, vậy mà khi Chiêu vương mất rồi thì nước Yên suy vong. Vua Ngụy là An Li vương đánh nước Yên, cứu nước Triệu, chiếm đất Hà Đông, công phá hết đất Đào và đất Vệ, rồi đem binh đánh Tề, chiếm Bình Lục; lại đánh nước Hàn, chiếm đất Quản, đại thắng quân Hàn ở dưới sông Kì; trong trận Thư Dương, làm cho quân Kinh bị đình đốn quá lâu phải bỏ chạy; phá tan quân Kinh ở Thái và Triệu Lăng; binh Ngụy bốn lần giàn ra trong thiên hạ, uy thế lan khắp các nước (văn minh) “đội mão mang đai”, (tức khắp Trung Quốc), vậy mà An Li vương chết rồi thì nước Ngụy suy vong. Vậy có Trang Vương, Hoàn Công thì nước Kinh, nước Tề làm bá chủ; có Chiêu vương, An Li vương thì nước Yên và nước Ngụy mạnh lên. Nay các nước ấy đều bị suy nhược cả vì quần thần, quan lại của họ đều theo con đường loạn vong chứ không theo cái thuật trị cường. Nước đã loạn suy rồi, họ lại còn bỏ phép nước mà lo quyền lợi riêng, như vậy không khác gì vác củi để cứu lửa, càng loạn, suy hơn nữa.
*
Cho nên ở vào thời này, nhà cầm quyền nào biết bỏ tư lợi tà tâm mà theo phép công thì dân sẽ yên, nước sẽ lợi, biết bỏ hành động riêng tư mà mà làm theo phép công thì binh sẽ mạnh mà địch sẽ yếu. Cho nên vua (theo pháp độ mà) xét sự thành bại của việc[4], dùng người biết giữ pháp độ mà đặt lên trên các quần thần thì không kẻ nào gian trá gạt vua được; (theo pháp độ mà) xét sự thành bại của việc, dùng người biết cân nhắc mà giao cho các việc ở xa thì không kẻ nào lừa gạt về việc quan trọng hay không quan trọng trong thiên hạ được. Nếu nhờ vào danh tiếng mà được cất nhắc thì bề tôi xa bề trên (vua) mà kết bè phái ở dưới; nếu nhờ có phe đảng mà được làm quan thì dân sẽ chỉ lo kết giao với nhau mà không cần giữ pháp luật. Quan lại mà không được dùng đúng khả năng thì nước loạn. Nếu thưởng phạt ai chỉ do lời khen chê của người khác thì kẻ thích được thưởng, ghét bị phạt sẽ bỏ phép công mà chỉ theo thuật riêng, kết bè đảng để làm lợi cho nhau, quên vua mình mà giao thiệp với nước ngoài, để đưa phe mình lên, mà bề tôi sẽ ít phục vụ cho vua. Bề tôi kết giao với nhau nhiều, trong ngoài đều có bè đảng thì dù có tội lớn, cũng che lấp hết, vua không sao biết được. Do đó mà bề tôi trung chẳng có tội cũng bị giết, còn bọn gian thần chẳng có công gì lại được yên ổn hưởng lợi. Bề tôi trung không có tội mà bị giết thì hạng lương thần (bề tôi tốt) phải ẩn mình; bọn gian thần không có công mà được yên ổn hưởng lợi thì bọn gian thần tiến lên. Đó là nguồn gốc sự suy vong. Như vậy thì bề tôi bỏ pháp luật mà lo việc riêng tư, coi thường phép công; thường lui tới nhà riêng của bọn cầm quyền mà không tới triều đình của vua; trăm lần lo cái lợi cho tư gia mà không một lần mưu tính việc cho vua. Thuộc hạ tuy đông mà không phải để tôn quân, bách quan tuy đủ mà không phải để lo việc nước. Như vậy, vua chúa chỉ có cái danh là vua chúa mà thực tế thì phải nhờ cậy vào nhà của bề tôi. Cho nên thần (tức Hàn Phi) bảo: “Triều đình của nước suy vong không có người”. Triều đình không có người, không phải là triều đình trống không, mà là bề tôi chỉ nghĩ đến cái lợi của tư gia,không lo làm lợi cho nước, các quan lớn lo tôn lẫn nhau mà không tôn quân, còn các quan nhỏ dùng bổng lộc để kết giao chứ không làm việc nước. Sở dĩ như vậy là vì vua chúa ở trên không quyết đoán theo pháp luật mà tin lời khen chê của kẻ gian, thưởng phạt theo ý họ. Bậc minh chủ (trái lại) chọn người theo pháp luật, không theo ý riêng mà cất nhắc họ, xét công lao của bề tôi theo pháp luật, không theo ý riêng mà ước lượng, (như vậy) kẻ làm được việc không bị ghìm, kẻ làm hỏng việc không thể nói hay cho mình được;kẻ được khen (bậy) không được tiến cử (hay thăng chức), kẻ bị chê (oan) không bị cách chức (hay giáng chức); mà giữa vua tôi, thiện ác phân minh, nước dễ trị. (Tóm lại) vua theo đúng pháp luật thì thành công.
*
Người hiền làm bề tôi thì quay mặt về hướng Bắc dâng lễ vật[5] (thề) không có hai lòng, ở triều đình không dám từ chối địa vị thấp hèn, trong quân đội, không dám từ chối việc gian nan; một mực thuận tòng việc làm, pháp độ của vua, hư tâm[6] để đợi mệnh lệnh, không dám dị nghị phải trái, cho nên có miệng mà không nói ý riêng, có mắt không nhìn riêng, hoàn toàn do vua kiềm chế. Phận bề tôi, cũng như cánh tay, trên che đầu, dưới che thân, thân thể nóng hay lạnh thì phải cứu, dù lưỡi kiếm Mạc Da kề thân cũng không dám không bắt. Bề tôi hiền triết kẻ sĩ tài bằng làm việc riêng tư (mà phải lo việc công). Cho nên dân không dám ra khỏi làng mà giao du, không có thân thích ngoài trăm dặm. Sang hèn không lấn nhau, trí ngu đều có chỗ đứng. Như vậy là cực trị.
 
Hạng người khinh tước lộc, dễ dàng bỏ chức vụ mà đi chọn vua khác, thần không gọi là liêm. Hạng người đặt lỗi giả dối, trái pháp luật, không theo vua, một mực can gián, thần không gọi là trung. Hạng người thi hành ân huệ, phân phát lợi lộc, thu phục kẻ dưới để được tiếng tốt, thần không gọi là nhân. Hạng người lánh đời, ở ẩn, chê bai vua, thần không gọi là nghĩa. Hạng người ra ngoài giao thiệp với chư hầu (để làm lợi cho mình), ở trong làm hao tổn cho nước, rình lúc nước nhà gặp cơn nguy hiểm để dọa vua, bảo: “Việc ngoại giao không có tôi thì không kết thân với nước ngoài được; nước khác thù oán mình, không có tôi thì không giải cho được”, mà vua tin, giao việc nước cho, nhân đó họ làm cho uy danh của vua bị hạ thấp để cho uy danh của họ rực rỡ, hủy hoại thực lực của quốc gia làm lợi cho nhà họ, hạng đó thần không gọi là trí. Mấy hạng (liêm, trung, nhân, nghĩa, trí) đó, thời loạn người ta quí trọng, nhưng phép của tiên vương thì gạt bỏ họ ra.
 
Phép của tiên vương bảo: “Bề tôi không được ra oai, không được gian ác mà phải theo đường lối của vua”. Đời xưa, khi quốc gia bình trị thì dân theo phép công, bỏ thuật riêng, thống nhất ý nghĩ và việc làm để đợi vua giao cho nhiệm vụ.
*
Làm vua mà đích thân xem xét bách quan thì không đủ thời giờ mà cũng không đủ sức. Vả lại người trên dùng mắt thì kẻ dưới tô điểm bề ngoài; người trên dùng tai thì kẻ dưới sửa giọng nói; người trên dùng trí óc để đoán xét thì kẻ dưới khéo nói, nói nhiều.
 
Tiên vương cho ba cái đó (mắt, tai, trí óc) là không đủ nên không ỷ vào tài năng của mình mà theo pháp độ, xét kĩ việc thưởng phạt. Tiên vương chỉ giữ cái cốt yếu, nên pháp độ giản dị mà không bị vi phạm; một mình tự chế ngự dân trong bốn bể, khiến cho kẻ thông minh không gian trá được, kẻ miệng lưỡi không nịnh bợ được, kẻ gian tà không biết dựa vào đâu được, dù kẻ ở xa ngoài ngàn dặm cũng không dám đổi lời, kẻ thân cận như các lang trung cũng không dám che dấu cái tốt, tô điểm cái xấu; như vậy từ các bề tôi tại triều tụ tập ở bên vua cho tới những kẻ thấp hèn ở xa cũng không dám lấn nhau mà đều giữ chức phận mình[7]. Cho nên việc cai trị ít, ngày giờ dư, được vậy là do vua biết dùng quyền thế để trị nước.
*
Bề tôi lấn vua cũng như hình thế đất đai, mỗi ngày thêm một chút, lần lần làm cho vua mất đầu mối (tức pháp độ), đổi hướng từ đông sang tây mà không hay. Tiên vương đặt ra kim chỉ nam (tức quốc pháp) là để biết phương hướng mặt trời mọc và mặt trời lặn (tức biết đâu là chính, đâu là tà). Nhờ vậy mà bậc minh chủ khiến cho quần thần không dám nghĩ lông bông vượt ra ngoài pháp luật, không dám thi hành ân huệ quá sự qui định của pháp luật, mà nhất cử nhất động đều hợp pháp. Pháp luật nghiêm là để ngăn cấm tội lỗi, trừ bỏ riêng tư; hình phạt gắt là để lệnh được thi hành khắp và trừng trị kẻ dưới.
 
 Uy thế không thể ủy thác cho kẻ khác, quyền chế tài không thể cho người khác giữ chung. Hai cái đó mà vua tôi giữ chung thì vô số sự gian tà xuất hiện. Pháp luật mà không xác định thì hành động và lời nói của vua trái ngược nhau[8], hình phạt không kiên quyết thì không trừ được kẻ gian. Cho nên bảo: “Người thợ không khéo thì mắt nhìn và ý đoán không sai với dây mực, nhưng cũng phải dùng cái qui cái củ để đo trước đã: hạng thượng trí tuy xử sự nhanh chóng, thích đáng, nhưng cũng phải dùng pháp độ của tiên vương làm tiêu chuẩn”. Nhờ dây mực thẳng mà đẽo được cây cong làm cho thành ngay; nhờ cái thuỷ chuẩn bằng mặt mà san phẳng được chỗ lồi lõm; nhờ cái cán cân và quả cân treo lên mà bớt được bên nặng bù vào bên nhẹ; nhờ có cái đấu, cái thạch[9] mà giảm được chỗ nhiều thêm vào chỗ ít. Dùng pháp luật để trị nước chỉ là để khen đúng người phải, trách đúng kẻ quấy mà thôi. Pháp luật không thể a dua người sang cũng như dây mực không thể uốn theo gỗ cong. Áp dụng pháp luật thì kẻ trí phải theo mà kẻ dũng không dám cãi. Trị tội thì không chừa các quan lớn, thưởng công thì không bỏ sót dân thường. Kiểu chính lỗi của người trên, trách sự gian tà của kẻ dưới, trừ loạn, sửa tài, giảm cái hữu dư, bù cái bất túc[10] khiến cho toàn dân noi theo một đường, thì không gì bằng pháp luật. Khống chế quan lại, ra oai với nhân dân, trừ sự bậy bạ, biếng nhác, ngăn sự gian trá, thì không gì bằng hình phạt. Hình phạt nặng thì người sang không dám khinh kẻ hèn; pháp luật phân mình thì người trên được tôn trọng, không bị lấn. Người trên được tôn trọng, không bị lấn, thì vua mạnh, nắm được các mối quan trọng. Vì vậy mà tiên vương quý pháp luật mà truyền lại đời sau. Bậc vua chúa bỏ pháp luật mà theo ý riêng thì trên dưới không phân biệt (nước sẽ loạn)
 
Chú thích:
[1] Nguyên văn là chữ manh  (nghĩa là dân), mỗi nhà bàn một khác; có nhà ngờ là chữ mẫn (nghĩa là tiêu diệt). Chúng tôi lấy ý mà dịch.
[2] Có sách chép là Tương vương, sai.
[3] Có sách cho rằng Phương Thành ở trong đất Trác.
[4] Ý muốn nói trước khi dùng ai, vua phải xét xem người đó được việc hay không đã.
[5] Vì vua quay mặt về phương Nam (phương có nhiều ánh sáng). Thời xưa, khi mới yết kiến, người dưới dâng lễ vật cho người trên, như quan khanh dâng con dê con, quan đại phu dâng con nhạn lên vua.
[6] Không có sẵn ý riêng.
[7] Nguyên văn: triều đình trực tấu, đan vi bất cảm tương du việt. Câu đó tối nghĩa. Trần Khải Thiên hiểu là: các bề tôi tụ họp ở bên vua mà không tơ hào lấn áp nhau (chữ đan vi hiểu là tơ hào chứ không phải là kẻ thấp hèn ở xa); lại có nhà hiểu: bất cảm tương du việt là không dám vượt pháp độ.
[8] Chữ nguy  ở đây, các nhà chú giải bảo phải đọc là quí , như trong chữ quỉ biện mà ta thường đọc là ngụy biện.
[9] Thạch là một đồ đo lường bằng 10 đấu.
[10] Nguyên văn: chuất tiện tề phi 絀羨齊非, có sách giảng là khen đúng người phải, trách đúng kẻ bậy. Chúng tôi theo Trần Khải Thiên.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5957
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Hàn Phi Tử   Wed Oct 09, 2013 6:02 pm

Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
Hàn Phi Tử
THIÊN XLVIII
BÁT KINH (TRÍCH)
(TÁM THUẬT PHẢI THEO)
Tám thuật trong thiên này là: 1. Theo tình người mà lập ra thưởng phạt; 2. Dùng một người không bằng dùng cả nước; 3. Muốn phòng gian thì phải biết rằng cái lợi của vua và của bề tôi khác nhau; 4. Dùng cái thuật “tham ngữ” để xét gian; 5. Phải bí mật không để bề tôi biết mình vui hay giận; 6. Nghe bề tôi đề nghị thì phải xét xem có dùng được không; 7. Bề tôi phải làm cái gì có lợi chung thì mới thưởng, phải phục vụ bề trên thì mới được danh; 8. Bề tôi không được làm những chuyện riêng tư mà có hại cho cái uy của vua.
 
Tư tưởng rất hợp với Hàn Phi, nhưng lời văn nhiều chỗ tối, khó hiểu; có thể không phải của Hàn viết, hoặc nếu là của Hàn thì nhiều chỗ mất mát, sai lầm, người sau thêm vào, tự ý sửa chữa.
Chúng tôi chỉ trích dịch những tiết có thể bổ túc cho các thiên khác.
 
1. Theo tình người[1] Trị thiên hạ thì phải theo tình người, mà tình người là có ưa có ghét, vì vậy mà sự thưởng phạt có thể dùng được; thưởng phạt có thể dùng được thì có thể ban cấm lệnh (cái gì không được làm, cái gì phải làm); đạo trị thiên hạ như vậy là đủ. Vua nắm quyền để giữ cái thế, cho nên ban lệnh thì phải thi hành mà hễ cấm là phải ngừng. Quyền là để quyết định sự sống, chết; thế là để thắng quần chúng.
*
Truất giáng hay cất nhắc người dưới mà không theo pháp chế thì quyền lờn; thưởng phạt mà kẻ dưới cũng được dự vào thì uy của vua bị chia xẻ. Bởi vậy bậc minh chủ không vì thương yêu mà nghe người, không vì vui thích mà tính việc. Nghe lời người mà không tham khảo xem có đúng không thì quyền sẽ bị chia cho kẻ gian; không dùng trí thuật[2] thì bị khốn vì bề tôi. Cho nên bậc minh chủ thi hành pháp chế thì (không thiên vị) như trời[3], dùng người thì (kín nhẹm) như quỉ. Như trời thì không bị chê (chế?), như quỉ thì không bị người ta dò biết mà lợi dụng.[4] Quyền thế giữ được thì sự giáo hóa nghiêm mà dân không dám trái; sự khen chê theo đúng một nguyên tắc thì không ai dị nghị (…)
 
2. Đạo làm chúa[5]: Sức một người không địch nổi đám đông, trí một người không biết được mọi vật; dùng một người không bằng dùng cả nước. Cho nên dùng trí, lực một người (tức vua) mà địch với mọi người, mọi vật thì tất thua; dự đoán mà đúng thì mệt thân, không đúng thì phải chịu (hậu quả của) lỗi lầm. Bậc vua thấp kém dùng hết khả năng của mình, bậc vua chúa trung bình dùng hết khả năng của mình, bậc vua chúa trung bình dùng hết sức của người, bậc vua chúa cao hơn cả dùng hết trí của người. Bởi vậy, khi có việc, vua tập hợp các người trí, nghe ý kiến từng người rồi hợp các ý kiến lại mà quyết đoán. Không nghe ý kiến của từng người, (mà chỉ mưu tính với một người thôi) thì lời sau sẽ ngược lại với lời trước(?), lời sau ngược lại với lời trước thì không phân biệt được kẻ ngu người trí. Không tập hợp được các ý kiến lại thì sẽ do dự, không quyết đoán được: Không quyết đoán được thì công việc ngưng trễ[6]. Nghe ý kiến của từng người thì không bị người ta đánh bẫy (lập kế để hại mình). Bảo mỗi người báo cáo, báo cáo xong rồi thì vua rầy mắng (kẻ gian)[7]. Cho nên ngày trình bày ý kiến tất phải ghi chép (trong biên bản). Kết hợp các người trí rồi, khi việc phát ra thì trắc nghiệm lời nói của họ; kết hợp các tài năng rồi, khi việc đã thành, sẽ luận công mà thưởng. Thành hay bại đều có bằng chứng, thưởng hay phạt đều tùy theo đó. Như vậy việc mà thành, thì công về vua, việc mà bại thì tội về bề tôi.
Bậc làm vua, ngay đến việc phù tiết có hợp không cũng không tự mình xem xét huống hồ là tự mình ra sức; Việc tới rồi cũng không tự minh lo lấy, huống hồ là việc chưa tới. Cho nên vua dùng người thì không cho lập phe đảng mà cùng ý kiến với nhau, nếu cùng một ý với nhau thì phải rầy họ. Khiến cho người nào cũng dùng hết tài trí của mình thì vua như thần, vua như thần thì kẻ dưới tận lực, kẻ dưới tận lực thì bề tôi không lợi dụng vua được; đạo làm vua như vậy là hoàn tất.
 
3. Loạn do đâu mà dấy: Kẻ biết rằng bề tôi và vua có cái lợi khác nhau thì là bậc vương, kẻ cho rằng hai bên lợi giống nhau thì bị hiếp; kẻ cho bề tôi cùng dự vào việc thưởng phạt với mình thì bị giết. Cho nên bậc minh chủ phân biệt rõ công với tư, lợi và hại ở đâu mà kẻ gian không có chỗ len vào được.
Loạn sở dĩ sinh là do sáu hạng người này: 1. mẹ vua, 2. hậu phi, 3. con cháu, 4. anh em, 5. đại thần, 6. người nổi danh là hiền. Cứ theo pháp luật mà bổ nhiệm quan lại, giao trách nhiệm cho bề tôi thì mẹ vua không thể phóng túng. Nghi lễ và thứ bậc khác nhau thì hoàng hậu và phi tần phân biệt hẳn, (không có sự tranh giành). Thế không chia hai cho đích tử và thứ tử (nghĩa là chỉ đích tử mới có quyền thế) thì dòng đích và dòng thứ không tranh nhau. Quyền thế không mất, (nghĩa là tập trung cả vào vua) thì anh em vua không lấn vua. Kẻ dưới không theo về một cửa đại thần thì đại thần không che lấp vua được. Lệnh cấm và thưởng mà nhất định thi hành thì người nổi danh là hiền không làm loạn được (…)
Đối với người địa vị cao, trách nhiệm lớn thì có 3 cách để kiềm chế: con tin, an định, nắm chắc. Thân thích, vợ con họ là con tin; tước lộc hậu hĩ đúng như lời đã hứa là để an định họ; dùng nhiều cách để khảo sát ý kiến và định gian hay ngay của bề tôi[8], xét trách nhiệm và trừng phạt, là để nắm chắc họ. Đối với người hiền thì tìm cách chặn họ bằng cách giữ con tin, đối với kẻ tham lam thì cảm hóa bằng cách an định, đối với kẻ gian tà thì làm cho họ khốn cùng bằng cách nắm chắc (…). Có kẻ để cho sống thì việc nước mà giết đi thì tổn thương danh tiếng của vua, nên dùng thức ăn uống mà trừ họ, hoặc giao cho kẻ thù của họ (giết họ) như vậy là trừ gian một cách kín đáo (….) Cha anh người hiền lương mà lưu vong ở nước ngoài là “cái họa trôi nổi”, mối họa là họ mượn sức nước ngoài (để chống mình) và nước ngoài dùng họ (để xâm lược mình); Cho những kẻ bị mình làm nhục được hầu cận mình[9], là cái họa "giặc ở bên cạnh", mối họa ở chỗ họ sinh lòng oán hận vì bị nghi hay bị nhục; vua mà không để lộ ra, ghét mà không trừng trị ngay[10], là làm “tăng thêm loạn”, mối họa ở chỗ bọn cầu may vọng động nổi lên ( dùng kẻ mình ghét đó để cướp ngôi của mình); có hai đại quyền uy ngang nhau, không bên nào hơn bên nào, gọi là “nuôi họa”, mối họa ở chỗ các gia tộc lớn tranh cướp, giết chóc mà sinh loạn; không cẩn thận, không giữ cái thể uy nghiêm như thần của mình, gọi là “mất oai”, mối lo ở chỗ loạn có thể nổi, mình bị đầu độc. Năm mối họa đó, bậc vua chúa mà không biết thì sẽ bị hiếp hay bị giết (…)
*
4. Lập đạo: (…) Khảo sát việc đã qua để biết rõ (lời trước kia) có đúng không; đặt bề tôi ở gần mình để xét cái tình của họ, đưa họ ra xa để xét tình hình ở ngoài của họ[11], dùng những điều mình biết rồi để tra hỏi về những điều chưa biết; giả vờ sai khiến họ làm bậy để chấm dứt thói khinh lờn của họ, đảo lộn lời nói của mình để thử kẻ sinh nghi; dùng lí luận tương phản để tìm ra kẻ gian ngầm; đặt kẻ gián điệp để bẫy kẻ làm bậy; dùng sự bổ nhiệm và cách chức để xét hành động của kẻ gian; ra chỉ thị rành rọt để người dưới khỏi làm bậy vì hiểu lầm; có thái độ khiêm nhường để dễ thấy kẻ nào cương trực, kẻ nào a dua; nghe nhiều người để biết về những điều mình chưa biết; xúi cho kẻ dưới tranh đấu nhau để phá các bè đảng; nghiên cứu cho sâu một vấn đề để làm cho người ta sợ tài mình; tiết lộ những ý khác nhau để dễ biết ý kiến của kẻ dưới.
*
5. Giữ bí mật: Bậc minh chủ phải giữ bí mật, nếu để lộ niềm vui ra thì bề tôi nhân dịp vua vui mà xin gia ân cho người khác, nếu để lộ nỗi giận ra thì bề tôi nhân đó mà thị uy với người khác[12]. Vì vậy, lời nói của minh chủ phải được ngăn cách, đừng cho thông ra ngoài, phải giữ kín đừng để cho người ta biết. Dùng trí của một người để biết cái gian của mười người, là cái đạo thấp; dùng trí của mười người để biết cái gian của một người là cái đạo cao[13].
Bậc minh chủ dùng cả đạo thấp và đạo cao, cho nên không kẻ gian nào thoát được. Trong một huyện, nhà nào cũng gần nhau, họp nhau thành từng ngũ (5 nhà), từng liên (250 nhà), hễ ai tố cáo lỗi của người khác thì được thưởng, không tố cáo thì bị trừng trị. Bề trên đối với người dưới, người dưới đối với bề trên đều như vậy cả; như vậy thì trên dưới, sang hèn, đều đem pháp luật ra răn nhau, đem điều lợi ra dạy nhau. Bẩm tính của người dân là muốn có cái “thực” của sự sống, lẫn cái “danh” của sự sống[14]. Cái danh của bậc vua chúa là hiền, trí; cái thực của họ là quyền thưởng phạt. Danh thực có đủ là có phúc, tốt.
*
6. Tham nghiệm lời nói: Nếu không nghe lời nói của nhiều người và tham nghiệm với thực tế xem có công hiệu không thì (không phán đoán được), không trách kẻ dưới được; nếu không lấy sự công dụng làm tiêu chuẩn thì những tà thuật sẽ làm mê hoặc bề trên.
Hễ nhiều người cùng nói như nhau về một việc thì dễ tin. Chẳng hạn một việc không có thực, mười người nói thì còn khả nghi, một trăm người nói thì đã đáng tin, một nghìn người nói thì đã tin chắc rồi không cởi bỏ được lòng tin nữa[15]. Nói mà ấp úng vụng về thì bị người ta nghi, nói mà lưu loát khéo léo thì người ta tin. Gian thần che lấp bề trên thì dựa vào người khác mà mưu tư lợi, dùng nhiều kẻ khéo nói (bảo họ khen mình) mà được bề trên tin, lấy những trường hợp giống nhau để tô điểm những hành động riêng tư[16]. Bậc vua chúa không nén sự bất mãn mà đợi tham nghiệm (lời nói với việc làm của bề tôi rồi mới thi hành) thì làm cho gian thần có cái thế thủ lợi được. Bậc vua chúa nào có thuật thì khi nghe bề tôi, buộc họ có ý kiến phải thiết thực rồi thi hành phải thành công; có thành công mới thưởng, không thì phạt. Như vậy những lời vô dụng không được đem bàn ở triều đình, kẻ nào lãnh nhiệm vụ mà thấy không đủ khả năng thì đuổi về, thu ấn tín lại.Lời nào khoa trương thì bề trên xét kỹ từ đầu đến cuối xem có gian tình không, nếu có thì sẽ nổi giận mà trừng phạt. Lời nào không có chứng cớ mà khi thi hành không có kết quả như đã nói thì là lời vu khoát, bề tôi mà vu khoát thì phải trị tội. Lời nói phải thiết thực, lí thuyết phải có chỗ dùng, như vậy những lời nói thiên vị của bè đảng không dám tâu lên vua (…). Bề tôi đưa ra nhiều ý kiến là để tỏ rằng mình có trí và khiến vua phải tự lựa lấy một ý kiến, mà mình tránh được (trách nhiệm và) tội. Cho nên chỉ hạng vua dở mới để bề tôi đưa ra nhiều ý kiến. Đừng để cho bề tôi đưa ra một ý kiến thứ nhì, mà ý kiến đó với ý kiến thứ nhất giá trị như nhau[17], bắt bề tôi lời nói phải phù hợp với hành động sau này, để biết họ nói thực hay nói láo. Đạo (thuật) của bậc minh chủ là không cho bề tôi đưa ra hai ý kiến để bắt họ phải chịu trách nhiệm về một ý kiến thôi; không cho họ tự ý hành động, phải tham nghiệm lời của họ, xem có đúng, có hợp với việc, có hiệu quả không; như vậy bọn gian thần không có đường tiến lên được. (bỏ tiết 7 và Cool
 
 
Chú thích:
[1] Người: Trong nguyên bản có những tiêu đề này (đây cũng là một điểm đặc biệt của thiên) nhưng đặt ở cuối mỗi đoạn, chúng tôi theo lối trình bày ngày nay, đưa lên đầu.
[2] Có bản chép là trí lực (trí và sức mạnh).
[3] Có sách giảng là “khó lường như trời”. Thi hành pháp chế tức là thưởng phạt. Vì vậy chúng tôi hiểu là không thiên vị. Nguyên văn: chủ chi hành chế dã thiên.
[4] Nguyên văn là nhân (), có bản chép là khốn ().
[5] Có bản chép là “kết trí”: kết hợp các người trí.
[6] Nguyên văn: sự lưu tự thủ. Hai chữ tự thủ chúng tôi không hiểu nghĩa, không sách nào giảng thông cả.
[7] Nguyên văn: phúng định nhi nộ. Có sách giảng là: ý kiến nêu rồi thì dựa vào đó mà bắt người đưa ý kiến phải làm theo cho đúng. Chúng tôi châm chước ý kiến của Trần Khải Thiên.
[8] Nguyên văn tham ngũ: ba, năm, nghĩa bóng là khảo sát nhiều cách, nhiều mặt. Chúng tôi hiểu theo Trần Khải Thiên và Từ Hải. Có sách cho ngũ đó là chính sách dùng năm nhà dò xét lẫn nhau.
[9] Nguyên văn: lục nhục chi nhân cận tập, có sách giảng là hoạn quan hầu cận.
[10] Nguyên văn: tàng nộ, trì tội như bất phát, có sách hiểu là bề tôi giấu cái giận, che tội mà không phát giác ra.
[11] Cả đoạn này rất tối nghĩa, mỗi sách giải thích một khác. Chúng tôi không dám tin rằng dịch đúng.
[12] Có sách giảng là nếu vua để lộ niềm vui ra thì bị lờn, để lộ nỗi giận ra thì uy bị phân chia. Nên để ý: đoạn trên Hàn mới bảo giận mà không để lộ ra thì có thể nguy.
[13] Đạo ở đây nên hiểu là thuật trị nước. Có học giả ngộ rằng hai chữ cao và thấp trong câu này dùng lộn với nhau.
[14] Thực là quyền, lợi; danh là tiếng tăm.
[15] Nguyên văn: thiên nhân bất khả giải dã. Trần Khải Thiên giảng là: mặc dầu một nghìn người không giảng được tại sao lại có điều đó.
[16] Cái này cũng rất tối nghĩa, mỗi người hiểu một khác.
[17] Nguyên văn: vô phó ngôn ư thượng dĩ thiết tương nhiên. Thí dụ: vua hỏi bề tôi: Địch đòi ta cắt đất cho chúng, nên cắt hay không? Bề tôi đáp: Cắt đất thì mình yếu đi, sẽ nguy; mà không cắt thì địch sẽ tấn công mình, mình không chống nổi, cũng sẽ nguy. Như vậy không dứt khoát mà lơ lửng, vua không biết quyết định ra sao.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5957
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Hàn Phi Tử   Thu Oct 10, 2013 1:30 pm

Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
Hàn Phi Tử
THIÊN XVIII
NAM DIỆN

(THUẬT LÀM VUA)
Cái lỗi của bậc vua chúa là đã giao trách nhiệm cho một bề tôi rồi lại dùng một bề tôi không được giao trách nhiệm đó để đề phòng (tức dòm ngó) họ. Sở dĩ vậy là vì chúa nghĩ rằng người không được giao trách nhiệm coi người được giao trách nhiệm là kẻ thù; nhưng hậu quả ngược lại, chính chúa bị người không được giao trách nhiệm đó chi phối. Người mà chúa bây giờ đề phòng lại chính là người mà trước kia chúa dùng để đề phòng người khác[1]. Bậc vua chúa không biết làm sáng tỏ pháp luật để chế ngự cái oan (oai?) của các quan lớn thì không có cách nào làm cho các quan nhỏ tin được. Chúa bỏ pháp luật mà dùng bề tôi để đề phòng bề tôi, thì những kẻ thân yêu nhau kết bè đảng mà khen lẫn nhau, những kẻ ghét nhau cũng kết bè đảng mà chê nhau, hai bên khen chê nhau đó tranh phân thì vua sẽ bị mê loạn. Bề tôi nếu không có danh tiếng, không yết kiến vua thường thì không làm sao tiến thân được, không làm trái phép mà tự chuyên thì không có oai được, không giả bộ trung tín thì không vượt cấm lệnh được. Ba cái đó làm cho vua hoá hôn mê mà pháp luật bị huỷ hoại. Vua phải khiến cho kẻ bề tôi dù có tài trí cũng không trái phép mà tự chuyên, dù có hiền đức cũng không vượt công mà được thưởng trước[2], dù trung tín cũng dám bỏ pháp luật mà vượt cấm lịnh. Như vậy là làm sáng tỏ pháp luật. Bậc vua chúa có khi bị gạt vì công việc, có khi bị che lấp vì lời nói, phải xét hai trường hợp đó.
Bề tôi đề nghị một công việc, cho là dễ dàng, giảm phí tổn, để dụ chúa, chúa bị gạt mà không xét kỹ, lại khen bề tôi đó là hiền tài, thế là bề tôi ngược lại, lấy công việc để chi phối chúa. Như vậy gọi là bị gạt vì công việc, bị gạt vì công việc thì phải khốn vì lo lắng. Khi đề nghị bảo là phí tổn ít, rồi sau phí tổn nhiều, như vậy dù có công, (tức việc thành) lời đề nghị vẫn là không đúng. Không đúng là có tội, cho nên việc dù thành công cũng không thưởng, như vậy bề tôi sẽ không dám tô điểm lời nói để mê hoặc chúa. Đạo làm chúa là khiến cho lời nói trước của bề tôi không trái với lời nói sau, lời nói sau không trái với lời nói trước, (nếu trái thì) dù việc thành cũng phải chịu tội. Như vậy là phép dùng kẻ dưới.
Bề tôi lập kế cho chúa, sợ kẻ khác chê kế hoạch của mình, nên rào đón trước: “Kẻ nào chê bai kế hoạch là kẻ ấy ghen ghét (muốn phá) việc". Chúa để bụng lời đó mà không nghe lời can gián của quần thần, quần thần sợ lỗi đó, không dám bàn cãi nữa. Vì hai cái thế đó (một là chúa cự tuyệt lời can gián, hai là quần thần phải làm thinh), bề tôi trung không được nghe, còn bề tôi (xảo quyệt) có hư danh thì lại riêng được trọng dụng. Như vậy gọi là bị che lấp vì lời nói: bị che lấp vì lời nói thì bị bề tôi chế ngự. Đạo làm chúa là khiến cho bề tôi biết rằng mình chịu trách nhiệm về điều mình đã nói, lại cũng có trách nhiệm về chỗ mình không nói. Lời nói không có đầu đuôi, biện luận mà không có chứng cứ, đó là chịu trách nhiệm về điều mình đã nói: không nói để trốn tránh trách nhiệm, để giữ địa vị quan trọng của mình, đó là chịu trách nhiệm về chỗ không nói. Bậc vua chúa bắt bề tôi hễ nói thì phải có đầu có đuôi, phải đúng với sự thực; nếu họ không nói thì phải hỏi họ lấy chỗ nào, bỏ chỗ nào trong đề nghị để rồi khi thi hành xét xem ý kiến của họ có đúng không; như vậy bề tôi không ai dám nói bậy mà cũng không làm thinh; nói hay làm thinh đều chịu trách nhiệm cả. Bậc vua chúa muốn làm một việc gì, không hiểu đầu đuôi mà bày tỏ ý muốn của mình, rồi cứ làm thì việc làm không có lợi, trái lại có hại. Người hiểu lẽ đó[3] thì áp dụng cách này: tính toán thấy vô nhiều, ra ít (lợi nhiều, phí tổn ít) thì là việc nên làm. Vị chúa bị mê hoặc thì không vậy, tính số vô mà không tính số ra, ra gấp bội vô mà không thấy hại, thế là được tiếng mà mất miêng, công ít mà hại nhiều. Phải vô nhiều, ra ít mới đáng gọi là có công. Nay xài phí nhiều mà vô tội, kết quả ít mà lại là có công, thì tất nhiên bề tôi cứ xài phí cho nhiều để được kết quả nhỏ; tuy có kết quả nhỏ mà vua vẫn có hại.
*
Người không biết cách trị nước tất bảo: "Không biến cổ, không đổi tập tục.” Thánh nhân không nhất định phải biến đổi hay không biến đổi, miễn việc trị nước được thích nghi mà thôi. Thay đổi phép tắc cổ hay không là ở chỗ phép tắc cổ và tập tục còn thích hợp hay không. Y Doãn không biến đổi nhà Ân, Thái Công[4] không biến đổi nhà Chu thì vua Thang, vua Võ đâu lập được nghiệp vương. Quản Trọng không biến đổi nước Tề, Quách Yển[5]không biến đổi nước Tấn, thì Tề Hoàn công và Tấn Văn công đâu lập được nghiệp bá. Người ta sở dĩ không biến cổ là vì ngại làm cho đời của dân xáo động[6]. Nhưng nếu không biến cổ, cứ theo dấu vết thời loạn để làm vừa lòng dân thì là thả lỏng cho các hành vi gian tà. Dân ngu không biết là loạn mà bề trên nhu nhược không dám sửa đổi thì sao còn là trị nước nữa. Bậc vua chúa phải sáng suốt đủ để biết cách trị nước, và nghiêm khắc nhất định thi hành cho được, cho nên dù trái ý dân cũng có lập lại sự bình trị. Chứng cứ là Thương Quân đi ra đi vô[7] lúc nào cũng dùng cái "thù" (một binh khí dài có mũi nhọn), cái thuẫn nặng để đề phòng (kẻ ám sát mình); khi Quách Yển bắt đầu trị nước Tấn thì Tấn Văn Công phải dùng vệ sĩ; khi Quản Trọng bắt đầu trị nước Tề, Tề Hoàn Công phải dùng xe có võ trang để đề phòng dân chúng (…)[8]
 
Chú thích:
[1] Ví dụ giao trách nhiệm cho A, dùng B để dòm ngó đề phòng A; nhưng làm sao tin B được; lại phải dùng C để dòm ngó đề phòng B. Vậy là B người ngày nay bị C dòm ngó chính là người mà trước kia vua dùng để dòm ngó A.
[2] Nghĩa là công chưa đáng thưởng mà đã được thưởng “trước”, đây không phải là trước người, mà chỉ có nghĩa là sớm quá, trước khi đáng thưởng.
[3] Ở đây có bản thêm 4 chữ: nhiệm lí, khử dục = theo lí bỏ tư dục. Trần Khải Thiên cho là do người đời Tống thêm vào.
[4] Y Doãn là khai quốc công thần của Thành Thang, ông vua sáng lập nhà Thương. Thái Công, tức Lã Vọng, là công thần bậc nhất của Văn vương và Võ vương nhà Chu.
[5] Quách Yển: một đại phu có tài của nước Tấn.
[6] Nguyên văn: đạn dịch dân chi an dã. Có học giả bảo không hiểu hai chữ dịch (dânđó nghĩa là gì, ngờ là ngư dân mà cổ nhân chép lầm. Chúng tôi hiểu là sợ làm biến đổi sự an tĩnh của dân nên dịch như vậy.
[7] Nguyên văn: thuyết tại Thương Quân chi nội ngoại. Có sách dịch là: thuyết này ở thiên Nội ngoại của sách Thương Quân. Chúng tôi theo Trần Khải Thiên mà dịch như trên.
[8] Chúng tôi bỏ câu cuối gồm 48 chữ vì các nhà chú giải đều ngờ rằng chép lầm hoặc sót, không sao hiểu nổi.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5957
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Hàn Phi Tử   Thu Oct 10, 2013 1:48 pm

Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
Hàn Phi Tử
THIÊN XLV
NGỤY SỬ

(TRỊ NƯỚC BẬY[1])

Thuật[2] trị nước của thánh nhân gồm có ba : 1, dùng lợi (tức bổng lộc, thưởng); 2, dùng uy; 3, dùng danh (tức quan tước, khen chê). Lợi để mua chuộc dân, uy để thi hành lệnh, danh để trên dưới cùng theo (cùng trọng)[3]. Ngoài ba thuật đó ra, tuy còn những thuật khác, nhưng không gấp bằng. Nay lợi tuy có mà dân không cảm hoá theo vua, uy tuy còn mà dân không nghe, quan chức tuy có luật định mà thực (chức) không hợp với danh (tước)[4]. Ba cái đó đều còn đấy mà đời thì cứ trị rồi loạn, loạn rồi trị là tại sao? Tại cái mà vua quí thường trái với cái làm cho nước trị.
*
Đặt ra danh hiệu để tôn trọng, thế mà nay có kẻ coi thường cái danh, khinh rẻ cái thực (của quan tước), thì đời lại cho cao thượng; đặt ra tước vị để làm tiêu chuẩn cho sự sang hèn, thế mà kẻ xa lánh bề trên, không cầu được yết kiến thì đời lại cho là hiền nhân; dùng uy và lợi là để dân thi hành mệnh lệnh, thế mà kẻ không ham lợi, coi thường cái uy thì đời cho là đáng trọng; ban bố pháp lệnh để trị nước, thế mà kẻ không tuân pháp lệnh, làm những điều họ riêng cho là thiện[5] thì đời lại cho là trung; đặt ra quan tước để khuyến khích dân, thế mà kẻ thích danh nghĩa, không chịu làm quan thì đời lại cho là liệt sĩ; đặt ra hình phạt để nắm cái uy, thế mà kẻ khinh pháp luật, không tránh hình phạt, tội chết thì đời gọi là dũng. Dân cầu danh[6] hơn cầu lợi như vậy thì kẻ sĩ nghèo đói túng thiếu làm sao không vô núi ở, chịu khổ thân để tranh danh với thiên hạ cho được? Cho nên đời sở dĩ không trị, không phải do tội của kẻ dưới mà do bề trên bỏ mất cái thuật, thường quí cái làm cho nước loạn, khinh cái làm cho nước trị, mà cái kẻ dưới muốn thường trái ngược với cái bề trên (phải) dùng mới trị nước được. Nay cái cần gấp cho bề trên là người dưới nghe theo mình, thế mà kẻ đôn hậu, cung kính, thuần lương, thành tín, hết lòng dạ, dè dặt lời nói thì cho là bần tiện, quê mùa; kẻ giữ chặt pháp luật, tuân lệnh răm rắp thì cho là ngu; kẻ kính bề trên, sợ tội thì cho là khiếp nhược, kẻ nói đúng lúc và vắn tắt, làm hợp với đạo trung thì cho là bất tiếu (dở); kẻ không hai lòng, không theo cái học tư[7] mà nghe lời quan lại, theo sự giáo hoá của nhà nước, thì bị gọi là hủ lậu; kẻ không vời thì không tới, gọi là chính; kẻ thưởng cũng không nhận thì gọi là liêm; kẻ khó ngăn cấm thì gọi là đàng hoàng; kẻ được lệnh mà không nghe thì được gọi là dũng; kẻ không cầu người trên thưởng, gọi là ít lòng dục; kẻ rộng rãi ban ân huệ, gọi là nhân từ; kẻ trịnh trọng tự tôn, gọi là trưởng giả[8]; kẻ hợp nhau theo cái học tư, gọi là thầy trò; kẻ nhàn nhã ở yên gọi là suy tư sâu sắc; kẻ hại người trục lợi gọi là lanh lợi; kẻ gian hiểm trái trở lại gọi là trí; kẻ trước vì người, sau mới vì mình, coi mọi người đều là đồng loại[9], đưa ra thuyết phiếm ái (yêu khắp mọi người), gọi là thánh; kẻ mà lời nói thì không hợp lí, không thể dùng được, hành vi thì trái với thế tục, gọi là đại nhân; kẻ khinh tước lộc, không phục tòng bề trên, gọi là hào kiệt. Bề dưới mà theo nhau làm như vậy thì trong đời tư làm loạn dân, ra làm quan bề trên sẽ không sai khiến được. Bề trên nên cấm ý muốn, diệt "dấu vết" của họ, (như vậy) họ còn không chịu ngừng thay; (huống hồ) còn theo họ, tôn trọng họ[10] thì tức là dạy kẻ dưới làm loạn bề trên, mà lại cho là trị nước!
Hình phạt là cái bề trên dùng để trị dân, mà nay kẻ tự thi hành việc nghĩa (ân huệ) ở ngoài pháp luật lại được tôn trọng.[11] Nhờ yên tĩnh mà xã tắc đứng được, thế mà kẻ gian hiểm, gièm pha, a dua lại được bổ nhiệm. Trong nước, dân sở dĩ nghe theo bề trên là vì tin trên và có đức, thế mà kẻ gian dối phản phúc lại được làm quan lại. Lệnh sở dĩ được thi hành, uy sở dĩ lập được là vì dân cung kính nghe bề trên, thế mà kẻ ở trong núi, mạt sát đời lại được vinh hiển. Kho lẫm đầy là nhờ nghề gốc, tức canh nông; thế mà kẻ làm những nghề ngọn như dệt gấm vóc, chạm vẽ lại giàu. Danh sở dĩ thành được, đất sở dĩ mở rộng được là nhờ chiến sĩ, mà nay con côi của tử sĩ chết đói xin ăn ngoài đường, còn bọn hề, kép hát, rượu chè lại ngồi xe mặc đồ lụa. Thưởng lộc là để cho dân tận lực, kẻ dưới dám liều chết, mà nay kẻ sĩ chiến thắng chiếm được thành địch, công lao khó nhọc mà không được thưởng, còn bọn bói toán, coi chỉ tay, dùng lời để mê hoặc nịnh hót vua thì ngày nào cũng được ban ơn. Bề trên cầm pháp độ để chuyên nắm quyền sinh sát trong tay, mà nay kẻ sĩ giữ trung can gián[12]vua thì không được yết kiến, còn kẻ khéo nói bẻm mép, dùng mưu gian, may mắn mà thành công thì lại thường được vua vời. Căn cứ vào pháp luật mà nói thẳng, danh với thực[13]hợp nhau,theo đúng lằn dây mực[14], giết kẻ gian để bề trên trị nước, thì càng ngày càng bị bề trên xa cách; còn kẻ xiểm nịnh, thuận theo ý, chiều lòng dục của bề trên khiến cho nước nguy thì lại được gần gũi bề trên. Thu hết thuế, dùng hết sức dân là để phòng tai nạn (tức giặc), làm cho kho lẫm được đầy; thế mà những sĩ tốt bỏ bổn phận, trốn lánh, dựa vào các nhà có uy quyền để tránh xâu, thuế, bề trên không bắt được, nhiều có tới số muôn. Bày những ruộng tốt, nhà đẹp ra là để khuyến khích chiến sĩ, thế mà kẻ bị chặt đầu banh bụng, phơi xương nơi đồng hoang, khi tòng chinh không có nhà để ở, chết rồi ruộng bị chiếm đoạt[15], còn kẻ cho con gái, em gái đẹp và bọn đại thần, tả hữu không có công lao gì thì được chọn nhà mà lãnh, chọn ruộng mà hưởng. Việc thưởng lợi chỉ do bề trên ban ra là để chế ngự người dưới, thế mà chiến sĩ không được ban chức còn kẻ ở không thì được tôn hiển. Bề trên giáo hoá dân như vậy thì danh làm sao không bị hạ thấp, địa vị làm sao không bị lung lay. Danh bị hạ thấp, địa vị bị lung lay thì kẻ dưới sẽ không tin pháp lệnh, sinh ra hai lòng, theo cái học riêng tư phản nghịch lại xã hội, như vậy mà không cấm hành động của họ, phá tan bè đảng của họ, lại còn theo họ mà tôn trọng họ, cầm quyền như vậy là lầm lớn! Bề trên đặt ra sự liêm sỉ là để khích lệ kẻ dưới, mà nay kẻ sĩ và đại phu không xấu hổ vì nhơ nhớp, thối tha nhục nhã thì được làm quan, kẻ nhờ bọn con và em gái đẹp thì được nhảy bậc. Ban thưởng là để cho được quí trọng, thế mà các chiến sĩ có công thì nghèo hèn còn bọn sủng ái, kép hát thì được vượt bực. Danh hiệu mà thành tín (hễ có quan tước thì có thực quyền) là để bày tỏ cái uy, thế mà vua bị che lấp, kẻ thân cận và các sủng phi đều tự chuyên, nắm quyền ban phát tước lộc, đổi chỗ thăng giáng các quan lại, cầm quyền như vậy là lầm lớn. Đại thần khi bổ nhiệm ai làm quan thì mưu tính trước với kẻ đó, lập phe đảng không theo pháp luật, như vậy là uy và lợi nằm trong tay kẻ dưới (đại thần), vua bị hạ thấp mà hạ thần được tôn quí.
Đặt ra pháp lệnh là để bỏ cái riêng tư, hễ pháp lệnh được thi hành thì cái đạo riêng bị phế. Riêng tư là cái làm loạn pháp. Kẻ sĩ có hai lòng, theo cái học riêng, ở trong núi, trong hang, mượn cớ để tìm những ý sâu xa, lớn thì mạt sát đời, nhỏ thì mê hoặc kẻ dưới mà bề trên không cấm lại mà còn theo, tặng họ danh hiệu tôn quí cùng tài sản, như vậy kẻ không có công thì được vinh hiển, kẻ không làm lụng khó nhọc thì được giàu có. Như vậy kẻ sĩ có hai lòng, theo cái học riêng làm sao mà khỏi cố tìm ra những ý mà họ cho là sâu xa, gắng dùng lời xảo trá để phỉ báng pháp lệnh, tự tạo ra cái thế để chống lại với đời? Những kẻ làm loạn bề trên, chống lại với đời thường là những kẻ sĩ có hai lòng theo cái học riêng. Cho nên sách có câu[16]: "Làm cho trị là pháp luật, làm cho loạn là cái riêng tư; pháp luật đặt ra rồi thì không ai còn làm điều riêng tư được nữa” Vì vậy mà "theo cái riêng tư thì loạn, theo pháp luật thì trị". Bề trên không theo đúng đạo (thuật), thì kẻ trí có những lời nói riêng tư, kẻ hiền có những ý nghĩ riêng tư, bề trên ban những ân huệ riêng tư, kẻ dưới có những ham muốn riêng tư. Những kẻ được tiếng là thánh, trí lập thành đám đông, lập thuyết giảng học, để chê bai pháp luật trước mặt bề trên đã không cấm chỉ lại còn theo mà tôn trọng, như vậy là dạy kẻ dưới không nghe lời bề trên, không tuân pháp luật, thành thử người hiền nổi danh mà không làm quan, kẻ gian nhờ được thưởng mà giàu có, cho nên bề trên không chế ngự được kẻ dưới.
 
Chú thích:
[1] Chữ ngụy, chính ra phải đọc là quỉ, có nghĩa là trái, lầm. Sử là sai khiến, ở đây trỏ việc trị nước. Trần Khải Thiên giảng ngụy sử là trái với đạo trị nước.
[2] Nguyên văn là đạo, tức cách trị nước, thuật trị nước.
[3] Rốt cuộc cũng chỉ là hai thuật: thưởng (bằng lợi, danh) và phạt (dùng uy).
[4] Có thế hiểu là cái mà vua quí (danh) không hợp với cái mà sự trị nước cho là quan trọng (thực).
[5] Chẳng hạn lòng nhân từ của đạo Nho, lòng nghĩa hiệp của đạo Mặc, Nho, Mặc cho là "thiện"(tốt) nhưng chính quyền theo Pháp gia, cho là xấu.
[6] Cầu danh ở đâu là cầu cho được đời gọi là trung, là liệt sĩ, dũng… chứ không phải cầu được chức tước, được chính quyền khen.
[7] Pháp gia chủ trương dân phải học pháp luật do quan lại dạy, cái học đó là học công, còn ngoài ra (như Nho học, Mặc học, Lão học… ) đều là học tư hết.
[8] Trưởng giả thời đó có nghĩa kính trọng như trưởng thượng.
[9] Nguyên văn: “loại danh hiệu ngôn”, chúng tôi hiểu theo Trần Khải Thiên, có người dịch là: đặt ra các danh hiệu.
[10] Có người chấm câu khác và giảng là: lại không ngăn chặn họ mà còn theo họ.
[11] Theo Pháp gia thì bọn đó đáng trừng trị.
[12] Nguyên văn là anh, tức là xúc phạm. Đoạn này Hàn Phi chủ trương vua phải có đức, bề tôi trung phải can gián vua, tư tưởng mâu thuẫn với các thiên khác, nên người ta ngờ rằng viết từ lúc đầu, khi Hàn Phi mới thôi học Tuân Tử và trở về nước Hàn, sau tư tưởng ông thay đổi đó không có gì lạ. Nhưng chúng ta cũng có thể hiểu rằng các thiên khác ông chê bọn trung thần can gián vua theo quan niệm Nho gia, như Tỷ Can, Ngũ Tử Tư… vì theo ông họ muốn uy hiếp vua; còn ở đây ông trách vua không nghe lời nói thẳng của kẻ sĩ có pháp thuật như ông.
[13] Nguyên văn là danh với hình.
[14] Nghĩa là không vượt ra ngoài phép tắc.
[15] Thời đó không phát tiền lương cho quân sĩ nhưng cấp cho họ “lộc điền” để gia đình họ cày cấy mà ăn.
[16] Nguyên văn là bản ngôn. Theo Trần Khải Thiên, Hàn Phi ám chỉ một cuốn sách của pháp gia khá lưu truyền thời Chiến Quốc, sau thất truyền.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5957
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Hàn Phi Tử   Thu Oct 10, 2013 5:12 pm

Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
Hàn Phi Tử
THIÊN XLVI
LỤC PHẢN

(SÁU CÁI NGƯỢC ĐỜI)
Sợ chết, trốn tránh hoạn nạn, hạng dân đó tất thành giặc hoặc bỏ chạy, vậy mà người đời tôn là "kẻ sĩ quí trọng sự sống"; học đạo lập nên học thuyết, hạng dân đó tất làm trái pháp luật, vậy mà người đời tôn là "kẻ sĩ văn học”; đi nơi này nơi khác, ở không được hậu đãi[1], hạng dân đó ăn bám, vậy mà người đời tôn là có tài năng; nói quanh co, bậy bạ[2], đó là hạng dân trá ngụy, vậy mà người đời lại tôn là "kẻ sĩ biện trí"[3]; cầmvũ khí đâm chém người, đó là hạng dân hung bạo, vậy mà người đời lại tôn là "kẻ sĩ dũng cảm"; cứu sống giặc, giấu giếm kẻ gian, đó là hạng dân đáng tội chết, vậy mà người đời lại tôn là "kẻ sĩ hào hiệp". Đó là sáu hạng dân được người đời khen.
Sấn vào chỗ nguy hiểm, trung thành tới hi sinh, đó là hạng dân tuẫn tiết, mà người đời lại chê là "kẻ không biết mưu tính"; trí thức kém nhưng (răm rắp) theo lệnh, đó là hạng dân bảo toàn pháp luật, thế mà người đời lại chê là "chất phác, hủ lậu"; làm lụng khó nhọc để kiếm ăn, đó là hạng sinh lợi, thế mà người đời lại chê là “không có tài năng”; trung hậu trong sạch, đó là hạng dân ngay thẳng, tốt, thế mà người đời lại chê là “ngu dại”, trọng mệnh lệnh, lo lắng về công việc, đó là hạng dân trọng bề trên, thế mà người đời lại chê là “khiếp nhược”; đánh bại giặc, ngăn kẻ gian tà (cáo gian), đó là hạng dân làm sáng pháp lệnh, mà người đời lại chê là “sàm báng” (vạch lỗi của người). Đó là sáu hạng dân bị người đời chê.
Sáu hạng dân gian ngụy, vô ích mà đời khen như thế kia, sáu hạng dân đi cày đánh giặc mà đời chê như thế này, tôi gọi đó là sáu cái ngược đời. Bọn áo vải theo lợi riêng mà khen sáu hạng người trên rồi bậc vua chúa nghe cái tiếng hão mà kính trọng họ, họ được kính trọng thì tất được hưởng lợi; bách tính theo cái lợi riêng mà chê sáu hạng người dưới, rồi bọn vua chúa bị thế tục chê lấp mà khinh họ, họ bị khinh thì tất bị hại. Thành thử hạng dân mưu tư lợi, làm bậy, đáng tội thì được khen thưởng; còn hạng dân mưu lợi chung (lợi cho quốc gia), làm điều tốt đáng được thưởng thì bị chê, bị hại. Như vậy mà muốn cho nước giàu mạnh thì không thể được.
Đời xưa có câu tục ngữ này: “làm chính trị cũng như gội đầu, tuy tóc rụng đấy nhưng vẫn phải gội”. Sợ tóc rụng, uổng, mà quên cái lợi tóc sẽ dài ra, tức là không biết quyền nghi (không thông đạt). Mổ nhọt thì đau, uống thuốc thì đắng, nhưng không mổ, không uống thì thân không thể sống, bệnh không thể biết. Ngay trong sự giao tiếp giữa vua tôi, không có cái ân như cha đối với con mà mong lấy việc làm theo nghĩa để cấm bề tôi thì sự giao tiếp tất sinh hiềm khích. Vả cha mẹ đối với con, sanh con trai thì mừng, sanh con gái thì giết; trai gái đều từ trong lòng cha mẹ mà ra, mà con trai thì mừng, con gái thì giết, là do nghĩ đến sau này, đứa con nào có lợi cho mình hơn. Vậy cha mẹ đối với con mà còn mang lòng tính toán lợi hại huống hồ là những người không có tình cha con với nhau. Các học giả ngày nay thuyết bậc vua chúa đều bảo phải bỏ cái lòng cầu lợi đi, đưa ra cái đạo tương ái, như vậy là đòi vua chúa đối với dân phải thân hơn cha mẹ đối với con nữa, đó là suy nghĩ chưa chín về ân tình, lầm lẫn gạt người, bậc minh quân không chấp nhận được. Thánh nhân trị nước thì xét kĩ pháp luật, cấm lệnh, hai cái đó mà minh bạch thì quan lại có kỉ luật; qui định thưởng phạt cương quyết và giữ đúng, thưởng phạt mà không thay đổi vì tư tâm thì dân sẽ dễ sai khiến. Dân sai khiến được, quan có kỉ luật thì nước giàu, nước giàu thì binh mạnh mà nghiệp bá vương sẽ thành. Làm bá vương là cái lợi lớn của bậc vua chúa; bậc vua chúa nhắm cái lợi lớn mà trị nước, cho nên bổ nhiệm quan chức thì phải xứng với tài năng, thưởng phạt thì chí công vô tư, khiến cho sĩ dân đều thấy rõ điều đó mà (tin rằng) hễ tận lực liều chết lập công được, thì được ban tước lộc, do đó hóa giàu sang. Giàu sang là cái lợi lớn của bề tôi, bề tôi nhắm cái lợi lớn đó mà làm việc, nên mạo hiểm tới chết, kiệt sức mà không oán. Như vậy là vua không tư với dân, bề tôi không trung với vua (cứ theo pháp luật thôi) thì có thể lập được nghiệp bá vương.
*
Gian mà nhất định sẽ bị phát giác thì kẻ gian sẽ tự răn mình, nếu nhất định sẽ bị giết thì họ phải ngừng (không dám làm nữa): vì không bị phát giác nên họ mới phóng túng, không bị giết nên mới làm. Bày một thứ hàng rẻ tiền ở chỗ u ẩn thì dù Tăng Sâm, Sử Ngư[4] cũng bị nghi là lấy trộm; treo trăm lượng vàng[5] ở chợ thì dù một tên cướp lớn cũng không dám lấy. Không ai biết, nên Tăng Sâm, Sử Ngư có thể bị nghi ở chỗ u ẩn; ai cũng biết, nên kẻ cướp không dám lấy vàng treo ở chợ.
Cho nên bậc minh chủ dùng nhiều người giữ (pháp luật)[6] mà trị tội nặng, khiến cho dân vì sợ hình pháp chứ không vì tính liêm khiết mà không bậy. Mẹ yêu con gấp bội cha yêu con, mà cha ra lệnh thì con tuân lệnh gấp mười mẹ ra lệnh. Quan lại không yêu gì dân mà lệnh được dân tuân gấp vạn lệnh của cha. Mẹ tích lũy lòng yêu con mà không được con theo; quan lại dùng oai nghiêm mà dân tuân lệnh. Vậy dùng oai nghiêm hay dùng lòng yêu, cách nào nên theo, là điều dễ quyết định được rồi. Vả lại cha mẹ mong mỏi ở hành động của con cái là chúng được yên vui, có lợi, đừng mắc phải tội lỗi. Vua đối với dân (trái lại), khi có nạn thì muốn dân hi sinh tính mạng, khi bình an thì muốn dân tận lực với mình. Cha mẹ rất yêu con, muốn cho nó được yên vui và có lợi, mà nó không nghe; vua không yêu, không muốn dân có lợi, đòi dân phải hi sinh tính mạng, tận lực vì mình, mà dân lại tuân lệnh. Bậc minh chủ biết lẽ đó, nên không nuôi lòng nhân ái mà chỉ tăng cái thế oai nghiêm. Mẹ rất yêu con, mà con phần nhiều lại hư hỏng, chỉ vì mẹ dùng lòng yêu; cha ít yêu con, dạy bằng roi, mà sau phần nhiều lại tốt, chỉ vì cha dùng sự oai nghiêm.
*
Một gia đình làm ăn, nếu cùng nhịn đói chịu rét, cùng gắng sức lao khổ thì (trong miền) tuy gặp binh đao, hay mất mùa, riêng gia đình đó vẫn được ăn no mặc ấm. Còn gia đình nào vì thương nhau, vì nhân từ mà cho nhau ăn mặc sung sướng, ở không vui chơi, thì gặp nạn đói kém, gia đình đó tất phải bán vợ đợ con. Cho nên, dùng pháp luật thì trước chịu khổ, sau được lợi bền lâu; còn theo đạo nhân từ thì mới đầu tạm được vui mà sau sẽ khốn cùng. Bậc thánh nhân cân nhắc, lựa cái lợi lớn cho nên dùng pháp luật mà bắt nhau chịu cực, và bỏ sự nhân ái đối với nhau. Các học giả đều bảo: “phải giảm nhẹ hình phạt đi”, đó là thuật làm cho loạn vong. Thưởng phạt mà xác định là để khuyến thiện và cấm ác. Thưởng hậu thì mau được cái mình muốn; phạt nặng thì mau cấm được cái mình ghét. Người nào muốn cái lợi thì tất ghét cái hại, vì lợi và hại tương phản nhau. Trái với cái mình muốn thì làm sao mình không ghét cho được? Người nào muốn được trị thì tất ghét loạn, vì trị và loạn tương phản nhau. Cho nên rất ham bình trị thì phải thưởng cho hậu, rất ghét rối loạn thì phải phạt cho nặng. Nay chủ trương giảm nhẹ hình phạt, tức là không mấy ghét rối loạn mà cũng không mấy ham bình trị. Như vậy chẳng những không có thuật (trị nước) mà còn không biết hành động nữa. Bởi vậy phương pháp quyết định có tài năng hay không, ngu hay trí ở chỗ thưởng phạt nặng hay nhẹ. Vả lại hình phạt nặng không phải để trị tội nhân, nó còn để làm sáng pháp độ của vua. (Chẳng hạn) giết giặc, không phải chỉ để trị kẻ mình giết, vì nếu trị kẻ mình giết thì tức là trị kẻ chết; (hoặc như) phạt kẻ cướp, không phải chỉ để trị kẻ mình phạt, vì nếu trị kẻ mình phạt thì tức là trị kẻ bị đày[7]. Cho nên bảo: “phạt nặng tội một kẻ mà ngăn cấm được mọi sự gian tà trong nước. Đó là cái đạo trị nước. Kẻ bị phạt nặng là kẻ cướp mà kẻ sợ hãi là lương dân. Vậy muốn trị nước còn trì nghi gì nữa mà không dùng trọng hình? Còn việc thưởng hậu, không phải chỉ để thưởng công, còn để khuyến khích toàn dân trong nước nữa. Người được thưởng vui, vì được lợi, mà người chưa được thưởng sẽ ham được thưởng. Đó là báo đáp công lao của một người mà khuyến khích được toàn dân trong cõi. Vậy muốn trị nước, còn trì nghi gì nữa mà không hậu thưởng? Nay những kẻ không biết cách trị nước đều bảo : “hình phạt nặng làm thương tổn dân; hình phạt nhẹ có thể cấm được gian rồi, cần gì phải dùng hình phạt nặng?” Đó là không xét kĩ về sự trị nước. Một tội ác có thể ngăn cấm được bằng hình phạt nặng thì chưa chắc đã cấm được bằng hình phạt nhẹ; còn một tội ác ngăn cấm được bằng hình phạt nhẹ thì lại càng dễ ngăn cấm bằng hình phạt nặng. Cho nên, bề trên đặt ra hình phat nặng thì mọi sự gian tà sẽ chấm dứt; mọi sự gian tà chấm dứt thì thương tổn cho dân chỗ nào? Khi kẻ gian chỉ được một cái lợi nhỏ thì bề trên bắt chịu một cái tội lớn, như vậy gọi là hình phạt nặng; dân không muốn vì cái lợi nhỏ mà bị một cái hại lớn, cho nên mọi sự gian tà đều chấm dứt. Vì vậy tiên hiền có câu : “không vấp núi mà vấp đống kiến đùn[8]. Núi lớn nên người ta phải cẩn thận, đống kiến đùn nhỏ nên người ta coi thường. Dùng hình phạt nhẹ thì tất người dân coi thường. Không trừng phạt kẻ phạm tội tức là phóng khí toàn dân; trừng phạt nhẹ kẻ phạm tội tức là làm bẫy cho dân sa vào[9].Cho nên hình phạt nhẹ tức là cái đống kiến đùn để cho dân vấp phải, mà cái đạo dùng hình phạt nhẹ nếu không làm cho nước loạn thì cũnglàm cho dân sa vào bẫy.Cái đó mới làm thương tổn dân chúng đấy.
*
Các học giả ngày nay đều giảng những lời hay trong sách mà không xét sự thực đương thời. Họ bảo : “bề trên không thương dân, thuế má thường nặng, dân không đủ tiêu dùng nên oán bề trên, do đó mà thiên hạ đại loạn”. Như vậy là họ cho rằng cho dân có đủ tiêu dùng rồi lại yêu dân nữa, dù dùng hình phạt nhẹ, nước cũng trị được. Lời đó sai. Đa số kẻ bị hình phạt nặng là sau khi họ có đủ để tiêu dùng rồi. Họ đủ tiêu dùng rồi mà bề trên còn thương họ, giảm nhẹ hình phạt thì vẫn còn loạn. (Chứng cứ là : con cưng của nhà giàu, tài sản có đủ tiêu dùng; tài sản đủ tiêu dùng thì tiêu xài không tiếc, tiêu xài không tiếc thì hóa ra xa xỉ; cha mẹ thương yêu con thì không nỡ rầy mắng nó,không nỡ rầy mắngthì nó hóa kiêu căng, phóng túng. Xa xỉ thì nhà sẽ nghèo, kiêu căng phóng túng thì làm bậy, đó là cái hại có tài sản đủ dùng mà thương yêu nhiều, và trừng trị nhẹ. Con người bẩm sinh hễ có tài sản đủ dùng thì hóa ra lười biếng, không chịu gắng sức, bề trên không nghiêm trị thì kẻ dưới phóng túng làm bậy. Tài sản đủ dùng rồi mà vẫn gắng sức làm lụng thì chỉ có Thần Nông thôi ; bề trên không nghiêm trị mà kẻ dưới vẫn có đức hạnh thì chỉ có Tăng Sâm và Sử Ngư. Hạng dân thường không bằng được Thần Nông, Tăng Sâm và Sử Ngư, là điều hiển nhiên rồi. Lão Đam nói : “Biết đủ thì không nhục, biết ngừng thì không nguy[10]. Vì sợ bị nhục và nguy, nên hễ có đủ rồi thì thôi, không cầu gì hơn nữa, chỉ có Lão Đam được như vậy. Nay bảo rằng cho dân có đủ rồi thì nước có thể bình trị, tức là coi dân ai cũng như Lão Đam cả. Như Kiệt kia, sang tới mức làm thiên tử mà vẫn chưa cho là đủ tôn quý ; giàu tới mức có cả thiên hạ, mà vẫn chưa cho là có đủ châu báu. Bậc vua chúa dù (hết sức) cho dân có đủ, cũng không thể làm cho họ tới cái mức như thiên tử, mà Kiệt kia vẫn chưa cho làm thiên tử là đủ, thì làm cho dân có đủ, chắc gì đã làm cho nước bình trị được? Cho nên bậc minh chủ trị nước phải thích nghi với thời mà sản xuất nhiều tài vật, định thuế má sao cho giàu nghèo bình quân (công bằng), ban nhiều tước lộc để dùng hết tài năng trong dân, dùng hình phạt nặng để ngăn cấm gian tà, khiến cho dân hễ gắng sức làm lụng thì sẽ giàu, hễ có công nghiệp thì sẽ sang, làm bậy thì bị tội, có công thì được thưởng chứ không mong được bề trên nhân từ ban ơn huệ cho. Đó là chính trị của bậc đế vương.
*
Mọi người đều ngủ cả thì không biết ai đui, mọi người đều làm thinh thì không biết ai câm. Đánh thức họ dậy bảo họ nhìn, hỏi họ, bắt họ đáp, thì những người đui và câm vô phương giấu được[11]. Không nghe một người trình bày thì không biết được rằng họ không có thuật (trị nước), không giao công việc cho họ thì không thể biết được rằng họ có tài cán. Nghe họ trình bày rồi xem xét lời họ có thích đáng không, giao công việc cho họ rồi xem xét có kết quả không, thì kẻ không có thuật, không có tài cán sẽ vô phương giấu được. Muốn lựa một lực sĩ mà chỉ căn cứ vào lời họ tự khoe thì không sao phân biệt được người tầm thường với Ô Hoạch[12], đưa cho họ một cái vạc[13] bảo họ nhấc lên thì ai yếu ai mạnh thấy rõ liền. Quan chức tức là “cái vạc" để thử kẻ sĩ có tài năng đấy; giao chức vụ cho họ thì ai ngu, ai trí, phân biệt được ngay. Cho nên thấy lời nói của ai vô dụng thì biết được kẻ đó không có thuật; thấy ai không làm được nhiệm vụ thì biết được kẻ đó không có tài cán. Có kẻ lời không được ai dùng mà tự trau chuốt, cho mình là hùng biện; không được giao cho trách nhiệm mà tự khoe rằng mình cao thượng. Các vua chúa đời nay bị mê hoặc vì lời nói của họ, bị gạt vì sự cao ngạo của họ mà tôn quý họ, như vậy là không đợi họ có nhìn thấy không mà đã tin chắc mắt họ sáng, không đợi họ đáp được không mà đã tin chắc họ có khẩu tài, tức như không biết rõ được ai đui ai câm vậy. Bậc minh chủ nghe ai nói thì xét xem lời nói của họ có dùng được không, thấy ai làm thì xét xem có kết quả không, như vậy thì các học thuyết trống rỗng đời xưa không còn được đem ra bàn, mà các hành vi kiêu căng, gạt người không còn được tô điểm nữa.
 
Chú thích:
[1] Hàn Phi ám chỉ các triết gia, học giả - như thầy trò Mạnh Tử - tới nước nào – như Tề, Lương chẳng hạn – cũng được vua trọng đãi.
[2] Nguyên văn mâu tri, bốn năm học giả, mỗi nhà giảng một khác, mà không nhà nào giảng xuôi cả; chúng tôi tạm theo Trần Khải Thiên mâu cùng nghĩa với mậu là lầm, bậy.
[3] Ám chỉ bọn "danh gia".
[4] Tăng Sâm, môn sinh của khổng tử, nổi tiếng là hiền. Sử Ngư, một đại phu nước Vệ, được Khổng tử khen là ngay thẳng. Tương truyền ông can vua, vua không nghe, khi chết bảo vợ con đem xác bỏ ngoài đồng để vua động lòng mà tỉnh ngộ.
[5] chữ Kim có thể trỏ một lạng vàng, một đồng tiền vàng, lại có thể trỏ một cân, một lượng, một đồng tiền bằng đồng.
[6] tức dùng nhiều kẻ cáo gian.
[7] Hàn Phi muốn nói: dùng hình phạt không cốt ở sự trừng trị kẻ gian mà cốt để ngăn ngừa sự gian, để người khác thấy mà sợ, không dám làm điều gian.
[8] Tựa như câu của ta: “đi sông đi biển không chết mà chết lỗ chân trâu”.
[9] Hàn Phi muốn nói: “không ngăn cấm gian tà (bằng hình phạt nặng), để dân phạm tội rồi mới trừng phạt, tức là đánh bẫy dân.
[10] Đạo Đức Kinh - Chương 44: Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đãi.
[11] Nguyên văn là cùng nghĩa là cùng đường.
[12] Một dũng sĩ nước Tần.
[13] Thời xưa, muốn thử dũng sĩ, người ta bảo họ cầm chân một cái vạc nhấc lên rồi đi (cử đỉnh).

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5957
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Hàn Phi Tử   Thu Oct 10, 2013 6:26 pm

Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
Hàn Phi Tử
THIÊN XVII
BỊ NỘI

(ĐỀ PHÒNG BÊN TRONG)
Cái họa của bậc vua chúa là tin người, tin người thì bị người chế ngự. Bề tôi đối với vua không có tình cốt nhục, bị cái thế bó buộc không thể không thờ vua, cho nên, luôn luôn dò xét lòng vua, không một phút nào ngưng; mà vua lại ngồi trên ngạo mạn, biếng nhác, vì vậy mới có những ông vua bị áp bức và bị giết.
Làm vua mà quá tin con thì gian thần sẽ dựa vào con vua để thực hiện tư dục của họ. Vì vậy mà Lí Đoái giúp vua Triệu, bỏ Chủ Phụ chết đói[1]. Làm vua mà quá tin vợ thì gian thần sẽ dựa vào vợ vua để thực hiện tư dục của họ. Vì vậy mà Ưu Thi giúp Li Cơ giết Thân Sinh, lập Hề Tề[2]. Thân cận như vợ con mà còn không thể tin thì người khác làm sao có thể tin được? Vả lại chúa có vạn cỗ xe, vua có ngàn cỗ xe thì hoàng hậu, thứ phi, phu nhân, đích tử làm kế tự, thế nào cũng có người muốn cho vua chết sớm.
Làm sao biết được như vậy? Là vì vợ không có tính cốt nhục với chồng, hễ yêu thì thân, không yêu thì sơ. Tục ngữ có câu: “Mẹ được yêu thì con được chiều”. Ngược lại, hễ mẹ bị ghét thì con bị bỏ. Đàn ông năm chục tuổi vẫn còn hiếu sắc, đàn bả ba chục tuổi sắc đã tàn. Vợ sắc đã tàn mà thờ chồng hiếu sắc thì tất ngại bị hắt hủi, con tất ngờ sẽ không được nối ngôi. Đó là lẽ tại sao hoàng hậu, thứ phi, phu nhân mong cho vua chết sớm. Chỉ khi nào mẹ làm thái hậu, con làm vua thì lệnh mới được mọi người thi hành, điều cấm mới được mọi người tuân; cái vui trai gái không giảm so với khi tiên vương còn mà lại chắc nắm được quyền một ông vua vạn cỗ xe. Do đó mà có những vụ đầu độc bằng rượu mà thắt cổ lén. Vì vậy sách Đào Ngột Xuân Thu[3] bảo: “Bậc vua chúa chết vì bệnh chưa được phân nửa”[4]. Làm vua mà không hiểu điều đó thì loạn sẽ sinh ra nhiều. Cho nên có câu: “số người có lợi thấy vua chết mà nhiều thì tính mạng vua sẽ nguy."
Vương Lương yêu ngựa, Việt Vương Câu Tiễn[5] yêu dũng sĩ vì thích cưỡi ngựa, đánh giặc. Thầy lang khéo mút vết thương, ngậm máu bệnh nhân đâu phải vì tình cốt nhục mà chỉ vì lợi. Thợ đóng xe mong cho nhiều người giàu sang, còn thợ đóng quan tài mong nhiều người chết yểu, không phải là thợ đóng xe có lòng nhân mà thợ quan tài tàn nhẫn, chỉ vì người ta không giàu sang thì không mua xe, người ta không chết thì quan tài không bán được. Thợ đóng quan tài không phải là ghét người, nhưng có người chết thì chú ta mới có lợi. Cho nên bè đảng của hoàng hậu, thứ phi, phu nhân, thái tử mà thành thì họ mong cho vua chết, vua không chết thì quyền thế của họ không mạnh; họ không phải là ghét gì vua, nhưng vua có chết thì họ mới có lợi. Bởi vậy bậc vua chúa phải hết sức lưu ý tới những kẻ có lợi nhờ thấy mình chết. Mặt trời mặt trăng mà có quầng bên ngoài là tại chính bên trong của nó. Người ta thường đề phòng những kẻ mình ghét nhưng họa lại xảy ra do những kẻ mình yêu. Cho nên bậc minh chủ không làm những việc mình chưa tham khảo kĩ, không ăn những món khác thường; mà phải nghe những tin tức ở xa, xem tình hình ở gần để biết trong ngoài có cái gì sơ suất không; xét những lời giống nhau và khác nhau để phân biệt các bè đảng, khảo nghiệm lời người ta nói để bắt buộc người ta phải trung thực, không được hư trá; hễ dùng lời một người nào rồi thì xem kết quả về sau có phù hợp với lời nói trước không; cứ theo pháp luật mà trị dân; xem xét tất cả các đầu mối của sự việc; kẻ sĩ không có công thì không thưởng, mà công nhỏ thì không thưởng nhiều; kẻ nào đáng giết thì mới giết, có tội thì không tha. Như vậy thì kẻ gian tà không thể làm chuyện riêng tư được.
*
Sưu dịch nhiều thì dân khổ, dân khổ thì quyền thế của bề tôi dấy lên (nghĩa là bề tôi nhân đó mà nắm lấy quyền thế); quyền thế của bề tôi dấy lên thì sự miễn dịch xảy ra nhiều, miễn dịch nhiều thì người sang càng giàu (vì dân phải hối lộ cho họ để được miễn dịch). Hậu quả là làm khổ dân để cho người sang được giàu làm dấy lên (tăng) cái quyền thế của bề tôi để bề tôi dùng[6]; đó không phải cái lợi lâu dài của dân chúng. Cho nên có câu “Sưu dịch ít thì dân được yên ổn, dân yên ổn thì bề tôi không có quyền lớn, bề tôi không có quyền lớn thì quyền thế bị diệt, quyền thế diệt thì “đức” tức việc ân thưởng thuộc vềvua." Nước thắng (làm tắt) được lửa, điều ấy hiển nhiên. Nhưng nếu đựng nước trong nồi để ngăn cách nước với lửa, rồi đun, thì nước bốc hơi ở trên cho tới cạn, mà lửa ở dưới vẫn bừng bừng cháy; nước đã mất cái thế thắng lửa. Pháp luật là để cấm gian tà (pháp luật thắng được gian tà), điều đó còn hiển nhiên hơn nữa. Nhưng bề tôi thi hành pháp luật mà hành động như cái nồi (ngăn cách pháp luật với gian tà, nghĩa là không thi hành pháp luật với bọn gian tà) thì pháp luật chỉ còn sáng rõ trong lòng (vua) mà mất cái thế cấm gian tà rồi. Căn cứ vào các truyền thuyết thời cổ và các điều ghi chép trong sách Xuân Thu thì những kẻ phạm pháp làm phản, thành đại gian ác đều từ trong giới bề tôi tôn quý mà ra. Còn những người bị pháp lệnh đề phòng, bị hình phạt trừng trị, đa số là trong bọn dân thấp hèn. Do đó mà dân chúng tuyệt vọng, không biết tố cáo ở đâu. Đại thần kết bè đảng nhất tề che lấp vua, ngầm thân nhau mà bề ngoài làm ra vẻ ghét nhau, để tỏ ra rằng mình không có tư tình; họ cùng dùng tai mắt để rình kẽ hở của vua. Vua bị che lấp, không có cách nào biết được chân tình nữa, thành thử chỉ có cái danh là vua mà mất cái thực; bề tôi chuyên thi hành pháp luật (theo ý họ). Các vua nhà Chu như vậy đó. Giao quyền thế cho bề tôi thì vị trí của vua tôi sẽ đảo lộn. Vậy không nên giao quyền thế cho bề tôi.
 
Chú thích:
[1] Lí Đoái (có chỗ gọi là Lí Khắc), quan thái phó nước Triệu, theo phe Huệ Vương, bao vây cung của Triệu Chủ Phụ để Chủ Phụ chết đói.
[2] Ưu Chính Nghĩa là người kép hát. Ưu Thi là kép hát tên Thi, tình nhân của Li Cơ – một mỹ nhân – vợ sau của Tấn Hiến Công, xui Hiến Công giết thế tử Thân Sinh để lập con Lí Cơ là Hề Tề.
[3] Một bộ sử nước Sở. Có sách chép là Đào Tả Xuân Thu.
[4] Còn già nửa bị ám hại, bất đắc kì tử.
[5] Vương Lương, người nước Tần thời Xuân Thu, giỏi đánh xe. Câu Tiễn vua nước Việt, muốn có binh mạnh để diệt Phù Sai, vua nước Ngô báo thù. Sau ông làm bá chủ cả vùng sông Dương Tử và sông Hoài.
[6] Nguyên văn: khổ dân dĩ phú quí nhân, khởi thế dĩ tạ nhân thần. Câu này tối nghĩa. Diệp Ngọc Lân dịch là: làm khổ dân vì bọn người phú quí được khởi thế (quyền thế được nổi lên, được tăng lên) mượn bề tôi giúp sức (?). Nghe không thông chút nào cả. Có dịch giả dịch chữ khởi trong câu đó là bỏ (vua bỏ cái thế của mình) cho bề tôi mượn dùng. Dịch như vậy thông, chỉ ngặt một điều: chữ khởi ở câu trên dịch là dấy lên (rất đúng) sau ở đây là bỏ đi ? Cách dịch của chúng tôi cũng gượng lắm.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5957
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Hàn Phi Tử   Thu Oct 10, 2013 6:37 pm

Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
Hàn Phi Tử
THIÊN IX
BÁT GIAN

(TÁM THUẬT THÀNH GIAN THẦN)
Bề tôi thành gian thần là do tám thuật.
Thuật thứ nhất là "(do kẻ) chung giường". Thế nào là chung giường? Đáp: Phu nhân (vợ vua chúa chư hầu) được quí, cung nhân được yêu,[1] sủng thần đẹp trai[2], đó là những người dễ làm mê hoặc vua chúa. Họ nhân lúc chúa nhàn cư vui vẻ, hoặc lúc chúa no say mà xin điều họ muốn, chúa tất nghe. Bề tôi bên trong dùng vàng ngọc hối lộ họ để họ làm mê hoặc chúa, như vậy là [dùng thuật do kẻ] chung giường.
Thuật thứ nhì là (do kẻ) ở bên. Thế nào là kẻ ở bên?
Đáp: Bọn hề, kép hát, bọn lùn làm cho chúa cười, bọn tả hữu thân cận, chúa chưa ra lệnh họ đã dạ dạ, chưa sai bảo họ đã vâng vâng, đoán được ý chúa mà làm trước, dò nét mặt, sắc diện mà biết trước được lòng chúa, họ cùng tiến cùng thoái, cùng ứng cùng đối, nói năng hành động như nhau để làm thay đổi lòng chúa. Bề tôi bên trong thì vàng ngọc, châu báu hối lộ họ, bên ngoài thì vì họ làm điều trái phép để họ lần lần thay đổi tính của chúa, như vậy là [dùng thuật do kẻ] ở bên.
Thuật thứ ba là (do bậc) cha anh. Thế nào là cha anh?
Đáp: Các người trong tôn thất vào hàng cha anh của chúa[3] là người được chúa thương yêu, quan lớn nhỏ ở triều đình, là những người cùng mưu tính việc nước với vua. Nếu họ tận lực thuyết phục (nói riết) thì chúa tất nghe. Bề tôi dùng âm nhạc nữ sắc cung phụng cho các người trong tôn thất, dùng lời khéo léo thu phục các quan lớn quan nhỏ, ước với họ về một việc (tâu với chúa), nếu việc thành thì thăng tước, tăng lộc để khuyến khích họ, như vậy là (dùng thuật do bậc) cha anh.
Thuật thứ tư là nuôi tai ương. Thế nào là nuôi tai ương?
Đáp: Chúa thích có cung thất, đài và ao đẹp, thích gái đẹp, thích có chó ngựa tốt để giải buồn, đó là những tai ương của họ. Bề tôi dùng hết sức dân để xây cất, sửa sang cung thất, đài, ao cho đẹp, đánh thuế nặng để có gái đẹp, chó ngựa tốt làm cho chúa vui mà tâm trí hoá mê loạn; làm thỏa lòng muốn của chúa để nhân đó mưu lợi riêng cho mình, như vậy là thuật nuôi tai ương.
Thuật thứ năm là do nhân dân. Thế nào là do nhân dân?
Đáp: bề tôi làm hao tán của công để được lòng nhân dân, thi hành những ân huệ nhỏ để thu phục trăm họ, khiến cho triều đình, thành thị ai cũng khen mình, chúa bị che mắt, mà ước vọng cùa mình đạt được, như vậy là dùng thuật do nhân dân.
Thuật thứ sáu là ăn nói lưu loát. Thế nào là ăn nói lưu loát?
Đáp: Chúa vốn ở thâm cung, bị bế tắc về ngôn đàm, ít được nghe nghị luận, nên dễ bị thuyết phục. Bề tôi tìm hạng biện sĩ trong các nước chư hầu, nuôi những kẻ nói giỏi trong nước, dùng họ để thuyết về những việc riêng của mình, bằng những lời văn vẻ khéo léo, lưu loát, khi thì vạch cho chúa thấy cái lợi thế, khi thì đem tai họa ra dọa chúa, bày đặt ra để phá hoại chúa, như vậy là dùng thuật ăn nói lưu loát.
Thuật thứ bảy là dùng uy quyền và sức mạnh. Thế nào là dùng uy quyền và sức mạnh?
Đáp: Uy quyền và sức mạnh của vua chúa là do quần thần và trăm họ. Cái gì quần thần và trăm họ cho là tốt thì vua cho là tốt, cái gì quần thần và trăm họ cho là không tốt thì vua cho là không tốt. Bề tôi tụ tập kẻ đeo gươm (tức bọn hiệp khách), nuôi hạng cảm tử để tỏ cái uy của mình, khiến cho bọn này thấy theo họ thì tất có lợi, không theo họ thì tất chết; do đó họ làm cho quần thần và trăm họ phải sợ họ mà đạt được mục đích riêng, như vậy là dùng quyền uy và sức mạnh.
Thuật thứ tám là do bốn phương. Thế nào là do bốn phương?
Đáp: Làm vua một nước, hễ nước nhỏ thì phải thờ nước lớn, binh lực yếu thì phải sợ binh lực mạnh. Nước lớn yêu sách điều gì, nước nhỏ tất phải nghe; binh mạnh tấn công thì binh yếu tất phải hàng phục. Bề tôi đánh thuế nặng, dốc hết kho lẫm làm cho nước rỗng không để đem thờ nước lớn, rồi mượn uy nước lớn dụ dỗ vua mình; nặng thì xin nước lớn đem binh mạnh tụ họp ở biên giới để uy hiếp vua nước mình, nhẹ thì xin nước lớn sai người đi sứ làm chấn động vua mình, khiến vua sợ hãi, như vậy là thuật do bốn phương.
 
Do tám thuật đó mà bề tôi thành gian, vua chúa bị che mắt, hiếp đáp, mất quyền thế, cho nên bậc vua chúa phải lưu ý tới.
*
Bậc minh quân:
- đối với các phi tần cung nữ, vui hưởng sắc đẹp của họ mà không làm theo lời họ xin, không cho họ xin riêng cái gì cả;
- đối với kẻ tả hữu thì khi sai khiến họ, phải xét cách hành động của họ có hợp với lời nói của họ không, không cho họ nhiều lời, ngoài nhiệm vụ của họ mà cũng nói;
- đối với bậc cha anh, đại thần, dùng lời họ nhưng sau thấy lời không thích đáng (việc không thành) thì phạt, không để họ tự làm bậy;
- về các cung đài, châu báu, tất phải biết ở đâu ra, không để cho bề tôi tự ý dâng hay lấy đi, mà do đó họ đoán được sở thích của mỉnh;
- về việc thi ân đức thì lấy tiền bạc trong kho[4], phát lúa trong lẫm để làm lợi cho dân tất phải có lệnh của vua, bề tôi không được thi ân riêng;
- về các lời thuyết nghị, nếu có ai được khen là tốt, bị chê là xấu thì phải xét xem người đó thực có tài năng, tội lỗi không, chứ không để cho quần thần tâng bốc, chê bai lẫn nhau;
- đối với dũng sĩ, nếu có quân công thì không quên thưởng cho xứng đáng, còn kẻ cậy sức mà gây lộn trong làng thì không tha tội, không để cho quần thần mưu tính chuyện riêng;
- về các yêu sách của chư hầu, nếu hợp pháp thì nghe không thì cự tuyệt. Ông vua mất nước không phải là ông vua không còn quốc gia, tuy còn đấy, nhưng không nắm được nó nữa (thì cũng là mất). Cho bề tôi dựa vào nước ngoài, áp chế nước mình, như vậy vua tất suy vong. Nếu nghe lời nước lớn để cứu vãn nước mình thì còn mau suy vong hơn là không nghe họ, cho nên không nên nghe. Bề tôi biết vua không nghe lời nước lớn thì sẽ không kết nạp chư hầu ở ngoài; chư hầu biết vua không nghe lời mình[5] thì sẽ không kết nạp bọn bề tôi vu cáo vua.
*
Bậc minh chủ, lập ra quan chức, tước lộc để tiến dụng người hiền tài, khuyến khích kẻ có công. Cho nên bảo: "hễ hiền tài thỉ được có bổng lộc dồi dào, làm chức lớn; có công thì được tước cao, được trọng thưởng”. Họ ước lượng tài năng cùa người giỏi rồi mới bổ nhiệm, ban lộc cho xứng với công, vì vậy mà người giỏi không mạo nhận những tài năng mình không có để thờ vua, người có công vui vẻ lập công thêm nữa, do đó mà mọi việc thành công. Nay thì không vậy. Vua chúa không phân biệt người giỏi người dở, chẳng kể bề tôi có công lao hay không, dùng những kẻ dựa vào uy thế của chư hầu, nghe lời thưa bẩm của kẻ tả hữu. Các bậc cha anh và đại thần xin vua tước lộc để bán cho kẻ dưới mà thu tiền của rồi lập bè đảng riêng. Vì vậy, kẻ có nhiều tiền thì mua quan chức để được sang, kẻ kết giao với bọn tả hữu của vua thì xin xỏ để gây quyền thế. Vua không biết tới các bề tôi có công lao, trong việc thăng quan giáng chức lại lầm lẫn, bất công; kết quả là quan lại coi nhẹ chức vụ mà giao thiệp với nước ngoài, bỏ bê công việc mà lo làm tiền; người giỏi sinh ra biếng nhác, không gắng sức, kẻ có công chán ngán mà làm quấy quá cho xong. Cái thói của nước suy vong như vậy.
 
Chú thích:
[1] Nguyên văn là nhụ tử. Có ba nghĩa : con còn nhỏ, vợ bé, thiếu nữ đẹp. ở đây, trỏ những cung nhân đẹp.
[2] Như Di Tử Hà được vua Vệ yêu vì đẹp trai. Coi thiên Thuế nan.
[3] Nguyên văn: trắc thất công tử, có sách giảng là con vợ nhỏ.
[4] Nguyên văn là cấm tài: tiền của cấm, tức tiền bạc của vua, của quốc gia. Cái gì riêng của vua thì thường gọi là cấm, như cấm thành, cấm uyển.
[5] Nguyên văn ghi chép là bất thính, có sách giảng là không nghe lời bề tôi.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com/
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Hàn Phi Tử   Fri Oct 11, 2013 5:49 pm

Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
Hàn Phi Tử
THIÊN XIV
GIAN KIẾP THÍ THẦN (Trích)

BỀ TÔI DÙNG MƯU GIAN ĐỂ HIẾP VÀ GIẾT VUA
Ý nghĩa trong thiên này là phải dùng pháp luật, nghiêm hình để trị gian thần, chứ nếu dùng cái "ngu học" của Nho gia thì sẽ mất nước. Nội dung cũng giống các thiên Ngũ đố, Hiển học, Bát gian. Có một đoạn ở giữa kể cái nguy của bọn sĩ dùng pháp thuật mà bị ghét và gièm pha, không liên lạc gì đến các đoạn trên và dưới; nên các học giả ngờ rằng ở thiên XIII Hòa thị sắp lộn vào đây.
Chúng tôi chỉ trích một đoạn 3 Hàn Phi đả Nho học và nửa đoạn 5 mạt sát chính sách dùng nhân nghĩa để trị dân.
*
Các học giả ngu trên đời đều ko hiểu tình hình trị loạn, cứ lảm nhảm tụng hoài các sách cổ, làm loạn sự cai trị hiện thời; trí lực của họ không đủ để tránh cái hố bẫy mà lại chê bậy các thuật sĩ (kẻ sĩ dùng pháp thuật), nghe lời họ thì nguy, dùng kế họ thì loạn, ngu tới vậy là cùng cực mà lại hại cùng tột bực. Họ với các thuật sĩ đều mang cái danh là biện sĩ, nhưng thực thì cách khác nhau cả ngàn vạn (dặm). Danh là một mà thực thì khác. Hạng người theo cái học ngu trên đời đó so với các thuật sĩ cũng như tổ kiến đùn so với gò cao vậy, khác nhau xa lắc. Bậc thánh nhân xem sự thực của sự phải quấy, xét tình hình của sự trị loạn, cho nên trị nước thì minh định pháp luật, đặt ra hình phạt nghiêm khắc để cứu loạn cho quần chúng, trừ họa cho thiên hạ, khiến cho kẻ mạnh không lấn kẻ yếu, đám đông không hiếp đáp số ít, người già cả được hưởng hết tuổi trời, bọn trẻ con được nuôi lớn, biên giới không bị xâm phạm, vua tôi thân nhau, cha con bảo vệ nhau, không lo bị giết, bị giặc bắt hay cầm tù; đó cũng là cái công cực lớn vậy mà kẻ ngu không biết, cho là tàn bạo.
Kẻ ngu cũng muốn cho được trị đấy nhưng lại ghét cái làm cho trị; chúng ghét cái nguy đấy, nhưng cũng thích cái làm cho nguy. Làm sao biết được vậy? Hình phạt nghiêm và nặng là cái dân ghét, nhưng nhờ đó mà nước trị; thương xót trăm họ, làm nhẹ hình phạt là cái dân thích nhưng vì đó mà nước nguy. Thánh nhân đặt pháp luật cho nước thì tất nghịch với đời mà thuận với đạo đức. Hiểu biết lẽ đó thì cứ theo điều nghĩa[1] không ngại khác thế tục. Trong thiên hạ số người hiểu lẽ đó mà ít thì điều nghĩa bị chê {mà thế tục thắng}.
*
Bọn học giả đời nay thuyết phục các vua chúa, không bảo : “Nên dùng cái thế uy nghiêm để làm khốn bọn bề tôi gian tà", mà đều bảo: “Chỉ nên dùng nhân nghĩa, huệ ái mà thôi". Bậc vua chúa đời nay quí cái “danh” là nhân nghĩa mà không xét cái "thực", cho nên (tai họa) lớn thì nước mất, thân chết, nhỏ thì đất bị cướp, vua bị coi hèn. Làm sao biết rõ điều ấy? Thi ân cho kẻ cùng khốn, như vậy đời gọi là nhân nghĩa; thương xót trăm họ, không nỡ trừng phạt, như vậy đời gọi là huệ ái. Nhưng thi ân cho kẻ cùng khốn thì kẻ không có công được thưởng, không nỡ trừng phạt thì kẻ bạo loạn không ngừng làm bậy. Nước có kẻ không có công lao mà được thưởng thì dân, bên ngoài không lo việc cự địch, chém đầu giặc, bên trong không gấp ra sức canh tác, mà đều muốn dùng tiền của, hóa vật thờ kẻ giàu sang, làm việc thiện riêng, gây danh dự để được chức cao, lộc hậu. Vì vậy mà bọn bề tôi gian lo việc riêng càng đông mà bọn bạo loạn càng mạnh. Còn đợi gì nữa mà nước không mất? Hình nghiêm là cái dân sợ, phạt nặng là cái dân ghét, cho nên thánh nhân bày cái dân sợ ra để cấm kẻ tà; lập ra cái dân ghét để phòng kẻ gian, nhờ vậy mà nước yên, bạo loạn không nổi dậy. Tôi xét vậy mà biết rõ rằng nhân nghĩa, huệ ái không dùng được mà nghiêm hình trọng phạt có thể trị nước được. Không có cái uy của cây roi, cái lợi ích của hàm thiếc thì dù là Tháo Phủ[2] cũng không trị được ngựa; không có cái qui cái củ để vẽ, dây mực để vạch, thì dù là Vương Nhĩ[3] cũng không làm được hình tròn hình vuông; không có cái thế uy nghiêm, cái phép thưởng phạt thì dù là Nghiêu, Thuấn cũng không làm cho nước bình trị được. Bậc vua chúa ngày nay đều khinh bỏ trọng phạt, nghiêm hình, để làm cho huệ ái, mà muốn lập sự nghiệp bá vương thì cũng không thể được. Cho nên khéo trị nước thì làm sáng việc thưởng, đặt ra cái lợi để khuyến khích dân, khiến cho dân lập công để được thưởng chứ không mong được vua vì lòng nhân nghĩa mà ban ơn; đặt ra nghiêm hình, trọng phạt để cấm dân, khiến cho dân hễ có tội thì bị trừng phạt chứ không mong được vua vì lòng ân huệ mà tha cho. Như vậy kẻ không có công lao thì không mong được thưởng mà kẻ có tội thì không mong được tha. Ngồi xe có ngựa tốt thì đường bộ vượt được những hiểm trở trên dốc núi; cưỡi thuyền vững nắm cây chèo tốt thì đường thủy qua được thác ghềnh trên sông; nắm được pháp thuật; thi hành trọng phạt nghiêm minh thì lập được sự nghiệp bá vương. Trị nước mà dụng pháp thuật, thưởng phạt thì như trên bộ có xe chắc ngựa tốt, trên thủy có thuyền nhẹ, chèo tốt, tất phải thành công.
 
Chú thích:
[1] Tức điều nên làm, theo quan điểm Pháp gia, khác với điều nghĩa theo quan điểm Nho gia.
[2] Một người đánh xe giỏi thời xưa.
[3] Một người thợ giỏi thời xưa.

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Hàn Phi Tử   Fri Oct 11, 2013 11:00 pm

Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
Hàn Phi Tử
THIÊN XIX
SỨC TÀ (Trích)

(TÔ ĐIỂM SỰ GIAN TÀ)
Trong phần I chúng tôi đã nói thiên này có nhiều điểm đáng ngờ rằng người đời sau ngụy tác; tuy nhiên những ý chính đều hợp với chủ trương của Pháp gia. Chúng tôi chỉ trích dịch đoạn đầu: đừng tin sự bói toán và đừng trông cậy vào chư hầu; bỏ ba đoạn sau nói về pháp luật, thưởng phạt mà trong các thiên khác Hàn Phi đã bàn quá nhiều rồi.
*
Nước Triệu bói mai rùa, cỏ thi, được quẻ “đại cát” (rất tốt) bèn tấn công nước Yên (năm - 242). Yên bói mai rùa cỏ thi, được quẻ “đại cát” bèn tấn công Triệu. Kịch Tân thờ Yên, không có công mà nước Yên nguy[1]; Trâu Diễn thờ Yên, không có công mà đạo nước không còn.[2] Triệu trước thắng Yên, sau lại thắng Tề, tuy loạn mà khí tiết vẫn còn cao, tự cho mình ngang hàng với Tần. Không phải là vì mai rùa của Triệu linh mà mai rùa của Yên không linh[3].
(Vả lại) Triệu cũng đã có lần bói mai rùa cỏ thi về việc đem quân lên phía Bắc tính cướp nước Yên để cự Tần (năm 236) được quẻ “đại cát”. Nhưng Triệu mới bắt đầu đánh Đại Lương thì Tần đã đánh Thượng Đảng[4]; khi binh Triệu đến đất Lí (ở Yên) thì Triệu đã mất sáu thành về Tần; khi họ đến Dương Thành thì Tần đã chiếm đất Nghiệp[5]; Bàng Viên[6]vội kéo binh trở về Nam thì các thành để bảo vệ (ở đất Nghiệp) đã mất về Tần hết rồi. Vì vậy mà thần (tức Hàn Phi)[7] bảo mai rùa ở Triệu nếu không biết được rằng đánh Yên không thắng thì cũng phải biết rằng cự Tần là có hại chứ. Tần được quẻ đại cát mà thực sự đã mở rộng được đất đai, lại thêm cái danh là cứu được Yên. Triệu cũng được quẻ đại cát mà đất bị cướp, binh bị nhục, vua[8] buồn rầu mà chết. Lại cũng không phải mai rùa của Tần linh mà của Triệu không linh.
Mới đầu, nước Ngụy trong mấy năm quay về phía Đông, chiếm hết đất Đào và nước Vệ; rồi sau trong mấy năm quay về hướng Tây mà mất đất về Tần. Như vậy không phải là vì các sao (tốt) Phong long, Ngũ hành (Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ), Thái ất, Vương tương, Nhiếp đề, Lục thần, Ngũ quát, Thiên hà, Ân thương, Tuế tinh trong mấy năm ở về phương Tây cả[9]cũng không phải các sao (xấu) Thiên khuyết, Hồ nghịch, Hinh đinh, Huỳnh hoặc, Khuê, Thai, trong mấy năm đều ở phương Đông cả[10].
Vì vậy thần báo: Mai rùa cỏ thi, quỉ thần không đủ cho ta luận được sẽ thắng hay không; các sao ở bên phải, bên trái, sau lưng, trước mặt[11] không đủ cho ta quyết định nên ra quân hay không. Nếu ỷ vào đó thì không gì ngu bằng.
Xưa các đấng tiên vương hết sức thân dân và làm sáng tỏ pháp luật. Pháp luật sáng tỏ thì trung thần hăng hái, hình phạt cương quyết thì gian thần ngừng lại. Trung thần hăng hái, gian thần ngừng lại, mà đất mở rộng, vua được tôn, đó là trường hợp nước Tần. Quần thần kết bè đảng để che giấu chính đạo, làm việc cong queo riêng tư, đất bị cướp, vua bị khinh, đó là trường hợp lục quốc (Yên, Triệu, Hàn, Ngụy, Tề, Sở) ở phía đông núi Hoa. Yếu, loạn thì mất, thế thường con người là vậy; mạnh, trị thì lập được nghiệp vương, đạo từ thời xưa là vậy. Việt vương Câu Tiễn tin con rùa đại bằng (rùa thiêng của đất Việt), đánh nhau với nước Ngô, không thắng, phải đem thân làm bề tôi, hầu hạ vua Ngô; sau được trở về nước thì bỏ rùa, làm sáng tỏ pháp luật, thân dân để mưu tính việc trả thù nước Ngô, kết quả là bắt được Ngô vương Phù Sai. Vậy ỷ vào quỉ thần thì bỏ bê pháp luật.
Mà ỷ vào chư hầu thì nước sẽ nguy. Nước Tào[12] ỷ vào nước Tề mà không nghe nước Tống, khi Tề đánh nước Kinh (Sở) thì Tống diệt Tào; nước Hình[13] ỷ vào nước Ngô mà không nghe nước Tề, khi Việt đánh Ngô thì Tề diệt Hình; nước Hứa ỷ vào nước Kinh mà không nghe nước Ngụy, khi Kinh đánh Tống thì Ngụy diệt Hứa; nước Trịnh ỷ vào nước Ngụy mà không nghe nước Hàn, khi Ngụy đánh Kinh thì Hàn diệt Trịnh.
Nay nước Hàn nhỏ mà ỷ vào nước lớn, nhà vua bỏ bê (pháp luật) mà nghe Tần, Ngụy, ỷ vào Tề, Kinh thì càng mau mất nữa[14]. Ỷ vào người, không đủ để mở rộng đất đai, Hàn không thấy vậy. Kinh nhân đánh Ngụy mà tấn công luôn cả Hứa, Yên (đồng minh của Ngụy). Tề đánh Nhiệm và Hồ mà cướp đất của Ngụy, nhưng điều đó không đủ để cứu Trịnh,[15] Hàn không biết vậy. Các nước đó[16] đông (đồng?) không làm sáng tỏ pháp luật, cấm lệnh để trị nước, cứ ỷ vào nước ngoài mà khiến cho xã tắc bị diệt. (Bỏ từ đây)
 
Chú thích:
[1] Kịch Tân là tướng Yên, thua Triệu, bị Triệu bắt.
[2] Trâu Diễn là triết gia sáng lập phái Âm dương, người nước Tề, làm quân sư cho Yên Chiêu vương; “đạo nước không còn”, nguyên văn là: “quốc đạo tuyệt”, có người giảng là quốc đạo đó là đạo trị nước theo pháp gia; có người lại bảo là đường đi trong nước, (đường đi vắng người - tuyệt – vì Yên thua Triệu).
[3] Vì được quẻ “đại cát” mà sao Yên lại thua Triệu.
[4] Đại Lương là kinh đô Ngụy, không phải ở Yên, Triệu muốn cướp Yên mới đầu đánh Đại Lương có lẽ để Yên không ngờ; Thượng Đảng vốn là đất của Hàn, lúc đó thuộc về Triệu; Tần thấy Thượng Đảng bỏ trống thì Triệu không đề phòng, nên đem quân đánh.
[5] Dương Thành của Yên; đất Nghiệp của Triệu.
[6] Một danh tướng của Triệu, có sách gọi là Bàng Quyên.
[7] Một số học giả cho rằng thiên này là một bài biểu Hàn Phi dâng vua Hàn, nhưng thuyết đó không đáng tin.
[8] Tức Điệu Tương vương.
[9] Các sao tốt ở phương Tây, cho nên Ngụy ở phương Tây mới chiếm được Đào, Vệ ở phương Đông.
[10] Các sao xấu ở phương đông, cho nên Ngụy ở phương đông (đối với Tần) mới bị Tần (ở phương Tây) chiếm hết đất.
[11] Theo sách Hoài Nam tử thì môn thiên văn thời đó cho rằng nếu sao Hình ở phía trái hay phía trước, sao Đức ở phía phải hay sau lưng, mà ra quân thì tất thắng.
[12] Một nước nhỏ ở Sơn Đông ngày nay.
[13] Một nước nhỏ ở Trực Lệ ngày nay.
[14] Câu này có sách chấm câu ở sau chữ Tần mà dịch là: “…mà nghe Tần. Các nước nhỏ ỷ vào Ngụy, Tề, Kinh mà mau mất nước”. Chúng tôi theo Trần Khải Thiên.
[15] Câu này nữa cũng rất khó hiểu, ngờ rằng thiếu sót hoặc sai lầm.
[16] Có lẽ là các nước Hứa, Yên, Trịnh nói trong câu trên.

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Hàn Phi Tử   Sun Oct 13, 2013 2:55 pm

THIÊN XLVII
BÁT THUYẾT (Trích)

(TÁM ĐIỀU)
Nhan đề Bát thuyết (tám điều, tức tám hạng người không nên dùng) chỉ đúng với đoạn đầu; ba đoạn sau (lập pháp phải tuỳ thời, không thể trị nước bằng nhân ái được, đừng giao quyền cho bề tôi) không liên lạc gì với đoạn đầu mà cũng không liên lạc gì với nhau; vậy thiên này chỉ là một thiên tạp luận. Chúng tôi sẽ trích trọn đoạn đầu; vài câu trong đoạn 2 về thuyết “tam thế”, và phần đầu đoạn 4: pháp luật phải rõ ràng, vua phải phán đoán lấy, quyết định lấy mọi việc.
*
Vì người quen cũ mà làm việc riêng thì gọi là người không bỏ bạn; đem của công ra bố thí thì gọi là người nhân; khinh bổng lộc, trọng thân mình thì gọi là quân tử; uốn cong pháp luật vì người thân thì gọi là người có tình nghĩa[1]; bỏ chức quan mà thích giao du thì gọi là người hào hiệp; lánh đời trốn vua thì gọi là người cao ngạo; tranh thắng với người trên, làm trái lệnh trên, thì gọi là người cứng cỏi; thi ân để lấy lòng mọi người thì gọi là người được lòng dân.
Nhưng có người không bỏ bạn thì có quan lại gian; có người nhân thì hao tổn của công; có quân tử thì dân khó sai khiến; có người tình nghĩa thì pháp chế bị huỷ bỏ; có người hào hiệp thì quan chức bỏ trống; có người cao ngạo thì dân không làm nhiệm vụ; có người cứng cỏi thì lệnh không thi hành; có người được lòng dân thì vua cô độc. Tám hạng người được thế tục khen đó là cái hại lớn của vua chúa, mà tám hạng người ngược lại, bị thế tục chê, là cái lợi chung của vua chúa. Bậc vua chúa không xét cái lợi hại của xã tắc, dùng hạng người được thế tục khen mà muốn cho nước không nguy loạn là điều không thể được.
Bổ nhiệm người làm việc là cái then chốt của sự tồn vong, trị loạn. Không có thuật để bổ nhiệm thì sẽ luôn luôn thất bại. Bậc vua chúa khi bổ nhiệm ai, nếu không lựa người có tài trí thì lựa người có đức; bổ nhiệm họ tức là cho họ có quyền hành. Nhưng kẻ sĩ có tài trí chưa nhất định đã đáng tin; vua thấy họ có tài trí mà không biết rằng họ vị tất đã đáng tin, nếu họ dùng mưu trí, dựa vào quyền hành của chức vụ, mà làm việc riêng tư thì vua tất bị gạt. Vì kẻ có tài trí chưa đáng tin, nên vua lại bổ nhiệm kẻ sĩ có đức. Bổ nhiệm ai là cho người đó quyết đoán công việc[2]. Nhưng kẻ sĩ có đức chưa nhất định là có tài trí, vua thấy họ giữ mình cho liêm khiết mà không biết rằng họ vị tất đã có tài trí. Kẻ ngu hôn ám mà giao cho một chức quan, để họ quyết định công việc, họ quyết định bậy mà cho là đúng[3] thì công việc tất phải rối loạn. Do đó, không có thuật, mà bổ nhiệm người tài trí thì vua bị gạt, bổ nhiệm người có đức thì việc rối loạn, cái hại không có thuật như vậy.
Cái đạo minh quân là người hèn được quyền tố cáo việc gian của người sang, thượng cấp có tội, thuộc hạ không tố cáo thì bị liên lụy; vua muốn biết rõ sự thực thì phải tham bác ý kiến nhiều người, không nên chuyên nghe lời một người; như vậy kẻ sĩ tài trí mới không gạt vua được. Xét công rồi mới thưởng, lượng tài năng rồi mới giao việc, xét kĩ đầu đuôi, xem sự thành bại, kẻ có lỗi thì trị tội, kẻ có tài năng thì dùng; như vậy kẻ ngu sẽ không được bổ nhiệm. Kẻ có tài trí không dám gạt vua, kẻ ngu không được quyết đoán thì công việc không hỏng.
Cái gì mà kẻ sĩ có óc tinh tế[4] mới biết được thì không nên ban làm lệnh, vì không phải người dân nào cũng có óc tinh tế cả. Cái gì mà bậc hiền[5] mới làm được thì không nên dùng phép tắc, vì không phải người dân nào cũng hiền cả. Dương Chu, Mặc Địch là những người được coi là có óc tinh tế trong thiên hạ, nhưng họ gặp[6] thời loạn mà rốt cuộc không làm cho hết loạn được, cho nên tuy họ có óc tinh tế cũng không thể dùng làm chức trưởng quan được[7]. Bảo Tiêu và Hoa Giác[8] là những người được coi là bậc hiền nhưng Bảo Tiêu thì chết như cây khô, Hoa Giác thì nhảy xuống sông, cho nên tuy họ là bậc hiền mà không thể dùng họ để cày ruộng, đánh giặc được. Vì vậy bậc vua chúa chỉ xem trọng[9] kẻ sĩ nào trổ hết tài hùng biện của họ, chỉ tôn kẻ sĩ nào có tài năng làm hết công việc của họ. Ngày nay bậc vua chúa xem trọng lời biện thuyết vô dụng, tôn những hành động không có công dụng; như vậy mà muốn cho nước giàu mạnh thì không thể được.
Học rộng mà hùng biện, sáng suốt (biện trí) thì như Khổng, Mặc, nhưng Khổng, Mặc không cày bừa thì nhờ họ được gì đâu? Luyện đức hiếu, ít ham muốn thì như Tăng Sâm, Sử Ngư, nhưng Tăng Sâm, Sử Ngư không ra trận thì có lợi gì cho nước đâu? Người dân thường có cái lợi riêng, bậc vua chúa có cái lợi chung. Không làm lụng mà đủ ăn, không làm quan mà hiển danh, đó là lợi riêng. Chấm dứt văn học mà làm sáng pháp độ, ngăn chặn tư lợi, nhất thiết tước lộc đều do có công mới được, đó là cái lợi chung. Ban bố pháp luật để dẫn dắt mà lại còn quí văn học thì dân còn nghi ngờ khi tuân theo pháp luật; thưởng công để khuyến khích dân mà lại còn trọng sự sửa đức thì dân sẽ biếng nhác trong việc sản xuất. Quí văn học để cho dân nghi pháp lệnh, trọng đức hạnh, khiến cho việc lập công không do một đường (là làm ruộng đánh giặc) nữa, mà muốn cho nước giàu mạnh thì không thể được.
*
Người đời (thượng) cổ gấp lo về đức hạnh, người đời trung cổ[10]ganh nhau về trí, người đời nay tranh nhau về sức mạnh. Thời thượng cổ ít việc mà sự thiết bị đơn giản, chất phác thô lậu mà không tính (tinh?) cho nên mài vỏ trai lớn để giẫy cỏ, dùng xe bánh không có tay hoa[11]. Thời thượng cổ người ít mà thân nhau, tài vật nhiều, nên người ta khinh cái lợi mà dễ nhường nhau, do đó mới có việc vái nhau mà nhường thiên hạ[12]. Nhưng thi hành chính sách vái nhường, đề cao lòng từ huệ và giảng đạo nhân hậu đều là thứ chính trị chất phác[13] cả. Sống ở thời nhiều việc mà dùng những khí cụ của thời ít việc, không phải là cách xử sự của người có trị (trí?). Giữa cái đời tranh nhau gay gắt mà theo lối vái nhường, không phải là phép trị nước của thánh nhân. Cho nên người có trí không ngồi cỗ xe bánh không có tay hoa, thánh nhân không thi hành chính sách chất phác. Sách mà giản ước thì (khó hiểu mà) học trò tranh biện (về ý nghĩa trong sách); pháp luật mà tỉnh lược thì dân chúng hay tranh tụng. Vì vậy sách của thánh nhân nghị luận tất rõ ràng, pháp luật của mình chủ ghi việc tất tường tận. Hết sức suy nghĩ, tính trước sự đắc thất, thì người trí (cũng) cho là khó; không cần suy nghĩ (tính trước), cứ nắm lấy lời nói lúc đầu mà xét xem công việc làm về sau có hợp với lời nói đó không (để biết người nói có tài năng hay không), thì kẻ ngu cũng thấy là dễ. Bậc minh chủ làm theo cách kẻ ngu cho là dễ mà không dùng cách người trí cho là khó, vì vậy không dùng trí lực mà nước trị. Không dùng lưỡi để phán đoán các vị chua ngọt mặn nhạt mà để cho người đầu bếp quyết định thì người bếp sẽ coi thường vua mà trọng đầu bếp; không dùng tai để phán đoán các thanh bổng trầm trong đục mà để cho nhạc trưởng quyết định thì nhạc công[14] sẽ coi thường vua mà trọng nhạc trưởng. Không dùng thuật để phán đoán việc trị nước phải hay quấy mà để cho kẻ được sủng ái quyết định thì bề tôi sẽ coi thường vua mà trọng kẻ được sủng ái. Bậc vua chúa không đích thân xem và nghe mà để người dưới quyết đoán mọi việc thì chỉ là kẻ ăn nhờ trong nước (Bỏ từ đây)
 
Chú thích:
[1] Nguyên văn là hạnh: chúng tôi theo chú thích của Trần Khải Thiên.
[2] Hai câu này có nhà chấm câu khác và dịch là: Vậy kẻ sĩ có tài trí không thể tin được. Bổ nhiệm kẻ sĩ có đức là khiến họ quyết đoán công việc.
[3] Câu này có người hiểu là… mà làm theo ý họ. Nguyên văn nhi vi kì sở nhiên. Nghĩa cũng vậy.
[4] Nguyên văn là “sát sĩ”. Sát là xét. Trần Khải Thiên bảo “sát sĩ” cũng như “trí sĩ”, kẻ sĩ sáng suốt. Có nhà bảo là kẻ sĩ biết xa. Chúng tôi theo Giả Nghị tân thư. Có óc tinh tế nghĩa là thấy những điều tế vi mà thiên hạ không thấy.
[5] Hiền ở đây không phải là bậc hiền tài, mà là người theo đạo, ở ẩn.
[6] Nguyên văn là “can”, có sách giảng là làm bớt (cái loạn).
[7] Nguyên văn là: quan chức chi lệnh. Chữ lệnh này như chữ huyện lệnh, chủ một huyện. Có sách dịch là: không dùng làm lệnh cho quan chức theo được.
[8] Bảo Tiêu: ẩn sĩ đời Chu không chịu thần phục nhà Chu, ôm gốc cây mà chết – Hoa Giác: chưa biết là ai.
[9] Nguyên văn là “sát”, nhưng nên theo nghĩa thường là “xét”, chứ không phải nghĩa trong “sát sĩ” ở trên.
[10] Thời thượng cổ đây trỏ đời Nghiêu, Thuấn, Thang, Vũ, Văn vương, Võ vương; thời trung cổ trỏ đời Xuân Thu.
[11] Nguyên văn là “truy xa”. “Truy” nghĩa là chậm chạp; có thể hiểu là chất phác. Trần Khải Thiên giảng là thứ xe mà bánh là một khối không có tay hoa, thời Nghiêu, Thuấn người Trung Hoa chưa biết dùng bánh xe có tay hoa. Nhưng có sách bảo là “thối xa” nghĩa là xe đẩy, chứ chưa có ngựa kéo; e lầm.
[12] Ám chỉ việc Nghiêu, Thuấn nhường ngôi.
[13] Nguyên văn: “truy chính”. Có sách bảo là “thôi chính”; e sai.
[14] Nguyên văn là “cổ công” là nhạc công mù. Thời đó người ta thường dùng những nhạc công mù.

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Hàn Phi Tử   Mon Oct 14, 2013 8:11 pm

THIÊN XV
VỌNG TRƯNG

(ĐIỀM MẤT NƯỚC)
1. Hễ nước của vua nhỏ mà thái ấp của đại phu lớn, quyền vua nhẹ mà thế của bề tôi nặng thì có thể mất nước.
2. Bỏ pháp luật, cấm lệnh mà chuyên dùng mưu trí, trễ nải việc nội chính mà trông vào ngoại viện thì có thể mất nước.
3. Quần thần chăm giảng học, con em các đại phu thích diễn thuyết, con buôn lo tích trữ ở ngoài, dân nghèo khốn đốn ở trong thì có thể mất nước.
4. Vua thích cung thất, đài tạ,[1] đồi ao, ham xe ngựa, y phục, ngoại vật,[2] khiến trăm họ lao khổ, tài sản cháy rụi (khô kiệt) thì có thể mất nước.
5. Coi ngày giờ (tốt xấu), thờ quỉ thần, tin bói toán, thích cúng tế thì có thể mất nước.
6. Nghe lời kẻ có chức tước, không tham khảo lời nói của nhiều người, lệnh ban xuống và lời tâu lên đều phải qua một người thì có thể mất nước.
7. Quan chức có thể nhờ người có thế lực mà có, tước lộc có thể nhờ hối lộ mà được thì có thể mất nước.
8. Trì hoãn khiến việc không thành, nhu nhược mà không quyết đoán, lúc yêu lúc ghét, lập trường không nhất định thì có thể mất nước.
9. Tham lam không biết chán, chỉ ham lợi mà muốn được thì có thể mất nước.
10. Ham lạm dụng hình phạt mà không theo pháp luật, thích biện thuyết mà không cầu thực dụng, say mê hư văn, không xét xem có công hiệu hay không thì có thể mất nước.
11. Nông nổi, để người ta thấy lòng dạ mình, tiết lộ điều bí mật mà không giấu được, đem lời nói của quần thần kể lại cho người khác nghe thì có thể mất nước.
12. Hung hãn, không hoà nhã, ương ngạnh không nghe lời can gián mà hiếu thắng, không nghĩ tới quốc gia, khinh suất tự tín thì có thể mất nước.
13. Ỷ vào sự kết giao, viện trợ (của nước xa) mà khinh thường các nước láng giềng gần, trông vào sự cứu giúp của nước lớn mà khiêu khích nước sát nách với mình thì có thể mất nước.
14. Để bọn cư sĩ kiều cư nước mình nhận nhiều tiền hối lộ của nước ngoài, trên thì bàn mưu kế với vua, dưới thì tiếp xúc với dân, như vậy có thể mất nước.
15. Dân không tín nhiệm tướng quốc, kẻ dưới không yêu quí bề trên, mà vua vẫn tin yêu không phế bỏ ông ta thì có thể mất nước.
16. Không dùng hào kiệt trong nước mà tìm và phong kẻ sĩ nước ngoài, không trắc nghiệm bằng công lao mà thích căn cứ vào danh vọng để cử dụng hay truất bỏ, bọn du sĩ kiều cư đột nhiên được tôn quí, lấn các bề tôi cố cựu, như vậy có thể mất nước.
17. Khinh đích tử (con trưởng, tức thái tử), coi ngang hàng với con thứ, (hoặc) ngôi thái tử chưa định mà vua đã qua đời thì có thể mất nước.
18. Không thận trọng[3] mà không biết hối hận, nước loạn mà tự cho mình là hiền tài, không lượng thực lực trong nước mà khinh thị kẻ địch ở bên cạnh, thì có thế mất nước.
19. Nước nhỏ mà không xử nhũn, sức yếu mà không kiêng nước mạnh, vô lễ mà khinh lờn nước láng giềng mạnh, tham lam, ương ngạnh, vụng giao thiệp, thì có thể mất nước.
20. Đã lập thái tử rồi mà còn cưới vợ từ nước địch mạnh, lập làm hoàng hậu thì thái tử nguy, quần thần sinh ra nghi ngờ, suy nghĩ, thì có thể mất nước.
21. Khiếp nhược, cam phận, tuy sớm thấy mối hoạ mà vì nhu nhược, không ngăn cấm được, tuy biết rằng việc có thể làm được mà không dám làm, thì có thể mất nước.
22. Vua còn lưu vong tại nước ngoài, trong nước lập vua khác; thái tử làm con tin ở nước ngoài chưa về mà vua lập thái tử khác thì trong nước chia rẽ, như vậy có thể mất nước.
23. Làm nhục đại thần, sau lại thân cận với họ, trừng phạt nặng dân nhỏ, tàn ngược với họ[4], họ bị nhục, bị ngược đãi, sẽ nuôi lòng oán hận mà lại được gần vua thì tất âm mưu ám hại vua, như vậy có thể mất nước.
24. Có hai đại thần quyền cao ngang nhau, bậc cha anh có nhiều người mạnh thì ở trong họ sẽ kết bè đảng, ở ngoài sẽ cầu ngoài viện để tranh việc, giành thế lực, như vậy có thể mất nước.
25. Nghe lời tì thiếp, dùng mưu trí của bọn sủng thần, khiến trong ngoài đều buồn hận, mà lại thường làm những điều trái pháp luật, thì có thể mất nước.
26. Khinh rẻ, làm nhục đại thần, vô lễ với bậc cha anh, làm cho dân chúng lao khổ, giết hại kẻ vô tội, thì có thể mất nước.
27. Thích dùng trí thông minh của mình để sửa đổi pháp luật, lại hay xen lẫn việc riêng vào việc công, thay đổi pháp luật hoài, lệnh bất nhất thì có thể mất nước.
28. Không có địa thế hiểm yếu, thành quách lại không kiên cố, không tích trữ, tài vật ít không chuẩn bị việc phòng vệ mà lại khinh suất tấn công nước khác, thì có thể mất nước.
29. Dòng giống (nhà vua) không thọ, vua thường chết yểu, trẻ con lên nối ngôi, đại thần chuyên chế, nuôi ngoại kiều để gây đảng, thường cắt đất để kết giao cầu viện, thì có thể mất nước.
30. Thái tử được tôn hiển, có bộ hạ nhiều và mạnh, hay kết giao với nước lớn, sớm có đủ uy thế, thì có thể mất nước.
31. Lòng dạ hẹp hòi, nóng nảy, nông nổi dễ xúc động, lúc giận dữ thì không nghĩ trước nghĩ sau, như vậy có thể mất nước.
32. Vua hay nổi giận mà thích dùng binh, lơ là nghề gốc (nghề nông) và việc luyện binh mà khinh suất tấn công thì có thể mất nước.
33. Các quí nhân (bậc cha anh nhà vua) ganh ghét nhau, bọn đại thần có thế lực lớn, bên ngoài dựa vào nước địch, bên trong làm khốn khó trăm họ, để đả kẻ thù riêng, mà vua không trừng phạt, thì có thể mất nước.
34. Vua bất tiểu mà em thuộc dòng trắc thất (vợ lẽ của cha) lại hiền, thái tử bị khinh mà thứ tử bình đẳng với thái tử, quan lại nhu nhược mà nhân dân khó chế ngự thì nước hỗn loạn có thể mất nước.
35. Giấu nỗi giận không cho phát ra, treo tội đó không phạt ngay, khiến cho bề tôi vừa thầm oán vừa thêm sợ, (hồi hộp) lâu mà không biết thân phận sẽ ra sao, như vậy có thể mất nước.
36. Tướng cầm quân có quyền lớn quá, quan giữ biên cương được tôn quá, họ chuyên chế, tự ý hành động, không xin lệnh của vua, thì có thể mất nước.
37. Hoàng hậu dâm loạn, thái hậu ô uế (không trinh tiết), người ngoài hỗn loạn ra vào cung cấm, trai gái không phân biệt, như vậy gọi là “có hai vua”, có thể mất nước.
38. Hoàng hậu bị khinh mà tì thiếp được quí, thái tử bị biếm, mà thứ tử được tôn, tướng quốc bị khinh mà quan điển yết[5] được trọng, như vậy thì trong ngoài khác nhau, có thể mất nước.
39. Đại thần quyền thế lớn quá, bè đảng đông và mạnh, ngăn cản quyết đoán của vua mà chuyên quyền trị nước, thì có thể mất nước.
40. Dùng tư nhân của đại thần làm quan, truất bỏ con cháu các chiến sĩ, cất nhắc người được làng xóm khen mà phế bỏ các quan chức có công lao với nước, trọng tứ đức mà coi nhẹ công với nước, thì có thể mất nước.
41. Nhà công trống rỗng mà nhà đại thần đầy (của cải), dân trong nước nghèo khổ mà kiều dân giàu có, kẻ làm ruộng và đánh giặc khốn cùng còn kẻ làm nghề ngọn (công và thương) thì có lợi, như vậy có thể mất nước.
42. Thấy lợi lớn mà không sấn tới, biết có mầm hoạ mà không đề phòng, trễ nải việc tranh thủ, mà dùng nhân nghĩa để tự trau dồi thì có thể mất nước.
43. Không theo cái hiếu của bậc vua chúa mà hâm mộ cái hiếu của dân thường,[6] không nghĩ tới cái lợi của quốc gia mà tuân theo mệnh lệnh của mẫu hậu, để cho đàn bà nắm chính quyền, bọn hoạn quan điều khiển việc nước, như vậy có thể mất nước.
44. Lời nói thì hay mà không theo pháp độ, lòng có trí mưu mà không có thuật, vua đa tài mà không dùng pháp độ để làm việc thì có thể mất nước.
45. Bề tôi mới thì được tiến dụng, bề tôi cũ phải lui về, kẻ bất tiếu được dùng, người hiền lương phải ở ẩn, kẻ không có công lao được quí hiển mà kẻ lao khổ chịu cảnh thấp hèn, như vậy thì kẻ dưới sẽ oán hận, mà có thể mất nước.
46. Các bậc cha anh và đại thần, lộc và trật lớn hơn công lao, y phục vượt đẳng cấp của họ, cung thất và sự cung dưỡng quá xa xỉ mà vua không cấm, như vậy bề tôi tất tham lam không biết đâu là cùng, mà có thể mất nước.
47. Rể và cháu của vua ở cùng xóm với dân mà tàn bạo, ngạo mạn với hàng xóm thì có thể mất nước.
*
“Điềm mất nước” không có nghĩa là nhất định sẽ mất nước mà có nghĩa là có thể mất nước. Hai ông Nghiêu không thể làm cho nhau cùng dựng được nghiệp vương, hai ông Kiệt không thể làm cho nhau cùng mất nước. Cái cơ mất nước và dựng nghiệp vương tất phải do (cùng một lúc có) một nước trị một nước loạn, một nước mạnh một nước yếu, khác nhau xa. Cây mà gẫy là do sâu mọt, tường mà đổ là do kẽ nứt. Nhưng cây tuy bị sâu mọt mà không có gió mạnh thì cũng không gãy; tường tuy có kẽ nứt mà không có mưa to thì cũng không đổ. Ông vua một nước vạn cỗ xe mà biết thi hành pháp thuật, làm gió mưa đối với các ông vua có điềm mất nước thì việc thôn tính thiên hạ không có gì là khó.
 
 
Chú thích:
[1] Nền cao gọi là đài, trên nền đó dựng một ngôi nhà gọi là tạ.
[2] Đồ chơi quí, đẹp.
[3] Nguyên văn: đại tâm, trái với tiểu tâm. Tiểu tâm là cẩn thận.
[4] Nguyên văn: nghịch kì sử, có sách cho rằng chữ nghịch đó chính là chữ cận (gần) và dịch là: cho giữ chức ở bên mình. Chúng tôi theo Trần Khải Thiên, cho chữ nghịch đó là ngược.
[5] Coi về việc các tân khách xin yết kiến vua.
[6] Hiếu kinh có câu: phân biệt cái hiếu của chư hầu (bảo tồn được xã tắc, hoài với nhân dân) với cái hiếu của dân thường (giữ gìn thân mình, tiết kiệm để nuôi được cha mẹ). Vì vậy có người ngờ rằng thiên này hoặc ít nhất điều 43 này không phải của Hàn Phi viết.

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Hàn Phi Tử   Tue Oct 15, 2013 4:01 pm

Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
Hàn Phi Tử
THIÊN XXX
NỘI TRỪ THUYẾT THƯỢNG – THẤT THUẬT (Trích)

(NHỮNG THUẬT ĐỂ DÀNH MÀ DÙNG – THIÊN NỘI, THƯỢNG – BẢY THUẬT)
 
Đây là thiên đầu trong một loạt sáu thiên mang chung một nhan đề: trừ thuyết; nghĩa là những “thuyết”, những quy tắc, những thuật để dành (trừ) mà dùng trong việc trị nước.
Có hai thiên “nội”: thượng (XXX) và hạ (XXXI) với bốn thiên “ngoại”: tả thượng (XXXII) và tả hạ (XXXIII), hữu thượng (XXXIV), hữu hạ (XXXV). Những chữ thượng, hạ, tả, hữu chỉ để đánh số thứ tự. Còn hai chữ nội và ngoại thì có sách giảng rằng: nội là những thuật liên quan tới việc bên trong, tức việc chế ngự bề tôi; ngoại là những thuật liên quan tới việc bên ngoài, tức việc quan sát lời nói và hành vi của bề tôi để dùng họ, thưởng hay phạt họ. Chúng tôi nghĩ cách giảng đó gượng ép vì thưởng phạt cũng là một cách chế ngự bề tôi. Cho nên chúng tôi theo thuyết của Dực Xuế: nội và ngoại cũng chỉ để đánh số (như trong Trang Tử có Nội thiên và Ngoại thiên) chứ không có ý nghĩa gì cả.
Cả sáu thiên đều chắc chắn là của Hàn Phi, đều chép những thuật để trị nước (chép một cách lộn xộn, trừ hai thiên Nội là hơi có thứ tự) và đều có một lối trình bày đặc biệt, không giống các thiên khác: mới đầu Hàn Phi đưa ra các quy tắc, các thuật, dẫn chứng vắn tắt nên khó hiểu, phần đó gọi là kinh; khi đưa ra hết các quy tắc, tức hết phần kinh rồi, mới tới phần truyện, tức phần giải thích rõ ràng các chỗ dẫn chứng trong phần kinh.
Sáu thiên đó rất dài và rườm, nhiều chỗ ý giống nhau, dịch hết thì phải trên một trăm trang, nên chúng tôi dịch trọn thiên XXX, còn những thiên khác thì chỉ dịch hết các thuật trong phần kinh, và lựa một số cố sự trong phần truyện thôi. Cố sự nào để giải thích kinh nào thì chúng tôi để ngay sau kinh đó, chứ không theo cách trình bày trong nguyên tác: gom hết các kinh lên trên và tách hết các truyện (cố sự) ra, đặt xuống dưới. Để phân biệt tôi cho in phần kinh bằng chữ ngả.
*
Trong thiên XXX này, Hàn Phi đưa ra bảy thuật (bảy kinh):
Kinh 1. Tham khảo ý kiến. Không tham khảo nhiều ý kiến thì không biết được thực tình. Nếu chỉ nghe, tin một người thôi (cũng như vô nhà chỉ do một cửa) thì bề tôi sẽ che lấp vua. Thuật này rút từ:
a/ Truyện người (hề) lùn mộng thấy bếp;
b/ Lời của Ai công: “Không mưu tính với nhiều người thì sẽ mê hoặc”;
c/ Truyện người nước Tề thấy Hà Bá;
d/ Lời Huệ tử bảo: “mất phân nửa số người”.
Cái hại sẽ như:
đ/ Thúc Tôn bị Thụ Ngưu bỏ đói;
e/ Lời Giang Ất nói về tục nước Kinh;
g/ Vệ Tự công muốn trị nước mà không biết cách khiến cho thế lực của đại thần và sủng phi ngang nhau.
Bởi vậy bậc minh chủ phải:
h/ Biết chứa sắt (đề phòng mũi tên bắn vào nhà);
i/ Xét mối lo chợ có cọp.
*
Truyện 1. a/ Thời Vệ Linh công, Di Tử Hà được vua yêu nên chuyên quyền ở Vệ. Một người (hề) lùn yết kiến Linh công, tâu:
- Giấc mộng của thần đã ứng nghiệm.
Công hỏi:
- Mộng thấy gì?
(chỗ này sắp chữ thiếu, đại khái người hề lùn nói mộng thấy bếp).
Công giận, bảo:
- Ta nghe nói sắp gặp vua thì mộng thấy mặt trời. Sao ngươi trước khi yết kiến quả nhân lại mộng thấy bếp?
- Mặt trời chiếu khắp một nước, không người nào làm khuất được; vì vậy mà khi sắp gặp vua mới mộng thấy mặt trời. Còn bếp, một người đứng nấu (phía trước) thì người phía sau không thấy lửa nữa. Hoặc giả có một người nào đó[1] che khuất nhà vua chăng? Nếu vậy thì thần mộng thấy bếp, cũng là phải đấy chứ?
b/ Lỗ Ai Công hỏi Khổng Tử:
- Không cùng nhiều người mưu tính thì sẽ mê hoặc. Nay quả nhân làm việc gì cũng bàn tính với quần thần mà nước càng loạn thêm là tại làm sao?
Khổng tử đáp:
- Bậc minh chủ hỏi quần thần thì có một người biết lại có một người không biết, như vậy là minh chủ ở trên, quần thần thẳng thắn bàn luận ở dưới. Nay quần thần đều răm rắp nói theo Quí Tôn[2] thành thử cả nước hóa là một, dù nhà vua có hỏi khắp người trong nước, nước cũng không khỏi loạn được.
*
Một thuyết khác bảo:[3]
Khi Án Tử[4] qua thăm nước Lỗ, Ai Công cũng hỏi:
- Ngạn ngữ có câu: “Không có ba người cùng mưu tính thì sẽ mê hoặc”. Nay quả nhân cùng với mọi người trong nước mưu tính mà nước Lỗ không khỏi loạn là sao?
Án Tử đáp:
- Người xưa bảo: “không có ba người cùng mưu tính thì sẽ mê hoặc” là vì có một người sai thì có hai người tính đúng, ba người đủ thành số đông rồi. Cho nên mới bảo: “không có ba người cùng mưu tính thì sẽ mê hoặc”. Nay bề tôi nước Lỗ có hàng trăm, hàng ngàn mà đều nói theo ý riêng của họ Quí, như vậy số người tuy đông nhưng cũng chỉ là có một người nói, đâu được tới ba?
c/ Có người nước Tề tâu với vua Tề: “Hà Bá[5] là một vị thần lớn, sao đại vương không thử gặp ngài? Thần có thể làm cho đại vương gặp được”. Rồi lập đàn trên sông lớn, cùng với vua Tề đứng trên đàn. Một lát sau, một con cá lớn quẫy lên, anh ta bảo: “Hà Bá đấy”.
d/ Trương Nghi muốn mượn thế của Tần, Hàn, và Ngụy để đánh Tề, Kinh (Sở), mà Huệ Thi muốn Tề, Kinh giúp để ngưng chiến. Hai người tranh luận với nhau. Các quần thần và tả hữu đều theo chủ trương của Trương Nghi, cho việc đánh Tề, Kinh là có lợi, mà không nghe lời của Huệ Tử. Vua nghe lời Trương Nghi, cho lời Huệ tử là không thi hành được. Việc đánh Tề và Kinh đã quyết định, Huệ tử vô yết kiến vua. Vua bảo:
- Tiên sinh đừng nên nói thì hơn. Việc đánh Tề và Kinh quả là có lợi, cả nước đều nghĩ như vậy.
Huệ tử nhân đó mới tâu:
- Cần phải xét kĩ. Nếu việc đánh Tề, Kinh quả thực có lợi mà cả nước đều cho là có lợi thì sao người trí đông được đến thế! Sở dĩ phải bàn tính là vì còn nghi ngờ; nếu quả thực có sự nghi ngờ thì tất phân nửa cho là nên, phân nửa cho là không nên. Nay cả nước cho là nên, tức thị là nhà vua mất phân nửa người (đưa ý kiến) rồi đó. Chúa bị lấn hiếp nên mới mất phân nửa người như vậy.
đ/ Thúc Tôn làm tướng quốc nước Lỗ, chức cao và chuyên quyền. Một người được ông ta yêu tên là Thụ Ngưu cũng tự chuyên, lạm dụng mệnh lệnh của ông. Con trai Thúc Tôn tên là Nhâm bị Thụ Ngưu ghét, muốn giết. Một hôm Thụ Ngưu cùng với Nhâm vô chơi trong cung vua Lỗ, vua Lỗ ban cho Nhâm một chiếc vòng ngọc. Nhâm vái nhận mà không dám đeo, nhờ Thụ Ngưu xin phép cha để đeo. Thụ Ngưu nói gạt cậu ta: “Tôi đã xin phép cho cậu rồi, ngài bảo cậu đeo đi”. Nhâm bèn đeo. Thụ Ngưu nhân đó bảo Thúc Tôn: “Sao ngài không dắt cậu Nhâm yết kiến vua?”. Thúc Tôn đáp: “Nó còn con nít, không đáng cho yết kiến”. Thụ Ngưu nói: “Cậu Nhâm đã mấy lần yết kiến vua, vua ban cho vòng ngọc, cậu đã đeo”. Thúc tôn gọi Nhâm về, thấy Nhâm đeo vòng ngọc thật, ông nổi giận giết Nhâm.
Anh của Nhâm là Bính, cũng bị Thụ Ngưu ghét, muốn giết, Thúc Tôn đúc cho Bính một cái chuông, đúc xong Bính không dám đánh, nhờ Thụ Ngưu xin phép cho đánh. Thụ ngưu không xin giùm, lại nói gạt cậu ta là: “Tôi đã xin phép cho cậu rồi đấy, ngài bảo cứ đánh đi”. Thúc Tôn nghe tiếng chuông bảo: "Thằng Bính không xin phép tao mà tự ý đánh chuông", rồi nổi giận đuổi đi. Bính chạy qua Tề; được một năm. Thụ Ngưu xin lỗi Thúc Tôn cho Bính. Thúc Tôn sai Thụ Ngưu triệu Bính về. Hắn không triệu mà báo với Thúc Tôn: “Tôi triệu về mà cậu ấy giận lắm, không chịu về”. Thúc Tôn nổi dóa, sai người giết Bính.
Thế là hai người con đã chết cả. Vì vậy, khi Thúc Tôn đau, Thụ Ngưu một mình săn sóc ông ta, đuổi hết kẻ tả hữu, không cho ai vào, bảo: “Ông Thúc Tôn không chịu được tiếng người”. Rồi không cho ông ta ăn, để ông ta chết đói. Thúc tôn chết rồi. Thụ ngưu không phát tang, lấy hết báu vật trong kho trốn qua Tề. Nghe lời người mình tin cậy đến nỗi cha lẫn con bị người giết, cái họa không tham khảo ý kiến nhiều người như vậy đó.
e/ Giang Ất vì vua Ngụy đi sứ nước Kinh, bảo vua Kinh:
- Thần vô biên cảnh nhà vua, nghe nói quí quốc có tục này: “Người quân tử không che cái tốt của người, không vạch cái xấu của người”, có thực vậy chăng?
Vua đáp: Có
- Vậy thì làm loạn như Bạch Công tất thành công mà nước Kinh phải nguy chứ? Nếu quả thực vậy thì bề tôi miễn tội chết (ý muốn nói: có điều xấu mà không bị tố cáo thì có tội gì đâu)[6]
g/ Vệ Tự công (con Vệ Bình hầu) trọng Như Nhĩ và yêu nàng Thế Cơ, sợ hai người đó được trọng được yêu mà che lấp mình, bèn cho Bạc Nghi một chức cao để địch với Như Nhĩ và tôn nàng Ngụy Cơ ngang với Thế cơ. Ông bảo: Như vậy để họ bàn bạc với nhau[7]. Ông muốn khỏi bị che lấp nhưng chưa nắm được cái thuật để khỏi bị che lấp. Không cho người hèn cùng bàn bạc với người sang, kẻ dưới tố cáo người trên mà cứ phải đợi có những kẻ quyền thế ngang nhau rồi mới được bàn bạc với nhau thì tức là làm cho có thêm nhiều bề tôi che lấp mình[8]. Tự công bị che lấp là bắt đầu từ đó.
h/ Nếu tên bắn tới có hướng nhất định thì phải chứa sắt để phòng bị phía đó; nếu không có hướng nhất định thì phải cất nhà bằng sắt để phòng bị mọi phía; phòng bị như vậy thì mình không bị thương. Vua mà phòng bị hết các bề tôi thì bề tôi không còn ai là gian nữa.
i/ Bàng Cung (mưu thần nước Ngụy) sắp đưa thái tử qua làm con tin ở Hàm Đan (kinh đô nước Triệu, nay ở Hà Bắc), tâu với vua Ngụy:
- Có người nói rằng chợ có cọp, đại vương tin không?
Vua đáp:
- Không.
- Hai người nói thì đại vương tin không?
- không.
- Ba người nói thì đại vương tin không?
- Quả nhân tin.
Bàng Cung bèn thưa:
- Chợ thì không có cọp được, điều đó hiển nhiên. Vậy mà ba người nói thì chợ hóa ra có cọp. Nay từ Hàm Đan cách nước Ngụy xa hơn là (từ triều đình tới) chợ, mà bọn bề tôi bàn ra nói vào đông hơn ba người, xin đại vương xét cho điều đó.
Bàng Cung đi Hàm Đan về, không được vô yết kiến vua nữa[9].
*
Kinh 2. Cương quyết trừng phạt. Nhân ái thái quá thì pháp độ không thi hành được, uy nghiêm không đủ thì kẻ dưới lấn người trên. Hình phạt không cương quyết thì cấm lệnh không được tuân.
Thuật này rút ra từ:
a/ Truyện Đổng Tử đi thăm Thạch ấp.
b/ Truyện Tử Sản dạy Du Cát.
c/ Lời Trọng Ni nói về sương rơi.
d/ Phép nhà Ân phạt việc đổ tro ra dường.
đ/ Truyện người điều khiển đoàn xe xin bỏ việc.
e/ Truyện Công Tôn Ưởng phạt nặng những tội nhẹ.
g/ Việc vàng sông Lệ không giữ được mà lửa đầm Tích không cứu được.
h/ Lời Thành Hoan cho rằng vua Tề quá nhân từ mà nước Tề suy yếu.
i/ Lời Bốc Bì cho rằng vua Ngụy quá nhân từ mà làm cho nước Ngụy suy vong.
k/ Việc Quản Trọng biết thuật trừng phạt nên chặt thây người chết.
l/ Việc Vệ Tự công biết thuật trừng phạt nên mua người bị tội đồ.
Truyện 2. a/ Đổng An Vu làm thái thú đất Thượng Địa cho Triệu, đi tuần trong núi miền Thạch Ấp, thấy một cái khe sâu cả trăm nhẫn, bờ dựng đứng như bức tường, bèn hỏi những người chung quanh chỗ đó:
- Đã có ai vào trong khe đó không?
Họ đáp:
- Không.
- Có trẻ con, người đui, người điếc, người điên, người khùng nào vào trong khe đó không?
- Không.
- Có bò, ngựa, chó, heo nào vào trong khe đó không?
- Không.
Đổng An Vu thở dài, bảo:
- Ta có phép trị dân rồi. Làm cho pháp luật của ta không tha ai, hễ trái phép thì phải chết như vào trong khe này vậy. Không ai dám phạm pháp thì làm sao không bình trị?
b/ Tử Sản làm tướng quốc nước Trịnh, khi đau nặng gần chết, dặn dò Du Cát[10]:
- Tôi chết rồi, ông sẽ cầm quyền nước Trịnh, ông phải nghiêm khắc trị dân. Lửa có vẻ dữ dằn, nên ít người bị chết thiêu; nước có vẻ nhu nhược, nên nhiều người bị chết đuối. Ông nên dùng hình phạt nghiêm khắc, đừng để cho dân chết đuối vì sự nhu nhược của ông.
Tử Sản chết rồi, Du Cát không nhẫn tâm dùng nghiêm hình. Thiếu niên nước Trịnh theo nhau làm giặc cướp, tụ tập ở chằm cỏ hoàn[11] sắp làm loạn. Du Cát thống suất chiến xa và kỵ binh chiến đấu một ngày một đêm mới gần khắc phục chúng được. Ông thở dài, than:
-Giá ta sớm theo lời dạy của thầy (tức Tử Sản) thì không phải hối hận như vầy.
c/ Lỗ Ai công hỏi Trọng Ni:
- Sách Xuân Thu chép: “Mùa đông, tháng chạp, sương rơi, cỏ không chết khô”, là muốn nói gì vậy?
Trọng Ni đáp:
- Lời đó có nghĩa rằng có thể diệt (để cho chết khô) mà không diệt. Nên diệt mà không diệt thì đào, mận (đáng lẽ có trái vào mùa hè, lại) có trái vào mùa đông. Trởi mất đạo trời (trái thời tiết) thì cây cỏ cũng phạm vào, huống hồ là vua chúa (nếu mất đạo thì tất bị bề tôi lấn).
d/ Theo phép nhà Ân thì kẻ nào đổ tro ra ngoài đường thì bị trị tội, Tử Công cho vậy là nghiêm khắc quá, hỏi Trọng Ni. Trọng Ni đáp: “(Không), như vậy là biết đạo trị nước. Đổ tro ra ngoài đường thì nó bay lên, phủ cả người ta,[12] người ta tất nổi giận, nổi giận thì ẩu đả nhau, mà ba họ[13] mỗi bên tàn hại nhau. Làm tàn hại ba họ như vậy thì trị tội là phải. Vả lại khộng có ai muốn bị trị tội nặng, mà không đổ tro ra ngoài là việc dễ, khiến cho dân làm một điều dễ để khỏi bị cái tội mà họ ghét, đạo trị nước là vậy.
Một thuật khác bảo: Phép nhà Ân, ai đổ tro ra đường thì bị chặt tay, Từ Cống bảo:
- Đổ tro ra đường là tội nhẹ, chặt tay là hình phạt nặng, cổ nhân sao mà tàn khốc vậy?
Đáp:
- Không đổ tro là việc dễ, bị chặt tay là điều dân ghét. Làm việc dễ để khỏi bị cái mình ghét, cổ nhân cho như vậy là việc dễ nên ban hình luật đó.
đ/ Tướng quốc nước Trung Sơn là Nhạc Trì dùng một trăm cỗ xe đi sứ nước Triệu, lựa một người tài trí trong đám khách[14] để điều khiển đoàn xe, giữa đường đoàn xe hỗn loạn. Nhạc Trì bảo:
- Tôi cho ông là tài trí nên dùng ông điều khiển đoàn xe, giữa đường đoàn xe lại hỗn loạn là sao?
Người khách đó xin thôi việc, đáp:
- Người không biết cách trị người. Phải có uy để người ta phục, phải có lợi để khuyến khích người ta thì mới trị người ta được. Nay tôi chỉ là một người khách nhỏ của ngài. Người nhỏ mà sửa sai người lớn, người hèn mà trị người sang, lại không có quyền ban phát lợi hại để chế phục họ, vì vậy mà sinh ra hỗn loạn. Giả sử khi sai khiến bề tôi, ai tốt tôi có thể cho làm khanh tướng, ai xấu tôi có thể chặt đầu, thì làm gì mà không trị họ được.
e/ Phép của Công Tôn Ưởng là trừng phạt nặng những tội nhẹ. Tội nặng người ta khó phạm vào, mà lỗi nhẹ thì người ta dễ bỏ. Khiến cho người ta bỏ cái dễ bỏ mà đừng phạm vào cái khó phạm, đó là phép trị nước. Lỗi nhỏ không sinh ra, tội nặng không đến, thì dân không có tội mà loạn không phát.
Một thuyết khác bảo: Công Tôn Ưởng nói: “Phép thi hành hình phạt là phạt nặng tội nhẹ thì lỗi nhẹ không sinh mà tội nặng không đến, như vậy gọi là dùng hình phạt để trừ bỏ hình phạt.”
g/ Sông Lệ[15] ở phía Nam nước Kinh có vàng, nhiều người lén đãi vàng. Có luật cấm đãi vàng, ai bị bắt thì bị phân thây giữa chợ. Thây người bị tội nhiều tới có thể lấp sông, vậy mà người ta vẫn đãi lén, không ngừng[16]. Tội không gì nặng bằng phân thây giữa chợ, vậy mà vẫn không ngăn được là vì kẻ phạm tội không nhất định bị bắt. Thí dụ nay có người bảo: “tôi cho anh cả thiên hạ, nhưng rồi giết chết anh” thì tất người bình thường không ai chịu. Có cả thiên hạ là cái lợi lớn mà không nhận vì biết rằng sẽ phải chết; còn như không nhất định bị bắt thì dù sẽ bị tội phân thây, cũng vẫn trộm vàng. Biết rằng thế nào cũng chết thì cho cả thiên hạ, cũng không nhận.
Người nước Lỗ thiêu chằm Tích. Trời nổi gió bấc, cháy lan về phía Nam, sợ lấn tới khắp nước. Ai Công lo lắng, tự điều khiển việc cứu lửa. Nhưng chung quanh không có ai, mọi người đều mắc săn thú, nên lửa không cứu được. Ông bảo vời Trọng Ni đến hỏi. Trọng Ni thưa:
- Việc săn thú vui mà không bị phạt, việc cứu lửa khổ sở không được thưởng. Vì vậy mà không cứu được lửa.
Ai Công bảo: Phải. Trọng Ni nói thêm:
- Việc gấp rồi, không kịp treo giải thưởng; vả lại nếu ai cứu lửa cũng được thưởng hết thì (tài sản) cả nước cũng không đủ để thưởng, vậy xin chỉ dùng hình phạt thôi.
Ai Công khen là phải. Trọng Ni bèn ra lệnh: "Ai không cứu lửa thì bị trừng trị như tội hàng giặc hoặc bỏ chạy, ai săn thú thì bị trừng trị như tội phạm cấm”.[17] Lệnh chưa truyền đi khắp mà lửa đã diệt được.
h/ Thành Hoan tâu với vua Tề:
- Đại vương quá nhân từ, quá bất nhẫn.[18]
Vua Tề hỏi:
- Quá nhân từ, quá bất nhẫn, như vậy là không tốt sao?
Đáp:
- Đó là cái tốt của kẻ bề tôi, bậc vua chúa không nên theo. Bề tôi phải có lòng nhân từ rồi mới có thể cùng mưu tình việc được, phải có lòng bất nhẫn rồi mới có thể gần gũi được; không có lòng nhân thì không thể cùng mưu tính được; không có lòng bất nhẫn thì không thể gần gũi được.
Vua Tề hỏi:
- Vậy thì quả nhân quá nhân từ, quá bất nhẫn ở chỗ nào?
- Đại vương quá nhân từ với Tiết công, quá bất nhẫn với những người họ Điền[19]. Quá nhân từ với Tiết công thì quyền của đại thần không gì lớn bằng[20] mà quá bất nhẫn với những người họ Điền thì bậc cha anh sẽ phạm pháp. Quyền đại thần không thể gì lớn bằng thì binh lực sẽ yếu so với nước ngoài, cha anh phạm pháp thì chính trị loạn ở trong. Binh lực yếu ở ngoài, chính trị loạn ở trong, đó là gốc của sự mất nước.
i/ Ngụy Huệ vương hỏi (một vị đại thần là) Bốc Bì:
- Ông nghe thiên hạ bàn về quả nhân ra sao?
- Thần nghe người ta đồn rằng đại vương từ huệ (nhân từ, hay gia ân).
Huệ Vương hoan hỉ:
- Như vậy thì sự nghiệp của quả nhân tới đâu?
- Sẽ tới mất nước.
- Từ huệ là làm điều thiện; làm việc thiện sao lại mất nước?
- Tử thì bất nhẫn, mà huệ thì gia ân. Bất nhẫn thì không trừng trị kẻ có tội, hay gia ân thì thưởng cả kẻ không có công. Kẻ có tội mà không bị trừng trị, kẻ không có công mà được thưởng, như vậy mất nước cũng là đáng chứ.
k/ Nước Tề thích chôn cất trọng hậu, vải lụa dùng hết vào việc tẩm liệm, cây gỗ dùng hết vào việc đóng quan quách. Vua Hoàn Công lo, hỏi Quản Trọng:
- Vải lụa hết thì không có gì làm màn che (chiến xa và ngựa cho địch khỏi thấy),[21] cây gỗ hết thì không có gì để phòng bị, mà dân chúng vẫn cứ chôn cất trọng hậu, làm sao cấm được bây giờ?
Quản Trọng đáp:
- Người ta hành động, nếu không phải vì danh thì vì lợi.
Rồi ông hạ lệnh:
“Quan quách dầy quá mức thì thây người chết sẽ bị chặt mà kẻ chủ tang sẽ bị tội”. Thây bị chặt thì không có danh, chủ tang bị tội thì không có lợi. Như vậy còn có lí do gì để chôn cất trọng hậu nữa[22].
l/ Thời Vệ Tự công, có người bị tội đồ (?) trốn qua nước Ngụy và trị bệnh cho hoàng hậu của Ngụy Tướng vương. Tự Công hay tin, sai người đem năm chục (lượng hay dật?) vàng để mua người có tội đó, sứ giả đi đi về về năm lần mà vua Ngụy không chịu giao; Tự công bèn lấy ấp Tả Thị để đổi. Bề tôi tả hữu can:
- Đem một ấp để mua một kẻ tội đồ, phỏng có nên chăng?
Tự công đáp:
- Các ông làm sao hiểu được. Muốn trị nước thì đừng coi thường những việc nhỏ, loạn không phải toàn là do việc lớn mà phát đâu[23]. Pháp luật không vững, hình phạt không cương quyết thì dù có mười ấp Tả Thị cũng vô ích, ngược lại pháp luật mà vững, hình phạt mà cương quyết thì dù mất mười ấp Tả Thị cũng không hại.
Vua Ngụy hay tin đó, bảo: “Vua một nước muốn trị kẻ phạm tội mà mình không nghe theo thì là điều bất tưởng”. Rồi sai chở tội nhân đó trả cho Vệ, không lấy vàng hoặc ấp.
*

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Hàn Phi Tử   Tue Oct 15, 2013 4:30 pm

Kinh 3 – Khen thưởng.
Khen thưởng đã bạc (trái với hậu) mà lại giả dối thì không dùng được kẻ dưới, khen thưởng hậu mà xác thực thì ở dưới coi thường sự chết. Thuật này rút từ:
a/ Lời Văn tử so sánh bề tôi với loài nai;
b/ Truyện Việt vương đốt cung thất;
c/ Truyện Ngô Khởi thưởng ai dời được càng xe đi;
d/ Truyện Lí Khôi xử kiện bằng cách cho bắn tên;
đ/ Truyện người Sùng Môn nước Tống huỷ hoại thân thể đến chết;
e/ Truyện Câu Tiễn biết thuật khen nên kính chào con ếch nổi giận;
g/ Truyện Chiêu hầu biết thuật thưởng nên giữ cái khố cũ;
h/ Biết thưởng hậu thì khiến người ta biến thành Mạnh Bôn, Chuyên Chư; người đàn bà nhặt tằm, người đánh cá bắt lươn đủ chứng minh điều đó.
 
Truyện 3.
a/ Vua Tề hỏi (quan đại phu) Văn Tử (Trần Tu Vô):
- Trị nước phải làm sao? Cách nào?
Đáp:
- Việc thưởng phạt là một lợi khí, đại vương phải nắm chặt lấy nó, đừng để cho người khác thấy. Bề tôi chạy theo sự thưởng như bầy nai thấy cỏ tốt là chạy tới.
b/ Vua Việt hỏi quan đại phu Văn Chủng:
- Ta muốn đánh lấy nước Ngô được không?
- Được, ta chỉ cần thưởng hậu mà xác thực (không giả dối), phạt nặng mà cương quyết. Đại vương cứ thử đốt cung thất thì biết (sự hiệu nghiệm của sự thưởng phạt).
Vua Việt bèn cho đốt cung thất, không ai tới cứu lửa cả. Rồi ông ra lệnh: “Kẻ nào cứu lửa mà chết thì được thưởng như chết vì địch, cứu lửa mà không chết thì được thưởng như thắng địch, không cứu lửa thì bị tội như hàng địch hoặc bỏ chạy”.
Dân chúng bèn lấy bùn trát vào người, bận áo ướt để nhảy vào lửa, bên trái 3000 người, bên phải 3000 người. Do đó vua Việt biết thế tất thắng của mình.
c/ Ngô Khởi làm quan thú đất Tây Hà (giữ biên cương) cho Ngụy Vũ hầu. Tần có một cái “đình”[24] nhỏ ở biên giới, Ngô Khởi muốn triệt hạ nó vì nó có hại cho việc làm ruộng, nhưng lại không muốn trưng binh (vì nó quá nhỏ). Ông bèn chống một cái càng xe ở phía ngoài cửa Bắc và ra lệnh: “Ai dời được cái càng xe đó ra phía ngoài cửa Nam thì được thưởng ruộng, và nhà thượng hạng”. Mới đầu, chẳng ai dời cả (vì không tin). Sau có một người dời đi và được ban thưởng như lịnh đã hứa. Một lát sau, ông lại đặt một thạch (mười đấu) đậu đỏ ở phía ngoài cửa Đông và ra lệnh: "Ai dời được thạch đậu đó ra phía ngoài cửa Tây thì cũng thưởng như lần trước”. Người ta tranh nhau dời đi. Rồi ông hạ lệnh: “Ngày mai sẽ đánh chiếm cái “đình”, người đầu tiên lên chiếm được sẽ được phong chức đại phu, ban cho ruộng và nhà thượng hạng”. Người ta tranh nhau tới tấn công, chỉ một buổi sáng là chiếm được.
d/ Lý Khôi làm quan thú đất Thượng Địa cho Ngụy Văn hầu. Ông muốn cho người nơi đó bắn giỏi, nên hạ lệnh: “Trong việc tranh tụng mà còn hồ nghi thì cho hai bên bắn vào đích, ai bắn trúng sẽ thắng kiện, bắn trật thì thua”. Lệnh ban xuống, dân chúng vội vàng tập bắn, ngày đêm không nghỉ. Tới khi chiến đấu với quân Tần, ông đại thắng nhờ dân của ông đều bắn giỏi.
đ/ Trong ngõ Sùng Môn nước Tống có một người vì để tang mà tự huỷ thân đến nỗi ốm nhom. Vua Tống cho anh ta có lòng thương yêu cha mẹ, phong anh làm chức quan sư (một chức trung sĩ hay hạ sĩ đời xưa). Từ đó cứ mỗi năm có trên mười người tự huỷ thân đến chết vì việc để tang. Con để tang cha mẹ vì tình yêu thương, vậy mà còn có thể ban thưởng để khuyến khích được, huống hồ là vua đối với dân.
e/ Vua Việt tính việc đánh Ngô, muốn cho ai cũng coi thường cái chết. Một hôm đi đường, gặp một con ếch nổi giận, ông vịn cây ngang trước xe, đứng dậy kính chào nó. Kẻ theo hầu hỏi: “Sao nhà vua kính nó tới vậy?”. Đáp: “Vì nó có dũng khí”.
Từ đó cứ mỗi năm có trên mười người xin được dâng đầu cho nhà vua. Do đó mà xét thì lời khen cũng đủ khuyến khích người ta hi sinh. Một thuyết khác nói: (…)[25]
g/ Hàn Chiêu hầu sai người giữ kĩ chiếc khố cũ. Người hầu bảo:
- Đại vương bất nhân quá[26] Chiếc khố cũ không cho kẻ tả hữu mà còn đem cất.
Chiêu hầu đáp:
- Nhà ngươi không biết được đâu. Ta nghe nói bậc minh chủ tiếc cả một nét cau mày, một nụ cười (chứ không dùng bậy), cau mày phải có lí do, cười cũng phải có lí do. Chiếc khố này cũng vậy, há chỉ có nét cau mày và nụ cười mới đáng tiếc. Tuy chiếc khố với nét cau mày và nụ cười khác nhau xa đấy, nhưng ta cũng đợi ai có công lao rồi mới ban, cho nên giữ kĩ, chưa cho vội.
h/ Con lươn giống con rắn, con tằm giống con sâu. Người ta thấy con rắn thì kinh hoảng, thấy con sâu thì dựng tóc gáy. Vậy mà đàn bà vẫn lượm tằm, người đánh cá vẫn bắt lươn. Hễ có lợi thì người ta quên cái ghét mà hoá ra dũng cảm như Mạnh Bôn, Chuyên Chư cả (hai dũng sĩ thời trước, Mạnh ở Tần, Chuyên ở Ngô).
*
Kinh 4: Nghe hết thảy từng người một.
Nghe hết thảy ý kiến từng người một thì phân biệt được bề tôi ai trí, ai ngu; bắt bề tôi trình bày ý kiến thì bề tôi sẽ cùng nhau tham nghị[27]
Thuyệt này rút từ các truyện:
a/ Vua Ngụy đòi sát nhập nước Trịnh.
b/ Tề Tuyên vương sai người thổi ống vu[28]
c/ Thân tử dùng Triệu Thiệu, Hàn Đạo để xét ý vua.
d/ Công tử Tỉ chủ trương cắt đất Hà Đông.
đ/ Và Ứng hầu muốn giảm binh lực Thượng Đảng.
 
Truyện 4:
a/ Vua nước Ngụy nói với vua nước Trịnh[29]
- Trịnh và Lương[30] vốn là một nước, sau mới tách ra, nay xin Trịnh lại hợp vào Lương.
Vua Trịnh lo, triệu quần thần lại bàn mưu đối phó với Ngụy. Công tử nước Trịnh thưa với vua Trịnh:
-Việc này rất dễ đối phó. Xin nhà vua cứ đáp vua Ngụy như vầy: “Lấy lẽ rằng nước Trịnh vốn là một phần của Ngụy mà bảo nên sáp nhập Trịnh vào Ngụy, thì tệ ấp[31] cũng xin cho Lương sáp nhập vào Trịnh”.
Vua Ngụy bèn bỏ việc đó.
b/ Tề Tuyên Vương mỗi khi sai thổi ống vu thì bắt ba trăm người cùng thổi một lượt. Nhiều xử sĩ ở Nam Quách (thành ngoài phía nam kinh đô) xin thổi. Tuyên Vương mừng, và cấp lương thực cho mấy trăm người như vậy. Tuyên Vương mất, Mân Vương lên nối ngôi, thích nghe từng người thổi một, các xử sĩ bỏ trốn hết.
Một thuyết khác nói:
Hàn Chiêu hầu bảo: “Nhiều người cùng thổi ống vu, ta không biết ai thổi hay”. Điền Nghiệm thưa: “Nên nghe từng người thổi một”.
c/ Nước Triệu sai người nhờ Thân tử (Thân Bất Hại) xúi Hàn giúp binh để đánh nước Ngụy. Thân Tử muốn nói với vua Hàn (Chiêu Hầu) về việc đó, nhưng lại sợ Chiêu Hầu nghi mình nhận hối lộ của nước ngoài (Triệu); mà không nói thì sợ Triệu ghét. Ông ta bèn sai Triệu Thiệu và Hàn Đạp dò xét thái độ của Chiêu hầu ra sao rồi mới nói. Nhờ vậy bên trong ông biết được ý Chiêu Hầu, bên ngoài lập được công với Triệu.
d/ Binh ba nước (Hàn, Triệu, Ngụy) đến ải Hàm Cốc (một ải hiểm yếu của Tần, nay ở Hà Nam). Vua Tần bảo Lâu Hoãn:
- Binh ba nước vô sâu rồi,[32] quả nhân muốn cắt đất phía đông sông lớn[33] để giảng hoà, ông nghĩ sao?
Đáp:
- Cắt phía đông sông lớn, thì tổn thất nặng mà tránh được tai nạn cho nước là có công lớn. Đó là nhiệm vụ của bậc cha anh nhà vua, sao nhà vua không vời Công tử Tỉ[34] để hỏi ý kiến”. Vua Tần triệu Công tử Tỉ lại hỏi. Công tử Tỉ đáp:
- Giảng hoà thì sẽ hối hận, không giảng hoà cũng sẽ hối hận. Nay nhà vua cắt đất ở phía đông sông lớn để giảng hoà, quân ba nước rút về rồi, nhà vua tất bảo: “Quân ba nước vốn muốn rút về rồi mà ta còn cắt ba thành để tiễn họ, (uổng quá). Còn như không giảng hoà, quân ba nước tất vào ải Hàm Cốc, cả nước sẽ nguy to, nhà vua sẽ ân hận lớn, bảo: “Chỉ tại không dâng ba thành cho họ”. Vì vậy mà thần mới nói: “Nhà vua giảng hoà thì sẽ hối hận, không giảng hoà cũng sẽ hối hận”.
Vua Tần bảo: “Bề nào cũng hối hận, thà mất ba thành mà hối hận, còn hơn là để nước bị nguy lớn mà hối hận. Quả nhân quyết định giảng hoà”.
đ/ Ứng hầu nói với vua Tần:
- Nhà vua được các đất Uyển, Diệp, Lam Điền và Dương Hạ, chiếm đất Hà Nội, áp bức Trịnh và Lương, mà chưa làm chủ cả thiên hạ là vì nước Triệu chưa phục. Nay nhà vua rút binh chiếm Thượng Đảng (ở Hàn) đi mà đem qua Đông Dương (ở Triệu) thì Hàm Đan (kinh đô của Triệu) sẽ nguy như con rận nằm trong miệng vậy (sẽ chiếm lúc nào cũng được), lúc đó (Triệu sẽ thần phục), nhà vua có thể khoanh tay mà thiên hạ sẽ về chầu nhà vua, kẻ nào tới sau, nhà vua sẽ đem quân đánh. Nhưng Thượng Đảng đang yên vui mà xé đó lại mạnh, khó trị, e rằng thần xin rút quân ở đó đi mà nhà vua không chịu nghe, biết làm cách nào bây giờ[35]
Vua Tần đáp: Ta sẽ rút quân ở đó mà dời đi.
*
Kinh 5: Làm bộ như ra lệnh và ra lệnh giả.
Cho mộ người yết kiến nhiều lần, bắt chờ đợi lâu mà không bổ nhiệm thì những người khác cho rằng người đó đã được bí mật giao cho nhiệm vụ rồi, nên không dám làm điều gian mà sẽ phân tán như bầy nai. Sai một người dò xét một việc để mình biết một việc khác thì kẻ dưới không dám bàn cái lợi riêng (mưu tư lợi).
Do thuật đó mà
a/ Bàng Kính gọi vị công đại phu trở lại.
b/ Đái Hoan sai người dò xem có xe bít kín không.
c/ Chúa nước Chu sai tìm cái trâm ngọc.
d/ Quan thái tể nước Thương nói về phân bò.
 
Truyện 5:
a/ Bàng Kính làm huyện lệnh, sai các viên lại đi tuần chợ, rồi gọi giật viên công đại phu (viên chỉ huy bọn đó) trở lại; bắt đừng gần mình một lúc, không ra lệnh gì cả, sau cùng lại sai đi. Các viên lại kia cho rằng quan huyện đã nói riêng gì với viên công đại phu, vì vậy mà họ không tin viên công đại phu và không dám làm gian.
b/ Đái Hoan làm thái tể (như tướng quốc) nước Tống, ban đêm gọi bộ hạ vô bảo: “Ta nghe mấy đêm nay có người ngồi xe bít kín đến cửa nhà Lí Sử, các ngươi vì ta dò xét kĩ xem”. Bọn họ dò xét rồi trở về báo: “Không thấy xe bít kín nào cả, chỉ thấy có người bưng cái giỏ (đựng quần áo hay thức ăn) tới nói chuyện với Lí Sử, một lát sau Lí Sử nhận giỏ”[36].
c/ Chúa nước Chu mất cái trâm ngọc, sai nha lại tìm, ba ngày không thấy. Rồi ông sai một người khác đi tìm trong nhà một gia nhân[37] và tìm được. Ông bảo: “Ta biết bọn nha lại không lo làm hết phận sự, tìm cái trâm ba ngày mà không được. Ta sai người khác đi tìm, không đầy một ngày mà tìm được”. Do đó bọn nha lại đều run sợ, cho là vua thần minh. d/ Quan thái tể nước Thương sai một viên thiếu thứ tử (một chức quan nhỏ) ra chợ, khi người đó về, ông hỏi:
- Thấy gì ở chợ?
Đáp:
- Không thấy gì lạ cả.
- Thì cũng phải thấy cái gì chứ.
- Thưa, bên ngoài cửa Nam chợ, có rất nhiều xe bò, khó len lỏi qua được.
Quan thái tể bèn dặn người đó:
- Không được nói với ai rằng ta nói với ngươi như vậy, nghen
Rồi ông cho gọi viên lại coi chợ vô rầy:
- Sao ngoài cửa chợ có nhiều phân bò thế?
Viên lại coi chợ ngạc nhiên sao quan thái tế biết mau như vậy, từ đó đau đáu lo sợ rán hết  sức làm việc.[38]
*
Kinh 6. Giấu điều mình biết rồi.
Giấu điều mình biết rồi mà hỏi thì biết thêm được những điều mình không biết. Biết rõ một sự thật thì bao nhiêu điều bí ẩn sẽ biến mất.
Thuật này rút từ các truyện:
a/ Chiêu hầu nắm một móng tay;
b/ Biết rõ về cửa Nam mà biết thêm được ba hướng khác;
c/ Chúa nước Chu tìm cây gậy cong mà quần thần đều sợ;
d/ Bốc Bì dùng viên thứ tử (chức quan nhỏ);
đ/ Tây Môn Báo giả bộ đánh mất cái chốt ở trục xe.
 
Truyện 6:
a/ Hàn Chiêu hầu (cắt móng tay) rồi nắm tay lại, nói dối rằng mình mất một móng, bảo phải tìm gấp. Kẻ tả hữu bèn cắt móng tay của họ dâng lên. Nhờ vậy mà ông biết được sự thiếu thành thực của họ.
b/ Hàn Chiêu hầu sai kị sĩ đi thị sát các huyện. Khi sứ giả về báo cáo, ông hỏi: “Thấy những gì?” Đáp: “Không có gì lạ”. Ông lại hỏi: “Thì cũng phải thấy gì chứ?” Đáp: “Ngoài cửa Nam, có bầy bò con vàng gặm mạ ở bên tả đường đi”. Ông dặn người đó: “Không được tiết lậu với ai điều ta mới hỏi ngươi”. Rồi ông hạ lệnh: “Mùa mạ đang mọc, cấm bò ngựa vô ruộng. Lệnh đã ban rồi mà bọn lại không làm hết phận sự, để rất nhiều bò ngựa vào ruộng người ta; vậy phải gấp điều tra số bò ngựa vào ruộng rồi trình lên, không điều tra được thì sẽ bị tội nặng”. Do đó ba hướng (đông, tây, bắc) điều tra rồi trình lên. Ông bảo: “Chưa hết”. Họ đi điều tra lại, thấy bày bò con vàng ở ngoài cửa Nam. Bọn lại cho rằng ông biết rõ mọi việc, đều sợ hết sức làm việc, không dám làm bậy.[39]
c/ Chúa nước Chu ra lệnh tìm một cây gậy cong (mà ông nói dối rằng đánh mất), bọn nha lại tìm thấy mấy ngày không thấy, ông sai riêng một người đi tìm, không đầy một ngày tìm được. Ông bèn rầy bọn nha lại kia: “Ta vốn biết bọn bay không làm tròn phận sự. Cây gậy cong rất dễ tìm mà bay tìm không ra, ta sai người khác tìm, không đầy một ngày mà được. Như vậy có thể gọi là trung được không?”.
Do đó bọn nha lại đều sợ, hết sức làm việc và cho vua là thần minh.
d/ Bốc Bì làm huyện lệnh, viên lại coi về tụng ngục[40] của ông tham những bẩn thỉu, và có một người thiếp yêu. Ông cho một viên thứ tử (một chức quan nhỏ) giả vờ yêu người thiếp đó để dò xét ẩn tình của viên lại.
đ/ Tây Môn Báo[41] làm quan lệnh đất Nghiệp, giả vờ đánh mất cái chốt ở trục xe, sai một nha lại tìm, không được, sai một người khác tìm thì được trong nhà một gia nhân.
*
Kinh 7: Nói ngược lại.
Nói ngược lại, làm trái lại điều mình muốn nói, việc mình muốn làm để dò xét người mình nghi ngờ thì biết được gian tình.
Do thuật đó mà:
a/ Sơn Dương quân cố ý nhục mạ Cưu Thụ;
b/ Náo Xỉ sai người giả trang làm sứ thần nước Tần;
c/ Tử Chi nói dối rằng thấy con ngựa trắng.
d/ Tử Sản tách những người kiện nhau ra;
e/ Tự công sai người làm khách qua cửa ải;
 
Truyện 7.
a/ Sơn Dương quân[42] làm tướng quốc nước Vệ, nghe nói bị vua nghi bèn nhục mạ Cưu Thụ, để Cưu Thụ tức mà nói toạc ra cho ông biết về việc vua nghi mình.
b/ Náo Xỉ[43] nghe nói vua Tề ghét mình, sai người giả làm sứ thần nước Tần, chê bai Náo Xỉ trước mặt vua Tề, để dò biết lòng vua Tề.
c/ Một người nước Tề muốn làm loạn, sợ vua biết được bèn giả vờ đuổi các người yêu, khiến cho vua biết việc đó mà không nghi mình.
d/ Tử Chi[44] làm tướng quốc nước Yên, đương ngồi với nhiều người, làm bộ nói láo: “Có con ngựa trắng nào chạy ngoài cửa đó?”. Kẻ tả hữu đều bảo không thấy. Một người đuổi theo, về báo rằng: “Có con ngựa trắng”. Tử Chi do đó mà biết trong số kẻ tả hữu, ai là người không thành thực.
đ/ Có hai người kiện nhau. Tử Sản[45] tách họ ra, không cho họ đối chất nhau (như vậy người này không biết người kia nói về mình ra sao), rồi ông nói ngược lời của người này để tố cáo người kia, mà biết được sự thực.
e/ Vệ Tự quân sai người làm khách qua cửa ải. Viên quan coi ải làm khó (giữ lại không cho qua), người đó dùng vàng hối lộ, được thả cho qua. Tự công bảo viên quan coi ải: “Giờ đó có người khách qua cửa ải của người, cho ngươi vàng nên ngươi cho qua”. Viên đó kinh hoảng, cho rằng Tự công sáng suốt.
 
Chú thích:
[1] Ám chỉ Di Tử Hà. Về Di Tử Hà coi thiên Thuế nạn. Cũng nên coi lời Hàn Phi phê bình truyện này trong thiên Nạn tử, tiết 4.
[2] Một trong ba đại phu chuyên quyền ở Lỗ.
[3] Xét giọng văn trong “thuyết này” thì không phải là của Hàn Phi, vì rườm, non, như câu (4) ở đây quả là thừa. Vì vậy có người nói rằng Hàn Phi đọc thấy ở đâu đó rồi chép lại nguyên văn, chứ không viết lại; có người lại bảo do người đời sau thêm vào.
[4] Án tử tên là Anh, tự là Bình Trọng, làm tướng quốc nước Tề, có tài có đức. Bộ Án tử xuân thu do người đời sau viết, chứ không phải ông.
[5] Hà Bá là thần sông Hoàng Hà.
[6] Bạch Công tên là Thắng, là cháu nội Sở (Kinh) Bình Vương. Cha là thái tử Kiến bị Bình vương từ bỏ, phải chạy qua nước Trịnh, bị người Trịnh giết, Thắng phải chạy qua nước Ngô. Khi Sở Huệ vương lên ngôi, Thắng về nước được phong là Bạch Công. Ông muốn đánh Trịnh để báo thù cho cha, quần thần Sở không chịu, ông âm mưu làm loạn để cướp chính quyền, thất bại, phải tự tử.
[7] Nguyên văn: tương tham. Có sách giảng là: so sánh với nhau.
[8] Vì những kẻ quyền ngang nhau đó sẽ lập riêng một đảng để mưu tư lợi mà che lấp vua.
[9] Truyện này chép trong Chiến Quốc sách – Ngụy II 17. Chiến Quốc sách gọi là Bàng Thông.
[10] Lúc đó làm quan khanh, sau nối chức Tử Sản.
[11] Có bản chép: chằm tên là Quán, chúng tôi theo bản Trần Khải Thiên.
[12] Theo Trần Khải Thiên thì “hôi” là hỏa hôi (than chưa vạc, còn lửa) và yểm là: làm bỏng người ta
[13] Nguyên văn: tam lộc. Có thuyết giảng là họ cha, họ mẹ, họ vợ, có thuyết bảo : cha, con, cháu; có thuyết lại bảo : cha mẹ, anh em, vợ con.
[14] Thời đó những người có quyền thế như Mạnh Thường quân, Bình Nguyên quân, Xuân Thân quân.... nuôi rất nhiều khách trong nhả để được tiếng là trọng kẻ sĩ, và đôi khi hỏi ý kiến họ, sai bảo họ.
[15] Nay ở Vân Nam.
[16] Nguyên văn: Thậm chúng ung li kì thủy. Chữ kì có sách bảo nên đọc là lệ (sông Lệ) và giảng như chúng tôi đã dịch; có sách lại bảo là chữ li (hàng rào tre) và giảng là: chính quyền rào hai bờ sông....
[17] Chúng tôi ngờ rằng truyện này do Pháp gia đặt ra chứ Khổng Tử không chủ trương như vậy, hai chữ “phạm cấm” có sách giảng là vào chỗ cung cấm của vua.
[18] Bất nhẫn là không nhẫn tâm, không nỡ lòng thấy người khác đau khổ.
[19] Tiết công là chúa đất Tiết, thuộc Tề. Đất đó vua Tề cho Điền Anh (Tịnh Quách quân) hoặc Điền Văn (Mạnh Thường quân) làm thực ấp
[20] ) Nguyên văn: đại thần vô trọng. Trần Khải Thiên cho rằng chữ vô đó, cũng giống chữ vô trong vô địch, và giảng như chúng tôi đã dịch. Có sách giảng: vô trọng là đắc vô trọng hồ (làm sao mà không lớn cho được?). Phép hành văn đó cổ nhân thường dùng.
[21] Nguyên văn: dĩ vi tế; có sách bảo chữ tế đó phải sửa lại là tệ (lụa, tiền bạc).
[22] Chúng tôi nghĩ Quản Trọng không tàn nhẫn tới mức đó. Truyện này có lẽ cũng do Pháp gia đặt ra.
[23] Nguyên văn: trị vô tiểu nhi vô đại. Có sách giảng là: không trị cái tội nhỏ thì loạn lớn sẽ phát, hoặc: phép trị nước không coi thường việc nhỏ thì sẽ không có loạn lớn.
[24] Đình là một cái nhà trống cất trên một nền cao. Có sách giảng đình đây là phong hoả đài, một đền canh trên chỗ cao, lính đốt lửa lên khi có giặc cướp để báo cáo cho các đồn ở xa.
[25] Không khác gì thuyết trên mà rườm hơn, nên chúng tôi bỏ.
[26] Ý nói: keo cú.
[27] Thuật này tức là thuật 2 trong thiên XLVIII Bát Kinh.
[28] Một loại sáo tựa như cái sênh (quả bầu khoét lỗ).
[29] Lúc này Trịnh đã bị Hàn diệt, sáp nhập vào Hàn, vậy vua Trịnh đây chính là vua Hàn.
[30] Ngụy lập đô ở Đại Lương, cho nên cũng gọi Ngụy là Lương.
[31] Lời nói nhũn: cái ấp nhỏ của tôi.
[32] Nguyên văn là thâm. Có sách giảng là nguy lớn, có lẽ nghĩ rằng Hàm Cốc ở biên giới Tần, nên chưa gọi là vô sâu được.
[33] Sông lớn đây là sông Hoàng Hà. Có sách bảo: Hà Đông là tên đất, mới đầu thuộc Ngụy, sau thuộc Tần (nay ở Sơn Tây) và ba thành đây là ba huyện của đất Hà Đông.
[34] Truyện này có trong Chiến Quốc sách. Tần sách IV3 (Lá Bối), và chép là công tử Trì; cũng có chỗ gọi là công tử Tha. Ba chữ (tỉ) (trì) (tha) hơi giống nhau.
[35] Truyện này, nguyên văn khó hiểu, mỗi nhà hiệu đính, giải thích một khác. Chúng tôi theo Trần Khải Thiên.
[36] Ám chỉ rằng Lí Sử ăn hối lộ.
[37] Chắc chúa nước Chu giấu cây trâm ở nhà gia nhân đó rồi làm bộ đánh mất. Có vậy thì mới là dùng thuật.
[38] Truyện đầu a/ là làm bộ như ra lệnh mà không ra lệnh; còn ba truyện sau b/ c/ d/ là ra một lệnh giả. Vì vậy nhan đề kinh 5 này chỉ có hai chữ “ngụy sử” mà chúng tôi phải dịch là “làm bộ như ra lệnh và ra lệnh giả” cho đủ nghĩa.
[39] Truyện 6b/ này giống truyện 5d/ ở trên, và truyện 6c/ này giống truyện 5c/ vậy mà 5d và 5c sắp vào kinh 5, còn 6b và 6c, 6d/ sắp kinh 6. Sự sắp đặt, phân loại không hợp lý.
[40] Nguyên văn là ngự sử ( 御史), có sách cho là ngự lại ( 御吏): người lại đánh xe.
[41] Tây Môn Báo là một viên quan nước Ngụy, nổi tiếng cai trị.
[42] Nghĩa là chúa đất Sơn Dương, một ấp nước Ngụy.
[43] Người nước Sở gởi qua giúp Tề Mân vương.
[44] Tức Công tôn Tháo, làm ra bộ hiền nhân quân tử, được vua Yên là Khoái nhường ngôi cho, người Yên không phục, nổi loạn. Coi Chiến Quốc sách – Yên sách 9 (Lá Bối) - Thuật trong truyện này cũng như thuật trong truyện 6a/
[45] Tức Công tôn Kiều, tướng quốc nước Trịnh – coi phần I.

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Hàn Phi Tử   Wed Oct 16, 2013 5:36 pm

Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
Hàn Phi Tử
THIÊN XXXI
NỘI TRỪ THUYẾT HẠ - LỤC VI (Trích)

(NHỮNG THUẬT ĐỂ DÀNH MÀ DÙNG – THIÊN NỘI, HẠ - SÁU ĐIỀU PHẢI XÉT KĨ)
Trong thiên này, Hàn Phi đưa ra 6 mối ẩn vi cần phải xét kĩ.
Kinh 1: Quyền giao cho kẻ khác.
Quyền thế không thể giao cho kẻ khác; quyền vua mất đi một thì quyền bề tôi tăng lên gấp trăm. Vì vậy bề tôi mượn được quyền của vua thì thế lực thêm nhiều, thế lực thêm nhiều thì trong (bách quan) và ngoài (chư hầu) đều bị họ sử dụng, trong ngoài bị họ sử dụng thì vua bị che lấp (…)[1]
 
Truyện 1 (….)[2]
c/ Thời Tấn Lệ công, sáu quan khanh được tôn quí. Tư Đồng và Trường Ngư Kiểu can: “ Đại thần quá tôn quí thì đối địch với chúa và tranh giải quyết việc nước, tư thông với nước ngoài, lập bè đảng, dưới làm loạn phép nước, trên áp bức chúa, như vậy mà nước không nguy là điều chưa từng thấy”
Lệ công bảo: “Phải", rồi giết ba quan khanh. Tư Đồng và Trường Ngư Kiểu lại khuyên:
- Họ cùng một tội như nhau mà thiên vị không giết hết, thì kẻ còn sống sẽ oán hận, rình cơ hội mà hại mình.
Lệ công bảo:
- Một buổi sáng mà ta đã diệt ba quan khanh, ta không nỡ lòng nào diệt hết.
Trường Ngư Kiểu đáp:
- Chúa công không nỡ diệt họ, nhưng họ sẽ nhẫn tâm hại chúa công.
Lệ công không nghe. Được ba tháng, ba quan khanh can lại gây loạn, giết Lệ công, chia đất của ông.
 
d/ Một người nước Yên không mê loạn mà bị (vợ bắt) tắm bằng nước phân chó[3] (Nguyên do như vầy): vợ anh ta tư thông với một chàng trai trẻ. Người chồng sáng sớm từ ngoài về nhà, gặp chàng trai trẻ đó đi ra bèn hỏi:
- Khách nào đó?
Vợ đáp:
- Có khách nào đâu.
Hỏi kẻ tả hữu, họ đều bảo không có, mười miệng như một. Người vợ bảo: “Ông bị mê loạn rồi”, bèn đem anh ta tắm bằng nước phân chó.
(Còn một thuyết nữa, ý nghĩa cũng như thuyết trên, nên chúng tôi bỏ).
*
Kinh 2: Lợi mỗi bên khác nhau.
Cái lợi của vua (công lợi) và của bề tôi (tư lợi) khác nhau cho nên bề tôi chẳng ai trung với vua cả, hễ bề tôi có lợi thì vua mất lợi. Vì vậy mà gian thần triệu quân địch để trừ kẻ chống đối trong nước, đem sự tình nước ngoài để huyễn hoặc vua; chỉ nghĩ thực hiện được tư lợi, không đoái hoài gì tới tai họa của nước (…)[4]
 
Truyện 2 (…)[4]
a/ Vợ một người nước Vệ cầu đảo: “ Xin cho chúng tôi khi không[5]được mười bó vải”. Người chồng hỏi: “Sao xin ít vậy?” Đáp: “Xin nhiều hơn để anh mua nàng hầu à?”
 
b/ Vua nước Kinh muốn cho các công tử qua làm quan các nước láng giềng. Đái Yết khuyên không nên. Vua Kinh bảo:
- Cho các công tử làm quan ở các nước láng giềng thì các nước đó sẽ trọng họ.
Đái Yết đáp:
- Các công tử qua các nước đó sẽ được trọng vọng, được trọng vọng thì về hùa với các nước đó, như vậy là nhà vua dạy cho con câu kết với nước ngoài, bất lợi cho nước mình.
 
k/ Tống Thạch là tướng nước Ngụy, Vệ Quân là tướng nước Kinh. Hai nước gây chiến với nhau, mà Tống Thạch và Vệ Quân đều cầm quân. Tống Thạch viết thư cho Vệ Quân, bảo: “Quân hai bên gặp nhau, cờ hai bên đối nhau, nhưng đừng giao chiến với nhau nhé, vì giao chiến thì tất một còn một mất. Đây là việc riêng của hai vị chúa, tôi với ông không có tư thù gì với nhau, tốt hơn là nên tránh né nhau”
 
g/ Đại Thành Ngọ làm quan nước Triệu, qua nói với Thân Bất Hại ở Hàn:
“Nếu ngài dùng thế nước Hàn mà làm cho tôi được trọng hơn ở Triệu thì tôi cũng xin lấy thế nước Triệu giúp ngài được trọng hơn ở Hàn, như vậy cũng như ngài có hai nước Hàn, tôi có hai nước Triệu (ý nói: thế của mỗi người tăng lên gấp đôi)”.
***
Kinh 3. Giống nhau.
Những việc giả dối giống như việc thực làm cho vua (mê hoặc) trừng phạt sai, mà đại thần nhân đó sẽ được lợi riêng (…)
 
Truyện 3
d/ Vua nước Kinh có một ái thiếp là Trịnh Tụ. Khi ông mới nạp một mĩ nữ, Trịnh Tụ dạy cô ấy:
- Nhà vua rất thích người ta lấy tay che miệng, khi gần nhà vua, em nhớ che miệng đấy nhé.
Mĩ nữ đó (nghe lời) vào yết kiến, khi lại gần vua thì lấy tay che miệng. Vua hỏi (Trịnh Tụ) tại sao lại vậy? Trịnh Tụ đáp: “Cô ấy bảo không chịu được mùi hôi của đại vương”. Gặp lúc nhà vua, Trịnh Tụ và mĩ nhân đó cùng ngồi, Trịnh Tụ đã dặn trước người đánh xe cho vua rằng: “Nếu vua ra lệnh gì thì phải thi hành ngay tức khắc”. Mĩ nữ tiến lại thật gần nhà vua, mấy lần che miệng. Nhà vua bỗng nổi giận bảo: “Cắt mũi nó đi”. Người đánh xe liền rút dao ra cắt ngay mũi mĩ nữ.
 
Một thuyết khác bảo (…)[6]
d/ Phí Vô Cực[7] là người thân của một quan lệnh doãn nước Kinh. Khích Uyển mới giúp việc quan lệnh doãn, được quan lệnh doãn rất yêu. Vô Cực (ghen ghét) bảo quan lệnh doãn:
- Ngài rất yêu Uyển, sao không bảo bày tiệc rượu một lần ở nhà ông ta?
Quan lệnh doãn khen phải và bảo Uyển bày tiệc một lần ở nhà. Vô Cực khuyên Uyển:
- Quan lệnh doãn rất ngạo mạn và thích binh khí. Ông nên tỏ vẻ kính cẩn và bầy binh khí ở sân và cửa.
Uyển làm theo. Quan lệnh doãn tới, thấy vậy, kinh hoảng hỏi:
“Thế nghĩa là làm sao?” Vô Cực bảo: “Ngài chỉ có cách là về ngay đi. Sự việc chưa biết sẽ ra sao". Quan lệnh doãn nổi giận, đem binh đánh Khích Uyển và giết ông ta.
 
e/ Tế Thủ[8] và Trương Thọ thù oán nhau. Trần Nhu mới (từ Sở) vô (Ngụy), không ưa Tế Thủ bèn sai người ám sát Trương Thọ. Vua Ngụy cho rằng Tế Thủ làm việc đó, trách ông ta.
***
Kinh 4. Việc có bề trái: Một sự tình phát sinh, nếu có lợi thì nhà vua làm chủ nó, nếu có hại thì nên xét ngược lại xem ai có lợi trong đó. Cho nên bậc minh chủ luận việc: nếu có hại cho nước thì xem xét ai là kẻ có lợi trong việc đó (…)
 
Truyện 4 (…)
a/ Trần Nhu là kẻ bề tôi của vua Ngụy, thân thiện với vua Kinh, xúi Kinh đánh Ngụy. Trần Nhu nhân đó xin vì vua Ngụy mà đứng ra học giải rồi nhờ thế lực của Kinh được làm tướng quốc Ngụy.
 
b/ Thời Chiêu Hy hầu, người đầu bếp dâng thức ăn trong món canh có miếng gan còn sống. Chiêu Hy hầu kêu người phụ bếp vô mắng: “Tại sao ngươi bỏ miếng gan sống vào nồi canh của quả nhân?” Hắn khấu đầu chịu tội chết, đáp: “Thần muốn ngầm hại anh đầu bếp”.
Một thuyết khác bảo:
Hy Hầu tắm thấy trong nước có sạn. Ông hỏi:
- Nếu người coi việc tắm gội mất chức thì có ai thay chân không?
Kẻ tả hữu đáp “có”. Hy hầu bảo: “Gọi nó vào”. Rồi mắng người đó:
- Tại sao ngươi bỏ sạn vào nước nóng?
Hắn đáp:
- Anh coi việc tắm gội mà mất chức thì thần được thay chân, vì vậy thần bỏ sạn vô nước nóng.
***
Kinh 5: Quyền thế ngang nhau. Quyền thế ngang nhau thì mầm loạn phát sinh, vì vậy mà bậc minh chủ phải thận trọng (…)
 
Truyện 5 (…)
d/ Sở Thành vương đã lập Thương Thần làm thái tử rồi lại muốn lập công tử Chức[9] nữa. Thương Thần làm loạn, đánh và giết Thành vương.
Một thuyết khác bảo:
Sở Thành vương đã lập Thương Thần làm thái tử rồi lại muốn lập công tử Chức nữa. Thương Thần hay được mà chưa tin, hỏi quan sư phó (thày học) là Phan Sùng: “Làm cách nào mà cho biết chắc được!” Phan Sùng đáp: “Mời Giang Mi[10] lại dự tiệc mà tỏ vẻ không kính trọng bà ấy”. Thái tử làm theo lời. Giang Mi mắng (Thương Thần):
- Hừ quân ti tiện, quân vương muốn phế mi lập thằng Chức là đáng lắm.
Thương Thần nói (với Phan Sùng): Tin đồn đó đúng. Phan Sùng hỏi:
- Có thể thờ Chức được không?
- Không!
- Có thể qua nước chư hầu được không?
- Không.
- Có thể làm lớn được không?
- Được.
Thương Thần bèn dùng binh túc vệ giữ dinh đánh Thành vương. Thành vương xin ăn món chân gấu[11] không được bèn tự sát.
 
k/ Vua Trịnh hỏi Trịnh Chiêu: “Thái tử ra sao?” Đáp: “Thái tử chưa sinh”. Vua hỏi: “Thái tử đã lập rồi mà bảo chưa sinh là nghĩa làm sao?” Đáp: “Thái tử tuy lập rồi nhưng tật hiếu sắc của vua chưa dứt, nếu bà phi nào được nhà vua yêu mến mà có con trai thì nhà vua tất yêu người con đó, yêu ai thì muốn cho người đó kế nghiệp, vì vậy mà thần bảo thái tử chưa sinh”.
***
Kinh 6. Sa thải và bổ dụng. Điều mà địch mưu tính là làm loạn sự phán đoán của ta để ta làm bậy, nếu bậc vua chúa không xét kĩ trong việc sa thải, bổ dụng quần thần, có thể mắc mưu địch (…)
 
Truyện 6 (…)
c/ Trọng Ni cầm quyền ở Lỗ, ngoài đường không có kẻ lượm của rơi, Tề Cảnh công đâm lo, Lê Thả (mưu thần của Tề) tâu với Cảnh công:
- Làm cho Trọng Ni mất chức là việc dễ như thổi sợi lông. Nhà vua sao không dùng lộc hậu chức cao mà mời ông ta, rồi tặng Lỗ Ai công[12] một đoàn nữ nhạc để vua Lỗ hóa kiêu mà mê loạn? Ai công ham cái vui mới, tất bỏ bê việc chính trị. Trọng Ni sẽ can gián, can gián (không được) sẽ bị coi thường ở Lỗ[13].
Cảnh công khen là phải, sai Lê Thả đưa hai đoàn nữ nhạc, mỗi đoàn tám người, qua tặng Ai công. Ai công ham vui, quả nhiên bỏ bê việc triều chính. Trọng Ni can gián không được, bỏ qua nước Sở[14].
 
g/ Thúc Hướng[15] muốn gièm Trành Hoằng,[16] viết một bức thư giả là của Trành Hoằng gửi cho mình, bảo: “Xin ngài vì tôi nói với vua Tấn rằng điều nhà vua với tôi hẹn nhau, lúc này làm được rồi, sao không gấp gởi binh tới?”
Rồi Thúc Hướng giả vờ đánh rơi bức thư đó ở sân chầu vua nhà Chu và vội vàng đi về. Vua Chu cho rằng Tràng Hoằng phản nhà Chu, đem ông ta ra giết.
 
h/ Trịnh Hoàn công muốn đánh nước Khoái, trước hết hỏi tên họ tất cả những hào kiệt, lương thần cùng kẻ sĩ mưu trí, giỏi ăn nói, dũng cảm, rồi lựa những ruộng đất tốt của nước Khoái (làm bộ) hối lộ cho họ, và biên trong sổ những chức tước dành cho họ, sau cùng lập đàn tràng ở ngoài cửa quách[17] chôn sổ đó, lại bôi máu heo vào sổ như một tập thề ước. Vua Khoái (phát giác) cho rằng trong nước có kẻ muốn làm loạn, bèn giết hết các lương thần. Trịnh Hoàn công lúc đó mới đem quân đánh, chiếm được nước Khoái.
 
i/ Người hề lùn nước Tần giao hảo với vua Kinh, lại ngầm kết giao với kẻ tả hữu vua Kinh, mà ở trong nước, anh ta được Huệ Văn quân[18] trọng. Thành thử hễ nước Kinh mưu tính điều gì, anh ta thường biết trước mà báo cho Huệ Văn quân hay.
 
Chú thích:
[1] Bỏ mấy hàng dẫn chứng.
[2] Hàn Phi chép 5 truyện a, b, c, d, e để giải thích những điều dẫn chứng ở trên. Chúng tôi chỉ dịch hai: c và d.
[3] Nguyên văn: Yên nhân vô hoặc, cố dục cẩu thỉ. Có học giả sửa lại là: Yên nhân hoặc dị… nghĩa là người nước Yên dễ bị mê loạn (nên phải tắm bằng nước phân chó). Người Trung Hoa thời đó cho rằng chứng đó bị quỉ ám, nên trị như vậy.
[4] Coi chú thích (1) và chú thích (2) Kinh 1 ở trên. Sau cũng vậy.
[5] Không tốn công, của gì cả.
[6] Thuyết này gần giống y hệt truyện Sở IV 2 trong Chiến Quốc sách, nên chúng tôi không dịch lại. Chiến Quốc sách chép là Trịnh Dữu.
[7] Có chỗ gọi là Phí Vô Kị, một gian thần của Kinh Bình vương.
[8] Tế Thủ là một chức quan võ của Ngụy như tướng soái. Theo Chiến Quốc sách, Tế Thủ tức Công tôn Diễn, đồng thời với Trương Nghi.
[9] Chức là em khác mẹ của Thương Thần
[10] Giang Mi là em gái Thành vương. Theo Sử kí của Tư Mã Thiên thì là một ái phi của Thành vương. Có sách chép là Giang Thiên, hoặc Giang Vu và cho Giang Vu là một cận thần của Thành vương.
[11] Món ăn thời đó cho là rất quí. Món đó nấu lâu chín, Thành vương xin ăn món đó là có ý kéo dài để chờ cứu viện.
[12] Hàn Phi lầm: chính là Lỗ Định công.
[13] Nguyên văn: Khinh tuyệt ư lễ. Có sách dịch là: tất bỏ nước Lỗ.
[14] Có sách sửa lại là qua Tề.
[15] Tức Dương Thiệt Chất, học rộng, làm quan nước Tấn, viết thư phản kháng Tử Sản làm hình thư – Coi phần I
[16] Trành Hoằng là một đại phu của Chu Kính vương
[17] Quách là bức tường ngoài của một thị trấn thời đó.
[18] Vua Tần, người giết Thương Ưởng

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Hàn Phi Tử   Wed Oct 16, 2013 6:22 pm

Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
Hàn Phi Tử
THIÊN XXXII
NGOẠI TRỪ THUYẾT TẢ THƯỢNG
(Trích)
(NHỮNG THUẬT ĐỂ DÀNH MÀ DÙNG; THIÊN NGOẠI, TẢ, THƯỢNG)
Kinh 1. Đạo của bậc minh chủ cũng như lời Hữu Nhược đáp Mật tử. Các vị chúa thời nay[1] khi nghe nói thì khen sự văn nhã, tô chuốt. Khi xem việc làm thì trọng sự xa vời, viển vông, vì vậy quần thần, sĩ dân nói những lời vu khoát mà hành động xa sự tình (…).
 
Truyện. a/ Mật Tử Tiện[2]cai trị đất Đan Phụ. Hữu Nhược gặp ông ta, hỏi: “Sao ông gầy như vậy?” Mật Tử đáp: “Vua không biết rằng Bất Tề này vô dụng, sai cai trị đất Đan Phụ. Việc quan bận rộn, lòng rất lo âu, nên gầy”. Hữu Nhược bảo:
“Xưa vua Thuấn gẩy cây đàn năm dây, ca bài thơ Nam phong (trong Kinh Thi) mà thiên hạ trị. Nay đất Đan Phụ nhỏ như vậy mà cai trị đã phải lo âu, nếu trị cả thiên hạ mới làm sao? Biết thuật trị dân thì thân ngồi trên miếu đường, sắc diện (tươi) như gái đồng trinh, cũng chẳng hại gì cho việc cai trị; không biết thuật cai trị thì thân tuy gầy ốm tiều tụy, cũng chẳng có ích gì”.
 
b/ Vua Sở hỏi Điền Cưu (một môn đệ của Mặc tử):
- Mặc tử là một học giả nổi danh, suốt đời tận lực làm việc, đáng khen, nhưng lời nói rườm mà không nhã, tô chuốt, tại sao vậy?
Đáp:
- Xưa Tần bá (Tần Mục công) gả con gái cho công tử nước Tấn (Trùng Nhĩ), trang sức cho cô dâu, đưa theo bảy chục thiếu nữ bận áo gấm làm nàng hầu. Tới Tấn, người Tấn yêu những người thiếp đó mà coi thường con gái Tần Bá. Như vậy có thể bảo là khéo gả các nàng thiếp mà không khéo gả con gái. Nước Sở có người bán hạt châu qua nước Trịnh, làm cái hộp bằng gỗ mộc lan, xông bằng quế, tiêu cho thơm, điểm xuyết bằng châu ngọc, trang sức bằng ngọc mai khôi[3] lót bằng lông chim trả. Người nước Trịnh mua cái hộp mà trả lại châu. Như vậy có thể bảo là khéo bán cái hộp mà không khéo bán hạt châu. Ngày nay người ta thảo luận đều thích dùng lời khéo léo, văn hoa, bậc vua chúa thấy cái văn hoa mà quên rằng những lời đó vô dụng. Thuyết của Mặc Tử truyền cái đạo của tiên vương, luận lời của thánh nhân để tuyên cáo cho mọi người. Nếu dùng những lời văn nhã tô chuốt sợ người ta chỉ nhớ tới cái văn hoa mà quên cái hữu dụng của học thuyết, như vậy tức là lấy văn hoa làm hại cái hữu dụng, không khác việc người nước Sở bán hạt châu, Tần bá gả con gái. Vì vậy mà lời của Mặc Tử rườm mà không văn nhã tô chuốt.
 
c/ Mặc tử làm con diều bằng gỗ 3 năm mới xong, bay được một ngày thì hỏng. Một môn sinh bảo:
- Thầy khéo tay thật, làm cho diều gỗ bay được.
Mặc tử đáp:
- Ta đâu khéo bằng người làm cái đòn ngang xe. Họ chỉ dùng một khúc cây dài, không đầy 1 buổi sáng mà kéo được ba chục thạch[4] hoá vật, đi được rất xa mà dùng được mấy năm. Còn ta làm diều gỗ, 3 năm mới xong mà bay chỉ được 1 ngày.
Huệ tử nghe chuyện đó bảo:
- Mặc tử rất khéo (vì) cho việc làm đòn ngang là khéo, làm diều gỗ là vụng.
 
Kinh 2: bậc vua chúa khi nghe người nói mà không lấy công dụng làm mục đích thì kẻ biện thuyết sẽ nói nhiều về những thuyết “mũi gai đâm” và “ngựa trắng”; (khi coi bắn) không lấy sự trúng đích làm quan trọng thì người bắn tên nào cũng giỏi như Hậu Nghệ cả (vì bắn bậy thì thế nào cũng trúng một cái gì đó)(…).
 
Truyện 2. a/ Một người nước Tống vì vua nước Yên chạm một con khỉ cái vào đầu một mũi gai, nhưng nhà vua phải trai giới 3 tháng rồi mới thấy (hình cực nhỏ đó) được. Vua Yên lấy lộc ba cỗ xe[5] để nuôi anh ta. Viên “hữu ngự” (đánh xe hay hầu?) là một thợ sắt tâu:
- Thần nghe nói vua không thể trai giới mười ngày mà không có một bữa tiệc trong thời gian đó. Người nước Tống đó biết đại vương không thể trai giới lâu được để coi một vật vô dụng nên mới đưa ra kì hạn ba tháng. Hễ chạm trổ thì mũi nhọn để chạm phải nhỏ hơn vật được chạm. Thần là thợ đúc, không thể đúc cho anh ta dụng cụ để anh ta chạm hình đó. Vậy việc đó không có thực, (anh ta nói láo). Xin đại vương xét lại.
Vua Yên do đó bỏ tù anh ta, chất vấn, quả nhiên là nói láo, bèn đem giết. Người thợ đúc lại tâu thêm: “Tính kế mà không có tiêu chuẩn thì kẻ sĩ đàm luận đa số đưa ra những thuyết như “mũi gai” đó”.
(Còn một thuyết nữa đại khái cũng như thuyết trên, nhưng kết cục là anh chàng lừa bịp đó - người nước Vệ - khi biết lộ tẩy, trốn mất).
 
b/ Nghê Duyệt là người nước Tống, giỏi biện thuyết, đưa ra thuyết “ngựa trắng không phải là ngựa”[6] các biện sĩ ở Tắc Hạ[7] không ai bác được nhưng khi ông ta cưỡi ngựa trắng qua cửa ải thì chịu nộp thuế. Vậy dựa vào hư không, có thể thắng được một nước, mà khảo về thực tế, xét về hình trạng thì không gạt nổi một người.
 
d/ Có người khách (bảo có thể) dạy cho vua Yên cái phép không chết. Vua Yên sai người tới học, người này chưa học xong thì người khách đó chết. Vua Yên nổi giận, đem ra giết. Nhà vua biết rằng người khách nọ gạt mình, lại nhè giết người sai đi học vì tội chậm trễ. Tin một việc không thể có được mà giết bề tôi vô tội, đó là cái hại không biết suy xét (…).
 
g/ Có người vẽ cho vua nước Tề. Vua Tề hỏi:
- Vẽ cái gì khó nhất?
- Vẽ chó ngựa khó nhất.
- Cái gì dễ nhất?
- Ma quỉ dễ nhất.
Chó với ngựa ai cũng biết, cũng thấy trước mắt từ sáng tới chiều không thể vẽ bậy, không giống được, cho nên khó vẽ. Còn ma quỉ không có hình trạng, không thấy trước mắt nên dễ vẽ.
 
h/ Trẻ con chơi với nhau, lấy đất sét làm cơm, bùn làm canh, dăm bào làm thịt, nhưng chiều thì về nhà ăn cơm, vì cơm bằng đất, canh bằng bùn, chơi thì được chứ ăn không được. Khen những điều thời thượng cổ truyền tụng lại, nghe thì hay thì (mà?) thực tế vô dụng; giảng thuyết nhân nghĩa của tiên vương mà không biết chỉnh lí quốc gia, đó cũng là những việc để chơi chớ không thể đem trị nước được. Trọng nhân nghĩa, mà nước yếu loạn, đó là 3 nước Tấn (Hàn, Triệu, Ngụy từ Tấn tách ra); không trọng nhân nghĩa mà trị mạnh là nước Tần. Nhưng Tần tuy mạnh mà chưa làm đế (thống nhất thiên hạ) được là vì việc trị nước chưa hoàn tất.
*
Kinh 3. Cho tới đây chúng ta thấy mỗi kinh chỉ đưa ra một qui tắc, một thuật, kinh này đưa ra tới hai thuật.
Thuật thứ nhất: Hễ nuôi cái lòng “người khác phải vì mình” (nghĩa là nghĩ tới cái lợi của mình hơn cái lợi của họ) thì hai bên sẽ trách oán nhau; (ngược lại) nếu nuôi cái lòng “ai cũng vì bản thân của người đó thôi” (nghĩa là ai cũng nghĩ tới cái lợi của chính mình hơn cái lợi của người khác), thì sẽ nên việc[8].
Vì vậy mà có khi cha con oán trách nhau, mà mướn người làm công thì cho họ ăn ngon (…).
Thuật thứ nhì: Nếu theo các học giả (trỏ Nho gia) mà thi hành cái đạo mang mang xa vời (không thực tế) của các tiên vương, thì có lẽ không hợp thời nay chăng? (…) Hành động không thích hợp với việc nước mà cứ xưng tụng tiên vương thì cũng như về nhà lấy cái ni đo chân vậy.
 
Truyện 3 (Trong phần truyện này Hàn Phi dẫn chứng tới 17 cố sự, nhưng có nhiều cố sự không liên quan gì tới hai thuật nêu ở phần kinh. Cơ hồ như Hàn Phi viết vội, chưa kịp sửa lại. Chúng tôi chỉ lựa 1 truyện a/ giải thích thuật thứ nhất và 3 truyện p/ r/ s/ giải thích thuật thứ nhì.)
 
a/ Cha mẹ không săn sóc con kĩ khi nó còn nhỏ thì lớn lên nó oán mình. Con được nuôi thành người rồi, mà cung dưỡng cha mẹ không được hậu thì cha mẹ giận, oán trách nó. Cha con là tình chí thân mà có khi còn trách nhau, oán nhau là do ai nấy đều muốn cho người khác phải vì mình (cha muốn cho con phải vì cha, con muốn cho cha phải vì con), chứ không muốn cho mỗi người chỉ vì bản thân của người đó thôi.
 
Mướn người gieo mạ, cày ruộng cho mình thì người chủ không ngại phí tổn mà cho họ ăn ngon, lại còn lựa tiền, vải tốt[9] mà trả công cho họ, như vậy không phải vì yêu họ đâu mà vì nghĩ: “Có vậy họ cầy mới sâu, cào cỏ mới kĩ cho mình”. Người làm công đó, hết sức cầy và cào cỏ, sửa sang bờ ruộng, không phải vì yêu chủ, mà vì nghĩ: “Có như vậy chủ mới cho ăn ngon, mà tiền, vải mới tốt”. Như vậy một bên cung dưỡng hậu hĩ, một bên gắng sức làm việc, có cái ân trạch giữa cha con, hai bên đều hết nghĩa vụ (vì) đều mưu cái lợi cho chính mình cả. Bởi vậy con người làm việc với nhau, cho, tặng nhau, nếu thấy có lợi cho mình thì dù là người nước Việt[10] cũng dễ hoà, nếu lòng thấy có hại thì dù là cha con cũng xa nhau, oán nhau.
 
p/ (Chu) thư có câu: “Thắt nó, buộc nó”. Một người nước Tống đọc tới đó, lấy hai cái dây lưng tự thắt, buộc bụng. Người ta hỏi: “Làm gì vậy?” Đáp: “Vì sách dạy như vậy”[11]
 
r/ Người đất Dĩnh (kinh đô nước Sở thời Xuân Thu, nay là Hồ Bắc) viết thư cho vị tướng quốc nước Yên. Viết ban đêm, lửa không đủ sáng, bèn bảo người cầm đuốc: “Đưa cây đuốc lên”. (Miệng nói vậy) tay viết lộn trong thư: “Đưa cây đuốc lên”. Mấy chữ đó không phải là ý trong thư. Tướng quốc nước Yên đọc tới đó, mừng lắm, bảo: “Đưa cây đuốc lên là trọng sự sáng, trọng sự sáng tức là tiến cử, bổ dụng người hiền”. Rồi ông ta tâu với vua, vua hoan hỉ (theo lời) và nhờ vậy nước Yên thịnh trị. Tuy thịnh trị đấy, nhưng đâu phải là ý trong thư. Đa số các học giả ngày nay giống như vậy.
 
a/ Một người nước Trịnh muốn mua giày, đo bàn chân mình rồi đặt cái ni ở chỗ ngồi. Anh ta ra chợ mà quên đem cái ni theo. Tìm được thứ giày muốn mua rồi, anh ta sực nhớ lại, bảo: “Tôi quên đem cái ni theo, để tôi trở về lấy”. Rồi quay về nhà, khi trở lại chợ thì chợ đã tan, không mua giày được. Người ta hỏi: “Sao không lấy chân để thử giày”. Đáp: “Nên tin cái ni, chứ không nên tin mình”.
 
Kinh 4. – Đâu có lợi thì dân theo về, danh được hiển thì kẻ sĩ chịu chết. Vì vậy, tuy kẻ dưới có công nhưng không hợp pháp mà cũng được thưởng thì người trên không được lợi gì ở kẻ dưới cả; tuy có thanh danh nhưng không hợp pháp mà cũng được khen thì kẻ sĩ lo cầu cái danh cho họ mà không bồi đắp cho danh của vua[12](…)
 
Truyện 4.
a/ Vương Đăng làm quan lệnh Trung Mâu, trình lên Tương chủ[13] rằng: “Trung Mâu có hai kẻ sĩ tên là Trung Chương và Tư Kì, đức rất trau giồi, học lại uyên bác, sao nhà vua không dùng họ?”. Tương chủ đáp: “Ông tìm gặp họ đi, ta sẽ đề cử họ làm trung đại phu”. Quan tướng quốc can: “Trung đại phu là chức quan trọng của Tấn, họ không có công mà được chức đó, không hợp với quan chế của Tấn. Phải chăng nhà vua mới nghe nói về họ chứ chưa thấy họ?” Tương chủ đáp: “Khi ta thâu dụng (Vương) Đăng thì nghe nói rồi sau mới gặp; nay Đăng chọn người thì cũng lại nghe nói thì sau mới gặp; như vậy không ngớt dùng người khác làm tai mắt cho mình”. Thế là Vương Đăng một ngày tiến dụng hai trung đại phu, họ được cấp nhà và đất. Người Trung Mâu (thấy vậy) bỏ việc ruộng nương, bán nhà đất để theo học nghề văn đông đến phân nửa số dân trong ấp. [14]
 
d/ Triệu Chủ phụ[15] sai Lí Tì xem nước Trung sơn có thể đánh được không. Lí Tì trở về đáp: “Đánh được. Nếu nhà vua không đánh gấp thì Tề, Yên sẽ đánh trước”. Chủ Phụ hỏi: “Đánh được là tại sao?” Đáp: “Vua nước đó thích thân cận với bọn sĩ ẩn trong hang núi, tự nghiêng lọng, ngồi chung xe[16] với hơn chục kẻ sĩ ở nơi hang cùng ngõ hẻm, dùng lễ bình đẳng đối với trên trăm kẻ sĩ áo vải”. Nhà vua bảo: “Theo lời ông nói thì ông ấy là một ông vua có hiền đức, sao lại nên đánh?”. Đáp: “Không phải vậy. Thích kẻ ẩn sĩ nổi danh mà dùng họ trong triều thì chiến sĩ sẽ biếng nhác ngoài mặt trận. Ở trên tôn trọng bọn học giả, ở dưới kẻ sĩ được dùng tại triều thì nông phu biếng nhác ở ngoài ruộng. Chiến sĩ biếng nhác ở mặt trận thì binh yếu, nông phu biếng nhác ở ngoài ruộng thì nước nghèo; ở ngoài binh yếu hơn địch, ở trong thì nước nghèo, như vậy không mất nước là điều chưa từng thấy; đánh Trung Sơn cũng là phải chứ?” Chủ phụ khen “phải”, rồi đem quân đánh Trung Sơn, diệt được.
 
Kinh 5. – Kinh Thi có câu: “Không đích thân làm lấy thì dân không tin” (…) Nhưng nếu không định rõ chức phận cao thấp, không bắt bề tôi làm cho được việc, mà tự mình làm việc của kẻ ở địa vị dưới thì cũng như xuống xe chạy bộ, ngủ khi đọc sách (…).
 
Truyện 5.
a/ Tề Hoàn Công thích mặc áo màu tía, (do đó) cả nước đều mặc đồ tía, mà lụa tía hoá ra đắt gấp 5 lần lụa trắng. Hoàn Công lo, hỏi Quản Trọng: “Quả nhân thích mặc màu tía, màu tía đắt quá mà trăm họ vẫn cứ thích màu tía, làm sao bây giờ”. Quản Trọng đáp: “Nhà vua muốn cấm chỉ sao không thử thôi không mặc màu tía!” Hoàn Công bảo: “Phải” rồi nói với kẻ tả hữu: “Ta rất ghét mùi hôi của màu tía”. Từ lúc ấy kẻ tả hữu có ai bận màu tía lại gần ông, ông đều bảo: “Dang ra, ta ghét mùi hôi của màu tía”. Hôm đó, trong cung không ai mặc màu tía nữa, hôm sau tại kinh đô không ai mặc màu tía nữa, qua ngày thứ ba trong cõi không còn ai mặc màu tía hết.
(Còn một thuyết khác đại ý hệt như thuyết trên, nên chúng tôi bỏ)
 
c/ Tống Tương công giao chiến với Sở ở Trác cốc (một cái hang bên bờ sông Trác). Quân Tống đã bày thế trận rồi mà quân Sở chưa qua sông. Quan hữu tư mã là Cấu Cường chạy tới dâng kế:
- Quân Sở đông mà quân Tống ít, nên thừa lúc họ mới qua được nửa số, chưa bày xong thế trận mà đánh thì họ tất thua.
Tương Công đáp:
- Quả nhân nghe người quân tử bảo: đừng tàn hại người đã bị thương, đừng bắt người có hai thứ tóc, đừng đẩy người ta vào chỗ hiểm, đừng đánh trống thúc quân tấn công khi người ta chưa bày xong thế trận. Nay quân Sở chưa qua hết mà đánh họ, là trái với điều nghĩa; hãy đợi họ qua sông hết, rồi sẽ đánh trống thúc quân tiến lên.
Quan hữu tư mã bảo:
- Nhà vua không thương dân nước Tống, để cho kẻ tâm phúc không được trọn vẹn (tức là chết), chỉ là giả (nhân) nghĩa[17]
Tương công bảo:
- Ông không trở về hàng ngũ, ta sẽ thi hành quân pháp. Quan hữu tư mã trở về hàng. Quân Sở đã sắp thành thế trận, Tương công mới đánh trống thúc quân. Quân Tống đại bại, ông bị thương ở bắp vế, ba ngày sau chết. Đó là cái hoạ hâm mộ nhân nghĩa.
 
d/ Tề Cảnh Công đi chơi Thiếu hải (tức Bột hải ở ngoài khơi tỉnh Sơn Đông). Một người trạm phi ngựa từ kinh đô tới tâu: “Tướng quốc Án Anh đau nặng sắp chết, e công về không kịp”. Công vụt đứng dậy. Một người trạm khác lại phi ngựa tới. Công sai thắng gấp con ngựa Phiền Táng[18] vào cỗ xe và sai Hàn Khu[19] đánh xe. Mới chạy được vài trăm bước, cho rằng Hàn Khu đánh xe chậm quá, công giằng lấy dây cương, đánh xe lấy. Lại được vài trăm bước nữa, cho rằng ngựa chạy chậm rì rì, công bỏ xe chạy bộ. Phiền Táng là con ngựa tốt, Hàn Khu là người đánh xe giỏi mà còn cho rằng không bằng xuống xe chạy bộ!
 
d/ Ngụy Chiêu vương muốn dự vào công việc của các quan, bảo Mạnh Thường quân: “Quả nhân muốn dự vào công việc của các quan”. Mạnh Thường quân nói: “Nhà vua muốn dự vào công việc của các quan thì sao không thử tập đọc luật pháp?” Chiêu vương mới đọc được trên mười cái thẻ[20] đã ngủ gục. Ông bảo: “Quả nhân đọc không nổi thứ luật pháp này”.
Không đích thân nắm quyền bính mà muốn làm công việc để cho bề tôi làm, thì tất nhiên là (mệt mỏi) phải ngủ gục!
*
Kinh 6. Việc nhỏ mà tin rồi thì việc lớn mới tin được. Cho nên bậc minh chủ phải thủ tín từ việc nhỏ tới việc lớn[21] Thưởng phạt mà không thủ tín thì cấm lệnh không được thi hành. (…)
 
Truyện 6. a/ Tấn Văn công đánh đất Nguyên, đem theo mười ngày lương thực, hẹn với các quan đại phu mười ngày sẽ về. Tới Nguyên mười ngày rồi mà không hạ được, ông đánh thanh la[22] rút quân về. Có người lính từ trong thành Nguyên ra thưa: “Đánh Nguyên ba ngày nữa thì tất hạ được”. Quần thần tả hữu đều can ông: “Nguyên, lương thực đã hết, sức đã kiệt, xin nhà vua chịu khó đợi”. Ông đáp: “Ta đã định kì hạn là mười ngày với sĩ tốt, nếu bây giờ không lui binh thì thất tín mất. Được đất Nguyên mà phải thất tín, ta không làm”. Rồi ông bãi binh, rút về. Người đất Nguyên nghe thấy vậy, bảo: “Có ông vua thủ tín như vậy, có nên không qui phục chăng?”, rồi kéo nhau ra hàng. Người nước Vệ nghe thấy vậy bảo: “Có ông vua thủ tín như vậy, có nên không đi theo chăng?” rồi hàng ông. Khổng tử nghe nói rồi ghi lại: “Đánh đất Nguyên mà được nước Vệ là nhờ chữ tín.”
 
d/ Ngụy Văn hầu hẹn đi săn với người nước Ngu. Đúng ngày hẹn[23] thì trời nổi cơn giông. Kẻ tả hữu khuyên đừng đi, ông không nghe, bảo: “Không nên. Lấy lẽ trời nổi cơn giông gió mà thất tín, ta không làm vậy được”. Rồi tự lấy xe xông pha cơn giông, tới chỗ hẹn, nhưng người nước Ngu chưa tới, bèn bãi cuộc đi săn[24].
 
đ/ Vợ Tăng tử (Tăng Sâm, môn sinh của Khổng tử) đi chợ, đứa con chạy theo khóc. Bà dỗ nó: “Con về đi, mẹ đi chợ về sẽ làm thịt heo cho con ăn”. Lúc bà đi chợ về, Tăng tử muốn bắt heo để giết, bà vợ ngăn: “Tôi nói đùa với nó vậy thôi mà”. Tăng tử bảo: "Mình cho là nói đùa, chứ trẻ không cho là nói đùa[25]. Trẻ không phải tự nhiên biết, toàn là học của cha mẹ, nghe lời cha mẹ bảo. Nay mình nói láo với nó tức là dạy nó nói láo. Mẹ nói láo với con, con mà không tin cha mẹ được, đó không phải là cách dạy con". Rồi ông làm thịt con heo, đem luộc.
 


[1] Các bản xưa chép là “minh chủ”, nghĩa không thông. Nên các học giả sửa lại là “ám” (hôn ám) hoặc là “thời”. Chúng tôi nghĩ chữ “thời” () có thể lầm với chữ minh () được, chứ chữ “ám” thì khác xa quá.
[2] Học trò Khổng Tử, người nước Lỗ, tên là Bất Tề.
[3] Một loại ngọc màu đỏ.
[4] Mỗi thạch là 120 cân thời đó.
[5] Coi chú thích ở truyện 1 Thiên sau.
[6] Thuyết này các sách khác cho là của Công Tôn Long – Công Tôn Long phân biệt con ngựa và màu trắng. Ngựa là một ý niệm khái quát, ngựa trắng là một con ngựa thật, hai cái khác nhau, do đó ngựa trắng không phải là ngựa. Công Tôn Long ngụy biện.
[7] Ở Lâm Tri, kinh đô Tề, Tề Tuyên vương lập một công quán cho các kẻ sĩ mọi nơi lại đó giảng luận, coi phần I.
[8] Nguyên văn: Hiệp phù tương vị tắc trách vọng, tự vị tắc sự hành. Chúng tôi phiên âm và hiểu theo Trần Khải Thiên. Có nhà phiên âm là: … tương vi …, tự vi và dịch: Khi hai người làm chung nhau (tương vi) thì họ trách nhau, còn tự mình làm riêng rẽ (tự vi) thì việc chạy. E sai.
[9] Nguyên văn là dị. Có sách giảng là dễ lấy. Thời đó vải có thể dùng làm tiền để trả công, trao đổi hàng hoá.
[10] Thời đó người Trung Hoa ở miền Trung và miền Bắc coi người Việt ở Đông Nam là ngoại nhân.
[11] Sách nói về việc tu thân, phải giữ gìn, đừng phóng túng, người đó hiểu lầm.
[12] Nguyên văn: bất súc ư quân. Có sách dịch là: khống chế vua.
[13] Tức Triệu Vô Tuất, một trong ba người diệt Trí Bá, dọn đường cho việc chia ba nước Tấn.
[14] Pháp gia cho nghề văn là vô dụng.
[15] Vua Triệu, tức Võ Linh vương, ông tự xưng là Chủ phụ (như Thái thượng hoàng) sau khi lập con là Hà làm vua.
[16] Khi gặp kẻ sĩ ở trên đường, ông ta nghiêng lọng (tỏ vẻ kính trọng) rồi mời họ lên ngồi chung xe.
[17] Nguyên văn: đặc vị nghĩa nhĩ. Chữ vị đó, chúng tôi theo Trần Khải Thiên, đọc là ngụy.
[18] Tên một con ngựa quí.
[19] Một người đánh xe giỏi.
[20] Thời đó luật pháp viết hay khắc trên thẻ tre, vì chưa có giấy.
[21] Nguyên văn: tích ư tín: tích luỹ niềm tin.
[22] Thời đó, tiến quân thì đánh trống, lui quân thì đánh thanh la.
[23] Nguyên văn: minh nhật (hôm sau). Chiến Quốc sách - Ngụy 4 – chép là thị nhật (hôm ấy), có phần đúng hơn.
[24] Nguyên văn: bãi Ngu nhân. Chúng tôi theo Trần Khải Thiên mà dịch như vậy. Có thể dịch là: (xông pha cơn dông) để bảo người nước Ngu bãi cuộc đi săn.
[25] Nguyên văn: Anh nhi phi dữ hí dạ. Có thể dịch là: không thể nói láo với trẻ được.

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Hàn Phi Tử   Thu Oct 17, 2013 4:17 pm

Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
Hàn Phi Tử
THIÊN XXXIII
NGOẠI TRỪ THUYẾT TẢ HẠ (Trích)
(NHỮNG THUẬT ĐỂ DÀNH MÀ DÙNG – THIÊN NGOẠI, TẢ, HẠ)
Kinh 1. Có tội mà bị trừng phạt thì không oán bề trên như người giữ cửa cụt chân cứu Tử Cao: có công mà được thưởng thì không cho đó là một ân huệ (...) như Chiêu Mão coi năm cỗ xe không hơn xà cạp và dép cỏ.
 
Truyện I – a/ Khổng tử làm tướng quốc nước Vệ[1], học trò là Tử Cao làm chức coi ngục, chặt chân một người phạm tội, người này sau làm chân giữ cửa. Có người ghét Khổng tử, nói với vua nước Vệ: “Trọng Ni muốn làm loạn”. Vua nước Vệ bắt Khổng tử, Khổng tử chạy kịp, các môn sinh đều trốn thoát, (chỉ có) Tử Cao không ra được vì cửa (thành) đã đóng[2], người cụt chân dẫn ông ta núp trong cái phòng ở chân cửa, viên lại tìm ông không được. Nửa đêm, Tử Cao hỏi người cụt chân: “Tôi không thể không thi hành pháp lệnh của vua, nên đích thân chặt chân của ông. Nay là lúc ông báo thù, mà sao ông lại giúp tôi trốn (ở đây)? Sao tôi lại được ông cứu như vậy?” Người cụt chân đáp: “Tôi bị chặt chân, vì tội tôi đáng vậy, làm sao khác được? Nhưng khi ngài định tội tôi, ngài xét mọi khía cạnh của pháp lệnh, tìm cách giúp tôi[3], muốn cho tôi khỏi tội, tôi biết vậy. Đến khi án đã quyết, tội đã định, ngài luôn buồn bã không vui, hiện rõ trên mặt, tôi thấy và biết vậy. Không phải ngài riệng thương tôi, bẩm tính ngài nhân từ như vậy. Tôi vui và mang ơn ngài là vì thế” (...).
 
c/ Tần và Hàn đánh Ngụy, Chiêu Mão (bề tôi nước Ngụy) qua phía Tây (Tần ở phía Tây) du thuyết mà Tần và Hàn bãi binh. Tề và Kinh đánh Ngụy, Mão qua phía Đông (Tề ở phía đông) du thuyết mà Tề và Kinh bãi binh. Ngụy Tương vương thưởng ông lộc năm cỗ xe[4], Mão nói: “Bá Di được chôn cất theo cấp tướng quân ở chân núi Thú Dương, và thiên hạ đều bảo: “Hiền (có khí tiết) và có tiếng nhân nghĩa như Bá Di mà chôn cất theo cấp tướng quân thì (cũng như) chôn còn hở tay chân[5]. Nay thần bãi binh được bốn nước mà nhà vua cho thần lộc năm cỗ xe thì khác chi cho thần xà cạp và dép cỏ[6]".
*
Kinh 2: nên cậy vào thế lực mà không nên cậy vào tín nhiệm[7], cho nên Đông Quách Nha chống lại việc Quản Trọng làm tướng quốc; nên cậy vào thuật mà không nên cậy vào tín nhiệm, cho nên Hồn Hiên chỉ trích Văn Công. Bậc vua chúa có thuật trị nước thì thưởng một cách xác đáng để bề tôi phát triển hết tài năng, trừng phạt một cách cương quyết để ngăn cản gian tà, như vậy bề tôi dù có hành động lộn xộn, mình cũng lợi dụng được (...)
 
Truyện 2 a/ Tề Hoàn công sắp lập Quản Trọng làm trọng phụ[8], ra lệnh cho quần thần: "Quả nhân sắp lập Quản Trọng làm Trọng Phụ, ai tán thành thì vào cửa rồi đứng qua bên trái, ai không tán thành thì vào cửa rồi đứng qua bên phải”, Đông Quách Nha đứng ở giữa. Hoàn công hỏi : “Quả nhân lập Quản Trọng làm trọng phụ, ra lệnh ai tán thành thì đứng bên trái, không tán thành thì đứng bên phải, sao ông lại đứng ở giữa cửa?” Nha đáp: “Thông minh như Quản Trọng có thể mưu tính lấy thiên hạ được không?” Công đáp: “Được”.
- “Quyết đoán như Quản Trọng có dám làm đại sự không?” Công đáp: “Dám”. Nha nói: “Thông minh có thể lấy thiên hạ, quyết đoán dám làm đại sự, mà nhà vua giao quyền bính cho ông ta thì ông ta tất dựa vào thế lực của nhà vua để trị nước Tề, có thể không nguy được không”. Công khen phải, rồi cho Thấp Bằng coi về nội chính, Quản Trọng coi về ngoại giao, hai người dòm ngó nhau[9].
 
b/ Tấn Văn công lưu vong ra nước ngoài. Cơ Trịnh bưng bình thức ăn theo hầu, lạc đường, mất dấu Văn công, khóc trên đường, nhịn đói rồi ngủ, chứ không dám ăn. Khi Văn công về nước, đem quân đánh đất Nguyên, chiếm được. Ông bảo: “Người chịu nhịn đói để giữ thức ăn trong bình cho ta, chắc không vì đất Nguyên mà phản ta”, rồi phong cho Cơ Trịnh làm huyện lệnh đất Nguyên. Quan đại phu Hồn Hiền nghe vậy, chê rằng: “Vì cái lẽ không đụng vào thức ăn trong bình mà tin rằng sẽ không vì đất Nguyên mà phản mình, chẳng phải là không có thuật trị nước ư? Bậc minh chủ không cậy vào cái lẽ bề tôi không phản mình mà ỷ vào cái lẽ họ không phản được mình, không ỷ vào cái lẽ họ không gạt mình mà ỷ vào cái lẽ họ không gạt được mình”.
 
c/ Dương Hổ bàn rằng: “Chúa mà hiền minh thì mình hết lòng phụng sự, nếu bất tài thi mình làm điều gian để thử chúa”. Ông ta bị đuổi ở nước Lỗ, bị nghi ở nước Tề[10], phải trốn qua Triệu, được Triệu Giản Chủ tiếp, phong làm tướng quốc; kẻ tả hữu hỏi: “Hổ giỏi cướp chính quyền, sao nhà vua lại dùng làm tướng quốc?”. Giản Chủ đáp: “Dương Hổ lo cướp chính quyền, ta lo giữ”, và ông dùng thuật để khống chế Hổ, Hổ không dám làm bậy, trung thành phụng sự, làm cho Giản chủ mạnh hơn lên, gần thành một bá chủ chư hầu.
*
Kinh 3: Văn Vương bỏ cái lễ vua tôi mà buộc lấy dây vớ, có lỗi mà còn khoe; Quí Tôn không phân biệt lúc ở triều, lúc về nhà, lúc nào cũng trang trọng, rốt cuộc bị hại.
 
Truyện 3. a/(Chu) Văn vương đem quân đánh nước Sùng, đến gò Phượng Hoàng thì dây vớ tuột, ông tự buộc lại. Thái Công Vọng hỏi: “Sao nhà vua lại tự buộc lấy?” Văn Vương đáp: “Những người mà vua dùng, bậc trên đều là thầy của vua, bậc giữa đều là bạn, bậc dưới đều là người sai khiến[11]. Ở đây đều là bề tôi của tiên vương, nên không có ai để sai khiến”.
Một thuyết khác bảo:
Tấn Văn Công giao chiến với Sở, tới gò Phượng Hoàng, dây dép tuột ra, ông tự buộc lại. Kẻ tả hữu hỏi “Nhà vua không sai người buộc lại cho được ư?”. Ông đáp “Ta nghe nói vua bậc trên ở gần ai thì đều nể họ; vua bậc trung ở gần ai thì đều yêu họ; vua bậc dưới ở gần ai thì đều khinh họ. Quả nhân tuy bất tiếu nhưng người của tiên vương còn đó, cho nên khó sai ai được”.
 
b/ Quí Tôn thích nuôi kẻ sĩ, suốt đời trang trọng, cách cư xử và ăn mặc ở nhà lúc nào cũng như ở triều đình. Nhưng có lần ông làm biếng nên sơ thất, không trang trọng được hoài. Các khách (kẻ sĩ ông nuôi) cho rằng ông đã chán và khinh họ nên oán ông, giết ông. Vì vậy bậc quân tử nên bỏ cái gì thái quá.[12]
*
Kinh 4: Khiến cho phạm điều mình cấm được lợi, hễ làm lợi cho mình lại bị cấm, như vậy vua dù là thần thánh cũng không trị nước được. Khen kẻ có tội, chê kẻ đáng thưởng thì dù là vua Nghiêu cũng không trị nước được. Làm cửa mà không cho người ta vào, bày cái lợi ra mà không cho người ta tiến lại (để hưởng), mối loạn sinh ra từ đó (...)
 
Truyện 4 b/ Tây Môn Báo làm quan lệnh đất Nghiệp, nghiêm khắc liêm khiết, không mảy may tư lợi, coi thường kẻ tả hữu của vua nên bọn họ kết bè nhau để hủy báng ông. Được một năm ông dâng báo cáo lên, nhà vua thu ấn của ông lại. Ông dâng biểu xin vua: “Trước thần không biết cách cai trị đất Nghiệp, nay thần biết rồi, xin được giao ấn lại để cai trị đất Nghiệp lần nữa, không được việc thì xin chịu tội chém." (Vua là) Văn Hầu thương tình cho phục chức. Từ đó Báo đánh thuế nặng bách tính, hối lộ kẻ tả hữu của vua. Được một năm ông dâng báo cáo lên. Văn Hầu nghinh tiếp và bái tạ ông, ông thưa: “Năm trước thần vì nhà vua mà trị đất Nghiệp thì nhà vua thu ấn của thần; năm nay thần vì các tả hữu của nhà vua mà trị đất Nghiệp thì vua bái tạ thần. Thần không thể trị đất Nghiệp được nữa”. Rồi trả ấn mà đi. Văn Hầu không nhận, bảo: “Trước kia quả nhân không biết ông, nay biết rồi, xin ông vì quả nhân mà rán trị đất Nghiệp cho”. Và trả lại ấn.
 
d/ Tử Xước nói không có thể đồng thời tay trái vẽ hình vuông và tay phải vẽ hình tròn được.
đ/ Dùng thịt đuổi kiến thì kiến càng đông, dùng cá đuổi ruồi thì ruồi càng bu lại.[13]
*
Kinh 5: bề tôi nào quá tự ti và tiết kiệm thì tước lộc không đủ để khuyến khích; ân sủng và vinh quang mà ban phát không tiết độ thì bề tôi áp bức vua chúa (...)
Bè đảng phụ họa cho nhau, bề tôi thỏa mãn được tư dục thì vua bị cô lập; quần thần lấy công tâm mà đề cử người, kẻ dưới không phụ họa nhau (làm điều gian) thì là vua sáng suốt (...)
 
Truyện 5. a/ Vu Hiến Bá làm tướng quốc nước Tấn[14] mà rau lê rau hoắc mọc đầy dưới sân, gai góc sum suê ngoài cửa, bữa ăn không hai món, chỗ ngồi không có hai lớp chiếu, vợ không mặc đồ lụa, ở nhà không cho ngựa ăn lúa, ra ngoài không có xe theo hầu. Thúc Hưởng hay điều đó, lại nói với Miêu Bôn Hoàng, Bôn Hoàng chê: “Như vậy là lấy tước lộc của vua làm vui lòng kẻ dưới”.
(Còn một thuyết khác, đại ý cũng vậy chúng tôi bỏ).
 
b/ Quản Trọng làm tướng quốc nước Tề, tâu với vua:
“Thần sang nhưng nghèo”. Hoàn Công bảo: “Cho ông có nhà tam qui”[15]. (Có nhà tam qui rồi) Quản Trọng lại tâu: “Thần đã giàu rồi, nhưng địa vị thần còn thấp”. Hoàn Công đặt ông ta lên trên họ Cao, và họ Quốc (hai quí tộc lớn nhất của nước Tề). Ông ta lại xin: “Địa vị của thần cao rồi, nhưng thần còn sơ với nhà vua (không được ở trong công tộc)”. Hoàn Công bèn lập ông làm trọng phụ (như hàng cha chú của vua) Khổng tử nghe chuyện đó, chê Quản Trọng là “xa xỉ quá đáng, bức hiếp vua”.[16]
Còn 1 thuyết khác: “Quản Trọng ra ngoài thì dùng xe bọc màu đỏ với người hầu mặc áo xanh, về nhà thì cho đánh trống, trước sân bày vạc, trong nhà có đài tam qui. Khổng Tử nói: “Ông ta là một quan đại phu giỏi, nhưng quá đáng, và bức cấp trên”.
(Đoạn dưới chép về Tôn Thúc Ngao, tướng quốc Sở, chúng tôi bỏ).
 
d/ Đất Trung Mâu không có quan lệnh, Tấn Bình Công hỏi Triệu Võ:
- Trung Mâu là tay chân của Tấn, vai lưng của Hàm Đan, quả nhân muốn có một quan lệnh tốt ở đó, dùng ai được bây giờ?
Võ thưa:
- Có thể dùng Hình Bá Tử.
Công hỏi:
- Người đó không phải là kẻ thù của ông ư?
- Thù riêng không vào cửa công (nghĩa là việc công việc nước thì không kể đến thù riêng).
Công lại hỏi:
- Còn chức lệnh ở Trung phủ thì dùng ai?
- Dùng con của thần được.
Cho nên bảo: “Triệu Võ tiến cử người ở ngoài họ mình thì không chừa kẻ thù, tiến cử người trong thân thuộc của mình[17] thì không chừa con”. Ông tiến cử 46 người, đến khi ông mất, họ đều đến điếu với tư cách là khách (chứ không thân mật như người nhà). Đức vô tư của ông như vậy đó (...)
 
e/ Giải Hồ tiến cử kẻ thù của mình làm tướng quốc cho Giản chủ. Người thù đó cho rằng mình may mắn được tha thứ rồi nên lại bái tạ. Hồ giương cung muốn bắn ông ta, bảo: “Tiến cử người là việc công, vì cho rằng ngươi lãnh được nhiệm vụ; còn thù ngươi thì là cái oán riêng, ta không vì oán riêng mà chặn đường của ngươi, không tiến cử ngươi lên với vua”. Vì vậy có ân oán riêng thì không vào cửa công[18].
*
Kinh 6. Vua[19] hèn kém thì kị lời nói thẳng, ân nghĩa riêng tư mà chiếm phần ưu thắng thì công nghiệp của vua sẽ ít.
 
Truyện 6. – (Bốn truyện trong phần này không thực là những dẫn chứng mà chỉ hơi có liên quan tới phần kinh). Truyện đầu là lời Võ tử khuyên con đừng nói thẳng mà nguy đến thân; truyện thứ 2 thì là lời Tử Quốc khuyên con là Tử Sản (tướng quốc nước Trịnh) đừng nên trung với vua vì bị quần thần ghét mà nguy đến thân; truyện thứ 3; Lương Xa có công tâm quá tới mức chặt chân chị khi chị phạm tội nhỏ, vua đã chẳng khen mà còn chê là bất từ, cách chức huyện lệnh của ông ta; truyện cuối cùng, Quản Trọng bị bắt, từ nước Lỗ giải về Tề, dọc đường đói khát, được một người giữ biên giới tặng thức ăn. Người này hỏi sau này được trọng dụng thì Quản Trọng sẽ đền ơn anh ta ra sao. Quản Trọng không nghĩ đến ơn riêng đó, đáp sẽ dùng người hiền để giúp nước, và bị anh ta oán.


[1] Khổng tử không làm tướng quốc nước Vệ. Thời đó Khổng Khôi làm loạn: ngẫu nhiên cùng họ với Khổng tử, nên người ta lầm là Khổng Tử.
[2] Nguyên văn: Tử Cao hậu môn. Có sách dịch là Tử Cao đi ra ngõ sau, có sách dịch là: ra cửa sau cùng. Chúng tôi theo Trần Khải Thiên.
[3] Nguyên văn: tiên hậu thần di ngôn. Trần Khải Thiên giảng: tiên hậu là tả hữu, nghĩa là giúp.
[4] Thời dó thiên tử có vạn cỗ xe, vua chư hầu có 1000 cỗ, quan đại phu có 100 cỗ. Mỗi cỗ xe tương đương cho lộc của 6 dặm vuông đất.
[5] Bá Di con vua Cô Trúc có đạo đức, không ham ngôi vua, lại chê Chu Võ vương giết Vua Trụ trong lúc còn tang cha, nến không phục tòng Võ Vương, bỏ vào núi Thú Dương, chết đói ở đó.
[6] Ý nói: thưởng không hậu. Mấy hàng cuối này nguyên văn khó hiểu, mỗi sách giảng một khác. Chúng tôi theo bản của Trần Khải Thiên.
[7] Tức không nên quá tin bề tôi.
[8] Trọng phụ là tiếng tôn xưng (coi Quản Trọng như hàng cha chú mình) chứ không phải là chức tước.
[9] Truyện này e không có thực. Theo sử thì Quản Trọng nắm trọn quyền hành.
[10] Theo thiên XXXIX Nạn Tứ 2 thì Dương Hổ bị Tề Cảnh Công bỏ tù. Luận ngữ chép là Dưỡng (Dương?) Hóa (Hóa là tên tự).
[11] Câu này nguyên văn có bản chép khác và nghĩa cũng khác:.... vua vào bậc trên (hiền đức nhất) coi các bề tôi đều là thầy cả, bậc giữa thì coi bề tôi đều là bạn, bậc thấp nhất coi bề tôi đều là người để sai khiến.
[12] Năm truyện sau từ c/ đến g/, không được nói tới trong phần Kinh mà cũng chẳng liên quan gì đến Kinh.
[13] Ba truyện sau không liên quan đến phần Kinh, riêng truyện cuối h/ không được nói tới trong phần Kinh.
[14] Có sách chép là Mạnh Hiến Bá và nước Lỗ, sai.
[15] Về danh từ “tam qui” này có tới 5 – 6 thuyết: 1 – một lần cưới 3 vợ, 2 – phép đánh thuế, 3 – dựng đài tam qui; ngụ ý rằng 3 hạng người qui phục mình: dân qui phục, chư hầu qui phục, các rợ qui phục, chỉ bậc thiên tử mới đáng dựng đài đó, 4 – thuế chợ nộp vào kho nhà nước, 5 – chỗ chứa tiền của. Trần Khải Thiên nghiên cứu kỹ và cho rằng thuyết sau đây của Dực(?) có lý hơn; tam qui là tam bách thặng (300 cỗ xe). Quan Đại Phu có 100 cỗ xe, lộc mỗi cỗ xe bằng thuế một xã 30 nóc nhà, 6 dặm vuông. Quản Trọng được lộc tam qui, tức lộc ba trăm cỗ xe, bằng ba lộc đại phu, cho nên mới gọi là giàu.
[16] Trong Luận ngữ - Bất dật -22, Khổng Tử chê Quản Trọng là khí tượng nhỏ nhen, không tiết kiệm, không biết lễ.
[17] Nguyên văn : ngoại cử và nội cử, có sách giảng là cử người bên ngoài, bên trong.
[18] Truyện g/ không được nói tới trong phần kinh.
[19] Nguyên văn: công thất.

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Hàn Phi Tử   Fri Oct 18, 2013 1:03 pm

Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
Hàn Phi Tử
THIÊN XXXIV
NGOẠI TRỪ THUYẾT HỮU THƯỢNG
(Trích)
(NHỮNG THUẬT ĐỂ DÀNH MÀ DÙNG – THIÊN NGOẠI, HỮU, THƯỢNG)
Kinh 1, bề tôi nào mà vua dùng quyền thế cải hóa không được thì trừ đi (...)
 
Truyện 1. – a/ Thưởng và khen không khuyến khích được, phạt và chê cũng không sợ, dùng cả bốn cách mà không biến đổi được thì trừ đi.
 
d/ Người đi săn nhờ sự vững chắc của xe, dùng chân của sáu con ngựa, sai Vương Lương (một người giỏi đánh xe ngựa) cầm cương thì thân không mệt mà đuổi kịp những con thú chạy nhanh. Nay bỏ cái tiện lợi của xe, không dùng sáu con ngựa, không dùng tài đánh xe của Vương Lương mà xuống xe chạy bộ đuổi theo con thú thì dù có chân của Lâu Quí (một người chạy rất nhanh) cũng không sao đuổi kịp thú. Dùng ngựa tốt xe bền thì dù kẻ tôi tớ (không quen đi săn) cũng dư sức săn được thú. Nước là xe của vua, quyền (thế) là ngựa của vua, không dùng cái thế để cấm và giết bọn bề tôi chuyên mua lòng dân (bằng cách ban ân huệ riêng cho dân), mà cứ muốn phải có đức để cùng tranh dân với bề tôi thì cũng như không dùng xe của vua, sức của ngựa mà bỏ xe xuống chạy bộ vậy.
 
đ/ Tử Hạ, môn đệ của Khổng Tử, nói: “Sách Xuân Thu chép cả chục vụ bề tôi giết vua, con giết cha, tất cả những vụ đó đều không phải chỉ trong một ngày mà xảy ra, trái lại do chất chứa dần dần rồi sau mới phát”. Kẻ gian làm bậy với dân, mỗi ngày một chất chứa, chất chứa rồi thì sức mạnh lên, có thể giết vua, vì vậy mà bậc minh chủ nên sớm diệt họ. Nay Điền Thường[1] đã làm loạn, đã lần lần thấy rồi, mà vua (Tề Giản Công) không giết đi, Án Tử không khuyên vua giết bọn bề tôi xâm lăng mà khuyên ban ân huệ cho dân, vì vậy mà sau Giản Công bị họa. Cho nên Tử Hạ bảo: “Người nào giỏi nắm cái thế thì diệt ngay ý gian khi nó mới manh nha”.
 
g/ Thái Công Vọng được phong ở nước Tề, tại phía đông. Trên bờ biển đông nước Tề có hai anh em ruột đều là cư sĩ: Cuồng Duật và Hoa Sĩ. Họ bàn với nhau: "Chúng ta không làm bề tôi thiên tử, không làm bạn chư hầu, cày ruộng mà ăn, đào giếng mà uống, không cầu gì ở người khác, không nhận danh hiệu (chức tước), bổng lộc của vua, không làm quan, mà lao động để sống"! Thái công Vọng khi đến Doanh Khâu (kinh đô Tề lúc đó) sai bắt giết hai người ấy, đó là đợt giết đầu tiên.
Chu công Đán ở nước Lỗ hay tin, phái người gấp tới hỏi: "Hai người đó là bậc hiền, nay ông mới tới nhận nước, đã giết ngay người hiền, tại sao vậy?" Thái công Vọng đáp: “Hai anh em nhà đó bàn với nhau: “Chúng ta không làm bề tôi thiên tử không làm bạn chư hầu, cày ruộng mà ăn, đào giếng mà uống, không cầu gì ở người khác, không nhận danh hiệu, bổng lộc của vua, không làm quan mà lao động để sống”. Họ không chịu làm bề tôi của thiên tử thì Vọng này không coi họ là bề tôi được; họ cày ruộng mà ăn, đào giếng mà uống, không cầu gì ở người khác, thì tôi không thể thưởng phạt, khuyên cấm họ được. Vả lại họ không nhận danh hiệu vua ban thì dù họ có tài trí cũng không để cho Vọng tôi dùng ; họ không cầu bổng lộc của vua thì dù họ có hiền đức cũng không lập công với Vọng được. Họ không chịu làm quan thì không trị họ được, họ không lãnh nhiệm vụ thì họ không trung với mình. Tiên vương sở dĩ sai khiến thần dân được là nhờ tước lộc hoăc hình phạt. Nay, dùng cả bốn cái đó không đủ để sai khiến họ thì Vọng tôi cai trị ai nổi bây giờ? Không đeo binh pháp mà được vẻ vang, không tự cày bừa mà nổi danh, đó cũng không phải là điều đem ra dạy dân được (….). Họ tự cho là hiền sĩ trong đời mà không để cho chúa dùng, hạnh của họ cực hiền nhưng vô dụng cho vua, đó đâu phải là bề tôi của bậc minh chủ, có khác chi con ngựa kí (chạy rất nhanh) mà không lái qua tả qua hữu được, vì vậy mà tôi phải giết.
*
Kinh 2. Bậc vua chúa là cái đích lợi và hại (ai nhắm trúng, tức đoán đúng ý của vua, thì có lợi, ngược lại thì có hại. Người nhắm đích rất đông, cho nên bậc vua chúa dễ bị chia uy quyền với bề tôi[2]. Vì vậy nếu điều yêu ghét của vua bộc lộ ra thì bề tôi lợi dụng mà làm cho vua bị mê hoặc; vua tiết lộ lời của bề tôi cho người khác biết thì bề tôi khó nói (tố cáo) mà vua không còn là thần thánh nữa (…)
 
Truyện 2. a/ Thân tử (Thân Bất Hại) nói: “Sự sáng suốt của bề trên mà để lộ ra thì người dưới sẽ đề phòng; sự không sáng suốt của bề trên mà để lộ ra thì người dưới sẽ gạt bề trên; sự hiểu biết của bề trên mà để lộ ra thì người dưới sẽ dối sự thật; sự không ham muốn mà để lộ ra thì bề dưới sẽ rình bề trên; sự ham muốn của bề trên mà lộ ra thì người dưới sẽ nhử bề trên. Cho nên bảo: "Ta không dựa vào đâu mà biết người (tức bề tôi) được, chỉ có vô vi (không làm gì cả) là có thể dò xét được họ thôi[3]
 
d/ Tĩnh Quách quân (Điền Anh) làm tướng quốc nước Tề. Vợ vua chết, chưa biết ai sẽ được lập làm hoàng hậu, ông dâng vua hoa tai bằng ngọc để biết. (Truyện này giống Truyện Tề III 2 trong Chiến Quốc sách).
 
e/ (Tần Huệ vương đuổi Công tôn Diễn đi, vì nghe lời gièm pha của Cam Mậu mà ngờ Công tôn Diễm bép xép để tiết lộ việc ông cho Diễn làm tướng quốc thay Cam Mậu. (Truyện này chép trong Chiến Quốc sách – Tần II 13, nên chúng tôi không dịch lại).
 
g/ Đường Khê công nói với (Hàn) Chiêu hầu : “Nay có một cái chén ngọc đáng giá ngàn vàng mà không có đáy, có thể đựng rượu được không ?”. Chiêu hầu đáp: "Không được".
- “Có cái vò bằng đất nung mà không rịn, có thể đựng rượu được không ?” – “Được” – Cái vò bằng đất, cực xấu xí rẻ tiền, mà không rịn thì đựng được rượu, còn cái chén ngọc đáng giá ngàn vàng, cực quí mà không có đáy thì đựng nước cũng không được, thì còn ai rót nước uống vào đó nữa ? Làm vua mà tiết lộ lời nói của bề tôi thì không khác gì chén ngọc không đáy, dù là bậc thánh trí cũng không dùng hết thuật được vì không kín tiếng”. Chiêu hầu đáp: "Phải". Ông nghe lời khuyên của Đường Khê công, từ đó về sau, hễ muốn thi hành một việc lớn trong thiên hạ thì luôn luôn ngủ một mình sợ ngủ mê, nói mơ mà người khác biết mưu tính của mình.
(Còn một thuyết nữa, gần y hệt thuyết trên; bỏ).
*
Kinh 3. Thuật sở dĩ không thi hành được là có lí do; (người bán rượu) không giết con chó (dữ) thì rượu hóa chua, mà bọn bề tôi cầm quyền là bầy chó dữ của nước; còn bọn tả hữu của vua là bầy chuột làm hại nền xã tắc (vì dòm ngó tình ý của vua). (…) (Muốn diệt bọn đó thì phải cương quyết như) Trang vương trả lời thái tử (bắt thái tử giữ phép nước như mọi người) (…) ( và phải nén đau khổ trừ bỏ bề tôi mình yêu nhất nếu họ phạm pháp như) Văn công chém Điên Hiệt[4]).
 
Truyện 3. a/ Nước Tống có người bán rượu, đong rượu rất ngay thẳng, tiếp khách rất ân cần, bài rượu treo thật cao, nhưng vẫn ế, rượu (để lâu) hóa chua, lấy làm lạ, hỏi một ông già trong xóm tên là Dương Thiến. Thiến đáp: “Tại chó của chú dữ quá!” Hỏi : “Chó dữ thì tại sao rượu lại ế?” Đáp: "Có người sai trẻ mang tiền, cầm bình hoặc vò tới mua, chó của chú xông ra cắn, vì vậy rượu để tới chua, không người mua". Nước cũng vậy, có loài chó dữ. Những kẻ sĩ biết đạo đem thuật (trị nước) tới muốn soi sáng cho bậc chúa muôn cỗ xe thì bọn đại thần làm chó dữ, xông ra cắn, vì vậy mà chúa bị che lấp, lấn áp, kẻ sĩ có đạo không được dùng.
Do lẽ đó mà (xưa kia khi Tề) Hoàn công hỏi Quản Trọng : “Trị nước thì cái gì đáng lo nhất?”, Quản Trọng đáp: "Đáng lo nhất là bầy chuột nền xã". Hỏi: “Sao lại lo chuột nền xã ?” Đáp: “Nhà vua đã thấy người ta lập nền xã (nơi thờ thần đất đai) rồi chứ? Người ta trồng một cây (tượng trưng cho thổ thần), rồi tô đất màu lên. Chuột khoét đất, đào hang ở trong nền xã; hun khói thì sợ cây cháy mà dội nước thì sợ trôi mất màu, vì vậy mà không sao bắt được chuột nền xã. Nay bọn tả hữu của nhà vua khi ra thì ỷ vào quyền thế mà bóc lột dân chúng, khi vào thì lập bè đảng che giấu tội ác không cho vua thấy, bên trong dò xét tình ý của vua để cho bên ngoài biết, ở trong và ở ngoài, quyền thế đều lớn, ăn hối lộ của các quan lại mà hóa giàu. Người chấp chính không giết họ thì phép nước sẽ loạn mà giết thì vua không chịu, che chở mà giữ họ[5], họ cũng là loài chuột nền xã trong nước đấy”.
Hạng bề tôi cầm quyền mà tự ý ra cấm lệnh, khiến cho thiên hạ thấy rõ rằng ai vị họ thì tất có lợi, không vị họ thì tất bị hại, hạng đó cũng là chó dữ đấy. Đại thần làm chó dữ, cắn kẻ sĩ có đạo; kẻ tả hữu làm chuột nền xã dò xét tình ý của chúa, chúa không giác ngộ thì làm sao khỏi bị che lấp mà nước khỏi bị suy vong![6]
(Còn một thuyết khác nữa, nội dung không khác, nên bỏ)
 
c/ Kinh Trang vương có phép “mao môn” (cũng gọi là trĩ môn)[7] bảo: “Quần thần, đại phu và các công tử vào triều, nếu móng ngựa đạp lên chỗ ở dưới máng xối thì viên đình lý (coi sân chầu) sẽ chặt đòn xe và giết kẻ đánh xe”. Một hôm thái tử vô triều, móng ngựa đạp lên chỗ ở máng xối, viên đình lí bèn chặt đòn xe và giết người đánh xe. Thái tử nổi giận, vô khóc lóc với vua: “Xin vua vì con mà giết tên đình lí đi”. Trang vương đáp: “Đặt ra pháp luật là để kính trọng tôn miếu, xã tắc; cho nên ai lập pháp, theo lệnh tôn kính xã tắc thì đều là bề tôi của xã tắc, sao lại giết được ? Còn kẻ phạm pháp, bỏ lệnh, không tôn kính xã tắc là lấn quyền thế của vua, phạm thượng. Bề tôi lấn quyền thế của vua thì vua mất uy: kẻ dưới phạm thượng thì địa vị của bề trên nguy. Uy mất, địa vị nguy, xã tắc không giữ được, ta lấy gì mà để lại cho con cháu?” Thái tử liền trở về, không vào nhà mà ở ngoài ba ngày, hướng về phía bắc lạy mấy lần, xin tha tội chết.
 
(Một thuyết khác nữa cũng giống thuyết trên, nên bỏ)
 
g/ ( Truyện này dài, chúng tôi cắt trên, cắt dưới, chỉ dịch đoạn giữa) (…) Tấn Văn công hỏi Hồ Yển[8]:
- Hình phạt thi hành đến đâu là cùng cực ?
Hồ Yển đáp:
- Không tránh người thân và đại thần, thi hành cả với người mình yêu.
Công khen: “Phải”.
Hôm sau, Công ra lệnh đi săn ở Phố Lục, ra hẹn giữa trưa phải tới chỗ, ai tới trễ thì bị trị tội như quân pháp. Một sủng thần của Công là Điên Hiệt tới trễ. Viên lại (thi hành mệnh lệnh) xin trị tội Điên Hiệt. Văn công rơi lệ, lo lắng, do dự. Viên lại nói: "Xin thi hành pháp luật", chém Điên Hiệt ngang lưng để cho dân chúng thấy rõ ràng pháp luật đã ban thì thi hành đúng. Từ đó dân chúng đều sợ, bảo: "Vua quí trọng Điên Hiệt như vậy mà còn thi hành pháp luật, huống hồ là đối với chúng ta" (…).


 
[1] Điền Thành (hoặc Điền Thường, coi chú thích thiên Ngũ đố) ban ân huệ riêng cho dân để dân theo mình mà xa vua, như vậy là có ý chiếm ngôi của Tề giản công. Giản Công biết là nguy cho mình, hỏi Án Tử cách đối phó ra sao. Án Tử khuyên Giản Công ban ân huệ cho dân hơn Điền Thành thì dân sẽ bỏ Điền Thành mà theo mình.
[2] Nguyên văn : “cố nhân chủ công hĩ” thật khó hiểu, chúng tôi theo bản của Trần Khải Thiên. Có người dịch là: cho nên bậc vua chúa có nhiều kẻ bao vây.
[3] Vì không làm gì thì không để lộ ý của mình ra, cứ núp vào sự hư tĩnh thì bề tôi  không đoán được ý mình mà mình dò được ý họ.
[4] Đoạn này nếu dịch sát thì rất khó hiểu nên chúng tôi bất đắc dĩ phải cắt bớt và giảng giải.
[5] Nguyên văn: quân bất an, cứ nhi hữu chi. Có bản chép là: cứ quân sở an, cứ nhi hữu chi? và dịch là: vua căn cứ vào đâu mà bắt tội họ (vì họ lập bè đảng che giấu cho nhau rồi).
[6] Sáu hàng cuối này, Trần Khải Thiên cho là lời của Quản Trọng. Chúng tôi cho là giọng của Hàn Phi.
[7] Cung điện vua chư hầu có 3 cửa: ngoài, giữa, trong. Mao môn là cửa giữa.
[8] Cậu của Văn công, tòng vong với công, sau giúp công lập được nghiệp bá. Thường gọi là cậu Phạm.


_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: Hàn Phi Tử   Fri Oct 18, 2013 4:57 pm

Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi
Hàn Phi Tử
THIÊN XXXV
NGOẠI TRỪ THUYẾT HỮU HẠ (Trích)

(NHỮNG THUẬT ĐỂ DÀNH MÀ DÙNG – THIÊN HẠ NGOẠI, HỮU, HẠ)
 
Kinh 1. - Việc thưởng phạt giao cho bề tôi thì cấm lệnh không được thi hành (…).
 
Truyện 1.
b/ Quan tư thành (một chức lớn) Tử Hãn tâu với vua Tống: "Khen thưởng và ban ơn là làm cho dân thích, việc đó xin vua đảm nhiệm lấy; chém giết, trừng phạt là làm cho dân ghét, việc này thần xin đảm đương". Vua Tống bảo: "Được". Từ đó hễ có việc ban lệnh ra oai, trừng trị đại thần thì ông bảo: "Hãy hỏi Tử Hãn". Do đó đại thần sợ Tử Hãn, dân chúng theo ông ta. Được một năm, Tử Hãn giết vua Tống cướp ngôi. Vậy là Tử Hãn dùng cách thả con heo nái (làm cho ngựa sợ)[1] để cướp nước của vua.
 
Kinh 2. Nước trị và mạnh là nhờ pháp luật ; nước loạn và yếu là do bề tôi lập bè đảng mưu tư lợi[2].Vua chúa hiểu rõ lẽ đó thì dùng hình phạt cho đúng mà bỏ lòng nhân đối với kẻ dưới. Có công lao thì mới được tước lộc, có tội thì bị hình phạt. Bề tôi biết rõ như vậy thì tận lực tới chết mà bỏ lòng trung với vua[3]. Vua hiểu cái lẽ bất nhân (không ban ơn riêng), bề tôi hiểu rõ cái lẽ bất trung thì có thể lập được nghiệp vương (...).
 
Truyện 2. a/ Tần Chiêu vương đau, dân chúng mỗi lí (hai mươi lăm nhà là một lí) chung nhau mua bò và nhà nào cũng cầu cho vua hết bệnh. Công tôn Thuật ra ngoài thấy vậy, bèn vào mừng vua: "Trăm họ đều chung nhau mỗi lí mua bò để cầu nguyện cho nhà vua hết bệnh". Chiêu vương sai người đi dò hỏi, quả có như vậy, ra lệnh: "Phạt mỗi lí phải nộp hai áo giáp (bằng da tê ngưu). Không ra lệnh mà tự ý cầu nguyện là thương quả nhân. Họ thương quả nhân thì quả nhân cũng phải đổi pháp luật mà làm vừa lòng họ, như vậy pháp luật không đứng được, pháp luật không đứng được sẽ đưa tới nước loạn và mất nước. Không bằng phạt mỗi lí hai áo giáp mà cho nước loạn được trị trở lại".
 
(Còn một thuyết nữa cũng đại ý như vậy, bỏ)
 
b/ Nước Tần rất đói kém. Ứng hầu[4] xin với vua :”Rau cỏ hột quả trong năm vườn của nhà vua đủ để cứu đói cho dân, xin nhà vua phát cho họ”. Chiêu Tương vương bảo :”Theo pháp luật nước Tần ta thì dân có công mới được thưởng, có tội mới bị phạt. Nay phát cho dân rau quả trong năm vườn, tức là dân có công hay không đều được thưởng cả. Khiến cho dân có công hay không đều được thưởng là gây loạn cho nước. Phát rau quả trong năm vườn mà nước loạn sao bằng đừng phát mà nước được trị”.
 
d/ Công Nghi Hưu làm tướng quốc nước Lỗ thích ăn cá. Cả nước tranh nhau mua cá tặng ông, ông không nhận. Em trai ông hỏi: "Anh thích ăn cá mà sao người ta tặng lại không nhận!". Đáp: "Chỉ vì thích ăn cá mà không nhận đấy, vì nhận phải chịu ơn của người, chịu ơn của người thì phải uốn cong pháp luật, uốn cong pháp luật thì mất chức tướng quốc, mất chức tướng quốc thì người trong nước không tặng ta cá nữa mà ta cũng không tự cung cấp cá được (vì hết bổng lộc). Còn như không nhận cá thì vẫn còn làm tướng quốc, có thích ăn cá thì tự cung cấp cá hoài được”. Truyện đó cho ta thấy rõ ràng trông cậy ở người không bằng trông cậy ở mình, nhờ người ta làm cho mình không bằng tự mình làm lấy.
 
Kinh 3. Bậc vua chúa[5] lấy việc nước ngoài làm gương, thì việc bên ngoài không thể không thành, bởi vậy mà Tô Đại chê vua Tề. Bậc vua chúa lấy việc thời cổ làm gương thì bọn xử sĩ (không ra làm quan) mà tư tưởng không hợp với nhà cầm quyền sẽ không được vinh hiển, bởi vậy mà Phan Thọ nói về tình của vua (Hạ) Vũ, (…). Phương Ngô không ngồi cùng xe với kẻ mặc áo như mình, không ở cùng nhà với người trong họ, huống hồ là cho người khác mượn quyền mình, Ngô Chương nói chuyện thì không vờ thương ghét, huống hồ là thương ghét thật (…).
 
Truyện 3.
a/ Tử Chi làm tướng quốc nước Yên, chức cao mà chuyên quyền. Tô Đại được vua Tề sai đi sứ qua Yên. Vua Yên hỏi : "Vua Tề là ông vua ra sao?" Đáp : "Không thể làm bá chủ được" – “Sao vậy?” – “Xưa Tề Hoàn công làm bá chủ, nội chính giao cho Bão Thúc, ngoại giao giao cho Quản Trọng. Ông bỏ xõa tóc mà vui với đàn bà, suốt ngày dạo phố phường. Còn vua Tề ngày nay thì không tin đại thần.” Nghe lời Tô Đại, vua Yên càng tin Tử Chi hơn. Tử Chi biết chuyện đó, sai người tặng Tô Đại trăm dật vàng (mỗi dật khoảng 20 – 30 lượng) để ông ta tiêu.
 
(Còn một thuyết nữa, bỏ).
 
b/ Phan Thọ nói với vua Yên :”Nhà vua nên đem nước nhường cho Tử Chi. Người ta sở dĩ khen vua Nghiêu hiền đức là vì ông nhường thiên hạ cho Hứa Do, Hứa Do tất không nhận, như vậy vua Nghiêu được tiếng là nhường thiên hạ cho Hứa Do mà thực ra vẫn không mất thiên hạ. Nay nhà vua nhường nước cho Tử Chi, Tử Chi tất không nhận ; nhà vua sẽ được tiếng là nhường nước cho Tử Chi mà đức hạnh sẽ ngang với vua Nghiêu”. Vua Yên bèn đem việc nước giao hết cho Tử Chi, quyền của Tử Chi cực lớn.
 
(Còn hai thuyết nữa, và chỉ hai thuyết này mới nhắc đến vua Hạ Vũ trong phần kinh đã nói, nhưng chúng tôi cũng bỏ vì ý nghĩa không khác.
 
– xin ghi thêm : Chiến Quốc Sách – Yên 9 – cũng chép truyện đó gần giống hết thuyết thứ nhất chúng tôi đã dịch).
 
c/ Phương Ngô Tử (không rõ là ai) bảo :”Ta nghe nói theo lỗ (lối?) cổ, vua đi đường không ngồi cùng xe với người y phục đẹp đẽ như mình, tại nhà thì không ở chung với người trong họ mình (để người ngoài khỏi lầm những người trong họ đó là vua); huống hồ là cho bề tôi mượn quyền của mình mà làm mất cái (uy) thế của mình đi.
 
d/ Ngô Chương (bề tôi nước Hàn) nói với Hàn Tuyên vương : ”Bậc vua chúa không nên giả vờ thương người vì như vậy một ngày kia không thể lại ghét họ trở lại được; không nên giả vờ ghét người vì như vậy một ngày kia không thể lại thương họ trở lại được. Sự giả vờ thương hay ghét mà để lộ ra một chút thì kẻ nịnh bợ nhân đó mà khen chê (người mình giả vờ thương hay giả vờ ghét), (lúc đó) dù là bậc minh chủ cũng không bỏ được thái độ vờ thương, vờ ghét của mình, huống hồ lại thành thực thương hay ghét (thì làm sao còn có thể bỏ thương bỏ ghét được nữa).
Một thuyết khác bảo : Ngô Chương nói: “Bậc vua chúa không nên giả thương giả ghét bề tôi; giả thương rồi thì không trở lại ghét được nữa, giả ghét rồi thì không thể trở lại thương được nữa”.
 
Kinh 4. - Bậc vua chúa là người giữ pháp luật, xét bề tôi có thể làm được việc hay không để định công. Nghe nói quan lại dù loạn thì vẫn có hạng dân riêng giữ được đức hạnh, tiết tháo (độc thiện kì thân) ; chứ không nghe nói dân loạn mà có quan lại riêng tốt (nghĩa là dân loạn luôn luôn do quan lại xấu), cho nên bậc minh chủ trị quan lại chứ không (trực tiếp) trị dân (hễ quan lại tốt thì dân không loạn) (…)
 
Truyện 4. Muốn lay cây thì không kéo từng cái lá một, như vậy tốn công mà không xuể ; nắm thân nó mà lắc qua phải qua trái thì lá đều rung rinh hết (…) Người khéo bủa lưới thì kéo dây lưới; chứ nếu kéo từng mắt lưới một cho tới hết cả vạn cái mắt thì mệt và khó. Kéo dây lưới lên là bắt được cá rồi. Quan lại là dây lưới của dân, cho nên thánh nhân trị quan lại chứ không (trực tiếp) trị dân.
 
c/ Tháo Phủ (một người giỏi đánh xe thời cổ) đương cào cỏ, thấy hai cha con nhà nọ đi ngang. Con ngựa sợ, chùn lại, không chịu đi nữa. Người con xuống xe lôi nó, người cha xuống đẩy xe, và nhờ Tháo Phủ tiếp tay đẩy giùm. Tháo Phủ xếp đồ cào cỏ, buộc lại, đặt trên xe, giúp (cha) con nhà đó đánh xe, mới bắt đầu so cương cầm roi, chưa kéo cương, quất roi mà ngựa đã lồng lên. Nếu Tháo Phủ không biết đánh xe thì dù hết sức cực nhọc đẩy xe, ngựa cũng không đi. Đằng này ông khỏe ru, được ngồi xe mà người lại mang ơn, chỉ nhờ ông có thuật đánh xe. Nước là xe của vua, (quyền thế) là ngựa của vua. Không có thuật để điều khiển (việc nước) thì đã mệt sức mà không tránh khỏi loạn; có thuật để điều khiển thì đã an lạc mà lại lập được nghiệp đế vương.
 
Kinh 5. – Tùy theo cái “lí” (tại sao, thế nào), của việc mà hành động thì không mệt mà thành công. Vì vậy mà Tư Trịnh ngồi trên càng xe mà hát để qua cây cầu cao (…).
 
Truyện 5. a/ Tư Trịnh tử đánh xe lên một cây cầu cao mà không được, bèn ngồi trên càng xe mà hát, (tức thì) người đi trước ông ngừng lại, người đi sau đẩy xe cho ông và ông lên được dốc cầu. Nếu ông không có thuật lôi kéo người (để giúp ông) thì dù ông có gắng sức đến chết, xe cũng không lên cầu được. Đằng này ông khỏi phải mệt thân mà xe lên được, là nhờ ông có thuật lôi kéo người để giúp ông.
 
d/ Diên Lăng Trác tử ngồi trên xe thắng con ngựa lớn màu xanh có vằn như lông chim trĩ, phía trước có dây cương mang móc, phía sau có cây roi đầu nhọn, vì vậy mà ngựa muốn tiến thì bị cái móc cản, muốn lui thì bị đầu roi đâm, nó đành phải quay ngang. Tháo Phủ đi ngang qua, (thấy vậy) rơi lệ, bảo: "Đời xưa trị dân cũng vậy. Thưởng là để khuyến khích, vậy mà thưởng rồi mà còn chê trách; phạt là để ngăn cấm, vậy mà phạt rồi lại còn khen thêm. Dân đứng giữa mà không biết theo đường nào, thánh nhân khóc cho họ là vì vậy".


 
[1] Theo chú thích của bản đời Tống. Ý nói dùng hình phạt để cho quần thần và dân chúng sợ mình.
[2] Nguyên văn là: , có sách giảng là : quanh co, không theo đúng pháp luật
[3] Nghĩa là có được thưởng thì mới hết lòng, chứ không vì tình riêng mà trung với vua.
[4] Tức Phạm Tuy (cũng có sách là Phạm Thư), có tài biện bác, được Tần trọng dụng, phong chức là Ứng hầu.
[5] Có bản chép là minh chủ.

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://triamquan.forumvi.com
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Hàn Phi Tử   

Về Đầu Trang Go down
 
Hàn Phi Tử
Về Đầu Trang 
Trang 3 trong tổng số 4 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang :: Kiến Thức Tổng Hợp-
Chuyển đến